Chuyến đi dối già của Nguyễn Phú Trọng

Chuyến đi dối già của Nguyễn Phú Trọng

Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Trước khi ông Nguyễn Phú Trọng tới Mỹ, nhiều người nghi rằng ông sẽ không được tiếp đón tại phòng Bầu Dục. Bởi vì ông chỉ là tổng bí thư đảng, không là một nguyên thủ quốc gia hay người cầm đầu chính phủ. Nhưng cựu Tổng Thống Jimmy Carter đã tiếp ông Ðặng Tiểu Bình ngày 29 Tháng Giêng năm 1979 ở đó. Hai người đã ký nhiều thỏa ước quan trọng, mặc dù lúc đó Ðặng Tiểu Bình chỉ giữ chức phó thủ tướng chính phủ Trung Cộng, ngoài chức chủ tịch hội đánh bài Bridges. Họ còn biểu diễn đứng trên bao lơn Tòa Bạch Ốc vẫy tay chào dân chúng, cùng hai bà phu nhân.

Tuy vậy, Ðặng Tiểu Bình khác hẳn Nguyễn Phú Trọng. Tuy cả hai đều là chủ tịch Quân Ủy Trung Ương đảng, nhưng họ Ðặng nắm quyền sinh sát cho đến khi chết; còn Nguyễn Phú Trọng thì không có thực quyền suốt từ lúc lên chức tổng bí thư; tới bây giờ thì chỉ ngồi làm hư vị, chờ về hưu.

Cho nên chuyến đi Mỹ của ông Nguyễn Phú Trọng phải gọi là “Chuyến đi dối già.” Ðại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý (1998) giải nghĩa: “Dối già” là Trối già, thí dụ, “đi chơi trối già một chuyến.” Tự điển Anh Việt của Nguyễn Ðình Hòa (1966) dịch: “Dối già – to do as a joy in one’s old age,” hưởng thú vui lúc về già. Tân Ðại Tự Ðiển Việt-Anh của Nguyễn Văn Tạo (1986) cũng cho thí dụ: “Dối già – đi chơi dối già, to make a trip before one dies,” đi chơi một chuyến trước khi chết. Ông Nguyễn Phú Trọng đang đi một chuyến dối già; mặc dù mới 71 tuổi, ông có thể sẽ còn sống vài ba chục năm nữa. Khác với Nông Ðức Mạnh đã an phận đóng vai bù nhìn, ông Nguyễn Phú Trọng có cố gắng giành quyền hành về cho guồng máy Ðảng, không để Nguyễn Tấn Dũng thao túng hết. Ông lập ra một Ủy Ban Chống Tham Nhũng trong Trung Ương Ðảng, tổng bí thư làm trưởng ban. Nhưng ông là một tướng không có quân, một nhà buôn không có vốn; cái ủy ban của ông chẳng thấy đụng được tới lông chân thằng tham nhũng nào cả. Cuối cùng, giành được quyền rồi lại chỉ chứng tỏ mình vô tài hoặc bất lực, hoặc cả hai.

Nguyễn Phú Trọng cố gắng tấn công Nguyễn Tấn Dũng mấy lần, dùng guồng máy Trung Ương Ðảng mà trên nguyên tắc ông ta đứng trùm. Trọng ra quân lần thứ nhất năm 2013, trong hội nghị Trung Ương 6 nhân cơ hội Dũng làm kinh tế thất bại nặng nề với các vụ tham ô làm nhục quốc thể như Vinashin, Vinalines, vân vân. Nhưng Hội Nghị 6 lại kết luận: “Trung ương tiếp tục khẳng định… những kết quả quan trọng đã đạt được của doanh nghiệp nhà nước (tức là những Vinashin, Vinalines)!” Bản thông cáo chính thức viết, “Bộ Chính Trị đã thống nhất 100% đề nghị… một hình thức kỷ luật và xem xét kỷ luật đối với một đồng chí ủy viên Bộ Chính Trị.” Nói đến “kỷ luật một đồng chí” mà không dám khai họ tên là gì cả. Thông cáo lại viết tiếp: “Ban Chấp Hành Trung Ương đã… đi đến quyết định không thi hành kỷ luật đối với tập thể Bộ Chính Trị và một đồng chí trong Bộ Chính Trị!” Cũng lại “một đồng chí” mà không dám nói tên; Trương Tấn Sang sau vẫn sợ, chỉ dám gọi là “đồng chí X.”

Trận tranh quyền giữa Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng diễn màn kế tiếp trong Hội Nghị Trung Ương 7. Trọng và Dũng mỗi người đề nghị hai ứng viên vào Bộ Chính Trị, hai con gà của Dũng (Nguyễn Thiện Nhân và Nguyễn Thị Kim Ngân) đá bại gà của Trọng (Nguyễn Bá Thanh và Vương Ðình Huệ – ông Thanh sau đó đã qua đời). Trận đấu gần đây nhất là Hội Nghị Trung Ương 10 vào Tháng Giêng năm 2015, quyết định phe nào sẽ thắng trong Ðại Hội Ðảng lần thứ 12 năm tới. Họ bầy trò 197 Ủy viên và dự khuyết bỏ phiếu tín nhiệm 20 người trong Bộ Chính Trị và Ban Bí Thư. Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu, được 152 phiếu “tín nhiệm cao.” Nguyễn Phú Trọng đứng hàng thứ 8 với 135 phiếu; thua Trương Tấn Sang 149 phiếu, Nguyễn Thị Kim Ngân 145 và Phùng Quang Thanh 144. Ðồng minh của Nguyễn Phú Trọng là Tô Huy Rứa đứng hàng thứ 17, Phạm Quang Nghị hàng 19, và Hà Thị Khiết đứng chót. Hội Nghị 10 coi như chấm dứt cuộc đời chính trị của Nguyễn Phú Trọng. Mặc dù Trọng là trưởng Tiểu Ban Nhân Sự đại hội sang năm nhưng sẽ đành để cho Dũng làm đạo diễn.

Tại sao nhiều ủy viên Trung Ương Ðảng nghiêng về ông thủ tướng như vậy? Bởi vì Dũng đã thu nắm hết quyền quyết định kinh tế; trong 10 năm qua họ đều được chia quyền, chia lợi. “Trong tay đã có đồng tiền,” Dũng có thể đem phân phát, còn Trọng thì tay trắng. Từ khi Ðảng Cộng Sản bắt chước làm kinh tế tư bản, các “luật lệ cuộc chơi” đã thay đổi. Danh phận và địa vị trong guồng máy đảng không có giá trị nào nữa. Ðồng tiền, nhất là đồng đô la, mới đóng vai quyết định. Sau cùng, ba phần tư các ủy viên Trung Ương Ðảng chạy theo Dũng vì cần bảo vệ cái hệ thống chia chác cho họ được hưởng phần xôi thịt béo bở!

Nhưng tại sao Nguyễn Phú Trọng vẫn muốn đi Mỹ và được đi Mỹ dối già? Ðối với phe cánh Dũng thì việc vận động cho Trọng đi Mỹ, xin bằng được cho vào ngồi trong phòng Bầu Dục, là một cách nhục mạ công khai. Cả cuộc đời chính trị của Trọng đã bị gán cho nhãn hiệu “thờ thiên triều!” Nay phải quay 180 độ để sang Mỹ, tức là đã chịu thua – không những thua trong nội bộ đảng mà còn thua cả trong chính sách ngoại giao.

Nhưng Nguyễn Phú Trọng vui vẻ chịu nhục, vì chuyến đi này lại là một cách rửa mặt trước khi về vườn. Một người Việt biết mình sắp chấm dứt cuộc đời chính trị, không ai muốn để lại trong lịch sử cái tiếng “tay sai Tàu!” Trọng cần phải rửa sạch cái nhãn hiệu đó, trong khi còn giữ chức tổng bí thư. Nhìn thấy làn sóng phẫn nộ của 90 triệu người dân Việt Nam, Trọng biết rằng sớm muộn ngọn triều dâng sẽ thay đổi hết. Ðảng Cộng Sản Việt Nam sớm muộn sẽ phải quay sang nhờ vả Mỹ; chỉ mong quên mối nhục đem con voi Tàu về dày mả tổ tiên rồi bám theo ăn bã mía hơn nửa thế kỷ vừa qua. Trọng cần đi Mỹ một chuyến, chuyến đi dối già không phải để hưởng thú vui nào mà chỉ để rửa cái mặt đầy những vết chàm Trung Cộng.

Cho nên trước khi đi Trọng đã tuyên bố hoan nghênh vai trò của Mỹ trong vùng Biển Ðông Nam Á, và báo trước sẽ thảo luận việc hợp tác quân sự với Mỹ. Hoan nghênh Mỹ là đi ngược với đường lối thiên triều, vì Trung Cộng vừa mới nhắc lại lời phản đối Mỹ, một xứ ở tuốt bờ xa mà cứ xía vô chuyện biển, đảo bên trong Cửu Ðoạn Tuyến!

Như vậy có phải Nguyễn Phú Trọng đã bỏ chủ trương theo Tàu để theo Mỹ hay không? Thực ra các lãnh tụ Cộng Sản chỉ lo đến quyền hành và lợi lộc của chính họ, chẳng có anh nào theo nước lớn nào cả. Hồ Chí Minh đã từng xin ôm chân Mỹ nhưng bị gạt ra ngoài vì tình báo cả thế giới biết tay này là gián điệp của Stalin từ hơn 20 năm. Thế là Hồ phải bám chân Mao Chủ Tịch. Lê Duẩn đã ôm chân Mao để thanh toán các đối thủ “xét lại chống đảng;” nhưng sau lại bỏ Tàu để ôm chân Liên Xô; nhẫn tâm phản phúc đến mức ghi cả vào Hiến Pháp rằng nước Tàu là kẻ thù truyền kiếp.

Trong cuộc tranh chấp quyền hành giữa các thủ lãnh Cộng Sản Việt Nam, họ đóng trò thân nước này hay nước khác chỉ vì nhu cầu giai đoạn. Tất cả chỉ là bôi mặt vẽ hề trên sân khấu, khi tấn tuồng đổi màn thì các diễn viên cũng rửa mặt, bôi lại lớp son phấn mới, vẽ râu ria đội mũ màng mới. Vì vậy, ngày 30 Tháng Tư vừa qua, khi đã nắm chắc phần thắng trong Ðại Hội 12 sang năm, Nguyễn Tấn Dũng đã biểu diễn một bài diễn văn chống Mỹ. Bởi vì Dũng biết rằng mình chỉ đóng tuồng, nói cho các đảng viên ngớ ngẩn đứng nghe, chẳng có báo, đài nào ở nước Mỹ nó nhắc tới cả! Trước khi Dũng nắm toàn quyền và Ðảng Cộng Sản quay đầu xin nương tựa vào nước Mỹ, Dũng cần phải chứng tỏ mình không phải là tay sai Mỹ!

Chuyến đi dối già của ông Nguyễn Phú Trọng là một cảnh phụ trong tấn tuồng chính trị nội bộ đảng Cộng Sản Việt Nam, được đưa qua diễn ở nước Mỹ, nhưng nhắm cho người Việt Nam ở trong nước coi. Ông Trọng chính thức mời ông bà Obama sang thăm Việt Nam, không phải Sang, không phải Dũng. Ông còn dám khoe rằng mình đã chia sẻ quan điểm với tổng thống Mỹ về “những khai triển gần đây ở Biển Ðông và mối lo ngại về các hoạt động gần đây không theo đúng luật lệ quốc tế khiến tình hình thêm phức tạp.” Nghe câu này, nhiều người ở Hà Nội, Sài Gòn sẽ trầm trồ: Ðấy nhé, Ðồng chí Nguyễn Phú Trọng đâu phải là tay sai của Tàu! Ðó là điều ông Nguyễn Phú Trọng mong ước trước khi về vườn!

Rồi tới đầu năm 2016, Nguyễn Tấn Dũng lên ngồi ghế tổng bí thư, có thể kiêm luôn chức chủ tịch nước. Dưới áp lực của nhân dân cả nước đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ phải dần dần quay lưng với các “đồng chí anh em” Trung Quốc, cách này hay cách khác. Chẳng phải vì họ yêu nước hay chán cái chủ nghĩa cộng sản; nhưng đó là cách duy nhất để chính họ vẫn nắm quyền nắm lợi trong tay trong một thời gian nữa. Cũng giống năm 1986 các lãnh tụ Cộng Sản thấy “không đổi mới thì chết;” bây giờ họ cũng thấy nếu không lánh xa Tàu thì dân sẽ giết! Mục đích chính vẫn là phải bám lấy quyền hành! Ðó là ý nghĩa thật tình đằng sau lời bình luận trên mấy tờ báo đảng về chuyến đi dối già của Nguyễn Phú Trọng: “Chuyến thăm sẽ… khẳng định vị trí, vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng Sản Việt Nam.”

Bi kịch và thành công của người Mỹ gốc Việt

Bi kịch và thành công của người Mỹ gốc Việt

Kính Hòa, phóng viên RFA

RFA

Bi kịch và thành công của người Mỹ gốc Việt Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

trieu-giang-2-622.jpg

Poster quảng cáo phim VIETNAMERICA.

