Đêm xuống dần, giọt sương rơi trên áo anh,

“Đêm xuống dần, giọt sương rơi trên áo anh,”

con phố dài, bàn chân anh qua lặng lẽ.

Thương nhớ người, tình yêu kia đâu dễ quên,

để trái tim xót xa cô đơn từng đêm.”
(Nhật Huy – Như Giấc Mơ Qua)

(2 Phêrô 3: 14-15)

Lại phải thú thật với bạn đạo và bạn đọc khắp nơi, rằng: tác giả viết nhạc bản này, đối với bạn đạo thật “là lạ”. Lạ, cả tên tuổi lẫn ý/lời của giòng nhạc, ông còn hát, như sau:

“Em với người dìu nhau đi qua con phố quen,

đâu biết rằng mình anh trông theo lặng lẽ.

Xin dối lòng để anh quên đi bóng em,

dù trái tim vẫn kêu tên em từng đêm.
Ngày n ào mình hẹn ước đắm đuối thiết tha,

mà người tình một phút đã thấy quá xa.”

(Nhật Huy – bđd)

Có lần bần-đạo đây kể lại lời vị thày dạy từng bảo: “Bà Maria Magđalêna là một nữ thừa-tác-viên năng-nổ thời của Chúa, chứ không là cô gái điếm-đàng như thánh Grêgôriô Cả giảng ở nhà thờ đâu…” thì anh bạn nghe rồi, bèn phán rằng: “Ngài là Giáo-hoàng lại được Giáo-hội phong thánh thì phải đúng hơn ông thày của bạn chứ!” 

Nhiều năm sau, bần-đạo lại khám-phá ra rằng: hồi đầu thiên-niên-kỷ thứ 3, giới khảo-cổ đã khám-phá cuốn “Tin Mừng theo thánh Maria Magđalêna”, bèn cứ “cấu bụng” mà tự nhủ: Giáo-hoàng đúng hay nhà khảo-cổ đúng đây?

Nay, đọc được ý của đấng bậc vị vọng ở chốn “chóp bu” vẫn nhắc nhở người nghe/học dạy Giáo-lý Gia-đình mỗi Thứ Tư hàng tuần, như sau:

“Thật vậy, tiếng vãn than thường được nghe thấy nhất của Kitô hữu liên-quan đến thời-gian đó là: “Tôi cần phải cầu nguyện hơn nữa…Tôi muốn làm thế nhưng tôi thường không có giờ!!!!”. Chúng ta luôn nghe như vậy.

Niềm tiếc xót này thật chân thành, vì tâm can con người luôn tìm đến nguyện cầu, dù trong vô thức; và nếu không có giờ cầu-nguyện thì họ thấy bồn-chồn khắc-khoải. Tuy nhiên, để có giờ cầu-nguyện, cũng cần vun trồng nơi tâm-hồn một tình yêu “nồng nàn” đối với Thiên Chúa đầy cảm mến.

Chúng ta hãy tự hỏi mình một vấn đề rất đơn giản. Cần phải tin vào Thiên Chúa với tất cả tâm can của mình; cần phải hy vọng rằng Ngài sẽ giúp chúng ta trong những cơn khốn khó; cần phải cảm thấy có nhiệm vụ cảm tạ Ngài. Tất cả những điều ấy đều tốt lành. Thế nhưng chúng ta cũng có yêu mến Chúa của ta không?

Ý nghĩ về Thiên Chúa có tác động chúng ta không, có làm ta bàng hoàng không, trở nên dịu dàng không? Chúng ta nghĩ đến việc công-thức-hóa Giới Luật trọng đại là thứ luật bao gồm mọi luật khác, đó là “Các người phải kính mến Chúa là Thiên Chúa các ngươi hết lòng hết linh hồn và hết sức ngươi” (Đệ Nhị Luật 6:5; Mathêu 22:37).

Công-thức này sử-dụng ngôn-từ mạnh mẽ của tình yêu, hướng về Thiên Chúa. Đó, tinh-thần cầu-nguyện trước hết là ở chỗ này. Và nếu nó ở chỗ này thì nó liên tục ở đó và không bao giờ rời bỏ đó. Ta có thể nghĩ về Thiên Chúa như Đấng âu yếm ôm lấy ta trong cuộc đời chứ không phải thứ gì khác không? Một niềm âu yếm mà không gì, kể cả chết chóc, có thể tách biệt chúng ta ra khỏi nó?”

Hay ta chỉ nghĩ về Ngài như là một Hữu-Thể cao cả, như Đấng Uy Quyền làm được mọi sự, như Vị Thẩm Phán kiểm-soát mọi hành động? Dĩ nhiên, tất cả điều này đều đúng; thế nhưng, chỉ khi nào Thiên Chúa là cảm xúc của mọi cảm xúc nơi ta thì ý nghĩ về những điều ấy mới trọn vẹn ý nghĩa.

Bấy giờ, ta thấy sung sướng, đồng thời cũng bị bối rối, vì Ngài nghĩ đến ta và nhất là Ngài yêu thương ta! Điều ấy không là những gì gây ấn tượng sao? Không ấn tượng sao, khi Thiên Chúa chăm sóc ta bằng mối tình của Người Cha? Thật là đẹp! Ngài có thể tỏ mình ra như là một Hữu Thể Tối Thượng, ban bố các Giới Luật của Ngài và chờ đợi thành quả.

Trái lại, Thiên Chúa đã và đang thực hiện một cách bất tận còn hơn như thế nữa. Ngài hỗ trợ ta trên con đường sự sống. Ngài bảo vệ, yêu thương chúng ta….” (xem Bài giáo lý Gia đình của Đức Phanxicô giảng hôm thứ Tư 27/8/15 do Cao Tấn Tĩnh chuyển dịch, www.vuisongtrenđời.com 28/8/15)

Xa lạ và khác-biệt, còn thấy cả trong nhận-định về lập-trường tư-tưởng hoặc lối sống, luôn có câu “đúng/sai”, ở trong đó. Chuyện đúng/sai, về động-thái nguyện-cầu, là chuyện của đấng bậc làm chủ giáo-hội. Đúng/sai về động thái, lại kéo theo chuyện đúng/sai về lập-trường tư-tưởng và lời lẽ của Giáo hoàng. Đó, còn là câu hỏi từ đấng bậc khác, trong dân gian, rất như sau:

“Qua nghiên-cứu, chúng ta thấy có nội-dung và lý-do chính nơi tâm-can cũng như hành-xử của những người cực-đoan.

Chuyện “tréo cẳng ngỗng” hoặc hỗ-trợ đầu tiên cho hành-xử đầy bao-lực là lời cam-kết mạnh-mẽ chấp-thuận các hành-động bạo-tàn vẫn bảo rằng: “Giả như bạo-tàn/bạo-lực không giải-quyết được vấn-đề này khác, là do bởi họ không đủ bạo-lực cần có”. Hoặc, “Con cháu của kẻ thù chúng nó giống như rắn rết, cần phải dẫm bẹp trước khi chúng phát-triển”

Chuyện thứ hai là lòng hận-thù nay mang mặc những hai hình-thức: một, chĩa thẳng vào ‘phương Tây’ hiện rõ nơi cam-kết như thể bảo: ‘khủng bố theo cách hình-thức tra-tấn dã-man và hành-quyết mà không cần toà xử được nhiều nước Tây phương đã và đang áp-dụng hằng ngày. Lối diễn-tả hận-thù khác nữa lại là niềm tin chung chung nghĩ rằng thế-giới ngày nay đang trở nên đốn-mạt cùng cực.

Và, nội dung cuối cùng của sự việc này, là: lấy cớ để bào-chữa. Dù ta có rất nhiều kiểu để tạo cớ làm điều này khác, đặc-trưng thông thường của nhiều người lại vẫn là việc biện-minh cho đầu óc thiển-cận, đầy ác-ý lẫn bạo-tàn của mình. Ở một số trường hợpcó người lại còn viện vào Thượng-Đế hoặc Thiên-Chúa trong lúc có khi chỉ là hành-động của một kẻ tin thực tình ở sự việc, chứ không là hành-động mang tính khủng-bố/bạo-lực chút nào hết.

Tâm-địa của đám người cực-đoan được định-hình trong các điều-tra/nghiên-cứu phần đông là ở dân chúng nói chung, chứ không phải nơi những người sử-dụng bạo-lực. Nói chung, thì: tâm-bệnh vẫn không là yếu-tố tạo nguyên-nhân trong các vụ khủng-bố dù cho đó có thể là những dấu-hiệu của sự cố có thể thấy được ở vài trường-hợp.

Là cá-thể, ta vẫn có tâm-trạng hoặc lập-trường khác-biệt đến độ ta có quyền đồng-thuận hay không với cam-kết ấy. Nói chung thì, sự khác-biệt ở nhiều dạng-thức khác nhau vẫn được định-hình nơi hành-xử của nhiều nhóm/phái rất khác nhau. (X. Lazar Stankov, The Making of a Militant Extremist, Australian Catholic University Insight 14: Mùa Đông 2015, tr. 4-5)

Lập trường của vị giáo-sư thần-học ở Đại-học Công-giáo Sydney, thì như thế. Thế nhưng, sự khác-biệt thấy rõ hơn cả là lập-trường/hành-xử của Đức Phanxicô lâu nay từng tỏ lộ. Nay đề-nghị bạn đề nghị tôi, truớc khi nghe thử một bài nhận-định về sự khác-mà-không-biệt của vị Giáo Chủ  năng-nổ xem thế nào, ta trở lại với nhạc-bản ở trên mà hát thêm, rằng:

“Em như giấc mơ đi qua đời ta,

rồi từng đêm gây nên bão tố.
Người về lòng còn nhớ

những phút đã qua,

đời làm mình lạc lối

giữa những xót xa.

Em như cánh chim

đi qua đời ta

rồi về vui với người xa lạ.”

(Nhật Huy – bđd)

“Vui với người xa lạ”, còn là động-thái cùng quan-điểm của vị chủ-chăn cả một giáo-hội, được đấng bậc nọ ở nước Bỉ, có nhận-xét như sau:

“Đức Gian 23, là đấng bậc chủ-quản Giáo-hội mở ra Công đồng Vatican 2 lại đã nhấn-mạnh vào thuốc viên “từ bi” để chữa trị mọi bệnh. Trong khi đó, Đức Phanxicô lại có lập-trường biệt-lập cả về Niềm Vui Tin Mừng lẫn Nỗi Mừng của Từ Bi…

Lâu nay đức đương kim Giáo chủ tạo được sự hỗ-trợ ở văn-bản thần học giải-phóng có từ các vị chủ-quản ở Argentina ngang qua các thần-học-gia như Juan Carlos Scanone, Lucio Gera và Rafael Tello; và nhất là từ tài-liệu cuối xuất tự buổi họp Hội Đồng Giám-mục Châu Mỹ La-tinh tại Aparecida, nơi ngài là người tường-trình và cũng là đồng tác-giả.

Mới đây, nhiều vị trong Giáo-hội lại đã chê-trách quan-điểm của Bộ Trưởng Bộ Tín Lý/Giáo điều, tức Hồng y Muller. Vị này từng bảo: Đức Hồng Y Bergoglio (nay là Giáo hoàng Phanxicô) không là giáo-sư thần-học và cũng chẳng suy-tư theo kiểu có cấu-trúc hẳn-hòi như một thần-học-gia. Hồng y Muller khi ấy còn cho biết: Bộ Giáo Lý Đức Tin nay có trọng trách tác-tạo hiệp-nhất niềm-tin có cấu-trúc. Cũng từ đó, Hồng Y Muller lại chứng-tỏ điều này: quyền-bính do Hồng Y Ottaviani (tức Giáo Hoàng Piô 12) vào tháng ngày trước khi có Vaticăng 2. Và từ đó, Toà thánh lại đã tạo được uy-quyền vượt bực, hết mức.

Đức Phaolô Đệ Lục sau đó mới giảm thiểu quyền này một cách đáng kể và thay đổi tên gọi của Bộ này từ Thánh Bộ Bí Tích Tối Cao thành một bộ khác. Rồi đến 1988 qua Hiến chế Pastor Bonus, Đức Gioan Phaolô Đệ Nhị lại tái-tạo uy-lực và quyền-hạn của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin. Đức Bênêđíchtô 16 lại củng cố Bộ này, ít nhất là bổ-nhiệm Đức Hồng Y làm đầu thánh bộ này. Đức Hồng Y Burke thuộc Toàn Án tối cao Rota từng gọi Giáo hội hiện nay là con thuyền không người lái vì thiếu cấu-trúc. Hồng Y Muller và Burke đã cho phép báo La Croix phỏng-vấn về vấn-đề này.

Điều đáng nói ở đây, là có giả-định rằng: việc trình-bày niềm tin liên-kết rất cấu-trúc rất cần-thiết cho sự lành mạnh và hiệu-năng của Giáo-hội. Sự đoàn-kết có cấu-trúc đã thành-hình trong một thời-gian rất lâu chiếu theo các ý-niệm có với một châu Âu cằn cỗi, từ chủ-thuyết DesCartes và triết-lý của người Đức.

