Tướng Phùng Quang Thanh còn sống hay đã chết?

Tướng Phùng Quang Thanh còn sống hay đã chết?

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-07-20

07202015-abt-ne-of-vn-defens-minister-died.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

 

Hình chụp trang bìa tờ báo online DPA-International, trong tin có phần ghi: Một báo cáo trước đây của DPA cho biết ông tướng đã qua đời hôm Chủ Nhật sau khi được điều trị tại bệnh viện, dựa theo một nguồn tin tại bệnh viện.

Hình chụp trang bìa tờ báo online DPA-International, trong tin có phần ghi: Một báo cáo trước đây của DPA cho biết ông tướng đã qua đời hôm Chủ Nhật sau khi được điều trị tại bệnh viện, dựa theo một nguồn tin tại bệnh viện.(ngày 20 tháng 7, 2015)

Screenshot

<

Hãng tin DPA của Đức vào ngày 19 tháng 7 loan tin ông bộ trưởng quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh qua đời trong cùng ngày tại một bệnh viện ở Pháp, nơi ông này đang chữa bệnh ung thư phổi.

Vào ngày 20 tháng 7, truyền thông trong nước loan đi phát biểu của phó tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, trung tướng Võ Văn Tuấn là sức khỏe của ông bộ trưởng vẫn ổn định và sẽ về nước trong vài ngày tới. Bên cạnh đó là tin bộ trưởng quốc phòng họ Phùng gửi thư chúc mừng hai đơn vị quân đội nhân ngày truyền thống.

Tin hai lề

Sau khi thông tin trên mạng loan tải về sự vắng mặt của người đứng đầu ngành quốc phòng tại những sự kiện quan trọng của quân đội trong thời gian gần đây; truyền thông chính thống Nhà nước Việt Nam vào đầu tháng 7 mới trích dẫn phát biểu của một thành viên trong Ban Chăm sóc Sức khỏe cho cán bộ cấp trung ương, giáo sư Phạm Gia Khải, xác nhận là ông bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh đang hồi phục sau phẩu thuật khối u lành tính trong phổi.

Báo mạng DPA nhắc lại tuyên bố của giáo sư Phạm Gia Khải nói rằng ông Phùng Quang Thanh sẽ về nước trong vòng hai tuần lễ nữa. Tuy nhiên, hơn hai tuần lễ sau khi có tuyên bố này thì DPA loan tin ông Thanh từ trần theo một nguồn từ chối không nêu tên vì không được phép cho báo giới biết.

Quan tâm về bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn ngay sau khi đọc tin của DPA cũng có một bài viết ngắn đưa lên mạng với tựa (Tin dè dặt ) Phùng Quang Thanh qua đời.

Ông cho biết quan tâm của ông đối với người đứng đầu ngành quốc phòng Việt Nam hiện nay:

“ Tôi cũng như nhiều người khác ở nước ngoài quan tâm đến ông bộ trưởng quốc phòng vì ông ấy có những quan điểm nói thẳng ra là thân với bên Tàu. Điều đó hình như bên Tàu họ cũng không có giấu diếm gì cả, họ cũng nói thẳng như thế.

Và như tất cả chúng ta đều biết gần đây kết của của một điều tra xã hội do Trung tâm PEW công bố cho thấy rằng đa số, gần 80%, người Việt xem Tàu là một mối đe dọa và không có thiện cảm. Điều đó trong công chúng, trong người dân thành ra người ta quan tâm; kể cả tôi nữa đến ông bộ trưởng vì có vẻ ông có một quan điểm rất khác với người dân nên người ta quan tâm rất sát sao đến sức khỏe của ông ấy.

” Ở trong nước người ta không công bố, chắc cũng có lý do, về tình hình sức khỏe của ông bộ trưởng…. Nhưng một tin quan trọng như thế thì khó mà nói phía bên Việt Nam không công bố được, thành ra tôi xem tin đó rất dè dặt chứ không xem tin đó là một tin chính xác

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn”

Nhưng ở trong nước người ta không công bố, chắc cũng có lý do, về tình hình sức khỏe của ông bộ trưởng…. Nhưng một tin quan trọng như thế thì khó mà nói phía bên Việt Nam không công bố được, thành ra tôi xem tin đó rất dè dặt chứ không xem tin đó là một tin chính xác. Quan điểm của tôi là vậy.”

Hình chụp trang bìa tờ báo online DPA-International, trong tin có phần ghi: Một báo cáo trước đây của DPA cho biết ông tướng đã qua đời hôm Chủ Nhật sau khi được điều trị tại bệnh viện, dựa theo một nguồn tin tại bệnh viện.

Hình chụp trang bìa tờ báo online DPA-International, trong tin có phần ghi: Một báo cáo trước đây của DPA cho biết ông tướng đã qua đời hôm Chủ Nhật sau khi được điều trị tại bệnh viện, dựa theo một nguồn tin tại bệnh viện.

Nhà văn quân đội Phạm Đình Trọng có những đánh giá cụ thể về ông bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh như sau:

“ Với Phùng Quang Thanh tôi nghĩ ông ta gắn liền với việc ‘Phùng Quang Thanh- Phùng Quang Hải với hơn 100 héc ta đất của Gia Lâm, của Tân Sơn Nhất. Tôi quan tâm đến chuyện ấy.

Đấy là một ông võ biền chứ không phải một nhà chính trị. Một nhà chính trị với cương vị bộ trưởng Bộ Quốc phòng thì không thể nói năng như thế được. Tất cả những nói năng như thế chứng tỏ là một ông võ biền, quan điểm thiển cận và chỉ biết lợi ích cá nhân cục bộ chứ không biết lợi ích đất nước. Trung Quốc đe dọa xâm lược Việt Nam và cả dân tộc Việt Nam từ lớn đến nhỏ đều căm phẫn lên án Trung Quốc; thì ông ấy lại lo lắng tâm lý ghét Trung Quốc nguy hiểm cho dân tộc. Nói như thế thì ông chưa đủ tư cách là người Việt Nam chứ chưa nói đến một ông bộ trưởng quốc phòng có trách nhiệm giữ nước. Tức không phải một chính khách, một nhà chính trị.

Ông ấy nói thế vì Trung Quốc có vai trò rất quan trọng đến ‘số phận, vị trí’ chính trường Việt Nam. Trước đại hội 12 ông ấy nói thế để lấy lòng Trung Quốc nhằm có được vị trí thèm muốn của ông trên chính trường, chứ không phải vì lợi ích của đất nước.”

Kỳ vọng về một bộ trưởng quốc phòng cũng như lớp lãnh đạo sắp đến.

Tin tức chính thức cho biết vào đầu sang năm Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành đại hội 12 và dịp này sẽ quyết định lớp nhân sự lãnh đạo trong nhiệm kỳ 5 năm sắp đến.

DPA nhắc lại rằng ông Phùng Quang Thanh 66 tuổi trước khi đi chữa bệnh được xem là một ngôi sao đang lên trong Đảng Cộng sản Việt Nam, là một ứng viên cho chức vụ chủ tịch nước tại kỳ đại hội đảng 12 sắp đến.

” Nhưng ít ra đứng trước tình trạng ngư dân của mình bị ức hiếp và thậm chí có thể dùng chữ rất thẳng thừng là bị bên phía Tàu ăn cướp; thì đáng lẽ quân đội của mình phải có mặt đâu đó để cho người ta thấy rằng mình cũng có quan tâm đến ngư dân của mình. Còn ở VN trong những ngày tháng gần đây thì ngư dân chúng ta bị ức hiếp, bị ăn cướp, thậm chí bị tông chìm tàu suýt chết; nhưng không có sự can thiệp của quân đội mặc dù là gián tiếp thôi

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn”

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn bày tỏ kỳ vọng về một vị bộ trưởng quốc phòng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay:

“ Tôi nghĩ rằng Việt Nam không muốn bạo lực hay chiến tranh với nước láng giềng. Đó là nguyên tắc đương nhiên. Nhưng ít ra đứng trước tình trạng ngư dân của mình bị ức hiếp và thậm chí có thể dùng chữ rất thẳng thừng là bị bên phía Tàu ăn cướp; thì đáng lẽ quân đội của mình ( Việt Nam) phải có mặt đâu đó để cho người ta thấy rằng mình cũng có quan tâm đến ngư dân của mình. Còn ở Việt Nam trong những ngày tháng gần đây thì ngư dân chúng ta bị ức hiếp, bị ăn cướp, thậm chí bị tông chìm tàu suýt chết; nhưng không có sự can thiệp của quân đội mặc dù là gián tiếp thôi. Thậm chí không có phát biểu nào từ mấy người trong Bộ Quốc phòng liên quan đến chuyện ngư dân mình bị ức hiếp.

Thành ra tôi nghĩ rằng, là người dân chỉ ở ngoài thôi, một ông bộ trưởng quốc phòng cũng phải có tiếng nói nào đó, một phát biểu nào đó để làm cho người dân cảm thấy an tâm coi như vẫn có một lực lượng đứng đàng sau mình, bảo vệ  mình. Đàng này điều đó không xảy ra nên tôi nghĩ đó là điều đáng tiếc!”

Nhà văn quân đội Phạm Đình Trọng tỏ ra không mấy lạc quan về một vị bộ trưởng quốc phòng mới cũng như cả lớp lãnh đạo mới tại Việt Nam trong thời gian tới:

“ Hiện nay tôi cũng chưa rõ những người mới đó như thế nào bởi vì những phái đoàn tướng công an, tướng quân đội nối nhau, thay nhau đi Trung Quốc tập huấn ở Tây An. Tức sang Trung Quốc chỉ để nhồi nhét về chính trị, về giai cấp thôi chứ không phải dân tộc. Mà mấy chục năm, gần cả thế kỷ, chúng ta đã đặt giai cấp lên trên dân tộc và đã dẫn đến tình trạng như ngày nay rồi; thì với những tướng, tá của quân đội và công an sang chỉ để ( được) giáo dục về giai cấp về đảng thôi; đó là điểu chả chờ đợi gì cả! Vừa rồi đưa lên đầu những người xuất phát từ lợi ích của Đảng tức trung thành với Đảng nên khó có những người ở lập trường quốc gia, đất nước. Thứ hai có thể có nhưng người ta không dám xuất hiện, không dám bộc lộ vì bộc lộ thì sẽ bị chặn đứng ngay.”

Tuy nhiên, nhà văn quân đội Phạm Đình Trọng nói rằng ông lạc quan về xu thế dân chủ không thể đảo ngược tại Việt Nam.

Và theo lẽ tự nhiên, trước một xu thế tất yếu như thế những vị lãnh đạo nếu thức thời bao giờ cũng phải thuận theo.

Hành trình cuộc đời: 30, 40,…và 70

Hành trình cuộc đời: 30, 40,…và 70

Hàn Mai

Hành trình của mỗi đời người có lẽ nhiều lắm là 100 năm, họa hoằn lắm mới được hơn con số này, nhưng ai cũng sẽ như nhau, sinh lão bệnh tử, một đời người trôi qua như thế, ngắn ngủi chóng vánh. Thôi thì hãy cứ làm tròn trách nhiệm của bản thân mỗi khi chạm mốc thời gian trên đường đời.