Courtesy photo

Your browser does not support the audio element.

Thời gian 40 năm kể từ khi Sài Gòn sụp đổ cũng là thời gian hình thành nên cộng đồng người Việt đầy sức sống tại Hoa Kỳ. Bộ phim tài liệu VIETNAMERICA ra đời ghi lại lịch sử hình thành cộng đồng tị nạn chính trị lớn nhất nước Mỹ.

Đón nhận rất nồng nhiệt

Nhân dịp bộ phim bắt đầu được chiếu rộng rãi trên toàn nước Mỹ, người thực hiện bộ phim là nhà báo Triều Giang dành cho Kính Hòa cuộc phỏng vấn về bộ phim lịch sử này.

Triều Giang: Bộ phim đã được hoàn thành và hiện được chiếu tại miền Nam California, và đã được các đồng hương của chúng ta đón nhận rất nồng nhiệt. Vé bán hai tuần trước đã “sold out”, một điều rất đáng mừng. Bây giờ bộ phim đang được chiếu khắp nơi, ở Houston là ngày 25 và 26, tức là còn hai tuần nữa. Cho đến hôm nay thì số nhà bảo trợ rất là đông và số thu được là khoảng 30 ngàn đô la, số vé hơn 2.000 vé cũng bán được một nửa. Ngày hôm thứ sáu vừa qua có một cuộc gặp mặt nho nhỏ với cộng đồng của chúng ta ở vùng DC, có một điều bất ngờ làm Triều Giang rất cảm động, đó là lúc đầu mình chỉ muốn nói thôi, muốn trình bày về thông tin thôi, vậy mà các bác các anh chị ở đó đã mở ra một cuộc quyên góp đưa cho Triều Giang đến 2.300 đô la. Điều đó chứng tỏ mọi người rất mong mỏi xem cái phim này, vì đó là lịch sử của mọi người chúng ta.

Bộ phim tên là VIETNAMERICA nói về lịch sử của người Mỹ gốc Việt, cái lịch sử đau thương lúc ban đầu nhưng mà mình cũng vượt qua được, vượt qua được tất cả. Mình là cộng đồng tị nạn lớn nhất nước Mỹ và có những đóng góp rất quan trọng.
-Nhà báo Triều Giang

Và phim đang được đưa đến với người (Mỹ) bản xứ ở đây qua các đại hội điện ảnh. 18 phút của bộ phim có nhan đề là Võ sư Hóa đi tìm mộ, đã được đưa vào 15 đại hội điện ảnh, và đã nhận được năm giải thưởng của quốc gia và quốc tế. Đó là những thành quả đầu tiên mà phim đã đạt được trong việc phổ biến đến người bản xứ và ngoại quốc ở đây.

Kính Hòa: Bà vừa nói đến 18 phút trích ra từ bộ phim, bà có thể nói thêm về nội dung bộ phim và vai trò của 18 phút đó trong bộ phim là như thế nào!

Triều Giang: Bộ phim tên là VIETNAMERICA nói về lịch sử của người Mỹ gốc Việt, cái lịch sử đau thương lúc ban đầu nhưng mà mình cũng vượt qua được, vượt qua được tất cả. Mình là cộng đồng tị nạn lớn nhất nước Mỹ và có những đóng góp rất quan trọng.

18 phút là phần nói về thảm trạng thuyền nhân. Không phải ai cũng đến Mỹ bằng thuyền, mà còn có những tù nhân chính trị. Quốc hội Hoa Kỳ đã có chương trình giúp tù nhân chính trị còn gọi là chương trình HO. Phim VIETNAMERICA nói về tất cả những người này, còn 18 phút là nói về thuyền nhân.

Sự đóng góp của cộng đồng

Kính Hòa: Tên phim là VIETNAMERICA, vậy có đề cập đến những bạn trẻ sinh ra hoặc lớn lên ở Mỹ không thưa bà?

trieu-giang-3-400.jpg

Nhà báo Triều Giang cùng poster quảng cáo phim VIETNAMERICA. Photo courtesy of Người Việt/Ngọc Lan.

Triều Giang: Cái phần đó rất là quan trọng, bởi vì cái nhóm mà mình gọi là thế hệ một rưỡi dù đi một mình hay với ba má khi miền Nam bị mất thì các em còn rất nhỏ. Cái nhìn của các em về những ngày cuối cùng của cuộc chiến, và các em đến đây với một thế giới đầy ngỡ ngàng, rồi các em làm thế nào để vượt qua để bây giờ có những thành công. Chúng ta có một vị tướng trong quân lực Hoa Kỳ, chúng ta có nhiều khoa học gia nổi tiếng, những bác sĩ, rồi nhiều luật sư… Chúng ta đóng góp rất nhiều cho đất nước này. Bộ phim dành rất nhiều thời gian cho nhóm những người trẻ đó.

Kính Hòa: Trở lại chuyện vượt biển tìm tự do sau năm 1975 thì thưa bà là dường như các cố gắng để tái lập các khúc lịch sử đen tối đó gặp nhiều khó khăn vì các trại thuyền nhân đang bị xóa đi. Khi thực hiện bộ phim bà có gặp khó khăn đó hay không, và bà có nhắm tới việc khôi phục lại giai đoạn lịch sử đó để thế hệ sau này biết hay không?

Triều Giang: Hội là một hội giáo dục và văn hóa, việc khôi phục lại những di tích đó nằm ngoài tầm tay của mình. Mình ghi nhận lại là một điều đáng mừng, mặc dù rất nhiều trại bị xóa bỏ, ví dụ như trại Songkla ở Thái Lan bây giờ không còn vết tích, Bi Đông bây giờ họ cũng xóa gần hết rồi, bên Indonesia thì họ có làm một bảo tàng cho người tị nạn, tuy nhỏ thôi và các vật trưng bày cũng sơ sài và nghèo nàn, nhưng đó cũng là cố gắng của chính phủ Nam Dương.

Khi làm phim này mình đi lại tất cả bốn nước Đông Nam Á, nơi mà trước đây có những trại tị nạn, hàng trăm nghĩa trang, hàng ngàn ngôi mộ vẫn còn đó, những ngôi mộ không có bia và những ngôi mộ chỉ với một cái huyệt mà chôn hàng trăm người. Những di tích thuyền nhân đó đã được ghi vào phim ảnh, và đó là điều mừng nhất, trước khi nó mất đi với thời gian hay là các nước sở tại người ta không muốn gìn giữ nữa.

Kính Hòa: Bà đã nói về sự phát triên của cộng đồng người Việt ở hải ngoại, về những người mới đến, và những thế hệ sau đó. Theo bà cộng đồng người Việt còn cần làm những gì để làm tốt hơn vai trò của mình ở nước Mỹ?

Tôi nghĩ là sau khi phim được chiếu tại các rạp, được đưa vào truyền hình Hoa Kỳ, đưa vào DVD, chúng ta sẽ đưa lên Internet thì không có cái gì có thể ngăn cản được người trong nước xem phim này.
-Nhà báo Triều Giang

Triều Giang: Theo suy nghĩ của tôi là cộng đồng đã làm rất tốt, những cá nhân đã thành công làm nên vẻ vang cho cộng đồng. Mình ước mong là cộng đồng chúng ta đoàn kết hơn, nắm tay nhau hơn. Một hội rất nhỏ như là Hội bảo tồn lịch sử và văn hóa này, mà với sự vận động đã có được một số tiền do cộng đồng giúp, không đủ lớn để làm phim nhưng mà cũng không nhỏ, là 200 ngàn, rồi vay được 150 ngàn để làm bộ phim tổng chi phí là 350 ngàn. Một hội nhỏ đã vận động được như vậy để làm được một phim và đưa vào đại hội điện ảnh quốc tế. Triều Giang nghĩ là nếu chúng ta đoàn kết nhau lại, thì chúng ta sẽ làm rất nhiều việc với kết quả không ngờ.

Kính Hòa: Những cố gắng bảo tồn văn hóa lịch sử của người Mỹ gốc Việt, cũng như là khôi phục lại lịch sử mà những người sinh ra và lớn lên ở Việt Nam người ta không biết, bà có nghĩ là những cố gắng đó có ảnh hưởng về Việt Nam không?

Triều Giang: Dạ rất là ảnh hưởng. Chúng tôi nhận được rất nhiều email của người trong nước gửi ra hỏi là bao giờ thì người trong nước sẽ được xem cái phim này. Họ cũng muốn biết lắm, muốn biết là chuyện gì đã xảy ra trong thời chiến tranh, chuyện gì đã xảy ra cho hàng triệu người bỏ nước ra đi, tại sao họ ra đi? Và chuyện gì làm cho họ trở thành một cộng đồng lớn mạnh như bây giờ.

Tôi nghĩ là sau khi phim được chiếu tại các rạp, được đưa vào truyền hình Hoa Kỳ, đưa vào DVD, chúng ta sẽ đưa lên Internet thì không có cái gì có thể ngăn cản được người trong nước xem phim này.

Kính Hòa: Xin bà câu hỏi cuối cùng là trong lúc chúng ta đang nói chuyện ở đây thì ông Nguyễn Phú Trọng đứng đầu đảng cộng sản Việt Nam cũng đang ở cách chúng ta không xa, bà có lời nhắn nhủ gì với ông ấy không?

Triều Giang: Vâng, dạ thưa ông Trọng, nếu ông muốn cai trị nước Việt Nam tốt hơn thì ông nên xem phim này, và đưa về Việt Nam trình chiếu cho người dân xem để biết rằng dân tộc của chúng ta thèm khát tự do, rất muốn sống tự do, và có tự do thì họ làm được tất cả. Nhìn vào cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại thì thấy là chúng tôi thành công như thế nào.

Kính Hòa: Xin cám ơn bà Triều Giang.

Ai cũng phải chuyển mình

Ai cũng phải chuyển mình

Người Buôn Gió

Rút cục thì Nguyễn Phú Trọng, TBT ĐCSVN phải dẫn phái đoàn quan chức CS sang Hoa Kỳ để ký nhiều điều khoản hợp tác. Chẳng ai lạ gì sự tô vẽ của CSVN. Ngay cả những trận đánh thua tan tác, chết sạch sành sanh cũng được tô vẽ thành thắng lợi. Như thắng lợi mang tính chất chính trị, thắng lợi vì thăm dò được khả năng quân địch, thắng lợi có ý nghĩa đột phá….

Lặn lội bầu đoàn kéo đến nhà người ta cách nửa vòng trái đất, nhất là nhà của kẻ mình trước nay tuyên bố thù hận không đội trời chung.

Chỉ từng ấy cũng đủ để hiểu là cái vị thế đang ra sao. Không phải nói nhiều. Hãy cứ để cho bộ phận tuyên truyền của CSVN tìm cách xuyên tạc sự thật để giữ thể diện,  rằng Hoa Kỳ phải chấp nhận đàm phán, chấp nhận cộng sản, phải công nhận Việt Nam tiến bộ, dân chủ gấp ngàn lần tư bản….Sự thật thì ai cũng thấy rồi. Chẳng đôi co bóc mẽ những kẻ đã vào đường cùng làm gì.

Người hiểu biết cư xử, khi cho ăn mày tiền, không bao giờ họ đứng xa ném đồng xu vào cốc gã ăn mày. Họ lại gần, cúi xuống thả đồng xu nhẹ nhàng vào trong cốc.

Đã là Minh Quân ý chí muốn thâu phục thiên hạ,  không bao giờ hạ nhục hàng tướng địch đến dưới trướng mình, họ ân cần đối đãi tử tế như người bạn thân xa cách lâu ngày giờ quay lại cố hương.

Từ ngoài hè phố đến cung điện người ta đều cư xử như vậy.

Đến hơn nửa thế kỷ nay tư tưởng thù hằn, chống đối, nghị kỵ, không đội trời chung với Hoa Kỳ luôn ngự trị trong tim óc người CSVN. Thậm chí tư tưởng hận thù ấy còn được tuyên truyền cho thiếu nhi, học sinh lòng căm thù đế quốc Mỹ. Còn được dựng thành đài tưởng niệm bia căm thù trên khắp quê hương. Được khuyến khích sáng tác những tác phẩm văn học, nghệ thuật khích động lòng căm thù đó.

Càng như vậy, mới thấy sự chuyển mình của CSVN khi TBT Nguyễn Phú Trọng, kẻ thù Mỹ một cách cực đoan, lại dẫn phái đoàn quan chức cấp cao đến tận Hoa Kỳ để xin xỏ, nhờ vả là sự chuyển mình, thay đổi đáng ghi nhận.

Người thấy CSVN như thế, họ nói thế này.

Chẳng qua bọn CSVN sắp chết, chúng bám víu, cầu cạnh tìm lối thoát, chúng hết tiền, chúng đói khát, chúng van lạy tứ phương, bất chấp danh dự….

