Người bị hành quyết được tuyên vô tội

Người bị hành quyết được tuyên vô tội

Tòa đã xin lỗi cha mẹ của thanh niên bị hành quyết

Một thanh niên Trung Quốc bị hành quyết cách đây 18 năm vì tội hiếp dâm và giết một phụ nữ tại nhà vệ sinh công cộng được tuyên vô tội, theo truyền thông nhà nước Trung Quốc.

Anh Huugjilt mới 18 tuổi khi bị tòa án ở vùng Nội Mông kết án.

Bản án bị đặt vấn đề khi một kẻ chuyên hiếp dâm thú nhận gây án hồi năm 2005, theo Tân Hoa Xã.

Chuyện tuyên án vô tội đối với người đã bị hành quyết là chuyện hiếm ở Trung Quốc.

Vụ giết người xảy ra giữa lúc có chiến dịch chống tội phạm và các chuyên viên điều tra thừa nhận họ bị sức ép phải tìm bằng được thủ phạm để kết án.

Thẩm phán tại Hohhot ở Nội Mông đã cúi người trước cha mẹ của thanh niên đã bị xử tử sau khi tuyên anh vô tội.

“Tòa Tối cao Nội Mông thấy bản án kết tội ban đầu … không phù hợp với thực tế và thiếu chứng cứ,” Tòa tuyên bố.

“Huugjilt vô tội.”

Tòa cũng trao khoản tiền 30.000 nhân dân tệ (gần 5.000 đôla Mỹ) để tỏ sự cảm thông với cha mẹ anh Huugjilt.

Tỷ lệ kết tội cao

Tân Hoa Xã đưa tin anh Huugjilt đã giúp người phụ nữ sau khi nghe thấy tiếng kêu khóc của cô từ nhà vệ sinh công cộng.

Anh cũng báo vụ việc với cảnh sát.

Tuy nhiên vào tháng Tư năm 1996 anh bị kết tội hiếp dâm và giết người phụ nữ và bị xử tử vào tháng Sáu cùng năm.

Vào năm 2005, một kẻ sát nhân và chuyên hiếp dâm, Zhai Zhihong, thú nhận với cảnh sát rằng y đã gây án.

Phiên xử lại anh Huugjilt diễn ra hồi tháng 11 năm nay.

Những kẻ vũ trang bắt người làm con tin ở Bỉ

Những kẻ vũ trang bắt người làm con tin ở Bỉ

Cảnh sát thuộc lực lượng đặc biệt lắp đặt thiết bị đặc biệt trên chiếc xe van ở Ghent, Bỉ, 15/12/14

Cảnh sát thuộc lực lượng đặc biệt lắp đặt thiết bị đặc biệt trên chiếc xe van ở Ghent, Bỉ, 15/12/14

15.12.2014

Cảnh sát tại thành phố Ghent của Bỉ đang bao vây một tòa nhà chung cư, nơi có 4 người đàn ông có vũ trang đang cầm giữ một con tin.

Một giới chức chính phủ hôm nay nói rằng chưa có dấu hiệu nào cho thấy vụ có dính líu tới khủng bố, nhóm Nhà nước Hồi giáo hay những gì đang xảy ra ở Sydney.

Cảnh sát đã phong tỏa một khu vực rộng lớn xung quanh tòa nhà.

Vụ con tin ở Bỉ xảy ra vài giờ sau khi một kẻ có súng bắt người làm con tin tại một tiệm ăn ở thành phố lớn nhất của Australia.

5 người chạy thoát khỏi kẻ bắt người làm con tin ở Australia

5 người chạy thoát khỏi kẻ bắt người làm con tin ở Australia

Một con tin chạy đến với các cảnh sát sau khi thoát khỏi quán cà phê nơi một kẻ võ trang đang giữ người làm con tin, 15/12/14

Một con tin chạy đến với các cảnh sát sau khi thoát khỏi quán cà phê nơi một kẻ võ trang đang giữ người làm con tin, 15/12/14

15.12.2014

Vụ khủng hoảng con tin bắt đầu sáng ngày hôm nay ở thành phố Sydney của Australia đang tiếp diễn, và Thủ tướng Tony Abbott nói rằng chưa ai biết được động cơ của thủ phạm là gì. Từ Sydney, thông tín viên Phil Mercer của đài VOA gởi về bài tường thuật.

Năm người vừa thoát được ra khỏi nhà hàng ở trung tâm thành phố Sydney, nơi một kẻ có súng đang cầm giữ một nhóm người không rõ là bao nhiêu làm con tin. Có người nói là 10 người, nhưng cũng có tin cho biết có đến 25 người bị bắt làm con tin.

Hình ảnh tại hiện trường được chiếu trực tiếp trên truyền hình cho thấy một nhân viên của tiệm Lindt Chocolate Cafe và hai khách hàng chạy vượt những nhân viên cảnh sát đang bao vây nhà hàng này và phong tỏa khu vực xung quanh. Sau đó, hai người khác cũng chạy ra khỏi tòa nhà. Hiện chưa rõ 5 người đó đã tự chạy thoát hay được kẻ có súng thả ra.

Các văn phòng ở kế bên nhà hàng đã được di tản. Nhà hát nổi tiếng của Sydney, cách đó vài khu phố, cũng đã được sơ tán sau khi giới hữu trách nói rằng một gói khả nghi đã được phát giác ở đó. Các đường phố trong khu vực đã được phong tỏa và một tuyến xe lửa chạy bên dưới nhà hàng cũng ngưng chạy.

Người ta trông thấy những con tin đứng sát vào các cửa sổ trong lúc giơ cao hai tay lên trời và có một lá cờ màu đen với những chữ viết bằng tiếng Ả Rập. Chưa có thương vong nào được báo cáo kể từ khi vụ khủng hoảng bắt đầu vào khoảng 9:45 phút sáng nay, giờ địa phương.

Xuyên qua một cửa sổ kính, người ta trông thấy kẻ bắt con tin mặc sơ mi trắng và áo vest đen và mang khí giới.

Một nữ phát ngôn viên cảnh sát nói rằng kẻ bắt con tin đã liên lạc với giới hữu trách, nhưng các nhà thương thuyết của cảnh sát chưa xác định được động cơ của vụ này.

Phó Tổng Giám đốc Cảnh sát Tiểu bang New South Wales, bà Catherine Burn, phát biểu như sau:

“Các nhà thương thuyết của cảnh sát đã thiết lập sự liên lạc và họ tiếp tục liên lạc và chúng tôi sẽ giải quyết vụ này thông qua các nhà thương thuyết. Có thể phải mất một ít thời gian nhưng chúng tôi muốn giải quyết vụ này một cách hòa bình và tôi bảo đảm với quí vị là nếu cần có thời giờ thì chúng tôi sẽ kiên nhẫn chờ đợi.”

Trước đó, Thủ tướng Australia Tony Abbott cho biết tại một cuộc họp báo là chưa ai biết động cơ của thủ phạm. Ông nói thêm rằng mục tiêu của những hành động như vậy là gây hoảng sợ cho mọi người và ông hối thúc dân chúng tiếp tục các sinh hoạt bình thường như mọi ngày.

Ông Andrew Scipione, Tổng Giám đốc Cảnh sát Tiểu bang New South Wales, nói với báo chí rằng giới hữu trách chưa biết được động cơ của kẻ bắt con tin. Ông cũng nhất mực không chịu nói rằng đây là một vụ khủng bố. Ông cho biết:

Vào lúc này, tôi được thông báo là chúng tôi vẫn đang xem xét động cơ của vụ này là gì và ở thời điểm này chúng tôi chưa biết thủ phạm là người nước nào.

ĐTC: Đức Giêsu là niềm vui của chúng ta

ĐTC: Đức Giêsu là niềm vui của chúng ta

Chuacuuthe.com

VRNs (15.12.2014) –Sài Gòn- theo news.va- Chúa nhật hôm qua 14.12, tại quảng trường Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha Phanxicô làm phép tượng Chúa Hài Đồng cho các du khách để thờ kính trong dịp Giáng sinh. Truyền thống làm phép tượng Chúa Hài Đồng luôn được cử hành vào ngày Chúa Nhật III Mùa Vọng, còn được gọi là “Chúa Nhật Niềm Vui”.

1

Chúa Nhật “niềm vui” bắt nguồn từ lời kinh Truyền Tin của Đức Trinh Nữ Maria. “Trong Chúa Nhật niềm vui này, phụng vụ diễn tả một thái độ nội tâm để đón chờ ngày gần kề của Con Chúa Giáng sinh: Nghĩa là “niềm vui”, niềm vui của Chúa Giêsu”. Hướng về đám đông tụ tập bên dưới quảng trường, Đức Thánh Cha nói rằng, “Với Đức Giêsu, niềm vui là một phần của gia đình” (Gesù, la gioia è di casa). Thành ngữ ấy, ĐTC lặp lại nhiều lần trong bài huấn dụ của mình.

