Khi chế độ sợ sử

Khi chế độ sợ sử

Tạp ghi Huy Phương

 Nguoi-viet.com

Theo báo chí trong nước, môn lịch sử dự định sẽ bị xóa bỏ khỏi chương trình giáo dục phổ thông, và sẽ được “tích hợp” với môn giáo dục công dân và giáo dục quốc phòng! Dư luận trong và ngoài nước đã lên án gắt gao dự định này, và việc bỏ môn sử trong chương trình giáo dục của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa không phải là không có cơ sở, vì nó đã bắt nguồn từ cuộc Cách Mạng Tháng Tám, đảng Cộng Sản muốn viết lại lịch sử theo chiều hướng có lợi cho đường lối của đảng.

Nghĩa Trang Liệt Sĩ Người Trung Quốc ở Cao Bằng. (Hình minh họa: Tienve.org)

Hiện nay, trong giai đoạn Việt Nam đang trở thành con cái (một loại nghịch tử) của Trung Cộng, lịch sử Việt Nam đã là một trở ngại cho mối giao hảo của Việt-Trung, thì khi đất nước chúng ta trở thành một thành phần không thể cắt lìa của Trung Cộng, là ngôi sao nhỏ thứ năm trên lá cờ của bọn bành trướng. Lý do lịch sử Việt Nam là một chuỗi trường kỳ kháng chiến với giặc phương Bắc, và nước Tàu trở thành một “kẻ thù truyền kiếp” của dân tộc Việt Nam.

Sách “Việt Nam – Những Sự Kiện Lịch Sử 1945-1975” của Viện Sử Học-Viện Khoa Học Xã Hội (cơ quan chính thức của đảng và chính phủ) không hề nói đến chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa và sự hy sinh của những anh hùng tử sĩ VNCH trong trận chiến với Trung Cộng vào Tháng Giêng, 1974. Ngay cuộc tấn công của quân Trung Cộng chiếm các bãi đá Gạc Ma ở quần đảo Trường Sa diễn ra ngày 14 Tháng Ba, 1988, phía Việt Nam mất ba tàu vận tải của hải quân, 64 thủy binh đã thiệt mạng cũng bị bỏ quên. Đương nhiên chuyện bán nước tày trời, Thủ Tướng Phạm Văn Đồng, vào năm 1958 đã gửi công hàm cho Thủ Tướng Trung Cộng Chu Ân Lai nhìn nhận chủ quyền lãnh hải của Trung Cộng trên Hoàng Sa và Trường Sa lại phải giấu kín, không được ghi vào sử.

Vì sao đảng Cộng Sản Việt Nam lại giấu sử và viết lại sử, ngăn cấm không cho các thế hệ con em biết những sự thật đẫm máu về Trường Sa- Hoàng Sa, phải chăng là sợ mất lòng đàn anh “láng giềng khốn nạn!”

Cũng trong thời gian xảy ra những biến cố đau thương ở Gạc Ma, những việc nhảm nhí lại được đảng Cộng Sản tôn vinh thành sử sách như việc “Khai mạc Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Hội Chữ Thập Đỏ lần thứ năm” hay “Ngành Nội Thương tổ chức hội nghị đánh giá kết quả bước đầu chuyển hoạt động thương nghiệp sang hoạch toán kinh doanh XHCN.”

Ngay cả tội ác của lính Trung Cộng, trong cuộc thảm sát ngày 9 Tháng Ba, 1979 tại huyện Hòa An, Cao Bằng, khi quân Trung Cộng đã “dùng búa và dao giết 43 người, gồm 21 phụ nữ và 20 trẻ em, trong đó có bảy phụ nữ đang mang thai, rồi ném xác xuống giếng hoặc chặt ra nhiều khúc rồi vứt hai bên bờ suối. Trong thời gian chuẩn bị rút quân, Trung Quốc còn phá hủy một cách có hệ thống toàn bộ các công trình,” (*) mà ghê tởm thay, cũng được các nhà viết sử Cộng Sản lơ đi kẻo sợ mất lòng ông chủ Trung Cộng!

Những anh hùng do đảng nặn, phịa ra thì lại được ghi vào sử cho con em học ra rả. Đó là những anh hùng tưởng tượng Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu… hay những dũng sĩ “không tưởng” như Bế Văn Đàn lấy thân làm giá súng, Bùi Minh Kiểm tay không ghì máy bay trực thăng thì được nhồi nặn vào đầu óc trẻ thơ. Thế hệ thanh niên bây giờ có thể biết về Lenin, Karl Marx là ai, trong khi một học sinh lớp 8 không biết ông Quang Trung “bà con” ra sao với ông Nguyễn Huệ, phải chăng vì “hai ông” này đều chống Tàu?

Khốn nạn hơn nữa, kẻ thù giết đồng bào lại được ghi công, nhà nước Việt Nam đã xây dựng đài tưởng niệm Liệt Sĩ Trung Quốc với hàng chữ “Việt Nam Nhân Dân Ký Công,” tức là “Nhân Dân Việt Nam Ghi Công” và hàng năm, đảng và nhà nước lại còn cúi đầu dâng vòng hoa tưởng niệm “Đời đời nhớ ơn các Liệt Sĩ Trung Quốc!”

Sao mà có một bọn cầm quyền hèn mạt đến thế.

Những việc tàn độc sau khi Cộng Sản miền Bắc đánh chiếm miền Nam, gọi là “giải phóng,” “thống nhất đất nước,” như tập trung quân cán chính, nhân viên đảng phái miền Nam vào nhà tù lao động khổ sai, đánh tư sản, lùa dân đi kinh tế mới, đổi tiền, các phong trào vượt biển đi tìm tự do… làm chết hàng triệu người Việt Nam, nó chính là tội ác, phải ghi vào sử, nhưng Cộng Sản sợ phải ghi những hình ảnh này vào sử, nó sẽ cho đồng bào biết Cộng Sản có bàn tay vấy máu như thế nào! Trong sử sách Cộng Sản, đảng ta luôn luôn “đánh thắng” dù là bằng cách trói tay và đập đầu chôn sống hơn 5,000 dân Huế trong Tết Mậu Thân!

Hãy nhìn đây sự khiếp nhược của đảng Cộng Sản Việt Nam trước bọn Tàu Cộng: Không có một con đường, một bến sông, một chiếc tàu hải quân nào dám mang tên có “hơi hám” đến cuộc chống Tàu xâm lăng trong lịch sử của cha ông, đó là những địa danh lẫy lừng trong lịch sử như Chương Dương, Hàm Tử, Bạch Đằng, Đống Đa, Hà Hồi hay các nhân vật lịch sử như Bà Trưng, Bà Triệu. Tất cả những con tàu thuộc Hải Quân VNCH đều hãnh diện mang những cái tên anh hùng chống Tàu như Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Toản, Trần Nhật Duật, Yết Kiêu…

Truyền thống của hải quân bất kỳ nước nào trên thế giới cũng là phòng thủ biên giới quốc gia, chống ngoại xâm, nhưng hải quân Cộng Sản Việt Nam chỉ bày ra để bảo vệ đảng, cũng như binh lính công an, bộ đội. Những con tàu của hải quân Cộng Sản Việt Nam hiện nay chỉ dám “rón rén” đặt những cái tên vô tội, ngây thơ không sợ “nhạy cảm” làm mất lòng đàn anh, như tàu HQ.182 tên là Hà Nội, HQ.183 là TP Hồ Chí Minh, HQ.184 là Hải Phòng, HQ.185 là Đà Nẵng, HQ.186 là Khánh Hòa, HQ.187 là Bà Rịa Vũng Tàu, HQ.011 là Đinh Tiên Hoàng, HQ.12 là Lý Thái Tổ. Nghĩ ông Đinh Tiên Hoàng hay ông Lý Thái Tổ thì có đụng gì đến bọn Tàu xâm lược.

Như vậy là quay mặt làm ngơ với lịch sử!

Là học sinh trung học thời VNCH, chúng tôi không những được học sử của Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh… mà trong sách Giáo Khoa Thư thuở tiểu học chúng tôi đã biết đến Ngô Quyền đóng cọc nhọn đánh quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, ông Trần Hưng Đạo tâu với vua, “hãy chém đầu thần đi trước khi hàng giặc,” Trần Quốc Toản, tuổi thiếu niên, bóp nát quả cam trong tay, dựng cờ “phá cường dịch báo hoàng ân!” Thời bây giờ, chúng tôi không biết những Huỳnh Văn Bánh, Lê Thị Riêng, Ngô Văn Năm, Nguyễn Văn Đậu, Phan Thị Ràng… là ai, mà nghĩ thương cho “ông Quang Trung là anh em với ông Nguyễn Huệ!”

Một chế độ sợ sử và viết sử láo, chẳng qua vì hèn ngu, khiếp nhược.

Vì những lý do sợ Tàu, câu chuyện bỏ môn sử nghĩ cũng có nguyên nhân.

Dân tộc không sử là thứ con không cha, nhà không nóc.

Thôi thế thì thôi!

(*)Ghi theo tài liệu của Phạm Trần.
Nếu có thời giờ xin mời bạn đọc vào xem DVD “Thảm Họa Mất Nước”
https://www.youtube.com/watch?v=fpYuc2gs2bk

 

‘Ẩm thực’ thời ‘cách mạng’

‘Ẩm thực’ thời ‘cách mạng’

Tạp ghi Huy Phương

Nguoi-viet.com

Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, sau khi người Nam “nhận họ,” người Bắc “nhận hàng,” bao nhiêu kho đạn, lương thực, thuốc men, máy móc… được chở về Bắc để vỗ béo cho cán bộ cao cấp, kể cả 16 tấn vàng, tài sản quốc gia, bị bọn cán bộ cao cấp, mỗi người “cấu véo” một tí, thì miền Nam trở thành một bãi rác hoang tàn. Sau khi đưa vào tù quân cán chính miền Nam, đánh tư sản, đổi tiền, lùa dân đi vùng kinh tế mới, thì dân đen, loại không biên chế, không còn cái ăn cái mặc, đau ốm không thuốc men.

Lá cây khoai mì. (Hình minh họa: Issouf Sanogo/AFP/Getty Images)

Cái ăn đã không có, trừ gạo mục từ các mật khu mang về, bo bo, bột mì, khoai sắn nộp nghĩa vụ lẫn đất cát còn không đủ no, thì chuyện đau ốm khó khăn – khắc phục. Xuyên tâm liên là vị thuốc độc nhất toàn năng phổ biến trong quần chúng dành cho những “ông chủ” của đất nước, như Tạ Phong Tần đã viết: “… sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, ai bị bệnh gì vô bệnh viện Bạc Liêu cũng đều được bác sĩ kê toa hai thứ thuốc không bao giờ thay đổi là xuyên tâm liên (viên nén) và chai xi-rô Lạc Tiên, đem về uống đến phù cả mặt mũi mà vẫn không hết ho…” Không phải chỉ có Bạc Liêu mà cả toàn quốc! Phổ biến thì súc muối hay nhỏ nước tỏi vào lỗ mũi. Trong nhà tù “cải tạo” ngoài Bắc, thì phái đoàn y sĩ từ Hà Nội về nhổ răng cho tù bằng kềm, búa, đục thợ rèn, 10 anh thì sưng mặt hết bảy.

