Bắc Kinh dọa Hà Nội: Gần với Mỹ hơn, sẽ bị trả thù

Bắc Kinh dọa Hà Nội: Gần với Mỹ hơn, sẽ bị trả thù

Nguoi-viet.com

BẮC KINH 8-7 (NV) – Bắc Kinh bắn tiếng cho Hà Nội biết là nếu tiến gần hơn với Hoa Thịnh Đốn, được hiểu là để đối phó Trung Quốc, thì coi chừng sẽ gặp phải các đòn trả thù từ phương Bắc.

Phó tổng thống Mỹ Joe Biden phát biểu trong khi ông tổng bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng đứng nghe nhân dịp ông Trọng được đãi bữa ăn trưa ở Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ hôm Thứ Ba 7/7/2015. (Hình: AP Photo/Manuel Balce Ceneta)

“Cái mối quan hệ mật thiết hơn giữa Việt Nam và Hoa Kỳ mà một phần là nhắm (đối phó) với Trung Quốc, sẽ kéo theo các đòn đánh trả của Trung Quốc.” Bài bình luận của tờ Hoàn Cầu Thời Báo ngày 8/7/2015 viết. “ Điều này sẽ tạo ra ap lực cho cả ba phía mà khi nó diễn tiến, Việt Nam có thể là kẻ phải chịu nhiều thiệt hại nhất.”

Hoàn Cầu Thời Báo là một phó bản của tờ Nhân Dân Nhật Báo, cái loa tuyên truyền của Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Cả hai tờ báo này cùng chia chung một trụ sở ở Bắc Kinh. Mỗi khi có bài bình luận gì, vì tế nhị, không đăng trên Nhân Dân Nhật Báo thì đẩy sang đăng trên Hoàn Cầu Thời Báo.

Mỗi khi có bất cứ biến cố, sự kiện gì liên quan tới Việt Nam mà họ đánh hơi thấy có thể bất lợi cho Trung Quốc, tờ Hoàn Cầu Thời Báo đều nhanh chóng có những bài bình luận hoặc chửi bới, hoặc đe dọa Việt Nam, kể cả quân sự, dù lãnh tụ hai nước mỗi khi gặp nhau đều hô hò “16 chữ vàng” và “tinh thần 4 tốt.”

Ngày 7/7/2015, tổng thống Mỹ Barack Obama tiếp ông tổng bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng tại Phòng Bầu Dục trong Tòa Bạch Ốc dù ông không phải là người cầm đầu chính phủ hoặc tổng thống, chủ tịch nước như thông lệ tiếp khách. Cả hai ông thảo luận nhiều vấn đề, từ nhân quyền đến Biển Đông, hiệp định đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), trong mối quan hệ giữa hai nước.

“Báo chí tây phương đã diễn dịch quá đáng cuộc viếng thăm (của ông Nguyễn Phú Trọng) trong tầm nhìn địa chính trị. Họ coi cuộc thăm viếng như một nghi thức ngoại giao phối hợp giữa Việt Nam với Mỹ chống lại Trung Quốc và đây cũng là một chiến thắng của Mỹ trong chủ trương đối phó với Trung Quốc về mặt chiến lược.” Hoàn Cầu Thời Báo kể lể.

Với những nhận định như thế, Hoàn Cầu Thời Báo nói, một số nhà quan sát Mỹ và một số trí thức muốn gồm cả Việt Nam vào trong phe chống Trung Quốc. Tuy nhiên “Mục tiêu này có vẻ luôn luôn hiện ra ở chân trời, nhưng sẽ không bao giờ đến được.”

Theo Hoàn Cầu Thời Báo, Hoa Thịnh Đốn muốn Hà Nội phối hợp với họ trong chính sách xoay trục về Á Châu – Thái Bình Dương và tăng cường áp lực với Trung Quốc, trong khi Hà Nội hy vọng thân cận hơn với Hoa Thịnh Đốn có thể giúp họ đối phó với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông. Nhưng “điều này không hoàn toàn tượng trưng cho mối quan hệ Hoa Kỳ- Việt Nam.”

Báo này dọa rằng Việt Nam ngày càng bị áp lực chính trị từ Mỹ nên “tạo ra thử thách lâu dài cho sự ổn định” của chế độ Hà Nội. Hoàn Cầu Thời Báo nói trong khi là một trong những nước xuất cảng nhiều sang Mỹ nhưng cũng vì vậy mà phải “đối phó với sự xâm nhập chính trị của Tây phương.”

Tờ báo nêu ra một thực tế là trong khi Việt Nam coi Trung Quốc như một sự thử thách cho an ninh quốc gia thì họ lại “hưởng sức mạnh kinh tế nhờ Trung Quốc cũng như sự hậu thuẫn của hệ thống chính trị Cộng sản của Trung Quốc.”

Tờ báo đe rằng “Khi chiến lược căn bản của Việt Nam là cổ võ phát triển kinh tế xã hội như Trung Quốc và họ sẽ đạt được thành quả tối đa nếu chiến lược đó đừng đi ngược lại các tranh chấp Biển Đông.”

“Không nước nào được hưởng lợi khi mời Mỹ chen vào các cuộc tranh chấp với Trung Quốc. Thật ra, điều đó báo hiệu thất bại.” Tờ Hoàn Cầu Thời báo dọa.

Khác với tờ Nhân Dân Nhật báo, tờ Hoàn Cầu Thời Báo cho độc giả bình luận thoải mái. Trong phần bình luận của độc giả dưới bài bình luận nói trên, ít nhất có 25 lời bình luận đối chọi nhau từ bênh đến sỉ vả Bắc Kinh. (TN)

TÔI BẮT ĐẦU BIẾT… NÓI DỐI !

TÔI BẮT ĐẦU BIẾT… NÓI DỐI !

Thủa nhỏ, tôi được dạy rằng, phải sống trung thực không dối trá với bản thân
mình và với mọi người vì đó là con đường sáng duy nhất của kiếp người.
Khi đó, tôi chưa hiểu thế nào là trung thực, thế nào là dối trá mà chỉ biết rằng
những hành động nào của tôi làm vừa lòng người lớn, được khen là ngoan ngoãn thì
đấy là những hành động trung thực. Nhưng đến một hôm, tôi đã biết sự thật trong
những lời khen ấy.

Tôi bắt đầu biết nói dối, những lời nói dối chân thành nhất của đời mình. Tôi có
người bạn quanh năm lênh đênh trên con tàu nhỏ, đã cũ, đi câu mực, đánh cá trên
biển, vài tháng mới trở lại đất liền vài ngày.
Một lần, anh đi biển và thời tiết thay đổi đột ngột khiến biển động dữ dội.
Nhà anh chỉ còn người mẹ già ốm yếu. Vì quá lo lắng cho con trai, bệnh tim tái
phát khiến bà phải vào viện trong tình trạng hôn mê. Khi đó gió biển gào thét dữ
dội.

Các bác sĩ quyết định phải mổ ngay nhưng họ không thể tiến hành ca mổ trong lúc
bà mẹ lâm vào tình trạng hôn mê, suy kiệt tinh thần hoàn toàn.
Trong những lúc tỉnh táo ngắn ngủi, bà thều thào hỏi đã hết bão chưa, con trai bà đã về chưa?

Khi đó có một người làng bên cho biết đã tìm thấy mãnh vỡ của con tàu nhà bà dạt vào bờ biển.

Bà hỏi các bác sĩ nhưng không ai trả lời.
Tôi đứng ở đó và thật rồ dại khi trung thực kể cho bà nghe rằng cơn bão khủng
khiếp lắm, kéo dài vài ngày nữa mới thôi, con tàu đã bị vỡ, sóng xô vài mảnh vào
bờ, con trai bà (bạn thân của tôi) không biết số phận ra sao?
Các bác sĩ không kịp cản tôi.

Câu chuyện tôi vừa kể đã đánh gục những sức lực yếu ớt cuối cùng của bà. Bà nấc
nhẹ và thiếp đi. Bác sĩ bó tay. Tôi tình cờ phạm phải một tội ghê ghớm mà suốt
đời tôi không tha thứ cho mình. Sau khi tan bão người bạn tôi sống sót trở về do
một chiếc tàu khác cứu.
Anh không trách tôi mà chỉ gục bên mộ mẹ khóc nức nở.Sự trung thực ngu ngốc đã
vô tình khiến tôi phạm sai lầm khủng khiếp.

Trong truyện ngắn nổi danh ” Chiếc lá cuối cùng” của O.Henrry, một bệnh nhân tin
chắc mình sẽ chết. Cô đếm từng chiếc lá rụng của tán cây ngoài cứa sổ và tin
rằng đó là chiếc lá đồng hồ số phận của cô.
Khi chiếc lá cuối cùng rơi xuống, cô sẽ chết. Nhưng chiếc lá cuối cùng không bao
giờ rụng xuống. Cô gái bình phục, sống khỏe mạnh mà không biết rằng chiếc lá
cuối cùng đó chỉ là một chiếc lá giả do một họa sĩ muốn cứu cô vẽ lên vòm cây
trơ trụi.

Như vậy sự thật không phải được nhìn thấy bằng mắt, được cảm nhận bằng tri thức.
Nếu tôi không kể về cơn bão tôi thấy, mảnh ván tàu vợ tôi được nghe thì có lẽ
người mẹ ốm yếu ấy không chết.
Nếu như không có chiếc lá giả kia, cô gái sẽ chết vì bệnh tật và vì tuyệt vọng.
Sự thật trong đời sống con người phải đồng nghĩa với tình yêu nữa. Chỉ có điều
gì cứu giúp con người, làm cho con người mạnh mẽ lên, hướng con người về ánh
sáng… điều đó mới là sự thật.

Còn tất cả những hành động, những lời nói cho dù đúng với mắt mình thấy, tai
mình nghe, tri thức của mình hiểu nhưng chúng khiến cho người khác, hoặc cho
niềm tin cuộc sống, mất đi sức mạnh tinh thần dẫn đến việc hủy hoại đời sống thì
đều không phải là trung thực.Nếu chúng là sự thật, đó là sự thật của một con quỷ
không biết yêu thương con người.

Một lời nói dối trong tình yêu có thể cứu người và một lời nói thật phũ phàng có
thể giết người. Tất nhiên chúng ta sẽ chọn lời nối dối chân chính.
Tuy vậy để phân biệt khoảng cách giữa những lời nói này cũng là một điều khó
khăn và tùy thuộc vào từng hoàn cảnh đặc biệt. Bạn có biết nói dối thế nào để
lời nói dối ấy là lời nói dối chân thành, chứa đầy tình yêu thương con người?

Đơn giản thôi.Bạn hãy giữ lấy một trái tim tha thiết với cuộc đời và đồng loại.

Khuyết Danh

Anh chị Thụ Mai gởi

Suy Tư Về Việc Hoa Kỳ Chấp Thuận Hôn Nhân Đồng Giới

Suy Tư Về Việc Hoa Kỳ Chấp Thuận Hôn Nhân Đồng Giới

TRẦM THIÊN THU

Ngày 26-6-2015, Hoa Kỳ đã hợp pháp hóa việc hôn nhân đồng giới. Một tiếng sét ngang tai đối với người Công giáo. Chúng ta nên làm gì?

Hôn nhân truyền thống là điều tốt lành của Thiên Chúa, sự thiết lập này được thể hiện qua việc kết hợp của một người nam và một người nữ, nhờ đó mà xã hội phát triển. Nhưng người ta không tin như vậy. Đa số thất vọng với quyết định của Hoa Kỳ về việc chấp nhập hôn nhân đồng giới. Kinh khủng quá!

Cơn cám dỗ này là sự hôi thối sỉ nhục trong góc thánh thiện, là đào hố sâu dưới chân chúng ta, là cú đá ngược bất ngờ khiến chúng ta thất vọng. Nhưng chúng ta vẫn khả dĩ làm tốt hơn bằng cách ấp ủ Tám Mối Phúc:

Hãy vui mừng, không chỉ trong quyết định, mà còn vui mừng trong Chúa, và hãy tạ ơn Chúa trong mọi hoàn cảnh. Chúa Giêsu nói: “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế” (Mt 5:11).

Vui mừng cái gì? Hãy chú ý những điều quan trọng: Thiên Chúa vẫn hiện hữu, không phải Ngài không biết, nhưng Ngài làm ngơ và chờ đợi chúng ta ăn năn sám hối; sự chết và sự phục sinh của Đức Kitô vẫn mãi là sức mạnh cứu độ đối với mọi người; Tin Mừng vẫn làn tỏa khắp nơi; Tòa án Tối cao hoặc Quốc hội Hoa Kỳ không thể chống lại Giáo Hội của Đức Giêsu Kitô, vì Ngài đã xác định với giáo hoàng tiên khởi: “Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16:18). Chắc chắn “không có gì tách chúng ta khỏi tình yêu của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô” (Rm 8:35). Nước Thiên Chúa sẽ ngự đến – và vẫn có những công việc để chúng ta làm trong Giáo Hội và trong xã hội ngày nay.