Với tôi, tôi cho rằng CSVN lần này can đảm. Cái can đảm là dám vượt qua những định kiến cố hữu, bắt tay với kẻ cựụ thù mà mình vẫn rêu rao , chỉ trích bao lâu nay..

Nếu nhìn công tâm, chắc bên trong nội bộ những người CSVN, họ cũng phải trăn trở, vật vã, cân nhắc…thậm chí là thanh trừng những ý kiến cản trở,  để đi đến quyết định hợp tác với Hoa Kỳ. Một quyết định quan trọng và lớn lao như thế, chỉ riêng sự túng bẫn thôi thúc là chưa đủ. Phải có thêm sự can đảm vượt qua chính tư tưởng, định kiến của bản thân mình. Lúc Hàn Tín luồn trôn anh hàng thịt, đó cũng là sự can đảm để vượt qua chính mình. Không phải bất cứ hành động cầu xin nào cũng là hèn nhát, không phải lúc nào sự hạ mình cũng do nhu cầu sinh tồn thôi thúc.

CSVN đã chuyển mình, tự thay đổi để thích ứng với thời cuộc mới. Chắc chắn CSVN phải nhận ra sự thay đổi, chuyển mình ấy mang lại cho họ lợi ích hơn việc không thay đổi. Và vì thế họ thay đổi, chuyển mình.

Ngay sau ngày người cộng sản bảo thủ số một Nguyễn Phú Trọng bắt tay thân thiện, cởi mở với tổng thống Obama trong phòng Bầu Dục. Hãng truyền thông quốc tế BBC phỏng vấn một cựu chiến binh VNCH có tên là Ngô Kỷ. Những ai ở Cali đều biết Ngô Kỷ là người chống Cộng không đội trời chung. Ông ta chống CSVN y như những người CSVN chống Hoa Kỳ. Nếu CSVN từng coi bất kỳ ai dính dáng đến Hoa Kỳ đều là tay sai của thế lực thù địch, thì Ngô Kỷ cũng coi bất kỳ ai kể cả đồng đội của ông ta là tay sai cộng sản nếu như không chống CSVN theo ý ông ta.

Ở một nét chống đến cùng, chống sắt máu, không đội trời chung. Ông Ngô Kỷ và ông Nguyễn Phú Trọng không khác gì nhau.

Thế nhưng ông Nguyễn Phú Trọng thay đổi, còn Ngô Kỷ thì vẫn thế.

Sở dĩ BBC chọn Ngô Kỷ phỏng vấn, là bởi Ngô Kỷ đại diện tiêu biểu cho tinh thần chống CSVN đến mức một mất, một còn. Không thể đứng song song cùng tồn tại. Hãy cứ dạo trên các trang mạng xã hội, diễn đàn, các tờ báo, các hội nghị để thấy tinh thần ấy không hề nhỏ một chút nào.

Có thể cái khác nhau là tinh thần ông Ngô Kỷ xuất phát từ chánh nghĩa quốc gia, là lá cờ vàng 3 sọc đỏ có từ thời vua Thành Thái, là vì một nước VNCH nhân bản, văn minh, tiến bộ, là ý chí của hàng triệu người Việt hải ngoại.

Nhưng thế cuộc đang diễn ra thế nào mới là điều đáng nói. Cái tinh thần mà ông Ngô Kỷ đại diện ấy, làm thế nào để chuyển biến nó thành hiệu quả là tiêu diệt được đảng CSVN, thành lập lại chế độ VNCH? Vận động quyên góp tiền bạc, lập quân đội như Hoàng Cơ Minh, Mai Văn Hạnh, Lê Quốc Tuý tiến về giải phóng quê hương.? Hay tuyên truyền vận động toàn dân đứng lên tổng khởi nghĩa lật đổ chế độ CSVN và phục dựng lại chế độ VNCH? Hoặc là nhờ các cường quốc tạo áp lực cô lập, cấm vận, phong toả khiến CSVN tan rã, tự sụp đổ để chế độ mới lên?

Chẳng biện pháp nào là hữu dụng cả, nó chỉ trên lý thuyết mà thôi. Chừng nào những người chống CSVN mà còn tư duy phải một mất một còn ngay với CSVN như đánh xóc đĩa, mở ra là phải có chẵn, có lẽ, có được, có thua ngay. Chừng đó những hoạt động nỗ lực của các bạn sẽ là gáo nước đổ vào xe cát. Lý thuyết là một gáo nước sẽ làm thấm đống cát, ngàn gáo nước sẽ làm trôi đống cát. Nhưng để có ngàn gáo nước là vấn đề của thời gian, mà bạn không biết bao giờ mới có đủ ngàn gáo nước.

Hoa Kỳ tiếp đảng trưởng CSVN Ngyễn Phú Trọng. Có nghĩa Hoa Kỳ công nhận ĐCSVN?

Đúng là vậy, nhưng chưa đủ. Công nhận ĐCSVN có nghĩa Hoa Kỳ sẽ còn công nhận hàng chục đảng phái khác ở Việt Nam. Nếu Hoa Kỳ muốn Việt Nam đa đảng, không có lý do gì Hoa Kỳ chiều lòng các đảng phái Việt Nam khác để tiêu diệt và xoá sổ Đảng CSVN. Các nước Pháp, Đức…đảng cộng sản vẫn được phép hoạt động như bất kỳ đảng phái nào. ĐCSVN vẫn hoạt động và các đảng khác cũng sẽ phải được hoạt động.

Và trong một quan điểm rõ ràng tiến bộ chung của toàn cầu như thế. Không có lý do gì mà Hoa Kỳ lại ủng hộ đảng này tiêu diệt, xoá sổ đảng khác. Các đảng phái phải phải học cách cạnh tranh lành mạnh để giành quyền lực chính trường.

Có lẽ đến lúc các đảng phái có tinh thần chống CSVN không đội trời chung, phải thay đổi quan điểm của mình. Thay đổi không phải là hèn nhát, không phải là từ bỏ bản thân mình, là thoả hiệp mắc mưu CSVN. Thay đổi là để phù hợp với một cuộc chiến mới, một tình hình thực tiễn đang diễn ra.

Điều cần thiết bây giờ là công khai thành lập đảng tại Việt Nam, có cương lĩnh, đường lối, hoạt động ôn hoà, dùng lý lẽ vận động quần chúng ủng hộ đảng mình. Một trong những đòi hỏi đầu tiên là đòi quyền chính danh của các đảng phái, tiếp tới đòi sửa đổi điều 4 hiến pháp…tiếp tới nữa thì đảng nào được nhân dân tin yêu, đảng đó nắm quyền.

Biết đâu nhân dân vẫn tin ĐCSVN, bầu lá phiếu cho họ nắm quyền giữa muôn trùng đảng khác. Cũng phải vui vẻ chờ lần sau.

Một số bạn sẽ nói, lập đảng phái công khai sẽ bị bắt tù hết ư?

Yên tâm đi, nếu các bạn bị bắt tù vì lập đảng phái ôn hoà. Đó sẽ là khúc xương ném giữa hiệp định toàn diện mà Hoa Kỳ và CSVN đang thực hiện. Nó sẽ làm cản trở, thậm chí là tan vỡ những gì mà Hoa Kỳ và ĐCSVN giao ước. Một khi hiệp định này tan vỡ, CSVN trở về con đường cũng quẫn, lúc đó chả ai biết nó sẽ sụp đổ hay tồn tại kiểu gì. Khi Đảng CSVN đã bước chân đi đến Hoa Kỳ thế này, con đường quay lại chẳng hề dễ chút nào. Họ sẽ phải lựa chọn là để cho các đảng khác hoạt động trong khi họ còn đầy đủ sức để lấn át để nắm quyền hơn là lựa chọn tiêu diệt các đảng khác, rồi cùng dắt tay đi đến thiên đàng CNXH sớm nhất bằng cách thăng thiên.

Nhưng không thể hoạt động với tiêu chí một mất một còn với ĐCSVN. Họ đã không còn thế với Hoa Kỳ, các bạn cũng nên nghĩ lại cho phù hợp thực tại.

Hằng triệu người dự Lễ đầu tiên của Đức Thánh Cha tại Bolivia

Hằng triệu người dự Lễ đầu tiên của Đức Thánh Cha tại Bolivia

Lm Trần Đức Anh OP

SANTA CRUZ. Hằng triệu tín hữu đã tham dự thánh lễ đầu tiên ĐTC Phanxicô cử hành tại thành phố Santa Cruz, thủ đô kinh tế của Bolivia, sáng ngày 9-7-2015.

ĐTC đã rời tòa nhà ĐHY Terrazas Sandoval, nguyên TGM Santa Cruz từ lúc quá 9 giờ sáng. Ngài đi xe díp mày trắng có mái kiếng che tiến qua các đại lộ rộng rãi dài 1 cây số dười dẫn đến quảng trường Chúa Kitô Cứu Thế để cử hành thánh lễ cho các tín hữu tụ tập tại đây. Ngoài những người da trắng còn có đông đảo các tín hữu thuộc 36 bộ tộc thổ dân tại Bolivia, nhiều người mặc y phục truyền thống.

Nhiều màn hình khổng lồ đã được bố trí dọc theo đại lộ để những người ở xa lễ đài cũng có thể tham dự thánh lễ ĐTC cử hành bắt đầu lúc 10 giờ sáng.

Thánh lễ này cũng là lễ khai mạc Đại Hội Thánh Thể toàn quốc kỳ 5 của Bolivia và sẽ được tiếp nối tại thành phố Tarija. Ngoài tiếng Tây Ban Nha, còn có những phần của thánh lễ, kinh nguyện, bài đọc bằng các tiếng thổ dân như Guaranì, Quechua và Aimara.

Đồng tế với ĐTC có khoảng 50 GM Bolivia và các GM khách, và hàng trăm Linh Mục trong phẩm mục màu trắng. Phần thánh ca do một ca đoàn hùng hậu 500 ca viên đồng phục màu đen và vàng đảm trách.

Bài giảng của ĐTC

Trong bài giảng, ĐTC đi từ sự kiện các môn đệ đứng trước tình trạng 4 ngàn người nghe Chúa Giêsu giảng và không có gì để ăn. Các môn đệ xin Chúa giải tán họ vì không thể kiếm đủ lương thực cho đám đông ấy. Từ đó ngài nêu bật trách nhiệm của mọi người góp phần làm việc để không ai bị loại trừ trong xã hội. ĐTC nói:

”Đứng trước bao nhiêu tình trạng đói khổ trên thế giới, có thể chúng ta nói: không thể nào đương đầu với những tình trạng như vậy, và thế là tuyệt vọng bắt đầu xâm chiếm tâm hồn chúng ta.

”Đường hướng người ta chủ trương áp đặt trong thế giới ngày nay thật dễ chiếm chỗ trong một con tim tuyệt vọng. Đường hướng đó tìm cách biến đổi mọi sự thành đối tượng trao đổi, tiêu thụ, tất cả đều có thể thương lượng được. Đường hướng ấy chủ trương chỉ dành chỗ cho một thiểu số, và gạt bỏ tất cả những người ”không sản xuất”, không được coi là thích hợp và xứng đáng, vì họ có vẻ là không có lợi gì. Một lần nữa Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng: ”Không cần phải bảo họ ra đi, chính các con hãy cho họ ăn!”

”Đó là một lời mời gọi ngày nay vẫn còn vang vọng mạnh mẽ đối với chúng ta: ”Không cần một ai phải ra đi; hãy chấm dứt tình trạng bị gạt bỏ, chính các con hãy cho họ ăn”. Chúa Giêsu tiếp tục nói với chúng ta điều ấy tại quảng trường này. Đúng vậy! Hãy chấm dứt tình trạng gạt bỏ người, chính các con hãy cho họ ăn. Quan niệm của Chúa Giêsu không chấp nhận sự gạt bỏ những người yếu nhất, những người đang túng thiếu hơn cả. Khi chấp nhận sự thách đố ấy, thì chính Chúa nêu gương và chỉ đường cho chúng ta. Chỉ dẫn của Chúa được tóm gọm trong 3 câu: Ngài cầm lấy một chút bánh và vài con cá, chúc tụng, phân chia và giao cho các môn đệ phân phát cho người khác. Đó chính là con đường phép lạ. Chắc chắn đây không phải là ma thuật hay là tôn thờ thần tượng. Qua 3 hành động ấy, Chúa Giêsu biến đổi được chủ trương gạt bỏ thành một đường hướng hiệp thông, cộng đồng. Tôi muốn nhấn mạnh vắt tắt 3 hành động ấy.

– Người cầm lấy. Điểm khởi hành là: Chúa rất nghiêm túc coi trọng sinh mạng những người của Ngài. Ngài nhìn tận mắt và qua đó ngài hiểu cuộc sống, tâm tình của họ. Ngài thấy trong cái nhìn ấy điều đang đập và điều ngưng đập trong ký ức và con tim của dân Ngài. Ngài cứu xét và đề cao giá trị của điều ấy. Ngài đề cao giá trị của tất cả những gì tốt mà họ có thể cống hiến, tất cả những gì tốt đẹp trên đó có thể xây dựng được. Nhưng Chúa không nói về những đồ vật hoặc tài nguyên văn hóa hay ý tưởng, nhưng là những con người. Sự phong phú đích thực của một xã hội được đo lường trong cuộc sống của dân chúng, được đo lường nơi những người già có khả năng thông truyền sự khôn ngoan và ký ức của dân tộc cho những người bé nhỏ nhất. Chúa Giêsu không lơ là, không coi nhẹ phẩm giá của một ai, không viện cớ là họ không có gì để cho hoặc để chia sẻ.

