Nạn bức cung, nhục hình vẫn phổ biến

Nạn bức cung, nhục hình vẫn phổ biến

Nghe (13:21)

RFI

 

Ảnh minh họa. Đã có ít nhất 9 người chết trong đồn công an trong sáu tháng đầu năm nay ở Việt Nam.

Ảnh minh họa. Đã có ít nhất 9 người chết trong đồn công an trong sáu tháng đầu năm nay ở Việt Nam.

Thanh Phương

Trong những năm gần đây nạn bức cung, nhục hình ở Việt Nam trở nên phổ biến một cách đáng ngại. Thỉnh thoảng báo chí trong nước lại loan tin có người chết tại đồn công an, mà vẫn được mô tả là do “tự tử”, do “đột tử”…, nhưng trên thực tế ai cũng biết đó là do bạo lực của công an đối với các bị can hay người bị câu lưu, tạm giữ.

Chẳng hạn như vụ anh Nguyễn Công Nhựt ở Bình Dương, bị cho là đã “tự tử” tại đồn Công an Bến Cát vào năm 2011, vì đã chết trong tư thế treo cổ. Cho tới nay, gia đình của anh Nhựt vẫn không chấp nhận kết luận điều tra cho rằng anh đã “tự nguyện” ở lại đồn công an, rồi sau đó tự tử, để lại một “lá thư tuyệt mệnh”, với nét chữ không giống với nét chữ bình thường của anh.

Một trong những vụ được dư luận chú ý nhất là vụ anh Ngô Thanh Kiều bị 5 công an đánh chết tại đồn Công an Phú Yên năm 2012. Dư luận càng phẫn nộ khi thấy là trong phiên xử sơ thẩm vào tháng 4 năm nay, 5 công an này chỉ bị tuyên án từ 12 tháng tù treo đến 5 năm tù giam. Trước sự phản đối mạnh mẽ của dư luận, vào đầu tháng 7 vừa qua, tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã hủy án sơ thẩm để điều tra lại vụ này.

Nạn nhân thậm chí là những người chỉ phạm tội vặt vãnh, như trường hợp của anh Cao Văn Tuyên (thôn Suối Lách, xã Khánh Trung, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hoà), đã bị công an xã dùng dùi cui đánh chết khi bị bắt về đồn để thẩm vấn vào đầu tháng 7 năm 2013. Nguyên nhân vụ bắt giữ chỉ là anh Tuyên thèm thịt gà mà không có tiền mua, nên ăn trộm gà hàng xóm.

Riêng trong năm 2014, chỉ tính đến tháng 6, đã có ít nhất 9 người dân chết trong đồn công an khi bị hỏi cung, căn cứ theo thông tin trên báo chí chính thức. Gần đây nhất, ngày 11/06, ông Trần Đình Toàn đã chết chỉ vài tiếng đồng hồ sau khi bị đưa về trụ sở công an phường Hạ Long, Nam Định, vì bị nghi tàng trữ ma túy.

Khi đưa xác ông Toàn về để mai táng, gia đình phát hiện trên ngực ông có nhiều vết thâm bất thường, nên nghi là ông đã bị đánh chết. Còn theo Công an Nam Định, các bác sĩ tham gia cấp cứu cho ông Toàn khẳng định, những dấu vết trên là do trong quá trình cấp cứu, các bác sĩ đã ép lồng ngực ông này.

Trong số những nạn nhân chết trong đồn công an từ đầu năm 2014 đến nay, ngoài ông Toàn, có một số người khác cũng được cho là « tự tử », như trường hợp của anh Đỗ Văn Bình tại trụ sở công an huyện Hòa Vang, Đà Nẳng vào tháng 4 hay, của cô Bùi Thị Hương ở trụ sở công an ở tỉnh Bình Phước vào tháng 3.

Trong số còn lại có một người « bò » về đến nhà thì chết, đó là ông Huỳnh N. , ở xã Đạo Nghĩa, tỉnh Đắk Nông. Vào tháng 2, ông đã bị bắt về trụ sở công an về hành vi trộm cắp. Theo gia đình, lúc đi thì ông khoẻ, nhưng lúc công an xã cho về nhà để hôm sau lên « làm việc » tiếp với công an, thì trên người ông có hơn 30 vết thương, vết bầm tím và sáng hôm sau, nạn nhân đã tử vong.

Có người thì chết bị cho là do « đột tử » như trường hợp của ông Đỗ Duy Việt, bị mời lên trụ công an huyện Thường Xuân để điều tra về vụ xâm hại tình dục trẻ vị thành viên. Gia đình nghi nạn nhân đã bị công an đánh chết vì sức khoẻ của ông rất tốt, nhưng không thể nào biết được chuyện gì xảy ra sau khi ông bị bắt giữ.

Vấn đề là ở chỗ đó. Những người bị bắt lên đồn công an chỉ có một mình đối đầu với những đại diện cơ quan công quyền, thường là cấp xã, huyện. Những gì xảy ra ở đó rốt cuộc chỉ do các công an tham gia thẩm vấn, hỏi cung khai báo, chứ không có lời chứng của một bên thứ ba như gia đình, bạn bè, luật sư.

Cách đây vài ngày, bộ Công an Việt Nam vừa ban hành một thông tư “về công tác điều tra hình sự trong Công an nhân dân”. Thông tư này, sẽ có hiệu lực kể từ ngày 25/08/2014, “nghiêm cấm bức cung, mớm cung hoặc dùng nhục hình dưới bất kỳ hình thức nào.”

Thông tin này đã mặc nhiên thừa nhận là tệ nạn này vẫn diễn ra phổ biến mà gần như không có công an nào bị trừng trị đích đáng, mặc dù Hiến pháp cũng như Luật hình sự nghiêm cấm bức cung, nhục hình, cũng như quy định những hình phạt rất rõ ràng đối với người vi phạm.

Mặt khác, như đã nói ở trên, một số vụ người chết là xảy ra ở trụ sở công an xã do bị công an xã hỏi cung « quá trớn », trong khi theo pháp lệnh công an xã (do Chủ tịch nước ban hành ngày 02/12/2008), công an ở cấp này chỉ có quyền « lấy lời khai ban đầu các vụ việc, nhưng không được tạm giữ hình sự, hỏi cung các nghi can, nghi phạm ». Nếu vụ việc có dấu hiệu tội phạm phải chuyển nghi can lên cơ quan công an cấp trên…

Thế nhưng, Dự thảo Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự – hiện đang được thảo luận – lại dự trù là công an xã sẽ có quyền « tiến hành kiểm tra, xác minh ban đầu », tức là có thể tiến trành một số hoạt động điều tra ban đầu. Việc « tản quyền » cho công an cấp cơ sở khiến nhiều người sợ rằng nạn bức cung, nhục hình gây chết người ở trụ sở công an xã sẽ xảy ra nhiều hơn nữa, nhất là tại nhiều xã, công an gần như nắm quyền sinh sát trong tay đối với người dân. Như thế chẳng khác gì tăng thêm « quyền nhục hình » cho công an xã.

Theo tờ Người Lao Động ngày 13/07 vừa qua, Phó chủ nhiệm Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội Nguyễn Đình Quyền, cho biết lả trong tháng 8, cơ quan này sẽ tổ chức điều trần về trách nhiệm của các cơ quan liên quan đến việc truy bức, nhục hình trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự trong thời gian qua.

Nhưng theo ý kiến của luật sư Hà Huy Sơn ở Hà Nội, trả lời phỏng vấn RFI ngày 28/07 vừa qua, một trong những giải pháp đầu tiên để ngăn chận nạn nhục hình, đó là phải tôn trọng quyền của người bị bắt được mời luật sư đến chứng kiến việc thẩm vấn tại trụ sở công an. Nhìn xa hơn, theo luật sư Hà Huy Sơn, chỉ có một Nhà nước pháp trị thật sự mới có thể ngăn chận nạn nhục hình tại trụ sở công an. Sau đây mời quý vị theo dõi bài phỏng vấn với luật sư Hà Huy Sơn.

LS Hà Huy Sơn, Hà Nội

 

31/07/2014

 

Nghe (07:03)

 

 

 

Những phận đời ly hương mưu sinh giữa Sài Gòn

Những phận đời ly hương mưu sinh giữa Sài Gòn

image

Không nơi nào lực lượng hàng rong đông như ở Sài Gòn. Hàng rong từ chỗ mưu sinh nay đã thành một nghề nghiêm túc của nhiều người. Từ những vùng quê nghèo khó, nhất là miền Trung “cát trắng gió Lào”, người bán hàng rong đổ về thành phố với bao nỗi lo toan, từ cơm áo nợ nần đến chữ nghĩa cho con cái đều trông chờ vào việc góp nhặt những đồng tiền lẻ ở vỉa hè, quán nhậu.

Một ngày tháng 8 Sài Gòn mưa sụt sùi, theo chân những người bà, người chú, người chị bán hàng rong dọc ngang phố xá tôi mới thấm thía nỗi vất vả nhọc nhằn, cả những hiểm nguy của họ trong cuộc mưu sinh.

image

Hàng rong Sài Gòn

Theo chân người bán rong

Hình ảnh đôi gánh hàng rong, những chiếc xe đạp với lỉnh kỉnh bánh kẹo, cá viên chiên đã không còn quá xa lạ với người Sài Gòn. Bất kể nắng hay mưa, từ hẻm sâu đến đường lớn, những bước chân phụ nữ, đàn ông đầy lam lũ vẫn lặng lẽ quẩy đôi quang gánh kĩu kịt trên vai, lội bộ cùng đôi dép mòn vẹt gót giữa dòng xe cộ tấp nập.

Sống ở Sài Gòn gần chục năm, tôi đã gặp không biết bao nhiêu đôi quang gánh, đã nghe kể những câu chuyện đời, chuyện người sau mớ cóc, ổi, xoài… buồn, vui lẫn lộn nhưng đều có điểm chung là thấm đẫm mồ hôi, nước mắt dọc dài năm tháng đời bán rong.

image

Còn nhớ, ngày 17.7.2008, UBND TP.HCM ra quyết định cấm bán hàng rong trên 15 tuyến đường trọng điểm tại Q.1 (về sau nâng lên thành 53 tuyến đường trên toàn thành phố). Từ đó, bán hàng rong trở thành hành vi phạm pháp. Thấp thỏm, lén lút và âu lo là tâm trạng thường trực của những kiếp nghèo tha phương.

Nhiều người trong số họ còn chọn buôn thúng bán bưng ngay cả vào thời điểm nửa đêm về sáng dù biết nguy hiểm luôn chực chờ mình. Bị cấm, nơm nớp lo chạy đội trật tự, nhưng lời rao da diết đến não lòng từ những gánh hàng rong vẫn khiến không ít người xúc động. Để hiểu hơn về cuộc sống của những phận đời ấy, tôi đã theo chân họ nhiều ngày, rảo qua không biết bao nhiêu con đường Sài Gòn mùa mưa.

image

Dù trời mưa tầm tã nhưng các chị vẫn lặn lội đi bán hàng rong

Sáng nào cũng vậy, mặt trời chưa ló dạng, khu vực Nhà điều hành xe buýt Bến Thành (Q.1) đã đông nghẹt người. Hành khách già, trẻ, nam, nữ vội vã chen chân lên tuyến xe sớm nhất. Người đi làm, đi học, người tung tăng đi chơi. Không ai còn thời gian để tâm đến cái dáng lầm lũi, bơ phờ của các bà, các chị đang quẩy gánh hàng rong đi qua phía đối diện, trên đường Phạm Ngũ Lão (Q.1). Đằng sau gánh hàng với không quá 400.000 – 500.000 đồng tiền vốn là bao phận đời éo le, cơ cực.

Tôi biết chị Trần Thị Trang cách đây bốn năm. Hồi đó, chị quẩy gánh hàng rong với lỉnh kỉnh cóc, ổi, xoài, bánh tráng trộn… đi bán ở công viên 23.9 (Q.1). Chị người Bình Định, mới 47 tuổi mà tóc đã bạc nhiều, gương mặt đen sạm và hai mắt lúc nào cũng thâm quầng vì mất ngủ.

Chị thuê trọ, mà nói thuê trọ cũng chưa đúng, chẳng qua chỉ là “mua” chỗ ngủ đêm giá 8.000 đồng/đêm. 3 giờ sáng, chị tất tả ra chợ mua bánh, trái rồi gánh bán đến tận 1 giờ sáng hôm sau mới về. Ăn vội phần cơm nguội, tắm, giặt, chưa kịp ngả lưng đã lại quầy quả đi. Thành ra, trông chị lúc nào cũng như kiệt sức tới nơi. Dạo đó, tôi hay ghé công viên chơi, thăm chị. Hai chị em ngồi nói đủ thứ chuyện. Chị khoe 2 đứa con ở nhà học giỏi, ngoan ngoãn, khoe tháng vừa rồi chị bán được, chắt chiu gửi về nhà cho chồng, con cả triệu.

image

Thi thoảng, ngớt khách, chị ngồi bó gối, trầm ngâm, vừa nhìn xe cộ vừa thủ thỉ: “Chị ước hai đứa nhỏ nhà chị có cơ hội biết giảng đường đại học, biết Sài Gòn đặng tương lai bớt khổ”. Mỗi lần nhắc đến con, trong mắt chị ánh lên nhiều niềm vui. Chị bảo, lăn lộn kiếm từng đồng bạc lẻ như thế này không khiến chị khổ tâm bằng việc phải cho con thôi học. Bởi vậy, cực mấy chị cũng ráng chịu, chỉ cần các con chăm ngoan, học giỏi. Quen lâu, tôi chưa nghe chị than vãn hay mơ ước điều gì cho riêng mình. Tất cả đều vì con.

Hôm rồi gặp lại, chị cười hiền, khoe: “Hai đứa nhỏ nhà chị vô đại học hết rồi đó em”. Tôi mừng cho chị. Mừng những nhọc nhằn của chị đã được đền bù xứng đáng. Nhưng, hình như con càng học lên cao, chị càng cực. Bằng chứng là bữa cơm trắng quẹt với muối ới, mấy năm rồi vẫn vậy, không có gì khá hơn. Đôi dép lào mòn vẹt, cái nón lá rách bươm ngày xưa thấy chị ghi số điện thoại của con lên đó giờ chị còn đội trên đầu.

Tôi ngỏ ý xin theo chị bán hàng rong vài buổi. Chị lắc đầu nguây nguẩy, nói: “Thôi, thôi, sức đâu mà bán hả em. Sài Gòn đang mùa mưa, đường sá ngập nước tùm lum hết à, cái gánh này dòm vậy chớ nặng lắm, em kham không nổi đâu”. Tôi kham không nổi thật. Vừa kề vai vào, chực đứng dậy đã ngã nháo nhào. Mấy chị em cười ứa nước mắt. Chị Trang xuýt xoa: “Khổ chưa. Thôi, nếu muốn biết thì cứ theo chị, khỏi gánh gồng gì hết”. Đi cả buổi chiều, mưa không ngớt. Khách vắng, lạnh và đói meo.

image

Những người bán hàng rong trong đêm Sài Gòn

Chúng tôi ngang qua đường Nguyễn Thông (Q.3), trời bỗng đổ mưa ào ào. Trong mái hiên nhỏ, người đàn ông tóc bạc ngồi bó gối, không biết vì mệt hay vì lạnh. Tôi lân la hỏi chuyện, ông Huỳnh Văn Khương (61 tuổi, người Phú Yên) trải lòng: “Tôi vô Sài Gòn bán đậu phộng luộc 5 năm nay. Nhà có 4 đứa con, mần ruộng không đủ ăn nên phải đi thôi. Tôi thuê trọ dưới quận Bình Thạnh, chừng 4 giờ sáng là dậy nhận đậu đi bán đến 9-10 giờ đêm. Ngày nào cũng như ngày nào, lội bộ riết nên hai bàn chân từ chỗ sưng, đau thành ra chai luôn rồi”.

Ngoài thúng đậu phộng, bọc ni-lông, trong túi ông Khương còn có mớ thuốc Tây. Thấy lạ, hỏi mang theo thuốc chi vậy? Ông Khương bộc bạch: “Bệnh nhiều lắm cô à. Tôi bị tăng-xông, mệt trong người, phải mang theo thuốc đề phòng lỡ lên cơn đau đột ngột giữa đường thì còn biết xử trí”.

image

Mưa càng lúc càng nặng hạt. Ngoài đường, vài chị trùm áo mưa mỏng dính, tiếp tục quày quả đi. Cũng có người chở hàng bằng xe đạp, nhưng chủ yếu dắt bộ chứ chẳng ai dám ngồi lên xe chạy. Chị Trang nói vui: “Dắt bộ đặng mời khách chứ chạy ào ào thì bán cho ai. Những đêm ế khách, bọn chị hay ngồi chuyện trò rôm rả và so sánh coi chân ai chai hơn, “lì đòn” với mưa, nắng và sỏi đá hơn. Giả sử có cái giải thi gánh mướn, lội bộ đường dài chắc tụi chị trúng giải lớn quá”. Chị đùa mà tự dưng thấy nước mắt chảy.

Chập chờn giấc ngủ đêm

image

Lang bạt giữa Sài Gòn, không nhà, không người thân, tất nhiên phải ở trọ. Nhưng thực tế cho thấy, rất ít người bán hàng rong có đủ khả năng thuê một căn phòng tươm tất, sạch sẽ để ngả lưng sau ngày làm việc vất vả. Bởi vậy, ăn uống kham khổ, đến ngủ cũng kham khổ là tình cảnh chung của những người bán hàng rong.

Dì Tám (bán hàng rong tại công viên 23.9) tình thiệt: “Ôi, ăn còn không dám nói chi thuê phòng hả cô! Tụi tui chỉ mướn một chỗ ngủ vài ba giờ đồng hồ thôi. Hồi xưa giá có 6.000- 8.000 đồng/đêm, giờ thì 10.000- 15.000 đồng/đêm rồi. Nếu muốn sạc pin điện thoại thì phải trả thêm tiền. Nói chung, hở ra là tiền nên tiết kiệm được khoản nào hay khoản đó”.

Theo dì Tám, mấy xóm trọ trên đường Rạch Bùng Binh (Q.3), Cầu Ông Lãnh (Q.1) và cả dưới quận Bình Thạnh, Thủ Đức đều có những ngôi nhà cho người bán rong “mua ngủ” qua đêm. Bất kể già, trẻ, nam, nữ gì cũng có thể đi mua ngủ bởi giá thuê phòng trọ ở những quận này rất mắc. Hơn nữa, tâm lý chung của người bán hàng rong là “mỗi ngày ngủ chừng 2, 3 tiếng đồng hồ là nhiều, thuê phòng chi cho tốn kém”.