HÃY SÁM HỐI. Hiện nay một cơn cám dỗ khác đang nhắm vào các sức mạnh về chính trị, xã hội, triết học, tâm linh, để chống lại Giáo Hội và giáo huấn luân lý. Thánh Phaolô khuyên chúng ta khi tham gia cuộc chiến thiêng liêng: “Anh em hãy tìm sức mạnh trong Chúa và trong uy lực toàn năng của Người. Hãy mang toàn bộ binh giáp vũ khí của Thiên Chúa, để có thể đứng vững trước những mưu chước của ma quỷ. Vì chúng ta chiến đấu không phải với phàm nhân, nhưng là với những quyền lực thần thiêng, với những bậc thống trị thế giới tối tăm này, với những thần linh quái ác chốn trời cao. Bởi đó, anh em hãy nhận lấy toàn bộ binh giáp vũ khí của Thiên Chúa; như thế, anh em có thể vận dụng toàn lực để đối phóđứng vững trong ngày đen tối” (Ep 6:10-13). Chúng ta nên làm gì và có thái độ thế nào khi xã hội loại bỏ các giá trị đạo đức? Hành động trái ngược đã bộc lộ nỗi sợ hãi và dịnh kiến. Đam mê của chúng ta có nguồn gốc từ tội lỗi liên quan tình dục, lãnh đạm với chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, thói tham lam, thói giả hình, tính vị kỷ,… Tu thân rồi mới tề gia, sau đó mới khả dĩ trị quốc và bình thiên hạ. Bắt đầu là điều khó, bắt đầu từ chính mình lại càng khó hơn. Nhưng ai cũng PHẢI bắt đầu. Tu thân là sửa tính nết, canh tân lối sống, sám hối tội lỗi: “Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an” (Mt 5:5).

HÃY SUY NGHĨ LẠI. Hãy suy nghĩ về những gì mình đã làm, đang làm và sẽ làm. Hôn nhân đồng giới là trái tự nhiên, là “cặp đôi KHÔNG hoàn hảo”.

Một vấn đề đòi hỏi suy nghĩ nghiêm túc là việc ly hôn, ly thân và tái hôn. Kinh Thánh nói nhiều về hôn nhân. Sách Khôn Ngoan cảnh báo: “Họ quả không coi trọng mạng sống và xem thường cuộc hôn nhân trong sạch. Người này giăng bẫy sát hại người kia, người ta giết nhau bằng thủ đoạn hoặc làm khổ nhau vì chuyện ngoại tình. Nơi đâu cũng hỗn loạn: đổ máu và giết người, cướp giật và lừa đảo, nhũng lạm, bất tín, bạo loạn, bội thề. Vàng thau lẫn lộn, bội nghĩa vô ân, tâm hồn nhơ nhuốc, dục tình đồi bại, rồi hôn nhân hỗn loạn, ngoại tình và phóng đãng” (Kn 14:24-26). Thiên Chúa quả quyết: “Ta ghét việc rẫy vợ, và kẻ lấy thói bạo tàn làm áo che thân. Hãy coi chừng và chớ phản bội!” (Mlk 2:16). Và Chúa Giêsu dạy: “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19:6; Mc 10:9). Đó là Ngài nói về hôn nhân lưỡng tính (một nam và một nữ) chứ không là hôn nhân đồng tính (một nam và một nam, hoặc một nữ và một nữ). Thế nhưng người ta nới lỏng Luật Chúa và không tôn trọng lời thề hôn nhân. Người ta coi thường Thánh Ân nên không muốn tuân giữ Thánh Luật. Sự mâu thuẫn đã làm đảo lộn trật tự xã hội vì người ta muốn thoát ra khỏi Giáo Hội. Giáo Hội cấm ly hôn chứ không cấm tái hôn, nhưng chỉ tái hôn khi một người không còn (qua đời) chứ không tái hôn sau khi ly hôn.

Ai khao khát sự công chính thì sẽ được mãn nguyện: “Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng” (Mt 5:6). Nhưng khao khát thì phải hành động chứ không “há miệng chờ sung rụng”.

HÃY SẮP ĐẶT LẠI. Chúng ta đang “sống lưu vong” và “lữ hành trần gian”. Một thanh niên Miến Điện đến Hoa Kỳ vài tháng trước. Anh ta nói rằng ở Miến Điện, các Kitô hữu bị hạn chế xây dựng nhà thờ và trường học. Hành vi thù địch về xã hội và chính trị đã khiến anh chống đối, anh phải trốn sang Indonesia. Tại đây, anh bị tù 7 tháng vì không có giấy tờ tùy thân. Nhờ tổ chức World Relief, anh được đến Hoa Kỳ, phải “vật lộn” với ngôn ngữ mới và văn hóa mới, trong khi phải nuôi sống gia đình với số lương bèo bọt. Nghĩa là anh ta phải sắp xếp lại mọi thứ để sớm thích nghi với hoàn cảnh mới với mọi thứ mới.

Đó là một dạng sống lưu vong, dù xã hội Hoa Kỳ vẫn cho phép tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo, tôn trọng nhân quyền, cho phép công dân tham công việc gia quản trị. Tự do luôn có sẵn hầu như ở mọi nơi trên thế giới. Kiến tạo hòa bình là điều tốt chung: “Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (Mt 5:9). Nói chung, chúng ta phải sắp xếp lại quan điểm và hoạt động chính trị.

HÃY VƯƠN XA. Vấn đề hôn nhân đồng giới đã được hợp pháp hóa ở Hoa Kỳ, chúng ta buồn nhưng chúng ta lại có cơ hội để xây dựng các mối quan hệ đơm hoa kết trái với những người ghét các Kitô hữu: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5:44; Lc 6:27). Về điểm này, người Công giáo chúng ta bị coi là mối đe dọa đối với chính trị. Chúng ta “mất mát” về vấn đề hôn nhân đồng giới, mối đe dọa đã không còn. Chúng ta hãy mong đợi những cơ hội mới để có dịp chia sẻ về Lòng Chúa Thương Xót: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5:7). Đó chính là Tin Mừng vậy.

HÃY TỰ HÀO. Thánh Phaolô động viên: “Hãy vui mừng và gắng nên hoàn thiện. Hãy khuyến khích nhau, hãy đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận hoà. Như vậy, Thiên Chúa là nguồn yêu thương và bình an, sẽ ở cùng anh em” (2 Cr 13:11). Vả lại, chính Thiên Chúa đã kêu gọi chúng ta ngay trong bước ngoặt lịch sử này – Hoa Kỳ chấp thuận hôn nhân đồng giới. Trong quá khứ, Giáo Hội hồi thế kỷ IV có trách nhiệm suy tư vầ bản chất của Đức Kitô, Giáo Hội hồi thế kỷ XVI có trách nhiệm suy tư về mối quan hệ giữa đức tin và công việc, còn hiện nay, Giáo Hội có trách nhiệm suy tư về vấn đề giới tính. Điều chúng ta dạy và việc chúng ta làm trong thời đại chúng ta sẽ định hình tư tưởng của Giáo Hội và cuộc sống đối với các thế hệ tương lại.

Đây không chỉ là lời kêu gọi đối với các vị lãnh đạo quốc gia và Giáo Hội, mà còn đối với mỗi gia đình Kitô giáo. Dù chúng ta có đi vận động hành lang ở sảnh Quốc hội hay không để xem việc buôn bán người hoặc dạy trẻ em về tặng phẩm tình dục quý giá thế nào, chúng ta vẫn đang củng cố và định hình giáo huấn của Giáo Hội về giới tính.

Chúng ta đang bước vào tương lai chưa biết sẽ đáng quan ngại hay hay không, nhưng cần có lòng khiêm nhu và tự tin: “Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp” (Mt 5:4). Đức Kitô là Thiên Chúa Ngôi hai và vẫn là Hoa Tiêu điều khiển Con Tàu Giáo Hội. Phúc cho ai chân nhận điều này, vì họ sẽ được Nước Trời làm gia nghiệp đời đời!

MARK GALLI

TRẦM THIÊN THU

(Chuyển ngữ từ ChristianityToday.com)

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Chuyện của danh ca Lệ Thu

Chuyện của danh ca Lệ Thu

1. Cuộc đời tôi như một tờ giấy trắng, được tạo hóa vẽ lên đó những đường nét rõ ràng và tôi chưa một lần đi ngược lại quy luật tự nhiên. Tôi tin mọi thứ đều do trời định cả. Tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ trở thành một ca sĩ. Ngay cả khi bén duyên ca hát rồi, tôi cũng chẳng mơ được gọi hai tiếng “danh ca”. Bước lên sân khấu, tôi cứ thế hát bằng tất cả xúc cảm, bằng tâm hồn mình. Có lẽ vậy mà tiếng hát tôi còn được thính giả yêu quý tới giờ. Vì giọng hát theo thời gian sẽ khác đi nhưng tâm hồn trong tiếng hát thì bất biến.

Tôi may mắn được sinh ra trong một gia đình khá giả. Bên nội, bên ngoại đều khá giả. Mẹ tôi trải qua 8 lần sinh nở nhưng các anh chị tôi không được hưởng phúc phận, cứ lên 3 là mất. Chỉ có tôi là đứa con duy nhất nhận được toàn bộ tình thương, chăm sóc của cả gia đình. Mẹ lúc nào cũng âu yếm gọi tôi “Em ơi”, “cô ơi”. Tôi có một cuộc sống đầy đủ trong căn nhà đúng kiểu làng quê miền Bắc ngày đó. Một căn nhà ba gian, có ao thả cá, có vườn cây hoa trái rộng bát ngát.

Tuổi thơ tôi bình yên trôi. Tôi hầu như không biết đến sự khốc liệt của chiến tranh, đi học ở đình làng gần nhà, sau đó chuyển từ Hà Đông lên Hà Nội. Thấy tôi mê nhạc, gia đình cho tôi đi học đàn. Nhưng nghĩ, con gái mà học guitar sợ “ngổ ngáo” quá nên bố mẹ gởi tôi vào trường dòng từ lúc lên 5 cho tôi học piano. Đam mê được thỏa nguyện tạo nên trong tôi tình yêu vô cùng trong âm nhạc. Mặc nhiên đến mức tôi chưa bao giờ nghĩ mình lại có thể khác đi. Ca hát, với tôi là duyên số, là phước phần trời định. Gia đình tôi, các chú, các cậu đều hát rất hay. Tôi hát chẳng là gì so với họ nhưng chắc không ai có cái nghiệp như tôi.

Mẹ tôi là vợ lẽ, sống dưới quyền mẹ cả, phải chịu đựng đủ điều. Đủ thứ việc trong nhà, cụ phải dang tay cáng đáng, chẳng bao giờ được nghỉ tay. Năm tôi 10 tuổi, mẹ con tôi chuyển vào Sài Gòn sinh sống.

Nhà tôi hồi đó nằm trên đường Phan Đình Phùng, cạnh nhà có một ông thầy dạy nhạc. Tôi thường nghe tiếng nhạc phát ra từ nhà ông rồi cứ thế véo von hát theo. Bạn bè, bà con lối xóm cứ thế kéo sang đứng chật trước cửa nhà, trầm trồ: “Ôi, con bé này hát hay quá!”. Tôi nghe thì biết vậy chứ có hiểu thế nào là hát hay hoặc chưa hay đâu. Có người kêu tôi, đi thi hát đi. Tôi tò mò hỏi thế thi hát là thi như thế nào? Họ bảo lên đài phát thanh ghi tên, rồi đứng trong phòng kính có đặt một tấm gương cho mình nhìn vào và hát. Trí óc non nớt của một đứa con gái 13, 14 tuổi ăn chưa no, lo chưa tới, chưa từng đến phòng thu, làm sao có thể hát trước một tấm gương phản chiếu hình ảnh của mình trong một căn phòng kín như thế? Tôi sợ nên không dám đi thi.

Lần sắp thi tú tài, nhân dịp sinh nhật một nhỏ bạn tổ chức trên sân thượng phòng trà Bồng Lai, mấy cô bạn trong nhóm của tôi thúc: “Ê Oanh, mày lên hát tặng con Liên một bài sinh nhật đi!”. Toàn bạn bè chơi với nhau, có gì đâu mà ngại. Tôi liền đứng lên hát bài Tà áo xanh (Dang dở) của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn. Trong vô thức tự nhiên tôi hát bài đó thôi chớ không nghĩ chuyện kiêng kỵ gì hết. Tự dưng đâu, giọng hát tôi “lọt tai” ông chủ phòng trà. Ổng bèn ngỏ lời mời tôi đi hát.
Gia đình tôi gia giáo, biết chắc là mẹ không thể nào chấp nhận chuyện này nên tôi thẳng thừng từ chối.
Ông thuyết phục tôi rằng: “Em có giọng hát rất hay và lạ. Không cần thức khuya đâu. Em cứ đến đây lúc 8 giờ, hát vài bài rồi 9 giờ về. Cứ nói với mẹ là đến nhà bạn thảo luận bài”. Kèm theo đó, ông trả cho tôi một số tiền khá lớn so với hình dung của tôi thời ấy.