Trong lần bàn cãi về thần-học giải-phóng của Châu Mỹ La-tinh, Hồng y Muller đã theo con đường này. Nền thần-học ấy nhìn trước tiên vào toàn-bộ thực-tế sống-động của dân Chúa và sau đó vào những gì được Tin Mừng nói về các tình-trạng thực-tế như thế. Thần-học ấy chào đón mọi tầm-nhìn hướng về chân trời này. Cảnh-trí đầu tiên để ra cho thực-tế sống của dân ở đây chính là gia-đình. Và, Hồng Y Muller là một trong các học-giả kinh-điển từng chú-ý nhiều về thần-học giải-phóng. Nhưng, nếu gọi đó là có được uy-lực quyền-bính để giải-định công việc của Giáo-hoàng, thì ngài đã vượt quá lằn ranh đỏ, rồi…

Việc bố-trí đặt để điều này cho Đức Giáo Hoàng Phanxicô, trải qua nhiều thập-niên trước, là sự tranh-luận/cãi vã ở Châu Mỹ La-tinh giữa phe Mácxít và tầm nhìn của Peron khi ấy. Phe này chủ -trương đặt ưu-tiên cho một nhóm người riêng biệt hoặc giai-cấp ở xã-hội. Trong khi đó, phe kia lại nhấn mạnh đến chuyện ưu-tiên cho người dân với tư-cách là chúng-dân, vượt ngoài mọi chống-chọi giữa các giai-cấp với nhau. Và phe nhóm này quả là rất mạnh ở Argentina. Vì thế nên, tầm nhìn của Đức Phanxicô về từ-bi coi như lòng hỷ xả đối với và ở trong cũng như từ toàn-thể dân Chúa. Tuy nhiên, phe theo Péron khi ấy lại cứ coi dân Chúa là dân tốt nhất được họ phục-vụ vì khi ấy họ tự coi mình như tập-đoàn quân-sự kiểm-soát có hại cho người nghèo….

Tại Thượng Hội Đồng Giám mục Rôma năm 2014, không vị nào đề-cập đến hôn-nhân đồng tính, mà chỉ nói về chuyện làm sao giúp các gia-đình có con trai hay con gái là người đồng tính, thôi. Đây là trạng-huống trước đây chưa từng xẩy ra, nhưng các giáo-sĩ ngồi toà cáo-giải lại hay gặp. Nhưng, vấn-đề là: làm sao đồng-hành cùng với những người như thế, mới là khó.

Không lúc nào lại thấy tín-lý/giáo-điều về hôn-nhân được sờ đến. Vấn đề thật ra lại là những gì ta có thể làm cho những người đã ly-dị rồi nay tái-giá cách sao đây? Ta mở rộng cánh cửa nào đây? Những người như thế đâu có bị vạ tuyệt thông đâu, nhưng trên thực-tế, theo giáo-luật hiện hành, thì họ không thể là vú/bõ đỡ đầu khi rửa tội, không thể đọc sách thánh ở nhà thờ, trao Mình Chúa hoặc giảng-dạy giáo-lý/sách phần, vv được. Nói cách khác, họ cũng là thứ người bị vạ tuyệt-thông không chính-thức mà thôi.

Cuối cùng thì, câu hỏi đặt ra cho ta là: làm sao mở rộng vòng tay nhiều hơn nữa theo nghĩa những hành-xử, luật-đạo và giá-trị được…?

Đó chính là vấn đề, của đổi thay, khác-biệt vào thời này.” (xem Lm Armand Veilleux, The Theology of Francis, Scourmont Website, 24/5 2015, hoặc Lm Kevin O;Shea CSsR, A Tale of Two Synods, about some ethics and politics of Human Love, Workshop at Australian Catholic University, Strathfield Sydney 22/8/2015).

Nói cho cùng, thì có khác-biệt thế nào đi nữa, cũng hãy sống mà xử sự với mọi người như bậc thánh-hiền khi xưa vẫn khuyên rằng:

“Anh em phải cố gắng sao cho Ngài thấy anh em tinh tuyền,

không chi đáng trách và sống bình an.

Và anh em hãy biết rằng

Chúa chúng ta tỏ lòng kiên nhẫn

chính là để anh em được cứu độ,

như ông Phaolô,

người anh em thân mến của chúng ta,

đã viết cho anh em,

theo ơn khôn ngoan Thiên Chúa đã ban cho ông.”

(2 Phêrô 3: 14-15)

Nói thêm điều nữa, để nói rằng: ơn “khôn ngoan” như bậc thánh-hiền nói ở trên, đâu phải chỉ mỗi đấng bậc ở chốn chóp bu mới có; mà cả các đấng/các cụ xưa nay thường bày tỏ, như một tỏ-bày của ai đó ở bên dưới, như sau:

Hãy sống là chính mình như một cây cổ thụ!!! Bởi, cuộc sống sẽ không còn ý nghĩa nếu chúng ta cứ luôn sợ hãi, cân nhắc đắn đo giữa sự cho với nhận và không dám mạo hiểm trước những gì cần mạo hiểm.

Ngày nọ, một cậu bé đứng tựa vào gốc cây to xù xì, thì thầm hỏi:

-Thần cây ơi! Thần cây hãy chỉ cho con cách nào làm ba mẹ vui lòng mà con vẫn được là chính con?

Thần cây đáp:

-Con hãy nhìn ta đây. Cả một đời ta phơi mình trong nắng gió, biết bao lần phải oằn người trong giông bão nhưng ta vẫn là ta, vẫn là thân cây tỏa bóng mát cho mọi người. Qua hôm sau, một người đàn ông tìm đến cây than thở:

– Cây ơi, tôi là một người đàn ông bất tài vô dụng. Bao năm trôi qua rồi mà tôi vẫn chỉ là một anh nhân viên quèn, không thăng tiến được. Tôi không thể lo cho vợ con mình một cuộc sống tốt đẹp hơn. Tôi thật sự đã thất bại, tôi chán bản thân mình lắm rồi.

-Anh hay nhìn tôi mà xem, Cây lên tiếng chia sẻ: “Tôi chấp nhận tự thay đổi để thích nghi với mọi điều kiện. Vào mùa xuân, tôi khoác lên mình chiếc áo xanh tươi, đâm chồi nở hoa rực rỡ. Nhưng khi mùa đông lạnh giá kéo về thì tôi ủ rũ, xám xịt với những cành cây khẳng khiu. Đến hè, tôi lại vươn vai tỏa bóng mát sum suê. Và như anh thấy đấy, dù có thay đổi thế nào thì tôi vẫn là tôi, là gốc cây đứng bên vệ đường chứng kiến bao thăng trầm của cuộc sống.

Đến một ngày, có cô gái đau khổ vì tình yêu chạy tới ôm thân cây òa khóc nức nở:

-Cây ơi! Người yêu của tôi đã rời xa tôi rồi. Tôi cảm thấy mất mát thật nhiều và đau khổ lắm. Giờ đây, có lẽ tôi không thể yêu thương ai khác được nữa.

Cây nhìn cô gái đầy thương cảm, dịu dàng nói:

-Cô hãy ngước lên và nhìn tôi đi. Nào là chim chóc, sâu bọ, gõ kiến, nào là rong rêu, dây leo, cây tầm gửi bám đầy trên người tôi. Hằng ngày, chúng lấy đi của tôi biết bao nguồn nhựa sống. Nhiều khi, tôi tưởng như không còn sức chịu đựng thêm được nữa. Nhưng rồi mọi chuyện cũng qua đi. Tôi vẫn là tôi, hiên ngang cho đi và dám hy sinh những gì mình có.” (Trích truyện kể trên mạng vi-tính rất nhiều nhiều)

Và, lời bàn cuối của người kể về sự khác-biệt/khổ-sở, khó giảng-giải, lại như sau:

“Chúng ta cũng giống như cây kia vậy, phải luôn thay đổi sao cho có thể thích ứng với từng giai đoạn của cuộc sống. Hãy hướng đến những điều lớn lao nhưng cũng đừng nên quá tuyệt vọng khi sự việc diễn ra không như những gì bạn mong đợi. Hãy sống mỗi ngày theo cách trọn vẹn nhất của bạn. Hãy để lòng dịu lại và lắng nghe con tim mách bảo, dũng cảm đối diện với khó khăn, thách thức.”

Không cần biết người kể đây là con-trai hay con-gái, nhưng hãy biết rằng lời bàn của người kể bao giờ cũng hay, cũng tuyệt như bao giờ. Vì chỉ là lời bàn chân-chất chứ đâu có ai đòi người kể xác-minh lời bàn của mình bằng kinh-nghiệm bản thân đâu bao giờ chứ.

Nghĩ thế rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta lại sẽ hát lên lời ca ý nhạc trích ở trên, lần nữa rằng:

Em như giấc mơ đi qua đời ta,

rồi từng đêm gây nên bão tố.
Người về lòng còn nhớ

những phút đã qua,

đời làm mình lạc lối

giữa những xót xa.

Em như cánh chim

đi qua đời ta

rồi về vui với người xa lạ.”

(Nhật Huy – bđd)

Thế đó, là đôi ba tâm-tình nhân ngày buồn ở đâu đó, cũng khác hẳn “một-ngày-như-mọi-ngày” trong đời của tôi, của bạn, của mọi người. Ở muôn nơi.

Trần Ngọc Mười Hai

Và những khác biệt

Khi kể lại cho nhau nghe

chuyện khác-biệt

trong chốn dân-gian, người phàm

rất hết biết.

Để cho hoa gió thì thào,

“Để cho hoa gió thì thào,

Để cho mây nước nôn-nao.”

(Dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Khi xưa hoa gió vẫn thì thào, hôm nay mây nước đã còn nôn-nao, nhộn-nhạo ơn cứu độ, bằng nhiều cách.

Ơn cứu-độ nối-kết ta lại với nhau. Hội Thừa Sai Công Giáo hợp-tác với nhiều cộng-đồng ở khắp nơi trên thế giới, để làm công việc nối kết hợp tác ấy. Hiện nay, có đến 160 cộng-đồng quốc gia, kể cả Úc, đang cùng với Hội hoạt động trong lãnh vực này.

Sơ Barbara Tippolay đang hoạt động và chung sống với cộng đồng của sơ tại đảo nhỏ Tiwi, phiá Bắc Darwin. Sau nhiều năm phục vụ mọi người ở Papua New Guinea, sơ Barbara đến với anh chị em trong cộng đồng mà sơ chung sống, để chữa lành.

Từ thuở nhỏ, Sơ Barbara được nuôi dưỡng giáo dục với Hội Thừa Sai Garden Point ở Đảo Melville. Ở tuổi khôn lớn, Sơ đảm trách trông coi các em nhỏ tại hội Thừa Sai. Sau đó, Sơ sống và làm việc theo tư cách nhà giáo ở Papua New Guinea rất nhiều năm. Sơ được đề bạt trở thành Mẹ Bề Trên Tổng Quyền cho Dòng mình, các Nữ Tì của  Chúa.

Nay, Sơ Barbara hoạt động để thăng tiến các chị em phụ nữ sống ở Đảo Tiwi, Bắc Darwin. Sơ coi sóc Trung Tâm dành cho Phụ nữ và khuyến khích các phụ nữ trong vùng biết san sẻ tài năng sáng tạo Chúa ban cho mình.

Các chị em cùng làm việc với nhau cho dự án dệt sợi và sẻ san cho nhau các truyện kể về đời sống gia đình, về khổ đau và hy vọng. Các chị em phụ nữ đã mở lòng mình nói cho Sơ nghe biết chuyện dài sử-hạnh mà họ đều biết rằng cả Sơ nữa cũng nối-kết ràng-buộc với họ trong cơn đau buồn và đem đến cho họ niềm an vui, được chữa lành.

Sơ Barbara và các nữ tu cùng dòng thường trải rộng địa bàn tìm tài nguyên, vật liệu. Nhằm hỗ trợ cho công việc mình làm, các chị em phải gây quỹ bằng cách làm bánh bán cho người trong vùng. Đồng thời, ra ngoài thực-hiện công-cuộc thừa-sai, vẫn là một thử-thách. Cùng lúc đó, còn phải đối phó với các vấn đề thực tiễn như tự tử, là những việc thêm vào với sức người.

Khi được hỏi động lực nào gìn giữ các chị lại với nhau, Sơ barbara trả lời:

“Thì cũng vẫn là niềm tin nơi Chúa. Tất cả mọi chuyện, không có gì là dễ dãi hết. Một khi có đủ niềm tin nơi Chúa, ta cứ việc thực hiện công việc hàng ngày, chỉ biết thế. Và, rồi lời cầu của cộng đoàn sẽ tạo thêm cho ta sức mạnh, mà tiến bước.”

Chính ngang qua nguyện cầu và sự hỗ trợ của mọi người, các nữ tu vẫn ràng buộc với nhau. Và như thế, cũng đủ để các chị tiếp tục xúc tiến công tác được gửi gắm.

Các nữ tu vẫn làm công việc cố vấn, cùng chung nguyện cầu và hỗ trợ hết mọi người, ở trong vùng. Sơ barbara có nói:

“Chúng tôi không hiện diện nơi đây để làm việc thay cho mọi người, nhưng là hướng dẫn họ.”

Hội Thừa Sai Công Giáo cũng hỗ trợ Sơ Barbara và công việc của Sơ qua Quỹ Thừa Sai Quốc Nội của Úc. Khoảng chừng một phần ba số tiền mà Quỹ này quyên góp được ngang qua công tác từ thiện thực hiện với các cộng đoàn dân Chúa kể cả Quỹ Thừa Sai Quốc Nội nhằm giúp đỡ các vị thừa sai đang hoạt động tại các giáo phận ở vùng sâu vùng xa, như Darwin, Úc.

Nút bần làm nắp đóng chai rượu và công việc phụ chế rượu làm bằng tay, là những sản phẩm được bán ra là để gây quỹ giúp đỡ Hội Thừa Sai Công Giáo. Sao ta chỉ ngồi đó, mà vui hưởng nhâm nhi ba sợi với thịt ngon?

Sao không ra tay giúp đỡ Các Hội thừa Sai cùng lúc làm việc từ-thiện đồng thời vui hưởng hoa quả của trái đất? Nếu ai trong anh chị em muốn mua thưởng thức hoặc giúp đỡ Hội, xin liên lạc với WineAid hoặc tiếp xúc với cơ-quan từ thiện, để giúp đỡ hết mọi người.

Trong tinh-thần giùm giúp với đùm bọc, tưởng cũng nên ngâm lại lời thơ chan chứa, rằng:

“Để cho hoa gió thì thào,

Để cho mây nước nôn nao.