Xuyên tâm liên là thứ cây thuốc có ở phía Nam Trung Quốc. Theo tính vị ghi trong tài liệu y học dân gian Quảng Châu, thì cây “xuyên tâm liên” này có vị đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thủng, giảm đau. Được dùng chữa vết thương, tẩm gạc đắp vết thương hoặc làm dịch nhỏ giọt rửa vết thương; chữa viêm họng, viêm phế quản, lị cấp (nước sắc xuyên tâm liên cùng với bồ công anh, sài đất…).

Vào khoảng thời gian “mở cửa” khi mà Việt Cộng đã cho dân chúng nhận những thùng quà từ ngoại quốc gửi về, đặc biệt là những người vượt biên đến được Mỹ, thì hải quan tại phi trường Tân Sơn Nhứt bắt đầu ra lệnh tịch thu thuốc Tylenol trong những thùng quà với lý do là có chất độc, cần phải kiểm nghiệm. Mặc dầu Tylenol đã vài lần bị thu hồi (recall) tại Mỹ, nhưng đó là một thứ thuốc bán rất chạy trên thị trường Bắc Mỹ, đứng hàng thứ ba trong các loại thuốc đau nhức. Nếu hải quan tịch thu Tylenol và thiêu hủy tại chỗ thì không nói, đằng này trong lúc thuốc men khan hiếm, thuốc này dành cho cán bộ dùng, và được tuồn ra ngoài chợ trời để bán với giá cao.

Về cái ăn thì thịt là món hiếm, chỉ có trong các cửa hàng nhà nước, hay được chuyển lậu, bằng cách bó vào đùi, vào mông để qua mắt các trạm kiểm soát. Nhưng nhân dân đã có một thứ “thịt” dễ kiếm khác, đó là ngọn “lá sắn” bỏ đi, sau khi “thu hoạch” củ sắn (khoai mì) nông dân ủ thành phân xanh.

Báo Nhân Dân, “Cơ Quan Trung Ương của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Tiếng Nói của Đảng, Nhà Nước và Nhân Dân Việt Nam,” vào khoảng thời gian 1978-79 đã có những bài báo nghiên cứu để đưa đến kết luận: “Ba kí lô lá sắn bằng hai kí lô thịt bò,” vì lá sắn chứa rất nhiều chất protein. Sở dĩ tôi còn nhớ rõ, là vì trong trại tù ở Bắc Thái, bọn tù chúng tôi đã phải tập họp ngồi nghe bọn “trật tự-thi đua” đọc đi đọc lại bài nghiên cứu khốn nạn “ba kí lô lá sắn bằng hai kí lô thịt bò.” Trong khi dân nếu tin chuyện đảng hướng dẫn, ăn lá sắn đến vàng da, mờ người, thì Bộ Chính Trị và các quan chức dùng sữa, thịt bò Jersy từ trại Ba Vì và sâm nhung hảo hạng. Cái này thì không phải chờ đến sau Tháng Tư, 1975, mà trước kia, Nguyễn Chí Thiện đã nói lên giữa hai màu da mặt tương phản giữa lãnh tụ phè phỡn và quần chúng tí hon, tương lai của đất nước:

“Nước da hai bác mầu hồng

nước da các cháu nhi đồng mầu xanh

giữa hai cái mặt bành bành

chiếc khăn quàng đỏ quấn quanh cổ cò!”

Về sau mới biết vì sao có chuyện lá sắn có protein: Nguyên ngành chăn nuôi Bắc Việt nghiên cứu ngọn lá sắn nếu đem ủ chua vào khẩu phần vỗ béo bò thịt sẽ làm tăng lượng hấp thụ thức ăn. Trọng lượng bò được vỗ béo tăng dần theo mức bổ sung ngọn lá sắn ủ chua trong thức ăn của bò hằng ngày. Việc ủ chua lá sắn cho bò đã tiết kiệm được thức ăn. Nhân dân không được đảng xem là người mà xem như trâu bò, được dùng lá sắn thay cho cá thịt. Dân ngu thì cứ tin đảng và nhà nước tận cùng, đảng và nhà nước thì dối trá, ai chết mặc ai. Cuộc nghiên cứu của những “đỉnh cao trí tuệ” đã được đăng tải trên báo Nhân Dân, cơ quan của đảng Cộng Sản thì ai mà không dám không tin. Con bò ăn lá sắn lên cân, thì con người XHCN cũng có thể ăn lá sắn để tăng sức, con gà toi nhỏ mũi bằng nước tỏi được, thì con người XHCN có thể nhỏ mũi bằng nước tỏi để khỏi toi.

Câu chuyện này làm chúng ta nhớ lại một anh hoạn lợn (thiến heo) bên Tàu, có bà vợ cứ sòn sòn đẻ năm một, cứ nghĩ là cơ phận con người cũng giống heo, cắt tử cung đi là hết đẻ. Một ngày “đẹp trời” nọ, anh trói vợ ra giữa sân, dùng đồ nghề quyết tâm làm cho vợ cai đẻ, bằng cách tìm cách cắt bỏ tử cung của vợ. Lẽ cố nhiên, bà vợ không sao tránh khỏi cái chết do tri thức của anh chồng hoạn lợn ngu dốt. Dân Việt Nam thời “cách mạng” không thiếu người chết, vì các bậc lãnh đạo quốc gia, có đầu óc và tư duy của những anh chàng “thiến heo” loại này.

Thời “cách mạng” đổi đời, dân được khuyến khích đói thì ăn lá sắn, ốm đau thì đã có nước đái, nhân dân tự sản xuất, không cần phải bào chế hay “nhập khẩu!”

Đó là câu chuyện “niệu liệu pháp” từ cuốn sách của Bác Sĩ F.O. Quinn (Mỹ) do nhà nước xuất bản năm 1989, trong đó đã đề cập đến “phương pháp tự chữa bệnh bằng nước tiểu đơn giản, dễ kiếm, dễ dùng nhưng hiệu quả trị bệnh lại rất cao.”

Thời điểm này, cuốn sách xuất bản nhằm mục đích dạy cho dân chúng biết “khắc phục” chứ không phải là một chuyện tình cờ. Sau này giới y học trong nước công nhận nội dung “niệu liệu pháp” thiếu khoa học và gây hậu quả nặng nề, một số người bệnh vì uống nước đái! Cuốn sách sau đó bị cấm lưu hành và trôi vào quên lãng.

Ngày còn nhỏ, ở nhà quê, tôi cũng có nghe nước tiểu trẻ em cho đàn bà mới sinh dậy và có công dụng chữa các chứng bệnh như sốt nóng, ho ra máu, thổ huyết, hoa mắt chóng mặt, tay chân lạnh do huyết dồn lên đầu, sản hậu ứ huyết, tổn thương, huyết ứ… Nhưng không phải nước tiểu được đồn đãi “trị được bá bệnh” như “xuyên tâm liên” mà người dân khốn cùng phải làm liều.

“Trong nước tiểu có hàng loạt chất độc hại như: Amoniac dùng để tẩy rửa, Creatinine làm co bắp thịt, gây chuột rút, đau đớn, Amylase gây hạ đường máu, Ure gây hôn mê, Bilirubine và chì là chất cực độc, lân dùng để bón cây, ngoài ra còn hàng ngàn loại vi trùng, nấm, virus từ nước tiểu, rồi từ hậu môn xâm nhập qua nước tiểu khi chảy xuống… Do đó, có thể nói, nước tiểu người lớn là… thuốc độc.” (VT News)

Nhà văn Quang Lập (Hội Văn Nghệ Bình Thị Thiên) viết trong Blog năm 1985-86: “Vài ngày sau thằng Thịnh đưa tờ báo có bài: ‘Niệu liệu pháp phản khoa học, một trò lừa đảo!’” Cả hội mới ngớ người ra.

Anh Nguyễn Khoa Điềm nói hội mình anh em dại quá toàn nghe người ta xúi bậy. Anh Vĩ nói rất hay sự tuyên truyền rỉ tai nguy hiểm thế nào, tôi đã nói rồi tiếc thay anh em trí thức cả lại không ai cảnh giác.

Anh Nguyễn Quang Hà cười ha ha ha nói, tôi lừa các ông thế mà các ông cũng tin. Anh Văn Lợi nói Lập ơi tao thử trí thông minh mày, chứ đời nào tao uống. Mình cũng nói với Ngô Minh em trêu anh chứ có họa ngu mới đi uống nước đái. Ngô Minh cũng cười khe khe nói tao cũng lừa mày chứ sức mấy tao ngu!”

“Vì bởi người dân ngu quá lợn…” nên mới dễ bị chúng bịp.

Dân trí thức lại còn giở trò bịp nhau.

Thời “giải phóng” đảng nói với dân: “Đừng ăn những gì chúng ông ăn (có đâu mà ăn) mà hãy ăn những gì chúng ông nói!”

Dượng rể của Kim Jong Un trốn sang Mỹ vì sợ thanh trừng

Dượng rể của Kim Jong Un trốn sang Mỹ vì sợ thanh trừng

Nguoi-viet.com

SEOUL, Nam Hàn (AFP) – Dượng rể của nhà lãnh đạo Bắc Hàn Kim Jong Un cho hay nỗi hãi sợ về các cuộc thanh trừng đẫm máu trong nội bộ nhà nước Cộng Sản Bắc Hàn đã khiến ông cùng vợ phải bỏ trốn sang Mỹ gần 20 năm trước đây.


Kim Jong Un gieo rắc nỗi sợ hãi lên ngay cả người thân ruột thịt của mình. (Hình: Getty Images)

Trong cuộc phỏng vấn dành cho hãng thông tấn Yonhap, ông Ri Kang cho hay hai vợ chồng ông đã rất lo sợ về những gì có thể xảy ra cho họ trong trường hợp có cuộc tranh giành quyền lực một khi cha của Kim Jong Un là Kim Jong Il qua đời.

Ông Ri là chồng bà Ko Yong-Suk, em gái của mẹ Kim Jong Un.

“Sau gần hai thập niên sống gần Kim Jong Il, tôi thấy rõ sự tàn bạo của quyền lực,” ông Ri cho biết hôm Thứ Tư. “Tôi nghĩ không nên ở gần thứ quyền lực này.”

