NGHĨ SAO VỀ NHỮNG GIÀN HD-98…x KHÔNG GÂY ỒN ÀO TRÊN LÃNH THỔ VÀ LÃNH HẢI VIỆT NAM

NGHĨ SAO VỀ NHỮNG GIÀN HD-98…x KHÔNG GÂY ỒN ÀO TRÊN LÃNH THỔ VÀ LÃNH HẢI VIỆT NAM

Hà Giang

Sau khi Tàu Cộng đặt cái gọi là giàn HD-981, công luận ồn ào hẳn lên, không chỉ báo chí lề trái, mà cả báo chí lề phải cũng vào cuộc, cáo buộc rằng Tàu Cộng vi phạm này vi phạm nọ, dân chúng bất bình sôi sục, nhiều người lên tiếng đấu tranh đòi phải kiện Tàu Cộng ra các tòa án quốc tế, vân vân và vân vân.

Còn Đảng ta thì nín thinh.

Tôi thấy tức cười về sự ồn ào đó.

Vì tôi ngẫm nghĩ, có những chỗ rộng … mênh mông bể sở, lớn gấp hàng tỷ lần cái giàn HD-981, nằm chềnh ềnh giữa những cứ điểm chiến lược hiểm yếu trên đất nước ta đang tồn tại êm thấm… Chẳng thấy ai nói gì…

Công luận lên án cái giàn HD-981 là “bất hợp pháp”. Vậy những chỗ bọn Tàu Cộng đã và đang cắm chốt … “rất hợp pháp” thì sao?

Tôi nảy ra sáng kiến lẳng lặng làm thân với các vị đương kim tỉnh ủy viên, thường vụ tỉnh ủy phụ trách ngạch tuyên huấn, vì nghe tin các vị này có đặc quyền ra vào những nơi tôi tạm gọi là “Tô giới” của Tàu Cộng. Đó là những vùng rừng đầu nguồn cho Tàu Cộng thuê 50 năm. Đó là những công trình Tàu Cộng thắng thầu. Đó là những cảng biển nước sâu mà Đảng ta đã cho Tàu Cộng thuê 50 năm, 70 năm. Tất cả đang là những công trường vĩ đại, đang được chúng xây dựng những doanh nghiệp khổng lồ, mà ai đến đây cũng đinh ninh một cảm giác, là chúng đang chuẩn bị cho một cuộc “an cư” và “lạc nghiệp” vĩnh viễn trên đất nước này.

Tôi đã thành công. Tôi được ngồi xe cùng các vị tỉnh ủy viên, rồi thường vụ tỉnh ủy dẫn đạo ra vào thoải mái những nơi mà hạng người Việt “phó thường dân” như tôi không bao giờ được lân la tới. Tôi được tận mắt nhìn, được hỏi, được xem những gì bọn xâm lược Tàu Cộng đang mặc sức tung hoành trên đất nước thấm đầy máu thịt của cha ông chúng ta.

Tôi phải gọi đó là những “Tô giới”. Vì đó là những vùng có thể gọi chính xác là “nhượng địa”, được các nhà lãnh đạo Đảng thỏa thuận cho thuê 50 năm, 70 năm, Tàu Cộng tự do tung hoành mà người Việt không được bén mảng, trừ trường hợp như tôi, có “sáng kiến” tìm cách bám đuôi được các vị có hàm vị cao trong Đảng.

Tôi nói “Lãnh đạo Đảng thỏa thuận”, là vì đây là câu hỏi tôi đặt ra ở tất cả những nơi tôi đến. Câu hỏi của tôi với các đồng chí tỉnh ủy, rất thẳng thắn, là “Báo chí lề trái, lề phải lên án các đồng chí ăn tiền của nước ngoài, rồi tự tiện cho thuê đất, thuê rừng, thuê biển, … Có đúng thực như thế không? Hay là các đồng chí được Bộ Chính trị cho phép”.

Câu trả lời nhất quán mà tôi thường xuyên nhận được là: “Chúng tôi đâu dám lộng quyền! Đều được phép của Bộ Chính trị. Các dự án đều được các đồng chí ấy phê chuẩn cả đấy”.

Ảnh chỉ có tính chất minh hoạ. Nguồn ảnh: http://clbnbtd.blogspot.com/2009/04/bauxite-tan-rai-gioi-tau-tren-cao.html

Thì ra tất cả những tô giới của Tàu Cộng mà tôi được đến trên đất nước chúng ta đều được quyết định từ Bộ Chính trị. Những nơi tôi chưa đến được thì tôi không có thông tin, không dám nói. Còn Bộ Chính trị cụ thể là ai, thì tôi thấy cũng không cần hỏi sâu thêm nữa. Vả lại, tôi tự thấy đến đây là đủ, vì tôi suy luận: Đảng có nguyên tắc tổ chức rất nghiêm ngặt về tập trung dân chủ. Như vậy, người quyết định cuối cùng phải là tổng bí thư, mà tổng bí thư nhiệm kỳ này là ông Nguyễn Phú Trọng. Như vậy ông Nguyễn Phú Trọng chắc là người gánh chịu trách nhiệm trước lịch sử dân tộc về những thỏa thuận các tô giới, các nhượng địa với quân xâm lược Tàu Cộng.

Tôi tự thấy mình nghĩ như thế là đúng, bởi vì tôi nhớ lại, hồi mới nổi lên cái vụ ông tổng bí thư Nông Đức Mạnh ba lần ký trao Tây Nguyên cho Tàu Cộng, báo chí lên án Chính phủ đã chấp nhận những dự án đầu tư của Tàu Cộng vào Tây Nguyên, … và họ phỏng vấn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, thì được ông Dũng nhiều lần khẳng định rất dứt khoát: “Đây là chủ trương lớn của Đảng ta”. Thủ tướng khôn thật. Quy hết trách nhiệm cho Đảng. Mà ông quy như vậy đâu có sai. Ông thủ tướng đúng đấy: Ký kết các nhượng địa cho Tàu Cộng là chủ trương lớn của Đảng ta.

Đến đây tôi thật sự lúng túng. Trong các hội nghị chi bộ tất cả các đảng viên đều được “đả thông tư tưởng” là phải tin tưởng tuyệt đối vào các chủ trương của Đảng. Vì vậy, chúng ta chỉ còn biết tin tưởng vào chủ trương trao các tô giới và các vùng nhượng địa cho bọn xâm lược Tàu Cộng của Đảng ta!

Tôi thành thật bộc bệch tâm tư lo ngại vẩn vơ về việc quân xâm lược Tàu Cộng ngày càng lấn tới … với các đồng chí tỉnh ủy viên và thường vụ tỉnh ủy mà tôi được may mắn bám đuôi, tôi nhận ra những điều thú vị nữa, mà tôi muốn chia sẻ với các bạn bè gần xa.

Đến bất cứ khu nhượng địa nào, tôi đều nhận ra có rất nhiều dự án đầu tư, không chỉ của các nhà đầu tư Tàu Cộng, mà có cả các nhà đầu tư Hàn Quốc, Đài Loan và một số nước khác. Hỏi sâu vào các dự án, chúng ta còn được biết, các chủ đầu tư này có rất nhiều đối tác từ Úc, Malaysia, Singapore, vân vân và vân vân… Rồi công nhân nước ngoài chỉ chiếm 5%, còn lại là người Việt Nam hết… Thế là các đồng chí tuyên huấn được dịp trấn an tôi: “Đấy nhá! Ông thấy chưa? Bạn làm ăn nghiêm túc, và 95% công nhân là người Việt mà, … có như người ta làm ồn ào trên công luận đâu!”

Nhưng mà … có một điều tôi không thấy vị nào nói đến, là những nơi Tàu Cộng cắm chốt đều rất hiểm yếu về địa quân sự. Khi chúng tạo ra sự biến ở đâu đó thì xe tăng và chiến hạm của chúng tự do hoành hành như đi vào chỗ không người… Vì những nơi đó đang thuộc quyền kiểm soát của chúng.

Còn một điều nữa, mà một kẻ ngây thơ nhất về tình báo cũng có thể nghĩ đến: Bao nhiêu phần trăm các nhà đầu tư mang nhãn Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore, … là người do tình báo Hoa Nam cài cắm? Không biết được!