Thế là tối tối, tôi giấu mẹ đi hát. Nhiều khi tôi mặc cả đồng phục ở trường đi hát luôn. Khi ông chủ phòng trà hỏi, tôi muốn được gọi như thế nào thì cái tên Lệ Thu lập tức bật ra như được định sẵn trong đầu mình. Kỳ thực, tôi cũng biết, chữ “lệ” mang nghĩa buồn lắm, là nước mắt và mùa thu cũng sầu không kém. Thế nhưng “lệ” ở đây còn có nghĩa là mỹ lệ, là một mùa thu rất đẹp. Đến giờ tôi vẫn không hiểu tại sao cái tên này lại được bật lên một cách tự nhiên như thế.

2. Xế nhà tôi có anh hàng xóm thích tôi lắm. Mỗi lần ăn cơm xong, có tráng miệng lúc trái na, lúc trái cam, anh không ăn mà để dành cho tôi. Thấy tôi đi qua, ảnh không dám đưa tận tay, chỉ quẳng cho tôi và tôi cũng hồn nhiên nhận. Ảnh và tôi học khác trường. Bốn năm trời ảnh cứ đạp xe đứng ngóng tôi trong những giờ ra chơi vậy đó. Tối nào tôi cũng đi hát khiến ảnh tò mò. Độ đâu vài tháng, anh biết được và đem mách mẹ tôi. Cụ nghe chuyện, nổi trận lôi đình. Cụ sợ tôi khổ do vướng phận “xướng ca vô loài”, rồi vướng chuyện trai gái này nọ. Tôi đứng im re nghe cụ rầy, không dám giải thích tiếng nào hết.

Bẵng đi ba bốn hôm, không thấy tôi đến, nghĩ là có chuyện, ông chủ phòng trà tìm đến tận nhà. Mẹ tôi cấm ngặt. Ông thuyết phục mẹ tôi rằng, tôi có giọng hát rất hay và lạ, mong mẹ đừng để lỡ cơ hội và tài năng của tôi. Thấy mẹ còn lo lắng, ông mời mẹ lên phòng trà mục sở thị. Mẹ tôi mất ăn mất ngủ mấy ngày liền mới quyết định đi thử. Bữa đó, gia đình tôi đông người đi xem lắm. Bác tôi cứ liên tục đay nghiến mẹ: “Tại sao cô lại để cho nó đi hát chứ?”. Coi tôi bước lên bục hát vài bài rồi xuống, mẹ tôi còn tưởng là lừa cụ do đâu nghĩ mọi chuyện dễ dàng vậy mà được trả thù lao cao thế. Đi vài đêm, nghe thính giả vỗ tay rần rần, cụ bắt đầu lay chuyển và đồng ý, với điều kiện phải cho cụ theo. Suốt hai năm như vậy, cụ mới cảm thấy yên tâm để tôi đi một mình.

Ngày ấy, con gái đến tuổi cập kê mà chưa cưới hỏi thì các cụ lo sốt vó. Tôi lại vướng nghiệp cầm ca nên mẹ tôi càng rầu. Thành ra, anh chàng kia mới quen tôi đâu được một tháng thì đem sính lễ tới nhà hỏi cưới tôi, cụ gật đầu gả liền. Thời đi học, cũng lãng mạn, làm thơ này nọ nhưng tôi chưa bao giờ biết yêu ai. Đùng một cái đi lấy chồng, mọi thứ kéo từ ngỡ ngàng này sang ngỡ ngàng khác. Tôi hơn hai mươi tuổi đầu mà chuyện bếp núc, chuyện làm dâu, chuyện vợ chồng cứ lóng nga lóng ngóng. Năm này qua tháng khác, riết người ta làm sao chịu nổi. Thành ra, tụi tôi mỗi người mỗi hướng. Tôi không thấy buồn gì hết. Tại hồi đó, tôi có biết yêu là thế nào đâu. Nhiều người cho rằng, cái tên và những bài tôi hát đồng cảm với cuộc đời tôi. Tôi cũng không hiểu vì sao nó lại vận vào mình. Để đến khi gặp người mình yêu thương thật lòng thì chuyện lại dở dở dang dang. Âu lỗi cũng ở mình và ở người. Tự ái và cái tôi lớn hơn sự cảm thông thì đành lỗi duyên giai ngẫu…

Ở tuổi này rồi, sự trải nghiệm khiến tôi thấm lẽ đời. Tạo hóa vốn dĩ rất công bằng, người cho tôi một chút nhan sắc, một chút tài năng thì phải lấy lại một cái gì đó. Và người lấy của tôi hạnh phúc trong cuộc sống riêng. Hôn nhân là chuyện nợ, chuyện duyên. Nếu có duyên nợ với nhau, sẽ cùng nhau đi hết một đoạn đường dài. Duyên nợ của tôi có lẽ chỉ đến đó, và chúng tôi đã trả cho nhau xong rồi. Định mệnh mà, có được làm lại cũng sẽ không thể thay đổi. Dẫu gì cũng đã cùng nhau qua một đoạn đường trần.
Tôi được nghe ở đâu đó rằng, hạnh phúc trong tầm tay mình và hiện hữu ở hiện tại. Quá khứ là gia sản của mỗi người, những gì có được ở hiện tại, dù là không may mắn nhưng tôi luôn bằng lòng với nó. Có câu danh ngôn vầy, hãy khép lại cánh cửa quá khứ và mở cánh cửa

3. Người Mỹ hay dùng thành ngữ “Born to be that way” để nói về vận mệnh. Có những người sinh ra để hưởng phú quý, có người số phận khổ sở,… còn tôi sinh ra để làm một nghệ sĩ. Chuyện trở thành một ca sĩ là điều tất yếu và nếu được chọn lại tôi sẽ vẫn làm như vậy.

Điều khiến tôi hối tiếc nhất là tôi đã sống chưa đủ đầy bổn phận với mẹ, với các con. Chưa đủ đầy ở đây là không trực tiếp chăm sóc, nhìn các con trưởng thành từng ngày. Có lẽ, tôi hơi ích kỷ… Không! Đúng ra là tôi ích kỷ. Đây có lẽ là lần đầu tiên tôi thổ lộ điều này. Tôi chỉ nghĩ cho mình, tự thương mình nhiều quá mà quên mất những điều người thân trông chờ và cần ở mình. Nếu được sống lại, có lẽ, tôi sẽ sống khác đi. Sẽ biết cách cân bằng hơn giữa công việc và gia đình thay vì lúc nào cũng chỉ miệt mài dồn sức cho công việc.

Cũng vì lẽ ấy nên tôi chưa từng nghĩ rằng một ngày nào đó tôi sẽ xa con cháu… Tôi yêu thương và muốn bù đắp cho chúng. Các con trưởng thành và xây dựng cuộc sống riêng ở đâu thì đó là nơi chúng phải gắn bó dài lâu. Với tôi, nơi nào được gần những người mình yêu thương, nơi đó chính là nhà.
Ở tuổi này rồi, thi thoảng tôi nghĩ đến chuyện trở về thế giới bên kia. Ai rồi cũng phải về thôi mà, phải không? Không phải vì tôi buồn, vì thiếu thốn, hiu quạnh hay bất cứ lý do nào khác. Danh vọng, tiền tài, gia đình, tôi may mắn được ơn phước cho đủ đầy rồi. Còn mong gì hơn? Chỉ là, cái đẹp biến mất khi dấu ấn vẫn còn, hẳn sẽ trọn vẹn hơn.
Hoàng Linh Lan (ghi)

Ca sĩ Lệ Thu tên thật là Bùi Thị Oanh, sinh năm 1943 tại Hải Phòng.
Cùng với Khánh Ly, Thái Thanh, Lệ Thu là một trong những giọng ca lớn của nền tân nhạc Việt Nam. Lệ Thu tuy không gắn với một nhạc sĩ nào, nhưng bà là người trình bày rất thành công nhạc của Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Cung Tiến… và nhiều nhạc phẩm tiền chiến, tình khúc 1954-1975 khác.
Trong những năm từ 1968 đến 1971, tiếng hát Lệ Thu là một trong những yếu tố đưa khách đến với các vũ trường Queen Bee, Tự Do và Ritz. Năm 1968, Lệ Thu về cộng tác với chương trình Jo Marcel tại vũ trường Queen Bee. Ngoài việc đi hát hằng đêm Lệ Thu còn ký giao kèo thu thanh băng nhạc cho Jo Marcel, khởi đầu cho một thời kỳ vàng son nhất trong cuộc đời đi hát của bà.
Lệ Thu còn tham gia các chương trình ca nhạc trên các đài phát thanh Sài Gòn, đài Quân Đội và Mẹ Việt Nam và thu âm nhiều băng nhạc.
Sau cuộc hôn nhân đầu đổ vỡ, Lệ Thu kết hôn với ký giả Hồng Dương nhưng hai người chia tay sau khi có một con gái tên Thu Uyển.
Trong sự kiện tháng 4 năm 1975, Lệ Thu quyết định ở lại Việt Nam vì còn mẹ, dù đã tới phi trường, bước chân đến máy bay nhưng lại quay về.
Tháng 11 năm 1979, Lệ Thu cùng con gái út vượt biển đến Pulau Bidong, sau đó sang Mỹ vào giữa năm 1980. Hai năm sau hai người con gái lớn của Lệ Thu đoàn tụ với Lệ Thu tại nam California.
Tại Hoa Kỳ, Lệ Thu tiếp tục đi hát, cộng tác với các vũ trường như Tự Do, Làng Văn và Maxim’s. Năm 1981 Lệ Thu thực hiện băng nhạc đầu tiên của mình ở hải ngoại mang tên Hát trên đường tử sinh. Tiếp theo là Thu, hát cho người gồm nhiều ca khúc đã gắn liền với tên tuổi của mình. Và cho đến nay Lệ Thu vẫn tiếp tục ca hát…

Cám Ơn Em​

MỜI ĐỌC CÂU CHUYỆN CẢM ĐỘNG:

Tấm ảnh xao lòng và câu chuyện rất cảm động

Thưa bạn,

Tuần qua tôi nhận được tấm ảnh này, rồi sau đó nhận được câu chuyện dưới đây. Cả hai đều không thấy ghi tên tác giả và cả hai đều khiến tôi rất xúc động. Tôi nghĩ cần chia sẻ với nhiều người,

xin được gửi đến bạn…

Cám Ơn Em​

Tôi sinh ra tại một vùng quê hẻo lánh. Ngày qua ngày, cha mẹ tôi phải ra sức cày cấy trên mảnh ruộng khô cằn để nuôi hai chị em tôi ăn học.  Một ngày kia tôi lén ăn cắp mười lăm đồng trong ngăn kéo của cha để mua một chiếc khăn tay mà những đứa con gái trong làng đều có. Cha tôi phát hiện, ông lấy chiếc roi tre treo trên vách xuống, bắt hai chị em tôi quỳ trước mặt và hỏi rằng ai đã lấy cắp. Vì sợ hãi, tôi đã không dám dứng lên nhận lỗi. Cha tức giận định đánh cả hai chị em, ông đưa chiếc roi lên. Em níu tay cha lại và nói:
– Thưa cha, con trót dại…
Em nói loanh quanh, không giải thích được đã dùng số tiền ấy vào việc gì. Cha giận đến tái mặt nghĩ rằng em đã ăn chơi lêu lổng và quất liên hồi chiếc roi dài vào lưng em cho đến khi cha gần như không thở được nũa.  Đêm ấy, mẹ và tôi đã dỗ dành em. Nhìn thân hình đầy những lằn roi của em, tôi oà khóc. Em vội vàng nói:
– Chị ơi đừng khóc, kẻo cha nghe thấy cha sẽ đánh đòn chị đấy!

Năm ấy em vừa lên 8 và tôi 11 tuổi.
Năm em tôi được tuyển thẳng vào trường trung học thì tôi cũng trúng tuyển vào đại học. Chưa kịp vui với niềm mơ ước được chạm vào cánh cửa đại học thì tôi đã đối diện với nỗi lo lắng về học phí. Cha mẹ tôi không đủ tiền để cho hai chị em ăn học cùng một lúc. Em tôi quyết định bỏ học nhưng cha mẹ và cả tôi đều không đồng ý. Tôi nói:
– Em cần phải tiếp tục đi học để tìm cách thoát ra khỏi cảnh nghèo khó sau này. Chính chị mới là người không nên tiếp tục vào đại học.

Nhưng em đã bỏ nhà ra đi với vài bộ quần áo cũ và một ít muối mè trong chiếc túi sách nhỏ. Em đã lén đến bên giường tôi và để lại một mảnh giấy nhỏ bên gối tôi với lời nhắn nhủ: “Chị ơi, được vào đại học không phải là điều dễ dàng. Em sẽ tìm việc làm để gởi tiền về cho chị.”.
Tôi trào nước mắt, chẳng nói lên lời.  Năm ấy em mới 17 và tôi tròn 20.