Khi chúng ta 30

Khi 30 tuổi, bạn đã có thể tùy theo bản lĩnh của mình mà chịu trách nhiệm cho những sự việc mình phải đảm đương, cũng như đã có thể tự mình xác định mục tiêu trong cuộc sống và phương hướng phát triển. Nói đơn giản, ở cái tuổi 30, bạn đã có thể thản nhiên mà đối mặt với hết thảy mọi thứ. Ba phương diện khái quát mà một người 30 tuổi đã có thể tạo lập cho chính mình, đó là lập thân, lập nghiệp và lập gia.

Lập thân hay chính là xác định phẩm cách và sự tu dưỡng bản thân, bao gồm ba phương diện: tu dưỡng tư tưởng, hàm dưỡng đạo đức và bồi dưỡng năng lực.

Tự mình biết vươn lên chính là căn bản của đạo lập thân, chớ vì để thỏa mãn nhu cầu của bản thân mà trông nhờ vào sự giúp đỡ của cha mẹ, cũng đừng trông mong chạy vạy ở người khác, vì đó chẳng khác nào biểu hiện của sự mềm yếu nhu nhược. Lập thân đối với mỗi cá nhân thì yêu cầu tối thiểu nhất chính là đặt chân trong xã hội.

Lập nghiệp chính là tự mình xác lập sự nghiệp của bản thân. Người 30 tuổi ít nhất cũng đã phải có được công ăn việc làm tương đối ổn định. Lập nghiệp không những là phương thức mưu sinh mà còn là chuẩn bị hoàn thành trách nhiệm đối với xã hội.

Lập gia chính là xây dựng gia đình của riêng mình. Cạnh tranh trong xã hội hiện nay đang rất kịch liệt, nên các thanh niên thường hay trì hoãn chuyện hôn nhân gia đình. Tuy nhiên, khi đã bước vào tuổi 30, việc kết hôn không còn là sớm nữa. Còn chuyện lập gia trước lập nghiệp sau hay lập gia sau lập nghiệp trước, đều là tùy thuộc vào bản thân mỗi người, cũng không quan trọng chuyện trước sau. Người thanh niên tất yếu phải có khả năng đảm đương trách nhiệm gia đình lẫn xã hội, thế nên hoàn thành sớm hẳn là tốt hơn.

Đối với người trẻ tuổi, tam thập nhi lập chính là yêu cầu tối thiểu. Tuy nhiên, giữa  thực tế và kỳ vọng của bản thân chúng ta thường có khoảng cách rất lớn. Điều này là tất nhiên đối với trẻ em nước ta vốn luôn được cưng chiều khi gặp phải áp lực trong công việc. Đây là chuyện vốn rất thường tình.

40, cái tuổi chững chạc và hiểu chuyện

“Tứ thập nhi bất hoặc”, tức người 40 tuổi đã rất chững chạc. Người đến 40 tuổi biết nghiền ngẫm cái gió mưa nóng lạnh của đường đời, cảm hoài sự vô tình của thời gian, nhìn lại những chuyện đã qua, 40 năm như một cái búng tay, thăng trầm nếm trải bao ngờ vực, boăn khoăn, phấn chấn, lúc náo nhiệt khi trầm tư, rồi bỗng nhiên bừng tỉnh. Mất đi những cảm xúc mãnh liệt, nên bình ổn hơn, bớt đi sự vô tâm, để có trách nhiệm hơn, buông bỏ nhiều phiền não nên cũng thêm lý trí, chẳng còn cái sôi nổi thuở nào nên cũng trầm tĩnh hơn, cũng không còn mù quáng nên đã biết trông cậy vào chính mình. Người 40 tuổi đã trọn vẹn sự thanh tỉnh và lý trí; đối ngoại, họ biết hiểu về xã hội; đối nội, họ hiểu bản thân mình; đối với bản thân, họ hiểu về trách nhiệm.

40 tuổi, ta bước vào thời kì huy hoàng nhất của cuộc đời, cũng là thời kì ta cống hiến nhiều nhất cho gia đình và xã hội.

50, “ngũ thập nhi tri thiên mệnh”, ở cái tuổi 50 bạn đã thấu hiểu nhân tình thế thái

Triết học cổ đại coi Trời là Thần, Trời có thể định đoạt vận mệnh con người. Học thuyết của Khổng Tử vẫn bảo lưu quan điểm về “Thiên mệnh” này. Ông nói, “Năm mươi tuổi biết thiên mệnh”. Thiên mệnh chính là chúng ta hôm nay nói về “nhân quả báo ứng”, trong mệnh đã có thì nhất định có, trong mệnh đã không có thì cưỡng cầu cũng vô ích, chấp nhận số mệnh bởi cưỡng cầu cũng không thể có được. Người 50 tuổi hiểu rất rõ đạo lý này, hiểu rất tường tận.

Hiểu rõ vận mệnh đường đời, nên cũng không oán trời. Người 30 tuổi đa phần đều có đường đời quanh co, đứng trên mặt đất nhưng luôn muốn được bay nhảy, người 40 tuổi có đường đời đã bước vào đỉnh cao, 50 tuổi đường đời tương đối vững vàng. Nếu không có chuyện gì đặc biệt thì người 50 tuổi cũng rất khó gặp phải biến động lớn trong đường đời. Người 50 tuổi, đã bước qua hết nửa đời người và đang thời kì thanh tỉnh nhất của cuộc đời. Người ấy nhất định không một lời oán thán ông trời bất công, mà tĩnh lặng đón nhận hiện thực. Hơn nữa, họ còn tuyệt đối thanh tỉnh đoán định được tương lai của mình, cũng như tuyệt đối bình tĩnh trong mọi công tác và đời sống xã hội.

Người 50 tuổi hiểu rõ những trách nhiệm mà bản thân chưa hoàn thành, nên không hề giải đãi. 50 tuổi chưa phải tuổi về hưu nhưng cách thời điểm ấy cũng không còn xa lắm. Khi ấy vẫn nghĩ đến việc tiếp tục sự nghiệp 10 năm tiếp theo, cũng là hoàn thành trọn vẹn trách nhiệm đối với xã hội. Người 50 tuổi thì cha mẹ hẳn đều đã già, nên cũng thường xuyên chu toàn những việc vặt vãnh cho người già, bởi họ cũng muốn làm tròn trách nhiệm đối với gia đình.

Người 50 tuổi, con cái đang ở độ tuổi đi học, cũng sắp bước vào ngưỡng cửa lập nghiệp, tiền đồ của con trẻ cũng là điều mà cha mẹ quan tâm nhất, đồng thời họ cũng mong muốn trở thành người cha người mẹ mẫu mực. Người 50 tuổi, mỗi khi nghĩ về trách nhiệm, đều tự nhiên sinh ra cái cảm giác không hề nghĩ cho bản thân, cũng không hề dễ giải, kiên trì không ngừng nỗ lực, hoàn thành trọn vẹn trách nhiệm của mình.

Người 50 tuổi đã là bước vào giai đoạn thành thục nhất của đời người, thành công, huy hoàng, sung túc đều đồng thời tồn tại, đôi khi có chút áp lực, nhưng họ đều thản nhiên mà đối mặt, bởi họ đã quá hiểu xã hội, cũng đã quá am hiểu chính bản thân mình.

60 nhĩ thuận, nhìn thấu mọi thứ

Người bước vào tuổi 60, người đời dẫu nói lời hay hoặc lời không tốt đều chẳng nói lại, lời có thể vẫn lọt tai nhưng tâm chẳng hề động, dẫu có chuyện không vui nhưng lòng vẫn bình ổn. Hồ Thích từng nói: “Nhĩ thuận nghĩa là dễ dàng bỏ qua cho những lời nói khó nghe”, lời nói dẫu có “trái tai” cũng không hề thấy khó nghe. Họ coi trọng việc thấu hiểu, người ở độ tuổi này chẳng quan tâm đến thị phi, dẫu gặp phải chuyện trớ trêu rối rắm, cũng có thể làm cho tâm mình không bị xáo động, mà bình tĩnh tự mình suy xét, để nỗi lo âu của bản thân thuận theo hoàn cảnh khách quan và quy luật vận động của vạn vật. Họ cũng biết rằng bản thân không được bộp chộp, nổi giận hay bi thương, không chùn bước, cũng không để tâm vào hơn thua được mất, từ đầu đến cuối chỉ biểu hiện duy nhất một tâm thái.

Ta biết người 60 tuổi là người đã tu dưỡng đạt đến cảnh giới cao nhất, đã có thể khống chế và kiểm soát bản thân thật vững vàng. Có thể nói, người 60 tuổi có thể nhìn thấu đời người, sinh mệnh và danh lợi.

Người 60 tuổi đã được trui luyện theo năm tháng, nếm trải bao khó khăn trắc trở của cuộc đời, những thứ lưu lại chẳng qua chỉ là dấu chân nhân sinh, thành tựu đời người cũng chính là sự phong phú của những trải nghiệm. Bước vào tuổi 60 cũng là bước vào mùa thu đời người, cuộc sống chậm chạp trôi, nhưng qua đó mà thưởng thức nhân sinh một cách tinh tế, chiêm nghiệm đủ loại cảnh sắc của hành trình cuộc đời, thụ hưởng thành tựu xã hội vốn đã phải vất vả gầy dựng, tận hưởng cuộc sống dễ dàng không lo âu muộn phiền, cười cười khóc khóc với những ngọt bùi đắng cay từng nếm trải trong đời, rồi nhìn chúng với một cảm giác thật mới mẻ. 60 tuổi quả thực là tuổi đã vào thu, nhưng chỉ vào độ tuổi này họ mới có được phong thái không nhầm lẫn với bất kì ai.

70 tuổi tùy ý, muốn làm gì thì làm nấy

70 tuổi tùy tâm sở dục, thuận theo ý nghĩ của chính mình, muốn làm gì thì làm đó. Nói là tùy ý nhưng vẫn là rất xem trọng việc “không vượt quá khuôn phép”, tức không được làm gì trái với quy củ, thế nên dẫu có làm gì cũng đều là tùy thích nhưng vẫn phải thuận theo tự nhiên, tùy ý nhưng cũng phải ngó xem tình cảnh hiện tại, muốn làm gì thì làm nhưng đều không vượt ngoài khuôn phép.

Có người nói, người 60 tuổi làm quan hay không làm quan cũng như nhau, còn người 70 tuổi có tiền hay không có tiền cũng chẳng khác chi mấy. Khi đã bước vào tuổi 70 ai ai cũng như nhau, đều cầu mong thân thể khỏe mạnh, thân thể khỏe mạnh mới là điều cơ bản cần để đảm bảo chất lượng cuộc sống, cũng chẳng mong được trường thọ, chỉ hết lòng mong sinh mệnh được thăng hoa, ấy mới là cuộc đời hoàn mỹ.

