Đức Thánh Cha bất ngờ thăm nhà trọ dành cho người vô gia cư


Đức Thánh Cha Phanxicô đã thực hiện một chuyến thăm bất ngờ đến nhà trọ dành cho người vô gia cư mới được Tòa Thánh khánh thành ngay bên ngoài thành phố Vatican. Đây là động thái mới nhất của vị giáo hoàng nhằm kêu gọi sự chú ý tới tình cảnh nghèo nàn trên thế giới.

Đức Thánh Cha đã thực hiện một chuyến đi ngắn từ Vatican đến trung tâm Rôma, gần sông Tiber, vào khoảng 7 giờ tối ngày thứ Năm 15 tháng 10.

Khoảng 30 người đàn ông vô gia cư đang cư ngụ tại đây đã hết sức vui mừng. Nhiều người đã có thể nói chuyện với Đức Giáo Hoàng, kể lại câu chuyện của họ và yêu cầu ngài ban phép lành cho mình. Chuyến thăm của Đức Giáo Hoàng đã kéo dài khoảng 20 phút.

Cùng đi với Đức Thánh Cha còn có quan phát chẩn của Tòa Thánh là Đức Tổng Giám mục Konrad Krajewski và cha Adolfo Nicolas, là bề trên Tổng Quyền Dòng Tên; và ba nữ tu làm việc tại nhà trọ này.

Nhà trọ Dono di Misericordia, nghĩa là “Món quà của lòng Từ Bi”, đã được khánh thành vào đầu tháng này và có thể cung cấp chỗ nghỉ đêm cho 34 người. Tòa nhà này đã được các tu sĩ Dòng Tên hiến tặng theo lời kêu gọi của Đức Thánh Cha Phanxicô trong việc giúp đỡ người nghèo.

Có những tin đồn rằng Đức Thánh Cha thỉnh thoảng vẫn ra khỏi Vatican để gặp gỡ những người vô gia cư và các nhân viên giúp đỡ họ.

Trong các nỗ lực kêu gọi sự chú ý đến người nghèo đặc biệt là những người vô gia cư, Tòa Thánh đã lần lượt khánh thành nhà tắm miễn phí, cũng như nơi cắt tóc và cạo râu miễn phí. Một nhóm người vô gia cư đã được mời tham gia một chuyến du lịch bảo tàng viện Vatican, bao gồm cả nhà nguyện Sistina.

Trong chuyến thăm gần đây của Đức Thánh Cha tại Hoa Kỳ, ngài đã đến thăm một cư xá dành cho người vô gia cư ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn, nơi ngài nói rằng “không thể biện minh cho việc thiếu nhà ở.”

TRUYỀN GIÁO: CHUYỆN KHÔNG CỦA RIÊNG AI

TRUYỀN GIÁO: CHUYỆN KHÔNG CỦA RIÊNG AI

Tác giả:  Huệ Minh

CHÚA NHẬT TRUYỀN GIÁO

Is. 2, 1-5; 1Tm. 2,1-8; Mt. 28,16-20

Chúa Giêsu không ở trần gian mãi, đến kỳ hạn, Chúa Giêsu lại trở về cùng Cha bởi lẽ Ngài xuất phát từ Cha.

Trước khi chia tay với các môn đệ thân tín ở Galilê, ở cái ngọn núi mà các môn đệ được dặn trước và từ đó Ngài về Trời cùng Cha như đã loan báo. Ta bắt gặp lời trối trăng của Chúa Giêsu với các môn đệ rằng : “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”

Thi thoảng, ta lại bắt gặp lời trăn trối đó và lòng ta lại “được” chất vấn trước lời trăng trối của Chúa Giêsu. Để sống đúng nghĩa và đúng chất với lời mời gọi của Chúa Giêsu không phải là chuyện dễ dàng. Đơn giản là ta nhìn vào con số tỷ lệ giữa người Công Giáo và không Công Giáo tại Việt Nam và nhìn vào con số theo đạo Công Giáo tại Việt Nam thì ta sẽ rõ.

Hẳn nhiên vẫn có con số gia tăng vởi trẻ con của những gia đình có đạo cũng cất tiếng khóc chào đời để rồi được rửa hội và ta có thể gọi là rửa tội tự nhiên. Còn một thể thức rửa tội xem ra tự nhiên mà cũng không tự nhiên tí nào đó là phương thức rửa tội của những người dự tòng để lập gia đình với người bạn đời của mình. Tính như thế, ta sẽ thấy được con số thực của việc truyền giáo trong Giáo Hội ngày hôm nay.

Tỷ lệ người tự nguyện rửa tội chứ không phải tự nhiên ta ngồi nhẩm được bao nhiêu ? Và từ đó, ta lại nhìn lại cung cách sống của ta nhất là với lời mời gọi của Chúa.          Phải nói rằng, điều đầu tiên và căn cốt nhất để người khác không theo đạo, không thiển cảm mấy về đạo Công Giáo đó chính là cung cách sống của người Kitô hữu. Đức cố giáo hoàng Ðức thánh Phaolô VI đã nói rất thấm thía trong Tông huấn Loan báo Tin Mừng như sau: “Người thời nay thích nghe các chứng nhân hơn các thầy dạy.  Nếu họ có nghe các thầy dạy là bởi vì thầy dạy cũng chính là chứng nhân”.

Và rồi, tư tưởng của Nathan Soderblum : ” Thánh nhân là những người có thể làm cho người khác dễ tin vào Chúa hơn”.

Thế đó, để người khác tin vào Chúa thì chỉ có duy nhất một con đường cho người Kitô hữu là phải sống, sống như thế nào để người khác tin rằng nơi mình có sự hiện diện của Chúa để rồi tự khắc người ta theo Chúa.

Nhìn vào thực tại truyền giáo tại Việt Nam chúng ta có điều gì đó lợn cợn. Lợn cợn bởi lẽ đã qua nhiều năm, nhiều cách thức, nhiều nẻo đường truyền giáo nhưng rồi ta lại thấy thu lượm kết quả không là bao và chính trong kết quả đó cũng không được có cái gì gọi là bảo đảm.

Thực tại ta thấy ngày hôm nay đó là cảm thức đức tin. Chính người Kitô hữu dù đã có Chúa Kitô, dù đã mang trong mình dấu ấn của Kitô rồi nhưng rồi lại không diễn tả một niềm tin Kitô ngay trong cuộc đời của mình. Và ta thấy vẫn còn cái gì đó, điều gì đó mang dáng dấp của cái nhãn, cái mác bên ngoài mà thôi.

Cái nhãn, cái mác đó dù đẹp, dù hay và thậm chí có dán tem như sản phẩm lan tràn ở thị trường ngày hôm nay làm cho ta nhiều suy nghĩ.

Thánh Giacôbê đã không ngần nại để nói thẳng rằng : “Ai bảo mình có đức tin mà không hành động theo đức tin, thì nào có ích lợi gì? Ðức tin có thể cứu người ấy đợc chăng? Giả như có một người anh em hay chị em không có áo che thân, và không đủ của ăn hàng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ: “Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no”, nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì?” ( Gc 2,14-15 ). Chính nhờ công việc, nhờ việc làm mà củng cố lời rao giảng.

Lời rao giảng, giới thiệu của Gioan tẩy giả về Chúa Giêsu trở nên đáng tin đến độ có những môn đệ của ông đã xin làm môn đệ của Chúa Giêsu. Bởi vì ông đã sống hết mình với sứ điệp ông rao giảng. Ông mời gọi người ta ăn năn sám hối đón đợi Ðấng Cứu Thế thì chính ông đã là mẫu gương của người sám hối, chờ mong. Nhìn nhận Ðấng Cứu Thế, ông tự làm cho mình trở nên bé nhỏ, từ chối những vinh dự mà dân chúng thời đó muốn suy tôn ông, để giới thiệu Chúa Giêsu cho mọi người, cho những môn đệ của mình. Ông đã để cho môn đệ của mình đi theo làm môn đệ Chúa Giêsu, một người lúc đó còn vô danh chưa ai biết đến.

Không phải tất cả chúng ta đều có điều kiện để giới thiệu, để rao giảng Chúa Giêsu cho người khác. Nhưng tất cả chúng ta đều có ơn gọi làm chứng cho ngài bằng đời sống của chúng ta, và bổn phận đó nằm trong tầm tay của chúng ta, từ em thiếu nhi cho đến cụ già. Mỗi người chúng ta đều có bổn phận của mình với trách nhiệm làm người, làm con Thiên Chúa. Và khi chúng ta sống đúng đắn tư cách, bổn phận là người, là con Thiên Chúa, chúng ta đã trở nên chứng nhân cho Chúa , là ánh sáng cho thế gian.

Ta cần và cần lắm khi truyền giáo ngay chính gia đình của ta và gần hơn nữa là truyền giáo cho chính bản thân chai lỳ của chúng ta.

Xin Chúa thêm ơn cho mỗi người chúng ta để chúng ta làm mới con người chúng ta từ lời ăn tiếng nói, cách hành xử để rồi người khác nhìn vào chúng ta họ nhìn thấy một Thiên Chúa sống động đang ở trong chúng ta. Chính khi sống như thế, ta đã người truyền giáo rồi. Xin Chúa thêm ơn và chúc lành cho chúng ta.

Tác giả:  Huệ Minh

“Bản lên tiếng” kêu gọi không hoan nghênh CT Tập Cận Bình thăm VN

“Bản lên tiếng” kêu gọi không hoan nghênh CT Tập Cận Bình thăm VN

Gia Minh, biên tập viên RFA

RFA

phan-doi-tcb.jpg

Người dân kêu gọi không hoan nghênh chuyến công du Việt Nam của chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vào tháng 11 tới đây.

Citizen photo
Hơn 120 người ký tên vào một bản lên tiếng và nhiều cư dân mạng trên Facebook kêu gọi không hoan nghênh chuyến công du Việt Nam của chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vào tháng 11 tới đây.

Bản lên tiếng

Bản lên tiếng về chuyến công du Việt Nam sắp tới của ông Tập Cận Bình và vấn đề Biển Đông được những người ký tên cho rằng trách nhiệm bảo vệ đất nước là của toàn dân và họ là những công dân thấy cần phải lên tiếng để cảnh giác.

Bản Lên tiếng nêu ra ba điểm: thứ nhất là tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc đe dọa tự do hàng hải trong khu vực, gây ảnh hưởng lớn đến phát triển và ổn định của khu vực Châu Á- Thái Bình Dương; trong đó có Việt Nam phải gánh chịu những thiệt hại về kinh tế và đe dọa an ninh quốc phòng.