“Tâm hồn của mỗi người luôn ước ao có được niềm vui … Tất cả chúng ta đều mong muốn niềm vui, mỗi gia đình, mỗi người đều mong muốn hạnh phúc”. Người Kitô hữu, được mời gọi để sống và làm chứng cho niềm vui đến từ việc gần gũi với Thiên Chúa, từ sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc sống của chúng ta. Niềm vui Kitô hữu không đơn giản chỉ là sự viên mãn niềm vui mà chúng ta sẽ có được mai sau ở trên trời nhưng nó đã bắt đầu ngay trong cuộc sống này, được trải nghiệm ngay từ bây giờ. “Vì Chúa Giêsu là niềm vui của chúng ta. Gia đình của chúng ta có Chúa Giêsu chính là có niềm vui.” ĐTC lặp đi lặp lại rằng: “Với Đức Giêsu, niềm vui là một phần của gia đình.”

Tất cả các Kitô hữu đều được mời gọi đón nhận sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc sống của mình, và để giúp người khác khám phá sự hiện diện đó, hoặc để tái khám phá nó nếu họ đã lãng quên. Ngài gọi đây là “một sứ mạng cao cả, như sứ mạng của ông Gioan Tẩy Giả: chỉ cho mọi người về Chúa Kitô … bởi vì ông có sứ mạng hướng dẫn tâm hồn mỗi người khi họ mong muốn đi tìm niềm vui và hạnh phúc.”

Nhắc đến bài đọc II, Đức Thánh Cha nói rằng, Thánh Phaolô cho chúng ta thấy những điều kiện để được “niềm vui tông đồ” là: hãy kiên trì cầu nguyện, luôn luôn cảm tạ Thiên Chúa, tìm kiếm những gì là tốt và tránh điều ác.” Nếu đây là cách sống của chúng ta thì Tin Mừng sẽ thấm nhập đến tận nhà chúng ta và giúp mọi người trong gia đình tái khám phá Chúa Giêsu chính là ơn cứu độ.” Trong Đức Giêsu, chúng ta tìm thấy bình an nội tâm và sức mạnh để đối mặt với những thách đố mỗi ngày, ngay cả trong những lúc khó khăn nhất. “Kitô hữu là người có tâm hồn tràn đầy bình an vì họ biết đặt niềm vui của mình trong Chúa, ngay cả trong những thời điểm khó khăn của cuộc sống.” Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói rằng có đức tin không có nghĩa là thôi những khó khăn trong cuộc sống đúng hơn có nghĩa là “có sức mạnh để đối đầu với chúng vì chúng ta  biết rằng mình không đơn độc.” “Thiên Chúa hiện diện trong cuộc sống của chúng ta, và điều này là sự bình an mà Thiên Chúa ban cho con cái của Ngài.”

ĐTC kết luận bài huấn dụ như sau: “Giáo Hội mời gọi chúng ta làm chứng rằng Chúa Giêsu không phải là một người của quá khứ; Ngài là Lời của Thiên Chúa, Đấng mà hôm nay vẫn đang thắp sáng cuộc hành trình của nhân loại; Hành động của Ngài qua các bí tích là những dấu chỉ về sự dịu dàng, niềm an ủi, và tình yêu của Chúa Cha đối với mỗi con người chúng ta”.

Hoàng Minh

Sống trên đời để làm gì?

Sống trên đời để làm gì?

Dongten.net

trong cay duc chua troi

Sống trên đời để làm gì? Đây là một câu hỏi chẳng dễ trả lời chút nào. Cứ sự thường, ta chẳng mảy may để ý đến nó, vì càng nghĩ đến nó, ta chỉ càng cảm thấy bế tắt bởi một mớ những tư tưởng tối tăm lẫn lộn. Khi người ta vui, thành công, hạnh phúc, người ta chẳng cần biết lý do nào đưa đến sự hiện hữu của mình. Khi người ta còn trẻ, người ta thường không bận tâm mấy đến chuyện vì sao mình lại hiện hữu ở nơi đây. Khi người ta tràn trề sức sống, người ta chỉ chăm chú đến việc làm cho mình được triển nở, được khẳng định đến mức hoàn hảo nhất, chứ chẳng có giờ mà lo nghĩ đến câu hỏi rắc rối này. Chỉ khi nào ta đau khổ, thấy mất đi ý nghĩa cuộc đời, thấy mình sắp phải bước vào ngưỡng cửa của một thế giới khác, thấy hơi thở của mình dường như đã đến hồi cạn kiệt, ta mới cảm thấy có cái gì đó bồi hồi trong tận cõi linh hồn, chất vấn ta về nguồn cội thiêng liêng, về cái mà ta ít bao giờ muốn nghĩ tới.

Thực ra thì, giả như không có ta hiện diện trên đời, có gì mất mát xảy ra không? Câu trả lời đến ngay với ta có lẽ là “không” – một con số “0” thật to tướng. Thế giới này mênh mông là thế, ta còn nhỏ hơn là một chấm nhỏ li ti giữa biết bao con người và muôn loài thọ tạo. Chắc là vũ trụ này cũng chẳng tan biến đi khi ta chết! Chắc là xã hội này vẫn cứ tồn tại, thậm chí là thịnh vượng hơn, dù ta có sống chết ra sao! Trước khi ta ra đời, chẳng phải mọi chuyện vẫn diễn ra bình thường đấy thôi, cả nhiều tỷ năm rồi. Quãng thời gian từ lúc ta sinh ra đến lúc chết đi, so với dòng chảy của lịch sử, chẳng khác nào một khoảng khắc bé xíu. Trong lúc sinh thời ấy, đến với ta dường như chỉ toàn là chua chát với đắng cay. Sống mà luôn có niềm vui, bình an, hạnh phúc thì có trở về với cát bụi cũng thấy được mãn nguyện vì thấy dẫu sao mình cũng được hưởng chút ý nghĩa khi hiện diện trên đời. Đã sống không được bao lâu mà đau buồn này đến khổ sở khác kéo đến, cầu không được, ước không thành, phải xa người mình yêu, gần người mình ghét… Một cuộc sống như vậy thì sống để làm gì? Ta ước gì mình đừng tồn tại để không phải gánh chịu số phận hẩm hiu ấy. Nhưng có vẻ như tồn tại hay không tồn tại không phải là do ý ta muốn và chọn. Nó không nằm trong quyền quyết định của ta.

Nếu như có ta hay không có ta, thế giới này cũng chẳng khác nhau mấy, thì tại sao Tạo Hóa lại muốn cho ta được “hiện hữu” chứ không phải nằm trong cõi “hư vô”? Khi đưa ta từ chỗ “không” ra chỗ “có”, Tạo Hóa ban cho ta một hình hài để được nhìn thấy, ban cho ta một cái tên để được gọi, một khuôn mặt để được nhận diện, và một chỗ đứng trong thế giới hữu hình này. Đối với nhiều người, ta chỉ là một trong thế giới. Nhưng đối với một số người khác, ta là cả thế giới đầy yêu thương. Ta có một vị thế độc tôn mà không ai trên đời này, dù giỏi giang và thánh thiện mấy, có thể thay thế được. Bố mẹ ta chỉ có thể sinh ra ta một lần thôi. Những người khác do bố mẹ ta sinh ra trước và sau đó, được gọi là anh chị em của ta, chứ không phải là ta. “Tính duy nhất” của sự hiện hữu làm cho ta cảm thấy mình thật giá trị vô cùng. Giữa hai thái cực của cái “không” và “có”, Tạo Hóa đã chọn cái “có” cho mình. Ta chẳng hiểu vì sao, nhưng ta đoan chắc rằng hẳn là Ngài có lý do để làm điều ấy và nhiệm vụ của ta là vâng phục Ngài, đón nhận món quà hiện hữu Ngài ban cho với một lòng biết ơn và thành kính.

