CÁC CON HÃY THƯƠNG YÊU NHAU NHƯ THẦY ĐÃ YÊU THƯƠNG CÁC CON!

CÁC CON HÃY THƯƠNG YÊU NHAU NHƯ THẦY ĐÃ YÊU THƯƠNG CÁC CON!

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Martine và Jean Cauchon là đôi vợ chồng người Canada. Họ thật hạnh phúc và yêu nhau đằm thắm. Họ hăng say dấn thân điều động các buổi tĩnh tâm dành cho các đôi vợ chồng tại ”Nhà GIÊSU Thợ – Maison Jésus-Ouvrier” ở thành phố Québec, nước Canada.

Tuy nhiên, để đạt được tháng ngày hạnh phúc, đôi vợ chồng đã trải qua khó khăn, bất bình, đổ vỡ rồi ly thân. Cuộc sống lứa đôi và gia đình tưởng như bị tan vỡ từ đó, sau 12 năm chung sống không hạnh phúc tràn đầy thử thách và đắng cay. Đó cũng là thời kỳ ông bà sống ngoài vòng tôn giáo, nghĩa là hai vợ chồng đều không sống đạo chút nào hết.

Phải đợi biến cố đứa con gái đầu lòng đến tuổi Xưng Tội Rước Lễ lần đầu. Cuộc sống ly thân của Ba Má làm đau khổ những đứa con vô tội. Nay dịp may xảy đến, mời gọi cả hai vợ chồng hòa giải và trở về chung sống bên nhau.

Ông Jean Cauchon. Đứa con gái chúng tôi ước muốn cả Ba lẫn Má giúp bé dọn mình xưng tội và rước lễ lần đầu. Chúng tôi bị đặt trong tình thế chẳng-đặng-đừng. Dầu muốn dầu không, chúng tôi phải cùng nhau giúp con vì lòng thương con. Ngày đó chúng tôi đâu ngờ rằng biến cố rước lễ lần đầu xem ra tầm thường ấy lại là biến cố đổi đời đối với hai vợ chồng chúng tôi

và mang lại kết quả tốt đẹp không lường trước được! Để giúp con chuẩn bị, chúng tôi trở về với việc đọc kinh cầu nguyện. Giờ đây chúng tôi cảm động ghi nhận rằng:
– THIÊN CHÚA nhân từ dùng các trẻ bé thơ để biểu lộ sự hiện diện và Tình Yêu của Ngài!

Sau khi giao hòa và đoàn tụ gia đình trở lại, Martine và Jean Cauchon cùng nhau vai kề vai tiến bước.

Bà Martine tâm sự. Cuộc sống vợ chồng chúng tôi cũng giống bao cặp vợ chồng khác. Chúng tôi luôn tìm kiếm và khao khát hạnh phúc. Khó khăn vẫn luôn hiện diện trong cuộc sống lứa đôi. Chỉ có điều khác với trước kia, ngày nay chúng tôi biết nhẫn nhục dành thời giờ để giải bày cho nhau rõ những hiểu lầm hoặc những bất đồng ý kiến. Và điều quan trọng là chúng tôi không bao giờ nghi ngờ tình yêu đối với nhau. Trước kia chúng tôi chỉ thấy cuộc sống vợ chồng toàn màu đen. Ngày nay chúng tôi biết cùng nhau tận hưởng niềm vui và chia sẻ nỗi khổ.

Ông Jean. Tình yêu vợ chồng là một bảo đảm cho những ngày về già. Chúng tôi cảm thấy được nâng đỡ và ủi an. Tuổi càng cao, tình yêu càng biến đổi, nghĩa là càng sâu đậm và chín mùi hơn. Nhất là khi nhìn những cặp vợ chồng cao niên âu yếm thương yêu nhau, khuyến khích chúng tôi cùng nhau can đảm tiến bước trong an bình và trìu mến.

Tuy nhiên, để đạt được cuộc sống lứa đôi quân bình và hạnh phúc, cả hai ông bà Martine và Jean Cauchon đều đặc biệt chú ý đến khía cạnh siêu nhiên của cuộc đời. Chẳng hạn, mỗi tối trước khi ngủ, mỗi người giơ tay vạch hình Thánh Giá trên trán bạn đời và nói: ”THIÊN CHÚA dùng em để yêu anh” hoặc ”THIÊN CHÚA dùng anh để yêu em”. Còn gì hạnh phúc hơn, nhất là cảm thấy được tha thứ, trước khi bước vào giấc ngủ bình an sau một ngày lao nhọc.

Bà Martine tâm sự. Cầu nguyện và tha thứ là hai điều kiện quan trọng giúp cuộc sống vợ chồng thành công và hạnh phúc. Chính nhờ ơn thánh Chúa, qua bí tích hôn phối, vợ chồng chúng tôi may mắn giải hòa và trở lại sau 12 năm chung sống và đưa đến đổ vỡ. Ngày nay chúng tôi thâm tín THIÊN CHÚA không bao giờ phân rẽ điều gì Ngài đã kết hợp.

Ông Jean Cauchon không ngần ngại đi xa hơn khi quả quyết:
– Sỡ dĩ chúng tôi đạt đến hạnh phúc trong cuộc sống vợ chồng là vì hôn nhân chúng tôi không phải 2 mà là 3: Đức Chúa GIÊSU KITÔ, hiền thê tôi và tôi.

… ”Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy. Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết” (Gioan 15,12-15).

(”Je Crois”, 5/1994, trang 28-30)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

WHO: ‘Số vụ quyên sinh phái Nam cao gấp 3 lần phái nữ ở VN’

WHO: ‘Số vụ quyên sinh phái Nam cao gấp 3 lần phái nữ ở VN’

Tổng giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới Margaret Chan nói rằng phúc trình này là một lời kêu gọi phải hành động để giải quyết một vấn đề y tế công quan trọng

Tổng giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới Margaret Chan nói rằng phúc trình này là một lời kêu gọi phải hành động để giải quyết một vấn đề y tế công quan trọng

05.09.2014

Tổ chức Y tế Thế giới, WHO, vừa công bố một phúc trình đầu tiên của tổ chức này về nạn tự tử và cách thức phòng chống, nói rằng hơn 800,000 người đã chết vì tự tử mỗi năm, nói cách khác là cứ 40 giây lại có một người tự tử trên thế giới.