Sở dĩ chúng tôi ra Bản Lên tiếng này vì thấy rằng trong thời điểm hiện tại Trung Quốc khuynh đảo đất nước chúng ta từ kinh tế đến chính trị, mọi lĩnh vực thậm chí là văn hóa nữa. Trên Biển Đông thì ai cũng biết là họ thường xuyên rượt đuổi, phá nát tàu của ngư dân Việt trên biển.
-Phạm Minh Hoàng

Thứ hai đây là thời cơ để Việt Nam tăng cường hợp tác với các quốc gia có cùng mối quan tâm về vấn đề Biển Đông, cũng như là thời điểm để xét lại mối quan hệ Việt – Trung với những khẩu hiệu do hai đảng cộng sản nêu ra trong các khẩu hiệu ‘4 tốt’ và ’16 chữ vàng’; Việt Nam cần phải sử dụng luật pháp quốc tế để kiện những hành động vi phạm của Trung Quốc đối với chủ quyền biển đảo của Việt Nam và không bị mắc mưu khi chỉ đàm phán song phương đôi bên theo ý của Trung Quốc.

Và điểm thứ ba là trong khi Trung Quốc cải tạo, bồi đắp biến những đảo chiếm được của Việt Nam thành đảo nhân tạo với mục tiêu quân sự và tiếp tục tấn công ngư dân Việt Nam đánh bắt tại Hoàng Sa và Trường Sa thì không thể tiếp đón ông Tập Cận Bình tại Việt Nam như một vị quốc khách được.

Thầy giáo Phạm Minh Hoàng, một cựu tù nhân chính trị hiện ở Sài Gòn và cũng là một trong những người ký tên vào Bản Lên tiếng cho biết lý do đưa ra bản lên tiếng:

“Bản Lên tiếng này được một số anh em đấu tranh trong nước, trong đó có rất nhiều anh em là cựu tù nhân lương tâm. Sở dĩ chúng tôi ra Bản Lên tiếng này vì thấy rằng trong thời điểm hiện tại Trung Quốc khuynh đảo đất nước chúng ta từ kinh tế đến chính trị, mọi lĩnh vực thậm chí là văn hóa nữa. Trên Biển Đông thì ai cũng biết là họ thường xuyên rượt đuổi, phá nát tàu của ngư dân Việt trên biển. Họ tiếp tục xây những đảo để làm căn cứ quân sự. Tình hình lấn chiếm Biển Đông và tấn công các ngư phủ dân thường là không thể chấp nhận được. Song song đó những ảnh hưởng về kinh tế, chính trị đến đất nước chúng ta là thường xuyên và càng lúc càng nhiều. Trong bối cảnh như thế thì chuyến thăm của ông Tập Cận Bình là không thể chấp nhận được.”

Kêu gọi trên facebook

nhv-400.jpg
Blogger Nguyễn Hữu Vinh. Courtesy photo.

Blogger Nguyễn Hữu Vinh, người tham gia ký tên vào Bản Lên tiếng và đăng hình trên facebook với biểu ngữ không hoan nghênh ông Tập Cận Bình đến Việt Nam, cũng cho biết quan điểm của ông trong việc chính quyền Hà Nội và đảng cộng sản Việt Nam mời ông Tập Cận Bình sang thăm Việt Nam trong bối cảnh như hiện nay:

“Truyền thống của Việt Nam từ xưa đến nay là không có ai rước ‘giặc’ vào nhà. Đó là một nguyên tắc. Tập Cận Bình hiện nay là chủ tịch nước Trung Quốc – đất nước đang xâm lược Việt Nam một cách rất rõ ràng. Hoàng Sa và một phần của Trường Sa- phần thiêng liêng của đất nước đang nằm dưới tay quân xâm lược. Đối với người dân Việt Nam thì đó là giặc. Tôi thấy người cộng sản học tập gương đạo đức Hồ Chí Minh hết đợt này đến đợt khác, tốn bao nhiêu tiền của dân nhưng họ quên mất một điều như Hồ Chí Minh đã nói rằng ‘còn một tên xâm lược nào trên đất nước chúng ta thì phải chiến đấu quét sạch nó đi.’Bây giờ sang làm gì? Bản thân tôi phản đối hành động rước giặc vào nhà.”

‘Biện minh’ của Hà Nội

Chuyến thăm Việt Nam của ông Tập Cận Bình trong cương vị chủ tịch nước và tổng bí thư đảng cộng sản Trung Quốc được phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình xác nhận trong cuộc họp báo vào chiều ngày 8 tháng 10 vừa qua là sẽ diễn ra trong tháng 11 tới. Chuyến công du này là theo lời mời của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và chủ tịch nước Trương Tấn Sang.

Lâu nay nhiều quan chức của Hà Nội cho rằng Việt Nam là nước nhỏ bên cạnh nước lớn Trung Quốc và kinh nghiệm lịch sử cho thấy phải nhân nhượng.

Giáo sư Phạm Minh Hoàng có ý kiến về quan điểm đó như sau:

Đất nước này xưa nay chưa bao giờ như vậy, chỉ dưới thời người cộng sản mới xảy ra tình trạng đất nước, lãnh thổ rơi vào tay giặc mà thôi. Và liên tục như thế và dành cho đời con, đời cháu đòi mà thôi!
-Blogger Nguyễn Hữu Vinh

“Tạm gọi những cuộc binh biến giữa chúng ta với Trung Quốc trong quá khứ từ Hai Bà Trưng, rồi Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung… trước khi ‘thần phục’ bao giờ cũng có một cuộc chiến. Như Trần Hưng Đạo đánh thắng quân Nguyên Mông, Vua Lê Lợi sau khi đánh thắng nhà Minh, cũng như Vua Quang Trung sau khi đánh thắng nhà Thanh cũng cử sứ thần sang để (chúng ta tạm gọi là) ‘thần phục’. Nhưng ‘thần phục’ của các triều đại chúng ta ngày xưa là thần phục trong tư thế mạnh; nghĩa là chúng ta vừa đánh thắng xong, chúng ta lại tiếp tục vấn đề hòa hiếu. Chuyện đó xảy ra cách đây đã bao nhiêu thế kỷ rồi; đó là thời ‘chim trời, cá nước’, các nước ai muốn đánh ai cũng được; nhưng bây giờ khác rồi: từ năm 1945 đã có Liên hiệp quốc rồi. Không phải muốn đánh ai cũng được, thậm chí như Mỹ muốn đánh Iraq cũng phải có quyết định của Hội đồng Bảo an.”

Blogger Nguyễn Hữu Vinh cho rằng cách lập luận của các quan chức trong chính phủ Việt Nam về thái độ nhân nhượng Trung Quốc như lâu nay là sự ngụy biện, ông phát biểu:

“Kể từ thời Trần, những thời trước đây, Việt Nam có thể cống nạp, này khác…; nhưng về mặt lãnh thổ chưa bao giờ nhường một tấc đất nào cho giặc. Đất nước này xưa nay chưa bao giờ như vậy, chỉ dưới thời người cộng sản mới xảy ra tình trạng đất nước, lãnh thổ rơi vào tay giặc mà thôi. Và liên tục như thế và dành cho đời con, đời cháu đòi mà thôi!

Như Cuba ở bên Hoa Kỳ nhưng họ vẫn có sự phản kháng, độc lập, tự chủ; nên không thể nói chuyện nước nhỏ, nước lớn ở đây. Thời đại ngày nay trong quan hệ quốc tế không nói chuyện nước lớn hay nước bé. Tôi cho đó là sự ngụy biện.”

Trước đây nhiều người Việt trong nước từng xuống đường tham gia những cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc. Có những đợt kéo dài được hơn 10 tuần lễ như vào năm 2011; tuy nhiên hầu hết những cuộc biểu tình như thế cuối cùng đều bị chính quyền Hà Nội ngăn chặn.

Hầu hết những người Việt Nam quan tâm đến tình hình đất nước và mối quan hệ với quốc gia láng giềng Phương Bắc trong thời gian gần đây đều tỏ ra quan ngại về những động thái của Trung Quốc tại Biển Đông. Họ mong mỏi chính quyền Hà Nội cần phải khéo léo tận dụng sự ủng hộ của quốc tế để kiềm chế thái độ ngày càng hung hăng, hiếu chiến của Trung Quốc tại Biển Đông. Họ kỳ vọng vào một thay đổi trong đối sách với chính quyền Bắc Kinh mà Hà Nội theo đuổi bấy lâu nay.

CHỌN NGƯỜI TÀI CHO ĐẢNG HAY CHO ĐẤT NƯỚC?

CHỌN NGƯỜI TÀI CHO ĐẢNG HAY CHO ĐẤT NƯỚC?

 Tô Văn Trường

Chủ đề: “chọn người tài lãnh đạo đất nước” đã bàn rất nhiều, tưởng đã xưa, nhưng lại luôn luôn mới. Nó mới vì hoàn cảnh và thời thế luôn biến đổi, chẳng thời nào giống thời nào.

Tiêu đề và nội dung bài viết này đều rất “nan y” vì đầu bài thuộc thể loại “mớ bòng bong” khi vấn đề cần giải quyết không thuộc tầng gốc rễ mà ở tầng hệ quả trong khi gốc rễ lại giữ nguyên hoặc thuộc vùng “miễn bàn”!.

Nếu vẫn cứ dựa vào các cơ chế cũ để chọn hiền tài, e rằng sẽ không bao giờ có được hiền tài theo đúng nghĩa và mong đợi của Dân. Hơn nữa, vấn đề không chỉ là hoặc không phải chủ yếu là “TÌM” người tài (đã thành tài, thành danh – kiểu như trong bóng đá, đội bóng Real Madrid giàu có cứ quẳng tiền ra mua các galaticos về để tạo ra Giải Ngân Hà) mà là tạo ra môi trường để các mầm mống của hiền tài có thể sinh sôi nảy nở, có thể phát triển, được tôn vinh thực sự.

Thân Nhân Trung viết bài văn cho tấm bia đầu tiên ở Văn Miếu, ông ghi nhận về trí thức “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và ngày càng lớn, nguyên khí suy thì nước yếu và ngày càng xuống cấp”. Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi than: “Nhân tài như lá mùa thu/ Tuấn kiệt như sao buổi sớm”. Còn đại thi hào Nguyễn Du lại nói “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét: “trong các ngành hoạt động của chúng ta, nào chính trị, nào kinh tế, nào quân sự, văn hoá, không thiếu những người có năng lực, có sáng kiến. Nhưng vì cách lãnh đạo của ta còn kém, thói quan liêu còn nồng cho nên có những người như thế cũng bị dìm xuống, không được cất nhắc. Muốn tránh khỏi sự hao phí nhân tài, chúng ta cần phải sửa chữa cách lãnh đạo”.