70 tuổi bất quá cũng chỉ là một đoạn trong hành trình cuộc đời, đối với người ở độ tuổi này, 70 năm đã trôi qua, 70 năm tiếp nữa sẽ đến, và mọi thứ như khởi động lại từ đầu. Người 70 tuổi nếu có thể luôn xem bản thân như đang ở giữa hành trình đời người, vậy thì sẽ cảm thấy bản thân còn rất nhiều thời gian, nhờ đó mà không than vãn trước tuổi già suy yếu, tương lai khổ sở, mỗi ngày trôi qua đều thấy vui vẻ, hướng về phía trước mà cảm thấy cuộc sống sẽ luôn có điều mới mẻ, lòng ngập tràn vui sướng. Rồi họ sẽ thấy được một phần mong nguyện của sinh mệnh, ghi nhớ sự mỹ hảo đường đời phía trước.

Hàn Mai, Meizi, dịch từ Sound of hope

Nhiều người Cuba có thể bị trục xuất khi Hoa Kỳ-Cuba tái lập ngoại giao

Nhiều người Cuba có thể bị trục xuất khi Hoa Kỳ-Cuba tái lập ngoại giao

Nguoi-viet.com

MIAMI, Hoa Kỳ (AP) – Với việc Hoa Kỳ và Cuba đang tiến gần đến việc hoàn toàn tái lập quan hệ ngoại giao, kể cả việc mở lại tòa đại sứ sau 54 năm gián đoạn, số phận của hàng chục ngàn người Cuba đang bị lệnh trục xuất của Sở Di Trú Hoa Kỳ đang ngày càng bất định hơn.

Báo giới xúm đông tường trình sự kiện cột cờ của Cuba tại tòa nhà Cuban Interest Section ở Hoa Thịnh Đốn, vào trung tuần Tháng Sáu, 2015, để chuẩn bị cho việc hai nước Hoa Kỳ-Cuba tái lập quan hệ ngoại giao. (Hình: AP Photo/Pablo Martinez Monsivais, File)

Hiện có tới 25,000 người Cuba đang sống ở Hoa Kỳ đã bị lệnh trục xuất, theo cơ quan thi hành chính sách Di Trú và Quan Thuế (ICE).

Họ gồm những người bị coi là mối đe dọa cho an ninh quốc gia hay có tiền án hình sự trầm trọng và được coi là thành phần ưu tiên trục xuất.

Dù rằng phía Hoa Kỳ rất muốn đưa trả họ về Cuba, những người này cho đến nay vẫn còn ở đây vì chính quyền Cuba của Chủ Tịch Raul Castro chưa cho phép họ trở về. Hiện chưa rõ là chính sách của Cuba về vấn đề này sẽ có thay đổi hay không.

Từ nhiều thập niên nay, việc trục xuất về lại Cuba đã gặp khó khăn vì không có quan hệ ngoại giao và vì chính quyền Cuba không cung cấp giấy chiếu khán cho phần lớn những người bị trục xuất.

Thỏa thuận trục xuất năm 1984 gồm có 2,746 người từng đến Hoa Kỳ năm 1980 trong chiến dịch ào ạt ra đi Mariel Boatlift. Năm đó, Chủ Tịch Nhà Nước Cuba Fidel Castro, nhằm tạo khó khăn cho Washington, bất ngờ loan báo sẽ cho phép bất cứ ai muốn rời khỏi quốc gia này được tự do lên thuyền ra đi.

Có khoảng 125,000 người Cuba đến Florida trong thời gian từ Tháng Tư tới Tháng Mười năm 1980.

Hồ sơ ICE cho thấy có 1,999 người trong danh sách này đã bị trả về Cuba, với khoảng 1,093 người kể từ năm 2001 tới nay. ICE là cơ quan có nhiệm vụ truy tìm và bắt giữ người ở Hoa Kỳ bất hợp pháp cũng như những người được lệnh phải ra khỏi nước.

Tính tới cuối Tháng Ba, có hơn 35,000 người Cuba có lệnh trục xuất và có thêm 2,300 người Cuba khác đang chờ đợi phải ra tòa di trú và có thể bị trục xuất. ICE cho hay trong số này, có khoảng 25,000 người bị coi là có ưu tiên trục xuất vì có hành vi phạm pháp. (V.Giang)

Lần đầu tiên có hai phụ nữ tranh cử tổng thống ở Đài Loan

Lần đầu tiên có hai phụ nữ tranh cử tổng thống ở Đài Loan

Nguoi-viet.com

ĐÀI BẮC, Đài Loan (AP) – Hai đảng lớn nhất ở Đài Loan đã đều đề cử một phụ nữ đại diện họ ra tranh cử tổng thống trong kỳ bầu cử năm 2016, một hành động lịch sử cho thấy sự chấp nhận khả năng lãnh đạo của phụ nữ ở quốc gia này.

Bà Hung Hsiu-chu, một cựu nhà giáo và hiện là phó chủ tịch Quốc Hội, vẫy cờ
sau khi bà được Đảng Quốc Dân Đảng Đài Loan đề nghị ra tranh cử tổng thống.
(Hình: AP Photo/Chiang Ying-ying)

Quốc Dân Đảng Đài Loan, hiện đang là đảng cầm quyền, hôm Chủ Nhật đề cử bà Hung Hsiu-chu, một cựu nhà giáo và hiện là phó chủ tịch Quốc Hội, đại diện họ ra tranh cử tổng thống. Bà Hung, người ủng hộ có quan hệ thân thiện với lục địa Trung Quốc, sẽ đối đầu với bà Tsai Ing-wen, chủ tịch đảng đối lập Dân Chủ Cấp Tiến (DDP), với lập trường dè dặt hơn trong quan hệ với Bắc Kinh. Bà Tsai hiện được coi là có thế thượng phong theo các cuộc thăm dò dư luận trước ngày bầu cử vào Tháng Giêng năm 2016.

Mối quan hệ với Trung Quốc hiện đang ngày càng trở thành một vấn đề quan trọng trong cuộc bầu cử tới. Cử tri Đài Loan cho đến nay chưa hề bỏ phiếu cho phụ nữ lên làm tổng thống hay có cơ hội chọn lựa hai phụ nữ đại diện cho cả hai đảng lớn tại quốc gia này.

Bà Joana Lei, giám đốc điều hành cơ quan nghiên cứu Chunghua 21st Century Think Tank ở Đài Loan, nói rằng một số phụ nữ trẻ hơn vẫn còn gặp khó khăn khi vào vai trò lãnh đạo ở Đài Loan, nhưng xã hội này chấp nhận các phụ nữ lớn tuổi hơn, từ 50 trở lên, vì truyền thống lịch sử đã có từ ở lục địa.

Phụ nữ này điều hành 10 bộ chính quyền cũng như một số công ty hàng đầu ở Đài Loan. Có tới 1/3 dân biểu quốc hội Đài Loan là phụ nữ, so với 13% ở Nhật và 16% ở Nam Hàn, theo lời ông Sean King, phó chủ tịch công ty Park Strategies, một công ty tư vấn có trụ sở đặt tại New York.

Ở các quốc gia khác tại Á Châu, bà Park Geun-hye đắc cử tổng thống Nam Hàn hai năm trước đây và bà Sheikh Hasian hiện là thủ tướng Bangladesh. Philippines đã từng có hai tổng thống là phụ nữ.

Quốc Dân Đảng của bà Hung bị mất 9 ghế thị trưởng và quận hạt trong kỳ bầu cử địa phương hồi Tháng Mười Một vừa qua vì cử tri cáo buộc chính phủ của Tổng Thống Mã Anh Cửu quá thân thiện với chính quyền lục địa trong khi không quan tâm đến khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn trong nước. Ông Mã không được tái tranh cử lần tới vì đã ở hai nhiệm kỳ. (V.Giang)

Thông tấn xã Đức: Đại Tướng Phùng Quang Thanh qua đời

Thông tấn xã Đức: Đại Tướng Phùng Quang Thanh qua đời

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Đại Tướng Phùng Quang Thanh, ủy viên Bộ Chính Trị Đảng CSVN kiêm bộ trưởng Quốc Phòng, vừa qua đời tại Pháp hôm Chủ Nhật, 19 Tháng Bảy, hãng thông tấn DPA của Đức trích lời một giới chức quân sự cho biết như vậy.

Đại Tướng Phùng Quang Thanh. (Hình: commons.wikimedia.org)

Trong khi đó, tại Việt Nam, chưa thấy một cơ quan truyền thông nào đưa tin về vụ này.

Ông Thanh, 66 tuổi, qua đời tại bệnh viện Georges Pompidou ở Pháp, sau khi được chữa trị bệnh ung thư phổi, DPA trích nguồn tin quân sự nói, nhưng không cho biết danh tánh nguồn, vì người này không được phép nói với truyền thông.

Trước khi bị bệnh, ông Thanh, cũng là phó bí thư Quân Ủy Trung Ương, được coi là một ngôi sao sáng trong Đảng CSVN, theo DPA.

Trong thời gian qua, có nhiều tin đồn về sức khỏe của ông Thanh, sau khi ông đột ngột vắng mặt tại một số sự kiện quan trọng, ví dụ như cuộc họp của chính phủ và đại hội toàn quân.

Lần cuối cùng ông Thanh xuất hiện trước công chúng là vào ngày 19 Tháng Sáu, lúc được ông Jean-Yves Le Drian, bộ trưởng Quốc Phòng Pháp, tiếp đón tại Paris.

Hôm 9 Tháng Bảy, Giáo Sư Phạm Gia Khải, thành viên Ban Bảo Vệ, Chăm Sóc Sức Khỏe Trung Ương, nói với BBC rằng ông Thanh “đã được xuất viện sau khi được giải phẫu một khối u trong phổi, nhưng ông vẫn tiếp tục ở lại Pháp để đợi được kiểm tra.”

Trong cuộc phỏng vấn trước đó với BBC ngày 2 Tháng Bảy, Giáo Sư Khải cho biết ông Thanh được chuyển sang Pháp từ ngày 24 Tháng Sáu để giải phẫu khối u trong phổi.

Theo dự trù, ông Thanh có thể được đưa lên nắm chức chủ tịch nước sau Đại Hội Đảng CSVN lần thứ 12 được tổ chức vào năm tới, DPA trích nguồn tin quân sự cho biết như vậy. (Đ.D.)

Bản tin được đăng tại đây: http://www.dpa-international.com/news/asia/vietnam-defence-minister-dies-in-france-after-cancer-treatment-a-46003499.html

Chúng ta không còn là lọai người ở tỉnh lẻ nữa.

Chúng ta không còn là lọai người ở tỉnh lẻ nữa.