Ông Ri và bà Ko từng có nhiệm vụ trông nom Kim Jong Un khi ông ta còn là một thiếu niên và được gửi đi học ở Thụy Sĩ. Họ sau đó quyết định sang Mỹ tị nạn, thay vì trở về Bắc Hàn năm 1998.

Mẹ của Kim Jong Un lúc đó bệnh nặng và được điều trị ở Âu Châu, rồi sau đó qua đời ở Pháp năm 2004.

Kim Jong Il qua đời 13 năm sau khi hai vợ chồng này bỏ trốn và cuộc chuyển giao quyền hành cho Kim Jong Un diễn ra khá suôn sẻ.

Tuy nhiên, những gì xảy ra sau đó đã chứng nghiệm nỗi lo sợ của họ khi Kim Jong Un ra lệnh giết dượng rể khác là Jang Song-Thaek.

Câu chuyện của họ được biết tới sau khi bà Ko đưa đơn kiện ba người Bắc Hàn đào thoát và đang sống ở Seoul, với lý do bôi nhọ danh dự và nói xấu về bà. Ông Ri cho hay hai vợ chồng có một tiệm giặt ủi rất thành công ở Mỹ. (V.Giang)

Vụ Minh Hạnh bị công an hành hung được nêu ra trước Quốc hội Đức

Vụ Minh Hạnh bị công an hành hung được nêu ra trước Quốc hội Đức

 Đặng Hà

Trong phiên họp Quốc hội Liên bang Đức ngày 03.12.2015 vừa qua, một Nghị quyết được đệ trình để thảo luận và biểu quyết thông qua. Nghị quyết này mang tên “Tăng cường việc bảo vệ cho Người Bảo Vệ Nhân Quyền trên toàn thế giới” và trong phần thảo luận trước khi biểu quyết nghị sĩ Frank Heinrich (đảng CDU/CSU) đã nêu ra trường hợp cô Đỗ Thị Minh Hạnh trong bài phát biểu của ông. Trong đó ông kể rõ về vụ công an Việt Nam hành hung dã man cô Đỗ Thị Minh Hạnh:

clip_image002

“Mới tuần rồi tôi nhận được tin cô Minh Hạnh – với tư cách là thành viên của công đoàn độc lập ”Lao Động Việt“- đã bị bắt giữ cùng với một đồng nghiệp vì can tội tham gia buổi gặp gỡ và trò chuyện với công nhân của một doanh nghiệp Nam Hàn … Lực lượng công an đã giải tán cuộc họp mặt này và bắt giữ cô Minh Hạnh cùng với đồng nghiệp Trương Minh Đức. Họ bị giam giữ đến sáng ngày hôm sau và đã bị công an đánh đập tàn nhẫn. Cô Minh Hạnh với thương tích ở đầu và mắt đã phải vào bệnh viện chữa trị. Cho đến hôm nay cô vẫn còn bị rối loạn thị giác.”

Ai sẽ chôn cộng sản?

Ai sẽ chôn cộng sản?

Lê Văn

11-12-2015

Chưa bao giờ trong suốt ngàn năm lịch sử giữ nước và dựng nước của Dân Tộc Việt, số mạng của một đảng ngoại lai, mại bản đã dựng lên chế độ phá nước một cách toàn diện như đảng cộng sản VN – mà thời “cực thịnh” của nó chính là thời “cực mạc” của Dân Tộc – cuối cùng phải đến hồi giãy chết.

Như là định luật “già phải chết”, nhưng tại sao tuổi thọ của đcsvn đến hôm nay già hơn so với các đcs Nga hay Ðông Âu? Sao nó sống lâu nhỉ? Đó là vì từ chính cái đặc điểm hình thành của nó … vì đảng cộng sản Việt nam là một đảng không phải được dựng lên từ đạo quân chiến thắng của Stalin sau thế chiến thứ II như các đảng cộng sản  ở Đông Âu – mà ngược lại nó có nền móng vững chắc hơn do quá trình hoạt động lâu đời từ thời 1920, đã trãi qua các thời kỳ chống Pháp và ám hại các tổ chức không cộng sản yêu nước khác, phóng tay cướp chánh quyền, máy móc du nhập cuộc cải cách ruộng đất sắt máu của Trung Cộng hồi 1954, vụ Nhân văn Giai phẩm, các vụ Xét lại Chống đảng ở miền Bắc, dùng bạo lực đánh chiếm miền Nam, tập trung cải tạo và tịch thu tài sản của Dân – Quân – Cán – Chính VNCH, đánh tư sản, diệt địa chủ, triệt hạ công thương nghiệp, đuổi Hoa kiều và tổ chức bán bãi vượt biên sau 1975… Một đảng cộng sản đã cướp, đã giết và bị giết hàng triệu người để đạt địa vị thống trị ngày nay!!! 

Không những thế, chế độ cộng sản tại Việt Nam được xây dựng trên một chủ thuyết chánh trị sai lầm, trái với nhân tính, gây thống khổ cho nhân dân Việt Nam suốt hơn nửa thế kỷ qua, xô đẩy đất nước vào vực thẳm của chiến tranh, áp bức, tàn bạo, lạc hậu và khốn cùng…Và đáng ghê tởm hơn, nó đang biến thái thành một đảng vừa hèn với giặc, vừa ác với dân, một đảng tuy mang danh cộng sản nhưng thực chất là một tập đoàn Mafia tham nhũng lộng hành, nối giáo cho giặc có hệ thống và rất dã man độc ác.

Việc vỡ nợ xảy ra ở Bạc Liêu, Cà Mau, nay 14 bệnh viện ở  Đắk Lắk … chỉ là những khởi đầu cho sự sụp đổ toàn diện của tiến trình tự hủy.

Khi hàng loạt các ban ngành khác từ trung ương đến địa phương lần lượt hết tiền, khi quản lý kinh tế đến điều hành xã hội, từ việc phân phối tiện ích công cộng, trật tự xã hội, đến duy trì an toàn giao thông, phân phối điện nước, thực phẩm … lần hồi tê liệt thì điều gì sẽ đến?

Chưa bao giờ ngày mà chế độ cộng sản sụp đổ lại càng hiển hiện gần hơn và người sẽ chôn chế độ đã được chính chế độ cho biết.

Tại Diễn đàn đối tác phát triển Việt Nam (VDPF) diễn ra sáng ngày 5/12, đồng chủ tọa diễn đàn – Giám đốc Quốc gia của Ngân hàng Thế giới (World Bank) tại Việt Nam, bà Victoria Kwakwa đã băn khoăn đặt câu hỏi với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: “Việt Nam sẽ lấy nguồn ở đâu ra để tài trợ cho chương trình phát triển đầy tham vọng trong 5 năm tớỉ” (vì hết tiền) ông Thủ tướng khẳng định chính là “nhân dân, là 92 triệu dân trong nuớc và 4 triệu hải ngoại“!!!

Nhưng đáng lẽ bà Kwakwa phải hỏi thêm rằng ai là thủ phạm cho sự vỡ nợ, hết tiền nầy và nếu 92/4 triệu dân đều “cười khẩy – lắc đầu” với ông Thủ tướng thì ngày tận của cộng sản đã đến.

Cái chết của csVN chính là sự hồi sinh cho Dân Tộc Việt … nó phải đến thôi!

Thà như giọt mưa – Dau Nguyen

httpv://www.youtube.com/watch?v=R6xqut-N6dI&index=1&list=PLYNu2WsZ1JUhQ7J1GGZCKRwWY41IaYbRS

Thà như giọt mưa – Dau Nguyen

Qua bài thơ “Thà như giọt mưa” Nguyễn Tất Nhiên day dứt với những kỷ niệm nóng bỏng của một tình yêu đã qua. Cũng như tình yêu quê hương với những mất mát đau thương của chúng ta . . .

Mời quý vị và quý anh chị mở nhạc cảnh xem giải trí.

Trân trọng,

Nguyễn Xuân Dậu.

Buổi Giao Thời

Buổi Giao Thời

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Công lý Đồng Nọc Nạn thời kỳ thực dân vào năm 1928 vẫn là một giấc mơ cho nhiều người Việt Nam vào năm 2015.

Anh Lãng

Mùa Giáng Sinh năm kia, hay năm kìa (gì đó) có người bạn gửi cho cuốn tiểu thuyết The Time in Between của Maria Dueñas. Sách loại bìa mỏng mà ngó giống y chang như cái gối, thấy mà ớn chè đậu. Bỏ thì thương vương thì tội nhưng tôi quyết định liền, với ít nhiều áy náy: “Thôi, dục (bà) nó đi!”

Tui già cỗi và mệt mỏi quá rồi. Cả ngàn trang sách tiếng Anh thì đọc chắc tới tết, hay (dám) tới chết luôn – cho dù tác phẩm được giới thiệu là # 1 international best seller.

Tuần rồi, tôi mới khám phá ra rằng The Time in Between đã được chuyển thành phim. Maria  Dueñas bắt đầu câu chuyện vào tháng 3 năm 1922, khi nhân vật chính còn là một cô bé đang học việc trong một tiệm may, ở Tây Ban Nha.

Những vật dụng được bầy biện để làm cảnh trí trong phim ngó thân thương hết sức: bàn ủi than, máy may Singer, radio Philips. Tôi cũng rất ngạc nhiên, và thích thú, khi nhìn thấy những chiếc Citroën Traction Avant (đen thui lui) chạy lòng vòng trên đường phố của thủ đô Madrid.

Đây chính là loại xe được dùng làm Taxi ở Đà Lạt, vào những năm cuối thập niên 1960. Cái bàn là than cổ lỗ, cái máy may đạp chân cũ kỹ, và cái máy phát thanh mầu cánh gián (bự tổ chảng)  … cũng đều là những đồ vật quen thuộc trong căn nhà nhỏ xíu mà tôi đã sống qua suốt thời ấu thơ – ở Việt Nam.

Thế mới biết là đất nước mình đi sau thiên hạ một khoảng thời gian dài quá. Thảo nào mà đã có thời Việt Nam bị xếp vào nhóm những quốc gia “chậm phát triển.”

Cái “thời thổ tả” này, may quá, đã qua – theo như lời của (nguyên) Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết: “Trong tất cả các thắng lợi, thì thắng lợi về vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế là thắng lợi lớn nhất… Ngày nay, chúng ta ngẩng cao đầu, sánh vai cùng cường quốc.”

Mới đây, Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc Nguyễn Thiện Nhân cũng có ý (gần) tương tự khi ông thiết tha ngỏ lời mời “tất cả đồng bào Việt Nam ở nước ngoài nếu trong 40 năm qua chưa có dịp về nước thì nên về… chắc chắn sẽ thấy nó phát triển.”