Quên câu thương njhớ rồi sao?

Em ơi thế nghĩa là sao?

Khi hương thơm kề lỗ miệng

Khi tình mới chạm vào nhau?

(Hàn Mặc Tử – Bắt chước)

Tình chạm nhau”, không chỉ vào khi “hương thơm kề lỗ miệng”.  Mà, cả vào lúc đôi ta hay mọi người đều chung vui trong giùm giúp lẫn đùm bọc trong tinh-thần yêu-thương rất cứu-độ gửi đến mỗi người và mọi người, chốn dân-gian, phàm trần đầy nhiệt huyết.

Lm Richard Leonard sj biên soạn

Mai Tá lược dịch

Tin Mừng (Mc 8: 27-35)

Một hôm, Đức Giê-su và các môn đệ của Người đi tới các làng xã vùng Xêdarê Philípphê. Dọc đường, Người hỏi các môn đệ:

Người ta nói Thầy là ai?

Các ông đáp:

Họ bảo Thầy là ông Gio-an Tẩy Giả, có kẻ thì bảo là ông Êlia, kẻ khác lại cho là một ngôn sứ nào đó.”

Người lại hỏi các ông:

“Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”

Ông Phêrô trả lời:

Thầy là Đấng Kitô.

Đức Giêsu liền cấm ngặt các ông không được nói với ai về Người.

Rồi Người bắt đầu dạy cho các ông biết Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày, sống lại. Người nói rõ điều đó, không úp mở. Ông Phêrô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người. Nhưng khi Đức Giêsu quay lại, nhìn thấy các môn đệ, Người trách ông Phê-rô:

Xatan! lui lại đàng sau Thầy! Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.”

Rồi Đức Giê-su gọi đám đông cùng với các môn đệ lại. Người nói với họ rằng: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy.”

NHỮNG TRỞ NGẠI CHO CON NGƯỜI MUỐN ĐƯỢC CỨU ĐỘ.

NHỮNG TRỞ NGẠI CHO CON NGƯỜI MUỐN ĐƯỢC CỨU ĐỘ.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Hỏi: xin cha nói  rõ những trở ngại mà  con người phải vượt qua  nếu muốn được cứu độ để vào Nước Trời .

Trả lời :

Nói đến cứu độ là nói đến niềm vui được hưởng Thánh Nhan Chúa trên Thiên Đàng,  sau khi phải chết đi trong thân xác có ngày phải chết đi này.

Được cứu độ có nghiã là được hưởng công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô, Đấng đã vui lòng chịu mọi khốn khó, vác thập giá nặng nề và chết đau thương trên đó để hòa giải con người với Thiên Chúa là Cha rất nhân từ, giầu lòng thương xót và hay  tha thứ. Người tạo dựng con người trên trần thế này  chỉ vì yêu thương  và “ muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý.” ( 1 Tm 2: 4), nghĩa là được vui hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Người trên Nước Trời là chốn  an vui, hạnh phúc bất tận.

Thiên Chúa tuyệt đối không có,  hay không muốn tìm lợi lộc gì mà phải tạo  dựng  và cứu chuộc con người nhờ Chúa Giê su-Kitô, Đấng cũng vì yêu thương  vô vị lợi mà đã vâng phục Chúa Cha để xuống trần gian làm Con Người và hy sinh chịu chết trên trập giá để cho muôn người được cứu độ.( Mt 20: 28)

Như thế đủ cho thấy Thiên Chúa rất mong muốn cho hết  người được cứu độ để vui hưởng hạnh phúc Thiên Đàng với Người mai sau trên cõi vĩnh hằng.

Tuy nhiên ,vì con người là tạo vật có lý trí và  muốn tự do ( intelligent and free will) mà Thiên Chúa đã ban tặng và tôn trọng cho con người xử dụng , để hoặc tự  ý chọn Chúa làm gia nghiệp  và sống theo đường lối của Người để được chúc phúc,  hay  cố  ý khước từ Chúa để sống theo thế gian, theo tính hư nết xấu của bản năng và làm nô lệ  cho ma quỷ , kẻ thù của Thiên Chúa và là trở ngại lớn lao nhất cho  hy vọng được cứu độ của mỗi người  chúng ta. Lý do là  ma quỷ, cha đẻ của mọi tội lỗi và sự dữ,  không bao giờ muốn cho ai được cứu độ để vào Nước Trời , nơi trái nghịch hoàn toàn với hỏa ngục là chốn dành riêng  cho Satan và bè lũ.

Thật vậy,  loài người đã mất ơn nghĩa với Thiên Chúa khi phạm tội bất phuc tòng nên “  tội lỗi và sự chết đã xâm nhập trần gian và lan tràn tới mọi người , vì mọi người đã phạm tội.” (Rm5:12)

Nhưng Thiên Chúa là Cha nhân từ , nên Ngài  có giận , giận trong giây lát, nhưng yêu thương, thương xuốt cả đời. ( Tv  30(29) : 6)

Vì thế, Người đã sai Con Một là Chúa Kitô đến trần gian để đền tội thay cho nhân loại đáng phải phạt vì tội  lỗi.Công nghiệp cứu chuộc này thực vô giá và đủ cho con người được cứu độ để vào Nước Trời vui hưởng hạnh phúc Thiên Đàng. Nhưng tình thương của Chúa Cha và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Con Giêsu Kitô  không đương  nhiên hay tự động  áp dụng cho hết  mọi người sinh ra trong trần thế này mà không cần có điều kiện gì đòi hỏi về phía con người.

Nghĩa là , muốn được hưởng công nghiệp cứu độ này , con người phải tỏ thiện chí muốn được cứu độ bằng quyết tâm bước đi theo Chúa Kitô là con Đường, là sự Thật và là sự Sống” ( Ga 14: 6). Ngoài Chúa Kitô ra,  không có con đường nào khác có thể dẫn đưa con người vào sự sống đời đời với Thiên  Chúa trên cõi vĩnh hằng.

Bước đi theo Chúa Kitô là con Đường , trước hết,  có nghĩa là phải thực tâm xa tránh con đường tội lỗi của thế gian, của ma quỷ là con đường đẫn đến sự hư mất đời đời. Đó là con đường của bọn  gian manh, độc ác, bất công,  bạo tàn, tìm vui thú vô luân vô đạo và tôn thờ tiền của và ham chuộng hư danh trần thế, trong khi dửng dưng trước mọi bất công xã hội và đau khổ của người nghèo khó, nạn nhân của mọi bóc lột và bất công xã hội.

Do đó. buớc đi theo Chúa Kitô là  con Đường, là sự Thật và là sự Sống  đòi hỏi chúng ta phải ý thức xâu xa về  sự có mặt  của ma quỷ và tội lỗi, để không dại dột làm tay sai cho chúng  mà phạm tội mất lòng Chúa là  Đấng trọn tốt trọn lành .

Ma quỉ là kẻ phạm tội từ đầu và ai phạm tội thì là người của ma quỷ.”, như Thánh Gioan Tông đồ đã dạy. ( 1Ga 3: 8) vì thế, Tội chính là cản trở lớn lao nhất cho ta  được đến gần Thiên Chúa là Đấng gớm ghét mọi tội lỗi, vì tội lỗi  xúc phạm đến bản chất tốt lành , công minh và thanh thiện của Người.. Tội lỗi cũng chính là nguyên nhân khiến Chúa Kitô phải vác thập giá và hy sinh chịu chết cho con người được cứu chuộc để vào Nước Trời.

Cho nên, thật khẩn thiết cho ta  phải ý thức đầy đủ về tai họa lớn lao này, nếu ai   thực tâm muốn được lãnh ơn cứu chuộc của Chúa Kitô.

Thật vậy, ma quỷ và tội  có mặt trong trần gian này dưới những  hình thức sau đây:.

Tội lỗi đức bác ái  hay thương yêu như oán giận, thù ghét, nói xấu làm hại tiếng tốt và đời tư của ai, bỏ vạ cáo gian gây thiệt hai cho người khác, nhất là giết người, giết thai nhi, giết trẻ nữ  ( ở Trung Hoa công sản và Ấn Độ) khủng bố, gây chiến tranh giết hại dân lành.

Tỗi lỗi đức công bằng  như gian tham, bóc lột, trộm cắp, cờ  bạc , làm hàng giả, in tiền giả  để làm giầu phi pháp, pha chế đồ ăn với hóa chất có hai cho sức khỏe của người tiêu dùng  để kiếm nhiều lợi lãi.

Tội lỗi đức trong sạch như dâm ô, mãi dâm, ấu dâm,  ngoại tình ( adultery), thông dâm ( fornification)  thủ dâm ( masturbation), sản xuất sách bào, phim ảnh khiêu dâm, mở nhà điếm, bắt cóc  hay buôn bán phụ nữ và trẻ em để cung cấp cho bọn bất lương hành nghề mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn ở khắp mọi nơi trên thế giới tục hóa , vô luân hiện nay.

Thánh Phaolô đã liệt kê các tội ô uế như sau :

Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ : đó là dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận , tranh chấp chia rẽ , bè phái , ganh tị, say sưa chè chén và những điều khác giống như vậy. Tôi bảo trước cho mà biết, như tôi đã từng bảo : những kẻ làm những điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa, ( Gl 5: 19-21)

Riêng đối với người Công  giáo, còn có thêm tội phạm thánh ( sacrilege) như rước Mình Thánh Chúa cách bất xứng  (khi  đang có tội trọng,thì  cấm làm lễ ( linh mục ) và rước Mình Thánh Chúa( giáo dân) . giáo luật số 916, Sách Giáo Lý số 1415) làm chuyện dâm ô trong nhà thờ nhà nguyện, lấy Mình Thánh Chúa đem về làm chuyện phù phép , hay ném bỏ Mình Thánh Chúa vào thùng rác ( mắc vạ tuyệt thông tiền kết, giáo luật số 1367)

Lại  nữa, lười biếng trong việc thờ phượng như  bỏ lễ ngày Chúa Nhật và các ngày lễ buộc, không cầu nguyện và năng rước Mình Thánh Chúa, và xưng tội ít là mỗi năm một lần, tất cả đều đưa đến hậu quả là nguội lạnh thiêng liêng và suy giảm niềm tin có Chúa.

Tất cả các tội liết kê trên đây đều  là những trở ngại lớn cho hy vọng được cứu độ, nếu người ta không quyết tâm xa tránh bằng mọi giá. Nói rõ hơn, nếu không có quyết tâm xa tránh tội mà cứ đi hàng hai là miệng vẫn nói tin có Chúa, vẫn đi nhà thờ , tham dự Thánh Lễ, nhưng  thực tế cứ đi vào con đường sai trái. Cứ phạm tội  mà không có quyết tâm chừa bỏ  hay xa tránh  tội,  khiến cứ  sa đi ngã lại ,  thì hãy nghe lời cảnh cáo nghiêm khắc sau đây của Chúa Kitô :

“ Ta biết các việc ngươi làm.Người chăng nóng mà cũng chẳng lạnh. Phải chi ngươi nóng hẳn hay  lạnh hẳn đi. Nhưng vì người cứ hâm hâm , chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa người ra khỏi miệng Ta . ( Kh 3: 15-16)

Nói khác đi, dù Thiên Chúa là Cha rất nhân từ, đầy yêu thương và hay tha thứ, dù công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là vô giá và đủ cho con người được cứu độ, nhưng nếu ai không tỏ thiện chí muốn sống theo đường lối của Chúa qua quyết tâm chừa bỏ mọi tội, từ bỏ ma quỷ và mọi cám dỗ của chúng, xa tránh những lôi cuốn của thế gian về  tiền của  và mọi thú vui vô luân vô đạo, thì Chúa không thể cứu  người ấy được. Chắc chắn như vậy.

Lý do là con người còn có tự do để chọn lựa và Thiên Chúa luôn tôn trọng tự do này của con người như đã nói ở trên.Cụ thể, nếu con người chọn đi trên những con đường rộng rãi thênh thang , nơi có rất nhiều đang đi, nhưng sẽ dẫn đến hư mất đời đời, thì Chúa sẽ không can thiệp để ngăn cấm.. Đó là con đường của những kẻ gian manh,gian ác, bóc lột, giết người, giết thai nhi và lấy các bộ phận của các thai nhi để bán buôn kiếm tiền;  như báo chí và truyền thông Mỹ đâng tố cao bọn điều hành tổ chức Planned Parenthood , tức bọn giúp phụ nữ phá thai hợp pháp ở Mỹ từ bao năm qua.

Thử hỏi những kẻ đang giết thai nhi đã lớn lên trong lòng mẹ từ 3 đến 6 tháng, rồi móc các bộ phận trong cơ thể của các thai nhi này như tim, phổi, thận, mắt..đem bán như  những  món hàng thương mại cho khách hàng cần dùng,  thì làm sao chúng có thể được cứu độ để  vào Nước Trời vui hưởng Thanh Nhan Chúa là cội nguồn của mọi thiện hảo và vinh phúc,  nếu chúng không kíp ăn năn sám hối để từ bỏ việc làm tội lỗi của chúng ?

Lại nữa, bọn quá khích Hồi giáo ( ISIS) đang bắt cóc, chặt đầu các nan nhân ở Trung Đông, bọn khủng bố Al Queda đang giết hại bao đân lành, bắt cóc và hãm hiếp phụ nữ… thì làm sao chúng có thể được cứu độ nếu chúng không mau kíp từ bỏ con đường gian ác , tội lỗi của chúng ?

Đó cũng là con đường của những kẻ tham quyền cố vị, cố duy trì quyền cai trị độc ác của mình để vơ vét của cải làm giầu cho tập đoàn cai trị và dửng dưng trước sự nghèo đói bất công của đa số quần chúng bị tri. Đó  cũng là con đường của bọ tư bản đen và đỏ đang ra sức  bóc lột người dân, thao túng thị trường chứng khoán để  làm giầu cho bọn chúng bất chấp luật  công bình , bác ai và nhân đạo.