Ảnh chỉ có tính chất minh hoạ. Nguồn ảnh: http://clbnbtd.blogspot.com/2009/04/bauxite-tan-rai-gioi-tau-tren-cao.html

Rồi còn một điều tôi không cũng thấy một công ty “bạn” nào nói đến, như ở Tây Nguyên, hiện đã có mặt trên một số lượng lớn những tên “bạn” tráng đinh Tàu Cộng, trong đó chỉ một ngàn tên là lao động có phép. Tất cả các khu nhượng địa khác đều chịu chung số phận. Trong tất cả các cuộc tiếp xúc mà các đồng chí tỉnh ủy dẫn tôi đến, không thấy ở đâu nói về đạo quân vô phép này. Chúng đang quậy phá khắp nơi trên đất nước chúng ta, chúng còn gieo rắc bừa bãi cái … ADN Hán chủng vào bụng các cô gái nghèo Việt Nam. Chỉ cần chưa đến một trăm ngàn là chúng gieo được một mầm Hán Tặc trên cơ thể các cô gái Việt… Chúng đang chuẩn bị cho một cuộc trưng cầu ý dân vào vài mươi năm sau, để những đứa con hoang đàng trở về với tổ quốc Đại Hán vĩ đại, như ở Crưm người Đại Nga đã làm, … để thôn tính dần đất nước này vào tay Tàu Cộng, như lời ông quan Thiên triều Dương Khiết Trì xấc xược lên mặt răn dạy những đứa con hoang đàng trong bè lũ Trần Ích Tắc và Lê Chiêu Thống đang cắt dần đất, biển, rừng và hiến dâng các cỗ máy sinh thêm nòi giống cho bọn xâm lăng.

H.G.

Việt Nam cải thiện nhân quyền để được hợp tác quân sự và thương mại với Mỹ?

Việt Nam cải thiện nhân quyền để được hợp tác quân sự và thương mại với Mỹ?

Chuacuuthe.com

VRNs (10.08.2014) – Sài Gòn – Thượng Nghị Sĩ (TNS) John McCain (Cộng Hoà, Arizona) và TNS Sĩ Sheldon Whitehouse (Dân Chủ, Rhode Island) tới Việt Nam từ ngày 07 đến ngày 10 tháng 8 năm 2014. Chuyến viếng thăm này liền ngay sau ông Phạm Quang Nghị, bí thư thành ủy Hà Nội, thay mặc đảng CSVN đi thăm Hoa Kỳ, khiến nhiều người ngạc nhiên.

Lý giải cho thời điểm hai vị TNS của lưỡng đảng có mặt tại Việt Nam, tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, trên trang Mạch Sống cho rằng: “Các thượng nghị sĩ chỉ có mấy tuần để công du vì Quốc Hội vừa bãi khoá và sẽ trở lại làm việc tuần thứ 2 của tháng 9. Chờ đến kỳ bãi khoá kế, vào cuối tháng 9, thì e quá trễ vì từ đó đến đầu tháng 11 là cao điểm của mùa tranh cử – các dân biểu và thượng nghị sĩ không còn tâm trí đâu để quan tâm đến những gì khác”.

14081000

Điều nhà nước Việt Nam muốn hai vị TNS can thiệp với lập pháp và hành pháp Hoa Kỳ là giải tỏa cấm vận bán vũ khí sát thương cho Việt Nam và chấp thuận cho Việt Nam tham gia Hiệp ước đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Phát biểu tại Hà Nội, cả hai vị TNS đều cho rằng đã đến lúc xem xét lại lệnh cấm vận bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, nhưng không phải là tháo cởi hết ngay trong lúc này. Việc dỡ bỏ lệnh cấm vận này theo hai ông không liên quan gì đến việc cộng sản Hoa Lục hạt đặt giàn khoan trên Biển Đông. Trong khi đó thì không một thông tin nào về TPP được nhắc đến.

Giới quan sát tình hình chính trị Việt Nam cho biết “phe đảng” đang thắng trong thời gian vừa qua. Họ đã thuyết phục được Hoa Lục rút giàn khoan, đã cử người của mình là Ông bí thư thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị thay Bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh đi Mỹ gặp Bộ ngoại giao Hoa Kỳ. “Phe đảng” lại triển khai thanh tra ông Lê Hòang Quân trong vòng 70 ngày cách đột xuất.

Nhà báo Phạm Thành, từ Hà Nội cho biết: “Người Mỹ dường như bắt đầu cảm nhận rằng, bắt tay với đối thủ [phe đảng] của Thủ tướng thì những yêu cầu cụ thể của Mỹ, đặc biệt là vấn đề nhân quyền được dễ dàng và nhanh chóng được đáp ứng hơn là quan hệ với Thủ tướng. Năm tù nhân lương tâm được thả (Vi Đức Hồi, Đinh Đăng Định, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Tiến Trung, Nguyễn Thị Minh Hạnh…) là một ví dụ về sự đáp ứng mau lẹ sau chuyến sang Mỹ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang”.

Một thông tin mới được gởi đến gia đình blogger Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải hôm 08.08 vừa qua là Giấy Mời đóng án phí cho hai phiên xử sơ thẩm và phúc thẩm của blogger này đã diễn ra tại Sài Gòn vào tháng 09 và tháng 12 năm 2012. Đặc biệt nội dung văn bản này nói rõ việc đóng án phí để “đủ điều kiện xem xét giảm án đặc xá” cho ông Nguyễn Văn Hải.

Thông tin này đến trước đợt đặc xá hàng năm vào ngày 02.09 ba tuần, nên nhiều người cho rằng việc blogger Điếu Cày – Nguyễn Văn hải được trả tự do sẽ xảy ra trong dịp này.

Báo chí nhà nước dẫn nguồn từ Tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Hà Nội cho biết: “Hai ông McCain và Whitehouse sẽ gặp gỡ các lãnh đạo Việt Nam nhằm trao đổi các vấn đề an ninh, thương mại và nhân quyền”.

Một nguồn tin độc lập cho biết, yêu cầu công nhận hoạt động của công đoàn ngoài hệ thống đảng cầm quyền là điều kiện bắt buộc, cùng với một chút cải thiện nhân quyền để có thể đưa Việt Nam vào danh sách các nước đồng sáng lập TPP.

Việt Nam cải thiện nhân quyền để được hợp tác quân sự và thương mại với Mỹ là mơ ước của đại đa số người dân Việt Nam quốc nội, nhưng liệu đó có là sự thật?

PV. VRNs

Kỷ niệm 35 năm Tàu Cap Anamur ra khơi cứu người vượt biển

Kỷ niệm 35 năm Tàu Cap Anamur ra khơi cứu người vượt biển

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2014-08-08

thanhtruc_08082014.mp3

capanamur4-305.jpg

Tàu Cap Anamur.

File photo

Đại Hội 35 Năm Cap Anamur, kỷ niệm ngày tàu Cap Anamur bắt đầu ra khơi cứu người vượt biển Việt Nam 35 năm trước, sẽ diễn ra trưa thứ Bảy ngày 9 tháng Tám, giờ địa phương tại cảng Hamburg thuộc thành phố Hamburg Cộng Hòa Liên Bang Đức.

Cảm ơn ông Neudeck và dân tộc Đức

Thành phố Hamburg rộng thứ nhì nước Đức có nhiều người Việt sinh sống, có hai tượng đài thuyền nhân Việt Nam, một trong nghĩa trang thành phố từ năm 2006 và một tại cảng Hamburg từ năm 2009. Cảng Hamburg là nơi 35 năm trước tàu Cap Anamur bắt đầu ra khơi để thực hiện công tác nhân đạo tìm kiếm và vớt người vượt biên Việt Nam:

“Ngày 9 tháng Tám năm 1979 con tàu Cap Anamur bắt đầu khởi hành từ Hamburg, chuyến cuối cùng thì tàu cũng cập cảng Hamburg tháng Tám năm 1986. Ngày 9 tháng Tám năm 2014 kỷ niệm 35 tàu Cap Anamur cứu vớt thuyền nhân được làm ở tại Hamburg. Cộng đồng người Việt tị nạn toàn nước Đức nói chung và ở tại Hamburg nói riêng chân thành cảm ơn ông Neudeck và dân tộc Đức đã mở lòng nhân đạo, cứu vớt và nhận cho thuyền nhân Việt Nam được cư ngụ tại nước Đức.”

” Cap Anamur là con tàu của tình thương, đã vớt tổng cộng 11.300 người tất cả. Và không chỉ đơn giản 11.300 người này mà 11.300 người này sau đó còn bảo lãnh thân nhân từ Việt Nam sang.
-Lê Ngọc Tùng”

Đó là lời ông Nguyễn Đình Phúc, một thành viên trong ban tổ chức Đại Hội 35 năm Cap Anamur, có người anh cả được tàu Anamur vớt hồi năm 1980.

