Một tấm lòng vàng trên đường phố

Một tấm lòng vàng trên đường phố

Anh Trần Viết Hùng hành nghề bơm vá xe đạp trên góc đường Hà Huy Tập-Điện Biên Phủ ở quận Thanh Khê

Anh Trần Viết Hùng hành nghề bơm vá xe đạp trên góc đường Hà Huy Tập-Điện Biên Phủ ở quận Thanh Khê

Trà Mi-VOA

03.08.2014

Bạn cho là mình chưa đủ điều kiện để làm từ thiện? Hãy nghĩ lại, đặc biệt là khi bạn nghe câu chuyện sau đây về một anh chàng nghèo vật chất-giàu nhân ái ở Đà Nẵng.

Suốt hơn chục năm qua, anh Trần Viết Hùng hành nghề bơm vá xe đạp trên góc đường Hà Huy Tập-Điện Biên Phủ ở quận Thanh Khê để nuôi sống gia đình gồm mẹ già, vợ, và 3 con.

Lam lũ dầm mưa dãi nắng 10 giờ đồng hồ trên vệ đường mỗi ngày anh mới kiếm được cao lắm là 120 ngàn đồng đủ chạy cơm hai bữa qua ngày. Thế nhưng, có một điều đặc biệt khiến điểm vá xe vỉa hè của anh trở nên nổi tiếng, nhất là đối với những người nghèo cùng cảnh ngộ: Đây là nơi hiếm hoi, nếu không muốn nói có một không hai, vá xe miễn phí cho các khách hàng là học sinh và người tàn tật. Điểm sửa xe của anh có treo tấm bảng to ghi dòng chữ ‘Học sinh-Người Tàn Tật Miễn phí.’

Điểm sửa xe của anh Trần Viết Hùng, miễn phí cho các khách hàng là học sinh và người tàn tật.

Điểm sửa xe của anh Trần Viết Hùng, miễn phí cho các khách hàng là học sinh và người tàn tật.

Một khách hàng quen thuộc của anh Hùng 3-4 năm nay, chị Nguyễn Thị Gái hành nghề bán hàng rong trên chiếc xe đạp cũ kỹ, nói về anh bạn nghèo tốt bụng trên đường phố:

“Anh là người tốt bụng. Những người nghèo khổ như tôi đây khi xe bị hư anh không lấy tiền. Bao nhiêu người nghèo như tôi đi đường lở bị lủng lốp xe cũng nhờ ảnh. Đôi lúc mình không có tiền, cũng nhờ ảnh mới có phương tiện để đi. Những người trong cảnh nghèo anh đều giúp hết. Những người như anh rất tốt trong xã hội đầy những người lừa lọc, tham ô, ăn cắp, ăn trộm. Em cũng mong sao có được nhiều người như anh Hùng. Nhiều người giàu, có tiền, nhưng cũng này kia kia nọ lắm. Em cũng dạy dỗ con em là ‘nghèo cho sạch, rách cho thơm’, bắt chước theo tấm lòng như anh Hùng đây.”

Tạp chí Thanh Niên VOA hôm nay mời quý vị và các bạn cùng gặp gỡ người đàn ông sống nhờ vỉa hè nhưng rộng lượng giúp đỡ người nghèo khó, Trần Viết Hùng.

Trần Viết Hùng: Gia đình cũng khổ nên em làm nhiều nghề từ xích lô, xe bò, bốc vác, xe thồ và cuối cùng chọn nghề này. Em làm dựa vô vỉa hè của người ta, họ cho mình làm buổi chiều thôi. Em ra làm 2 giờ chiều đến 2 giờ sáng, khi nào đường hết người mình mới về. Hai vợ chồng em có 3 đứa con. Đứa đầu 18 tuổi. Cách đây 3 năm nó bị bệnh phổi, yếu quá, nên giờ ở nhà không đi học nữa. Hai đứa nhỏ còn đi học. Đứa nhỏ nhất học lớp 6. Vợ em buôn bán hàng rong.

Trà Mi: Xuất phát từ cơ duyên nào và từ khi nào anh có ý tưởng bơm vá xe miễn phí cho học sinh và người tàn tật?

Trần Viết Hùng: Mình cũng cực khổ nhiều rồi. Chỗ em làm cách chừng 200 mét có 2 trường học. Mình thấy nhiều hoàn cảnh cũng tội. Nhiều em ra học xe hư dắt bộ ngang qua chỗ mình mà không dám vô. Hùng kêu lại để làm dùm mà các em ngại. Trước tới giờ em bơm vá xe cho các em đã không lấy tiền rồi, nhưng còn nhiều em không biết, nên ngại. Cho nên, em mới để tấm bảng Miễn phí lên cho các em thấy an tâm. Còn người tàn tật, mình không giúp họ thì thôi, lấy tiền họ làm gì. Mình chỉ nghĩ đơn giản vậy thôi.

Trà Mi: Nói tới chuyện làm từ thiện, người ta liên tưởng ngay đến những người dư ăn, dư để. Chuyện người nghèo làm từ thiện cũng hiếm thấy..

Trần Viết Hùng: Giờ nghe người ta nói là mình làm từ thiện thì em mới biết vậy chứ khi đặt tấm bảng lên em chẳng nghĩ gì hết. Em chỉ muốn giúp đỡ những người tàn tật và các em học sinh lỡ đường. Mình nghĩ các em như con mình thôi, chứ không nghĩ là làm từ thiện này nọ. Đó là cái tâm mình thương các cháu như con mình thôi.

Trà Mi: Giữa đời sống bon chen có 1 tấm gương người nghèo làm việc tốt trên đường phố, anh có nghĩ hình ảnh của mình có thể giúp các cháu có cái nhìn và suy nghĩ tốt hơn về xã hội, về chuyện làm việc tốt giúp đời?

Trần Viết Hùng: Lần đầu tiên em được lên báo có các em gửi tin nhắn tới chúc mừng. (Mời quý vị bấm vào phần âm thanh sau đây để nghe toàn bộ cuộc trao đổi với anh Hùng)

Bấm vào để nghe âm thanh toàn bộ cuộc trao đổi với anh Trần Viết Hùng

 

Từ vô thần sang Công giáo: Một câu chuyện của nghi ngờ, hiếu kỳ và cuối cùng là niềm vui

Từ vô thần sang Công giáo: Một câu chuyện của nghi ngờ, hiếu kỳ và cuối cùng là niềm vui

Đặng Tự Do

02 tháng 8-2014

Người ta ước tính rằng khoảng 2 phần trăm của dân số thế giới là người vô thần. Trong nhiều năm, Jennifer Fulwiler, là một người trong số đó. Cô lớn lên trong một gia đình hạnh phúc nhưng vô tín ngưỡng. Thậm chí, cô tin rằng tôn giáo được dựa trên một câu chuyện cổ tích và Kitô giáo là một tôn giáo nguy hiểm.

Jennifer Fulwiler, tác giả cuốn “Something Other Than God”, nghĩa là “Còn gì khác ngoài Thiên Chúa”, nói:

“Vâng, tôi đã từng xem Kitô giáo như một cái gì đó nguy hiểm và tôi thực sự muốn khuyến khích mọi người quên đi hệ thống niềm tin nguy hiểm này.”

Trong cuốn sách của mình, ” Còn gì khác ngoài Thiên Chúa “, cô chia sẻ hành trình của mình. Tất cả mọi thứ từ sự thờ ơ, tới sự hiếu kỳ và cuối cùng là niềm vui. Cô nói rằng tất cả mọi thứ đã thay đổi khi cô và chồng có đứa con đầu tiên. Cô bắt đầu đặt ra nhiều câu hỏi hơn, mà chủ nghĩa vô thần không có thể trả lời.

Jennifer giải thích:

“Chủ nghĩa vô thần nói rằng cuộc sống của con người chẳng qua chỉ là tình cờ ngẫu nhiên của một chuỗi những phản ứng hóa học và điều đó thực sự trái ngược với kinh nghiệm của tôi về cuộc sống và sự gặp gỡ với những người khác.”

Sau khi đọc tất cả các loại sách tôn giáo, với nhiều bất ngờ, cô tìm thấy sự thật trong Kitô Giáo. Cuối cùng cô và chồng cô đã trở thành người Công Giáo. Nhìn lại, cô cho biết cuộc sống của cô bây giờ là hoàn toàn khác trước đây.

Jennifer nói thêm:

“Khi tôi còn là một người vô thần, tôi nghĩ rằng ý nghĩa của cuộc sống là phải có càng nhiều tiền càng tốt. Nhưng tôi nhận thấy không bao giờ là đủ. Ao ước được thăng chức nhưng khi được rồi, tôi lại muốn trèo lên cao hơn nữa. Có xe đẹp, tôi lại muốn có xe đẹp hơn. Tôi đã luôn luôn tìm kiếm một điều khác nữa.”

Kể từ đó, đức tin của tôi đã phát triển và cả gia đình cô cũng đón nhận đức tin. Cô vẫn giữ liên lạc với một số bạn bè vô thần. Họ có thể không đồng ý về những gì là chân lý, nhưng họ nhìn nhận một sự thật rằng cô đã tìm thấy niềm tin thông qua lý trí.

Jennifer nói tiếp:

“Tôi nghĩ rằng người Công Giáo đôi khi có chút do dự trước các cuộc đối thoại thân thiện với những vô thần, bởi vì họ có thể nghĩ rằng ‘Tôi không muốn nhìn vào những lập luận vô thần quá nhiều vì nó có thể làm lung lay đức tin của tôi và tôi có thể không thích những gì tôi tìm thấy. Tôi luôn luôn khuyến khích mọi người theo lời khuyên của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị: đừng sợ. Trước những thách đố của người vô thần, hãy khám phá mọi khả năng và bạn sẽ tự tin hơn nơi đức tin Công Giáo của mình. “

An Phong – Ngọn Gió Lành

An Phong – Ngọn Gió Lành

Chuacuuthe.com

image001

VRNs (02.08.2014) – Khi đặt thanh gươm hiệp sĩ của mình dưới bàn thờ “Đức Bà chuộc kẻ làm tôi”, Thánh An Phong đã quyết định con đường dấn thân của mình theo một khúc quanh mới, thuộc về Chúa hoàn toàn để thuộc về người nghèo, người bị bỏ rơi hơn cả.

Từ giã pháp đình, An Phong cũng từ giã giấc mơ đấu tranh giành lấy công bằng cho người nghèo bằng con đường luật pháp. Bỏ thanh gươm, An Phong từ chối can thiệp vào xã hội bằng quyền lực. Nhận lấy chiếc áo Giáo Sĩ, An Phong chọn con đường Tin Mừng.

Chẳng phải khi trở thành Linh Mục hoặc khi thiết lập DCCT vào năm 1732 thì An Phong mới có cảm thức về người nghèo, về sự áp bức và về sự công bằng, nhưng ngay khi còn đang đeo đuổi con đường luật học, An Phong đã đưa ra những quyết tâm thuộc về người nghèo, thuộc về công lý và công bằng. Quyết tâm không cãi trắng ra đen, chọn lựa người nghèo mà bênh vực, đó là những quyết tâm của luật sư An Phong nơi pháp đình của vương quốc Napoli.

“Hỡi thế gian, ta đã biết mi”, trên đường rời bỏ pháp đình, An Phong kinh nghiệm được sự giới hạn của con người. Luật pháp có công minh cách mấy cũng không đủ sức thắng sự dữ. Cái mỉa mai là luật pháp được biên soạn và ban hành bởi những kẻ cầm quyền thì làm sao lại có thể đứng về phía người nghèo, người bị áp bức được ? An Phong chọn Tin Mừng là “bộ luật” được biên soạn và ban hành bởi người nghèo cùng cực. An Phong nhận ra Thiên Chúa hóa thân nơi người nghèo, nên “bộ luật” này là bộ luật của người nghèo, người đau khổ, người hèn mọn. “Điều gì các ngươi làm cho người bé mọn nhất đó là làm cho chính Ta” ( Mt 25 ).

Chọn người nghèo, người bị bỏ rơi hơn cả, An Phong dấn thân thuộc trọn vẹn về người nghèo, đồng thân đồng phận với người nghèo, hòa mình sống kiếp nghèo. Bỏ giới thượng lưu, An Phong bỏ phong cách quý tộc, chọn lấy nếp sống giản dị, lối cư xử đơn sơ, mộc mạc. Cấm anh em mình ăn nói hoa mỹ, cấm anh em mình đem kiến thức lòe bịp thiên hạ, An Phong chia sẻ với anh em cách ăn nói bình dị, chữ nghĩa bình dị, “hãy nói sao cho người bình dân hiểu”. ( Ảnh chụp Đền kính Thánh An Phong tại đường Merulana ở Roma, ngay bên cạnh là Nhà Dòng Mẹ ).

image003

Bỏ pháp đình, An Phong không hề bỏ kiến thức luật học, nhưng chọn Tin Mừng, An Phong phả hồn Tin Mừng vào luật học, viết ra bộ Thần Học Luân Lý. An Phong sử dụng kiến thúc luật học của mình để đứng về phía người nghèo, người bị áp bức. Thời ấy, luật đạo luật đời gần như một, lắm mối liên kết chằng chịt đạo đời rối ren mật thiết. Không chấp nhận quan niệm mục vụ khắt khe cầm buộc, An Phong lên tiếng nói cho người nghèo, người bị bỏ rơi, những hối nhân đáng thương hại, tiếng nói mạnh mẽ không chỉ ngoài xã hội nhưng còn ngay giữa lòng Nhà Thờ. An Phong trả lại trách nhiệm cho lương tâm, cho tình thương, cho sự tha thứ.

An Phong trăn trở và kiên trì cho đến trọn đời, kinh nghiệm nỗi cô đơn trên con đường phục vụ người nghèo, người bị bỏ rơi, An Phong đã cam kết đi đến cùng cho dù chỉ còn một mình. Nỗi cô đơn ấy đã đeo bám An Phong cho đến hết cuộc đời, và An Phong cũng trung tín với lời cam kết cho đến hết hơi thở cuối cùng.

Có rất nhiều luồng gió thổi đến làm rung chuyển thời cuộc, biến hóa nhân sinh, thay cũ đổi mới. An Phong vẫn làm gió, nhưng khi chọn Tin Mừng, ngọn gió của An Phong là gió lành, ngọn gió lành không phá hủy, không tiêu diệt, không tàn phá, nhưng xây dựng, làm mát lòng người, làm phát sinh sự sống và làm cho sự sống thêm dồi dào.

Con cái An Phong có là ngọn gió lành không ?

Lm. VĨNH SANG, DCCT,

Lễ Thánh An Phong 2014

 

Đằng sau vụ bắt lãnh đạo Ngân hàng Xây Dựng

Đằng sau vụ bắt lãnh đạo Ngân hàng Xây Dựng

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2014-08-01

namnguyen08012014.mp3

Mai-Danh-2aa8a-305.jpg

Ông Phạm Công Danh (trái) Chủ tịch Hội đồng Quản trị và Ông Phan Thành Mai (phải) Tổng giám đốc Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam.

File photo

Thanh toán quyền lợi nhóm?

