Lễ Tạ Ơn Hoa Kỳ có nguồn gốc Công Giáo.

Lễ Tạ Ơn Hoa Kỳ có nguồn gốc Công Giáo.
Trần Mạnh Trác

Lễ Tạ Ơn cuả Hoa Kỳ là một lễ Công Giáo ư?

Đó là một ngày lễ chỉ có ở Hoa Kỳ, không được ghi trên niên lịch Phụng Vụ cuả Công Giáo, và ngày lễ được thiết lập do một nghị định cuả chính phủ Hoa Kỳ chứ không do Giáo Hội.

Không có một sách giáo khoa nào ghi rằng ngày lễ có nguồn gốc Công Giáo cả, ngay từ cấp vỡ lòng, các em đã được dạy rằng nguồn gốc cuả ngày lễ là do những người di dân gọi là Pilgrim (hành hương) đến định cư ở vùng Plymouth, Massachusett, trên một con tầu có tên là Mayflower, đã có một bữa tiệc gà tây với dân bản xứ (Da Đỏ ) để cảm tạ Thượng Đế đã cho họ sống sót qua một muà đông, trồng xong một vụ muà ngô bắp, và do đó có lương thực để cầm cự cho muà đông kế tiếp. Người ta gọi đó là ngày lễ tạ ơn đầu tiên.

Nhưng đó chỉ là một câu chuyện không đầy đủ và có pha lẫn huyền thoại, theo nhận xét cuả ông Dale Ahlquist, văn học, chủ tịch hội American Chesterton Society, một hiệp hội nghiên cứu văn học sử cuả Hoa Kỳ, đặc biệt cổ võ cho những tư tưởng cuả cố văn hào Chesterton cuả Anh quốc.

Ông cho biết, ngay cái tên “Pilgrim” cũng đã sai rồi, đó là tên mà người ta đặt cho nhóm người này khoảng 200 năm sau. Lúc đó họ được gọi là người Thanh giáo (Puritan), thuộc một giáo phái “bình dân” cuả Anh, rất cực đoan, chống đối với loại “Giáo Hội quí phái” cuả nước Anh đang được các vua chuá ủng hộ.

Trong thực tế, khoảng 30 năm sau khi người Thanh giáo đến Mỹ, thì những người Thanh giáo còn lại ở bên Anh đã toa rập trong một vụ nổi loạn và chặt đầu vua Charles I.

Một điểm huyền hoặc nữa là, những người ‘Pilgrim’ không phải là những người đầu tiên. Có ít nhất chín cuộc định cư khác từ nước Anh đã tới trước khi thuộc địa Plymouth được thành lập. Trong chín nhóm đó thì cũng đã có một nhóm ở Plymouth rồi. Tất cả các nhóm di dân trước đều thất bại và bị chết hết, kể cả nhóm đã từng ở Plymouth. Số người ‘Pilgrim’ (Thanh giáo) nói trên đã đến Plymouth vào năm 1620, cũng bị chết thảm thiết, một nửa qua đời vì mùa đông lạnh. Số còn lại, may mắn thay, đã được tiếp cứu bởi một người Mỹ bản địa tên là Squanto, ông đã dạy cho họ cách săn cá và trồng ngô.

Nhưng đây là một điều thú vị: Squanto là một người Công Giáo La Mã.

Câu chuyện cuả Squanto bắt đầu với năm 1614, lúc đó ông là một cậu bé thổ dân đã bị một thuyền trưởng cuà Anh tên là John Smith bắt (có liên hệ tới câu chuyên Pocahontas nổi tiếng) và đưa đến Tây Ban Nha, bán làm nô lệ. Squanto được các cha dòng Đaminh cứu và dạy cho đức tin Công Giáo. Kỳ vọng của Squanto là có thể trở về Mỹ để giúp dân của mình. Cho nên ông đã được đưa qua nước Anh và được một người tên là John Slaney dạy tiếng Anh và sắp xếp cho trở về vùng Newfoundland. Squanto đã làm nghề thông dịch cho người Anh và đã vượt Đại Tây Dương cả thảy sáu lần. Ông không bao giờ tìm lại được bộ tộc của mình, bởi vì họ đã bị tiêu diệt hết trong một cơn bệnh dịch hạch.

Sau khi Squanto đến giúp những người định cư ở Plymouth và dạy họ phương cách phát triển lương thực, thì ông dàn xếp để tổ chức một bữa tiệc ăn mừng muà gặt với bộ lạc Wampanoag ở địa phương. Và đó là những chứng cớ sử liệu cuả Lễ Tạ Ơn.

(Squanto sau này đã bị bộ lạc Wampanoag nghi ngờ, bắt giữ nhưng được người Anh cứu thoát. Sau cùng thì ông cũng chết vào năm 1622 vì bị đầu độc, người ta nghi ngờ là người Da Đỏ đã giết ông.)

Sách giáo khoa cuả Mỹ tiếp tục ca tụng những người Pilgrim là những người đã thiết lập ra nền tự do tôn giáo ở Hoa Kỳ. Thật ra họ không hề làm điều đó, theo lời ông Chesterton, cố văn hào người Anh, những chính quyền mà người Thanh giáo thành lập sau này thực sự đã đi trái với những gì mà họ mong ước về một thế giới mới không có đàn áp khi còn ở bên Anh. Họ cho rằng dòng vua Stuarts đã không lập ra một Giáo Hội thệ phản ‘tinh tuyền’ đủ vì vẫn còn có nhiều yếu tố Công Giáo như có chức linh mục (do đó mà họ tự nhận là Puritan, nghiã là thanh luyện cho ra tinh tuyền). Họ chém đầu vua Charles vì vợ ông là người Công Giáo. Và ở bên Mỹ, thành phố Salem mà họ thành lập đã từng dựng nên dàn hoả để thiêu sống tất cả những ai không ‘Puritan’ đủ, họ buộc tội những người này là phù thủy.

“Họ không tin linh mục, nhưng họ lại tin có phù thủy” ông Chesterton đã giễu như vậy.

Vậy thì ai đã chủ trương tự do tôn giáo? Trong năm 1621, một năm sau khi những người Thanh giáo đến Plymouth, thì một nhóm di cư Công Giáo từ Anh quốc đã đến Ferry, Newfoundland để định cư trong vùng đất cuả Bá Tước Baltimore là George Calvert, những người di dân này sau đó lại đi theo con trai của Calvert là Cecilius khi ông này được cấp thêm một vùng đất mới vào năm 1832. Ông đặt tên nó là Maryland.

Maryland, tên được đặt để vinh danh nữ hoàng Henrietta Maria người Pháp, vợ vua Charles đã bị chặt đầu như đã nói ở trên, là khu định cư Công Giáo đầu tiên cuả thế giới mới, và nguyên tắc sáng lập của nó là. .. tự do tôn giáo.

Đó là lý do tại sao mà văn hào G.K. Chesterton cuả Anh đã từng phiếm luận rằng nước Anh cũng nên mừng Lễ Tạ Ơn mới phải…bởi vì nhờ đó mà những người Puritan cực đoan đã rời khỏi nước Anh!

Lịch sử Ngày Lễ Tạ ơn

Lịch sử Ngày Lễ Tạ ơn

Vietsciences-Võ Thị Diệu Hằng    
  • 1/ Lễ Tạ Ơn thời xa xưa
  • 2/ Nguyên nhân cuộc du hành sang châu Mỹ – Tàu Mayflower
  • 3/ Nơi đến không định trước
  • 4/ Khó khăn lúc đầu
  • 5/ Định ngày lễ Tạ Ơn
  • a) Lễ Tạ Ơn tại Mỹ
  • b/ Lễ tạ ơn tại Canada
  • 6/ Các món ăn
  • 7/ Tem cho lễ Thanksgiving
  • 7/Hình ảnh của Mayflower

1/ Lễ Tạ Ơn thời xa xưa

Trong nhiều thế kỷ, lễ tạ ơn bên Âu châu  do  những  nguyên do khác  nhau như ăn mừng thắng trận, mừng mùa gặt hái thành công lớn hay mừng vua vừa được làm bịnh… Nghi lễ Thanksgiving  được tổ chức lần đầu tại miền Bắc nước  Mỹ, năm 1578, khi  nhà  thám hiểm Martin Frobisher đến tân Thế giới. Ông đã tổ chức  lễ này để tạ ơn Trời đã bảo vệ ông và các thủy thủ trong cuộc hành trình nguy hiểm trên biển cả.

Có tám quốc gia trên thế giới chính thức tổ chức lễ Tạ ơn: Argentina, Brazil, Canada, Nhật, Đại Hàn, Liberia, Thụy Sĩ và Hoa Kỳ

Truyền thống lấy một ngày hay một mùa để cảm tạ ơn trên đã có từ thời xa xưa mà tổ tiên chúng ta muốn chứng tỏ lòng biết ơn  của họ , để làm các vị thần bớt nóng giận.  Từ đó nghi lễ cứ tiếp tục..

Tại Hy lạp thời cổ đại, hàng  năm có tổ chức  lễ hội để cúng dường Demeter,  nữ thần chăm nom mùa bắp, làm tiệc tùng và nhiều hội để cùng vui với nhau.

Mỗi năm, người La Mã tổ chức một kỳ lễ hội cho mùa gặt lớn, tên là Cerelia để thờ lạy Ceres với những trò chơi, diễn hành và  lễ lạc

Lễ gặt hái Sukkoth vào mùa Thu của người  Do Thái vẫn còn tồn  tại từ ba ngàn năm đến nay

Nhà thám hiÃm Martin Frobisher

Một trong những biểu tượng của sự tạ ơn, là cái sừng dê biểu hiệu sự phồn thịnh. Cái sừng tượng trưng  múa màng tốt, là do chuyện thần thoại Hy Lạp: Zeus tặng cho Amalthea cái tù và bằng sừng dê như một cử chi biết ơn bà đã nuôi ông  bằng sữa dê lúc ông còn nhỏ, rằng sừng này sẽ mang  lại sự phồn thịnh cho những ai bà  muốn ban phước.