Sau hết đó là con đường của bọn bất lương buôn bán ma túy, phụ nữ và trẻ em gái để cung cấp cho bọn ma cô tú bà hành nghề mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn,  gây thương tổn nặng nề cho  tinh thần và thể xác của  các nạn nhân chẳng may sa vào lưới bất lương, tội lỗi của bọn vô lương tâm, vô luân vô đạo nói trên.

Nếu bọn vô luân vô đạo trên đây không kíp ăn năn sám hối mà từ bỏ con đường tội lỗi,  thì chúng sẽ không được cứu độ để vào Nước Trời,  như Chúa Giê su đã cảnh cáo bọn biệt phái xưa kia;  nhân có mấy người đến hỏi Chúa xem có phải những người Ga-li-lê-a bị Tổng Trấn Phi-la-tô giết và 18 người khác bị tháp Si-lô-a đổ xuống đè chết có phải vì họ là những người tội lỗi hơn người khác hay không, Chúa đã trả lời như sau :

Không phải thế đâu, nhưng nếu các ông không sám hối thì  các ông  cũng sẽ chết hết như vậy.” ( Lc  13: 3)

Phải  sám hối để nhìn nhận tội lỗi của mình và xin Chúa tha thứ,  thì Người sẽ hoan hỉ thứ tha. Ngược lại, nếu cứ ngoan  cố làm sự dữ, sống trong tội , tức là quay lưng lại với Thiên Chúa,  thì Chúa không thể cứu ai được,  dù Người là tình thương vô biên và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là quá đủ cho con người được cứu độ.

Tóm lại, tình thương tha thứ của Chúa Cha và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô  không  tự  động áp dụng cho hết mọi người mà không cần đòi hỏi ai phải  đóng góp gì  vào tình thương và công nghiệp ấy. Phải đóng góp bằng thiện chí muốn sống cho phù hợp với tình thương của Chúa và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô qua nổ lực xa tránh tội lỗi , chống lại mọi cám dỗ của ma quỷ, của mọi khuynh hướng xấu của bản năng,  và gương xấu của thế gian, là những trở ngại lớn lao cho sự cứu rỗi của mọi người chúng ta.

Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra. Chân thành cám ơn quí độc giả  đọc bài viết này và các bài viết khác của tác giả.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Hà Văn Thịnh – Khi dối lừa là… sự thật!

Hà Văn Thịnh – Khi dối lừa là… sự thật!

Dân Luận

Hà Văn Thịnh

3-9-2015

Đọc những bản tin về Lễ diễu binh nhân Kỷ niệm 70 năm ngày Quốc khánh (tôi không xem TV), không thể tin ở mắt mình: Một sĩ quan Quân y, đeo quân hàm trung tá (trên ve áo), sinh năm 1993(!), ngực gắn đầy huân, huy chương các loại? Cái tức chỉ mới ở cấp độ… vừa vừa. Thế nhưng, đọc tiếp, thấy ông Trung tướng Võ Văn Tuấn, Phó Tổng tham mưu trưởng, trả lời báo chí rằng, tuy là thiếu úy, nhưng theo quy điịnh, phải đeo hàm trung tá cho… thống nhất (Motthegioi.vn; 09:55, 3.9.2015) thì sự uất nghẹn lên đến tận cùng! Thì ra, để đảm bảo tính THỐNG NHẤT, DUY NHẤT, người ta có thể đạp đổ mọi giá trị?

Chưa bàn đến chuyện cộng đồng mạng đang xôn xao: Thiếu úy Quân y Phạm Trúc Sơn Quỳnh là… sinh viên trường Đại học Thương mại (vì chưa kiểm chứng được); chỉ xin luận về cái việc giả dối luôn được coi là sự thật, nó nguy hại và mang tính “truyền thống” khủng khiếp đến mức nào.

Thứ nhất, xin hỏi ông trung tướng rằng, từ cổ chí kim, ở bất kỳ quốc gia nào (không kể mấy nước XHCN), có chuyện quân hàm, huy chương, được đeo một cách tùy tiện để diễu qua diễu lại trước mắt hàng triệu con người như thế hay không? Ở đây, công khai trước mắt toàn dân tộc mà lại ủ mầm dối trá thì người dân biết tin vào ai? Không lẽ, dối trá, tùy tiện lại trở thành quy định của ta? Làm sao để có quân lệnh như sơn, làm sao việc tôi hay ai đó đeo quân hàm thì bị bắt ngay lập tức mà trong diễu binh lại coi là bình thường?

Những tấm huy chương đó do một cô gái trẻ đeo, chẳng lẽ cũng lại là quy định? Nếu đúng thế thì đó là sự sỉ nhục đối với những người vào sinh ra tử để có được chúng? Xét về tuổi, sinh năm 1993, đeo được quân hàm thì chỉ có thể tốt nghiệp trung cấp y-dược; tức là… y tá hay hộ lý, dược tá vì, chưa thể tốt nghiệp đại học y – dược 6-7 năm. Sự kệch cỡm và trơ tráo là không thể chối cãi. Có lẽ, đây là cách tốt nhất để vả vào mặt hàng loạt sĩ quan cấp tá khác, có phải vậy không?

Thứ hai, báo chí cho biết có 70% trong đội ngũ nữ “quân y” đã có gia đình; vậy, căn cứ vào đâu để đề nghị cấp bằng khen cho một cô gái còn son trẻ? “Động tác” chuẩn, đẹp, tập luyện cả đêm ngày…; chỉ là sự tư biện trắng trợn. Bốn tháng trời tập có mỗi đi đều, vung tay cho đúng thỉ chỉ có ai đó thiểu năng mới không làm được. Còn tập đêm, tập ngày chỉ là do kém mà thôi. Tại sao không đặt ngược câu hỏi rằng 70% của 200 người , tức là trên dưới cả trăm phụ nữ có con mọn không cần tập như thế vẫn đi đúng, đẹp chẳng kém gì? Nói rằng cô thiếu úy – trung tá đẹp hơn về vòng 1 hay gương mặt thì còn khả dĩ, chứ cho rằng đẹp hơn trong một khối 200 người thì quả là sự phỉ báng tư duy: Đẹp hơn có nghĩa là khối đó có hàng trăm người không đẹp bằng – tức là đi đều sai, chào không đúng, cũng đồng nghĩa là khối nữ quân y diễu binh thất bại. Nếu quả là vậy thì “khối trưởng” có gì đáng tặng bằng khen? Một đất nước mà cái gì cũng GIẢ, từ cấp bậc đến huân chương, danh hiệu anh hùng, đẹp, chuẩn…, là phải hiểu sao đây?

Thứ ba, riêng chuyện bố của cô thiếu úy – bà trung tá, là sĩ quan (cao cấp – vì ít khả năng có chuyện con dám đeo quân hàm cao hơn bố, trong khi quy định, thượng tá là cán bộ cao cấp) ở Tổng cục Hậu cần, đủ để biết cái “thị trường” sao – vạch là hình như có vẻ đúng? Biết bao nhiêu phụ nữ (trong số 140 người) trong khối quân y vừa là con dân đen, vừa nuôi con nhỏ xứng đáng hơn mà không được khen? Thì ra, khen hay chê không phải do tài năng, phẩm hạnh mà có phải là CCCC hay không mà thôi. Phải chăng chính ông trung tướng đang ngầm khẳng định cho cái ‘chân lý’ không có ai chịu nổi là vì mục tiêu thống nhất, duy nhất, các vị muốn làm gì thì làm, diễn ra sao thì diễn?

Thứ tư: tôi được biết các tàu bệnh viện, xe cứu thương trên thế giới đều in dấu chữ thập đỏ trên nóc, 4 phía để đối phương không bắn nhầm (quy định quốc tế, xem ảnh chụp tàu bệnh viện Mỹ vừa đến Đà Nẵng). Thế, tại sao bác sĩ, y tá quân đội ta, cô nào cũng cầm AK (trừ chỉ huy là súng ngắn), mặt đằng đằng sát khí? Họ ra trận để cứu người hay bắn người? Nếu họ bắn rồi bị bắn chết thì lấy ai cứu thương binh; hoặc giả, để thương binh… chết luôn?

Trên đây là 3 câu hỏi xin ông trung tướng trả lời. Nếu tôi sai (cầu mong là thế – vì, tôi sai thì đất nước được nhờ), là do kiến thức hạn hẹp, không hiểu hết cái ý thâm, nghĩ ngắn rõ ràng như của các ông. Tuy nhiên, bài này rất tình cờ được viết trong ngày kỷ niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh từ giã cõi đời (suốt mấy chục năm trời, thế hệ chúng tôi thắp hương vào ngày… 3.9!), nên có liên tưởng về “truyền thống” dối trá đắng cay. Xin kể ông nghe.

Thuở đó, tôi cũng như nhiều học sinh lớp 7, lớp 8 khác, đã khóc Bác rất chân thành – khóc dàn dụa đến hết nước mắt theo đúng nghĩa đen của từ này. Sau đó, chúng tôi lùng, tìm để học thuộc nhiều bài thơ viết về nỗi đau “tả” cái đau đớn thật sự của hàng triệu con người. Tất nhiên, cũng có bài thơ không hay (thậm chí là phản động) như bài Bác ơi của Tố Hữu. Tố Hữu kể rằng ngày Bác mất, ổng đang bỏ đi chơi đâu đó: Chiều nay con chạy về thăm Bác. Rồi, ổng miêu tả ổng đang lần mò, rình rập nhà bác; không thèm thắp cho người chết một đốm nến tàn: Con lại lần theo lối sỏi quen… Phòng lạnh, rèm buông, tắt ánh đèn…

Tạm không bàn đến những câu thơ dở mà hãy nói đến những câu thơ hay, trong đó có những câu này (tôi quên tên tác giả, nhờ bạn đọc tìm dùm):

Hôm nay, tháng Chín, ngày ba
Bác mất
Từ đó
Những bình minh khổ đau
Những hoàng hôn nước mắt
Lên đường cùng chúng ta…

Lại xin không bàn về cái tài tiên tri của nhà thơ; quả là từ khi đó đến giờ, có không ít khổ đau và nước mắt đã “lên đường”; mà chỉ xin nhấn mạnh rằng, mấy chục năm sau, tôi nghe đính chính rằng thực ra Bác mất ngày 2.9 chứ không phải ngày 3. Thật là đau đớn cho ông nhà thơ nọ vì nếu là ngày 2 thì không thể vần với chữ ta ở câu sau. Thành thử đành phải vất vào sọt rác cái chữ “hay”.

Rồi, tôi còn được biết rằng, Bác viết trong Di chúc là cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa; nhưng Đảng ta đã quyết định xóa bỏ “20 năm”(!)

Tất cả đều nhằm mục đích… thống nhất?

Đến đây thì hẳn là ông trung tướng đã buộc phải đồng ý với tôi rằng, khi người ta có thể sửa cả di chúc, tức là, hoàn toàn có thể dối lừa mọi chuyện?

Bước khởi đầu của dối trá (tạm tính là khởi đầu) tai họa đó, cứ nghĩ là do… chiến tranh, không làm rối loạn lòng dân, nên nghe đôi khi, cũng xuôi xuôi. Bây giờ, tra trốc, mốc trọ rồi tôi lại còn nghe thêm lý ‘trấu’ là do thống nhất, từ ông, thì quả là hết thuốc chữa.

Các ông cứ nghĩ dối trá ‘cho vui’, dân ngu khu đen chẳng biết, chẳng dám nói gì thì quả đúng là khủng khiếp…

Viết bài này, mong các ông đọc và bớt dối trá đi cho người dân đỡ khổ, đỡ đau. Đừng đưa “quy định” ra để lấp liếm: Tôi từng biết có người cấp bậc đại úy làm trưởng phòng CSGT trong khi cấp trung tá là phó phòng (nghe đâu bây giờ sắp thay đổi).

Xin lưu ý các ông là lần diễu binh sau (kỷ niệm 80 năm, nếu có) đừng cho bất kỳ cô bé mặt búng ra sữa nào đeo lon trung tá, bởi như thế là làm tái phát vết thương chiến tranh của hàng triệu cựu chiến binh đang buộc phải lặng im dù bị sỉ vả đắng cay!…

Huế, 3.9.2015

Xác bé trai tị nạn 3 tuổi trôi vào biển Thổ Nhĩ Kỳ làm rúng động thế giới

Xác bé trai tị nạn 3 tuổi trôi vào biển Thổ Nhĩ Kỳ làm rúng động thế giới

Nguoi-viet.com

MUGLA, Thổ Nhĩ Kỳ (NV) – Hình ảnh bé Aylan, 3 tuổi, chết đuối cùng với bà mẹ và nhiều người  khác khi tìm cách vượt biển qua Hy Lạp, trôi vào bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ được phát tán nhanh chóng và rộng rãi trên mạng truyền thông xã hội, tạo một áp lực lớn lên giới lãnh đạo Âu Châu về thái độ thờ ơ với dân tị nạn.

Cảnh sát Thổ Nhĩ Kỳ lập biên bản trước khi mang xác của bé Aylan Kurdi, 3 tuổi, ra khỏi bãi biển nghỉ mát Bodrum. (Hình: AP/DHA)

Galip, 5 tuổi, anh trai của bé Aylan, và bà mẹ Rehan, 35 tuổi, nằm trong số 12 người, bị thiệt mạng khi hai chiếc tàu tị nạn bị lật trong khi tìm cách tiến đến đảo Kos của Hy Lạp.

Người cha đau khổ của hai em bé chết đuối đã nhận diện xác họ hôm Thứ Năm và chuẩn bị đưa cả ba về quê nhà ở Kobani, Syria, theo tin của Reuters.

