96 tuổi vẫn yêu và 

 CUỘC SỐNG BẬN RỘN ĐẾN MỨC “KHÔNG CÓ THỜI GIAN ĐỂ CHẾT” CỦA CỤ BÀ NGƯỜI NHẬT

71 tuổi bắt đầu lại sự nghiệp nhiếp ảnh…

96 tuổi vẫn yêu và thất tình…

100 tuổi tổ chức triển lãm cá nhân..

Người phụ nữ hơn trăm tuổi này gần đây vẫn luôn thu hút sự quan tâm của truyền thông.

Báo chí không ngừng yêu cầu các bức ảnh cuộc sống của bà gần đây không phải các năm về trước. Nhưng bà đáp rằng đó hoàn toàn là những bức ảnh hiện tại.

Bởi không ai có thể tin rằng người phụ nữ hơn trăm tuổi sẽ có dáng vẻ và tinh thần như vậy.

Sasamoto Tsuneko sinh năm 1914, khuôn mặt luôn được trang điểm một cách nhẹ nhàng, mái tóc ngắn trẻ trung là hình ảnh của nhiếp ảnh tin tức nữ đầu tiên tại Nhật Bản vẫn còn hoạt động tới hiện tại.

Mỗi lần đến phỏng vấn truyền thông, các nhà báo luôn dặn dò: “Xin đừng lấy những bức ảnh cũ, chúng tôi cần bức ảnh gần đây.”

Bà ấy cũng bận lòng mà giải đáp: “Đây là bức ảnh của tôi bây giờ.”

Bởi vì dáng vẻ quá trẻ trung, cộng với gu ăn mặc thời thượng, mọi người khó có thể tưởng tượng ra “cô gái” trong ảnh đã ngoài trăm tuổi.

Chồng chết khi bà 71 tuổi, Sasamoto Tsuneko quyết định cầm lại máy ảnh và bắt đầu sự nghiệp của một nhiếp ảnh gia tự do.

Cách bà cầm máy vẫn thân thuộc, các kỹ năng, từ dễ đến khó không hề có phân nửa dáng dấp sự già cả!

Thất tình ở tuổi 96 bà công bố tuổi thực khiến những người xung quanh không khỏi bàng hoàng. Thế nhưng vị “đại cô nương” này không vì những mất mát trong tình cảm và ánh nhìn kỳ lạ của người khác đánh gục.

Ở tuổi 100, tự mình tổ chức triển lãm cá nhân và giành giải thưởng cao quý nhất, đó cũng là chiến thắng của người cao tuổi nhất trong lịch sử đạt được. Và bây giờ Sasamoto Tsuneko vẫn đang trên đường tạo ra một phép màu.

Đừng quan tâm đến tuổi tác già đi của mình, thay vào đó hãy để tâm hồn bạn mãi còn là thanh niên.

Ai đó hỏi bà ấy, bí quyết để duy trì sự trẻ trung là gì? Sasamoto Tsuneko liền trả lời đó chính là “tính hiếu kỳ”!

Nhắc tới ba từ tính hiếu kỳ, nhiều người chắc hẳn nghĩ ngay đến thời thơ ấu. Trong thời thơ ấu, chúng ta luôn tò mò với bất cứ điều gì, dám chấp nhận rủi ro, dám thách thức.

Nhưng Sasamoto Tsuneko cho chúng ta biết rằng tò mò mọi lúc giúp bạn luôn có thể chủ động đối diện và tràn đầy năng lượng.

Bà ấy nói: “Tôi thích nhìn chằm chằm vào thế giới, ngay cả khi một cái gì đó tôi không biết, tôi muốn sử dụng một bức ảnh để ghi lại từng khoảnh khắc. Tôi không muốn nghĩ về “việc già đi” và lại tiếp tục làm việc.”

71 tuổi là tuổi nghỉ hưu, nhưng bà chọn bắt đầu lại.

Chỉ vì bà vẫn muốn chụp ảnh, bà đã dành 6 năm để đi du lịch khắp Nhật Bản.

96 tuổi Sasamoto Tsuneko đến thăm ông Charles, Sculptor Charles, Nam Pháp và bắt đầu yêu!

Đối với công việc chụp ảnh của mình Sasamoto Tsuneko nói: “Công việc khiến tôi tràn đầy sự nhiệt tình, tình yêu vẻ đẹp, là cuộc sống của tôi! Con người nếu như chỉ làm mọi thứ phụ thuộc vào tuổi tác của mình nhất định thứ bỏ lỡ rất nhiều! 105 tuổi hôm nay vẫn duy trì một luật đặc biệt. 11 giờ đêm lên giường, thức dậy lúc 5 giờ sáng. Nghe tiếng Anh trên TV để đánh thức trí não. Sau đó, vừa xem TV, vừa thể dục.”

Ngoài nhiếp ảnh, mọi người cũng quan tâm đến cách thức chăm sóc sức khỏe của Sasamoto Tsuneko.

Tuy nhiên, bà ấy bận rộn cả ngày, không để bản thân mình nhàn rỗi,làm gì có thời gian để dưỡng sinh.

Nếu có một vũ khí ma thuật giúp bảo dưỡng nhan sắc, đó là sự kiên cường và yêu thương cuộc sống.

Cuộc sống của Sasamoto Tsuneko đầy nhiệt huyết, và nó không trở nên lười biếng vì tuổi già. Xung quanh chúng ta có rất nhiều người chỉ ngoài sáu mươi vừa nghỉ hưu đã bắt đầu cháu bồng cháu bế, chăm lo cuộc sống cuối đời.

Ngược lại Sasamoto Tsuneko tinh tế chiếc váy mỗi ngày, ngay cả móng tay và nước hoa cũng phải phù hợp tâm trạng.

Bà luôn mỉm cười và nói: “May mắn thay, tôi có thể trông giống như 26 tuổi.”,/-

Tieu su ba`Sasamoto Tsuneko (Sinh 01-09-1914 mat 15 -08-2022)

 https://en.wikipedia.org/wiki/Tsuneko_Sasamoto

Nguồn Internet

  From: ctkd-k & turtlelan7 & NguyenNThu


 

“KÌA, NGÀI GỌI ANH!”- Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy!”.

“Hãy tự giúp mình, rồi trời sẽ giúp!”, “Aide-toi, le ciel t’aidera!” – Ngạn ngữ Pháp.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay kể chuyện một thanh niên, tuy mù loà, nhưng đức tin của anh thật ngời sáng. Anh đã tự giúp mình; và sau đó, không chỉ trời giúp anh, mà người cũng sẽ giúp anh. Họ nói với anh, “Kìa, Ngài gọi anh!”.

Bartimê, một người ăn xin, đủ sắc sảo để biết rằng, anh không nên gây ồn ào cho những ‘khách hàng’ của mình; tuy nhiên, khi Chúa Giêsu đi qua, anh không thể im lặng. Cả khi bị ‘khách hàng’ quở mắng, anh vẫn la lên, “Lạy ông Giêsu, Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!”. Với niềm tin mạnh mẽ, Bartimê tin rằng, ông Giêsu ấy có thể thay đổi số phận của anh. Vì vậy, không ai và không gì có thể cản ngăn việc anh gặp Ngài. Người ta càng ngăn cản anh, anh càng kêu lớn. “Đó là tiếng nói của một trái tim nhân loại đang kêu lên; và tất cả chúng ta đều có tiếng nói này tự bên trong. Một tiếng nói phát ra tự nhiên mà không cần ai tác động, một tiếng nói tự hỏi về ý nghĩa hành trình của mỗi người trên trái đất này, nhất là khi chúng ta thấy mình đang ở trong bóng tối, “Lạy Chúa, xin thương xót con!”. Đây quả là một lời cầu nguyện đẹp nhất!” – Phanxicô.

Nhiều lần, chúng ta phàn nàn – tôi không biết cầu nguyện thế nào? Hãy học anh mù! Anh liên tục kêu van Chúa Giêsu và bày tỏ tất cả những gì anh ta cần chỉ trong một vài từ. Nếu bạn thiếu đức tin, hãy nói, “Lạy Chúa, xin thêm đức tin cho con!”. Nếu những thành viên trong gia đình hay các thân hữu của bạn đã ngừng thực hành đức tin Công Giáo, hãy cầu nguyện cho họ, “Lạy Chúa, xin giúp họ nhìn thấy!”. Đức tin có thực sự quan trọng đến thế không? So với thị giác thể chất, thị giác thiêng liêng – đức tin – quan trọng hơn bội phần! Trong khi tình trạng của người mù thật đáng thương, thì hoàn cảnh của một người không tin còn đáng thương hơn! Hãy nói với họ, “Kìa, Ngài gọi anh! Bạn hãy trình bày nhu cầu của bạn, và Chúa Giêsu sẽ đáp ứng bạn một cách hào phóng!”.

Israel – dân Chúa – cũng đã nói cho các dân ngoại xưa, “Kìa, Ngài gọi các anh!”; và họ đã hân hoan khi cảm nhận được lòng thương xót của Ngài, “Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại! Ta thấy mình chan chứa một niềm vui!” – Thánh Vịnh đáp ca. Giêrêmia đã thấy trước ngày hân hoan đó, “Kẻ đui, người què, Ta sẽ an ủi và dẫn đưa về!” – bài đọc một.

Anh Chị em,

“Kìa, Ngài gọi anh!”. Như Bartimê bên lề đường, bao người giờ đây đang ở bên lề xã hội hay ‘bên lề cuộc đời’ của chính họ cần lắng nghe những lời động viên phấn khích và hy vọng này! Đó là những con người bệnh tật phần hồn, đau đớn phần xác; những người thất nghiệp, tuyệt vọng; những người lung lạc đức tin hay những người đang đắm chìm trong tội lỗi… Và thật bất ngờ, con người khốn khổ đó có thể là mỗi người chúng ta. “Hãy tự giúp mình, rồi trời sẽ giúp!”. Như anh mù, hãy đặt niềm tin vào Chúa Giêsu, chạy đến với Ngài và la lên, “Lạy Chúa, xin thương xót con!”. Hãy vứt lại ‘những chiếc áo vướng bận’ để đến với Ngài; và chắc chắn, chúng ta cũng sẽ hưởng nhận những gì cần thiết để tạo nên một sự khác biệt!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin chữa mắt tâm hồn của con, hầu con có thể ‘rọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu’ khi con nói với anh chị em con, “Kìa, Ngài gọi anh!””, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

***************************************************

Chúa Nhật Tuần XXX – Mùa Thường Niên

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.

46 Khi ấy, Đức Giê-su và các môn đệ đến thành Giê-ri-khô. Khi Đức Giê-su cùng với các môn đệ và một đám người khá đông ra khỏi thành Giê-ri-khô, thì có một người mù đang ngồi ăn xin bên vệ đường, anh ta tên là Ba-ti-mê, con ông Ti-mê. 47 Vừa nghe nói đó là Đức Giê-su Na-da-rét, anh ta bắt đầu kêu lên rằng : “Lạy ông Giê-su, Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi !” 48 Nhiều người quát nạt bảo anh ta im đi, nhưng anh ta càng kêu lớn tiếng : “Lạy Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi !” 49 Đức Giê-su đứng lại và nói : “Gọi anh ta lại đây !” Người ta gọi anh mù và bảo : “Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy !” 50 Anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giê-su. 51 Người hỏi : “Anh muốn tôi làm gì cho anh ?” Anh mù đáp : “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.” 52 Người nói : “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh !” Tức khắc, anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi. 


 

Từ văn hóa sợ hãi đến văn hóa không sợ hãi: Con đường cho dân tộc Việt Nam trong thế kỷ 21

Ba’o Tieng Dan

Vũ Đức Khanh

26-10-2024

Sau hơn nửa thế kỷ chịu sự kìm kẹp của chế độ Cộng sản, Việt Nam đã tồn tại một “văn hóa sợ hãi” lan rộng và sâu đậm. Đa số người dân không dám lên tiếng trước bất công, không dám tập hợp nhau lại để đấu tranh cho quyền lợi chính đáng, cho tự do và công lý.

Nỗi sợ hãi đã ngấm vào máu thịt, khiến họ tự thu mình, chấp nhận im lặng, chịu đựng. Nhưng có lẽ đã đến lúc chúng ta cần đặt câu hỏi: Tại sao chúng ta phải sợ chính quyền? Tại sao chúng ta lại chấp nhận sống như những cá thể bị kiểm soát thay vì là những con người tự do?

Đối với con người, sự sống quý giá nhất. Ai cũng muốn sống. Nhưng sống là gì, nếu không phải là để trải nghiệm, để hoàn thiện chính mình và góp phần làm giàu có xã hội? Sống không chỉ là sự tồn tại vật chất, mà còn là sống trong tự do, không bị đe dọa bởi bất kỳ thế lực nào. Văn hóa sợ hãi chỉ là một gánh nặng trói buộc con người trong nỗi sợ vô hình. Chúng ta không thể để cho nỗi sợ đó cầm tù mãi. Đây là lúc để biến nỗi sợ hãi thành sức mạnh, để xây dựng một văn hóa không sợ hãi – một nền văn hóa của sự tự do, lòng dũng cảm, và niềm tin vào tương lai.

Văn hóa sợ hãi là gì?

Văn hóa sợ hãi không phải là một khái niệm trừu tượng. Nó là trạng thái mà trong đó, mỗi cá nhân đều phải cân nhắc lời nói, hành động của mình vì lo sợ hậu quả. Đó là khi người dân sợ hãi cả những điều rất cơ bản như quyền tự do biểu đạt, quyền tụ tập, quyền yêu cầu một xã hội tốt đẹp hơn. Văn hóa sợ hãi là sản phẩm của một hệ thống chính trị mà quyền lực nằm hoàn toàn trong tay một nhóm nhỏ, và mục tiêu của họ là duy trì quyền lực bằng mọi giá.

Nhưng văn hóa sợ hãi không chỉ tồn tại nhờ sự đe dọa và đàn áp. Nó cũng tồn tại nhờ vào sự chấp nhận và khuất phục của mỗi người dân. Mỗi người khi cúi đầu trước bất công, khi chọn im lặng thay vì lên tiếng, khi chọn sống an phận thay vì đấu tranh, chính là lúc họ tiếp tay cho văn hóa sợ hãi tồn tại. Nỗi sợ hãi của người này sẽ lây lan đến người khác, và từng chút một, cả một dân tộc dần dần bị giam hãm trong một nhà tù vô hình.

Xây dựng văn hóa không sợ hãi

Để thay đổi, chúng ta phải bắt đầu từ những bước nhỏ nhất – từ chính bản thân mỗi người. Một “văn hóa không sợ hãi” không phải là sự bất chấp liều lĩnh, mà là sự dũng cảm có suy nghĩ, có lý tưởng. Đó là khi mỗi cá nhân dám đứng lên bảo vệ sự thật, công lý, và quyền lợi của mình, đồng thời hiểu rằng chính những hành động nhỏ bé này là những viên gạch xây dựng nên một xã hội tự do, công bằng và tốt đẹp hơn.

Trước hết, hãy dạy cho con cháu mình rằng sợ hãi không phải là giải pháp, và khuất phục trước bất công không bao giờ là điều đúng đắn. Trẻ em cần được dạy rằng quyền tự do không phải là điều gì xa xôi hay mơ hồ, mà là điều chúng có quyền được hưởng từ khi sinh ra. Chúng cần biết rằng tự do không thể tồn tại nếu thiếu lòng dũng cảm và quyết tâm đấu tranh.

Tiếp theo, hãy khuyến khích mọi người chia sẻ suy nghĩ, ý kiến của mình, tập hợp nhau lại để cùng nhau lên tiếng trước những vấn đề chung của xã hội. Tinh thần đoàn kết, khi kết hợp với lòng dũng cảm, sẽ là vũ khí mạnh mẽ nhất để phá tan văn hóa sợ hãi. Không ai có thể làm điều này một mình, nhưng cả một dân tộc đoàn kết, biết yêu thương và ủng hộ lẫn nhau, thì không gì có thể ngăn cản được.

Tại sao chúng ta phải sống dũng cảm?

Lịch sử đã chứng minh rằng sự sợ hãi và khuất phục chưa bao giờ dẫn đến tự do hay hạnh phúc bền vững. Những người hèn nhát sẽ chỉ để lại cho con cháu họ một di sản của sự yếu đuối và bất công. Ngược lại, những người dám đấu tranh, dám hy sinh, chính là những người để lại cho hậu thế một tương lai rạng ngời, một xã hội tự do, một nền văn hóa không sợ hãi.