( We are no longer provincial )

Đòan Thanh Liêm

Vào đầu năm 1916, Tổng Thống Woodrow Wilson đã bắt đầu công việc vận động thuyết phục Quốc Hội là nước Mỹ cần phải tham gia giúp đỡ Liên minh Anh Pháp trong cuộc Đệ nhất chiến tranh thế giới khởi sự từ năm 1914. Ông phát biểu một câu đã thành nổi danh như sau : “Chúng ta không thể còn là một dân tộc ở tỉnh lẻ nữa” (nguyên văn tiếng Anh : “We can no longer be a provincial nation” ).Tức là ông muốn xác nhận rằng nước Mỹ đã là một cường quốc với trách nhiệm trong công cuộc bảo vệ tự do và hòa bình trên khắp thế giới, chứ không còn là một quốc gia nhỏ bé, mà tự cô lập khỏi cộng đồng nhân lọai được nữa.

Câu nói này cũng có thể áp dụng cho người Việt đang sinh sống ở trên 60 quốc gia tiến bộ khắp thế giới hiện nay. Nhất là đối với lớp người trẻ là con em chúng ta đang vào lớp tuổi 30-40 đã trưởng thành chững chạc rồi, mà lại tiếp thu được một nền giáo dục văn minh với trình độ khoa học kỹ thuật phát triển cao độ tại các nước Âu Mỹ, thì rõ rệt là các em đã có một nhãn quan rộng rãi, thông thóang rất nhiều so sánh với thế hệ cha bác của mình.Đó là điều làm chúng ta thật vui mừng, vì như người xưa vẫn thường nói : “Hậu sinh khả úy”, và “Con hơn cha, nhà có phúc” vậy.

Vì được sinh sống trong một môi trường văn hóa xã hội tiền tiến như vậy, nên chúng ta dễ hấp thụ được những cái hay, cái đẹp của thế giới hiện đại. Nhờ vậy, mà số trên 3 triệu người Việt hải ngọai có thể đóng góp phần trí tuệ này vào công cuộc xây dựng và phát triển cho quê hương đất nước Việt nam của mình. Chứ không phải chỉ có sự chi viện kinh tế vật chất cho bà con ruột thịt ở quê nhà, như là đóng vai trò của một thứ “con bò sữa”. Cụ thể mà nói, thì chúng ta cần phải có được cái suy nghĩ tòan cuộc, cái viễn kiến sâu xa (global thinking/global vision) về tình hình các sự việc của tòan bộ thế giới ngày nay, cũng như của nước Việt nam nhỏ bé của mình trong khuôn khổ của cái thế giới ấy. Đúng như lời của Tổng Thống De Gaulle vào năm 1964-65 đã nhắn nhủ thanh niên sinh viên nước Pháp là : “Các bạn cần phải có một tầm nhìn vũ trụ (vision cosmique)”. Và còn hơn thế nữa, chúng ta lại có thể mời gọi, thuyết phục được các bạn bè quốc tế rất đông đảo, hùng hậu của mình, để cùng nhập cuộc liên đới với chúng ta trong sự nghiệp tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền của Việt nam, trong tinh thần ôn hòa, bất bạo động vốn là xu thế thời đại trong thế giới văn minh hiện nay.

Với ý hướng đó, trong bài viết này, tôi xin được trình bày về kinh nghiệm cụ thể rằng: “Phát triển Xã hội Dân sự chính là phương cách hiệu quả nhất để đi tới được một nền Dân chủ Tham gia” (Participatory Democracy). Như ta đã biết, XHDS là một trong ba khu vực cấu tạo thành cái không gian xã hội mà mỗi người chúng ta sinh sống trong một miền địa lý nhất định. Định nghĩa này có thể ghi vắn tắt thành một công thức như sau:

Không gian xã hội  =  Nhà nước + Thị trường kinh tế + Xã hội Dân sự.

( The Social Space   =  The State   + The Marketplace   + The Civil Society).

Cả ba khu vực này đều tồn tại song hành với nhau trong tư thế của sự cộng đồng sinh tồn (Coexistence), tức là không một khu vực nào lại tìm cách thay thế hay lọai trừ đơn vị kia.

Thông thường, thì ta có XHDS trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia, hay trong một đơn vị hành chánh nhất định. Nhưng với xu thế tòan cầu hóa ngày nay, thì đã có nhiều tác giả đề cập đến các khía cạnh của một thực thể lớn rộng hơn nữa, đó là “Xã hội Dân sự Tòan cầu” (Global Civil Society), mà thành phần đơn vị cụ thể là các Hội Hồng Thập Tự, Hội Hướng Đạo, Phong Trào Green Peace (Bảo vệ Môi sinh), Tổ chức Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International), các Tổ chức Nhân đạo như Ford, Rockefeller, Bill Gates Foundation  v.v… Cũng tương tự như tổ chức Liên Hiệp Quốc (The United Nations = UN ), được khai sinh từ sau thế chiến thứ hai, thì cũng được coi như là một thực thể chính trị bao gồm mọi quốc gia trên thế giới ngày nay. Ta sẽ bàn chi tiết về XHDS Tòan cầu trong một dịp khác, vì bài này tập chú vào hiện tình XHDS tại Việt nam trong bối cảnh của phong trào phát triển về Dân chủ và Nhân quyền của thế giới ngày nay.

Trong vòng 30-40 năm nay, ý niệm về XHDS đã được phát triển phổ biến khắp nơi trên thế giới, qua môi trường hàn lâm đại học, cũng như qua các phương tiện truyền thông báo chí, và nhất là thông qua sự lớn mạnh của hàng triệu các tổ chức phi chánh phủ (NGO = Non-Governmental Organisations), các tổ chức từ thiện nhân đạo, các nhóm họat động xã hội dựa trên cơ sở một niềm tin tôn giáo (Faith-based social action groups) v.v… nhan nhản tại khắp các quốc gia trên thế giới, thì vai trò của XHDS lại càng được chú ý và được đề cao, cổ võ. Đặc biệt, kể từ khi chế độc độc tài tòan trị cộng sản bị xụp đổ tại Đông Âu và tại chính Liên Xô kể từ 20 năm nay, thì vấn đề “Phục hồi và Xây dựng lại XHDS tại các quốc gia cựu cộng sản này” lại càng được đặt ra một cách sôi nổi cấp thiết.

Xu thế chung tại các quốc gia “hậu cộng sản” này là : Quần chúng nhân dân dành lại được cái quyền chủ động của mình trong mọi lãnh vực chính trị, xã hội, kinh tế cũng như về mặt văn hóa, tâm linh. Cụ thể là các hội thiện nguyện về nhân đạo từ thiện cũng như về y tế, giáo dục và tôn giáo v.v… đã được phục hồi để cho các tư nhân được thỏai mái tham gia sáng kiến và hành động, mà không còn bị quyền lực của Nhà nước o ép, kiềm chế gắt gao như dưới chế độ cộng sản nữa. Và đây mới chính là sự thể hiện cái “Quyền Tự quyết, Quyền Tự Làm chủ” của người dân đối với xã hội và đất nước của mình. Kết quả là tại hạ tầng cơ sở của các xóm làng, các khu phố, người dân đã nô nức, phấn khởi hợp tác với nhau để tham gia vào công việc cụ thể và thiết thực, nhằm cải tiến môi trường sinh họat tại địa phương nhỏ bé của chính mình. Và xuyên qua những công tác cải tiến dân sinh cụ thể như thế, người dân càng thêm gắn bó thân mật với nhau và nhờ vậy mà xã hội được phát triển trong tình thân ái, tương trợ và liên đới giữa các thành viên với nhau hơn mãi. Tình trạng “Gắn bó xã hội” (Social Cohesion) này lại càng làm phong phú thêm cái nguồn” Vốn Xã hội” (Social Capital) của tòan thể cộng đồng. Nói cho gọn lại, thì XHDS trong giai đọan hậu cộng sản này đang đóng trọn vẹn cái vai trò làm “Đối tác với Nhà nước” (Counterpart) trong công cuộc xây dựng và phát triển xã hội ngay từ cấp hạ tầng cơ sở tại nông thôn cũng như tại môi trường đô thị.

Mặt khác, vì có tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, tự do nghiệp đòan… là những nhân quyền căn bản như đã được ghi rõ trong Bộ Luật Quốc Tế về Nhân Quyền (The International Bill of Human Rights), nên XHDS đã có thể đóng trọn vẹn một vai trò khác nữa, đó là vai trò làm “Đối trọng” (Counterbalance) đối với Nhà nước, khiến cho chánh quyền không thể vượt quá giới hạn, lạm dụng quyền hành, tự tung tự tác, như dưới thời cộng sản chuyên chế độc tài được nữa. Tại Đông Âu hiện nay, giới sĩ phu trí thức, giới hàn lâm đại học, giới văn nghệ sĩ, cũng như giới lãnh đạo tinh thần của các tôn giáo, thì đều có điều kiện thỏai mái để góp phần phê phán, sửa sai đối với chánh quyền. Tiếng nói của họ được coi như “Tiếng nói Lương tâm” (The voice of conscience) của cả một dân tộc. Nhờ vậy, mà xã hội có thể tránh được bao nhiêu điều sai lầm tệ hại, thất nhân thất đức như đã xảy ra đầy rẫy dưới thời cộng sản, hay dưới thời độc tài phát xít Đức quốc xã trước đây. Kinh nghiệm này rất có ích cho quê hương chúng ta.

Tại Việt nam gần đây, tiếng nói phản biện về chuyện Nhà nước cộng sản đã để cho Trung quốc sang khai thác quặng bâu-xít ở miền cao nguyên, hiện đang gây một tiếng vang lớn trong dư luận quần chúng khắp nơi, cả ở trong cũng như ở ngòai nước. Đó là một dấu hiệu đáng mừng là giới sĩ phu trí thức đã mạnh dạn dấn thân nhập cuộc với tòan thể dân tộc trong việc bảo vệ môi sinh, bảo vệ lẽ sống còn của các sắc tộc thiểu số vốn xưa nay vẫn sinh sống tại miền rừng núi, với sắc thái văn hóa riêng biệt, đặc trưng của mình. Cũng như việc các thanh niên sinh viên đã dũng cảm chống lại việc Trung quốc xâm lấn Hòang Sa, Trường Sa và phần đất ở biên giới phía bắc của Tổ quốc ta. Mặc dầu bị chính quyền Hanoi đã thẳng tay đàn áp thô bạo, giới thanh niên này vẫn kiên trì theo đuổi công cuộc tranh đấu nhằm bảo vệ sự tòan vẹn của lãnh thổ Việt nam. Đây chính là điều rất tích cực góp phần tạo ra khí thế lạc quan, phấn khởi cho việc xây dựng tương lai của xứ sở. Và người ở hải ngọai như chúng ta cần phải hết lòng yểm trợ thật hiệu quả cho sự nghiệp tranh đấu và xây dựng trường kỳ như thế.