Cap Anamur là kết quả vận động của một nhà hảo tâm người Đức, tiến sĩ Rupert Neudeck, sau khi nghe thấy tin tức và những hình ảnh thương tâm về thuyền nhân vượt thoát khỏi Việt Nam bằng cách ra biển trên những chiếc ghe mong manh nhỏ bé.

Từ năm 1979 cho đến 1987, những chiếc tàu của Ủy Ban Cap Anamur, đã vớt tổng cộng 11.300 thuyền nhânViệt rồi đưa họ về bến an toàn. Trong mắt thuyền nhân Việt Nam tại Cộng Hòa Liên Bang Đức nói riêng cũng như trên thế giới nói chung, tàu Cap Anamur, tiến sĩ Rubert Neudeck, Ủy Ban Cap Anamur là những vị cứu tinh, những tên tuổi gắn liền với giòng lịch sử vượt biên gian nan của người Việt sau 1975.

Theo ông Lê Ngọc Tùng, cựu thuyền nhân, hiện là hội trưởng Hội Người Việt Tị Nạn Cộng Sản tại Hamburg, nếu không có những chiếc tàu Cap Anamur đi vớt người vượt biên từ 1979 đến 1987 thì:

“Thống kê cho biết khoảng hai trăm ngàn người Việt Nam đi tìm tự do đã chết giữa biển. Nếu không có con tàu Cap Anamur thí chắc chắn số người chết giữa biển vì gặp hải tặc, bị sóng cuốn, bị thiếu lương thực vân vân sẽ rất là nhiều. Cap Anamur là con tàu của tình thương, đã vớt tổng cộng 11.300 người tất cả. Và không chỉ đơn giản 11.300 người này mà 11.300 người này sau đó còn bảo lãnh thân nhân từ Việt Nam sang nữa để có một cuộc sống tự do.”

capanamour-250.jpg

Nhà hảo tâm người Đức, tiến sĩ Rupert Neudeck. File photo.

Chính vì thế năm 2009 thêm một tượng đài tri ân chính phủ và người dân Đức được dựng lên tại cảng Hamburg. Đại Hội 35 năm Cap Anamur hôm nay cũng được tổ chức tại cảng này.

Một cư dân Hamburg trong Ủy Ban Cap Anamur, ông Nguyễn Hữu Huấn, từng được tàu Cap Anamur vớt, sau trở lại làm việc trên những chuyến tàu ra khơi cứu người này, kể lại:

“Năm 1980 tôi đi vượt biên lần thứ ba, ghe của tôi bị hải tặc cưới hai lần. Khi ghe lênh đênh ngoài biển và không còn dầu nhớt nữa, máy đã bị hư, thì chúng tôi được tàu Cap Anamur cứu.

Lúc đó trên tàu Cap Anamur có chiếc trực thăng, thấy được ghe của tụi tôi và tàu đã đến cứu, đó là khoảng tháng Ba năm 1980. Lúc đó cảm giác như là được sống lại, nhìn thấy con tàu đồ sộ, cái ghe của mình quá nhỏ nà con tàu thì quá to thì chúng tôi rất bàng hoàng, có thể nói là được một lần nữa tái sinh.

Thật tình mới đầu chúng tôi không biết đó là tàu của người Đức, nhưng sau khi biết chắc chắn đó là tàu của Tây Đức thì chúng tôi rất mừng. Tôi đã ôm chầm những người thủy thủ và tôi rớt nước mắt. Một số các em nhỏ thì chúng tôi phải bê lên từng người bởi vì đã bị say sóng hoặc là bị bọn hải tặc hiếp. Những người còn khỏe mạnh cũng vậy, trong ghe có một bà cụ lúc đó đã quì lạy từng người một. Cho đến ngày hôm nay những người được tàu Đức vớt, cũng như cá nhân tôi, đều biết ơn chính phủ Đức và những người đã tạo ra Ủy Ban Cap Anamur cứu sống cả đời chúng tôi.”

Hoàn tất sứ mạng cứu người

Thực tế, vì được tài trợ bởi chính phủ và người dân Tây Đức lúc bấy giờ, Ủy Ban Cap Anamur do tiến sĩ Rupert Neudeck thành lập đã có được 4 chiếc tàu trang bị như một bệnh xá di động. Cả 4 tàu Cap Anamur đều hoàn tất ngoạn mục sứ mạng vớt người trên biển cho đến khi chấm dứt năm 1987. Vẫn lời ông Nguyễn Hữu Huấn:

” Ủy Ban Cap Anamur lấy mỗi con tàu đều là tên Cap Anamur hết. Bốn con tàu đi liên tiếp nhau chứ không phải đi vớt một lần bốn chiếc.
-Nguyễn Hữu Huấn “

“Ủy Ban Cap Anamur lấy mỗi con tàu đều là tên Cap Anamur hết. Bốn con tàu đi liên tiếp nhau chứ không phải đi vớt một lần bốn chiếc. Tôi được chuyến Cap Anamur số 1 vớt. Tàu Cap Anamur số 1 đi vớt người từ 1979 đến 1982, chia thành 29 chuyến thì đã vớt được 199 chiếc ghe. Tôi được chính phủ của tiểu bang Hamburg cho đi học tiếng Đức trong vòng 11 tháng. Cuối năm 81 tôi bắt đầu trở thành thành viên của Ủy Ban Cap Anamur, lên tàu đi vớt người ta tiếp và tôi đã đi liên tục trong 5 năm rưỡi. Cho đến khi chấm dứt vào năm 1987 thì chính thức ra năm 87 là tàu Cap Anamur số 4.

Rồi sau khi các trại tị nạn đã đóng cửa tất cả rồi, nghĩa là không được vớt người nữa và các nước không nhận người nữa thì những con tàu về sau là Năm và Sáu không vớt người mà chỉ dẫn dắt và cứu hộ trên con đường vượt biển, tìm cách đưa họ vào trại tị nạn thôi.”

Được biết những năm trước thì lễ kỷ niệm tàu Cap Anamur vẫn diễn ra tại thành phố Troisdorf mà tiến sĩ Rupert Neudeck đang sinh sống, cũng là nơi một chiếc ghe của người vượt biển được kéo về và trưng bày ở đó. Lý do Đại Hội 35 Năm Cap Anamur lần này được tổ chức tại cảng Hamburg là vì:

“Đây là lần đầu tiên tổ chức tại Hamburg, thứ nhất tại cảng Hamburg cách đây 5 năm đã có một bia biểu tượng tị nạn được đặt ngay tại cảng của Hamburg, đánh dấu nơi phát xuất và trở về của tất cả các con tàu Cap Anamur.

Lý do thứ hai, cũng là yêu cầu của tiến sĩ Rupert Neudeck người sáng lập Ủy Ban Cap Anamur hiện tại đã 75 tuổi và rất yếu, nói rằng đây có thể là lần cuối cùngthì ông mong muốn tổ chức ngày kỷ niệm 35 năm tại cảng đó.”

Ban tổ chức Đại Hội 35 năm Cap Anamur ước lượng khoảng một nghìn người Việt khắp nơi cũng như ở Hamburg về tham dự sự kiện đặc biệt này. Buổi lễ chính sẽ bắt đầu lúc 1 giờ rưỡi trưa ngày 9/8, giờ địa phương, với sự hiện diện của cựu phó thủ tướng Muetefering và đương kim phó thủ tướng người Đức gốc Việt Philipp Roesler, bên cạnh một số viên chức chính phủ liên bang hoặc tiểu bang trước kia cũng như hiện nay. Ngoài ra còn có vị tổng giám mục của tiểu bang Hamburg trong dịp này.

Đại Hội Cap Anamur lần thứ 35 sẽ kết thúc bằng một chương trình văn nghệ ca nhạc vào buổi chiểu, đánh dấu sự tri ân và dịp hội ngộ của những thuyền nhân may mắn được những chiếc tàu Cap Anamur cứu thoát từ đại dương mênh mông.

Đạp trên mọi danh vọng

Đạp trên mọi danh vọng

Chuacuuthe.com

M. Hoàng Thị Thùy Trang.

VRNs (10.08.2014) – Từ tạo thiên lập địa, con người đã phải đối diện với những thách đố của cuộc sống. Nỗi sợ hãi không ngừng vây quanh cuộc sống của họ. Tự bản thân, chẳng ai có thể chống trả được với những thế lực của sự dữ và bóng tối. Nếu không cậy dựa vào Thiên Chúa, con người hoàn toàn buông xuôi trước sức mạnh của quyền lực ác thần.

Câu chuyện trong bài Tin mừng hôm nay là một bằng chứng sống động về quyền năng Thiên Chúa. Chỉ cần có Ngài bên mình, chỉ cần tin vào sức mạnh của Ngài, thì không một quyền lực nào có thể đánh gục, ngay cả việc thể hiện được phép lạ ngoài sức bản thân. Vấn đề không do Thiên Chúa nhưng là con người. Chỉ tại thế giới không chịu tin vào Ngài, không chịu nhìn nhận quyền năng của Ngài, cho nên con người khước từ Thiên Chúa. Nếu như ai đó cũng có thể nghe được chính lời Thiên Chúa nói với mình: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ.” (Mt 14, 27) thì cuộc sống có lẽ sẽ khác hơn. Việc Đức Giêsu đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ hôm nay không chỉ là phép lạ Đức Giêsu tỏ lộ quyền năng của Ngài cho các tông đồ nhưng còn là một mặc khải cho chúng ta về tình yêu Thiên Chúa.

Khổ nỗi, mỗi khi gặp khó khăn, thất bại, gian truân hay thử thách, nhân loại lại tìm đến bói toán, đến cầu cơ hoặc những thế lực của đồng tiền, của ác thần. Loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời mình là điều ngu muội nhất trong thế giới này. Ngày nay, người ta hầu như đã không còn đặt niềm tin vào Thiên Chúa nữa rồi. Phải chăng vì Ngài quá im lặng, những tiếng im lặng quá kì diệu khiến con người không đủ khả năng nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa? Hay vì sức mạnh của đồng tiền đã làm đảo lộn mọi trật tự tâm linh, xã hội?

Hoài nghi, ngờ vực là khó khăn lớn nhất của nhân loại. Chỉ vì kém tin, gặp chút thất bại, thua thiệt là bỏ cuộc… còn đâu kín múc được sức mạnh từ Thiên Chúa. Ở với Thiên Chúa bao lâu, kề cận thân tín với Ngài thế nào, mà ngay cả các môn đệ vẫn không thể nhận ra sự hiện diện của Ngài trong cuộc đời mình: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài.” (Mt 14, 28)

Thách thức Thiên Chúa cũng là một cám dỗ lớn của con người chúng ta. Đặt điều kiện với Thiên Chúa, ra đòi hỏi với Ngài là một trong những tật xấu lớn của nhân loại. Thiên Chúa luôn luôn bao dung, không hà khắc, tính toán với nhân loại, Ngài đã dùng mọi cách để chỉ muốn cho con người nhận biết Thiên Chúa và tin vào Ngài mà thôi. “Cứ đến” (Mt 14, 29). Đang khi đang đi trên mặt nước mà đến với Đức Giêsu như yêu cầu thì môn đệ Phêrô lại ngã lòng, ngờ vực. Khi thấy sóng to, gió lớn thì ông lại hoảng sợ, bắt đầu chìm: “Thưa Ngài, xin cứu con với.” (Mt 14, 30)

Kinh nghiệm của môn đệ Phêrô cũng chính là kinh nghiệm của mỗi người chúng ta, mỗi khi không đặt niềm tin trọn vẹn vào Thiên Chúa. Mỗi khi nắm lấy tay Ngài rồi mà lại vẫn buông ra khi gặp thử thách, gian truân. Con người cứ mãi kêu gào Thiên Chúa ở đâu trong khi Ngài luôn ở bên cạnh mình, cho ta hơi thở, cho ta sự sống.

Lạy Chúa, không tin vào quyền năng Thiên Chúa là một tội lớn, tin mà còn hoài nghi lại là tội lớn lao hơn. Xin giúp con nếu đã tin, thì tin một lần cho đủ, cho trọn và cho dứt khoát. Đừng dùng dằng hoài nghi hay ngờ vực mà mất cả cuộc đời. Xin giúp con hiểu rằng nếu thế giới này đầy dẫy bóng tối và sự dữ, thì quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa cũng luôn hằng mãi ở bên mình. Chỉ cần đừng kém tin, đừng hoài nghi, đừng ngờ vực. Nhân loại cho nhau gian dối, còn Thiên Chúa có thất tín bao giờ. Nếu đã từng khao khát được bảo bọc, chở che cho thoát khỏi quyền lực ác thần, thì chẳng phải con đang thủ đắc nguồn sức mạnh vô song bên mình mãi sao. “Cứ yên tâm, đừng sợ”, xin giúp con luôn mãi an tâm và đừng sợ, chỉ cần tín thác tuyệt đối vào tình thương và lòng nhân hậu của Thiên Chúa, chí ít sẽ có một phép lạ biến đổi hoàn toàn cuộc đời con, không đi trên mặt nước thì cũng đạp trên mọi danh vọng mà đến với tha nhân.

M. Hoàng Thị Thùy Trang.

Chuẩn bị cho Đại hội La Vang lần thứ 30

Chuẩn bị cho Đại hội La Vang lần thứ 30

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2014-08-10

08102014-30th-lavang-mari-day.mp3

Lễ khai mạc Tháng Hoa (1/05/2014) tại Linh đài Mẹ La Vang

Lễ khai mạc Tháng Hoa (1/05/2014) tại Linh đài Mẹ La Vang

melavang.info

Đại hội La Vang lần thứ 30 sẽ diễn ra trong 3 ngày 13, 14 và 15 tháng 8 này. Kỳ đại hội ba năm một lần như thế là một sinh hoạt lớn, quan trọng đối với hầu hết các tín hữu Công giáo La Mã tại Việt Nam.

Chuẩn bị và phối hợp

La Vang là vùng đất linh thiêng đối với người Công giáo La Mã tại Việt Nam. Theo họ Đức Maria, mẹ Chúa Giê su, từng hiện ra tại đó hồi tháng 8 năm 1798. Lúc ấy là thời điểm mà vua Cảnh Thịnh, triều Tây Sơn ban hành lệnh bách hại người theo Công giáo gắt gao khiến nhiều người phải trốn vào rừng để trốn. Họ đã nguyện cầu và được Đức Mẹ hiện ra che chở.

Riêng vào những dịp đại hội ba năm một lần số tín hữu hành hương về La Vang khá đông, trung bình chừng nửa triệu người. Do đó công tác chuẩn bị để dung nạp một lượng người như thế, tại một khu hoang vắng, khô hạn, thiếu nước.. là một việc làm không dễ dàng gì.

Linh mục Gia cô bê Lê Sĩ Hiền, chánh xứ La Vang, cho biết việc chuẩn bị cho kỳ đại hội lần thứ 30 này như sau:

” Chúng tôi cũng theo khả năng và điều kiện cũng cố gắng hết sức nơi ăn chốn ở cho bà con giáo dân: các lán trại, lều bạt, các nhà tiền chế tạm thời như thế. Bà con giáo dân họ cũng thông cảm điều kiện khó khăn, nhà cửa không có đủ

Linh mục Gia cô bê Lê Sĩ Hiền”

Chúng tôi cũng theo khả năng và điều kiện cũng cố gắng hết sức nơi ăn chốn ở cho bà con giáo dân: các lán trại, lều bạt, các nhà tiền chế tạm thời như thế. Bà con giáo dân họ cũng thông cảm điều kiện khó khăn, nhà cửa không có đủ.

Năm nay chúng tôi cũng tiến hành đại hội nhằm việc Hội đồng Giám mục Việt Nam đang khởi công xây dựng Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ La Vang ở phần sau của đất La Vang. Việc khởi công được gần hai năm rồi. Xây xong móng và lên tầng hầm rồi; nên vừa lo tổ chức đại hội, đón rước, vừa lo công việc xây dựng Vương cung Thánh đường đang còn tiếp tục, chúng tôi khá vất vả.

Mấy ngày hôm nay trời cũng hạn hán, nên nước trong lòng đất cũng cạn đi nhưng chúng tôi cũng cố gắng hết sức khoan thêm giếng, xây thêm những bể lớn để lấy nước từ trên núi về. Nhưng năm nào cũng thiếu thốn về nước.  Cố gắng hết sức thôi!

Một nữ tu Dòng Mến Thánh Giá tại khu vực La Vang cho biết công tác của những người như bà vào dịp đại hội như thế:

Lu bu luôn: phải lo phụng vụ bên Nhà Thờ và phải lo phục vụ mọi người.

Ông Vũ Văn Hòa, trưởng ban Tuyên Huấn, Dân tộc và Tôn giáo thuộc Mặt trận Tổ quốc tỉnh Quảng trị cho biết việc hổ trợ từ phia chính quyền cho kỳ đại hội La Vang hằng năm cũng như năm nay:

” Chính quyền luôn có sự hợp tác chặt chẽ giữa Ban giám đốc Trung tâm Hành hương với địa phương. Những hoạt động này luôn làm thường xuyên và đảm bảo.

Ông Vũ Văn Hòa”

Địa phương các cấp, đặc biệt các ngành liên quan bao giờ cũng có sự hỗ trợ thật tốt sau khi có đề xuất của Trung tâm Hành Hương La Vang. Ví dụ chính quyền tạo điều kiện tốt từ các khâu đảm bảo an toàn giao thông, hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, vệ sinh môi trường, phòng chống chữa cháy, cung cấp các dịch vụ như điện, nước, các hệ thống phục vụ ăn, ngủ nghỉ.

Chính quyền luôn có sự hợp tác chặt chẽ giữa Ban giám đốc Trung tâm Hành hương với địa phương. Những hoạt động này luôn làm thường xuyên và đảm bảo.

Cản trở thành phần phản kháng

Theo những người từng tham gia công tác phục vụ khách đến La Vang vào những dịp đại hội hay những kỳ hành hương thường niên, thì mỗi lúc việc hành hương càng trở nên dễ dàng hơn vì phía cơ quan chức năng không còn gây khó khăn như những năm đầu sau thời điểm 1975.

Một giáo dân Công giáo cho biết lại thời kỳ mà chuyện đi hành hương La Vang không phải là chuyện dễ dàng, nhưng rồi mọi người vẫn quyết tâm thực hành cho được những cuộc hành hương như thế:

Trước đây hành hương La Vang rất khó vì thời đó chính quyền họ hay ngăn chặn. Lúc đó tôi còn nhỏ, vào những năm 82, 84, 85 khó quá nên cha mẹ đâu có cho đi. Nhưng những người trong xứ như cha me, anh chị tôi cũng đi đến La Vang.

Họ cũng bị chặn xe làm khó. Có những linh mục đi nhưng phải trốn tránh bằng cách đi bằng xe đạp để tới nơi. Có những linh mục đi xe đò với con chiên cũng bị chặn lại. Chắc mọi người còn nhớ một năm nào đó cha Nguyễn Văn Lý cùng đoàn giáo dân của ngài bị chặn lại tại cầu Mỹ Chánh và ngày quì xuống đọc kinh, hướng về La Vang cầu nguyện.

” Trước đây hành hương La Vang rất khó vì thời đó chính quyền họ hay ngăn chặn. Lúc đó tôi còn nhỏ, vào những năm 82, 84, 85 khó quá nên cha mẹ đâu có cho đi. Nhưng những người trong xứ như cha me, anh chị tôi cũng đi đến La Vang.

Một giáo dân Công giáo”

Một số giáo dân Công giáo gần đây tham gia công khai lên tiếng đấu tranh đối với những bất công mà nhà cầm quyền Hà Nội gây ra đối với người giáo dân Công giáo cũng như nhiều đồng báo khác. Họ bị an ninh, công an theo dõi thường xuyên. Ngay cả khi đến hành hương La Vang, một lần họ đã nêu lên ý nguyện của họ:

Thực tình vào đầu năm 2011 khi bế mạc Năm Thánh, chúng tôi có mặc những chiếc áo để có ý cầu nguyện cho những nơi bị bách hại như Thái Hà, Đồng Chiêm, Tam Tòa, Cồn Dầu, đặc biệt giáo xứ Loan Lý nơi chúng tôi ở; nhưng lực lượng an ninh đã sách nhiễu chúng tôi trong những ngày lễ đó. Từ đó mỗi lần chúng tôi đến với La Vang đều bị lực lượng an ninh đeo bám rất kỹ.

Dấu tích tử đạo bị xóa

Lịch sử cho thấy không chỉ dưới triều vua Cảnh Thịnh, Tây Sơn mà sang đến đời các vua nhà Nguyễn như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức việc bách hại đạo Công giáo La Mã tiếp tục được tiến hành.

Những người Công giáo kiên vững với niềm tin của họ không chịu bỏ đạo theo yêu cầu của triều đình đã chịu những khổ hình cho đến chết hay bị xử tử bởi không chịu bỏ đạo. Họ trở thành những vị tử đạo làm chứng cho niềm tin tại Việt Nam.

Vết tích của những nơi giam cầm và xử tử những người Công giáo như thế còn lại rất ít. Tuy nhiên, số ít ỏi đó cũng bị thời gian và ý đồ của nhà cầm quyền xóa đi.

Tại Huế, trước đây có một cây cầu nơi mà nhiều người Công giáo bị mang đến để xử chém vì không chịu bỏ đạo; mục đích nhằm đe dọa, làm gương cho dân chúng không được theo đạo Thiên Chúa. Tại đó trước đây có bảng nói lại điều đó nhưng gần đây nhà cầm quyền địa phương đã cho tháo dỡ như một giáo dân địa phương cho biết:

Ở Huế có một cầu gọi là Cầu Cổng Chém. Nơi đó tất cả những ai không bỏ đạo bị đưa ra đó chém. Những năm gần đây, Nhà Nước dở bảng đó ra không để Cầu Cổng Chém nữa.

Từ chỗ không được khuyến khích, nay các đại hội và kỳ hành hương La Vang được diễn ra theo định kỳ.Vào năm 2008, tỉnh Quảng Trị cấp lại cho La Vang 21 héc ta trong số 23 héc ta mà giáo xứ này sở hữu trước năm 1975, để phục vụ hoạt động tín ngưỡng- tôn giáo. Hội đồng Giám mục Việt Nam có quyết định xây lại khu vực linh địa La vang với những đề án lớn.

THÁNH CLARA ĐỒNG TRINH

THÁNH CLARA ĐỒNG TRINH

Thánh Clara sinh năm 1193 tại Assisi miền Umbria, thuộc dòng họ danh giá Offreducciô.  Người ta nói thánh nữ sinh ra với nụ cười trên môi và không bao giờ thấy Ngài khóc. Ngài dành nước mắt để tưới chân Chúa Giêsu chịu đóng đinh.  Khi nghe biết một thanh niên giàu có đã trở nên người nghèo thành Assisi, người thiếu nữ danh giá cảm kích trước mẫu gương của thánh nhân – thánh Phanxicô Assisi.  Trong khi gia đình nhắm cưới gả cho nàng, thì nàng chỉ nhắm đến cuộc sống sám hối khiêm hạ.  Sau khi nghe bài giảng của thánh nhân, Ngài đã đi tới quyết định dâng hiến đời mình cho Chúa.

Khi ấy thánh Clara 18 tuổi.  Vào ngày Lễ Lá, 18 tháng 3 năm 1212, thánh nữ ăn mặc sang trọng tới nhà thờ chính tòa dự lễ.  Theo thói quen, các bà tiến lên nhận lá từ tay Đức Giám mục.  Hôm ấy Clara quá xúc động, khiến chính Đức Giám mục phải rời ghế đưa lá đến cho Ngài.  Chiều về, Ngài đã cùng với một người bạn lén bỏ nhà theo lối cửa hậu rồi theo ánh đuốc tới gặp thánh Phanxicô tại Porsiuncula…  Giai thoại thật cảm động, một cô gái 18 sang trọng đã bỏ tất cả những gì là quen thuộc và an toàn để đi theo Đấng vô hình, còn Phaxicô 30 tuổi không có lấy một xu dính túi đã nhận lấy trách nhiệm về cả tinh thần lẫn vật chất đối với cô.  Giữa đêm xuân trong rừng cây và dưới ánh đuốc của đoàn anh em, Clara buông xõa mái tóc huyền trên bàn thờ cho Phanxicô cắt bỏ.  Hành động hoàn toàn ngoại lệ và không một chút quyền hạn theo giáo luật.  Phanxicô đã lãnh bản ly biệt của Clara đối với thế gian, rồi gởi cô vào một nữ tu viện Beneđictô gần đó.

Biến cố nổ lớn làm cả thành phố xúc động.  Thế gian kết án Clara.  Ông Monaldo, cậu của thánh nữ đến nhà dòng bắt thánh nữ về, nhưng Ngài ôm cứng chân bàn thờ quyết chọn Chúa mà thôi.  Phanxicô dẫn thánh nữ tới một nữ tu, tu viện Bênêdictô khác, cùng với em của mình là Anê.  Sau cùng Phanxicô thiết lập cộng đoàn cho Clara.  Một tu viện tại San Đamianô, nơi đây bà Ortolanta, mẹ của thánh nữ cũng nhập dòng.  Trong một thời gian cộng đoàn độc lập như những người hành khất đầu tiên. Phanxicô viết cho cộng đoàn một bản luật sống vắn gọn, đòi kỷ luật gắt gao và chay tịnh khắc khổ. Năm 1215 Phanxicô đặt Clara làm tu viện trưởng và có lẽ đã trao cho Ngài một bản luật dòng thánh Bênêđictô.

Vào những năm cuối đời thánh Phanxicô, mọi liên hệ với San Đamianô bị gián đoạn.  Câu chuyện hay về bữa ăn tối với Clara không được chính xác lắm.  Nhưng cơn đau cuối cùng Phanxicô đã được Clara cho trú ngụ trong một mái chòi bằng lá cây ở cổng tu viện Đamianô, nơi Phanxicô trước tác bài ca mặt trời.  Ngài ban phép lành cuối cho Clara rồi về Porsiuncula và qua đời tại đó.  Ngài cũng xin anh em đưa xác về Assisi qua ngả San Đamianô.  Thánh Clara và chị em tiếp rước và có dịp chiêm ngưỡng các vết thương ở tay và chân Ngài.

Clara thực hiện đúng lý tưởng của người nghèo thành Assisi.  Đức Innôcentê III đã đích thân ban phép cho Ngài được giữ đức nghèo khó tuyệt đối.  Nhưng Đức Grêgôriô IX nguyên là hồng y Ugôlinô đã muốn cải sửa luật cho phép nhà dòng có đất đai nhà cửa.  Clara cưỡng lại và năm 1228 đã được hưởng đặc ân như sở nguyện.  Ngài đã thưa với Đức Grêgôriô:

– Thưa Đức Cha, xin tha tội cho chúng con, nhưng đừng tha cho con khỏi theo Lời Chúa.

Năm 1247, một lần nữa Đức Innocentê IV kiểm soát lại luật thánh Phanxicô, muốn sống đời khó nghèo tuyệt đối.  Luật này được Đức Innocentê chấp thuận vội vã, hai ngày trước khi thánh nữ qua đời.  Năm 1893 người ta tìm thấy sắc chỉ nguyên thủy trong mộ thánh nữ.

Trong cơn bệnh của Ngài, Đức hồng y Rainalđô, tức là Đức Giáo hoàng Alexandrô sau này, đã đến trao mình Thánh Chúa và khuyên nhủ thánh nữ, thánh nữ trả lời:

– Từ khi nếm thử chén đắng và cuộc tử nạn của Chúa, con thấy không còn gì làm con đau đớn nữa.

Sau khi chúc lành cho các nữ tu đến thăm, Ngài nói với chính mình:

– Hãy an tâm, ngươi đã theo đúng đường, cứ tin tưởng vì Chúa tạo thành đã thánh hiến và không ngừng gìn giữ ngươi, đã yêu ngươi với tình mẹ thương con, ôi lạy Chúa xin chúc tụng Chúa vì đã dựng nên con.

Thánh nữ qua đời ngày 11 tháng 8 năm 1253 và năm 1255 được tôn phong hiển thánh.

Thánh nữ Clara đã vì Chúa mà bất chấp tất cả những khó khăn, những cản ngăn…để được toại nguyện với ơn gọi dâng hiến. Ước gì mỗi chúng ta cũng biết noi gương thánh nữ sống trọn vẹn cho tình yêu Chúa Kitô bằng việc mau mắn đáp lại lời mời gọi của Ngài.

Sưu tầm

From: ngocnga_12 & Anh chị Thụ Mai gởi

 

Nam Hàn phát hành tem và đồng xu đặc biệt cho chuyến viếng thăm của ĐTC Phanxicô

Nam Hàn phát hành tem và đồng xu đặc biệt cho chuyến viếng thăm của ĐTC Phanxicô

Chuacuuthe.com

VRNs (09.08.2014) -Sài Gòn-  Như chúng tôi đã đưa tin, Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ viếng thăm mục vụ Nam Hàn từ ngày 14 đến 18.08. Ngài sẽ tham dự Đại hội giới trẻ Châu Á và làm cử hành Thánh lễ Phong Chân Phước cho 124 Vị Tử Đạo Công Giáo Nam Hàn.

Hôm thứ 4 và thứ 5 vừa qua, Bưu chính và ngân hàng trung ương Nam Hàn đã phát hành 1,3 triệu con tem và một loạt các đồng xu mang tính kỷ niệm để chào mừng chuyến thăm sắp tới của ĐTC.

1

Tem được thiết kế dựa trên thông điệp mong muốn của ĐTC cho hòa bình và hòa giải trên bán đảo Nam Hàn. Gồm 2 mẫu thiết kế, một mẫu tem là hình chân dung của ĐTC, còn lại là hình ảnh Ngài với chú chim bồ câu trên tay. Những con tem này sẽ được bán tại các bưu điện trên toàn quốc từ thứ Sáu.

Hai thiết kế của các đồng xu đã được kết hợp biểu tượng hoà bình của Công Giáo và các biểu tượng truyền thống của Nam Hàn, ngân hàng này nói. 30.000 đồng xu bạc, với mệnh giá 50.000 won (48 USD), sẽ mang biểu tượng “taegeuk”, một biểu tượng chính của quốc kỳ Nam Hàn, với các thánh giá và một con chim bồ câu mang theo một nhành ôliu. Một thánh giá được tô điểm bằng các biểu tượng như bông huệ, nhành ôliu, bồ câu và bông hồng Sharon là quốc hoa của đất nước này, sẽ được khắc lên 60.000 đồng xu bằng đồng, với mệnh giá 10.000 won.

Pv. VRNs

XIN CHO CON ĐI TRÊN MẶT NƯỚC

XIN CHO CON ĐI TRÊN MẶT NƯỚC

Giữa lúc dân chúng định tôn Đức Giêsu làm Vua, sau khi đã được no nê bánh và cá, thì Ngài lại giải tán họ, và buộc các môn đệ phải chèo thuyền qua bờ bên kia. Yên lặng trở lại với nơi hoang vắng.

Chỉ còn một mình Đức Giêsu cầu nguyện.  Ngài chìm sâu trong gặp gỡ Cha, Đấng sai Ngài.  Nhưng Đức Giêsu không quên các môn đệ.  Ngài biết họ đang vật lộn với sóng gió, một mình.  Kinh nghiệm cam go này thật cần cho họ.

Mãi gần sáng, Ngài mới đi trên mặt nước mà đến.  Các môn đệ tưởng là ma, nên kêu la sợ hãi.  Đức Giêsu trấn an họ: “Hãy yên tâm, Thầy đây, đừng sợ.”

Tuy còn ngờ vực, Phêrô đã dám liều đề nghị: “Nếu quả là Thầy, thì xin cho con được đi trên mặt nước mà đến với Thầy.” Thật là một lời đề nghị làm ta kinh ngạc.

Phêrô có thể chỉ cần nói: Nếu quả là Thầy, thì xin cho sóng gió yên lặng.  Nói như thế dễ hơn nhiều, ít nguy hiểm hơn nhiều.  Nhưng Phêrô đã chấp nhận dấn thân nghiêm túc.

Nếu không phải là Thầy, thì thật là dại dột.

Nhưng nếu đúng là Thầy, thì ông tin mình cũng đi được trên mặt nước như Thầy.

Đức Giêsu chấp nhận đề nghị của Phêrô: “Cứ đến.”

Thế là Phêrô bước ra, đi trên mặt nước, đến với Đức Giêsu.

Thật không thể tưởng tượng nổi, mặt nước trở nên cứng như đá, hay con người có đức tin trở nên nhẹ bổng.

Phêrô đi được bao xa, ta không rõ, nhưng lòng ông thì cứ reo lên sau mỗi bước đi: “Đúng là Thầy rồi!”

Phải tin thì mới dám xin đi trên mặt nước, nhưng phải dám đi trên mặt nước, thì mới tin trọn vẹn.

Cần ngắm nhìn những bước chân của Phêrô, những bước chân của lòng tin mạnh mẽ.

Nhưng khi gió lồng lên dữ dội, nỗi sợ hãi ùa vào, lòng tin bị chao đi với sóng, lúc đó Phêrô thấy mình bị hút xuống lòng biển.  Ông chỉ kịp kêu lên: “Lạy Thầy, xin cứu con”. Bàn tay Chúa đưa ra nắm lấy ông và đưa ông về thuyền.

“Người kém tin, tại sao lại hoài nghi!”

Hoài nghi và sợ hãi đã làm Phêrô trở nên nặng nề, và nhận chìm ông xuống.

Chúng ta chỉ bắt đầu hiểu tin là gì khi phải chịu lênh đênh giữa sóng gió và đêm tối chỉ vì Chúa buộc phải ra đi, khi dám xin đi trên mặt nước dù Chúa chỉ là cái bóng trước mặt.

***********************************************

Lạy Chúa Giêsu,

Con chẳng dám xin đi trên mặt nước như Phêrô, nhưng nhiều khi con cảm thấy sống đức tin giữa lòng cuộc đời chẳng khác nào đi trên mặt nước.

Có bao thứ sóng gió đẩy đưa và lôi cuốn.

Có bao cám dỗ muốn hút con vô vực sâu.

Cả sự nặng nề của thân xác con cũng kéo ghì con xuống.

Đi trên mặt nước cuộc đời chẳng mấy dễ dàng.  Nhiều khi con thấy mình bàng hoàng sợ hãi.

Xin cứu con khi con hầu chìm.

Xin nắm lấy tay con khi con quỵ ngã.

Xin nâng đỡ niềm tin yếu ớt của con, để con trở nên nhẹ tênh mà bước những bước dài hướng về Chúa.  Amen.

Trích trong ‘Manna’

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

‘Trăm năm trồng người…’

‘Trăm năm trồng người…’
August 03, 2014

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Một bản tin ngắn, rất tầm thường ở Việt Nam, không chắc làm cho bạn quan tâm, đau lòng, đó là bản tin từ Hà Nội, cho biết nạn bẻ kính chiếu hậu xe hơi bắt đầu tràn lan. Chỉ với một chiếc Porsch Panamera giá $200,000 đã được quân gian chiếu cố, chỉ trong hai năm, đã bị bẻ kính bảy lần. Ngay một sinh viên trường Cao Ðẳng Văn Hóa-Thể Thao Hà Nội, Ðặng Huy Việt, trước đây cũng từng là thủ phạm loại ăn cắp vặt này. Theo tôi, trong cái thời buổi tệ mạt này, rõ ràng là chuyện “trăm năm trồng người” đã có kết quả hay hậu quả đau lòng.

Một trong những “danh ngôn” của Hồ Chí Minh được CSVN ca tụng nhất là câu: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người,” nhưng trẻ em “quàng khăn đỏ” ít đứa nào biết tới ông Quản Trọng bên Trung Quốc là tác giả chính hiệu danh ngôn này, đã bị “bác” bứng nguyên cây về trồng trong vườn nhà “bác.” Câu này lấy từ ý của Quản Trọng trong sách Quản Tử, nguyên văn là: Nhất niên chi kế, mạc như thụ cốc, thập niên chi kế, mạc như thụ mộc, chung thân chi kế, mạc như thụ nhân. (Kế sách cho một năm, lấy việc trồng lúa làm đầu; kế sách cho mười năm, lấy việc trồng cây làm đầu; kế sách cho trăm năm, lấy việc trồng người làm đầu).

Những gì “bác” đã gieo giống, chăm sóc, tưới nước bón phân, ngày nay rõ ràng là đã có kết quả. Sách Minh Tâm Bảo Giám, chương Kế Thiện, có câu: “Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. (Chủng qua đắc qua, chủng đậu đắc đậu). Không ai gieo hạt chanh chua mà lại hái được giống cam ngọt, nói đơn giản, gieo nhân nào thì gặt quả nấy!

Hạt giống độc địa ấy từ ngày được Hồ Chí Minh mang về gieo trong khu vườn nhà đã như là “loài cỏ dại, mọc trên hoang tàn của chiến tranh; là loài trùng độc, sinh sôi nảy nở trên rác rưới của cuộc đời” như câu nói của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, Tây Tạng, khi nhận xét về chủ nghĩa cộng sản. Sau ngày cộng sản chiếm miền Nam Việt Nam, nơi Bắc Việt gọi là vùng tạm chiếm, tệ nạn xã hội càng ngày càng gia tăng, làm băng hoại đạo đức xã hội, luân thường đạo lý, như những chuyện băng đảng nhóm xã hội đen, cướp của giết người, mại dâm, ma túy, cờ bạc, hiếp dâm trẻ em, loạn luân, lừa gạt, chiếm đoạt tài sản.

Lúc đầu, nói về tình hình trật tự xã hội, đề cập đến những điều xấu xa đầy rẫy này, đảng cộng sản tránh né trách nhiệm, đổ lỗi cho đó là hậu quả, tàn dư của chế độ cũ để lại, chỉ đích danh là Mỹ, Ngụy, nhưng rõ ràng là sau hơn 39 năm “làm chủ” đất nước, thực tế ngày nay không thể còn đổ lỗi cho ai.

Sau nữa là cả nước từ 60 năm nay, dưới sự cai trị của đảng, do chủ trương của đảng, là “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh!” Vậy thì những gì được ghi nhận hôm nay là thành quả chiếu sáng từ tấm gương ấy, đó là chân lý, mà chân lý này không bao giờ thay đổi. Không ai dám hỏi Hồ Chí Minh thực sự có đạo đức hay không, và cả đất nước mù quáng tin theo những gì đảng nhồi nhét từ những đứa trẻ, làm đông đặc đầu óc thanh niên, bắt người ta tin vào những chuyện không có thật.

Hậu quả là ngày nay cả nước nói dối như cuội.

Hậu quả là ngày nay cả nước ai cũng gian dối để sống.

Hậu quả là ngày nay, lý tưởng của cuộc sống là đồng tiền.

Ở xã hội ấy cái gì cũng mua được bằng tiền, cái gì cũng được đem bán, và người ta sẵn sàng bán đi những cái gì quý nhất.

Ở xã hội ấy, người ta không biết hổ thẹn vì nhân cách, nhưng cảm thấy hổ thẹn khi thua sút những người chung quanh vì cái nhà, cái xe, cái điện thoại, cái xách tay…

Ở xã hội ấy, ai cũng muốn bỏ đi, những ai còn ở lại là không đi được, hay đang còn kiếm được tiền để chuẩn bị đi hay lo cho những người đã đi.

Con người là vốn quý như ai đó đã từng nói, nhưng một mạng người không đáng giá bằng một con chó!
Con người là vốn quý, nhưng người ta coi rẻ sinh mạng của nhau, cầm dao giết nhau chỉ vì một cái nhìn, một chuyện tranh cãi hay để cướp đoạt tài sản của người khác.

Con người là vốn quý, nhưng công an, thế lực của chế độ, sẵn sàng đánh chết dân vì dân không chịu nhận tội mình không làm.

Xã hội chủ trương mình sống vì mọi người, nhưng người vá xe sẵn sàng rải đinh trên đường để cho tiệm mình đông khách, thêm lợi nhuận.

Xã hội chủ trương mình sống vì mọi người nhưng bọn phục vụ cho dân, ăn gian, làm dối, sống chết mặc bay.

Cộng sản đã từng ca tụng: “Chủ Nghĩa Xã Hội là đỉnh cao trí tuệ loài người!” Hà Nội là lương tri của nhân loại! Báo Quân Ðội Nhân Dân đã ca tụng “đỉnh cao của khí phách và trí tuệ Việt Nam,” nhưng ngày nay nhân dân Việt Nam đi đến đâu đều được mọi người có những cái nhìn thiếu thiện cảm. Nhật, Thái Lan, Nam Hàn, Singapore… kết án người Việt trộm cắp, ăn tham, xả rác, bán dâm… khiến hình ảnh Việt Nam đang dần trở nên xấu xa. Cả nhân viên nhà nước cũng buôn lậu, ăn cắp, hối lộ, vậy người Việt ra nước ngoài còn dám ngẩng mặt nhìn ai?

Ở trong nước dân Việt đã bày tỏ dân trí bằng cách ẩu đả, chửi bới nhau để chen lấn mua bánh Trung Thu ở Hà Nội, giành giật đạp lên nhau để giành được kiếm một miếng sushi miễn phí ở một cửa hàng mới khai trương, hỗn loạn trèo lên đầu nhau lên nhau để mua bằng được lá ấn trong lễ khai ấn đền Trần, hôi của khi có tai nạn qua đường như rơi tiền, đổ bia… Người ngoại quốc và các tòa đại sứ ở Việt Nam thì bắt đầu “sợ” dân Việt khi những cây anh đào được đem từ Nhật đến bị đám đông nhào đến vặt sạch, chính phủ Hòa Lan tổ chức phát 3,000 chiếc áo mưa cho dân chúng để tỏ tình hữu nghị thì đám đông ào ạt, hung dữ nhào lên sân khấu cướp từ tay các tình nguyện viên và nhân viên đại sứ quán.

Chính giới trí thức trong nước, như Giáo Sư Nguyễn Thanh Giang đã viết rằng, “Phải nói rằng kể từ khi đưa Chủ Nghĩa Mác vào Việt Nam thì con người Việt Nam bấy giờ còn tha hóa hơn con người Việt Nam hồi thời phong kiến. Và tư chất, đạo lý của con người Việt Nam bây giờ còn thua cái thời Pháp thuộc. Cho nên điều đó là do ảnh hưởng của chế độ chính trị và của tổ chức xã hội. Tổ chức xã hội mà chủ yếu đẩy con người vào tình trạng không cạnh tranh lành mạnh, không cạnh tranh dựa trên đạo lý, không dựa trên pháp luật, mà bằng phe nhóm, ỷ thế, ỷ quyền, ỷ vào giai cấp, ỷ vào thành phần lý lịch, ỷ vào con ông cháu cha. Hơn nữa, kể từ khi đưa cái Chủ Nghĩa Mác vào, lấy chuyên chính vô sản vào, thì người ta không tôn trọng pháp luật nữa. Cho nên người ta sẵn sang giẫm đạp lên pháp luật, lên đạo lý, từ đấy ảnh hưởng đến tâm tính của con người Việt Nam. Rồi đời sống không cần đạo lý, không cần pháp luật. Thì đó là cái tội của chế độ chính trị và tổ chức xã hội này.”

Ai đưa Chủ Nghĩa Mác vào Việt Nam, phải chăng là công ơn “bác Hồ,” cho nên hôm nay, chưa đến một trăm năm, mà việc trồng người của “bác” đã có kết quả “khả quan,” đưa đất nước vào chỗ lụn bại, tha hóa. Muốn gieo lại hạt giống tốt thì phải quét sạch, khai quang, đào xới lại cả khu vườn, thay đất mới, và phải mất trăm năm nữa, con người hôm nay mới trở lại được cái tử tế, văn hóa, chỉ mong được tương đối như người miền Nam trước 1975, hay nói xa hơn là cả cái thời Pháp thuộc.

Chúng ta phải thẳng thắn nhìn vào sự thật đau lòng, đừng mang ảo tưởng quê hương giàu đẹp, văn minh, trí tuệ, có ai đụng vào thì giãy lên như đỉa phải vôi, kêu la là chống phá tổ quốc, tay sai ngoại bang, thù nghịch với nhân dân.

Họp ASEAN căng thẳng vì tranh chấp Biển Ðông

Họp ASEAN căng thẳng vì tranh chấp Biển Ðông
August 08, 2014

Nguoi-viet.com


NAY PYI TAW (NV)
Cuộc họp cấp ngoại trưởng của ASEAN và các đối tác khu vực sẽ căng thẳng vì tranh chấp Biển Ðông, hậu quả của tham vọng bá quyền bành trướng của Bắc Kinh.

Tại thủ đô Nay Pyi Taw của Miến Ðiện, mười nước ASEAN họp riêng trong ngày 8 tháng 8, 2014, rồi sau đó họp chung với các đối tác gồm Úc, Trung Quốc, Ấn Ðộ, Nhật Bản, Nam Hàn, Nga, Hoa Kỳ và Liên Âu trong Diễn Ðàn khu vực Ðông Nam Á ( ASEAN Regional Forum) gọi tắt là ARF diễn ra hàng năm.



Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh (phải) của Việt Nam tại hội nghị bộ trưởng ngoại giao ASEAN ở Miến Ðiện hôm 8 tháng 8, 2014. (Hình: Getty Images)

Dự trù trong các cuộc họp này, Việt Nam, Philippines và Hoa Kỳ sẽ hô hào giảm đối đầu hay gây căng thẳng ở các khu vực tranh chấp trên Biển Ðông. Ðể đạt được mục đích, cần phải dừng ngay các hoạt động xây dựng từ xây cơ sở dinh thự, bến tàu, hay quy mô hơn, hút cát làm đảo nhân tạo mà Bắc Kinh đang làm.

Một bên là những nước tranh chấp như Việt Nam, Philippines, Malaysia với sự ủng hộ của các đối tác, đặc biệt là Hoa Kỳ, một bên là Trung Quốc với sự theo đuôi của Cambodia và một hai nước khác sợ mất lợi lộc kinh tế từ Bắc Kinh. Ðề tài được chú trọng đặc biệt ở kỳ họp này là thúc đẩy giảm căng thảng Biển Ðông, vì thế, sẽ trở thành đề tài nóng giữa những quan điểm đối chọi, theo giới phân tích thời sự quốc tế.

Những hành động ngang ngược gần đây của Bắc Kinh như mang giàn khoan khổng lồ tới vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam gần Hoàng Sa, hút cát xây dựng đảo nhân tạo ở Trường Sa, và mới một ngày trước, báo chí Bắc Kinh loan tin nước này sắp xây dựng hải đăng tại 5 đảo và bãi đá ngầm ở quần đảo Hoàng Sa.

“Hoa Kỳ đang vận động các nước tham dự ARF tuân thủ luật lệ quốc tế để giữ cho tình hình ở Biển Ðông được yên bình.” Ông Carl Thayer, chuyên viên về Việt Nam và Á Châu của Học Viện Quốc Phòng Hoàng Gia Úc đưa nhận xét với thông tấn AFP. “Họ ủng hộ việc dừng lại các hoạt động khiêu khích.”

Tuy nhiên, theo ông Bắc Kinh nhiều phần sẽ giữ lập trường cứng rắn, chống lại sự can dự của Hoa Kỳ.

Phụ tá ngoại trưởng Hoa Kỳ Daniel Russel nói với báo chí ở Hoa Thịnh Ðốn hôm Thứ Năm trước khi Ngoại Trưởng John Kerry tới thủ đô Miến Ðiện rằng trong khi chính sách đối với khu vực Ðông Á của Hoa Kỳ là “không đối địch hay kềm chế Trung Quốc,” các cuộc thảo luận sẽ thẳng thắn nhằm giảm căng thẳng.

Giới phân tích thời sự tin rằng Trung Quốc sẽ bác bỏ các lời kêu gọi dừng các hoạt động xây dựng trên Biển Ðông và cũng chống chế rằng các hoạt động đó không phải là khiêu khích. Bắc Kinh vẫn lập luận là họ có “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với gần hết khu vực Biển Ðông dù họ chỉ năm ở hướng bắc, bao gồm tất cả các bãi đá ngầm, nhóm đảo nhỏ gần với các nước khác hơn.

Mối quan hệ gihữa hai nước cộng sản láng giềng Việt Nam và Trung Quốc chùng xuống hẳn sau nhiều năm khăng khít vì Bắc Kinh đưa giàn khoan khổng lồ HD981 tới vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam mò tìm dầu khí, phía Nam quần đảo Hoàng Sa. Hành động ngang ngược của Bắc Kinh đã tạo ra cuộc đối đầu ngày đêm từ đầu tháng 5 đến giữa tháng 7 vừa qua giữa hai nước.

Rất nhiều chuyên gia quốc tế cũng như không ít người ở Việt Nam tin rằng việc Bắc Kinh rút giàn khoan HD981 không phải là mọi chuyện trở lại bình thường mà chỉ là rút lui chiến thuật của Trung Quốc trước phản ứng bất lợi của dự luận quốc tế và phản ứng của Việt Nam.

Philippines đã kiện Trung Quốc ra tòa án trọng tài quốc tế và chế độ Hà Nội cũng đã bắn tiếng chuẩn bị tài liệu để kiện nhưng đến nay, người ta vẫn không thấy gì xảy ra từ phía Việt Nam.

Cuối tháng trước, hơn 60 đảng viên đảng CSVN, phần lớn đều là những người có nhiều tuổi đảng và từng nắm nhiều chức vụ quan trọng ký tên chung trong một bức thư kêu gọi nhà nước kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế nhưng không thấy nhà cầm quyền ra một tín hiệu gì. (TN)