Với số tiền ba tôi vay được trong làng cộng với số tiền gởi về của em, cuối cùng tôi cũng học xong năm thứ 3 đại học. Một hôm đang ngồi học trong phòng, một đứa bạn chạy vào gọi tôi và nói:
– Có người cùng làng đợi cậu ngoài kia.
Tôi chạy ra và thấy em đứng từ xa, quần áo lấm lem dầu nhớt. Tôi hỏi em:
– Sao em không nói với bạn của chị, em là em trai chị chứ?
Em cười đáp lại:
-Em sợ mọi người sẽ cười chị khi nhìn thấy bộ dạng nhếch nhác của em.
Tôi lặng người, nước mắt tuôn trào.
Em mỉm cười, đôi mắt ánh lên lấp lánh. Em đưa tay vào túi áo lấy ra một chiếc kẹp tóc hình con bướm và nói:
– Em thấy mọi cô gái đều cài nó trên tóc, vì thế em mua tặng chị!
Tôi không kìm được niềm xúc động, ôm chầm lấy em nức nở. Năm ấy tôi đã 23 và em mới 20.

Khi lần đầu tôi đưa bạn trai về nhà ra mắt cha mẹ, mọi thứ trong nhà đều rất sạch sẽ và ngăn nắp, ngay cả miếng cửa sổ bị bể cũng đã được lắp lại. Mẹ cho tôi biết trong khi dọn dẹp và thay khung cửa sổ, em đã bị miếng kính đâm vào tay chảy máu.
Tôi chạy vào tìm em. Nhìn vết thương trên tay em, tôi cảm thấy như có hàng ngàn mũi kim đâm vào tim mình. Tôi lấy thuốc và bông băng để băng lại vết thương cho em. Em cười:
– Em không muốn anh ấy chê nhà mình nghèo khổ!
Năm ấy em 23 và tôi 26.

Sau khi lập gia đình, tôi về sống với chồng ở thành phố. Vài năm sau, chồng tôi trở thành giám đốc của một xí nghiệp. Vợ chồng tôi muốn đưa em vào làm nhưng em từ chối vì sợ mọi người sẽ xì xầm bàn tán những lời không hay về chồng tôi.
30 tuổi, em lập gia đình với một cô gái trong thôn.
Năm tôi 40, cuộc hôn nhân tưởng chừng như mỹ mãn của tôi bị đỏ vỡ vì sự xuất hiện của một người đàn bà khác. Em vứt hết chuyện gia đình đến chăm lo cho các con tôi, vực tôi dậy sau những đắng cay nghiệt ngã. Rồi một ngày cả hai chúng tôi đều già nua, tóc bạc gần hết mái đầu. Em ngồi bên tôi nhắc lại chuyện xưa: Ngày ấy, chị em tôi mỗi ngày phải lội bộ hơn hai tiếng mới có thể đến trường. Một hôm, em làm mất chiếc giày. Một phần sợ cha đánh em, một phần biết mẹ không có tiền mua giày mới, tôi đã nhường cho em đôi giày của mình. Và cứ thế, mỗi ngày hơn bốn tiếng đi-về, chân tôi phồng rộp lên và rướm máu vì những viên đá nhọn trên mặt đường nóng bỏng. Từ đó em hứa với lòng phải chăm sóc và đối xử với tôi thật tốt.
Nước mắt tôi chợt ứa ra vì hạnh phúc. Năm ấy em chỉ vừa lên 5 !

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

HÀNH TRANG NGƯỜI MÔN ĐỆ

HÀNH TRANG NGƯỜI MÔN ĐỆ

TGM Ngô Quang Kiệt

Ai đi xa cũng phải chuẩn bị hành trang.  Chuyến đi càng xa thì hành trang càng nhiều.  Chuyến đi càng quan trọng thì hành trang càng phải chọn lựa, tính toán.  Hôm nay Đức Giêsu sai các môn đệ đi một chuyến quan trọng: tiếp nối sứ mạng của Người đem Tin Mừng đến khắp các làng mạc xa xôi.  Để chuẩn bị cho chuyến đi quan trọng này, Đức Giêsu đã giúp các môn đệ sắp xếp hành trang.  Sau khi đã loại bỏ những loại hành trang cồng kềnh không cần thiết, có hại cho nhiệm vụ, Đức Giêsu đã trao cho các môn đệ những hành trang thực sự cần thiết và hữu ích cho sứ vụ Tông đồ.

Hành trang của người môn đệ là sự gắn bó mật thiết với Đức Giêsu. Các môn đệ chỉ được sai đi sau khi đã có một thời gian sống bên cạnh Người.  Thời gian sống bên Đức Giêsu cần thiết để các môn đệ hiểu biết, cảm thông và nhất là yêu mến, gắn bó mật thiết với Người.  Đây chính là hành trang quan trọng nhất.  Người được sai đi phải gắn bó mật thiết với Đấng đã sai mình.  Sự gắn bó mật thiết là nguồn mạch, bảo đảm tính trung thực, là chìa khoá thành công của sứ vụ.  Đức Giêsu đã nêu gương về điểm này khi luôn gắn bó mật thiết với Đức Chúa Cha, Đấng đã sai Người.  Sự gắn bó ấy giúp Người hoàn toàn kết hiệp với Đức Chúa Cha, trở nên một lòng một ý với Đức Chúa Cha, luôn cầu nguyện, luôn từ bỏ ý riêng để làm theo ý Chúa Cha.  Chính vì thế, sứ vụ của Người đã thành công tốt đẹp.

Hành trang của người môn đệ là tâm hồn đơn sơ phó thác. Khi chỉ thị cho các môn đệ: “không được mang gì khi đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền giắt lưng; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo”, Đức Giêsu muốn các ông sống trong cảnh nghèo khó để hoàn toàn tin tưởng phó thác vào Chúa.  Tiền của, tiện nghi vật chất dễ tạo ra một thứ an tâm giả tạo, dẫn con người đến chỗ tự mãn, tự kiêu, tự phụ cho rằng mọi thành công là nhờ tài sức riêng mình.  Vì thế, dễ tha hoá, làm theo ý mình hơn là làm theo ý Chúa, sắp đặt chương trình cho Chúa hơn là tìm thực hiện chương trình của Chúa.  Nghèo khó sẽ giúp người môn đệ ý thức sự nghèo nàn thiếu thốn, sự yếu ớt của mình, ý thức đó sẽ giúp người môn đệ biết khiêm nhường, tin tưởng phó thác cho Chúa.  Tôi chỉ là hư vô, là cát bụi.  Mọi thành công đều của Chúa, nhờ Chúa.  Những thành công do tài sức con người sẽ mau tàn.  Chỉ có công trình của Chúa mới bền vững.  Vì thế đơn sơ phó thác là một hành trang rất cần thiết cho người môn đệ.  Không mang theo gì của loài người, chỉ mang theo niềm tin yêu phó thác vào Thiên Chúa, đó chính là mang theo tất cả.

Hành trang của người môn đệ là tình liên đới. Đức Giêsu không sai các môn đệ đi riêng lẻ, nhưng sai từng hai người một.  Người biết khả năng con người yếu kém, cần có tập thể nâng đỡ mới hoàn thành sứ mạng.  Lời chứng của một cá nhân chưa đủ sức thuyết phục.  Cần có sự đồng tâm nhất trí của một tập thể lời chứng mới thực sự đáng tin.  Hơn nữa, Đức Giêsu không sai các môn đệ đi làm việc với giấy tờ hay đất đai, nhưng sai các ngài đến với con người.  Các ngài phải sống giữa mọi người, nhờ mọi người giúp đỡ, chia sẻ cuộc sống với họ.  Phải liên đới với con người.  Tình liên đới không những cần thiết để giúp các ngài làm việc tông đồ một cách hữu hiệu.  Chính qua tình liên đới mà Tin Mừng dễ dàng được đón nhận.

Hành trang của người môn đệ là trái tim biết cảm thương.  Đức Giêsu sai các môn đệ đến với những người đau yếu bệnh tật, hoang đàng tội lỗi, bị quỷ ma hành hạ.  Tức là đến với những người kém may mắn ở đời.  Những người nghèo hèn yếu đuối. Những người bị xã hội bỏ quên.  Để đến với những người anh em bé nhỏ, người môn đệ phải có trái tim biết cảm thương.  Các ngài phải mang trái tim của Thiên Chúa luôn chạnh lòng thương khi nhìn thấy đám đông bơ vơ tất tưởi, túng thiếu, đói khát.  Phải sẵn sàng băng rừng vượt suối đi tìm một con chiên lạc.  Phải mở rộng vòng tay đón nhận đứa con hoang đàng trở về.  Phải sẵn sàng tha thứ cho kẻ tội lỗi thật lòng hối cải ăn năn.

Mỗi người chúng ta đều là môn đệ của Chúa.  Khi chúng ta lãnh nhận phép Rửa tội và Thêm sức, Chúa sai chúng ta đi rao giảng Tin Mừng của Người.  Tôi thấy anh chị em ở Giáo xứ Cửa Nam rất tích cực trong việc tông đồ.  Nhưng có lẽ anh chị em vẫn băn khoăn, không biết làm sao để việc tông đồ có kết quả tốt đẹp.  Hôm nay, Đức Giêsu cho ta biết, muốn việc tông đồ có kết quả, ta phải gắn bó mật thiết với Chúa, phó thác mọi sự cho Chúa, đồng thời phải có tình liên đới và nhất là phải biết cảm thương anh chị em đồng loại.  Một tay nắm lấy tay Chúa, một tay nắm lấy tay anh em.  Một tình yêu anh chị em trong tình yêu mến Chúa.  Liên kết mọi người trong tình yêu mến.  Với tình yêu mến, chắc chắn việc tông đồ của ta sẽ đi đúng đường hướng của Chúa.  Với tình yêu mến, chắc chắn việc tông đồ sẽ có kết quả tốt đẹp.

TGM Ngô Quang Kiệt

Tổng Thống Obama nhắc ông Trọng nhân quyền, hứa thăm Việt Nam

Tổng Thống Obama nhắc ông Trọng nhân quyền, hứa thăm Việt Nam

Nguoi-viet.com


WASHINGTON, DC (NV) Tổng Thống Barack Obama hôm Thứ Ba, 7 Tháng Bảy, đã tiếp ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng CSVN, trong Phòng Bầu Dục của Tòa Bạch Ốc, và nói về sự hợp tác sâu rộng về sức khỏe, khí hậu và nhiều lãnh vực khác, mặc dù hai quốc gia có khác nhau về “quan điểm chính trị.” Nhân dịp này, ông Obama và ông Trọng cũng bàn về Biển Ðông, và nhà lãnh đạo Hoa Kỳ cũng nhắc nhở ông Trọng vấn đề nhân quyền, cũng như nhận lời của ông Trọng đến viếng thăm Việt Nam trong thời gian sớm nhất.


Ðồng hương Việt Nam biểu tình trước Tòa Bạch Ốc chống ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng CSVN. (Hình: Mladen Antonov/AFP/Getty Images)

Mặc dù không giữ một vai trò nào chính thức trong chính quyền, trên thực tế, ông Trọng lại là nhân vật lãnh đạo số một tại Việt Nam, và đây là lần đầu tiên một tổng bí thư đảng CSVN được tiếp trong Tòa Bạch Ốc.

Cuộc gặp gỡ giữa ông Trọng và ông Obama còn có sự hiện diện của Phó Tổng Thống Joe Biden.

Theo thông cáo báo chí của Tòa Bạch Ốc, hai nhà lãnh đạo thảo luận sâu rộng về hợp tác song phương trong các lãnh vực khoa học, kỹ thuật, thay đổi khí hậu, y tế công cộng, và an ninh.

Tổng Thống Obama được trích lời nói: “Việt Nam là một ‘đối tác rất xây dựng’ trong các lãnh vực này.”

Nhân quyền

Tuy nhiên, Tổng Thống Barack Obama cũng “thảo luận thẳng thắn một số vấn đề Mỹ quan tâm, ví dụ như nhân quyền và tự do tôn giáo,” theo bản thông cáo.

Hôm Thứ Hai, 6 Tháng Bảy, ngay lúc ông Trọng đặt chân xuống phi trường quân sự Andrews ở Maryland bắt đầu thăm chính thức Hoa Kỳ, chín dân biểu Mỹ, năm người thuộc đảng Cộng Hòa và bốn người thuộc đảng Dân Chủ, đã gởi thư cho Tổng Thống Barack Obama yêu cầu ông nhắc ông Nguyễn Phú Trọng lắng nghe người dân, thả tù chính trị.

Các dân biểu Hoa Kỳ cáo buộc hệ thống độc tài độc đảng của đảng CSVN hiện nay là nguyên nhân của tình trạng nhân quyền tồi tệ tại Việt Nam. Các dân biểu cũng đề nghị Hoa Kỳ cần gởi một thông điệp rõ rệt tới những người đang cầm quyền ở Hà Nội rằng tôn trọng nhân quyền là yếu tố cần thiết để thắt chặt hơn mối quan hệ kinh tế và an ninh.

Nội dung bức thư cũng đề cập việc hoan nghênh mối quan hệ chặt chẽ hơn với người dân Việt Nam, và ghi nhận tiềm năng kinh tế và an ninh của đất nước này. Do đó, Mỹ cũng nên xem vấn đề nhân quyền là tối quan trọng và đưa lên hàng đầu trong quan hệ song phương.