Phúc trình của Tổ chức Y tế Thế giới còn cho hay là khoảng 75% các vụ quyên sinh xảy ra tại các nước có thu nhập thấp và trung bình.

Báo Thanh niên hôm nay cũng trích dẫn phúc trình của Tổ chức Y tế Thế giới nói rằng con số đàn ông Việt Nam tự tử cao gấp 3 lần phụ nữ. Tờ báo nói rằng nói chung, các vụ quyên sinh tại Việt Nam đã giảm hơn 12% trong giai đoạn từ năm 2000 tới năm 2012.

Con số phụ nữ Việt Nam tự tử giảm 20% trong cùng kỳ. Theo báo Thanh niên, nguyên nhân chính dẫn đến quyết định tự tử là do các vụ xung đột trong gia đình, cũng như những khó khăn trong cuộc sống, nghề nghiệp và tình yêu.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tỷ lệ đàn ông chết vì tự tử nhiều hơn phụ nữ gấp 3 lần cũng xảy ra tại các nước giàu có. Thành phần đặc biệt có nguy cơ quyên sinh cao là đàn ông từ 50 tuổi trở lên.

Trên thế giới, khu vực nơi xảy ra nhiều vụ quyên sinh nhất là Đông Nam Á, trong khi Ấn Độ là nơi có số tự tử cao nhất trong năm 2012.

Tổng giám đốc của Tổ chức Y tế Thế giới Margaret Chan được trích lời nói rằng “Phúc trình này là một lời kêu gọi phải hành động để giải quyết một vấn đề y tế công quan trọng vốn từ lâu đã bị coi là một đề tài cấm kỵ.”

Phúc trình này được Tổ chức Y tế Thế giới công bố trước Ngày Phòng Chống Tự Tử Thế giới, rơi vào ngày 10 tháng 9 hàng năm.

Nguồn: WHO, Thanh Nien, AFP

Định chế Lạt Ma hóa thân ‘‘đã hết thời’’

Định chế Lạt Ma hóa thân ‘‘đã hết thời’’

Đức Đạt Lai Lạt Ma, lãnh đạo tinh thần Tây Tạng.

Đức Đạt Lai Lạt Ma, lãnh đạo tinh thần Tây Tạng.

Reuters

Trọng Thành

Trả lời báo Đức, ngày 07/09/2014, lãnh đạo tinh thần Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, tuyên bố ông muốn là nhà lãnh đạo tâm linh cuối cùng của định chế Lạt Ma hóa thân. Việc từ bỏ định chế Lạt Ma hóa thân có thể là một giải pháp cho phép Tây Tạng gia tăng dân chủ hóa và thoát khỏi ảnh hưởng của Bắc Kinh.

Nói chuyện với báo Đức « Welt am Sonntag », ấn bản Chủ nhật của nhật báo « Die Welt », Đức Đạt Lai Lạt Ma nói : « Định chế Đạt Lai Lạt Ma tồn tại đã gần 5 thế kỷ. Truyền thống này có thể chấm dứt với vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 rất được yêu mến ». Theo lời thuật của tờ báo, với nụ cười, lãnh tụ Tây Tạng 79 tuổi giải thích : « Giả như vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 15 xuất hiện và gây ảnh hưởng xấu trên cương vị này, thì toàn bộ định chế Đạt Lai Lạt Ma sẽ bị khinh rẻ ».

Giải Nobel Hòa bình hiện đang sống lưu vong nhấn mạnh : « Định chế Đạt Lai Lạt Ma quan trọng chủ yếu vì (nắm được) quyền lực chính trị. Trong khi đó, tôi đã hoàn toàn từ bỏ quyền lực vào năm 2011, lúc tôi quyết định về nghỉ ». Ông khẳng định rõ : « Định chế Đạt Lai Lạt Ma đã hết thời ».

Theo nhiều nhà quan sát, ngay từ những năm 1990, Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 Tenzin Gyatso đã có những bước chuẩn bị để « dân chủ hóa » triệt để định chế chính trị-tâm linh của chính quyền Tây Tạng lưu vong, đặc biệt với việc để cho cộng đồng bầu ra nhà lãnh đạo chính trị, tách sinh hoạt tôn giáo khỏi hoạt động chính trị. Tháng 3/2011, Đức Đạt Lai Lạt Ma 14 chính thức từ bỏ cương vị lãnh đạo chính trị.

Định chế tiếp nối quyền lực chính trị và tôn giáo tại Tây Tạng thông qua sự hóa thân của Đạt Lai Lạt Ma qua các thế hệ bắt đầu vào khoảng thế kỷ XVII, khi Tây Tạng còn phụ thuộc vào đế chế Mông Cổ. Đứng đầu định chế này là Đạt Lai Lạt Ma, người nắm cả quyền hành thế tục lẫn uy quyền tâm linh. Tuy nhiên, một nhân vật quan trọng có vai trò quyết định trong quá trình này là Ban Thiền Lạt Ma. Đây chính là người lãnh đạo cuộc tìm kiếm một « hóa thân » mới của Đạt Lai Lạt Ma, sau khi « hóa thân » trước qua đời.

Năm 1995, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 đã chỉ định một cậu bé 6 tuổi làm hóa thân thứ 11 của Ban Thiền Lạt Ma, nhằm chuẩn bị trước cho việc tìm người kế vị. Tuy nhiên, chỉ ba ngày sau, chính quyền Trung Quốc đã bắt cóc người được chỉ định. Cũng cùng năm đó, Bắc Kinh chọn một cậu bé khác (cùng tuổi và cùng làng với cậu bé kể trên) làm Ban Thiền Lạt Ma tương lai. Theo chính quyền Trung Quốc, ông Gyancain Norbu được coi là Ban Thiền Lạt Ma « chính thức » thứ 11 của Tây Tạng. Tuy nhiên, Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng không thừa nhận người này.

Tháng 07/2011, trả lời phỏng vấn của kênh truyền thông NBC Hoa Kỳ, Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, đã tuyên bố sẽ đích thân chủ trì việc lựa chọn người kế nhiệm. Tiếp đó, trong chuyến công du Úc hồi tháng 6/2013, Đức Đạt Lai Lạt Ma tuyên bố không loại trừ khả năng một vị nữ tu kế vị.