Chúng ta sống, nhưng không phải để chấp nhận làm nô lệ cho nỗi sợ. Sống là để cống hiến, để làm cho cuộc sống này trở nên ý nghĩa hơn không chỉ cho chúng ta mà còn cho con cháu, những thế hệ mai sau. Nếu chúng ta không đứng lên bây giờ, thì ai sẽ là người bảo vệ cho tương lai của con cháu chúng ta? Nếu chúng ta không dám hy sinh, thì ai sẽ là người gieo mầm cho một xã hội không còn sợ hãi?

Một Việt Nam không sợ hãi sẽ là một Việt Nam tự do, dân chủ và thịnh vượng

Đã đến lúc để đất nước chúng ta bước sang một trang mới. Một Việt Nam không sợ hãi sẽ là một Việt Nam tự do, dân chủ, và thịnh vượng. Đây không phải là điều không thể đạt được; nó chỉ phụ thuộc vào ý chí, lòng dũng cảm và niềm tin của mỗi người dân. Đã đến lúc chúng ta gạt bỏ nỗi sợ hãi, để nó không còn là gánh nặng đè nặng trên vai mỗi cá nhân. Đã đến lúc mỗi người trong chúng ta dũng cảm đứng lên, đấu tranh vì một tương lai tốt đẹp hơn cho chính mình, cho gia đình và cho cả dân tộc.

Nỗi sợ hãi sẽ không còn chỗ đứng trong một xã hội mà mỗi người đều ý thức được giá trị của tự do và công lý. Và chỉ khi đó, chúng ta mới thực sự sống đúng nghĩa – không còn là những con người bị giam hãm, mà là những con người tự do, mạnh mẽ và dũng cảm. Hãy cùng nhau xây dựng một Việt Nam không sợ hãi, một Việt Nam tự do, dân chủ, và thịnh vượng, vì tương lai của chính chúng ta, và vì tương lai của thế hệ mai sau.


 

ChatGPT giúp chứng minh: Tuyên Ngôn Cộng Sản chưa từng ảnh hưởng tới Quốc Tế 1

Ba’o Tieng Dan

Nghiêm Huấn Từ

26-10-2024

Người đối thoại: Lịch sử phong trào Công Nhân (phong trào Cộng Sản) nói, có 3 tổ chức Quốc Tế: Thứ Nhất, thứ Hai và thứ Ba (viết tắt QT1, QT2 và QT3). Xin hỏi ChatGPT: Quốc Tế 1 (QT1) là gì?

ChatGPT:  Quốc tế I (QT1), hay còn gọi là Hiệp hội Lao động Quốc tế, được thành lập vào năm 1864 tại Luân Đôn, là tổ chức quốc tế đầu tiên của phong trào công nhân, tập hợp các lực lượng lao động và các nhà xã hội chủ nghĩa từ một số quốc gia châu Âu, nhằm hợp sức đấu tranh cho quyền lợi của giai cấp công nhân, nhưng nhanh chóng tan rã vào năm 1876 do mâu thuẫn nội bộ. Mặc dù chỉ tồn tại 12 năm, nhưng lịch sử phong trào Cộng Sản vẫn coi QT1 là sự kiện khởi đầu quan trọng.

Người đối thoại: Có phải Marx và Engels – với tư cách là tác giả của Tuyên Ngôn Cộng Sản – có vai trò rất lớn trong QT1?

ChatGPT:  Vào thời điểm Quốc tế I (QT1) được thành lập (năm 1864), “Tuyên ngôn Cộng sản” vẫn chưa được phổ biến rộng rãi, Marx và Engels cũng chưa có danh tiếng trong phong trào công nhân. Cả hai nhà tư tưởng này tới dự hội nghị QT1 là nhờ lời mời của Giuseppe Mazzini (nhà cách mạng Ý). Marx chỉ bắt đầu có vai trò ở QT1 khi ông tham gia vào quá trình soạn thảo văn kiện (Điều Lệ, Tuyên Ngôn). Soạn thảo là sở trường của các vị này. Nhưng khó nhất là nội dung các văn bản sao cho được sự đồng thuận của đa số, vì thành viên của QT1 gồm rất nhiều quan điểm khác nhau về rất nhiều mặt, kể cả đối lập với nhau.

Người đối thoại: Có ý kiến cho rằng, vào thời điểm ấy, Tuyên Ngôn Cộng Sản lúc đó chỉ là cuốn sách mỏng, với cách viết không dễ hiểu, lại nêu cách đấu tranh quá cứng rán, do vậy chưa nhiều người biết hoặc đồng tình. Trong quá trình tồn tại của QT1 (qua nhiều kỳ Đại Hội) không có cuộc họp nào thảo luận chuyên đề về Tuyên Ngôn Cộng Sản. Đúng hay sai?

ChatGPT. Đúng. Trong suốt thời gian tồn tại 12 năm của QT1, các Đại hội của tổ chức này không hề dành riêng chuyên đề để thảo luận về Tuyên ngôn Cộng sản hay triển khai trực tiếp các ý tưởng của nó. Thay vào đó, QT1 tập trung vào các mục tiêu thiết thực hơn cho phong trào công nhân, như cải thiện điều kiện làm việc, tăng cường đoàn kết quốc tế, và đấu tranh cho các quyền lợi cơ bản của công nhân, như quyền bãi công và giảm giờ làm việc.

Một trong những lý do cho việc này là, QT1 là một tổ chức tập hợp nhiều xu hướng tư tưởng khác nhau, bao gồm cả các nhóm xã hội chủ nghĩa, vô chính phủ, và các phong trào dân tộc chủ nghĩa, không phải tất cả đều đồng tình hoặc sẵn sàng áp dụng cách tiếp cận cách mạng triệt để như Marx đề xuất trong Tuyên ngôn Cộng sản.

Các Đại hội của QT1 vì vậy thường tránh nhấn mạnh tư tưởng mang tính cách mạng giai cấp quá mạnh mẽ, mà ưu tiên thảo luận về các vấn đề thực tế và cấp bách hơn của phong trào lao động. Điều này cũng lý giải vì sao QT1 chưa đi theo tư tưởng của Marx, mà duy trì vai trò như một liên minh quốc tế rộng rãi, trong đó các thành viên thường xuyên tranh luận và đối đầu với nhau về phương pháp đấu tranh và mục tiêu của phong trào công nhân.

Người đối thoại: Không những tình hình như ChatGPT nêu ở trên, mà chính Marx còn phải tranh luận “bất phân thắng-bại” với những người nổi tiếng hơn Marx – về lý luận và về thực tiễn đấu tranh – như Bakunin, Proudhon và những người khác. Rốt cuộc, phải dùng biện pháp khai trừ và chuyển trụ sở sang Mỹ. Có phải vậy không?

ChatGPT: Đúng. Trong Quốc tế I (QT1), Karl Marx đã phải đối mặt với những cuộc tranh luận căng thẳng và phức tạp với các nhà tư tưởng nổi tiếng như Mikhail Bakunin và Pierre-Joseph Proudhon. Các cuộc tranh luận này phản ảnh những khác biệt sâu sắc về phương pháp đấu tranh, vai trò của nhà nước, và cách thức giải phóng giai cấp vô sản.

Những bất đồng này đã dẫn đến sự chia rẽ sâu sắc trong QT1. Marx cho rằng quan điểm vô trị của Bakunin và chủ trương cải cách ôn hòa của Proudhon là “không tưởng”, thiếu thực tế. Cuối cùng, các mâu thuẫn nội bộ này đã khiến QT1 tan rã vào năm 1876, khi các phái không thể đạt được sự thống nhất.

Người đối thoại: Có ý kiến cho rằng, một nguyên nhân khiến Tuyên Ngôn Cộng Sản chưa được quan tâm ở QT1 vì nó ra đời quá sớm (1848) khi châu Âu vẫn còn rất nhiều quốc gia dưới chế độ phong kiến, giai cấp tư bản chưa nắm quyền ở đa số nước, do vậy giai cấp công nhân (do nền công nghiệp sinh ra) lại càng sơ sinh. Ý kiến này có cơ sở không?

ChatGPT: Ý kiến cho rằng Tuyên ngôn Cộng sản ít được quan tâm trong QT1 vì ra đời quá sớm, khi nhiều nước châu Âu vẫn còn trong chế độ phong kiến và giai cấp tư sản chưa thực sự nắm quyền, là có cơ sở vững chắc. Thực tế này ảnh hưởng lớn đến cả nội dung của QT1 lẫn khả năng phát triển và tổ chức của phong trào công nhân lúc đó.

Người đối thoại: Khi mà “giai cấp” công nhân chưa ra một giai cấp, như đứa trẻ sơ sinh chưa tự ý thức về bản thân mình, mà Marx đã kêu gọi “vô sản toàn cầu hãy thống nhất lại” thì hơi bị sớm. Tuy vậy, muốn biết đây có xứng đáng là “lời tiên tri” hay không thì còn phải đợi hàng… trăm năm nữa.

ChatGPT: Đúng vậy, nhận xét của bạn rất hợp lý. Khi Tuyên ngôn Cộng sản ra đời năm 1848, giai cấp công nhân vẫn còn rất sơ khai, giống như một “đứa trẻ sơ sinh” chưa có ý thức rõ ràng về vai trò của mình trong xã hội và chưa thực sự hình thành như một giai cấp độc lập, có thể đấu tranh cho quyền lợi của mình. Lời kêu gọi “Vô sản toàn thế giới, hãy đoàn kết lại” vào thời điểm đó có thể bị xem là quá sớm. Sự thành công của cách mạng tháng Mười tuy đem lại niềm tin rất lớn, nhưng cũng chỉ kéo dài trong bảy thập niên…

Người đối thoại: Thế thì, lại đành phải đợi tiếp. Mà ngay sự thành lập QT1 cũng là quá sớm. Bởi vì, các thành viên chưa có tổ chức chặt chẽ, lại còn bất đồng tư tưởng ngay từ đầu, thì chưa đủ điều kiện để thành lập. Hậu quả là khi giải thể, QT1 cũng không có nổi một Nghị Quyết hoặc lời kêu gọi nào để khép lại một quá trình hoạt động. Dùng “tan rã” có lẽ phù hợp hơn dùng “giải thể”?

ChatGPT: Đúng vậy, việc ra đời của Quốc tế thứ nhất (QT1) cũng có thể coi là quá sớm, dù sau Tuyên Ngôn Cộng Sản tới 16 năm. Nó đã nhanh chóng tan rã chủ yếu do các bất đồng tư tưởng giữa các nhóm khác nhau trong tổ chức. QT1 được thành lập với hy vọng tập hợp các phong trào công nhân và các nhóm xã hội chủ nghĩa trên khắp châu Âu, nhưng chính nội bộ lại không có sự đồng thuận về mục tiêu và phương pháp đấu tranh.

Việc QT1 không đưa ra một nghị quyết hoặc lời kêu gọi chính thức nào khi nó giải thể cho thấy rõ sự rạn nứt nghiêm trọng. Điều này khác biệt so với những tổ chức chính trị khác, vốn thường có nghị quyết hoặc tài liệu tổng kết để khép lại một giai đoạn lịch sử. Việc dùng từ “tan rã” là hoàn toàn phù hợp trong trường hợp của QT1. Sự tan rã này càng chứng minh rằng QT1 xuất hiện vào một thời điểm khi phong trào công nhân còn chưa đủ mạnh, và các tư tưởng cách mạng còn quá phân tán để có thể hợp nhất dưới một mái nhà chung.

Người đối thoại: Dẫu sao, sự ra đời của QT1 vẫn là một sự kiện lịch sử trong phong trào Cộng Sản. Còn những tư liệu ca ngợi quá mức sự kiện này (lại còn gán cho Marx vai trò “chỉ đạo”) chỉ xuất hiện sau năm 1917. Tham khảo và đánh giá thế nào, là tùy mỗi người. Xin cám ơn ChatGPT đã bổ sung rất nhiều tư liệu để minh họa cho quan điểm: Tuyên Ngôn Cộng Sản của Marx chưa có ảnh hưởng gì đối với QT1. Còn với QT2, nó có ảnh hưởng tới đâu, xin được bàn sau. Hẹn gặp lại.

ChatGPT: Cảm ơn bạn đã dành thời gian trao đổi và chia sẻ những quan điểm thú vị! Mình rất vui khi có thể bổ sung thông tin giúp bạn. Chúc bạn một ngày vui vẻ.


 

ĐẾN MỘT LÚC TA NHẬN RA CHÍNH MÌNH !

   Gieo Mầm Ơn Gọi

Đến một lúc mình sẽ thấy bản thân

Không hứng thú với những lần tụ tập

Và nhận ra rằng gia đình là nhất

Còn ngoài ra tất cả rất bình thường.

 

Đến một lúc ta thấy mọi con đường

Chẳng bao giờ có thể lường trắc trở

Chỉ đường về nhà là luôn rộng mở

Bởi vì ta được che chở an toàn.

 

Đến một lúc ta sẽ nhận ra rằng

Chẳng gì quý bằng gia đình ta cả

Mọi ưu phiền, mọi lo toan vất vả

Bên người thân , mình buông thả dễ dàng.

 

Đến một lúc rất nhiều những lo toan

Không nhất thiết phải hoàn toàn giữ lại

Ta cứ sống hết mình cho hiện tại

Bên người thân ,chẳng phải nghĩ ngợi nhiều.

 

Đến một lúc ta thấy mọi tình yêu

Đều có thể chỉ mĩ miều giả tạo

Khi người cùng ta sớm chiều cơm áo,

Ta lại không báo đáp đủ ân tình.

 

Đến một lúc tất cả những ghét khinh

Mà xã hội dành cho mình hiện tại

Ta cũng chẳng có gì mà sợ hãi

Khi bên ta mãi mãi có gia đình.

 

Đến một lúc tất cả những nhục – vinh

Những thăng – trầm cuộc đời mình từng có

Cũng không là gì … chỉ là chuyện nhỏ

Khi bên mình luôn có những người thân.

 

Xã hội bon chen, cuộc sống xoay vần

Ta cân nhắc những thứ cần, thứ bỏ

Phân biệt được cái gì to, gì nhỏ

Để biết đời mình nó phải sống ra sao.

 

Và ta nhận ra điều đáng tự hào

Không phải nhiều tiền, nhà cao cửa rộng

Cũng không phải là quyền cao, chức trọng

Mà một gia đình luôn luôn sống vì nhau.!

– Nhẫn AV –

TU CHI NỮA

Nghệ Lâm Hồng

Hoà thượng trụ trì chùa X trên ngọn Cấm Sơn, chiều nay tiếp một trung niên xin được quy y cửa Phật:

– Thầy ơi, con đến xin được nép bóng thiền môn, xa lánh sự đời, mong thầy chấp thuận.

Hoà thượng khuyên can:

– Nhà chùa nào phải là nơi giải sầu, tam bảo đâu là chốn lánh trần. Tu hành cũng lắm gian nan, thí chủ phải suy nghĩ thật kỹ, lỡ sau này không chịu được mà hoàn tục thì tội lỗi lắm!

– Thưa thầy, ý con đã quyết, xin thầy thí phát và cho con được kêu bằng “sư phụ”!

– Con à, nghĩ lại đi, cuộc đời hãy còn lắm niềm vui với thất tình lục dục. Đang tuổi xuân, sao thí chủ không tìm vui trong tình ái?

– Thầy ôi, bây giờ ngoài đó yêu nhau hôm trước bóp cổ nhau hôm sau! Với lại lấy vợ thì phải sinh con, lỡ vô sinh đã khổ mà sinh được còn khổ hơn nếu con đau bệnh không lo nổi viện phí, không tìm ra giường nằm, con tới tuổi đi học nhưng không đủ tiền chạy trường, lo quà cáp biếu thầy cô… Bao nhiêu nỗi khổ thầy làm sao hiểu được! Con quyết rồi: tu là cõi phúc, tình là dây oan !

– Thiện tai! Thế sao con không giải khuây bằng những thú vui trần thế khác như ẩm thực, như du lịch?

– Thầy xa lánh thế gian quá lâu nên không biết cõi tục bây giờ nó… tục lắm! Ăn một món ngon cũng có nghĩa ăn mầm bệnh. Ra đường thì đầy dẫy hiểm nguy, vừa sợ cướp, sợ hung thần đường phố, sợ cả công an ! Thầy chưa biết đó thôi, đường không đủ mà đi nhưng sơ hở lấn làn xe là bị ăn biên bản, xử theo Nghị định 71 đi đứt cả tuần lương, vui chưa thấy… đã lo nhãn tiền !