Phải năn nỉ mãi, chị Trang mới chịu đưa tôi về chỗ trọ mà chị đã tá túc mấy năm qua. Cái lý của chị nghe thương lắm: “Em là con gái, chỗ đó chẳng thích hợp cho em đâu. Đàn ông, phụ nữ, già, trẻ gì cũng chen vô ngủ, không có khoảng cách, không chăn, màn chi cả, đến cựa mình cũng khó khăn. Sợ vừa thấy cảnh đó, em lại nằng nặc đòi ra thì khổ. Đi bán như chị, miễn có được chỗ nằm nghỉ tí là mừng rồi, không dám đòi hỏi gì thêm”. Tôi quả quyết, dù thế nào cũng sẽ ngủ với chị một đêm.

Vậy là lại lẽo đẽo theo chị về khu vực Cầu Ông Lãnh. Chúng tôi dừng chân trong một căn nhà tối bưng, ẩm thấp và nồng nặc những mùi gián, chuột, thuốc lá. Nhà vệ sinh, nhà tắm dùng chung. 1 giờ sáng mà có cả chục người đứng, ngồi chờ đến lượt “giải quyết nhu cầu”. Chị Trang phân bua: “Đi bán cũng gặp nhà vệ sinh công cộng nhưng mình vô là mất 2.000 đồng/lượt chứ ít gì. Bởi vậy, ai cũng ráng nhịn em à, chừng nào chịu không thấu mới bấm bụng bỏ ra 2.000 đồng thôi. Riêng tắm, giặt thì chờ về đây, tắm phải dè xẻn từng ca nước.

image

Dù đã khuya nhưng những người phụ nữ bán hàng rong vẫn miệt mài với công việc của mình

Dạo này mưa, đi lang thang ngoài đường, người hết ướt rồi lại khô. Ngày mấy bận như vậy rất dễ bị cảm lạnh. Mà cảm thì cảm, hôm sau vẫn gắng dậy đi bán chứ không dám nghỉ”. Đứng cạnh chúng tôi, chị Phạm Thị Tâm (người Quảng Ngãi) xắn quần ống thấp, ống cao, mặt mũi bơ phờ. Chị thủ thỉ: “Nhiều khi, 2- 3 người phải vô nhà vệ sinh chung một lượt. Biết sao giờ, mình đi mua ngủ mà, có chỗ tắm táp, giặt giũ là may lắm rồi”.

Căn phòng mấy chục mét vuông mà cả trăm người chen chúc. Tiếng thở dài, tiếng ngáy, ho và cả những tiếng rì rầm chẳng rõ nghĩa vọng lại trong đêm. Tôi hỏi, có ngủ được không? Chị Trang cười: “Chập chờn thôi em. Từ ngày vô Sài Gòn đến giờ, chị chưa biết cảm giác ngả lưng xuống giường, chiếu, có gối, có mền nó thế nào. Thời gian đầu, buồn và tủi thân dữ lắm. Nhiều lúc muốn bỏ hết, về quê với chồng con, nhưng nghĩ đến cảnh ruộng ít, nhà lụp xụp, về thì tiền đâu đóng học phí, mua sách vở cho con, vậy là đành ở lại”.

Trong những ngày theo chân các bà, các chị bán hàng rong, tôi ngỡ ngàng nhận ra, đối với họ, mua chỗ ngủ qua đêm xem như vẫn còn may. Nhiều người vì không “xí” được một khoảng nền bé tẹo trong các nhà trọ đành ra quán cóc vỉa hè thuê võng, ghế ngủ ngồi. Có dịp ghé chợ đầu mối Bình Điền, Thủ Đức hay chợ Bình Tây lúc nửa đêm về sáng, sẽ không khó bắt gặp những phận đời ngủ ngồi giữa tiếng xe cộ ồn ào, khói thuốc lá nặng mùi và tiếng ngáy o o của cánh đàn ông.

image

Ông Khương cho biết: “Tôi thuê chỗ ngủ dưới Bình Thạnh, mấy trăm nghìn một tháng. Anh, em nằm, ngồi la liệt. Nhưng như vậy là mừng lắm rồi. Tôi đi bán mấy năm, gặp nhiều anh em khổ hơn nhiều. Họ ngủ ngoài đường, trong nhà chờ xe buýt hoặc mấy quán cà phê, người ta tính giá ghế, theo loại nước mình gọi, võng thì mắc hơn, chừng 10 ngàn/chiếc”.

Người xa quê, chọn nghề buôn thúng bán bưng giữa Sài Gòn là vậy. Họ luôn cố gắng tiết kiệm đến hết mức có thể. Ví như chị Trang, chị Tâm mỗi ngày chỉ ăn đúng một bữa. Thức ăn thường trực của họ là muối ớt, năm khi mười họa mới dám mua hộp cơm có thịt, cá. Không thuê phòng trọ, giấc ngủ luôn trong cảnh “thiếu trước hụt sau”.

Những ngày dọc ngang qua mấy công viên, thỉnh thoảng tôi lại gặp một bà, chị ngồi ngủ gật ngay bên gánh hàng của mình. Đến chừng giật mình dậy, gương mặt của họ hãy còn phảng phất cái sự “thèm ngủ”. Vậy mà, chẳng thấy ai than vãn điều gì. Họ cứ lặng lẽ đi, về như con ong chăm chỉ. Chị Trang bảo người bán rong dù là nam hay nữ gì cũng vậy, giấc ngủ luôn luôn thiếu.

Và những hiểm nguy

“Đã nghèo còn gặp eo” là câu nói tôi hay nghe các bà, các chị rỉ tai trong những ngày theo chân họ. Nào bị cụt vốn vì khách ăn quỵt, xin đểu, nào cướp giật, móc túi, đủ cả những điều bất an. Thế nhưng, lỡ có gặp nạn cũng cắn răng chịu chứ không biết cầu cứu ai. “Đã chọn nghề này thì phải chấp nhận rủi ro”- chị Trang kết luận.

image

Ghé Hồ Con Rùa vào đêm mưa, tôi chạnh lòng bắt gặp hình ảnh một người phụ nữ nằm co ro ngủ bên gánh hàng ế ẩm. Gọi mãi chị mới giật mình ngồi dậy. Rồi như nhớ ra điều gì khẩn cấp lắm, chị dụi mắt, hì hục lục lọi trong mấy lớp áo cũ tìm vật gì đó. Đến khi lôi ra được cái túi vải xỉn màu, chị mới thở phào: “Lội bộ từ quận Bình Thạnh lên tới công viên Lê Thị Riêng rồi qua đây, tôi kiệt sức, ngủ lúc nào không hay.

Mấy bận trước cũng thế này, tỉnh dậy thì không chỉ bánh, trái mất mà ngay cả tiền bọc trong túi cũng mất sạch”. Nói rồi, chị lại khẽ thờ dài. Chị tên Dinh, người Quảng Ngãi, 45 tuổi, tóc đã bạc và đôi mắt rất buồn. Chị bảo, hành trình buôn thúng bán bưng của mình mới đó mà đã ngót chục năm. Chị Dinh cho biết: “Mình phụ nữ chân yếu tay mềm, đi bán ban đêm nguy hiểm lắm. Có lần, một nhóm 5, 6 thanh niên tóc đỏ, tóc vàng ghé lại kêu tôi làm bánh tráng trộn. Tôi mừng quá chừng vì nghĩ mình gặp mánh, bán được nhiều. Ai dè, đang lúi húi thì một cậu đâu 20, 21 tuổi gì đó, kề dao sát cổ tôi, kêu có nhiêu tiền đưa ra, im thì sống. Vậy là, tôi có dám ú ớ câu nào đâu. Bao nhiêu vốn liếng bay hết chỉ trong vòng một phút.

Đau lắm! Tụi nhỏ bỏ đi, tôi ngồi khóc như mưa. Thấy thương mình quá!”. Ngồi gần chị Dinh, chị Nguyễn Thị Gái (người Bình Định) góp chuyện: “Làm nghề này, ngoài vất vả ra, rủi ro cũng rất nhiều. Hôm rồi, tôi ngồi bán bên công viên 23/9, có hai thanh niên tới mua cóc, xoài và bánh tráng trộn. Vừa làm xong, chưa kịp nói gì thì cả hai hè nhau giật phăng mấy gói bánh bỏ chạy. Vậy là mất tiền. Tôi đâu thể chạy theo, phần biết sức mình đuổi không kịp, phần lo, lỡ hớ ra, mấy đứa có đồng bọn đằng sau chạy tới trút luôn cái gánh thì cụt đường buôn bán chứ chẳng chơi”.

image

Bị móc túi, ăn quỵt chưa phải là những mối lo duy nhất của người bán hàng rong. Việc mua chỗ ngủ qua đêm cũng thường trực bất an cho họ. Tôi chưa kịp ngả lưng xuống nền, chị Tâm đã dặn dò: “Em có mang theo tiền bạc hay điện thoại thì nhớ cẩn thận kẻo bị móc mất, sáng dậy không còn gì đâu”. Chị Trang kể: “Người mua chỗ ngủ đủ mọi thành phần, biết ai mà lần. Chuyện kẻ xấu trà trộn vô ngủ để móc túi xảy ra thường xuyên. Chị bị mất một lần rồi. Về sau, kinh nghiệm là mình phải chia tiền ra, bỏ trong nhiều túi, chẳng may mất cái này thì còn cái khác”.

Bán hàng rong ban đêm, giá có nhỉnh hơn ban ngày 1.000- 2.000 đồng/loại hàng. Không chỉ vậy, ban đêm, khách ghé công viên chơi, ra bờ kè nhậu nhẹt nên các loại trái cây, đậu phộng, trứng cút, trứng gà bán được nhiều. Do dó, người bán hàng rong thường chấp nhận cảnh đi sớm, về khuya những mong có thêm ít tiền lời. Theo tìm hiểu của tôi, không chỉ cánh phụ nữ mà đàn ông cũng gặp phải cảnh xin đểu, trấn lột giữa đêm như thường.

Bán cá viên chiên, trứng cút chiên ngót 8 năm, anh Ngô Văn Thành (30 tuổi) không thể nhớ hết số lần mình bị ăn quỵt, xin đểu. Anh Thành kể: “Nhiều khi do đông khách, mình lơ là nên mấy tên choai choai ghé mua rồi bỏ chạy khi chưa trả tiền, nhưng phần lớn là chúng đi thành nhóm, 3- 4 tên, kề dao, kim tiêm vào cổ mình xin “chút đỉnh”. Những lúc như vậy, rất khó phản ứng kịp”.

image

Kham khổ nhiều, nguy hiểm cũng lắm nhưng khi tôi hỏi tính chừng nào về quê hẳn thì các bà, các chị, cá chú lại lắc đầu: “Chắc còn lâu lắm. Chờ tụi nhỏ học hành thành tài cái đã rồi mới tính. Ai chẳng muốn sum họp bên gia đình, nhưng về quê thì lấy gì sống?”. Câu hỏi nghe nhẹ hều mà chẳng ai trả lời được. Và như thế, họ lại lầm lũi sống những ngày đơn độc, vắt kiệt sức bên những gánh, thúng hàng rong. Với những phận đời ấy, đường về quê xa lắc!

Nhật Nguyệt

Hàng rong Sài Gòn hơn 100 năm trước

image

Gánh phở, xe kem, thùng tào phớ… trên vai, bộ bưu ảnh tái hiện nhiều ký ức thân quen ở Sài Gòn – Chợ Lớn đồng thời cho thấy cảnh sôi động của thành phố ngay từ đầu thế kỷ 20.

Đô thị Sài Gòn- Chợ Lớn, một trong hai thành phố quan trọng nhất Việt Nam sau khi Pháp chiếm Đông Dương vào cuối thế kỷ 19. Các nhà nhiếp ảnh người Pháp nhanh chóng phát hiện ra hoạt động buôn bán kiểu di động- hàng hoá, thức ăn được lưu thông dựa vào sự dẻo dai của đôi chân người bán hàng, có mặt ở khắp các ngóc ngách của thành phố. Bộ bưu ảnh hàng rong ở Sài Gòn- Chợ Lớn tái hiện một phần đời sống kinh tế- xã hội cũng như văn hoá của người Việt hồi đầu thế kỷ 20.

image

Phở là món ăn truyền thống của người Việt xuất hiện đầu tiên trên các gánh hàng rong. Thành phần đơn giản, chỉ gồm nước lèo, bánh phở, một vài miếng thịt và các lọ gia vị. Đây là một gánh phở dạo khác của người Sài Gòn xưa, người bán hàng gánh cả bếp lò, nồi nước sôi đi khắp nơi phục vụ.

image

Bánh gạo, một loại bánh phổ biến ũng được bán rong trên các khu phố. Bánh được làm từ gạo trộn cùng một số loại ngũ cốc khác cho có mùi vị, cho thêm bột kết dính rồi ép dẹp, sau đó hấp chín.

image

Cháo, mì hay hủ tiếu được người Pháp gọi chung là súp. Các gánh hàng loại này khá cồng kềnh, nặng nề nên chủ gánh thường chọn một góc phố đông người, ngã tư để tiện buôn bán.

image

Hình ảnh khá thú vị về một xe bán kem của người Hoa Sài Gòn những năm đầu thế kỷ 20. Kem được làm mát bằng đá lạnh xếp xung quanh, sát thùng là một lớp xốp mỏng để giữ đá lâu tan. Người bán sẽ “thu hút” khách bằng một cái chuông nhỏ gắn sát tay lái bên phải.

image

Khu vực Chợ Lớn tập trung đông đúc người Tàu theo đường biển vào lập nghiệp ở Việt Nam từ thời các chúa Nguyễn mở mang bờ cõi. Người Hoa là những người giỏi buôn bán, chịu khó nên các gánh hàng của họ thường đông khách. Hình ảnh chú “Khách”- một cách gọi người Hoa của người Việt bán với đôi quang gánh bán dạo các món ăn như mì, cháo, tào phớ… rất quen thuộc và tồn tại cho đến những năm 70 của thế kỷ 20.

image

Hình ảnh điển hình của gánh tào phớ xưa. Người bán thường gánh một thùng gỗ đựng tào phớ, một chạn gỗ đựng chén bát, muỗng, và những vật dụng khác. Người bán tào phớ có tiếng rao rất đặc biệt, chỉ có một chữ ” phớ…” kéo dài.

image

Quán bán nước giải khát trên vỉa hè. Người bán hàng ngồi trên ghế cho thấy quán hàng kiểu này là cố đinh, khách hàng là khách qua đường, các bác phu xe kéo nghỉ chân uống chén trà xanh hay một loại nước trái cây nào đó như dừa, được trồng nhiều ở ngay tại vùng Sài Gòn- Chợ Lớn.

image

Những thực khách ngồi xổm thưởng thức món mỳ của một người bán hàng rong người Hoa ngay trên đường. Các gánh hàng kiểu này vẫn duy trì nhiều ở Sài Gòn cho đến tận những năm 1970.

image

Nón lá, hình ảnh đặc trưng của người Việt, được làm từ lá cọ lợp trên nên khung tre nhỏ hình chóp nhọn dưới có quai đeo, nón rộng vành nên che kín mặt và rất mát. Nón của người Việt khác với nón người Trung Quốc hay đội với cái chóp nhọn đặc trưng.

image

Sài Gòn xưa cũng có những khu phố tập hợp các loại gánh hàng rong để người dân và khách thuận tiện ăn uống. Vào buổi sáng khu phố rất náo nhiệt thu hút cả người Tây sống ở thuộc địa.

image

Họp chợ trên đường phố là một thói quen cố hữu của người Việt. Buôn bán nhỏ, mang bán từng mớ rau, con cá nuôi được nên người Việt tiện đâu bán đấy. Những hình ảnh này cho thấy các bà các chị đang mua bán nông sản, thực phẩm rất sôi động trên phố phường Sài Gòn xưa.

image

Một người Việt với chiếc nón lá đặc trưng quẩy đôi quang gánh trên đường phố Sài Gòn. Trong đôi sọt đan bằng lá của người đàn ông này thường có nhiều loại nông sản do chính gia đình trồng được để mang đi bán.

Bác sỹ người Mỹ nhiễm virus Ebola về nước

Bác sỹ người Mỹ nhiễm virus Ebola về nước

Bác sỹ Kent Brantly (trái) chữa trị cho một bệnh nhân nhiễm virus Ebola ở Liberia.

Bác sỹ Kent Brantly (trái) chữa trị cho một bệnh nhân nhiễm virus Ebola ở Liberia.

02.08.2014

Một bác sĩ nhiễm virus Ebola khi giúp những nạn nhân tại Liberia đã trở về Mỹ, trở thành bệnh nhân Ebola đầu tiên trên đất Mỹ.

Bác sĩ Kent Brantly được chở từ Liberia đến tiểu bang Georgia ở miền nam hôm nay, trên một chiếc máy bay thuê bao được trang bị các dụng cụ y tế đặc biệt.

Sau khi đến một căn cứ quân sự ở Georgia, ông được chuyển sang một xe cứu thương trong một đoàn xe đến Bệnh viện của trường đại học Emory, một cơ sở y tế tại thành phố Atlanta.

Video truyền hình từ bệnh viện cho thấy hai người ra khỏi xe cứu thương mặc bộ đồ bảo hộ màu trắng phủ toàn thân và vào bệnh viện.

Bệnh viện này là một trong 4 bệnh viện duy nhất tại Mỹ được trang bị để chữa trị những trường hợp này.

Bác sĩ Brantly sẽ được chữa trị trong một phòng cách ly hoàn toàn khỏi những khu vực bệnh nhân khác.

Bác sĩ Brantly và một người Mỹ khác là bà Nancy Writebol, là những nhân viên cứu trợ tại Liberia khi bị nhiễm virus Ebola. Virus này đã làm hơn 700 người thiệt mạng tại Tây Phi kể từ tháng Ba năm nay.

Bà Writebol sẽ đến Mỹ trong vòng vài ngày nữa và sẽ được chữa trị tại cùng một bệnh viện ở Atlanta.

Các giới chức y tế sẽ sử dụng cùng chiếc máy bay phản lực để chở bà Writebol. Chiếc máy bay nhỏ này chỉ có thể chở mỗi lần một người bị cách ly mà thôi.

Một bác sĩ Atlanta thuộc toán chữa trị cho bác sĩ Brantly cho biết ông không đồng ý về ý tưởng cho rằng virút Ebola được mang vào Mỹ.

Bác sĩ Jay Varkey nói ông xem bác sĩ Brantly như là một bệnh nhân cần được sự giúp đỡ của toán bác sĩ chữa trị.

 

Chính quyền Việt Nam mắc nợ ‘khủng khiếp’

Chính quyền Việt Nam mắc nợ ‘khủng khiếp’

August 03, 2014

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Ông Trịnh Tiến Dũng, một chuyên gia kinh tế khẳng định, các doanh nghiệp nhà nước nợ “khủng khiếp” và chính quyền Việt Nam không thể phủ nhận đây là nợ của mình.