Nói vắn tắt lại, chúng ta cần phải chuyển giao cho thế hệ trẻ cái ngọn lửa nồng nàn của tình yêu thương chân thật và liên đới với đồng bào ruột thịt của mình, nêu cao tinh thần bảo vệ Nhân phẩm và Nhân quyền của người dân. Tình yêu thương đó phải được diễn tả cụ thể bằng hành động thiết thực, như tìm cách chấm dứt tệ nạn buôn người (Human Trafficking), đòi hỏi công bằng xã hội cho hàng triệu dân oan hiện đang bị mất nhà, mất đất tại khắp các miền nông thôn hẻo lánh, hỗ trợ cho các nhà tranh đấu cho Dân chủ, Nhân quyền mà đang bị chính quyền cộng sản sách nhiễu, bắt bớ giam cầm trong các nhà tù… Chúng ta cũng phải tận tâm chăm sóc cho các nạn nhân của thiên tai bão lụt, của bệnh tật ngặt nghèo như bênh phong cùi, bệnh HIV/ Aids…, góp phần nâng đỡ các học sinh, sinh viên thuộc các gia đình nghèo túng để các em có điều kiện tiếp tục việc học v.v…Các lọai việc này hòan tòan nằm trong phạm vi tầm tay của chúng ta, trong lãnh vực xã hội dân sự. Có ra  tay nhập cuộc cụ thể và tích cực như thế, thì ta mới thực sự góp phần vào việc tạo ra được một sự chuyển biến rõ rệt trong xã hội được. Như người Mỹ thường nói : That makes a difference, a change. ( Điều đó tạo ra sự khác biệt,sự chuyển biến).

Bài viết này được thành hình là nhờ ghi lại chi tiết câu chuyện tại bữa tiệc Mừng Xuân Kỷ sửu của Hội Luật gia Việt nam, được tổ chức vào ngày Chủ nhật 8 Tháng Ba 2009, nhằm đúng vào Ngày Quốc tế Phụ nữ, tại thành phố Milpitas, gần San Jose California. Tác giả xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến Thẩm phán Phan Quang Tuệ, Luật sư Ngô Văn Quang trong Ban Chấp Hành Hội Luật gia là hai vị đã gợi ý ra đề tài cho buổi nói chuyện này. Và như đã thưa ở trên, người viết xin hẹn sẽ khai triển chi tiết hơn về đề tài Xã hội Dân sự Tòan cầu trong một dịp khác nữa, bởi lẽ bài viết này đến đây thì đã quá dài rồi./

California, Mùa Xuân Kỷ sửu 2009.

Đòan Thanh Liêm

Mục sư Rick Warren và sự Nhập cuộc của tín đồ tôn giáo.

Mục sư Rick Warren và sự Nhập cuộc của tín đồ tôn giáo.

Bài của  :  Đoàn Thanh Liêm

Tại nước Mỹ kể từ sau khi thế chiến thứ hai chấm dứt, thì có nhiều vị mục sư nổi danh với ảnh hưởng rất lớn lôi cuốn được số đông quần chúng khắp nước Mỹ và cả ở ngoại quốc nữa. Trong số này, phải kể đến mục sư Billy Graham, mục sư Martin Luther King và mục sư Rick Warren.

Billy Graham sinh năm 1918 là một vị giảng thuyết lôi cuốn đến hàng trăm triệu người khắp nước Mỹ và cả trên thế giới. Luther King là vị lãnh đạo kiệt xuất của phong trào tranh đấu dân quyền  (civil rights movement) của người Mỹ gốc Phi châu trong các thập niên 1950-60. Rick Warren là một tác giả cuốn sách “The Purpose Driven Life” (Cuộc sống có mục đích) bán chạy nhất, đến trên 30 triệu cuốn trong vòng có 6-7 năm.

Trong bài này, tôi xin viết về mục sư Rick Warren là người trẻ tuổi nhất, sinh năm 1954 tại San Jose và là người sáng lập nhà thờ Saddleback Valley Community Church tọa lạc tại thành phố Lake Forest trong Quận Cam, miền Nam California liền sát với khu Little Saigon của người Việt chúng ta. Trong bài sau, tôi sẽ viết riêng về mục sư Billy Graham. Còn về mục sư Luther King, thì đã có quá nhiều người biết đến rồi, nên tôi thiết nghĩ khỏi cần viết gì thêm về ông nữa.

1 / Tóm lược tiểu sử của Rick Warren.

Rick Warren là con của một vị mục sư và chính bản thân ông cũng đã hiến dâng trọn cuộc đời mình cho việc rao giảng Tin Mừng của Chúa Cứu thế theo truyền thống của phái Tin Lành Southern Baptist. Ông tốt nghiệp bậc cử nhân tại California Baptist University ở Riverside, bậc cao học về Thần học tại Southwestern Baptist Theological Seminary ở Fort Worth, Texas và bậc tiến sĩ về mục vụ tại Fuller Theological Seminary ở Pasadena, California.

Ông thừa nhận mục sư Billy Graham, giáo sư Peter Drucker và mục sư Jimmy Warren người cha của ông là những vị trong số những cố vấn đáng tin cậy nhất của mình (mentor).

Năm 1975, sau khi được truyền chức mục sư, Rick Warren làm lễ thành hôn với Kay Lewis sinh trưởng ở San Diego trong một gia đình có người cha cũng là một vị mục sư. Hai ông bà có 3 người con hiện đều đã trưởng thành và 4 cháu nội ngoại. Cả hai người cùng hợp tác trong việc truyền đạo và phát triển cộng đoàn tín hữu từ con số vài trăm người lúc mới thành lập tại Saddeback trong thành phố Lake Forest vào năm 1980 lên đến con số trên 20,000 tín hữu vào năm 2005. Với số tín đồ thường xuyên tham dự thánh lễ và các sinh họat rất đa dạng hàng tuần đông đảo như vậy, Saddleback Valley Community Church đã trở thành một “Megachurch” đứng hàng thứ 8 trong số trên 1,200 “đại giáo đoàn” của toàn nước Mỹ hiện nay. Megachurch là một hiện tượng tiêu biểu cho phong trào phát triển tôn giáo rất mạnh mẽ, lôi cuốn được hàng triệu tín đồ của các giáo hội Tin lành trong vòng 50 năm qua tại nước Mỹ và cả tại Đại Hàn.

Song song với việc phát triển cơ sở mục vụ này, Rick còn đóng góp rất tích cực vào việc đào tạo, hướng dẫn cho trên 400,000 mục sư và giới chức lãnh đạo hội thánh trên toàn thế giới, dựa theo tinh thần đã được phác họa trong cuốn sách xuất bản lần đầu năm 1995, được bán rất chạy, với nhan đề là “The Purpose Driven Church”.

Rick Warren lại còn nổi danh hơn nữa với cuốn sách được xếp vào loại bán chạy nhất (bestseller), mà hiện đã lên đến 30 triệu cuốn, đó là cuốn sách có nhan đề “The Purpose Driven Life”. Người viết sẽ giới thiệu chi tiết hơn về hai cuốn sách này trong một dịp khác.

Với số lợi tức thu nhập thật lớn lao do việc bán sách, vào năm 2005 Rick Warren đã hoàn lại cho nhà thờ toàn bộ số lương bổng  ông nhận được trong 25 năm với cương vị một mục sư. Và còn hơn thế nữa, ông tiếp tục đóng góp cho nhà thờ 90% số lợi tức thâu nhập của mình, thay vì số 10% mà người tín đồ thường đóng góp vào công quỹ của hội thánh, được gọi là “tithe” (thập phân).Và ông bà tiếp tục sống thanh đạm trong căn nhà nhỏ bé, với cái xe cũ kỹ, chứ không hề có một biểu hiện xa hoa nào của một gia đình triệu phú thường tình.

Nhưng điều đáng ghi nhận hơn cả về vị mục sư danh tiếng này, chính là việc ông đã tổ chức cho các tín đồ và các bạn hữu thân tín của mình tham gia dấn thân nhập cuộc với các dự án hết sức lớn lao về xã hội, y tế, giáo dục và phát triển có tầm vóc toàn cầu. Ta sẽ xem xét công việc này trong các mục tiếp theo đây.

2 / Sự gắn bó với Phi châu : Khởi sự ở Rwanda.

Sau mấy năm chuẩn bị, Rick Warren đã bắt đầu một loạt chương trình hành động của “đại giáo đoàn Saddenback” được mệnh danh là PEACE plan tại nước Rwanda là nơi có cuộc diệt chủng kinh hoàng vào năm 1994, tàn sát đến gấn một triệu sinh mạng trong một quốc gia với dân số chỉ có 9 triệu người. Chữ PEACE này ngoài ý nghĩa là Hòa bình, lại chính là chữ viết tắt của khẩu hiệu gồm 5 mục : Promote Reconciliation, Equip servant-leaders, Assist the poor, Care for the sick, Educate the next generation (Phát triển công cuộc Hòa giải, Trang bị cho người lãnh đạo-phục vụ, Giúp đỡ người nghèo khó, Chăm sóc người bệnh tật, Giáo dục thế hệ tương lai).

Vào năm 2005, tức là 11 năm sau vụ diệt chủng, Rwanda vẫn còn là một quốc gia vào loại nghèo nhất trên thế giới với 90% dân chúng có thu nhập chưa tới 2 dollars mỗi ngày. Ngay từ lúc đặt chân tới đây, Warren liền phát động ngay một chương trình hành động cấp thời gồm nhiều phương diện y tế, xã hội, giáo dục và nhất là cả kinh tế. Ông dẫn các giám đốc xí nghiệp, các doanh gia từ trong số các thành viên của cộng đoàn Saddenback đến tiếp súc và làm việc với giới doanh nghiệp và nhân viên chánh phủ Rwanda để tìm cách xây dựng nền kinh tế của xứ sở này. Họ chú trọng vào công việc đào tạo huấn luyện cho các nhà doanh nghiệp nhỏ tại các làng quê hẻo lánh, cho đến cả việc yểm trợ các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở rất lớn lên đến nhiều triệu dollar. Điển hình như  dự án xây dựng đường sắt dài 720 miles nối liền Rwanda với Tanzania và Burundi, chi phí lên đến 2.5 tỷ mỹ kim vừa do 3 nước đó ký kết vào tháng Tư năm 2009.

Rick Warren rõ ràng là có tầm nhìn xa và có uy tín để kết hợp được cả giới lãnh đạo chánh quyền, giới doanh nghiệp tư nhân, cũng như giới lãnh đạo tôn giáo ở hạ tầng cơ sở tại những xóm làng hẻo lành, để cùng nhau thực hiện được rất nhiều dự án cụ thể về y tế đại chúng, từ việc lo chăm sóc cho hàng vạn người mắc bệnh HIV/AIDS, cho bao nhiêu trẻ mồ côi cha mẹ đã chết vì căn bệnh hiểm nghèo này, cho đến việc cấp vốn cho các gia đình nghèo túng để giúp họ phương tiện tự lực mưu sinh, để khỏi phải lệ thuộc mãi vào sự bố thí của người khác.