Hai vị lãnh đạo quốc gia đều không ngoa (lắm). Đôi khi, tôi  cũng cảm thấy “choáng váng” vì những “phát triển” vượt bực ở quê hương xứ sở của mình.

Những chiếc Traction Avant, La Dalat, Kamaz, Uaz … chắc đã biến khỏi Việt Nam tự lâu rồi. Đất nước hôm nay có những thiếu gia lái Lamborghini Aventador trị giá cả triệu Mỹ Kim, những đại gia khẳng định đẳng cấp bằng cách đi phản lực cơ Beechcraft King Air 350, nằm giường Royal Bed đắt nhất thế giới,  hay nuôi chó Ngao Tây Tạng giá cỡ triệu đô.

Chợ Tôn Đản, chợ Vân Hồ – tất nhiên – cũng đều đã đi vào lịch sử. Qúi mệnh phụ phu nhân giờ đây đều xách ví da hiệu Louis Vuitton, và “đi mua rau sạch ở Thiên Đường Xanh; đồ Tây ở cửa sau khách sạn Sofitel ; bánhngọt ở L’Indochine ; bánh bao hiệu Tâm Tâm, bánh mì ở Hilton cạnh Nhà hátlớn ; đường, dấm, muối, xì dầu và gạo Thái Lan ở Westside, ốc lại lên tận Tây Hồ, còn đồ khô đến chợ Hàng Bè…”

Photo by Paula Bronstein /Getty Images

Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng còn khẳng định rằng: “Gần 2 thập kỷ qua, Việt Nam đã kiên trì, nhất quán chính sách tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc phát triển Internet. Cho đến cuối năm 2014, Việt Nam có gần 45 triệu người sử dụng Internet, đạt tỷ lệ trên 49% dân số, cao hơn mức trung bình của thế giới (40,4%) và cao hơn nhiều mức trung bình của khu vực châu Á – Thái Bình Dương (32,4%)”.

Rõ ràng là VN đã áp dụng thành công chiến thuật (“đi tắt đón đầu”) nên đã vượt xa “hơn mức trung bình của thế giới, và cao hơn nhiều nước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương”  về rất nhiều mặt, chớ không riêng chi internet.

Chỉ có cái “mặt tử tế” thì lại ở dưới mức trung bình xa quá. Theo The Good Country Index, VN đứng hạng áp chót (124/125) theo “chỉ số tử tế” của những quốc gia được khảo sát.

Blogger Nguyễn Tuấn còn cho biết thêm rằng VN đang đứng cùng hạng với đám đầu trâu mặt ngựa:

“Bảng xếp hạng gọi là ‘Good Country Index’ (GCI) cho thấy VN đội sổ trong số các nước tử tế trên thế giới. Bảng xếp hạng này cho thấy VN đứng hạng 103 (trong số 124 nước) về đóng góp cho hoà bình và an ninh thế giới. Còn về đóng góp vào các quĩ từ thiện và cung cấp nơi nương tựa cho người tị nạn thì VN đứng hạng 123, tức áp chót! Tính chung, thứ hạng về tử tế của Việt Nam trên thế giới đứng hạng áp chót (124/125). Điều đáng nói hay cũng có thể xem là nhục là thứ hạng tử tế của VN chỉ đứng chung bảng với mấy nước ‘đầu trâu mặt ngựa’ như Lybia, Iraq, Zimbabwe, Yemen!”

Té ra những chiếc siêu xe bạc triệu, những chiếc ví da hàng hiệu bạc ngàn, cùng những toà cao ốc hay cửa hàng sang trọng (nơi mà bát phở và ly cà phê giá vài chục đô la) chỉ tạo ra được một giai cấp mới (giai cấp đại gia hay tư bản đỏ) chứ không nâng được “vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế” và cũng không giúp “chúng ta ngẩng cao đầu, sánh vai cùng cường quốc” – như ông Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Thiện Nhân kỳ vọng.

Ảnh: ttxva.net

Đất nước – xem chừng – không chịu đi chung hướng, và cũng không  chịu chia sẻ những tiêu chí nhân văn phổ quát, với đa phần nhân loại. Về nhiều lãnh vực, VN còn có xu thế đi lùi – theo nhận xét và phân tích của blogger Anh Lãng:

“Tòa Đại hình Cần Thơ xét xử vụ án Nọc Nạn ngày 17 tháng 8 năm 1928. Chánh án là De Rozario, công tố viên là Moreau, Hội thẩm là ông Sự. Các luật sư biện hộ (miễn phí) cho gia đình Biện Toại là người Pháp, Tricon và Zévaco. Bản án được tuyên bởi một chánh án người Pháp, một công tố viên luận tội người Pháp và những luật sư biện hộ cho các bị cáo cũng là người Pháp, cho một vụ án mà hành vi chống người thi hành công vụ là rất rõ ràng (10 người trong gia đình Biện Toại, trang bị dao và mác nhọn chia làm hai tốp lao đến đoàn cưỡng chế) và gây ra cái chết của một cảnh sát Pháp…

Tòa Đại hình Cần Thơ tuyên Biện Toại, Nguyễn Thị Liễu (em út Toại) và Tia (con trai Toại) được tha bổng. Cô Nguyễn Thị Trong, sáu tháng tù (đã bị tạm giam đủ sáu tháng) tha ngay tại tòa. Miều (chồng Liễu), hai năm tù vì tiền án ăn trộm.

Đó chính là công lý thời kỳ thực dân, thời kỳ mà ngày nay lịch sử được viết bởi bên thắng cuộc, luôn giành cho nó những ngôn từ đen tối nhất. Thế nhưng hãy nhìn bản án tuyên cho ông Đoàn Văn Vươn, cho cậu thiếu niên Nguyễn Mai Trung Tuấn, và tự đặt ra câu hỏi, vào năm 2015, ở thế kỷ 21, người dân Việt Nam đang thực sự được hưởng nền pháp lý kiểu gì?”

Theo cách nói, hơi nặng nề, của Tiến Sĩ Nguyễn Tuấn thì đây là “nền pháp lý” của bọn đâu trâu mặt ngựa.” Là một phụ nữ nên luật sư Ngô Bá Thành ăn nói nhẹ nhàng hơn: “Ở Việt Nam ta đã có cả một rừng luật nhưng khi xét xử lại dùng luật rừng!”

Có lẽ rừng rú nhất là vụ án Hội Đồng Công Luật Công Án Bia Sơn.” Trong quá trình điều tra, Thiếu Tướng Phạm Văn Hoá (giám đốc công an tỉnh Phú Yên) cho biết: “Họ không kêu oan gì cả, họ thừa nhận cả. Hỏi có yêu cầu luật sư không nhưng người ta không yêu cầu bởi vì người ta biết rõ tội rồi bây giờ chỉ cần khoan hồng cần giảm nhẹ thôi.”

Sau khi “khoan hồng giảm nhẹ,” ngày 4 tháng 2 năm 2013, TAND tỉnh Phú Yên đã tuyên phạt 22 bị cáo với mức án tổng cộng 295 năm tù. Riêng ông Phan Văn Thu bị tòa tuyên phạt án chung thân.

Hơn hai năm sau, vào ngày 30 tháng 11 năm 2015, trên trang Dân Luận, xuất hiện “Thư Kêu Cứu” của thân nhân những người tù trong vụ án này. Xin trích dẫn đôi đoạn để rộng đường dư luận:

Kính gửi:

– Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc

– Ủy hội Tự do Tôn giáo Quốc tế

– Các tổ chức Nhân quyền Quốc tế

– Bộ ngoại giao Hoa Kỳ

– Đại sứ quán các nước tại Việt Nam

– Các hãng thông tấn, truyền thông trong nước và Quốc tế …

Thưa quý cấp! Chúng tôi là thân nhân của 22 tù nhân đang chịu mức án nặng nề trong vụ án “Ân Đàn Đại Đạo” làm đơn Giám đốc thẩm với sự khẩn thiết, mong muốn các cơ quan có thẩm quyền điều tra, xem xét lại vụ án vì có quá nhiều dấu hiệu oan sai như tôi đã nêu cụ thể trong Đơn Giám đốc thẩm ngày 10/10/2015 (một số báo, đài đã đăng thông tin về nội dung đơn Giám đốc thẩm này).

Đó là việc Tòa án Nhân dân tỉnh Phú Yên đã trọng cung, không trọng chứng. Trước tòa, ông Phan Văn Thu cùng 21 người đều phủ nhận việc Ân Đàn Đại Đạo có Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Quốc khánh…

Tòa cũng đã không đưa ra được bằng chứng để chứng minh cho cáo buộc này. Tuy nhiên, Tòa án đã vẫn giữ nguyên những kết luận trên trong bản tuyên án để buộc chồng tôi và các đệ tử của ông tội “âm mưu lật đổ chính quyền Nhân dân”…

Cũng như vô số những đơn thư kêu cứu trong thời gian gần đây, bức thư thượng dẫn không hề gửi đến bất cứ một cơ quan hay giới chức thẩm quyền nào ở Việt Nam. Trước hiện tượng này, ông Phạm Đỉnh –  chủ nhiệm trang Thông Luận – đã có nhận định rằng “… đây chính là điều bi đát trong hoàn cảnh đất nước hiện nay: người dân oan ức không còn biết cầu mong ở ai khi mà chính nhà cầm quyền là kẻ cướp!”

Gia đình ông Đoàn Văn Vươn cũng như gia đình em Nguyễn Mai Trung Tuấn (rất có thể) sẽ không bị vướng vào vòng lao lý, nếu đất đai và tài sản của họ không có giá trị gì nhiều về nguồn lợi kinh tế. Tương tự, hai mươi hai tín đồ của giáo phái Ân Đàn Đại Đạo – chắc chắn – cũng sẽ không phải lãnh đến mức án hai trăm chín mươi lăm năm tù, nếu Khu Du Lịch Sinh Thái Đá Bia trông bớt phần hấp dẫn và không gợi lòng tham của những quan chức địa phương.

Một góc Khu du lịch sinh thái Đá Bia. Ảnh: báo Công An TPHCM.

Những vụ cướp bóc liên tiếp và trắng trợn như trên chỉ có thể xẩy ra vào buổi giao thời, thời điểm cáo chung của một chế độ khi đã đi đến tận cùng mức bất nhân và bạo ngược của nó.

CUỘC TĨNH TÂM TRONG MƯA BÃO. Bài 3

CUỘC TĨNH TÂM TRONG MƯA BÃO. Bài 3

 Phan Sinh Trần.