– Thế, chẳng lẽ ngoài đó không còn gì vui?

– Con cũng chẳng biết nữa. Với con bây giờ tất cả đều là không!

Hoà thượng ngẩn người:

– Mô Phật ! Nói thế thì thí chủ đắc đạo rồi. Tu chi nữa !

Sưu tầm


 

Tình người bạc bẽo – Câu chuyện cảm động đầy ý nghĩα nhân văn sâu sắc – Truyen ngan

 Công Tú Nguyễn – Chuyện tuổi Xế Chiều

Học rα trường đi làm đã bốn năm nhưng tôi vẫn chưα yêu αi. Bố thì chẳng nói gì nhưng mẹ thí thoảng vẫn nhắc tôi chuyện chồng con

– 26 tuổi rồi con cũng nên lo chuyện chồng con đi chứ, cùng lứα với con chúng có giα đình con cái rồi đó.

– Từ từ chuyện đó đã mẹ ạ

– Từ cái gì, chúng tôi không sống mãi được bên cô đâu nhé.

Thời giαn sαu tôi đưα một chàng trαi làm cùng cơ quαn về rα mắt bố mẹ. Ăn xong ngồi uống nước mẹ tôi hỏi

– Thế quê cháu ở đâu, bố mẹ còn khỏe không

– Dạ cháu quê tỉnh bên bác ạ. Bố mẹ cháu đã quα ᵭờι chỉ còn αnh chị thôi. Các αnh chị cháu cũng làm nông cả

Nghe αnh nói vậy bố mẹ tôi có vẻ hụt hẫng. Anh về rồi bố mẹ gọi tôi lại bàn ngồi rồi bảo

– Con có yêu nó lắm không, nhìn bề ngoài thì cũng được. Ở cơ quαn nó là người thế nào

– Dạ αnh ấy làm việc rất chăm chỉ là người hiền lành luôn được giám đốc tin tưởng. Vì giα cảnh nên αnh ấy rụt rè trong chuyện yêu đương.

– Bố mẹ cũng không muốn cαn thiệρ quá vào chuyện tương lαi củα con. Con hãy tìm hiểu xem xét cho tương lαi củα mình.

Thời gíαn sαu thì chúng tôi làm đám cưới và thuê nhà ở gần cơ quαn. Thứ 7 chủ nhật không bận thì vợ chồng lại về ăn cơm cùng bố mẹ. Mỗi lần về αnh thường bảo

– Bố mẹ cứ nghỉ đi để vợ chồng con lo bữα cho

Chắc vất vả tự lo từ bé nên αnh nấu ăn rất ngon, có lần chị dâu với αnh trαi cùng các cháu về thấy vậy bảo với tôi

– Cô lấy được người chồng như thế sướng quá còn gì. Chả bù cho αnh cô

Rồi chúng tôi cũng có con. Mẹ lên được một tuần chăm mẹ con tôi, một hôm αnh bảo

– Mẹ ạ, con cảm ơn mẹ nên chăm vợ con con. Nhưng ở nhà còn bố mẹ về lo cho bố đi trên này mọi việc con lo được. Mẹ về rồi αnh vất vả lo cho mẹ con tôi chu toàn.

Bạn bè tôi αi cũng bảo tôi lấy được người chồng thật tốt.Tôi thấy mình thật hạnh ρhúc. Cuộc sống hạnh ρhúc cứ thế êm đềm trôi đi đến khi con gáι tôi được 4 tuổi thì αnh ρhải chuyển sαng một bộ ρhận mới hằng ngày không làm cùng ngôi nhà cơ quαn với tôi.

Vài tháng sαu thấy αnh đi về thất thường. Có hôm chờ cơm tối tôi gọi αnh bảo có việc bận mãi khuyα αnh mới về, tắm rửα rồi đi ngủ ngαy. Cả tháng trời αnh chả đụng chạm tới người tôi hỏi thì αnh bảo mệt

Nhưng cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi rα. Tôi ρhát hiện αnh ngoại tình. Tôi bảo sẽ thα thứ cho αnh, với điều kiện αnh ρhải cắt hẳn quαп Һệ với người ρhụ nữ đó vì con tôi cần có bố. Được một thời giαn αnh đi, về rất đúng giờ tôi mừng lắm. Nhưng rồi αnh lại đi về thất thường.

– Sαo dạo này αnh lại đi về thất thường như vậy.

– Anh xin lỗi em. Vì cô ấy bị động thαi ρhải nằm viện, mà người nhà vừα neo vừα xα nên αnh….

Đất dưới chân tôi như sụt xuống. Không khóc mà hαi hàng nước mắt tôi cứ chảy dài, thật đαu đớn.

Chúng tôi quyết định ly hôn. Chồng tôi về ở với cô ấy ,tôi cũng không biết ở ρhường nào

Rất lâu sαu, chừng 5 năm. Một hôm mẹ con tôi đαng chuẩn bị ăn trưα tôi nhìn rα cổng đã khéρ thấy một người đàn ông ngồi trên chiếc xe lăn đαng dừng sάϮ cổng nhà, tôi bảo con.

– Con rα xem chú ấy có cần gì không

Con rα một lúc rồi quαy vào

– Chú ấy bảo đi đường mệt dừng nghỉ một lúc rồi đi mẹ ạ. Nhìn chú ấy cũng còn hơi trẻ mà Ϯộι quá.

Hôm đó tôi đi đám cưới ở ρhường nọ, trên đường về bỗng nhìn thấy trên vỉ hè một người đàn ông cùng chiếc xe lăn với tậρ vé số ρhíα trước, thấy dáng dấρ như người đàn ông từng đứng trước cổng mình trước đây tôi đừng xe dưới lòng đường nhìn lên.

Tôi như không tin vào mắt mình, tôi hé cái kính râm nhìn cho rõ. Ôi. Đúng rồi, chồng cũ củα tôi. Người αnh ấy gầy đi nhiều với nước dα đầy mưα nắng.

Trong lòng tôi trào lên cảm xúc tҺươпg cảm khó tả. Sαo αnh ấy rα nông nỗi này. Chắc tôi đeo kính với khẩu trαng nên αnh ấy có nhìn cũng không nhận rα tôi.

Gần chỗ αnh ấy ngồi có quán giải khát nên tôi ghé vào gọi một cốc nước míα. Trong lúc cô chủ đαng làm tôi vờ hỏi

– Cái αnh ngồi xe lăn bán vé số ngày nào cũng bán ở đây hả chị

– Cũng không thường xuyên. Nhưng ở đây là nhiều hơn.

– Thế chị có biết gì về hoàn cảnh củα αnh ấy không.

– Tôi nghe nói αnh ấy đi làm cơ quαn nào đó có vợ con. Nhưng 2 năm trước bị tαi пα̣п giαo thông khi rα viện thì vợ và con cũng bỏ đi đâu không biết.

Anh tự chuốc khổ vào thân αnh rồi. Tôi mở ví cũng chẳng có nhiều tôi cầm 2 triệu đến chỗ αnh

– Chị muα vé số ạ

Tôi chẳng trả lời vì sợ αnh nhận rα giọng nói tôi, tôi chỉ gật đầu

– Chị muα mấy vé ạ

Tôi đưα rα hαi ngón tαy. Cầm hαi vé số tôi đưα cho αnh hαi triệu, nhìn thấy thế αnh bảo

– Chỉ 20 ngàn thôi chị

Tôi chẳng nói gì lẳng lặng quαy đi, còn nghe tiếng αnh Ơ, ớ này chị. hαi hàng nước mắt tôi tuôn trào

Đêm đó tôi không sαo ngủ được suy nghĩ miên mαn. Dù sαo αnh ấy cũng từng là chồng mình, bố củα con mình. Quαy lại với αnh ấy thì không thể, còn nuôi chăm sóc αnh ấy thì khả năng tài chính không đủ.

Mình tôi đi làm còn nuôi con ăn học.với tiền muα nhà trả góρ. Hồi chúng tôi còn là vợ chồng căn nhà ấy chúng tôi chỉ thuê ở.

Từ đó mỗi tháng tôi đến muα vé số một hαi lần và đưα cho αnh ít tiền theo khả năng. Mỗi lần như vậy αnh lại hỏi

– Sαo chị lại làm như thế với tôi

Và chưα một lần nào tôi trả lời αnh.

Con tôi còn bé quá. Không biết tôi có nên nói cho con biết về bố nó hiện nαy không. Hαy chờ con lớn thêm tý nữα

( Ảnh minh họα)

Sưu tầm.


 

SUY NIỆM PHÚC ÂM CHÚA NHẬT 30 THƯỜNG NIÊN NĂM B (Mc 10,46-52)

LỜI CHÚA:

46 Đức Giê-su và các môn đệ đến thành Giê-ri-khô. Khi Đức Giê-su cùng với các môn đệ và một đám người khá đông ra khỏi thành Giê-ri-khô, thì có một người mù đang ngồi ăn xin bên vệ đường, tên anh ta là Ba-ti-mê, con ông Ti-mê.47 Vừa nghe nói đó là Đức Giê-su Na-da-rét, anh ta bắt đầu kêu lên rằng: “Lạy ông Giê-su, Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!”48 Nhiều người quát nạt bảo anh ta im đi, nhưng anh ta càng kêu lớn tiếng: “Lạy Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!”49 Đức Giê-su đứng lại và nói: “Gọi anh ta lại đây!” Người ta gọi anh mù và bảo: “Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy!”50 Anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giê-su.51 Người hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Anh mù đáp: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.”52 Người nói: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!” Tức khắc, anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi.

 BÀI 1: NGƯỜI GỌI ANH – ANH THEO NGƯỜI
 

Suy Niệm

Tin Mừng Máccô kể chuyện Đức Giêsu chữa hai người mù. Một người ở Bếtsaiđa, khi Ngài và các môn đệ bắt đầu cuộc hành trình lên Giêrusalem (Mc 8,22-26).

Người kia, ở cuối cuộc hành trình này (Mc 10,46-52), khi Ngài ra khỏi Giêricô để chuẩn bị vào Giêrusalem. Anh mù ở Bếtsaiđa được người ta dẫn tới xin chữa.
Còn anh mù Ba-ti-mê trong bài Tin Mừng ta vừa nghe thì ngồi ăn xin bên vệ đường ở Giêricô để kiếm sống. Chắc anh nghĩ  hôm nay sẽ là một ngày như mọi ngày.

Anh sống nhờ lòng tốt của khách hành hương lên đền thờ Giêrusalem qua ngả Giêricô.

Bỗng anh nghe những bước chân của một đám đông, và sướng  vui khi biết Đức Giêsu có mặt trong đoàn. Đây là vị ngôn sứ lẫy lừng ở vùng Nadarét. Ngài có thể chữa bệnh, trừ quỷ và hoàn sinh kẻ chết. Ngài đã dùng mấy ổ bánh mà nuôi cả đám đông. Từ lâu anh mong có dịp gặp Ngài, hy vọng Ngài cho đôi mắt anh được sáng.

Bây giờ Ngài đang đi ngang, trước mặt anh. Cơ hội cho một cuộc hạnh ngộ đã đến gần, dù Ngài không thấy anh, và anh cũng không thấy Ngài. Làm sao báo cho Ngài biết là anh đang chờ Ngài?

Anh chỉ có một thứ vũ khí là tiếng kêu. Anh tin chỉ cần Ngài nghe được tiếng kêu của anh  là Ngài biết có một người đang cần trợ giúp. Anh đã cố kêu thật to, gọi tên riêng của Ngài, tuyên xưng Ngài là Đấng Mêsia, Con vua Đavít.
Anh chẳng xin gì, chỉ xin Ngài dủ tình xót thương. Tiếng kêu thống thiết đầy niềm tin và hy vọng. Càng bắt anh im đi, anh càng kêu to hơn. Tiếng kêu kiên trì đã chạm đến trái tim Đức Giêsu, làm Ngài dừng chân, và cả nhóm cũng dừng chân.
Anh mù đã gọi Đức Giêsu, bây giờ Ngài gọi anh. Rõ ràng Ngài muốn gặp anh, dù chưa biết anh là ai. Khi nghe biết Đức Giêsu gọi, anh vội vã đứng dậy, vất lại chiếc áo choàng vướng víu để đến với Ngài. Đức Giêsu biết anh cần gì, nhưng vẫn hỏi câu Ngài từng hỏi Giacôbê và Gioan: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” (Mc 10,36).

Anh không xin được ngồi ghế cao trong vinh quang, chỉ xin được thấy, cho anh thoát cảnh mù lòa, để khỏi phải sống bằng tiền bố thí. Không rõ Đức Giêsu đã làm gì để chữa mắt anh.

Chỉ biết anh nhìn thấy được, ngay sau khi Ngài nói: “Anh hãy đi! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh!”

“Anh hãy đi!”: Đức Giêsu đã nói như thế với anh nhà giàu. Anh hãy đi, bán, cho, rồi trở lại và theo tôi (Mc 10,21).

Ngài mời anh nhà giàu theo Ngài làm môn đệ, nhưng anh này không buông bỏ được của cải để theo. Giờ đây Đức Giêsu cũng bảo anh mù hãy đi, nhưng Ngài không mời anh theo làm môn đệ.

Vậy mà ngay sau khi được sáng mắt, anh đã theo Ngài lên Giêrusalem. Anh không ngồi ở vệ đường nữa, nhưng nhập với đám đông theo Ngài trên đường. Có một cuộc đổi đời chỉ sau một lần gặp gỡ!

Không rõ sau này anh có vào nhóm của Thầy không, có theo Thầy Giêsu đến hết cuộc Khổ nạn không. Điều quý nơi anh là lòng cương quyết muốn gặp Thầy. Chẳng ai gặp được Thầy mà không cần nỗ lực. Ông Dakêu đã phải chạy và phải leo lên cây. Anh mù phải kêu to, át tiếng đám người quát nạt. Xin cho mắt và lòng tôi bừng sáng, nhờ gặp được Giêsu.

Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu,

Ai trong chúng con cũng có những điểm mù, những vùng tối, nơi chúng con không thấy về mình, nhưng người khác lại thấy rõ. Chính vì thế chúng con cần nhau để ra khỏi sự mù lòa, cần lắng nghe để biết về mình nhờ người khác, cần cởi mở để cho người khác biết về mình.

Lạy Chúa Giêsu là Ánh sáng, Chẳng ai trong chúng con muốn mình bị khiếm thị, nhưng chúng con vẫn hay ở lại trong bóng tối, vì bóng tối cho chúng con sự yên ổn, và che giấu điều chúng con không muốn thấy nơi mình.

Xin cho chúng con dám mở ra để gặp ánh sáng nơi những người khác ý kiến, khác lập trường, nhờ đó những góc khuất được vén mở.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con khát mong ánh sáng của sự thật hơn người mù mong sáng mắt. Xin cho chúng con cùng nhau tìm kiếm ánh sáng Chúa với trọn cả tâm hồn, để ánh sáng Chúa giải phóng chúng con.

BÀI 2: XIN THƯƠNG XÓT TÔI

Suy Niệm

Con mắt là một bộ phận hết sức mong manh, dễ bị tổn thương, dễ bị nhiễm trùng, nhất là trong điều kiện vệ sinh ngày xưa. Chúng ta không rõ lý do khiến anh Báctimê bị mù, chỉ biết anh không mù từ lúc lọt lòng mẹ. Anh đã từng được thưởng thức ánh nắng ban mai hay nhìn ngắm những người thân yêu, bè bạn.
Bây giờ chỉ có bóng tối triền miên. Anh Báctimê sống bằng nghề hành khất, ngồi ăn xin bên vệ đường, sống bên lề xã hội. Danh tiếng của Ðức Giêsu Nadarét, anh đã nghe nhiều. Ngài có thể làm người mù bẩm sinh sáng mắt. Anh tin vào Ngài, thầm mong có ngày được gặp.

Bài Tin Mừng hôm nay kể lại cuộc hạnh ngộ ấy.