Tuyên bố hôm qua của nhà lãnh đạo tinh thần Tây Tạng càng khẳng định thêm ông muốn từ bỏ hẳn một truyền thống xa xưa của dân tộc mình, để mở cửa cho quá trình dân chủ hóa và cũng là cách để thoát hoàn toàn khỏi ảnh hưởng của Bắc Kinh, muốn tiếp tục dùng truyền thống « lạt ma hóa thân » chi phối người Tây Tạng.

Chấm dứt truyền thống Lạt Ma hóa thân không có nghĩa là chấm dứt các truyền thông tâm linh Tây Tạng nói chung. Năm 2012, báo chí từng đăng tải phát biểu của Đức Đạt Lai Lạt Ma, theo đó, nhiều sư tăng trẻ tuổi có thể trở thành các lãnh đạo tâm linh của Phật giáo Tây Tạng.

Đối mặt với sự thay đổi Việt Nam cần làm gì

Đối mặt với sự thay đổi Việt Nam cần làm gì

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2014-09-08

09082014-vn-facing-change.mp3

Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain (giữa) và Thượng nghị sĩ Sheldon Whitehouse (trái) cùng với Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Sinh Hùng trong một cuộc họp tại Hà Nội vào ngày 08 Tháng Tám, 2014.

Giàn khoan HD của Trung Quốc và các tàu bảo vệ trong vùng biển Việt Nam, ảnh chụp tháng 7 năm 2014.

AFP

Trung Quốc từ những năm qua tiến hành các biện pháp gây hấn nhằm có thể chiếm cứ các vùng biển quanh Hoa Lục. Điều đó khiến cục diện thế giới biến chuyển do phản ứng không chỉ của các quốc gia liên quan mà cả các nước khác.

Trước biến chuyển bất lợi đối với Việt Nam là quốc gia bị Bắc Kinh o ép nhiều nhất, Hà Nội hiện phải vượt qua những gì để có thể giữ vững được độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

Chính sách ngoại giao của Việt Nam

Việt Nam là quốc gia bị tác động trực tiếp bởi những hành động của Trung Quốc tại Biển Đông nhất là trong thời gian gần đây. Sau khi đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào, Trung Quốc cho tàu va đâm tàu kiểm ngư của Việt Nam, và đâm chìm tàu cá của ngư dân Việt Nam. Sau đó tiếp tục bắt bớ, tấn công các tàu cá của ngư dân Việt tại khu vực Hoàng Sa và cả tại Vịnh Bắc Bộ.

Hà Nội lên tiếng phản đối nhưng không có hành động cụ thể nào để có thể bảo vệ ngư dân Việt Nam cũng như buộc Trung Quốc phải tôn trọng chủ quyền lãnh hải của Việt Nam.

Hồi ngày 12 tháng 8 vừa qua, thủ tướng Việt Nam và Bộ Ngoại giao Hà Nội tổ chức hội nghị đối ngoại đa phương lần đầu tiên để tổng kết chính sách ngoại giao trong thời gian qua và đề ra phương hướng cho thời gian tới.

” Muốn ‘đung đưa, cân bằng’ mối quan hệ giữa Việt Nam- Trung Quốc và Mỹ. Nếu không thay đổi mà vẫn thụ động chính sách này thì làm sao bảo vệ được mình. Bởi vì chính sách ‘đong đưa’ này đưa đất nước ta vào một cuộc khủng hoảng kép: vừa thất bại về kinh tế, vừa bị TQ đe dọa về chủ quyền

Ông Đặng Xương Hùng”

Ông Đặng Xương Hùng, một viên chức ngoại giao Hà Nội tại Thụy Sỹ công khai từ bỏ đảng Cộng sản và xin tỵ nạn tại đó, nói đến đường lối ngoại giao của Hà Nội như sau:

Có mâu thuẫn trong việc tiếp tục hành trình đối tác chiến lược và đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ của mình. Đối với Trung Quốc luôn úp mở, thì Việt Nam luôn giữ chính sách 3 không ‘không tham gia liên minh quân sự với nước nào, không cho nước nào đặt căn cứ quân sự, và không dựa vào nước này để chống nước kia’. Cái 3 không này thì nhằm vào hai nước quan trọng nhất trong mối quan hệ của mình đối với bên ngoài là Trung Quốc và Hoa Kỳ. Tức là cũng muốn ‘đung đưa, cân bằng’ mối quan hệ giữa Việt Nam- Trung Quốc và Mỹ. Nếu không thay đổi mà vẫn thụ động chính sách này thì làm sao bảo vệ được mình. Bởi vì chính sách ‘đong đưa’ này đưa đất nước ta vào một cuộc khủng hoảng kép: vừa thất bại về kinh tế, vừa bị Trung Quốc đe dọa về chủ quyền.

Quan hệ với Hoa Kỳ

Đến nay Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 10 quốc gia, trong đó Trung Quốc là đối tác chiến lược toàn diện lại là quốc gia đang xâm phạm chủ quyền biển của Việt Nam.

Trong thời gian qua, Hà Nội có những động thái được cho là xích lại gần với Washington. Thực tế cho thấy trong tình thế hiện nay chỉ có Hoa Kỳ lên tiếng và có thể giúp Việt Nam đối phó với những hành động phi pháp của Trung Quốc tại Biển Đông mà thôi.

 

Giàn khoan HD của Trung Quốc và các tàu bảo vệ trong vùng biển Việt Nam, ảnh chụp tháng 7 năm 2014.

Bàn về mối quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, ông Đặng Xương Hùng phát biểu:

” Thông điệp của ông John McCain là muốn Việt Nam và Mỹ trong thời gian tới có những bước nhảy vọt trong quan hệ giữa hai nước. Điều đó chứng tỏ mối quan tâm của Hoa Kỳ với tình hình khu vực, nhất là khi phải đối phó với sự trỗi dậy hung hăng của Trung Quốc

Ông Đặng Xương Hùng”

Sau chuyến đi (Mỹ) của ông Nghị, ông John McCain sang Hà Nội ngay. Điều này chứng tỏ Hà Nội và Washington cấp thiết rất cần nhau. Trong thông cáo báo chí của chuyến đi, ông John McCain cũng nói Hoa Kỳ và Việt Nam có một chương trình nghị sự đầy tham vọng trong thời gian tới, đặc biệt trong bối cảnh có những sự kiện xảy ra gần đây ở Biển Đông. Việc ông ấy đưa ra hết những cam kết của Mỹ với tất cả những nội dung mà Việt Nam đang quan tâm, ví dụ Hiệp ước Đối tác Thái Bình Dương tiêu chuẩn cao, công nhận nền kinh tế thị trường, tăng cường hợp tác quân sự, nâng cao khả năng theo dõi lịnh vực hàng hải và bảo vệ chủ quyền, nới lỏng lệnh cấm vận bán vũ khí sát thương. Tuy nhiên trong kỳ này ông cũng rất khôn khéo không làm lo ngại phía Trung Quốc, đó là cam kết chỉ giúp Việt Nam trong phạm vi phòng thủ thôi.