Như các bạn biết, nét son của các cuộc tĩnh tâm do đồng bào Việt Nam tổ chức trong các giáo xứ, đó là sự không thu tĩnh tâm phí, tiền chi trả cho việc thuê mướn, tổ chức, cũng như chỗ ở và thức ăn cho tham dự viên. Người Việt thường không thu vài trăm đô la cho ba ngày tĩnh tâm, thậm chí vài chục đô la cũng không, thế thì thiếu hụt ngân sách là điều không thể tránh khỏi phải không? Làm sao giải quyết? Đã có những Anh trong nhóm Thánh Linh lấy ra một phần trong số tiền khiêm tốn, vốn là tiền tiết kiệm về hưu 401K của mình để làm tĩnh tâm, cũng có những Chị trong Thánh Linh mà tôi biết rõ đã cà tới mấy cái thẻ tín dụng chi trả hơn năm ngàn đô cho một kỳ tĩnh tâm. Tấm lòng của họ thật là cao cả, cho dù họ rất lam lũ và nghèo hơn tôi, nghèo hơn chúng mình, họ nghèo hơn rất nhiều người… Tại sao họ làm điều có vẻ dại dột này? Vì họ thường có chung một nhận định là chỉ cần Chúa cho một hối nhân được ơn đổi mới, một bệnh nhân được chữa lành bệnh nan y thì cái giá chi phí cho một kỳ tĩnh tâm là rất rẻ rồi, thậm chí giá vô cùng rẻ.

Vấn đề là, Chúa có chịu thua lòng rộng rãi của họ không?

Chúa sẽ cho lại bao nhiêu trong một kỳ tĩnh tâm với các hy sinh, và chuẩn bị như thế?

Cuộc tĩnh tâm nào cũng có sự sắp đặt và an bài của Chúa Thánh Thần, cuộc tĩnh tâm trong mưa bão này lại càng có nhiều sự chuẩn bị của Chúa, Ngài như cùng tham gia, đồng hành với các Anh Chị.

Ngay từ trước đó 7,8 tuần công việc chuẩn bị thức ăn đã diễn ra sôi nổi rồi, cũng giống như những lần tĩnh tâm trước, các Chị tổ chức dứt khoát không thu tiền tĩnh tâm phí, nhưng mà sức lực, tài chánh khá cạn kiệt sau mấy năm liên tục với hai cuộc tĩnh tâm được tổ chức đều đặn trong mỗi năm, làm sao đủ sức làm? Tuy nhiên, các chị luôn tâm niệm là, nếu thực sự tĩnh tâm do ý Chúa muốn và đến từ Chúa thì Ngài sẽ có cách và sẽ cho ‘hôm nay lương thực hàng ngày” dùng đủ cho ba ngày tĩnh tâm…, và rồi … dấu lạ, kỳ công Chúa luôn lập lại, giống như những trường hợp đã diễn ra, trong suốt chiều dài lịch sử Giáo Hội, theo đúng triết lỳ : “công việc Chúa, cậy trông Chúa thì đã có …Chúa lo”.

Khi các chị đi vận động, Liễu gia trang, trang trại gia cầm, sẵn lòng tặng cho tĩnh tâm một trăm cân Anh gà đi bộ, rồi đến chợ Đông Hưng, chủ nhân vốn không cùng một tôn giáo, ân cần tặng mười mấy bao gạo loại 25 cân Anh, còn cá và tôm đã có các bác ngư phủ vùng Palasios, Freeport và Rockport cho, nhưng mà các Chị tổ chức rất ngại ngần vì các Bác mới cho cách đây chỉ có mấy tháng, không thể lạm dụng lòng tốt của các Bác, còn đang băn khoăn thì đã có phôn của các Bác gọi, nhắc nhở … “sắp tĩnh tâm rồi phải không? Có đủ thức ăn chưa?” và… Bác cho 200 cân Anh tôm thẻ loại lớn và cá… Quả đúng là Chúa có cách nhắc nhở các Bác về tĩnh tâm, Ngài cũng can thiệp động lòng người cho, ngay cả khi họ là người không có Đạo, ngay cả khi các chị lúng túng, rụt rè không biết cách vận động và “đi ăn xin” làm sao cho có kết quả, …

Có lẽ trong việc tổ chức tĩnh tâm, điều quan tâm hàng đầu là địa điểm họp mặt. Chúa an bài cho Nhóm Thánh Linh có được vị linh hướng và bảo trợ rất mạnh là Cha Lê Thu, Ngài luôn sẵn lòng và tích cực giúp đỡ một cách vô điều kiện cho các nhu cầu tốt đẹp của con cái Chúa từ mọi miền trên đất nước Hoa Kỳ muốn về họp mặt trong buổi tĩnh tâm Thánh Linh. Cha và Hội Đồng Giáo Xứ St. Christopher luôn mở rộng cửa đón chào các khóa Thánh Linh tại hội trường nhà Xứ.

NHA THO

Nhà thờ St. Christopher, Houston do Lm. Lê Thu, chánh xứ chăm sóc.

Chúng tôi còn nhớ cách đây mấy năm, có khi Ban Tổ chức phải trả năm bảy ngàn đô la cho tiền mướn hội trường ở một nhà thờ nọ, khi còn độ hơn một tuần trước ngày tĩnh tâm thì Chúa động lòng một cô gái trẻ tên H, cô chạy lại chị V trong ban tổ chức và nói, “ Em được ơn thay đổi nhờ các buổi tĩnh tâm, sinh hoạt này rất tốt. Em biết chị đang cần tiền lo tĩnh tâm phải không ? Em có cái này tặng chị” rồi cô chạy ra xe làm gì đó, một lúc sau, cô bước vào nơi chị V đang đứng với tấm chi phiếu một ngàn đồng. Về sau chúng tôi được người bạn gái thân nhất của cô H tâm sư, “ cám ơn Chúa, đây là một chuyện hi hữu vì từ xưa  tới nay, H rất cân nhắc và tiện tặn,  chưa bao giờ H cho ai số tiền nhỏ nào dù chỉ là mấy chục đô”. Thực ra điều đó có gì lạ đâu, sẽ chẳng có sự thay đổi đẹp đẽ trong lòng người nào mà Chúa không làm được. Cảm ơn Chúa đã ban ơn đổi mới cho chị H, và cho chúng ta nữa.

Điều kỳ diệu là Chúa làm cho mọi người trong ban tổ chức, vốn vỏn vẹn chỉ có dăm người, lại vừa cao niên, vừa ốm yếu, bệnh hoạn được một tình yêu dạt dào, họ luôn khao khát cho Anh Em mình được ơn đổi mới của Chúa, và họ không dừng ở đó mà làm cho ước ao thành hành động cụ thể, đó là tổ chức cho bằng được các buổi tĩnh tâm, hai lần trong một năm. Chị V trong ban tổ chức, người chủ xướng tĩnh tâm cho Houston đã mấy năm nay, vốn là người có tuổi, đã mổ tim, open-heart surgery, người ốm yếu, có lần đang rửa tôm đến quá nửa đêm chị choáng váng muốn xỉu, rồi các bác tuổi hạc gần bẩy mươi, đứng rang tôm đến hai giờ sáng, làm đến khuỵu chân, không đứng vững mà trong lòng họ vẫn vui, thật đúng là “đã có một tình yêu lớn hơn cả bệnh hoạn và sự yếu mệt, nhọc nhằn”…

Đã có một tình yêu lớn lạ bao phủ cả Cha và Con tham dự tĩnh tâm, tôi cho đây là phép lạ lớn nhất, vĩ đại nhất và có lẽ là mục đích chính của Chúa Thánh Linh cho các cuộc tĩnh tâm, khi Người đổ rượu say mến sốt sắng và lửa yêu thương ấm áp cho tham dự viên. Đó là thứ tình yêu mạnh mẽ, không sợ hãi, không ngại ngần trước các trở lực mà thánh Phao Lô đã diễn tả:

Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Phải chăng là gian truân, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, gươm giáo?… Vì tôi thâm tín rằng sự chết hay sự sống, dù thiên thần hay thiên phủ, dù hiện tại hay tương lai, hay bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ tạo vật nào khác, không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu Thiên Chúa thể hiện cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 8, 35-39).

–        Chúa Thánh Linh ơi, con xin cám ơn Ngài đã cho con được thấy các hoạt động dễ thương của “những lái buôn Nước Tròi”

Lòng rộng rãi của Chúa trong kỳ tĩnh tâm này rất lớn: Chúa cho nhiều ơn đổi mới cho hầu hết mọi người tham dự, Ngài chữa lành bệnh phần xác ngay tức khắc cho ba người bị bệnh nan y, mãn tính. Chúa ban ơn gọi cho một bạn trẻ, Chúa cứu một người khỏi tai nạn thảm khốc đang khi họ lái xe tham dự tĩnh tâm, Chúa nuôi trên ba trăm người ăn uống dư thừa trong ba ngày tĩnh tâm và còn nữa những ơn lành mà tôi không tiện kể hết…

Dư âm còn đọng lại trong lòng tôi sau kỳ Tĩnh Tâm thường là sự trong trẻo, thanh tịnh của tâm hồn và nhất là sự gia tăng nhịp đập tình yêu trong quan hệ mới mẻ của tôi với Chúa Giê Su kính yêu, lần này, nó kéo dài đến nay đã là tuần thứ 5 sau dịp tĩnh tâm. Tôi cần tĩnh tâm lắm các bạn ơi, vì trần thế này có đủ mọi níu kéo và vấy bụi vào tâm hồn làm cho tôi chao đảo, ghen tị, hiềm khích, cáu kỉnh và đam mê danh lợi, dục vọng. Tĩnh tâm trong Chúa thực sự thì nó hoàn toàn có thể làm cho ta nhận ra sự ố tạp của mình và được gặp gỡ Chúa. Khi đã được diễm phúc đón Chúa vào nhà tâm hồn, thì việc đầu tiên là Chúa tha thứ và tẩy rửa mọi tỗi lỗi cho sáng trắng như tuyết (Isaia 1:18). Rồi tiếp đến Chúa sửa bảo qua Lời Ngài,

–        còn nhành nào sinh trái thì Người tỉa sạch để nó sai trái hơn. Các con đã được tỉa sạch nhờ lời Thầy đã nói với các con. (Ga15:2).

Cuối cùng, Chúa Thánh Linh đổ đầy, rượu mến,

–        Tình yêu của Thiên Chúa tuôn đổ trong tâm hồn chúng ta nhờ Thánh Thần đã ban cho chúng ta (Rô ma 5:5).

Thời đại tội lỗi đầy dẫy này, lại cũng là thời của các Bạn Trẻ tha thiết yêu mến Chúa ?