Đầu năm 2013, Đại Tín một ngân hàng nhỏ có lịch sử 23 năm, tổng tài sản 28.000 tỷ đồng bị thâu tóm. Các chủ nhân mới nâng vốn điều lệ từ 3.000 tỷ lên 7.500 tỷ đổi tên thành Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam. Tuy vậy chỉ sau 15 tháng Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc của Ngân hàng mới tái cơ cấu đã bị bắt và điều tra về hành vi cố ý làm trái qui định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng. Câu hỏi đặt ra, đây là một vụ án kinh tế đơn thuần dính líu tới sở hữu chéo hay là sự thanh toán quyền lợi nhóm mang màu sắc chính trị.

Các ông Phạm Công Danh Chủ tịch Hội đồng Quản trị, ông Phan Thành Mai Tổng giám đốc Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam về nguyên tắc đã bị miễn nhiệm một ngày trước. Hôm sau ngày 29/7/2014, cùng với một người nữa họ bị bắt để điều tra những vụ việc ở Tập đoàn Thiên Thanh, nơi họ cũng đồng thời là Chủ tịch và thành viên Hội đồng quản trị. Thiên Thanh với ban lãnh đạo này cũng chính là các cổ đông nắm cổ phần chi phối ở Ngân hàng Xây dựng.

TS Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập từ Sài Gòn nhận định rằng, đầu năm 2014 Tập đoàn Thiên Thanh đã tạo nên một cú sốc tương đối lớn với thị trường bất động sản, khi họ đưa ra một gói hỗ trợ rất lớn lên tới 50.000 tỷ đồng cùng với 4 ngân hàng bạn. Gói hỗ trợ này lúc đó được coi là lớn hơn cả gói 30.000 tỷ đồng của Ngân hàng Nhà nước. Nhưng sau đó một số ngân hàng đã phản ứng cho là hoàn toàn không biết gì về mối liên kết với Tập đoàn Thiên Thanh như công bố. Vào thời điểm đó chưa xuất hiện cái tên Phan Thành Mai, ông này là Tổng Thư ký Hiệp hội bất động sản Việt Nam và cũng là người thường xuyên lên báo đài trả lời về bất động sản, nói chung là tương đối có uy tín. TS Phạm Chí Dũng tiếp lời:

” Khi mà 3 vị quan chức cao nhất của Ngân hàng Xây Dựng bị bắt thì lúc đó có lẽ nhiều người mới té ngửa là có một vấn đề gì đó không bình thường ở ngân hàng này.
-TS Phạm Chí Dũng”

“Về vấn đề sở hữu chéo từ 2013 tới 2014 thì tôi đã nghe thông tin Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam là một trong những ngân hàng chồng chéo về sở hữu vốn nhiều nhất. Nhưng mà điều đó chưa có bằng chứng và chỉ khi mà 3 vị quan chức cao nhất của Ngân hàng Xây Dựng bị bắt thì lúc đó có lẽ nhiều người mới té ngửa là có một vấn đề gì đó không bình thường ở ngân hàng này, thành thử người ta mới bắt. Trong thực tế tôi còn nghe có lẽ vụ việc không chỉ dừng ở những vấn đề nội bộ của Ngân hàng Xây Dựng về cố ý làm trái, mà dường như nó có liên quan tới những cấp cao hơn. Dư luận cho rằng Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam là một ngân hàng được đặc cách và đỡ đầu bởi Ngân hàng Nhà nước. Thông tin này chưa được kiểm chứng nhưng mà khá nhiều dư luận cho là như vậy. Tôi có cảm giác rằng vụ việc Ngân hàng Xây dựng Việt Nam không chỉ bó gọn ở việc cố ý làm trái trong nội bộ ngân hàng này mà còn có thể dẫn tới cấp cao hơn và lồng trong một kế hoạch hoặc một chiến dịch  nào đó có thể kể cả mang tính chính trị.”

Đại Tín mà sau này trở thành Ngân Hàng Xây Dựng Việt Nam từng ở trong diện tái cơ cấu trong cuộc khủng hoảng tín dụng tiền tệ ở Việt Nam. Tập đoàn Thiên Thanh tham gia tái cơ cấu và trở thành nhóm cổ đông kiểm soát Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam. Theo báo điện tử Sài Gòn Times, một tháng trước khi bị bắt, Tổng giám đốc Phan Thành Mai thừa nhận Ngân hàng Xây dựng Việt Nam thuộc nhóm 9 ngân hàng tái cơ cấu và có tỷ lệ nợ xấu cao. Do vậy từ năm 2012 ngân hàng Đại Tín mà sau này là Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam hoạt động dưới sự giám sát của tổ giám sát của Ngân hàng Nhà nước.

anh-1406689860202-250.jpg

Trụ sở Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam. Courtesy NLD.

Vào giai đoạn khủng hoảng tín dụng bất động sản, năm 2012 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình nói là sẽ không để cho ngân hàng nào phải sụp đổ. Đại Tín sau này đổi tên là Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam có thể nằm trong số những tổ chức tín dụng được cứu để tránh sụp đổ.

Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành từ Hà Nội nhận định:

“Chúng ta thấy được hậu quả là có một ngân hàng yếu kém chồng lên ngân hàng yếu kém khác. Những việc làm trái pháp luật trái qui định của ngân hàng lại tiếp diễn, chẳng những thế nó lại làm lộ ra những cái đã làm trước kia chứ không phải chỉ là mới đây. Như thế phương pháp không cho ngân hàng yếu kém giải thể mà cố gắng hợp nhất nó lại thành một đơn vị khác, theo trường hợp này thì rõ ràng nó không có kết quả, rõ ràng là nó có vấn đề. Hiện nay ngân hàng này được sự quản lý trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước hàng ngày. Những việc này tại sao xảy ra như thế , theo thông tin ghi nhận thì nó đã xảy ra trước sáp nhập hợp nhất với nhau. Trước khi hợp nhất, Ngân hàng Nhà nước đã thanh tra , kiểm tra cái gì mà tại sao bây giờ mới nổ lên. Tất cả những vấn đề này người ta có quyền đặt câu hỏi việc theo dõi hoạt động của những ngân hàng yếu kém đó như thế nào mà trước khi hợp nhất lại với nhau đã có những việc như thế mà vẫn không xử lý, để đến bây giờ bùng nổ lên thì không hay ho gì cả.”

Một đại gia có tiếng

Theo báo điện tử Petro Times, có rất nhiều điều đáng nói về sức mạnh của Tập đoàn Thiên Thanh, ngoài việc là cổ đông lớn của Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam, Chủ tịch Phạm Công Danh được mô tả là một đại gia có tiếng trong lĩnh vực bất động sản. Tập đoàn Thiên Thanh sở hữu  hàng loạt dự án bất động sản lớn ở các tỉnh miền Trung và miền Nam như Long Hai Beach Resort ở Bà Rịa Vũng Tàu, khu phức hợp thương mại dịch vụ Thiên Thanh Đà Nẵng; Khách sạn Thiên Thanh Tam Kỳ ở Quảng Nam; Dự án Tổ hợp thương mại dịch vụ khách sạn Thiên Thanh Quảng Ngãi; Dự án Trung tâm khách sạn dịch vụ  ô tô Thiên Thanh; khu cao ốc khách sạn-văn phòng Green Plaza Đà Nẵng và nhiều dự án khác ở TP.HCM.

” Tập trung về Thiên Thanh đặt ra một dấu hỏi đây là nhóm lợi ích nào và từ nhóm lợi ích đó có thể dẫn tới nhóm chính sách nào.
-TS Phạm Chí Dũng”

Petro Times và một vài trang thông tin điện tử khác qua bài viết cho thấy Tập đoàn Thiên Thanh được hưởng những ưu đãi rất lớn từ Chính quyền Đà Nẵng ngay năm 2010. Thiên Thanh được Thành phố giao toàn bộ Sân Vận động Chi Lăng không thông qua qua đấu giá và với giá chỉ bằng 1/3 thời giá. Sân vận động này sẽ được đập bỏ để Thiên Thanh thực hiện một dự án lớn trị giá 1 tỷ USD mang tên Khu phức hợp thương mại dịch vụ Thiên Thanh Đà Nẵng. Lúc đó công luận Đà Nẵng phản ứng dữ dội nhưng không lay chuyển quyết định của Chính quyền.

Nhắc lại, chuyện Tập đoàn Thiên Thanh được TP. Đà Nẵng ưu đãi đã xảy ra trong thời gian ông Nguyễn Bá Thanh còn làm Bí thư Thành ủy. Dư luận không quyên câu chuyện Thanh tra Chính phủ bới móc các quyết định được cho là trái qui định của Đà Nẵng giữa cuộc tranh chấp quyền lực trong Đảng.

TS Phạm Chí Dũng phân tích:

“Nếu mà nói về quyền lợi của các nhóm lợi ích thì có thể nói là, đa số các nhóm lợi ích đều có các dự án ở khắp nhiều nơi và không chỉ một Thiên Thanh mà rất nhiều nhóm lợi ích. Thành thử tập trung về Thiên Thanh đặt ra một dấu hỏi đây là nhóm lợi ích nào và từ nhóm lợi ích đó có thể dẫn tới nhóm chính sách nào. Từ những nhóm lợi ích kinh tế và nhóm chính sách này có thể dẫn tới những chính sách nào, vì vào cuối tháng 7/2014 ba quan chức của Tập đoàn Thiên Thanh bị bắt thì lần đầu tiên có công bố những số liệu đặc biệt về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Agribank và có thể nói đây là một vấn đề rất lớn. Theo tôi, nếu không cẩn thận Agribank sẽ là tiền đề và những dấu hiệu đầu tiên dẫn tới sự sụp đổ của một trong những ngân hàng lớn nhất Việt Nam.”

Theo lời TS Phạm Chí Dũng, Agribank với tầm tín dụng hoạt động, cũng như huy động của ngân hàng này đối với hệ thống ngân hàng toàn quốc thì có thể dẫn tới hiệu ứng sụp đổ dây chuyền đối với những ngân hàng khác, kể cả những mối quan hệ được mặc định là sở hữu chéo. Ở thời điểm này vấn đề được cho là nhạy cảm nhất chính là hệ thống ngân hàng. Điều đáng ngạc nhiên là cả vụ việc Agribank lẫn vụ án Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam xảy ra cùng thời điểm. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Bộ Công an tiến hành với vụ án Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam và cơ quan kiểm toán Nhà nước thực hiện đối với Agribank.

Chẳng hiểu có phải là sự tình cờ, đúng vào thời điểm ngày 30/7 khi lệnh bắt giữ 3 quan chức Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam được công bố, thì ông Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang cũng đã đến thăm cơ quan Cảnh sát Điều tra Bộ Công an. Trong dịp này, Trung Tướng Phan Văn Vĩnh, Tổng Cục trưởng Tổng Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm đã dẫn chứng với Chủ tịch Trương Tấn Sang là rất nhiều vụ án có dấu hiệu “nhóm lợi ích” mà gần đây nhất là vụ Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam và Tập đoàn Thiên Thanh.

Người Việt tỵ nạn và món nợ thương binh VNCH

Người Việt tỵ nạn và món nợ thương binh VNCH
July 27, 2014

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

(Nhân Ðại Nhạc Hội “Cám Ơn anh, Người Thương Binh VNCH” kỳ 8 sắp tổ chức vào ngày Chủ Nhật, 3 Tháng Tám, tại sân vận động trường Bolsa Grande, Garden Grove, Nam California).

Ở đây chúng tôi không hề muốn nhắc lại những điều ân nghĩa mà ai cũng ý thức được, có thể làm phiền lòng một đôi người, trong khi với lòng hảo tâm, từ bi hoặc bác ái, hầu hết đồng bào hải ngoại đã làm rất nhiều việc giúp đỡ thiện nguyện cho những người kém may mắn hơn mình hiện đang sống ở quê nhà. Hiện nay ở hải ngoại có rất nhiều tổ chức thường trực quyên góp tiền để đem về giúp Việt Nam. Từ chuyện nhỏ như mổ mắt vá môi, chuyện người cùi, bệnh tật hay già yếu, chuyện chén cơm cho người già, bát cháo giúp người đau ốm, cho đến những chuyện khá quy mô “đỡ tay” cho nhà nước cộng sản như xây trường, làm đường, phát học bổng… Không làm thì không ngồi yên trước thảm cảnh nghèo đói, bệnh tật của bà con ruột thịt, mà làm cũng thấy nhiều điều phi lý. Trong khi ngoài nước, chúng ta gom góp từng chục bạc, thì ở trong nước hàng triệu đô la chui vào túi tham nhũng, đục khoét, với những trò cá độ, tẩu tán tài sản hay với lối ăn chơi huy hoắc từ các thành phố lớn cho đến cả nông thôn của các cán bộ, đảng viên cộng sản.


Một phụ nữ an ủi một thương binh VNCH tại phi trường Phú Bài, trong lúc chờ máy bay đưa về bệnh viện Ðà Nẵng hồi Tháng Tư, 1972. (Hình minh họa: Ennio Iacobucci/AFP/Getty Images)

Ở trong địa hạt nào, đường lối của cộng sản cũng tán thưởng và giúp đỡ những tổ chức này, vì chúng ta đã làm những việc “đỡ tay đỡ chân” cho chính quyền để họ còn rảnh tay lo nhiều việc, trong đó còn lo việc đàn áp quần chúng đòi hỏi tự do, công lý. Cũng có những đoàn cứu trợ phải qua chính quyền, nhưng cũng có những đoàn cứu trợ được thong thả đi sâu vào các nơi hẻo lánh xa xôi, xoa dịu được nỗi đói nghèo thì quần chúng càng ngày càng bớt bất mãn. Duy chỉ có một vùng cấm địa mà cộng sản vẫn canh chừng là địa hạt các thương phế binh VNCH của chúng ta. Mỗi khi có một tổ chức đứng ra tụ tập anh em thương binh để phát quà, khi vui thì công an lơ là cho gặp gỡ, khi nghi ngờ, cảnh giác thì “ngăn đường cấm chợ.”

Chúng ta không thể nào đem tiền về tập họp các thương binh VNCH lại và công khai phát tiền cho họ, ngoại trừ dưới danh nghĩa cứu trợ chung chung, trong đó có những người thương tật của cả hai bên như chúng ta vẫn thường thấy trên màn ảnh truyền hình.

Bây giờ đã gần 40 năm qua, chúng ta cũng không oán ghét gì những thương binh cụt què của hàng ngũ cộng sản trước kia, vì họ cũng là nạn nhân của sự lừa bịp chính trị, hy sinh cho kết quả của lầm than dân tộc và chỉ xây dựng cơ đồ cho một nhóm thiểu số cầm quyền. Nếu chúng ta có khả năng giúp đỡ được cho họ thì chính nghĩa của người quốc gia còn tỏ sáng, rạng ngời, tuy vậy “lực bất tòng tâm,” hải ngoại không thể giúp hết cho cả nước Việt Nam, và cũng còn một chỗ, để cho, chính những người đã hy sinh cho chế độ ấy thấy rõ bộ mặt thật của chế độ cộng sản độc ác và bất nhân.