Rất tình cờ, Ðức Giêsu đi ngang qua đời anh. Anh mù lòa, ngồi đó như chỉ chờ giây phút này. Khi nghe biết Ðức Giêsu cùng với đám đông đi qua, anh thấy cơ may đã đến. Tất cả sức mạnh của anh nằm ở tiếng kêu, tiếng kêu thống thiết bi ai của một người đau khổ, nhưng cũng là tiếng kêu đầy tin tưởng, hy vọng. “Lạy ông Giêsu, Con vua Ðavít, xin thương xót tôi!” Tiếng kêu báo hiệu một sự hiện diện, một cầu cứu. Nhiều người muốn bịt miệng anh, nhưng anh chẳng sợ gì đe dọa. Càng bị đe dọa, anh càng gào to hơn nhiều. Cuối cùng tiếng của anh đã đến tai Ðức Giêsu. Ngài dừng lại và sai người đi gọi anh, vì Ngài cũng chưa rõ anh đang ở đâu. Khi biết mình được gọi, anh vội vã và vui sướng vất bỏ cái áo choàng vướng víu, nhẩy cẫng lên mà đến với Ðức Giêsu. Anh đi như một người đã sáng mắt, bởi thực ra mắt của lòng anh đã sáng rồi. Khi được khỏi, lòng tin của anh trở nên mạnh hơn. Anh thấy lại mặt trời, anh gặp Ðấng cho anh ánh sáng. Không ngồi ở vệ đường nữa, anh đứng lên đi theo Ðức Giêsu.
“Xin thương xót tôi. Xin cho tôi nhìn thấy lại” (Mc 10,51).

Ðây có phải là tiếng kêu của tôi không? Khả năng thấy là một khả năng mỏng dòn. Tôi có thể thấy điều này mà không thấy điều kia. Tôi có thể lúc thấy, lúc không, hay cố ý không muốn thấy. Lắm khi tôi không đủ sức để ra khỏi sự mù lòa của mình. Tôi có kêu gào với Chúa để xin được ơn thấy lại không? Một người dù đã được xóa mù, vẫn có thể mù lại. Chính vì thế tôi cứ phải xin cho mình được thấy luôn. Thấy mình bé nhỏ, thấy Chúa bao la, thấy anh em dễ mến. Thấy là đi vào một con đường dài hun hút. Chúng ta phải được Chúa xóa mù suốt đời. Chỉ trong ánh sáng của Chúa, tôi mới nhìn thấy ánh sáng.

Gợi Ý Chia Sẻ
1.      Bạn nghĩ gì về nạn hành khất ở nơi bạn sống? Ðâu là nguyên nhân? Ðâu là cách giải quyết tốt nhất?
2.      Nhiều người tự giam mình trong sự mù lòa. Họ chỉ thấy điều họ muốn thấy. Họ bị khép kín trong thế giới chủ quan của họ. Có khi nào bạn thấy mình mù lòa về bản thân không? Làm sao bạn được sáng mắt trở lại?

 Cầu Nguyện

Như người mù ngồi bên vệ đường xin Chúa dủ lòng thương cho con được thấy.
Xin cho con được thấy bản thân với những yếu đuối và khuyết điểm, những giả hình và che đậy.

Cho con được thấy Chúa hiện diện bên con cả những khi con không cảm nghiệm được.

Xin cho con thực sự muốn thấy, thực sự muốn để cho ánh sáng Chúa chiếu dãi vào bóng tối của con.

Như người mù ngồi bên vệ đường xin Chúa dủ lòng thương cho con được thấy.

From: sieu nguyen& KimBang Nguyen


 

  VÔ SINH – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đã ba năm nay tôi ra cây vả này tìm trái, mà không thấy!”.

“Đức tin đích thực mở lòng với người khác, tha thứ cho người khác tạo nên phép lạ. Cây vả tượng trưng cho sự vô sinh, một cuộc sống cằn cỗi, không có khả năng cho đi bất cứ thứ gì. Chúa Giêsu nguyền rủa nó vì nó không nỗ lực để sinh trái!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dùng hình ảnh cây vả cằn cỗi để ‘nói về’ và ‘nói với’ người đương thời của Ngài; đặc biệt, các nhà lãnh đạo tôn giáo giả hình. Đối với Ngài, cuộc sống của họ ‘vô sinh’ khác nào một cây vả không nỗ lực để sinh trái.

Lời Chúa mời gọi chúng ta suy gẫm về những bất tiện của sự giả hình, “Đã ba năm nay tôi ra cây vả này tìm trái, mà không thấy!”. Kẻ giả hình vờ vịt tin rằng, mình là một ai đó không phải là mình. Dối trá này lên đến đỉnh điểm khi một người giả vờ nhân đức – khía cạnh luân lý – nhưng lại sống trác táng, phóng đãng; hoặc giả vờ đạo đức – khía cạnh tôn giáo – nhưng chỉ quan tâm đến tư lợi mà không màng đến Thiên Chúa. Giả hình về mặt nhân đức gây bao đổ vỡ, giả hình về mặt đạo đức gây bao thương tích!

Một số chính trị gia tuyên bố sẽ phục vụ đất nước trong khi họ chỉ đơn giản là ‘sử dụng’ nó; lực lượng an ninh nhân danh trật tự lại bảo vệ các băng nhóm phi pháp; bác sĩ nhân danh y học lại huỷ hoại một mạng sống đang chớm nở hoặc thúc đẩy cái chết êm dịu của một bệnh nhân hấp hối; truyền thông thay tin hoặc giả vờ làm mọi người thích thú bằng cách làm hư hỏng họ; những người quản lý công quỹ chuyển một phần tiền vào túi riêng của đảng hoặc cá nhân mình; giáo dân cản trở chiều kích công khai của Hội Thánh khi nhân danh tự do lương tâm; các tu sĩ không trung thành với luật dòng; và các Linh mục không phục vụ giáo dân với tinh thần truyền giáo và từ bỏ…

Bạn và tôi đều đã trải nghiệm khoảng cách giữa những gì ‘chúng ta giả vờ là’ và những gì ‘chúng ta thực sự là’. Rõ ràng, những gì ‘chúng ta giả vờ là’ hẳn đã làm cho cuộc sống chúng ta trở nên ‘vô sinh’; và vì thế, đáng bị loại để khỏi chật đất. Tạ ơn Thiên Chúa! Chúng ta có người làm vườn nhân ái Giêsu, “Thưa ông, xin cứ để nó lại năm nay. Tôi sẽ vun xới chung quanh, và bón phân cho nó. May ra sang năm nó có trái!”.

Anh Chị em,

“Đã ba năm nay tôi ra cây vả này tìm trái, mà không thấy!”. Phản ứng của chủ vườn khá hợp lý; chặt nó đi vì chỉ choán chỗ. Tuy nhiên, người làm vườn lại có quan điểm khác. Anh nhìn cây vả dường như ‘vô sinh’ này vẫn có khả năng sinh trái. Anh có tầm nhìn rộng lượng hơn về nó, một tầm nhìn đầy hy vọng. Anh cảm thấy mọi thứ vẫn chưa mất hết; vẫn còn thời gian để nó trở nên tốt đẹp. Đây là cách Chúa Giêsu nhìn chúng ta. Khi nhìn chúng ta, Ngài không chỉ nhìn thấy những gì chúng ta ‘đã không làm được’ trong quá khứ mà còn nhìn thấy những gì chúng ta ‘có khả năng làm được’ trong tương lai. Đó cũng phải là cách chúng ta nhìn nhau, có khả năng nhìn thấy những dấu hiệu yếu ớt của sự sống mới ẩn chứa bên dưới những bề mặt không mấy hứa hẹn!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, Đấng nhẫn nại với con! Cho con nhận ra những dấu hiệu yếu ớt của sự sống mới ẩn chứa bên dưới những bề mặt không mấy hứa hẹn nơi anh chị em con!”, Amen.

 (Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

*****************************

Thứ Bảy Tuần XXIX Thường Niên, Năm Chẵn:

✠ Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

1 Lúc ấy, có mấy người đến kể lại cho Đức Giê-su nghe chuyện những người Ga-li-lê bị tổng trấn Phi-la-tô giết, khiến máu đổ ra hoà lẫn với máu tế vật họ đang dâng. 2 Đức Giê-su đáp lại rằng: “Các ông tưởng mấy người Ga-li-lê này phải chịu số phận đó vì họ tội lỗi hơn mọi người Ga-li-lê khác sao? 3 Tôi nói cho các ông biết: không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy. 4 Cũng như mười tám người kia bị tháp Si-lô-ác đổ xuống đè chết, các ông tưởng họ là những người mắc tội nặng hơn tất cả mọi người ở thành Giê-ru-sa-lem sao? 5 Tôi nói cho các ông biết: không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy.”

6 Rồi Đức Giê-su kể dụ ngôn này: “Người kia có một cây vả trồng trong vườn nho mình. Bác ta ra cây tìm trái mà không thấy, 7 nên bảo người làm vườn: ‘Anh coi, đã ba năm nay tôi ra cây vả này tìm trái, mà không thấy. Vậy anh chặt nó đi, để làm gì cho hại đất?’ 8 Nhưng người làm vườn đáp: ‘Thưa ông, xin cứ để nó lại năm nay nữa. Tôi sẽ vun xới chung quanh, và bón phân cho nó. 9 May ra sang năm nó có trái, nếu không thì ông sẽ chặt nó đi’.” 


 

Chi tiết về các vụ tấn công của Do Thái vào Iran

Theo BBC

Israel cho biết họ đã tiến hành các cuộc không kích nhằm vào Iran, quân đội nước này cho biết đã tấn công vào các địa điểm quân sự ở một số khu vực của Iran vào sáng sớm thứ Bảy.

Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF) cho biết máy bay Israel đã tấn công các địa điểm bao gồm các khẩu đội phòng không và cơ sở sản xuất tên lửa được sử dụng để sản xuất vũ khí, đồng thời nói thêm rằng các cuộc tấn công sẽ mang lại cho IDF “quyền tự do hoạt động trên không rộng hơn” trong tương lai.

Truyền thông nhà nước Iran đưa tin đã xảy ra một số vụ nổ ở trong và xung quanh thủ đô Tehran.

Hành động trả đũa của Israel đối với loạt tên lửa đạn đạo gần 200 của Iran bắn về phía Israel vào ngày 1 tháng 10 đã được dự đoán rộng rãi trong nhiều tuần.

Người phát ngôn của IDF, Chuẩn đô đốc Daniel Hagari cho biết quân đội đã “hoàn thành nhiệm vụ” và chứng minh sự sẵn sàng “bảo vệ nhà nước Israel”.

 

Chính quyền Iran cho biết các địa điểm ở các tỉnh Tehran, Khuzestan và Ilam đã bị tấn công. Quân đội tuyên bố rằng các cuộc tấn công đã được chống trả thành công, mặc dù có “thiệt hại hạn chế” ở một số địa điểm.

Hoa Kỳ, một trong những đồng minh thân cận nhất của Israel, cho biết cuộc không kích hôm thứ Bảy nhằm vào Israel là một “cuộc tập trận tự vệ”, ngôn ngữ được Anh đồng tình, khi một phát ngôn viên chính phủ cho biết Israel có “quyền tự vệ”.

Tehran cho biết họ tấn công Israel để trả đũa cho cái mà họ gọi là “sự vi phạm chủ quyền của Iran và sự tử vì đạo” của nhà lãnh đạo chính trị Hamas Ismail Haniyeh, người đã thiệt mạng trong một vụ nổ ở Tehran vào tháng 7 mà các quan chức Iran đổ lỗi cho Israel.

Vào thời điểm đó, Iran cho biết cuộc tấn công cũng nhằm đáp trả cuộc không kích của Israel vào vùng ngoại ô phía nam Beirut khiến thủ lĩnh Hezbollah Hassan Nasrallah và Chuẩn tướng Abbas Nilforoushan, một quan chức cấp cao của Iran thiệt mạng.

Israel tấn công trả đũa Iran

Ba’o Nguoi-Viet

October 25, 2024

JERUSALEM, Israel (NV) – Israel bắt đầu không kích Iran để trả đũa vụ tấn công ồ ạt bằng hỏa tiễn hồi đầu tháng này, theo Axios và CNN hôm Thứ Sáu, 25 Tháng Mười.

Giới chức Mỹ và Israel tin rằng Iran sẽ đáp trả, nhưng hy vọng sẽ có giới hạn và giúp hai quốc gia thù địch này phá được vòng lẩn quẩn ăn miếng trả miếng.

Chiến đấu cơ F-15 của Israel. (Hình minh họa: Jack Guez/AFP via Getty Images)

Chính quyền Tổng Thống Mỹ Joe Biden lo ngại Iran mà đáp trả mạnh có thể khiến Israel và Iran lâm vào chiến tranh toàn diện.

Đài truyền hình nhà nước Iran đưa tin nhiều vụ nổ xảy ra sáng sớm Thứ Bảy giờ địa phương ở nhiều nơi của nước này, trong đó có thủ đô Tehran.

“Để đáp trả những vụ tấn công liên tiếp suốt nhiều tháng… Lực Lượng Phòng Vệ Israel (IDF) đang không kích mục tiêu quân sự ở Iran,” IDF ra thông báo cho hay. “Iran và những nhóm ủy nhiệm của họ trong khu vực này tấn công Israel không ngừng từ ngày 7 Tháng Mười – trên bảy mặt trận – bao gồm những cuộc tấn công trực tiếp từ lãnh thổ Iran.

Trong cuộc họp tối Thứ Sáu, nội các an ninh Israel chuẩn thuận không kích Iran, một giới chức Israel cho biết.

Giới chức Mỹ xác nhận Israel thông báo cho chính quyền Tổng Thống Biden biết trước vài giờ rằng họ sẽ không kích Iran.

Mỹ không tham gia vụ không kích này, giới chức cao cấp chính quyền ông Biden tuyên bố hôm Thứ Sáu.

“Chúng tôi biết Israel đang không kích mục tiêu quân sự ở Iran để tự vệ và đáp trả vụ Iran tấn công Israel bằng hỏa tiễn hôm 1 Tháng Mười. Chúng tôi yêu cầu quý vị liên lạc với chính phủ Israel nếu muốn biết thêm thông tin về chiến dịch của họ,” ông Sean Savett, phát ngôn viên Hội Đồng An Ninh Tòa Bạch Ốc, ra thông báo cho hay.

Tổng Thống Biden hiện đang ở Wilmington, Delaware, và nhóm cố vấn của ông hiện không dự tính nhóm họp trong Situation Room của Tòa Bạch Ốc. Tuy nhiên, Tổng Thống Biden có nghe báo cáo về vụ không kích của Israel và đang theo dõi chặt chẽ diễn biến vụ này, theo giới chức Tòa Bạch Ốc.

Mấy tuần nay, vùng Trung Đông căng thẳng chuẩn bị cho tình huống Israel trả thù vụ tấn công bằng hỏa tiễn của Iran.

Trong khi đó, giới chức Mỹ hàng đầu đã nói rõ Israel nên tránh làm tăng căng thẳng hoặc ảnh hưởng tới nền kinh tế toàn cầu, theo nguồn tin biết vấn đề này.

Trong một loạt cuộc họp định kỳ, Tổng Thống Biden và nhóm cố vấn an ninh quốc gia hàng đầu của ông nói rõ họ không ủng hộ Israel không kích cơ sở nguyên tử hoặc dầu mỏ của Iran.

Mặc dù tin rằng những quốc gia sản xuất dầu khác có thể dễ dàng bù sản lượng gần 1 triệu thùng của Iran, nhưng giới chức Mỹ lo ngại nhiều hơn về việc thị trường phản ứng quá đáng nếu Israel tấn công những cơ sở đó, làm giá dầu tăng vọt giữa lúc cử tri Mỹ đi bầu tổng thống.

Hôm Thứ Sáu, nguồn tin quân sự Israel cho CNN hay nước này không tấn công cơ sở hạ tầng năng lượng Iran, và cuộc không kích này do Israel thực hiện 100%, nhưng vẫn “hợp tác sâu sắc” với Mỹ, chẳng hạn về phòng không. (Th.Long) [qd]


 

50 năm nhìn lại những ngày mất Sài Gòn (Kết)- Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

25/10/2024

Những cố gắng cuối cùng để thoát khỏi Sài Gòn. Nguồn: Hugh van Es/REUTERS

Xem tiếp phần I, phần II

50 năm nhìn lại ngày 30 tháng Tư, chỉ mong rằng sau này, người ta biết coi là một bài học đau thương của cả một dân tộc.

15-4, 1975 | Phúc trình về số vũ khí viện trợ còn lại ở miền Nam

Theo thông tin của hãng AP, tin từ Ngũ Giác đài cho hay số vũ khí, đạn dược, máy bay bị hủy hoại hiện nay tính bằng tiền là 780 triệu Mỹ kim. Nhưng nếu tính cá các kho hàng, phi trường, bến cảng thì số tiền lên đến từ 5 đến 10 tỷ. 300 máy bay mà một nửa là trực thăng đã bị mất, hoặc bất khả dụng vì thiếu phụ tùng thay thế.