Thông điệp của ông John McCain là muốn Việt Nam và Mỹ trong thời gian tới có những bước nhảy vọt trong quan hệ giữa hai nước. Điều đó chứng tỏ mối quan tâm của Hoa Kỳ với tình hình khu vực, nhất là khi phải đối phó với sự trỗi dậy hung hăng của Trung Quốc.

Thông điệp rõ ràng như vậy.

Ông này cũng chỉ ra những thách thức mà Hà Nội cần phải vượt qua:

Theo tôi thách thức thứ nhất đối với Việt Nam là vẫn lo ngại sự cân bằng giữa Mỹ với Trung Quốc. Theo tôi dưới con mắt của những nhà lãnh đạo Mỹ thì mối quan hệ với Trung Quốc quan trọng hơn nhiều với Việt Nam; và ngược lại phía Trung Quốc cũng suy nghĩ như vậy. Đã nhiều lần chúng ta đã là những con tốt trên bàn cờ quốc tế rồi. Chúng ta phải trả giá rất nhiều từ khi đất nước chia cắt bởi Hiệp định Geneve, rồi Thông cáo Thượng Hải 72 là sự mặc cả giữa Mỹ và Trung Quốc, và nhiều sự kiện khác để chúng ta thấy đất nước mình bị thí trên bàn cờ vì lợi ích quan hệ của họ, vì lợi ích quan hệ của các nước lớn khác. Điều này cần có sự khôn ngoan. Nhất là trong tình hình hiện nay cần phải tăng cường mối quan hệ với Mỹ trên tinh thần xây dựng mối quan hệ lòng tin để làm sao nước Mỹ có thể với tinh thần nhân bản, tinh thần là người dẫn dắt trật tự thế giới, họ sẽ dành cho Việt Nam một sự hợp tác rất hiệu quả và dần dần sức mạnh của đất nước mạnh lên, và lúc đó việc nói chuyện với Trung Quốc không còn là vấn đề của riêng mình nữa mà có thể lúc đó người Mỹ cũng phải bảo vệ mối quan hệ Mỹ- Việt như bảo vệ lợi ích của chính quốc gia mình.

Thách thức thứ hai là những cam kết và sự lệ thuộc của Việt Nam vào Trung Quốc đã quá sâu. Các thỏa thuận cả công khai lẫn bí mật với Trung Quốc đã quá sâu, để cho giới lãnh đạo hiện nay cân nhắc thoát ra khỏi là rất khó khăn. Tôi nghĩ với họ, thách thức này là lớn nhất. Bởi vì họ mất rất nhiều: quyền lợi cá nhân, gia đình, phe nhóm, chỉ có lợi cho dân tộc, cho nhân dân thôi. Tuy nhiên nếu thoát được điều này thì các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng giải thoát được cho bản thân họ và lịch sử sẽ tha thứ.

Thách thức thứ ba là thách thức ý thức hệ vì chỉ có dựa vào ý thức hệ Trung Quốc mới có thể thao túng Việt Nam một cách dễ dàng như vậy.

Thách thức thứ tư là sự phân hóa, chia rẽ trong nội bộ lãnh đạo đảng.

Ông Đặng Xương Hùng cũng nêu rõ yêu cầu về một lãnh tụ đủ sức lèo lái đất nước trong thời điểm này.

Một số đảng viên trong đảng Cộng sản, cũng như trí thức trong và ngoài nước đều lên tiếng kêu gọi lãnh đạo Hà Nội hiện nay phải kiện Trung Quốc ra trước tòa án quốc tế về những xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông. Đồng thời phải từ bỏ ý thức hệ cộng sản, đổi mới theo hướng dân chủ, tự do nhằm cứu đất nước khỏi tình trạng trì trệ, lạc hậu lâu nay và sự kiềm tỏa của Trung Quốc. Tuy nhiên dường như đến nay những lời khuyên chân thành đó vẫn chưa được lắng nghe.

Rơi Lệ Ngày Quốc Khánh

Rơi Lệ Ngày Quốc Khánh

Alan Phan

2 Sep 2014

“Không ai có thể chạy trốn khỏi những hệ quả từ lựa chọn của mình – Nobody ever did, or ever will, escape the consequences of his choices – Alfred Montapert “

Tôi quay về lại Saigon vào ngày đại lễ 2/9 của Việt Nam. Mặc cho những lố nhố của đám đông, tôi vẫn tìm ra một nơi yên tĩnh để đọc emails, lướt Net đọc tin, và đọc xong chương cuối của cuốn tiểu thuyết về Brasil thời hiện đại. Một người bạn gởi 1 bài viết của tác giả Nguyễn Hoa Lư về “ngậm ngùi rơi lệ” đăng trên báo Tuổi Trẻ (tiếc là đã bị rút xuống). Tôi gần làm rớt chiếc IPad khi đọc đến đoạn này,

“Một quan chức cao cấp của Ban Tuyên giáo T.Ư, ông Vũ Ngọc Hoàng, đã có một phát biểu gây ấn tượng mạnh [1] :“Cách đây bốn, năm mươi năm, VN và Hàn Quốc có trình độ phát triển tương đương. Sau mấy mươi năm, tôi rà lại tư liệu thì thấy Hàn Quốc hiện có khoảng 90.000 người sống tại VN và VN cũng có 90.000 người sống ở Hàn Quốc. Chỉ khác nhau ở chỗ hầu hết người Hàn Quốc tại VN làm ông chủ, làm quản lý, còn người VN ở Hàn Quốc thì chủ yếu làm ôsin. Nghe mà xót lòng”.