Tuy phủ nhận trách nhiệm đối với chuyện nợ nần của các doanh nghiệp nhà nước nhưng những khoản nợ này vẫn tồn tại như các trái bom có thể nổ bất kỳ lúc nào. (Hình minh họa: Báo Dân Trí)

Ông Dũng là cựu trợ lý của trưởng ban cải cách khu vực công của Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) tại Việt Nam.

Hồi Tháng Sáu vừa qua, Bộ Tài Chính Việt Nam công bố báo cáo về sử dụng vốn vay, quản lý nợ công của chính quyền Việt Nam.

Theo báo cáo vừa kể, tính đến hết năm ngoái, Việt Nam nợ 1,913,000 tỷ đồng, tương đương 53.4% GDP, trong đó nợ của chính phủ Việt Nam là 1,488,000 tỷ đồng, tương đương 41.5% GDP.

Tính đến hết năm 2013, tổng số dự án được chính phủ Việt Nam bảo lãnh để vay là 104 dự án, trong đó có 23 dự án đã trả xong nợ.

Riêng năm ngoái, chính phủ Việt Nam bảo lãnh cho tám dự án vay $3.161 tỷ từ các tổ chức tín dụng ngoại quốc hoặc phát hành trái phiếu quốc tế.

Cả Bộ Tài Chính lẫn chính quyền Việt Nam liên tục khẳng định, những khoản nợ khác của các doanh nghiệp nhà nước không thể xem là nợ của chính quyền. Các doanh nghiệp nhà nước tự vay và tự trả.

Nhiều chuyên gia kinh tế khẳng định đó là một kiểu ngụy biện. Chính quyền Việt Nam ngụy biện như thế để trấn an mọi người rằng, nợ nần của chính quyền Việt Nam chưa vượt quá mức 65% GDP.

Theo khuyến cáo của nhiều tổ chức quốc tế, nếu nợ nần vượt quá mức 65% GDP thì an ninh tài chính quốc gia không còn an toàn.

Theo ông Dũng, dù những khoản vay của các doanh nghiệp nhà nước được chính quyền Việt Nam bảo lãnh rồi được gộp vào khối nợ chung của chính quyển, chỉ chừng 4.2% đến 6.9% tổng nợ quốc gia nhưng tỷ lệ đó không phản ánh đúng thực chất nợ nần và thực tế vay trả.

Tại một cuộc hội thảo về nợ công, diễn ra hồi trung tuần tháng trước, ông Dũng đưa ra nhiều dẫn chứng để bác bỏ lập luận, các doanh nghiệp nhà nước tự vay và tự trả nợ. Nợ của các doanh nghiệp nhà nước không liên quan đến nợ nần của chình quyền.

Ví dụ rõ ràng nhất là trường hợp Vinashin. Năm 2009, tập đoàn nhà nước này phá sản và để lại khoản nợ 89,000 tỉ đồng, tương đương 52% GDP của năm 2009. Sau đó, chính quyền Việt Nam đã tổ chức chuyển nợ của Vinashin cho Vinalines và Petro Vietnam, bổ sung vốn, khoanh nợ. Tuy Vinashin “tự vay” nhưng rõ ràng trả là do chính quyền Việt Nam, kể cả phát hành trái phiếu để bù đắp và vì thế khiến ngân sách thâm thủng.

Không riêng ông Dũng, hai ông Phạm Thế Anh và Ðinh Tuấn Minh cũng đã sử dụng nhiều số liệu để chứng minh rằng, tổng các khoản nợ của hệ thống doanh nghiệp nhà nước đã vay mà không được chính quyền Việt Nam bảo lãnh, nên không được kể là nợ công, tương đương 40.9% GDP.

Nếu tính đúng, tính đủ, cộng cả nợ nần chính thức lẫn nợ nần của hệ thống doanh nghiệp nhà nước, những khoản chưa thanh toán khi thực hiện các công trình hạ tầng, nợ nần của chính quyền Việt Nam hiện nay xấp xỉ 98.2% GDP.

Hai ông Phạm Thế Anh và Ðinh Tuấn Minh khẳng định, các khoản vay ngoại quốc, vay các nhân hàng trong nước, vay lẫn nhau của hệ thống doanh nghiệp nhà nước, dù không được chính quyền Việt Nam bảo lãnh vẫn đe dọa an ninh tài chính quốc gia.

Nếu không muốn những quả bom này phát nổ, việc cải cách hệ thống doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa những doanh nghiệp này phải “triệt để,” không thể “hình thức” nhưng thực tế cho thấy, đến nay, cải cách hệ thống doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa những doanh nghiệp này vẫn như trò đùa. (G.Ð.)

 

TQ ‘giương móng vuốt bắt con hổ họ Chu’

TQ ‘giương móng vuốt bắt con hổ họ Chu’

Carrie Gracie

Biên tập viên Trung Quốc

Thứ hai, 4 tháng 8, 2014

Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chính thức thông báo điều tra một trong những chính trị gia quyền uy nhất, cựu lãnh đạo an ninh Chu Vĩnh Khang.

Trong động thái chứng tỏ Chủ tịch Tập Cận Bình đã chiến thắng trong trận đấu khó khăn giành quyền chỉ huy tối cao, Tân Hoa xã nói ông Chu sẽ bị điều tra do các vi phạm kỷ luật nghiêm trọng, một cách nói để ám chỉ tội tham nhũng.

“Không cần biết con hổ to như thế nào, một khi vi phạm pháp luật… và vi phạm luật lệ đảng, con hổ đó sẽ khó có thể thoát được lồng sắt.”

Đây là phán quyết từ cơ quan ngôn luận của đảng, Nhân dân Nhật báo, khi đưa tin về vụ điều tra ông Chu Vĩnh Khang.

Nhưng với sự bẽ bàng của ông ta, chính trị Trung Quốc bước vào giai đoạn chưa từng có. Ông Chu là chính trị gia cấp cao nhất bị làm nhục theo cách này trong nhiều thập niên qua.

Trong giai đoạn đổi mới từ 35 năm qua, có bộ quy tắc không thành văn rằng những người mới lên nắm quyền không tấn công những người đã rời chức, nỗ lực nhằm tránh tình trạng thanh trừng chính trị man rợ trong thời Mao.

Chu Vĩnh Khang nghỉ hưu sau khi điều hành mạng lưới an ninh đầy quyền lực cùng lúc với ông Tập Cận Bình được thăng chức lãnh đạo Đảng năm 2012.

Nhưng với thông báo về vụ điều tra ông Chu, Chủ tịch Tập đã xé bỏ bộ quy tắc dành riêng cho chính giới cấp cao Trung Quốc, và các chính trị gia quyền lực một thời khác đang lo lắng mình có thể là người tiếp theo.

Ông Chu Vĩnh Khang thời còn làm lãnh đạo công an

Biến mất trước công chúng

Chu Vĩnh Khang nổi lên từ một gia đình nghèo và trở thành k‎ỹ sư ngành dầu khí, dần thăng tiến qua các cấp bậc trong đảng để lên nắm công ty dầu khí lớn nhất Trung Quốc rồi sau đó dẫn dắt Tứ Xuyên, tỉnh lỵ có 80 triệu dân.

Đỉnh cao sự nghiệp của ông là chiếc ghế trong đội ngũ chính trị cao nhất của đảng, Ủy viên thường trực Bộ chính trị.

Ngoài ngôi làng ở quê nhà, khó có thể nói ông là người được yêu quý ở Trung Quốc, nhưng tới năm 2012, ông có thể đạt được cái tiếng là người đáng sợ nhất.

Thông báo từ cơ quan thông tấn chính thống của Trung Quốc không ghi rõ chi tiết các cáo buộc đối với ông Chu.

Nhưng nhiều nhà quan sát tin rằng, số phận của ông đã được định đoạt khi người mà ông bảo trợ, Bạc Hy Lai, thất thế sau việc vợ ông liên quan tới vụ sát hại một doanh nhân người Anh đầy tai tiếng.

Rõ ràng là ông Chu Vĩnh Khang đã gặp rắc rối khi bỗng biến mất trước công chúng từ năm ngoái.

Trong những tháng sau đó, tên tuổi ông không được truyền thông Trung Quốc nhắc tới, nhưng lần lượt các đồng minh chính trị của ông, trong ngành dầu khí, ở tỉnh Tứ Xuyên hay trong bộ máy an ninh, đều trở thành con mồi cho chiến dịch chống tham nhũng ngày càng khốc liệt.

Các thành viên gia đình, tài xế, vệ sỹ, và những người được ông bảo trợ cũng bị sa lưới. Thông báo điều tra ông chỉ là vấn đề thời gian.

Vụ xử Bạc Hy Lai khiến nhiều nhân vật sửng sốt

‘Cả hổ lẫn ruồi’

Hệ thống chính trị độc đảng của Trung Quốc thiếu hệ thống bầu cử để có chỗ cho người mới và ý tưởng mới và chiến dịch chống tham nhũng thường được coi là phương thức tiện lợi để lãnh đạo mới khống chế đối thủ và củng cố quyền lực.

Nhưng khi làm nhục một nhân vật cấp cao đến thế, ông Tập Cận Bình đang đánh tín hiệu cho thấy chiến dịch của ông rất khác.

Suốt nhiều năm, các lãnh đạo Đảng Cộng sản đã cảnh báo rằng tham nhũng tràn lan là mối đe dọa lớn nhất đối với sự sống còn của đảng. Khó phóng đại nghi ngờ sâu sắc của dân chúng đối với tầng lớp lãnh đạo.

Khi kinh tế phát triển mạnh, các quan chức cấp cao vơ vét hàng tỷ từ tài sản công, rất nhiều trong số đó giấu của trong các tài khoản và tài sản ở nước ngoài.

Các chỉ trích gia cáo buộc ông Tập là người giả nhân giả nghĩa khi một số người trong gia đình ông trở nên giàu có hơn trong những năm gần đây.

Nhưng tuyên bố quyết tâm trị “cả hổ lẫn ruồi” của ông đã được sự ủng hộ của dân chúng và gửi tín hiệu tới hệ thống đảng và chính quyền rằng ông thực sự nghiêm túc trong việc giải quyết vấn đề tư lợi, đặc biệt là với những ai có thể có ý định cản trở kế hoạch đổi mới kinh tế của ông.

Hàng ngàn quan chức đã bị điều tra và không có dấu hiệu cho thấy chiến dịch này sẽ ngưng lại.

Nhân dân Nhật báo viết hôm 29/07: “Tình hình vẫn dữ dội và phức tạp… Đấu tranh chống tham nhũng sẽ không kết thúc. Lôi được Chu Vĩnh Khang ra không phải là hết. Đây chỉ là một bước, một giai đoạn. Bất kỳ ai tham nhũng cũng sẽ bị trừng phạt.”

Với ông Tập Cận Bình, đây là chiến thắng cá nhân quan trọng. Ông đã kết liễu những nghi ngại về việc liệu ông có thể hạ một trong những “con hổ” lớn nhất này và chứng tỏ mình là người đứng đầu mạnh mẽ không ai địch nổi.

Nhưng một bình luận trên mạng xã hội đưa ra vào đêm có thông báo điều tra rằng liệu ông Chu có thực sự là “vua của bầy hổ hay cũng chỉ là một con hổ thường mà thôi?” Và rất nhiều người Trung Quốc khác đồn đoán về “bầy hổ” còn lại vẫn đang tự do, những cựu lãnh đạo hay lãnh đạo đương chức che chắn cho các đế chế doanh nghiệp tham nhũng của người trong gia đình.

Hơn nữa, thông báo này chẳng có gì là cứu vãn danh tiếng của Đảng cả.

Cú đánh chính trị trọng đại lại chỉ được chuyển tải bằng một dòng ngắn gọn trên các cơ quan thông tấn và truyền thông nhà nước cho thấy người Trung Quốc hay công chúng thế giới vẫn chỉ được phép biết ít ỏi về các vấn đề nội chính của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này.

GẬY ÔNG LẠI ĐẬP LƯNG BÀ

GẬY ÔNG LẠI ĐẬP LƯNG BÀ

Vợ chồng bà ly dị tính ra cũng hơn mười năm. Ly dị, không phải vì hạnh phúc gia đình bị vùi dập trong những cơn sóng gió, mà chỉ vì cả hai muốn tìm chút thú vị cho cuộc đời.

Thời gian mới đến Mỹ, hai vợ chồng bà đi làm lương ba cọc ba đồng, tháng nào cũng chật vật, thiếu thốn. Vì ngoài những khoản chi tiêu cho gia đình, gồm hai vợ chồng và hai đứa con, ông bà lại còn phải gửi tiền về Việt Nam hàng tháng cho cha mẹ hai bên. Gần hai năm trời, thời khóa biểu hàng ngày của bà đều đặn không thay đổi, sáng đi làm, chiều về nhà nấu ăn, cuối tuần đi chợ, giặt giũ quần áo… chẳng đi chơi, chẳng biết đâu là đâu. Chị Năm hàng xóm nghe bà than thân, trách phận mới nhỏ to chỉ dẫn. Thì ra, ở đất Mỹ này, nếu biết mánh mung cũng hưởng được nhiều khoản “quyền lợi”. Tối hôm đó, bà nhận được cú điện thoại “giúp đỡ” của chị Hiểu:

-Tôi sẽ giúp chị xin được nhà theo chương trình Housing, và cả tiền Food stamp nữa.

Bà còn lớ ngớ chưa biết nói năng gì, chị bồi thêm:

-Có điều kiện, tội gì không hưởng!

Ngập ngừng một lúc, bà nói nhỏ như sợ có ai nghe thấy:

-Vợ chồng tôi đi làm có lãnh lương đàng hoàng, làm sao có điều kiện mà hưởng.

Chị Hiểu xăn xái cướp lời:

-Lo gì chuyện đó. Phải làm được tôi mới nói. Miễn là tôi biểu gì, chị làm nấy thì chuyện gì cũng xong. Bảo đảm, một năm chị dư gần chục ngàn, bỏ túi xài chơi.

Bà bàng hoàng khi nghe đến số tiền khổng lồ -đối với bà lúc đó- nên chăm chú lắng nghe chị chỉ vẽ.

Suốt đêm đó bà trằn trọc không ngủ được. Vừa thích, vừa lo. Nửa muốn, nửa không. Bà dựng ông dậy vào giữa khuya để bàn bạc. Nói là bàn chứ mọi sự bà muốn ông phải thuận theo ý muốn của bà. Chỉ cần có người gật đầu, để bà yên tâm là mình có đồng minh. Ông thở hắt ra, quấn mình trong chăn, giọng ngái ngủ:

-Ối! bà muốn làm gì thì làm, tôi có cản nổi bà đâu mà bày đặt hỏi.

Vậy là theo “kế hoạch” bà thi hành, sau khi chạy đôn, chạy đáo, mượn một số tiền “khá bộn” để trà nước cho chị Hiểu. Việc trước tiên, bà nghỉ việc ở hãng, rồi xin vào làm ở một shop may. Tiền lương thì bà nằn nì chủ shop trả một nửa tiền mặt, một nửa check. Bước kế tiếp, hai vợ chồng bà ký tên vào đơn ly dị. Chưa đầy một năm thì bà mướn được căn nhà nhỏ ba phòng mà không tốn xu nào.

Thời gian đầu ông còn thận trọng việc đi về, vì sợ hàng xóm để ý, nhưng sau đó thì đâu vào đấy êm xuôi. Bà sung sướng vẽ ra một bản kế hoạch chi tiêu. Hàng tháng, bà chỉ xài phân nửa tiền lương của ông, cộng với tiền food stamp. Phân nửa còn lại và tiền lương của bà được cất kỹ ở một nơi bí mật. Tính ra, dư cả ngàn một tháng chứ đâu ít. Hạnh phúc đời bà cứ tăng dần theo số tiền trong “hộp saving”. Ông thì đặng chẳng mừng, mất chẳng lo. Cứ mỗi lần nghe bà báo cáo con số, ông lại trề môi, nhíu mũi:

-Tiền nhiều thì hưởng được gì? Có bao giờ được đi chơi hay ăn nhà hàng đâu. Lần nào bạn bè mời dự tiệc, bà cũng viện cớ từ chối, vì sợ phải tốn tiền quà cáp. Có bao nhiêu tiền đi nữa tôi cũng là cái thằng đói suốt đời, đói đủ mọi thứ.

Lòng bà đang tràn ngập niềm vui, nên dù ông có đay nghiến bà cũng không giận. Đứa con gái lớn, mới mười bốn tuổi cũng a dua theo ba nó, lên giọng dạy đời:

-Ba má làm chuyện kỳ cục. Mỗi lần người quen hỏi, ủa ba má mày ly dị từ hồi nào, con xấu hổ gần chết.

Thằng con út đi qua đi lại, cái mặt nghênh nghênh, chì chiết:

-Người lớn mà nói dối … vậy mà biểu con phải thiệt thà.

Bà cười bao dung, không chấp nhất bọn trẻ. Thế mới biết, khi người ta cảm thấy hạnh phúc thì tâm hồn cởi mở hơn, chẳng để ý làm gì đến những chuyện nhỏ nhặt xung quanh.

***

Ba năm sau, chị Năm hàng xóm -cũng là chị Năm thân ái – thủ thỉ với bà:

-Bà muốn có mười mấy ngàn bỏ túi không?

Bà tròn mắt:

-Giỡn chơi hoài, không lẽ ai có dư tiền, rồi không biết làm gì, kiếm tôi cho không?

Chị Năm nhìn bà, nói với giọng “hình sự”:

-Thiệt đó, bà để ổng về Việt Nam cưới con nhỏ cháu chồng tôi đem qua đây, lấy mười hai ngàn nhẹ nhàng.

Bà giật nẩy mình, nhìn chị hàng xóm chầm chập:

-Bà nói gì kỳ vậy… còn tôi … bỏ ở đâu?

Chị Năm cười ngặt nghẽo, khoát tay lia lịa:

-Hổng phải …. cưới giả thôi mà. Chuyện vầy nè ….

…. Vậy là vợ chồng bà được hai vé máy bay về Việt Nam “free”. Sau đó là một bao thư dầy cộm những tờ giấy một trăm đôla trong đó. Tiền trong “hộp saving” lại cao vun lên. Bà cảm thấy hạnh phúc vô vàn. Đã cố tình dấu kín, vậy mà không hiểu sao đứa con gái cũng biết. Nó vùng vằng nói với bà:

-Hết biết ba má rồi. Má đó nghe, cứ giả… rồi có ngày thiệt cho coi!

Bà cười hệch hạc:

-Ối! có mất mát gì đâu mà sợ. Chờ đủ ba năm thì ba bây làm giấy ly dị là xong. Ba năm… lâu la gì con ơi!