– Hành động thứ hai là chúc tụng. Chúa cầm lấy và chúc tụng Cha ở trên trời. Ngài biết rằng những món quà đó là một hồng ân của Thiên Chúa, vì thế Ngài không đối xử với những vật ấy như bất kỳ vật nào, vì tất cả sự sống ấy là thành qủa của tình yêu thương xót. Chúa nhìn nhận điều ấy. Ngài đi xa hơn cái vẻ bề ngoài và trong cử chỉ chúc tụng, ngợi khen, Ngài xin Chúa Cha ban hồng ân Thánh Linh. Chúc phúc hay làm phép bao gồm 2 cái nhìn ấy, một đàng là cảm tạ và đàng khác là có thể biến đổi. Có nghĩa là nhìn nhận rằng sự sống luôn luôn là một hồng ân, một món quà khi đặt trong tay Chúa thì đạt được một sức mạnh tăng thêm nhiều. Chúa Cha của chúng ta không tước bỏ điều gì, Ngài làm tăng thêm nhiều.

– Sau cùng là trao ban. Trong Chúa Giêsu không có sự cầm lấy mà đồng thời không có một sự chúc lành, và không có một sự chúc lành mà không có trao ban. Chúc lành luôn luôn là một sứ mạng, có một mục tiêu, chia sẻ, cùng phân chia điều mình đã nhận lãnh, vì chỉ qua sự trao ban, chia sẻ, chúng ta mới tìm được nguồn mạch vui mừng, chúng ta mới cảm nghiệm được ơn cứu độ.

Từ những giải thích trên đây, ĐTC đề cập đến Đại hội Thánh Thể toàn quốc kỳ 5 của Giáo Hội tại Bolivia, được khai mạc hôm nay nhưng sẽ tiến hành tại Tarija. Ngài nói:

”Đó là Bí tích hiệp thông, làm cho chúng ta thoát khỏi cá nhân chủ nghĩa để cùng nhau sống ơn gọi theo Chúa, và làm cho chúng ta xác tín rằng điều chúng ta sở hữu và chính con người của chúng ta, nếu được đón nhận, chúc phúc và dâng hiến, thì nhờ quyền năng của Thiên Chúa, do quyền năng tình thương của Chúa, có thể trở thành bánh cho tha nhân.

Giáo Hội là một cộng đoàn tưởng niệm. Vì thế, trung thành với mệnh lệnh của Chúa, được lập lại mỗi lần ”Các con hãy làm việc này để nhớ đến Thầy” (Lc 22,19). Giáo Hội hiện tại hóa từ đời nay sang đời kia, nơi mọi góc trên trái đất, mầu nhiệm Bánh Sự Sống. Giáo Hội làm cho mầu nhiệm ấy hiện diện và trao tặng chúng ta. Chúa Giêsu muốn chúng ta tham gia vào sự sống của Ngài và qua chúng ta, sự sống ấy hóa ra nhiều trong xã hội chúng ta. Chúng ta không phải là những người cô lập, phân cách, nhưng là một dân tộc có ký ức được hiện tại hóa và luôn được dâng hiến”.

Một cuộc sống tưởng niệm cần những người khác, cần những quan hệ, cần gặp gỡ, cần tình liên đới thực sự, có khả năng đi vào con đường đón nhận, chúc phúc và dâng hiến, theo đường hướng của tình yêu.

Cuối thánh lễ, sau lời cám ơn của Đức Cha Sergio Gualberti Calandrina, TGM sở tại, ĐTC đã trao Thánh Giá truyền giáo cho một số thừa sai.

Ba thiếu niên Michigan bị bỏ tù vì không ăn cơm với cha

Ba thiếu niên Michigan bị bỏ tù vì không ăn cơm với cha

Nguoi-viet.com

LANSING, Michigan (NV)Một chánh án ở Michigan bỏ tù ba thiếu niên cho tới khi họ được 18 tuổi chỉ vì không chịu ăn cơm với người cha, theo một bản tin của Fox News.

Theo hồ sơ tòa án đề ngày 24 Tháng Sáu, Chánh Án Lisa Gorcyca ở Oakland County, Michigan, nói với người mẹ và ba đứa con của bà, 9 tuổi, 10 tuổi và 15 tuổi, là các con của bà phạm tội “xa lánh cha mẹ.”


Chánh Án Lisa Gorcyca. (Hình: Oakland County)

Mẹ của ba em này đã ly dị người chồng từ năm 2009, và theo bà chánh án, người mẹ đã làm cho hai đứa con trai và đứa con gái xa lánh cha của chúng.

Tại một phiên tòa, người con trai lớn tìm cách giải thích với chánh án vì sao em không muốn ở với người cha.

“Cha tôi là người bạo động, và tôi từng thấy ông đánh mẹ tôi,” người con trai nói, theo hồ sơ tòa.

Tuy nhiên, Chánh Án Gorcyca cho rằng, người con trai này đã bị người mẹ tẩy não, và quyết định cả ba thiếu niên này đã khinh thường tòa.

Bà chánh án quyết định đưa họ vào Children’s Village, một trại giam thiếu niên, và họ sẽ bị giữ ở đây cho tới khi được 18 tuổi.

“Tôi cảm thấy như là các con tôi đang bị xử tử,” người mẹ nói với đài truyền hình My Fox Detroit. “Cho dù vụ ly dị tệ hại đến như thế nào, tôi nghĩ, tòa án không nên trừng phạt các trẻ em chỉ vì hành động của chúng.”

Cho tới ngày Thứ Năm, cả ba thiếu niên này vẫn còn bị giam giữ, theo bà Lisa Stern, luật sư đại diện cho bà mẹ.

“Trong 20 năm hành nghề về luật gia đình, tôi có thể nói, quyết định này của tòa án là sốc,” bà Stern nói với đài My Fox Detroit. “Tôi tưởng tòa án sẽ ra phán quyết có lợi cho các em. Tôi nghĩ vị chánh án rất quan tâm đến việc tái hợp của gia đình này, nhưng lại ra quyết định rất sai.”

Luật Sư Keri Middleditch, đại diện cho người cha, nói rằng đây là một tình thế thê thảm cho tất cả mọi người liên quan.

“Thật là không may cả ba em đều bị đưa vào một nơi như thế chỉ vì hành động của người mẹ,” nữ luật sư này nói, qua một tuyên bố gởi cho hãng thông tấn AP hôm Thứ Năm.

Bà Middleditch nói rằng người mẹ “tiếp tục để các con của bà xa lánh người cha sau khi đã thành công trong việc tẩy não chúng. Tòa án đã đưa ra phán quyết rất nặng, với mục đích làm giảm tình thế vô cùng căng thẳng do người mẹ tạo ra.”

Luật Sư Amanda Murley, làm việc trong văn phòng vị chánh án, hôm Thứ Năm nói rằng, Chánh Án Gorcyca “không thể có ý kiến” bởi vì vụ xử đang còn tiếp diễn. (Ð.D.)

THƯ GỞI CHÚA GIÊSU TỪ BỆNH VIỆN UNG BƯỚU

THƯ GỞI CHÚA GIÊSU TỪ BỆNH VIỆN UNG BƯỚU

Chúa Giêsu giầu lòng thương xót ơi,

Hôm nay con viết thư cho Chúa, bỗng nhớ trong thánh kinh có đoạn nói về việc Chúa mới sinh ra đã phải chạy trốn sang Ai Cập và các anh hài bị giết, làm trái tim con quặn thắt: “Ở Rama, vẳng nghe tiếng khóc than rên rỉ: tiếng bà Rakhen khóc thương con mình và không chịu cho người ta an ủi, vì chúng không còn nữa.” (Mt 2,18)

Mùa hè năm nay, nhóm thiện nguyện Tín Thác chúng con được một linh mục mà cuộc đời cũng khốn khổ như Chúa, hướng dẫn đến một nơi, mà nơi ấy tất cả các bà mẹ, kể cả các ông bố nữa, đã cạn nước mắt rồi. Họ không thể khóc như bà Rakhen được nữa. Hay nói đúng hơn là họ cố gắng nuốt những giọt nước mắt, để dành sức lực chăm sóc cho những đứa con mình, mà dù có đổ bao nhiêu tiền của công sức chạy chữa thì phía trước vẫn là một màn đen vô vọng…

Nơi ấy là Khoa Ung Thư Nhi của Bệnh Viện Ung Bướu Sài Gòn, Chúa đã đến đó chưa?

Theo con số thống kê mới nhất, ở Việt Nam mỗi ngày trung bình có 250 người qua đời vì ung thư, trong đó gần hai phần trăm là trẻ thơ, có nghĩa là gần một ngàn bốn trăm linh hồn bé thơ rời bỏ mặt đất này mỗi năm. Tội quá Chúa nhỉ!

Thôi, con mời Chúa đi với con. Khi chúng con tới nơi ấy thì quá đông, quá ngột ngạt! Cái đông đúc, chen chúc, bức bách và ngột ngạt tràn cả ra hành lang. Nhóm chúng con cố gắng len lỏi vất vả lắm mới đem quà vào trong các phòng bệnh được, thì nhận ra lúp xúp những bé thơ, với cái đầu tròn vo, trọc lóc. Giá như trong hoàn cảnh khác thì đó là sự ngộ nghĩnh. Nhưng nơi này đó là nỗi đau, là cùng tận nỗi đau Chúa ạ!

Con nhớ lại buổi sáng Chúa Nhật 18/1/2015, Đức Thánh Cha Phanxicô đã gặp gỡ giới trẻ Philippines tại Sân Thể Thao Đại Học Đường Thánh Tôma ở thủ đô Manila. Một em gái đã được cứu khỏi đời sống bụi đời, đã hỏi ĐTC một câu hỏi rất thực tế và đầy thương tâm, rồi nghẹn ngào đến trào nước mắt khóc: “Có rất nhiều trẻ em bị cha mẹ mình bỏ rơi, có rất nhiều em trở thành nạn nhân của ma túy, đĩ điếm, và nhiều điều kinh khủng xẩy ra cho chúng. Tại sao Thiên Chúa lại để cho những điều ấy xẩy ra cho những trẻ em vô tội? Và tại sao lại có rất ít người giúp chúng con?”

Và ĐTC đã trả lời: “Cái cốt lõi của câu em hỏi, hầu như không có câu trả lời. Chỉ khi nào cả chúng ta nữa có thể khóc về những gì em đã nói thì chúng ta mới có thể tới gần chỗ trả lời cho câu hỏi ấy. Tại sao trẻ em chịu khổ quá nhiều? Tại sao trẻ em lại chịu khổ? Khi tâm can có thể tự vấn và kêu lên thì bấy giờ chúng ta mới có thể hiểu được một điều gì đó.

”. Bước chân vào đây, chúng con cũng tự hỏi: “Tại sao trẻ em chịu khổ quá nhiều? Tại sao trẻ em lại chịu khổ?”

Không thể lý giải nổi lý do nào mà trẻ thơ mới chút xíu đã bị ung thư, và ung thư nhiều đến thế. Những chứng ung thư làm chúng con lạnh hết người: ung thư máu, ung thư võng mạc, và ung thư xương nữa…

Đời bệnh nhân ung thư khủng khiếp nhất là những cơn đau. Chúng con đã chứng kiến những cơn đau rúc rỉa thịt xương đó trong hành trình thiện nguyện, đau đau đến mức cuối cùng phải dùng đến moọc phin để làm tê liệt những giây thần kinh, để giảm đau trong chốc lát. Trong những giây phút thống khổ ấy, người thân chỉ biết ôm lấy bệnh nhân như muốn sẻ chia phần nào nỗi đau, và càng đau khổ hơn vì thấy mình bất lực, không thể làm gì hơn để giảm nỗi đau cho người bệnh. Thế mà những cơn đau ấy đổ xuống trẻ thơ. Hình dung thôi chúng con cũng thấy rùng mình sợ hãi!

Lúc đó chỉ còn biết khóc thương, khóc than và giơ tay lên khẩn nài: “Xin dâng lên lòng thương xót Chúa, những vết thương… xin Chúa thương tha thứ chữa lành, nhận chìm con vào lòng Chúa xót thương

Không dừng lại ở chỗ khóc thương sụt sùi, chúng con đã cố gắng trong khả năng có thể, mang tới cho 200 bé nơi đây chút quà, sữa tươi và một phong bao lì xì.