Thực ra, hiện diện trong thế giới này, ta không vô dụng như mình vẫn tưởng. Dù ta có cuộc sống riêng của mình nhưng sự sống của ta được gắn kết với nhiều người bằng những mối tương quan. Ngay khi biết ta được thành hình trong dạ mẹ, đã có biết bao người mong ngóng ta chào đời. Khi ta cất tiếng khóc đầu tiên, niềm rạng rỡ của những người thân cũng long lanh nơi khóe mắt. Khi lớn lên, ta tạo lập giao kết với nhiều người khác nữa. Thế giới của ta ngày càng được mở ra với chằng chịt những mối quan hệ ấy. Lối sống của ta, vì nằm trong các mối liên hệ khác, nên cũng có một sức ảnh hưởng không hề nhỏ, cho chính ta và cho những ai nằm trong thế giới ấy của ta. Biết đâu một sự hy sinh của ta giúp tăng thêm nghị lực cho người khác. Biết đâu một chút chia sẻ của ta cũng giúp sưởi ấm nhiều tâm hồn. Biết đâu một lời nói ngọt ngào của ta giúp ai đó thêm tin yêu vào cuộc sống. Giọt mồ hôi nước mắt của ta nơi ruộng đồng đã giúp nhiều người có được miếng cơm ngon. Những vất vả của ta nơi bục giảng giúp đào tạo bao lớp trẻ nhiệt thành cho đất nước… Dù tầm ảnh hưởng của nó không như các bậc vĩ nhân, và có khi chẳng mấy ai để ý đến, nhưng sự thật là nếu không có những việc làm ấy của ta, thế giới này cũng thiếu đi một cái gì đó, dù là nhỏ nhoi, và chắc là nó cũng khác đi chút gì đó.

Cho ta hiện hữu trên đời, Tạo Hóa cũng ban cho ta một sứ mạng cao cả, mà chỉ mình ta mới có thể chu toàn được. Sứ mạng ấy trước hết là dành cho ta, sau đó là hướng đến tất cả những người khác. Ngài mời gọi chúng ta hãy hướng về Ngài, đứng về phía của Ngài, cùng cộng tác với Ngài để tiếp tục bồi đắp thêm cho công trình tạo dựng. Đây quả thực là một niềm vinh hạnh dành cho chúng ta vì vốn dĩ Ngài không cần chút sức mọn của chúng ta. Chúng ta thụ hưởng sự sống từ Ngài nên chắc chắn chúng ta phải bám vào Ngài để tiếp tục tồn tại. Nhưng Ngài không đối xử với chúng ta như một nô lệ. Trái lại, Ngài xem chúng ta như một cộng sự viên bằng cách ban cho chúng ta có tự do, ý chí và lý trí. Chúng ta có quyền đưa ra những chọn lựa cho mình và chọn lựa ấy của chúng ta sẽ có những tác động đến những loài khác. Ta có thể trở thành người mang niềm vui đến cho người khác, nhưng cũng có thể trở nên kẻ hủy diệt thế gian. Ta có thể là một ngọn lửa sưởi ấm lòng người nhưng cũng có thể là một tảng băng lạnh lùng gieo chết chóc. Ta trở thành con người như thế nào là tùy ở những chọn lựa của ta hằng ngày nơi cuộc sống.

Cứ mỗi khi ta sống yêu thương, trao ban, gắn kết, ta dường như thấy cuộc sống của mình thật ý nghĩa. Đó chính là dấu chỉ của Tạo Hóa cho ta biết là ta đang đi đúng đường để hướng về Chân Thiện Mỹ, là chính Ngài. Ngài cần mỗi người chúng ta làm điều đó, Ngài muốn chúng ta sống như vậy, vì đó là con đường dẫn ta đến bình an, đến sự hoàn thiện đích thực của mình. Cuộc sống của ta là một cuộc hành hương tìm về Đấng Tạo Hóa. Những gì được ban cho ta là phương tiện giúp ta thực hiện lộ trình này. Bởi thế, ta được sinh ta là để chia sẻ với Tạo Hóa niềm hạnh phúc viên mãn của Ngài. Đó là một lời mời gọi cao quý dành cho hết thảy chúng ta.

Bấy lâu nay, chúng ta có đủ ý thức về điều này không?

Pr. Lê Hoàng Nam, S

Bọ Lập bị bắt: Sự thật và nỗi buồn

Bọ Lập bị bắt: Sự thật và nỗi buồn

Kính Hòa, phóng viên RFA
2014-12-11

kinhhoa12112014.mp3

nguyen-quang-lap-622.jpg

Nhà văn Blogger Nguyễn Quang Lập.

File photo

Con đò chở Sự thật

“Trước sau bọ Lập xin làm một người lái đò nhỏ chở con thuyền “Sự thật” đến với dân, chỉ vậy thôi, không có gì khác.”

Câu khẩu hiệu nhà văn Nguyễn Quang Lập lấy làm tôn chỉ cho trang blog của mình được nhiều trang đăng lại sau khi ông bị bắt.

Nhiều blogger ngạc nhiên khi nghe tin ông bị bắt, vì dường như ông Lập đã chọn một đường lối phản biện rất ôn hòa và an toàn, và hơn nữa nhân thân của ông cũng dường như cũng là một lá chắn bảo vệ cho ông, vì nói theo blogger, Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng thì ông Nguyễn Quang Lập là con đẻ của thời đại xã hội chủ nghĩa, là một nhà văn trong dòng chủ lưu của nước Việt Nam hiện nay với tấm thẻ hội viên của hàng loạt hội văn học nghệ thuật chính thống của nhà nước.

Nhưng cũng có những người không ngạc nhiên khi nghe tin ông bị bắt. Những người này nghĩ rằng cái chuyện bị bắt đối những blogger tại Việt Nam là quá bình thường, nói như Tiến sĩ Hà Sĩ Phu thì họ là một trong những lớp người bị nhiều o ép nhất hiện nay vì dấn thân cho tự do ngôn luận. Blogger Kami thì cho rằng những người viết blog tinh ý, và ngay chính blogger Nguyễn Quang Lập cũng không ngạc nhiên về chuyện bắt bớ này. Nhà báo tự do Lê Diễn Đức lại viết rằng ông Lập muốn chuyên chở Sự thật cho nên chuyện ông bị bắt cũng là điều dễ hiểu:

“Nhưng cái ranh giới an toàn mà nhà văn Nguyễn Quang Lập đặt ra quá mong manh truớc một mục tiêu lớn là chuyên chở sự thật đến với nhân dân, trong khi chế độ cộng sản được xây dựng trên bạo lực và dối trá. Chỉ chuyển tải sự thật thôi cũng đã đi ngược lợi ích sống còn của nó.

” Cái ranh giới an toàn mà nhà văn Nguyễn Quang Lập đặt ra quá mong manh truớc một mục tiêu lớn là chuyên chở sự thật đến với nhân dân, trong khi chế độ cộng sản được xây dựng trên bạo lực và dối trá.
-Lê Diễn Đức”

Blogger Tưởng Năng Tiến thì viết một cách khôi hài:

“Sống ở nước CHXHCNVN  mà lại nằng nặc đòi “chở con thuyền “Sự thật” đến với dân” thì đi tù là cái chắc!”

Khi ông Lập bị bắt, các trang blog “bán-chính-thống” mang tên các vị lãnh đạo nhà nước Việt Nam viết rằng ông là một nhà văn không có phẩm hạnh vì đã chỉ trích Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam. Blogger Tuấn Khanh đáp trả:

“Người viết nặc danh ghi rằng Bọ Lập là một nhà văn không có phẩm hạnh khi dám chỉ trích tổng bí thư. Tôi thì chỉ nghĩ rằng rất nhiều các nhà văn trên toàn thế giới xã hội chủ nghĩa luôn ca ngợi các tổng bí thư, cũng không có mấy ai trong số họ giới thiệu được chút phẩm hạnh nào của mình. Bọ Lập chắc cũng không màng loại phẩm hạnh đó.

Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, một trí thức hồi hương từ châu Âu nhận xét về người chủ trang blog Quê Choa, so sánh ông với một nhà văn khác của chế độ là ông Nguyễn Khải:

“Thái độ của ông chính là thái độ của một nhà văn chân chính, một kẻ sỹ có tinh thần trách nhiệm với xã hội mình đang sống, tuy bị tai nạn ngặt nghèo vẫn hết mình  cống hiến. Khác với Nguyễn Khải, phải chờ đợi đến cuối đời mới đi tìm cái tôi đã mất, Nguyễn Quang Lập nhìn lại chính mình, chính cái lò sản sinh ra mình ngay trong giai đoạn sung mãn nhất của cuộc đời một nhà văn.

So với nhà văn quá cố Nguyễn Khải, ông Nguyễn Quang Lập đã đến với thời đại thông tin một cách nhanh chóng, và cũng như nhiều blogger dấn thân cùng thế hệ với ông hay trẻ hơn, họ tình nguyện là người đưa thông tin và những ý tưởng khác biệt đến cho đồng bào, dù trên đầu họ lúc nào cũng lơ lửng sự đe dọa của nghị định 72 của chính phủ Việt Nam về việc cấm chia sẻ thông tin trên các trang blog cá nhân.

Nỗi sợ của người cầm quyền

Trở lại sự việc ông Lập bị bắt, câu hỏi mọi người đặt ra là tại sao là ông Lập chứ không phải hàng chục blog khác chỉ trích chính phủ và đảng cộng sản Việt Nam mạnh mẽ hơn và trực diện hơn? Hai blogger Việt Nam đang ở hải ngoại là nhà báo Đoan Trang và người tù chính trị nổi tiếng Điếu Cày viết rằng do ông Lập thu hút nhiều người đến với nhau quá nên người ta phải bắt ông, vì sự tập hợp những nhóm người nằm ngoài sự kiểm soát của đảng cộng sản vẫn là điều mà những người cộng sản sợ nhất. Blogger Kami cũng có ý kiến này:

nguyen-quang-lap-b-622.jpg

Nhà văn cũng là Blogger Nguyễn Quang Lập người điều hành Blog Quê Choa nổi tiếng.

“Ở đó một nhóm người giữ quyền lực và tự cho mình quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội, với phương châm độc quyền cả về vấn đề lãnh đạo tư tưởng của mọi tầng lớp trong xã hội thì việc độc quyền, kể cả bưng bít thông tin cũng như cản trở việc tìm kiếm tìm hiểu thông tin của người dân là chuyện đương nhiên. Vì thế việc các cá nhân sử dụng blog như một phương tiện tuyên truyền thông tin, với các tin tức đa chiều là điều bị coi là nguy hiểm, vì nó ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ.

Còn nhà báo Lê Diễn Đức, người có một kinh nghiệm dài lâu và phong phú sống dưới các chế độ cộng sản khác nhau thì cho rằng, cho dù ông là đứa con đẻ của chế độ, điều đó không thể bảo vệ được ông khi ông có quá nhiều người mến mộ:

“Bất kỳ một yếu tố nào mà chế độ thấy rằng có thể gây ảnh hưởng lớn lên ý thức chính trị khác luồng tuyên truyền đối với xã hội đều bị tiêu diệt. Huống hồ là ông, với hàng triệu người mến mộ! Cho dù ông là đứa con đẻ của chế độ, một cây bút tài năng, đã đóng góp không nhỏ cho nền văn hoá, nghệ thuật của đất nước.

Thời điểm mà blogger Nguyễn Quang Lập bị bắt, cũng như người đồng nghiệp cũng bị bắt trước đó một tuần là Giáo sư Hồng Lê Thọ, là lúc diễn ra ngày Quốc tế nhân quyền thế giới, cũng là dịp nhiều người tưởng nhớ đến sự kiện cách đây tròn nửa thế kỷ, những sinh viên Đại học tại California biểu tình đòi quyền tự do ngôn luận. Trong khi đó người ta lại thấy rằng có quá nhiều điều luật ở Việt Nam hạn chế quyền tự do này trong đó có điều 258 mà cơ quan công quyền đã dùng để bắt giam ông Lập và ông Thọ. Cây bút Vũ Đông Hà viết trên trang blog Dân Làm báo:

“Cho dù với ý đồ gì, trò chơi và mánh khóe nào, dưới thể chế độc tài công an trị này, bất kỳ công dân Việt Nam nào bị bắt bởi những điều luật phản động như 88, 79 và 258 đều là những con người bất khuất. Họ đã không chọn một cuộc sống thờ ơ, vô cảm theo đám đông đang tê liệt vì sợ hãi bộ máy bạo lực, mà đã đứng lên, mỗi người mỗi cách, để phục vụ xã hội theo chiều hướng tích cực nhất mà họ có thể làm được.”

Vũ Đông Hà gọi những điều luật ấy là phản động, từ mà giới chức tuyên truyền ở Việt Nam hay gán cho những người bất đồng chính kiến.

Nhiều trang blog đã đưa ra lời kêu gọi trả tự do cho ông Lập, và những lời kêu gọi này vang đến cả thành phố Prague xa xôi và lạnh giá khi sáu người Việt lẻ loi ở đó lên tiếng trong đêm kỷ niệm ngày quốc tế nhân quyền.

Một thời gian chỉ vài ngày sau khi ông Lập bị bắt thì trang mạng của Bộ Công An đưa tin vỏn vẹn hai dòng là ông đã nhận tội! Các blogger hỏi nhau rằng ông nhận tội gì? Và phải chăng đây là cách mà nhà cầm quyền dọn đường sẳn cho việc thả tự do cho ông? Bán tín bán nghi, nhưng các blogger lại có chung một điều xác tín với nhau là họ không tin ở ba từ Đã nhận Tội đó, vì nó đã được lập đi lập lại liên tục qua các vụ án chính trị trong hơn mười năm qua. Facebooker Caubay Them viết:

“Nay báo công an thành Hồ Chí Minh đưa tin ông Lập nhận tội, xin khoan hồng. Tôi chả biết có thật không vì không biết về cá nhân ông Lập nhiều. Nhưng, như bất kỳ người tù nào của CS, khi ra khỏi tù đều có lý do là nhờ đã “thành khẩn nhận tội, xin cách mạng khoan hồng” cả.”

Nỗi sợ của xã hội

Người ta không biết là vụ bắt ông Lập sẽ đi đến đâu nhưng nhiều blogger cho rằng những người bắt ông sẽ không được lợi lộc gì cả, nhà báo Lê Diễn Đức viết:

” Nó có thể đem lại những hậu quả ngược lại với những gì nhà cầm quyền mong mỏi. Nó làm tắt lịm những tiếng nói chân thật của những công dân tốt.
-GS Nguyễn Đăng Hưng

“Bắt ông, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam thể hiện sự hung hăng, rối trí, hèn nhát và bạc bẽo.

Một blogger người nước ngoài là Giáo sư Jonathan London viết:

“Tôi không bao giờ gặp ông ấy và không rõ anh bị bắt vì sao. Nhưng, nhìn một cách khách quan tôi có ý như thế này: Nếu mục tiêu là một Việt Nam dân chủ thì bắt những người như ông rất khó có thể mang lại những nguyên vọng dân chủ ấy.”

Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng thì nêu lên cả những hậu quả không tốt cho xã hội, không tốt cho cả mối quan hệ giữa xã hội và những người đang điều hành nó hiện nay:

“Nó có thể đem lại những hậu quả ngược lại với những gì nhà cầm quyền mong mỏi. Nó làm tắt lịm những tiếng nói chân thật của những công dân tốt, của những trí thức tâm huyết với hướng đi lên của dân tộc. Nó tạo điều kiện cho sự bất cập, trầm trọng hoá những mâu thuẫn, ngăn cản sự đồng thuận xã hội, đẩy lùi những giải pháp ôn hoà có lợi cho sự phát triền hài hoà của xã hội theo hướng tích cực.

Và ông buồn bã cho rằng ông thấy cuộc sống của ông ở Việt Nam đang có gì bất ổn. Câu nói này còn hơn cả một nỗi buồn vì người ta biết rằng Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng vốn là một nhà khoa học thành công ở châu Âu, đã về Việt Nam sống và làm việc với nhiều hoài bão.

Trái bóng có vẻ như đang nằm ở sân của những nhà cầm quyền Việt Nam, trái bóng 258.

Cùng lúc với việc đàn áp các blogger Việt Nam thì cuộc đấu tranh của sinh viên Hồng kong cũng kết thúc một cách thất bại. Facebooker Trần Minh Khôi trích lời một trong những thủ lĩnh của phong trào biểu tình đòi dân chủ là luật sư Benny Tai:

“Một chính quyền thô bạo như thế thì không nên hy vọng vào việc nói chuyện phải quấy với nó. Điều tốt nhất chúng ta có thể làm được là cứ sống như mình muốn và chấp nhận nhũng nhiễu, tù tội từ con thú quyền lực vô tri. Có điều này: không nên can dự vào những đoán định về chuyện tranh chấp quyền lực của đám ma cô. Điều này vô nghĩa.

Khi Nguyễn Quang Lập chọn cho mình đường lối ôn hòa nhất, nhiều bạn bè của ông nhận xét rằng, ông rất mong muốn sự cải cách từ phía những người cầm quyền, tức là ông không muốn điều mà người luật sư Hong Kong phát biểu. Tuy nhiên dường như ông cũng định lượng trước điều ấy cho bản thân mình.

Xin mượn một câu Kiều mà ông Nguyễn Quang Lập viết trên đầu trang blog của mình để kết thúc:

“Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh!

Phóng viên ảnh tường trình về Ebola qua đời ở tuổi 58

Phóng viên ảnh tường trình về Ebola qua đời ở tuổi 58

Nguoi-viet.com

WASHINGTON DC (NV)Ông Michel du Cille, phóng viên ảnh được giải Pulitzer của báo Washington Post vừa qua đời hôm Thứ Năm do bị trụy tim, Huffington Post trích thuật theo tin của tờ Post.

Ông Cille bị té quỵ sau khi tản bộ trong thời gian công tác ở Liberia, nơi ông thu thập tài liệu về sự bùng phát dịch Ebola ở Tây Phi. Ông hôn mê khi được đưa vào bệnh viện và qua đời tại đó.



Phóng viên Michel du Cille. (Hình: Getty Images)

Ông từng được ba giải Pulitzer về nhiếp ảnh, hai với tờ Miami Herald vào các năm 1986 và 1988, cái còn lại với báo Washington Post vào năm 2008 về loạt điều tra liên quan đến việc đối xử với cựu chiến binh tại bệnh viện Walter Reed Army Medical Center.

Năm 2007, ông được bổ nhiệm làm giám đốc bộ môn nhiếp ảnh cho tờ Washington Post và ông trở lại công việc săn ảnh ngoài tòa báo vào năm 2012, tường thuật về những vụ xung đột, trong đó có Afghanistan.

Việc làm gần đây của ông tập trung vào hậu quả tai hại do sự bùng phát của dịch Ebola gây nên ở Tây Phi.

Trong báo cáo mới nhất, ông viết về những thách thức khi làm công việc tường trình cuộc khủng hoảng Ebola, ông nói: “Tôi tin rằng thế giới cần được thấy hậu quả khốc liệt và dã man của Ebola. Câu chuyện cần phải nói ra.”

Ông Cille cho trang mạng Poynter.org hay rằng ông tình nguyện làm công tác tường thuật về Ebola.

Ông qua đời để lại vợ là Nikki Kahn, cũng là phóng viên ảnh của Washington Post. (TP)

Học người xưa đối diện với những thị phi.

Học người xưa đối diện với những thị phi.

Dongten.net

tinhhoa.net-MdY1Ng-20141121-hoc-nguoi-xua-cach-doi-dien-voi-thi-phi-trong-cuoc-song

Trong một buổi nhàn hạ, vua Đường Thái Tông hỏi chuyện vị quan cận thần là Hứa Kính Tôn rằng:

– Trẫm thấy khanh phẩm cách cũng không phải là phường sơ bạc. Sao lại có nhiều tiếng thị phi chê ghét như thế?

Hứa Kính Tôn trả lời:

– Tâu bệ hạ. Mưa mùa Xuân tầm tã như dầu, người nông phu mừng cho ruộng đất được thấm nhuần, kẻ bộ hành lại ghét vì đường đi trơn trợt. Trăng mùa thu sáng vằng vặc như gương treo trên bầu trời đêm, hàng thi nhân vui mừng gặp dịp thưởng du ngâm vịnh, nhưng bọn đạo chích lại ghét vì ánh trăng quá sáng tỏ. Trời đất kia vốn vô tư không thiên vị, mà cơn nắng mưa thời tiết vẫn bị thế gian trách hận ghét thương.

Còn hạ thần đâu phải một người vẹn toàn thì làm sao tránh khỏi tiếng chê bai chỉ trích.Cho nên ngu thần trộm nghĩ, đối với tiếng thị phi trong thế gian nên bình tâm suy xét, đừng nên vội tin nghe. Vua tin nghe lời thị phi thì quan thần bị hại. Cha mẹ tin nghe lời thị phi thì con cái bị ruồng bỏ. Vợ chồng tin nghe lời thị phi thì gia đình ly tán. Tiếng thị phi của thế gian nọc độc còn hơn rắn rết, bén hơn gươm đao, giết người không thấy máu.

Sắt và máu

Sắt và máu

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Người ta gọi cờ của Cộng Sản Việt Nam là lá cờ máu, mà không phải chỉ Việt Nam, các nước Cộng Sản trên thế giới đều có lá cờ nền đỏ, từ Liên Bang Xô Viết, Trung Cộng, Bắc Hàn hay Cuba.

Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, nơi tưởng niệm các binh sĩ VNCH và Hoa Kỳ hy sinh trong cuộc chiến Việt Nam. (Hình minh họa: David McNew/Getty Images)

Chính cái màu máu đó Hồ Chí Minh đã vác về từ Liên Xô gây thảm họa cho dân tộc Việt Nam. Tố Hữu trong bài “Hoa và Máu” đã ca tụng “Người” của ông, nhưng có kết quả ngược, khi đọc lên, người ta thấy Hồ Chí Minh quả thật là một nhân vật ngoi lên từ vũng máu:

“Ôi Việt Nam! Từ trong biển máu
Người vươn lên như một thiên thần!”

Và cả dân tộc này đang hân hoan phấn khởi được ngụp lặn, vùng vẫy trong máu:

“Ta lại về ta, những đứa con
Máu hòa trong máu, đỏ như son.”

Từ chủ trương sắt máu đó Tố Hữu cũng đã hò hét:

“Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong…”

Không ai nghĩ ra vì sao phải đổ máu cho tốt ruộng đồng và thu thuế nhanh hơn, phải chăng đó là một lối cai trị bằng sắt máu và khủng bố!
Ngay trong bài quốc ca “Tiến Quân Ca” chúng ta đã phải rùng mình khi nghe những lời hát man dại của Văn Cao:

“Thề phanh thây uống máu quân thù
Tiến mau ra xa trường, tiến lên!”

Những nhà thơ khác như Xuân Diệu cũng nhập cuộc, chủ trương:

“Máu kêu máu trả thù.
Súng đâu, anh em đâu.
Bắn nó thủng yết hầu,
Bắn tỉa nó dài lâu!”

Lời kêu gọi của những con người thèm khát nhìn thấy máu này, đã đưa dân tộc đến thảm sát Mậu Thân, pháo kích trường học ở Cai Lậy, bắn pháo trên “đại lộ Kinh Hoàng,” gây biển máu trên Quốc Lộ 7B và những vụ trả thù ghê gớm trong ngày miền Nam thất thủ. Những người thèm máu trong chiến tranh, hôm nay ngày hòa bình đã có kết quả.

Ngày xưa có những bài toán trừ: “10 tên lính Mỹ giết 6 tên, còn lại mấy tên?” Nhưng ngày nay Việt Nam mon men lại gần Mỹ, “hoan nghênh việc Hạ Viện Hoa Kỳ lần đầu tiên thông qua một nghị quyết ủng hộ những nỗ lực giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, và việc xây dựng một bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông,” thì bài toán có máu sẽ đổ lên đầu trẻ thơ vô tội, là, “10 ngón tay bị chặt đứt 2 ngón, tính ra còn mấy ngón tay?” Cũng là máu!

Trên những trang báo trong nước ngày nay, không có ngày nào là không có chuyện máu. Người ta giết nhau không cần đến súng, mà bằng búa bằng dao. Sư giết người yêu chôn trong vườn chùa, cha giết con, con cầm dao giết mẹ, anh em vợ chồng đoạt mạng nhau, còn phân thây, vứt bên lề đường, vùi trong bụi chuối, ao hồ. Mới đây là chuyện thiếu niên mới 15 tuổi giết cô chăn bò 52 tuổi, lột lấy bông tai và hiếp dâm thi thể, một thanh niên khác trấn nước nạn nhân cho đến chết, rồi kéo lên bờ làm chuyện tồi bại.

Bây giờ là thời buổi của ma quỷ hiện hình cũng như con người khát máu ưa chém giết nhau, chỉ vì không biết phù phép, bùa chú, yểm ma trừ tà, không chịu chôn hay thiêu đốt mà để con quỷ dâm dục, khát máu, bạo tàn sống nằm khô héo nhăn răng trong lăng.

Chúng ta thường nghĩ, chiến tranh là chuyện bất đắc dĩ, khi tiếng súng đã im trên chiến trận, dù ai chết, bên này hay bên kia, thì cũng là người, ai cũng có những người thân, cũng có một mái ấm. Phải là người lính của miền Nam ngày trước mới có được nỗi buồn xót xa, nhân bản như Tô Thùy Yên:

“Trời ơi, những xác thây la liệt
Con ai, chồng ai, anh em ai?

Hay như Trần Hoài Thư:

“Ai bạn, ai thù sao quá thảm,
Trên một dòng cuồn cuộn oan gia!”

Trong khi đó, những người Cộng Sản hả hê:

“Ném lựu đạn cho người vui vật sướng!”

Hay cầm súng giết người mà hãnh diện:

“Ôi êm ái khi tay cầm vũ khí!” (Xuân Diệu)

Ngay cái hầm chông của du kích là một vũ khí giết người, khi một con vật sa vào bẫy, dù thèm miếng thịt cũng bất nhẫn, khi thấy con vật giẫy giụa đau đớn trong máu me, nhưng Chế Lan Viên đã “yêu,” ca tụng nó, thứ vũ khí giết người:

“Hỡi cái hầm chông
Ta yêu ngươi hơn vạn đóa hoa hồng
Cái hầm chông nhọn hoắt…”

Sau khi giết người, họng súng của con người Cộng Sản “phải reo ca,” nên chế độ ấy, ngày nay sinh sản ra những con người sát nhân, hiếp dân, vứt xác xong về đi ngủ, hay ra quán ngồi nhậu tiếp.

Thời buổi cai trị bằng sắt máu, dùng bạo lực, công an là lực lượng trung thành trấn áp nhân dân, “còn đảng còn ta” nên cảnh giết người, đánh đập người dân trong các đồn công an trong khi lấy khẩu cung gây nên cảnh chết chóc, dàn cảnh tự tử không hiếm tại Việt Nam hôm nay. Cảnh cướp đất, cướp nhà đã dồn người dân lành thành dân oan, ăn đường, ngủ bụi, oán thán ngất trời.

Chúng ta trông đợi, hy vọng gì ở cái xã hội suy đồi bại hoại này, nó phát xuất từ cây đa Tân Trào, hay hang Pác Bó thì cũng đem lại cái chết cho hàng triệu thanh niên và ngày nay là đạo lý suy đồi. Hay biết mấy những câu thơ của Tố Hữu áp dụng cho hoàn cảnh hôm nay:

“…Càng tức nước, càng xui bờ vỡ
Lòng dân ta như lửa thêm dầu
Lưỡi lê, mũi súng, nhà tù
Càng đau, càng khổ, càng thù, càng căm!”

(Ba mươi năm đời ta có đảng)

Rồi đây, có lẽ sẽ không có “Cách Mạng Nhung,” “Cách Mạng Hoa Lài,” gì nữa hết. Chúng khởi đầu con đường đi bằng máu, sợ rồi đây nó sẽ tự kết thúc bằng máu như Tố Hữu đã từng kêu lên, “Máu kêu trả máu, đầu kêu trả đầu!”

Xuất khẩu tiến sĩ Việt đi đâu?

Xuất khẩu tiến sĩ Việt đi đâu?

VienDongDaily.com

Văn Quang – Viết từ Sài Gòn

Chuyện hai cha con ông nông dân Trấn Quốc Hải sửa chữa và chế tạo xe bọc thép thành công tại Campuchia được biệt đãi như chế độ của đại tướng quân thật sự. Ở VN gọi cha con ông là “Đại tướng quân hai lúa.” Chính phủ Campuchia đã tặng cho gia đình ông một biệt thự, một xe hơi trong những ngày lưu lại nước bạn. Không chỉ vậy, ông sẽ được tặng luôn với vườn xoài rộng 18 ha nếu chấp nhận sang Campuchia làm khoa học. (Tôi tường thuật chuyện này trong đoạn sau).
Chính vì thế trong mấy tuần vừa qua, ngoài dư luận ồn ào vì chuyện ngài cựu Tổng Thanh Tra Chính Phủ Trần Văn Truyền có hàng loạt cơ ngơi đồ sộ đang bị điều tra (chuyện này bỗng trở thành kiểu “chuyện dài nhân dân tự vận” sẽ còn nhiều pha hồi hộp gay cấn trong trong những ngày tháng sắp tới), một vấn đề đang rộ lên trên các báo tuần qua là xuất khẩu giáo sư, tiến sĩ.
Xin bạn nhớ cho, Việt Nam chúng tôi có khoảng 9,000 giáo sư và 24,300 tiến sĩ, nhiều nhất Đông Nam Á đấy nhá. Dư thừa giáo sư, tiến sĩ nhiều, cho nên tìm cách xuất khẩu cho đỡ phí.
Đó là một ý kiến chính đáng nhưng có phần mỉa mai. Bởi có nhiều vị tiến sĩ đang thất nghiệp hoặc làm tạm việc gì đó không phải của tiến sĩ. Vả lại ngoài một số vị tiến sĩ có bằng cấp thật lại có hàng loạt các vị tiến sĩ giả được gọi là tiến sĩ giấy. Kể cả một anh thợ mộc cũng có thể được “biến hóa” thành tiến sĩ, tôi đã từng đưa tin phó giáo sư Tiến Sĩ Đàm Khải Hoàn dạy tại trường Đại Học Thái Nguyên nhận “giúp đỡ” một người buôn gỗ lấy bằng tiến sĩ Y Khoa với giá 200 triệu đồng. Vì thế ở VN lại có thêm từ “tiến sĩ gỗ.” Dân gian chua chát lưu hành câu “thứ không mua được bằng tiền thì mua được bằng rất nhiều tiền.” Cũng có nhiều anh mua cái bằng chỉ để treo trong nhà cho nó “oách” hoặc làm mồi nhử một cô gái ngây thơ thích bằng cấp và thích có tí “danh gì với núi sông”… Tất nhiên có khá nhiều ông “làm việc nước” muốn thăng tiến cùng với “thăng tiền” mua cái bằng tiến sĩ hay thạc sĩ gì đó nộp vào hồ sơ. Mất 200 triệu chứ mất 2 tỉ hay hơn thế cũng còn lời chán. Nếu có bị đánh tham nhũng thì “hy sinh đời bố củng cố đời con” cũng vẫn còn lời – Tuy nhiên xin mở ngoặc là chuyện này khó xảy ra, xác suất là 1/1,000,000 như kiểu trúng số độc đắc vậy. Nói sơ sơ thế để các bạn hiểu rằng ở VN chúng tôi dân trí cao lắm (xin đừng nhầm là “cáo lắm” đấy). Cho nên không xuất khẩu thì để trang trí làm cảnh à? Nếu thực sự chỉ dùng để trang trí thì quả thực đất nước VN có thể xếp vào loại xa xỉ nhất thế giới khi sử dụng một nguồn lực khổng lồ như vậy chỉ để mà chơi và trang hoàng cho đẹp mắt.

Chiếc máy bay của ông Hải khi được thử nghiệm.

Các vị tiến sĩ thật đang làm gì?

Mất hàng tỉ tỉ đồng đào tạo ra các nhà tiến sĩ vậy VN có bao nhiêu vị có công trình nghiên cứu có giá trị?
Trung bình hàng năm Việt Nam có số lượng ấn phẩm khoa học được duyệt và đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế chỉ bằng 1/5 của Thái Lan và 1/10 của Singapore. Riêng trên tạp chí Nature, thì trong mười năm qua Việt Nam chỉ có 5 ấn phẩm khoa học trong nước được đăng trên tạp chí hàng đầu thế giới này. Đồng ý rằng, dân ta có nhiều người học TS chỉ để cho oai, vậy con số khoảng 9,000 GS, PGS với phân nửa số lượng TS đang là giảng viên đại học hay “nghiên cứu viên” tại VN đang làm gì và được dùng vào việc gì?
Theo ông Trần Đăng Tuấn trên VN Net: Ngân sách hàng năm dành cho nghiên cứu khoa học vốn đã rất khiêm tốn (chỉ chiếm 0.5% GDP) nhưng luôn bị cắt xén và thất thoát tại mỗi cấp. Nếu muốn được duyệt một đề tài nghiên cứu có sử dụng ngân sách nhà nước thì chi phí lobby đôi lúc lên đến vài chục phần trăm ngân sách đề tài. Công sức bỏ ra để hợp thức hóa số tiền bị cắt xén này hầu như chiếm gần hết thời gian của đơn vị nghiên cứu, khiến cho các sản phẩm đầu ra đều không đáng tin cậy hoặc ở dạng nửa vời.
Thật đáng buồn khi nhiều nhà nghiên cứu bỗng nhiên trở thành những nhà “chạy dự án” chuyên nghiệp. Việc xem các đề tại Nhà Nước như là một chiếc bánh cho nhiều cá nhân và đơn vị để cải thiện thu nhập khiến cho đất nước ta luôn vắng bóng những công trình tầm cỡ. Sự thiếu hụt các cơ chế giám sát, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong nghiên cứu khoa học được xem như nguyên nhân chính khiến cho phần lớn các kết quả đề tài không có tính ứng dụng trong thực tiễn nhưng vẫn được phê duyệt và nằm yên, bám bụi trên các giá sách vốn đã rất bụi tại các cơ quan nhà nước. Dù có thế nào thì cũng không ai phải chịu trách nhiệm.
Những người làm khoa học không chuyên thì sao? Sự cứng nhắc, rập khuôn và giáo điều của các cơ quan chức năng cộng với tính sính ngoại và tự coi thường khả năng, trí tuệ của chính người nhà mình đã khiến cho bao nhiêu nông dân và kể cả doanh nhân phải ngửa mặt kêu Trời.
Thời Hoàng Đế Lê Thánh Tông, nước Đại Việt của chúng ta có thể được xem là hùng cường bậc nhất trong lịch sử Phong Kiến. Có lẽ ý thức được nguyên tắc “hiền tài là nguyên khí Quốc gia” nên nhà Vua đã tạo dựng được một triều đại huy hoàng đến vậy. Tuy đời sau ít nhiều thấm nhuần tư tưởng này nhưng chưa ai làm được những gì mà “Vị Hoàng Đế mở cõi” này đã làm. Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng theo tôi cũng giống như ngày nay, cái quan trọng nhất không phải chúng ta không muốn sử dụng nhân tài mà là chúng ta không có khả năng sử dụng họ.


Xe bọc thép “Made by ông Hải” dẫn đầu đoàn xe bọc thép trong lễ kỷ niệm 25 năm thành lập lữ đoàn 70 của Campuchia.

Bố ai dám nhập mấy ông này!

Người dân đã quá chán với những vị tiến sĩ “dỏm.” Nhiều câu chuyện dân gian kể trên các trang báo. Có những vị tiến sĩ cả đời chẳng đọc một cuốn sách, chẳng nghiên cứu gì, ngoại ngữ thì viết mấy chữ cám ơn, lời chào bằng tiếng Anh còn sai be bét, đi nước ngoài hỏi đường bằng cách ra hiệu, tay chân cứ “múa loạn xạ cả lên, như lên đồng.” Khi chúng tôi ngồi tán chuyện, nói về nhân vật “Tào Tháo” trong “Tam Quốc,” thì có vị “tiến sĩ” nghe lỏm cũng gật gù: cái nền văn học Pháp hay thật. Cha mẹ ơi! sao mà cười “ra nước mắt.” Bố ai dám nhập mấy ông này!
Các bác sĩ của ta đi làm chuyên gia cũng nhiều, rồi đến y tá, nông dân cũng đi xuất khẩu được để hướng dẫn trồng cây, v.v. Nông dân sáng chế ra máy bóc lạc, máy đào đất… Còn mấy “ổng tiến sĩ” đó, nghe đâu thường làm ở các cơ quan, đoàn thể thì phải!
Bây giờ lại nghĩ đến xưa, thật xót cho cụ Trần Tế Xương sống ở cái thời “sự học chán lắm rồi,” cho nên lận đận về con đường “khoa cử.” Bây giờ thì cụ đã đỗ “tiến sĩ” từ lâu, chẳng phải vất vả thế! Cụ có biết không? bây giờ họ “phù phép” biến người buôn gỗ thành tiến sĩ y khoa đấy! Đến “Tôn Hành Giả” cũng phải bó tay.

Nông dân còn xuất khẩu được, tiến sĩ chẳng lẽ không?

Nhưng vấn đề là ở chỗ, ai nhập giáo sư, tiến sĩ Việt Nam? Mỹ ư! Xin thưa, có. Nhưng muốn Mỹ nhập khẩu thì giáo sư phải cỡ như Ngô Bảo Châu và Đàm Thanh Sơn, Lê Tự Quốc Thắng. Mà giáo sư cỡ này thì Việt Nam đếm đầu ngón tay. Nói đúng hơn, không phải các giáo sư này do Việt Nam đào tạo, mà chính họ đào tạo rồi giữ lại dùng. Chúng ta cứ tự nói với thiên hạ rằng, Việt Nam xuất khẩu các giáo sư đó cho nó oai thôi.
Người giỏi thì tất sẽ có nhiều lời mời, nhiều kế hoạch, dự định, làm không hết việc. Việt Nam có nhiều doanh nghiệp, đơn vị cần người giỏi, trọng người tài, thậm chí có những doanh nghiệp phải bỏ nhiều tiền để thuê chuyên gia nước ngoài. Nếu có người Việt Nam tài giỏi thật, việc gì họ không mời. Đã giỏi thì không thể thất nghiệp. Tất nhiên, vẫn có những trường hợp tài thật nhưng không may mắn.
Cho nên, cứ nói xuất khẩu giáo sư, tiến sĩ cho vui. Người có thực lực đã tự tìm cho mình con đường mà chẳng cần ai phải kêu gọi, chẳng cần tham gia phong trào “xuất khẩu.” Còn người bất tài, trong nước còn không ai muốn nhận – trừ những cơ quan với những công việc không cần chất xám – thì có xuất cũng không ai dám thuê, hoặc nhỡ có ai đó lỡ thuê thì chính họ cũng không dám đi. Ở trong nước còn nói xạo được, ra nước ngoài lộ ngay.
Đấy là chuyện xuất khẩu tiến sĩ của VN hiện nay. Nhưng không “xuất” tiến sĩ được mà có ông nông dân lại được nước bạn long trọng mời sang làm với những ưu đãi hết sức đặc biệt. Đó là một trường hợp rất đặc biệt của cha con ông “hai lúa.”

Những điều đặc biệt về cha con ông nông dân Trần Quốc Hải

Mọi người VN đều hãnh diện vui mừng trước cái tin “nhà khoa học nông dân” dậy sóng trên khắp các cơ quan truyền thông từ trong nước đến nước ngoài. Chắc chắn nhiều bạn đọc đã biết tin này. Ở đây tôi nêu lên vài điều đặc biệt về hai cha con ông hai lúa này.
Ông Trần Quốc Hải ở tại xã Suối Dây, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Lý do ông sang Campuchia là nhà ông ở gần biên giới nên nhiều lần ông qua Campuchia để chuyển giao công nghệ cơ giới hóa cây mỳ tại đơn vị quân đội – Lữ đoàn 70 của Campuchia.
Phía lữ đoàn nghe rất thích nhưng không tin rằng một người chuyên làm máy nông nghiệp lại có thể sửa chữa được khí tài quân sự vốn phức tạp hơn rất nhiều. Bởi trước đây cũng có nhiều chuyên gia từ Nga, Ukraina và Việt Nam sang sửa chữa rồi.
Ông Hải kể lại khởi đầu của hành trình trở thành nhà khoa học quân sự của nhà nước Campuchia. Ông nói:
“Vấn đề Nga hay Ukraina tui không quan tâm. Nhưng, họ phàn nàn chuyên viên Việt Nam sửa xong vừa quay lưng đi là xe lại hỏng là tui rất tự ái.” Đó là lòng tự ái dân tộc.
Sau khi xem qua một số bộ phận của xe ông Hải khẳng định chắc như đinh đóng cột là mình sửa được. Thể hiện rõ quyết tâm trước sự ngờ vực về năng lực và khả năng thành công của “phi vụ” này từ phía bạn, ông Hải bỏ hẳn tiền túi $25,000 USD để sửa chữa. Với ông đây còn hơn cả canh bạc. Thua bạc thì chỉ mất tiền thôi, còn ở đây là lòng tự ái dân tộc bị tổn thương.”

Thành công khiến toàn thể sĩ quan cao cấp sững sờ

Ông Hải cũng đề nghị muốn sử dụng tốt ở Campuchia thì phải có nhiều cải tiến như sử dụng động cơ diesel, thay đổi một số tính năng của xe. Được sự đồng ý của Bộ Quốc Phòng Campuchia, hai cha con ông Hải bắt tay vào sửa chữa.
Kết quả ngoài cả mong đợi của lữ đoàn 70, sau 15 ngày làm việc cật lực, ông Hải làm chiếc xe chạy ro ro chẳng khác gì hàng mới. Chiếc xe bọc thép BRDM – 2 (do Liên Xô cũ sản xuất) chỉ tiêu tốn 25 lít dầu/100km thay vì 45 lít như trước đây. Xe tác xạ nhanh hơn, cơ động hơn, hỏa lực mạnh hơn, súng có thể bắn ở cự ly hơn 7m so với cự ly trên 150m trước đây, tháp pháo tự động.
Hết sức ngạc nhiên trước kỳ tích này của cha con ông Hải, lữ đoàn 70 đề nghị ông Hải tiếp tục sửa chữa toàn bộ xe bọc thép BRMD – 2 và BTR60PB. Sau khi nâng cấp, sửa chữa được 11 chiếc, phía Campuchia lại thách thức ông Hải chế tạo hẳn chiếc bọc thép mới phù hợp với đặc thù nước này.
Sau bốn tháng làm việc cùng một số cộng sự, chiếc xe bọc thép “made by ông Hải” ra đời với chi phí hơn $200,000 USD.
Ông Trần Quốc Hải được phong tặng bằng khen và công nhận là nhà khoa học quân sự. Con trai Trần Quốc Thanh được gọi là kỹ sư quân sự. Trong lễ kỷ niệm của lữ đoàn 70, hai cha con ông kỹ sư “hai lúa” được Quốc Vương Campuchia tặng huân chương Đại Tướng Quân. Như trên tôi đã kể chính phủ Campuchia còn tặng cho gia đình ông một biệt thự, một xe hơi trong những ngày lưu lại nước bạn. Không chỉ vậy, ông sẽ được tặng luôn với vườn xoài rộng 18 ha nếu chấp nhận sang Campuchia làm khoa học. Mọi việc ăn uống, sinh hoạt của gia đình đều có người phục vụ, đúng theo tiêu chuẩn “cấp tướng” và cho phép ông nhập quốc tịch Campuchia bất cứ lúc nào.

Kỹ sư hai lúa còn chế tạo cả máy bay trực thăng

Ông Hải tâm sự với phóng viên Quốc Anh: Vùng quê Tây Ninh vốn rất nhiều mỳ. Ông muốn năng suất canh tác tăng lên mà bà con đỡ khổ, trong vòng 5 năm ông đã hoàn thành quy trình cho cây mỳ, từ máy trồng mỳ, làm cỏ, phun thuốc, nhổ mỳ… Ông so sánh, “Việc sáng chế ra quy trình trồng mỳ còn khó hơn cả xe bọc thép. Đơn cử, tôi làm xe bọc thép mất 4 tháng trong khi đó quy trình cho cây mỳ hết 5 năm.” Bên cạnh đó, rất nhiều máy móc khác như máy hút lá cao su, máy phun thuốc cao su,… được ứng dụng trong nước mà còn đi cả nước ngoài.
Ông Hải cho biết, “Tới đây phía Campuchia yêu cầu ông làm hai chiếc xe nữa là xe bọc thép 6 bánh lội nước và xe 8 bánh có thể gắn hỏa tiễn bắn xa 45km. Người ta tin tưởng và yêu cầu thì mình mới có cơ hội cống hiến.”
Thật ra không phải bây giờ dư luận mới xôn xao về những sáng tạo của cha con ông Hải. Cách đây hơn 10 năm ông đã sáng chế ra chiếc trực thăng nặng 900kg. Sau đó, một bảo tàng viện của Mỹ đã mua chiếc trực thăng về trưng bày. Trong suốt những năm qua, ông vẫn miệt mài sáng tạo phục vụ cho việc cơ giới hóa ngành nông nghiệp đất nước.
Chiếc máy bay đầu tay có lẽ chưa phải là sự thỏa mãn như ý, hai năm sau, ông bắt tay ngay vào công việc của chính mình. Chỉ 6 tháng, chiếc máy bay trực thăng thứ hai đã được ông chế tạo hoàn chỉnh, chỉ nặng 680kg, dài 11m, rộng 2.3m, cao 3.5m, động cơ mới có mức tiêu hao nhiên liệu 60 lít/8 giờ, vận tốc đạt 150km/giờ. Giá thành của chiếc máy bay trực thăng này chỉ bằng một chiếc xe hơi du lịch lắp ráp. ông Trần Quốc Hải cho biết: Ông còn tiếp tục chế tạo thêm chiếc máy bay trực thăng thứ ba của mình và đang chờ thời điểm tốt nhất để cất cánh. Điều tôi quan tâm nhất lúc này là sẽ ứng dụng thành công nhiều chiếc máy bay mới vào trong lĩnh vực nông nghiệp. Tôi hy vọng, đây sẽ là công trình tốt nhất để cho các bạn sinh viên có tâm huyết cao trong vấn đề nghiên cứu ứng dụng học tập.”
Để kết luận cho bài này, mời bạn đọc một đoạn trong thư của một độc giả gửi ông “hai lúa” để hiểu rõ hơn tâm trạng của người dân Việt.
Thư của Blogger Dân Trí gửi “tướng quân” Trần Quốc Hải!
“Ông Trần Quốc Hải kính mến!
Trước hết, tôi xin lỗi ông về sự đường đột này. Nói đường đột bởi tôi với ông ở hai đầu đất nước, vốn lại chẳng quen biết nên viết thư cho nhau là sự đường đột vậy.
Nhưng tôi quyết định viết bức thư này trước hết là để chúc mừng ông, một con người tài trí và đam mê công việc, song không được trọng dụng giờ đây đã tìm được miếng đất dụng võ cho mình. (bởi ở VN ông không được trọng dụng)
Mà kẻ sĩ xưa nay đều vậy cả. Hay thì ở, dở thì đi, nơi nào tin dùng thì đến. Cuộc đời vốn ngắn ngủi, chả ai lại cam tâm dài cổ đợi dù ông cũng đã “dài cổ” nhiều năm.
Nhưng suy cho cùng, ông không được trọng dụng là có cái lý của nó, là “phải đạo” thôi ông Hải ạ.
Phải vì ông chỉ là “anh hai lúa,” không bằng cấp chuyên môn, tức là xin lỗi ông, nói theo ngôn ngữ dân gian là “vô học.”
Mà một nông dân “vô học” lại đòi chế tạo máy bay thì khác gì “cái gai” trong mắt các nhà khoa học mũ cao, áo dài, các giáo sư tiến sĩ bằng cao, chức lớn?
Nó càng “cay đắng” hơn, ông làm “ngượng mặt” gần một vạn “nhà khoa học” với đủ mọi phẩm cấp nhưng hàng năm trời không có nổi một vài bài báo in trên các tạp chí khoa học lớn của thế giới?
Khi mà biết bao nhiêu những “đề tài khoa học” cấp Nhà Nước với chi phí hàng tỉ đồng ngân sách làm xong chỉ có một việc duy nhất là… nhét vào ngăn kéo. Không, có lẽ số đó đến thời điểm này không còn là “ngăn kéo” mà có thể hàng kho.
Càng xót ruột hơn, khi những tờ giấy đang trắng bị đem “bôi mực” đó lại không thể bán cho đồng nát vì nó “mang danh” là công trình khoa học!
Ông không được trọng dụng cũng phải thôi vì ví dụ nếu ông làm ra cái máy đó chỉ mất 100 triệu đồng (giả sử thế) mà các nhà khoa học kỹ thuật dùng ngân sách nhà nước lại làm ra cỗ máy tương tự hết có… 1 tỉ đồng thì hỏi 900 triệu đồng kia nó đi đâu? Làm thế, khác gì ông làm lộ cái “bí mật” mang tên “xà xẻo” bởi ở ta, đã từng có không ít những dự án coi nguồn ngân sách cấp cho nghiên cứu là “chùm khế ngọt” luôn bị “trèo hái mỗi ngày”…
Có thể còn nhiều, rất nhiều lý do nữa nhưng không thể không kể đến một lý do, việc công nhận ông, tức là xếp ông, một lão hai lúa “vô học” được “cùng chiếu” với các vị mũ cao áo dài là sự xúc phạm không thể tha thứ ở ta hiện nay, khi bằng cấp là vật trang trí, thậm chí ngụy trang để làm điều khuất tất.
Dẫu biết rằng trong lịch sử khoa học kỹ thuật thế giới, nhà sáng chế lừng danh Edison cũng là người… “vô học.” Nhưng đó là chuyện bên Mỹ, không phải chuyện ở Việt Nam… Một lần nữa, cầu mong cho ông tiếp tục thành công trên con đường khoa học kỹ thuật vốn chông gai này. Còn nếu như không được “phục vụ dân mình, đất nước mình” thì ông cũng có niềm an ủi là cống hiến cho nhân loại bởi khoa học không có biên giới, phải không ông?
Trân trọng!
Bùi Hoàng Tám”

Sự thật ở VN xuất cảng tiến sĩ thì vắng nhưng con gái nhà quê xuất cảng là nhiều nhất. Thí dụ như xã Đại Hợp, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng ngày nay nhiều người dân vẫn gọi đây là “mảnh đất xuất khẩu cô dâu” bởi một xã vỏn vẹn 12 ngàn dân nhưng có tới 900 cô gái đi lấy chồng nước ngoài. Làn sóng xuất khẩu ồ ạt này dẫn đến hệ lụy trai làng rơi vào cảnh ế ẩm, kéo đến Ủy Ban Nhân Dân “bắt đền.” Nhìn cảnh các cô gái quê đứng cho đàn ông nước ngoài chọn vợ diễn ra liên tục thật đáng xấu hổ. Trong một kỳ khác tôi sẽ bàn đến vấn đề này.

Văn Quang

(ngày 5 tháng 12, 2014)