Chín dân biểu này viết: “Trong khi danh sách các blogger và tù nhân lương tâm Việt Nam bị bắt giữ ngày càng gia tăng, điều quan trọng hơn bao giờ hết là Hoa Kỳ cần gởi một thông điệp rõ rệt tới giới chức trách Hà Nội rằng tôn trọng nhân quyền là yếu tố cần thiết để thắt chặt hơn mối quan hệ kinh tế và an ninh.”

Các vị dân biểu cũng mạnh mẽ kêu gọi Tổng Thống Obama đòi hỏi ông Trọng phải thả ngay lập tức những nhà báo công dân, nhà hoạt động nhân quyền tiêu biểu như Hồ Ðức Hòa, Ðặng Xuân Diệu, Nguyễn Ðặng Minh Mẫn, Tạ Phong Tần, Trần Huỳnh Duy Thức, Ngô Hào, Trần Thị Thúy, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Mục Sư Nguyễn Công Chính và Linh Mục Nguyễn Văn Lý.


Ông Nguyễn Phú Trọng (trái) nói chuyện với ông Barack Obama trong Tòa Bạch Ốc. (Hình: Saul Loeb/AFP/Getty Images)

Trong khi đó, đông đảo đồng hương Việt Nam có mặt trước Tòa Bạch Ốc để biểu tình phản đối ông Nguyễn Phú Trọng hôm Thứ Ba.

Ngay từ 8 giờ sáng, nhiều người đã tập trung tại công viên Lafayette trên đại lộ Pennsylvania, đối diện Tòa Bạch Ốc, hô to các khẩu hiệu “Ðả đảo Cộng Sản Việt Nam,” “Nhân quyền cho Việt Nam,” “Nguyễn Phú Trọng phải thả tù nhân lương tâm,” vân vân.

Người biểu tình từ nhiều nơi đổ về, từ California, Florida, Texas, Louisiana, Georgia, New Hampshire… và thậm chí từ Canada.

Họ cũng mang theo nhiều biểu ngữ mang những hàng chữ phản đối người đứng đầu đảng CSVN và yêu cầu Việt Nam tôn trọng nhân quyền.

Người biểu tình cũng mang hình một số nhà bất đồng chính kiến đang bị giam giữ tại Việt Nam.

Theo dự trù, ông Trọng đến Tòa Bạch Ốc vào lúc 10 giờ 30 phút sáng, và gặp hai nhà lãnh đạo Hoa Kỳ vào lúc 11 giờ 10 phút.

Tuy nhiên, cho đến 11 giờ 30 phút, người biểu tình không thấy đoàn xe chở ông Trọng đi vào cổng trước của Tòa Bạch Ốc.

Sau đó, người biểu tình tuần hành một cách ôn hòa, theo vòng tròn, ngay trên đại lộ Pennsylvania, giữa Tòa Bạch Ốc và công viên Lafayette.

Thảo luận song phương

Trở lại bên trong Tòa Bạch Ốc, trong lời phát biểu của mình trước ông Trọng, ông Obama nhắc lại rằng Hiệp Ước Ðối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) có “nhiều khả năng đẩy mạnh trao đổi hàng hóa tiêu chuẩn cao trong đó có tiêu chuẩn lao động, tiêu chuẩn bảo vệ môi trường, và có thể tạo ra một thị trường lao động tăng trưởng mạnh và giàu có cho cả người Việt Nam lẫn người Mỹ.”

Ông Obama cũng nhấn mạnh “tầm quan trọng trong việc giải quyết xung đột trên Biển Ðông và vùng Châu Á Thái Bình Dương một cách phù hợp với luật quốc tế” để bảo đảm “sự thịnh vượng và tự do hàng hải.”

Trong lời kết, nhà lãnh đạo Hoa Kỳ nói: “Tôi chắc chắn mong đợi có dịp đến thăm đất nước xinh đẹp của ông một lúc nào đó trong tương lai.”

Trong phần đáp từ, ông Trọng nói, qua một thông dịch viên, rằng cách đây 20 năm, ít người có thể tưởng tượng có một cuộc gặp gỡ giữa tổng thống Mỹ và tổng bí thư đảng CSVN, theo thông cáo của Tòa Bạch Ốc. Ông Trọng cho rằng cuộc gặp gỡ này là “xây dựng và thẳng thắn,” và nói thêm rằng Hoa Kỳ và Việt Nam đã chuyển từ cựu thù thành bạn và đối tác, thể hiện sự “ủng hộ toàn diện hai dân tộc của hai quốc gia.”

Ông Trọng cũng nói rằng, hai nhà lãnh đạo đồng ý tiếp tục đẩy mạnh quan hệ Việt-Mỹ tiến triển hơn nữa trong “tất cả mọi mặt từ chính trị, hợp tác ngoại giao, cho tới trao đổi thương mại và đầu tư, giáo dục và huấn luyện, môi trường, sức khỏe, đáp ứng thay đổi khí hậu, hợp tác an ninh và quốc phòng, cũng như hợp tác mạnh mẽ hơn tại các diễn đàn khu vực và quốc tế,” theo bản thông cáo.


Phó Tổng Thống Joe Biden (phải) cụng ly với Tổng Bí Thư Ðảng CSVN Nguyễn Phú Trọng tại buổi ăn trưa ở Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. (Hình: Brendan Smialowski/AFP/Getty Images)

Thông cáo cho biết thêm, ông Trọng cũng nói rằng, “với một phong cách rất xây dựng, chúng tôi đã thảo luận về những khác biệt,” qua đề tài TPP và nhân quyền.

Ngoài các đề tài trên, ông Obama và ông Trọng cũng thảo luận và chia sẻ quan điểm về “những sự kiện mới xảy ra trên Biển Ðông và cùng nhau chia sẻ những quan tâm về các hoạt động không phù hợp với luật pháp quốc tế có thể làm cho tình hình phức tạp thêm,” cũng theo bản thông cáo.

Bản thông cáo cho biết, ông Trọng có nhắc lại lời mời tổng thống Hoa Kỳ đến thăm Việt Nam và nói: “Tôi rất vui khi tổng thống vui vẻ chấp nhận lời mời.”

Thông cáo chung

Ngay sau cuộc gặp gỡ lịch sử giữa tổng thống Hoa Kỳ và tổng bí thư đảng CSVN ở Phòng Bầu Dục, hai bên đã đưa ra một thông cáo chung, đề cập đến mở rộng quan hệ đối tác song phương, gia tăng hợp tác trong các vấn đề khu vực và quốc tế, và cho biết hai bên đạt một số thỏa thuận về TPP.

Sau đây là một số thỏa thuận để làm nền tảng cho sự hợp tác song phương trong tương lai:

-Mỹ và Việt Nam đồng ý tránh đánh thuế hàng hóa hai lần và tránh tình trạng trốn thuế, và tôn trọng thuế thu nhập của mỗi bên.

-Thực hiện một bản ghi nhớ giữa Bộ Quốc Phòng Mỹ và Bộ Quốc Phòng Việt Nam về việc tham gia gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc.

-Thực hiện bản ghi nhớ giữa Cơ Quan Phát Triển Quốc Tế Hoa Kỳ (USAID) và Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam liên quan đến chương trình ngăn chặn bệnh dịch lây lan để bảo đảm sức khỏe toàn cầu.

-Dự Án Kỹ Thuật và An Toàn Hàng Không Việt Nam giữa Cơ Quan Phát Triển và Thương Mại Hoa Kỳ với Cục Hàng Không Việt Nam; và

-Việt Nam đồng ý để Mỹ mở đại học Fulbright University Vietnam.

Theo AP, sau 20 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia cựu thù, Hoa Kỳ đang rất muốn cải thiện thêm nữa quan hệ với Việt Nam.

Các giới chức Hoa Kỳ tin rằng, Việt Nam sẽ đóng một vai trò quan trọng trong chính sách xoay trục sang Châu Á của Tổng Thống Barack Obama, nhất là khi Trung Quốc ngày càng có tham vọng kiểm soát Biển Ðông, nơi có số hàng hóa trị giá $5,000 tỉ qua lại mỗi năm, cũng theo AP.

Hai tổng thống Bill Clinton và George W. Bush từng đến thăm Việt Nam trước đây, trong nhiệm kỳ thứ hai của họ, sau khi Hoa Kỳ và Việt Nam nối lại bang giao.

Sau cuộc gặp gỡ ở Tòa Bạch Ốc, ông Nguyễn Phú Trọng đã sang Bộ Ngoại Giao dùng cơm trưa do Phó Tổng Thống Joe Biden khoản đãi và đọc một bài diễn văn tại đây.

Hôm Thứ Hai, ngay sau khi đáp xuống phi trường quân sự Andrews, ông Nguyễn Phú Trọng đã chứng kiến lễ bàn giao chiếc máy bay Boeing 787 Dreamliner đầu tiên cho Vietnam Airlines tại phi trường National Ronald Reagan và thăm đài tưởng niệm Thomas Jefferson ở Washington, DC. (Ð.D.)

Bài giảng của Đức Thánh Cha trong thánh lễ hơn một triệu người tại thành phố Guayaquil.& Đức Giáo Hoàng rửa chân cho 12 tù nhân, một nửa là phụ nữ tại nhà tù Rebibbia

Bài giảng của Đức Thánh Cha trong thánh lễ hơn một triệu người tại thành phố Guayaquil.

httpv://www.youtube.com/watch?v=WCjYY-17Muw

Đức Giáo Hoàng rửa chân cho 12 tù nhân, một nửa là phụ nữ tại nhà tù Rebibbia

httpv://www.youtube.com/watch?v=SoIMaOgr_1Q

Kinh tế thị trường và sứ mạng của Tổng Bí thư

Kinh tế thị trường và sứ mạng của Tổng Bí thư

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-07-08

07082015-mrkt-on-sidel-of-nptrong-trip.mp3

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu trước bữa ăn với Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vào ngày 07 Tháng Bảy 2015 tại Washington, DC

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu trước bữa ăn với Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vào ngày 07 Tháng Bảy 2015 tại Washington, DC

AFP

Bên lề chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, phía Việt Nam mong muốn sớm được Hoa Kỳ công nhận là nền kinh tế thị trường.

Gần 40 quốc gia đã công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường trong đó có Nhật Bản và Úc. Tuy nhiên cho đến nay các nước EU và Hoa Kỳ vẫn cho là Việt Nam chưa đáp ứng các điều kiện để được công nhận là nền kinh tế thị trường.

Kinh tế quốc doanh không thể là kinh tế thị trường

Tháp tùng phái đoàn Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng viếng thăm Hoa Kỳ, ông Hoàng Bình Quân Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương có bài phổ biến trên Washington Post với lời kêu gọi Hoa Kỳ công nhận quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam. Tiếng nói đối ngoại của Trung ương Đảng biện luận rằng, nền kinh tế Việt Nam cởi mở không kém một số quốc gia Âu Châu và đối với những lĩnh vực gọi là còn vấn đề, Việt Nam vẫn đang nỗ lực để có được những cải cách cần thiết.

TS Vũ Quang Việt, chuyên gia kinh tế từng nhiều năm làm việc cho  Liên Hiệp Quốc từ New York nhấn mạnh tới điểm cốt lõi mà theo ông đã khiến nền kinh tế Việt Nam không thể xem là kinh tế thị trường.

“ Việt Nam ngay cả trong Hiến pháp và các văn bản quyết định khác đều coi kinh tế quốc doanh là chủ đạo. Nếu quốc doanh chủ đạo thì có nghĩa là nó được hưởng rất nhiều ưu tiên. Cái đó là một trong 5 lý do mà người ta không chấp nhận kinh tế Việt Nam là kinh tế thị trường. Với chế độ cộng sản và với nền kinh tế họ coi là quốc doanh chủ đạo thì như vậy họ sẽ làm lợi nhất cho những người ở trong Đảng và những người cầm quyền, đặc biệt việc sử dụng đất đai…họ sẽ tạo ra những cơ sở để cho đảng viên những người liện quan đến Đảng, liên quan đến chính quyền được hưởng lợi ích và giới tư nhân khó lòng mà cạnh tranh lại những người đang nắm quyền…  ”

Thông thường, 5 điều kiện để các quốc gia được công nhận là nền kinh tế thị trường bao gồm sự minh bạch trong môi trường đầu tư kinh doanh, tuân thủ pháp luật đề ra, tiền tệ ổn định, đối xử công bằng giữa các khu vực doanh nghiệp, không phân biệt doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp tư nhân hay doanh nghiệp nước ngoài và sau cùng là trong hoạt động kinh tế không có các khoản chi không chính thức.

” Việt Nam ngay cả trong Hiến pháp và các văn bản quyết định khác đều coi kinh tế quốc doanh là chủ đạo. Nếu quốc doanh chủ đạo thì có nghĩa là nó được hưởng rất nhiều ưu tiên. Cái đó là một trong 5 lý do mà người ta không chấp nhận kinh tế Việt Nam là kinh tế thị trường.