Đây là lần đầu tiên tôi nghe một quan chức Việt không nổ về những thành tựu vĩ đại qua những con số vĩ đại thực hiện bởi những con người vĩ đại…nói nôm na là tại sao mỗi ngày chúng ta phải tự hào …vì cả nhân loại đều phải công nhận là người Việt hạnh phúc nhất thế giới. Ngay cả trong chiến tranh, cái loa tuyên giáo đã rỉ rả cả chục năm về hiện tượng một ông Mỹ nào đó (tượng trưng cho đa số người Mỹ) vừa ngủ dậy là …mơ ước được làm người Việt Nam.

Đây là lần đầu tiên một quan chức Việt…rơi lệ. Sau 1 chục năm lui tới nơi đây thường xuyên, sau gần 40 năm “chờ sáng”, sau khi đọc về lịch sử Việt cận đại qua 70 năm…tôi cũng ..rơi lệ theo ông.

Thực ra, chuyện làm ô sin của người Việt không chỉ giới hạn ở Hàn Quốc. Nếu ông quan chức tính sổ toàn diện con số người Việt đang được xuất khẩu lao động (kể cả tại nhiều nước nghèo tệ hại ở châu Phi) hay số người bán thân làm vợ cho các ông nông dân Đài Loan, Trung Quốc… hay số người Việt vượt biên trái phép qua các tổ chức xã hội đen tại Nga, Đông Âu…cái “xót lòng” của ông chắc còn lớn lao hơn nhiều. Theo Mác Lê, chúng ta có thể biện bạch là mục đích sau cùng của những công nhân này là “tìm đường cứu nước” hay “xuất khẩu cách mạng” như chiến lược do Đệ Tam Quốc Tế đề xuất từ thời 1940’s. Nhưng liệu các đồng chí của chúng ta ở những quốc gia này có tin hay họ chỉ cười rũ rượi?

Tôi còn nhớ vào khoảng 1997, tôi đại diện cho một tập đoàn đa quốc thực hiện một phi vụ khá lớn với cơ quan truyền thông trung ương của Trung Quốc. Tất cả các sếp lớn nhỏ của Bộ đều đồng thuận và chỉ chờ chữ ký của ông Trưởng Cơ Quan. Ông này viện dẫn đủ lý do để hoãn binh; nhưng rồi cũng ký sau khi cho tôi chờ hơn 9 tháng.

Vài tháng sau, khi đã làm việc và quen nhau hơn, tôi tò mò hỏi ông về lý do chần chừ? Ông nói,” Trong tất cà các dân tộc trên thế giới, tôi ghét nhất là người Việt Nam. Khi họ báo cáo về gốc Việt Nam của anh, tôi đã cố gắng giết dự án bằng đủ cách”. “Nhưng ông đổi ý?” “ Gặp anh nhiều lần sau đó, tôi thấy anh là một thằng Mỹ con toàn diện, nên tôi OK”. Tôi biện bạch,” Luôn luôn có người Mỹ tốt và xấu, người Trung tốt và xấu, người Việt tốt và xấu chứ?”

“Các dân tộc khác thì đúng vậy. Nhưng người Việt là một bầy chuột. Một con chuột tốt là một con chuột chết.” Tôi im lặng chuyển đề tài. Và suy nghĩ về những lần qua Việt Nam chơi trước đó. Phần lớn các quan chức, đại gia, COCC…đang nhìn Trung Quốc với cặp mắt khâm phục, ngưỡng mộ và thèm thuồng. Mao Chủ Tịch là một thánh nhân Trời cho xuống để ban phước lộc cho nhân loại và Đặng Tiểu Bình là thần tượng của 99% người Việt. Cho đến ngày hôm nay, tôi nghĩ rằng 95% đảng viên vẫn thề trung thành với 16 cái tốt vàng gì đó về ông láng giềng.

Albert Camus nói, “ Life is a sum of all your choices”. Có lẽ vì chúng ta luôn luôn xứng đáng với lựa chọn của mình.

Tôi không biết ông Vũ Ngọc Hoàng giữ chức vụ gì trong Ban Tuyên Giáo? Tôi cũng không biết các lãnh đạo cao cấp của Việt Nam suy nghĩ thế nào về lời nói của ông? Tuy nhiên, nhận xét này của ông cũng cho tôi và các bạn BCA một tia hy vọng nhỏ nhoi. Rằng nếu một người biết thì mười người sẽ biết. Dần dà, cả triệu người sẽ biết. Sau một giác ngủ dài, lúc nào cũng sảng khoái khi vừa thức giấc.

Tuy nhiên, tôi cũng biết rõ gần như là một nguyên lý ở Việt Nam: ở đây, thất vọng nhiều gấp triệu lần hy vọng.

Alan Phan

Thói quen liên tưởng

Thói quen liên tưởng
August 31, 2014

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Nghĩ lại, giờ này tôi có thể hiểu vì sao, những anh chàng cán bộ cộng sản thuở chống Mỹ cứu nước, ngàn năm mới có dịp được đề cử ra ngoại quốc, đi tham quan, du học, du khảo, luôn luôn cố gắng khi trở về nước, ngoài chuyện phải viết một báo cáo về việc “thu hoạch” việc học hành, lại phải cố gắng viết một vài đoạn hồi ký, làm một bài thơ, kết hợp chuyến đi của mình với công ơn của Bác, đảng để biểu diễn “lập trường.”


Du thuyền chở du khách trên sông Seine, Paris. (Hình: Huy Phương cung cấp)

Tâm trí những người này rõ ràng là luôn luôn mang nặng cái ân huệ đảng đã ban cho mình, để được ra khỏi đáy giếng hẹp, có dịp thấy trời cao đất rộng. Dù ở Moscow, Bắc Kinh hay Paris, họ vẫn luôn luôn ám ảnh bởi những con mắt vô tình đang theo dõi mỗi bước chân của họ, hạch hỏi họ đang nghĩ gì, tình cảm thế nào, nhớ đến ai?

Chúng ta phải nghiêng mình khâm phục cái khả năng liên tưởng kỳ quái của một tên đảng viên trung kiên, Ðỗ Quý Doãn, phút chót đã leo đến chức ủy viên Ban Cán Sự Ðảng, thứ trưởng Bộ Thông Tin và Truyền Thông đã có lần đi “Giữa Mạc Tư Khoa” mà “nghe câu hò Nghệ Tĩnh,” có nghĩa ở ngay giữa một nước Ðông Âu xa xôi, mà đảng viên này vẫn không quên nổi âm thanh xứ Nghệ, quê hương của Bác.