Trong nhiều thế kỷ, lễ tạ ơn bên Âu châu  có  những  lý do khác  nhau như thắng trận, mùa gặt hái thành công lớn, vua vừa được làm bịnh…

Nghi lễ Thanksgiving  được tổ chức lần đầu tại miền Bắc nước  Mỹ, năm 1578, khi  nhà  thám hiểm Martin Frobisher đến tân Thế giới. Ông đã tổ chức  lễ này để tạ ơn Trời đã bảo vệ ông và các thủy thủ trong cuộc hành trình nguy hiểm trên biển cả.

2/ Nguyên nhân cuộc du hành sang châu Mỹ – Tàu Mayflower

Cho đến nửa thế kỷ sau, ngày 26/11/1620, khi một nhóm người di dân Pilgrims từ Âu châu sang Hoa kỳ bằng tàu Mayflower. Họ gồm  102 thực dân người Anh trong số đó có một người đàn bà có mang, một số thủy thủ khoảng 25-30 người và 35 người  rất sùng  đạo Tin lành đã bị  vua Jacques đệ nhất  đuổi ra khỏi xứ . Họ đặt tên là nhóm Các Cha hành hương Pilgrim (Pilgrim Fathers hay Pères Pèlerins) .  Đầu tiên , họ thử đến Leyde, Hòa Lan nhưng nhà nước Âu châu làm họ thất vọng.  Tại Anh, có những  cuộc nổi loạn tôn giáo làm lộ ra sự xuống dốc của nền quân chủ và chế độ độc tài Cromwell. Anh quốc bị nạn chiến tranh 30 năm. Bên Pháp, cũng  không hơn gì với sự nhiếp chính của Marie de Médicis sau khi vua Henri IV bị ám sát… Do đó nhóm người này quyết định sáng tạo một “Jérusalem mới” ở Mỹ. Lúc đó nữ hoàng  Elizabeth đệ nhất khuyến khích cho dân đến  vùng Virginia (tên của nữ hoàng), do người Anh đô hộ.

3/ Nơi đến không định trước


Các Pilgrims  lên tàu vào tháng  9 năm 1620 , trên chiếc Mayflower, một thuyền buồm trọng tải 180 tấn. Cuộc hành trình náo động, lạnh và nguy hiểm. Nước đá lạnh tràn vô tàu khiến mọi người sợ hãi, rồi nơi sàn tàu bằng gỗ xảy ra  tai nạn về lửa nên  người ta phải ăn thức  ăn  lạnh. Nhiều hành khác  đau bịnh.  Trong khi còn trên biển, bà Elizabeth Hopkins sinh một con trai mà bà đặt tên là Oceanus. Và sau khi tàu cập bến tại hải cảng Provincetown, thì Susanna White cũng cho ra đời một bé trai, đặt tên là Peregrine (nghĩa là “người đã làm một chuyến du hành”). Chỉ một thủy thủ và một hành khách chết. Sau  65 ngày trên biển lạnh, , vào ngày 21 tháng 11 năm 1620 (theo lịch Julien là ngày 11/11, lúc đó Anh quốc  đang dùng) tàu đến Cape Cod, sau cuộc hành trình dài 2750 hải lý (1 mile = 1,852 km). Cap Cod là một bờ biển chưa ai đặt chân tới (sau này là Massachusetts. Tuy  biết là đã đi sai đường, nhưng họ phải xuống tàu, và ký ngay ngày hôm đó một hiệp ước  sống  hòa hợp với dân bản xứ. Đó là Maryflower Compact Act, trong đó ghi những gì phải làm khi định cư. Họ lập một nền dân chủ địa phương hữu hiệu để sau này sẽ mở ra một đại hội, lấy tên là General Court, để bầu những tổng đốc, những  viên chức  hành chánh, lập ra luật lệ, điều hành thuế má và thành lập các tòa án. Từ năm 1639, thuộc địa càng  ngày càng rộng  lớn  ra, không thể mời tất cả các  trại chủ hội họp, nên họ phải bầu người đại diện đi họp thay họ.

4/ Khó khăn lúc đầu

Le premier repas de Thanksgiving (novembre 1621)

Họ tới Plymouth Rock ngày 11 tháng 12 năm 1620.  Vừa xuống tàu là họ ký bản hiệp ước  hòa bình với người dân da đỏ khi vực  láng giềng  (Narranganset và  Wampanoag) . Có nhiều cuộc chạm trán nho nhỏ, nhưng  không  quan trọng  lắm. Họ phải đi tìm chỗ ở khá hơn bởi vì lúc đó là mùa đông đầu tiên của họ, một mùa đông quá lạnh và đầy giông bão .

Sau 6 tháng lên đất liền, thời tiết khắc khe và thiếu thốn, cùng với bệnh dịch  đã làm cho 46 người trong số 102 người tới nơi chết trước mùa Xuân, trong đó có 14 người vợ (trong số  18 người cả thảy), 13 người chồng (trong số 24 người) . Những người sống sót nhờ ăn thịt gà tây hoang và bắp do người dân da đỏ cung cấp.   May mắn thay mùa gặt năm 1621  thành công giúp những  người di dân sống sót nên họ quyết định làm lễ  Tạ Ơn Trời. William Bradford đã tổ chức  lễ Thansgiving đấu tiên, tháng 11 năm 1621. Họ mời 91 người Mỹ bản xứ (thổ dân da đỏ) đã giúp họ sống còn cho năm đầu tiên của họ trên đất Mỹ vì đã cung cấp lương thực và dạy họ trồng bắp và săn thú rừng.

Vài tuần sau, người Da đỏ bắt đầu lo lắng vì biết là người da trắng sẽ ở lại đó, nên  họ cho một nhóm 50 binh sĩ mang  một nắm mũi tên gắn với nhau bằng da rắn để tỏ lòng hiếu khách. Bradford đáp lại thịnh tình đó bằng cách gởi đến người Da đỏ một da rắn dồn thuốc súng  và đạn. Và hoà bình thành lập giữa hai cộng đồng.

5/ Định ngày lễ Tạ Ơn

a) L ễTạ Ơn tại Mỹ

Truyền thống kể rằng nhà cầm quyền Massachussets William Bradford đã định ngày lễ này lần đầu tiên vào năm 1621, khi làm bữa tiệc chung chia giữa những di dân Mỹ và những người thổ dân da đỏ khi họ giúp những thực dân sống sót vào những ngày đầu Ðông
Lễ Tạ Ơn đã được cử hành trên khắp nước Mỹ, nhưng mỗi nơi mỗi khác, tùy phong tục của những người di dân nên  ngày lễ không đồng nhất. Nhưng khi các di dân Mỹ bắt đầu đứng lên chống lại đế quốc Anh để giành độc  lập và khi George Washington  thoát khỏi cuộc bao vây ở  Valley Forge, ông đã  tuyên bố ngày lễ quốc gia Thanksgiving đầu tiên vào ngày 26 tháng 11 năm 1789.

 

Đến năm 1830 dân tộc bắt đầu chia rẽ, các tiểu bang miền Bắc  thành lập ngày lễ Tạ Ơn  và sau đó bà Sarah Josepha  Hale đi cổ động trên khắp nước Mỹ để có được một ngày lễ Tạ Ơn đồng nhất cho tất cả các tiểu bang.

Đến khi  Nam Bắc nước Mỹ phân tranh, các tiểu bang miền Nam đòi ly khai, tổng thống Abraham Lincoln lấy ngày lễ Thanksgiving để nhắc đến công ơn của các di dân Pilgrims đầu tiên đã dựng nên nước Mỹ. Ông làm tăng thêm ý nghĩa của lễ năm 1863 và định ngày cho lễ này hàng năm vào thứ Năm cuối cùng của tháng 11

Trong nhiệm kỳ của tổng thống Franklin Delano Roosevelt, vào những năm 1940, là thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến,  Quốc Hội Mỹ đang trong thời kỳ chiến tranh, đã biểu quyết ngày lễ Tạ Ơn là ngày quốc lễ của toàn thể liên bang để tưởng nhớ tới những công  lao những người đã hy sinh và ông Franklin Delano Roosevelt quy định lấy ngày thứ Năm của tuần lễ thứ 4 của tháng 11.

b/ Lễ tạ ơn tại Canada:

Thứ Hai của tuần lễ thứ 2 của tháng  10

Lễ thanksgiving của Canada đầu tiên khoảng 43 năm trước khi những người Pilgrim tới Plymouth Rock năm 1620. Khoảng 1576, một nhà hàng hải người Anh Martin Frobisher cập bến tại Baffin Island và tính định cư tại đó. Ông làm lễ tạ ơn tại một nơi mà ngày nay có tên là Newfoundland vì đã  sống sót sau chuyến hành trình dài trên đại dương. Sau đó những người định cư khác đến và những  buổi lễ cho những người tới nơi bình yên tại đây cũng được tổ chức  tại Âu Châu trong mùa gặt hái. Về chuyện  mùa gặt làm lễ tạ ơn thì bên Âu châu đã có từ hai ngàn năm trước

6/ Các món ăn:

Ngày xưa, lễ Tạ ơn kéo dài ba ngày. Tuy nhiên họ không  thực sự chỉ ăn gà tây (turkey, dindon) bởi vì chữ “turkey” lúc  bấy giờ dùng để chỉ gà tây, gà, chim cút, chim trĩ … Chắc chắn là họ không làm bánh nướng  nhân bí ngô bởi vì họ không có bột và đường; và phần đông  không  ăn  khoai tây vì họ cho khoai tây độc (khoai tây khi nẩy mầm rất độc , đó là khả năng tự vệ của khoai tây chống  lại các côn trùng, nên  đừng ăn phần khoai ở chỗ mầm đang nhú).

Ngày nay, trong dịp lễ này gia đình đoàn tụ. Khách có thể mang theo món ăn cho lễ nhưng nhất là không có quà cáp

Gà tây: Cho dù những người hành hương có ăn gà tây hay không cho lễ Thanksgiving đầu tiên, thịt gà tây  luôn luôn được gắn liền với lễ này

Bí đỏ: Là loại rau đã cứu sống  những người hành hương trong mùa lạnh kinh khủng đầu tiên ấy, đã trở thành món ăn quan trọng gần như thịt gà tây.

7/ Tem cho lễ Thanksgiving

Năm 2000  được tuyên bố là năm quốc tế cho lễ Thanksgiving, và ngày đầu năm này, 01/01/2000, ba văn phòng của Liên Hiệp Quốc ngụ tại Gabrielle Loire (Pháp) và Rorie Katz (Hoa Kỳ)

 8/ Hình ảnh của Mayflower

Sau khi rời Plymouth, những  ngày đầu tiên, gió tốt yên lành. Nhưng sau đó mây đen ùn ùn kéo tới từ phía Bắc..  Cơn giông bão bắt đầu. Một trong những hành khách tên William Bradford bị ngọn khổng  lồ sóng quét ra khỏi khoang tàu và được cứu như một phép lạ. Ông  là người thứ 13 ký tờ  Mayflower Compact Act và cũng có mặt trong buổi lễ Tạ Ơn  lần đầu. Ông sinh 10 con  và  82 cháu. Tưởng tượng  nếu như ông  buông tay và không được cứu sống thì sẽ không có hai ông tổng thống Bush và Roosevelt và Humphrey Bogart bởi vì các vị này là cháu chắt của John Howland và Elizabeth Tilley

http://www.mikehaywoodart.co.uk

Dr Mike Haywood họa sĩ chuyên vẽ tranh và chân dung về biển

Bài đọc thêm:

George Washington

Abraham Lincoln

Franklin Delano Roosevelt

Điểm đến Việt Nam: ‘Đòi tiền chuộc’, ‘chém trước cướp sau’ và 6%

Điểm đến Việt Nam: ‘Đòi tiền chuộc’, ‘chém trước cướp sau’ và 6%

 Nữ sinh Hà Nội mặc áo dài tạo dáng chụp ảnh trên phố mùa lá rụng.

Nữ sinh Hà Nội mặc áo dài tạo dáng chụp ảnh trên phố mùa lá rụng.

Phạm Chí Dũng

Ngày 10/11/2015, lại thêm một chấn động về chủ nghĩa thực dụng đang tung hoành trong nền du lịch “đậm đà bản sắc dân tộc” ở Việt Nam: câu chuyện một phụ nữ Anh bị đòi tiền chuộc chiếc máy ảnh mà chị làm rơi ở Quảng Bình được tường thuật lại trên báo Anh Daily Mail. Ngay lập tức, bài báo này nhận được rất nhiều bình luận từ độc giả trên khắp thế giới. Rất nhiều ý kiến chê trách lòng tham của người Việt.

Nhiều độc giả tỏ ra hoàn toàn không hài lòng về Việt Nam bởi “một đất nước đầy rẫy trộm cắp” và nạn vòi tiền du khách diễn ra phổ biến, và nói sẽ không quay trở lại.

“Thật đáng buồn, du khách ở Việt Nam bị coi như những cây ATM di động”, độc giả có nickname “EvilPoppet” của Australia bình luận.

‘Những tên cướp biển Viking’

Transtroemer là một người đàn ông Thụy Điển gần năm chục tuổi, khuôn mặt với bộ râu quai nón nhộn nhạo luôn phảng phất vẻ hóm hỉnh. Vào lần thứ hai cùng gia đình du lịch đến Việt Nam, ông đã không còn được hưởng cái thú đi dạo yên bình như lần trước. Vợ ông, vốn quen phong cách phụ nữ Bắc Âu với cái túi xách trễ nải mà “không khép thật chặt khuỷu tay”, đã bị hai kẻ đi xe gắn máy lao lên lề đường giật mất cái túi. Vào lúc ấy, gia đình họ đang hớn hở tắm mình trong cái nắng nhiệt đới.

Cảnh tượng quá đỗi kỳ quái đó lại diễn ra ngay tại một trong những đường phố đẹp nhất ở trung tâm Sài Gòn.

Cả gia đình Transtroemer đứng như trời trồng, không hiểu chuyện gì xảy ra. Phải sau vài ngày và khi đã trấn tĩnh lại, ông mới buột ra: “Trước khi xin visa du lịch vào Việt Nam năm nay, tôi đã nghe sứ quán cảnh báo về nạn cướp giật. Bạn bè của tôi, những người đã ít nhất một lần đến Việt Nam, cũng cho những lời khuyên. Nhưng không ngờ ở đây lại bị cướp táo bạo đến thế. Không khác gì những tên cướp biển Viking…”.

Đúng là một ví von hóm hỉnh. Nhưng trong lúc ông khách du lịch Thụy Điển cố tỏ ra hài hước để trấn an những người bạn Việt, chính người bản xứ lại càng có lý do để chua xót.

Đã không chỉ một lần họ được nghe những người bạn nước ngoài than thở về câu chuyện tương tự. Cũng không chỉ một lần, bản thân họ hoặc bất cứ ai trong số họ đã chứng kiến người thân của mình bị trộm hoặc bị cướp trắng trợn ngay tại Thủ đô Hà Nội hay ở Sài Gòn.

Natalia Krupskaia, một nữ du khách Nga thường đến Hà Nội kết hợp với công việc kinh doanh cá hồi, còn ngạc nhiên một cách thành thật bởi một thành phố có bề dày “ngàn năm văn hiến”, nhưng lại “hở ra một cái là bị mất đồ ngay”. Với người đàn bà chịu học tiếng Việt này, thật khó hiểu là với tình hình an ninh như thế, hàng năm Việt Nam lại có thể đón tiếp đến trên 8 triệu khách du lịch nước ngoài – như một con số của ngành du lịch nước này công bố mà cô không mấy tin tưởng vào độ xác thực của nó.

Cũng đã từng vài lần đến Sài Gòn, tuy chưa lâm vào hoàn cảnh như gia đình Transtroemer, nhưng Natalia không thể không chú ý đến không khí căng thẳng luôn thường trực tại nhiều khách sạn tại khu trung tâm. Thậm chí qua  báo chí Việt, Natalia còn biết là hàng năm có đến hai trăm rưỡi vụ cướp giật xảy ra tại các khách sạn trung tâm Sài Gòn, nhưng số vụ được cảnh sát phát hiện manh mối và truy bắt được thủ phạm lại hầu như không đáng kể.

Chỉ mới vào tháng 10/2015 ở Sài Gòn, một công dân Đức là Sepastian Gretz khi cùng bạn gái ra khu vực bờ kè kênh Tàu Hủ ngồi hóng mát, đã bất ngờ có một nhóm thanh niên xông đến dùng dao chém anh bị thương, sau đó lục túi cướp tiền và điện thoại di động, rồi tẩu thoát.

Nạn cướp giật du khách nước ngoài đã đẩy lên mức độ “chém trước cướp sau”.

Thế thì làm sao mỗi năm thành phố này có thể thu hút đến ba triệu rưởi khách du lịch nước ngoài – điều được các quan chức và doanh nghiệp du lịch Sài Gòn cho là “cứu cánh” mà có thể mang lại doanh thu đến 49.000 tỷ đồng?

Điều đáng nói là ngày càng có nhiều khách du lịch nước ngoài am hiểu về mặt trái xã hội đương đại ở Việt Nam. Cái được gọi là “văn hóa bún mắng cháo chửi” ở Hà Nội cũng đã được người ta biết đến không chỉ như một câu chuyện bông đùa.

‘Ghét Việt Nam’

Một nữ Việt kiều là chị Phương Thảo, sau nhiều lần trở về quê hương, đã buồn bã và chua chát: Việt Nam có gì để tự hào?

Chỉ cần gõ lên trạng mạng tra cứu dòng chữ “tôi không bao giờ quay trở lại Việt Nam” sẽ thấy rất nhiều bài báo hay các blog được liệt kê. Những bài này do các blogger chuyên về du lịch viết và được đăng trên các trang chuyên mục về du lịch nổi tiếng có nhiều người theo dõi. Một trong những người đó có thể kể đến Nomadic Matt, Derek4real hay thậm chí trên diễn đàn của Tripadvisor- một trang mạng chuyên cho lời khuyên đến du khách – cũng có riêng một mục nói đến những trải nghiệm xấu ở Việt Nam.

Cũng có đây đó các ý kiến phản biện, cho rằng họ có phần hơi phiến diện, nhưng điều đáng buồn là số người đồng ý không hề nhỏ, và họ còn nói rằng họ ghét Việt Nam. Không phải họ ghét người Việt mà chỉ vì ghét những gì đã phải trải qua và chứng kiến. Điều đáng buồn là những nhận xét này không thay đổi theo thời gian (tính từ năm 2003 cho đến 2014).

Điều mà ai cũng nói đến – đó là sự thiếu trung thực, hay nói thẳng ra là nói dối và lừa đảo. Ở đâu cũng có người này người kia, ở đâu cũng có vấn nạn lừa đảo du khách, song mức độ lừa đảo và nói dối ở Việt Nam đã lên hàng đầu. Du khách bị lừa ngay khi từ sân bay hay bến xe bước chân lên taxi. Sự thiếu trung thực còn thể hiện ở việc du khách nước ngoài luôn phải trả giá cao hơn người Việt Nam gấp nhiều lần. Nhiều người cho rằng trả số tiền như vậy vẫn rẻ hơn so với nơi họ đang sống, nhưng cảm giác bị đối xử như vậy làm cho họ cảm thấy không được tôn trọng.

Nhiều người Việt cho rằng Tây phải bị chặt chém là chuyện thường và thậm chí còn cho rằng Tây là những con “lợn béo”. Có thể Tây không hiểu được tiếng Việt, nhưng họ có óc quan sát và họ thừa biết họ phải móc nhiều tiền hầu bao để trả cho cùng một món hàng. Những ví dụ cụ thể được đưa ra với cả số tiền họ phải trả cho dịch vụ không đáng có từ việc vá vỏ xe, hay kéo xe bị thủng lốp đi đến chỗ vá, cho đến việc mua trái cây hay một lon nước ngọt, hay cả việc không có tiền thối lại hoặc thối lại tiền thừa không đúng, hay đến việc bị ép phải cho tiền phí phụ vụ. Câu kết luận được buông ra ở đây là người Việt tham lam và thiếu trung thực.

Trong số 7,874 triệu du khách đến Việt Nam, chỉ có 6% ít ỏi trong số du khách này hàng hài lòng với dịch vụ họ đã sử dụng.

6%!

Cũng chỉ 6% du khách nước ngoài cho biết sẽ quay trở lại Việt Nam lần hai. Tỷ lệ cực thấp này được chứng minh bởi báo cáo của Dự án Chương trình phát triển năng lực du lịch có trách nhiệm với môi trường xã hội do Liên minh Châu Âu tài trợ, khi thực hiện trưng cầu ý kiến của 3.000 du khách nước ngoài ở 5 điểm du lịch chính là Sa Pa, Hạ Long, Huế, Đà Nẵng và Hội An.

Làm giá – chặt chém, giao thông hỗn loạn, ăn xin, ăn cắp vặt và vệ sinh an toàn thực phẩm là những điều đáng sợ với du khách khi đến Việt Nam.

Chỉ đến gần đây, một quan chức cao cấp của Việt Nam là Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam chợt than thở: “Nhìn sang Thái Lan, Malaysia, họ có 27 – 30 triệu khách/năm; Singapore cũng có 15 – 16 triệu khách. Thu nhập từ khách du lịch của Thái Lan một năm cũng 50 – 60 tỉ USD. Mình chỉ được khoảng 10 tỉ USD, khách được khoảng 8 triệu. Bây giờ đặt ra những vấn đề gì?”.

Lịch sử: Thà chịu chết còn hơn viết sai Sự Thật!

Lịch sử: Thà chịu chết còn hơn viết sai Sự Thật!

Trần Thị Hải Ý (Danlambao) – (Kính tặng nhà sử học Dương Trung Quốc và Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam xhcn)

“Người ta có thể giết chết người viết sử, nhưng không thể giết chết được sự thật. Chép đúng sự thật là chức phận của người làm sử, nếu trái chức phận mà sống thì chẳng thà chết còn hơn!”

“Lịch sử là hồn thiêng của giống nòi và là trí nhớ của dân tộc. Lịch sử là sự thật, không đúng sự thật không thể gọi là lịch sử” (1); vả lại “sự thật rất cứng đầu cứng cổ, người ta không thể tha hồ sắp xếp nó theo trình tự lớp lang tùy ý muốn của mình” (2).

* * * *

Sách Đông Châu Liệt Quốc, hồi 65 kể chuyện bốn anh em sử gia họ Thôi. Tích lược rằng: Nhà Tề có hôn quân là Tề Trang Công – tên thật là Khương Quang (3) bị quan đại phu nước Tề là Thôi Trữ bày mưu giết chết cùng với bọn tùy tùng Châu Xước. Thôi Trữ sai thuộc hạ là Đường Vô Cữu đem thi thể vua Tề và các nạn nhân kia chôn ở Bắc Quách, giảm bớt nghi lễ, không cho giáp binh đi hộ tang, nói rằng sợ lại loạn ở dưới âm phủ!

Thôi Trữ truyền cho quan chép sử là thái sử Thôi Bá viết vào sách sử “Tề Trang Công chết do bị bệnh sốt rét” hầu lấp liếm sự thật với hậu thế. Thôi Bá không chịu, kiên quyết viết rằng “Ngày ất hợi, tháng 5, mùa hạ, Thôi Trữ giết vua là Quang”. Thôi Trữ nổi giận, giết chết Thôi Bá.

Thái sử Thôi Bá có ba người em trai là Thôi Trọng, Thôi Thúc và Thôi Quý. Thôi Trữ đinh ninh giết chết thái sử Thôi Bá, ắt đe được các sử gia khác, ngờ đâu Thôi Trọng lại cũng ghi vào sách sử hàng chữ đúng y anh mình đã viết: “Ngày ất hợi, tháng 5, mùa hạ, Thôi Trữ giết vua là Quang”, do đó, bị Thôi Trữ giết chết. Đến lượt Thôi Thúc vẫn viết đúng sự thật y hai anh trai, và cũng bị Thôi Trữ giết chết. Còn lại Thôi Quý cũng viết lại y nguyên câu của ba người anh vào thẻ sách. Thôi Trữ cầm thẻ sách lên đọc, hỏi Thôi Quý:

– Ba người anh của nhà ngươi đều vì câu này mà bị ta giết chết, lẽ nào ngươi không tiếc mạng sống của mình hay sao? Nếu như ngươi sửa câu này theo đúng ý ta, ta tha chết cho.

Thôi Quý thản nhiên đáp lại rằng:

– Người ta có thể giết chết người viết sử, nhưng không thể giết chết được sự thật. Chép đúng sự thật là chức phận của người làm sử, nếu trái chức phận mà sống thì chẳng thà chết còn hơn! Ngày xưa – Thôi Quý nói tiếp, Triệu Xuyên (em của Triệu Thuẫn) giết chết vua Tấn Linh Công (tên thật là Di Cao), quan sử thời đó là Đổng Hồ cho rằng Triệu Thuẫn là quan Chính khanh mà lại không trừng trị Triệu Xuyên, do đó ông đã viết vào sách sử rằng: “Triệu Thuẫn giết vua là Di Cao”. Ấy vậy mà Triệu Thuẫn không bức hại hay trách mắng quan sử họ Đổng, bởi ông thấu hiểu đó là chức trách của quan sử. Thế mới hay, chức phận của người làm sử không thể tùy tiện du di nêm bớt sự thật được! Nếu Quý tôi không chép, trong thiên hạ tất có người khác chép! Tôi không chép cũng không thể che giấu được sự xấu xa của quan tướng quốc, mà lại để cho thức giả chê cười, nên anh em tôi liều chết mà chép, xin tướng quốc cứ tùy ý định đoạt!

Thôi Trữ thở dài, nói rằng:

– Ta sợ nước nhà nghiêng đổ, bất đắc dĩ mà phải làm việc này! Nhà ngươi dẫu chép thẳng, thiên hạ cũng xét tấm lòng cho ta!

Than xong, Thôi Trữ ném trả lại thẻ sách cho Thôi Quý, không giết ông nữa.

Thôi Quý cầm thẻ sách ra ngoài, khi sắp đến sử quán thì gặp ngay Nam Sử Thị (cũng là sử quan nước Tề). Thôi Quý hỏi sao ông phải đến đây. Nam Sử Thị nói:

– Tôi nghe nói anh em nhà ông vì khẳng khái, kiên quyết viết đúng sự thật mà đều bị giết chết cả, do lo không còn người dám hy sinh mạng sống của mình để ghi lại đúng vụ việc “Ngày ất hợi, tháng 5, mùa hạ” vừa qua, nên tôi vội vàng cầm thẻ sách đến đây để chép.

Thôi Quý đưa thẻ sách đang cầm trong tay cho Nam Sử Thị xem, xem xong Nam Sử Thị mới yên tâm cáo từ ra về.

Ngoài chữ Dũng về tích viết đúng Sự Thật Lịch Sử nêu trên, qua sách truyện Tàu đã được Việt dịch và phim ảnh Tàu đã được lồng Việt ngữ, HY em còn biết nước Tàu cổ đại còn nhiều tích tương tự khác, như Tư Mã Thiên chịu bị thiến, Ban Cố chịu tù tội và chết trong ngục, Phạm Việp chịu bị tử hình… Theo tầm truy cứu hạn hẹp của HY em, Việt Nam ta chưa có trường hợp nào khả dĩ tương đương, quý vị nào biết rõ xin vui lòng chỉ giáo cho.

Bản thân HY em còn băn khoăn đối với Chủ tịch hội Sử học Việt Nam Phan Huy Lê khi ông công bố sự thật về hình tượng hư cấu bịp đời Lê Văn Tám, nên xin hỏi bạn đọc: Nên hay không nên đem trường hợp Phan Huy Lê so sánh với trường hợp anh em Thôi gia trên kia?

*  *  *

Từ ngày Internet phổ cập trên toàn thế giới, chẳng cư dân mạng người Việt nào không từng đọc qua, và khi hữu sự, trích dẫn những nhận định (còn được gọi là danh ngôn) nói lên sư thật về chủ nghĩa cộng sản/chủ nghĩa xã hội của các nhân vật ngoại quốc có tiếng tăm, đặc biệt của những người một thời là đảng viên cs kỳ cựu (4). Trong bài này, HY em xin lập dị trích dẫn vài nhận định của chính các cựu hay đương là đảng viên đcs Việt Nam:

1-. Phạm Thành – nhà báo từng tham gia hệ thống truyền thông nhà nước xhcn Việt Nam:

“Nên nhớ trong giáo trình của đcs Việt Nam dạy cho tất cả những người làm công tác tuyên truyền, dạy cho tất cả các đảng viên già hay trẻ câu nằm lòng như thế này: Nói sai mà có lợi cho đảng thì được nói, nói nhiều; còn nói đúng mà có hại cho đảng thì không được nói”. RFA 22/7/2015

2-. Nguyễn Khải (Tên thật là Nguyễn Mạnh Khải) – Nhà văn, Đại tá, ĐB đảng hội, Phó TTK Hội nhà văn VN xhcn:

“Người cộng sản nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói dối không hề biết xấu hổ và không hề run sợ. Người dân vì muốn sống còn cũng đành phải dối trá theo”. (Đi tìm cái tôi đã mất).

3-. Trần Độ (Tạ Ngọc Phách) – Trung tướng, cựu Phó Chủ tịch đảng hội nước VN xã nghĩa:

– “Cuộc cách mạng ở Việt Nam đã đập tan và xoá bỏ được một chính quyền thực dân phong kiến, một xã hội nô lệ, mất nước, đói nghèo, nhục nhã. Nhưng lại xây dựng nên một xã hội nhiều bất công, nhiều tệ nạn, một chính quyền phản dân chủ, chuyên chế, một chế độ độc đảng và toàn trị, nhiều thói xấu giống như và tệ hơn là trong chế độ cũ…”.

– “Nếu nhà tù Pháp thời xưa mà giống nhà tù cộng sản bây giờ thì chúng tôi chết lâu rồi, làm gì còn có người vượt ngục” (Nhật Ký Rồng Rắn).

4-. Nguyễn Hộ – Chủ tịch Đoàn chủ tịch MTTQ TƯ, lãnh đạo Câu lạc bộ Những người Kháng chiến cũ:

– “Ngày 21/3/1990 tôi rời khỏi Sài Gòn cũng là ngày tôi rời khỏi đcs VN. Tôi làm cách mạng đã 56 năm, gia đình tôi có 2 liệt sĩ, Nguyễn Văn Đào, anh ruột, Đại tá QĐNDVN, hy sinh ngày 09/1/1966 tại Củ Chi, và vợ tôi Trần Thị Thiệt bị bắt và chết tại Tổng nha Cảnh sát Sài Gòn vào tết Mậu Thân 1968, nhưng phải thú nhận rằng tôi đã chọn sai lý tưởng: Cộng sản chủ nghĩa. Bởi vì suốt hơn 60 năm trên con đường cách mạng ấy nhân dân Việt Nam đã chịu hy sinh quá lớn lao nhưng cuối cùng chẳng được gì, đất nước vẫn nghèo nàn lạc hậu, nhân dân không có ấm no hạnh phúc, không có dân chủ tự do. Đó là điều sĩ nhục”.

– “Ngày xưa, nếu Chủ nghĩa cộng sản đã cứu đất nước khỏi ách thực dân, thì bây giờ chính Chủ nghĩa tư bản sẽ cứu đất nước ra khỏi nghèo nàn lạc hậu.” (5) (Quan điểm & Cuộc sống).

5-. Nguyễn Văn Trấn – Chính ủy Bộ tư lệnh khu 9, giảng viên trường Nguyễn Ái Quốc:

“Tội ác của chế độ [cs] này, từ 40 năm nay, thật nói không hết” (6) (Viết cho Mẹ và Quốc hội trang 345, Nxb Văn Nghệ, 1995).

6-. Hoàng Minh Chính – Phó Viện trưởng trường Nguyễn Ái Quốc kiêm Viện trưởng Viện Triết học Mác-Lênin:

“Người dân dưới chế độ cộng sản đã bị áp bức tệ hại hơn cả thời còn mồ ma thực dân đế quốc.”. https://www.facebook.com/diendandansu/posts/511744845598990

7-. Võ Văn Kiệt (tên thật là Phan Văn Hòa) – cựu Thủ tướng CH xhcn VN:

“Tổ quốc là của mình, dân tộc là của mình, quốc gia là của mình, Việt Nam là của mình, chứ không phải là của riêng của người cộng sản hay của bất cứ tôn giáo hay phe phái nào cả”.

8-. Nguyễn Văn An – cựu UV BCT, cựu Trưởng BTC TƯ, cựu Chủ tịch đảng hội CH xhcn Việt Nam:

– “Đảng [csVN] đã mắc phải lỗi hệ thống và đã sai lầm ngay từ nền tảng”. “Lỗi hệ thống là lỗi từ gốc đến ngọn, từ lý thuyết đến mô hình…” (Báo mạng Tuần Việt Nam / VNE, 10/12/2010, trước thềm Đại hội đảng XI).

– “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, dân làm chủ là cơ chế gồm ba chủ thể có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn riêng, không ai làm thay ai, không ai quyết thay ai. Nếu đảng làm thay, quyết thay thì nhà nước và dân sẽ trở thành hình thức, hữu danh vô thực, người ta có cảm giác đảng là vua. Không phải là một ông vua như thời phong kiến mà là vua tập thể thời CH xhcn. Nếu vậy thì còn gì là dân chủ nữa mà là đảng chủ, là đảng bao biện, làm thay. Và như vậy là mất dân chủ. Dân chủ thì quyền lực nhà nước phải thống nhất ở nơi dân.” (TuanVietnam)

– “Chính những người cộng sản chân chính, chính liên minh giai cấp công nhân với nông dân và nhân dân lao động, chính đội ngũ trí thức cũng không muốn bảo vệ một đảng đã thoái hóa biến chất như vậy. Đó mới là nguyên nhân chính, chứ không phải do kẻ thù của chủ nghĩa xã hội phá hoại là chính. Chính những người cộng sản chân chính cũng muốn giải tán đảng đã biến chất để xây dựng đảng mới, để sửa lỗi hệ thống, để làm lại từ đầu.”. (nói về sự sụp đổ Liên Xô và Đông Âu)

9-. Nguyễn Phú Trọng – Tiến $ĩ chuyên ngành xây dựng đảng, đương kim đảng trưởng đcs VN:

“Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng cnxh còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ [21] này không biết đã có cnxh hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa.” (Tuổi Trẻ, 23-10-2013).

10-. Bùi Quang Vinh – đương kim UV TƯ, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư tại kỳ họp thứ 6 đảng hội khóa XIII, 18/11/2013: (báo Tuổi trẻ)

– “Chúng ta tuyên bố xây dựng kinh tế thị trường định hướng xhcn. Không sai. Nhưng bây giờ phải rạch ròi ra, thị trường là thế nào và định hướng xhcn là thế nào? Đâu phải nó là một mô hình kinh tế thị trường riêng biệt so với thế giới. Bởi “kinh tế thị trường” là cái tinh hoa của nhân loại rồi, còn “định hướng xhcn” là nói về vai trò của Nhà nước.”

– “Chúng ta cứ nghiên cứu mô hình đó, mà mãi có tìm ra đâu. Làm gì có cái thứ đó mà đi tìm”.

– “Cái chủ nghĩa xã hội và cái định hướng xã hội chủ nghĩa làm gì có trong thực tế mà đi tìm cho mất công”. (Thesaigontimes)

11-. (Nhưng) Nguyễn Phú Trọng – Tiến $ĩ chuyên ngành xây dựng đảng, đương kim đảng trưởng đcs VN, lại tự phản bác và ngược hẳn với ông BT Bùi Quang Vinh, 18/5/2015:

* “Thời đại Hồ Chí Minh là một thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam (sic), là kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội” (5). Thậm chí ông còn khơi khơi thông thái theo cố tật ‘biện chứng xây dựng đảng’ đặc thù:

* “Mỗi cán bộ, đảng viên hãy cố gắng xứng đáng là công bộc của dân, là học trò, con cháu của bác Hồ; mỗi người dân Việt Nam xứng đáng là công dân của đất nước Hồ Chí Minh” (thay vì nói đơn giản mà chính xác, đạt tình hợp lý: mọi con Hồng, cháu Lạc đều là công dân của đất nước Việt Nam 4.000 văn hiến). (VOV)

Vậy, đâu là Sự Thật? Tại sao BCT đcs VN không xử lý những phát ngôn cực kỳ phản động nêu trên của các đại đồng chí “suy thoái đạo đức cách mạng” trầm trọng hiện còn sống như Nguyễn Văn An, Bùi Quang Vinh và ngay chính Nguyễn Phú Trọng?

*  *  *

Ai cũng biết tuyên truyền là cột xương sống của chế độ cộng sản. Không ai có thể phủ nhận rằng trong một thời gian dài đảng Wiệt Cộng lớn nhanh, lớn mạnh là nhờ tài Dối Trá Bịp Đời, vì bấy giờ chưa có Fax. Thành trì xhcn Liên Xô sụp đổ, Đông Âu tan rã trong tiếng reo hò oà vỡ của nhân dân bản địa nói riêng, một phần không nhỏ là do sự xuất hiện của Fax, và đến nay (cuối 2015), đã có mấy người tỏ bày niềm luyến tiếc cái Thành trì, cái Thiên đàng viển vông đó?

Từ ngày Internet bùng nổ, sự khuất tất về đảng Wiệt Cộng nói riêng lần hồi bị lật tẩy phơi bày và, chắc chắn không chóng thì chầy, đảng Wiệt Cộng sẽ tự tiêu vong bởi chính sự Dối Trá Bịp Đời trước kia của họ. Hơn thế nữa, trước ông thần Internet ngày nay, đảng Wiệt Cộng vô phương Dối Trá Bịp Đời: “Một nữa sự nghi ngờ không còn là tin tưởng nữa”. “Một nửa ổ bánh mì vẫn là bánh mì, nhưng một nửa sự thật không còn là sự thật, mà là dối trá!” (Thành ngữ Nga). Mà một khi không thể Bịp Đời bằng sở trường Tuyên Truyền Dối Trá thì đảng Wiệt Cộng sẽ là con số Không! Hoạ chăng chỉ sót lại phường trí thức “tâm thần và khốn nạn” ký sinh chùm gửi mới tiếp tục lải nhải những lý thuyết tạp pí lù họ đã ứ hự, ra tuồng kiên định xác tín vào cái gọi là Đấu tranh giai cấp, Chuyên chính vô sản, Thế giới đại đồng!

Những sự kiện lịch sử mà đích thân các nhà viết sử xhcn VN phải chính thức công bố Sự Thật với con dân nước Việt mai này, đơn cử gọi là:

1-. Ai là tác giả đích thực của 2 tác phẩm nguyên bằng Pháp văn “Revendications du peuple Annamite / Bản yêu sách của nhân dân An Nam” và “Le Procès de la colonisation française / Bản án chế độ thực dân Pháp”?

2-. Hai nhà văn Trần Dân Tiên và T. Lan là ai, tiểu sử ra sao, còn sống hay đã qua đời?

3-. Nhà báo có bút danh CB là ai trong chiến dịch Cải cách ruộng đất “long trời lở đất” tại nước VNDCCH? 172.008 nạn nhân có phải là con số thật? (G$ Đặng Phong ghi trong sách Lịch sử kinh tế Việt Nam tập 2, 1955-1975 chương 3 * Nxb ĐHQG Hà Nội 2004).

4-. Mật nghị Thành Đô 1990 bên Tàu bao gồm những ràng buộc gì ghê gớm đến mức có thể biến Rồng thành Giun, biến Tiên thành Quỷ, từ đó đến nay (11/2015); hoá đcs và qđnd VN «anh hùng bách chiến bách thắng» thành phường co cụm, thậm chí không dám gọi đúng tên kẻ thù xâm lược Bắc phương là Tàu Cộng mà rúm ró gọi trại ra là Kẻ Lạ, tàu Tàu thành tàu lạ?

5-. Bí thư Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh vì sao mà chết, thật sự ông chết ngày nào, ở đâu?

6-. Thượng tướng công an Phạm Quý Ngọ thật sự do đâu mà ‘đột tử’? (7).

Danh sách câu hỏi còn dài lắm, song xin kính nhờ bạn đọc (bao gồm các Dư luận viên) rộng lòng bổ túc.

*   *   *

Đối với HY em, “tích hợp” hay giữ nguyên bộ môn Lịch sử độc lập trong chương trình Giáo khoa hiện hành là điều không mảy may quan trọng, bởi vì nếu đcs VN vẫn giữ nguyên cách soạn và dạy Lịch sử theo định hướng xhcn, đậm đặc tính đảng như bấy lâu nay thì môn Lịch sử mãi mãi rứa rứa, mãi mãi thất bại, duy ngân sách từ tiền thuế của nhân dân tiếp tục ‘được’ vung tay vô tội vạ trong cải tiến cải lùi, sự dối trá bịp đời tiếp tục tồn lại.

Xin lặp lại: “Lịch sử là hồn thiêng của giống nòi và là trí nhớ của dân tộc. Lịch sử là sự thật, không đúng sự thật không thể gọi là lịch sử” (1); vả lại “sự thật rất cứng đầu cứng cổ, người ta không thể tha hồ sắp xếp nó theo trình tự lớp lang tùy ý muốn của mình” (2). “Người ta có thể giết chết người viết sử, nhưng không thể giết chết được sự thật”. Chính sử của nước Việt Nam đã đang sẽ trường tồn trên Internet.

Kính mong nhà sử học Dương Trung Quốc và Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam xhcn bắt gặp bài viết nhỏ bé này.

(Sưu tầm và lược soạn – 24/11/2015).

Trần Thị Hải Ý

danlambaovn.blogspot.com

______________________________________

Chú thích:

(1) http://laodong.com.vn/su-kien-binh-luan/chu-dung-cua-nguoi-viet-su-175438.bld

(2) Xã luận trên báo giấy Nhân Dân, ngày 29/05/1978, được in lại trong tài liệu “Nguyện vọng thiết tha của nhân dân Việt Nam độc lập, tự do, hoà bình, hữu nghị” * Nxb Sự Thật, 10/1978, trang 11.

Thời điểm này, ba nước vừa là đồng chí vừa là anh em xhcn Tàu-Việt-Miên không thuận thảo, dẫn tới 2 cuộc chiến đẫm máu, Tàu-Việt miệt biên giới phiá Bắc và Việt-Miên miệt Tây Nam chữ S năm 1979; tiếp theo là trận chiến năm 1988, Tàu cộng cưỡng chiếm đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Toàn bộ quần đảo Hoàng Sa thuộc nước VNCH đã bị Tàu cộng xâm chiếm từ năm 1974, trước sự hững hờ đồng loã của nước đồng bào là VNDCCH.

(3) https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%81_Trang_c%C3%B4ng_(Quang)

(4) Những câu nói đóng đinh Chủ nghĩa sộng sản

http://tamthucconnguoi.blogspot.fr/2015/11/nhung-cau-noi-ong-inh-chu-nghia-cong-san.html

(5) “Đảng cộng sản Việt Nam đã hy sinh hơn 2 triệu người dân Việt Nam để thành lập chế độ cộng sản. Nhưng cuối cùng họ lại dùng chủ nghĩa tư bản để làm giàu. Vậy 2 triệu người Việt Nam đã chết để làm gì?” (Dennis Prager).

* “Chủ nghĩa xã hội nói chung đã thất bại rõ rệt đến độ chỉ nhà trí thức mới có thể không thấy không biết hoặc lẫn trốn sự thất bại đó” (Thomas Sowell).

(6) “Con số nạn nhân của những chế độ cộng sản đã lên tới cả trăm triệu người, được chia ra như sau: Liên Sô, 20 triệu; Trung cộng, 65 triệu; Việt Nam, 1 triệu; Bắc Hàn, 2 triệu; Căm Pu chia, 2 triệu; Đông Âu, 1 triệu; Châu Mỹ La tinh, 150.000; Phi châu, 1.7 triệu; A Phú hãn, 1.5 triệu; các Phong trào cộng sản quốc tế và những đảng cộng sản không nắm quyền, mười mấy ngàn người». (Le livre noir du communisme: Crimes, terreur, répression, trang 8, nhiều tác giả * Nxb Robert Laffont, Paris 1997)

http://chuchinam.pagesperso-orange.fr/C/bai%20viet%20CACH%20MANG/Cong%20san%20la%20trang%20su%20dam%20mau%20nhat%20%28ds%291%5B1%5D.htm ;

* Nghị quyết 1481 của Hội đồng Nghị viện của Ủy hội châu Âu (2006) / Parliamentary Assembly of the Council of Europe (Resolution 1481, 2006): Tội ác chống loài người của chế độ cộng sản .

https://en.wikipedia.org/wiki/Council_of_Europe_resolution_1481

(7) Xem thêm Đỗ Thông Minh: Những cái chết bí ẩn của hàng ngũ lãnh đạo đcs VN.

https://www.facebook.com/SuThatVietNam/posts/588002291282171

ĐTC ở Kenya: bạo lực, xung đột và khủng bố khơi dậy sự sợ hãi

ĐTC ở Kenya: bạo lực, xung đột và khủng bố khơi dậy sự sợ hãi


Chuyển ngữ: Giuse Phạm Đình Ngọc, S.J.

 

Với 21 tiếng pháo vang rền, ĐTC Phanxicô được đón chào tại dinh thự của Tổng thống Uhuru Kenyatta.

Sau đó, Đức Thánh Cha trồng một cây trong khu phức hợp của tổng thống. Ngài theo tập tục của người Kenya là việc trồng cây con để biểu hiện niềm hy vọng ở tương lai.

Tổng thống Kenya phát biểu trước Đức Giáo Hoàng và thảo luận về những thách thức mà nước ông đang phải đối diện.

Ngài tổng thống nói: “Thưa Đức Thánh Cha, giống như cha, là một quốc gia, chúng con muốn chống lại tệ nạn tham nhũng vốn gây tổn hại đến người dân và môi trường của chúng con; tham những là theo đuổi lợi nhuận bất hợp pháp. Thật vậy, nó làm chệch hướng các nguồn lực, gieo rắc hận thù, và chia rẽ dân của chúng con.”

Phát biểu trước các nhà lãnh đạo chính trị và ngoại giao hàng đầu của nước này, bài phát biểu của Đức Giáo Hoàng tập trung vào hệ sinh thái và bất bình đẳng xã hội.

Ngài ca ngợi vẻ đẹp tự nhiên của Kenya và yêu cầu người Kenya phải ý thức và có trách nhiệm trong việc đối diện với cuộc khủng hoảng môi sinh nghiêm trọng mà thế giới đang phải đối mặt.

Đức Giáo Hoàng phát biểu: “Trong một thế giới mà cứ tiếp tục khai thác hơn là bảo vệ ngôi nhà chung của chúng ta, chúng ta phải nỗ lực truyền cảm hứng cho các nhà lãnh đạo quốc gia để họ thúc đẩy những mô hình phát triển kinh tế một cách trách nhiệm.”

Đối mặt với sự chia rẽ và bất công, Đức Thánh Cha đã giải thích rằng tất cả mọi người được mời gọi để tìm thấy sự hòa giải, hòa bình và chữa lành.

Đức Giáo Hoàng phát biểu: “Kinh nghiệm cho thấy rằng bạo lực, xung đột và khủng bố khơi dậy sự sợ hãi, hồ nghi, và tuyệt vọng; từ đó sinh ra nghèo đói và thất vọng.”

Với suy nghĩ đó,ĐTC mời gọi các nhà chính trị hãy làm việc không biết mệt mỏi để bảo tồn các giá trị mà duy trì nền dân chủ. Ngài nói với họ rằng họ phải thực sự thực thi ơn gọi phục vụ với hết thảy người dân Kenya, với sự chính trực và minh bạch.

Đức Giáo Hoàng nói:”Cha yêu cầu các con hãy đặc biệt thể hiện mối quan tâm chính đáng cho các nhu cầu của người nghèo, cho nguyện vọng của các bạn trẻ, và phân phối các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực công bằng theo như Đấng Tạo Hóa đã ban phước lành cho quốc gia của chúng con.”

Giáo Giáo Hoàng một lần nữa cám ơn sự đón chào nồng nhiệt của người dân Kenya. Ngài nói rằng bằng tiếng Swahili rằng Thiên Chúa luôn chúc lành cho Kenya, và dân chúng trở nên náo nhiệt.

“Thiên Chúa chúc lành cho Kenya!”

(Romereports, 25-11-2015)

Chuyển ngữ: Giuse Phạm Đình Ngọc, S.J.

TỬ ĐẠO – ĐỨC TIN

TỬ ĐẠO – ĐỨC TIN

Chúa Nhật XXXIII Thường Niên –

Kính Trọng thể Các thánh tử đạo Việt Nam

Mt 10, 17-22

Tác giả:  Lm. Vinh Sơn, scj

“Tử Đạo” theo nguyên ngữ là “Martyr” có nghĩa là “làm chứng”, chết vì Chúa Kitô đạt được niềm hạnh phúc như Chúa Giêsu đã khẳng định: “Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em trên trời thật lớn lao” (Mt 5,10-12; Lc 6,22).

Suốt ba thế kỷ trong nhiều thời kỳ bách đạo khác nhau, Giáo Hội Việt Nam đã sinh ra trên 100.000 ngàn vị anh hùng tử đạo, trong số đó có 117 vị được phong thánh, một Vị Chân phước tử đạo đầu tiên cho Giáo hội Việt Nam là thầy giảng Anrê Phú Yên. Hiện nay cũng có mười vị được tôn kính như là bậc “Đáng kính” và 1.000 vị được đứng vào bậc “tôi tớ Chúa”. Các tín hữu còn sót lại trong các cuộc bách hại cũng bị nhà tan cửa nát, trốn tránh vào những nơi rừng thiêng nước độc để giữ niềm tin, như các giáo dân chạy vào vùng La Vang, Quảng Trị, giống như xưa các Kitô hữu tiên khởi đã phải trốn vào sinh sống các hang toại đạo được đào sâu trong lòng đất ở ngoại ô Rôma.

Các ngài thuộc đủ mọi thành phần Dân Chúa: Giám mục, linh mục, thầy giảng, chủng sinh, giáo lý viên, trùm họ, chánh trương và anh chị em tín hữu. Về xã hội các ngài cũng thuộc mọi thành phần: Quan trong triều đình, chánh tổng, quan án, lý trưởng… quân nhân các cấp bậc, thương gia, nông dân, ngư dân hay nội trợ… Địa vị và chức nghiệp của các ngài không hề là trở ngại hay là lý do phân cách các ngài trong sứ mệnh làm chứng cho Đức Tin vào Đức Kitô, tất cả vì lòng tin và yêu mến Thiên Chúa và Đức Kitô.

Chiêm ngưỡng cha ông tử đạo để thể hiện tình yêu với Chúa Kitô, chúng ta – con cháu Rồng – Tiên biểu lộ tử đạo qua cuộc sống hằng ngày dù rằng chúng ta còn bất toàn và yếu đuối. Các ngài cũng như chúng ta cũng từng có những yếu đuối sa ngã của con người, như Thánh Luca Phạm Trọng Thìn, khi làm Chánh Tổng đã có một thời gian dan díu tình cảm với cô Trung, người làng Trà Lũ; hay như thánh Mátthêu Lê Văn Gẫm, một thương gia giàu có, đã từng yếu lòng đèo bồng thêm một cô vợ bé… Nhưng sau khi vị Linh hướng hay gia đình khuyên bảo nhắc nhở, các ngài ý thức được sự yếu đuối sai sót của mình và hết lòng ăn năn hối cải, quyết tâm đổi mới lại cuộc đời, sống tình bác ái Tin mừng theo gương Chúa Giêsu, trở nên gương sáng cho người khác, hết sức phục vụ Giáo Hội. Là con người bất toàn, dù yếu đuối, nhưng khiêm tốn, phó thác Thiên Chúa đã ban ân sủng, các ngài trở nên mạnh mẽ, trung kiên, can đảm nhận cái chết để làm chứng cho Đức Kitô.

Dịp mừng kính các vị anh hùng tử đạo cha ông, là thời gian và cơ hội quý báu giúp chúng ta – thế hệ con cháu, dù thuộc bất cứ thành phần nào cũng có thể nhìn vào các ngài soi chiếu để duyệt lại lại đức tin của chúng ta như Giáo Hội mời gọi: Đức tin can đảm, Tin vào Chúa là tất cả, Đức tin sống động được thể hiện qua lời nói việc làm như thánh Giacôbê xác tín “Đức tin không có hành động là đức tin chết” (Gc 2,17). Khi duyệt lại đời sống đức tin chúng ta, gần gũi và sống động nhất theo gương của các vị tiền bối mà tiến bước. Nhìn đức tin dưới ba khía cạnh cần duyệt lại, các anh hùng tử đạo nói chung và các anh hùng tử đạo Việt Nam đã làm chứng đức tin khi đổ máu đào tuyên xưng Đức Kitô:

  • Các chứng nhân Tử đạo mạnh mẽ đồng nhất từ tâm can đến cách hành xử can đảm chấp nhận gian nan và đi vào cái chết vì Chúa Kitô như chính Chúa Kitô đã chết cho các ngài. Tử đạo là chết vì Chúa Kitô, trong đơn thuần và tinh khiết, trong sáng và huyền diệu, can trường và khiêm nhu…
  • Với anh hùng tử đạo, các ngài nhìn nhận Chúa Kitô là tất cả sự chọn lựa. Không có sức mạnh nào ngay cả cái chết có thể tách rời sự kết hợp lòng yêu mến Chúa, các ngài mặc tâm tình như Thánh Phaolô đã khẳng định: “Ai có thế tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?”. Trong gian nguy nhưng sẽ chiến thắng như thánh Tông đồ đã xác tín: “Trong mọi thử thách, chúng ta sẽ toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta” Và Ngài kết luận: “Tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, chiều cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thụ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện nơi Đức Kitô Chúa chúng ta” (Rm 8, 35-39).
  • Các anh hùng tử đạo đã tuyên xưng đức mạnh mẽ bằng cái chết , dù trước sức mạnh của bạo quyền trong các nhục hình: Xử trảm (chặt đầu), bị xử giảo (thắt cổ), bị tra tấn và chết rũ tù, bị thiêu sống, bị lăng trì (phân thây bằng sức mạnh của dã thú), bá đao (hay còn gọi là tùng xẻo, mỗi tiếng trống cắt một miếng thịt làm đủ một trăm nhát), không thể làm các Ngài tách ra khỏi niềm tin, xa cách tình yêu Thiên Chúa mà trái lại các ngài luôn thể hiện niềm xác tín và tình yêu vào Đấng mà các ngài tin thờ.

Khi duyệt lại đời sống đức tin và “tái khám phá hành trình Đức Tin để luôn làm nổi bật niềm vui và lòng hăng say mới của việc gặp gỡ Đức Kitô” đồng thời, “khơi dậy nơi mỗi tín hữu khát vọng tuyên xưng Đức Tin trong sự toàn vẹn và với niềm xác tín được đổi mới, trong niềm tín thác và hy vọng” (Tự sắc Porta Fidei, số 2 và 9),

Thật thế, chúng ta con cháu noi gương đức tin của cha ông – các anh hùng Tử Đạo sống theo lời dạy của Thánh Phaolô:

“Hãy bén rễ sâu trong Đức Kitô, xây dựng trên nền tảng Đức Kitô và được củng cố trong đức tin” (Cl 2, 7).

Lm. Vinh Sơn, Sài Gòn 14/11/2015

Cú giáng vào nỗ lực TPP của Việt Nam?

Cú giáng vào nỗ lực TPP của Việt Nam?

Bà Đỗ Thị Minh Hạnh bị nhiều người đàn ông đánh vào đầu và mặt khi bà đi bảo vệ quyền lợi cho các công nhân ở Đồng Nai.

Bà Đỗ Thị Minh Hạnh bị nhiều người đàn ông đánh vào đầu và mặt khi bà đi bảo vệ quyền lợi cho các công nhân ở Đồng Nai.

VOA Tiếng Việt

24.11.2015

Một nhà hoạt động trong nước cho biết bà đã bị “bóp cổ” và “đánh vào đầu” khi tới bảo vệ quyền lợi cho các công nhân “thấp cổ bé họng” ở Đồng Nai, giữa bối cảnh nhiều nhà lập pháp Mỹ bày tỏ hoài nghi về TPP, nhất là vấn đề công đoàn độc lập ở Việt Nam.

Bà Đỗ Thị Minh Hạnh cùng ký giả tự do Trương Minh Đức đầu tuần này tới trao đổi với hàng chục công nhân của một công ty nước ngoài hoạt động ở Việt Nam về việc họ bị “chấm dứt hợp đồng và bị sa thải trái pháp luật”, nhưng cuộc gặp đã nhanh chóng bị giải tán.

Bà Hạnh và ông Đức sau đó đã bị áp giải tới một đồn công an và bị câu lưu trong nhiều tiếng đồng hồ, trước khi được các nhà hoạt động khác tới “giải cứu”.

Người phụ nữ từng nhiều lần lên tiếng đòi quyền lợi cho công nhân kể lại sự việc với VOA Việt Ngữ:

“Tôi đã bị giam hơn 13 tiếng đồng hồ ở trong đồn công an ở Đồng Nai, và họ không đưa ra một lý do bắt tôi vào đó. Tuy nhiên, vào một giờ sáng thì họ đưa ra một văn bản vi phạm hành chính và bắt tôi ký vào, nhưng mà tôi dứt khoát không ký vào cái đó. Tôi chỉ là một nạn nhân đang chịu sự bắt bớ trái pháp luật, chịu sự đánh đập trái pháp luật. Khi ở chỗ công nhân, họ đã lôi kéo và cởi áo của tôi ra, nhưng mà may hai cái tay áo còn dính, nên áo của tôi vẫn còn trên cơ thể. Đó là cái thứ nhất. Cái thứ hai, khi họ áp tải trên xe, một tay họ bẻ quặt ra sau và một tay họ bóp cổ để giữ tôi trên xe. Và song song chiếc xe của tôi có một người khác, liên tục đánh vào đầu, vào mặt tôi. Trên đoạn đường vắng, họ dừng lại, họ bảo đánh tôi mềm ra rồi mới đưa về đồn, và nơi đây tôi đã bị đánh rất dã man của năm người đàn ông”.

VOA Việt Ngữ không thể liên lạc để phỏng vấn với lãnh đạo công an phường Long Bình, Đồng Nai, nơi bà Hạnh và ông Đức bị tạm giữ.

Tin cho hay, tài sản cá nhân cũng như các tờ rơi của tổ chức độc lập có tên gọi Lao Động Việt, mà hai người này là các thành viên sáng lập, đã bị tịch thu.

Sự việc xảy ra hơn một tháng sau khi 12 nước, trong đó có Việt Nam, hoàn tất việc đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương (TPP), và được chuyển cho quốc hội các nước xem xét, thông qua.

“ Trường hợp của Minh Hạnh bị đánh vào ngày hôm trước là một minh chứng cho việc ngăn cản, tổ chức thành lập các nghiệp đoàn độc lập tại Việt Nam. Sự ký kết của Việt Nam trong hiệp định TPP mực còn chưa khô vậy mà họ đã ra tay, thẳng tay đàn áp công nhân như vậy.

Bà Đỗ Thị Minh Hạnh.”

Toàn văn của hiệp định này đã được công bố hồi đầu tháng này, trong đó có kế hoạch của Mỹ và Việt Nam về việc tăng cường quan hệ thương mại và lao động.

Nhiều nhà lập pháp Hoa Kỳ phản đối TPP vì lo ngại công ăn việc làm của người Mỹ sẽ rơi vào tay người dân các nước khác, cũng như quan ngại về vấn đề quyền lợi của người lao động ở nhiều nước tham gia TPP, trong đó có Việt Nam.

Về vấn đề công đoàn độc lập khi Việt Nam gia nhập TPP, nhà hoạt động xã hội Đỗ Thị Minh Hạnh nói:

“Những điều khoản TPP đã mở ra một thế giới mới cho các liên đoàn độc lập tại Việt Nam, những công đoàn độc lập tại Việt Nam, cho các công nhân, những người thấp cổ bé họng, người ta không thể nào đủ lời ăn, tiếng nói để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người ta, trong khi các cơ quan chức năng như Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam hay những công đoàn của công ty thì thường đứng về phía giới chủ. Trường hợp của Minh Hạnh bị đánh vào ngày hôm trước là một minh chứng cho việc ngăn cản, tổ chức thành lập các nghiệp đoàn độc lập tại Việt Nam. Sự ký kết của Việt Nam trong hiệp định TPP mực còn chưa khô vậy mà họ đã ra tay, thẳng tay đàn áp công nhân như vậy. Không phải riêng gì Minh Hạnh bị lôi, bị đánh mà những người công nhân bị giật hết tất cả giấy tờ của họ. Thậm chí có những bản hợp đồng của công nhân cũng bị những người này cướp trên tay của công nhân. Đây là một hành động đáng bị lên án”.

Hôm 18/11, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trả lời chất vất của các đại biểu quốc hội về vấn đề thành lập “công đoàn độc lập” theo cam kết của TPP.

Người đứng đầu chính phủ Việt Nam được báo chí trong nước trích lời nói: “Việt Nam và tất cả các nước tham gia TPP phải tôn trọng và bảo đảm quyền của người lao động trong việc thành lập và gia nhập tổ chức của họ tại cơ sở doanh nghiệp. Các tổ chức này sau khi thành lập có thể lựa chọn gia nhập Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam hoặc đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được chính thức hoạt động, và chỉ được hoạt động sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận đăng ký theo một quy trình minh bạch được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật”.

Tuy nhiên, theo bà Hạnh, công cuộc đấu tranh cho quyền lợi của công nhân của các tổ chức công đoàn độc lập ở Việt Nam vẫn còn dài.

“Những điểm tốt đẹp về nghiệp đoàn trong TPP vẫn chưa nói lên được điều gì, và thực tế chưa chứng minh được điều đó”, bà Hạnh nói.

Lãnh đạo Việt Nam phải tuyên thệ ‘trung thành với dân’

Lãnh đạo Việt Nam phải tuyên thệ ‘trung thành với dân’

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng.

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng.

VOA Tiếng Việt

Thủ tướng, chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội và chánh án tòa án nhân dân tối cao Việt Nam phải “tuyên thệ trung thành với tổ quốc, nhân dân và hiến pháp” khi nhậm chức.

Đây là một trong các nội quy kỳ họp quốc hội sửa đổi mới được thông qua sáng 24/11 và sẽ có hiệu lực từ đầu năm 2016.

Theo đó, người tuyên thệ “quyết định nội dung tuyên thệ phù hợp với trách nhiệm được giao và phải đứng trước quốc kỳ tuyên thệ với thời gian không quá 3 phút”.

Ông Đinh Xuân Thảo, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội, nói thêm với VOA Việt Ngữ về nội quy trên.

“Khi mà quốc hội mới bầu ra các chức danh như chủ tịch nước, thủ tướng, chủ tịch quốc hội và chánh án tòa án nhân dân tối cao, thì sẽ có tuyên thệ nhậm chức. Trong hiến pháp thì quy định như thế còn trong cái nội quy kỳ họp của quốc hội thì quy định cụ thể hơn thôi, trình tự, thủ tục phải làm như thế nào. Quy định như thế để thực hiện việc tuyên thệ theo tinh thần của hiến pháp. Các nước họ làm nhiều rồi, như là tổng thống nhậm chức họ làm rồi, còn Việt Nam từ xưa tới nay thì chưa”.

Một số nhà quan sát cho VOA Việt Ngữ biết rằng điều đáng chú ý là “không có đảng trong phần phải tuyên thệ trung thành”.

Hồi tháng Bảy vừa qua, phát biểu tại Đại hội thi đua quyết thắng toàn quân lần thứ IX, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói rằng quân đội Việt Nam “phải tuyệt đối trung thành với tổ quốc, với dân tộc, với hiến pháp của nước CHXHCN Việt Nam..”, khác với các tuyên bố trước đó của các nhà lãnh đạo khác, đặt đảng lên đầu.

Nội quy sửa đổi trên được thông qua trong bối cảnh chỉ còn vài tháng nữa là diễn ra đại hội đảng lần thứ 12, và tại kỳ họp này, các vị trí chủ chốt trong chính quyền Việt Nam sẽ được xác định.

Hồi đầu năm nay, một tờ báo thuộc cơ quan Ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc đăng bài bình luận cho rằng 2015 sẽ là năm căng thẳng chính trị ở Việt Nam trong khi chuẩn bị cho Đại hội thứ 12 với việc bầu ban lãnh đạo chóp bu mới, đồng thời nhận định rằng Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đang nhắm tới chiếc ghế Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tờ Hoàn cầu Thời báo nhận định: “Thủ tướng đương quyền của Việt Nam có lẽ đang nhắm tới vị trí hàng đầu của đảng cầm quyền. Trong nền chính trị chia rẽ ở Việt Nam, ông Dũng, một đại diện của phe thân Mỹ, có lẽ sẽ mạnh mẽ thay đổi chiến lược quốc gia và chính sách ngoại giao của Việt Nam để hợp tác nhiều hơn với Mỹ”.

Tờ báo cũng cho rằng Hoa Kỳ đang âm mưu sử dụng chiến thuật cách mạng màu cổ lỗ tại Việt Nam nhằm biến Hà Nội “thành một con tốt giống như Philippines để kiềm hãm sự trỗi dậy của Trung Quốc”.

VỤ XỬ EM NGUYỄN MAI TRUNG TUẤN: CHUÔNG NGUYỆN HỒN AI

VỤ XỬ EM NGUYỄN MAI TRUNG TUẤN: CHUÔNG NGUYỆN HỒN AI

FB Tèo Ngu Khìn

Em Nguyễn Mai Trung Tuấn. Nguồn: internet

Từ hôm qua đến giờ người cứ bần thần, mãi không viết được. Cảm thấy đau lòng, bức bối xen lẫn phẫn nộ cho cái án 4 năm 6 tháng tù dành cho em trai 15 tuổi Nguyễn Mai Trung Tuấn.

Những điều luật cụ thể trong Bộ Luật Hình Sự Việt Nam 1999 (viết tắt BLHS 1999, sửa đổi bổ sung 2009) cùng những thủ tục tố tụng với những qui định gia giảm dành cho người vị thành niên, đặc biệt từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, đề cập trong Bộ luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam 2003 (BLTTHS 2003) cùng với thông tin về giám định tỷ lệ thương tật của những bị hại là công an không đủ thuyết phục tôi rằng cái án kia là công bằng, công tâm, khách quan, mang tính giáo dục, và vì con người.

Tôi chán không muốn nói đến luật lệ, nhất là mảng luật hình sự và tố tụng, của xứ này nữa. Biết bao người đã nói đến tính “phi lý” và “phi nhân” của một số điều trong BLHS 1999, những trình tự thủ tục “làm khó” và “cản trở” cả bị can/bị cáo lẫn luật sư bào chữa trong BLTTHS 2003 và những văn bản dưới luật liên quan.

Tôi chỉ muốn nghĩ đến căn nguyên nguồn cội dẫn đến những hành xử tuyệt vọng của gia đình em Nguyễn Mai Trung Tuấn. Vì sao gia đình em phải đi đến những hành động này? Vì sao cả gia đình, chỉ trừ một em gái của Tuấn mới gần 14 tuổi giờ bơ vơ một mình ngoài đời, còn lại cả gia đình lâm cảnh tù tội? Vì sao thảm cảnh như gia đình em không phải là riêng biệt ở đất nước này? Vì sao rất đông dân oan hàng ngày bám trụ hết cơ quan này đến cơ quan khác để khiếu kiện, kêu oan? Việc gì họ phải vật vạ ngày này qua tháng nọ ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng chịu cái nóng đổ lửa của mùa hè, cái lạnh cắt da xé thịt của mùa đông, mà không nằm nhà cho êm ấm? Hầu hết đều liên quan đến đất đai và những hệ lụy từ đất đai liên quan đến thu hồi, giải phóng mặt bằng, bồi thường khuất tất.

Ai kết tội tôi là thành phần “phản động” tôi sẵn sàng vui vẻ chấp nhận, nhưng tôi vẫn cứ thẳng thừng mà nói: căn nguyên cho mọi điều trên là từ cái vòng kim cô “sở hữu toàn dân” về đất đai nhưng lại do nhà nước làm đại diện chủ sở hữu. Dù có sửa bao nhiêu cái hiến pháp như mới vừa làm với Hiến Pháp 2013 mà không công nhận sở hữu tư nhân về đất đai bên cạnh các loại hình sử hữu khác (phải có sở hữu nhà nước), cùng với luật trưng thu trưng mua minh bạch, thì khiếu kiện đông người liên quan đến đất đai sẽ không bao giờ hết được, dân oan Mai Xuân Thưởng sẽ vẫn là hình ảnh quen thuộc đến buồn nản ở Hà Nội. Cái gốc vấn đề nằm ở hình thức Sở Hữu!

Tôi chỉ muốn nghĩ về khía cạnh giáo dục trong vụ án của em Nguyễn Mai Trung Tuấn. Tự đặt mình vào hoàn cảnh của em khi cha mẹ mình bị thế, chứng kiến những gì đang xảy ra với gia đình mình như thế, tôi cũng sẽ hành động như em dù biết là liều lĩnh, tuyệt vọng, nhưng “chỉ có súc vật mới ngoảnh mặt lại với nỗi đau của đồng loại mà chăm lo cho bộ da của mình”. Chả có đứa con ngoan nào mà chấp nhận ngồi im nhìn người ta đối xử với cha mẹ và người thân ruột thị của mình đau lòng như vậy. Phải đứng về phía cha mẹ, vì như thế mới đúng là con người.

“Mở thêm một trường học là đóng cửa bớt một nhà tù”. Văn hào Victor Hugo đã đúc kết như thế. Nhưng một khi người ta muốn nhà tù mọc lên nhiều hơn trường học, một khi thay vì tận tâm và nhẫn nại với những biện pháp giáo dục nhân văn nhưng cực nhọc, người ta chỉ đơn giản tống bạn vào tù thì người ta sẽ không những không đạt được mục đích cải tạo, giáo dục đi trước trừng trị. Thậm chí người ta cũng sẽ không đạt được mục đích trừng trị và khuất phục, vì dù có hành hạ được bạn về thể xác nhưng người ta đã thất bại khi làm thế tức là cũng giúp hun đúc một tinh thần bất khuất, trui rèn thêm bản lĩnh đối đầu & đấu tranh trong bạn. Người ta sẽ chỉ “gặt” thêm được những dân oan, thành phần chống đối, chuốc thêm hận thù từ bạn.