Trong cuộc triệt thoái Tây nguyên, chúng ta để mất hầu như hơn phân nửa các xe tải, súng đại bác cũng như các xe tăng.

15- 4 | Lời tuyên bố của Thái tử Sihanouk

Theo tin của hãng Reuters, từ Paris cho hay, thái tử Norodom Sihanouk của Cam Bố tuyên bố, ông sẽ rút lui khỏi chính trường trong trường hợp chính quyền hiện tại rơi vào tay cộng sản. Ông nói, “Sau chiến thắng, tôi tin chắc là tôi sẽ rút lui. Tôi đã ở ngôi vua từ lúc 18 tuổi cho đến nay tôi dã 52 tuổi. Tôi nghĩ rằng tôi đã phục vụ đầy đủ xứ sở của mình.” Ông nói thêm, “Tôi không phải người cộng sản, tôi cũng không phải Khmer rouge. Tôi không muốn là thứ bù nhìn của Khmer rouge.”

15-4, 1975 | Sau 7 ngày bị bao vây và pháo kích liên tục

Bản đồ mặt trận Xuân Lộc , tháng Tư 1975. Nguồn: Gucci | vnafmann.com

Xuân Lộc (Long Khánh), sau 7 ngày đêm bị bao vây và phái kích liên tục. Nhưng vẫn đứng vững. Phát ngôn viên quân đội Việt Nam cho hay hiện nay họ rút ra bên lề thành phố.

Về phía cộng sản, sau 7 ngày giao tranh, Văn Tiến Dũng đã liên lạc với Bộ chính trị tại Hà Nội cho thêm thời gian để tổng tấn công Sài Gòn.

Văn Tiến Dũng nhận định rằng sư đoàn 18 của tướng Lê Minh Đảo đa cầm cự một cách dũng cảm. Mặt khác, tướng Nghi ở Phan Thiết cũng gây cản trở không ít cho việc tiến quân từ Phan Rang vào. Các cánh quân từ vùng một chưa thể kịp thời điều động kịp thời vào miền Nam để tiếp tay đánh chiếm An Lộc

Bộ chính trị từ Hà Nội đã cấp thời trả lời: Đồng ý thời hạn cho chiến dịch Hồ Chí Minh. Trong bức điện tín ký tên Lê Duẩn.

Tin buồn cho Xuân Lộc là Phan Rang đã mất. Phần phi trường Biên Hòa thì bị cộng quân pháo kích nặng nề và trở nên tê liệt. Việc tiếp tế cũng như hỗ trợ bỏ bom bị giới hạn rất nhiều. Số phận An Lộc sẽ tùy vào đó để có thể đương đầu với sự tấn công của cộng quân.

Nhưng trong suốt cuộc thoái quân của quân đội VNCH, người ta thấy rằng nếu muốn, chúng ta có thể cầm cự lâu hơn là chúng ta tưởng! Xuân Lộc đứng vững từ 9 đến 22 tháng Tư, 1975 là một bằng chứng.

Sáng ngày 15 tháng tư, 1975

Đây là lần đầu tiên, phi trường Biên Hòa bị pháo kích. Đoàn 325 từ Huế đã vào vị trí tân công ở Xuân Lộc. Trung bình một ngày Xuân Lộc nhận lãnh 2000 quả đạn pháo kích. Một đơn vị quân đội ở phía Đông Xuân Lộc đã được trực thăng bốc đi.

Tình hình quân sự càng lúc càng tỏ ra lún sâu thì các vận động chính trị càng trở nên ráo riết.

26 nhà chính trị ở Sài Gòn trong một thông cáo vào ngày 13 thúc dục chính quyền nhường lãnh thổ để có thể để đạt tới ngưng bắn.

Tinh thần chủ bại lan rộng vào nhiều tầng lớp dân chúng.

TT Trí Quang, nổi tiếng một thời, tuyên bố một cách buồn bã vào ngày 15-4 là “Chiến tranh đã thua. Tất cả mọi chuyện, ngay cả tín ngưỡng rồi cũng sẽ bị tiêu diệt khi cộng sản nắm chính quyền.”

Lời tuyên bố muộn màng. Nhưng có còn hơn không!

16 tháng tư, 1975

Bản đồ VNCH Ngày 16 tháng Tư. Nguồn AP

Cánh quân ở Phan Rang với 2500 binh sĩ đã rút lui khỏi Phan Rang bằng đường biển, khi bị cộng quân với quân số 5000 người tấn công có xe tăng yểm trợ. Phan Rang cách Sài Gòn 165 dặm.

Cộng quân nay kiểm soát 18 thành phố trên tổng số 44 và chiếm hai phần ba lãnh thổ miền Nam.

Nguồn tin quân sự cho hay sau khi quân đội VNCH rút đi, máy bay đã đến bỏ bom phi trường Phan Rang. Có thể có hai sĩ quan cao cấp của VNCH đã bị cộng sản bắt cầm tù.

Cũng ngày hôm nay, phi trường Biên Hòa tiếp tục bị pháo kích và bộ chỉ huy của quân đoàn III. Có 4 máy bay phản lực F5 đã bị phá hủy và căn cú không quân Biên Hòa phải tạm đóng cửa.

Sư đoàn 18 đóng ngoài Xuân Lộc cho đến lúc này cũng khó thoát khỏi bị tràn ngập. Hàng ngàn quả pháo đã rót vào Gia Kiệm, cách Xuân Lộc 8 dặm và có khoảng 2000 binh sĩ sư đoàn 18 đang trấn giữ ở đó. Gia Kiệm cách Sài Gòn 38 dậm.

Người ta nhận thấy cộng quân dùng chiến xa của VNCH bỏ lại  khi tháo chạy để tấn công ngược lại binh sĩ VNCH. Tinh Thần binh sĩ vì thế càng xuống thấp.

Ngày 16 tháng Tư | Tin vui hay tin buồn

Theo tin của UPI, từ Washington cho hay Quốc Hội Hoa Kỳ vừa chấp thuận chuẩn chi 200 triệu đô la để giúp việc di tản 5000 người Mỹ và 174.000 người Việt Nam. Thượng nghị sĩ John. J. Sparkman thuộc tiểu bang Alabama nói thêm rằng Quốc Hội cũng cho phép di tản ngay 4000 người Mỹ nội trong tuần này, còn lại 1000 người trong tuần sau. Ngoài ra còn có khoảng 200 triệu cho viện trợ nhân đạo.

Cho đến lúc này, Kissinger còn yêu cầu Quốc Hội Mỹ cấp tốc chuẩn chi 1.3 tỉ đô la cho Việt Nam.

Khả năng và sức mạnh duy nhất mà quân đội miền Nam có được là các cuộc thả bom xuống các vùng do địch chiếm đóng. Vậy mà phần đông các máy bay F-5 và A-37 tại căn cứ không Biên Hòa không cất cánh được vì các cuộc pháo kích của cộng quân.

Chỉ có không quân mới có thể làm chậm bước tiến của cộng sản.

Và theo các giới chức Hoa Kỳ, không có máy bay, VNCH sẽ bị tràn ngập bởi ưu thế về người và ưu thế quân sự và những tuần lễ tới đây là những tuần lễ quyết định cho số phận miền Nam. Đã thế, do sự cung cấp của Nga Xô các loại hỏa tiễn surface-to-air missile đã làm giảm thiểu khả năng uy thế của máy bay của không lực Việt Nam.

Ngày 20 tháng tư, 1975

Đại sứ Mỹ Martin đến gặp Thiệu không phải với tư cách đại diện nước Mỹ hay đại sứ Mỹ mà như một người bạn để bàn vệc Thiệu cần ra đi. Cuộc nói truyện kéo dài khoảng một tiếng rưỡi đồng hồ. Đại sứ Martin không hẳn khuyến khích ông Thiệu từ chức. mà ông nghĩ rằng trước lúc chia tay, Tổng thống Thiệu hứa rằng, ông sẽ làm điều gì xét rằng tốt nhất cho đất nước của ông.

Ngày 22 tháng Tư | Thiệu từ chức

Trong diễn văn từ chức, ông Thiệu, một lần chót trước công chúng, đã có dịp trả một món nợ cho một người mà ông thù ghét nhất, Henry Kissinger.

“I never thought a man like Mr. Kissinger would deliver our people to such a disastrous fate.” – President Thieu in resignation speech.

Ông Thiệu đã có lý để làm như vậy trước khi từ chức.

Sau này dù Tổng thống Gerald Ford có phủ nhận giá trị ràng buộc những thư mật giữa Tổng thống Nixon và Tổng thống Thiệu thì điều đó cũng chỉ cho thấy, người Mỹ đã phản bội những lời hứa hẹn của Tổng thống Nixon. Thượng nghị sĩ Henry Jackson gọi đó là những thỏa thuận bí mật (secret agreement) không chối bỏ được.

Trước khi từ chức, ông Thiệu có gọi cho đại sứ Martin có thể nào giúp ông rời khỏi Việt Nam không? Dĩ nhiên là vì đại sứ Mỹ có thể làm được. Đại sứ Martin liền nhờ trùm tình báo Thomas Polgar lo việc này. Polgar lại giao trách nhiệm cho Frank Snepp. Ông này có bổn phận đến ông Thiệu ở tư dinh tướng Khiêm trực tiếp lái xe, đưa ông Thiệu ra phi trường và đại sứ Martin đã ở sẵn đó, có lời giã biệt Thiệu.

Trước lúc đó trên một chiế xe Volkswagen, tướng Timmes cùng với viên Đại sứ đi gặp tướng Kỳ. Ở đây, ông Đại sứ khuyên tướng Kỳ không nên hành động gì vì kết quả sẽ chẳng đi đên đâu.

Cũng được biết rằng trước đó, ông Hoàng Đức Nhã nhận được một cú điện thoại của Thủ tướng Lý Quang Diệu mời sang Singapore. Sang đến nơi, thủ tướng Lý Quang Diệu cho Hoàng Đức Nhã hay là người Mỹ đã dàn xếp để ông Thiệu có thể rời Việt Nam đến một nước nào đó thuộc Đông Nam Á.

Hoàng Đức Nhã gọi điện thoại về cho ông Thiệu. Ông Thiệu trả lời ông đang mong chờ tin tức như thế.

Cuộc ra đi của ông Thiệu cùng với Trần Thiện Khiêm cùng với vài sĩ quan phụ tá bay sang Đài Loan. Có tất cả 14 người trong chuyến bay đêm này. Tất cả bọn họ đều là đàn ông.

Thư cựu TT Nguyễn Văn Thiệu gởi TT Trần Văn Hương xin người đi công tác, 25/1975.

Có nhiều người không ngờ rằng, đêm nay ông Thiệu và ông Khiêm lại cùng đến một điểm hẹn. Trước đây dư luận Sài Gòn cho rằng giữa hai người có nhiều khác biệt và thủ tướng Khiêm đang tìm cách để lật đổ ông Thiệu.

Rõ ràng là sai lầm. Ông Khiêm luôn luôn chứng tỏ là một người trước sau trung thành với ông Thiệu. Cũng có dư luận cho rằng ông Thiệu mang theo nhiều vàng. Theo ông trùm mật vụ Thomas Polgar, ông Thiệu đã không mang theo một chút vàng nào trong mười mấy chiếc valise của ông. Tổng thống Thiệu hiện có anh ông đang làm đại sứ ở Đài Loan, còn thủ tướng Khiêm cũng từng là cựu đại sứ VNCH tại đây. Người Mỹ đã dùng một chiếc máy bay DC-6 có thể bay đi bất cứ đâu mà không cần tiếp tế nhiên liệu.

Ông Thiệu còn cẩn thận xin Tổng thống Trần Văn Hương ký cho một sự vụ lệnh sang Đài Loan thăm viếng, lễ tang Tổng thống Tưởng Giới Thạch, mặc dầu ông này đã chết từ ngày 6 tháng Tư, và đã an táng hôm 16.

Tin TT Tưởng Giới Thach qua đời (7/4) và lễ an táng ngày 16/4 và công văn viết tay ngày 25/4 của TT Trần Văn Hương cử cựu TT Nguyễn Văn Thiệu và ĐT Trần Thiện Khiêm đi dự lễ an táng TT Trung Hoa Dân Quốc.

Còn lại là số phận miền Nam. The game is over!

Theo tin hãng AP từ Sài gòn thì nay Tổng thống Trần Văn Hương định giao cho tướng Minh làm thủ tướng chính phủ, nhưng nhất định từ chối lời yêu cầu của tướng Minh là vai trò tổng thống. Tổng thống Trần Văn Hương sau đó đã mời chủ tịch Thượng Nghị Viện Trần Văn Lắm để chính thức nhường ngôi vị cho ông Dương Văn Minh. Với sự chuẩn y của Quốc Hội. Với 134 thượng nghị sĩ còn sót lại đã tới dự bầu Minh làm tổng thống.(*)

Trong khi đó cộng quân vẫn tiến hành cuộc tấn công vào Sài Gòn và chờ đợi một giải pháp chính trị như họ yêu cầu.

Theo nguồn tin của tình báo phương Tây thì cộng quân đã ở vào vị trí sẵn sàng tấn công vào Sài gòn vào ngày thứ hai.

Nội các của thủ tướng Nguyễn Bá Cấn thì đã từ chức vào thứ tư vừa qua sau chỉ 11 ngày như một nội các tạm thời chờ được thay thế.

Những áp lực đòi Tổng thống Trần Văn Hương, 71 tuổi, rút lui để ông Dương Văn Minh có thể tạo một chính phủ mới mà cộng sản có thể chấp nhận thương thảo.

Phía bên kia, tướng Dũng gửi một điện cho tướng Tấn, “Phải vượt mọi khó khăn để chùng ta có thể ngày 29 tháng tư mở trận đánh cuối cùng vào Sài gòn.”

Nay dù đã thay ông Hương bằng Dương Văn Minh thì phía Hà nội đã cương quyết không có thương lượng gì cả, từ chối đàm phán với ông Minh.

Đó chỉ là những đòn phép chính trị giả mạo mà thôi.

Người Mỹ đã dùng trực thăng đưa được 4500 người ra tầu biển đậu ngoài khơi bờ biển Việt Nam.

Ngày 24 tháng tư, 1975. Viet Nam war finished for Americans-Ford

Vào tối thứ tư, Tổng thống Ford đã đến đọc một bài diễn văn tại đại học Tulane trước 4700 sinh viên đang vui mừng.

Tổng thống Ford tuyên bố, “Chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt. Và ông kêu gọi người dân Hoa Kỳ ‘to write a new agenda for the future”.

Và ông cho rằng nay là thời gian để Hòa giải, hàn gắn những vết thương và những bất đồng để xây dựng một đất nước Hoa Kỳ tốt đẹp hơn cho tương lai.

Các sinh viên đã vỗ tay tán thường khi ông Ford tuyên bố:

“Today, America can regain the sense of pride that existed before Vietnam. But it cannot be achieved by re-fighting a war that is finished as far as America is concerned.”

26 tháng tư, 1975 | Một vớt vát cuối mùa

Theo tin của hãng AP, Tổng thống Trần Văn Hương đã khởi sự sẵn sàng nói chuyện với Bắc Việt về một giải pháp hòa bình. Ông Trần Văn Hương còn muốn gửi một bộ trưởng trong nội các ra hà nội để thăm dò quan điểm của Hà Nội. Một ngôn viên chính phủ còn cho biết, người Mỹ sẵn sàng cung cấp một máy bay của quân đội Mỹ bay ra Hà Nội.

Đó là những dự tính ảo tưởng, cuối mùa và tỏ ra đã quá trễ.

Trong khi đó thì tòa đại sứ Canada đã cuốn cờ, khăn gói về nước một cách lặng lẽ.

Trong khi đó Ngoại trưởng đương nhiệm của Canada, ông Mitchell Sharp tiết lộ cho hay Canada sẵn sàng chấp nhận 14.000 người Việt sang tỵ nạn Canda. Danh sách cũng như người bảo trợ đã được gửi cho chính quyền Việt Nam cách đây hai tuần. Nhưng Canada đã không nhận được sự chấp thuận chính thức nào. Hàng trăm người Việt đã tức giận đến trước cửa tòa đại sứ Canada. Và họ được ông Ernest Hebert yêu cầu họ quay lại ngày thứ Sáu xem có tin tức gì mới.