“Chiều Mạc Tư Khoa…rừng dương như trầm lặng…
mà nghe câu dặm…rằng hết giận rồi thương…”

Ðây là người đã lên án “Bên Thắng Cuộc” của Huy Ðức là: “Chống lại nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam; gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân; tuyên truyền chiến tranh xâm lược; gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo; tuyên truyền, kích động…”

Chế Lan Viên, tay bồi bút có hạng, thì dù ở Paris, London hay Moscow, luôn luôn nghĩ đến Bác, nói một cách khác là bị ám ảnh bởi hình ảnh ông Hồ, hay ông giả vờ bị ám ảnh, ghi lại trên giấy mực hay biểu diễn trước con mắt của cấp lãnh đạo văn nghệ:

“Có nhớ chăng hỡi gió rét thành Ba Lê
Một viên gạch hồng Bác chống lại cả mùa Ðông băng giá
Và sương mù thành Luân Ðôn có nhớ
Giọt mồ hôi người nhỏ giữa đêm khuya.
…Tuyết Mát Cơ Va sáng ấy lạnh trăm lần
Trông tuyết trắng như đọng nghìn nước mắt.”

Trần Hoàn, một thời làm bộ trưởng Văn Hóa và Thông Tin. Thời mới đi kháng chiến, ông là tác giả bài Sơn Nữ Ca nổi tiếng, về sau càng lên chức, ông càng để lộ ra bản chất nịnh bợ lãnh tụ, với những câu thơ quái đản: đi “giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò ví dặm…” Lố bịch hơn nữa là Trần Hoàn trong bài “Lời Bác dặn trước lúc đi xa…” đã bịa một câu chuyện khác hẳn sự thật: “Chuyện kể rằng trước lúc Người ra đi, Bác muốn nghe một câu hò xứ Huế. Nhưng không gian vẫn bốn bề lặng lẽ, Bác đành nằm im…”

Nhưng theo tường thuật của Vương Tinh Minh, nữ y tá trưởng bệnh viện Bắc Kinh, thành viên tổ bác sĩ Trung Quốc sang Việt Nam chữa bệnh cho ông Hồ, Tháng Tám, 1969, trên báo Quân Ðội Nhân Dân, thì:

“Chiều hôm đó sức khỏe của Bác đã có chuyển biến tốt lên một chút, Bác nói muốn nghe một câu hát Trung Quốc. Các đồng chí đề nghị tôi hát. Tôi nói thật là hát cũng không tốt lắm, nhưng để vui lòng Bác, vì tình hữu nghị Trung-Việt, tôi đã hát một bài hát mà nhiều người thuộc và hát được, bài hát có nội dung chính là ra khơi xa phải vững tay chèo. Bác nghe xong rất vui, Bác nở nụ cười hiền từ. Bác nắm nhẹ tay tôi, tặng tôi một bông hoa biểu thị cảm ơn. Ðó là lần thứ ba tôi thấy Bác cười. Và đó cũng là nụ cười cuối cùng của Người.”

Dù miền Nam sau khi ông Ngô Ðình Diệm về nước chấp chánh, đã có phong trào suy tôn ông “bao nhiêu năm từng lê gót nơi quê người…” nhưng thời ấy cũng có người được cử đi du học, tham quan, cũng có nhiều người đến New Jersey, New York và Chicago…là những nơi ông Diệm đã ghé qua, nhưng không nghe ai liên tưởng hay nhớ đến ông. Ðó là những việc không cần phải làm hay vì sợ mà làm!

Ở miền Nam, chúng ta thường tìm thấy không khí Ðường thi trong văn thơ trước ngày chia cắt đất nước, với những bờ sông Tương (Tương Giang đầu- Tương Giang Vỹ) những đêm trăng lặn quạ kêu (Nguyệt lạc ô đề) những chiều khói sóng trên sông (Yên ba giang thượng…), nhưng những năm sau ngày phong trào di cư đưa hàng triệu người bỏ quê hương miền Bắc di cư vào Nam, cùng với sự đổi mới văn học, những người ở phương Tây về mang theo hình ảnh của ghế đá công viên, tóc vàng sợi nhỏ, bờ sông Seine, mùa Thu lá đỏ và cả cái ga Lyon đèn vàng chưa ai biết tới mà thanh niên Sài Gòn đã mê mệt cảm nhận rất nhanh.

Hoàng Anh Tuấn, Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng… là những người đã mang không khí Paris lại cho thanh niên miền Nam trong thời gian này, nhất là năm 1957, khi chàng sĩ quan không quân Cung Thúc Cần mang cái hình ảnh “ga Lyon đèn vàng,” chút “tuyết rơi mỏng manh buồn” về với Sài Gòn, và tập thơ Tình Ca, phối hợp giữa thơ Cung Trầm Tưởng, nhạc Phạm Duy và minh họa của Ngy Cao Uyên ra đời, thì không ai là người không biết đến bài thơ Tiễn Em. Vào thời gian ấy, Sài Gòn cũng có phong trào các phòng trà ca nhạc ra đời “đêm đêm tiếng hát phòng trà” với Kim Ðiệp, Anh Vũ, Hòa Bình…mở ra những giọng hát khởi sắc như Thanh Thúy, Lệ Thanh, Bích Chiêu…nhưng phải nói Lệ Thanh, gầy guộc, mỏng manh trong bộ y phục màu trắng, mỗi đêm xuất hiện với “Tiễn Em” là một thần tượng khó quên. Sài Gòn đèn xanh đèn đỏ, vẫn hừng hực nóng, nhưng những người chưa bao giờ được thấy tuyết vẫn thích nghĩ đến không khí “tuyết rơi mỏng manh buồn…” và “trời mùa Ðông Paris, suốt đời làm chia ly…” và tha thiết: “khóc đi em, khóc đi em!”

Bây giờ trở lại Paris, chúng tôi vẫn hình như nghe văng vẳng bên tai những câu thơ của Nguyên Sa và âm điệu của Ngô Thụy Miên gần như bất hủ:

“Paris có gì lạ không em,
Mai anh về giữa bến sông Seine!”