TS Vũ Quang Việt”

Trả lời chúng tôi từ Hà Nội, TS Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương nhận xét về việc các nước EU và Hoa Kỳ vẫn còn chưa nhìn nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường trên thực tế. Theo ông, tiêu chuẩn về kinh tế thị trường của các nước EU và Hoa Kỳ tuy có khác biệt nhưng có thể tóm tắt:

“Tinh thần chung nó liên quan đến hoạt động phản ánh qua giá cả thị trường như thị trường đất đai, thị trường lao động, các vấn đề tỷ giá. Ngoài ra còn có câu chuyện doanh nghiệp nhà nước…Nếu nhìn tổng thể tôi cho rằng tính chất thị trường của kinh tế Việt Nam ngày một rõ hơn, rõ nhất nó thể hiện qua việc hội nhập của Việt Nam gắn với các hiệp định thương mại tự do và sắp tới có thể là Hiệp đinh thương mại tự do Việt Nam – EU và TPP Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương. Bởi vì bản chất những hiệp định này gắn với tự do hóa rất là kinh tế thị trường. Cho nên tôi nghĩ rằng nếu EU và Hoa Kỳ nhìn nhận kinh tế thị trường Việt Nam thì nó cũng phản ánh cái giá trị cải cách ở Việt Nam và đặc biệt như tôi nói là hội nhập. Thế còn gọi là bắt bẻ trong ngoặc kép 100% kinh tế thị trường hoàn hảo thì tất nhiên người ta cũng có điều này điều kia chưa thỏa mãn. Nhưng cũng phải nói luôn là những nền kinh tế gọi là thị trường thì cũng không phải là 100% thị trường tất cả.”

Được công nhận là nền kinh tế thị trường là điều kiện thuận lợi để các quốc gia phát triển kinh tế, tham gia các hiệp định thương mại tự do, gia tăng buôn bán và tránh bị xử ép khi có tranh chấp thương mại hay tranh tụng về chống bán phá giá.

Thể chế chính trị và kinh tế thị trường

Theo TS Vũ Quang Việt, sự kiện Việt Nam xác định theo kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không có nghĩa là Việt Nam không thể trở thành một nền kinh tế thị trường được quốc tế nhìn nhận. Điều quan trọng theo TS Việt, nền kinh tế Việt Nam cần được cải tổ đáp ứng các tiêu chuẩn chung về kinh tế thị trường. TS Vũ Quang Việt tiếp lời:

“Tôi nghĩ là câu chữ nó vô nghĩa, vì nước nào cũng vậy họ có chính sách đối với việc bảo vệ thành lập nghiệp đoàn, bảo vệ lương tối thiểu đối với tiền hưu trí … cho đến trợ cấp xã hội, ngay những nước tư bản đều có vấn đề như vậy hết, nếu Việt Nam có làm như vậy cũng là chuyện bình thường. Nếu Việt Nam cấm nghiệp đoàn, đây là điểm tôi chưa rõ TPP có đòi hỏi là Việt Nam mở rộng cạnh tranh các nghiệp đoàn, người ta muốn vào nghiệp đoàn nào cũng được hay người ta chỉ được vào nghiệp đoàn của nhà nước. Vấn đề Việt Nam chỉ cho phép một loại nghiệp đoàn thôi thì cũng là hình thức không kinh tế thị trường.”

” Việc công nhận kinh tế thị trường Việt Nam nó không hoàn toàn, không nhắm tới việc phải thay đổi về chế độ chính trị. Nhưng điều này rất rõ, Việt Nam thẳng thắn nói rằng VN cần cải cách mạnh mẽ cả về mặt kinh tế lẫn chính trị. Ví dụ sự sửa đổi Hiến pháp, ví dụ cách thức đẩy mạnh vai trò và tiếng nói của Quốc hội VN…thì đấy cũng là quá trình cải cách chính trị của VN.

TS Võ Trí Thành”

Nếu như Việt nam cải cách tích cực và nghiêm chỉnh để được phương tây công nhận là nền kinh tế thị trường thì có ảnh hưởng hay dẫn đến thay đổi thể chế chính trị và đây có phải là một mối quan ngại hay không. TS Võ Trí Thành giải đáp câu hỏi này:

“ Việc công nhận kinh tế thị trường Việt Nam nó không hoàn toàn, không nhắm tới việc phải thay đổi về chế độ chính trị. Nhưng điều này rất rõ, Việt Nam thẳng thắn nói rằng Việt Nam cần cải cách mạnh mẽ cả về mặt kinh tế lẫn chính trị. Ví dụ sự sửa đổi Hiến pháp, ví dụ cách thức đẩy mạnh vai trò và tiếng nói của Quốc hội Việt Nam…thì đấy cũng là quá trình cải cách chính trị của Việt Nam. Mặc dù có thể chế độ chính trị vẫn là ổn định và giữ tư cách gọi là chế độ một đảng.”

Theo TS Võ Trí Thành, kinh tế thị trường đem lại ý nghĩa rất là cụ thể nhưng cũng có ý nghĩa hình tượng tích cực. Thí dụ việc công nhận kinh tế thị trường Việt Nam có thể làm giảm thiệt hại trong những vụ kiện chống bán phá giá, bởi vì nếu là nền kinh tế phi thị trường thì người ta có thế áp đặt một nước thứ ba để lấy giá so sánh mà có thể không công bằng, việc này đã nhiều lần xảy ra. Ngoài ra nếu được công nhận là nền kinh tế thị trường thì cũng là điều thuận lợi cho Việt Nam trong vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài.

Trong câu chuyện với chúng tôi, TS Vũ Quang Việt người từng là chuyên gia Liên Hiệp Quốc về tài khoản thống kê nói rằng, nếu như Việt Nam hoàn tất đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương TPP với Hoa Kỳ và với các nước thành viên khác thì sẽ rất gần với việc được công nhận là nền kinh tế thị trường. Nhưng điều này còn tùy thuộc vào các điều kiện mà TPP đặt ra và kết cục là Việt Nam có đáp ứng các điều kiện đó để được hưởng lợi về ưu đãi thuế quan xuất nhập khẩu hay không.

“Vì sao tôi đi lính?”: Câu chuyện của những quân nhân Mỹ gốc Việt.

“Vì sao tôi đi lính?”: Câu chuyện của những quân nhân Mỹ gốc Việt.

Hoà Ái, phóng viên RFA
2015-07-07

RFA

07062015-y-did-i-choo-mili-career.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Các quân nhân Mỹ gốc Việt trong 7 binh chủng của quân đội Hoa Kỳ

Các quân nhân Mỹ gốc Việt trong 7 binh chủng của quân đội Hoa Kỳ

Hội quân nhân Mỹ gốc Việt

Nhân dịp Hòa Ái được mời đến tham dự lễ hồi hưu của các sĩ quan Hải quân tại thành phố Hampton, tiểu bang Virginia, được gặp gỡ với rất nhiều quân nhân Mỹ gốc Việt. Hòa Ái cũng đã gặp gỡ một vài trong số họ để tìm hiểu vì sao họ quyết định trở thành những người lính và binh nghiệp là sự nghiệp của cuộc đời họ.

Trước tiên, Hòa Ái có dịp được nói chuyện với Binh nhất Jack Phan. Xin chào Jack Phan.

Binh nhất Jack Phan: Xin chào chị Hòa Ái.

Hòa Ái: Jack Phan cho Hòa Ái hỏi thăm hiện Jack Phan đang phục vụ trong binh ngũ nào và được bao lâu rồi?

Binh nhất Jack Phan: Thưa chị, em phục vụ trong Quân lực Hoa Kỳ, binh chủng Lục quân. Được 3 năm rồi.

Hòa Ái: Vì sao Jack Phan lại quyết định trở thành một người lính?

Binh nhất Jack Phan: Ông ngoại em tham gia vào Lục quân của VNCH trước đây cho nên em tham gia vào Lục quân của Hoa Kỳ như là một ước mơ. Khi em vào lính thì em được tham gia trong nhiều khóa huấn luyện, được nhiều quyền lợi như công việc, được cho đi học, được giúp đỡ về tài chính…Em rất cảm ơn Lục quân Hoa Kỳ cũng như nước Mỹ và ông ngoại em đã cho em tiếp bước con đường binh lực.

Hòa Ái: Từ khi giấc mơ manh nha trong đầu cho đến va chạm thực tế thì Jack Phan cảm thấy thế nào?

Binh nhất Jack Phan: Sau khi tham gia vào lính, trở thành một người lính thì em hoàn toàn trở thành một người khác so với con người mình trước đây cũng như những người đồng trang lứa với mình. Em trưởng thành hơn, chính chắn hơn. Em rất hãnh diện được vào lính cũng như đứng tại đây được gặp những người như chị và những người lính xung quanh mình. Cảm ơn chị.

Hòa Ái: Cảm ơn em rất nhiều. Thưa quý vị, bên cạnh Hòa Ái lúc này là Trung tá Bộ binh Paul Ưng. Mời quý vị cùng gặp gỡ với ông. Xin được chào Trung tá Paul Ưng.

Trung tá Bộ binh Paul Ưng: Chào em.

Hòa Ái: Xin hỏi Trung tá phục vụ trong quân đội bao nhiêu năm?

Trung tá Bộ binh Paul Ưng: Được 32 năm.

” Sau khi tham gia vào lính, trở thành một người lính thì em hoàn toàn trở thành một người khác so với con người mình trước đây cũng như những người đồng trang lứa với mình. Em trưởng thành hơn, chính chắn hơn

Binh nhất Jack Phan”

Hòa Ái: Hòa Ái rất hân hạnh được gặp gỡ và được nghe chia sẻ về dòng họ Ưng của ông là những công thần ngày xưa dưới Triều Nguyễn đã góp công mở mang bờ cõi của VN và thế hệ cha chú của ông cũng trong Quân lực VNCH. Có phải truyền thống gia đình mà ông cũng trở thành một người lính?

Trung tá Bộ binh Paul Ưng: Cũng đúng một phần là vì tôi lớn lên trong gia đình được biết ông cố, ông sơ hồi xưa là tướng của triều. Trong gia đình, cô, chú và ba của tôi cũng trong quân đội luôn. Một phần tôi đi lính cũng vì truyền thống gia đình.

Hòa Ái: Câu hỏi tò mò của Hòa Ái không biết ông đi lính một phần cũng vì sở thích phiêu lưu để thỏa chí tang bồng hay không?

Trung tá Bộ binh Paul Ưng: Đúng. Một phần tôi thích đi lính vì đi lính Quân đội của Mỹ thường chúng tôi đi rất nhiều nước. Chúng tôi đóng quân ở Đức, Đại Hàn, Nhật, Afghanistan, Iraq…Tôi thích đi nước này nước nọ để học hỏi những truyền thống cũng như phong tục của nước ngoài để hấp thụ lối sống của họ giúp mình hiểu biết hơn. Tôi rất thích du lịch.

Trung tá hải quân Tuấn Nguyễn (thứ 2 từ trái), trung tá hải quân Quốc Trần (thứ 4 từ trái)

Trung tá hải quân Tuấn Nguyễn (thứ 2 từ trái), trung tá hải quân Quốc Trần (thứ 4 từ trái) tại buổi lễ hồi hưu (Nguồn: Trung tá HQ Tuấn Nguyễn)

Hòa Ái: Có lẽ 32 năm trong quân đội ông đã đặt chân đến nhiều nơi và gặp gỡ rất nhiều người nhưng ngay giây phút này nếu nói về một kỷ niệm thú vị nhất thì là kỷ niệm nào, thưa ông?

” Một phần tôi thích đi lính vì đi lính Quân đội của Mỹ thường chúng tôi đi rất nhiều nước. Chúng tôi đóng quân ở Đức, Đại Hàn, Nhật, Afghanistan, Iraq…Tôi thích đi nước này nước nọ để học hỏi những truyền thống cũng như phong tục của nước

Trung tá Bộ binh Paul Ưng”

Trung tá Bộ binh Paul Ưng: Tôi có rất nhiều kỷ niệm nhưng điều tôi ngạn nhiên là hồi tôi đang ở Iraq đánh giặc thì được đi nghỉ phép. Lúc đó tôi về VN thăm gia đình. Khi đó trong hồ sơ tôi khai là Đại úy của sĩ quan Mỹ. Và khi gặp Hải quan (VN) thì họ hỏi tôi và tôi trả lời đang đánh giặc ở Iraq. Tôi ngạc nhiên là nhân viên Hải quan này gọi những người bạn, đồng nghiệp lại hỏi tôi đánh giặc thế nào. Tôi kể sơ lược cho họ nghe. Có vẻ Họ có vẻ rất thích nghe những chuyện này. Tôi rất ngạc nhiên!

Hòa Ái: Xin được cảm ơn chia sẻ của ông với quý thính giả.

Trung tá Bộ binh Paul Ưng: Cảm ơn em.

Hòa Ái: Và bây giờ mời quý vị cùng gặp gỡ với Trung tá Hải quân Quốc Trần. Xin phép được chào Trung tá Quốc Trần.

Trung tá Hải quân Quốc Trần: Thưa chào cô.

Hòa Ái: Hôm nay, Hòa Ái được đến tham dự buổi lễ giải ngũ của Trung tá và trong giây phút Trung tá nhận lá cờ Hoa Kỳ giải ngũ sau 30 năm phục vụ trong binh chủng Hải quân thì Trung ta có nhớ đến cảm giác của mình trong ngày đầu tiên nhập ngũ không dạ?