Phái đòan do Rick Warren hướng dẫn đã được chính Tổng thống Rwanda là Paul Kagame và tòan thể chánh phủ tín nhiệm và hợp tác rất chặt chẽ; nhờ vậy mà sau mấy năm làm việc chung với nhau, thì quốc gia này đã gặt hái được những thành quả rất đáng khích lệ về nhiều mặt kinh tế, xã hội cũng như văn hóa, ngọai giao.

3 / Quần chúng tín đồ các tôn giáo là một nguồn tiềm năng vô biên.

Trong nhiều dịp được mời tham gia các diễn đàn quốc tế như ở New York, Washington DC, ở Davos Thụy sĩ v.v…, Rick Warren đã luôn luôn trình bày rất thẳng thắn đại để như thế này :  “Trên thế giới ngày nay, chúng ta có đến trên 2 tỷ người tín đồ Thiên chúa giáo gồm Công giáo, Tin lành, Chính thống giáo, trên 1.5 tỷ người tín đồ Ấn độ giáo và Phật giáo và trên 1 tỷ người tín đồ Hồi giáo. Khối quần chúng tín đồ lớn lao như thế đó là một nguồn tài nguyên vô biên, mà cho đến nay chưa được mấy ai trong các tổ chức quốc tế chú trọng đúng mức để động viên thuyết phục họ cùng bắt tay dấn thân vào việc giải quyết những khó khăn bế tắc trầm trọng có tầm vóc tòan cầu. Riêng cá nhân tôi là một mục sư Thiên chúa giáo, thì với khả năng hạn hẹp của mình, tôi đã cùng với các tín đồ của nhà thờ Saddenback phát động kế hoạch PEACE để góp phần vào công cuộc phục vụ bà con đang gặp khó khăn ở nhiều nơi, cụ thể như ở Rwanda. Và tôi cũng ước mong quý vị tất cả nên chú ý đến cái khối tiềm năng vĩ đại này, hầu đề ra được những giải pháp tốt đẹp cho thế giới chúng ta đang gặp bao nhiêu bế tắc khủng hỏang ngày nay…”

Dịp khác, ông còn gợi ra hình ảnh tôn giáo là cái chân thứ ba để cùng hợp với khu vực nhà nước và khu vực tư nhân để tạo được thế đứng vững chắc cho tòan bộ chiếc ghế của thế giới ngày nay. Với uy tín sẵn có, Warren có dịp thường xuyên trao đổi và hợp tác với các nhân vật có tầm vóc họat động rộng rãi tòan cầu, điển hình như cựu Tổng thống Bill Clinton, cựu Thủ tướng Tony Blair …

Trong mùa tranh cử Tổng thống Mỹ năm 2008, Warren đã mời được cả hai ứng cử viên John McCain và Barak Obama cùng đến Saddenback để trình bày với cử tri về lập trường của mỗi người trước những vấn đề hệ trọng của đất nước. Và mục sư Warren lại còn được mời đọc lời kinh cầu nguyện trong buổi lễ nhậm chức của Tổng thống Obama tại thủ đô Washington vào đầu năm 2009.

Tạp chí US News and World Report xếp hạng Rick Warren là một trong “25 vị lãnh đạo hàng đầu của nước Mỹ” vào năm 2005. Tạp chí Time thì gọi ông là một trong “15 nhà lãnh đạo thế giới đáng kể nhất trong năm 2004” và cũng là một trong “100 nhân vật có ảnh hưởng nhất trên thế giới” vào năm 2005. Còn báo Newsweek trong năm 2006, thì gọi ông là một trong “15 nhân vật đã làm cho nước Mỹ trở thành vĩ đại”.

Tuy được tung hô khen tặng như vậy, Warren vẫn luôn giữ được sự khiêm cung đạo hạnh của một tu sĩ. Ông thường xuyên cầu nguyện và bày tỏ sự tin tưởng tuyệt đối vào sự dẫn dắt của Thiên chúa trên bước đường phục vụ tha nhân. Niềm xác tín và lòng nhiệt thành của ông đối với sứ mệnh rao giảng lời Chúa như vậy đã lôi cuốn, thuyết phục được hàng triệu tín đồ cũng như các mục sư khác cùng nhau dấn thân nhập cuộc vào những chương trình cụ thể, thiết thực nhằm chống lại nạn nghèo đói và bệnh tật, mở mang về giáo dục cho lớp người bị gạt ra ngòai lề xã hội và bảo vệ môi sinh trên phạm vi tòan cầu.

Tư tưởng cũng như hành động của mục sư Rick Warren quả thật là rất gần gũi với lập trường của Hội đồng Giám mục Công giáo Châu Mỹ La tinh (CELAM) đã được xác định từ lâu, đó là “Sự Chọn lựa của Giáo hội đối với Người Nghèo khổ” ( Church’s Option for the Poor) vậy./

California đầu tháng Mười 2010

Đòan Thanh Liêm

ĐỜI SỐNG CẦN CÓ CHÚA

ĐỜI SỐNG CẦN CÓ CHÚA

Cố Lm. GB. HỒNG PHÚC ( 1921 – 1999 )

Sau Ngôn Sứ Amos, xuất thân từ một người chăn chiên hiền lành biến thành một con sư tử “gầm thét” tội ác của các nhà lãnh đạo Dân Chúa, nay đến Ngôn Sứ Giêrêmia lên tiếng: “Khốn cho các mục tử làm tản mác và xâu xé đàn chiên”.

Họ đã làm cho nước mất nhà tan, hàng ngàn người chết, hàng vạn người phải lưu đầy qua Babylone, trong số đó chính vị Ngôn Sứ là nạn nhân. Những nhà lãnh đạo Israel phải là kẻ đem lại hòa bình và hiệp nhất cho Dân Chúa, trung thành với giao ước Sinai, vậy mà nay họ lại phản lại Thiên Chúa, gây khốn khổ cho Israel. Nhưng Thiên Chúa là Đấng trung thành, vị Ngôn Sứ nhìn thấy ở chân trời, một Đấng Mục Tử xuất hiện từ chi tộc Đavít. Ngài sẽ đem lại hòa bình và công chính. Tuy nhiên, với điều kiện là đoàn chiên biết nghe lời Ngài. Lịch sử Do Thái là hình ảnh lịch sử nhân loại.

Thánh Phaolô, trong thư gởi giáo đoàn Êphêsô, cho chúng ta thấy Đấng đã làm “cho đôi bên nên một, phá đổ bức tường ngăn cách, tiêu diệt hận thù”, chính là Chúa Giêsu. Ngài đến loan báo Tin Mừng bình an. Ngài đến hiệp nhất chúng ta lại. Chúng ta hãy nhìn lên Thập Giá, Ngài chịu treo lên, như gạch nối giữa đất và trời, hai tay giang ra như để ôm chầm cả nhân loại.

Qua bài Phúc Âm, chúng ta thấy Marcô mô tả việc Chúa Giêsu và các môn đệ sau những ngày làm việc mệt nhọc, đã để ra một vài ngày nghỉ ngơi trong yên tĩnh. Quần chúng bao quanh đến nỗi “Ngài không có cả thì giờ để ăn”. Một thời gian để tĩnh dưỡng cho mình và các môn đệ là điều hợp lý.

Và chúng ta thấy Chúa Giêsu biết chọn những chỗ thích hợp, như “trên một ngọn núi cao, xa vắng” ( 9, 2 ), trên bức thành đá ven bờ hồ Tibêriađê ( 5, 1 ), bờ biển Phênicia ( 7, 24-31 ) hay gần nguồn sông Giođan dưới chân núi Hermon ( 8, 27 ). Đây là một cuộc tĩnh tâm của Thầy và các môn đệ, vừa nghỉ ngơi vừa huấn luyện. Các Tông Đồ thuật lại cho Thầy nghe các kinh nghiệm Tông Đồ của mình ( 6, 30 ), Thầy thông cảm với các cộng sự của mình: “Sáng sớm tinh sương, Ngài trỗi dậy, ra khỏi nhà, đi đến một nơi thanh vắng và cầu nguyện ở đó” ( 1, 35 ). Như vậy, khi trở về gặp lại dân chúng, lời giảng pha lẫn với lời kinh của Chúa và của môn đệ hứa hẹn một mùa gặt tốt.

Nhưng Chúa Giêsu và môn đệ không thể tĩnh dưỡng lâu, xa quần chúng. Vì Ngài đến vì dân chúng và dân chúng cũng cảm thấy không thể thiếu Ngài. Họ đi tìm Chúa, “họ như bầy chiên không có kẻ chăn”. Họ cần có Chúa.

Tất cả chúng ta đều cảm thấy cần có Chúa, thiếu Chúa đời ta thiếu tất cả, bơ vơ và lạc lõng. Thánh Augustinô kêu lên: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa, và tâm hồn con sẽ không bình yên khi nó không an nghỉ trong Chúa”.

Chúng ta thấy Chúa Giêsu tỏ ra rất thương yêu và am tường các nhu cầu vật chất và tinh thần của các môn đệ. Đời sống Tông Đồ là một đời sống tận hiến tất cả, đầy gian lao và xả thân, nhưng phải luôn luôn trở về nguồn. Phải để ra những ngày nghỉ ngơi, im lặng và cầu nguyện, những ngày sống thân mật với Chúa, chuẩn bị cho những ngày xuất quân mới, đầy nghị lực và tình thương.

Đức Gioan XVIII được gọi là vị Giáo Hoàng năng tĩnh tâm. Mặc dù công việc Giáo Hội bề bộn, với bao nhiêu vấn đề phải suy tư giải quyết. Ngài hằng “trở về nguồn”. Đặc biệt, ngài rất năng tĩnh tâm, tạm dẹp công việc lại một bên, để dành cho Chúa một thời gian. Ngài dọn một phòng riêng ở Vatican, để sống những giờ âm thầm bên Chúa hoặc nghe lời giảng day… Trước khi khai mạc Công ĐồNG Vaticanô II, ngài đã tĩnh tâm một thời gian rồi đi hành hương ở Loretto, nơi lưu giữ ngôi nhà của Đức Mẹ, để xin cho Công Đồng được kết quả.

“Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi…

Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi,

Người hướng dẫn tôi, tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng”.

Cố Lm. GB. HỒNG PHÚC ( 1921 – 1999 )

VÀ NGƯỜI BẢO…

VÀ NGƯỜI BẢO…

Trích EPHATA 650

Con nói: Không thể được !

Chúa bảo: Mọi sự đều có thể được đối với Thiên Chúa ( Lc 18, 27 )

Con nói: Con quá mệt rồi !

Chúa bảo: Thầy sẽ cho con được nghỉ ngơi bồi dưỡng ( Mt 11, 28 – 30 )

Con nói: Chẳng có ai thực sự yêu thương con !

Chúa bảo: Thầy vẫn luôn yêu thương con ( Ga 3, 16; 13, 34 )

Con nói: Con không thể tiếp tục đuợc !

Chúa bảo: Ơn của Thầy ban luôn đủ cho con ( 2 Cr 12, 9; Tv 91, 15 )

Con nói: Con nghĩ không ra !