Thật vậy, ba năm bay qua cái vèo. Mọi chuyện trót lọt êm xuôi. Ông chồng của bà cũng mỗi ngày đi đi, về về, tối leo lên giường, nằm cạnh bà ngáy ro ro.

Một năm sau, vào buổi sáng đẹp trời, chị Năm lại sang thỏ thẻ:

-Kỳ này, mười lăm ngàn đó …. làm một chuyến nữa đi.

Bà mừng rơn, nhưng cũng làm bộ:

-Thôi! làm hoài… ngán quá. Rủi đổ bể, chết cả đám chị ơi!

-Làm sao bể được. Bà dấu kín, người ta còn kín hơn bà nữa. Đừng sợ, bà cẩn thận một, người ta cẩn thận mười. Ngon gần chết, bỏ uổng.

Bà quay ngược lại hỏi:

-Ùa! ngon sao chị không biểu anh Năm làm đi ?

Chị Năm cười nhẹ:

-Thì … tôi thấy … sẵn ổng với bà ly dị rồi …

-Thôi, lần này chị với anh Năm làm đi… kiếm tiền xài chơi.

Chị hàng xóm trở giọng nghe bắt ghét:

-Đời nào ông nhà tôi chịu làm chuyện đó.

Bà bực mình nên trả lời nhát gừng:

-Để tôi tính lại!

Đêm đó, bà chờ đến nửa khuya, khi mọi người yên giấc mới nhẹ nhàng lôi chiếc hộp ra đếm tới, đếm lui. Ôi! những tờ giấy bạc sao mà thơm ngát, hấp dẫn quá chừng. Để coi, mười lăm ngàn nữa là bao nhiêu hén. Trời! nhiều dữ vậy sao? Có nằm mơ, bà cũng không nghĩ rằng có ngày mình cầm được trong tay một số tiền lớn như thế. Đứng lên, ngồi xuống, lăn qua trở lại cả đêm, cuối cùng, bà lắc vai ông, ngọt ngào nói:

-Làm chuyến chót đi ông để kiếm tiền dưỡng già.

-Ừa !! ừa!!!

Bà hân hoan dẫn ông về Việt Nam “cưới vợ” lần thứ hai giữa sự chống đối và bất mãn của hai đứa con.

-Bọn bây còn nhỏ, ăn chưa no lo chưa tới, không biết tính toán chuyện lâu dài thì để tao lo, đừng nói tới, nói lui mệt lắm.

Thời gian trôi, rồi ba năm lại qua nữa. Ông ký tên lên tờ giấy ly dị thêm một lần nữa giữa tiếng thở phào nhẹ nhõm của bà. Tiền thì cũng ham lắm, nhưng trong lòng bà cũng thấp thỏm lo âu, lỡ có chuyện gì bất trắc, chắc là khó yên với ba cha con nó.

Thật sự, lúc bấy giờ bà có thể chọn cho mình một cuộc sống thanh thản, nếu bà muốn. Vì con cái đã lớn, học hành đâu ra đó, tiền chìm cũng rủng rỉnh đầy hộp, chồng thì hiền lành, dễ sai dễ bảo, chuyện gì cũng OK tuốt. Nhưng bà vẫn còn mê đôla, nên suốt ngày gò lưng trên bàn máy để kiếm tiền.Thấy bạn bè làm nghề may đều đổi sang dũa móng tay, lượm tiền như lượm lá, bà ham quá đỗi. Ngặt nỗi, cái đầu bà nhất định không chấp nhận. Nó phản đối dữ dội mỗi khi bà tiếp xúc với mùi hóa chất. Nó hành hạ bà bằng những cơn nhức đầu như búa bổ. Bà đành phải dẹp mộng làm nail để trở về shop may đếm bạc cắc.

Một năm nữa lại sắp hết. Sau khi bị layoff, ông tìm việc mãi không được, nên đành phải lên tận Fort Worth, nhận đỡ công việc mà ông không hề thích, đã vậy còn làm ca ba. Qua hai tháng, chịu hết nổi, ông mướn apartment ở, cuối tuần mới về nhà. Bà và hai đứa nhỏ đề nghị ông tìm job khác gần hơn, chứ tiền lương đâu có bao nhiêu mà chia năm, xẻ bảy. Nói gì thì nói ông vẫn giữ vững lập trường. Đúng là già sinh tật cứng đầu. Bà giận lẫy bỏ lơ, không thèm nói nữa. Riết rồi hai tuần, ba tuần ông mới về một lần, nhưng bà cũng chẳng buồn hỏi han. Ai không cần đây, thì đây cũng chẳng cần đó. Quan niệm sống của bà xưa nay là vậy mà, đời nào bà chịu xuống nước năn nỉ ai.

Một hôm, bà đi chợ Việt Nam Plaza thì gặp người bạn cũ.Lâu ngày mới có dịp hàn huyên tâm sự, bà mời bạn qua tiệm phở kế bên, vừa ăn vừa nói chuyện. Chợt bạn bà hỏi nhỏ:

-Con nhỏ cháu ở Việt Nam mới qua ở chung với chị hả?

-Cháu nào?

Bà ngạc nhiên hỏi ngược lại.

-Thì con nhỏ bữa hôm ảnh dắt đi sắm đồ trong Outlet Mall đó.

Bà hồ nghi nên hỏi tới. Thì ra, cách đây khoảng một tháng, vợ chồng chị bạn gặp ông đưa một cô gái đi sắm quần áo, và được giới thiệu là cháu của ông. Nhìn sắc mặt của bà, người bạn biết chuyện chẳng lành, nên nhẹ nhàng khuyên nhủ:

-Chuyện đâu còn có đó. Từ từ theo dõi, tìm hiểu coi ra sao, đừng ồn ào quá, mất mặt cả đám, mà mình lại bị thiệt thòi nữa. Đàn ông bây giờ ghê gớm lắm, nhất là từ hồi có cái vụ về Việt Nam cưới vợ, họ trở mặt với mình như không.

Bà trở về nhà bằng cái xác không hồn. Gọi con gái, bà khóc ồ ồ trên điện thoại. Một chặp sau nó trở về, không nói câu nào mà nhìn bà chầm chập. Bà lảng tránh ánh mắt của nó, như tránh câu hỏi gay gắt đang thầm gửi đến bà “Đó! con nói rồi mà má không nghe, giả riết rồi có ngày thành thiệt”. Bà vừa khóc rấm rứt, vừa nói:

-Ngày mai, con chở má đi tìm con nhỏ đó.

-Rồi má định làm gì?

-Chưa biết. Nhưng gì thì gì má cũng phải làm cho ra lẽ.

Con gái ôm vai bà:

-Má ráng bình tĩnh. Trên giấy tờ ba má đã ly dị rồi, má có làm gì cũng không được đâu. Từ từ nói chuyện tình cảm với ba.

Bà ngã lăn xuống giường. Bây giờ, nhắm mắt lại bà không còn thấy những đồng đôla màu xanh óng ánh nữa mà là hình ảnh một đứa con gái đỏng đa, đỏng đảnh giựt chồng bà.
***

Đứa con gái đứng trước mặt bà mặc chiếc váy cao, lộ đôi chân thon trắng muốt, hai tay khoanh trước ngực. Đôi mắt sắc lẻm của nó đậu trên khuôn mặt thanh tú. Dù trong lòng có muốn tặng nó mấy tô acid, bà vẫn phải công nhận nó rất đẹp. Nghe bà tự giới thiệu, nó vẫn thản nhiên hất mặt:

-Bác muốn chờ anh Nhàn hả? Ra ngoài sân ngồi chờ đi.

Bà nhào tới, gào vào mặt nó:

-Cái thứ mất nết ….

Bao nhiêu danh từ xấu xa bà gán hết cho nó. Đứa con gái cười nửa miệng, vừa quay lưng, vừa nói:

-Bác nên nhớ, tôi là vợ có giấy tờ của anh Nhàn. Bác lộn xộn tôi kêu cảnh sát đó.

Cánh cửa đóng rầm một cái. Thiệt tình, bà muốn vặn họng nó. Thứ đồ con nít, mặt búng ra sữa mà dám gọi chồng bà bằng anh. Bà xấn tới, đưa tay đập cửa thì bị ghì chặt lại với tiếng kêu “Đừng Má!” như ngăn cấm. Bà tức giận, giật mạnh cánh tay, ngồi bệt xuống đất, ôm lồng ngực có trái tim đang đau nhói. Con gái kéo bà ra xe.Trên đường về, bà khóc tấm tức. Bây giờ, bà mới vỡ lẽ ra tại sao ông chọn công việc xa nhà. Nhớ lại hồi năm ngoái, bạn bà kể, có thấy ông trong một nhà hàng sang trọng ở Việt Nam nhưng bà không tin. Thì ra, ông lén lút về Việt Nam để làm đám cưới và bảo lãnh con nhỏ này qua đây. Bao lâu nay, ông có đem về cho bà cắc nào đâu. Bà vặn hỏi thì hai đứa nhỏ cằn nhằn, ba ở một mình hao tốn lắm, lương ba sợ còn không đủ, làm gì có tiền dư mà má đòi. Không ngờ ông lại gian lận. Thôi chết! Chết thiệt rồi. Nhiều lần ông hù dọa bà phải đem tiền bỏ vào “safety box” ở ngân hàng, vì bọn cướp bây giờ hay cướp nhà Việt Nam. Bọn nó biết người mình thường giữ tiền mặt trong nhà, nên tra khảo tới chừng nào lòi tiền ra mới thôi. Để tiền ở nhà, không mất tiền thì cũng mất mạng.

Bà bảo đứa con gái chạy gấp tới ngân hàng…

Bà ngã quỵ xuống đất. Tay chân bủn rủn khi thấy trong hộp chỉ còn một xấp tiền xẹp lép dưới đáy. Về đến nhà, bà chụp điện thoại, run run bấm số. Vừa có tiếng a-lô, bà gào lên, vừa chửi rủa, vừa hạch hỏi:

-…Tại sao ông lường gạt tôi? Đồ tráo trở, gian manh!

Giọng ông cũng từ tốn như hồi nào:

-Bà bình tĩnh đi. Nếu muốn nói chuyện đàng hoàng thì đừng dùng những chữ khó nghe.

Bà nuốt ực nỗi uất ức trong lòng:

-Tôi hỏi ông, tại sao ông cả gan lấy tiền của tôi cho gái.

Ông cười khẩy:

-Tôi nói rõ cho bà biết, tiền tôi lấy là tiền của tôi, chứ không phải của bà. Bà bán tôi đến hai lần rồi bà không nhớ sao? Bà có thú vui đếm tiền thì tôi cũng thú vui của riêng tôi. Bao nhiêu năm sống với bà, tôi hưởng được cái gì? Ngoài tiền ra bà đâu cần biết đến chồng. Muốn chửi người khác thì hãy tự xét mình trước đi.

Tiếng máy dằn cái cụp vang lên khô khan. Trời ơi! ai dạy dỗ mà ông nặng nhẹ bà một cách trơn tru vậy chớ. Ngoài cái con chằn tinh gấu ngựa đó còn ai nữa. Tuổi nó chỉ xấp xỉ con gái bà mà cái mặt của nó lõi đời. Qua đây chưa bao lâu mà nó dám chọi tay đôi với bà thì đâu phải hiền lành. Không lẽ bà thua nó? Bà chưa nghĩ ra cách đối phó thì con gái đã cao giọng can ngăn:

-Má đừng tính chuyện gì nữa. Bây giờ, má chỉ có từ thua tới thua thôi. Con đã nói bao nhiêu lần mà má đâu có nghe.

Bà phang chiếc điện thoại đang cầm trên tay vào ngực con gái. Vừa khóc, vừa mắng:

-Đi đi cái đồ bất hiếu. Tao vô phúc quá mà. Chồng không ra gì, con cũng chẳng ra gì.

Bước ra cửa, nó còn nhẫn tâm quay lại, chua thêm một câu:

-Cũng là tại má thôi.

Ngân Bình

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Một tấm lòng vàng trên đường phố

Một tấm lòng vàng trên đường phố

Anh Trần Viết Hùng hành nghề bơm vá xe đạp trên góc đường Hà Huy Tập-Điện Biên Phủ ở quận Thanh Khê

Anh Trần Viết Hùng hành nghề bơm vá xe đạp trên góc đường Hà Huy Tập-Điện Biên Phủ ở quận Thanh Khê

Trà Mi-VOA

03.08.2014

Bạn cho là mình chưa đủ điều kiện để làm từ thiện? Hãy nghĩ lại, đặc biệt là khi bạn nghe câu chuyện sau đây về một anh chàng nghèo vật chất-giàu nhân ái ở Đà Nẵng.

Suốt hơn chục năm qua, anh Trần Viết Hùng hành nghề bơm vá xe đạp trên góc đường Hà Huy Tập-Điện Biên Phủ ở quận Thanh Khê để nuôi sống gia đình gồm mẹ già, vợ, và 3 con.

Lam lũ dầm mưa dãi nắng 10 giờ đồng hồ trên vệ đường mỗi ngày anh mới kiếm được cao lắm là 120 ngàn đồng đủ chạy cơm hai bữa qua ngày. Thế nhưng, có một điều đặc biệt khiến điểm vá xe vỉa hè của anh trở nên nổi tiếng, nhất là đối với những người nghèo cùng cảnh ngộ: Đây là nơi hiếm hoi, nếu không muốn nói có một không hai, vá xe miễn phí cho các khách hàng là học sinh và người tàn tật. Điểm sửa xe của anh có treo tấm bảng to ghi dòng chữ ‘Học sinh-Người Tàn Tật Miễn phí.’

Điểm sửa xe của anh Trần Viết Hùng, miễn phí cho các khách hàng là học sinh và người tàn tật.

Điểm sửa xe của anh Trần Viết Hùng, miễn phí cho các khách hàng là học sinh và người tàn tật.

Một khách hàng quen thuộc của anh Hùng 3-4 năm nay, chị Nguyễn Thị Gái hành nghề bán hàng rong trên chiếc xe đạp cũ kỹ, nói về anh bạn nghèo tốt bụng trên đường phố:

“Anh là người tốt bụng. Những người nghèo khổ như tôi đây khi xe bị hư anh không lấy tiền. Bao nhiêu người nghèo như tôi đi đường lở bị lủng lốp xe cũng nhờ ảnh. Đôi lúc mình không có tiền, cũng nhờ ảnh mới có phương tiện để đi. Những người trong cảnh nghèo anh đều giúp hết. Những người như anh rất tốt trong xã hội đầy những người lừa lọc, tham ô, ăn cắp, ăn trộm. Em cũng mong sao có được nhiều người như anh Hùng. Nhiều người giàu, có tiền, nhưng cũng này kia kia nọ lắm. Em cũng dạy dỗ con em là ‘nghèo cho sạch, rách cho thơm’, bắt chước theo tấm lòng như anh Hùng đây.”

Tạp chí Thanh Niên VOA hôm nay mời quý vị và các bạn cùng gặp gỡ người đàn ông sống nhờ vỉa hè nhưng rộng lượng giúp đỡ người nghèo khó, Trần Viết Hùng.

Trần Viết Hùng: Gia đình cũng khổ nên em làm nhiều nghề từ xích lô, xe bò, bốc vác, xe thồ và cuối cùng chọn nghề này. Em làm dựa vô vỉa hè của người ta, họ cho mình làm buổi chiều thôi. Em ra làm 2 giờ chiều đến 2 giờ sáng, khi nào đường hết người mình mới về. Hai vợ chồng em có 3 đứa con. Đứa đầu 18 tuổi. Cách đây 3 năm nó bị bệnh phổi, yếu quá, nên giờ ở nhà không đi học nữa. Hai đứa nhỏ còn đi học. Đứa nhỏ nhất học lớp 6. Vợ em buôn bán hàng rong.

Trà Mi: Xuất phát từ cơ duyên nào và từ khi nào anh có ý tưởng bơm vá xe miễn phí cho học sinh và người tàn tật?

Trần Viết Hùng: Mình cũng cực khổ nhiều rồi. Chỗ em làm cách chừng 200 mét có 2 trường học. Mình thấy nhiều hoàn cảnh cũng tội. Nhiều em ra học xe hư dắt bộ ngang qua chỗ mình mà không dám vô. Hùng kêu lại để làm dùm mà các em ngại. Trước tới giờ em bơm vá xe cho các em đã không lấy tiền rồi, nhưng còn nhiều em không biết, nên ngại. Cho nên, em mới để tấm bảng Miễn phí lên cho các em thấy an tâm. Còn người tàn tật, mình không giúp họ thì thôi, lấy tiền họ làm gì. Mình chỉ nghĩ đơn giản vậy thôi.

Trà Mi: Nói tới chuyện làm từ thiện, người ta liên tưởng ngay đến những người dư ăn, dư để. Chuyện người nghèo làm từ thiện cũng hiếm thấy..

Trần Viết Hùng: Giờ nghe người ta nói là mình làm từ thiện thì em mới biết vậy chứ khi đặt tấm bảng lên em chẳng nghĩ gì hết. Em chỉ muốn giúp đỡ những người tàn tật và các em học sinh lỡ đường. Mình nghĩ các em như con mình thôi, chứ không nghĩ là làm từ thiện này nọ. Đó là cái tâm mình thương các cháu như con mình thôi.

Trà Mi: Giữa đời sống bon chen có 1 tấm gương người nghèo làm việc tốt trên đường phố, anh có nghĩ hình ảnh của mình có thể giúp các cháu có cái nhìn và suy nghĩ tốt hơn về xã hội, về chuyện làm việc tốt giúp đời?

Trần Viết Hùng: Lần đầu tiên em được lên báo có các em gửi tin nhắn tới chúc mừng. (Mời quý vị bấm vào phần âm thanh sau đây để nghe toàn bộ cuộc trao đổi với anh Hùng)

Bấm vào để nghe âm thanh toàn bộ cuộc trao đổi với anh Trần Viết Hùng

 

Từ vô thần sang Công giáo: Một câu chuyện của nghi ngờ, hiếu kỳ và cuối cùng là niềm vui

Từ vô thần sang Công giáo: Một câu chuyện của nghi ngờ, hiếu kỳ và cuối cùng là niềm vui

Đặng Tự Do

02 tháng 8-2014

Người ta ước tính rằng khoảng 2 phần trăm của dân số thế giới là người vô thần. Trong nhiều năm, Jennifer Fulwiler, là một người trong số đó. Cô lớn lên trong một gia đình hạnh phúc nhưng vô tín ngưỡng. Thậm chí, cô tin rằng tôn giáo được dựa trên một câu chuyện cổ tích và Kitô giáo là một tôn giáo nguy hiểm.