Trong cuộc chiến giữ miền Nam Việt Nam, chúng ta ước tính có đến 350,000 chiến sĩ hy sinh, số thương binh phải gấp con số tử vong sáu lần. Qua thời gian, kẻ còn người mất, có người trở lại đời sống bình thường, người lành lặn trở lại, người đã qua đời hay ly tán, tha hương, số thương binh không có khả năng làm việc mưu sinh tại quê nhà, ít nhất phải là con số trên trăm nghìn. Chúng ta lại có 3 triệu người Việt ở hải ngoại hay gần một triệu đơn vị gia đình, ước tính có 500,000 gia đình đi ra từ miền Nam, chúng ta thừa sức bảo trợ cho một trăm nghìn thương binh VNCH ở Việt Nam.

Mỗi năm chúng ta đi du lịch, tiêu pha vào các dịp lễ Tết, quà cáp cho bạn bè, con cháu, làm việc phước thiện, mỗi gia đình tiêu pha, con số ít khiêm nhường phải lên đến con số nghìn (đô la). Xin quý vị rủ lòng thương mỗi gia đình “bảo trợ” cho một thương binh, như anh em bà con, nhà thờ, nhà chùa, cơ quan thiện nguyện đã từng bảo trợ cho chúng ta đến đây và sinh tồn trên mảnh đất này, con cái chúng ta được học hành, sống no ấm, hạnh phúc.
Mỗi năm chúng ta chỉ cần giúp từ $100 đến $200 với khả năng của người bảo trợ và tùy những khó khăn của người thương binh. Các gia đình bảo trợ sẽ có một gia đình để thăm viếng, thăm hỏi và giúp đỡ và thương binh sẽ có một nơi nương tựa, đặt niềm tin vào cuối cuộc đời của họ. Việc bảo trợ này không bị ràng buộc với bất cứ một sự cam kết nào, mà chỉ do tấm lòng thương yêu tự nguyện của chúng ta.

Chúng ta có thể chọn một thương binh ở gần địa phương có bà con, gia đình của chúng ta trú ngụ để có thể xác tín về sự nghèo đói, sinh hoạt hay hoàn cảnh của người thương binh này, cũng như theo những thương tật đặc biệt mà chúng ta muốn lưu tâm giúp đỡ. Nếu có dịp đi Việt Nam, chúng ta có thể thăm viếng, quan sát đời sống của gia đình thương binh này để tạo thêm tình thương và tin cậy, như vậy việc giúp đỡ của chúng ta trở nên có nhiều ý nghĩa hơn.

Hội HO Cứu Trợ TPB-QP/VNCH tại Nam California hiện nay đang giữ hàng chục nghìn hồ sơ có hình ảnh thương tật và giấy tờ chứng minh để trao cho gia đình quý vị. Trong hoàn cảnh hiện nay, thương binh chỉ được nhận một gia đình bảo trợ, nhưng một gia đình có thể bảo trợ cho hai hay ba hồ sơ thương binh tùy theo khả năng và tấm lòng của mình. Ngoài ra các anh chị em làm việc chung trong mỗi “đơn vị” như xưởng may, tiệm nail hay hãng xưởng cũng có thể chung nhau mỗi năm, một người $5, $10… một cách dễ dàng để bảo trợ cho một thương binh, chúng ta chia sẻ với nhau niềm vui bác ái ấy, đó hạnh phúc khi ban một ân huệ, hay một niềm vui cho người khốn khó, khổ đau hơn mình.

Hiện nay, Hội HO Cứu Trợ TPB-QP/VNCH cho biết rất ít hồ sơ thương binh được nhận bảo trợ, vì nhận bảo trợ có trách nhiệm và khó khăn, mất thời giờ hơn là gửi đến các cơ quan giúp thương binh một hay hai trăm đồng bạc. Trước hết chúng tôi mạn phép kêu gọi mỗi thành viên thiện nguyện đang làm việc giúp cho hội, chúng ta mỗi người bảo trợ cho một hồ sơ thương binh, cho đến lúc họ qua đời, nếu chúng ta qua đời, hy vọng con cái chúng ta sẽ tiếp tục công việc ấy. Bằng một tấm lòng nghĩ về người lính năm xưa, những gia đình của chúng ta, lớn hay nhỏ, sẽ bắt đầu bảo trợ cho một vài hồ sơ thương binh, dù chỉ là một hạt muối bỏ biển, trong một đại dương nghèo đói, khổ đau của Việt Nam và nhất là các thương binh VNCH bất hạnh của chúng ta.

Ðừng đánh giá sai thiện chí của tuổi trẻ mà chúng ta không dám vận động lớp tuổi này. Nhạc sĩ Trúc Hồ, tổng giám đốc đài truyền hình SBTN kiêm giám đốc nghệ thuật Trung Tâm Asia, người đã tích cực đem lại thành quả của 7 lần tổ chức Ðại Nhạc Hội “Cám Ơn Anh, Người Thương Binh VNCH” với số thu gần $4 triệu chỉ vì muốn làm “một viên thuốc giảm đau cho nỗi thống khổ của thương binh VNCH.” Cũng như anh Lý Vĩnh Phong, từng là chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam Nam California, cho rằng, “Tuổi trẻ Việt Nam không bao giờ quên cái gì của các thương phế binh VNCH ‘đã mất’ để cho người Việt hải ngoại chúng ta có những ‘cái được’ hôm nay.”

Có những việc làm minh bạch công khai và cần thiết như những lần đài SBTN, Hội HO Cứu Trợ TPB-QP/VNCH, các hội đoàn cựu quân nhân Nam và Bắc California đứng ra tổ chức các buổi đại nhạc hội ngoài trời để gây quỹ giúp thương binh, vẫn bị đánh phá, xuyên tạc. Xin những người có tấm lòng vững tin vì hiện nay có bao nhiêu thương binh VNCH đang còn hướng về quý vị, ý nghĩa hơn những đồng đô la nhân ái, chính là chúng ta đã gửi cho anh em thương binh những niềm tin.

Dù trong hoàn cảnh thất trận, “tan đàn xẻ nghé,” nhiệm vụ không hoàn thành, người lính VNCH vẫn hãnh diện là người lính chiến đấu cho tổ quốc, mà mỗi người dân miền Nam phải ghi nhớ, trong khi cả nước bắt đầu nhận ra chân dung đích thực của những anh hùng.

 

Mùa thu cuộc tình

Mùa thu cuộc tình

Tiểu Tử

Bữa ăn trưa đó của ông Năm thật giản dị : một trái cà tô-mát không dầu không dấm và một miếng thịt bò nhỏ bằng bàn tay nướng trên vỉ sắt không muối không bơ. Quá giản dị ! Nhứt là hôm nay thứ bảy, không phải đi làm. Nghĩa là có dư dả thì giờ để làm một món gì đó cho có vẻ một bữa ăn cuối tuần. Cho nó khác với ngày thường ăn vội ăn vàng cái gì cũng được. Thật quá giản dị ! Nhứt là ông Năm sống một mình, không bị phiền toái bởi những chuyện vụn vặt lỉnh-kỉnh phải làm vào cuối tuần của người có gia đình. Ở Paris này mà sống một mình như ông Năm thì thời gian không biết phải làm gì cho hết chớ đừng nói không có thì giờ để làm một bữa ăn cho tươm tất vào trưa thứ bảy.

Nói rằng ông Năm không biết làm bếp cũng không đúng. Hồi xưa, hồi còn ở bên nhà, thật tình ông Năm không biết chiên một cái trứng gà. Ông chỉ biết đi làm ngày hai buổi, còn việc bếp núc có bà Năm lo hết. Bây giờ thì khác. Ông cũng biết nấu vài món thông thường và lâu lâu cũng biết ” làm ” một nồi phở để đãi đôi ba ông bạn già  cùng lứa tuổi và cùng thân phận lưu vong…

Như bình thường thì trưa thứ bảy, ông hay thả xuống khu 13 la-cà ở nhà sách Khai Trí một lúc rồi sang qua mấy cửa hàng nho nhỏ trên lầu Paris Stores để coi có gì lạ không. Sau đó, ông mới tấp vô tiệm phở để ăn trưa, có khi một mình,nhưng thường thì với một vài người bạn gặp nhau ngoài phố. Ở khu 13 vào trưa thứ bảy, không gặp người này cũng gặp người nọ, bởi vì ai cũng đến đó để mua đồ, nói là ” đi chợ Tàu ” chớ thật ra là để tìm lại một chút gì hơi hướm của quê hương : những  khuôn mặt gần gũi (gặp ai cũng thấy quen quen !), những món hàng còn giữ nguyên nét cũ  (đòn chả lụa vẫn phải có màu xanh của lá, con vịt quay vẫn phải đỏ ao màu mật…) và những cái tên chỉ cần đọc lên là đủ để gợi nhớ…

Hồi sáng này, ông Năm cũng đã đóng bộ để đi khu 13. Trời đã sang thu, nhưng nắng còn thật ấm. Cây marronnier nhà hàng xóm nằm ngay dưới cửa sổ nhà ông Năm đã trở màu vàng. “Chắc lá đã rụng đầy”, ông Năm nghĩ vậy khi đứng thắt cravate gần khung cửa sổ. Chỗ ông cư ngụ là một studio nhỏ ở lầu ba khu nhà cũ nằm sâu phía sau nhà thờ Sacré Coeur. Cây marronnier che hết phía dưới thành ra từ cửa sổ nhà ông Năm nhìn thẳng ra chỉ thấy bức tường cao của khu nhà đối diện chắn ngang, chừa phía trên bầu trời bị đóng khung hình chữ nhựt bởi hai dẫy nhà dài. Trên nền trời đó, tuốt phía xa, là nóc nhà thờ với cây thánh giá. Thành ra, thế giới bên ngoài nhìn từ phòng ông Năm chỉ còn lại vỏn vẹn có cây thánh giá để cái nhìn còn có một điểm tựa ! Ông Năm theo đạo Phật, nhưng từ ngày dọn về đây – năm sáu năm gì rồi – cứ nhìn cây thánh giá riết mà ông có cảm tưởng như mình đã thành con chiên của Chúa ! Nhiều khi ông thấy cây thánh giá thật là sinh động. Ông không hay rằng niềm suy tư của ông đã gởi trên đó từ lâu…

Có lần, trong thư gởi về Việt Nam cho bà Năm, ông viết : “Anh thừơng nhìn cây thánh giá đứng cao vòi vọi một mình trên kia mà tự hỏi không biết anh và cây thánh giá, ai cô đơn hơn ai ? Nhưng cây thánh giá hãy còn giang tay ngạo-nghễ chớ anh thì từ lâu rồi anh đã buông tay đầu hàng số mệnh ! Tuy nhiên, ở đây anh còn có cây thánh giá trứơc mắt để hứơng về đó mà cầu nguyện, chớ ở bên nhà giờ đây muốn cầu nguyện em phải hứơng về đâu hả em ? Anh bỗng ứa nứơc mắt thương em vô cùng… Ở ngay trong lòng quê hương mà thiếu thốn đủ thứ, đến nỗi điểm tựa cho niềm tin mà còn không có thì em sống ra sao, em hả ?” Đối với ông Năm, cây thánh giá trên chót nhà thờ Sacré Coeur mặc nhiên đã trở thành một vật gì thật gần gũi, thật trần gian, thật ngừơi, và là động cơ khơi nguồn kỷ niệm…

Hồi xưa, ông làm việc cho Air France ở Sàigòn. Đời sống rất thoải mái, nhưng hai vợ chồng lại không có con. Chạy thầy chạy thuốc mãi rồi mới biết tại vì tử cung của bà Năm nằm lệch. Điều này làm bà Năm khóc hết nứơc mắt. Tuy nhiên, hồi đó còn trẻ nên cũng dễ nguôi, hai vợ chồng chẳng quan tâm cho lắm. Lần hồi, tuổi đời chồng chất, sự không có con đã trở thành một vấn đề cho hai vợ chồng. Mặc dù ông Năm không bao giờ nhắc đến chuyện đó, bà Năm vẫn khơi ra để nhận lỗi về mình. Mặc cảm đó làm cho bà lúc nào cũng ân hận, áy náy. Rồi cái gì hư, cái gì trật, cái gì bậy ở trong nhà dù là do lỗi những ngừơi giúp việc, bà cũng nhận hết. Ông Năm phải mất một thời gian dài để giải thích, khuyên lơn, an ủi bà Năm mới lấy lại đựơc quân bình. Có hôm, trong lúc hai vợ chồng đi dạo trên bãi biển Vũng Tàu, nhìn thấy mấy gia đình đông con đùa giỡn vui vẻ, bà Năm chợt thở dài than : “Nếu không phải tại em thì bây giờ hai đứa mình đâu có bơ vơ như vầy !”. Ông Năm choàng tay ôm vai vợ xoay ngừơi lại để nhìn sâu vào mắt : “Em à! Mình không có con, nhưng mình còn có nhau. Đó là Trời thương lắm rồi, em còn đòi hỏi gì nữa ? Thử tưởng tượng một ngày nào đó không còn có nhau nữa thì sao ?”. Bà Năm gật gật đầu nhưng chẳng bao giờ tưởng tượng đến “cái ngày không còn có nhau” đó.

Vậy mà cái ngày đó đã đến cho ông bà Năm. Hai năm sau ngày mất nước, trong chuyến vượt biên ở Cà Mau, ông Năm đi thoát, bà Năm bị bắt lại với một số người không may khác ! Ông Năm sang Pháp, làm việc lại cho hãng Air France. Bà Năm nằm tù hết mấy tháng. Được thả ra thì nhà cửa đã bị tịch thu, đành về quê ở Gò Công làm công nhân cho nhà máy xay lúa của gia đình mà trong đợt đánh tư sản đầu tiên, Nhà Nước đã tịch thu để biến thành hợp tác xã. Từ đó, là những chuỗi dài thương nhớ, là những lo âu dằn vặt, là những lá thư nhiều ẩn nghĩa cho đúng “văn phạm Nhà Nước”. Còn chuyện vượt biên lần nữa là chuyện mà bà Năm không bao giờ dám nghĩ đến ! Bên này, ông Năm chạy mãi rồi cũng được nhập cảnh gởi về, nhưng phía bà Năm thì gặp quá nhiều khó khăn trong hồ sơ xin xuất cảnh, cứ bị kéo dài, kéo dài bằng những chầu chực, bằng những lời hứa hẹn suông và bằng mấy lần bị lường gạt… Để cuối cùng, mấy năm sau, mới biết là hồ sơ đã bị bác từ lâu ! Tin đó đến với ông Năm bằng tờ giấy tập học trò vàng như giấy súc mà trên đó bà Năm chỉ còn đủ sức viết có mấy hàng… Vậy là vĩnh viễn không còn có nhau nữa ! Ông Năm mất tinh thần hết một thời gian dài. Sau đó, dọn về khu phố này tình cờ cửa sổ mở về hướng nhà thờ Sacré Coeur, để mỗi sáng trước khi đi làm ông nhìn cây thánh giá một lúc, giống như một tín đồ ngoan đạo…

Khi ông Năm mặc xong quần áo thì trời cũng đã gần trưa. Đốt điếu thuốc để lên môi, ông đóng cửa bước chậm rãi xuống cầu thang, giống như đo từng nấc thang một ! Thật ra, tại tánh ông Năm vốn đã trầm thêm tuổi đã gần sáu mươi bắt ông phải cẩn thận khi bước lên bước xuống. Ngoài ra, có gì phải vội phải gấp khi mà chẳng có ai đợi ai chờ ? Đi khu 13 vào trưa thứ bảy đã thành một thói quen, chẳng có gì phải náo nức. Bỗng nhiên, ông Năm nhận thấy cuộc đời mình sao thật vô vị. Giống như tờ giấy trắng mênh mông trải dài, thẳng băng, chẳng có một dòng mực, chẳng có một đốm màu, cũng chẳng có một vết hoen ố. Hình ảnh đó làm cho ông Năm dừng lại ở giữa cầu thang, ngẩn ngơ một lúc như vừa khám phá ra một điều gì quá rõ-rệt nằm ngay trước mắt mà sao lâu nay ông không nhận thấy ! “Mình đi làm đều đặn. Mỗi tuần xuống khu 13 cũng đều đặn vào trưa thứ bảy. Mỗi tối thứ hai đi ciné một lần vì giá vé hạ. Đêm nào cũng coi télé vào 8 giờ tối để theo dõi tin tức, rồi đọc sách đọc báo đến 11 giờ rưỡi là tắt đèn ngủ. Đều đặn. Đều đặn. Đến như cái cầu thang này, mình cũng đều đặn trèo xuống trèo lên đến nỗi biết nó có bốn mươi tám nấc ! Vậy rồi thôi ! Rồi cứ như vậy cho tới về hưu,tới chết !”. Ông Năm hít hơi thuốc thật sâu để thở khói ra thật dài. Ông làm mấy lần như vậy, giống như đang tìm một đáp số ! Rồi ông vỗ nhẹ bàn tay lên thành lan can gỗ, tự nhủ “Thôi ! Đừng nghĩ tới nữa” Ông tiếp tục bước xuống, nhưng bây giờ sao thấy bước chân nặng hơn hồi nãy nhiều…

Khi đi qua trước phòng gác-dang, có tiếng gọi :

– Ông Georges ! Ông Georges !

Georges cũng là tên của ông Năm. Người Pháp phát âm Năm thành Nam, nghe lơ lớ chói lỗ tai, nên ông lấy đại tên Georges cho dễ gọi dễ kêu. Bà gác-dang bước ra trao cho ông một điện tín, nói :

– Vừa mới tới. Tôi định lên nhà đưa cho ông thì ông xuống đây.

Ông Năm run tay mở bức điện tín. Giòng chữ ngắn ngủn hiện lên nhảy múa : “Đã có xuất cảnh. Lo vé máy bay cho em. Mai”. Điếu thuốc trên môi bỗng rơi xuống đất. Ông Năm có cảm giác như mình đang lên cơn sốt. Ông đọc lại điện tín một lần nữa, hai tay phải gồng cứng lại mới kềm được tờ giấy đứng yên căng thẳng dưới mắt. Ông nói cho mình nghe : “Đúng rồi ! Bả được xuất cảnh rồi !”. Bà gác-dang nghiêng đầu lo lắng :

– Có sao không ? Có chuyện gì không ? Ông Georges ?

Tiếng bà ta lôi ông Năm về thực tại. Ông nhìn bà ta, mỉm cười, rồi nắm lấy tay bà ta lắc mạnh :

– Cám ơn bà ! Cám ơn bà nhiều ! Tôi thật không biết nói gì cho phải. Bà thật tốt bụng ! Quá tốt bụng ! Cám ơn ! Cám ơn !

Giọng ông thật thành khẩn, làm như chính bà đã cho giấy xuất cảnh ! Bà ta không hiểu gì cả, vừa ngạc nhiên vừa buồn cười trước thái độ của ông Năm. Bà ấp úng “Nhưng mà… Nhưng mà…” trong lúc ông Năm buông bà ra để chạy lên cầu thang. Nữa chừng, sực nhớ ra, ông dừng lại nghiêng người nói vói xuống :

– Điện tín của vợ tôi ở Việt Nam. Bả nói bả sẽ qua đây ở với tôi ! Cám ơn ! Cám ơn nhiều !

Rồi ông phóng lên cầu thang, nhảy hai bậc một, nhanh như sóc, nhẹ như hưu. Làm như ông mới có hai mươi tuổi !

Vào phòng, ông ngã người lên giường, thở hổn hển. Cái tuổi hai mươi bất thần tìm lại chỉ đủ giúp ông trèo hết bốn mươi tám nấc thang thôi ! Một lúc sau, ông cầm điện tín lên, đọc lại một lần nữa. Thật rõ ràng mà ! Đây nè, hàng chữ không bỏ dấu “Da co xuat canh. Lo ve may bay cho em. Mai” Đọc là hiểu ngay ! Còn Mai là tên của bả rồi, chớ còn ai vô đây nữa ! Cái tên dễ thương mà mình đã thương từ mấy chục năm, không còn lộn với ai được. Vậy là chỉ còn có vé máy bay nữa là xong. Ông nhỏm người lên nhìn tấm lịch tháng treo gần đó để thấy rằng mình bỗng quên mất hôm nay là thứ bảy ! Vậy phải đợi thứ hai mới vào sở lo vụ này được. Ông lại nằm xuống. Dễ thôi ! Nhờ thằng Durand đánh cái télex là xong ngay. Ờ… nhưng mình cũng phải gởi cái điện tín về cho bả mừng. Tội nghiệp ! Không biết ai chạy lo cho bả cái xuất cảnh, chớ bả thì lo khỉ gì được với cái tánh hiền khô và nhát hít của bả. Nghĩ đến đó, ông Năm bỗng thấy thương vợ vô cùng. Cái người đàn bà hiền khô và nhát hít đó đã về làm vợ ông từ hơn ba mươi năm, trước sau như một, theo chồng như một cái bóng. Ngoài chuyện không có con, chẳng thấy bao giờ bà làm bận tâm ông. Con nhà giàu ở Gò Công, học ở Marie Curie, vậy mà cô gái có cái tên Trần thị Lệ Mai đó đã có một quan niệm sống thật cổ điển, thật Á đông. Và khi trở thành bà Trần văn Năm, luôn luôn bà đối xử với bên chồng thật vuông tròn và xem việc nội trợ như một thiên chức ! Hồi xưa, bạn bè vẫn nói là “thằng Năm trúng số độc đắc” hoặc “đẻ bọc điều mới có người vợ như vậy”. Ông thì nghĩ rằng tại vợ mình hiền khô và nhát hít nên chẳng dám làm phiền ai bao giờ. Có lẽ nhờ vậy mà ai cũng thương… Ông lại nhỏm dậy nhìn tấm lịch. Trên đó ông có ghi bằng marker đỏ con số 10 to bằng nửa bàn tay ở gốc trái. Vậy mà cũng đã mười năm xa nhau ! Mỗi năm mua lịch, mình ngồi nắn nót viết con số lên đó giống như người tù bị lưu đày ghi số năm mà mình biệt xứ. Có khác là người tù còn biết ngày được thả chớ còn mình thì mù tịt. Đã tưởng vĩnh viễn sống một mình rồi… chết cũng một mình trên đất lưu vong này, nào ngờ Trời còn thương mình nhiều quá !

Ông ngồi hẳn dậy đốt điếu thuốc, khói thuốc thật thơm thật ngọt. Vậy mà cũng đã mười năm xa nhau ! Mười năm… lâu lắm chớ ! Vậy mà sao vẫn thấy còn thương còn nhớ. Lạ quá ! Có phải như vậy người ta gọi là chung thủy hay không ! Rồi ông nhìn quanh. Nhà cửa thiệt là lượm thượm, phải dọn dẹp laị coi cho nó được một chút. Vậy là ông đứng lên đẩy ghế, đẩy bàn, quên mất là mình còn mặc bộ đồ lớn để đi khu 13 và làm như bà Năm sắp qua tới bây giờ ! Vừa làm vừa nói một mình, lâu lâu ông ngừng lại hít một hơi thuốc thật sảng khoái. Hai cái fauteuils này cho sát vào tường, kê gần nhau để cùng ngồi coi télé. Cái télé nằm đó được rồi. Cái bàn ăn nhích qua một chút để có chỗ kéo cái nệm dưới gầm giường ra. Bả trên giường, mình dưới đất, tạm ổn trong khi chờ đợi kiếm nhà khác rộng hơn. Cái tủ búp-phê đẩy tới một chút là nằm ngang với bàn ăn. Mẹ nó ! Coi vậy mà cũng nặng ớn ! Ông đứng lên thở hổn hển, nhìn quanh. Bây giờ coi có nét rồi đó. À ! Cái màn cửa sổ, phải tháo xuống đem giặt, cho nó “sáng” ra mới được. Rồi ông vào buồng tắm thay đồ. Đồ đạc ở đây thì sạch sẽ rồi, khỏi lo. À ! Còn cái tủ quần áo ở bên phòng ngoài nữa. Phải thu gọn lại cho có chỗ để bả để quần áo chớ ! Ông bỗng phì cười. Làm như mình sắp cưới vợ vậy ! Mà thiệt ! Sau mười năm xa cách, gặp lại nhau cũng giống như cưới nhau lần nữa chớ gì ! Ông soi gương chải lại tóc. Tóc mình mới có mấy sợi bạc thôi. Mặt mũi hãy còn “nét” lắm, ai mà nói mình sắp sáu mươi ? Cô dâu qua đây thấy chú rể như vầy là nhìn… rớt con mắt ! Ông Năm bỗng nghe lòng vui rộn rã, giống như tâm trạng ngày xưa, thuở còn trẻ, lúc sửa soạn đi đến nơi hẹn với người con gái tên Trần thị Lệ Mai…

…Vậy là trưa thứ bảy này ông Năm không thấy đói ! Tuy vậy, cũng phải “bỏ bụng” một cái gì,vì thói quen hơn là vì nhu cầu. Ông mở tủ lạnh lấy một trái cà tô-mát và một miếng thịt bò. Cà xắt khoanh, không dầu không dấm, thịt nướng trần trên vỉ sắt không muối không bơ. Làm cho “lấy có” và ăn cũng cho “lấy có”. Bởi vì tâm hồn ông đang mãi phiêu bồng ở đâu đâu xa lắm, hình như là ở Gò Công quê vợ, ở Gia Định quê mình, ở những ngày đầu “hai đứa gặp nhau” (Tiếng nói của tình yêu là một chuỗi dài im lặng !),ở rạp hát bóng Đại Nam là nơi “hai đứa hẹn hò” (Dù trời mưa anh cũng tới. Em nghe không ?), ở Đà Lạt ít lâu sau đó. Chao ôi ! Đẹp quá ! Dễ thương quá ! Tình yêu là cái gì mà sao mãi mãi vẫn còn nguyên, như mới hôm qua hôm kia…

-oOo-

Ông Năm lái xe lên phi trường Charles de Gaulle lần này là lần thứ hai. Hồi sáng, đã lên đó một lần, đợi cả tiếng đồng hồ để được thông báo là chuyến bay Air France từ Thái Lan qua sẽ đến trễ gần tám tiếng. Nhờ là nhân viên của hãng nên ông Năm được biết là máy bay bị trục trặc kỹ thuật ở Karachi. Trở về sở làm, ông ngồi đứng không yên, lâu lâu cứ nhìn đồng hồ. Bạn bè trong sở thấy vậy thương hại, mỗi người một câu an ủi trấn an. Có người ngồi lại gợi chuyện tán dóc cho ông đỡ thấy sốt ruột. Có người đặt tay lên vai ông bóp mạnh :

– Georges ! Đợi chờ nhau mười năm mà mày còn chịu nỗi huống gì chỉ có mấy tiếng đồng hồ nữa thôi. Can đảm lên chớ !

Vậy rồi thời gian cũng qua, chiều cũng xuống, để ông Năm lái xe đi phi trường, lòng náo nức xôn xao trong sự đợi chờ kỳ diệu.

Vào phi trường, ông gắn thẻ nhân viên lên ngực áo rồi đến quầy Air France hỏi thăm. Mô phật ! Lần này máy bay sẽ đến đúng giờ. Hai cô tiếp viên trong quầy không quen ông Năm nhưng thấy đeo thẻ Air France, nên cũng hỏi đẩy đưa :

– Ông chờ đón bạn à ?

Ông mỉm cười, vừa bước đi vừa trả lời :

– Không ! Tôi đón nhà tôi. Chào hai cô.

Phi trường giờ này nhiều chuyến bay cùng đến một lúc nên người đi kẻ lại tấp nập. Ông Năm ngồi uống cà phê, hút thuốc, nhìn thiên hạ. Ông thấy ai cũng dễ thương hết ! Ông muốn họ uống với ông một tách cà phê, hút với ông một điếu thuốc lá. Cà phê expresso thật ngon. Khói thuốc Dunhill thật ngọt. Tâm hồn ông Năm được trải rộng mênh mông…

Lại nghĩ đến bà Năm. Bả  điệu” lắm ! Lúc nào cũng sạch sẽ gọn ghẽ. Tóc lúc nào cũng chải gọn về phía sau rồi cuốn thành một vòng kẹp lại phía trên ót, thành ra khuôn mặt trái soan và cái cổ tròn lúc nào nhìn cũng rõ nét. Còn về quần áo thì bả chẳng bao giờ mặc loại có màu sắc sặc sỡ loè loẹt, luôn luôn hoặc đen hoặc xanh đậm và nếu có bông thì cũng phải tiệp màu với nền vải và hình dáng phải nhã nhặn, nho nhỏ tương xứng với tầm vóc của bả. Hà ! Bả hiền khô và nhát hít vậy mà về vấn đề ăn mặc bả khó dàng trời ! Người ta nói bả có “gout”. Mình cũng nghĩ như vậy, nhưng nếu bả không có thân hình đều đặn cân đối thì không biết cái “gout” để vào đâu cho nó nổi ! Ông hít một hơi thuốc dài sảng khoái. Hồi đó sao mà mình mê bả quá, nhứt là đôi bàn tay có ngón thon dài sang trọng và cặp mắt đen to như mắt đầm làm cho cái nhìn của bả lúc nào cũng có vẻ như ngạc nhiên. Điều lạ là sau này khi đã đứng tuổi, bả vẫn còn giữ nguyên đường nét thời con gái. Thành ra lắm khi nhìn bả, mình muốn trêu chọc bằng câu “Gái không con mà nom cũng mòn con mắt”, nhưng vì sợ bả buồn nên mình nín thinh luôn !

Ông Năm ngừng suy tư trên hình ảnh đẹp của bà vợ, mỉm cười vu vơ. Lại hút thuốc, lại nhìn thiên hạ. Hớp cà phê cuối cùng đã nguội ngắt mà sao vẫn còn thấy ngon lạ lùng. Bỗng ông bật cười. Sau bảy mươi lăm, sống với Việt Cộng mà bả vẫn tiếp tục “điệu” như thường ! Trong lúc người ta lôi quần áo cũ rách ra bận  và để mặt mũi tóc tai lôi thôi lếch thếch cho có “tác phong cách mạng” thì bả vẫn gọn ghẽ sạch sẽ như thường, vẫn chút đỉnh má hồng, chút đỉnh son, vẫn quần dài áo ngắn tươm tất, mặc dù phải đạp xe đi làm công nhân ở tổ may thêu xa bảy tám cây số. Mình hay trêu chọc bả bằng câu nói của Việt Cộng “Song chân lý ấy vẫn không bao giờ thay đổi”, bả cười không nói. Vậy mà có hôm, bả trả lời bằng một câu… xanh dờn : “Đàn bà phải biết tự trọng. Làm như mấy bà cách mạng tóc tai xủ xộp, quần áo xốc xếch rộng rinh hoặc ngắn ngủn như mặt đồ khín, em làm không được”…

Có tiếng nhạc chuông dìu dặt, tiếp theo là giọng bổng trầm của cô tiếp viên thông báo chuyến bay Air France số AF 199 đến từ Thái Lan đã đáp xuống sân bay. Ông Năm đứng lên trả tiền, xong đi vào phía trong qua ngã văn phòng trực của hãng. Ông nghe lòng vừa náo nức vừa hồi hộp giống như ngày xưa khi đứng chờ xem kết quả thi tú tài ! Ông ra đón tận cổng vào. Có hai chuyến bay đến từ hai nơi khác nhau nhưng đổ hành khách xuống cùng một lúc, nên sân bay đầy người. Giữa cái lao xao lộn xộn đó, ông Năm nghểnh cổ tìm vợ trong luồng người thoát ra từ cổng F, cổng của chuyến bay Air France.

Ông nhìn từng khuôn mặt, từng người. Ông nhìn, ông chớp mắt để nhìn cho rõ hơn. Những gương mặt Á đông phờ phạc. Những gương mặt Á đông hốc hác. Những gương mặt Á đông xanh xao. Ông nhìn, ông chờm tới, nhích tới để nhìn. Bả dễ nhìn lắm. Lúc nào cũng sạch sẽ gọn ghẽ. Lúc nào cũng điệu. Trong đám đông, bả nổi hơn người ta nhờ nước da trắng hồng của gương mặt trái soan và đôi mắt lớn, cho nên dễ nhận ra lắm. Không phải bà này. Bà này già quá cũng không phải. Bà này coi ngờ ngợ nhưng đi chung với bầy con nít, không phải bả. Ông nhón chân lên để cái nhìn được đưa ra xa thì tai thoáng nghe hình như có tiếng người gọi nhỏ : “Ông Năm !” Ông vẫn tiếp tục nhìn từng người, từng khuôn mặt. Lại có tiếng người gọi nhỏ, lần này tiếng gọi lạc đi : “Ông Năm…”

Nghe rõ có tiếng ai gọi mình, ông nhìn lại. Ngay phía trước, đứng cách ông chỉ mấy bước, người gọi ông là một bà già tóc muối tiêu hớt bom bê ngắn như mấy bà Tàu Chợ Lớn, mặc áo len nâu rộng thùng thình, ống tay dài phủ mất hai bàn tay đang xách mỗi bên một túi vải. Chỉ mới nhìn tới đó thôi, linh tánh bắt ông nhìn lại gương mặt : khuôn mặt gầy xạm nắng với những nếp nhăn trăng trắng ở khoé môi và đuôi mắt. Ngần đó thứ giống như miếng cau khô, chỉ trừ có hai con mắt là sinh động, là mở to như có vẻ ngạc nhiên, là nói lên, là nhắc nhở, là… là… Trời ơi ! Là vợ tôi đây mà ! Ông Năm nghẹn ngào bước tới, hai tay đưa về phía bà già và chỉ còn đủ sức gọi có một tiếng : “Mai !” Ông ôm lấy vợ mắt nhắm nghiền đau đớn. Tội nghiệp ! Người vợ chỉ dám gọi chồng bằng hai tiếng “Ông Năm” như người xa lạ, và chỉ dám gọi có hai lần. Và khi chồng nhìn ra mình, ôm chầm lấy mình, người vợ đó chỉ còn nói được bằng nước mắt !

Ông Năm buông vợ ra để nhìn lại lần nữa. Ông nghe nghẹn lời và nghẹn cả lòng. Ông chỉ còn nói được bằng hai bàn tay… Hai bàn tay vuốt làn tóc bạc bây giờ sao quá thẳng quá ngắn. Hai bàn tay ôm lấy khuôn mặt bây giờ sao không lấp đầy hai lòng bàn tay. Hai bàn tay đặt xuống bờ vai bóp nhẹ. Dưới lớp áo len, ông cảm rõ nét gầy của bờ vai bây giờ. Bây giờ… Hồi đó… Từ trong sâu thẳm của lòng ông, nỗi đau khổ tột cùng bỗng bật lên thành tiếng, một thứ tiếng nói lệch lạc méo mó vì uất nghẹn : “Sao vầy nè ?”. Rồi, không kềm chế nổi nữa, không cần giữ gìn ý tứ gì nữa, trong cái rừng người xào xạc đó, ông ôm lấy vợ, ngửa mặt lên trời thét lên một cách thống thiết : “Sao vầy nè… Trời ?”. Tiếng “Trời” nặng trĩu thoát ra từ lòng ngực ông như tất cả sinh lực trong người được trút ra hết… Rồi ông ôm lấy vợ, nước mắt ràn rụa. Bà Năm cũng khóc nhưng vẫn không buông rời hai cái túi vải. Hơn mười năm sống với Việt Cộng, đã trở thành một bản năng : nắm chặt, giữ chặt những gì còn thuộc về mình, những gì mà “tụi nó” chưa kịp chiếm lấy, cướp lấy !

Một lúc lâu sau, phải một lúc lâu sau, ông Năm mới lấy lại bình tĩnh. Ông nói :

– Thôi mình về đi em !

Tiếng “em” thật tự nhiên, thật nhẹ nhàng. Tiếng “em” mà đã mười năm, bà không còn nghe thấy ! Bà cắn môi để kềm xúc động, nhìn chồng mà đuôi mắt nheo lại mỉm cười. Bà nghe một cái gì mát rượi đang len vào lòng, một cái gì đã làm rơi mất từ hơn mười năm, bây giờ mới tìm gặp lại. Mãi đến bây giờ, ông Năm mới thấy trong đôi mắt vợ, nét cũ ngày xưa : to tròn như mắt đầm, trồng đen lay láy. Đôi mắt đó đang nhìn ông, cái nhìn ngời lên như muốn nói thật nhiều… Ông cúi xuống định xách hai túi vải. Bà Năm lắc đầu :

– Để em xách !

Tiếng “em  cũng thật tự nhiên thật nhẹ nhàng. Giọng nói thật dịu dàng, trong trẻo. Làm như nước mắt đã tẩy sạch dấu vết của mười năm…

Ông vói tay cầm lấy quai túi :

– Để anh xách cho.

Bà Năm vừa bước đi, vừa nói, tay vẫn nắm chặt hai túi vải :

– Không sao. Em xách được. Ở bển, em gánh lúa mỗi ngày cho nhà máy, có sao đâu.

Ông Năm bỗng nghe lòng quặn thắt. Thì ra “tụi nó” đày đọa bả đến nước đó ! Bả tội gì ? Tội gì ? Tội vượt biên ? Thì đã ở tù trên ba tháng rồi còn gì nữa ? Vậy tội gì ? Ông Năm nghiến cái câm thù trong răng để đừng chửi đổng, nhưng rồi ông cũng bật ra : “Quân khốn nạn !”

-oOo-

Về đến nhà thì trời đã xâm xẩm tối. Lần này thì chính ông Năm xách hai túi vải, đi trước dẫn đường, lòng vui như mở hội. Đến chân cầu thang, ông nói :

– Ở từng lầu ba lận. Em leo nổi không ?

Bà Năm trả lời, giọng vẫn trong trẻo :

– Gì không nổi ? Bây giờ em làm cái gì cũng nổi hết.

Rồi bà bước lên cầu thang, bước đều đặn. Ông Năm theo sau, nhìn dáng dấp nhỏ thó với mái tóc bạc hớt bom-bê cao ông bỗng thương vợ vô cùng. Mười năm… Mái tóc huyền mà ngày xưa hay kéo sát về phía sau để cuốn tròn kẹp gọn một vòng trên ót… bây giờ chỉ còn là như vầy ! Cái cổ tròn dẫn xuống bờ vai thon thon của hồi đó… bây giờ gầy nhom như vầy ! Mười năm… Chắc bả phải khổ ghê lắm, phải chịu đựng ghê lắm mới ra nông nỗi này ! Tội nghiệp ! Người đàn bà hiền khô và nhát hít đó chưa làm phiền lụy ai bao giờ, vậy mà Việt Cộng vẫn moi ra một cái cớ nào đó để hành hạ. Và như vậy suốt mười năm. Lam lũ quá nên bả già trước tuổi, chớ bả cũng còn giữ được cái nhìn, giọng nói và tâm hồn… những thứ mà Việt Cộng không cưỡng chiếm được !

Vào nhà, ông Năm bật đèn lên, bà Năm nhìn quanh mỉm cười, không nói. Ông Năm đặt hai túi lên bàn ăn, rồi cũng nhìn quanh :

– Nhà của anh đó. Nhỏ như cái lỗ mũi. Tạm một thời gian rồi mình sẽ kiếm nhà khác rộng hơn.

Bà Năm dịu dàng :

– Như vầy cũng được. Có hai đứa mà gì…

Bỗng nhiên hai người nhìn nhau. Tiếng “hai đứa” nhắc cho họ nhớ tới hoàn cảnh bây giờ, một hoàn cảnh mà từ lúc gặp lại nhau bao nhiêu thống hận dập dồn đã làm họ quên đi : bây giờ “hai đứa” vẫn còn có nhau, thật sự còn có nhau. Rồi sẽ không còn gì chia cách. Rồi sẽ đi bên nhau, đi hết đoạn đường còn lại, một đoạn đường không còn bao nhiêu xa… Bởi vì họ biết : họ đang bước vào mùa thu của cuộc đời… Cho nên họ nhìn nhau mà yêu thương dâng đầy trong mắt.

Bà Năm bước lại cửa sổ. Ngoài xa trên nền trời trắng đục, hiện lên thật rõ cây thánh giá và nóc nhà thờ Sacré Coeur. Bà Năm hỏi :

– Cây thánh giá này đây ?

Câu hỏi trống không nhưng hai người cùng hiểu : cây thánh giá mà ông Năm viết đi viết lại không biết bao nhiêu lần trong thư gởi về Việt Nam. Ông bước lại khoác vai vợ, gật gật đầu. Hai người yên lặng nhìn cây thánh giá như đang tạ ơn, giống như đang rước lễ, giống như cô dâu chú rể sau khi được kết hợp thành vợ chồng… Thời gian bỗng như dừng lại, để hình ảnh trở thành bất diệt, nói lên cái cao cả của tình yêu, cái huyền diệu của niềm tin… những thứ mà Việt Cộng muốn xoá bỏ để biến con người thành gỗ đá.

Một lúc lâu sao, bà Năm như sực tỉnh :

– Để em soạn đồ ra.

Rồi bà bước lại bàn mở hai túi vải. Ông Năm đốt điếu thuốc, khói thuốc lâng lâng nhẹ. Ông ngồi cạnh giường nhìn vợ soạn đồ bằng đôi bàn tay xạm nắng với những đường gân nổi lên ngoằn ngoèo. Đôi bàn tay đã từng có ngón tay thon dài khéo léo từ đường kim mũi chỉ… bây giờ là như vậy ! Ông thấy thương vợ vô cùng.

Bà Năm soạn đồ ra để trên bàn : vài bộ quần áo, mấy cái khăn lông, một cái mền nhỏ…

Vừa làm bà vừa nói :

– Có bao nhiêu, em đem theo hết. Nói là đi chánh thức chớ không biết lúc nào tụi nó bắt mình lại. Có nhiều người lên máy bay rồi mà còn bị lôi xuống, không biết vì cớ gì. Rồi khi được thả ra là trắng tay.

Bà lấy trong túi ra một khuôn hình, trao cho ông Năm :

– Em đem hình ông già bà già qua để lâu lâu mình thắp một cây nhang.

Ông Năm nhìn hình cha mẹ, lòng bồi hồi xúc động. Hình này, hồi đó, để trên bàn thờ nhà cũ. Nhà bị tịch thu, không hiểu bả làm sao lấy được để mang qua đây ? Ông đứng lên nhìn quanh, rồi treo khuôn hình lên cây đinh trên tường đối diện.

Có tiếng bà Năm nói :

– Em có đem qua cho anh chai rượu nếp than nữa. Nhớ hồi đó anh ưa lắm.

Ông quay lại, cầm chai lên mở nút. Chưa đặt miệng chai lên mũi mà mùi rượu ngọt ngào thơm phức tỏa ra thật nồng nàn. Ông hít một hơi dài, đóng nút lại, rồi nhìn chai rượu mà ứa nước mắt. Nỗi nhớ quê hương nằm sâu trong tìm thức, bây giờ, mùi rượu nếp than, màu rượu nếp than đã làm bật dậy, vô cùng mãnh liệt. Ông tưởng chừng như vừa hưởi thấy mùi thơm quê hương. Có mùi ngọt ngọt của lúa chín, có mùi nồng nồng của rơm của rạ, có mùi hăng hăng của đống un đốt cạnh chuồng trâu chuồng bò… Ông tưởng chừng như đang giữ trong tay một mảnh trời quen thuộc. Ở đó có màu tím lờn lợt của hoa bằng lăng, có màu tím nâu nâu của vỏ măng cụt, có màu tím học trò của trái mồng tơi, và những tà áo tím phất phơ theo gió qua cầu, với những chiều tím quê ngoại, đứng ngẩn ngơ bên sông Vàm Cỏ khi tuổi vừa mới lớn… Chao ơi ! Ngần đó thứ, tưởng quên nhưng vẫn nhớ. Ngần đó thứ bây giờ xa thật xa. Xa, không phải vì cách biệt, mà xa vì không còn thuộc về mình nữa !

Ông Năm cầm chai lắc lắc, bột nếp than tím ngát dợn lên trong lòng chai. Ông mở nút rót thẳng vào miệng một hớp. Chất rượu béo ngậy ngọt ngào cay cay nhắc ông nhớ những quán nhậu ở Hóc Môn, những món thịt rừng ở Biên Hoà, những con cá mú sửa kho tộ ở Vũng Tàu bãi sau bãi trước… Ông ngậm lấy hớp rượu để nghe rõ chất rượu đang thấm vào nướu răn, đang thấm vào các thớ thịt cổ, đang thấm lên nóc giọng, đang nồng lên mũi. Ôi ! Mùi vị quê hương là đây… ông không cầm được nước mắt !

Bà Năm vẫn âm thầm soạn đồ đạc. Bà hiểu ông Năm lắm và nghe thương chồng vô cùng. Tội nghiệp ! Mười năm xa quê hương…

Ông Năm vào phòng tắm rửa mặt rồi ra chỉ chỗ cho vợ xếp quần áo. Xong ông bảo :

– Anh đã làm sẵn mấy món ăn cho hai đứa. Để anh đem ra hâm. Em đặt bàn đi. Đồ đạc trong tủ búp-phê đó.

Bà Năm nghi ngờ :

– Anh mà làm bếp cái nỗi gì ? Mua ở tiệm thì có.

Ông Năm cười sảng khoái :

– Em lầm rồi ! Bây giờ, anh làm cái gì cũng được hết. Nấu bếp, giặt đồ, làm ménage … đủ thứ. Rồi em coi ! À… đặt bàn em nhớ để một dĩa sâu cho món súp légume và một dĩa trẹt cho món gà nấu rượu, nghe !

Bà Năm mỉm cười, thấy chồng sung sướng mà lòng cũng thênh thang trải rộng.

Một lúc sau, hai vợ chồng ngồi vào bàn ăn. Trên bàn cũng có hai cây nến. Cũng khăn trải bàn trắng phau, cũng khăn ăn màu xám lợt, cũng dĩa trắng chạy chỉ vàng, cũng nĩa dao cáng gỗ có nét vẽ cong cong nhè nhẹ. Và không quên hai ly rượu có chân, đựng chút rượu nếp than có màu tím đậm đà và hương thơm mời mọc.

Ông vui vẻ :

– Như vầy mới đúng là nuit de noces chứ, phải không em ?

Bà Năm nhìn chồng không nói, nhưng vành tai bỗng đỏ bừng. Bà nói lảng :

– Súp ngon chớ ! Anh học nấu ở đâu vậy ?

Ông để ngón tay trỏ lên môi, vẻ bí mật :

– Hùm… Không nói đâu ! Ông Tiên người Tàu chuyên nấu đồ Tây chỉ đó, dặn anh đừng nói cho ai biết !

Rồi cả hai cùng cười vì hình ảnh ngộ nghĩnh đó, cái cười hồn nhiên tìm lại sau mười năm xa nhau…

Bữa ăn kéo dài bằng những chuyện kể cho nhau nghe, nhớ đâu kể đó, không mạch lạc đầu đuôi, bởi vì trong thời gian mười năm có biết bao nhiêu sự việc đã xảy ra để mà nhớ cặn kẽ cái nào sau cái nào trước ! Dọn dẹp xong thì trời đã khuya. Hai vợ chồng chia nhau, bà nằm trên giường, ông nằm trên nệm dưới đất.

Tắt đèn đã lâu mà hai người vẫn còn trằn trọc. Làm như còn thèm nói chuyện với nhau nữa ! Bóng tối dầy đặc vây quanh. Không khí trong nhà êm êm mát mát. Mùi rượu nếp than và mùi thuốc lá Dunhill còn phản phất thơm thơm. Bỗng bà Năm nghe một bàn tay của chồng đặt lên mình mình. Toàn thân bà run lên nhè nhẹ. Hơi thở của bà bỗng trở nên phập phồng. Một cảm giác dường như thật cũ, mà cũng dường như thật mới, dìu dịu ngây ngây… Bà không biết nữa ! Rồi, không tự chủ được, bà cầm bàn tay chồng áp lên má, lên mũi, lên môi. Bàn tay này tưởng đã vĩnh viễn không còn nhìn thấy, cầm lấy. Da thịt này tưởng đã vĩnh viễn không còn đụng chạm sờ mó được. Mười năm… Mười năm… Nước mắt bỗng chảy dài xuống hai bên tai, bà Năm thốt lên nho nhỏ : “Mình !”. Chỉ có một âm đơn độc, nhưng sao tiếng “mình” nói lên thật nhiều, diễn tả thật nhiều. Tiếng “mình” mà mười năm nay ông Năm không còn nghe. Tiếng “mình” gợi lên tình nghĩa vợ chồng, nỗi niềm chia xẻ. Tiếng “mình” cũng là tiếng nói của yêu đương, của hài hoà sum họp. Và tiếng “mình” ở đây, trong hoàn cảnh này, sao nghe thật mời mọc dâng hiến… Người đàn bà mười năm khổ hận đó, vợ ông, cần được yêu thương thật nhiều để bù lại. Tiếng “mình” gọi nhỏ trong đêm bỗng nghe tiếp nối… Bồi hồi xúc động, ông Năm chồm lên ôm xóc lấy vợ, hôn tràn lên tóc, lên má, lên môi. Ông nghe trong tay, run lên như đang cơn sốt, thân xác gầy còm của vợ. Và tai ông còn nghe những tiếng “mình” đứt quãng ú ớ như tiếng nói trong chiêm bao…

Cuộc tình của tuổi vào thu âm thầm như lá rụng bên ngoài nhưng cũng nồng nàn ngọt lịm như hớp rượu nếp than cùng chia nhau khi nãy. Có mùa chớm thu nào mà không thấy còn sót lại vài tia nắng hạ ?

-oOo-

Tôi muốn câu chuyện này chấm dứt ở đây cho cuộc tình được đẹp như bài thơ, được vuông tròn như trong tiểu thuyết. Nhưng trên thật tế không phải như vậy. Bởi vì…

…Một tháng sau đó, bà Năm ngã bịnh, phải vào nằm nhà thương. Bà bị ung thư phổi, ở thời kỳ chót. Bà đã giấu ông Năm, lâu nay, bây giờ bà mới cho biết : hồi còn ở Việt Nam, nhờ khám thấy ung thư nên bà mới xin được chiếu khán xuất cảnh. “Nhà nước Cách Mạng vốn khoan hồng nhân đạo, nên cho phép chị sang thăm chồng đấy ! Chớ chị không nằm trong diện được cứu xét nào cả. Rõ chưa ?”. Gã cán bộ trao giấy phép cho bà Năm, mà nói như thật ! Tụi nó dư biết rằng có giữ bà lại cũng chỉ tốn gạo tốn khoai thêm vài tháng nữa và là một miệng ăn phi sản xuất, chẳng lợi lộc gì cho “nhân dân”. Thà tống đi gấp để khỏi phải chôn thêm một người, chật đất !

Ông Năm đã ngồi bên giường vợ suốt thời gian cuối cùng. Ông đã cầm bàn tay còn mang tỳ vết của mưòi năm gian khổ. Ông đã ôm gương mặt phong trần chưa kịp đổi hồng sau mấy tuần sống đầy hạnh phúc. Và cuối cùng, ông đã chải lại mái tóc bạc chưa kịp dài để được cuốn tròn kẹp lên sau ót, như ngày xưa…

Ông đã gục lên thân xác gầy khô, khóc với tất cả nước mắt còn lại.

Mùa thu đó, lá rụng thật nhiều…

Tiểu Tử

 

Tham nhũng, bệnh ung thư của chế độ

Tham nhũng, bệnh ung thư của chế độ

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2014-08-02

namnguyen08022014.mp3

026_c0023257ts-305.jpg

Ảnh minh họa nạn hối lộ, tham nhũng

AFP photo

Tham nhũng được ví như loại bệnh nan y ở Việt Nam, gần đây các nhà lãnh đạo cao cấp của Việt Nam đã không còn né tránh vấn đề này và có sự nhìn nhận trực diện.

“Giặc nội xâm”

Lâu nay nhiều người tự hỏi, với mức lương quá thấp cán bộ công chức làm thế nào trang trải cuộc sống. Thế nhưng trên thực tế những thành phần này vẫn sống khỏe, tài sản tích góp từ các bổng lộc khác ngoài lương mới là phần quan trọng của sự nghiệp làm cán bộ công chức.

Hồi đầu tháng 7/2014 vừa qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói với cử tri Hà Nội rằng tham nhũng chính là “giặc nội xâm” của đất nước. Theo lời ông Tổng Bí thư, nạn tham nhũng liên quan đến người có chức có quyền, đến lợi ích nhóm đã tồn tại và ăn sâu trong guồng máy nên không thể giải quyết dễ dàng.

Người đứng đầu đảng Cộng sản nói cần có thời gian để triệt phá tham nhũng. Nhưng người dân tự hỏi sẽ còn cần bao nhiêu thời gian nữa, trong khi đảng Cộng sản đã thực tế nắm chính quyền và độc quyền cai trị một đất nước thống nhất gần 40 năm qua.

Nhà giáo Đỗ Việt Khoa, được biết tới như một nhà hoạt động chống tiêu cực trong thi cử và giáo dục từ Hà Nội phát biểu:

” Chuyện công khai tài sản của quan chức có từ mười mấy năm nay họ còn chưa thực hiện được thì còn đợi đến bao giờ nữa.
-Thầy Đỗ Việt Khoa”

“Chuyện công khai tài sản của quan chức có từ mười mấy năm nay họ còn chưa thực hiện được thì còn đợi đến bao giờ nữa. Là một người dân thường chúng tôi bao giờ cũng mong muốn mọi việc của đất nước phải được công khai minh bạch, giám sát được mọi quyền lực của cơ quan nhà nước, ngăn chặn và xử lý được nạn tham nhũng tiêu cực.”

Tham nhũng ở Việt Nam muôn hình vạn trạng, từ phụ phí cho công an khu vực hay viên chức ở phường, lót tay cảnh sát giao thông cho đến lại quả phần trăm của những dự án trị giá hàng trăm triệu đến hàng tỷ đô la. Tham nhũng dẫn đến oan sai trong vấn đề thu hồi đất từng là tiền đề của khiếu kiện đông người, của hàng chục ngàn vụ án mỗi năm.

Câu chuyện tham nhũng trong xây dựng cơ bản, rút ruột công trình là thứ mà người dân dễ cảm thấy mình là nạn nhân, vì họ là người đóng thuế. Trước đây các ngành các cấp có liên quan thường chống lưng cho nhau vì tất cả cùng có bổng lộc, có ăn chia. Âm vang của những PMU 18 vẫn còn đây hay mới nhất là vụ ăn hối lộ của ngành đường sắt liên quan tới dự án do Nhật Bản tài trợ.

000_DV272185-250.jpg

Bà Lê Hiền Đức, một khuôn mặt tham gia chống tham nhũng có tiếng lâu nay tại Việt Nam. AFP photo

Một thí dụ điển hình về tham nhũng rút ruột công trình là vấn đề nhiều xa lộ mới xây dựng ở Việt Nam chỉ trong thời gian ngắn là bị lún, bị lằn bánh xe. Thí dụ quốc lộ 5 Hà Nội-Hải Phòng hay đại lộ Đông Tây ở TP.HCM. Ban ngành có trách nhiệm đổ lỗi cho xe chở quá tải làm đường lún và đề nghị giảm tải. Nhưng các chuyên gia đã chứng minh rằng, cũng những xe tải đó lưu thông trên xa lộ Biên Hòa hay xa lộ Đại Hàn do chế độ cũ xây dựng cách đây hơn 40 năm mà đường không bị lún. Nhưng khi các xe tải này đi vào Đại lộ Đông Tây mới hoàn thành chưa lâu mà lại lún lên lún xuống.

TS kinh tế Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội nhà báo độc lập từ TP.HCM nhận định:

“Trong xây dựng cơ bản không chỉ là giao thông mà còn các công trình hạ tầng và nhà cửa kiến trúc… cách đây 20 năm tỷ lệ tham nhũng thất thoát ở trong lãnh vực xây dựng cơ bản được báo cáo ở mức còn khiêm tốn là 10%. Nhưng sau đó các số liệu dần dần được công bố và do báo chí phát hiện từ người dân cung cấp cho thấy tỷ lệ này lên tới 30% và đã được một số đại biểu qua một số kỳ họp quốc hội xác nhận. Tuy nhiên 30% vẫn được coi là tỷ lệ bình thường, thậm chí có những công trình tỷ lệ thất thoát lên tới 50%. Trong một số vụ án gần đây không thể tưởng tượng nổi, có lẽ Việt Nam trở thành một nước vô địch về nâng khống giá, có một doanh nghiệp đã nâng khống giá lên 1.300 lần, tức là mua một mà quyết toán là 1.300. Điều đó cho thấy khi vấn đề đã thành bản chất thì rất khó thay đổi và không biết làm sao để thay đổi.”

Rút ruột để có khoản chi

“Trong một số vụ án gần đây không thể tưởng tượng nổi, có lẽ Việt Nam trở thành một nước vô địch về nâng khống giá, có một doanh nghiệp đã nâng khống giá lên 1.300 lần.
-TS Phạm Chí Dũng”

Cũng hiếm có quan chức nào như Bộ trưởng Giao thông Vận tải Đinh La Thăng chẳng ngại vạch áo cho người xem lưng. Theo báo Dân Trí điện tử bản tin trên mạng ngày 28/7/2014,  khi đi thực tế tại dự án nâng cấp Quốc lộ 1 đoạn qua Bình Định, Bộ trưởng Đinh La Thăng nói với các giới chức ban ngành về tình trạng chậm tiến độ thi công xin trích một đoạn: “Nếu thực sự là công khai minh bạch thì ký duyệt được ngay, đằng này các ông còn thích lượn rồi lại bày trò giảm cái này tăng cái kia thì phải như thế nào, có khi còn phải ăn chia xong mới ký…” Bộ trưởng Thăng còn vạch rõ thủ đoạn của tư vấn giám sát “vòi tiền” rồi mới ký nghiệm thu công trình. Phê phán đơn vị tư vấn giám sát Bộ trưởng Thăng nói: Nhà thầu làm đến đâu phải giám sát chất lượng cho họ, xong thì phải ký thanh toán! Các ông là hay ‘đánh võng’ lắm đấy, thậm chí còn mặc cả với nhà thầu về khối lượng để ký trước rồi tính lãi suất, khi có thay đổi biện pháp thi công thì ngồi tính toán ăn chia với nhau xong mới ký…”

Có lẽ vì phải hối lộ dày dặc nên các nhà thầu phải rút ruột công trình để có khoản chi. Hoặc bỏ thầu thấp để được tham gia dự án nên để có lời phải rút ruột, và đã rút ruột thì chất lượng công trình không bảo đảm và đương nhiên phải hối lộ để được nghiệm thu. Cả hai hình thái xem ra đều có lý.

Dù rằng tham nhũng xảy ra ở khắp nơi trên thế giới, nhưng tham nhũng ở Việt Nam có thể ví là bệnh ung thư không có thuốc chữa. Các chuyên gia phản biện cho rằng, chưa thể có giải pháp hiệu quả để phòng chống tham nhũng ở Việt Nam một khi  đất nước chưa có nền dân chủ đích thực.

Nổ nhà máy ở TQ, hơn 60 người chết

Nổ nhà máy ở TQ, hơn 60 người chết

Thứ bảy, 2 tháng 8, 2014

Nhiều người bị thương phải đứng bên ngoài nhà máy đang cháy để đợi lực lượng cứu hộ

Ít nhất 65 người đã thiệt mạng, hơn 100 người khác bị thương trong vụ nổ một nhà máy ở thành phố Côn Sơn, thuộc tỉnh Giang Tô, Trung Quốc Tân Hoa xã đưa tin.

Những hình ảnh được đăng tải trên mạng xã hội cho thấy nhiều người bị bỏng đang đứng chờ được trợ giúp bên ngoài khu tổ hợp nhà máy, nơi những cột khói đen đang bốc lên.

Các nỗ lực cứu hộ đang được tiến hành, trong lúc nhà chức trách điều tra nguyên nhân gây ra vụ nổ.

Đài CCTV của Trung Quốc cho biết nhà máy này là của Zhongrong Plating, công ty chuyên sản xuất phụ tùng ôtô với khoảng 450 lao động.

Các khách hàng của công ty này bao gồm cả tập đoàn General Motors của Hoa Kỳ, CCTV cho biết thêm.

Truyền thông nhà nước Trung Quốc cho biết sự cố xảy ra bên trong một phân xưởng đánh bóng vành xe.

Khoảng 200 công nhân được cho là đang làm việc tại nhà máy vào thời điểm xảy ra vụ nổ.

Hơn 200 công nhân được cho là đã có mặt tại nhà máy vào thời điểm xảy ra vụ nổ

 

Những Người Viết Láo & Những Người Viết Báo

Những Người Viết Láo & Những Người Viết Báo

RFA

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Bây giờ các anh phải sống theo cách khác cái lũ già hèn nhát chúng tôi, phải học chia một véc-bờ khác : Tôi đếch sợ anh, anh đếch sợ tôi, chúng ta đếch sợ chúng nó…

Nguyễn Tuân

Tôi giao thiệp hơi (quá) rộng. Trong số mấy triệu người Việt tị nạn đang sống rải rác khắp nơi trên thế giới, tôi quen biết dám chừng hơn nửa. Còn với qúi đồng hương hay đồng bào (ở quê nhà) chắc cũng khoảng một phần mười, nghĩa là cỡ đâu mười triệu – bất kể thành phần xã hội, giới tính, sắc tộc, tôn giáo, hay chính kiến … – anh Tiêu Dao Bảo Cự và chị Phạm Thị Bạch Yến là hai trong (vô số) những người này.

Người trông xa, ma trông gần. Bạn bè, tất nhiên, cũng không nên thân cận quá. Bởi vậy, khi nghe tin anh Bảo Cự và chị Bạch Yến sẽ ghé Mỹ (chơi) độ … nửa năm, tôi “hết hồn hết vía” và “băn khoăn” cả buổi!

Hoa Kỳ không phải là nơi để chơi. Ghé qua sáu ngày e thiếu nhưng ở tới sáu tháng thì sợ là dư. Tôi thực sự lúng túng không biết làm gì khoảng thời gian (dài đến một trăm tám chục ngày) khách ở California.

May mà cả anh Tiêu Dao Bảo Cự lẫn chị Bạch Yến (chắc) đều tuổi Ngọ nên rất “chịu” đi. Trong tập bút ký Gặp Gỡ Trên Đất Mỹ, ông cho biết hai người đã “phiêu lưu” qua mười hai tiểu bang và Washington D.C.

Xin xem qua một đoạn văn tác giả viết về Viện Bảo Tàng Báo chí (Newseum) nơi mà hầu như mọi du khách đến thủ đô nước Mỹ cũng đều đã dừng chân:

“Có một bức tường tưởng niệm các nhà báo trên thế giới đã hi sinh trong khi làm nhiệm vụ, được coi như những anh hùng của nền dân chủ, với tên tuổi và hình ảnh dày đặc từ gần dưới nền lên cho đến tận trần nhà. Nhiều câu nói về sự cao quý của nhà báo và nghề báo ghi trên các bức tường được chọn lọc cẩn thận, đáng suy ngẫm.

Tôi thích nhất các câu: ‘The free press is the cornerstone of democracy,’ ‘Free press, at its best, reveals the truth’ và điều xác tín của Rod Dreher, nhà bình luận báo chí: ‘There are three kinds of people who run toward disaster, not away: cops, firemen and reporters.’ Dĩ nhiên đây phải là báo chí và nhà báo chân chính. Trong thế giới hiện nay, cũng không hiếm các báo chí và nhà báo đi ngược lại thiên chức cao quý của mình…”

Nhà báo là một trong ba loại người chạy đến nơi xảy ra tai

họa chứ không chạy đi. Ảnh và chú thích: TDBC.

Chả hiểu sao cứ mỗi khi nghe nói đến danh xưng “nhà báo chân chính” và “thiên chức cao qúi” của họ là tôi lại nghĩ ngay đến “cung cách tác nghiệp” của những người làm báo ở xứ sở của mình, cùng với một tiếng thở dài – cố nén!

Chớ có người làm báo nào ở Việt Nam chạy đến nơi xẩy ra tai họa không vậy, Trời? Sao không: trong vụ cưỡng chế đất đai ở Văn Giang, hai nhà báo của chúng ta đã có ngay mặt tại hiện trường – và bị công an đánh cho bầm dập, đánh cho tơi tả,  “đánh cho chết mẹ mày đi” – dù họ chỉ đến “với tinh thần ủng hộ chủ trương của tỉnh,” và cho công tác “tuyên truyền có định hướng” của nhà nước, chứ không phải để lên tiếng bênh vực cho  những nông dân đang bị đẩy vào bước đường cùng.

Biếm họa: Babui

Toa rập với cường quyền để áp bức lương dân không phải là “sở trường” duy nhất của những người làm báo ở Việt Nam. Họ còn sẵn sàng đánh bóng hay nói theo bất cứ chủ trương hoặc chính sách nào của Nhà Nước – kể cả những chủ trương ngu xuẩn nhất – bằng những lời lẽ hoàn toàn dối trá và trơ trẽn:

Do được hưởng lợi trực tiếp hoặc gián tiếp mà từ hôm đến Đắk Nông, hỏi bất cứ người dân nào người ta đều ủng hộ các dự án về bô-xít, chắc chắn nó sẽ làm thay đổi hẳn bộ mặt tỉnh Đắk Nông trong tương lai.

Từ nhà già làng Điểu Sơn, chúng tôi sang nhà ông Điểu Lônh (Lôi). Nhờ có tiền đền bù đất mấy trăm triệu, ông xây cho con gái, con rể ngôi nhà khang trang lát gạch men bóng lộn, xa lông, tủ chè, ti-vi, quạt điện… làm chúng tôi ngỡ mình đang ngồi ở thành phố chứ không phải là một bon hẻo lánh của người H’Mông. (Nguyễn Hữu Nhàn.  Bô-xít Tây Nguyên, Thấy Gì Ghi Nấy).

Làm sao mà “thấy” một buôn làng của người H’Mông ở Đắc Nông được mà “ghi” đại vậy, cha nội? Ông Nguyễn Hữu Nhàn, tuy thế, chưa trơ tráo bằng ông bạn đồng nghiệp Lã Thanh Tùng:

Bauxit của chúng ta khai thác dễ đến nỗi, chỉ cần gạt lớp đất mặt đi (khoảng 0,9 mét) là đến ngay vỉa quặng dày đến 4 mét. Theo các chuyên gia, trữ lượng bauxit của Việt Nam có thể khai thác hàng trăm năm, đem lại lợi nhuận hàng chục tỷ USD… (“Bô-xít Và Những Điều Khác”, Văn nghệ số 44, phát hành ngày 31 tháng 10 năm 2009).

Thiệt là quá đã, và… quá đáng nhưng vẫn chưa đáng tởm bằng cái thói ngậm máu (hay ngậm cứt) phun người của những người làm báo ở xứ sở của tôi:

– Thích Quảng Độ móc nối các tổ chức cực đoan lưu vong ở hải ngoại để dùng “oán trả ơn” bằng cách thông tin vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, không cho tự do tôn giáo. (Sài Gòn Giải Phóng, ngày 28 tháng 8 năm 2007).

– Ông Thích Quảng Độ, người đứng đầu tổ chức không được các tăng ni, phật tử ở Việt Nam công nhận, là “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất”, chẳng hiểu căn cứ vào đâu mà cho rằng việc khai thác bôxít sẽ dẫn đến “nguy cơ huỷ hoại màu xanh Tây Nguyên và đời sống của người Việt cũng như hàng chục dân tộc ít người”. Tiếp theo, ông ta “khẩn cấp báo động công luận thế giới về đại nạn sinh thái Tây Nguyên Quả là không thể hiểu nổi, một vị tu hành đến chức Hoà thượng mà lại làm những việc phản dân hại nước đến vậy. (Công An Nhân Dân, ngày 18 tháng 4 năm 2009).

Rồi sau khi người “người đứng đầu tổ chức không được các tăng ni, phật tử ở Việt Nam công nhận” được đề cử nhận giải Nobel Hoà Bình thì Ban Tuyên Giáo Trung Ương hốt hoảng cho ra ngay một bức công điện (khẩn và mật) nguyên con như thế này đây:

Công điện chỉ đạo đối phó với tình huống Hòa thượng Thích Quảng Độ được trao giải

Nobel Hòabình do ông Nguyễn Thế Kỷ ký ngày 9 tháng 10 năm 2008. Ảnh và chú thich: RFA

Ông Vụ Trưởng Báo Chí hùng hổ lên án là một vị tu sĩ (tay không tấc sắt) là “phản dân, hại nước, đi ngược lại ước nguyện hoà bình, hạnh phúc, tiến bộ của nhân dân Việt Nam…” nhưng trước chuyện lãnh hải bị xâm phạm, và hành vi khiêu khích trắng trợn của ngoại nhân thì ngôn ngữ cũng như thái độ của ông Nguyễn Thế Kỷ lại hoàn toàn khác hẳn:“Sao đã có chủ trương chỉ nói là tàu Trung Quốc lỡ làm đứt cáp thôi, mà có một số báo lại đưa là nó cố tình cắt cáp, để gây ra kích động nhân dân biểu tình.”

Chủ trương của nhà nước không chỉ hèn hạ mà còn bất nhất, cứ sáng đúng, chiều sai, đến trưa lại đúng. Và đây là nét chung của bất cứ chế độ cộng sản nào, theo nhận xét của George Orwell:

“Nhà thờ ở châu Âu thời Trung cổ buộc bạn vào một tín số điều, nhưng ít nhất nó cũng cho phép bạn giữ những tín điều ấy từ lúc lọt lòng cho đến lúc chết. Nó không bao giờ bảo bạn thứ Hai phải tin một điều, thứ Ba lại phải tin vào một điều hoàn toàn khác. Tình hình cũng tương tự như vậy đối với các tín đồ Công giáo, đạo Hindu, đạo Phật, đạo Hồi ngày nay. Chế độ toàn trị hoàn toàn ngược lại. Đặc trưng của nhà nước toàn trị là tuy nó kiểm soát tư tưởng, nhưng nó lại không xác dịnh dứt khoát tư tưởng ấy là gì. Nó đưa ra một số tín điều không được tranh cãi, nhưng các tín điều ấy lại thay đổi hàng ngày. Chế độ cần tín điều vì cần các thần dân phục tùng một cách tuyệt đối, nhưng nó không thể không thay đổi theo các nhu cầu của tầng lớp nắm quyền.”

Tại sao cái loại nhà nước toàn trị có thể “đưa ra một số tín điều không được tranh cãi … nhưng lại thay đổi hàng ngày” mà những người cầm viết vẫn “chịu phục tùng một cách tuyệt đối” như vậy?

Xin thưa, giản dị, chỉ vì họ … sợ!

Nỗi sợ hãi này đã ám ảnh Nguyễn Tuân cho đến lúc cuối đời:“ Bây giờ các anh phải sống theo cách khác cái lũ già hèn nhát chúng tôi, phải học chia một véc-bờ khác : Tôi đếch sợ anh, anh đếch sợ tôi, chúng ta đếch sợ chúng nó…”

Tuy muộn màng, cuối cùng, ước nguyện của ông đã trở thành hiện thực. Ngày 3 tháng 3 năm 2014, thay mặt sáu mươi bạn đồng nghiệp nhà văn Nguyên Ngọc tuyên bố thành lập Văn Đoàn Độc Lập Việt Nam. Bốn tháng sau, BBC đi tin:

“Hội Nhà báo Độc lập, một tổ chức dân sự mới, vừa tuyên bố thành lập hôm thứ Sáu 4/7… Mục đích của Hội Nhà báo Độc lập được tuyên bố trước hết là: ‘Phản ánh trung thực và sâu sắc những vấn đề nóng bỏng của xã hội và đất nước; Phản biện đối với những chính sách bất hợp lý của nhà nước liên quan đến quản lý xã hội và tự do báo chí và Tổ chức trao đổi, đối thoại với các cấp chính quyền về tự do báo chí và quản lý xã hội khi có điều kiện, đồng thuận với những chính sách, giải pháp hợp lòng dân và có lợi cho đất nước’.

Tổ chức này cũng cam kết ‘Lên tiếng và có hành động cần thiết để bảo vệ những người làm báo vì tiến bộ xã hội, nhưng bị sách nhiễu, bắt bớ, tù đày, khủng bố… Đấu tranh yêu cầu Nhà nước Việt Nam hủy bỏ những điều luật mơ hồ của Bộ Luật Hình sự được dùng để áp chế tự do báo chí như Điều 258, 88…”

Nguồn ảnh:anhbasam.wordpress

Theo dư luận chung thì sự có mặt của Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam là một đáp ứng can đảm và cần thiết trước thời cuộc hay tình thế. Với riêng tôi, đây còn là một đáp ứng tình cảm đã (bị) mất mát từ lâu. Mối hảo cảm mà một người dân miền Nam như tôi vẫn dành cho giới người cầm viết cho đến … tháng 4 năm 1975!

Tôi không dám kỳ vọng gì nhiều vào những hoạt động của hội, trong tương lai gần, vì biết rằng phần lớn hội viên đang phải sống trong vòng vây của một bầy lang sói. Nhưng chỉ cần đọc Tuyên Bố Đầu Tiên Của Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam Về Việc 6 Ngư Dân Việt Nam Bi Trung Quốc Giam Cầm cũng đủ khiến cho một độc giả bình thường như tôi cảm thấy vô cùng an ủi và ấm lòng khi nhận ra một điều vô cùng giản dị: các anh các chị “đếch sợ chúng nó” nữa.

 

Lời nói và hành động của nhà lãnh đạo

Lời nói và hành động của nhà lãnh đạo

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2014-08-01

namnguyen_08012014.mp3

TTg_lam_viec_2-305

Buổi làm việc của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tại Hà Nội hôm 29/7/2014.

Courtesy chinhphu.vn

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa có phát biểu được cho là khác thường khi ông nói chính phủ muốn lắng nghe thật nhiều phản biện từ mọi giới.

Sẽ thực hiện trong thực tế?

“Chính phủ cho rằng phản biện khoa học, tranh luận, thảo luận dân chủ là những cách thức để đi đến chân lý, là cơ sở cho những quyết sách khoa học và đúng đắn.” Tuyên bố của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào chiều ngày 29/7 trong buổi làm việc với Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam ở Hà Nội làm cho người nghe liên tưởng tới giáo khoa chính trị học ở phương Tây.

Nếu Chính phủ Việt Nam thực hiện những gì mà người đứng đầu phát biểu với các nhà khoa học chuyên gia như vừa nêu, thì Việt Nam chắc hẳn đã có vị trí cao trên thế giới.

Phó Giáo sư Hồ Uy Liêm, nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam từ Hà Nội nhận định:

” Một đất nước phát triển lành mạnh là phải có sự đóng góp của người dân vào việc xây dựng các chính sách phát triển, các chương trình dự án phát triển, đặc biệt của giới trí thức.
-PGS Hồ Uy Liêm”

“Tôi nghĩ rằng, một đất nước phát triển lành mạnh là phải có sự đóng góp của người dân vào việc xây dựng các chính sách phát triển, các chương trình dự án phát triển, đặc biệt của giới trí thức. Lâu nay câu chuyện đóng góp ấy chưa thật là nhiều nhất là hoạt động tư vấn phản biện giám định xã hội, tuy có nhưng chưa thật là nhiều. Bây giờ thủ tướng nói như vậy, hy vọng chuyện Thủ tướng khẳng định sẽ được thực hiện trong thực tế.”

Phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ngày 29/7/2014 không giống như tinh thần quyết định 97 mà ông ký và ban hành vào năm 2009, nhằm quản lý chặt chẽ các ý kiến phản biện. Trước và sau Quyết định 97 cho đến nay, Chính phủ Việt Nam chưa bao giờ cho phép chứ chưa nói đến lắng nghe và tiếp thu những phản biện có tính cách độc lập xuất phát từ những tổ chức nghiên cứu độc lập. Chính vì vậy Viện Nghiên cứu phát triển IDS, một tổ chức nghiên cứu chính sách qui tụ nhiều nhà khoa học, chuyên gia hàng đầu của Việt Nam đã phải tự giải thể. Thật ra Chính phủ không đóng cửa Viện Nghiên cứu phát triển IDS do TS Nguyễn Quang A và Giáo sư Hoàng Tụy lãnh đạo. Nhưng nếu Viện này tiếp tục hoạt động, không tự giải thể, thì sẽ không còn mang tính nghiên cứu phản biện độc lập nữa.

Nhà báo Phạm Thành chủ blog Bà đầm xòe từ Hà Nội nhận định:

“Ông Thủ tướng có lẽ rơi vào cái thế bị kẹt trên nhiều phương diện thì ông lại đưa ra cái ý thế thôi. Tôi không tin rằng lời nói của ông ấy đi đôi với việc làm. Trong Thông điệp đầu năm ông ấy nhấn mạnh việc đổi mới thể chế, nói những câu rất hùng hồn như người dân có quyền làm tất cả những gì mà luật pháp không cấm, cái đó rất hạp với lòng dân. Đến bây giờ ông lại kêu gọi cái phản biện. Những lời nói của ông ta rất là hay chứ thực tế xã hội Việt Nam để thay đổi theo hướng đó mà ông ấy nhúng tay vào trực tiếp để làm, nổ tiếng máy đầu tiên để khởi động thì ông ấy chưa làm bất kỳ một điều gì hết.”

Hy vọng Đảng sẽ lắng nghe?

image00225-250x188-boxitvn-250

Trên công trường nhà máy Bauxit Nhân Cơ, Đăk Nông. Photo courtesy of boxitvn

Theo dõi thời sự Việt Nam, cũng có lúc dư luận báo chí sôi nổi với các phản biện, điển hình là vấn đề khai thác bauxite Tây nguyên hay vấn đề phát triển thủy điện ồ ạt. Nhưng thực tế các tiếng nói phản biện không được lắng nghe một cách nghiêm túc, phải đến khi những dự án bauxite tự thân bộc lộ những hiểm họa không thể che dấu thì lúc đó Chính phủ mới có một vài điều chỉnh. Hoặc sự phát triển thủy điện bậc thang ở miền Trung lợi bất cập hại, các phản biện nghiêm túc bị đè bẹp bởi lợi ích nhóm. Khi vấn đề phát triển thủy điện được xét lại, thì những công trình hiện hữu đã là họa lớn cho người dân ở vùng hạ du với những trận lũ kinh hoàng.

Phó Giáo sư Hồ Uy Liêm nhận định:

“Phải nói là lâu nay, ý kiến tâm huyết của nhiều nhà khoa học có trình độ cũng chưa thực sự được lắng nghe và nhất là chưa có sự đối thoại. Nếu với sự khẳng định của Thủ tướng, hoạt động tư vấn phản biện giám định của xã hội nói chung và đặc biệt của giới trí thức mà phát triển điều ấy ra được thì rất tốt.”

” Nếu với sự khẳng định của Thủ tướng, hoạt động tư vấn phản biện giám định của xã hội nói chung và đặc biệt của giới trí thức mà phát triển điều ấy ra được thì rất tốt.
-PGS Hồ Uy Liêm”

Trong buổi làm việc với Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam ở Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kêu gọi các nhà khoa học tham gia tư vấn, đánh giá các dự án hết sức quan trọng như tổng kết 30 năm đổi mới; chuẩn bị các văn kiện của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 12…

Đáp câu hỏi về khả năng đổi mới mang tính đột phá của Đảng Cộng sản Việt Nam nhân Đại hội Đảng lần thứ 12 năm 2016, đặc biệt trong bối cảnh chủ quyền đất nước bị phương Bắc đe dọa. Phó Giáo sư Hồ Uy Liêm nhận định:

“Tình hình bây giờ bức xúc cả trong đối nội lẫn đối ngoại, tôi nghĩ là nếu có sự đổi mới là rất tốt, chúng tôi hy vọng là sẽ có sự đổi mới về hướng tích cực. Nếu không đổi mới tất nhiên phát triển kinh tế xã hội sẽ khó khăn hơn, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế sẽ yếu hơn. Nước mình có mạnh thì thực sự mới bảo vệ được chủ quyền. Chứ còn chỉ có tuyên bố không thì không ăn thua, bởi vậy muốn mạnh thì phải đổi mới, làm sao tăng trưởng phát triển, làm sao hiệu quả phát triển cao, nền kinh tế xã hội càng ngày càng mạnh lên thì khả năng tăng cường an ninh quốc phòng của đất nước và bảo vệ chủ quyền biển đảo lãnh thổ nói chung sẽ được chắc chắn hơn, bền vững hơn.”

Phó Giáo sư Hồ Uy Liêm nhấn mạnh rằng ông là một trong 61 đảng viên vừa gởi thư ngỏ cho Ban chấp hành Trung ương Đảng và toàn thể đảng viên với quan điểm rõ rệt. Đó là kêu gọi Đảng từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ, chuyển đổi ôn hòa từ thể chế toàn trị sang dân chủ để tránh cho đất nước khỏi suy vong. Phó Giáo sư Hồ Uy Liêm bày tỏ hy vọng Đảng và Nhà nước sẽ lắng nghe những ý kiến này.

Tổng thống Obama, Putin điện đàm về tình hình Ukraine

Tổng thống Obama, Putin điện đàm về tình hình Ukraine

obama putin

obama putin

01.08.2014

Tổng thống Mỹ Barack Obama và Tổng thống Nga Vladimir Putin đã nói chuyện qua điện thoại về cuộc khủng hoảng ở Ukraine, và ông Obama nhắc lại ông “quan ngại sâu sắc” về việc Nga gia tăng hỗ trợ cho phe ly khai ở miền đông Ukraine.

Tòa Bạch Ốc hôm thứ Sáu cho biết Tổng thống Obama nhấn mạnh ông mong muốn một giải pháp ngoại giao cho cuộc khủng hoảng, và rằng cả hai nhà lãnh đạo “đồng ý để ngỏ các kênh giao tiếp.”

Tòa Bạch Ốc nói ông Obama cũng bày tỏ lo ngại về sự tuân thủ của Nga đối với hiệp ước tên lửa đạn đạo tầm trung ký kết năm 1987 mà Washington nói là Moscow đã vi phạm.

Về phần mình, Điện Kremlin cho hay ông Putin nói với Tổng thống Mỹ trong cuộc điện đàm rằng những chế tài mới nhắm vào Nga ban hành trong tuần này là “phản tác dụng” và sẽ gây ra “thiệt hại nghiêm trọng cho hợp tác song phương và ổn định quốc tế.”

Trước đó trong ngày, vài chục điều tra viên quốc tế đã bắt đầu làm việc địa điểm máy bay MH17 của Malaysia Airlines bị bắn rơi ở miền đông Ukraine.

Các nhà điều tra của Hà Lan và Australia, cùng với các quan chức của Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu, đã bắt đầu rà soát khu vực giờ được xem là hiện trường án mạng.

Họ sẽ tập trung vào việc thu hồi hàng chục thi thể vẫn còn mất tích cũng như tìm lại tư trang của 298 người thiệt mạng khi máy bay Boeing 777 bị bắn rơi hồi tháng trước.

Cũng trong ngày thứ Sáu, 10 lính nhảy dù Ukraine thiệt mạng trong một cuộc phục kích của quân ly thân Nga gần thị trấn Shakhtarsk, cách nơi xảy ra vụ tai nạn không xa.

Quyền chỉ huy binh chủng lính nhảy dù của Ukraine nói với phóng viên ở Kiev rằng 13 lính nhảy dù khác bị thương và 11 người mất tích.

Chính phủ Ukraine và các nước phương Tây quy trách cho phiến quân về vụ bắn rơi máy bay. Các nhà phân tích Mỹ cho biết chiếc máy bay phản lực có thể đã bị quân ly thân Nga bắn hạ bằng tên lửa do Nga cung cấp. Không có ai sống sót trong vụ tai nạn này.

Quyết thành lập những nước cộng hòa tự trị gần biên giới Nga, quân nổi dậy đã chiến đấu quân đội Ukraine trong suốt ba tháng qua.

 

SỐNG ĐỜI KITÔ HỮU KHÔNG DỄ !

SỐNG ĐỜI KITÔ HỮU KHÔNG DỄ !

Trích EPHATA 621

Sr. Jean Berchmans MINH NGUYỆT

Vào lúc 2 giờ sáng, một thiếu nữ duyên dáng gọn gàng trong chiếc áo len và quần jeans, trượt ống thải đồ từ lầu 4 xuống đất. Nhưng khi vừa đặt chân xuống, cô gái chạm trán với nhân viên cảnh sát đi tuần. Ông nhìn thẳng cô gái và nói: “Khám phá bất ngờ ! Thay vì đi ăn trộm có lẽ cô nên ghi tên vào một gánh xiệc !” Lúng túng vì sợ vị cảnh sát to tiếng đánh thức thân phụ đang ngủ, cô gái vội vàng giải thích hành động “đi đêm” của mình… Thiếu nữ ấy là Sally Trench sống với cha mẹ ở Luân Đôn, thủ đô Anh Quốc.

Vào một buổi tối, khi trở về nhà sau nửa đêm, lúc bước xuống ga Waterloo nằm ở ngoại ô, Sally đụng phải vật gì mềm mềm, động đậy… Giật mình, Sally cúi xuống nhìn kỹ thì thấy đó là một phụ nữ cao tuổi, chung quanh người quấn một tấm chăn rách nát. Bà nằm trên mấy tờ báo. Nhưng không chỉ có mình bà. Dọc theo bờ tường nhà ga, còn có nhiều người khác. Đàn ông nằm lẫn lộn với đàn bà. Tất cả đều ăn mặc rách rưới bẩn thỉu. Người nào may mắn hơn thì có chiếc áo khoác bằng len, quấn chung quanh mình cho đỡ lạnh…

Sally thật đau lòng khi trông thấy cảnh tượng đó. Cô có thể lạnh lùng làm ngơ bỏ đi, như thầy tư tế trong Phúc Âm khi trông thấy người bị thương nằm bên vệ đường. Nhưng Sally bắt chước người Samaritano nhân lành. Cô đến bên những người này, cho tay vào túi, lấy tất cả tiền và phân phát cho họ. Một người trong nhóm cất tiếng nói: “Đây không phải là chỗ của cô ở giữa những người quá dơ bẩn. Cô quá ngây thơ duyên dáng ! Tốt hơn cả là cô nên trở về nhà.”

Sally trở về nhà và khi cầm trên tay ly sôcôla nóng hổi uống trước khi lên giường ngủ, cô gái tự nhủ: “Thiên Chúa cho mình quá nhiều, không thiếu thốn sự gì. Lẽ nào mình chỉ giữ riêng cho một mình mình thôi ?”

Ngay đêm hôm sau đó, lần đầu tiên, Sally thức dậy vào lúc 2 giờ sáng. Cô bỏ vào xách mấy gói thuốc lá và một bình cà phê nóng. Xong, cô đi rón rén để không đánh thức cha mẹ dậy. Thay vì mở cửa chính, cô dùng ống chuyển đồ và trượt từ lầu bốn xuống đất. Cô đi thẳng ra nhà ga Waterloo. Cô đến bên những người nghèo ngủ trên nền nhà ga và phân phát thuốc lá cùng cà phê nóng cho họ. Cô mang đến cho họ hơi ấm của cà phê và của tình người, trong những đêm mùa đông giá buốt.

Từ đó, cuộc viếng thăm những người không nhà cửa ở nhà ga Waterloo trở thành thông lệ. Cứ vào 2 giờ sáng, Sally thức giấc, mặc quần jeans, khoác áo len, xách cà phê nóng và thuốc lá đến thăm những người nghèo nơi nhà ga Waterloo. Vào lúc 4 giờ sáng, cô lại có mặt ở nhà, lên giường ngủ tiếp.

Thỉnh thoảng, trong những chuyến “đi đêm” như thế, Sally gặp lại vị cảnh sát của đêm đầu tiên. Ông vừa bắt tay Sally vừa nói: “Tất cả những gì cô làm đều thật đẹp và có tinh thần Kitô nữa !”

Sau một thời gian giúp đỡ những người sống lang thang không nhà không cửa, Sally lại khám phá ra một nhóm trẻ bụi đời, sống bất cần gia đình và xã hội. Họ sống vô kỷ luật và ưa chuộng tự do, nhưng là một thứ tự do bệnh hoạn, làm những điều không được phép làm như xìke, ma túy. Sally đến sống với nhóm bạn trẻ này, để tìm hiểu và chia sẻ nếp sống với họ. Nhiều người trẻ bụi đời sau đó khám phá ra ý hướng ngay thẳng và bác ái của Sally liền tặng nàng danh hiệu ”Sally, Người Công Giáo”.

Một hôm, một bạn trẻ bụi đời nói với Sally: “Tôi thật khâm phục lòng tốt của cô. Nhiều người cũng mang danh Công Giáo nhưng không làm một công tác bác ái nào giúp người khác.” Sally khiêm tốn trả lời: “Tôi không chỉ trích ai hết. Với kinh nghiệm riêng tư thì tôi biết rằng: sống đúng danh nghĩa tín hữu Công Giáo không phải là chuyện dễ. Phải thực thi tinh thần Kitô suốt cuộc đời mình…”

Sr. Jean Berchmans MINH NGUYỆT