TINH TAM 1TINH TAM 2

Chúa Thánh Linh đã làm một cuộc giải phẫu cho tôi, theo như cách giải thích của Cha Nguyễn Thiện Lãm, Ngài thay cho một trái tim đôi mươi, hay một trái tim thơ trong sáng, mạnh mẽ, và nồng nào yêu Chúa Giê Su, sâu sắc biết ơn trước sự hy sinh của Chúa Giê Su khi Ngài chết thế cho mình. Không có Chúa Thánh Linh thì cuộc giải phẫu tim đó làm sao xảy ra được, vì sau ba mươi, bốn mươi, thậm chí bảy mươi năm ở Đời, thì tim ta đã hóa ra chai đá cỡ nào, tim ta vô cảm và vị lợi cỡ nào, thế mà Chúa Thánh Thần làm cho nó trở thành trái tim thơ dành riêng tôn vinh Cha và dành riêng cho sự say mến Chúa Giê Su kính yêu. Do đó, không lạ gì khi tôi và các Bạn cứ đi tham dự tĩnh tâm Thánh Linh một năm mấy lần, giống như là đi về nhà Mẹ trong trường hợp của các Bạn Trẻ ở Dallas, giống như đi gặp người yêu trong trường hợp của anh Hiếu, và của nhiều người, giống như là đến với Lời dậy dỗ rất mạnh mẽ đầy quyền năng thuyết phục của Chúa trong trường hợp của Tôi và mọi người. Đó là chưa kể,  vào lúc cuối tĩnh tâm, khi ta nhận lấy câu Lời Chúa mà ta tình cờ rút ra từ tay các Linh Mục, câu Lời Chúa lạ thay, bao giờ cũng liên quan trực tiếp đến vấn nạn mà mình đang gặp, nhu cầu mà mình đang cần…

Còn đang vấn vương với Tĩnh tâm Thánh Linh thì tôi đã nhận được text message của Anh bạn mới quen, Anh Quyên, một người tham dự tĩnh tâm Thánh Linh lần đầu tiên, tin nhắn trong phôn :

–        Tiếc quá Anh T ơi, tĩnh tâm đã xong mà vẫn muốn ở lại trong Chúa, mãi thôi.

Xin hẹn anh chị Quyên, anh chị Kỳ và các bạn trong kỳ tĩnh tâm tháng ba, 2016 cũng tại giáo xứ St. Christopher.

Cám ơn Chúa về tình yêu thương, tuyệt đẹp mà Chúa Thánh Thần đã gieo vào trong lòng những Anh Chị Em của con!

 Phan Sinh Trần.

THI ĐUA ĐI NỮA, THUA ĐI MÃI

THI ĐUA ĐI NỮA, THUA ĐI MÃI

Trần Quí Cao

9-12-2015

Đại hội thi đua yêu nước lần thứ IX. Nguồn ảnh: báo Công Lý

Đại Hội Thi Đua Yêu Nước Toàn Quốc vừa diễn ra hoành tráng tại Hà Nội ngày 07-12-2015 với sự tham dự của nhiều chức sắc trong chính quyền: Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Ủy ban trung ương MTTQ VN Nguyễn Thiện Nhân…

Đã có nhiều bài viết, nhiều ý kiến về Đại Hội này. Báo Thanh Niên, ngày 8-12-2015, đăng bài của nhà thơ Thanh Thảo “Cho Dân, Cho Nước Được Nhờ” nhận xét về sự kiện này: “nhiều tấm gương những con người thực sự bình dị nhưng thực sự lớn lao đã được vinh danh”.

CẢM NHẬN CỦA TÔI

Đọc bài báo trên, nếu xét từng câu, câu nào cũng tròn vai. Tuy nhiên, nhìn chung, tôi thấy toàn bài nhàn nhạt.

Đọc phần viết về anh Phan Tấn Bện, người nông dân đã sản xuất “những máy móc đáp ứng đúng nhu cầu sản xuất” của “người nông dân trong xóm làng mình, trong vùng ĐBSCL rộng lớn của mình”… tự nhiên tôi nhớ tình cảnh thảm hại của nông nghiệp và nông dân Việt Nam. Năm 1960, khi chiến tranh hai miền Nam Bắc chưa lan rộng, nông nghiệp Miền Nam huy hoàng biết bao! Sự nghiệp khai hoang được đẩy mạnh, tiến bộ khoa học được ứng dụng, dân chúng vùng nông thôn sung túc. Nông nghiệp Miền Nam tiến bộ hơn Thái Lan thời đó. Bây giờ, hơn nửa thế kỷ sau, nông nghiệp của nước Việt Nam thống nhất thua Thái Lan mọi mặt: thua trên mặt kỹ thuật canh nông, thua trên mặt tổ chức sản xuất, thua trên mặt kinh doanh nông sản, thương hiệu…

Đọc phần viết về bác sĩ Bùi Đình Lĩnh, “người bác sĩ đã dâng hiến 30 năm đời mình cho nhân dân huyện đảo Phú Quý”… tự nhiên tôi nhớ tình cảnh thảm hại của ngành y tế và và thân phận “giòi bọ” của người bệnh Việt Nam. Trước năm 1975, hệ thống liên hoàn các bệnh viện công và tư của Sài Gòn cung cấp dịch vụ y tế “đáng mơ ước” cho người dân. Các bệnh viện công (nhà nước) như bệnh viện Bình Dân, Chợ Rẫy… được gọi là nhà thương thí vì người bệnh không phải trả tiền. Nơi đó có trình độ y khoa cao cấp với các vị thầy được giới y khoa kính nể về y đức và trình độ chuyên môn. Nơi đó không có cảnh một giường hai bệnh nhân nằm. Hãy bước chân vào bệnh viện Chợ Rẫy và Bình Dân hiện nay để có một cái nhìn về mức độ suy thoái và nhếch nhác khủng khiếp của hệ thống y tế Việt Nam 40 năm sau ngày đất nước qui về một mối xã hội chủ nghĩa!

Đọc những dòng tâm sự của Thanh Thảo “chúng ta lại như được an ủi, như được cổ vũ, như được truyền lửa: hãy bình tĩnh, và tin, rằng trên đời còn bao người tốt đẹp, bao người giỏi giang, bao người dâng hiến”… Tự nhiên tôi nhớ lại những giá trị sống rất cốt yếu của dân tộc và của nhân loại như trung thực, nhân hậu, bác ái, hiếu thảo, công bằng, liêm chính, tinh thần chống ngoại xâm… đã và đang bị tàn phá nghiêm trọng. Bị tàn phá một cách có hệ thống bởi hệ thống cầm quyền hiện nay. Giá trị sống là cái khung xác định điều nên làm, điều nên tránh, chính là cái cốt lõi nhất của một xã hội, một con người. Không có gì tàn phá các giá trị sống quí báu đó khủng khiếp hơn hơn là cái cách sống, làm việc và ứng xử của hệ thống cầm quyền vượt ra ngoài khuôn khổ của những giá trị đó một cách ngang nhiên. Một nhóm người dùng bạo lực thiết lập hệ thống “thiên thu trường trị” cộng sản trên đất nước Việt Nam bất chấp sự phản đối của đa số dân chúng, thì làm gì có sự công bằng? Nhân dân, qua kinh nghiệm sống từ thời còn thực dân Pháp, thời chín năm, thời tổ quốc chia đôi cho tới nay, qua các bài học lịch sử ngàn năm cha ông để lại, họ dư sức thấy rõ xã hội hiện nay là dối trá, lừa mị, là bất công, bất bình đẳng, là tham nhũng, ăn hối lộ, là khiếp nhược bỏ lãnh thổ và tính mạng dân chúng cho giặc xâm lăng Trung Cộng, tệ hơn nữa là đàn áp dân chúng biểu tình lên án kẻ xâm lăng…

Đó là các lý do tôi thấy bài viết trên của Thanh Thảo nhạt nhẽo và lạc lõng.

CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI

Thực ra, các ông Phan Tấn Bện, Bùi Đình Lĩnh và một số người nhận thưởng khác, nếu sự thật đúng như báo cáo, đáng hoan nghênh, đáng vinh danh. Tuy nhiên cần phân biệt rằng cá thể khác với quần thể, cá nhân khác với xã hội. Dù xã hội do các cá nhân hợp lại mà thành, xã hội lại chịu áp lực, lại có cách hành xử, động thái phản ứng và tiến hóa (diễn biến) khác hẳn cá nhân. Khi mô tả, đánh giá xã hội, người ta thường dùng xác suất, thống kê.

Do đó, trong khi trong xã hội vẫn có các cá nhân đáng tuyên dương, điều này không thể che lấp sự thật là đất nước đang lâm khủng hoảng trầm trọng.

Tôi xót xa cho người lính tận tâm bảo vệ lãnh thổ khi nghĩ về hệ thống lãnh đạo tối cao đánh đổi chủ quyền tổ quốc nhằm giữ yên chiếc ghế quyền lực cá nhân và phe đảng. Những người linh đó có sẽ trở thành 64 chiến sĩ Gạc Ma vùi thây biển đảo năm xưa không?

Tôi xót xa cho số phận và tương lai mịt mờ của nông nghiệp và nông dân Việt Nam đang cần “giải cứu”. Một Phan Tấn Bện có che được sự thật của ngành cơ khí nông nghiệp đang chết trên những cánh đồng châu thổ bạt ngàn bởi sự cạnh tranh của máy móc Trung Quốc, Đài Loan… hay không? có che được được hết nỗi lo sợ của ngành nông nghiệp Việt Nam èo uột trước ngày hội nhập thế giới hay không?

Tôi xót xa vì “bao người tốt đẹp, bao người giỏi giang, bao người dâng hiến” “sống quanh ta” phải lặng thầm, nép mình trước cái bất nhân, bất nghĩa, cái gian tham vô độ đang cướp đoạt mọi thứ, từ tài sản tới tính mạng con người, một cách ngang ngược, bạo tàn, vô đạo đức. Xã hội dưới chính thể này bênh vực cái bất tài, cái vô trách nhiệm, cái bè đảng, cái ăn cắp và ăn cướp của nhân dân, kể cả ăn cướp tổ quốc! Chưa bao giờ sĩ khí, đạo đức của xã hội xuống thấp như bây giờ!

KẾT LUẬN

Thanh Thảo là nhà thơ nên câu chữ trau chuốt. Có thể ông chủ trương nhìn mặt “tích cực” của xã hội chăng? Tôi vẫn tôn trọng ý hướng này của ông. Tuy nhiên, phần tôi, tôi có suy nghĩ khác.