Jennifer Fulwiler, tác giả cuốn “Something Other Than God”, nghĩa là “Còn gì khác ngoài Thiên Chúa”, nói:

“Vâng, tôi đã từng xem Kitô giáo như một cái gì đó nguy hiểm và tôi thực sự muốn khuyến khích mọi người quên đi hệ thống niềm tin nguy hiểm này.”

Trong cuốn sách của mình, ” Còn gì khác ngoài Thiên Chúa “, cô chia sẻ hành trình của mình. Tất cả mọi thứ từ sự thờ ơ, tới sự hiếu kỳ và cuối cùng là niềm vui. Cô nói rằng tất cả mọi thứ đã thay đổi khi cô và chồng có đứa con đầu tiên. Cô bắt đầu đặt ra nhiều câu hỏi hơn, mà chủ nghĩa vô thần không có thể trả lời.

Jennifer giải thích:

“Chủ nghĩa vô thần nói rằng cuộc sống của con người chẳng qua chỉ là tình cờ ngẫu nhiên của một chuỗi những phản ứng hóa học và điều đó thực sự trái ngược với kinh nghiệm của tôi về cuộc sống và sự gặp gỡ với những người khác.”

Sau khi đọc tất cả các loại sách tôn giáo, với nhiều bất ngờ, cô tìm thấy sự thật trong Kitô Giáo. Cuối cùng cô và chồng cô đã trở thành người Công Giáo. Nhìn lại, cô cho biết cuộc sống của cô bây giờ là hoàn toàn khác trước đây.

Jennifer nói thêm:

“Khi tôi còn là một người vô thần, tôi nghĩ rằng ý nghĩa của cuộc sống là phải có càng nhiều tiền càng tốt. Nhưng tôi nhận thấy không bao giờ là đủ. Ao ước được thăng chức nhưng khi được rồi, tôi lại muốn trèo lên cao hơn nữa. Có xe đẹp, tôi lại muốn có xe đẹp hơn. Tôi đã luôn luôn tìm kiếm một điều khác nữa.”

Kể từ đó, đức tin của tôi đã phát triển và cả gia đình cô cũng đón nhận đức tin. Cô vẫn giữ liên lạc với một số bạn bè vô thần. Họ có thể không đồng ý về những gì là chân lý, nhưng họ nhìn nhận một sự thật rằng cô đã tìm thấy niềm tin thông qua lý trí.

Jennifer nói tiếp:

“Tôi nghĩ rằng người Công Giáo đôi khi có chút do dự trước các cuộc đối thoại thân thiện với những vô thần, bởi vì họ có thể nghĩ rằng ‘Tôi không muốn nhìn vào những lập luận vô thần quá nhiều vì nó có thể làm lung lay đức tin của tôi và tôi có thể không thích những gì tôi tìm thấy. Tôi luôn luôn khuyến khích mọi người theo lời khuyên của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị: đừng sợ. Trước những thách đố của người vô thần, hãy khám phá mọi khả năng và bạn sẽ tự tin hơn nơi đức tin Công Giáo của mình. “

An Phong – Ngọn Gió Lành

An Phong – Ngọn Gió Lành

Chuacuuthe.com

image001

VRNs (02.08.2014) – Khi đặt thanh gươm hiệp sĩ của mình dưới bàn thờ “Đức Bà chuộc kẻ làm tôi”, Thánh An Phong đã quyết định con đường dấn thân của mình theo một khúc quanh mới, thuộc về Chúa hoàn toàn để thuộc về người nghèo, người bị bỏ rơi hơn cả.

Từ giã pháp đình, An Phong cũng từ giã giấc mơ đấu tranh giành lấy công bằng cho người nghèo bằng con đường luật pháp. Bỏ thanh gươm, An Phong từ chối can thiệp vào xã hội bằng quyền lực. Nhận lấy chiếc áo Giáo Sĩ, An Phong chọn con đường Tin Mừng.

Chẳng phải khi trở thành Linh Mục hoặc khi thiết lập DCCT vào năm 1732 thì An Phong mới có cảm thức về người nghèo, về sự áp bức và về sự công bằng, nhưng ngay khi còn đang đeo đuổi con đường luật học, An Phong đã đưa ra những quyết tâm thuộc về người nghèo, thuộc về công lý và công bằng. Quyết tâm không cãi trắng ra đen, chọn lựa người nghèo mà bênh vực, đó là những quyết tâm của luật sư An Phong nơi pháp đình của vương quốc Napoli.

“Hỡi thế gian, ta đã biết mi”, trên đường rời bỏ pháp đình, An Phong kinh nghiệm được sự giới hạn của con người. Luật pháp có công minh cách mấy cũng không đủ sức thắng sự dữ. Cái mỉa mai là luật pháp được biên soạn và ban hành bởi những kẻ cầm quyền thì làm sao lại có thể đứng về phía người nghèo, người bị áp bức được ? An Phong chọn Tin Mừng là “bộ luật” được biên soạn và ban hành bởi người nghèo cùng cực. An Phong nhận ra Thiên Chúa hóa thân nơi người nghèo, nên “bộ luật” này là bộ luật của người nghèo, người đau khổ, người hèn mọn. “Điều gì các ngươi làm cho người bé mọn nhất đó là làm cho chính Ta” ( Mt 25 ).

Chọn người nghèo, người bị bỏ rơi hơn cả, An Phong dấn thân thuộc trọn vẹn về người nghèo, đồng thân đồng phận với người nghèo, hòa mình sống kiếp nghèo. Bỏ giới thượng lưu, An Phong bỏ phong cách quý tộc, chọn lấy nếp sống giản dị, lối cư xử đơn sơ, mộc mạc. Cấm anh em mình ăn nói hoa mỹ, cấm anh em mình đem kiến thức lòe bịp thiên hạ, An Phong chia sẻ với anh em cách ăn nói bình dị, chữ nghĩa bình dị, “hãy nói sao cho người bình dân hiểu”. ( Ảnh chụp Đền kính Thánh An Phong tại đường Merulana ở Roma, ngay bên cạnh là Nhà Dòng Mẹ ).

image003

Bỏ pháp đình, An Phong không hề bỏ kiến thức luật học, nhưng chọn Tin Mừng, An Phong phả hồn Tin Mừng vào luật học, viết ra bộ Thần Học Luân Lý. An Phong sử dụng kiến thúc luật học của mình để đứng về phía người nghèo, người bị áp bức. Thời ấy, luật đạo luật đời gần như một, lắm mối liên kết chằng chịt đạo đời rối ren mật thiết. Không chấp nhận quan niệm mục vụ khắt khe cầm buộc, An Phong lên tiếng nói cho người nghèo, người bị bỏ rơi, những hối nhân đáng thương hại, tiếng nói mạnh mẽ không chỉ ngoài xã hội nhưng còn ngay giữa lòng Nhà Thờ. An Phong trả lại trách nhiệm cho lương tâm, cho tình thương, cho sự tha thứ.

An Phong trăn trở và kiên trì cho đến trọn đời, kinh nghiệm nỗi cô đơn trên con đường phục vụ người nghèo, người bị bỏ rơi, An Phong đã cam kết đi đến cùng cho dù chỉ còn một mình. Nỗi cô đơn ấy đã đeo bám An Phong cho đến hết cuộc đời, và An Phong cũng trung tín với lời cam kết cho đến hết hơi thở cuối cùng.

Có rất nhiều luồng gió thổi đến làm rung chuyển thời cuộc, biến hóa nhân sinh, thay cũ đổi mới. An Phong vẫn làm gió, nhưng khi chọn Tin Mừng, ngọn gió của An Phong là gió lành, ngọn gió lành không phá hủy, không tiêu diệt, không tàn phá, nhưng xây dựng, làm mát lòng người, làm phát sinh sự sống và làm cho sự sống thêm dồi dào.

Con cái An Phong có là ngọn gió lành không ?

Lm. VĨNH SANG, DCCT,

Lễ Thánh An Phong 2014

 

Đằng sau vụ bắt lãnh đạo Ngân hàng Xây Dựng

Đằng sau vụ bắt lãnh đạo Ngân hàng Xây Dựng

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2014-08-01

namnguyen08012014.mp3

Mai-Danh-2aa8a-305.jpg

Ông Phạm Công Danh (trái) Chủ tịch Hội đồng Quản trị và Ông Phan Thành Mai (phải) Tổng giám đốc Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam.

File photo

Thanh toán quyền lợi nhóm?

Đầu năm 2013, Đại Tín một ngân hàng nhỏ có lịch sử 23 năm, tổng tài sản 28.000 tỷ đồng bị thâu tóm. Các chủ nhân mới nâng vốn điều lệ từ 3.000 tỷ lên 7.500 tỷ đổi tên thành Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam. Tuy vậy chỉ sau 15 tháng Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc của Ngân hàng mới tái cơ cấu đã bị bắt và điều tra về hành vi cố ý làm trái qui định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng. Câu hỏi đặt ra, đây là một vụ án kinh tế đơn thuần dính líu tới sở hữu chéo hay là sự thanh toán quyền lợi nhóm mang màu sắc chính trị.

Các ông Phạm Công Danh Chủ tịch Hội đồng Quản trị, ông Phan Thành Mai Tổng giám đốc Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam về nguyên tắc đã bị miễn nhiệm một ngày trước. Hôm sau ngày 29/7/2014, cùng với một người nữa họ bị bắt để điều tra những vụ việc ở Tập đoàn Thiên Thanh, nơi họ cũng đồng thời là Chủ tịch và thành viên Hội đồng quản trị. Thiên Thanh với ban lãnh đạo này cũng chính là các cổ đông nắm cổ phần chi phối ở Ngân hàng Xây dựng.

TS Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập từ Sài Gòn nhận định rằng, đầu năm 2014 Tập đoàn Thiên Thanh đã tạo nên một cú sốc tương đối lớn với thị trường bất động sản, khi họ đưa ra một gói hỗ trợ rất lớn lên tới 50.000 tỷ đồng cùng với 4 ngân hàng bạn. Gói hỗ trợ này lúc đó được coi là lớn hơn cả gói 30.000 tỷ đồng của Ngân hàng Nhà nước. Nhưng sau đó một số ngân hàng đã phản ứng cho là hoàn toàn không biết gì về mối liên kết với Tập đoàn Thiên Thanh như công bố. Vào thời điểm đó chưa xuất hiện cái tên Phan Thành Mai, ông này là Tổng Thư ký Hiệp hội bất động sản Việt Nam và cũng là người thường xuyên lên báo đài trả lời về bất động sản, nói chung là tương đối có uy tín. TS Phạm Chí Dũng tiếp lời:

” Khi mà 3 vị quan chức cao nhất của Ngân hàng Xây Dựng bị bắt thì lúc đó có lẽ nhiều người mới té ngửa là có một vấn đề gì đó không bình thường ở ngân hàng này.
-TS Phạm Chí Dũng”

“Về vấn đề sở hữu chéo từ 2013 tới 2014 thì tôi đã nghe thông tin Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam là một trong những ngân hàng chồng chéo về sở hữu vốn nhiều nhất. Nhưng mà điều đó chưa có bằng chứng và chỉ khi mà 3 vị quan chức cao nhất của Ngân hàng Xây Dựng bị bắt thì lúc đó có lẽ nhiều người mới té ngửa là có một vấn đề gì đó không bình thường ở ngân hàng này, thành thử người ta mới bắt. Trong thực tế tôi còn nghe có lẽ vụ việc không chỉ dừng ở những vấn đề nội bộ của Ngân hàng Xây Dựng về cố ý làm trái, mà dường như nó có liên quan tới những cấp cao hơn. Dư luận cho rằng Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam là một ngân hàng được đặc cách và đỡ đầu bởi Ngân hàng Nhà nước. Thông tin này chưa được kiểm chứng nhưng mà khá nhiều dư luận cho là như vậy. Tôi có cảm giác rằng vụ việc Ngân hàng Xây dựng Việt Nam không chỉ bó gọn ở việc cố ý làm trái trong nội bộ ngân hàng này mà còn có thể dẫn tới cấp cao hơn và lồng trong một kế hoạch hoặc một chiến dịch  nào đó có thể kể cả mang tính chính trị.”

Đại Tín mà sau này trở thành Ngân Hàng Xây Dựng Việt Nam từng ở trong diện tái cơ cấu trong cuộc khủng hoảng tín dụng tiền tệ ở Việt Nam. Tập đoàn Thiên Thanh tham gia tái cơ cấu và trở thành nhóm cổ đông kiểm soát Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam. Theo báo điện tử Sài Gòn Times, một tháng trước khi bị bắt, Tổng giám đốc Phan Thành Mai thừa nhận Ngân hàng Xây dựng Việt Nam thuộc nhóm 9 ngân hàng tái cơ cấu và có tỷ lệ nợ xấu cao. Do vậy từ năm 2012 ngân hàng Đại Tín mà sau này là Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam hoạt động dưới sự giám sát của tổ giám sát của Ngân hàng Nhà nước.

anh-1406689860202-250.jpg

Trụ sở Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam. Courtesy NLD.

Vào giai đoạn khủng hoảng tín dụng bất động sản, năm 2012 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình nói là sẽ không để cho ngân hàng nào phải sụp đổ. Đại Tín sau này đổi tên là Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam có thể nằm trong số những tổ chức tín dụng được cứu để tránh sụp đổ.

Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành từ Hà Nội nhận định:

“Chúng ta thấy được hậu quả là có một ngân hàng yếu kém chồng lên ngân hàng yếu kém khác. Những việc làm trái pháp luật trái qui định của ngân hàng lại tiếp diễn, chẳng những thế nó lại làm lộ ra những cái đã làm trước kia chứ không phải chỉ là mới đây. Như thế phương pháp không cho ngân hàng yếu kém giải thể mà cố gắng hợp nhất nó lại thành một đơn vị khác, theo trường hợp này thì rõ ràng nó không có kết quả, rõ ràng là nó có vấn đề. Hiện nay ngân hàng này được sự quản lý trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước hàng ngày. Những việc này tại sao xảy ra như thế , theo thông tin ghi nhận thì nó đã xảy ra trước sáp nhập hợp nhất với nhau. Trước khi hợp nhất, Ngân hàng Nhà nước đã thanh tra , kiểm tra cái gì mà tại sao bây giờ mới nổ lên. Tất cả những vấn đề này người ta có quyền đặt câu hỏi việc theo dõi hoạt động của những ngân hàng yếu kém đó như thế nào mà trước khi hợp nhất lại với nhau đã có những việc như thế mà vẫn không xử lý, để đến bây giờ bùng nổ lên thì không hay ho gì cả.”

Một đại gia có tiếng

Theo báo điện tử Petro Times, có rất nhiều điều đáng nói về sức mạnh của Tập đoàn Thiên Thanh, ngoài việc là cổ đông lớn của Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam, Chủ tịch Phạm Công Danh được mô tả là một đại gia có tiếng trong lĩnh vực bất động sản. Tập đoàn Thiên Thanh sở hữu  hàng loạt dự án bất động sản lớn ở các tỉnh miền Trung và miền Nam như Long Hai Beach Resort ở Bà Rịa Vũng Tàu, khu phức hợp thương mại dịch vụ Thiên Thanh Đà Nẵng; Khách sạn Thiên Thanh Tam Kỳ ở Quảng Nam; Dự án Tổ hợp thương mại dịch vụ khách sạn Thiên Thanh Quảng Ngãi; Dự án Trung tâm khách sạn dịch vụ  ô tô Thiên Thanh; khu cao ốc khách sạn-văn phòng Green Plaza Đà Nẵng và nhiều dự án khác ở TP.HCM.

” Tập trung về Thiên Thanh đặt ra một dấu hỏi đây là nhóm lợi ích nào và từ nhóm lợi ích đó có thể dẫn tới nhóm chính sách nào.
-TS Phạm Chí Dũng”

Petro Times và một vài trang thông tin điện tử khác qua bài viết cho thấy Tập đoàn Thiên Thanh được hưởng những ưu đãi rất lớn từ Chính quyền Đà Nẵng ngay năm 2010. Thiên Thanh được Thành phố giao toàn bộ Sân Vận động Chi Lăng không thông qua qua đấu giá và với giá chỉ bằng 1/3 thời giá. Sân vận động này sẽ được đập bỏ để Thiên Thanh thực hiện một dự án lớn trị giá 1 tỷ USD mang tên Khu phức hợp thương mại dịch vụ Thiên Thanh Đà Nẵng. Lúc đó công luận Đà Nẵng phản ứng dữ dội nhưng không lay chuyển quyết định của Chính quyền.

Nhắc lại, chuyện Tập đoàn Thiên Thanh được TP. Đà Nẵng ưu đãi đã xảy ra trong thời gian ông Nguyễn Bá Thanh còn làm Bí thư Thành ủy. Dư luận không quyên câu chuyện Thanh tra Chính phủ bới móc các quyết định được cho là trái qui định của Đà Nẵng giữa cuộc tranh chấp quyền lực trong Đảng.

TS Phạm Chí Dũng phân tích:

“Nếu mà nói về quyền lợi của các nhóm lợi ích thì có thể nói là, đa số các nhóm lợi ích đều có các dự án ở khắp nhiều nơi và không chỉ một Thiên Thanh mà rất nhiều nhóm lợi ích. Thành thử tập trung về Thiên Thanh đặt ra một dấu hỏi đây là nhóm lợi ích nào và từ nhóm lợi ích đó có thể dẫn tới nhóm chính sách nào. Từ những nhóm lợi ích kinh tế và nhóm chính sách này có thể dẫn tới những chính sách nào, vì vào cuối tháng 7/2014 ba quan chức của Tập đoàn Thiên Thanh bị bắt thì lần đầu tiên có công bố những số liệu đặc biệt về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Agribank và có thể nói đây là một vấn đề rất lớn. Theo tôi, nếu không cẩn thận Agribank sẽ là tiền đề và những dấu hiệu đầu tiên dẫn tới sự sụp đổ của một trong những ngân hàng lớn nhất Việt Nam.”

Theo lời TS Phạm Chí Dũng, Agribank với tầm tín dụng hoạt động, cũng như huy động của ngân hàng này đối với hệ thống ngân hàng toàn quốc thì có thể dẫn tới hiệu ứng sụp đổ dây chuyền đối với những ngân hàng khác, kể cả những mối quan hệ được mặc định là sở hữu chéo. Ở thời điểm này vấn đề được cho là nhạy cảm nhất chính là hệ thống ngân hàng. Điều đáng ngạc nhiên là cả vụ việc Agribank lẫn vụ án Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam xảy ra cùng thời điểm. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Bộ Công an tiến hành với vụ án Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam và cơ quan kiểm toán Nhà nước thực hiện đối với Agribank.