Chúa biết không, khi chọn quà cho các em, một bác sĩ đã tư vấn nên tặng các em sữa tươi cho nhẹ nhàng, bởi thể trạng của các em, nhiều trẻ loại sữa quá giàu đạm và chất bổ sẽ khiến các em không tiếp nhận và dội ngược ra, thì sẽ rất mệt. Trao bao lỳ xì cho các em vui, với cảm giác được thêm tuổi mới trong đời, nhưng thiết thực là để bữa trưa này, cha hoặc mẹ các bé có chút tiền mua hộp cơm có thêm miếng thịt, ăn cho có sức khỏe để chăm sóc người không còn sức khỏe.

Nhà nào có người bị bệnh ung thư là kiệt quệ, là sạch cửa nhà, bán mọi thứ trong nhà để chạy thầy chạy thuốc cho bệnh nhân. Tại nơi này có những người mẹ ròng rã bao năm tháng chỉ ăn cơm từ thiện thôi, Chúa ạ. Ăn uống thiếu thốn, suy dinh dưỡng, mẹ đi chăm con mòn mỏi yếu ớt xanh xao như tàu lá chuối, đứa con bị ung thư xương nằm thóp thoi trơ cái đầu trọc lóc, đến là khốn khổ.

Chắc Chúa còn nhớ, trong suốt mấy năm trời, nhóm thiện nguyện chúng con cũng trợ giúp 80 phần cơm mỗi ngày cho các bệnh nhân hoặc người nuôi bệnh. Bây giờ phải đi nhiều nơi để gieo rắc hạt giống lòng Chúa thương xót qua những chuyến công tác bác ái nơi vùng sâu vùng xa, cho nên chúng con chỉ tổ chức những chuyến thăm viếng như hôm nay được thôi, Chúa ạ!

Chúa gởi thêm nhiều người có lòng xót thương đến với chúng con để cùng chung tay góp sức xoa dịu nỗi đau của những con người nghèo khổ nhé! Con xin lỗi Chúa trước, nếu Chúa đưa đến những đại gia, những chức sắc, những người tiền bạc rủng rỉnh đi làm việc thiện mà muốn cho cả làng biết, muốn nêu tên trên bảng vàng, muốn khắc danh tính vào bằng tri ân, muốn được liệt vào danh sách các ân nhân… thì chúng con không nhận đâu đấy nhé! Dù họ có tiền rừng bạc biển, quyền cao chức trọng, thì cũng không có chỗ trong nhóm thiện nguyện nhỏ bé của chúng con đâu!

Nằm chèo kheo ở bậc nghỉ cầu thang là một người đàn ông gầy gò xương xẩu, ngủ khò khò bất chấp kẻ lại người qua, con cứ tưởng là Chúa đang nằm đó chứ! Bỗng anh giật mình ngồi phắt dậy, vồ cái túi lép kẹp dùng làm gối kê đầu, nhìn xung quanh ngơ ngác. Đợi người đàn ông định thần trở lại, chúng con đến lân la trò chuyện, mới biết anh tên Thành, quê mãi Vĩnh Long, có đứa con điều trị ở đây, cháu bị ung thư máu.

Lau giọt lệ, anh thở dài: “Mọi sự là vô vọng rồi, vì cơ thể cháu không tiếp nhận hóa chất truyền vô được nữa!” Đêm qua anh nhắn vợ lên thay phiên để anh về quê chuẩn bị sẵn sàng đón con về trong tình huống xấu nhất. Anh phải giấu vợ, sợ chị tuyệt vọng. Anh tới góc cầu thang ngủ vội lấy sức sau cả tháng thức trắng bên con, rồi sẽ bắt xe đi về dưới. Mấy sào ruộng anh đã bán hết để cứu con, mà công cốc hoàn công cốc. Anh bảo dù khó khăn đến đâu, cũng sẽ kiếm cái áo tử tế cho con khi đón nó về. Đau lắm, đau buốt trong tim mà giấu vợ, trìu mến ôm hôn con rồi ra đi. Chúa có thấy nỗi đau nào hơn thế không?

Kể cho Chúa nghe những đau đớn đó, lòng chúng con cũng trĩu buồn. Cảm ơn Chúa đã gởi những phần quà từ tấm lòng xót thương của những anh chị em từ khắp nơi, bớt ăn tiêu chi chút, dành dụm gởi về để chúng con lên đường trao tặng cho những mảnh đời rách nát, bệnh tật, nghèo túng…

Có chi tiết nhỏ này có lẽ sẽ làm Chúa vui hơn : ấy là chúng con đã hì hục ngồi trong góc cầu thang bơm những trái bong bóng to đẹp rực rỡ sắc mầu trao tặng các em. Những trái bóng đủ hình dạng sắc màu làm mắt đám trẻ sáng lên, quên đi cơn đau trong chốc lát. Nhìn thấy nhiều em cứ cà cái đầu trọc lóc vào trái bóng, ôm khư khư trái bóng như sợ nó bay mất, thương đến là thương. Thật xót xa khi hóa chất vào cơ thể các em chế ngự tế bào độc của chứng ung thư, thì cũng chính là tước đi hết mái đầu xanh của trẻ. Thương chúng quá!

Tuy nhiên, người mục tử ân cần dặn thiện nguyện viên chúng con khi đến nơi này hãy dằn lại nỗi đau lòng, ráng tươi lên, đem niềm vui nụ cười như một kỷ niệm đẹp cho các bé. Chúng con làm vậy được không Chúa?

Người mục tử linh hướng từng chia sẻ với chúng con: ra đi, đem niềm vui cho anh em nghèo khổ và trẻ thơ bệnh tật yếu đau, nhưng đồng thời cũng là để nhận thức ra cái cõi hạn hẹp nơi con người. Biết sự bất lực của mình mà gửi gắm sự cậy trông tín thác vào thiên Chúa. Ra đi cũng để thấy mình còn được Chúa thương rất nhiều. Còn thân hình đầy đủ, còn đi lại nói năng bình thường, còn sức khỏe… đó là món quà quý nhất Chúa trao ban mà con đâu biết trân trọng, đâu thấy mình hạnh phúc. Con cứ lao đầu tìm tiền tài danh vọng của cải chức tước địa vị… đến khi ngã quỵ vì ốm đau bệnh tật, lúc đó mới thấy tất cả là hư vô, là con số không, nếu không có sức khỏe.

Rời Khoa Nhi Bệnh Viện Ung Bướu, ám ảnh chúng con là nụ cười ngây thơ trên những gương mặt tròn trịa với cái đầu cũng tròn xoay, như những dấu chấm tròn vo giữa cuộc đời này. Những dấu chấm ngây thơ không hề biết rằng cuộc đời các em có thể chấm hết bất cứ lúc nào…. Hữu hạn mong manh quá đỗi. Bỗng thấy mắt cay xé, con nhớ lại lời ĐTC Phanxicô nói với giới trẻ: “Chúa Giêsu trong Phúc Âm đã khóc. Ngài đã khóc thương người bạn Lazarô qua đời. Người đã khóc cho gia đình mất đứa con gái của họ. Người đã khóc khi thấy người mẹ góa đem người con trai của bà đi an táng.Và Người đã động lòng đến chảy nước mắt, đã cảm thương khi thấy đoàn lũ dân chúng không có chủ chiên. Nếu các bạn không biết khóc các bạn không thể trở thành Kitô hữu tốt lành.

Vâng, Chúa Giêsu ơi! Con đang khóc đây!

Chúa cùng khóc với con nhé!

Thiện Nguyện Tín Thác

Bình Thạnh

2015

Sư trụ trì tự tử vì thiếu nợ và nghi dùng ma túy đá

Sư trụ trì tự tử vì thiếu nợ và nghi dùng ma túy đá

Nguoi-viet.com

HẢI DƯƠNG (NV)Công an phát hiện bức thư tuyệt mệnh và một số dụng cụ để sử dụng ma túy đá cùng một túi chứa chất màu trắng nghi là ma túy đá trong phòng nơi nhà sư tự tử.

Theo tin Người Lao Ðộng, ngày 8 tháng 7, 2015, Ðại Ðức Thích Thanh Huy, tên thật là Trần Trọng Hòa (40 tuổi), quê ở quận 3, Sài Gòn, trụ trì chùa Quang Minh, ở thôn Mạc Xá, xã Minh Tân, huyện Nam Sách, đã được an táng tại chùa.


Ngôi chùa nơi sư trụ trì tự tử. (Hình: Thanh Niên)

Tin cho hay, trước đó vào ngày 6 tháng 7, 2015, sư trụ trì này được phát hiện chết nằm sấp trong phòng nghỉ tại chùa, thi thể đang trong giai đoạn phân hủy.

Qua tiến hành khám nghiệm hiện trường và tử thi của công an huyện Nam Sách cho thấy, trên cổ nạn nhân có vết rãnh hằn, phía trên chỗ nạn nhân nằm có một dây ni lon, một đầu buộc vào tấm gỗ trên trần nhà, một đầu dây buông. Cùng với đó là bức thư tuyệt mệnh của nhà sư viết ngày 28 tháng 6, một giấy viết tay ghi ngày 3 tháng 7 về các khoản nợ của nhà sư. Ðồ đạc trong phòng sư thầy không có sự xáo trộn.

Ðặc biệt, điều gây xôn xao dư luận là trong quá trình khám nghiệm hiện trường, cơ quan chức năng còn phát hiện một số dụng cụ để sử dụng ma túy đá và một túi chứa chất màu trắng, nghi là ma túy đá. Người dân nơi đây cho biết, đã từ lâu cả làng thường xuyên bàn ra tán vào về việc sư trụ trì chùa Quang Minh này nghiện ma túy. (Tr.N)

Việt Nam bắt nhân viên sân bay ‘chôm’ đồ của hành khách

Vit Nam bt nhân viên sân bay ‘chôm’ đ ca hành khách


Bảng thông tin chuyến bay bên trong sân bay quốc tế Nội Bài ở Hà Nội.

Bảng thông tin chuyến bay bên trong sân bay quốc tế Nội Bài ở Hà Nội.

09.07.2015

Cơ quan Công an Hà Nội đã bắt giữ một nhân viên tại sân bay quốc tế Nội Bài, trong bối cảnh gia tăng các khiếu nại về tình trạng mất cắp hành lý tại sân bay.

Nghi phạm là người giám sát vận chuyển hàng hóa và hành lý của hành khách, và đã làm việc tại sân bay được 6 năm.

Theo thông tin do Công an Hà Nội cung cấp, nghi phạm và các đồng nghiệp khác đã thực hiện 10 vụ trộm cắp hành lý.

Trong đó, vụ đánh cắp mới nhất là vào tháng 11 năm 2014 với 4 chiếc điện thoại di động trị giá 8 triệu đồng Việt Nam (khoảng 370 USD).

Ngoài ra, nghi phạm còn đánh cắp những hàng hóa có giá trị khác như nước hoa và các phụ kiện thời trang đắt tiền.

Trước đó, khoảng giữa năm 2014, nhân viên này đã thông đồng với đồng nghiệp khác để ăn trộm nhiều điện thoại di động và mang bán tới hơn 54 triệu đồng Việt Nam (khoảng 2.500 USD).

Hiện nay, các cơ quan công an đang điều tra để xác định những đối tượng khác có liên quan đến các vụ trộm cắp này.

Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam cũng cho biết, chỉ riêng trong năm 2014 đã nhận được báo cáo về 48 trường hợp trộm cắp hành lý tại sân bay và đã xảy 23 trường hợp kể từ đầu năm 2015 đến nay.

Cục trưởng Lại Xuân Thanh đầu tuần trước đã yêu cầu các cơ quan hữu quan chung tay ngăn chặn tình trạng mất cắp hành lý ở các sân bay của Việt Nam, gây bức xúc trong dư luận.

Nguồn: Xinhua, VnExpress, ANTD

Mỹ đã gửi một thông điệp sai lầm cho Việt Nam

Mỹ đã gửi một thông điệp sai lầm cho Việt Nam

tuankhanh

RFA

Tuần này Tổng thống Obama sẽ có một cuộc gặp với người đứng đầu của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Phú Trọng, ngay tại Nhà Trắng. Cuộc họp này là một sự kiện kỳ ​​lạ – một phần vì Trọng không phải là một người đứng đầu nhà nước, nhưng lại thay mặt cho người có vị trí cầm quyền cao nhất, theo hiến pháp của Việt Nam hiện nay – mà phần kỳ lạ khác do Việt Nam đã nỗ lực rất ít trong thời gian gần đây để xứng đáng được phần thưởng là một cuộc họp trong phòng Bầu dục (Oval Office) của Nhà trắng. Việt Nam vẫn còn là một nhà nước độc tài và phi dân chủ triệt để, cai trị bởi một đảng duy nhất, đứng đầu đảng đó hiện nay là ông Trọng, và việc sách nhiễu, tra tấn, và đàn áp tôn giáo là quy tắc hành động.

Tổng thống Obama hy vọng đạt được gì?

Trong khả năng của mình, Chính phủ Mỹ không bao giờ e ngại bộc lộ việc nâng cao mối quan tâm về quyền con người với Hà Nội. Tổng thống Obama đã từng công khai vinh danh các tù nhân chính trị trong các diễn văn. Các đại sứ và các đặc phái viên của ông cũng được chỉ thị để làm sao nhấn mạnh được mối quan tâm về quyền con người trong tất cả các trao đổi ngoại giao.