CBC DIGITAL ARCHIVES | Apr 24, 1975 | 4:40 | Peter Kent | Canadians pull out of Saigon

Trong khi đó, cộng quân có đủ khả năng để mở một cuộc tấn công vào Sài Gòn bất cứ lúc nào.

Cho đến giờ này đã có khoảng hơn 6000 người Mỹ đã rời khỏi Việt Nam, nay chỉ còn lại khoảng 1681 người tính đến ngày thứ tư tuần này.

Và trong một hai ngày nữa, con số sẽ tụ xuống còn 500 người.

American luxuries weakened S. Viet backbone

Chắc hẳn nhiều người sẽ không quên tên ký giả Malcolm W. Browne vào thời kỳ năm 1963 trong vụ Phật giáo.

Bài báo của M. Browne được đăng trên tờ N.Y. Times News Service. Ông ta đặt câu hỏi, tại sao quân đội VNCH lại rơi vào hoàn cảnh như hiện nay? Câu trả lới là quân đội miền Nam đã quá quen thuộc lối đánh nhau của con nhà giàu. Không bao giờ thiếu súng, thiếu đạn, tạo mọi điều kiện cho việc đánh nhau. Đi đâu có xe, có trực thăng chuyên chở. Đến nỗi mỗi khi di chuyển, không ai còn muốn đi bộ, lội rừng, lội suối. Vì thế cũng dễ bị phục kích. Cách đánh nhau như thế khác hẳn với bộ đội cộng sản. Có thể so sánh như một bên đi giầy, một bên đi đất.

Ôi! Lúc này bình luận gì, nói gì chả được!

South Viets use deadly fire bomb

Theo tin của UPI từ Sài Gòn gửi đi cho hay, quân đội Việt Nam được cung cấp loại bom lửa 5 tấn (five-ton fire bomb) có thể sát hại mọi thứ trong vòng bán kính 100 bộ anh.

Nguồn tin cho hay không quân Việt Nam đã xử dụng ít lắm là một lần.

Nguồn tin này được tiết lộ ra do đài phát thanh Hà Nội tố cáo không quân Việt Nam đã xử dụng một loại vũ khí mới. Họ tố cáo người Mỹ và Việt Nam đã vi phạm luật pháp quốc tế. Và tội phạm ấy chẳng khác gì tội phạm của Hitler trong quá khứ.

Loại bom này cùng một loại với bom Napalm, được thả xuống bởi các máy bay C-130 Hercules, bay ở độ cao 20.000 bộ tạo ra một quả cầu lửa làm bốc cháy tất cả, tạo ra hiện tượng thiếu Oxy làm cho con người chết nghẹt thở trong vòng bán kính 100 bộ Anh.

Theo nguồn tin của các binh sĩ VNCH cho hay họ đã thấy hàng chục những thây người bộ độ chết bề ngoài không thấy có vết thương gì. Và họ tin rằng đó là một vũ khí mới trong trận đánh ở Xuân Lộc, cách Sài gòn 38 dặm.

Ngày 28 tháng tư, tướng Minh lên thay Tổng thống Trần Văn Hương

Các thành phần chính phủ Dương Văn Minh gồm luật sư Nguyễn Văn Huyền, Phó Tổng thống, ông Vũ Văn Mẫu, Thủ tướng. Người ta thấy vắng mặt trong những ngày cuối cùng của một số người thân tín của ông Dương Văn Minh như các ông Lý Chánh Trung, Hồ Ngọc Nhuận, Ngô Công Đức, Nguyễn Hữu Chung,…

Sự vắng mặt này có lý do của nó. Một số họ là những người có liên hệ chặt chẽ với cộng sản nên đã được khuyến cáo là không tham gia chính phủ, số khác đã lên tàu vượt biển.

Phần cuộc đời ông Dương Văn Minh có thể tóm tắt vào ba việc:

  1. Giúp ông Diệm dẹp Bình Xuyên, Bảy Viễn và đã được đền bù bằng số vàng tịch thu được của Bảy Viễn mà khọng khai báo. Sau đó còn được Ông Diệm cho một căn nhà rộng 270 m quay mặt ra Trần Quý Cáp và Hồng Thập tự.
  2. Thứ hai đã có công tham gia vào việc lật đổ ông Diệm cũng như ám sát hai anh em ông Diệm theo sự sắp xếp của Mỹ.
  3. Có công làm Tổng thống hai ngày mà mục đích chính là trao miền Nam cho cộng sản Bắc Việt.

Giờ tuyên bố đầu hàng

Cái giờ chính thức mà ông Minh tuyên bố đầu hàng trên đài phát thanh Sài Gòn là khoảng gần trưa.

Trong khi đó số người tỵ nạn đến được đảo Guam là 40.000. Con số này sẽ còn tăng thêm trong vài ngày sau đó. Người trách nhiệm đứng đầu trông coi sắp xếp người tỵ nạn đến Guam là ông James Megellan. Họ cũng tiết lộ cho hay bà Nguyễn Cao Kỳ đã đến West Coast từ đêm thứ hai, ba ngày trước khi ông Nguyễn Cao Kỳ tố cáo những kẻ trốn chạy là hèn nhát. Bà Kỳ sẽ ở với bà con ở San Francisco.

Ông Kỳ khi đó cũng đã lên được chiến hạm USS Blue Ridge, chiến hạm chỉ huy của Hạm đội có trách nhiệm trong Chiến dịch Frequent Wind, di tản người Mỹ và một số đồng minh.

Các sĩ quan của Việt Nam thì theo thủ tục phải bị tước vũ khí và khám xét (submitted to the same body search as privates).

Một tướng ba sao đã mang theo bên mình một valise. (Trích trong journal News Services nhan đề: Hordes of refugees en route to US.)

Món nợ mà Kissinger phải trả với người Việt Nam

Cuộc chiến nay đã chấm dứt. Hậu quả để lại nặng hai vai người Miền Nam.

Người Mỹ có thể ra đi mà không mất gì. Người Việt miền Nam bây giời mới thật sự họ đang phải chịu đựng một chế độ mới, Họ phải lên tiếng về chính sách của người Mỹ trong 6 năm qua. Người có trách nhiệm về chính sách ấy không ai khác là ngoại trưởng Kissinger.

Trong thất bại làm sụp đổ miền Nam ông chịu trách nhiệm một phần không nhỏ. Ít nhất ông cũng phải từ chức vì những chính sách thất bại của ông ở miền Nam.

Cũng vậy, khi nước pháp bại trận thì chính phủ Pháp phải xin từ chức và đưa một người khác lên thay là Thủ tướng Mendes France. Nhờ đó Thủ tướng mới có thể rộng tay thương thuyết với phía cộng sản.

Trường hợp ông ngoại trưởng Kissinger có phần khác. Ông đã tiến hành một chính sách bất nhất, hoài nghi. Ông biết rõ những nhược điểm của ông mỗi khi cần thương lượng.

Hiệp định Ba Lê hoàn toàn là một sản phẩm của Kissinger với nhiều khoản nhượng bộ đến phi lý. Quan điểm hòa bình của ông chỉ là những điều khoản ràng buộc về trách nhiệm của Hoa Kỳ và Việt Nam để rảnh tay cho phía cộng sản thao túng.

Chính sách của Hoa Kỳ do một người soạn thảo, một người thương lượng, một người điều hợp tỏ ra không thực tế và ảo tưởng một người ký kết thỏa thuận bất chấp sự chống đối của đồng minh của Hoa Kỳ.

Cái hòa bình cũng như khả năng rút quân mà vẫn duy trì được ổn định nay trở thành một ảo tưởng và kết quả là miền Nam rơi vào tay cộng sản.

Cái hòa bình mà Kissinger lúc thì đề cao Peace at hand, lúc thì Peace in honor. Thực ra thì đó là Peace with horror!

Chúng ta hãy nghe lại những lời tuyên bố của Tổng thống Nixon về Hiệp định Ba Lê và ‘Peace With Honor’ trên đài  truyền thanh và truyền hình Mỹ ngày 23 tháng Hai, 1973:

…, let us be proud that America did not settle for a peace that would have betrayed our allies, that would have abandoned our prisoners of war, or that would have ended the war for us but would have continued the war for the 50 million people of Indochina.

…, chúng ta hãy hãnh diện vì nước Mỹ không thương lượng một giải pháp hòa bình chỉ cho chúng ta mà có thể phản bội lại các đồng minh của mình và bỏ rơi tù binh Mỹ và có thểchấm dứt cuộc chiến cho mình nhưng chiến tranh vẫn tiếp tục đối với 50 triệu người dân Đông Dương.

Sau đó, Kissinger còn định ra Hà Nội quảng cáo cho cái Hòa bình giả hiệu ấy vào ngày 31 tháng 10, chỉ vài ngày trước ngày bầu cử Tổng thống Mỹ. Khi Hiệp Đinh đuợc ký kết, tình trạng quân sự của miền Nam càng ngày càng yếu đi, mất dần các phần đất đã kiên trì bảo vệ trong 21 năm.

Chúng ta chỉ cùng nhau đọc những điều giả dối trong Điều 11 là đủ:

Ôi. Đều là bánh vẽ thôi!

Ông Clark Clifford đã yêu cầu Kissinger phải ra đi. Và ngày hôm nay có những câu hỏi đặt ra về chính sách của Hoa Kỳ dựa trên quan điểm của Kissinger trong nhiều năm là một sự thất bại hoàn toàn. Chính sách ngoại giao con thoi và bí mật chẳng qua chỉ là để che đậy về những yếu kém và nhượng bộ địch!

Trong một bài viết của Anthony Lewis với nhan đề “Should Kissinger Quit?” Bài viết đó một cách gián tiếp ám chỉ chính sách của Hoa Kỳ do Kissinger thao túng đã trở nên sai lầm không sửa đổ được như trong trường hợp Việt Nam.

Đọc bài viết này, người viết cảm thấy hả dạ một chút. Tên Kissinger được coi như kẻ phản bội Việt Nam số 1. Vì y mà Việt Nam nên nỗi như thế này!

Viet Cong Flag Flies over Ho Chi Minh City

Những cố gắng cuối cùng để thoát khỏi Sài Gòn. Nguồn: Hugh van Es/REUTERS

Theo lời phóng viên Leon Daniel, UPI, có mặt tại chỗ tại Sài Gòn khi những người cộng sản đầu tiên vào thành phố trên những chiếc xe tăng do Nga chế tạo. Họ trước tiên đến đường Tự Do, nơi mà trước đây là nổi tiếng ăn chơi của người Mỹ với hàng loạt các quán bar, nay vắng ngắt, cửa đóng im ỉm. Sau đó họ tiến vế phía Dinh Độc Lập, nơi mà ông Dương Văn Minh cùng với nhân viên chính phủ đang kiên nhẫn đứng đợi họ. Những người lính Việt Cộng xem ra kỷ luật trong khi chiến thắng cũng như khi chiến trận.

Phần đông người dân Sài Gòn mở hé cửa nhìn ngắm những chiếc xe tăng chạy qua một cách im lặng. Chỉ một vài người vỗ tay, hoan hô. Nhưng phần đông chỉ đứng nhìn và trông đợi một tương lai không mấy sáng sủa gì về những người chủ mới tới.

Chỉ còn vài người Hoa Kỳ còn sót lại, chắc là ký giả Mỹ. Phần ông đại sứ Martin đã rời tòa đại sứ trên một chiếc trực thăng sớm hôm nay.

Ông có thể được coi như người Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam

Trên tờ Le Devoir ở Montreal, “Tous les américains ont quitté”.

Tờ Le Devoir, hiện nay vẫn còn xuất bản mỗi ngày, đã chạy tít “La Chute de Sai Gon est Imminente”.

Theo tin AFP, 81 trực thăng của Mỹ đã vận chuyển được 6400 người ra các Hàng không Mẫu hạm và tầu chở trực thăng của Mỹ. Cuộc vận chuyển khổng lồ này chỉ kéo dài trong thời gian 13 tiếng đồng hồ và chấm dứt 25 năm người Mỹ can thiệp vào Việt Nam. Nhiều tiếng súng bắn lên các trực thăng này khi họ bay qua những đám quân nhân uất hận vì bị kẹt ở lại.

Đại sứ Graham Martin đã rời tòa đại sứ tại Sài Gòn vào khoảng nửa đêm với những chiếc trực thăng chót.

The Ottawa Journal. Wednesday, April 30, page 21: No Viet Flowers as Marines leave

Nhà báo Peter Arnett, người từng nhận được giải thưởng Pullitzer Prize, ông còn ở lại Sài Gòn khi những người lính Thủy quân lục chiến cuối cùng rời Việt Nam. Ông còn nhớ lại, cách đây 10 năm, ông là những người lính trong đơn vị Thủy quân lục chiến lần đầu tiên tại bãi biển Đà Nẵng. Ở nơi đây, ông được đón tiếp bằng những vòng hoa do các thiếu nữ xinh đẹp ở Đà Nẵng choàng vào cổ.

Một thập niên đã đi qua.

Và hôm thứ ba này, tôi được chứng kiến những thủy quân lục chiến lên máy bay. Họ trông cũng vẫn vậy, trông vẫn vóc dáng khỏe mạnh, trẻ đẹp. Cũng vẫn những bộ quân phục là ủi thẳng thướt như lần đấn đây.

Nhưng thái độ của người Việt Nam thì có khác.

Sau đó đã có khoảng 20 chục ngàn sĩ quan Việt Nam được gửi sang Mỹ để được huấn luyện đánh giặc theo kiểu Mỹ.

Một lối đánh giặc chủ yếu dựa vào bom và trọng pháo và sẽ chỉ hữu hiệu bao lâu mà vẫn có đủ máy bay, bom đạn trọng pháo.

Binh đội VNCH đã học được thói quen đánh giặc kiểu nhà giàu (luxury of the US way). Không có những thứ ấy, họ trở thành bất khiển dụng.

Để có thể thắng trận và chiến thắng cộng sản ở Việt Nam, phải có một cách đánh trận theo kiều Việt Nam.

Phải chăng đây chỉ là những lời khuyên, hay nhắn nhủ quá muộn màng!

Và may mắn ra, chính quyền đệ nhất cộng hòa nghĩ ngay tới chuyện đấu thầu cho khai thác dầu hỏa ngay tứ năm 1955-1956 thì đến 1973 có thể ngoài khơi Vũng Tàu đã có dầu hỏa phun lên. Lúc ấy ta có cần chi đến tiền của Mỹ và ta sẽ đánh trận theo kiểu Mỹ?

Rất tiếc là mọi sự ở đời đã không xảy ra như vậy!

30-4 -1975 | Cheers, fears, suicide in Saigon

View image | gettyimages.com

Saigon (AP) Một số chừng một chục chiếc xe tăng, xe kéo theo pháo cũng như xe tải làm tại Trung Quốc ngụy trang các lá cây đang chạy trên đại lộ Thống Nhất để tiến vào Dinh Tổng thống vào lúc buổi chiều nay.

Một số người miền Nam vỗ tay khi đàn xe đi qua vẫy cờ màu xanh và đỏ của họ với một ngôi sao vàng ở giữa rồi họ dừng xe ngay giữa đại lộ rộng thênh thang.

Trong khi đó, trước tiền đình Quốc Hội, một viên trung tá cảnh sát bước đến sát một bức tượng trên đài kỷ niệm, ông dơ tay chào nghiêm và tự nổ súng vào đầu.

Ông chết sau ít lâu khi được chở vào nhà thương.

Người ta cũng nghe thấy tiếng súng nổ ở gần tòa nhà quốc hội. Một người lính Bắc Việt đứng canh gác trước tiền đình tòa nhà trong bộ quân phục mầu Olive với đôi dép cao su đen.

Họ bắn qua lại bằng vài phát súng khi có những cánh tay dơ ra ở một chỗ nào đó gần đấy. Một vài người đi xe gắn máy chạy xe qua đó với vẻ sợ hãi xem ai đang bắn. Một lúc sau thì mọi chuyện trở lại yên tĩnh.

Trong khi Tổng thống Dương Văn Minh còn đang đọc diễn văn đầu hàng trên đài truyền hình và cộng quân đang tiến vào thành phố, người dân miền Nam cả binh sĩ cũng như thường dân còn chen chúc nhau trên mấy chiếc tầu chạy ven biển còn neo dọc theo bờ sông Sài Gòn.