Chẳng hiểu có phải là sự tình cờ, đúng vào thời điểm ngày 30/7 khi lệnh bắt giữ 3 quan chức Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam được công bố, thì ông Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang cũng đã đến thăm cơ quan Cảnh sát Điều tra Bộ Công an. Trong dịp này, Trung Tướng Phan Văn Vĩnh, Tổng Cục trưởng Tổng Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm đã dẫn chứng với Chủ tịch Trương Tấn Sang là rất nhiều vụ án có dấu hiệu “nhóm lợi ích” mà gần đây nhất là vụ Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam và Tập đoàn Thiên Thanh.

Người Việt tỵ nạn và món nợ thương binh VNCH

Người Việt tỵ nạn và món nợ thương binh VNCH
July 27, 2014

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

(Nhân Ðại Nhạc Hội “Cám Ơn anh, Người Thương Binh VNCH” kỳ 8 sắp tổ chức vào ngày Chủ Nhật, 3 Tháng Tám, tại sân vận động trường Bolsa Grande, Garden Grove, Nam California).

Ở đây chúng tôi không hề muốn nhắc lại những điều ân nghĩa mà ai cũng ý thức được, có thể làm phiền lòng một đôi người, trong khi với lòng hảo tâm, từ bi hoặc bác ái, hầu hết đồng bào hải ngoại đã làm rất nhiều việc giúp đỡ thiện nguyện cho những người kém may mắn hơn mình hiện đang sống ở quê nhà. Hiện nay ở hải ngoại có rất nhiều tổ chức thường trực quyên góp tiền để đem về giúp Việt Nam. Từ chuyện nhỏ như mổ mắt vá môi, chuyện người cùi, bệnh tật hay già yếu, chuyện chén cơm cho người già, bát cháo giúp người đau ốm, cho đến những chuyện khá quy mô “đỡ tay” cho nhà nước cộng sản như xây trường, làm đường, phát học bổng… Không làm thì không ngồi yên trước thảm cảnh nghèo đói, bệnh tật của bà con ruột thịt, mà làm cũng thấy nhiều điều phi lý. Trong khi ngoài nước, chúng ta gom góp từng chục bạc, thì ở trong nước hàng triệu đô la chui vào túi tham nhũng, đục khoét, với những trò cá độ, tẩu tán tài sản hay với lối ăn chơi huy hoắc từ các thành phố lớn cho đến cả nông thôn của các cán bộ, đảng viên cộng sản.


Một phụ nữ an ủi một thương binh VNCH tại phi trường Phú Bài, trong lúc chờ máy bay đưa về bệnh viện Ðà Nẵng hồi Tháng Tư, 1972. (Hình minh họa: Ennio Iacobucci/AFP/Getty Images)

Ở trong địa hạt nào, đường lối của cộng sản cũng tán thưởng và giúp đỡ những tổ chức này, vì chúng ta đã làm những việc “đỡ tay đỡ chân” cho chính quyền để họ còn rảnh tay lo nhiều việc, trong đó còn lo việc đàn áp quần chúng đòi hỏi tự do, công lý. Cũng có những đoàn cứu trợ phải qua chính quyền, nhưng cũng có những đoàn cứu trợ được thong thả đi sâu vào các nơi hẻo lánh xa xôi, xoa dịu được nỗi đói nghèo thì quần chúng càng ngày càng bớt bất mãn. Duy chỉ có một vùng cấm địa mà cộng sản vẫn canh chừng là địa hạt các thương phế binh VNCH của chúng ta. Mỗi khi có một tổ chức đứng ra tụ tập anh em thương binh để phát quà, khi vui thì công an lơ là cho gặp gỡ, khi nghi ngờ, cảnh giác thì “ngăn đường cấm chợ.”

Chúng ta không thể nào đem tiền về tập họp các thương binh VNCH lại và công khai phát tiền cho họ, ngoại trừ dưới danh nghĩa cứu trợ chung chung, trong đó có những người thương tật của cả hai bên như chúng ta vẫn thường thấy trên màn ảnh truyền hình.

Bây giờ đã gần 40 năm qua, chúng ta cũng không oán ghét gì những thương binh cụt què của hàng ngũ cộng sản trước kia, vì họ cũng là nạn nhân của sự lừa bịp chính trị, hy sinh cho kết quả của lầm than dân tộc và chỉ xây dựng cơ đồ cho một nhóm thiểu số cầm quyền. Nếu chúng ta có khả năng giúp đỡ được cho họ thì chính nghĩa của người quốc gia còn tỏ sáng, rạng ngời, tuy vậy “lực bất tòng tâm,” hải ngoại không thể giúp hết cho cả nước Việt Nam, và cũng còn một chỗ, để cho, chính những người đã hy sinh cho chế độ ấy thấy rõ bộ mặt thật của chế độ cộng sản độc ác và bất nhân.

Trong cuộc chiến giữ miền Nam Việt Nam, chúng ta ước tính có đến 350,000 chiến sĩ hy sinh, số thương binh phải gấp con số tử vong sáu lần. Qua thời gian, kẻ còn người mất, có người trở lại đời sống bình thường, người lành lặn trở lại, người đã qua đời hay ly tán, tha hương, số thương binh không có khả năng làm việc mưu sinh tại quê nhà, ít nhất phải là con số trên trăm nghìn. Chúng ta lại có 3 triệu người Việt ở hải ngoại hay gần một triệu đơn vị gia đình, ước tính có 500,000 gia đình đi ra từ miền Nam, chúng ta thừa sức bảo trợ cho một trăm nghìn thương binh VNCH ở Việt Nam.

Mỗi năm chúng ta đi du lịch, tiêu pha vào các dịp lễ Tết, quà cáp cho bạn bè, con cháu, làm việc phước thiện, mỗi gia đình tiêu pha, con số ít khiêm nhường phải lên đến con số nghìn (đô la). Xin quý vị rủ lòng thương mỗi gia đình “bảo trợ” cho một thương binh, như anh em bà con, nhà thờ, nhà chùa, cơ quan thiện nguyện đã từng bảo trợ cho chúng ta đến đây và sinh tồn trên mảnh đất này, con cái chúng ta được học hành, sống no ấm, hạnh phúc.
Mỗi năm chúng ta chỉ cần giúp từ $100 đến $200 với khả năng của người bảo trợ và tùy những khó khăn của người thương binh. Các gia đình bảo trợ sẽ có một gia đình để thăm viếng, thăm hỏi và giúp đỡ và thương binh sẽ có một nơi nương tựa, đặt niềm tin vào cuối cuộc đời của họ. Việc bảo trợ này không bị ràng buộc với bất cứ một sự cam kết nào, mà chỉ do tấm lòng thương yêu tự nguyện của chúng ta.

Chúng ta có thể chọn một thương binh ở gần địa phương có bà con, gia đình của chúng ta trú ngụ để có thể xác tín về sự nghèo đói, sinh hoạt hay hoàn cảnh của người thương binh này, cũng như theo những thương tật đặc biệt mà chúng ta muốn lưu tâm giúp đỡ. Nếu có dịp đi Việt Nam, chúng ta có thể thăm viếng, quan sát đời sống của gia đình thương binh này để tạo thêm tình thương và tin cậy, như vậy việc giúp đỡ của chúng ta trở nên có nhiều ý nghĩa hơn.

Hội HO Cứu Trợ TPB-QP/VNCH tại Nam California hiện nay đang giữ hàng chục nghìn hồ sơ có hình ảnh thương tật và giấy tờ chứng minh để trao cho gia đình quý vị. Trong hoàn cảnh hiện nay, thương binh chỉ được nhận một gia đình bảo trợ, nhưng một gia đình có thể bảo trợ cho hai hay ba hồ sơ thương binh tùy theo khả năng và tấm lòng của mình. Ngoài ra các anh chị em làm việc chung trong mỗi “đơn vị” như xưởng may, tiệm nail hay hãng xưởng cũng có thể chung nhau mỗi năm, một người $5, $10… một cách dễ dàng để bảo trợ cho một thương binh, chúng ta chia sẻ với nhau niềm vui bác ái ấy, đó hạnh phúc khi ban một ân huệ, hay một niềm vui cho người khốn khó, khổ đau hơn mình.

Hiện nay, Hội HO Cứu Trợ TPB-QP/VNCH cho biết rất ít hồ sơ thương binh được nhận bảo trợ, vì nhận bảo trợ có trách nhiệm và khó khăn, mất thời giờ hơn là gửi đến các cơ quan giúp thương binh một hay hai trăm đồng bạc. Trước hết chúng tôi mạn phép kêu gọi mỗi thành viên thiện nguyện đang làm việc giúp cho hội, chúng ta mỗi người bảo trợ cho một hồ sơ thương binh, cho đến lúc họ qua đời, nếu chúng ta qua đời, hy vọng con cái chúng ta sẽ tiếp tục công việc ấy. Bằng một tấm lòng nghĩ về người lính năm xưa, những gia đình của chúng ta, lớn hay nhỏ, sẽ bắt đầu bảo trợ cho một vài hồ sơ thương binh, dù chỉ là một hạt muối bỏ biển, trong một đại dương nghèo đói, khổ đau của Việt Nam và nhất là các thương binh VNCH bất hạnh của chúng ta.

Ðừng đánh giá sai thiện chí của tuổi trẻ mà chúng ta không dám vận động lớp tuổi này. Nhạc sĩ Trúc Hồ, tổng giám đốc đài truyền hình SBTN kiêm giám đốc nghệ thuật Trung Tâm Asia, người đã tích cực đem lại thành quả của 7 lần tổ chức Ðại Nhạc Hội “Cám Ơn Anh, Người Thương Binh VNCH” với số thu gần $4 triệu chỉ vì muốn làm “một viên thuốc giảm đau cho nỗi thống khổ của thương binh VNCH.” Cũng như anh Lý Vĩnh Phong, từng là chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam Nam California, cho rằng, “Tuổi trẻ Việt Nam không bao giờ quên cái gì của các thương phế binh VNCH ‘đã mất’ để cho người Việt hải ngoại chúng ta có những ‘cái được’ hôm nay.”

Có những việc làm minh bạch công khai và cần thiết như những lần đài SBTN, Hội HO Cứu Trợ TPB-QP/VNCH, các hội đoàn cựu quân nhân Nam và Bắc California đứng ra tổ chức các buổi đại nhạc hội ngoài trời để gây quỹ giúp thương binh, vẫn bị đánh phá, xuyên tạc. Xin những người có tấm lòng vững tin vì hiện nay có bao nhiêu thương binh VNCH đang còn hướng về quý vị, ý nghĩa hơn những đồng đô la nhân ái, chính là chúng ta đã gửi cho anh em thương binh những niềm tin.

Dù trong hoàn cảnh thất trận, “tan đàn xẻ nghé,” nhiệm vụ không hoàn thành, người lính VNCH vẫn hãnh diện là người lính chiến đấu cho tổ quốc, mà mỗi người dân miền Nam phải ghi nhớ, trong khi cả nước bắt đầu nhận ra chân dung đích thực của những anh hùng.

 

Mùa thu cuộc tình

Mùa thu cuộc tình

Tiểu Tử

Bữa ăn trưa đó của ông Năm thật giản dị : một trái cà tô-mát không dầu không dấm và một miếng thịt bò nhỏ bằng bàn tay nướng trên vỉ sắt không muối không bơ. Quá giản dị ! Nhứt là hôm nay thứ bảy, không phải đi làm. Nghĩa là có dư dả thì giờ để làm một món gì đó cho có vẻ một bữa ăn cuối tuần. Cho nó khác với ngày thường ăn vội ăn vàng cái gì cũng được. Thật quá giản dị ! Nhứt là ông Năm sống một mình, không bị phiền toái bởi những chuyện vụn vặt lỉnh-kỉnh phải làm vào cuối tuần của người có gia đình. Ở Paris này mà sống một mình như ông Năm thì thời gian không biết phải làm gì cho hết chớ đừng nói không có thì giờ để làm một bữa ăn cho tươm tất vào trưa thứ bảy.

Nói rằng ông Năm không biết làm bếp cũng không đúng. Hồi xưa, hồi còn ở bên nhà, thật tình ông Năm không biết chiên một cái trứng gà. Ông chỉ biết đi làm ngày hai buổi, còn việc bếp núc có bà Năm lo hết. Bây giờ thì khác. Ông cũng biết nấu vài món thông thường và lâu lâu cũng biết ” làm ” một nồi phở để đãi đôi ba ông bạn già  cùng lứa tuổi và cùng thân phận lưu vong…

Như bình thường thì trưa thứ bảy, ông hay thả xuống khu 13 la-cà ở nhà sách Khai Trí một lúc rồi sang qua mấy cửa hàng nho nhỏ trên lầu Paris Stores để coi có gì lạ không. Sau đó, ông mới tấp vô tiệm phở để ăn trưa, có khi một mình,nhưng thường thì với một vài người bạn gặp nhau ngoài phố. Ở khu 13 vào trưa thứ bảy, không gặp người này cũng gặp người nọ, bởi vì ai cũng đến đó để mua đồ, nói là ” đi chợ Tàu ” chớ thật ra là để tìm lại một chút gì hơi hướm của quê hương : những  khuôn mặt gần gũi (gặp ai cũng thấy quen quen !), những món hàng còn giữ nguyên nét cũ  (đòn chả lụa vẫn phải có màu xanh của lá, con vịt quay vẫn phải đỏ ao màu mật…) và những cái tên chỉ cần đọc lên là đủ để gợi nhớ…

Hồi sáng này, ông Năm cũng đã đóng bộ để đi khu 13. Trời đã sang thu, nhưng nắng còn thật ấm. Cây marronnier nhà hàng xóm nằm ngay dưới cửa sổ nhà ông Năm đã trở màu vàng. “Chắc lá đã rụng đầy”, ông Năm nghĩ vậy khi đứng thắt cravate gần khung cửa sổ. Chỗ ông cư ngụ là một studio nhỏ ở lầu ba khu nhà cũ nằm sâu phía sau nhà thờ Sacré Coeur. Cây marronnier che hết phía dưới thành ra từ cửa sổ nhà ông Năm nhìn thẳng ra chỉ thấy bức tường cao của khu nhà đối diện chắn ngang, chừa phía trên bầu trời bị đóng khung hình chữ nhựt bởi hai dẫy nhà dài. Trên nền trời đó, tuốt phía xa, là nóc nhà thờ với cây thánh giá. Thành ra, thế giới bên ngoài nhìn từ phòng ông Năm chỉ còn lại vỏn vẹn có cây thánh giá để cái nhìn còn có một điểm tựa ! Ông Năm theo đạo Phật, nhưng từ ngày dọn về đây – năm sáu năm gì rồi – cứ nhìn cây thánh giá riết mà ông có cảm tưởng như mình đã thành con chiên của Chúa ! Nhiều khi ông thấy cây thánh giá thật là sinh động. Ông không hay rằng niềm suy tư của ông đã gởi trên đó từ lâu…

Có lần, trong thư gởi về Việt Nam cho bà Năm, ông viết : “Anh thừơng nhìn cây thánh giá đứng cao vòi vọi một mình trên kia mà tự hỏi không biết anh và cây thánh giá, ai cô đơn hơn ai ? Nhưng cây thánh giá hãy còn giang tay ngạo-nghễ chớ anh thì từ lâu rồi anh đã buông tay đầu hàng số mệnh ! Tuy nhiên, ở đây anh còn có cây thánh giá trứơc mắt để hứơng về đó mà cầu nguyện, chớ ở bên nhà giờ đây muốn cầu nguyện em phải hứơng về đâu hả em ? Anh bỗng ứa nứơc mắt thương em vô cùng… Ở ngay trong lòng quê hương mà thiếu thốn đủ thứ, đến nỗi điểm tựa cho niềm tin mà còn không có thì em sống ra sao, em hả ?” Đối với ông Năm, cây thánh giá trên chót nhà thờ Sacré Coeur mặc nhiên đã trở thành một vật gì thật gần gũi, thật trần gian, thật ngừơi, và là động cơ khơi nguồn kỷ niệm…

Hồi xưa, ông làm việc cho Air France ở Sàigòn. Đời sống rất thoải mái, nhưng hai vợ chồng lại không có con. Chạy thầy chạy thuốc mãi rồi mới biết tại vì tử cung của bà Năm nằm lệch. Điều này làm bà Năm khóc hết nứơc mắt. Tuy nhiên, hồi đó còn trẻ nên cũng dễ nguôi, hai vợ chồng chẳng quan tâm cho lắm. Lần hồi, tuổi đời chồng chất, sự không có con đã trở thành một vấn đề cho hai vợ chồng. Mặc dù ông Năm không bao giờ nhắc đến chuyện đó, bà Năm vẫn khơi ra để nhận lỗi về mình. Mặc cảm đó làm cho bà lúc nào cũng ân hận, áy náy. Rồi cái gì hư, cái gì trật, cái gì bậy ở trong nhà dù là do lỗi những ngừơi giúp việc, bà cũng nhận hết. Ông Năm phải mất một thời gian dài để giải thích, khuyên lơn, an ủi bà Năm mới lấy lại đựơc quân bình. Có hôm, trong lúc hai vợ chồng đi dạo trên bãi biển Vũng Tàu, nhìn thấy mấy gia đình đông con đùa giỡn vui vẻ, bà Năm chợt thở dài than : “Nếu không phải tại em thì bây giờ hai đứa mình đâu có bơ vơ như vầy !”. Ông Năm choàng tay ôm vai vợ xoay ngừơi lại để nhìn sâu vào mắt : “Em à! Mình không có con, nhưng mình còn có nhau. Đó là Trời thương lắm rồi, em còn đòi hỏi gì nữa ? Thử tưởng tượng một ngày nào đó không còn có nhau nữa thì sao ?”. Bà Năm gật gật đầu nhưng chẳng bao giờ tưởng tượng đến “cái ngày không còn có nhau” đó.