Vấn đề là các thông điệp đó rõ ràng là không nhận được tiếp nhận.

Cáh đây vài tuần, Tony Blinken, Cố vấn An ninh Quốc gia của Nhà Trắng, và hiện là thứ trưởng Ngoại giao, theo chỉ thị của Tổng thống Obama đã đến Hà Nội. Theo thông tin từ Bộ Ngoại giao, Blinken đã nhấn mạnh với chính phủ Việt Nam về các vấn đề nhân quyền và bày tỏ quan ngại về việc bỏ tù hoặc sách nhiễu những người bất đồng chính kiến. Ông Blinken cũng kêu gọi Hà Nội chứng minh tốt hơn việc cam kết cải cách. Nhưng rồi, ông trở về Mỹ mà không nhận được một cam kết nào về nhân quyền, không có hứa hẹn nào, và cũng không có chuyện phóng thích tù nhân chính trị.

Chuyến đi của Blinken chỉ cách một tuần, sau chuyến đi của Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ, ông Tom Malinowski, người chịu trách nhiệm chính về các vấn đề nhân quyền, đến Việt Nam để tổ chức một cuộc đối thoại nhân quyền. Malinowski và phái đoàn của ông đã gặp gỡ với chính phủ và các quan chức cấp cao an ninh, bày tỏ sự quan tâm về vấn đề tù nhân chính trị. Nhóm của ông Malinowski cũng đến thăm các địa điểm giam giữ, gặp gỡ các nhà lãnh đạo tôn giáo. Malinowski cũng nói với chính phủ Việt Nam điều rất xưa cũ mà các đời đại sứ Mỹ cũng đã làm trong nhiều năm qua: đó là cải cách nhân quyền là  phần cần thiết của việc xiết chặt ngoại giao với chính phủ Mỹ.

Những chuyến đi đó không thể gọi là thành công – tuy vậy, chính quyền Obama vẫn đang trải thảm đỏ vào thứ ba.

Hà Nội không chỉ từ chối đưa ra các lới hứa hoặc cam kết nào trong quá trình đối thoại, mà trong chuyến thăm của ông Malinowski, các nhân viên an ninh mật vụ còn sách nhiễu các nhân vật bất đồng chính kiến ​​và một blogger nổi tiếng, Nguyễn Chí Tuyến (được gọi là Anh Chi). Ông Tuyến đã bị tấn công dã man bởi những tên côn đồ – là những công an viên mặc thường phục. Hình ảnh của blogger đó bị đập vào đầu cùng với khuôn mặt đẫm máu đã nhanh chóng được chia sẻ bởi giới bất đồng chính kiến trên internet. (On May 19, another activist, Dinh Quang Tuyen, was assaulted in Ho Chi Minh City / bản tin quốc tế về sự kiện này, có thể tìm thấy bằng từ khoá tiếng Anh trên).

Quốc hội Mỹ đã đánh giá Hà Nội quá cao. Một phái đoàn lưỡng đảng của các thành viên của Quốc hội Mỹ, thuộc Uỷ Ban Các vấn đề Đối ngoại (House Foreign Affairs Committee – HFAC) đã được cử đến thăm Việt Nam trong khoảng thời gian tương tự như Malinowski, trong đó những nhân vật tầm cỡ như Eliot Engel, đảng Dân chủ và Matt Salmon, đảng Cộng hoà, thuộc tiểu ban về Á châu của HFAC. Phái đoàn này cũng đã nêu lên những lo ngại của mình về tình hình nhân quyền ở Việt Nam, và những ngôn ngữ này cũng được nhắc lại thêm từ một phái đoàn khác tới Hà Nội, dẫn đầu bởi các nghị sĩ, bà Nancy Pelosi và ông Sandy Levin. Họ cũng nói về vấn đề Việt Nam không đưa ra được một hứa hẹn cải cách nào, rồi sẽ làm tổn hại mối bang giao Việt-Mỹ.

Nhưng điều đáng nói là các cuộc đối thoại này dường như cũng không giúp Việt Nam tạo được bất kỳ hành động có ý nghĩa nào để thật sự cải thiện nhân quyền.

Các quan chức Bộ Ngoại giao vẫn nhấn mạnh rằng, áp lực, và những nỗ lực ngoại giao, vẫn trong tiến trình. Họ nói rằng các vụ truy tố người bất đồng chính kiến đã ít đi, và Hà Nội cũng đã phê chuẩn hai hiệp ước về quyền con người. Trong một bài bình luận trên tờ Politico vào ngày 8 tháng 6 (*), ông Malinowski nói rằng “Dưới ánh đèn sân khấu của các cuộc đàm phán TPP, Việt Nam đã trả tự do cho các tù nhân lương tâm, từ con số 160 người cách đây hai năm, xuống còn khoảng 110”. Ông cũng so sánh số người bất đồng chính kiến lên tiếng phản ứng một cách ôn hoà vào năm 2013 là đến 61, và chỉ có “một trường hợp” trong năm 2015.

Đúng là có những bước tiến nhỏ. Vâng, số lượng tù nhân chính trị ở Việt Nam quả đã giảm đi khoảng 50 người kể từ năm 2013, nhưng không phải ai trong số họ cũng may mắn nhận được từ thành quả của cải cách. Nhiều trường hợp, người được trả tự do chỉ đơn giản là hoàn thành thời gian thụ án của họ và ra ngoài, bị quản chế, buộc phải im lặng. Bất kỳ hoạt động chính trị hay thái độ bất đồng chính kiến nào cũng ​có thể đưa họ trở lại nhà tù. Trong mọi trường hợp, danh sách Bộ Ngoại giao đưa ra vẫn không đầy đủ: Human Rights Watch phân tích cho thấy có hơn 200 người bị đưa vào tù trở lại trong năm 2013, và tổng số tù nhân chính trị ở Việt Nam hiện nay có ít nhất là 135 người. Và trong khi bề ngoài, có vẻ như giới bất đồng chính kiến có bị kết án ít hơn, vẫn còn nhiều trường hợp mà chính phủ Việt Nam sử dụng như một phương thức mới, được chứng minh qua các đánh đập ông Nguyễn Chí Tuyến. Giới bất đồng chính kiến ​​Việt Nam hiện nay nói rằng việc bị hành hung bởi những tên côn đồ, thật ra là công an mặc thường phục, đang là một kiểu thông dụng.

Tóm lại, việc chỉ trích chính phủ tại Việt Nam tức phải đối mặt với mối nguy nan khôn lường; sự nguy hiểm chỉ đơn giản thay đổi hình thức mà thôi.

Tổng thống Obama lẽ ra không nên tưởng thưởng cho sự áp bức nhân quyền bằng cách gặp gỡ với Tổng Bí thư Trọng. Nhưng nếu phải làm, thì ông Obama cần phải đẩy mạnh hơn nữa trên các mối quan tâm về quyền con người – đặc biệt là nếu hai nước đang có kế hoạch công bố một cấp độ mới trong quan hệ ngoại giao.

Nếu không, thông điệp sẽ là: “Chúng tôi muốn bạn cải cách, nhưng chúng tôi cũng sẽ tưởng thưởng cho bạn ngay cả khi bạn không cải cách gì.”

John Sifton

(giám đốc bộ phận Châu Á của Human Rights Watch)

——————————————————-

(*) Nguyên văn: Op-ed: tức cách dùng chữ tắt của báo chí Mỹ, nguyên cụm là “opposite the editorial page”, tức nhận định, bình luận về một sự kiện vừa qua.

Tựa gốc: Wrong messages to Vietnam

Nguồn: Huffington Post

Xuân Vũ, Củ Chi & Wikipedia

Xuân Vũ, Củ Chi & Wikipedia

RFA

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

“People in the developing world don’t always understand how Wikipedia is created. It’s such a credible website, it comes so high up the search rankings—people think it’s just another encyclopedia.”

Nhiều người ở các quốc gia đang phát triển không phải lúc nào cũng hiểu cách thức wikipedia được tạo ra. Đó là một website được tin cậy, đến độ thứ hạng tra cứu thông tin qua nó đứng ở mức rất cao –  người ta nghĩ rằng nó là một dạng tự điển bách khoa.

Andreas Kolbe, Wikipedia editor

Cuối đời, tôi hơi hốt hoảng khi chợt nhớ ra rằng mình chưa được đi du lịch lần nào ráo trọi. Trước khi chuyển qua từ trần, có lẽ, cũng nên thử nghỉ hè một chuyến cho nó giống với (phần đông) thiên hạ!

Gọi điện thoại hỏi qua mấy hãng du lịch, và được khuyên rằng nếu không rành tiếng Anh tiếng Pháp thì đừng có bầy đặt qua Tây qua Úc làm chi (cho má nó khi) cứ qui cố hương cho nó chắc ăn. Thủ tục xin chiếu khán vào Việt Nam, bây giờ, thoáng lắm.

Những địa điểm họ đề nghị nên đến “tham quan” cũng đều vô cùng hấp dẫn:

  • Lăng Bác
  • Tượng Đài Mẹ Việt Nam Anh Hùng
  • Địa Đạo Củ Chi

Giữa tôi và ông Hồ Chí Minh không có mâu thuẫn gì lớn. Xích mích, đụng chạm, cãi cọ (nho nhỏ) cũng không luôn. Vào thăm lăng Bác âm u cho biết (nó âm u tới cỡ nào) cũng tốt thôi nhưng kẹt cái là phải ra tuốt luốt tận Thủ Đô Của Lương Tâm Nhân Loại thì xa xôi và lôi thôi quá. Đã thế, cứ theo dư luận thì nạn rạch hành lý của du khách ở phi trường Nội Bài “nổi cộm” hơn ở Tân Sơn Nhất rất nhiều lần (nên) tôi đành … thôi vậy!

Tượng Đài Mẹ Việt Nam Anh Hùng lớn nhất Đông Nam Á thì chắc chắn là một “kỳ quan” của thế giới rồi. Không được xem (qua) quả là điều đáng tiếc. Tuy nhiên, theo báo chí thì dù mới khánh thành nó đã bị bong gạch hết trơn rồi.

Lý do, theo ông Nguyễn Như Công, giám đốc Ban quản lý Dự án đầu tư xây dựng tỉnh Quảng Nam: “vì lượng người đổ về tham quan quá đông” nên cái nền chịu đời không thấu.

Ông Công khiến tôi trộm nghĩ (“không mợ chợ cũng đã đông rồi”) mình bon chen vào xem làm gạch của tượng đài vỡ nặng hơn nữa thì dám bị nghi rằng đây là “âm mưu phá hoại của bọn thù địch nước ngoài,” chứ chả phải đùa đâu.

Lôi thôi có thể bị mời vô phường hay vô đồn để “làm rõ” là bỏ mẹ, hay (dám) bỏ mạng luôn. Ngày nào mà không có người đã “tự tử” ở trụ sở phường, hay trong đồn công an Việt Nam, đúng không?

Thôi thì đi chỗ khác chơi cho nó lành. Tôi quyết định sẽ đi thăm Địa Đạo Củ Chi. Trước khi đến nơi tưởng cũng nên google thử chơi một cú. Wikipedia ghi rõ:

Địa đạo Củ Chi là một hệ thống phòng thủ trong lòng đất ở huyện Củ Chi, cách Thành phố Hồ Chí Minh 70 km về hướng tây-bắc. Hệ thống này được Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đào trong thời kỳ Chiến tranh Đông DươngChiến tranh Việt Nam. Hệ thống địa đạo bao gồm bệnh xá, nhiều phòng ở, nhà bếp, kho chứa, phòng làm việc, hệ thống đường ngầm dưới lòng đất.

Hệ thống địa đạo dài khoảng 200 km và có các hệ thống thông hơi vào các vị trí các bụi cây… tầng cuối cùng cách mặt đất 8-10m. Ðường lên xuống giữa các tầng hầm được bố trí bằng các nắp hầm bí mật. Bên trên nguỵ trang kín đáo, nhìn như những ụ mối đùn, dọc đường hầm có lỗ thông hơi. Liên hoàn với địa đạo có các hầm rộng để nghỉ ngơi, có nơi dự trữ vũ khí, lương thực, có giếng nước, có bếp Hoàng Cầm, có hầm chỉ huy, hầm giải phẫu… Còn có cả hầm lớn, mái lợp thoáng mát, nguỵ trang khéo léo để xem phim, văn nghệ.

Trời, đất, qủi thần ơi – hồi đó – sao cán bộ cách mạng giỏi dữ vậy cà? Ở dưới tuốt địa đạo cả chục thước mà không ai bị  ngộp nước ráo trọi; đã vậy, họ còn làm kho chứa vũ khí, bệnh viện giải phẫu, và rạp để chiếu phim hay trình diễn văn nghệ nữa kìa.