Trung tá Hải quân Quốc Trần: Thật không ngờ mình nhận được lá cờ đó. Cũng có nhớ đến lúc xưa mới vô mình còn trẻ cứ ngơ ngáo với tinh thần mở to mắt để cố gắng học hỏi. Lúc đó cái gì cũng lạ lẫm, mình hồi hộp dữ lắm.

Hòa Ái: Đã 30 năm phục vụ trong Hải quân, Trung tá chia sẻ vì sao trở thành người lính?

Trung tá Hải quân Quốc Trần: Ba của Quốc trong lính VNCH. Quốc nhìn thấy sự khổ cực của dân VN mình, qua đây có cơ hội được sống tự do. Lúc đó Quốc còn trẻ, thấy ba vô Bộ binh, anh cả vô Trường Không quân thì Quốc vô Hải quân.

” Lúc đó có nhiều cảm xúc lẫn lộn với nhiều ký ức trong đầu. Khi tàu chạy về sông Sài Gòn thì mình cứ tưởng tượng lúc đánh giặc khổ, dân mình cố thoát ra khõi hoàn cảnh sống đó

Trung tá Hải quân Quốc Trần”

Hòa Ái: Thưa Trung tá, đã 30 năm qua, ông nhận thấy đã thực hiện trọn vẹn giấc mơ trở thành người lính của mình?

Trung tá Hải quân Quốc Trần: Giấc mơ này được thành hiện thực cũng vui. Điều vui nhất là mình phụ được những người mình hướng dẫn. Vài năm sau mình thấy người đó tiến bộ được xuất sắc.

Hòa Ái: Hòa Ái cũng được biết vào năm 2005, Trung tá là quân nhân Mỹ gốc Việt đầu tiên với vai trò Hạm phó trên chiếc tàu đầu tiên của Hoa Kỳ cập cảng Sài Gòn sau chiến tranh VN, cảm giác của Trung tá khi đó ra sao?

Trung tá Hải quân Quốc Trần: Lúc đó có nhiều cảm xúc lẫn lộn với nhiều ký ức trong đầu. Khi tàu chạy về sông Sài Gòn thì mình cứ tưởng tượng lúc đánh giặc khổ, dân mình cố thoát ra khõi hoàn cảnh sống đó. Đổi qua, đổi lại…Bây giờ mình trở về, mọi sự được bình an. Trở về VN, mình chia sẻ với người dân VN biết tự do nghĩa là gì.

Hòa Ái: Xin được cảm ơn chia sẻ của Trung tá hôm nay.

Vừa rồi là chia sẻ của các quân nhân Mỹ gốc Việt vì sao họ trở thành người lính. Với mục đích chọn lựa binh nghiệp là sự nghiệp của cuộc đời họ tuy có khác nhau, xuất phát điểm có khác nhau nhưng họ có cùng một điểm chung lý tưởng phục vụ Tổ quốc Hoa Kỳ để tri ân quốc gia này đã giang tay đón họ về, những người tị nạn VN, đã tạo cho họ có cuộc sống mới cũng như cho họ cơ hội trở thành những công dân danh dự góp bàn tay bảo vệ nền tự do dân chủ không chỉ ở Hoa Kỳ mà trên toàn thế giới.

Hòa Ái tường trình từ thành phố Hampton, tiểu bang Virginia.

TẠI SAO GIÁO HỘI CẦN PHẢI KHÓ NGHÈO ĐỂ RAO GIẢNG TIN MỪNG CÁCH THUYẾT PHỤC HƠN ?

TẠI SAO GIÁO  HỘI CẦN PHẢI KHÓ NGHÈO ĐỂ RAO GIẢNG TIN MỪNG CÁCH THUYẾT PHỤC  HƠN ?

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Khó nghèo là một bất hạnh lớn cho con người, xét theo khôn ngoan của người đời; là những người chỉ  biết quí trọng giầu sang về vật chất,và chỉ đi tìm danh lợi chóng qua ở đời này, nên khinh thường mọi giá tri tinh thần trong đó có giá trị của sự khó nghèo nội tâm.  Nhưng với người có niềm tin Thiên Chúa, tin có sự giầu sang vĩnh cửu trên Nước Trời, thì khó nghèo lại là một nhân đức cần  phải có để xứng đáng là những môn đệ lớn nhỏ của Chúa Kitô, Đấng đã thực sự sống khó nghèo từ khi sinh ra  trong hàng bò lừa cho đến khi chết trần trụi trên thập giá.

Thế giới ngày nay đang chìm đắm trong đam  mê  về tiền bạc và của cải vật chất,tôn thờ khoái lạc ( hedonism) khiến dửng dưng – hay lãnh cảm ( numb, insensitive) trước sự đau khổ, nghèo đói của biết bao triệu người là nạn nhân của bóc lột và bất công xã hội đầy rẫy ở khắp nơi trong thế giới tôn thờ vật chất, tục hóa  và suy thoái thê thảm về luân lý, đạo đức và lòng  nhân đạo..

Đức Thánh Cha Phanxicô, trong một diễn từ mới đây, đã thẳng thắn nói rõ là thế giới hiện nay đang sống với thảm trạng  “ tôn thờ tiền bạc ( cult of money ) và dửng  dưng với bao triệu người nghèo đói ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các quốc gia Phi Châu.

Không nói gì đến các nước vốn nghèo sẵn ở Á và Phi Châu, ngay ở Hoa Kỳ là nước được coi là giầu có nhất nhì thế giới mà cũng có biết bao người vô gia cư ( homeless) nghèo  đói, sống vất vưởng trên  hè phố ở các đô thị  lớn như Los Angeles, Houston, Chicago, Nữu Ước… Họ nghèo đến nỗi không có nhà ở và hàng ngày phải  đến xin ăn ở các cơ sở từ thiện, trong khi những người triệu phú , tỉ phú không hề quan tâm đến họ.  Chính quyền liên bang cũng như  tiểu bang , cho đến nay,  vẫn không có biện pháp tích cực nào để giúp những người nghèo vô gia cự này.Nhưng mỉa mai và nghịch lý  là chánh quyền Mỹ cứ thi nhau đem tiền ra giúp các nước như Irak. Afghanistan, Pakistan, Ai Cập, Syria…vì quyền lợi chiến lược của Mỹ, mặc dù  dân các nước trên vẫn chống Mỹ và muốn đuổi quân đội Mỹ ra khỏi đất nước họ ! ( Irak và Afghanistan)

Trước thực trạng nói trên của Thế giới,  Đức Thánh Cha Phanxicô, từ ngày lên ngôi Giáo Hoàng,  đã tỏ mối quan tâm sâu xa đối với người nghèo khó ở khắp nơi trên thế giới và luôn kêu gọi Thế giới nói chung và Giáo Hội nói riêng phải  làm gì cụ thể để thương giúp những người nghèo khó mà Chúa Kitô đang đồng hóa với họ và thách đố chúng ta nhận ra Chúa  nơi những người xấu số  này để thương giúp họ cách thich hợp theo khả năng của mình.

Đức Thánh Cha nghiêm khắc phê phán thế giới “tôn thờ tiền bạc”vì người thấy rõ sự chênh lệch quá to lơn giữa người quyền thế giầu sang và người nghèo cô thân cô thế ở khắp nơi trên thế giới tục hóa này.Nên khi lên ngôi Giáo Hoàng ngày 13 tháng 3 năm 2013, ngài đã chọn danh hiệu “Phanxicô” cho triều đại Giáo Hoàng ( Pontificate) của mình để nói lên ước muốn sống tình thần nghèo khó của Thánh Phan xicô khó khăn Thành Assisi  và  nhất là tình thần và đời sống  khó nghèo thực sự của Chúa Giêsu Kitô, “ Đấng vốn giầu sang phú quí nhưng đã tự ý trở nên khó nghèo vì anh  em  để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh  em trở nên giầu có.” ( 2 Cor 8:9)

Như thế, gương khó nghèo của Chúa Kitô mà Đức Thánh Cha Phanxicô  muốn thực hành   phải là gương sáng cho mọi thành phần dân Chúa trong Giáo Hôi  noi theo, đặc biệt là hàng giáo sĩ và tu sĩ, là những người có sứ mạng và trách nhiệm rao giảng và sống Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô để  nên  nhân chứng cho Chúa , “Đấng đã  đến không phải để được người ta phục vụ nhưng là để  phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người.” ( Mt 20: 28).

Đặc biệt trong thư gửi cho các Tân Hồng Y  ngày  13 tháng 1năm 2014 , Đức Thánh Cha Phanxicô  đã nhấn mạnh như sau :

“  cái mũ đỏ không có ý nghĩa là được thăng thưởng( promotion)  một danh dự hay hào nhoáng bề ngoài( decoration) mà chỉ đơn thuần là một hình thức phục vụ đòi hỏi mở rộng tầm nhìn và con tim…do đó  xin quí chu huynh nhận sự bổ nhiệm mới  này với lòng khiêm cung,  giản dị và vui mừng, nhưng vui mừng không theo cách người đời hay bất cách mừng vui nào xa lạ với tinh thần của Phúc Âm về sự khắc khổ ( austerity) tiết độ ( sobriety) và khó nghèo ( poverty)”.

Tai sao phải sống khó nghèo ?

Trước hết, phải nói ngay là khó nghèo  ở đây không có nghĩa là phải đói khát rách rưới, vô gia cư, lang thang đầu đường xó chợ thì mới được chúc phúc. Ngược lại, phải lo cho mình và cho người mình có trách nhiệm coi sóc được có phương tiện sống cần thiết tối thiểu như  nhà ở, cơm ăn  áo mặc, phương tiện di chuyển như xe cộ, vì ở Bắc  Mỹ và các quốc gia Âu châu , Úc châu thì linh mục phải có xe hơi thì mới làm mục vụ được, vì không thể đi bộ đến thăm bệnh nhân ở tư gia hay ở các bệnh viện.Nghĩa là không “lý tưởng  thiếu  thực tế” để chỉ  chú trọng  đến đời sống tinh thần mà coi nhẹ hay sao nhãng đời sống vật chất đúng mức cho phù hợp với nhân phẩm.

Nhưng  điều quan trọng nhất  là phải có  nhân đức  khó nghèo  và thực sự sống tinh thần nghèo khó mà Chúa Kitô   đã dạy các môn đệ và dân chúng xưa là “ Phúc cho ai có tinh thần (tâm hồn) nghèo khó vì Nước Trời là của họ. ( Mt 5:3; Lc 6 : 20)

Sự nghèo khó mà Chúa muốn dạy ở đây không có nghĩa là phải đói khát , rách rưới  về phần xác như  đã nói ở trên   mà chỉ có nghĩa là không được ham mê tiền bạc và của cải vật chất, tiện nghi sa hoa, danh vọng phù phiếm  chóng qua ở đời này    đến độ vô tình làm nô lệ cho chúng khiến  không còn chú tâm  vào việc mở mang Nước Thiên Chúa trong tâm hồn của chính mình và nơi người khác; cụ thể là các giáo dân được trao phó cho mình phục vụ  và  săn sóc về mặt thiêng liêng.

Người tông đồ mà không có nhân đức khó nghèo, không khinh chê tiền bạc và của cải  vật chất,  thì không thể rao giảng sự khó nghèo của Phúc Âm cho ai được. Không có  và không  sống tinh thần khó nghèo thực sự mà lại rao giảng nhân đức khó nghèo thì sẽ làm trò cười mỉa mai cho người nghe mà thôi. Chắc chắn như vậy.

Mặt khác,  sự thành công của sứ mệnh rao giảng Tin Mừng không căn cứ ở những  giáo đường,  nhà  xứ , Tòa Giám mục được xây cất sang trọng , lộng lẫy để  khoe khoang với du khách mà cốt yếu ở chỗ xây dựng được đức tin và lòng yêu mến Chúa vững chắc trong tâm hồn của mọi tín hữu  để giúp họ sống đạo có chiều xâu thực sự, chứ không phô trương  bề ngoài với số con số đông tân tòng được rửa tội mỗi năm, đông người đi lễ hàng tuần, đi rước ầm ỹ ngoài đường phố,  trong khi rất nhiều người  vẫn sống thiếu bác ái và công bình với nhau và với người khác.

Lại nữa,, người tông đồ lớn nhỏ – nam cũng như nữ-  mà ham mê tiền của để đôn  đáo chạy đi khắp đó đây, đi ra nước ngoài nhiều hơn là đi thăm con chiên bổn đạo chỉ vì mục đích kiếm tiền cho những nhu cầu bất tận,  thì sẽ không bao giờ có thể sống và thực hành được  tinh thần khó nghèo của Chúa Kitô, Đấng đã sống lang thang như người vô gia cư đến nỗi có thể nói được về mình là “ con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có  chỗ tựa đầu.” ( Mt 8: 20)

Thử hỏi Chúa có đóng kich “ khó nghèo” từ khi sinh ra trong hang bò lừa cho đến khi chết trần trụi trên thập giá hay không ?