Vậy mà cái ngày đó đã đến cho ông bà Năm. Hai năm sau ngày mất nước, trong chuyến vượt biên ở Cà Mau, ông Năm đi thoát, bà Năm bị bắt lại với một số người không may khác ! Ông Năm sang Pháp, làm việc lại cho hãng Air France. Bà Năm nằm tù hết mấy tháng. Được thả ra thì nhà cửa đã bị tịch thu, đành về quê ở Gò Công làm công nhân cho nhà máy xay lúa của gia đình mà trong đợt đánh tư sản đầu tiên, Nhà Nước đã tịch thu để biến thành hợp tác xã. Từ đó, là những chuỗi dài thương nhớ, là những lo âu dằn vặt, là những lá thư nhiều ẩn nghĩa cho đúng “văn phạm Nhà Nước”. Còn chuyện vượt biên lần nữa là chuyện mà bà Năm không bao giờ dám nghĩ đến ! Bên này, ông Năm chạy mãi rồi cũng được nhập cảnh gởi về, nhưng phía bà Năm thì gặp quá nhiều khó khăn trong hồ sơ xin xuất cảnh, cứ bị kéo dài, kéo dài bằng những chầu chực, bằng những lời hứa hẹn suông và bằng mấy lần bị lường gạt… Để cuối cùng, mấy năm sau, mới biết là hồ sơ đã bị bác từ lâu ! Tin đó đến với ông Năm bằng tờ giấy tập học trò vàng như giấy súc mà trên đó bà Năm chỉ còn đủ sức viết có mấy hàng… Vậy là vĩnh viễn không còn có nhau nữa ! Ông Năm mất tinh thần hết một thời gian dài. Sau đó, dọn về khu phố này tình cờ cửa sổ mở về hướng nhà thờ Sacré Coeur, để mỗi sáng trước khi đi làm ông nhìn cây thánh giá một lúc, giống như một tín đồ ngoan đạo…

Khi ông Năm mặc xong quần áo thì trời cũng đã gần trưa. Đốt điếu thuốc để lên môi, ông đóng cửa bước chậm rãi xuống cầu thang, giống như đo từng nấc thang một ! Thật ra, tại tánh ông Năm vốn đã trầm thêm tuổi đã gần sáu mươi bắt ông phải cẩn thận khi bước lên bước xuống. Ngoài ra, có gì phải vội phải gấp khi mà chẳng có ai đợi ai chờ ? Đi khu 13 vào trưa thứ bảy đã thành một thói quen, chẳng có gì phải náo nức. Bỗng nhiên, ông Năm nhận thấy cuộc đời mình sao thật vô vị. Giống như tờ giấy trắng mênh mông trải dài, thẳng băng, chẳng có một dòng mực, chẳng có một đốm màu, cũng chẳng có một vết hoen ố. Hình ảnh đó làm cho ông Năm dừng lại ở giữa cầu thang, ngẩn ngơ một lúc như vừa khám phá ra một điều gì quá rõ-rệt nằm ngay trước mắt mà sao lâu nay ông không nhận thấy ! “Mình đi làm đều đặn. Mỗi tuần xuống khu 13 cũng đều đặn vào trưa thứ bảy. Mỗi tối thứ hai đi ciné một lần vì giá vé hạ. Đêm nào cũng coi télé vào 8 giờ tối để theo dõi tin tức, rồi đọc sách đọc báo đến 11 giờ rưỡi là tắt đèn ngủ. Đều đặn. Đều đặn. Đến như cái cầu thang này, mình cũng đều đặn trèo xuống trèo lên đến nỗi biết nó có bốn mươi tám nấc ! Vậy rồi thôi ! Rồi cứ như vậy cho tới về hưu,tới chết !”. Ông Năm hít hơi thuốc thật sâu để thở khói ra thật dài. Ông làm mấy lần như vậy, giống như đang tìm một đáp số ! Rồi ông vỗ nhẹ bàn tay lên thành lan can gỗ, tự nhủ “Thôi ! Đừng nghĩ tới nữa” Ông tiếp tục bước xuống, nhưng bây giờ sao thấy bước chân nặng hơn hồi nãy nhiều…

Khi đi qua trước phòng gác-dang, có tiếng gọi :

– Ông Georges ! Ông Georges !

Georges cũng là tên của ông Năm. Người Pháp phát âm Năm thành Nam, nghe lơ lớ chói lỗ tai, nên ông lấy đại tên Georges cho dễ gọi dễ kêu. Bà gác-dang bước ra trao cho ông một điện tín, nói :

– Vừa mới tới. Tôi định lên nhà đưa cho ông thì ông xuống đây.

Ông Năm run tay mở bức điện tín. Giòng chữ ngắn ngủn hiện lên nhảy múa : “Đã có xuất cảnh. Lo vé máy bay cho em. Mai”. Điếu thuốc trên môi bỗng rơi xuống đất. Ông Năm có cảm giác như mình đang lên cơn sốt. Ông đọc lại điện tín một lần nữa, hai tay phải gồng cứng lại mới kềm được tờ giấy đứng yên căng thẳng dưới mắt. Ông nói cho mình nghe : “Đúng rồi ! Bả được xuất cảnh rồi !”. Bà gác-dang nghiêng đầu lo lắng :

– Có sao không ? Có chuyện gì không ? Ông Georges ?

Tiếng bà ta lôi ông Năm về thực tại. Ông nhìn bà ta, mỉm cười, rồi nắm lấy tay bà ta lắc mạnh :

– Cám ơn bà ! Cám ơn bà nhiều ! Tôi thật không biết nói gì cho phải. Bà thật tốt bụng ! Quá tốt bụng ! Cám ơn ! Cám ơn !

Giọng ông thật thành khẩn, làm như chính bà đã cho giấy xuất cảnh ! Bà ta không hiểu gì cả, vừa ngạc nhiên vừa buồn cười trước thái độ của ông Năm. Bà ấp úng “Nhưng mà… Nhưng mà…” trong lúc ông Năm buông bà ra để chạy lên cầu thang. Nữa chừng, sực nhớ ra, ông dừng lại nghiêng người nói vói xuống :

– Điện tín của vợ tôi ở Việt Nam. Bả nói bả sẽ qua đây ở với tôi ! Cám ơn ! Cám ơn nhiều !

Rồi ông phóng lên cầu thang, nhảy hai bậc một, nhanh như sóc, nhẹ như hưu. Làm như ông mới có hai mươi tuổi !

Vào phòng, ông ngã người lên giường, thở hổn hển. Cái tuổi hai mươi bất thần tìm lại chỉ đủ giúp ông trèo hết bốn mươi tám nấc thang thôi ! Một lúc sau, ông cầm điện tín lên, đọc lại một lần nữa. Thật rõ ràng mà ! Đây nè, hàng chữ không bỏ dấu “Da co xuat canh. Lo ve may bay cho em. Mai” Đọc là hiểu ngay ! Còn Mai là tên của bả rồi, chớ còn ai vô đây nữa ! Cái tên dễ thương mà mình đã thương từ mấy chục năm, không còn lộn với ai được. Vậy là chỉ còn có vé máy bay nữa là xong. Ông nhỏm người lên nhìn tấm lịch tháng treo gần đó để thấy rằng mình bỗng quên mất hôm nay là thứ bảy ! Vậy phải đợi thứ hai mới vào sở lo vụ này được. Ông lại nằm xuống. Dễ thôi ! Nhờ thằng Durand đánh cái télex là xong ngay. Ờ… nhưng mình cũng phải gởi cái điện tín về cho bả mừng. Tội nghiệp ! Không biết ai chạy lo cho bả cái xuất cảnh, chớ bả thì lo khỉ gì được với cái tánh hiền khô và nhát hít của bả. Nghĩ đến đó, ông Năm bỗng thấy thương vợ vô cùng. Cái người đàn bà hiền khô và nhát hít đó đã về làm vợ ông từ hơn ba mươi năm, trước sau như một, theo chồng như một cái bóng. Ngoài chuyện không có con, chẳng thấy bao giờ bà làm bận tâm ông. Con nhà giàu ở Gò Công, học ở Marie Curie, vậy mà cô gái có cái tên Trần thị Lệ Mai đó đã có một quan niệm sống thật cổ điển, thật Á đông. Và khi trở thành bà Trần văn Năm, luôn luôn bà đối xử với bên chồng thật vuông tròn và xem việc nội trợ như một thiên chức ! Hồi xưa, bạn bè vẫn nói là “thằng Năm trúng số độc đắc” hoặc “đẻ bọc điều mới có người vợ như vậy”. Ông thì nghĩ rằng tại vợ mình hiền khô và nhát hít nên chẳng dám làm phiền ai bao giờ. Có lẽ nhờ vậy mà ai cũng thương… Ông lại nhỏm dậy nhìn tấm lịch. Trên đó ông có ghi bằng marker đỏ con số 10 to bằng nửa bàn tay ở gốc trái. Vậy mà cũng đã mười năm xa nhau ! Mỗi năm mua lịch, mình ngồi nắn nót viết con số lên đó giống như người tù bị lưu đày ghi số năm mà mình biệt xứ. Có khác là người tù còn biết ngày được thả chớ còn mình thì mù tịt. Đã tưởng vĩnh viễn sống một mình rồi… chết cũng một mình trên đất lưu vong này, nào ngờ Trời còn thương mình nhiều quá !

Ông ngồi hẳn dậy đốt điếu thuốc, khói thuốc thật thơm thật ngọt. Vậy mà cũng đã mười năm xa nhau ! Mười năm… lâu lắm chớ ! Vậy mà sao vẫn thấy còn thương còn nhớ. Lạ quá ! Có phải như vậy người ta gọi là chung thủy hay không ! Rồi ông nhìn quanh. Nhà cửa thiệt là lượm thượm, phải dọn dẹp laị coi cho nó được một chút. Vậy là ông đứng lên đẩy ghế, đẩy bàn, quên mất là mình còn mặc bộ đồ lớn để đi khu 13 và làm như bà Năm sắp qua tới bây giờ ! Vừa làm vừa nói một mình, lâu lâu ông ngừng lại hít một hơi thuốc thật sảng khoái. Hai cái fauteuils này cho sát vào tường, kê gần nhau để cùng ngồi coi télé. Cái télé nằm đó được rồi. Cái bàn ăn nhích qua một chút để có chỗ kéo cái nệm dưới gầm giường ra. Bả trên giường, mình dưới đất, tạm ổn trong khi chờ đợi kiếm nhà khác rộng hơn. Cái tủ búp-phê đẩy tới một chút là nằm ngang với bàn ăn. Mẹ nó ! Coi vậy mà cũng nặng ớn ! Ông đứng lên thở hổn hển, nhìn quanh. Bây giờ coi có nét rồi đó. À ! Cái màn cửa sổ, phải tháo xuống đem giặt, cho nó “sáng” ra mới được. Rồi ông vào buồng tắm thay đồ. Đồ đạc ở đây thì sạch sẽ rồi, khỏi lo. À ! Còn cái tủ quần áo ở bên phòng ngoài nữa. Phải thu gọn lại cho có chỗ để bả để quần áo chớ ! Ông bỗng phì cười. Làm như mình sắp cưới vợ vậy ! Mà thiệt ! Sau mười năm xa cách, gặp lại nhau cũng giống như cưới nhau lần nữa chớ gì ! Ông soi gương chải lại tóc. Tóc mình mới có mấy sợi bạc thôi. Mặt mũi hãy còn “nét” lắm, ai mà nói mình sắp sáu mươi ? Cô dâu qua đây thấy chú rể như vầy là nhìn… rớt con mắt ! Ông Năm bỗng nghe lòng vui rộn rã, giống như tâm trạng ngày xưa, thuở còn trẻ, lúc sửa soạn đi đến nơi hẹn với người con gái tên Trần thị Lệ Mai…

…Vậy là trưa thứ bảy này ông Năm không thấy đói ! Tuy vậy, cũng phải “bỏ bụng” một cái gì,vì thói quen hơn là vì nhu cầu. Ông mở tủ lạnh lấy một trái cà tô-mát và một miếng thịt bò. Cà xắt khoanh, không dầu không dấm, thịt nướng trần trên vỉ sắt không muối không bơ. Làm cho “lấy có” và ăn cũng cho “lấy có”. Bởi vì tâm hồn ông đang mãi phiêu bồng ở đâu đâu xa lắm, hình như là ở Gò Công quê vợ, ở Gia Định quê mình, ở những ngày đầu “hai đứa gặp nhau” (Tiếng nói của tình yêu là một chuỗi dài im lặng !),ở rạp hát bóng Đại Nam là nơi “hai đứa hẹn hò” (Dù trời mưa anh cũng tới. Em nghe không ?), ở Đà Lạt ít lâu sau đó. Chao ôi ! Đẹp quá ! Dễ thương quá ! Tình yêu là cái gì mà sao mãi mãi vẫn còn nguyên, như mới hôm qua hôm kia…

-oOo-

Ông Năm lái xe lên phi trường Charles de Gaulle lần này là lần thứ hai. Hồi sáng, đã lên đó một lần, đợi cả tiếng đồng hồ để được thông báo là chuyến bay Air France từ Thái Lan qua sẽ đến trễ gần tám tiếng. Nhờ là nhân viên của hãng nên ông Năm được biết là máy bay bị trục trặc kỹ thuật ở Karachi. Trở về sở làm, ông ngồi đứng không yên, lâu lâu cứ nhìn đồng hồ. Bạn bè trong sở thấy vậy thương hại, mỗi người một câu an ủi trấn an. Có người ngồi lại gợi chuyện tán dóc cho ông đỡ thấy sốt ruột. Có người đặt tay lên vai ông bóp mạnh :

– Georges ! Đợi chờ nhau mười năm mà mày còn chịu nỗi huống gì chỉ có mấy tiếng đồng hồ nữa thôi. Can đảm lên chớ !

Vậy rồi thời gian cũng qua, chiều cũng xuống, để ông Năm lái xe đi phi trường, lòng náo nức xôn xao trong sự đợi chờ kỳ diệu.

Vào phi trường, ông gắn thẻ nhân viên lên ngực áo rồi đến quầy Air France hỏi thăm. Mô phật ! Lần này máy bay sẽ đến đúng giờ. Hai cô tiếp viên trong quầy không quen ông Năm nhưng thấy đeo thẻ Air France, nên cũng hỏi đẩy đưa :

– Ông chờ đón bạn à ?

Ông mỉm cười, vừa bước đi vừa trả lời :

– Không ! Tôi đón nhà tôi. Chào hai cô.

Phi trường giờ này nhiều chuyến bay cùng đến một lúc nên người đi kẻ lại tấp nập. Ông Năm ngồi uống cà phê, hút thuốc, nhìn thiên hạ. Ông thấy ai cũng dễ thương hết ! Ông muốn họ uống với ông một tách cà phê, hút với ông một điếu thuốc lá. Cà phê expresso thật ngon. Khói thuốc Dunhill thật ngọt. Tâm hồn ông Năm được trải rộng mênh mông…

Lại nghĩ đến bà Năm. Bả  điệu” lắm ! Lúc nào cũng sạch sẽ gọn ghẽ. Tóc lúc nào cũng chải gọn về phía sau rồi cuốn thành một vòng kẹp lại phía trên ót, thành ra khuôn mặt trái soan và cái cổ tròn lúc nào nhìn cũng rõ nét. Còn về quần áo thì bả chẳng bao giờ mặc loại có màu sắc sặc sỡ loè loẹt, luôn luôn hoặc đen hoặc xanh đậm và nếu có bông thì cũng phải tiệp màu với nền vải và hình dáng phải nhã nhặn, nho nhỏ tương xứng với tầm vóc của bả. Hà ! Bả hiền khô và nhát hít vậy mà về vấn đề ăn mặc bả khó dàng trời ! Người ta nói bả có “gout”. Mình cũng nghĩ như vậy, nhưng nếu bả không có thân hình đều đặn cân đối thì không biết cái “gout” để vào đâu cho nó nổi ! Ông hít một hơi thuốc dài sảng khoái. Hồi đó sao mà mình mê bả quá, nhứt là đôi bàn tay có ngón thon dài sang trọng và cặp mắt đen to như mắt đầm làm cho cái nhìn của bả lúc nào cũng có vẻ như ngạc nhiên. Điều lạ là sau này khi đã đứng tuổi, bả vẫn còn giữ nguyên đường nét thời con gái. Thành ra lắm khi nhìn bả, mình muốn trêu chọc bằng câu “Gái không con mà nom cũng mòn con mắt”, nhưng vì sợ bả buồn nên mình nín thinh luôn !

Ông Năm ngừng suy tư trên hình ảnh đẹp của bà vợ, mỉm cười vu vơ. Lại hút thuốc, lại nhìn thiên hạ. Hớp cà phê cuối cùng đã nguội ngắt mà sao vẫn còn thấy ngon lạ lùng. Bỗng ông bật cười. Sau bảy mươi lăm, sống với Việt Cộng mà bả vẫn tiếp tục “điệu” như thường ! Trong lúc người ta lôi quần áo cũ rách ra bận  và để mặt mũi tóc tai lôi thôi lếch thếch cho có “tác phong cách mạng” thì bả vẫn gọn ghẽ sạch sẽ như thường, vẫn chút đỉnh má hồng, chút đỉnh son, vẫn quần dài áo ngắn tươm tất, mặc dù phải đạp xe đi làm công nhân ở tổ may thêu xa bảy tám cây số. Mình hay trêu chọc bả bằng câu nói của Việt Cộng “Song chân lý ấy vẫn không bao giờ thay đổi”, bả cười không nói. Vậy mà có hôm, bả trả lời bằng một câu… xanh dờn : “Đàn bà phải biết tự trọng. Làm như mấy bà cách mạng tóc tai xủ xộp, quần áo xốc xếch rộng rinh hoặc ngắn ngủn như mặt đồ khín, em làm không được”…

Có tiếng nhạc chuông dìu dặt, tiếp theo là giọng bổng trầm của cô tiếp viên thông báo chuyến bay Air France số AF 199 đến từ Thái Lan đã đáp xuống sân bay. Ông Năm đứng lên trả tiền, xong đi vào phía trong qua ngã văn phòng trực của hãng. Ông nghe lòng vừa náo nức vừa hồi hộp giống như ngày xưa khi đứng chờ xem kết quả thi tú tài ! Ông ra đón tận cổng vào. Có hai chuyến bay đến từ hai nơi khác nhau nhưng đổ hành khách xuống cùng một lúc, nên sân bay đầy người. Giữa cái lao xao lộn xộn đó, ông Năm nghểnh cổ tìm vợ trong luồng người thoát ra từ cổng F, cổng của chuyến bay Air France.

Ông nhìn từng khuôn mặt, từng người. Ông nhìn, ông chớp mắt để nhìn cho rõ hơn. Những gương mặt Á đông phờ phạc. Những gương mặt Á đông hốc hác. Những gương mặt Á đông xanh xao. Ông nhìn, ông chờm tới, nhích tới để nhìn. Bả dễ nhìn lắm. Lúc nào cũng sạch sẽ gọn ghẽ. Lúc nào cũng điệu. Trong đám đông, bả nổi hơn người ta nhờ nước da trắng hồng của gương mặt trái soan và đôi mắt lớn, cho nên dễ nhận ra lắm. Không phải bà này. Bà này già quá cũng không phải. Bà này coi ngờ ngợ nhưng đi chung với bầy con nít, không phải bả. Ông nhón chân lên để cái nhìn được đưa ra xa thì tai thoáng nghe hình như có tiếng người gọi nhỏ : “Ông Năm !” Ông vẫn tiếp tục nhìn từng người, từng khuôn mặt. Lại có tiếng người gọi nhỏ, lần này tiếng gọi lạc đi : “Ông Năm…”

Nghe rõ có tiếng ai gọi mình, ông nhìn lại. Ngay phía trước, đứng cách ông chỉ mấy bước, người gọi ông là một bà già tóc muối tiêu hớt bom bê ngắn như mấy bà Tàu Chợ Lớn, mặc áo len nâu rộng thùng thình, ống tay dài phủ mất hai bàn tay đang xách mỗi bên một túi vải. Chỉ mới nhìn tới đó thôi, linh tánh bắt ông nhìn lại gương mặt : khuôn mặt gầy xạm nắng với những nếp nhăn trăng trắng ở khoé môi và đuôi mắt. Ngần đó thứ giống như miếng cau khô, chỉ trừ có hai con mắt là sinh động, là mở to như có vẻ ngạc nhiên, là nói lên, là nhắc nhở, là… là… Trời ơi ! Là vợ tôi đây mà ! Ông Năm nghẹn ngào bước tới, hai tay đưa về phía bà già và chỉ còn đủ sức gọi có một tiếng : “Mai !” Ông ôm lấy vợ mắt nhắm nghiền đau đớn. Tội nghiệp ! Người vợ chỉ dám gọi chồng bằng hai tiếng “Ông Năm” như người xa lạ, và chỉ dám gọi có hai lần. Và khi chồng nhìn ra mình, ôm chầm lấy mình, người vợ đó chỉ còn nói được bằng nước mắt !