Các vị tiền bối luận về chữ “tài” và “người tài” dưới góc nhìn khác nhau nhưng đều đúng và thật là sâu sắc. Những câu nói, câu văn, vần thơ ấy đã trở thành châm ngôn bất hủ, lưu truyền từ hàng trăm năm và vẫn còn nguyên giá trị cho đến bây giờ, đặc biệt trước thềm Đại hội Đảng khóa 12 của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bởi lẽ, chưa bao giờ đất nước ta lại cần những người tài đến như thế! Chưa bao giờ chữ tài, và chữ đức lại song hành gắn bó với nhau đến thế!. Và có lẽ cũng chưa bao giờ việc tìm người tài nước ta lại khó đến thế! Hãy thử tìm hiểu thực trạng cái khó người tài ở nước ta hiện nay đầy vơi thế nào và làm cách nào để khai thác và bổ sung kho tàng vô giá ấy cho tương lai?

Đôi điều lạm bàn

Nếu chỉ luận bàn về người hiền tài cho xã hội, đất nước theo những quy luật thì không thiếu gì tài liệu, câu chuyện đông tây kim cổ của trong nước và thế giới.  Để luận bàn, theo logic phổ biến thì đầu tiên phải bắt đầu từ đặt vấn đề, rồi giải quyết vấn đề có nhiều cách khác nhau thì cần chọn một cách hoặc tổ hợp một số cách tốt nhất dựa trên phân tích (đơn giản nhất cũng là đồng ý và phản đối, rồi so sánh…), kết luận, thử nghiệm và điều chỉnh, đúc kết lại thành bài bản, rồi  thể chế hóa. Lâu lâu xem lại, điều chỉnh cho phù hợp với biến động của ngoại cảnh.

Câu hỏi cụ thể hơn là tìm  người  hiền tài để làm việc gì, phục vụ cho ai, cho xã hội, nhân dân, đất nước hay cho giới quyền lực? Còn tìm người tài để mà Trung ương hay Thể chế hiện nay cần để tiếp tục phục vụ, củng cố cho các thể chế ấy  thì câu trả lời cứ “mắc ngang trong cổ”!

Câu nói ta hay nghe nhiều là vì điều kiện khó khăn A, B, C của đất nước nên “lực bất tòng tâm”! Nhưng cần trả lời cũng bằng một câu hỏi “TÂM” có thật hay chưa để hút được “LỰC” về tòng cho mình?. Tuy cụ Nguyễn Trãi có nói “Nhân tài như lá mùa thu” nhưng cụ cũng nói “Song hào kiệt đời nào cũng có”. Để thu hút hiền tài ra giúp nước thì việc đầu tiên là các vị  ở các cương vị lãnh đạo, điều hành quốc gia phải soi lại cái Tâm của mình. Cổ nhân có câu “thầy nào, tớ ấy”.  Vậy hiện nay, nếu gắn với sự kiện nhân sự của Đại hội Đảng khóa 12 thì ai đang tầm ai đây?

Còn nếu nhà dột từ nóc rồi thì việc cần sửa trước, chính là cái nóc nhà ấy rồi mới tính đến các việc khác. Còn tệ mua quan bán tước  – một tệ nạn mà cả xã hội đều biết ấy đang hoành hoành như thế mà không có cách gì chữa được thì nói gì đến hiền tài. Cái cần là phải sửa cái nền tảng hệ thống sinh ra cái tệ mua quan bán tước ấy.

“Chọn người tài lãnh đạo đất nước”. Nghe thì đơn giản vì Việt Nam chắc chắn không thiếu hiền tài. Vấn đề lớn nhất ở đây được đặt ra “AI” là người đứng ra “CHỌN” người tài lãnh đạo đất nước. DÂN HAY ĐẢNG ?. Ngẫm suy về câu chuyện “Con gà và quả trứng” lại nhớ câu nói của người xưa: “thức thời mới là tuấn kiệt” nếu hiểu một cách khác và bị lợi dụng thì sẽ xuất hiện không ít những kẻ cơ hội và ngụy quân tử.

Việt Nam hiện tại đang thiếu hẳn một ngọn cờ, một môi trường để lựa chon nhân tài và nuôi dưỡng nhân tài. Nếu có được cái đó chắc chắn hiền tài sẽ xuất hiện. Đã có rất nhiều người Việt khá thành công ở nước ngoài vì họ được nuôi dưỡng và phát triển trong một môi trường thực sự tốt và thuận lợi cho sự phát triển của hiền tài. Cải tổ thể chế và phát huy dân chủ là việc làm đầu tiên của Việt Nam nếu muốn có được hiền tài phục vụ sự phát triển bền vững của quốc gia.

Về nhận thức vai trò lãnh đạo: Trong mọi thời đại người tài được chọn làm lãnh đạo luôn là người có tri thức về một lĩnh vực mà họ am hiểu, nếu không làm lãnh đạo họ vẫn cống hiến cho xã hội bằng trí tuệ của họ và được lịch sử và xã hội ghi nhận. Trong cơ chế xã hội ở những nước coi lãnh đạo như một nghề là một nhận thức sai lầm làm cho xã hội kém phát triển, không ít người mất đi cơ hội cống hiến của họ, để đến khi nhận ra, họ oán trách chế độ (hầu hết những người không đạt được vị trí cao quyền lực).

Ở những nước không chỉ quan niệm mà còn quy định lãnh đạo là một nghề với bao nhiêu quy chế và tiêu chuẩn để vào rồi thì không thể thoát ra được vì không có nghề nào khác, nên để đạt nhu cầu vật chất ngang bằng xã hội buộc họ phải tham nhũng, phải thực thi quyền lực phi pháp.

Ở xã hội phát triển, người làm lãnh đạo chỉ coi đó như một trách nhiệm với xã hội, bộ máy lãnh đạo luôn được quy tụ từ các lĩnh vực khác nhau, họ có tư duy mới, nhận thức đầy đủ hơn (từ những nhận thức và thành tựu mới trong các lĩnh vực của sự phát triển tự nhiên, xã hội) để bổ sung, điều chỉnh kịp thời cương lĩnh phát triển xã hội nên họ không phải bận tâm và đòi hỏi về sự vinh danh nào. Khi hết nhiệm kỳ họ trở về công việc nghề nghiệp của họ rất nhẹ nhàng, họ còn có khả năng đóng góp trí tuệ vào lĩnh vực cần họ để đem lại giá trị vật chất, cuộc sống đầy đủ, không có một sự ngăn cách nào giữa cuộc sống của họ với xã hội và thế giới bên ngoài. Đó mới chính là “Tự do, Hạnh phúc” thực sự.

Ngày nay, lãnh đạo chúng ta (ở mọi cấp) nếu hoàn toàn được nghĩ và tiến tới làm được điều đó sẽ là động lực ban đầu cho sự chuyển biến để bớt đi những hạn chế về tinh thần cho chính người lãnh đạo và giảm gánh nặng xã hội.

Việt Nam giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ: Phép thử của chiến lược tái cân bằng

Việt Nam giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ: Phép thử của chiến lược tái cân bằng

Diplomat

Tác giả: Ngô Di Lân

Người dịch: Trần Văn Minh

Tổng thống Mỹ Barack Obama gặp TBT Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng. White House Photo

Hai chuyến thăm vào tháng tới của lãnh đạo Mỹ và Trung Quốc sẽ thử nghiệm khả năng tái cân bằng của Hà Nội.

Một lần nữa, khả năng tái cân bằng ngoại giao của Việt Nam sẽ được thử nghiệm vào tháng 11 này, khi các nhà lãnh đạo Việt Nam sẽ tiếp đón Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Mỹ Barack Obama trong thời gian chỉ cách nhau vài ngày. Đây sẽ là chuyến đi đầu tiên của ông Obama tới Việt Nam, trong khi chuyến đi của ông Tập cũng sẽ là chuyến thăm của chủ tịch Trung Quốc đầu tiên kể từ năm 2005. Do Việt Nam cam kết duy trì mối quan hệ thân mật với cả hai cường quốc, ngay cả trong bối cảnh ngày càng căng thẳng xung quanh các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, tháng 11 này sẽ chứng tỏ một khoảnh khắc tinh tế và có tính quyết định về khả năng ứng phó với các cường quốc của Việt Nam.

Quan hệ Mỹ-Việt đã trở nên nồng ấm đáng kể trong vài năm qua, với nhiều chuyến thăm của lãnh đạo cao cấp hai nước, đạt tới đỉnh điểm trong chuyến thăm chưa từng có của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Hoa Kỳ vào tháng 7 vừa qua. Kết quả là bản Tuyên bố lịch sử Tầm nhìn chung Mỹ-Việt, trong đó đề ra một khuôn khổ quan trọng để quan hệ Mỹ-Việt có thể tiếp tục phát triển trong dài hạn. Trong bối cảnh này, chuyến đi của ông Obama tới Hà Nội sẽ chỉ củng cố và làm sâu sắc mối quan hệ hơn nữa.

Tuy nhiên, lần này rõ ràng ông Obama không tới Hà Nội để thúc đẩy Hiệp đinh Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) bởi các bên đàm phán đã đạt được thỏa thuận và Quốc hội Việt Nam gần như chắc chắn sẽ phê chuẩn hiệp định TPP. Vào thời điểm khi Trung Quốc đang cấp tốc xây dựng các hòn đảo nhân tạo ở Biển Đông và Hoa Kỳ vừa công bố kế hoạch tuần tra hàng hải trong vùng lãnh hải của các đảo này, dường như chắc chắn rằng Trung Quốc và tranh chấp lãnh thổ Biển Đông sẽ nổi bật trong các cuộc đàm phán tại Hà Nội.

Mặc dù lạc quan, giới thân Mỹ ở Hà Nội có lẽ sẽ phải thất vọng vì khó có khả năng chuyến thăm của ông Obama sẽ dẫn đến bất kỳ thỏa thuận mang tính “bước ngoặt” nào. Lại càng thiếu thực tế hơn để mong đợi một “liên minh” nào đó giữa Hà Nội và Washington được hình thành trong chuyến đi này, ngay cả trong lúc Trung Quốc đang gia tăng nỗ lực mang tính quyết đoán để tạo ra một “sự đã rồi” ở Biển Đông. Sau cùng, không rõ liệu một liên minh công khai như vậy sẽ mang lại lợi ích cho cả Hoa Kỳ và Việt Nam hay không, vì điều này chắc chắn sẽ chọc giận Trung Quốc và do đó làm cho tình hình mất ổn định thêm. Hơn nữa, Mỹ có vẻ miễn cưỡng trong việc chính thức cam kết liên minh với bất kỳ quốc gia nào mà họ cho là “không thể kiểm soát chính trị” được, như mới đây đã bác bỏ đề xuất hiệp ước phòng thủ chung của các quốc gia vùng Vịnh. Việt Nam chắc chắn không thuộc thể loại các nước trong “phạm vi ảnh hưởng” của Mỹ.

Từ quan điểm của Hà Nội, “ngả sang một bên” sẽ có thể loại trừ khả năng linh hoạt ngoại giao. Bên cạnh đó, trong mọi trường hợp, một liên minh có lẽ không phải là một bảo đảm an ninh bọc thép để đối phó với Trung Quốc, như liên minh trước đây của Việt Nam với Liên Xô đã cho thấy. Tuy nhiên, là điều hợp lý để cho rằng chuyến đi của ông Obama sẽ tăng cường quan hệ quốc phòng giữa hai nước một cách đáng kể, thậm chí có thể dẫn đến việc gỡ bỏ thêm nữa lệnh cấm bán vũ khí sát thương (đã được nới lỏng) cho Việt Nam. Hơn nữa, ông Obama có thể dùng dịp này để thu hút sự ủng hộ ngoại giao cho kế hoạch tuần tra quyết đoán hơn trong khi lôi kéo Việt Nam xa khỏi quỹ đạo của Trung Quốc. Nếu có ít nhất một số trong những muc tiêu này trở thành hiện thực, chuyến đi của ông ít nhất cũng làm gia tăng vị thế của Mỹ ở châu Á, trong khi giúp cho Hà Nội có một thế đứng mạnh mẽ hơn để thương lượng tay đôi với Bắc Kinh.

Không giống như chuyến đi được dự liệu ​​của ông Obama tới Việt Nam, chuyến đi của ông Tập xảy ra vào thời điểm xáo trộn trong quan hệ Việt-Trung. Quan hệ đã trở nên xấu đi phần nào trong những năm gần đây khi Trung Quốc trở nên hung hăng hơn trong việc khẳng định quyền kiểm soát các hòn đảo ở Biển Đông. Trong vài năm qua, ông Tập có lẽ đã thay đổi hiện trạng ở Biển Đông nhiều hơn những người tiền nhiệm của ông trong hai thập niên qua. Nổi bật nhất, vào tháng 5 năm 2014, Trung Quốc đã triển khai giàn khoan dầu Hải Dương-981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam (EEZ) trước sự sự phản đối mãnh liệt của cả chính quyền và người dân Việt Nam.

Trong khi Trung Quốc đơn phương rút giàn khoan dầu sau hai tháng, cuộc khủng hoảng ngoại giao đã làm suy yếu lòng tin chiến lược giữa hai chính quyền và gây ra một cuộc tranh luận nội bộ nghiêm trọng trong giới thượng lưu ở Hà Nội. Kể từ đó, Trung Quốc chỉ gia tăng nỗ lực xây dựng đảo, với đường băng được phát hiện trên một số đảo mà cuối cùng có thể được sử dụng để tuyên bố và / hoặc áp đặt một vùng Nhận dạng Phòng không (ADIZ) trên toàn bộ Biển Đông trong một tương lai gần. Những hành động này đã cho Việt Nam thấy rằng Trung Quốc không thành thật tuân thủ các thỏa thuận mà họ đã ký kết như Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).

Với tất cả sự việc này, có vẻ như ông Tập sẽ tới Hà Nội với một sứ mệnh gần như bất khả thi: bằng cách nào đó đưa người láng giềng nhỏ hơn trở về vị trí cũ và “xóa đi làm lại” mối quan hệ với Việt Nam. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc biết rất rõ rằng Việt Nam sẽ không chỉ đơn giản biến thành Nhật Bản hay Philippines một sớm một chiều. Nhưng về lâu dài, với những gì đang diễn ra ở Biển Đông, không ai có thể dự đoán Việt Nam sẽ gần gũi như thế nào với cánh đi với Mỹ. Và rất khó cho bất kỳ chủ tịch Trung Quốc nào tại thời điểm này có thể thuyết phục Hà Nội một cách nghiêm túc rằng Trung Quốc chỉ đơn thuần bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình ở Biển Đông và rằng Hà Nội nên đồng hành với Bắc Kinh. Do đó không ai mong đợi bất kỳ sự “quay đầu” nào trong chính sách của Việt Nam đối với Trung Quốc sau chuyến đi của ông Tập.

Tuy nhiên, trong ngắn hạn, chuyến đi của ông Tập vẫn có thể sửa chữa mối quan hệ Việt-Trung trong giới hạn nào đó và có thể điều hướng sự chú ý của Việt Nam ra khỏi các tranh chấp lãnh thổ hiện nay để tập trung vào các cơ hội hợp tác giữa hai nước. Trong chiều hướng đó, sẽ không là điều bất ngờ nếu Bắc Kinh cung cấp một số giao dịch kinh tế và khoản vay ưu đãi cho Hà Nội trong chuyến đi của ông Tập. Sau cùng, phần thưởng kinh tế như thế luôn được hoan nghênh và sẽ thúc giục Việt Nam ít ra cũng đừng tiến gần hơn về phía Mỹ trong ngắn hạn và tiếp tục chiến lược “đu dây” hiện nay.

Cho đến nay, Việt Nam vẫn cam kết “đu dây” ngoại giao giữa hai siêu cường, khéo léo cân bằng bên này với bên kia để gặt hái lợi ích, trong khi tránh bị mắc kẹt vào ngõ cụt ngoại giao. Nếu mọi việc suôn sẻ tháng 11 này, chính sách “đu dây” sẽ rất có thể được củng cố như chiến lược tổng thể được ưa chuộng của Việt Nam trong tương lai gần, và sẽ dẫn tới các chọn lựa chính sách sáng tạo hơn. Trong dài hạn, chiến lược này có thể đặt nền móng cho một trật tự khu vực xung quanh các cuộc thương lượng giữa các tổ chức đa phương và các nước lớn, và điều này có thể đưa tới một tương lai đầy hứa hẹn cho các nước cỡ trung bình và nhỏ trong khu vực.

Ngô Di Lân là ứng viên tiến sĩ Chính trị tại Đại học Brandeis, nơi ông tập trung vào chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và quan hệ Mỹ-Trung. Ông cũng là một nhà nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (SCIS) của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh.

Đừng quá lo sợ, quân đội Trung Quốc chỉ là con cọp giấy!

Đừng quá lo sợ, quân đội Trung Quốc chỉ là con cọp giấy!

The National Interest

Tác giả: Paul Dibb

Người dịch: Huỳnh Phan

H1Trung Quốc lớn nhưng yếu, bị cai trị bởi một đảng thiếu vững mạnh, không thể chịu đựng nổi bất kỳ thảm họa nào về kinh tế hay ngoại giao, chưa nói tới chiến tranh với Mỹ.

Hiện đang trở nên phổ biến việc làm ầm ĩ mối đe dọa quân sự từ Trung Quốc và hạ thấp khả năng quân sự của Mỹ. Phần lớn bình luận này nhắc tôi nhớ tới các báo cáo vào giữa thập niên 1980, rằng Liên Xô cũ đã đang trên đà qua mặt Mỹ về sức mạnh quân sự. Điều này không có ý cho rằng Trung Quốc đang trong giai đoạn cuối cùng của sự tan rã như Liên Xô, nhưng muốn khẳng định rằng Quân đội Trung Quốc (PLA) để lộ ra toàn bộ tính dễ vở và tính chuyên nghiệp quân sự mỏng như giấy của một quân đội vốn chưa hề tiến hành một cuộc chiến tranh hiện đại và có thiết bị quân sự được ca tụng, chưa hể kiểm nghiệm trong chiến đấu.

Với nền kinh tế đang chậm lại, và với những căng thẳng kinh tế và xã hội có tính cấu trúc càng trở nên xấu đi, thay vì tốt hơn, Trung Quốc lớn nhưng yếu, cai trị bởi một đảng thiếu vững mạnh, không thể kham nổi bất kỳ thảm họa nào về kinh tế hay ngoại giao, chưa kể tới chiến tranh với Mỹ. Trung Quốc với nền kinh tế của các chuỗi cung ứng toàn cầu và thương mại tự do quốc tế là phụ thuộc lẫn nhau trên cơ bản. Chiến tranh đối với Trung Quốc sẽ là một thảm họa kinh tế và xã hội.

Hơn nữa, Bắc Kinh có rất ít bạn bè hùng mạnh hay có ảnh hưởng trong khu vực và phải chịu sự cô lập chiến lược vốn đang ngày càng trở nên tồi tệ hơn khi họ càng tung sức mạnh ra xung quanh.

Bắc Kinh chẳng có chút kinh nghiệm gì về chiến tranh hiện đại. Kinh nghiệm cuối cùng về xung đột vũ trang là vào năm 1979, khi họ thất bại thảm hại trong việc dạy cho Việt Nam cái gọi là một ‘bài học’. Ẩu đả biên giới với Ấn Độ và Liên Xô trong thập niên 1960 và việc đưa đội quân nông dân tham gia vào cuộc chiến Triều Tiên trong thập niên 1950, khó có thể xếp vào loại chiến tranh hiện đại.

Sức mạnh của Quân đội Trung Quốc (PLA) chủ yếu giữ cho Đảng Cộng sản tiếp tục cầm quyền, đó là điều mà họ tuyên thệ trung thành, chứ không phải để bảo vệ đất nước Trung Quốc. Sĩ quan PLA vẫn còn lãng phí quá nhiều thời gian vào việc học tập giáo điều cộng sản không thích đáng, hơn là dành ưu tiên cho luyện tập quân sự. Rồi còn có vấn đề tham nhũng ở cấp cao nhất của PLA và việc mua quan bán chức nữa.

Đúng là trong nhiều thập kỷ qua, PLA đã thực hiện một số bước tiến ấn tượng về mặt công nghệ. Nhưng mặc dù Chủ tịch Tập Cận Bình tuyên bố rằng Trung Quốc phải trở thành một cường quốc biển hùng mạnh, vị thế địa lý đã chống lại điều đó. Lần cuối cùng một cường quốc lục địa lớn thật sự biến nó thành một cường quốc hải quân vào lúc nào? Chắc chắn không phải Liên Xô, Pháp hoặc Đức.

Các nhà bình luận ở Úc liên tục lặp đi lặp lại các khẳng định về khả năng A2AD (chống truy cập và từ chối khu vực) của Trung Quốc. Và rõ ràng là hoạt động ở vùng gần với Trung Quốc đang trở nên nguy hiểm hơn, đặc biệt trong điều kiện với kiểu khối lượng quân sự mà Trung Quốc có thể tích lũy gần nhà. Nhưng chúng ta có thực sự nghĩ rằng người Mỹ ngồi yên, không làm gì cả về mặt công nghệ trong các lĩnh vực như xe siêu thanh, railgun (súng điện tử), tàng hình, máy bay không người lái và tấn công mạng không?

Trong các lĩnh vực chính của công nghệ quân sự, Trung Quốc vẫn đi sau Mỹ cả 20 năm. Khả năng chiến tranh chống tàu ngầm của họ chưa đáng kể và nhiều tàu ngầm của họ còn rất ồn. Trung Quốc thiếu công nghệ lực đẩy và hãm thanh cần thiết để đóng bất cứ thứ gì có thể sánh gần với tàu ngầm hạt nhân của Mỹ hay của Nga. Theo các nguồn tin của Mỹ, ngay cả tàu ngầm hạt nhân tên lửa đạn đạo mới nhất, lớp Kim (Jin-class) của Trung Quốc cũng ồn hơn tàu ngầm hạt nhân tên lửa đạn đạo Delta III của Liên Xô thập niên 1970. Và tàu ngầm hạt nhân loại 95 sắp ra, sẽ còn ồn hơn tàu Akula vỏ titan của Liên Xô vào cuối thập niên 1980.

Khả năng phòng không của Trung Quốc có những khiếm khuyết so với bất kỳ kẻ thù nào có công nghệ tiên tiến. Hơn nữa, Trung Quốc vẫn lệ thuộc rất lớn vào Nga cho việc học lóm kỹ thuật quân sự và nguồn cung cấp các động cơ phản lực quân sự hiệu suất cao mà họ chưa làm chủ được 30 năm qua.

Bắc Kinh đã có những bước tiến quan trọng với công nghệ tên lửa đạn đạo, nhưng tên lửa DF-21 chưa từng phá hủy một mục tiêu di động trên biển ở tốc độ chiến đấu. Hơn nữa, nó dựa chủ yếu vào các vệ tinh tình báo và radar tầm xa-ngoài chân trời trong việc xác định mục tiêu. Những thứ đó là những mục tiêu mềm và dễ bị tổn thất trong các cuộc tấn công quân sự phủ đầu của Mỹ.

Theo Lầu Năm Góc, trong mọi trường hợp chưa rõ liệu Trung Quốc có khả năng thu thập thông tin chính xác mục tiêu và chuyển nó tới các bệ phóng kịp thời cho các cuộc tấn công các mục tiêu ở xa trên biển hay không.

Còn về khả năng ICBM (tên lửa đạn đạo liên lục địa) của Trung Quốc, chẳng hạn như DF-5B với nhiều đầu đạn có mục tiêu riêng (MIRV), điều này khó là một bước đột phá công nghệ hạt nhân. Năm 1974, với tư cách Trưởng Ban đánh giá quốc gia (National Assessment Staff), tôi đã được CIA báo cáo vắn tắt về MIRV trên ICBM SS-18 của Liên Xô. Đó là tiến bộ công nghệ đáng chú ý cách đây 40 năm.

Một số sĩ quan quân đội và các học giả Trung Quốc đang bắt đầu khoe khoang về khả năng chiến tranh hạt nhân của Trung Quốc. Dù có thể có khả năng đánh trả trong chiến tranh hạt nhân ở một mức độ nào đó, Trung Quốc là một trong những cường quốc lớn dễ bị xâm phạm nhất đối với chiến tranh hạt nhân tổng lực do mật độ và phân bố dân số dọc theo bờ biển phía Đông. Có dân số đông 1,4 tỷ người không có nghĩa là Trung Quốc sẽ sống sót sau một cuộc tấn công hạt nhân. Theo quan điểm của tôi, Mỹ cần giữ một sức mạnh tấn công hạt nhân lớn gồm vài ngàn đầu đạn hạt nhân chiến lược cả hoạt động lẫn dự trữ tích cực.

Tất cả điều này là để lập luận rằng chúng ta cần phải đặt khả năng quân sự đang trỗi dậy của Trung Quốc trong một phân tích so sánh có xét đoán nào đó, với khả năng của Mỹ và trong bối cảnh lịch sử. Chúng ta cần nhớ rằng, Hoa Kỳ là đất nước sáng tạo nhất trên thế giới và không đứng yên khi đối mặt với những tiến bộ quân sự của Trung Quốc mà phần lớn còn có những khiếm khuyết trầm trọng.

Bài này được đăng tải lần đầu trên The Strategist của ASPI tại đây

Con trai Nguyễn Tấn Dũng làm bí thư tỉnh ủy Kiên Giang

Con trai Nguyễn Tấn Dũng làm bí thư tỉnh ủy Kiên Giang
Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Con trai lớn của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa được bầu làm bí thư tỉnh ủy tỉnh Kiên Giang, trong khi người con trai thứ nhì được bầu làm tỉnh ủy viên tỉnh Bình Ðịnh.

Ngoài ra, còn có một số người khác là con của các cán bộ cao cấp đảng CSVN cũng được bầu vào một số vị trí quan trọng.


Ông Nguyễn Thanh Nghị vừa được bầu làm bí thư tỉnh ủy Kiên Giang. (Hình: nguyenthanhnghi.net)

Theo truyền thông Việt Nam, tại Hội Nghị Ban Chấp Hành Ðảng Bộ Tỉnh Kiên Giang khóa 10 lần thứ nhất diễn ra ngày 16 Tháng Mười, ông Nguyễn Thanh Nghị, 39 tuổi, được bầu làm làm bí thư tỉnh ủy nhiệm kỳ 2015-2020.”

Như vậy, con trai ông Nguyễn Tấn Dũng hiện là người trẻ tuổi nhất làm bí thư tỉnh ủy một tỉnh ở Việt Nam.

Cũng vào ngày này, một người con trai khác của ông Dũng là ông Nguyễn Minh Triết, 27 tuổi, “là người trẻ tuổi nhất được bầu vào Ban Chấp Hành Ðảng Bộ Tỉnh Bình Ðịnh nhiệm kỳ 2015-2020 trong số 55 người trúng cử cho nhiệm kỳ mới.”

Trong khi đó, đại hội đảng bộ CSVN thành phố Ðà Nẵng “vừa bầu ông Nguyễn Xuân Anh, phó bí thư thường trực thành ủy, giữ chức bí thư thành ủy, thay ông Trần Thọ.”

Như vậy, ông Nguyễn Xuân Anh, cũng 39 tuổi, hiện là bí thư thành ủy trẻ nhất nước.

Ông là con trai lớn của ông Nguyễn Văn Chi, cựu ủy viên Bộ Chính Trị.

Cũng tại Ðà Nẵng, ông Nguyễn Bá Cảnh, 32 tuổi, con trai Nguyễn Bá Thanh, cựu bí thư thành ủy, đã chết vì ung thư hồi Tháng Hai, được bầu vào Ban Chấp Hành Ðảng Bộ thành phố Ðà Nẵng, trong số 52 người trúng cử nhiệm kỳ 2015-2020.

Ở cương vị bí thư thành ủy và tỉnh ủy, hai ông Nguyễn Xuân Anh và Nguyễn Thanh Nghị gần như chắc chắn sẽ được vào Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng CSVN, qua đại hội toàn quốc sắp diễn ra vào đầu năm tới.

Ông Nguyễn Thanh Nghị hiện là ủy viên dự khuyết Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng CSVN.

Trước đó, ông là thứ trưởng Bộ Xây Dựng trước khi làm phó bí thư tỉnh ủy Kiên Giang.

Ông có bằng tiến sĩ khoa học kỹ thuật xây dựng của Ðại Học George Washington ở Mỹ, và bằng cao cấp lý luận chính trị.

Khác với người em gái và chị gái đi theo đường kinh doanh, hai ông Nguyễn Thanh Nghị và Nguyễn Minh Triết tiến thân theo đường chính trị nối nghiệp cha.

Việc “cơ cấu” thân nhân bà con hoặc mua chức tước, mà Việt Nam gọi là “chạy chức,” thỉnh thoảng được thấy hé lộ trên báo chí ở trong nước. Người ta chỉ biết đến chuyện có những thứ như thế vậy khi bị truyền thông lôi ra “rọi đèn.”

Hồi tháng trước, dư luận rộ lên với tin, tại huyện Mỹ Đức, huyện ngoại thành của Hà Nội, có chuyện  “10 trong 13 phòng ban có trưởng, phó phòng là anh em, họ hàng với Bí Thư Huyện Ủy Lê Văn Sang.” Khi bị nói một người làm huyện ủy thì cả họ được nhờ và ông Sang nói rằng tất cả mọi vụ bổ nhiệm đều “đúng quy trình,” “đúng pháp luật.”

Cuối năm 2012, dư luận trong nước nóng lên khi một số báo loan tin “chạy công chức ở thành phố Hà Nội” tốn khoảng 100 triệu đồng, theo lời tố cáo của ông Trần Trọng Dực, chủ nhiệm Ủy Ban Kiểm Tra Thành Ủy, tại phiên thảo luận của HĐND thành phố sáng 7 Tháng Mười Hai, về “tổng biên chế hành chính, sự nghiệp năm 2013.”

Sau các cuộc thanh tra, kiểm tra thì người ta không thấy gì cả rồi mọi chuyện chìm vào quên lãng. (TN)

GIẢI THÍCH -TẢN MẠN BA TÀU

GIẢI THÍCH -TẢN MẠN BA TÀU

Người Tàu, Ba Tàu, Các Chú, Khách Trú và Chệt hoặc Chệc. Gia Định Báo (số 5, năm thứ 6, phát hành ngày 16/2/1870) giải thích:
“…An-nam ta kêu là Tàu, người bên Tàu, là vì khách thường đi tàu qua đây, lại dùng tàu chở đồ hàng hóa qua đây buôn bán; nên kêu là Tàu, hàng Tàu, đồ Tàu v.v… Từ Ba-Tàu có cách giải thích như sau: Ba có nghĩa là ba vùng đất mà chúa Nguyễn cho phép người Hoa làm ăn và sinh sống: vùng Cù Lao Phố (Đồng Nai), Sài Gòn-Chợ Lớn, Hà Tiên, từ Tàu bắt nguồn từ phương tiện đi lại của người Hoa khi sang An Nam, nhưng dần từ Ba Tàu lại mang nghĩa miệt thị, gây ảnh hưởng xấu…”.
“…Kêu Các-chú là bởi người Minh-Hương mà ra; mẹ An-Nam cha Khách nên nhìn người Tàu là anh em, bằng không thì cũng là người đồng châu với cha mình, nên mới kêu là Các-chú nghĩa là anh em với cha mình. Sau lần lần người ta bắt chước mà kêu bậy theo làm vậy…”.
“…Còn kêu là Chệc là tại tiếng Triều Châu kêu tâng Chệc nghĩa là chú. Người bên Tàu hay giữ phép, cũng như An-Nam ta, thấy người ta tuổi đáng cậu, cô, chú, bác thì kêu tâng là chú là cậu vân vân. Người An-Nam ta nghe vậy vịn theo mà kêu các ảnh là Chệc …”
Cách giải thích thuật ngữ nói trên của Gia Định Báo từ thế kỷ thứ 19 được coi là tạm ổn vì đây là một trong những tài liệu xưa có xuất xứ từ miền Nam. Theo Lê Ngọc Trụ trong Tầm nguyên Tự điển Việt Nam, chệc hay chệt là tiếng Tiều gọi chữ thúc, nghĩa là “em trai của cha”. Người bình dân gọi Chệc để chỉ chung người Hoa. Người Quảng Đông cho là gọi như thế có ý miệt thị, người Triều Châu trái lại, chấp nhận vì họ được tôn là chú. Ở miền Nam, “các chú” Quảng làm ăn buôn bán khá hơn “các chú chệc” người Tiều lam lũ trong nghề làm rẫy, tằn tiện nên không biết có phải vì vậy mới có câu:
Quảng Đông ăn cá bỏ đầu
Tiều Châu lượm lấy đem về kho tiêu!
Người Tiều lại chê dân Quảng không biết ăn cá. Họ nói món cháo cá Tiều khi ăn có vị ngọt đặc biệt nhờ chỉ rửa sạch bên ngoài, giữ lại nguyên si vảy, đầu và cả ruột! Dân Tiều ở miền Nam “chuyên trị” những món cá chim hấp, bò viên, tôm viên, ruột heo nấu cải chua… và nhất là món hủ tíu Tiều Châu. Người ta còn dùng các từ như Khựa, Xẩm, Chú Ba… để chỉ người Tàu, cũng với hàm ý miệt thị, coi thường. Tuy nhiên, có sự phân biệt rõ ràng trong cách gọi: phụ nữ Tàu được gọi là thím xẩm còn nam giới thì lại là chú ba.
Năm 1956, chính phủ Ngô Đình Diệm của nền Đệ nhất Cộng hòa (1955-1963) đã có một quyết định khá táo bạo, buộc tất cả Hoa kiều phải nhập quốc tịch Việt Nam, nếu không sẽ bị trục xuất. Thương nghiệp tại miền Nam sau thời Pháp thuộc phần lớn nằm trong quyền kiểm soát của Hoa kiều. Vì vậy, chính phủ cố tạo sức mạnh cho doanh nhân Việt bằng cách hạn chế quyền lợi của người Hoa. Đạo luật 53 cấm ngoại kiều (nhắm vào Hoa kiều) tham gia 11 nghề liên quan đến thóc gạo, điền địa, buôn bán thịt cá, than đá, dầu lửa, thu mua sắt vụn… được Chính phủ Ngô Đình Diệm ban hành vào tháng 9/1956. Đạo luật này đã làm xáo trộn kinh tế trong nước nhưng đã có tác động mạnh đến nền công thương nghiệp của người Việt vào thời kỳ đó. Đa số người Hoa đã nhập tịch Việt, tính đến năm 1961, trong số 1 triệu Hoa kiều ở miền Nam chỉ còn khoảng 2.000 người giữ lại Hoa tịch.
Người Tàu kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc 3 lĩnh vực quan trọng: sản xuất, phân phối và tín dụng. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện… và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ, và 90% xuất nhập khẩu. Hoa kiều ở miền Nam gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường. Cũng vì thế, ở Sài Gòn có câu mỉa mai: “Sống phá rối thị trường, chết chật đường chật xá” để ám chỉ người Tàu khi còn sống lũng đoạn nền kinh tế và đến lúc chết lại tổ chức những đám ma một cách rình rang. Cũng như người Tàu ở Hồng Kông và Macao, người Tàu ở miền Nam đa số nói tiếng Quảng Đông (Cantonese) chứ không nói tiếng Quan Thoại(Mandarin) mà ngày nay gọi là tiếng Phổ Thông. Cũng vì thế, ngôn ngữ Sài Gòn xưa vay mượn từ tiếng Quảng Đông được khoảng 71 triệu người Hoa trên khắp thế giới xử dụng.
Người Sài Gòn thường ví những người “ăn nói không đâu vào đâu” là “nói hoảng, nói tiều” thực ra là “nói tiếng Quảng Đông, nói tiếng Triều Châu”. Điều này cho thấy tiếng Quảng Đông xuất hiện rất nhiều trong ngôn ngữ miền Nam trước năm 1975, kế đến mới là tiếng Triều Châu. Trên thực tế, người Tàu có đến 5 nhóm Hoa kiều, được gọi là Ngũ Bang tại miền Nam: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Khách Gia (người Hẹ). Trong lĩnh vực ăn uống của Sài Gòn xưa, ảnh hưởng của người Tàu gốc Quảng Đông rất đậm nét. Người ta thường nói về 4 cái thú: “Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật Bản, đi xe Huê Kỳ”. Bên Tàu lại ví von: “Thực tại Quảng Châu, Y tại Hàng Châu, Thú tại Tô Châu, Tử tại Liễu Châu” (Cơm ngon ăn tại Quảng Châu, Áo đẹp may vải Hàng Châu, Vợ xinh cưới ở Tô Châu, Hòm chết chôn không bao giờ mục ở Liễu Châu ). Quảng Châu chính là thủ phủ của tỉnh Quảng Đông.
Kết hợp ý nghĩa của hai câu nói Việt-Trung ở trên ta có thể kết luận: ăn uống theo người Tàu gốc Quảng Đông là hết xảy hay số dzách (số một), những từ ngữ đã quá phổ biến trong xã hội miền Nam. Về sau, vào thời chiến tranh Việt Nam, “số dzách” được cải biên theo kiểu Mỹ thành “nâm-bờ oăn” (number one)! Hành trình của ngôn ngữ xem ra rất thú vị. Nói cho công bằng, bên cạnh số đông các tửu lầu, cao lâu của người Tàu gốc Quảng Đông, ở Sài Gòn Chợ lớn cũng có lai rai một số tiệm Tàu khác như tiệm Hủ tíu Triều Châu ở đối diện Chợ Lớn Mới, Cơm Gà Hải Nam ở Chợ An Đông hay đường Tôn Thọ Tường.
Theo Bình-nguyên Lộc (1), thời tiền chiến trước 1945, các phổ ky trong tiệm Tàu còn có kiểu kêu vào bếp những món ăn thực khách gọi y như người ta gọi “lô-tô” (bingo), dĩ nhiên bằng tiếng Quảng Đông:
– Bàn số 3, bên Đông, bà lùn, cà phê ít sữa nhiều!
– Bàn số 4, bên Đông, hủ tíu không giá.
– Bàn số 1, bên Tây, thêm bánh bao ngọt thằng nhỏ.
– Bàn số 2, bên Tây, ông già râu, cà phê đen ly lớn, xíu mại to.
Chủ tiệm thường biết rõ tính nết và sở thích ăn uống của mỗi khách quen, nên họ thường đặt cho mỗi người một cái tên thuộc loại… “hỗn danh”. Khi khách ăn xong lại quầy trả tiền thì phổ ky rao những câu hóm hỉnh bằng tiếng Quảng Đông, chẳng hạn như:
– Ông đầu hói mang khăn rằn, một đồng hai cắc
– Bà hai mập, ba đồng sáu cắc
– Ông chủ ốm nón nỉ, tám đồng tư, hai bánh bao mang về
Nổi tiếng tại Sài Gòn xưa có các nhà hàng Đồng Khánh, Arc-en-ciel (sau này đổi tên là Thiên Hồng), Soái Kình Lâm, Bát Đạt, Á Đông, Đại La Thiên, Triều Châu… Tại đây còn phục vụ loại “ăn chơi” theo cung cách nhất dạ đế vương. Quả thật người viết bài này chưa bao giờ được “làm vua một đêm” nên đoán trong những bữa tiệc như thế phải có mỹ nữ hầu tửu, thực đơn chắc chắn phải có nhiều món huyền thoại danh bất hư truyền về cái chất bổ dương khích dục đi đôi với các thứ rượu quí như whisky, cognac và Mao Đài tửu (Mao Đài hoàn toàn không có liên quan gì đến Mao Xếnh Xáng dù ông có dùng rượu này để tiếp đãi các nguyên thủ quốc gia).
Cơm Tàu thường được để trong những cái thố nhỏ nên được gọi là cơm thố, chỉ là cơm trắng dùng chung với các món ăn nhưng không nấu bằng nồi mà chỉ hấp cách thủy để cho chín gạo. Thông thường một người ăn chừng một hoặc hai thố là no. Có người lại ca tụng ăn cơm thố chỉ cần chan chút hắc xì dầu (nước tương đen) pha với dấm Tiều thêm chút ớt là đã thấy ngon rồi. Nghĩ lại cũng đúng nhưng nếu ăn kiểu này thì những tiệm nổi tiếng như Siu Siu bên hông chợ An Đông hay Siu Siu ở đầu hẻm Nguyễn Duy Dương (hình như ở số nhà 61) chắc đã dẹp tiệm từ lâu rồi! Hình dưới đây là những thố cơm chụp tại Quán Chuyên Ký trong khu Chợ Cũ đường Tôn Thất Đạm. (Những thố cơm ngày xưa nhỏ hơn nhiều, ngày nay tiệm dùng những cái thố quá lớn, không lẽ bao tử của thực khách ngày nay lớn hơn ngày xưa?). Cơm chiên Dương Châu cũng là món ăn du nhập từ Quảng Đông. Nhiều người rất khoái cơm chiên nhưng ít người biết từ khởi thủy đây chỉ là món tổng hợp các thức ăn dư thừa được chế biến lại. Này nhé, cơm vốn là “cơm nguội” nấu dư từ hôm trước, các phụ gia khác như jambon, trứng tráng, đậu Hòa lan, hành lá…còn dư được xắt lát rồi trộn với cơm mà chiên lên!
Cũng thuộc loại thức ăn dư thừa có món tài páo (bánh bao). Bạn không tin ư? Nhân bánh bao là thịt vụn được xào lên, trộn với lạp xưởng và trứng (sau này được thay bằng trứng cút kể từ khi dịch cút lan truyền khắp Sài Gòn, nhà nhà nuôi cút, người người ăn trứng cút). Vỏ bánh bao được làm bằng bột mì, sau khi hấp chín bột nở phình ra trông thật hấp dẫn. Có người bảo cơm chiên Dương Châu và bánh bao thể hiện tính tằn tiện và tiết kiệm của người Tàu, không bỏ phí thức ăn thừa! Nói cho vui vậy thôi chứ từ cơm chiên, bánh bao đến các loại sơn hào hải vị như bào ngư, vi cá, yến sào… đều đòi hỏi cách chế biến, đó là nghệ thuật nấu ăn. Các tiệm “cà phê hủ tiếu” của Tàu lan rộng ra nhiều nơi chứ không riêng gì trong Chợ Lớn. Khắp Sài Gòn, Gia Định rồi xuống đến Lục Tỉnh đi đâu cũng thấy những xe mì, xe hủ tiếu, chỉ nhìn cách trang trí cũng có thể biết được chủ nhân là người Tàu. Họ có kiểu cách riêng biệt với những chiếc xe bằng gỗ, thiết kế một cách cầu kỳ. Phần trên xe là những tấm kính tráng thủy có vẽ hình các nhân vật như Quan Công, Lưu Bị, Trương Phi, Triệu Tử Long… trong truyện Tam Quốc.

Ăn điểm tâm thì có mì, hủ tíu, bánh bao, há cảo, xíu mại…Khách thường gọi một ly xây chừng, đó là một ly cà phê đen nhỏ hay tài phế (cà phê đen lớn). Cà phê ngày xưa còn có tên “cá phé vớ (dzớ)”, pha bằng chiếc vợt vải nên còn được gọi là “cà phê vợt” tựa như chiếc vớ (bít tất). Cà phê đựng trong “dzớ” phải được đun nóng trong siêu nên còn có tên là “cà phê kho”, có điều “kho” nước đầu thì có mùi cà phê nhưng những nước sau có vị như… thuốc bắc. Sang hơn thì gọi phé nại (cà phê sữa) hoặc bạt sửu (nhiều sữa nhưng ít cà phê) với sữa đặc có đường hiệu Ông Thọ (2) hoặc Con Chim (3). Có người lại dùng bánh tiêu hoặc dầu-cha-quẩy (người miền Bắc gọi là quẩy) nhúng vào cà phê để ăn thay cho các món điểm tâm đắt tiền.
Người bình dân còn có lối uống cà phê trên đĩa. Mỗi tách cà phê thường được để trên một chiếc đĩa nhỏ, khách “sành điệu” đổ cà phê ra đĩa, đốt điếu thuốc Melia chờ cà phê nguội rồi cầm đĩa lên… húp. Nhà văn Bình-nguyên Lộc trong Hồn Ma Cũ mô tả cách uống cà phê của người xưa: “…Người cha đứa bé rót cà phê ra dĩa cho mau nguội, rồi nâng dĩa lên mà uống”. Đây là cách uống của một số người Sài Gòn vào những thập niên 50-60, đa số họ là những người lớn tuổi, “hoài cổ” nên vẫn duy trì cách uống đặc trưng của Sài Gòn xưa. Vào một quán nước bình dân trong Chợ Lớn ta có thể gọi một ly suỵt xủi và người phục vụ đem ra một ly đá chanh mát lạnh. Có người gọi nước đá chanh là “bất hiếu tử” vì dám cả gan “đánh cha” nhưng nói lái lại là… đá chanh! Tại các tiệm “cà phê hủ tiếu” luôn luôn có bình trà để khách có thể nhâm nhi nhậm xà (uống trà) trước khi gọi phổ ky đến để thảy xu (tính tiền). (Nhậm xà còn có nghĩa là tiền hối lộ, tiền trà nước). Người sành điệu còn “xổ” một tràng “broken Cantonese”: “Hầm bà làng kỵ tố?” (Hết thảy bao nhiêu tiền?).
Những từ ngữ vay mượn của người Tàu dùng lâu hóa quen nên có nhiều người không ngờ mình đã xử dụng ngôn ngữ ngoại lai. Chẳng hạn như ta thường lì xì cho con cháu vào dịp Tết hoặc lì xì cho thầy chú (cảnh sát) để tránh phiền nhiễu, cũng là một hình thức hối lộ. Lạp xưởng là một món ăn có nguồn gốc từ bên Tàu, tiếng Quảng Châu là lạp trường: ngày lễ Tất niên và ruột heo khô. Cũng vì thế vào dịp giáp Tết các cửa hàng nổi tiếng như Đồng Khánh, Đông Hưng Viên trưng bày la liệt các loại lạp xưởng, nào là lạp xưởng mai quế lộ, lạp xưởng khô, lạp xưởng tươi…
Chế biến lạp xưởng là nghề của các Chú Ba trong Chợ Lớn. Lạp xưởng được làm từ thịt heo nạc và mỡ, xay nhuyễn, trộn với rượu, đường rồi nhồi vào ruột heo khô để chín bằng cách lên men tự nhiên. Lạp xưởng màu hồng hoặc nâu sậm vì chắc hẳn có thêm chút bột màu. Lạp xưởng ở Sóc Trăng thuộc miền Lục tỉnh cũng rất nổi tiếng cùng với món bánh pía, một món đặc biệt của người Tiều gốc từ Triều Châu. Đôi khi bánh pía còn được gọi là bánh lột da, thực chất có nguồn gốc từ bánh trung thu theo kiểu Tô Châu nhưng khác với loại bánh trung thu mà ta thường thấy. Đây là loại bánh có nhiều lớp mỏng và nhân bánh có trộn thịt mỡ.
Bánh pía do một số người Minh Hương di cư sang Việt Nam từ thế kỷ 17 mang theo. Trước đây, việc làm bánh pía hoàn toàn mang tính thủ công và phục vụ cho nhu cầu của từng gia đình. Bánh pía ngày trước cũng khá đơn giản, vỏ ngoài làm bằng bột mì có nhiều lớp da mỏng bao lấy phần nhân, lớp da ngoài dày thường để in chữ, nhân làm bằng đậu xanh và mỡ heo chứ không có lòng đỏ trứng muối và các loại thành phần khác như ngày nay. Do thị hiếu của người tiêu dùng mà các lò bánh mới thêm các thành phần hương liệu khác như sầu riêng, khoai môn, lòng đỏ trứng muối… Tại Sóc Trăng hiện có gần 50 lò chuyên sản xuất bánh pía. Tuy nhiên, số lò bánh và cửa hàng buôn bán tập trung đông nhất tại thị tứ Vũng Thơm (xã Phú Tâm, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng) nơi được xem là khởi thủy của làng nghề bánh pía.
Vịt quay Bắc Kinh và vịt quay Tứ Xuyên là những món “đặc sản” nổi tiếng của Tàu. Đặc trưng của món vịt quay là da vịt mỏng, giòn, màu vàng sậm. Tại miền Nam, vịt quay và thịt heo quay cũng được người Quảng Đông đưa vào danh sách ẩm thực. Bí quyết gia truyền của các món này là ướpngũ vị hương rồi quay sao cho da giòn tan trong khi phần thịt vừa mềm lại vừa thơm. Vịt quay hoặc heo quay theo đúng kiểu Tàu là phải ăn với bánh bao chay (không nhân) nhưng người Việt cũng chế thêm món bánh hỏi thịt quay ăn với các loại rau, chấm nước mắm cho hợp với khẩu vị. Ngày xưa, trong Chợ Lớn, nổi tiếng về heo quay, vịt quay có khu vực đường Tôn Thọ Tường, ở Sài Gòn thì khu Chợ Cũ có vài tiệm heo quay của người Tàu. Chuyện kể có một ông cà lăm đi mua thịt quay, khi ông lắp bắp: “Bán… cho tôi… 20 đồng… thịt quay…” thì Chú Ba với tay nghề chặt thịt cũng vừa chặt xong đúng 20 đồng!
Hết “ăn” giờ lại sang đến “chơi” trong ngôn ngữ vay mượn của người Tàu. Chuyện cờ bạc trong ngôn từ của người Sài Gòn xưa đã xuất hiện không ít những từ ngữ từ tiếng Tàu. Tài Xỉu (phiên âm từ tiếng Tàu có nghĩa là Đại – Tiểu) là trò chơi dân gian có từ rất lâu. Chỉ cần 1 cái đĩa, 1 cái bát và 3 hạt xí ngầu cũng có thể lập sòng tài xỉu nên còn có tên là sóc đĩa. Hột xí ngầu có sáu mặt, mỗi mặt có từ một đến sáu chấm, tương đương từ một đến sáu điểm. Khi ráp sòng, người ta để cả ba hột lên chiếc đĩa sứ, chụp bát lên trên rồi lắc. Tổng số điểm của ba hột từ mười trở xuống gọi là xỉu, trên con số mười là tài. Sau khi chủ sòng lắc đĩa, người chơi đoán hoặc tài hoặc xỉu mà đặt cược. Chuyện thắng thua trong tài xỉu tùy thuộc vào tay nghề của người xóc đĩa, còn được gọi là hồ lỳ. Xác suất chủ sòng là từ 60 đến 70% thắng nhưng vì lỡ mang kiếp đỏ đen nên con bạc vẫn bị thu hút vào sòng xóc đĩa.
Các loại bài và hình thức chơi bài cũng có xuất xứ từ tiếng Tàu. Binh xập xám (13 cây) có những thuật ngữ như mậu binh (không cần binh cũng thắng), cù lủ (full house) là 3 con bài cùng số và một cặp đôi, ví dụ như 3 con chín + 2 con K (lớn nhất là cù lủ ách (ace), nhỏ nhất dĩ nhiên là cù lủ hai), thùng (flush) là 5 con cùng nước (suit) mà không theo trật tự liền nhau, ngược lại là sảnh (straight) là 5 con theo trật tự liền nhau nhưng không cùng nước. Kho từ vựng trong xập xám còn có xám chi (3 con cùng loại – three of a kind), thú (two) hay thú phé (two separate pairs) là 2 cặp và 1 con bất kì nào khác. “Thứ nhất tứ quý (4 con bài cùng số) thứ nhì đồng hoa (cùng một nước như cơ, rô, chuồn, bích)” là một trong số cả rừng từ ngữ của dân binh xập xám.
Ở phần trên đã bàn về hai khía cạnh “ăn” và “chơi”, còn một khía cạnh đóng vai trò không kém phần quan trọng là “làm” của người Tàu. Nghề nghiệp được xếp thấp nhất của người Tàu là nghề lạc xoong hay nói theo tiếng Việt là mua ve chai, người miền Bắc gọi là đồng nát. Chú Hỏa (1845-1901), người Phúc Kiến, xuất thân từ nghề này nhưng về sau lại là một trong 4 người giàu nhất Sài Gòn xưa: “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa”. Bốn triệu phú ngày xưa gồm các ông Huyện Sỹ (Lê Phát Đạt), Tổng đốc Phương (Đỗ Hữu Phương), Bá hộ Xường (Lý Tường Quan) và Chú Hỏa (Hui Bon Hoa hay Hứa Bổn Hòa). (Xem Triệu phú Sài Gòn xưa)
Một số người Tàu hành nghề bán chạp phô với các mặt hàng thuộc loại tả pín lù nhưng sẵn sàng đáp ứng được mọi nhu cầu hàng ngày của người lao động trong xóm. Tiệm chạp phô chỉ có mục đích lượm bạc cắc từ cây kim, sợi chỉ đến cục xà bong Cô Ba, quả trứng, thẻ đường. Người Tàu kiên trì trong công việc bán tạp hóa, ông chủ ung dung đếm tiền mỗi tối và ẩn dưới tiệm chạp phô là cả một gia tài được tích lũy. Người ta chỉ phát hiện điều này khi có phong trào vượt biên. Tính rẻ “3 cây một người” thế mà cả gia đình chủ tiệm chạp phô vẫn thừa sức vượt biển để tìm đến bến bờ tự do.
Cao cấp hơn là những xì thẩu, những người thành công trong kinh doanh mà ngày nay ta gọi là „đại gia“. Điển hình cho giai cấp xì thẩu là Trần Thành, bang trưởng Triều Châu, với hãng bột ngọt Vị Hương Tố rồi các mặt hàng mì gói Hai Con Tôm, nước tương, tàu vị yểu đã chinh phục thị trường miền Nam từ thập niên 60 để trở thành “ông vua không ngai trong vương quốc Chợ Lớn”. Xì thẩu Lý Long Thân làm chủ 11 ngành sản xuất và dịch vụ, 23 hãng xưởng lớn: hãng dệt Vinatexco, Vimytex, hãng nhuộm Vinatefinco, hãng cán sắt Vicasa, hãng dầu ăn Nakyco, hãng bánh ngọt Lubico, Ngân Hàng Nam Việt, Ngân Hàng Trung Nam, khách sạn Arc en Ciel, hãng tàu Rạng Đông…
Xì thẩu Lâm Huê Hồ được nhiều người gọi là “chủ nợ của các ông chủ”. Ông là người giữ nhiều tiền mặt nhất miền Nam, số tiền ông có tay bằng vốn của nhiều ngân hàng tư nhân cỡ nhỏ như Nam Đô, Trung Việt gộp lại. Lâm Huê Hồ còn nổi tiếng là vua phế liệu, chuyên thầu quân cụ và võ khí phế thải rồi bán lại cho những doanh nhân trong ngành luyện cán sắt hay bán lại cho Nhật Bản. Người Sài Gòn thường nói: “Trần Thành, Lý Long Thân chỉ có Tiếng nhưng Lâm Huê Hồ lại có Miếng”.
Xì thẩu Vương Đạo Nghĩa, chủ hãng kem Hynos, là một người có óc làm ăn cấp tiến. Ông là người có rất nhiều sáng kiến để quảng cáo sản phẩm trên các cửa hàng ăn uống, chợ búa, hệ thống truyền thanh và truyền hình. Ông cũng là người đầu tiên biết vận dụng phim võ hiệp và tình báo kiểu Hồng Kông vào quảng cáo. Người dân miền Nam không thể quên hình ảnh tài tử Vương Vũ giải thoát các xe hàng do đoàn bảo tiêu hộ tống thoát khỏi quân cướp: mở thùng ra chỉ toàn kem đánh răng Hynos! Có rất nhiều xì thẩu được Sài Gòn xưa phong tặng danh hiệu Vua. Trương Vĩ Nhiên, “vua ciné”, là chủ hãng phim Viễn Đông và gần 20 rạp ciné tại Sài Gòn – Chợ Lớn: Eden, Đại Nam, Opéra, Oscar, Lệ Thanh, Hoàng Cung, Đại Quang, Palace, Thủ Đô…; Lý Hoa, “vua xăng dầu”, là đại diện độc quyền các hãng Esso, Caltex, Shell phân phối nhiên liệu cho thị trường nội địa; Đào Mậu, “vua ngân hàng”, Tổng giám đốc Trung Hoa Ngân Hàng (một trong hai ngân hàng châu Á lớn nhất tại Sài Gòn cùng với Thượng Hải Ngân Hàng).

Ảnh của Kimtrong Lam.
Ảnh của Kimtrong Lam.

TRUYỀN GIÁO BẰNG CÁCH SỐNG

TRUYỀN GIÁO BẰNG CÁCH SỐNG

  LM Jos Tạ Duy Tuyền

Cách chung con người ngày hôm nay thường nóng vội, hấp tấp, làm đại.  Nghịch lý ở chỗ thích hoành tránh nhưng lại đòi phải nhanh, phải gọn.  Họ chỉ thích làm những chuyện lớn mà bỏ qua chuyện nhỏ.  Họ luôn xem việc nhỏ là tầm thường mà quên rằng việc lớn là do tích tiểu thành đại.  Không kiên nhẫn trong việc nhỏ thế nên, họ cũng bỏ lỡ cơ hội làm những chuyện lớn lao.

Điển hình là xã hội hôm nay không có những công trình thế kỷ mà chỉ có những kiến thiết hợp thời, model nhưng mau qua.  Về sự học dường như học sinh không thể ngồi yên để thuộc một câu thơ hay một bài lịch sử mà chỉ học trên net, trên Iphone…

Người ta kể rằng: Thời Đông hán có một thiếu niên tên Trần Phiên.  Hắn cho mình bất phàm nên chỉ làm chuyện lớn mà thôi.  Một hôm người bạn tới thăm thấy nhà hắn bẩn thỉu liền nói:  Nho tử sao không quét nhà để tiếp đón khách?

Trần Phiên trả lời: Đại trượng phu xử thế.  Nên quét thiên hạ sao lo một nhà?

Người bạn đáp lại: Một nhà không quét, sao có thể quét thiên hạ.

Trần Phiên ngộ ra không nói được lời nào.

Xem ra muốn xây dựng giang sơn thì phải xây dựng từ gia đình mình.  Muốn làm những điều cống hiến cho đời thì phải rèn luyện mình thành người tốt.  Phải khởi đi từ việc nhỏ mới mong làm chuyện đại sự to tát hơn.  Muốn canh tân xã hội phải có một kế sách lâu dài và phải khởi đi từ những việc nhỏ nhất mới mong thành đại sự.

Phải chăng Giáo hội hôm nay cũng bị cuốn vào trào lưu thích hoành tráng, rầm rộ?  Thích phô trương đánh trống hơn là sống đạo mến yêu?   Các lễ nghi, lễ hội thật nhiều nhưng điều đó không quan trọng bằng việc ra đi đến với người nghèo, người già yếu, bệnh tật…?

Giáo hội luôn nói mình có sứ mạng truyền giáo và mời gọi các tín hữu tham gia vào công cuộc truyền giáo, nhưng xem ra chẳng có kết quả, bởi vì ai cũng muốn làm việc lớn nhưng những việc bình thường là canh tân đời sống bản thân, là sống công bình bác ái, là phục vụ yêu thương khởi đi từ gia đình lại bị xem thường.

Thực vậy, làm sao có thể truyền giáo khi chưa tề gia để mang lại cho gia đạo êm ấm thuận hòa?

Làm sao có thể truyền giáo khi bản thân còn nhiều tính hư nết xấu, đôi khi còn trở thành gương mù gương xấu cho tha nhân?

Truyền giáo không phải là một lễ hội để đánh trống khua chiêng.  Truyền giáo là đem đạo vào đời qua muôn nẻo đường trần thế.  Thế nên, truyền giáo đòi hỏi từng người phải biết sống trở thành nhân chứng cho Chúa, phải mang tin mừng thẩm thấu vào trong trái tim và trao tặng cho anh em, cho bạn bè.  Truyền giáo phải như chút muối làm cho thế gian nồng thắm tin mừng.  Truyền giáo phải như chút men làm cho Tin mừng hòa vào thế gian.

Trong bài hát “Một chút” thôi của Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống dường như cũng nói những điều thật đơn giản ấy.

Một chút những viên đá nhỏ hợƿ thành ngọn núi lớn

Một chút những bước chân đi xɑ về muôn lối

Một chút những ƿhút ủi ɑn dịu xoɑ ngàn nỗi sầu

Ϲhỉ một chút ƙhởi đầu tương lɑi sẽ đẹƿ màu

ĐK – Một chút trong đời chỉ một chút chút xíu thôi

Ɲhiều chút chút bé nhỏ mà làm cho đời thêm mới

Một chút trong đời trở thành một chút thật tuуệt vời.

Ϲhắt chiu từng chút ấу cho đời nàу thêm sáng tươi.

Hôm nay ngày khánh nhật truyền giáo, ước gì chúng ta hãy từng chút một chắt chiu những việc làm tốt để sáng danh Chúa, có như vậy chúng ta mới gom thành một làn sóng yêu thương mang tin mừng lan tỏa khắp nơi.  Xin Chúa giúp chúng ta biết truyền giáo khởi đi từ việc nhỏ nhất trong đời thường bằng việc nêu gương sáng cho tha nhân trong bổn phận và trong việc bác ái dấn thân xây dựng thế giới ngày một tốt đẹp hơn.

LM Jos Tạ Duy Tuyền