Ông Abdullah Kurdi khóc òa khi từ nhà xác ở Mugla, Thổ Nhĩ Kỳ, bước ra, nơi thi thể của đứa con trai ba tuổi Aylan của ông tấp vào bờ biển hôm Thứ Tư.

Bức ảnh tấm thân bé nhỏ trong chiếc áo thun màu đỏ, quần cụt xanh, mặt úp xuống, với nước biển liên tục vỗ chung quanh, xuất hiện trên báo chí truyền hình khắp thế giới, gây phẫn nộ lẫn cảm thông trong bối cảnh các nước phát triển không có hành động giúp đỡ nào đối với dân tị nạn.

Gia đình ông Abdullah từng tìm cách xin qua Canada sau khi trốn khỏi thành phố Kobani bị chiến tranh tàn phá, một tiết lộ làm cho chính quyền bảo thủ Canada phải lúng túng.

Ông Abdullah nói, nay Canada đề nghị cho ông vào quốc tịch sau khi chứng kiến những gì xảy ra với gia đình ông, nhưng lần này ông từ chối.

Ông Abdullah có người em gái là Teema Kurdi, cư dân của Vancouver. Hồi Tháng Sáu, khi ở trại tị nạn, gia đình ông có nộp đơn xin được bảo lãnh sang Canada đoàn tụ với người em nhưng bị bác do rắc rối giấy tờ với chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ.

Ông Abdullah cho biết, hai lần ông trả tiền cho chủ ghe để đi qua Hy Lạp nhưng cả hai chuyến đều không thành công.

Sau cùng ông quyết định tìm một chiếc thuyền và tự chèo lấy. Trong chuyến đi, thuyền bị nước vào, mọi người hốt hoảng làm thuyền mất thăng bằng và lật úp.

Ông Abdullah kể: “Tôi chụp lấy tay vợ tôi thì hai đứa con lại vuột khỏi tay tôi. Mọi người kinh hãi la hét trong đêm tối. Tôi không còn nghe được tiếng vợ con tôi nữa.”

Những cái chết của gia đình của em Aylan nằm trong số hàng triệu cái chết của người tị nạn trên đường trốn chạy sự hủy diệt tàn phá hiện đang diễn ra tại Syria và Iraq. Nhưng, ít nhất là cho đến giờ, hình ảnh thân xác bé nhỏ của  em chết giạt vào bờ, là biểu tượng mạnh mẽ nhất về thảm cảnh của người tị nạn từ khu vực này. (TP)

Nhà báo mất chức ‘vì bài về 2/9’

Nhà báo mất chức ‘vì bài về 2/9’

  • BBC

Image copyright AFP

Một nhân vật cấp lãnh đạo tại một tờ báo lớn của Việt Nam đã bị cách chức và thu hồi thẻ nhà báo.

Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam ngày 4/9 loan báo thu hồi thẻ nhà báo của ông Đỗ Văn Hùng, thường được biết với tên Đỗ Hùng.

Hôm 3/9, báo Thanh Niên đã miễn nhiệm chức vụ Phó Tổng Thư ký tòa soạn Báo điện tử Thanh Niên với ông Hùng.

Quyết định của Bộ Thông tin và Truyền thông không nêu nguyên do, nhưng giới nhà báo trong nước tin rằng nó xuất phát từ một đoạn ngắn trên Facebook cá nhân.

Hôm 2/9, trong lúc Việt Nam đánh dấu 70 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh, ông Hùng đăng một đoạn trên Facebook nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Giọng văn hài hước của ông Hùng sau đó bị một số người trên mạng lên án là giễu cợt Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Quyết định nhanh chóng của báo Thanh Niên và của Bộ Thông tin và Truyền thông dường như cho thấy giới chức xem đây là vấn đề nghiêm trọng.

Loan báo của Bộ Thông tin và Truyền thông nói báo Thanh Niên phải thu hồi thẻ nhà báo của ông Hùng và nộp về Bộ trước ngày 18/9

CHÚA CHỮA LÀNH BỆNH UNG THƯ NÃO THỜI KỲ CUỐI.

CHÚA CHỮA LÀNH BỆNH UNG THƯ NÃO THỜI KỲ CUỐI.

MARIA NGUYỄN KỲ.

Hôm nay, tôi lại được hân hạnh gặp gỡ quí Bạn và làm chứng cho Chúa thêm một lần nữa.

Có một số trong các Bạn còn nhớ lần chia xẻ đầu của tôi về Lòng Thương Xót bao la của Chúa, Ngài đã ra tay vào tháng 10 năm 2014 cho Ba tôi, Chúa đã chữa cho Ba khỏi đốt xương sống bị trật,  bật ra khỏi khớp sống vì tai nạn xe cộ, vào dịp đó tôi đã có dịp làm chứng ở trang Web này:

http://thanhlinh.net/node/84301

Cũng như Bạn và nhiều người khác, tôi biết là Lòng Thương Xót của Chúa to lớn đến mức vô giới hạn. Lòng Thương Xót vốn đã có từ hơn hai ngàn năm rồi, trong lịch sử nhân loại, Chúa Giê Su luôn chạnh thương và vô cùng xót xa cho nạn nhân, tội nhân

“Các bệnh tật của ta Ngài đã gánh lấy, Ngài đã vác lấy các nỗi đau thương của ta.” (Mát thêu 8, 17).

Tôi biết là ai tìm đến Chúa với tâm tình tín thác đều lãnh nhận sự chữa lành của Chúa cách này hay cách khác sao cho có lợi ích nhất cho người đó. Chính Kinh Thánh đã nói rất rõ rồi phải không?

“Chiều đến, khi mặt trời đã lặn, người ta đem lại cho Ngài mọi kẻ ốm đau và những người bị quỉ ám; Tất cả thành tụ họp lại trước cửa và Ngài đã chữa nhiều người ốm đau mắc đủ chứng bệnh; Ngài trừ quỉ cũng nhiều, và cấm quỉ nói năng vì chúng biết Ngài.” (Mác cô 1, 32-34)

Ngay cả trong thời đại chúng ta, Chúa Giê Su vẫn hành xử giống như khi xưa, sự chữa lành của Chúa thật là tuyệt vời. Vào tháng 7 năm 2015 mới đây, Chị Xuân bạn mới quen mà tôi có dịp gặp trong một dich vụ bảo hiểm, chị rất buồn vì hoàn cảnh gia đình mình đang có nhiều trăn trở, số là anh Sang chồng của chị bị ung thư máu thời kỳ cuối, Bác sĩ cho biết Anh phải ghép tuỷ lại lần thứ hai vì lần đầu cách đây một năm, cách điều trị ghép tuỷ có dầu hiệu thất bại, Anh bị sốt cao độ, đau nhức trong đầu, trong xương khớp và tiêu chảy không ngưng, người hoàn toàn suy kiệt tới mức Anh Sang nghĩ rằng lần đi đến bệnh viện này sẽ là lần chót, anh hoàn toàn suy kiệt trong mọi cơ quan của thân thể và anh nghĩ rằng sẽ không bao giờ còn có cơ hội quay về căn nhà của mình thêm một lần nữa. Khi nghe biết hoàn cảnh của chị, tôi đã cảm thấy đau xót và thương cảm như chính mình đang trải qua các đau thương,khó khăn đó, tôi không thể cầm được nươc mắt, tôi cầu nguyện lòng thương  xót Chúa cho anh Sang, tôi ôm lấy tượng thánh giá với các thương tích loang lổ máu trên thân thể Chúa và dâng hoàn cảnh của Chị Xuân cho Lòng thương xót Chúa, Chị là một người mẹ với bốn con,chị nuôi Mẹ già tám mươi lăm tuổi, bịnh nặng, tài chính một tay chị phải xoay xở, chống chọi, anh Sang thì không thể đi làm nữa, sanh mạng Anh đang gần kề huyệt mộ, thậm chí gia đình đã mua xong phần đất để dành đó cho việc mai táng. Tôi cứ khóc và cầu nguyện, tình yêu thương cho Chị Xuân và cho Anh Sang một tân tòng cứ thấm vào trong tim tôi và làm tôi thao thức, Tôi biết là chỉ có Lòng Thương Xót của Chúa mới có thể cứu gia đình chị, những giọt nước mắt của tôi đã nhỏ trên tượng chuộc tội mà tôi ôm trong tay, có giọt nước mắt nào rơi trên những vết thương rỉ máu của Người? Tôi xin Chúa tỏ uy quyền và tình thương xót Chúa trong đời sống của Anh Sang, một người con mới biết sơ sài về Chúa mà thôi, xin Chúa cứu anh là một Tân Tòng… Còn đang cầu nguyện thì từ bệnh viện chị Xuân gọi phôn cho tôi biết ngay vào thời khắc đó Anh Sang đã tự nhiên ngưng sốt, và ngưng tiêu chảy. Các Bác sĩ ngạc nhiên và tiếp tục theo dỏi, hai mươi bảy tiếng đồng hồ sau khi chúng tôi cầu nguyện cho Anh Sang thì Bác sĩ cho phép Anh Sang xuất viện ngay đúng vào 3 giờ chiều, tức là giờ của Lòng Thương Xót Chúa, giờ mà Chúa Giê Su đã hứa cho bất kỳ ai biết tín thác và cầu nguyện với Lòng Thương Xót Chúa vào giờ đó thì sẽ được nhận lời.

Chúng tôi còn đang vui mừng và tiếp tục cầu nguyện cho anh Sang thì vào Chúa Nhật tuần trước, ngày 23 tháng 8, 2015 , Chúa gởi đến cho nhóm cầu nguyện chúng tôi một nhân chứng của Lòng Thương Xót khác thật là tuyệt vời, tôi xin ghi lại lời của Bác gái chứng nhân, khoảng trên sáu mươi tuổi, như sau:

–          Thưa các Bác, các Anh Chị , tôi được hân hạnh đến Nhóm hôm nay để làm chứng về Lòng Thương Xót Chúa, tôi không biết cách cầu nguyện của Nhóm (mãnh liệt) như thế nào , phần tôi thì cảm nhận được sự linh thiêng khi cầu nguyện vào lúc 3 giờ chiều với Lòng Thương Xót Chúa. Cách nay gần hai năm, con gái lớn của tôi hay bị đau đầu, khi không còn chịu đựng nổi, cháu mới chịu đến bệnh viện, khi chụp cộng hưởng từ, MRI rồi chụp cắt lớp CAT Scan thì khám phá ra là trong đầu cháu có đến 4 khối u ung thư. Cháu được điều trị tại trung tâm ung thư hàng đầu của Texas, bệnh viện M D Anderson, thuộc đại học UT. Tuy nhiên căn bệnh ung thư của cháu đã di căn và phát triển đến giai đoạn cuối cùng, các Bác sĩ đã bó tay, họ không dám mổ cũng không dám đặt kim xạ trị, không thể đụng chạm vào các khối u, tình trạng của cháu được kể là hoàn toàn tuyệt vọng và chỉ còn sống được một thời gian ngắn. Trước hung tin của cháu, tôi rất đau khổ và xúc động, điều này không tốt cho căn bệnh tim mạch và cao huyết áp nặng triền miên của tôi. Khi tôi thường xuyên từ nhà vào bệnh viện thăm cháu, thấy tôi xúc động và quá xao xuyến, cháu đã bình tĩnh nói với tôi, “ Con xin Mẹ đừng vào thăm con nữa vì Mẹ đã biết bịnh tình con sẽ như thế nào rồi. Con không muốn bịnh áp huyết của Mẹ ra nặng bất ngờ và Mẹ bị tai biến tim, tai biến mạch máu não (stroke) mà chết trước con thì khổ lắm. Từ nay, xin đừng vào đây thăm con nữa.” …

Làm thế nào đây? Là người Mẹ tôi phải tìm mọi cách để cứu cháu, tôi biết là chỉ còn có một cách duy nhất, đó là đặt trọn tín thác vào Lòng Thương Xót của Chúa, đêm hôm đó trong thao thức tôi cầu nguyện Lòng Thương Xót Chúa nhiều lần, tôi cứ tiếp tục cầu nguyện Lòng Thương Xót, trước bàn thờ, tôi chăm chú ngước lên nhìn ngắm Lòng Thương Xót Chúa với hết tấm lòng cậy trông xin Lòng Thương Xót Chúa chữa lành cho cháu vì Bác sĩ đã chịu thua cuộc và bó tay rồi. Như một em bé trong cơn đắm thuyền, tôi bám víu vào phao nổi là cứu Chúa với Lòng Thương Xót của Ngài. Tôi vững tin vào Chúa Giê Su, vốn là vị Bác sĩ đại tài, không có một bệnh tật nào mà Ngài không thể cứu chữa dù là 4 cục ung thư não di căn vào thời kỳ cuối. Nó chẳng là gì trong quyền năng của Chúa Giê Su, mạnh tin, tôi tiếp tục cầu nguyện liên lỉ với Lòng Thương Xót Chúa… Rồi trời cũng sáng dần, bắt đầu cho một ngày mới, lúc sau, tôi được cháu cho biết là đêm qua nó đã cảm thấy khỏe khoắn, và cảm thấy dường như có điều gì đã xảy ra trong đầu cháu. Về phần Bác sĩ, họ nhận thấy tình trạng bệnh không còn các cơn đau co thắt người cũng như các dấu hiện bệnh tiến triển, trở nặng. Hai ngày sau, Bác sĩ cho cháu chụp hình lại để xác định bệnh, kết quả MRI, CT đều không tìm ra bướu cũng như bất kỳ dấu vết ung thư hay sự thương tổn nào trong não. Chúa không chỉ chữa ung thư mà còn phục hồi các thương tổn trong não bộ do ung thư gây ra.

Đến nay, cháu đã sống khỏe mạnh, đi làm bình thường được gần hai năm rồi. Kỳ công của Chúa thật là ngoài sức tưởng tượng của các Bác sĩ và mọi người.