Ông Năm buông vợ ra để nhìn lại lần nữa. Ông nghe nghẹn lời và nghẹn cả lòng. Ông chỉ còn nói được bằng hai bàn tay… Hai bàn tay vuốt làn tóc bạc bây giờ sao quá thẳng quá ngắn. Hai bàn tay ôm lấy khuôn mặt bây giờ sao không lấp đầy hai lòng bàn tay. Hai bàn tay đặt xuống bờ vai bóp nhẹ. Dưới lớp áo len, ông cảm rõ nét gầy của bờ vai bây giờ. Bây giờ… Hồi đó… Từ trong sâu thẳm của lòng ông, nỗi đau khổ tột cùng bỗng bật lên thành tiếng, một thứ tiếng nói lệch lạc méo mó vì uất nghẹn : “Sao vầy nè ?”. Rồi, không kềm chế nổi nữa, không cần giữ gìn ý tứ gì nữa, trong cái rừng người xào xạc đó, ông ôm lấy vợ, ngửa mặt lên trời thét lên một cách thống thiết : “Sao vầy nè… Trời ?”. Tiếng “Trời” nặng trĩu thoát ra từ lòng ngực ông như tất cả sinh lực trong người được trút ra hết… Rồi ông ôm lấy vợ, nước mắt ràn rụa. Bà Năm cũng khóc nhưng vẫn không buông rời hai cái túi vải. Hơn mười năm sống với Việt Cộng, đã trở thành một bản năng : nắm chặt, giữ chặt những gì còn thuộc về mình, những gì mà “tụi nó” chưa kịp chiếm lấy, cướp lấy !

Một lúc lâu sau, phải một lúc lâu sau, ông Năm mới lấy lại bình tĩnh. Ông nói :

– Thôi mình về đi em !

Tiếng “em” thật tự nhiên, thật nhẹ nhàng. Tiếng “em” mà đã mười năm, bà không còn nghe thấy ! Bà cắn môi để kềm xúc động, nhìn chồng mà đuôi mắt nheo lại mỉm cười. Bà nghe một cái gì mát rượi đang len vào lòng, một cái gì đã làm rơi mất từ hơn mười năm, bây giờ mới tìm gặp lại. Mãi đến bây giờ, ông Năm mới thấy trong đôi mắt vợ, nét cũ ngày xưa : to tròn như mắt đầm, trồng đen lay láy. Đôi mắt đó đang nhìn ông, cái nhìn ngời lên như muốn nói thật nhiều… Ông cúi xuống định xách hai túi vải. Bà Năm lắc đầu :

– Để em xách !

Tiếng “em  cũng thật tự nhiên thật nhẹ nhàng. Giọng nói thật dịu dàng, trong trẻo. Làm như nước mắt đã tẩy sạch dấu vết của mười năm…

Ông vói tay cầm lấy quai túi :

– Để anh xách cho.

Bà Năm vừa bước đi, vừa nói, tay vẫn nắm chặt hai túi vải :

– Không sao. Em xách được. Ở bển, em gánh lúa mỗi ngày cho nhà máy, có sao đâu.

Ông Năm bỗng nghe lòng quặn thắt. Thì ra “tụi nó” đày đọa bả đến nước đó ! Bả tội gì ? Tội gì ? Tội vượt biên ? Thì đã ở tù trên ba tháng rồi còn gì nữa ? Vậy tội gì ? Ông Năm nghiến cái câm thù trong răng để đừng chửi đổng, nhưng rồi ông cũng bật ra : “Quân khốn nạn !”

-oOo-

Về đến nhà thì trời đã xâm xẩm tối. Lần này thì chính ông Năm xách hai túi vải, đi trước dẫn đường, lòng vui như mở hội. Đến chân cầu thang, ông nói :

– Ở từng lầu ba lận. Em leo nổi không ?

Bà Năm trả lời, giọng vẫn trong trẻo :

– Gì không nổi ? Bây giờ em làm cái gì cũng nổi hết.

Rồi bà bước lên cầu thang, bước đều đặn. Ông Năm theo sau, nhìn dáng dấp nhỏ thó với mái tóc bạc hớt bom-bê cao ông bỗng thương vợ vô cùng. Mười năm… Mái tóc huyền mà ngày xưa hay kéo sát về phía sau để cuốn tròn kẹp gọn một vòng trên ót… bây giờ chỉ còn là như vầy ! Cái cổ tròn dẫn xuống bờ vai thon thon của hồi đó… bây giờ gầy nhom như vầy ! Mười năm… Chắc bả phải khổ ghê lắm, phải chịu đựng ghê lắm mới ra nông nỗi này ! Tội nghiệp ! Người đàn bà hiền khô và nhát hít đó chưa làm phiền lụy ai bao giờ, vậy mà Việt Cộng vẫn moi ra một cái cớ nào đó để hành hạ. Và như vậy suốt mười năm. Lam lũ quá nên bả già trước tuổi, chớ bả cũng còn giữ được cái nhìn, giọng nói và tâm hồn… những thứ mà Việt Cộng không cưỡng chiếm được !

Vào nhà, ông Năm bật đèn lên, bà Năm nhìn quanh mỉm cười, không nói. Ông Năm đặt hai túi lên bàn ăn, rồi cũng nhìn quanh :

– Nhà của anh đó. Nhỏ như cái lỗ mũi. Tạm một thời gian rồi mình sẽ kiếm nhà khác rộng hơn.

Bà Năm dịu dàng :

– Như vầy cũng được. Có hai đứa mà gì…

Bỗng nhiên hai người nhìn nhau. Tiếng “hai đứa” nhắc cho họ nhớ tới hoàn cảnh bây giờ, một hoàn cảnh mà từ lúc gặp lại nhau bao nhiêu thống hận dập dồn đã làm họ quên đi : bây giờ “hai đứa” vẫn còn có nhau, thật sự còn có nhau. Rồi sẽ không còn gì chia cách. Rồi sẽ đi bên nhau, đi hết đoạn đường còn lại, một đoạn đường không còn bao nhiêu xa… Bởi vì họ biết : họ đang bước vào mùa thu của cuộc đời… Cho nên họ nhìn nhau mà yêu thương dâng đầy trong mắt.

Bà Năm bước lại cửa sổ. Ngoài xa trên nền trời trắng đục, hiện lên thật rõ cây thánh giá và nóc nhà thờ Sacré Coeur. Bà Năm hỏi :

– Cây thánh giá này đây ?

Câu hỏi trống không nhưng hai người cùng hiểu : cây thánh giá mà ông Năm viết đi viết lại không biết bao nhiêu lần trong thư gởi về Việt Nam. Ông bước lại khoác vai vợ, gật gật đầu. Hai người yên lặng nhìn cây thánh giá như đang tạ ơn, giống như đang rước lễ, giống như cô dâu chú rể sau khi được kết hợp thành vợ chồng… Thời gian bỗng như dừng lại, để hình ảnh trở thành bất diệt, nói lên cái cao cả của tình yêu, cái huyền diệu của niềm tin… những thứ mà Việt Cộng muốn xoá bỏ để biến con người thành gỗ đá.

Một lúc lâu sao, bà Năm như sực tỉnh :

– Để em soạn đồ ra.

Rồi bà bước lại bàn mở hai túi vải. Ông Năm đốt điếu thuốc, khói thuốc lâng lâng nhẹ. Ông ngồi cạnh giường nhìn vợ soạn đồ bằng đôi bàn tay xạm nắng với những đường gân nổi lên ngoằn ngoèo. Đôi bàn tay đã từng có ngón tay thon dài khéo léo từ đường kim mũi chỉ… bây giờ là như vậy ! Ông thấy thương vợ vô cùng.

Bà Năm soạn đồ ra để trên bàn : vài bộ quần áo, mấy cái khăn lông, một cái mền nhỏ…

Vừa làm bà vừa nói :

– Có bao nhiêu, em đem theo hết. Nói là đi chánh thức chớ không biết lúc nào tụi nó bắt mình lại. Có nhiều người lên máy bay rồi mà còn bị lôi xuống, không biết vì cớ gì. Rồi khi được thả ra là trắng tay.

Bà lấy trong túi ra một khuôn hình, trao cho ông Năm :

– Em đem hình ông già bà già qua để lâu lâu mình thắp một cây nhang.

Ông Năm nhìn hình cha mẹ, lòng bồi hồi xúc động. Hình này, hồi đó, để trên bàn thờ nhà cũ. Nhà bị tịch thu, không hiểu bả làm sao lấy được để mang qua đây ? Ông đứng lên nhìn quanh, rồi treo khuôn hình lên cây đinh trên tường đối diện.

Có tiếng bà Năm nói :

– Em có đem qua cho anh chai rượu nếp than nữa. Nhớ hồi đó anh ưa lắm.

Ông quay lại, cầm chai lên mở nút. Chưa đặt miệng chai lên mũi mà mùi rượu ngọt ngào thơm phức tỏa ra thật nồng nàn. Ông hít một hơi dài, đóng nút lại, rồi nhìn chai rượu mà ứa nước mắt. Nỗi nhớ quê hương nằm sâu trong tìm thức, bây giờ, mùi rượu nếp than, màu rượu nếp than đã làm bật dậy, vô cùng mãnh liệt. Ông tưởng chừng như vừa hưởi thấy mùi thơm quê hương. Có mùi ngọt ngọt của lúa chín, có mùi nồng nồng của rơm của rạ, có mùi hăng hăng của đống un đốt cạnh chuồng trâu chuồng bò… Ông tưởng chừng như đang giữ trong tay một mảnh trời quen thuộc. Ở đó có màu tím lờn lợt của hoa bằng lăng, có màu tím nâu nâu của vỏ măng cụt, có màu tím học trò của trái mồng tơi, và những tà áo tím phất phơ theo gió qua cầu, với những chiều tím quê ngoại, đứng ngẩn ngơ bên sông Vàm Cỏ khi tuổi vừa mới lớn… Chao ơi ! Ngần đó thứ, tưởng quên nhưng vẫn nhớ. Ngần đó thứ bây giờ xa thật xa. Xa, không phải vì cách biệt, mà xa vì không còn thuộc về mình nữa !

Ông Năm cầm chai lắc lắc, bột nếp than tím ngát dợn lên trong lòng chai. Ông mở nút rót thẳng vào miệng một hớp. Chất rượu béo ngậy ngọt ngào cay cay nhắc ông nhớ những quán nhậu ở Hóc Môn, những món thịt rừng ở Biên Hoà, những con cá mú sửa kho tộ ở Vũng Tàu bãi sau bãi trước… Ông ngậm lấy hớp rượu để nghe rõ chất rượu đang thấm vào nướu răn, đang thấm vào các thớ thịt cổ, đang thấm lên nóc giọng, đang nồng lên mũi. Ôi ! Mùi vị quê hương là đây… ông không cầm được nước mắt !

Bà Năm vẫn âm thầm soạn đồ đạc. Bà hiểu ông Năm lắm và nghe thương chồng vô cùng. Tội nghiệp ! Mười năm xa quê hương…

Ông Năm vào phòng tắm rửa mặt rồi ra chỉ chỗ cho vợ xếp quần áo. Xong ông bảo :

– Anh đã làm sẵn mấy món ăn cho hai đứa. Để anh đem ra hâm. Em đặt bàn đi. Đồ đạc trong tủ búp-phê đó.

Bà Năm nghi ngờ :

– Anh mà làm bếp cái nỗi gì ? Mua ở tiệm thì có.

Ông Năm cười sảng khoái :

– Em lầm rồi ! Bây giờ, anh làm cái gì cũng được hết. Nấu bếp, giặt đồ, làm ménage … đủ thứ. Rồi em coi ! À… đặt bàn em nhớ để một dĩa sâu cho món súp légume và một dĩa trẹt cho món gà nấu rượu, nghe !

Bà Năm mỉm cười, thấy chồng sung sướng mà lòng cũng thênh thang trải rộng.

Một lúc sau, hai vợ chồng ngồi vào bàn ăn. Trên bàn cũng có hai cây nến. Cũng khăn trải bàn trắng phau, cũng khăn ăn màu xám lợt, cũng dĩa trắng chạy chỉ vàng, cũng nĩa dao cáng gỗ có nét vẽ cong cong nhè nhẹ. Và không quên hai ly rượu có chân, đựng chút rượu nếp than có màu tím đậm đà và hương thơm mời mọc.

Ông vui vẻ :

– Như vầy mới đúng là nuit de noces chứ, phải không em ?

Bà Năm nhìn chồng không nói, nhưng vành tai bỗng đỏ bừng. Bà nói lảng :

– Súp ngon chớ ! Anh học nấu ở đâu vậy ?

Ông để ngón tay trỏ lên môi, vẻ bí mật :

– Hùm… Không nói đâu ! Ông Tiên người Tàu chuyên nấu đồ Tây chỉ đó, dặn anh đừng nói cho ai biết !

Rồi cả hai cùng cười vì hình ảnh ngộ nghĩnh đó, cái cười hồn nhiên tìm lại sau mười năm xa nhau…

Bữa ăn kéo dài bằng những chuyện kể cho nhau nghe, nhớ đâu kể đó, không mạch lạc đầu đuôi, bởi vì trong thời gian mười năm có biết bao nhiêu sự việc đã xảy ra để mà nhớ cặn kẽ cái nào sau cái nào trước ! Dọn dẹp xong thì trời đã khuya. Hai vợ chồng chia nhau, bà nằm trên giường, ông nằm trên nệm dưới đất.

Tắt đèn đã lâu mà hai người vẫn còn trằn trọc. Làm như còn thèm nói chuyện với nhau nữa ! Bóng tối dầy đặc vây quanh. Không khí trong nhà êm êm mát mát. Mùi rượu nếp than và mùi thuốc lá Dunhill còn phản phất thơm thơm. Bỗng bà Năm nghe một bàn tay của chồng đặt lên mình mình. Toàn thân bà run lên nhè nhẹ. Hơi thở của bà bỗng trở nên phập phồng. Một cảm giác dường như thật cũ, mà cũng dường như thật mới, dìu dịu ngây ngây… Bà không biết nữa ! Rồi, không tự chủ được, bà cầm bàn tay chồng áp lên má, lên mũi, lên môi. Bàn tay này tưởng đã vĩnh viễn không còn nhìn thấy, cầm lấy. Da thịt này tưởng đã vĩnh viễn không còn đụng chạm sờ mó được. Mười năm… Mười năm… Nước mắt bỗng chảy dài xuống hai bên tai, bà Năm thốt lên nho nhỏ : “Mình !”. Chỉ có một âm đơn độc, nhưng sao tiếng “mình” nói lên thật nhiều, diễn tả thật nhiều. Tiếng “mình” mà mười năm nay ông Năm không còn nghe. Tiếng “mình” gợi lên tình nghĩa vợ chồng, nỗi niềm chia xẻ. Tiếng “mình” cũng là tiếng nói của yêu đương, của hài hoà sum họp. Và tiếng “mình” ở đây, trong hoàn cảnh này, sao nghe thật mời mọc dâng hiến… Người đàn bà mười năm khổ hận đó, vợ ông, cần được yêu thương thật nhiều để bù lại. Tiếng “mình” gọi nhỏ trong đêm bỗng nghe tiếp nối… Bồi hồi xúc động, ông Năm chồm lên ôm xóc lấy vợ, hôn tràn lên tóc, lên má, lên môi. Ông nghe trong tay, run lên như đang cơn sốt, thân xác gầy còm của vợ. Và tai ông còn nghe những tiếng “mình” đứt quãng ú ớ như tiếng nói trong chiêm bao…

Cuộc tình của tuổi vào thu âm thầm như lá rụng bên ngoài nhưng cũng nồng nàn ngọt lịm như hớp rượu nếp than cùng chia nhau khi nãy. Có mùa chớm thu nào mà không thấy còn sót lại vài tia nắng hạ ?

-oOo-

Tôi muốn câu chuyện này chấm dứt ở đây cho cuộc tình được đẹp như bài thơ, được vuông tròn như trong tiểu thuyết. Nhưng trên thật tế không phải như vậy. Bởi vì…

…Một tháng sau đó, bà Năm ngã bịnh, phải vào nằm nhà thương. Bà bị ung thư phổi, ở thời kỳ chót. Bà đã giấu ông Năm, lâu nay, bây giờ bà mới cho biết : hồi còn ở Việt Nam, nhờ khám thấy ung thư nên bà mới xin được chiếu khán xuất cảnh. “Nhà nước Cách Mạng vốn khoan hồng nhân đạo, nên cho phép chị sang thăm chồng đấy ! Chớ chị không nằm trong diện được cứu xét nào cả. Rõ chưa ?”. Gã cán bộ trao giấy phép cho bà Năm, mà nói như thật ! Tụi nó dư biết rằng có giữ bà lại cũng chỉ tốn gạo tốn khoai thêm vài tháng nữa và là một miệng ăn phi sản xuất, chẳng lợi lộc gì cho “nhân dân”. Thà tống đi gấp để khỏi phải chôn thêm một người, chật đất !

Ông Năm đã ngồi bên giường vợ suốt thời gian cuối cùng. Ông đã cầm bàn tay còn mang tỳ vết của mưòi năm gian khổ. Ông đã ôm gương mặt phong trần chưa kịp đổi hồng sau mấy tuần sống đầy hạnh phúc. Và cuối cùng, ông đã chải lại mái tóc bạc chưa kịp dài để được cuốn tròn kẹp lên sau ót, như ngày xưa…

Ông đã gục lên thân xác gầy khô, khóc với tất cả nước mắt còn lại.

Mùa thu đó, lá rụng thật nhiều…

Tiểu Tử