Và nếu có sự liên tưởng thì từ mối tình Paris, Nguyên Sa nghĩ đến một món ngon quê hương, cũng tượng trưng cho sự gắn bó của tình yêu. Hai câu thơ sau đây được xem là nhưng câu thơ hay nhất của văn học Việt Nam:

“Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm
Chả biết tay ai làm lá sen?”

Nói như Mặc Lâm, “Ông (Nguyên Sa) đem ánh đèn vàng Paris nơi có những nhà ga là nguồn cảm hứng vô tận cho những cuộc chia tay. Ông mang theo hơi hám của sông Seine của nhà thờ Notre Dame về lại Sài Gòn nơi mà nhiều thế hệ thanh niên chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Pháp…”

Bây giờ trở lại hay ghé qua Paris, nếu có sự liên tưởng thì không thể nào không liên tưởng đến lời thơ của Nguyên Sa, nghe như còn bàng bạc nơi đây. Từ Paris đi về phía Nam, xuống Nice, chúng tôi phải qua ga “Lyon đèn vàng” của nhà thơ Cung Trầm Tưởng. Bây giờ đã đến tuổi già, không khỏi không nhớ đến câu thơ của ông: “…nói chi cũng muộn màng..”

Ðến Paris, tôi nhớ đến Nguyên Sa, người đã mất. Tôi nhớ đến ông Cung Trầm Tưởng của Lyon đèn vàng. Và Lệ Thanh, bây giờ ở đâu?

Kể cũng lạ, làm sao khỏi liên tưởng cảnh với người, hiện tại và quá khứ, Paris với Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, cả với Phạm Duy và Lệ Thanh của một thời, đã xa lắm, mà hình như vẫn còn lẩn khuất ở đâu đây!

 

TA ĐÒI MÁU NÓ BỞI TAY NGƯƠI.

TA ĐÒI MÁU NÓ BỞI TAY NGƯƠI.

Ed 33, 7-9

Lm. Vinh Sơn Phạm Trung Thành, C.Ss.R.

Ta đã làm cho ngươi trở nên người lính canh nhà Israel:

vậy khi nghe lời miệng Ta nói,

ngươi hãy thay Ta loan báo cho chúng .

“Hỡi kẻ gian ác, mi sẽ phải chết”;

nếu ngươi không chịu nói để kẻ gian ác bỏ đường lối mình,

thì chính kẻ gian ác sẽ chết trong sự gian ác của nó,

nhưng Ta đòi máu nó bởi tay ngươi.

Còn khi ngươi loan báo cho kẻ gian ác bỏ đường lối nó,

nếu nó không chịu bỏ đường lối nó,

thì nó sẽ chết trong sự gian ác của nó,

nhưng ngươi cứu được mạng sống ngươi.

Thế giới chung quanh đầy rẫy sự gian ác,

mỗi ngày sự gian ác bày ra trên các phương tiện truyền thông,

mỗi ngày sự gian ác tung hoành ngay trước mắt mọi người.

Hỡi tôi, người lính canh được Chúa kêu gọi,

tôi sẽ lặng thinh mãi cho đến bao giờ ?

Lm. Vinh Sơn Phạm Trung Thành, C.Ss.R.

Chúa nhật XXIII TN.A

Việt Nam : Tọa đàm về Kiểm điểm nhân quyền tại Sài Gòn bị chính quyền làm khó

Việt Nam : Tọa đàm về Kiểm điểm nhân quyền tại Sài Gòn bị chính quyền làm khó

Tọa đàm về UPR ngày 05/09/2014 tại Văn phòng Công lý-Hòa bình, Dòng Chúa Cứu thế, số 38, Kỳ Đồng, quận 3, TP Hồ Chí Minh.

Tọa đàm về UPR ngày 05/09/2014 tại Văn phòng Công lý-Hòa bình, Dòng Chúa Cứu thế, số 38, Kỳ Đồng, quận 3, TP Hồ Chí Minh.

Ảnh : VRNs – Truyền Thông Chúa Cứu Thế

Trọng Thành

Hôm thứ Sáu 05/09/2014, tại Dòng Chúa Cứu thế, TP Hồ Chí Minh, đã diễn ra cuộc Tọa đàm để phổ biến các kết quả của cơ chế Kiểm điểm định kỳ về nhân quyền toàn cầu (UPR) năm 2014 của Việt Nam, do liên minh ba nhóm xã hội dân sự tổ chức. Nhiều tổ chức xã hội dân sự độc lập Việt Nam và đại diện các sứ quán Hoa Kỳ, Úc, Thụy Sĩ đã tham dự. Khách sạn New World – nơi Tọa đàm dự định tổ chức – buộc phải từ chối thực hiện hợp đồng do chính quyền áp lực. Một số khách mời bị an ninh ngăn cản.

Cuộc Tọa đàm mang tên “UPR Việt Nam : Tiến trình – Tiềm năng và Thực tiễn” do ba tổ chức xã hội dân sự thực hiện : Diễn đàn Xã hội Dân sự, Phong trào Con đường Việt Nam và Văn phòng Công lý-Hòa bình. Đây là tọa đàm đầu tiên về UPR mở ra cho công chúng rộng rãi, kể từ khi Việt Nam hoàn thành cuộc Kiểm điểm lần 2 tại Genève hồi tháng 6/2014.

Diễn giả của Tọa đàm là bốn thành viên của các hiệp hội dân sự đã tham dự các kỳ UPR tại Genève : Tiến sĩ Nguyễn Quang A, ông Phạm Lê Vương Các, ông Bùi Tuấn Lâm, ông Trần Văn Huỳnh (thân phụ tù nhân lương tâm Trần Huỳnh Duy Thức).

Gần 50 người tham dự buổi tọa đàm. Ngoài thành viên một số nhóm xã hội dân sự, có Đại sứ Thụy Sĩ, ông Andrei Motyl, đại diện Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ, ông Charles Sellers.

Kiểm điểm định kỳ về nhân quyền toàn cầu (The Unviversal Periodic Review – UPR) là một cơ chế nơi tình trạng nhân quyền tại 193 quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc được xem xét, đánh giá thường xuyên. Ngày 20/06/2014, Việt Nam – với tư cách tân thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc – tuyên bố chấp nhận 182 trên tổng số 227 khuyến nghị do 106 quốc gia đề xuất.