Vậy mà bây giờ hễ cứ mưa là thủ đô Hà Nội trở thành Hà Lội, và thành phố Hồ Chí Minh (rực rỡ tên vàng) cũng bớt rực rỡ rất nhiều vì lụt lội – theo tin loan của báo Pháp Luật, số ra ngày 09 tháng 5 năm 2015: “Mưa nửa tiếng đường ngập như sông, xe cộ bì bõm trong nước cống… Trên đường đường Nguyễn Văn Quá (đoạn qua phường Đông Hưng Thuận, quận 12), sau cơn mưa lớn, tuyến đường này ngập ngụa nước đen ngòm, bốc mùi nồng nặc hơn 500m.”

Mưa Hà Nội. Ảnh: infonet.vn

Blogger Cao Huy Huân (VOA) còn cho biết thêm chi tiết: “ Theo thông tin từ Trung tâm Điều hành chương trình chống ngập nước, từ đầu năm 2015 đến nay, khu vực trung tâm TP được xác định còn 68 điểm ngập, so với năm 2011 số điểm ngập trên nhiều hơn 10 điểm. Công tác chống ngập thời gian qua cứ loay hoay với câu chuyện xóa, giảm điểm ngập này lại phát sinh điểm ngập khác, thời gian qua tại TP đã phát sinh tới 29 điểm ngập.”

Mưa Sài Gòn. Ảnh: wikivn.org

Khoảng cách rất gần giữa Sài Gòn và Củ Chi, và rất xa giữa “khả năng của chính quyền cách mạng” hồi thời chiến với thời bình khiến tôi hơi nghi ngại – nghi ngại về mức độ khả tín và khả xác của Wikipedia! Lò dò thêm một chập tôi tìm ra được một nguồn tài liệu khác viết về Củ Chi, qua ghi nhận của một nhà văn: Xuân Vũ.

Ông không có tên trong Wikipedia, tất nhiên, dù đã để lại cho đời “một gia tài văn chương đồ sộ gần 50 tác phẩm” – theo ghi nhận của nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh:

“Xuân Vũ (1930-2004) là một nhà văn mà các tác phẩm cả về lượng lẫn phẩm đều nổi trội. Ông viết nhiều thể loại, từ những hồi ký đến truyện dài, từ những truyện phong tục đồng quê của Nam Bộ thời xa xưa đến những truyện theo sát thời sự từ thuở kháng chiến chống Pháp đến lúc vượt Trường Sơn vào Nam…

Một bộ hồi ký gồm 5 cuốn mà Xuân Vũ viết qua ký ức của Dương Đình Lôi ‘2000 Ngày Đêm trấn Thủ Củ Chi’ cũng là một chứng tích của một cuộc chiến mà những chiến công tưởng tượng và những anh hùng là người có tên có tuổi thực nhưng được thổi phồng với những việc làm mà óc tưởng tượng cũng phải khó khăn lắm để sáng tạo ra.”

Tôi vào hệ thống thư viện ở thành phố San Jose, California, và tìm được ngay bộ sách này:

Title 2000 ngày đêm trấn thủ củ chi / Xuân Vũ & Dương Đình.
Author Xuân Vũ.
Publication Information Glendale, CA : Đại Nam, 1991-
Description v. <1-7 > ; 21 cm.
Note Volumes 1-4 published by Trời Nam ; Volumes 5-7 published by Đại Nam.
Subject Vietnamese War, 1961-1975 — Tunnel warfare.  

Vietnamese War, 1961-1975 — Vietnam — Củ Chi (Quận)

Củ Chi (Vietnam : Quận) — History.

Té ra trọn bộ tới bẩy cuốn lận, chớ không phải năm. Mẹ ơi, mấy ngàn trang sách thì đọc chắc tới tết hay dám tới chết luôn – không chừng. Mới coi qua đôi dòng “LÁ THƯ GỞI CHO MỘT NỮ ‘DŨNG SĨ’ ĐẤT CỦA CHI” mà tác giả viết thay cho lời tựa thấy cũng đủ thấy “chóng mặt” rồi:

Hoa Kỳ, ngày 24 tháng 8 năm 1991

Em Bảy Mô thân mến,

Bất ngờ anh bắt gặp một quyển sách tiếng Anh viết về địa đạo Củ Chi trong đó có đề cập tới em và hình em nữa. Xem xong quyển sách này anh cười phì vì nó hài hước và bịp bợm quá lẽ, anh không muốn nêu tên sách và tác giả ra đây vì họ không đáng cho anh gọi là nhà văn, mà họ chỉ đáng được gọi là những thằng bịp…

Anh tự hỏi tại sao tác giả quá ngây ngô để bị lừa một cách dễ dàng rồi trở lại lừa độc giả của họ một cách vô lương như thế. Nhưng cho dù họ bịp được toàn nhân loại đi nữa, họ cũng không lừa được anh và em, những kẻ đã từng đổ mồ hôi và máu trên mảnh đất này. Riêng anh thì đã tử thủ mặt trận: Hai ngàn ngày đêm, không vắng mặt phút nào. Để nói cho độc giả biết rằng bọn Cộng Sản đã bày trò bịp thế gian một lần nữa, sau vụ đường mòn xương trắng và khuyên những người nhẹ dạ chớ có mắc lừa, anh quyết định viết quyển sách này.

Họ bảo rằng bề dài địa đạo là hai trăm dậm. Em có tin không ? Sự thực Củ Chi có mấy khúc địa đạo còn tạm xài được trước khi Mỹ vô (1964) ? Quận Củ Chi là một quận nhỏ gồm mươi lăm xã cách Sài gòn hai chục cây số đường chim bay, nhưng nó là cửa ngỏ đi vào Sài gòn cho nên có hai bên Quốc Gia lẫn Cộng Sản đều tử chiến ở đây, một chiến trường khốc liệt nhất Miền Nam trong cuộc chiến tranh lần thứ hai của nước ta. Nếu tính bề châu vi thì quận Củ Chi đo được chừng năm mươi cây số. Như vậy bề dài của địa đạo ít nhất bốn lần chu vi Củ Chi. Họ còn viết rằng địa đạo đã lập thành một vòng đai thép bao quanh căn cứ Đồng Dù và người cán bộ mặt trận có thể ở dưới địa đạo nghe nhạc đang đánh ở trên căn cứ này. Cụ thể là ông Năm Phạm Sang ngồi đàn dưới địa đạo mà nghe Bon Hope diễn kịch ở trên đầu hắn.

Quyển sách ma này nói láo, nói bậy hoặc nói nhầm hầu hết về những gì đã xảy ra ở Củ Chi trong vòng năm năm (1965-1970) anh và em có mặt ở đó. Nhưng ở đây anh chỉ nhặt ra vài ba điểm quá ư ngu xuẩn của tác giả mà một người đã dám cầm bút viết nên sách dù kém tài đến đâu cũng không thể có được.

Ví dụ họ viết rằng anh Tám Lê và vợ là Thị Thắm mổ xẻ thương binh dưới địa đạo. Xin hỏi: “Làm cách nào để đem thương binh xuống đó ? ” Nên biết rằng miệng địa đạo chỉ hẹp bằng cái khay trầu thôi. Người thường tuột xuống đó còn phải lách chứ không dễ dàng. Thương binh, nếu nặng thì nằm trên cáng, còn nhẹ thì băng bó đầy mình làm sao tụt xuống được? Và nếu có tụt xuống được thì nằm ở đâu, dụng cụ gì, đèn đóm nào dùng cho cuộc giải phẫu.

Đó là chưa nói đến cái không khí ác độc ở dưới địa đạo. Người khỏe mạnh bất đắc dĩ phải xuống địa đạo thì chỉ trong vài tiếng đồng hồ là đã mệt ngất ngư rồi: vì không đủ dưỡng khí! Nếu bị kẹt vài giờ dưới đó thì con người đã trở thành miếng giẻ rách, còn khi bò lên được thì đã quên hết tên họ mình. Vậy sau khi được giải phẫu, thương binh phải sống dưới đó làm sao?

Du khách được ăn uống thử dưới địa đạo những món ăn của cư dân địa đạo trước đây. Ảnh và chú thích: wikipedia

Đó là chưa kể những việc lặt vặt khác như thương binh phóng uế hoặc thủ tiêu những băng đầy máu me. Những người chưa từng ở địa đạo nghe mấy vị này mô tả chắc sẽ nghĩ rằng cuộc sống dưới địa đạo khỏe khoắn như ở trong nhà lầu có máy điều hòa không khí.

Xin thưa câu chuyện không đẹp tai cho lắm: Một lần nọ khi chui xuống địa đạo chúng tôi bị quân Việt Nam Cộng hòa chốt trên đầu không lên được. Rủi thay một nữ cán bộ có đường kinh. Nếu ở trên mặt đất thì dù không kịp dùng băng vệ sinh người đàn bà vẫn không toát ra mùi gì (xin lỗi) nhưng ở dưới địa đạo gặp trường hợp này mọi người đều ngặt mình như sắp chết vì cái mùi uế tạp kia. Người chưa từng ở địa đạo không thể biết rằng đánh một cái rắm dưới đó chẳng khác nào bỏ một trái bom nguyên tử…

Em Mô thân mến,

Chúng ta hãy cùng nhau cúi hôn mảnh đất Củ Chi đau khổ của chúng ta hiện nay đang nhục nhã vì bị bọn Cộng Sản đem ra làm trò bịp thế gian…

Cái gì chớ “bịp” thì là nghề của “bọn Cộng Sản” mà, và Wikipedia (tiếng Việt) thì đúng là mảnh đất lý tưởng để cho mấy ổng múa gậy vườn hoang.

Bi ẩn thi hài thánh nữ đẹp như mỹ nhân

Bi ẩn thi hài thánh nữ đẹp như mỹ nhân

Mấy trăm năm qua đi, dung nhan thánh nữ Bernadette vẫn tuyệt vời như khi bà qua đời ở tuổi 35, dù không hề được ướp xác.

Trên thế giới có rất nhiều hiện tượng nhục thân bất hoại, thi hài nguyên vẹn sau hàng trăm, hàng nghìn năm, đa số có thể lý giải bằng khoa học. Thế nhưng với hiện tượng nhục thân bất hoại của thánh nữ Bernadette và một số vị thánh, nhà tu hành khác thì các nhà khoa học vẫn phải đau đầu bởi sự kỳ lạ dường như mang tính chất thần linh.

Thánh nữ Bernadette là ai?

Người được nhà thờ Thiên chúa giáo La Mã 2 lần phong thánh này là con gái đầu lòng của một gia đình thợ may nghèo ở Louders, miền nam nước Pháp, từ nhỏ đã ốm yếu vì bệnh hen. Vào năm 1858, khi 14 tuổi, cô bé nhìn thấy Đức Mẹ hiện ra với mình trong một cái hang gần sông Gave, khi cô nhặt củi ở đó, nên về kể với mẹ.

Bernadette thời thiếu nữ. Bà là vị thánh đầu tiên của Thiên chúa giáo có hình chụp lúc còn sống.

Tin đồn lan ra, và dĩ nhiên rất nhiều người không tin. Trong vòng 5 tháng sau đó, cô bé còn được thị kiến Đức Mẹ thêm 17 lần, khiến đám đông đổ về hang ngày một đông. Điều đó khiến cô thiếu nữ gặp nguy hiểm bởi sự cảnh cáo, đe dọa của nhà chức trách. Tuy nhiên, Bernadette vẫn trung thành với những gì mình nhìn thấy thay vì tuyên bố mình nói dối như nhà chức trách yêu cầu.

Người dân càng tin vào Bernadette hơn khi có một dòng suối chảy ra từ hang do cô đã dùng tay đào theo chỉ dẫn của Đức Mẹ, và nước suối ấy được cho là chữa khỏi bệnh cho nhiều người. Trong một lần hiện ra với Bernadette, Đức Mẹ nói muốn xây một nhà thờ tại đây, nhưng nhà chức trách tìm cách ngăn cản, cũng như đóng dòng suối lại. Nhưng tiếng tăm về Bernadette và Đức Mẹ trong hang đã đến tai hoàng hậu nước Pháp, và bà đã can thiệp để nhà thờ được xây dựng.

Bernadette khi đã là nữ tu.

Năm 22 tuổi, Bernadette được vào tu viện đúng như khao khát của cô, dành hết tâm sức để thờ Thiên chúa và làm những việc thiện nguyện. Nữ tu sĩ qua đời ở tuổi 35 (năm 1879) sau một thời gian dài bệnh tật. Vào năm 1913, Bernadette được Giáo hoàng Pius X phong thánh, mộ của bà lần đầu tiên được mở ra và mọi người ngạc nhiên bởi thi hài vẫn y nguyên như lúc còn sống. Do hoàn cảnh chiến tranh (chiến tranh thế giới thứ nhất 1914-1918), các nghi thức bị gián đoạn nên đến năm 1919, mộ của bà lại được mở ra lần nữa để hoàn tất các nghi lễ.

Lúc này, Bernadette đã qua đời được 30 năm. Bác sĩ phẫu thuật Tourdan, người chứng kiến sự việc, kể lại: “Quan tài được mở ra dưới sự chứng kiến của nhiều người, trong đó có tôi. Thi thể thánh nữ trong trang phục yêu thích của bà không hề có mùi xú u. Khuôn mặt, bàn tay và cẳng tay lộ ra bên ngoài. Đầu bà nghiêng sang một bên, miệng hé mở để lộ hàm răng trắng. Hai tay đặt trên ngực, lớp da vẫn hoàn hảo”.

Theo mô tả của những người khác, đầu gối bên trái của thánh nữ nhỏ hơn bên phải do ảnh hưởng của chứng bệnh lao xương mà bà mắc phải. Trang phục của bà hơi ẩm ướt, cỗ tràng hạt bà cầm cũng như tượng thánh bằng đồng trên ngực đã rỉ sét, nhưng lạ kỳ là da thịt lại vẹn nguyên, các khớp xương vẫn mềm mại và da vẫn đàn hồi, tươi tắn. Thánh nữ Bernadette được thay y phục mới và mai táng trở lại.

Thi hài thánh nữ Bernadette được đặt trong quan tài kính.

Năm 1925, Đức Giáo hoàng Pius XI phong thánh lần nữa cho Bernadette, và mộ bà lại được mở ra lần thứ ba. Người phụ nữ qua đời ở tuổi 35 vẫn mang dung nhan thánh thiện, đẹp đẽ như đang nằm ngủ, duy có da mặt hơi sẫm hơn một chút do bị lau rửa lần trước. Sau khi bọc sáp gương mặt và đôi tay, di hài được đưa vào quan tài bằng pha lê đặt ở nhà nguyện tại Lourder cho đến tận ngày nay cho mọi người kính ngưỡng.

Lourder – quê hương Bernadette đã trở thành một trong những điểm hành hương lớn nhất của các tín đồ Thiên chúa giáo, và dòng suối nhỏ được bà đào theo chỉ dẫn của Đức Mẹ vẫn cung cấp nước cho khách thập phương đến tận ngày nay.

Bí ẩn của thi thể không rữa nát

Đã có vô số thi thể cổ xưa được người đương đại phát hiện trong tình trạng nguyên vẹn: những bậc đế vương, những người giàu có, những thiền sư đắc đạo, những người sống ở vùng băng giá. Sự hoàn hảo của những thi thể này được khoa học lý giải nguyên nhân rất dễ dàng: Những tảng băng tạo thành cái tủ lạnh khổng lồ khiến những xác chết nằm trong đó được bảo quản tươi nguyên sau nhiều thế kỷ.

Những thi hài được ướp xác bằng cách rút hết nội tạng, được quấn và nhồi bằng nhiều loại dầu, thảo dược có tác dụng chống phân hủy. Còn các vị cao tăng thường “tự ướp xác” mình bằng cách nhịn ăn nhiều ngày, chỉ uống loại nước thuốc đặc biệt để ngừng trao đổi chất, làm sạch cơ thể, khiến người gầy rộc chỉ còn da bọc xương trước khi họ viên tịch trong tư thế thiền định.

Đặc điểm chung của những xác ướp đó là tuy không bị rữa nát, chúng cứng đơ, khô quắt, bị rút hết nước, và màu da xám xịt hoặc đen sì. Thực ra cũng có một ngoại lệ, đó là xác ướp của Tân Truy phu nhân, vợ một vị quan triều Hán ở Trung Quốc cách đây 2.000 năm, được phát hiện năm 1972. Thi thể người phụ nữ qua đời lúc 50 tuổi này vẫn đầy đặn, mặt tuy đã phân hủy nhưng còn khá rõ các nét, da còn khá mềm và ẩm, có khớp vẫn cử động được, đáng ngạc nhiên là nội tạng vẫn đầy đủ, thậm chí trong ruột và dạ dày vẫn còn hàng trăm hạt dưa.

Thi hài 2.000 năm của Tân Truy phu nhân.

Dù kỳ lạ nhưng sự “bất hoại” của Tân Truy phu nhân vẫn được giới nghiên cứu lý giải rõ ràng: thi thể bà đã được bảo quản cực kỳ khoa học với 20 lớp vải quấn quanh, ngâm trong dung dịch chống phân hủy bao gồm cả chu sa, thủy ngân và thạc tín, đặt trong 4 lớp quan tài. Có đến 5 tấn than được đổ quanh và thi hài được chôn sâu 15 mét dưới lòng đất.

Tóm lại, gần như tất cả những thi thể tồn tại qua thời gian đều là kết quả của sự bảo quản kỳ công, hoặc thi hài tình cờ được ở trong môi trường đặc biệt để vi khuẩn và sự oxy hóa không “tác quái” được. Nhưng điều đó không đúng với trường hợp thi thể thánh nữ Bernadette. Khi qua đời, bà chỉ ở địa vị một nữ tu sĩ bình thường, thậm chí bị mẹ bề trên ghét bỏ, nên thi thể được mai táng hoàn toàn theo cách bình thường, không có một tác động nào nhằm mục đích bảo quản thi hài.

Dung nhan của thánh nữ Bernadette hiện nay vẫn tươi đẹp như đang ngủ.

Môi trường nơi đặt thi thể bà cũng hoàn toàn bình thường, nghĩa là những thi thể khác đặt ở đó vẫn rữa nát nhanh chóng theo quy luật tự nhiên. Các nhà khoa học không lý giải được tại sao, còn những người tin vào tâm linh thì cho rằng, chính hồng ân của Thiên chúa và Đức Mẹ đã tạo ra phép lạ cho người con gái thánh thiện của các ngài.

Nữ á thánh Anna Maria Taigi.

Không chỉ Bernadette, một số vị thánh khác của Thiên chúa giáo cũng có thi thể bất hoại, chẳng hạn nữ á thánh Anna Maria Taigi, người Italy, qua đời năm 1837 ở tuổi 68. Bà không phải là một tu sĩ, mà là bà mẹ 7 con nhận được ơn tiên tri của Thiên chúa, thấy được quá khứ và tương lai. Bà sống cuộc đời đạo đức, cống hiến và được Giáo hoàng Benedikt XV phong á thánh vào năm 1920. Mặc dù qua đời khi tuổi đã cao và đến nay đã hơn 175 năm trôi qua, gương mặt vị á thánh này vẫn tròn đầy, căng mịn, rất tươi đẹp.

Thánh Johannes Bosco.

Thánh Johannes Bosco (1786-1859) cũng được hậu thế chiêm ngưỡng trong quan tài kính với thần thái không khác lúc còn sống. Ông là một linh mục Pháp, người sáng lập nhà dòng Salesianer, được Giáo hoàng Pius XI phong thánh và tuyên xưng là Thánh quan thầy của các linh mục. Những vị thánh khác như Francis Xavier (1506-1552), di hài đang được lưu giữ tại Ấn Độ, Jean Marie Baptiste Vieanney (1786-1859)… cũng nổi tiếng là nhục thân bất hoại dù không hề được ướp xác.

Theo Xzone

Tài khoản Facebook ở Việt Nam dễ bị đánh cắp

Tài khoản Facebook ở Việt Nam dễ bị đánh cắp

Nguoi-viet.com

LONDON 8-7 (NV) – Tài khoản cá nhân trên mạng xã hội Facebook tại Việt Nam không an toàn vì có nhiều người kêu ca bị đánh cắp mật khẩu và trang cá nhân.

Một người ở Hà Nội chỉ vào hình “Lưỡi bò” bị cắt trên một trang cá nhân Facebook khi có các căng thẳng chủ quyền Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)

Theo một bản tường trình của tổ chức tư nhân tư vấn bảo mật SecDev tại Canada được đài BBC tường thuật lại thì “Vấn nạn đánh cắp tài khoản Facebook tại Việt Nam đang lan tràn như một ‘đại dịch.’

Tường trình công bố ngày 6/7/2015 của SecDev cho biết trong 15 người dùng Facebook tại Việt Nam được SecDev liên lạc thì có một người từng bị đánh cắp tài khoản và 6 người khác quen biết một ai đó từng mất tài khoản.

Trên Facebook mấy ngày gần đây, người ta thấy có những người đấu tranh dân chủ tại Việt Nam khuyến cáo đừng vào trang cá nhân của người đó nữa vì mật khẩu đã bị đánh cắp. BBC thuật lại từ tường trình SecDev nói rằng, số lượng bình luận có từ khóa liên quan đến “hacking” trên trang cộng đồng của Facebook tiếng Việt cũng tăng thường xuyên trong 3 năm trở lại đây.

Một trong các phương thức được tin tặc sử dụng phổ biến nhất tại Việt Nam, theo tường trình vừa kể, là tạo đường link giả mạo để yêu cầu người dùng đăng nhập lại tên và mật mã. Một phương thức cũng phổ biến không kém là giả mạo danh tính để kết bạn với bạn bè trên Facebook của nạn nhân và yêu cầu giúp đỡ.

Một cách phức tạp hơn là dùng mã độc để ghi lại thông tin được nhập trên bàn phím của điện thoại lẫn máy tính của nạn nhân và từ đó ghi lại địa chỉ email, tên đăng nhập, mật mã.

Theo SecDev, số lượng lớn các tài khoản bị đánh cắp không phải do tin tặc có trình độ cao, mà là do thói quen cá nhân lẫn các yếu tố văn hóa của người dùng Facebook tại Việt Nam.

“Sự chủ quan và thói quen vay mượn phi chính thức của giới trẻ tại Việt Nam đã tạo nên một môi trường hoạt động lý tưởng cho tin tặc,” Bản tường trình viết, được BBC kể lại. Để dập tắt vấn nạn tin tặc, giới trẻ Việt Nam “cần nhanh chóng đề cao cảnh giác cũng như tăng cường các biện pháp an ninh mạng”.

Hiện nay, có khoảng hơn 31 triệu người Việt Nam sử dụng mạng xã hội Facebook để trao đổi thông tin, tăng 50% so với năm 2014 khi điện thoại thông minh càng ngày càng phổ biến khắp nơi trên cả nước. Người ta không cần đến máy điện toán để lên internet vì điện thoại thông minh cũng có luôn tính năng này.

Văn thư của Bộ Công An CSVN  yêu cầu các công ty cung cấp dịch vụ Internet tại Việt Nam ngăn chặn mạng xã hội Facebook. (Hình: Internet)

Theo SevDev, 95% người có tài khoản Facebook tại Việt Nam ở độ tuổi 15-24 tuổi. Tổ chức này dẫn một báo cáo nói Việt Nam bị nhiều đợt tấn công mạng “từ những nhóm tin tặc được chính quyền hậu thuẫn và các nhóm dân tộc chủ nghĩa” hơn bất cứ nước nào khác trên thế giới trong năm 2014.

“Phần lớn các cuộc tấn công có liên quan đến tranh chấp chủ quyền trên biển ở với Trung Quốc,” SevDev viết.

Khi thấy các thông tin “lề trái” xuất hiện tràn làn trên Facebook, ngay từ năm 2009, bộ Công an CSVN đã gửi văn thư đến 10 công ty cung cấp dịch vụ internet tại Việt Nam đòi hỏi họ “áp dụng các biện pháp kỹ thuật chặn triệt để đối với 8 trang mạng” trong đó có Facebook.

Hành động của chế độ Hà Nội cho thấy họ cố gắng đối phó với các thứ thông tin “ngoài luồng” vì chúng chứng tỏ nhà cầm quyền hoặc che đậy sự thật, hoặc dối trá bịp bợm người dân.

Vì sự ngăn chặn không có tác dụng nên trong một phiên họp chính phủ hồi giữa Tháng Giêng vừa qua, chính ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng nhìn nhận sự thất bại khi khả năng của công an mạng và đám “dư luận viên” vừa có giới hạn, vừa không ai sợ, không ai tin.

Cái mà chế độ Hà Nội, qua chỉ thị của ông Nguyễn Tấn Dùng, có thể làm được là phải cố gắng đưa tin “kịp thời để định hướng” dư luận, nhờ vậy mà “người dân có lòng tin”, bởi vì các mạng xã hội là “nhu cầu thiết yếu, không thể ngăn cấm”.

Ngày 15/7/2013, nhà cầm quyền CSVN đưa ra nghị định 72 cấm người sử dụng internet ở Việt Nam phổ biến lại các thông tin từ các nguồn khác. Mục đính chính của nghị định này là ngăn chặn phát tán các thứ thông tin có hại cho chế độ Hà Nội.

Từ đó đến nay, các mạng xã hội trên internet, gồm cả Facebook, vẫn được các người tại Việt Nam trao đổi, dẫn lại các thông tin từ bất cứ nguồn này trên thế giới gây được chú ý của người đọc.

Để đối phó với các trường hợp đánh cắp mật khẩu hoặc bị “kẻ gian” chiếm đoạt tài khoản cá nhân, một tổ chức có tên makeuseof.com (http://www.makeuseof.com/tag/check-accessing-facebook-account/ đề nghị 16 bước kiểm chứng để xem tài khoản (account) của mình có bị kẻ gian xâm nhập hay không, đồng thời lấy lại quyền kiểm soát của mình. (TN)