Khi lòng yêu nước, truyền thống chống ngoại xâm, nghĩa xóm làng, lòng trung thực, lòng nhân hậu… đều bị “đấu tố” bởi lực lượng cầm quyền chính thống của xã hội, thì xã hội đã bị băng hoại tới mức quá đáng sợ rồi. Nhà văn, nhà thơ hẳn phải có cái nhìn dự báo, phải thấy trước để biết sợ rằng rằng nếu tiếp tục chính thể độc tài toàn trị thì Việt Nam sẽ tiến rất nhanh tới mức độ Bắc Hàn! Cho nên, cần đấu tranh trực diện với thế lực chính thống kia đang kéo đất nước ngược chiều tiến của văn minh nhân loại! Cái thế lực đang đàn áp và tiêu hủy hết những “người tốt ở VN”. Tranh đấu với thế lực đó để con số “người tốt ở VN” tăng lên gấp vạn lần, sự hiện diện của họ trong xã hội là phổ quát tự nhiên, chứ không phải là con số nhỏ được sơn phết để ru ngủ nhân dân!

Nếu chúng ta cứ an phận và cảm nhận “như được an ủi, như được cổ vũ, như được truyền lửa” bởi “người tốt như thế, tận tâm như thế, lòng ngay dạ thẳng như thế” thì e rằng tới lúc nào đó, trên nước Việt Nam này con số những “người tốt như thế” chẳng còn lại bao nhiêu!

Tình trạng ngân sách các địa phương thiếu hụt và các thách thức?

Tình trạng ngân sách các địa phương thiếu hụt và các thách thức?

Anh Vũ, thông tín viên RFA
2015-12-09

Tỉnh Cà Mau hiện có hơn 40km bờ biển bị sạt lở nguy hiểm, phải chờ vốn hỗ trợ của T.Ư vì ngân sách tỉnh đang gặp khó

Tỉnh Cà Mau hiện có hơn 40km bờ biển bị sạt lở nguy hiểm, phải chờ vốn hỗ trợ của T.Ư vì ngân sách tỉnh đang gặp khó

Courtesy docbao.biz/ĐSPL

Sau Bạc Liêu là đến Cà Mau… là các tỉnh bị thiếu hụt ngân sách địa phương và trở thành các con nợ. Và còn bao nhiêu cơ quan nữa đang ở trong tình trạng như vậy?

Nguyên nhân do đâu và giải pháp gì để khắc phục tình trạng này?

Nguyên nhân

Những ngày qua, dư luận xã hội nóng lên về tin Thành ủy Bạc Liêu hết tiền hoạt động, tiếp đó là thành phố Cà Mau hết tiền trả lương, phải xin tạm ứng ngân sách năm sau để chi tiêu. Điều đó cho thấy, tình trạng thiếu hụt ngân sách đã làm ảnh hưởng tới hoạt động của một số địa phương.

Đánh giá về tình trạng thâm hụt của ngân sách địa phương hiện nay, TS. Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện phản biện IDS nhận định:

“Đây là hiện tượng không phải là mới, cái này đã được các chuyên gia cảnh báo và thảo luận từ vài ba năm trước. Nó chỉ là lạ và mới khi báo chí chính thống đưa tin một cách mạnh mẽ hơn. cần phải biết chuyện một cơ quan chính phủ hoặc một địa phương mà kẹt không có tiền để chi đã xảy ra nhiều lần rồi. Theo tôi, đây là hiện tượng có vẻ như lên gân một chút trước Đại hội đảng CSVN lần thứ 12, mà một cánh này cánh nọ muốn chứng minh một cái gì đó.”

Khi được hỏi, nguyên nhân do đâu khiến tình trạng thâm hụt ngân sách địa phương trở thành một vấn đề phổ biến?

Nguyên nhân trước hết là do nguồn thu của địa phương không cân đối với yêu cầu chi tiêu, TS. Nguyễn Minh Phong, Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế – Xã hội Hà Nội giải thích:

“Nguyên nhân là do các địa phương có thể sử dụng hình thức tạm ứng ngân sách trước, họ có thể cho các chủ đầu tư tạm ứng trước và trả nợ sau. Thậm chí họ có thể tạm ứng cả 10 năm ngân sách hay hơn 10 năm ngân sách mà khả năng cho phép, nên đã khiến cho các món nợ đó không có khả năng trả được. Đây chính là lý do về khả năng quản lý, đồng thời nó cũng có thể là sự bóp méo của lợi ích nhóm, tư duy nhiệm kỳ ”

Còn TS. Nguyễn Quang A thấy rằng, ở hầu hết các nước, mỗi năm quốc hội thông qua một luật ngân sách riêng cho tài khóa tiếp theo, trong đó quy định hết sức rõ tất cả các khoản chi chính và phân bố chi tiết các khoản chi đó cho các đơn vị. Hành pháp muốn tiêu hơn thì chính phủ phải xin quốc hội sửa luật. Còn ở VN, đến nay không có luật ngân sách nhà nước. Ông nói:

“ Đây là hiện tượng không phải là mới, cái này đã được các chuyên gia cảnh báo và thảo luận từ vài ba năm trước. Nó chỉ là lạ và mới khi báo chí chính thống đưa tin một cách mạnh mẽ hơn. cần phải biết chuyện một cơ quan chính phủ hoặc một địa phương mà kẹt không có tiền để chi đã xảy ra nhiều lần rồi

  1. Nguyễn Quang A”

“Nguyên nhân gốc rễ của vấn đề ngân sách của VN cốt yếu là ở chỗ, Luật Ngân sách của VN là một cái luật khung, để cho bên hành pháp có thể tùy ý du di cái việc chi tiêu. Một khi trên cùng đã như thế thì xuống đến địa phương thì cũng vậy.”

Tính hình thức trong việc lập dự toán ngân sách hàng năm hiện nay còn nhiều bất cập, và đã không phản ánh được thực chất nhu cầu ngân sách hàng năm của các địa phương. TS. Nguyễn Minh Phong chia sẻ:

“Bộ Tài chính giao hay duyệt dự toán (ngân sách) cũng căn cứ vào quá khứ, xem là ngân sách năm trước địa phương đã sử dụng đến đâu, càng thừa thì càng cắt và khi duyệt thì phải cắt một mẩu, không bao giờ cấp như nhu cầu xin cả. Cái đó nó đã trở thành công thức, vì thế để thích ứng với quy luật đó thì cấp địa phương vừa xin nhiều lên và tiêu nhiều hơn, như là một cách thức để chứng minh sự nghiêm túc, tính hiện thực của các dự án và là thành tích để chấm điểm thi đua.”

Nhiều nhà thầu ứng trước tiền để thi công đường giao thông lâm cảnh khó khăn do UBND huyện Phước Long tỉnh Bạc Liêu chậm thanh toán nợ - Ảnh: C.Quốc

Nhiều nhà thầu ứng trước tiền để thi công đường giao thông lâm cảnh khó khăn do UBND huyện Phước Long tỉnh Bạc Liêu chậm thanh toán nợ – Ảnh: C.Quốc

Theo báo Tiền phong online ngày 5/12, ông Võ Thành Hưng – Vụ trưởng Vụ Ngân sách Bộ Tài chính cho biết, tháng 10/2015, Bộ Tài chính đã có văn bản hỏa tốc gửi các địa phương về định hướng xử lý những nơi có khả năng hụt thu. Theo ông Hưng, bản chất ở đây là mất cân đối ngân sách địa phương là do nợ xây dựng cơ bản và sâu xa là cách thức điều hành ngân sách địa phương chưa tốt và về nguyên tắc, địa phương phải tự cân đối thu chi.

Hậu quả

“ Tạo mọi điều kiện khuyến khích cho người dân làm ăn, phá bỏ mọi rào cản phi lý mà chính quyền đặt ra với các doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh. Có như thế thì người ta mới có tiền nộp thuế. Cũng như cần phải cải cách hệ thống thu, mạnh mẽ hơn trong việc thu thuế thu nhập cá nhân và thu thuế tài sản

Nguyễn Quang A”

Nói về hậu quả của tình trạng thiếu hụt ngân sách ở các địa phương sẽ tác động đến sự ổn định của nền kinh tế, TS. Nguyễn Quang A cảnh báo:

“Chuyện của Bạc liêu và Cà mau chỉ là chuyện vặt, nó cũng như các chiếc lá héo thì nó rụng. Vấn đề cốt lõi là ở chỗ, nếu vấn đề ngân sách nhà nước, kể cả trung ương và địa phương, nếu tiếp tục hành xử như hiện nay mà không có các cải cách cụ thể như: cải cách Luật Ngân sách; phải siết chặt kỷ luật ngân sách v.v… thì khả năng “cây” ngân sách sẽ đổ là điều chắc chắn. Tuy nhiên, không phải là nó sẽ đổ ngay, chuyện Bạc liêu và Cà mau chắc chắn không phải là các quân domino đầu tiên đẩy cho cái “cây” ngân sách sụp đổ. Cái đó nó vẫn có khả năng duy trì, song nếu như vẫn cứ tiếp tục như thế này, như hiện nay và mấy chục năm vừa qua thì ngày nó sẽ sụp đổ là điều chắc chắn.”

Giải thích lý do tình trạng thiếu hụt ngân sách ở một số địa phương trong thời gian gần đây, một cán bộ của Vụ Ngân sách nhà nước, Bộ Tài chính đề nghị dấu danh tính giải thích với chúng tôi:

“Trên thực tế có tới 50 tỉnh thành thu không đủ chi,  và do thu không đủ chi nên ngân sách các địa phương còn có một khoảng cách rất xa so với nhu cầu chi ở địa phương. Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội ở địa phương, nên họ có thể công khai hay không công khai huy động các nguồn lực khác. Vô tình nó đã dẫn đến nghĩa vụ nợ cho các chính quyền địa phương. ”

Nói về các giải pháp cần thiết để khắc phục tình trạng này, TS. Nguyễn Quang A thấy rằng, trước hết là phải giảm chi tiêu của bộ máy vì chi tiêu cho bộ máy hiện nay chiếm đến 60-70% tổng chi của ngân sách là điều quá bất hợp lý. Theo ông không có quốc gia nào trên thế giới có một bộ máy quản lý biếng nhác và kém hiệu quả như ở VN. Ông nói:

“Bước đầu tiên là phải cắt giảm quân số của bộ máy nhà nước, cái thứ 2 là phải tăng nguồn thu cho bền vững. Phải làm sao cho các nguồn thu đều đặn và để cho nó phát triển chứ đừng tận thu để cho nó chết rồi không có chỗ để tghu. Tạo mọi điều kiện khuyến khích cho người dân làm ăn, phá bỏ mọi rào cản phi lý mà chính quyền đặt ra với các doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh. Có như thế thì người ta mới có tiền nộp thuế. Cũng như cần phải cải cách hệ thống thu, mạnh mẽ hơn trong việc thu thuế thu nhập cá nhân và thu thuế tài sản.”

Nhìn chung qua trao đổi với chúng tôi, các chuyên gia kinh tế đều có một nhận xét chung là, việc quản lý thu chi ngân sách ở VN còn quá nhiều bất cập. Và điều đó đã dẫn đến tình trạng sử dụng ngân sách không có hiệu quả và đang gây thất thoát rất lớn.