Chúa bảo: Thầy sẽ hướng dẫn những bước đường con đi ( Cn 5 – 6 )

Con nói: Con không làm đuợc !

Chúa bảo: Con sẽ làm đuợc mọi sự ( Pl 4, 13 )

Con nói: Con không có khả năng !

Chúa bảo: Thầy có đủ quyền tuôn đổ xuống trên con mọi thứ ân huệ ( 2 Cr 9, 8 )

Con nói: Con không thể tha thứ cho chính mình được !

Chúa bảo: Thầy tha thứ cho con ( 1 Ga 1, 9 ). Con không còn bị lên án nữa ( Rm 8, 1 )

Con nói: Con không thể xoay sở được !

Chúa bảo: Thầy sẽ thỏa mãn mọi nhu cầu của con một cách tuyệt vời ( Pl 4, 19 )

Con nói: Con sợ !

Chúa bảo: Thầy đâu có cho con một Thần Khí làm cho con trở nên nhút nhát ! ( 2 Tm 1, 7 )

Con nói: Con luôn lo lắng và giận dữ !

Chúa bảo: Mọi lo âu, hãy trút cả cho Thầy vì Thầy luôn chăm sóc con ( 1 Pr 5, 7 )

Con nói: Con không đủ lòng tin !

Chúa bảo: Thầy đã ban cho mọi người một lượng Đức Tin đúng mức ( Rm 12, 3 )

Con nói: Con không đủ thông minh !

Chúa bảo: Thầy cho con trí khôn ngoan ( Cr 1, 30 ) và ơn thông hiểu mọi sự ( 2 Tim 2, 7 )

Con nói: Con cảm thấy cô đơn quá !

Chúa bảo: Thầy sẽ không bỏ rơi, Thầy sẽ không ruồng bỏ con đâu ( Dt 13, 5 )

Gs. NGUYỄN THỊ TIẾN

dịch theo Feelgoodpages

TẠI SAO KHÔNG CÓ HÔI CỦA Ở NHẬT ?

TẠI SAO KHÔNG CÓ HÔI CỦA Ở NHẬT ?

Lúc gian khó mới tỏ lòng người, lấy lửa thử vàng, vàng vẫn còn nguyên vẹn. Khi trận động đất sóng thần năm 2011 xảy ra, người Nhật Bản đã cho tất cả các dân tộc trên thế giới một bài học sâu sắc về đạo đức và những chuẩn tắc làm người.

Ở nhiều quốc gia trên thế giới mỗi khi có thiên tai đến là người ta lại chứng kiến những cảnh rối ren, hỗn loạn, cướp giật, hôi của tràn lan. “Nhưng ở xứ sở “mặt trời mọc” ( Nhật Bản ) thì lại khác. Nơi ấy, hàng vạn người đã mất hết nhà cửa, và thậm chí mất hết người thân… vậy mà họ vẫn lặng lẽ xếp hàng nhận từng nắm cơm trắng, cuộn mình trong những chiếc chăn mỏng thành hàng, thành lối trong chỗ trú nạn. Không hỗn loạn, không tranh cướp, không một ai tích trữ, không một ai kêu than. Có chăng chỉ là những dòng nước mắt lặng lẽ như lặn vào sâu thẳm”.

Cảnh tượng truyền thông thế giới ghi nhận không phải là cảnh tượng hỗn loạn, cướp giật, hôi của, mà là cảnh đoàn người trật tự xếp hàng chờ hàng cứu trợ. Dù khi tới phiên mình có thể lương thực đã hết nhưng họ vẫn kiên nhẫn xếp hàng. Nhiều câu chuyện kể lại có nhiều người đã nhường khẩu phần của mình cho người khó khăn hơn.

Tại một cửa hàng khác đã tan hoang vì động đất, người ta thấy một máy ATM và nhiều thùng lương thực bên trong vẫn còn nguyên vẹn, mặc dù xung quanh không có ai bảo vệ.

Tờ Telegraph ghi nhận: Hàng hóa dù rất khan hiếm, lương thức thiếu thốn, như không hề có tình trạng đầu cơ tăng giá bán – các siêu thị giảm giá 20% và các chủ máy bán nước tự động phát không nước uống cho mọi người – tất cả cùng đoàn kết để tồn tại.

Du học sinh Việt Nam tại Nhật Bản chia sẻ: “Không thấy cảnh cướp bóc, chen lấn, xô đẩy nơi mua thức ăn hay trong ga điện ngầm đang tắc nghẽn. Mọi người xử sự rất bình tĩnh dù ai cũng đều căng thẳng và lo lắng. Giá cả thị trường Nhật Bản cũng không nhân dịp này mà tăng.”

Anh Hà Minh Thành một người Việt ở Nhật Bản đã gửi mail kể một câu chuyện như sau: “Tối hôm qua em được phái tới một trường tiểu học phụ giúp hội tự trị ở đó để phân phát thực phẩm cho các người bị nạn. Trong cái hàng rồng rắn những người xếp hàng em chú ý đến một đứa nhỏ chừng 9 tuổi, trên người chỉ có chiếc ao thun và quần đùi. Trời rất lạnh mà nó lại xếp hàng cuối cùng, em sợ đến phiên của nó thì chắc chẳng còn thức ăn. Nên mới lại hỏi thăm. Nó kể nó đang học ở trường trong giờ thể dục thì động đất và sóng thần đến, cha của nó làm việc gần đó đã chạy đến trường, từ ban công lầu 3 của trường nó nhìn thấy chiếc xe và cha nó bị nước cuốn trôi, 100% khả năng chắc là chết rồi. Hỏi mẹ nó đâu, nó nói nhà nó nằm ngay bờ biển, mẹ và em của nó chắc cũng không chạy kịp. Thằng nhỏ quay người lau vội dòng nước mắt khi nghe em hỏi đến thân nhân. Nhìn thấy nó lạnh em mới cởi cái áo khoác cảnh sát trùm lên người nó. Vô tình bao lương khô khẩu phần ăn tối của em bị rơi ra ngoài, em nhặt lên đưa cho nó và nói: “Đợi tới phiên của con chắc hết thức ăn, khẩu phần của chú đó, chú ăn rồi, con ăn đi cho đỡ đói.”

Thằng bé nhận túi lương khô của em, khom người cảm ơn. Em tưởng nó sẽ ăn ngấu nghiến ngay lúc đó nhưng không phải, nó ôm bao lương khô đi thẳng lên chỗ những người đang phát thực phẩm và để bao lương khô vào thùng thực phẩm đang phân phát rồi lại quay lại xếp hàng. Ngạc nhiên vô cùng, em hỏi nó tại sao con không ăn mà lại đem bỏ vào đó. Nỏ trả lời: “Bởi vì còn có nhiều người chắc đói hơn con. Bỏ vào đó để các cô chú phát chung cho công bằng chú ạ”.

Em nghe xong vội quay mặt đi chỗ khác khóc để mọi người không nhìn thấy. Thật cảm động. Không ngờ một đứa nhỏ 9 tuổi mới học lớp 3 đã có thể dạy em một bài học làm người trong lúc khốn khó nhất. Một bài học vô cùng cảm động về sự hy sinh.”

Câu chuyện này được rất nhiều báo chí trong nước đăng tải, gây xúc động mạnh mẽ, xem đây là điều huyền hoặc diễn ra tại Nhật Bản.

Một câu chuyện khác đăng trên blog của cô gái lấy tên Shopia. Chuyện kể về bạn của Sophia, cùng với mẹ và đứa em trai 2 tuổi bị mắc kẹt trong cơn sóng thần và đang tìm mọi cách để trèo lên ban công tòa nhà gần nhất. “Họ không ngừng kêu cứu, và một người đàn ông đã nhìn thấy họ từ ban công căn nhà phía sau. Rồi người đàn ông đó ngay lập tức nhảy khỏi ban công xuống nước, giúp bạn tôi, mẹ cô ấy và cậu em trai trèo lên ban công vào căn nhà. Nước lúc đấy càng ngày càng mạnh, không thể đứng vững được nữa. Trong hoàn cảnh đó, người mẹ đã kiên quyết để hai đứa con mình lên trước rồi người đàn ông xa lạ đứng dưới đỡ bà lên. Khi chỉ còn người đàn ông ở bên dưới, và người mẹ đang nắm chặt tay ân nhân để kéo lên, “bất chợt một chiếc ôtô ( trong hàng trăm chiếc ) bị nước cuốn tràn tới đúng hướng người đàn ông đó. Mọi người ở bên trên gào thét, nhưng rồi đột nhiên, người đàn ông ấy giật khỏi tay mẹ bạn tôi, để bà ấy không bị kéo theo xuống nước. Chiếc ô tô đâm vào ông ấy và cuốn ông hất đi.”

Trước đó, họ là những con người hoàn toàn xa lạ, có gia đình riêng, có cuộc sống riêng… nhưng khi thảm họa bất ngờ ập đến, đứng trước những lựa chọn giữa sự sống và cái chết, họ có thể chấp nhận tặng cả cuộc sống cho nhau. Những câu chuyện ấy ngày nay tưởng chừng chỉ có trong trí tưởng tượng thì lại xảy ra ở Nhật Bản.

Truyền thông thế giới đều ngả mũ thán phục kỳ tích Nhật Bản

Ông Ed West viết trên tờ Telegraph: “Tinh thần đoàn kết của người Nhật thật mạnh mẽ. Sức mạnh của xã hội Nhật Bản có lẽ gây ấn tượng còn hơn cả sức mạnh công nghệ của họ.”

Còn tổng biên tập báo Bangkok Post Pichai Chuensuksawadi không thể tin được đã phải thốt lên: “Chẳng phải đã bao nhiêu lần chúng ta thấy cảnh hôi của, cướp giật và bạo lực sau một thảm họa thiên nhiên đó sao ?”

Giáo sư Gregory Pflugfelder chuyên nghiên cứu văn hóa Nhật Bản tại Đại học Columbia ( Mỹ ), nhận định: “Hôi của đơn giản là không xảy ra ở Nhật Bản. Tôi thậm chí còn không chắc rằng trong ngôn ngữ Nhật Bản có từ nào để mô tả chính xác hành động này.”

Nhà phân tích Ed West đặt câu hỏi trên tờ Telegraph: “Tại sao không có hôi của ở Nhật Bản ?” Trang web tìm kiếm Google cho thấy có 2.770.000 người đã đặt ra vấn đề tương tự như ông West.

Điều gì tạo nên kỳ tích Nhật Bản ?

Sau trận động đất gây sóng thần ở Nhật Bản, thế giới lao vào tìm hiểu xem điều gì đã tạo nên kỳ tích ở Nhật Bản, và họ đã tìm được câu trả lời: Đó là đức tin và giáo dục đạo đức.