Thưa bạn, Lòng Thương Xót và quyền năng của Chúa Giê Su là như thế đó.Thật là uổng phí và thiệt thòi cho ta, nếu ta không biết chạy đến với Lòng Thương Xót Chúa và dìm tâm hồn vào trong biển tình bao la của Chúa kính yêu, vì Chúa luôn mong ngóng ta chạy đến với tình yêu mỏi mòn trong chờ đợi của Chúa.

Chúa phán với thánh nữ Faustina:“Cha khao khát lòng tín thác từ các thụ-tạo của Cha. Con hãy khuyên các linh hồn hết lòng Tín-Thác nơi LÒNG THƯƠNG XÓT vô-biên của Cha…Chớ chi các linh hồn tội lỗi và yếu đuối đừng bao giờ sợ đến với Cha, dù tội của họ có hằng hà sa số như cát đại dương đi nữa, thì tất cả những tội lỗi ấy cũng chìm hết trong Vực Thẳm Tình Yêu Thương Xót của Cha” (NK. 1059)

Không biết là từ bao giờ , tôi đã “ghiền” được cầu nguyện với Lòng Thương Xót Chúa, tôi luôn dùng cách thuận tiện là cầu nguyện Lòng thương Xót Chúa qua cell phone, mỗi ngày vào lúc 2 giờ ở Houston, ( tức là 3 giờ ở NewYork,  múi giờ Miền Đông Hoa Kỳ) chúng tôi lại cùng nhau gọi vào số điện thoại 605-562-3140, sau đó khi nghe đáp thì bấm tiếp số 460922#  để được ca ngợi và cầu nguyện với Lòng Thương Xót Chúa. Chương trình cầu nguyện này được Cha Lê Thanh Quang linh hướng và giảng Lời Chúa mỗi ngày. Bạn có thể tìm hiểu thêm chi tiết ở trang liên kết này http://www.longthuongxotchua-memedju.org/

Xin tạm biệt Bạn và hẹn gặp trong các kỳ chia xẻ cho nhau về tình yêu vô biên của Lòng Thương Xót Chúa.

TC Thua Ở Biển Đông

TC Thua Ở Biển Đông

Ván bài Biển Đông của Trung Cộng là ván bài TC thua lớn. Đó là một ván bài phá sản, chẳng những thua ở Biển Đông mà thua trên toàn cầu nữa.

Ở Á châu Thái Bình Dương, TC trở thành một nước cô đơn vì hành động ngang ngược, thô bạo lấn chiếm biển đảo của các nước trong vùng. Đến đỗi, TC bỏ ra 400 tỷ Đô la mua khí đốt 30 năm để cứu Nga khi Nga bị Mỹ và Liên Âu trừng phạt vì Nga thôn tinh Crimea và xâm lấn Ukraine, mà Nga không lên tiếng giúp một lời cho TC khi TC bị thế giới phản đối vì năm ngoái đưa giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế của VN.

VNCS là chế độ cùng CS với TQ, thân tiết lâu đời với TC, mà vì bất bình vấn đề TC lấn chiếm biển đảo, càng ngày càng xích lại gần Mỹ. Chuyến đi Mỹ của Tổng Bí Thư Đảng CSVN Nguyễn phú Trọng, được TT Obama đặc cách tiếp rước trong phòng Bầu Dục cho thấy tiến trình phát triển đối tác chiến lược giữa Washington và Hà nội càng ngày càng chặt.

Quậy đục nước biển, ngập đảo ở Biển Đông, TC vô tình tạo cơ hội cho Mỹ trở về Á châu, bao vây TC với chiến lược chuyển trục quân sự, tái cân bằng lưc lượng và bao vây kinh tế TC với chủ trương thành lập TPP, gồm 12 nước của đôi bờ Thái Bình Dương, có VNCS mà không có TQCS.

Nếu tính tốn kém công của, TC tốn kém hơn Mỹ quá nhiều. Nào phải đưa đủ loại tàu, máy bay, giàn khoan, liên tục ra để chứng tỏ sự hiện diện trên các vùng biển, đảo mà TC giành giựt của các nước, nhưng chưa chiếm được một đảo mới nào. Trừ Hoàng sa và Trường sa của VN, TC đã lấy vào thời Chiến Tranh Lạnh.

Nhung nếu tính tổn thất ngoại giao, giao thương trong vùng Á châu Thái Bình Dương và trên thế giới nữa, thì TC tổn thất vô số kể. Xuất cảng giảm 7 tới 8% khá lâu, thị trường chứng khoán tuộc dốc liên tục, hầu hết các nguyên thủ quốc gia Tây Âu, Bắc Mỹ không dự cuộc diễn binh lớn nhứt mà TC muốn giương oai diệu võ trở thành đại siêu cường quân sự, là những dấu chỉ hiện tiền TC thất bại kinh tế, chánh trị ngoại giao.

VNCS là một đồng minh, đồng chí của TC mà vẫn không chịu nổi TC, đang tìm đủ mọi cách để phát triển hợp tác toàn diện với Mỹ. Nói theo kiểu bình dân của phó thường dân Nam bộ, thì TC làm mọi cho Mỹ hưởng. Nói theo lẽ được thua, lợi hại của chánh trị ngoại giao thì TC làm hùm, làm hổ vô tình lùa các nước Á châu Thái Bình Dương vào vòng ảnh hưởng của Mỹ, tạo thêm uy thế, uy lực cho Mỹ như lá chắn che chở các nước, tạo thời cơ thuận lợi cho Mỹ chuyển trực quân sự sang Á châu Thái Bình Dương, được Nhựt, Úc phần nào chia xẻ công tác và quân phí.

Bên cạnh đó để ngăn chận TC bành trướng, với sự yểm trợ của Mỹ nhiều liên minh phòng chống TC đã thành hình: Mỹ, Nhựt, Úc, Ấn; Nhựt, Phi, Việt, Mã.

Các nước trong ASEAN, TC viện trợ hào phóng như Miên, Lào, cũng không mạnh dạn phò tá TC trong hội nghị ASEAN.

Đứng trên phương diện bành trướng, mở rộng, chiếm cứ đất đai, biển đảo, TC tranh giành biển đảo của Nhựt, Phi, Việt nhưng đâu có hoàn toàn chiếm đóng được. Những nước này cũng còn một số đồn bót, cơ sở song song với TC. TC cũng chưa khai thác tài nguyên gì được. Nhưng TC tốn kém rất nhiểu để lắp biển, bồi đảo, xây cất công trình để chứng tỏ chủ quyền nhưng chẳng có nước nào thừa nhận.

Và quan trọng nhứt TC, cũng chưa có thể kiểm soát Biển Đông dù sau khi quân sự hoá, lập đảo nhân tạo, phi đạo ở quần đảo Trường sa. Mỹ đã nhơn danh bảo vệ tụ do hàng hải, hàng không vùng Biển Đông, cho tàu và máy bay tuần tra, TC không thể nào kiểm soát được con đường hàng hải huyết mạch mà Biển Đông là hành lang của nó.

Xét về như cầu chiến lược, TC cần tự do hành hải, cần hoà bình ổn đinh của Biển Đông trước đây hơn sau khi TC mưu toan bành trướng kiểm soát. TC cần an ninh đối với các tuyến hàng hải ở Biển Đông, và phụ thuộc vào chúng nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác.

Dù đây là con đường hàng hải 70% hàng hoá sản xuất của thế giới qua đây, dù mỗi năm 5.000 tỷ Mỹ kim hàng hoá Mỹ qua lại đây. Nhưng nền kinh tế sống còn của TC, nhập cảng nguyên liệu, xuất cảng hàng hoá, đánh bắt cá của TC, một nước mà TC tự hào là công xưởng của thế giới cần thiết và lệ thuộc con đường hàng hải huyết mạch nay hơn bất cứ nước nào.

TC quậy nhưng không thể nào chiếm lấy được con đường hàng hải này. Có xung đột, TC là nước chết trước vi bị Mỹ, Nhựt, Úc, Ấn phong toả, kinh tế TC sẽ suy sụp trong vòng 2 tháng nếu bị phong toả. Một minh Mỹ thừa sức phong toả vì hải lực của TC chỉ bằng ¼ của Mỹ.

Ngay khi TC khống chế được Biển Đông, thì các quốc gia khác, ngoại trừ Trung Quốc, vẫn còn có một con đường khác để vận chuyển; đó là những tuyến đường xung quanh sườn phía nam Indonesia. Cụ thể là eo biển Lombok, eo biển Ombai, eo biển Makassar và biển Philippines – chỉ tốn kém thơi gian và nhiên liệu hơn thôi.

Trong khi đó, Trung Quốc hoàn toàn phụ thuộc Biển Đông vì mô hình phát triển kinh tế của nước này dựa vào các ngành công kỹ nghệ sản xuất hàng rẻ để xuất cảng nằm theo bờ biển và ở miền Nam TQ, như các hải cảng đặt tại Hồng Kông, Thẩm Quyến và Quảng Châu. 40% GDP của TC đến từ xuất cảng; bất an, lộn xộn ở Biển Đông sẽ bóp nghẹt nền kinh tế Trung Quốc.

TC làm lợi cho Nhựt, là kỳ phùng địch thủ kinh tế, quân sự của TC trong lịch sử và hiện kim. Vì TC bành trướng Mỹ để cho Nhựt gián tiếp tu chỉnh hiến pháp chủ hoà, được tăng cường, hiện đại hóa quân đội và có quyển viện trợ các nước và đưa quân ra ngoại quốc qua đạo luật gọi là “phòng vệ tập thể.” Hạ Viện đã thông qua và Thượng Viện cũng thế vì Đảng của Thủ Tướng Abe đều đa số ở lưỡng viện. Mỹ còn yểm trợ Nhựt làm đầu máy kéo thúc đẩy, viện trợ cho các liên minh chống TC trong vấn đề biển đảo ở Á châu và Úc Châu Thái Bình Dương nữa.

Trên phương diện tâm lý chánh trị toàn thế giới, vì vấn đề Biển Đông, TC trở thành nước bị “thiên hạ” ghét nhứt.

Mới đây Trung tâm nghiên cứu Mỹ Pew Research Center, một trung tâm điều tra có uy tín, đã thăm dò dư luận ở 44 nước trên thế giới, trong thời gian từ 18/4 đến 8/5/, công bố kết quả ngày 14/07/2014, cho thấy tổn hại của TC và lợi lộc của Mỹ, liên quan đến hành động của TC dùng sức mạnh, ngang ngược giành giựt biển đảo của các nước Á châu Thái Bình Dương. Việt Nam, Nhật Bản và Philippines là ba quốc gia dân chúng coi TC là mối đe dọa lớn nhất, và Mỹ là đồng minh đáng tin cậy nhất. 74% người Việt ở VN, 68% người Nhựt và 58% Phi luật tân coi TC là chế độ nguy hiểm nhứt. Hàn Quốc 83%, và Ấn Độ 72% cũng lo ngại TC. Trung tâm Pew đặc biệt ghi nhận lo ngại về nguy cơ chiến tranh có thể xảy ra vì TC. Tỉ lệ lo ngại này cao nhất ở Philippines 93%, Nhật 85%, Việt Nam 84% và Hàn Quốc 83%. Hai phần ba người Mỹ được hỏi (67%) cũng lo lắng chiến tranh có thể xảy ra vì mâu thuẫn lãnh thổ giữa Trung Quốc và các nước.

Mấy tháng trước đây, tổ chức PEW có tổ chức một cuộc thăm dò, kết quả cho thấy đại đa số cho TC là một siêu cường, nhưng bị ghét nhứt thế giới. Ghét TC nhứt là dân Mỹ, kế là Đức, Hàn Quốc, Philippines và Nhật Bổn.. Mỹ đệ nhứt siêu cường thế giới thì coi TC là kẻ thù số 1, theo thăm dò của Viện Gallup.

Thành ra không những TC thua Mỹ ở Biển Đông mà thua trên toàn cầu. TC càng quậy nữa thì càng lún, càng chìm./.(Vi Anh).

2 tháng 9 – Hãy thôi kèn trống nhộn nhạo ăn mừng!

2 tháng 9 – Hãy thôi kèn trống nhộn nhạo ăn mừng!

Song Chi

RFA

000_Hkg10206358-622.jpg

Nhà cầm quyền VN tưng bừng kỷ niệm 70 năm VN tuyên bố độc lập.

AFP

Vào ngày 9.8.2015 vừa qua Singapore đã long trọng kỷ niệm 50 năm ngày độc lập của đảo quốc này. Thực sự, chính phủ và người dân Singapore hoàn toàn có thể tự hào, vui sướng vì những gì mà họ đã đạt được. Chỉ sau 50 năm đối với một quốc gia nhỏ bé, thuộc địa cũ của Anh quốc, nay Singapore đã phát triển nhanh chóng trở thành một trong những quốc gia giàu có nhất thế giới, với những thành tựu nổi bật về kinh tế, giáo dục, y tế. Và mặc dù vẫn còn bị chỉ trích là một chính phủ độc tài, cũng như sự thiếu vắng về tự do ngôn luận và chính trị, nhưng ít nhất người dân Singapore đã và đang được sống trong một xã hội ấm no, thịnh vượng, thượng tôn pháp luật, chính phủ minh bạch. Đất nước này nhận được sự ngưỡng mộ của các nước, là một trong những biểu tượng hóa rồng nhanh chóng của khu vực và thế giới.

Sắp tới, có lẽ người Đức sẽ kỷ niệm 25 năm thống nhất đất nước (3.10.1990-3.10.2015) và họ cũng hoàn toàn có thể tự hào, hạnh phúc vì đã thống nhất không đổ máu, và vì Tây Đức không bị Đông Đức quyết tâm “giải phóng” bằng mọi giá nên khi cần thiết, người dân cả hai miền có cơ hội để so sánh và lựa chọn một thể chế tốt đẹp hơn. Sau 25 năm, người Đức đã nỗ lực rất nhiều để san bằng khoảng cách giữa hai miền Đông-Tây và nước Đức hiện nay là đầu tàu về kinh tế cũng như trong nhiều lĩnh vực khác ở châu Âu.