Phổ biến nội dung các cam kết mà chính quyền Việt Nam tuyên bố và giám sát việc thực thi cam kết là một trong các nội dung chủ yếu của cuộc Tọa đàm.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A, Hà Nội:

 

07/09/2014

 

Nghe (03:50)

 

 

 

Về ý nghĩa và nội dung cuộc Tọa đàm, sau đây là một số nhận định của Tiến sĩ Nguyễn Quang A.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A : “… Một trong những nghĩa vụ sau UPR là Nhà nước Việt Nam phải tổ chức giới thiệu cho công chúng biết. Họ đã không làm những chuyện như thế. Chúng tôi làm với tinh thần rất là xây dựng để giúp cho các tổ chức xã hội dân sự, giúp cho công chúng và cho cả Nhà nước Việt Nam nữa, nhưng họ tìm mọi cách ngăn chặn…

Theo Tiến sĩ Nguyễn Quang A, cuộc tọa đàm buộc phải chuyển địa điểm tới Dòng Chúa Cứu thế, sau khi Khách sạn New World, một địa điểm rộng rãi mà công chúng có thể dễ dàng tham gia, phải từ chối thực hiện hợp đồng do áp lực của chính quyền địa phương. Nhiều khách mời tham gia Tọa đàm đã bị lực lượng an ninh ngăn cản.

Năng suất lao động VN thấp nhất châu Á Thái Bình Dương

Năng suất lao động VN thấp nhất châu Á Thái Bình Dương

05-09-2014

Công nhân thực tập trong một xưởng máy ở Bạc Liêu

Công nhân thực tập trong một xưởng máy ở Bạc Liêu

Courtesy giaoduc.net

Việt Nam nằm trong số những nước có năng suất lao động thấp nhất khu vực châu Á Thái Bình Dương trong năm 2013, theo báo cáo mới được công bố hôm 4 tháng 9 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO).

Theo báo cáo mới, năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 1/5 so với Malaysia và 2/5 so với Thái Lan. Còn nếu so với Nam Hàn, năng suất lao động của Việt Nam kém hơn 10 lần, và nếu so với Singapore thì năng suất lao động của Việt Nam kém hơn đến 15 lần.

Kể từ năm 2008 đến nay, tăng trưởng năng suất lao động trung bình năm của Việt Nam chỉ đạt 3.3%, thấp hơn rất nhiều so với con số 5.2% trong giai đoạn từ 2002 đến 2007.

Cũng theo báo cáo mới của ILO, 20% lực lượng lao động của Việt Nam được đào tạo tốt nhưng còn rất nhiều công nhân vẫn chưa đáp ứng được tiêu chuẩn của thị trường lao động.

THƯƠNG TIẾC CHỊ TRẦN THỊ LÀI (1929 – 2014)

THƯƠNG TIẾC CHỊ TRẦN THỊ LÀI (1929 – 2014)

Đoàn Thanh Liêm

Qua điện thư, bà con người Việt ở Ba Lan vừa thông báo cho tôi biết là “Bác Lài đã qua đời vào ngày 15 tháng 8 vừa qua”. Tin buồn này không làm tôi ngạc nhiên lắm, bởi lẽ chị bạn chúng tôi đã bị bệnh alzheimer suy giảm trí nhớ từ mấy năm nay – đến nỗi không còn nhận ra con gái là cháu Lan Marzena khi cháu từ bên Pháp về thăm cha mẹ ở thành phố Cracovie là cố đô của Ba Lan vào hồi cuối năm 2012.

Chị Lài là trưởng nữ của cụ Trần Văn Lý, là người đã giữ chức vụ Thủ Hiến Trung Việt hồi năm 1950 dười thời chính phủ Bảo Đại. Chị theo học tại Đại học Văn khoa Sài gòn hồi giữa thập niên 1950. Sau đó chị dậy môn Pháp văn tại Trung học Gia long. Vào đầu thập niên 1960, chị qua học thêm tại Pháp và vào năm 1964 chúng tôi được tin chị Lài lập gia đình với anh Stefan Wilkanowicz và theo chồng qua sinh sống ở Ba Lan luôn từ ngày đó.

Vào mùa hè năm 2012, tôi đã có dịp qua Ba Lan thăm gia đình anh chị Lài và Stefan trong ít ngày và sau đó đã viết bài “Tôi đã gặp lại chị Trần Thị Lài ở Ba Lan” – bài viết này đã được đăng trên nhiều báo giấy và báo điện tử ở hải ngọai.

Có thể nói chị Lài là người đầu tiên từ miền Nam Việt nam mà đi làm dâu tại Ba Lan là một quốc gia thuộc khối cộng sản ở Đông Âu vào thời kỳ sau thế chiến thứ hai. Điều đáng ghi nhận hơn cả trong suốt 50 năm chị sinh sống ở Ba Lan, đó là chị đã bỏ khá nhiều công sức và thời gian để dịch thuật các tác phẩm và bài viết của Đức Tổng Giám Mục Karol Wojtyla ở Cracovie từ nguyên tác tiếng Ba Lan sang tiếng Pháp. Karol Wojtyla sau này chính là vị Giáo Hòang John Paul 2 mà vừa mới được phong thánh hồi tháng 6 năm 2014 này. Chị Làicũng giúp việc dịch tài liệu về sự Tôn Vinh Lòng Thương Xót Chúa (Divine Mercy) của nữ tu Faustina từ tiếng Ba Lan qua tiếng Việt.

Nay đến lượt chị Lài ra đi từ giã cõi tạm này, chắc chắn chị sẽ gặp lại các bạn thân thiết xưa trong Nhóm Sinh viên Công giáo ở Sài gòn như cha Tuyên úy Nguyễn Huy Lịch các chị Nguyễn Thị Oanh, Vũ Thị Kim Liên, các anh Trần Quý Thái, Nguyễn Đức Quý v.v…

Xin vĩnh biệt chị Maria Teresa Trần Thị Lài

Với niềm quý mến và thương tiếc khôn nguôi.

Và xin gửi lời chia sẻ nỗi mất mát này tới anh Stefan và các cháu.

Costa Mesa California, ngày 21 tháng Tám 2014

Tác giả: Luật sư Đoàn Thanh Liêm