Tư duy và lợi ích nhóm cản trở cổ phần hóa

Tư duy và lợi ích nhóm cản trở cổ phần hóa

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-12-09

Tập đoàn Vinashin làm thất thoát 86.000 tỷ đồng và đã bị xóa sổ năm 2013

Tập đoàn Vinashin làm thất thoát 86.000 tỷ đồng và đã bị xóa sổ năm 2013

Photo tinmoi.vn

Hướng tới nền kinh tế thị trường, Việt Nam đã tiêu tốn quĩ thời gian 25 năm mà vẫn dở dang con đường tư nhân hóa được ngụy trang với tên gọi cổ phần hóa. Vì sao xảy ra sự trì chậm này và chương trình  cổ phần hóa một cách chưa thực chất đã mang lại những hệ lụy gì.

Không hoàn thành kế hoạch cổ phần hóa DNNN

Đảng và Nhà nước Việt Nam thường sử dụng nhóm từ gọi là những yếu tố do lịch sử để lại khi xảy ra các vấn đề trì trệ và sửa đổi chậm. Trước cuộc đổi mới lịch sử 1986, Việt Nam có 12.000 doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn.  Gần 30 năm sau, đầu năm 2014 Việt Nam còn 1.200 doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước. Xét về qui mô khối lượng thì đã giảm đi rất nhiều, nguyên do thời kỳ bao cấp toàn bộ doanh nghiệp lớn nhỏ đều là quốc doanh. Thực tế sau đổi mới, nhiều doanh nghiệp bị giải thể, một số lớn doanh nghiệp quốc doanh vừa và nhỏ được cổ phần hóa, nhưng nhà nước vẫn giữ cổ phần chi phối.

Doanh nghiệp Nhà nước đã cổ phần hóa thực chất vẫn do Nhà nước lãnh đạo và nắm số lượng cổ phần hơn 51% thậm chí 80%-90% . Thí dụ điển hình, trong giai đoạn từ 1992 đến 2004 có 2.025 Doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hóa, nhưng tổng số tiền thu được chỉ khoảng 800 triệu USD. Hoặc theo tài liệu trên trang mạng Đầu tư Chứng khoán, 10 thương vụ cổ phần hóa lớn nhất giai đoạn 2005-2011 cũng chỉ là 1,4 tỷ USD và sau cổ phần hóa Nhà nước vẫn nắm phần vốn rất lớn của 9 doanh nghiệp quan trọng, số cổ phần bán ra cho tư nhân chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ dưới 10%.

Nguyên nhân nào khiến ba thập niên với biết bao nghị quyết của Đảng và Nhà nước mà vẫn không hoàn thành kế hoạch cổ phần hóa Doanh nghiệp Nhà nước, dù đây là một mấu chốt quan trọng của cải cách thể chế. Bà Phạm Chi Lan, Chuyên gia kinh tế hiện sống và làm việc ở Hà Nội nhận định:

“ Có nhiều nguyên nhân khác nhau, điều đầu tiên là cho đến bây giờ ĐCS và Nhà nước VN vẫn khẳng định kinh tế Nhà nước là chủ đạo. Trong kinh tế Nhà nước thì Doanh nghiệp Nhà nước là lực lượng vật chất quan trọng hàng đầu, khi vẫn còn tính họ nằm trong khu vực chủ đạo thì rất khó cổ phần hóa

Bà Phạm Chi Lan”

“ Có thể có nhiều nguyên nhân khác nhau, điều đầu tiên là cho đến bây giờ Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam vẫn khẳng định kinh tế Nhà nước là chủ đạo. Trong kinh tế Nhà nước thì Doanh nghiệp Nhà nước là lực lượng vật chất quan trọng hàng đầu, khi vẫn còn tính họ nằm trong khu vực chủ đạo thì rất khó cổ phần hóa hoặc cải cách họ một cách triệt để được. Nhiều khi Chính phủ còn coi Doanh nghiệp Nhà nước là công cụ để điều tiết vĩ mô để thực hiện các chính sách kinh tế ..v..v.. Nếu suy nghĩ coi trọng Doanh nghiệp Nhà nước như vậy sẽ đi cùng với việc muốn giữ một khu vực Doanh nghiệp Nhà nước lớn, chứ không sẵn sàng thực hiện tái cơ cấu như đã đề ra. Đấy là điều thứ nhất về tư duy như vậy là vẫn chưa thay đổi về cách nhìn nhận đối với Doanh nghiệp Nhà nước và đối với Khu vực Kinh tế Nhà nước nói chung.”

Bên cạnh vấn đề tư duy chưa thay đổi về vai trò lãnh đạo nền kinh tế của Doanh nghiệp Nhà nước. Chuyên gia Phạm Chi Lan nhấn mạnh tới một yếu tố đặc biệt quan trọng khác. Bà nói:

Công ty Vinamilk

Công ty Vinamilk

“ Điều thứ hai là lợi ích nhóm chắc chắn có ở đây, cả khu vực Doanh nghiệp Nhà nước cộng lại thì có thể nói cũng là một nhóm lợi ích lớn. Khi họ có lợi ích rất nhiều trong việc được quyền tiếp cận và sử dụng các nguồn lực của quốc gia. Cho đến nay Doanh nghiệp Nhà nước vẫn còn đang sử dụng khoảng 50% tổng nguồn vốn của đất nước, kể cả nguồn tín dụng cũng như vốn của khu vực công hay vốn ODA chẳng hạn, họ còn sử dụng một nguồn lực rất lớn và với cách làm ăn thua lỗ, nó có thể lỗ cho doanh nghiệp nhưng tiền có thể chảy về túi của một số ai đó có quyền lực. Rõ ràng những nhóm lợi ích này họ thích một cơ chế mù mờ như hiện nay hơn một cơ chế dứt khoát Doanh nghiệp Nhà nước phải đặt dưới sự giám sát của cả xã hội, phải chấp nhận những điều kiện như là TPP đang đưa ra đối với Doanh nghiệp Nhà nước.”

Sự thảm bại của doanh nghiệp nhà nước

Nền kinh tế tài chánh lâm vào trì trệ do cuộc khủng hoảng bất động sản kéo dài và sự thảm bại của một số Tập đoàn kinh tế Tổng Công ty Doanh nghiệp Nhà nước, điển hình là sự kiện Tập đoàn Vinashin làm thất thoát 86.000 tỷ đồng và bị xóa sổ. Năm 2012 Việt Nam tiến hành tái cơ cấu nền kinh tế trong đó có tái cơ cấu Doanh nghiệp Nhà nước.

Đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn ngoài ngành của Doanh nghiệp Nhà nước là những biện pháp quan trọng trong chương trình tái cơ cấu. Theo mục tiêu đề ra, thoái vốn ngoài ngành phải hoàn tất vào ngày 31/12/2015,  nhưng cũng như vấn đề cổ phần hóa, thoái vốn ngoài ngành của Doanh nghiệp Nhà nước cũng lỗi hẹn.

“ Việt nam khác với các nước nếu mà nói tư nhân hóa thì dị ứng, có nghĩa là trái với xã hội chủ nghĩa. Cách tư duy như vậy cũng là lỗi thời không đúng

PGSTS Ngô Trí Long”

Liên quan đến hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp, vào trung tuần tháng 11 vừa qua, Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng trình bày trước Quốc cho biết, khu vực Doanh nghiệp Nhà nước hiện vẫn còn rất nhiều vốn phải thoái từ 1,2 – 1,3 triệu tỷ đồng. Theo lời ông Bộ trưởng, tính chung cả giai đoạn từ 2000 đến nay mới bán khoảng 5% vốn cần phải rút về, tức vào khoảng 55 đến 57 nghìn tỷ đồng.  Bộ trưởng nhìn nhận chương trình chưa thành công dù đã nỗ lực hết sức. Riêng  giá trị phần vốn nhà nước bán được trong giai đoạn 2011 – 2015 khoảng 27.000 tỷ đồng, thu về 35.169 tỷ đồng, lãi hơn 8.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, 27 ngàn tỷ này chỉ tương đương khoảng 2,1% vốn nhà nước tại DN cần phải thoái. Cùng với vấn đề thoái vốn đầu tư ngoài ngành của Doanh nghiệp Nhà nước, năm 2015 ghi nhận khủng hoảng ngân sách trầm trọng và Chính phủ chỉ đạo bán hết cổ phần Nhà nước ở 10 doanh nghiệp lớn đã cổ phần hóa, trong đó có đại công ty Vinamilk là một trong những gương mặt nổi bật.

Nhận định về vấn đề liên quan, PGSTS Ngô Trí Long chuyên gia kinh tế từ Hà Nội phát biểu:

“ Việt nam khác với các nước nếu mà nói tư nhân hóa thì dị ứng, có nghĩa là trái với xã hội chủ nghĩa. Cách tư duy như vậy cũng là lỗi thời không đúng, cho nên hiện nay yêu cầu thoái vốn nhà nước đối với những lĩnh vực mà nhà nước không cần đầu tư, mà tư nhân có thể đầu tư vào thì cần phải thoái. Đây là quan điểm hoàn toàn đúng với cơ chế thị trường. Điều này thể hiện việc chú ý tới động lực phát triển khu vực tư nhân. Nhưng việc thực thi có đúng hay không thì hãy chờ đợi, nghe thì biết để đó thôi.”

Nhiều chuyên gia trong đó có bà Phạm Chi Lan cho rằng tư duy Kinh tế Nhà nước chủ đạo nền kinh tế và nhóm lợi ích đã làm chậm tiến trình cổ phẩn hóa, tái cơ cấu khu vực Doanh nghiệp Nhà nước. Tuy vậy Việt Nam không thể chậm trễ hơn nữa trong bối cảnh hội nhập sâu rộng với thế giới.

Bằng vào số nợ phải trả năm 2014 lên tới hơn 1,7 triệu tỷ đồng tương đương 44,2% GDP của 781 doanh nghiệp mà Nhà nước giữ 100%, sẽ có thể lý giải sự sốt ruột như thế nào của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng . Trong phiên họp thường kỳ cuối tháng 11/2015 vừa qua, ông Dũng đã chỉ đạo các Bộ ngành đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa thoái vốn ở các Doanh nghiệp Nhà nước. Phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gây sự chú ý đặc biệt trong công luận, xin trích nguyên văn: “Doanh nghiệp Nhà nước tập trung đẩy mạnh tiến độ lên, cái nào tư nhân mua được mà họ quản lý tốt thì các đồng chí bán luôn đi để chúng ta thu hồi vốn đầu tư vào những lĩnh vực cần thiết quan trọng khác.”