Ai dám nói là có ?  Nếu vậy, thì Chúa quả  thực  đã  sống khó nghèo trong suốt cuộc đời tại thế  để nêu gương  nghèo khó trong tâm hồn  và trong cuộc sống cho hết mọi người chúng ta. Nghĩa là  các tông đồ của Chúa nói riêng và toàn thể dân Chúa nói chung phải thi hành  lời Chúa để đi tìm và  “ tích trữ cho mình những kho tàng ở trên trời nơi mối mọt không làm hư nát, nơi trộm cắp không đào ngạch và lấy đi được.” ( Mt  6: 20)

Nếu người tông đồ  mà chỉ chú trọng đi tìm tiền của và xây dựng nhà cửa cho sang trọng, thay vì  xây dựng cho mình và cho những người mình phục vụ một lâu đài nội tâm hoành tráng,  thì mọi lời rao giảng về khó nghèo của Phúc Âm  sẽ trở nên trống rỗng và không có sức thuyết phục được ai  tin và thực hành, nếu không muốn nói là làm trò cười cho người nghe.. Muốn thuyết phục thì chính mình phải sống và  xa tránh hay chống lại  những cám dỗ về  tiền bạc và của cải vật chất để không đôn đáo đi tìm tiền, làm thân với người giầu có để trục lợi, bon chen để được về những xứ giầu, không chịu đi coi những xứ nghèo ở thôn quê,  cũng như không muốn dâng lễ với bổng lễ ( mass stipends) thấp , thì chắc chắn sẽ không thể rao giảng Tin Mừng cách hữu hiệu cho ai được.Và  nhiên hậu, cũng sẽ  không hơn gì bọn Biệt phái  và luật sĩ  xưa kia, là   những kẻ chỉ dạy người khác sống nhưng chính họ lại không sống điều họ dạy bảo người khác, khiến Chúa Giêsu đã nhiều lần phải nghiêm khắc lên án họ là :“quân giả hình”, bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta , nhưng chính họ lại không buồn động ngón  tay vào.”( Mt 23: 4).

Như thế, không thể  làm nhân chứng cho Chúa  Kitô về tinh thần nghèo khó của Phúc Âm  mà Chúa đã nêu gương sáng từ khi  Người sinh ra cho đến khi chết đi  hoàn toàn trong khó nghèo và đau khổ để cho chúng ta được cứu rỗi và trở nên phú quí sang giầu trên Nước Trời mai sau.

Nói rõ hơn, giảng  tinh thần khó nghèo của Chúa cho người khác,  mà chính mình  lại sống phản chứng  bằng cách chạy theo tiền của,  dùng những phương tiện di chuyển sang trọng như đi các loại  xe đắt tiền như  Lexus, BMW, Mercedes, Ìnfinity, Volvo… đeo đồng hồ longines, Omega …làm thân với người giầu, không nhận dâng lễ cho người nghèo  có ít tiền xin lễ, mà  chỉ nhận  lễ có bổng lễ cao.. thì chắc chắn sẽ không thuyết phục được ai tin và sống điều mình rao giảng cho họ, chỉ vì chính  mình không sống điều mình rao giảng.  Dĩ nhiên đây không phải là cách sống của tất cả mọi  linh mục, giám mục  nhưng dù chỉ có một thiểu số nhỏ cũng đủ gây tai tiếng cho tập thể  nói chung vì “ con sâu làm rầu nồi canh” như tục ngữ Việt Nam đã nói.

Tóm lại, Giáo Hội của Chúa phải thực sự nghèo khó  theo gương Đấng sáng lập là Chúa Giê su-Kitô, Người đã thực  sự sống và chết cách nghèo khó để dạy mọi người chúng ta  coi khinh , coi thường sự sang giầu chóng qua ở đời này để đi tìm sự giầu sang đích thực là chính Thiên Chúa là cội nguồn  của mọi vinh phúc giầu sang  vĩnh cửu mà tiền bạc, của cải ở đời này không thể mua hay đổi chác được.

Chỉ có nghèo khó thực sự trong tâm hồn,  thì Giáo Hội mới có thể  để lách mình ra khỏi mãnh lực của đồng tiền, và   của cải vật chất, tách mình ra khỏi làm tay sai cho thế quyền để trục lợi cá nhân. Có như thế thì mới có thể   thi hành có hiệu quả  sứ  mệnh thiêng liêng của mình là  rao giảng Tin Mừng  cứu độ  của Chúa Kitô và   sự giầu sang đích thực  là  chính Thiên Chúa , Đấng  đã chuẩn bị sẵn cho chúng ta  hạnh phúc  mà “ mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe , lòng người chẳng hề nghĩ tới, đó là điều  Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Người. ( 1 Cr 2 : 9

Nghĩa là  phải yêu mến Chúa  hơn yêu mến tiền của và mọi sự sang trọng  phú quí  chóng qua  ở trần  gian này , thì  mới  có thể rao giảng Tin Mừng  Cứu Độ  cách hữu hiệu cho người khác được.

Nước Thiên Chúa mà Giáo Hội có sứ mệnh mở mang trên trần thế này,  không hề phục vụ cho  nhu cầu  tìm kiếm tiền bạc , danh vọng  và của cải vật chất hư hèn  mà  chỉ cho mục đích  kiếm tìm hạnh phúc và bình an vinh cửu trên Nước Trời mà thôi.  Lại nữa, không có  giáo sĩ và tu sĩ nào  có lời khấn sang giầu mà chỉ có lời khấn khó nghèo mà thôi. Có khó nghèo thực sự trong tâm hồn thì mới dễ vươn mình lên cùng Chúa  là cội nguồn của mọi phú quý  sang giầu đích thực. Và đó là lý do tại sao Chúa Giêsu đã nói với anh thanh niên giầu có  kia  là  “ hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo , anh sẽ được một kho tàng trên trời , rồi hãy đến mà theo tôi.” ( Mc  10:  21)

Lời Chúa trên đây phải là đèn sáng  soi cho mọi người tín hữu trong Giáo Hội- cách riêng cho hàng giáo sĩ và tu sĩ-  bước đi qua  bóng tối đen thui  của   tiền bạc  và của cải vật chất, là những quyến rũ  đã và  đang mê hoặc con người ở khắp nơi, khiến họ say mê  đi tìm kiếm và  tôn thờ,  thay vì  tìm kiếm và tôn thờ  một mình Thiên Chúa là cội nguồn của mọi  phú quý  giầu sang đích thực mà thôi.

Chúa nói: “ ai có tai nghe thì nghe” ( Mt 13:43; Mc 4: 23; Lc 8:8)

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Tin Chúa, con được gì?

Tin Chúa, con được gì?

Ơn-Ta-Đủ-Cho-Con

Trắc trở trong tình yêu, chị ở một mình nuôi con. Dù còn đó những dị nghị từ dư luận, chị bình an dấn thân vào cuộc mưu sinh. Khó khăn vất vả làm thuê kiếm sống cho mình và cho con, chị không than vãn nửa lời. Thế nhưng, chị ứa nước mắt khi thấy con mình từng ngày lớn lên trong môi trường đầy dẫy gương xấu, thiếu vắng gương lành. Chị mường tượng thấy một viễn cảnh không tương lai của con mình. Chị muốn, muốn lắm cứu vãn con mình khỏi cảnh sống ấy, để đưa nó vào một môi trường tươi sáng, tốt lành hơn. Nhưng chị nhận ra tay mình quá ngắn, sức mình quá bé nhỏ, trong khi môi trường đầy rẫy những lôi kéo bỏ bê việc học, đua đòi bạn xấu, nghiện ngập game, thuốc, sống bất cần đời,…

Chia tay anh lúc mới mang thai con, chị băn khoăn không biết nên giữ hay nên bỏ. Một thân một mình lại đèo bòng thêm con, không biết tương lai sẽ ra sao. Tăm tối, nhưng chị vẫn quyết định cưu mang mầm sống ấy, vì dầu sao đó cũng là con mình. Chị cũng tin rằng chỉ có Chúa mới có quyền quyết định về sự sống và cái chết của một con người. Niềm tin ấy cho chị thêm vững vàng để cưu mang và đón nhận đứa con chào đời, dẫu làm thế chị phải nhắm mắt bịt tai trước bao lời đàm tiếu, mỉa mai.

Ngày con cất tiếng khóc chào đời, chị vui buồn lẫn lộn. Niềm vui được làm mẹ thật lạ lùng, chị chẳng thể tả xiết. Nhưng niềm vui ấy không thuần khiết mà được bao bọc bởi nỗi buồn lo về tương lai. Đứa bé rồi sẽ ra sao khi không biết đến mặt mũi người cha! Vẫn cùng một niềm tin đã cho chị sức mạnh để đón nhận con, nay cho chị thêm hy vọng vào một tương lai. Nỗi buồn rồi cũng phôi pha khi chị trông thấy con từng ngày khôn lớn. Chị hy vọng về một tương lai tốt đẹp của con, dẫu trước mắt không thiếu khó khăn về kinh tế.

Gửi con lại quê cho ông bà ngoại đã cao tuổi, chị lên thành phố kiếm việc làm mong có thể xoay trở đủ tiền nuôi con ăn học thành người. Tràn đầy ước mong và hy vọng, chị chẳng ngại dấn thân lao nhọc. Chuyên chăm làm việc, chị có thể chu cấp cho con miếng ăn, cái mặc có thể nói là tươm tất. Nhưng con người sống đâu chỉ cần miếng cơm manh áo. Chị thầm hiểu điều đó nên dù xa con, chị vẫn đều đặn dành thời gian gọi điện về thăm hỏi, khích lệ. Nhưng hỡi ôi, nước xa đâu mong cứu được lửa gần. Tuổi thơ non dại, trong khi môi tường xấu lôi cuốn rủ rê, con chị đã dần bị tiêm nhiễm bởi thói sống bất cần đời, thả trôi đời mình theo các đam mê nghiện ngập.

Học hành chẳng thấy lợi ích gì, lại thêm mệt thêm khổ; rong chơi thoải mái, luyện game thú vị hơn nhiều. Với tư duy thực tiễn nhưng nông cạn và bồng bột ấy, con chị bị cuốn lao vào vòng đam mê chơi bời lêu lổng, game thuốc từ lúc nào. Trốn học đi chơi; cần tiền tiêu xài, tìm đủ lý do để xin; xin không cho thì trộm cắp. Ban đầu là những thứ lặt vặt, rồi đến những món tiền lớn hơn,… một lần, vài lần, rồi thành quen, khó bỏ, không bỏ được!

Thương con, chị bỏ công việc về quê, mong tìm cách cứu vãn tương lai con mình. Ban đầu chị khuyên bảo con, dùng lời ngon ngọt yêu thương. Con chị dạ dạ vâng vâng, nhưng thói xấu khó chừa, chứng nào tật nấy. Khuyên mãi không được, chị chuyển qua răn đe, kỉ luật. Mẹ con trở ra xung khắc. Đau lòng, buồn tủi, chị chẳng biết ngỏ cùng ai, cậy nhờ ai! Đời chị như bế tắc. Đến với Chúa, chị thở than:

Lạy Chúa, con đã tin Chúa, đã đón nhận cái thai, gìn giữ sự sống của đứa con và nuôi hy vọng. Con đã chẳng dấn thân hy sinh chăm lo cho con cái bao năm qua sao? Vậy tại sao con của con giờ lại ra nông nỗi này? Nếu con đã không tin Chúa và đã không để con của con chào đời, thì giờ đây con đâu phải chứng kiến cảnh thấy nó hư đi mà không biết phải làm gì để cứu vãn. Đời con đã quá cô đơn buồn khổ, con không than, cũng chẳng trách. Thế nhưng, giờ đây đời con của con lại đang dần đi vào ngõ cụt của khổ đau, bóng tối của sự dữ! Chúa đang ở đâu? Tin Chúa, con được gì?…Trong khổ nhọc, chị thiếp đi.

Thức tỉnh, chị thấy lòng bình an và thẳm sâu trong tâm trí chị thấy một nguồn hạnh, bởi chị nhận ra:

Tin Chúa, trước tiên chị được một niềm tin vững vàng, một niềm tin có thể ủi an nâng đỡ và thêm sức cho chị ngay giữa lúc tưởng như tuyệt vọng;

Tin Chúa, chị giữ được sự sống của con mình và chị được hiểu thế nào là sự quí giá nhưng mong manh của sự sống từ khi còn là bào thai trong dạ mẹ;

Tin Chúa, chị đã hạ sinh được một người con và chị hiểu ra thế nào là tình mẹ đích thật, là ân nghĩa sinh thành khi chính chị vì yêu thương mà hết tình chăm lo cho con;

Tin Chúa, chị được một lòng yêu thương dạt dào, dẫu lòng yêu thương ấy bị khổ đau che mờ khuất, nhưng nó vẫn còn mãi bất chấp khổ đau; nó thêm sức cho chị vượt qua biết bao nghịch cảnh;

Tin Chúa, đời chị không vắng bóng khổ đau, không thiếu những lúc tưởng như bế tắc, nhưng khổ đau ấy không khiến chị gục ngã không thể chỗi dậy, bế tắc ấy không là đường cùng. Chị được thêm hy vọng và sức mạnh để tiếp tục sống và cố gắng sống tốt hơn cho mình và cho con, vì chị tin vào lời Chúa: “ Ơn Ta Đủ Cho Con!”

Vinhsơn Phạm Văn Đoàn, S.J.