– Đức tin

Đa số người Nhật theo Thần Giáo, Phật Giáo. Ngoài ra Nhật Bản cũng chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín của Nho Giáo ( do Khổng Tử đề xướng ). Với những ai sống ở các quốc gia bị ảnh hưởng bởi thuyết vô Thần thì khi nói đến “đức tin” họ chỉ phì cười, đơn giản bởi vì họ không còn tin nữa, mà không nghĩ rằng bản thân mình đã bị học thuyết vô thần tẩy não cắt đứt mất mối liên hệ với cội nguồn văn hóa truyền thống dân tộc, đến mức không còn hiểu tin để làm gì.

Còn tại các nước khác như Nhật Bản thì “đức tin” đó là tự nhiên và đã ăn sâu vào trong tiềm thức của mỗi người. Người Nhật đã sử dụng “đức tin” của mình khi đối mặt tất cả những vấn đề trong cuộc sống, kể cả những tình huống hiểm nguy nhất.

Một dân tộc có “đức tin” thì dân tộc đó vẫn còn có chuẩn mực đạo đức, nếu một dân tộc không còn “đức tin” thì càng ngày càng sa đọa, đạo đức tụt trên dốc lớn.

Một dân tộc không có “đức tin”, lại còn bị ảnh hưởng của học thuyết đấu tranh thay cho văn hóa cổ truyền dân tộc, thì con người sẽ đấu tranh với nhau, người với người xem nhau như thù địch, bằng mặt không bằng lòng, không thể đoàn kết.

– Giáo dục lấy đạo đức là cốt lõi

Nhật Bản trở thành một nước có nền giáo dục tiên tiến là nhờ thực hiện tiêu chí “con người = đạo đức”, đề cao tính tự lập và tinh thần kỷ luật. ( Hình bìa sách giáo khoa Đạo Đức của học sinh Nhật ).

Tư tưởng của người Nhật vẫn còn mang đậm dấu ấn văn hóa cổ truyền của dân tộc mình. Tinh thần kế thừa và phát triển văn hóa cổ truyềnlà một trong những mục tiêu chủ yếu nhất trong giáo dục, đạo đức là cốt lõi là điều mà một học sinh phải biết đến đầu tiên.

Giáo dục Nhật Bản vận hành theo nguyên lý “mỗi người học sẽ trở thành một cá nhân hoàn thiện đạo đức”. Phương châm của người Nhật là: “Cần phải nhắm tới thực hiện xã hội ở đó từng công dân có thể mài giũa nhân cách bản thân…”

Trẻ em Nhật Bản ngay từ mẫu giáo đã được giáo dục những quy tắc ứng xử căn bản. Trẻ em được dạy khi gặp tình huống nào phải xin lỗi hay cảm ơn, và áp dụng ngay trong cuộc sống hàng ngày. Vì thế mà trẻ em đã biết những gì tốt đẹp nên làm, và những gì không nên làm từ rất sớm.

Trẻ cũng được thực hành thói quen giúp đỡ người khác như phục vụ đồ ăn cho các bạn.

Khi học tiểu học, trẻ em được giáo dục nhân cách và tính sáng tạo, ứng xử văn minh.

Bìa sách giáo khoa Đạo đức của học sinh Nhật. Ảnh Nguyễn Thị Thu – kilala

Bìa sách giáo khoa Đạo đức của học sinh Nhật. Ảnh Nguyễn Thị Thu – kilala

Không nên làm những điều xấu như chơi xấu bạn, ăn cắp, vẽ bậy... Ảnh Nguyễn Thị Thu – kilala

Không nên làm những điều xấu như chơi xấu bạn, ăn cắp, vẽ bậy… Ảnh Nguyễn Thị Thu – kilala

Luôn quan tâm giúp đỡ người xung quanh. Ảnh Nguyễn Thị Thu – kilala

Luôn quan tâm giúp đỡ người xung quanh. Ảnh Nguyễn Thị Thu – kilala

Sách giáo khoa môn đạo đức là rất quan trọng, các giáo viên luôn nhắc nhở học sinh rằng: “Bất kỳ ở đâu, bất kỳ khi nào, bao nhiêu lần đi nữa các em hãy giở cuốn sách đạo đức, để suy nghĩ xem trong cuộc sống điều gì là quan trọng nhất đối với chúng ta, và hãy phát huy nó trong đời sống của bản thân mình.”

Lên cấp 2 trẻ được học cách ứng xử với những lời phê bình, tôn trọng người khác và tôn trọng sự thật.

Đạo đức là môn học bắt buộc và được chú trọng, nhưng lại không có giáo trình thống nhất, điều này giúp giáo viên linh động sáng tạo được các bài giảng riêng phù hợp với học sinh. Trong đó văn hóa cổ truyền của dân tộc luôn là kho tàng quý giá được các giáo viên vận dụng vào các bài giảng và thực hành. Học sinh sớm học các tình huống ứng xử khác nhau, mỗi tình huống đều vận dụng đạo đức để xác định mình nên hành xử thế nào cho đúng.

Trẻ em Nhật Bản được giáo dục lao động từ những công việc vừa sức. (ảnh: Internet)

Trẻ em Nhật Bản được giáo dục lao động từ những công việc vừa sức. (ảnh: Internet)

Hiệu quả có được từ giáo dục đạo đức

Do được giáo dục đạo đức từ nhỏ rất kỹ về lý thuyết, đặc biệt về thực hành, liên hệ thực tiễn, tham gia nhiều hoạt động ngoại khóa, học sinh được thực hành hành vi đạo đức ở mọi lĩnh vực nên hành vi đạo đức được hình thành ở mọi học sinh.

Không có hiện tượng quay cóp, ăn cắp, bạo lực học đường. Học sinh thể hiện tình yêu thương, kính trọng thầy cô, tình thân ái với bạn bè đúng mức. Các hành vi vi phạm đạo đức của học sinh là ít và cá biệt chứ không nổi cộm.

Ở ngoài xã hội, học sinh Nhật luôn là người ứng xử có văn hóa. Người Việt Nam hay nước ngoài đến Nhật Bản có thể thấy có nhiều cây ăn trái chín trĩu quả, hay những cây hoa cảnh khoe sắc hấp dẫn ở công viên, ở hai bên đường đi. Nhưng không hề có ai có suy nghĩ hái những bông hoa hay trái cây đó cả.

“Đức tin” và giáo dục đạo đức đã tạo nên một kỳ tích Nhật Bản, một kỳ tích mà bất kỳ một nhà giáo dục hay một nhà lãnh đạo nào trên thế giới cũng đều ngưỡng mộ và mong muốn.

NGỌN HẢI ĐĂNG, từ Đại Kỷ Nguyên Việt Nam

Từ EPHATA 650

Sức khoẻ

Sức khoẻ

Một tỷ phú khi biết mình mắc bệnh hiểm nghèo, cầm tiền vung ra khắp bệnh viện hét lên:

“Mạng cũng chả còn, tiền để làm chi?”

Lúc này, tiền đối với ông ta bất quá cũng là tờ giấy.
Cảm ngộ: Sức khoẻ là số 1, sức khoẻ mới là vương đạo, không có sức khoẻ,những thứ khác như: tiền tài, danh vọng, địa vị, sĩ diện, quyền lực, gái đẹp, xe hơi , nhà lầu..cũng đều là phù du. Sức khoẻ là cách mạng của tiền tài, không cần biết có tiền hay không có tiền, đều phải dùng vào việc chăm lo cho sức khoẻ bản thân, có sức khoẻ rồi thì mới ăn ngon ngủ yên,mới biết quý trọng cuộc sống.
Một sự việc khác xảy ra,một đại gia khác ko may mất sớm, người vợ đem 19 tỷ thừa kế đi lấy anh lái xe của đại gia. Anh lái xe trong lúc hân hoan phát biểu: “Trước kia,tôi cứ nghĩ rằng mình làm thuê cho ông chủ, bây giờ mới biết ông chủ mới chính là người làm thuê cho tôi”.
Sự thật nghiệt ngã chứng minh: “Sống càng lâu,còn quan trọng hơn cả cao, to, đẹp giai, nhà giàu”.
Xin mọi người hãy tăng cường luyện tập, chú ý chăm sóc sức khoẻ, cuộc đời này chưa chắc ai làm thuê cho ai biết chừng.
Một chiếc máy smart phone cao cấp, 70% chức năng là dư thừa.
Một chiếc xe sedan hạng sang, 70% tốc độ là dư thừa.
Một căn biệt thự sang trọng, 70% diện tích là trống trải.
Một đội ngũ nhân viên phục vụ, 70% là kiếm cơm.
Một ngôi trường đại học, 70% giáo sư là chém gió.
Một đại đội hoạt động xã hội, 70% là nhàn rỗi trống rỗng.
Một căn phòng chứa đầy quần áo thời trang mỹ phẩm, 70% là không mấy khi dùng đến.
Một đời người , cho dù kiếm thêm nhiều tiền nữa, 70% là để lại cho người khác tiêu xài.
Kết luận: Cuộc sống vốn dĩ giản đơn, hưởng thụ cuộc sống trong khoảng 30% là ok.
Đại lý, tổng đại lý, cuối cùng vẫn là một Đạo lý. Phó chủ tịch, chủ tịch, cuối cùng vẫn đều phải…”tịch”.
Cuộc đời như một cuộc đua. Nửa hiệp đầu chạy đua với bằng cấp, quyền lực,địa vị, thành tích, lương bổng. Nửa hiệp còn lại chạy đua với huyết áp, mỡ máu, đường huyết, acid uric, cholesterol.
Nửa hiệp đầu, nghe cấp trên mà phụng mệnh (mệnh lệnh). Nửa hiệp sau, vạn sự tuỳ duyên mà theo…số mệnh. Chúc các đồng chí trước sau như một, thắng trận cả hai.
Không ốm cũng cần trải nghiệm, không khát cũng cần uống nước, buồn mấy cũng phải nghĩ thông, mình đúng cũng phải nhường người.
Có quyền cũng nên khiêm tốn, không mệt cũng nên nghỉ ngơi, không giàu cũng phải biết đủ, bận mấy cũng phải luyện rèn (thể lực).
Những lời sau VÔ CÙNG KINH ĐIỂN:
Một chiếc áo giá 2 triệu, giá niêm yết có thể chứng minh.
Một chiếc xe 1 tỷ, hoá đơn xuất kho có thể chứng minh.
Một căn hộ 5 tỷ, bất động sản có thể chứng minh.
Một con người , rốt cục đáng giá bao nhiêu tiền? Duy nhất chỉ có SỨC KHOẺ có thể chứng minh được điều đó.
Khoẻ mạnh là sự bảo trợ tốt nhất của bạn.
Do vậy, đừng lôi máy tính ra tính toán bạn tiêu bao nhiêu tiền cho SỨC KHOẺ.
BỞI VÌ…bạn không tiêu cho trước đó cũng phải tiêu cho ..sau đó. Quyền lựa chọn là ở bạn, có SỨC KHOẺ gọi là TÀI SẢN, TƯ SẢN… không có sức khoẻ, cũng thành… DI SẢN.

Nguồn: Sưu tầm.