Đừng quên, Đức là nước đại bại trong chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Một quốc gia khác cũng bị đại bại và phải chịu sự chiếm đóng của nước ngoài là Nhật Bản, nhưng từ sau chiến tranh, Nhật tập trung phát triển kinh tế, và chỉ đến cuối thập niên 60 của thế kỷ XX Nhật Bản đã hoàn thành công cuộc công nghiệp hóa, trở thành một nước tư bản phát triển. Nhắc đến Nhật là nhắc đến những thành tựu về kinh tế, đặc biệt về công nghiệp điện tử, kim khí, máy móc, xe hơi, hàng tiêu dùng… với những thương hiệu hàng đầu thế giới và đảm bảo uy tín về chất lượng; là nhắc đến những giá trị Nhật Bản không chỉ trong kinh tế mà cả về văn hóa, con người.

Kỷ niệm 70 năm chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, và sự thất bại của chủ nghĩa phát xít (9.1945-9.2015), vào thời điểm này, người Nhật có thể nhẹ nhàng, không mặc cảm khi nhìn lại quá khứ, không những thế, họ có quyền tự hào vì đã thay đổi hướng đi và đã từ đống tro tàn vươn mình đứng dậy.

Và còn nữa, những ví dụ khác của thế giới…

Chỉ mình đảng “tự sướng”?

Ngày 2.9 năm nay nhà cầm quyền VN cũng tưng bừng kỷ niệm 70 năm VN tuyên bố độc lập và được lãnh đạo bởi đảng cộng sản. Một chương trình kỷ niệm hoàng tráng và tốn kém đã được chuẩn bị tử trước đó mấy tháng. Tất nhiên, truyền thông nhà nước sẽ được chạy hết công suất để ca ngợi công ơn đảng và nhà nước, để nhắc đến những thành tựu của “thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử, thời đại Hồ Chí Mính” v.v và v.v…

000_Hkg10206480-400.jpg

Nhà cầm quyền VN tưng bừng kỷ niệm 70 năm VN tuyên bố độc lập. AFP PHOTO.

Thế nhưng có thật 90 triệu người dân cảm thấy tự hào, vui sướng hay chỉ mình đảng “tự sướng”?

Có gì đáng để vui mừng cho 70 năm của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN nếu nhìn sang những thành tựu của nhiều nước khác, với thời gian ngắn ngủi hơn?

VN hôm nay có thật là một quốc gia độc lập, tự do, hạnh phúc như câu nói luôn luôn xuất hiện trong mọi văn bản, giấy tờ của nhà nước?

Ngay từ đầu, đảng cộng sản đã chọn con đường giành độc lập bằng hình thức bạo lực cách mạng, sau này lại lựa chọn thống nhất đất nước bằng chiến tranh, giữ chính quyền bằng bạo lực và sự cai trị, bất chấp nhân tâm, sự lựa chọn đó đã dẫn đến quá nhiều đau thương, mất mát. Cuộc nội chiến 20 năm với hơn 3 triệu người đã ngã xuống, lẽ ra hoàn toàn có thể tránh được, tiếp đó lại chiến tranh biên giới với Trung Cộng, cuộc chiến với Campuchia…đã tàn phá đất nước, hủy hoại sinh lực của dân tộc VN. Bên cạnh đó là vô số những chính sách sai lầm về kinh tế, quản lý đất nước, sử dụng con người, đẩy đất nước thục lùi hàng chục, hàng trăm năm về nhiều mặt, hàng triệu người bỏ nước ra đi trong đó gần một nửa vĩnh viễn nằm lại dưới biển sâu, tạo nên một trong những cuộc di dân lớn nhất trong lịch sử VN và cả thế giới trong thế kỷ XX.

Cho đến tận hôm nay, VN vẫn bị kìm hãm không thể phát triển vì những cải cách nửa vời không triệt để, vì tầm nhìn hạn hẹp, vị kỷ, chỉ muốn bám chặt lấy quyền lực bằng mọi giá của đảng và nhà nước cộng sản.

Hậu quả VN ngày nay đứng ở đâu trên thế giới, đã đạt được những thành tựu gì, đóng góp được gì cho nhân loại, vị thế của VN và ngay cả của người Việt trong mắt bạn bè thế giới như thế nào… Đó là những câu hỏi không khó để trả lời.

Nhà nước cộng sản VN đã tự sướng, đã ngất ngây với những thành tích chiến thắng quá đủ và quá lâu rồi. Giờ là lúc hãy nhìn thẳng vào sự thật, để biết đau biết nhục vì sự thua kém về nhiều mặt của đất nước so với các nước khác, vì người dân mình đa số vẫn còn nghèo quá, khổ quá, vẫn còn phải chạy vạy kiếm ăn từng bữa và hàng triệu người khác đang tha hương tứ xứ đi làm thuê khắp thế giới trong lúc hàng chục, hàng trăm ngàn người khác nữa vẫn đang tiếp tục tìm mọi cách bỏ nước ra đi…

Dù ở thế kỷ XXI, những khái niệm về tự do, dân chủ, những quyền con người căn bản vẫn còn là xa xỉ với người Việt.

Cần sám hối thay vì dửng dưng trước thời cuộc

Chưa bao giờ nhà nước này biết sám hối, biết nói một câu hay có một hành động tỏ sự hối tiếc, ân hận cho những sai lầm, những tội ác mà họ đã gây ra cho đất nước này, dân tộc này.

Và không chỉ riêng đảng và nhà nước cộng sản VN phải sám hối.

Tất cả chúng ta, hơn 90 triệu người VN trong và ngoài nước cũng cần cảm thấy nhục, đau thay vì vui mừng, cần sám hối thay vì dửng dưng trước thời cuộc.

Tất cả những người dân miền Bắc thuộc thế hệ U90 cho tới U50 đã từng tin vào những lởi đảng cộng sản nói, đã từng góp phần vào xây dựng nên chế độ này, hãy sám hối, như những người đã nhận ra sự thật. Như tướng Trần Độ, nhà báo Bùi Tín, nhà văn Vũ Thư Hiên, nhà văn Dương Thu Hương, cựu lãnh sự VN tại Geneva Đặng Xương Hùng, nhà báo Lê Hiếu Đằng và nhiều, rất nhiều những người khác, như những lời tâm sự chân thành của hai anh em đảng viên đảng cộng sản Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn trong bài “Phỏng vấn Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn-Làm cách mạng không phải để dựng nên một nhà nước độc tài”, do tác giả Phạm Hồng Sơn thực hiện, đăng trên Talawas từ tháng 4.2012:

“…Phạm Hồng Sơn: Nếu được sống lại thời tuổi trẻ một lần nữa, các ông có tiếp tục ủng hộ và đi theo Việt Minh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam hay ĐCSVN?

Huỳnh Nhật Hải: Không, không bao giờ.

Huỳnh Nhật Tấn: Tôi sẽ phải bình tĩnh hơn, tìm hiểu xem họ có ủng hộ và có tư tưởng dân chủ thực sự không, chứ không thể chỉ căn cứ vào lời nói và tuyên truyền của họ. Theo tôi, vấn đề dân chủ phải được đặt cao hơn vấn đề dân tộc vì chỉ có dân chủ mới giúp cho dân tộc được tự do đúng nghĩa và khi đó đất nước mới có nền độc lập bền vững.

….

Phạm Hồng Sơn: Nếu bây giờ vô tình hai ông gặp lại một người là cựu viên chức cũ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa và người đó chính là “kẻ thù” của ông trước 1975, điều trước tiên hai ông muốn nói là gì?

Huỳnh Nhật Tấn: Tôi có lỗi với dân tộc. Chính cái hăng hái, nhiệt huyết của tôi đã góp phần dựng nên chế độ độc tài hiện nay, đã vô tình đem lại sự đau khổ hiện nay. Và nếu xét về những căn bản để bảo đảm tự do cho nhân dân và độc lập cho dân tộc thì tôi cũng đã vô tình góp công sức đưa những người mang danh là “cách mạng” nhưng thực chất là vì quyền lực tới phá bỏ một chế độ đã được xây dựng trên những căn bản về tự do, dân chủ và nhân bản tại miền Nam Việt Nam.

Huỳnh Nhật Hải: Bây giờ nhìn lại, con đường chúng tôi đã đi trước 1975 là một con đường sai lầm. Sự nhiệt huyết lúc đó của chúng tôi đã đem lại bất hạnh hơn là hạnh phúc cho dân tộc.”

Không chỉ những thế hệ trước, tất cả những ai còn đang hưởng lợi lộc từ chế độ này nên quyết tâm bảo vệ chế độ đến cùng bất chấp lợi ích của đất nước, nhân dân. Những ai đến giờ này vẫn lợi dụng những kẻ hở của chế độ để đục khoét, vơ vét tài sản của đất nước, tiền thuế của nhân dân, làm giàu từ tham nhũng, từ những cung cách làm ăn bất chính, bất chấp những hậu quả thiệt hại nặng nề mà họ gây ra. Những ai cho đến giờ này vẫn ra sức bảo vệ, bưng bô chế độ, tiếp tục nói dối để lừa mị nhân dân.

Từ những công an viên, cánh tay đắc lực bảo vệ đảng, dựa vào đảng, vào nhà cầm quyền để tác yêu tác quái, xách nhiễu, hành hạ dân chúng, thậm chí bạo hành dân đến chết trong trại tạm giam, những dư luận viên ngày đêm ném đá, bôi nhọ, vu khống những người dám nói lên sự thật cho tới những “bồi bút”, “văn nô” ngày đêm sơn phết, tụng ca chế độ bất chấp lương tâm và lòng xấu hổ, những trí thức mũ ni che tai, trùm chăn với thời cuộc, tự cho mình là khôn ngoan, hoặc còn đang mải mê kiếm thêm danh lợi…

Vả phía bên thua cuộc, không chỉ những người tham gia vào cuộc chiến hay lớn lên ở miền Nam trước 1975 cần sám hối vì đã không thể giữ được miền Nam, dù biết rằng do những điều kiện khách quan, do bàn cờ thế cuộc được sắp xếp giữa các nước lớn, nhưng giá như hồi đó người miền Nam tỉnh táo hơn, quyết liệt hơn, thậm chí thủ đoạn hơn, cộng sản có lẽ đã không thể thắng. Và những con người vì ngây thơ chính trị hay vì nhẹ dạ, từng “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản”, góp phần dẫn đến sư sụp đổ của VNCH…

Không chỉ họ, thế hệ hôm nay trong và ngoài nước, trong đó có tôi, có chúng ta, cần phải sám hối bởi vì dựng nên chế độ là trách nhiệm của các thế hệ trước, nhưng giúp cho chế độ tồn tại là trách nhiệm của thế hệ hôm nay. Chúng ta đã quá giỏi chịu đựng nên chế độ này mới tồn tại lâu đến thế.

Sám hối để quặn lòng đau cho đất nước, để xót thương cho dân mình, cũng là thương chính mình và con cháu mình.

VN còn là một “quốc gia khó phát triển, không chịu phát triển” cho đến bao giờ?

Song Chi

Thật kỳ lạ

Thật kỳ lạ

Thật kỳ lạ khi thấy một tờ giấy bạc có giá trị quá lớn khi bỏ vào giỏ nhà thờ, nhưng lại quá nhỏ khi đi chợ mua sắm!

Thật kỳ lạ khi thấy một tiếng đồng hồ ở trong Nhà Chúa sao mà lâu thế, nhưng nếu mà đi xem xi-nê thì lại quá lẹ !

Thật kỳ lạ khi cầu nguyện thì chẳng biết nói gì, nhưng khi nói chuyện với bạn bè thì lại chẳng hết chuyện cà kê dê ngỗng để nói!

Thật kỳ lạ vì chúng ta thấy rất hồi hộp khi trận đá bóng phải kéo dài thêm mấy phút phụ trội, nhưng lại cầm ràm khi một bài giảng Thánh Lễ có vẻ dài hơn mọi khi!

Thật kỳ lạ vì chúng ta thấy khó khăn khi phải đọc một đoạn Kinh Thánh, nhưng lại rất dễ dàng đọc hàng trăm trang tiểu thuyết liên tu bất tận !

Thật kỳ lạ khi thấy nhiều người thích ngồi những hàng ghế đầu khi đi dự những buổi đại nhạc hội hay các trận đấu bóng, nhưng lại cứ tìm chỗ ngồi ở những hàng ghế cuối trong thánh đường!

Thật kỳ lạ khi chúng ta cần phải mất đến hai,ba tuần lễ trước để sắp xếp thời giờ cho những công việc của Nhà Chúa, nhưng lại dễ dàng thích ứng thời giờ cho những chương trình khác trong chớp nhoáng vào phút chót!

Thật kỳ lạ sao thấy quá khó khăn để nhớ một đoạn Kinh Thánh hầu có thể thuật lại cho người khác, nhưng lại rất dễ dàng để hiểu và nhớ những lời đàm tiếu gièm pha để kể cho người khác nghe!

Thật kỳ lạ sao chúng ta rất dễ tin những gì báo chí đăng tải, nhưng lại tỏ ra nghi ngờ, đặt vấn đề này kia về vấn đề Kinh Thánh dậy!

Thật kỳ lạ sao ai cũng muốn được lên Thiên Đàng mà lại không phải tin, không phải suy nghĩ, không phải nói hay làm gì cho đàng hoàng cả!

Thật kỳ lạ khi có thể gởi các câu chuyện bù khú tiếu lâm qua e-mail và nó sẽ được chuyển đi thật nhanh, nhưng khi gởi những gì liên quan đến Thiên Chúa thì người ta lại suy nghĩ cẩn thận xem có nên gởi đi chia sẻ với người khác hay không?