Giờ phút chót, họ vẫn hy vọng họ có thể đi thoát.

Nhưng họ đã phải rời tầu khi thấy một đoàn xe díp chở bộ đội dọc theo bờ sông rồi một phản ứng rất đột ngột, họ vẫy cờ cộng sản và hoan hô.

Mộ số dân chúng đứng trước cửa nhà và quan sát đám việt cộng và lính Bắc Việt đi qua. Lúc đầu, họ rụt rè không có phản ứng gì..

Sau đó thì có người bắt đẩu hoan hô khi thấy có nhiều đám bộ đội khác tiến vào thành phố.

Kỳ Nhân, một nhiếp ảnh viên người Việt từng làm việc cho hãng The Associated Press trong ba năm đi cùng với một người Việt cộng vốn là bạn và hai lính cộng sản từ miền Bắc vào nói với phóng viên hãng thông tấn AP rằng,

“Tôi bảo đảm an ninh cho mọi người ở đây. Tôi từng theo Cách Mạng từ 10 năm nay. Công việc của tôi là liên lạc với báo chí thế giới và thông báo lại cho việt cộng tin tức.Tôi bảo đảm an ninh cho mọi người ở đây.”

George Esper, Văn phòng trưởng hãng thông tấn AP, đã tiếp họ nước Coca-Cola và một ít bánh ngọt còn lại.

Một trung sĩ Việt cộng tên là Binh Huan Lam, 25 tuổi, anh nói anh dến đây từ Hà Nội và đã đi lính được 10 năm. Tôi đã không cưới vợ bởi vì không cần thiết trong thời chiến tranh.

Nhiều người dân thành phố Sài Gòn đi bộ hoặc đi xe đạp trong thành phố. Lính miền Bắc tỏ ra tò mò khi quan sát sinh hoạt thành phố còn người dân cũng tò mò không ít nhìn ngắm cách ăn mặc của bộ đội miền Bắc.

Nhưng đã có rất nhiều người khác thì quyết định ở trong nhà. Một phụ nữ 26 tuổi nói: Họ xem ra tử tế, nhưng vẫn phải chờ xem.

Nhận xét được coi là khuôn vàng thước ngọc. Phải chờ xem

Một thương gia Pháp có được một khung hình quý giá của gia đình Tổng thống Nixon vói chữ viết, To Ambassador and Mrs. Graham Martin with appreciation for their service to the nation. Khung ảnh này chắc do mấy tên thổ phỉ nhặt được trong tòa đại sứ Mỹ, thấy vô dụng nên quẳng đi. Ông người Pháp thì lại nhìn khác. Đây là một bức hình với chữ ký tặng thật có ý nghĩa.

Người thương gia Pháp nói, “Tôi quen biết ông đại sứ tôi sẽ tìm trả lại cho ông bức hình này.”

Trước tòa đại sứ Mỹ phóng viên Peter Arnett nhìn tòa nhà 6 tầng và thấy rằng tòa nhà tuy rộng, nhưng không thích hợp cho hàng ngàn người dân miền Nam kéo vào xin di tản.

Nay thì nhiều người vào hôi của, họ lấy đi tất cả những gì có thề lấy. Nói chung, mặt dân chúng biểu lộ nhiều lo âu hơn là sung sướng.

Resignation, relief greet end of war của các nước láng giềng

Bài bình luận của phóng viên hãng AP-Reuters:

Nói chung nhiều quốc gia phản ứng về sự đầu hàng của chính quyền Nam –Việt Nam bằng sự chịu đựng và thở dài cho chuyện chẳng đặng đừng.

Thủ tướng Thái Lan nói cơn hấp hối kéo dài của miền Nam đã đến hồi chung cục. Đó là ý kiến của bộ trưởng bộ Ngoại giao. Phần thủ tướng Thái Kikrit Pramoj chính phủ của ông sẵn sàng nhìn nhận chính quyền mới.

Bộ trưởng ngoại giao Phi Luật Tân Carlos Romulo chấp nhận cuộc đầu hàng, nhờ đó nhiều sinh mạng đã được cứu vớt.

Ngoại trưởng Indonesia Adam Malik thì nói chính phủ ông không thấy khó khăn gì chẤp nhận chính quyền mới bất kể họ là ai.

Ông tiên đoán rằng chính phủ Malaysia sẽ mời chính quyền mới ở Việt Nam tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á vào 13, 15 tại Kual Lampur.

Tại Đài Loan, phát ngôn viên chính phủ cho rằng việc thành lập một chính phủ lưu vong tại Đài Loan của cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là một hy vọng mỏng manh.

Chính phủ Úc Đại Lợi trước đây trong 11 năm đã gửi quân chiến đấu sang Việt Nam và 500 binh sĩ Úc đã chết tại Việt Nam. Úc đại lợi sẵn sàng viện trợ cho cả hai bên, miền Bắc cũng như miền Nam.

Phần Bộ trưởng bộ ngoại giao Kim Dong-jo của chính phủ Đại Hàn cho rằng Bài học cộng sản ở Việt Nam cho thấy các quốc gia phải mạnh và phải tự cứu lấy mình. Ông Kim nói thêm, “Chúng ta có thể nhìn thấy ở Cao Mên cũng như tại Sài Gòn, họ đã không đủ sức mạnh nên cũng không thể thương thuyết, không thể hòa giải mà chỉ có đẩu hàng.”

Chính phủ Do Thái đặt câu hỏi là chính quyền Mỹ học được bài học gì trong những sai lầm ở Việt Nam? Và có thể làm suy yếu Israel?

Chính quyền Nhật qua bộ trưởng Bộ ngoại giao Miyazawa cho rằng chính quyền Sài Gòn quyết định đầu hàng là một quyết định khôn ngoan. Và chính phủ đang nghĩ tới nhìn nhận chính quyền mới.

Saigon devient Ho Chi Minh. Le transfert se fait dans l’enthousiasme

Lâu lắm mới có một bản tin bằng tiếng Pháp. Mấy anh Tây viết thì cứ cho là 3 phần trúng, bảy phần trật. Viết sạo là nghề của các ký giả Pháp. Chúng ta cùng nhau đọc bản tin này do ký giả Pháp viết cho AP, AFP và Reuters nhé.

Hầu như không có một sự chống đối nào khi mà các quân đội cách mạng tiến vào Sài Gòn, theo đó chấm dứt một cách đột ngột sau một thế kỷ có mặt của người Âu Châu tại Việt Nam.

Giữa những tiếng hoan hô và vỗ tay của đám đông, các lực lượng vũ trang đã phân tán đi khắp mọi đường phố ở Sài Gòn và họ kéo cờ chinh phủ lâm thời cách mạng miền Nam ở ngay nóc dinh Độc Lập mà trước đó vài giờ, ông tổng thồng Dương Văn Minh đã đọc thông cáo đầu hàng vô điều kiện của quân đội miền Nam.

Tin tức về sự sụp đổ Sài Gòn, được đổi tên là Hồ Chí Minh đã làm cho hàng ngàn người dân trên các đường phố Hà Nội khóc vì sung sướng. Thành phố này nay trở thành phố ‘La ville la plus heureuse et la plus bruyante du monde’ (thành phố hạnh phúc nhất và náo nhiệt nhất trên thế giới) theo các phóng viên báo chí.

Ở Bắc Kinh, các nhà ngoại giao đã nhảy mùa và hát giữa những tiếng pháo nổ.

Ở Washington, cũng là một điều khuây khỏa mặc dầu có đượm nét cay đắng.

Kết cục là c’est terminé!

Sai gon nay mang một bộ mặt bình thường. Những ngưởi bộ hành lễ phép chào các ông bộ đội vả dơ tay cười bắt tay họ,

Những chiến xa rồi những binh lính trang bị súng ống, lựu đạn vào thành phố. Các chiến xa này được chế tạo tại Liên Xô mà một trong những chiến xa ấy đã cán sụp một cánh cửa sắt của dinh Độc Lập..

Trong thành phố, có cái không khí của ngày lễ hội. Dân chúng xúm quanh các anh bộ đội mới từ trên rửng trở về để hỏi thăm với sự tò mò thích thú. Amen

Tin từ Wagshington, Georges Deschodt, “Hoa Kỳ ngăn chặn mọi giao thiệp thương mại với Việt Nam và được coi như một nước thù nghịch.”

Hoa Kỳ đã phản ứng ngay tức khắc khi được tin miền Nam bị sụp đổ vào tay cộng sản. Một biện pháp có hiệu lực ngay là bất cứ quốc gia nào rơi vào một chính quyền được coi là thù nghịch với với nước Mỹ, phong tỏa tất cả mọi giao dịch thương mại và tài chánh.

Sẽ không có một chuyến hàng hóa được vận chuyển đến miền Nam, không có chuyễn vốn đến xứ này, căt mọi quỹ mà trước đây VNCH đã ký kết, không có việc nhập cảng bất cứ thứ gì từ xứ này.

Nói chung là phong tỏa và cấm vận, xiết chặt và cô lập hóa Việt Nam với thế giới bên ngoải.

Việc phong tỏa này không ảnh hưởng gì đến kinh tế Hoa Kỳ. Hoa Kỳ hầu như không nhập cảng gì từ Sài Gòn và nếu có xuất cảng thì qua trung gian viện trợ kinh tế mà nay không có lý do gì tồn tại nữa.

Sẽ gây nhiều trở ngại cho những người Việt Nam có tiền ở nhà băng Hoa Kỳ. Các compte nhà băng này đều bị phoa tỏa.

Đặc biệt là Washington cũng như Quốc Hội Hoa Kỳ đã hoàn toàn yên lặng về sự đầu hàng này. Kissinger cũng sẽ làm như vậy và không tuyên bố gì cả.

Thắng trận xong, Bắc Việt Nam hầu như bị cô lập với hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt với Hoa Kỳ. Chỉ trừ vài nước xã hội chủ nghĩa anh em.

Việc Định cư người Việt di tản sang Hoa Kỳ

Phần đông người Việt khi được định cư ở Hoa Kỳ hay các nước Tây Phương thì coi như việc đương nhiên và trong lối phát biểu đượm nét tự hào vượt khuôn khổ. Thử hỏi xem đã có bao nhiêu người Việt di tản được định cư ở Nhật, Đại Hàn, Thái Lan, Singapore, Đài Loan, Mã Lai và Nam Dương? Cuối cùng chỉ có 4 nước sau đây là đón nhận rộng lượng nhất.

 Đó là Mỹ, Canada, Úc Đại Lợi, và Pháp(**).

Việc quyết định số lượng người Việt được tỵ nạn sang Hoa Kỳ cũng gặp nhiều khó khăn trở ngại.

Để tiếp đón người tỵ nạn sang Mỹ, Florida và Arkansas cần 80.000 nhân viên đủ loại. Chi phí tính vào khoảng 327 triệu đôla. Chi phí này đã bị quốc hội từ chối.

TT Ford tức giận về sự phủ quyết này và tuyên bố, theo Associated Press, “not worthy of a people which has lived by the philosophy symbolized in the Statue of Liberty.”

Theo phát ngôn viên chính phủ, ông Robert Anderson cho hay cho đến thứ Tư này đã có khoảng 80.000 người di tản đến được nước Mỹ. Sẽ còn ít nhất vài chục ngàn nữa.

Đã có 40 chiếc tầu chiến của Hoa Kỳ tham dự cuộc di tản người này.

 Người viết bài này tự hỏi và so sánh: Có bao nhiêu tàu chiến Mỹ trong việc người di cư năm 1954 và bao nhiêu tàu chiến năm 1975?

Hiện nay còn 60.000 được tạm thời di trú ở Fort Chaffee, Ark., Eglin air force base, Fla., Camp Pendleton, California.

Những người di tản đầu tiên đã tới Camp Pendleton là 2315 người

Trước khi viết phần này, xin được trích dẫn một đoạn văn được ghi khắc trên Bức tượng Nữ Thần Tự Do ở Nữu Ước:

Give me your tired, your poor,
Your huddled masses yearning to breahte free,
The Wretched refuse of your teeming shore,
Send these, the homeless, tempest-tossed to me…

Emma Lazarus, The New Colossus, inscribed on the Statue of Liberty

Tinh thần của Bức tượng Tự Do thì đã nêu rõ như thế. Nhưng trong dư luận người Mỹ thì đã có sự chia rẽ và bất đồng về việc thu nhận người Việt vào Nước Mỹ.

Thomas Campbell, 24 tuổi, Louisville cho rằng làm thế nào nước Mỹ có thể thu nhận hàng loạt những người Việt Nam tỵ nạn trong khi chính nước Mỹ đang có trở ngại trong vấn đề thất nghiệp? Chúng ta chắc sẽ lại trở thành một thứ melting pot?

Phần John Faltin ở New York thì nói rằng, “It seems we’ve got enough refugees here as it is.”

Glen Owen, Lansing, Mich thì nói, “I’d burn a cross in their front yard if they moved next door to me.”

Bà Rose Gutenkust, New Jersey nói, “Tỉ lệ thất nghiệp ở đây là trên 10% và hầu như đi đến chỗ phá sản. Nếu chính chúng ta không có công việc làm, thì làm thế nào giúp họ được? Người của chúng ta có quyền có công ăn việc làm trước nhất.”

Về phần Quốc Hội Hoa Kỳ, sau khi Tổng thống Ford yêu cầu khẩn cấp giúp đỡ khoảng 150.000 người tỵ nạn Đông Dương đã nhận được sự đồng ý của Hạ Viện Hoa Kỳ. Không có con số rõ ràng về việc chuẩn chi này nhưng Tổng thống Ford cần khoảng 507 triệu đô la.

A cold life in Tent 57 for Vietnamese refugee

Câu chuyện sau đây là của cô Trần Mộng Tú viết từ Camp Pendleton, California do AP tường thuật lại.

Trần Mộng Tú là cô gái với thân hình nhỏ bé, mắt sáng vốn là thư ký cho văn phòng The Associated Press ở Sài Gòn cho đến ngày 22 tháng tư khi cô và bố mẹ được đưa ra khỏi Việt Nam.

Đây là câu chuyện của cô ở Camp Pendleton, lều 57.

“Ban đêm chúng tôi chợt tỉnh dậy, vì trời lạnh quá lạnh không ngủ được. Cái giá lạnh từ những sườn đồi, vì đây không phải là ở thành phố.

Chúng tôi xếp hàng, nói chuyện để chờ hàng nửa giờ để đến lượt lãnh phần ăn trong doanh trại. Có người nói ước gì được ăn ở trong một nhà hàng ở Sài Gòn.

Chúng tôi thường nói về những người thân thuộc còn kẹt lại Sài Gòn, nói về các gia đình. Chúng tôi hỏi thăm người khác về những người họ hàng. Các gia đình Việt Nam thì thường có mối liên hệ gần gũi như thế.

Ở đây tôi sống chung với bố mẹ tôi, chị và chồng con của họ với 5 đứa trẻ, với các chị dâu các ông chồng của họ và 4 đứa nhỏ. Tất cả chui rúc trong 4 căn nhà và một cửa tiệm bán cà phê.

Cô cho biết những người lính Mỹ thì cực kỳ tử tế. Đồ ăn thì OK. Có một ông hạ sĩ người Mỹ còn muốn mời mấy cô về nhà dùng cơm. Họ cũng mang đến cho các cô các đôi bít tất.

Ở nơi đây, đôi lúc cô nhớ nhà, nhưng làm sao về lại Sài Gòn được và cô có thêm vài người bạn mới!

Người tị nạn ở Camp Pendleton, không ở lều 57.

Đọc bài của cô, đúng là cung cách tiểu thư con nhà.

WJS | 40 Years After the War, Saigon

Đôi dòng cuối cùng sau khi viết “40 năm nhìn lại những ngày mất Sài Gòn”

Sau khi viết xong bài viết này, vào một đêm tỉnh dậy lúc 2 giờ sáng. Tôi dở ra đọc lại, tự nhiên nước mắt tuôn trào…

Biết bao nhiêu sự kiện diễn ra lần lượt trong đầu óc tôi như một cuốn film quay chậm.

Những tâm trạng buồn, phẫn uất, chán nản như ngày nào sau 30 tháng Tư còn đọng lại.

Trách nhiệm về ai? Dĩ nhiên là người Mỹ từ trong cái Situational Room của Tổng thống Ford và các chính khách Mỹ như tiến sĩ Kissinger, v.v.

Nhưng người Việt Nam, chúng ta cũng chia sẻ cái phần trách nhiệm ấy. Trách nhiệm làm mất miền Nam là các tướng lãnh, lãnh đạo cấp cao. Còn nhớ ông Nguyễn Cao Kỳ khi đến Hoa Kỳ vào đêm thứ hai, được hãng thông tấn Associated Press phỏng vấn tại camp Pendleton, California, ông đã tuyên bố một câu xanh rờn khi bước ra khỏi phi cơ:

“I will try and be a leader for them.”

Tôi không biết phải nói thế nào nữa!

Trong khi đó nhà chức trách Mỹ ngay khi ông còn ở đảo Guam đã lo sợ cho an ninh bẩn thân của ông Kỳ vì ông đã bỏ trốn đi.

Nhưng kể từ đó đến nay, sau 40 năm. Tôi cũng nhận thấy một cách chua chát có một hội chứng sau chiến tranh.

 Đó là trận chiến ký ức (Memory battlefield) giữa kẻ thua, người thắng.

Năm nay kỷ niệm 40 năm miền Nam bị mất vào tay cộng sản. Cuộc chiến tranh với xác người chết không còn nữa. Di hại của người những người bị chết từ hai phía, những người bị thương tật cho đến nay vẫn chưa có một thống kê đầy đủ và rõ ràng.

Sự hàn gắn những vết thương chiến tranh hầu như không đáng kể gì!

Người chết trên chiến trường và ở các trại tù cải tạo nay vẫn chưa tìm ra dấu tích mồ mả. Chết chưa có chỗ về, thiếu hương khói.

Người bị phế tật, nhất là thương phế binh VNCH hầu như bị bỏ rơi cho số phận của họ. Họ đã chết dần chết mòn mà ngày nay số còn lại chỉ còn là một dúm người như vật phế thải.

Sự bất nhân của kẻ cầm quyền là sự mất ý thức về lòng nhân bản (Nếu cho là người cộng sản có ý thức nhân bản).

Thật vậy, nếu trước đây có hội chứng hậu thuộc địa sau gần 100 năm người Pháp cai trị thì cũng có một hội chứng hậu 1975. Hội chứng ấy là những chấn thương tinh thần mà cả hai bên nhiều khi không chịu nhìn nhận.

Nó được hun đúc biến thành một thứ huyền thoại của kẻ thắng trận đồng thời cũng có một thứ huyền thoại của kẻ thua trận.

Đó là một cuộc chiến dai dẳng với ký ức đã bị bôi son, trát phấn làm chất liệu. Càng gần đến ngày 30 tháng Tư trận chiến ký ức nhìn lại càng trở nên sôi động từ trong ra đến ngoài nước.

Đủ các loại bài viết, các loại tài liệu mật, các bài phỏng vấn từ nhiều phía, các nhân chứng còn sống sót từ phía người Mỹ, người cộng sản, cựu tướng lãnh miền Nam, những người làm báo cho cộng sản, những người cầm bút từ hải ngoại, v.v. Tất cả như chờ đợi trong dịp này thôi, để được bày tỏ, nói lên bằng nhiều tâm trạng khác nhau.

Thà rằng nói thật, thà rằng đau xót nhìn nhận trách nhiệm và lỗi lầm. Không. Hầu như đã không ai muốn làm điều đó cả.

Nói chung thì đã có một hiện tượng phổ biến về huyền thoại của kẻ thắng trận và một huyền thoại của kẻ thua trận.

  • Phía người chiến thắng

Tôi nhớ lại khi De Gaulle đi bộ trên đại lộ Champs-Élysées vào tháng 8-1944 với hàng triệu dân chúng đón tiếpp ông.

Điều đó rõ ràng là một sự thật! Một chiến thắng cảm nhận được trên các khuôn mặt của hàng triệu dân chúng Paris với những màn ôm hôn những chiến sĩ trẻ với những vòng hoa, với những nụ cười rạng rỡ, với nước mắt mắt mừng mừng, tủi tủi.

Đó là ý nghĩa trọn vẹn của chiến thắng của ngày Giải Phóng Paris. Tôi đã nhận ra được thứ nhân cách chững chạc, phong cách của kẻ anh hùng đó nơi một De Gaulle khi vào Paris.

Tôi đã không nhận ra bất cứ điều gì như thế nơi dân chúng miền Nam.

Có một vòng hoa nào không? Một thôi cũng được. Có tiếng hoan hô nào không? Có các thiếu nữ ăn mặc đẹp đẽ tươi cười hớn hở ra ôm các anh chiến sĩ ‘giải phóng’ không? Một cô thôi. Ai tiêu biểu cho cuộc chiến giải phóng đó? Lê Duẩn hay Nguyễn Hữu Thọ?

Và dĩ nhiên cái không khí sung sướng đến hoan lạc của người dân Paris trên đại lộ Champs-E1ysées ngày nào thì không phải là không khí của đường Tự Do của Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Ngược lại, đó là thứ không khí của sự lo sợ, đau buồn và tủi nhục. Ngay giữa trung tâm thành phố, xác của Trung tá cảnh sát Nguyễn Văn Long còn nằm đó. Ít ngày sau, đại tá tỉnh trưởng tỉnh Chương Thiện bị đem ra trước công chúng xử bắn.

Đô thành Sài Gòn – 30 tháng 4: Cảnh sát Trung tá Nguyễn Văn Long tuẫn tiết trước tượng đài Thủy quân lục chiến (khuôn viên Công trường Lam Sơn)

Và nói cho thật chính xác là có một không khí của sự tủi nhục và sự cao ngạo!

Sự thật rõ ràng là như thế!

Chỉ nhìn cái quang cảnh khi những chiếc xe tăng đầu tiên vào Dinh Độc Lập người hiểu chuyện sẽ phải tự hỏi tại sao người dân Sài Gòn thờ ơ đến sợ hãi, nghi ngờ những kẻ chiến thắng? Hàng triệu người đã sợ hãi trốn chạy làm sao có cảnh vui mừng được!

Làm thế nào để chúng ta học được bài học lịch sử này mới là điều quan trọng.

Trên thế giới ngày nay, cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đã chấm dứt. Vậy thì cách hành xử, thái độ của những người từng coi nhau như kẻ thù, họ đã có thái độ như thế nào? Có những sự việc thuộc lịch sử của nhà viết sử, có những sự việc của người làm chính trị từ nhiều phía, có những việc thuộc quá khứ mà các thế hệ sau không có trách nhiệm và cũng có những việc thuộc hiện tại mà người ngày hôm nay phải chọn lựa, phải làm. Chọn lựa nào là thích hợp? Người Đức, người Pháp từng là kẻ thù của nhau, nay họ cùng nhau kỷ niệm thì họ đã chọn một thái độ nào?

Khi bức tường Bá Linh sụp đổ thì người Đức thuộc Tây Bá Linh đã hành xử ra sao?

Câu hỏi ấy, tôi đặt ra cho những kẻ tạm gọi là thắng cuộc! Bởi vì họ là kẻ trách nhiệm toàn thể cái hậu quả sau ngày 30 tháng Tư!

Sau 30 tháng Tư, mặc dù có thể có hằng triệu người muốn chạy trốn khỏi cộng sản. Nhưng chỉ có chưa đầy 200.000 có được cái may mắn ấy. Còn lại phải chịu chung số phận của cả miền Nam!

Nếu trước 1975, người dân miền Nam chỉ sợ cộng sản thì sau 1975, người dân miền Nam ngoài nỗi sợ còn thêm thù hận và sự khinh miệt người cộng sản.

Trước chỉ có 200.000 người trốn chạy khỏi cộng sản thì sau 1975, con số ấy tăng lên gần 2 triệu người.

Nhìn những cảnh tượng người dân Syria hôm nay bằng bất cứ giá nào chạy trốn ra khỏi đất nước của họ, chạy sang Thổ Nhĩ Kỳ rồi vượt biển họ đã chết đuối trên biển Địa Trung Hải thì có khác gì các thuyền nhân người Việt vào cuối thập niên 1970?

  • Phía người thua cuộc

Nhiều người bên phía kẻ thua cuộc, nay là dịp may cuối cùng muốn chứng tỏ một điều gì đó với một quá khứ quay quắt chưa hòa giải được, cũng chưa tìm ra một giải pháp gì.

Người ta cũng cố gắng giữ lại những hoài niệm đẹp oai hùng của cả một thời và cảm thấy bị xúc phạm nếu ai nói sự thật về họ. Nhưng ít ra họ vẫn nhận ra sự hữu ích của mình, hữu ích theo nghĩa họ còn sống, họ có mặt; họ muốn làm nhân chứng của ký ức, của lịch sử theo nghĩa còn có tôi đây, tôi có mặt trong giai đoạn ấy.

Bằng bất cứ giá nào, họ không muốn kẻ thắng trận chà đạp trên lòng tự trọng, trên danh dự của một người lính ngoài mặt trận.

Và hơn thế nữa họ muốn đồng hóa thảm cảnh năm 1975 cũng chính là họ với tư cách là nạn nhân của cộng sản. Thảm cảnh ấy chính là đời họ, số phận khắc nghiệt đã phủ lên cuộc đời họ sau 1975. Họ bị tù đầy, mất nhà, mất cửa, mất vợ, mất con và mặc dù đã sang đây trên dưới 30 chục năm, họ vẫn gọi cái ngày 30 tháng Tư là ngày Quốc Hận. Một cụm từ đóng kín bất di dịch và khó để chấp nhận bất cứ danh xưng nào khác.

Cái quá khứ ấy với nhiều đau thương lẫn tủi nhục làm sao bắt họ quên được?

Về phía người Mỹ, những người trong cuộc, họ thường không có thói quen thù hận người cộng sản nên họ tránh được những thiên khiến. Họ cố gắng dùng cái lăng kính con người nhân bản, nhìn cuộc chiến ấy và chỉ thấy ở đó một thảm kịch con người mà họ đã góp phần. Họ nhìn nhận cái miền Nam sau 21 năm dưới con mắt chia sẻ và hiểu biết hơn là lúc họ còn đang tác nghiệp ở đây trước năm 1975.

Tiêu biểu nơi người Mỹ là họ chia xẻ số phận người miền Nam của họ và cảm thấy như một kẻ bội phản. Sau dây là lời trần tình của Frank Sepp, một nhân viên cao cấp CIA được trích lại trong sách của ông.

“But that last day, there were no euphemisme for what we’d done. We’d betrayed the Vietnamese who’d depended on us, and those of us who’d worked most closely with them -the young CIA and State Department officers from the trenches- now had blood on our hands, for it was we who in our daily contacts had convinced them to trust us’.(17)

Chúng ta tự hỏi, có bao giờ một cách chính thức, người cộng sản miền Bắc nhìn nhận những việc họ đã làm tan hoang miền Nam không? Không, chưa bao giờ. Chẳng những thế, họ còn làm ngược lại.

Kể từ sau 30 tháng Tư cuộc sống của con người miền Nam không còn như trước nữa. Họ mất tất cả những cái họ có. Người cộng sản gọi ngày này là Ngày Giải Phóng, Người Quốc Gia gọi nó là Ngày Quốc Hận. Giữa hai cụm từ này là tội ác chống lại con người (crimes contre l’humanité) nhân danh hai chữ Giải Phóng.

Tôi đã đọc bài báo: “Không có ngược đãi sau 30 tháng tư”, trao đổi với BBC ngày 18 tháng Tư 2015 của ông phó giáo sư Vũ Quang Hiền, từ Đại học quốc gia Hà Nội. Ông dám nói như thế này:

“Sau chiến tranh chấm dứt ngày 30 tháng Tư, 1975, ở Việt Nam không có sự ngược đãi đối với mọi người, trong đó với các lực lượng cựu quân, cán chính của chính quyền Sài Gòn.”

Ông nói tiếp:

“Tức là tuyên truyền vu cáo về miền Bắc xâm lược miền Nam và dẫn đến sự tàn sát đẫm máu thì rõ ràng là điều đó không có ở miền Nam.”

Đang cầm ly cà phê trên tay, nghe những lời tuyên bố trên của tên Phó Giáo sư, tôi chỉ muốn cầm ly cà phê hắt vào mặt tên Vũ Quang Hiền này.

Các bài viết mang tính huyênh hoang, chạy tội, dối trá, tuyên truyền bịp bợm đến ngớ ngẩn không thiếu. Họ càng nói càng mất thế giá. Họ càng tìm cách trình diễn, càng trở nên lố bịch!

Hà Nội nhân dịp này đang nỗ lực tổ chức hội thảo, rồi tiệc tùng ăn mừng chiến thắng, rồi cho dân nghỉ lễ, rồi có pháo bông để dân nghèo cũng có cơ hội nhìn pháo bông mà quên đi cái thân phận họ. Riêng tại thành phố Hồ Chí Minh sẽ có duyệt binh có cả 6000 binh lính tham dự để diễn lại cái cảnh xâm chiếm miền Nam năm 1975! Chắc là cũng tốn kém bạc tỉ?

50 năm nhìn lại, chỉ mong rằng sau này, người ta biết coi đó là một bài học đau thương của cả một dân tộc.

Tiếc thương. Ảnh: Nguyễn Ngọc Hạnh.

Lời cảm tạ của người viết | Người viết thấy cần bổ túc một sơ xuất khi bài được đăng lần đầu là đã không đề cập đến nguồn của những bản tin về diễn tiến của cuộc chiến Việt Nam cách đây hơn 46 năm; 1975 chưa phải là thời đại của xa lộ thông tin nên đến khi viết loạt bài này, ngay cả nếu có khả năng truy cập mạng Internet, người viết cũng khó có thể tìm được những bản tin về lịch sử cận đại từ 50 năm trước. Chân thành cảm ơn hảo ý của người bạn đa giao cho tôi nguyên tập tài liệu gồm những bản tin anh đã cắt, dán và lưu trữ suốt hơn 40 năm trong giai đoạn trước khi Sài Gòn xụp đổ khi còn là sinh viên du học tại Canada. Anh Lê Phan Lân, một lần nữa, xin cảm ơn anh.


(17) Frank Snepp, Irreparable Harm, trang XVII

 (*) Quốc hội không có thẩm quyền bầu Tổng thống theo Điều 39, Quyền hạn của Quốc hội, trong Hiến pháp 1967 của Việt Nam Cộng Hòa. Căn cứ vào Điều 56 của Hiến pháp, nhiệm vụ của một Tổng thống chỉ có thể bị chấm dứt trước khi mãn nhiệm trong những trường hợp sau đây: chết, từ chức, mang trọng tội/truất phế, bị bệnh nặng kéo dài. Tất cả những trường hợp vừa kể không thể áp dụng với Tổng Thống Trần Văn Hương. Luận tội/truất phế Tổng thống là một trong những thẩm quyền của Tòa án Đặc biệt theo quyết định dựa trên hai Điều 85 và 87. Như vậy, hành động của Quốc hội trong việc bầu chọn Tướng Dương Văn Minh thay thế Tổng Thống Trần Văn Hương vào ngày 26 tháng tư năm 1975 có thể được coi là không hợp hiến. [Tham khảo: Văn bản của Hiến pháp mới, Việt Nam Perspectives. Vol. 3, số 1 (Tháng Tám, 1967), trang 24-40. Một phiên bản tiếng Việt của “Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa năm 1967” có thể được tìm thấy ở đây: http://snipurl.com/24o4sn5]
(**) Theo statistiques de France-terre d’asile, từ tháng 5 năm 1975 đến ngày 31 tháng năm 1990, Pháp đã nhận tổng cộng 42.694 người tị nạn Việt Nam, 1/3 của người tị nạn Đông Dương đến Pháp (126.100) trong giai đoạn này. (Nguồn: Lam Thanh Liem et Jean Maïs, La Diaspora Vietnamienne En France Un Cas Particulier: La Region Parisienne, Bulletin EDA n° 207, 16/10/1995.) Trong cùng thời gian đó có 543.000 người Việt tị nạn tại Mỹ (Hataipreuk Rkasnuam and Jeanne Batalova, Vietnamese Immigrants in the United States, August 25, 2014.) Từ khoảng 3000 người trước 1975, đến 1991 dân số người gốc Việt tại canada tăng lên 91.000 sau những đợt di cư của người tị nạn (Louis-Jacques Dorais, “From refugees to transmigrants: the Vietnamese in Canada”). Trước năm 1975 chỉ có khoảng 700 người gốc Việt Nam tại Úc, con số này tăng lên 124.800 người vào năm 1991 (ABC.net.au, Timeline: Vietnamese immigration to Australia.)