————————————————————————————

Học cả đời cũng chưa chắc làm được?

Một người nghèo hỏi Đức Phật: “Tại sao con nghèo như thế?”

Phật nói: “Vì con chưa học được cách bố thí cho người khác.”

Người ấy nói: “Con không có thứ gì cả, thì lấy gì con bố thí.”

Đức Phật dạy: “Cho dù con hoàn toàn không có cái gì, con vẫn có thể thực hiện bố thí 7 điều này:

1. – Bố thí nụ cười,

2. – Bố thí ái ngữ, nói lời hay.

3. – Bố thí tâm hòa ái, lòng biết ơn.

4. – Bố thí ánh mắt nhìn thẳng hiền từ.

5. – Bố thí hành động nhân ái.

6. – Bố thí nhường chỗ cho người cần.

7. – Bố thí lòng bao dung

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Tại sao Kitô Giáo phát triển nhanh tại Trung Hoa Cộng Sản?

Tại sao Kitô Giáo phát triển nhanh tại Trung Hoa Cộng Sản?

Vũ Văn An

(Viết theo “A Star in the East: The Rise of Christianity in China”)

Kitô giáo đang phát triển rất nhanh tại Trung Hoa Cộng Sản. Nguyên nhân rất có thể là vì đức tin phù hợp với kỹ thuật khoa học hiện đại.

Theo nhà xã hội học Rodney Stark, con số Kitô hữu tại Trung Hoa đang gia tăng ở mức 7% mỗi năm.

Rodney Stark và Xiuhua Wang là tác giả một cuốn sách xuất bản năm 2915 tựa là “A Star in the East: The Rise of Christianity in China” (Ngôi Sao Phương Đông: Sự Gia Tăng Kitô Giáo tại Trung Hoa). Stark tự coi mình là nhà sử học xã hội và hiện là đồng giám đốc của Viện Nghiên Cứu Tôn Giáo tại ĐH Baylor.

Hai tác giả trên ước tính rằng năm 1980, tại Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, chỉ có 10 triệu Kitô hữu, nhưng đến năm 2007, con số ấy là 60 triệu người, nghĩa là tính trung bình, mỗi năm sự gia tăng lên tới 7%. Như thế có nghĩa năm 2014, tổng số Kitô hữu tại Cộng Hòa này lên tới 100 triệu người.

Họ cho rằng sự gia tăng đáng kể trên do sự trở lại của những người được học hành nhiều hơn. Đây là lớp người đang cảm nghiệm một thứ bất tương hợp nào đó giữa nền văn hóa Á Châu cổ truyền và tính hiện đại trong lãnh vực khoa học kỹ thuật, một bất tương hợp đang tạo ra lỗ hổng tâm linh mà chỉ có Kitô Giáo mới lấp đầy.

Stark nói với hãng tin CNA ngày 14 tháng Tám vừa qua rằng các nhà trí thức Trung Hoa xác tín cao độ rằng họ phải hướng về Tây Phương mới có thể hiểu được thế giới họ đang sống… và họ xác tín rằng các tôn giáo Đông Phương không tương hợp với thế giới hiện đại, do đó họ cần hướng về Tây Phương để tìm triết lý và tôn giáo.

Theo Stark, các tôn giáo Đông Phương như Lão Giáo, Khổng Giáo và cả Phật Giáo nữa, đều phản tiến bộ; tất cả đều cho rằng thế giới đang đi xuống so với dĩ vãng vàng son, nên ta phải nhìn lại đàng sau, chứ không nhìn về đàng trước. Không tôn giáo nào trong số này thừa nhận rằng ta có khả năng hiểu được bất cứ điều gì đó về vũ trụ: vũ trụ này là một điều để ta chiêm niệm, chứ không phải là một điều để chúng ta thử nghiệm và lên lý thuyết về, vốn là việc thông thường của các nhà vật lý và hóa học. Quan điểm ấy không phù hợp với thế giới mà Trung Hoa hiện đại đang cảm nghiệm.

Stark tin rằng xã hội kỹ nghệ không có chỗ đứng thích hợp trong các quan điểm tôn giáo như trên. Và đây là động lực chính của việc Kitô giáo hóa Trung Hoa. Nó giải thích tại sao những người Trung Hoa có học nhất đã hăng say nhất trong việc gia nhập tôn giáo này.

Ông cũng cho rằng việc phát triển Kitô Giáo tại Trung Hoa sở dĩ đã diễn ra ngay cả thời kỳ bách hại dữ dằn nhất thời Cách Mạng Văn Hóa của Mao Trạch Đông, là vì “diễn trình trở lại này là một diễn trình vô hình; chính phủ không thể nhìn thấy nó”.

Theo Stark, việc trở lại đạo chủ yếu diễn ra nhờ các mạng lưới xã hội, nên nó vô hình đối với chính phủ. Ông cho rằng người Trung Hoa sống tại các khu vực nông thôn trở lại Kitô Giáo nhiều hơn người thị thành vì các nối kết xã hội của họ mạnh mẽ hơn, và nhờ thế, Kitô Giáo được truyền ở đó dễ dàng hơn.

Những cuộc gặp gỡ theo kiểu dựng lều của phong trào phục hưng (Revivalist tent meetings) không phải là cách ở đây, vì ở đây, người ta tụ tập cách thân mật hơn, âm thầm hơn.

Các nhà truyền giáo Công Giáo đã từng có mặt ở Trung Hoa từ thế kỷ 16, và tới năm 1949, khi Cộng Sản kiểm soát toàn bộ đất liền, số người Công Giáo là gần 3.3 triệu với hơn 5 nghìn nhà truyền giáo ngoại quốc. Nay con số ấy khoảng trên dưới 13 triệu người.

Chính phủ Cộng Sản trục xuất tất cả các nhà truyền giáo ngoại quốc và lập ra Hội Công Giáo Ái Quốc Trung Hoa, một thứ Giáo Hội Công Giáo do chính phủ kiểm soát. Giáo Hội này hiện hữu đối nghịch với Giáo Hội hầm trú hiệp thông với Tòa Thánh. Giáo Hội hầm trú này bị bách hại nặng nề và việc đề cử giám mục thường không được nhà cầm quyền Trung Hoa nhìn nhận.

Tuy nhiên, theo Stark, việc tấn phong giám mục phụ tá Joseph Zhang Yinlin ngày 4 tháng Tám vừa qua là tin quan trọng nhất, theo viễn tượng Công Giáo, phát xuất từ Trung Hoa trong nhiều năm qua.

Đức Cha Zhang được cả chính phủ Trung Hoa lẫn Tòa Thánh công nhận, một việc rất đáng chú ý, vì việc đề cử giám mục từng là phạm vi tranh chấp nổi bật nhất giữa đôi bên trong suốt 60 năm qua.

Stark cho rằng đây là một thỏa thuận rất lớn vì suốt từ năm 1950, nhà cầm quyền Trung Hoa vẫn bác bỏ sự dính líu của bất cứ tôn giáo nào có mối liên kết với ngoại bang. Ông cũng cho rằng người Thệ Phản dễ dàng chấp nhận chính sách này, nhưng người Công Giáo thì không. Đối với họ, không có chuyện bác bỏ Rôma được.

Stark nhắc lại vụ tấn phong giám mục đầy sóng gió cho Đức Cha Thaddeus Ma Daqin năm 2012: ngài vốn thuộc Hội Công Giáo Ái Quốc nhưng khi được tấn phong, đã long trọng tuyên bố từ bỏ Hội này, khiến bị giam tại nhà cho tới nay.

Dựa vào trường hợp trên, Stark cho rằng vì đã có sự thoả thuận giữa Bắc Kinh và Vatican về việc cử nhiệm Đức Cha Zhang, nên không còn lý do gì khiến người Công Giáo cứ tiếp tục hầm trú nữa. Ông cho rằng phần lớn người Công Giáo Trung Hoa, kể cả những người Công Giáo Ái Quốc, đều là những người Công Giáo đích thực, họ chỉ giả vờ “ái quốc” mà thôi.

Sự thay đổi trong ba năm nay, từ ngày tấn phong Đức Cha Ma tới ngày tấn phong Đức Cha Zhang, quả là lớn lao: “Tôi hết sức ngạc nhiên trước sự thay đổi này”.

Stark có phần thái quá khi cho rằng tại nhiều ngôi làng, các lãnh tụ Cộng Sản địa phương công khai tuyên xưng đức tin Kitô Giáo của mình bằng cách đặt Thánh Giá ở cửa ra vào, trên tường nhà. Ông cũng cho hay, tại các thành phố, Kitô hữu kín đáo hơn, nhưng rất đông con cái nam nữ của các viên chức Cộng Sản trở lại Kitô Giáo. Và nếu tới khuôn viên các đại học ưu tú, bạn sẽ hết sức ngạc nhiên trước hiện tượng các Kitô hữu cảm thấy như ở nhà, theo cách mà “bạn không thấy tại các cao đẳng Kitô giáo Hoa Kỳ”.

Thậm chí ông cho rằng có rất nhiều giáo sư Kitô Giáo, và Kitô Giáo mạnh nhất tại các đại học nơi các đảng viên tương lai của Đảng Cộng Sản theo học. Đây có thể là thành phần của điều đang xẩy ra ở hậu trường: càng ngày người ta càng cảm thấy khó chịu khi phải đẩy lui Kitô Giáo.

Tiếp tục triệt hạ thánh giá

Nhiều người nhắc tới sự kiện mới đây: Đài Truyền Hình Trung Hoa, hôm thứ Bẩy, 15 tháng Tám vừa qua, đã dành một chương trình đặc biệt về Đức Phanxicô khi tường thuật lời lẽ hiệp thông của ngài đối với thảm họa nổ hóa chất tại Thiên Tân khiến hơn 100 người chết và rất nhiều người bị thương.

Chương trình truyền hình trên cộng với việc tấn phong Đức Cha Zhang mới đây được nhiều người chào đón như một dấu chỉ tích cực. Tuy nhiên, không ai quên được sự kiện này: Chủ Tịch Trung Hoa, Xi Jinping, tiếp tục chính sách bài Kitô Giáo của ông ta: các lực lượng an ninh nhà nước đục bỏ thánh giá khỏi các tháp cao, vòng cung, mái nhà của gần 4,000 ngôi nhà thờ ở tỉnh Zhejiang.

Thành thử nhà báo John Allen cho rằng cần phải thận trọng trước sự cởi mở của Trung Hoa đối với Đức Phanxicô, không nên giải thích quá lạc quan đối với một câu truyện đã kéo dài cả 60 năm nay. Allen ngầm cho hiểu: đây có thể chỉ là chiến lược “lùi một bước tiến hai bước” cũ mèm của Trung Hoa.

Về việc Đài Truyền Hình Trung Hoa dành chương trình đặc biệt nói về Đức Phanxicô một cách có thiện cảm, theo Allen, chỉ là để phục vụ mục tiêu chính trị ngắn hạn chứ không hẳn để khai quang nẻo đường tiến tới bang giao trọn vẹn.

Mục tiêu ấy là cố gắng của Chủ Tịch Jinping trong việc làm tịt ngòi các chỉ trích nội bộ cho rằng vụ nổ là do luật lệ an toàn kỹ nghệ không thỏa đáng. Trong bối cảnh này, việc làm nổi lời hiệp thông đáng kính của các nhà lãnh đạo thế giới, nhất là của giáo hoàng, sẽ làm dân Trung Hoa tin rằng đây là việc làm của Ông Trời, chứ không hẳn do sơ xuất của con người.

Allen cho biết thêm rằng việc tấn phong Đức Cha Zhang cũng nhằm mục tiêu chính trị ngắn hạn, tức làm dịu sự chống đối của người Công Giáo tại Tỉnh Zhejiang trước việc các lực lượng an ninh chính phủ được huy động triệt hạ các thánh giá khỏi gần 4,000 nhà thờ.

Chứ nếu nới rộng gọng kìm kiểm soát tôn giáo, tại sao họ không trả tự do cho Đức Cha Ma Daqin bị giam đã hơn 3 năm qua?

Cho tới nay, vẫn còn ít nhất 2 vị giám mục Công Giáo khác và 6 vị linh mục đang ngồi tù tại Trung Hoa từ năm 1997. Mới tháng Hai vừa qua, thân nhân của Đức Cha Cosmas Shi Enxiang, 94 tuổi, được nhà cầm quyền thông báo là ngài đã qua đời. Đó là tin tức đầu tiên về vị giám mục này kể từ ngày ngài bị bắt cách nay 14 năm, đúng vào Thứ Sáu Tuần Thánh năm 2001; hết phân nửa thời gian này, ngài phải lao động khổ sai ở tuổi trên 80!

Chính vì thế, các chuyên gia lâu đời về tự do tôn giáo khó có thể vội kết luận rằng các dấu hiệu cởi mở trên có tính quyết định.

Riêng đối với Vatican, phương thức lâu nay vẫn là hướng về hòa giải với Bắc Kinh qua việc nhấn mạnh rằng: người ta có thể vừa là người Công Giáo tốt vừa là một công dân Trung Hoa hết dạ trung thành. Điều này có nghĩa tránh né bất cứ tuyên bố hay cử chỉ công khai nào xem ra khiêu khích và tìm đủ dịp để chứng tỏ thiện chí. Phương thức này có thể được coi như một phán đoán tốt, nhưng cũng có thể bị coi như một thiếu gân cốt, tùy theo quan điểm từng người. Dù sao, theo Allen, không nên vội vã ngả theo một trong hai suy đoán vừa kể.

Stark cũng tường trình về vụ triệt hạ thánh giá tại tỉnh Zhejiang nhưng lại cho rằng thứ bách hại có tính địa phương hóa này có thể vì người đứng đầu tỉnh ấy tỏ ra phẫn nộ trước việc nới lỏng tại các nơi khác.

Vũ Văn An

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi