Câu chuyện về tính lương thiện

Câu chuyện về tính lương thiện

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Người ta định nghĩa “lương thiện” là tốt lành, không vi phạm đạo đức, pháp luật. Các phát biểu về lương thiện, có lời của nhà văn Nhất Linh: “Muốn cho người ta dễ có lòng thiện thì làm thế nào cho người ta khỏi nghèo khổ.” Một nhân vật khác là E. Rueys thì cho rằng: “Khi giàu làm người lương thiện không gì dễ bằng, khi nghèo nàn làm được người lương thiện mới khó!” Nói như vậy có khác chi cho rằng phần đông người nghèo ít lương thiện hơn người giàu có.

Người ta căn cứ vào chuyện một cô người Mexico đến dọn dẹp nhà cửa cho một người chủ Việt Nam đã lấy trộm một cái nhẫn kim cương mà người chủ quên bỏ đầu giường, hay chuyện những đứa trẻ đi lượm bao ny-lông ngày trước ở quê nhà đánh cắp một đôi dép hay vơ một cái áo đang phơi trên cây sào. Nhưng cũng không phải vậy, mà trong xã hội này người ta cho rằng kẻ nghèo hèn đều đi ăn cắp và người giàu, có một cuộc sống tốt lành, kiểu nói “bần cùng sinh đạo tặc.” Ðó chính là lý do những chính trị gia như Lý Quang Diệu của Singapore, để cải tạo xã hội, phải làm cho dân chúng được cơm no, áo ấm, ai cũng giàu có.

Chúa Jesus thì nói: “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn một người giàu vào nước Thiên Chúa (Mt. 19,24).” Người ta có thể hiểu câu nói này theo cách: Người giàu khó là một người lương thiện.

Hiện nay, nạn cướp giật điện thoại cầm tay xẩy ra thường ngày ở Việt Nam, thì một người bán vé số nghèo nàn, lượm được một cái “iPhone 6 plus” đem giao lại cho người mất, trong khi hàng triệu cán bộ lợi dụng chức, quyền, là những người giàu, dựa vào đảng, lương vài trăm đô la nhưng có nhà, xe, đất hàng triệu đô la, nhờ sự thiếu lương thiện, nói rõ là bất lương: “Con ơi nhớ lấy câu này, cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan!”

Một chị bán ve chai nhặt được số tiền 5 triệu Yen ($4,200) lập tức có những kẻ kém lương thiện, đến làm phiền, có người hăm dọa đòi anh chị chia số tiền nhặt được. Một phụ nữ đến nhận vơ đó là tiền của chồng bà đang lao động ở Nhật, gửi về cho mình, bà cất giấu trong thùng loa cũ rồi quên. Một người khác đem sổ đỏ “dỏm” đến cầm.

Một ông giám đốc ở Hà Nội khuyến khích sự lương thiện của người bán ve chai, đề nghị chị đem trả số tiền này lại cho chính phủ Nhật, vì giấy bạc này do Nhật in ra, là thuộc quyền sở hữu của chính phủ Nhật! Theo ông này, phải trả lại tiền cho nước Nhật để “nâng cao hình ảnh thân thiện, nhân văn của người Việt Nam đối với đất nước Nhật nói riêng và bạn bè quốc tế nói chung.” Trong khi bao nhiêu đứa cướp giật, ăn cắp, buôn lậu làm xấu mặt Việt Nam ở đất nước Nhật, thì ông quan chức này đề nghị chị bán ve chai, hy sinh, dùng tính lương thiện của mình để cứu vãn cái mặt Việt Nam. Mặc dầu ông có hứa là sẽ vận động thiên hạ gây quỹ, đóng góp lại cho chị, nhưng đó là chuyện “cái mồi in bóng dưới nước.”

Hy vọng các quan chức Việt Nam từ đây về sau, ai cũng có lòng lương thiện cho dân đỡ khổ, nhưng xúi người khác lương thiện có lẽ dễ hơn chính mình phải lương thiện.

Chúng ta dạy trẻ em phải lương thiện trong khi, hơn 20 con heo đất của học sinh tại Trà Vinh để giúp học sinh nghèo bị người lớn ngành giáo dục “rút ruột” 20 triệu đồng. Chúng ta dạy trẻ sống công chính trong khi chúng ta có những “tên” hiệu trưởng như Sầm Ðức Xương sống bằng nghề “ma cô.”

Trong một xã hội như hiện nay, dạy cho con lương thiện, có nghĩa là đưa con vào con đường chết đói, vì đời này: “Thẳng thắn, thật thà thường thua thiệt, lọc lừa lươn lẹo lại lên lương!”

Nói về nghề lương thiện, không biết ở Việt Nam người ta sắp xếp cao thấp thế nào về mức độ lương thiện qua các ngành nghề. Tuy nhiên, tạm thời chúng ta hãy cho nghề lương thiện nhất là nghề bán ve chai, có muốn bất lương cũng khó lòng. Và nghề nào là nghề phi đạo đức nhất? Cứ nhìn tài sản của đám viên chức chính phủ và Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam, hoàn toàn không tương xứng với số lương bổng hàng tháng, chúng ta sẽ thấy rõ bọn sâu mọt chuyên đục khoét ngân khoản, tài nguyên đất nước và bóc lột “nhân dân” đến mức nào.

Viện Gallup ở Mỹ không thăm dò tính lương thiện qua giai cấp giàu nghèo mà qua nghề nghiệp. Ðứng đầu lương thiện nhất là ngành y, nhưng bác sĩ y khoa lại được xếp sau y tá, dược sĩ và bác sĩ thú y.

Ðược xếp đồng hạng sau đó là kỹ sư, giảng viên và linh mục (tỉ lệ tin cậy đều là 58%). Ít lương thiện hơn là cảnh sát và chuyên gia tâm lý.

Tệ hơn hết, người Mỹ cho rằng nghề bán xe hơi (car saleman) là nghề khó tin nhất, chung chiếu với nghề bán xe hơi là nghề quảng cáo, nghề bảo hiểm y tế và nhân viên bán bảo hiểm (tỉ lệ tin cậy từ 13% đến 12%). Các chính trị gia cũng được xếp hạng thiếu lương thiện như tỉ lệ tin cậy đối với các dân biểu chỉ có 14%, thượng nghị sĩ là 15%. Ðiều này có lẽ dân chúng thấy rõ hơn vào các mùa bầu cử.

Còn nghề ký giả thì không thấy cuộc thăm dò của Gallup nhắc đến.

“Nhà báo nói láo ăn tiền,” là một câu nói khá hàm hồ và ác cảm của ai đó đối với nghề báo. Phải chăng đó là loại nhà báo chuyên tường thuật các đại hội đảng hay tổng kết thi đua “sống và làm việc theo gương Hồ Chủ Tịch.” Thật tình, nguyên tác của nghề báo là viết sự thật, dù ở đâu, do đó đây cũng là một nghề “dễ chết” nhất. Ở Việt Nam hiện nay đã có bao nhiêu nhà báo vì nói sự thật, đã bị cho thôi việc, cầm tù hay bị ám hại.

Ủy Ban Bảo Vệ Ký Giả cho biết, trên thế giới, chỉ tính từ năm 1992 cho đến 2011 đã có khoảng 850 ký giả bị giết, nhiều nhất là vì lý do chính trị, chiến tranh, tham nhũng, nhân quyền và tội phạm, trong đó, 39% bị giết trong khi hành nghề vì lý do chính trị. Riêng tại Mỹ và Canada kể từ năm 1976, có ít nhất 15 vụ ký giả bị giết khi đang làm công việc của mình, trong số 15 người này có năm người gốc Việt. Những ký giả này không phải là nhà báo nói láo, mà nói quá thật theo quan điểm của mình, những sự thật làm mất lòng người khác.

Nhưng nghề “viết” cho phép kèm theo chữ “lách.” Và cũng nên thông cảm rằng, đôi khi không dám viết sự thật, không phải là vì thiếu lương thiện.

Chí Phèo đã từng lớn tiếng trước mặt Bá Kiến: “Tao muốn làm người lương thiện!” “Không được! Ai cho tao lương thiện?”

Ðôi khi làm người lương thiện không dễ!

VĨNH BIỆT ĐỒNG ĐỘI

VĨNH BIỆT ĐỒNG ĐỘI

Song Như

Tao với mầy sinh ra lầm thế kỷ

Dẫu cho ngàn bi luỵ cũng thừa thôi

Đau lần đầu nhức buốt trái tim côi

Đau muôn thuở có chi mà nghi kỵ…

Cuộc chiến tàn tấm thân mầy ma dại

Tao gợm lòng cay đắng biết bao nhiêu

Rút về quê chôn kiếp sống tiêu điều

Đêm trăn trở đau rên ngờ tiếng ngái…

Mỗi lần xa bạn bè nâng nỗi nhớ

Cho ngập lòng da diết hận sầu đau

Nước mắt rơi đâu biết máu pha màu

Mai xa cách chơi vơi miền lo sợ…

Rượu lưng ly tưới lên trên phần mộ

Một lần thôi cách biệt đến thiên thu

Rời trại giam quên mất cảnh tội tù

Tao trở lại công dân nghèo gian khổ…

Đời thế đó có chi mà xa lạ

Được thì lên như diều trong cơn gió

Thua thì lèn như chó chui tìm ngõ

Có gì hay mà nhân thế kêu ca…

Vĩnh biệt mày quên cuộc sống kiêu sa

Tao trở lại bên kia bờ tàn lụi

Chờ đến ngày vạch đất để mà chui

Đời kém vui bởi quanh mình không đã..

Liverpool.5-9-2015

Song Như

Kính tặng các thương binh…

HÃY ĐỂ TÂM YÊN TĨNH

HÃY ĐỂ TÂM YÊN TĨNH

Hôm ấy đạo sư có việc ở làng quê hẻo lánh và đưa đệ tử đi theo. Cả hai đều cuốc bộ. Dọc đường, đạo sư bảo đệ tử tạm nghỉ chân dưới một tàn cây xanh um, như cái dù lớn che nắng trưa chói chang. Cách đó xa xa là một dòng suối nhỏ chắn ngang. Đạo sư bảo : “ Thầy khát. Nhờ con lấy dùm thầy chút nước. “

Đệ tử mau mắn xách vò, thoăn thoắt bước tới con suối. Đến nơi, anh tần ngần nhìn dòng nước, rồi nhìn sang bên bờ kia. Bắt gặp một đàn bò còn ướt lông, hiểu ra cớ sự, anh quay lại gặp sư phụ, bộc bạch : “Thưa thầy, người ta mới vừa dắt bò qua suối. Nước bị quậy lên đục ngầu nên con không dám…”

Đạo sư ôn tồn : “ Được con. Vậy mình chờ một chút”.

Khoảng mười lăm phút sau, đạo sư bảo : “Lấy nước đi con!”

Đệ tử sốt sắng xách vò trở lại bờ suối. Anh thấy nước bớt đục hơn, nhưng vẫn chưa thể dùng được. Lập tức quay về chỗ sư phụ, anh áy náy nói :
“Thưa thầy, cũng chưa uống được đâu ạ.”

Đạo sư mỉm cười : “Không sao, con. Mình chờ thêm một chút nữa.”

Rồi ngài xếp bằng, hai bàn tay để lên lòng, sửa dáng cho thẳng lưng, lim dim đôi mắt, yên lặng dưỡng thân dưới bóng râm của tàn cây.

Khoảng nửa giờ sau, đệ tử ấy trở lại bờ suối. Bây giờ nước đã trong veo, có thể nhìn thấu lớp sỏi dưới đáy. Anh rón rén bước xuống để khỏi khấy động, và cố lựa chỗ tốt nhất để múc đầy vò nước mát mang về dâng thầy.

Đạo sư đón lấy cái vò, nhìn vào rồi bảo “Con xem. Làm thế nào con có được chỗ nước trong trẻo, mát ngọt này. Thật ra con chẳng làm gì cả. Con chỉ cần kiên nhẫn đợi cho cặn cáu có đủ thời gian để nó tự lắng xuống. Tâm con cũng thế. Khi tâm con nổi sóng, điên đảo, con đừng toan tính cách này cách kia để cố dẹp yên nó. Con hãy cho nó đủ thời gian để nó tự lắng xuống. Nên khi con giận ai, con đừng thèm nghĩ tới họ nữa, đừng ráng tranh cãi hơn thua. Con hãy hướng tư tưởng con sang việc khác. Tốt nhất là con làm thinh, giả mù, giả điếc và kiếm một chỗ mà ngồi thở đều đặn, nhẹ nhàng. Con chỉ tập trung vào hơi thở mà thôi.”

Đệ tử đáp: “Thưa thầy, nhưng thường đang lúc tâm trạng bất bình thì con lại không nhớ được cách để thoát ra !”

Đạo sư gật đầu : “Phải đó con. Thế nên chỉ sau khi phạm sai lầm xong rồi thì mình mới biết là mình sai lầm. Nhưng như thế vẫn còn khá hơn là không nhận ra sai lầm mình vừa mắc phải. Mỗi một trạng huống trong đời tu của con là một bài thi khảo sát trình độ tiến hóa tâm linh của con. Nhưng khi con ở vào trạng huống đó, thì con không hề nhớ là mình đang được thi, đang được thử thách. Đến khi kịp nhớ ra thì con đã thua mất rồi, thi rớt rồi !”

Dũ Lan Lê Anh Dũng

HÃY BỚT NHỎ NHEN, XẢO TRÁ ĐI!

HÃY BỚT NHỎ NHEN, XẢO TRÁ ĐI!

Nguyễn Thanh Giang

5-9-2015

Lướt web hôm nay thấy có ba chuyện buồn …cười:

1) Ngày 1 tháng 9 vừa qua người ta đến gắn huy hiệu 75 tuổi Đảng cho cụ Nguyến Trọng Vĩnh. Cụ đáp từ: “Tôi gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1939. Những đảng viên cộng sản như tôi hồi đó là đối tượng khủng bố, ruồng bắt của Nhà nước thực dân Pháp. Tuổi Đảng của tôi năm nay là 76 chứ không phải là 75. Việc trao tặng này lẽ ra phải thực hiện từ năm ngoái chứ không phải để sang năm nay …”.

Đại tá Nguyến Đăng Quang kể lại như sau: Sau khi Chi bộ 14 (nơi cụ Vĩnh sinh hoạt) biết cụ Vĩnh bị gây khó khăn trong việc nhận Huy hiệu 75 năm, Chi bộ đã họp 2 buổi để bàn và ra Nghị quyết về việc này. Cả 2 lần Nghị quyết đều có sự tán thành 100% của số đảng viên chi bộ có mặt (Chi bộ 14 có trên 80 đảng viên thì có gần 40 đảng viên là Giáo sư, Tiến sỹ và cán bộ trung cao cấp đã nghỉ hưu). Tất cả đều nhất trí kiến nghị lên Đảng bộ Phường, Đảng bộ Quận và Đảng bộ Thành phố phải trao Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng cho lão đồng chí Nguyễn Trọng Vĩnh.

Chi bộ 14 sau đó bị Đảng ủy cấp trên phê phán là vô nguyên tắc vì đã đưa kiến nghị vượt cấp! Nhưng chính họ không hiểu hoặc đã cố tình vi phạm quy định của Đảng là phải trả lời bằng văn bản các kiến nghị của cấp dưới, song họ cố ý lờ đi, buộc Chi bộ 14 phải gửi lên cấp trên tiếp theo, và Chi bộ 14 dự kiến sẽ gửi tiếp kiến nghị này lên Trung ương Đảng nếu Thành ủy Hà Nội cố tình không trao Huy hiệu 75 năm cho lão đảng viên Nguyễn Trọng Vĩnh!

Câu chuyện này chứng tỏ có những chi bộ đã “diễn biến” tốt, trong khi cấp trên nói chung còn rất lú. Thế mà người ta luôn luôn nói: Cấp trên của Đảng bao giờ cũng sáng suốt, chỉ ở dưới thực hiện sai. Chủ nghĩa Mác Lenin rất tuyệt vời, Liên Xô sụp đổ là do làm không đúng.

2) Cũng sáng 1 tháng 9 có cuộc đối đáp giữa anh Phạm Lê Vương Các với lãnh đạo trường Đại học Kinh Doanh & Công Nghệ Hà Nội như sau:

“Thầy hỏi: ‘Em có biết cô Y bên Cục An ninh không’? Tôi trả lời rằng biết vì tôi đã làm việc với cô Y mấy lần.

Rồi Thầy cho biết, bên Tổng Cục an ninh có báo cáo về trường hợp của tôi rồi Thầy nói thẳng thừng: “Em nên nghỉ học ở trường này đi, rút lại hồ sơ và kiếm trường khác mà học”.

Tôi choáng váng mặt mày, tim đập thình thịch, 2 hàm răng bắt đầu run lên và va vào nhau, lỗ tai bắt đầu nóng lên… Tôi im lặng nhìn đăm chiêu ra ngoài cánh cửa, phải mất 2 đến 3 phút sau tôi mới lấy lại bình tĩnh và hỏi: “Thầy cho em biết lý do?”

Thầy nói: “Trường này đào tạo đa ngành, nên đào tạo ngành Luật không tốt bằng mấy trường khác đào tạo chuyên về Luật. Em nên kiếm những trường chuyên về Luật, học ở đó thì sẽ tốt cho em hơn”.

Tôi thở dài… sau một lúc im lặng suy nghĩ tôi đã trả lời rằng: “Em sẽ không rút hồ sơ và sẽ tiếp tục học ở trường này. Vì em đã nhập học được một tuần rồi, nên không thể thay đổi lựa chọn được nữa, vì đã quá muộn.”

Thầy trả lời lại là chưa muộn đâu, bây giờ vẫn còn có thể được, nhưng tôi vẫn giữ nguyên quyết định của mình.

Thầy bắt đầu hơi lớn tiếng và đi thẳng vào vấn đề: “Ai cũng có lý tưởng của riêng mình, em có lý tưởng tự do dân chủ, còn chúng tôi có lý tưởng Cộng sản. Trường này do những người Cộng sản lập ra, và sẽ đào tạo ra những con người thuộc về chế độ chính trị Cộng Sản này.”

Tôi cũng lớn tiếng trả lời: “Khi dự tuyển vào trường này em không thấy chỗ nào giới thiệu trường này là do những người Cộng Sản lập ra, mà trường này là trường Dân lập. Em cũng không quan tâm và không cần biết trường này do Cộng Sản hay Tư Bản lập ra.. Và em cũng nói cho thầy biết, chức năng cao cả của giáo dục không phải là để đào tạo ra những con người thuộc về chế độ chính trị. Mà là đào tạo ra những con người tự do trước chế độ chính trị”.

Thầy: “Nếu không đào tạo ra những con người của chế dộ chính trị thì cũng đào tạo ra những con người để phục vụ cho chế độ chính trị. Giáo dục của Anh, Pháp, Mỹ cũng đào tạo ra những con người để phục vụ cho chế độ chính trị của nó, và giáo dục cũng Việt Nam cũng vậy”.

Tôi: “Giáo dục của họ sinh viên được tự do lựa chọn tư tưởng. Còn các trường đại học ở Việt Nam thì không. Vì các trường đại học của họ được tự trị mà thế lực chính trị không thể can thiệp được, ít nhất về mặt tự do nghiên cứu, học thuật. Còn ở Việt Nam thì không. Thầy xem tất cả trường đại học nào ở Việt Nam mà không có chi bộ Đảng Cộng Sản trong đó không, cho dù đó là trường Dân lập? Và điều đó có cần thiết không?”

Thầy trả lời là cần thiết, và còn cho biết, không chỉ trong các trường đại học có chi bộ Đảng mà còn có cả An ninh để quản lý và theo dõi sinh viên nữa, nên không phù hợp cho tôi theo học trường này.

Một lúc sau Thầy nhẹ giọng: “Tôi biết em đi học Luật để làm gì. Dù An ninh không ép nhà trường phải cho em thôi học vì nhà trường cũng có sự độc lập riêng. Nhưng An ninh đã thông báo về trường, thì nhà trường phải…”.

Tôi hỏi lại: “Giả sử an ninh gây sức ép để trường buộc em thôi học thì nhà trường căn cứ vào đâu để ra quyết định buộc em thôi học?”

Không đợi Thầy trả lời, tôi nói tiếp: “Em nói cho Thầy biết, nhà trường chỉ có thể buộc em thôi học khi em có những hành vi vi phạm phạm luật qua một bản án xét xử của Tòa án. Cơ quan An ninh không có chức năng xét xử mà họ chỉ là cơ quan điều tra. Họ điều tra và báo cáo như thế nào là việc của họ, nhà trường đừng để họ làm thay công việc của Tòa án và xem họ như là Tòa án” ”.

Thật là đĩnh đạc, thông minh và bản lĩnh. Đúng là hậu sinh khả úy, là mầm mống tốt để xây dựng xã hội dân chủ. Nếu Phạm Lê Vương Các bị đuổi học đề nghị các nhà nước dân chủ cho em được tỵ nạn chính trị và bà con ta hãy chung tay tạo điều kiện để em hoàn thành được chương trình đại học luật.

3) Nhà văn Nguyễn Đông Thức viết trên Facebook hôm 2/9: “Báo Tuổi Trẻ có mời tôi viết một bài trong cuốn ‘Chuyện nghề – Chuyện người’, nhân kỷ niệm 40 năm thành lập. Trong phần liệt kê các tên tuổi văn chương sau 1975 xuất hiện từ những ngày đầu trên Tuổi Trẻ, tôi nhắc hàng loạt tên, trong đó có nhà thơ Đỗ Trung Quân, tác giả của những bài thơ ‘Quê hương, Phượng hồng, Những bông hoa trên tuyến lửa’… Ông cũng đã có hơn 12 năm làm phóng viên Tuổi Trẻ …Nhưng khi in sách, cái tên Đỗ Trung Quân trong bài viết của tôi đã… biến mất”.

Chắc không có chỉ thị cụ thể từ cấp trên để giải quyết riêng trường hợp này nhưng vì chủ trương của Đảng đã ngấm vào máu, khoét vào đầu các công bộc nên họ rắp tâm biến mình thành kẻ xảo trá, ty tiện sẵn sàng vứt bỏ lương tâm, bất chấp sự thật và công lý một cách thật bỉ ổi.

Từ lâu, tôi đã chứng nghiệm điều này. Tôi đã có bằng Tiến sỹ từ 1982, luận án của tôi có trong lưu trữ Thư viện Quốc gia, công trình nghiên cứu của tôi đã được tổ chức CCOP của Liên Hợp Quốc mời trình bầy tại một Hội thảo Quốc tế năm 1982, nhưng trong cuốn “Tiến sỹ Việt Nam hiện đại” do nhà xuất bản Văn hóa Thông tin ấn hành tháng 9 năm 2004 người ta cố tình bỏ sót tên tôi. Tập thơ “Những Mẩu Quặng Dọc Đường” của tôi do Nhà Xuất bản Hội Nhà Văn ấn hành năm 2014 bị Cục Xuất bản bắt thu hồi. Không phải vì Thơ ở trong tập có vấn đề mà cấp trên bắt phải vứt bỏ các bài bình thơ in trong đó. Những bài bình luận này là của những tác giả nổi tiếng: nhà thơ Thanh Thảo, phó Chủ tịch Hội đồng Thơ Việt Nam, nhà thơ Định Hải, nhà thơ Ngô Văn Phú …. Các bài bình đều không mắc tội gì, kể cả tội “sai lập trường” của Đảng, ngoại trừ cái tội khen thơ và tư chất con người Nguyễn Thanh Giang.

Trời ơi, biết bao giờ xã hội ta mới thoát ra được khỏi cái vũng nhầy nhụa của xảo trá, ty tiện hỡi cái đảng của giai cấp công nhân này!

Hà Nội 4 tháng 9 năm 2015

Nguyễn Thanh Giang

Mobi: 0984 724 165

Việt Nam 40 mươi năm chưa qua khỏi cánh đồng?

Việt Nam 40 mươi năm chưa qua khỏi cánh đồng?

TuanVietNam

Nguyễn Minh Nhị, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh An Giang

5-9-2015

Bốn mươi năm thống nhất đất nước, 30 năm đổi mới cơ chế quản lý, mà chúng ta đi không qua khỏi cánh đồng là do tư duy và nền quản trị quốc gia có những vấn đề chưa tương thích?

Lời tựa bài này là niềm tự hào và cũng là nỗi buồn nặng trĩu tâm tư của người viết vì đã có đủ thời gian nếm trải. Tự hào là vì ông cha ta khôn ngoan mở mang bờ cõi về phương Nam, để lại cho con cháu làm chủ cánh đồng lúa nước rộng lớn và tốt thuộc hàng đầu Đông Nam Á. Còn nỗi buồn hay nói đúng ra là lời tự thán là ta đi 40 năm mà chưa thoát ra khỏi “cánh đồng nông nghiệp” và vẫn là nước nghèo, đang phát triển!

Tư duy tầm thế kỷ 19-20

Cách đây ít lâu, tôi đọc báo Tuổi Trẻ, Lao Động, Người Lao động…thấy đăng phát biểu của Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng, Bộ trưởng Bùi Quang Vinh, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Ksor Phước, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý…về tình hình kinh tế đất nước nói chung, nông nghiệp nói riêng thấy gần đúng với… sự thật.  Gần đúng vì theo tôi, là một người gần như suốt cuộc đời “bám” sản xuất nông nghiệp, đời sống nông dân, tôi thấy bức tranh nông nghiệp nông thôn còn không ít  gam xám.

Như Chủ nhiệm Ủy ban An ninh quốc phòng Nguyễn Kim Khoa nói “Chúng ta cứ vẽ bức tranh đẹp quá mà thực ra QH hay nhà nước đều cần bức tranh tả chân”. “Muốn đánh giá đúng tình hình phải xuống nông thôn xem đồng bào sống thế nào” – như ông vừa mới đi xuống 17 tỉnh, ba quân khu mới trở về.

Việc Đoàn thanh niên cách đây ít lâu đi bán “giải cứu” dưa hấu, hành tím cho dân là câu chuyện thật rất nhân văn nhưng cũng đượm u buồn. Bộ trưởng Kế hoạch & Đầu tư nói: “Các nước tái cơ cấu cao, còn ta thì chậm, cho nên 06 tháng cuối năm 2.015 gặp nhiều thách thức, khó duy trì mức 6,5%  nếu không có giải pháp đột phá”. Vậy mà hàng ngày đọc báo nghe đài, thấy hội nghị nào từ các Bộ xuống tỉnh, huyện, xã cũng nói “tái cơ cấu” rất hay, bây giờ vậy là sao? Chính phủ và các Bộ đang “bàn chuyện giải cứu nông sản” thì giải cứu sao đây?

Bởi đây là vấn đề tích tụ dài lâu từ cơ chế quản lý chứ không phải do một cá nhân nào, cho dù là những người đứng đầu của hệ thống chính trị đất nước tài ba lỗi lạc đi nữa.

10 năm (1975-1985) ta phải “dò đường”, đi trên ruộng nhà mà đói là do chúng ta luẩn quẩn chưa thoát ra khỏi tư duy bao cấp. 30 năm đổi mới, cả nước đi trên hai chân mà ta tự hào là “tam nông”, nghĩa là nông dân làm nông nghiệp và xây dựng nông thôn. Đây là đường lối xuyên suốt qua tất cả các kỳ đại hội và trong các báo cáo về kinh tế xã hội bao giờ cũng bắt đầu từ “sản xuất nông  nghiệp”.

Từng thời kỳ, nhất là những kế hoạch 05 năm sau đổi mới, chọn nông nghiệp làm đột phá vì nông nghiệp luôn luôn là nền tảng kinh tế. Nhưng điều đáng nói, nó hình thành cái nếp tư duy bất biến “nông nghiệp” theo truyền thống “trọng nông”. Giai cấp thì coi trọng cố nông- bần nông, kinh tế thì hạn điền và hộ sản xuất, văn hóa thì làng xã, hành chính là hộ khẩu, nhân tài – cán bộ là huyết thống… Nghĩa là tư duy và cách làm vẫn ở tầm thế kỷ 19 – 20.

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI là “đến năm 2020 nước ta phải trở thành nước có thu nhập trung bình và cơ bản trở thành một nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại”. Chỉ còn 05 năm nữa thôi, nhưng hiện nay ta chỉ mới đạt 2.000 USD/ người, trong khi những nước đạt 5.000 USD/ người, các nhà kinh tế vẫn cho là chưa thoát cái “bẫy thu nhập trung bình”.

Công nghiệp ô-tô, ta đã bỏ qua chiếc La Dalat những năm trước 1975 và chiếc Mê-Công những năm 1990 đã tự sản xuất để đi làm thợ lắp ráp cho Toyota, Hyundai… Ngay như công tác xóa đói giảm nghèo sau 30 năm thừa gạo, dư cá mà vẫn còn chương trình “xóa đói giảm nghèo” và tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng vẫn còn cao. Nhất là ở ngay vựa lúa- cá Đồng bằng Cửu Long mà chỉ sánh bằng với Tây Nguyên.

Và năm nào cũng vậy, kể cả 2014 vừa rồi tuy không có thiên tai lớn như các năm trước nhà nước vẫn phải cứu đói cả vạn tấn gạo cho các tỉnh miền ngoài. Ông Ksor Phước còn chỉ cách thống kê: “Các đồng chí thử lấy lượng gạo Thủ tướng quyết định cứu đói hàng năm chia ra xem bao nhiêu hộ đang trong tình trạng phải chờ cứu”.

Dân là gốc

ĐBSCL là vựa lúa của cả nước. Ảnh: SGGP

Cái gì cũng có giới hạn: Ở lâu trong tối dễ mờ mắt, trong ánh sáng chói lâu cũng dễ bị lòa mắt. Từ thiếu đói vụt cái VN ta xuất khẩu gạo, rồi cá tra, cà phê, cao su, hồ tiêu, hạt điều… đều vào loại tốp đầu thế giới. Việc đầu tư xây dựng điện đường trường trạm, nhà ở mái ngói mái bằng, xe máy, ô tô… cho đến đầu những năm 2.000 đem lại sự đổi đời thấy rõ. Chúng ta có quyền tự hào về sự đổi thay diện mạo cuộc sống đó.

Tự hào là chính đáng, nhưng tự hào mà quên mất những khiếm khuyết của cơ chế quản lý, cùng những bất cập, non kém của ngành nông nghiệp nên mới dẫn đến không ít hệ lụy. Ông Lý Quang Diệu ngay ngày đầu lập quốc đã thấy viễn cảnh không xa Hồng Công sẽ về Trung Quốc nên âm thầm xây dựng Singapore thay vị trí ấy của Hồng Công.

Ông thành công, nhưng ông cũng thấy trước vai trò trung chuyển các dịch vụ tài chính, hàng hải của Singapore sắp giảm, ông chuyển qua thu hút giáo dục, y tế… Những chuyến đi sau khi thôi chức Thủ tướng, cho đến trước khi qua đời không lâu ông vẫn còn làm việc này cho đảo quốc. Đó là tấm gương có tầm nhìn xa và không thỏa mãn thành quả.

Muốn tái cơ cấu kinh tế, trước hết phải tái cấu trúc mô hình hệ thống quản trị trên tinh thần dân chủ, lấy “dân là gốc”.

Nguyên phó Thủ tướng Vũ Khoan có lần đã nói, đại ý: “Suy thoái kinh tế thế giới thì đâu cũng bị ảnh hưởng, nhưng tại sao Lào và Campuchia không khó khăn như ta”.

Bốn mươi năm thống nhất đất nước, 30 năm đổi mới cơ chế quản lý, mà chúng ta đi không qua khỏi cánh đồng là do tư duy và nền quản trị quốc gia có những vấn đề chưa tương thích?

Còn nguyên nhân kinh tế trực tiếp là do con đường huyết mạch xuyên Việt (QL 1A) chưa xong và cảng cho cánh đồng “vựa lúa” chưa có cho tàu một vạn tấn thì làm sao cả nước thoát nghèo? Người viết đã kinh qua từ xã đến tỉnh suốt 40 năm làm nông nghiệp và sống với nông dân để viết ra ra những lời tâm huyết này.

BÀI GIÁO LÝ CỦA ĐTC PHANXICÔ VỀ CẦU NGUYỆN TRONG GIA ĐÌNH

BÀI GIÁO LÝ CỦA ĐTC PHANXICÔ VỀ CẦU NGUYỆN TRONG GIA ĐÌNH

Tác giả:  Phaolô Phạm Xuân Khôi

“Nếu tình yêu đối với Thiên Chúa không thắp lên ngọn lửa, thì tinh thần cầu nguyện không sưởi ấm thời gian được.… Một tâm hồn được tình yêu đối với Thiên Chúa cư ngụ biến ngay cả một tư tưởng không lời, hay một lời khẩn cầu trước một ảnh thánh, hoặc một nụ hôn gửi đến nhà thờ, thành lời cầu nguyện.”

Dưới đây là bản dịch bài Giáo Lý của ĐTC Phanxicô được ban hành ngày 26 tháng 8 năm 2015 trong buổi Triều Yết Chung tại Quảng trường Thánh Phêrô.  Hôm nay ĐTC tiếp tục chu kỳ Giáo Lý về Gia Đình.  Ngài giải thích về tầm quan trọng của việc Cầu Nguyện trong gia đình.

* * *

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Sau khi suy nghĩ về cách các gia đình sống thời gian nghỉ lễ và làm việc, giờ đây chúng ta xét đến thì giờ cầu nguyện. Lời than phiền thông thường nhất của các Kitô hữu về thì giờ là: “Tôi đáng lẽ phải cầu nguyện nhiều hơn…; tôi muốn làm điều ấy, nhưng tôi thường không có thì giờ.”  Chúng ta thường xuyên nghe thấy lời than ấy.  Sự hối tiếc này chắc chắn là chân thành, bởi vì tâm hồn con người luôn luôn tìm cách cầu nguyện, ngay cả khi không ý thức điều ấy; và nếu không tìm được nó thì không thấy bình an.  Nhưng để chúng gặp nhau, chúng ta phải vun trồng trong tâm hồn mình một tình yêu “nồng nàn” với Thiên Chúa, một tình yêu trìu mến.

Chúng ta có thể đặt ra một câu hỏi rất đơn giản.  Thật tốt khi hết lòng tin vào Thiên Chúa, thật tốt khi hy vọng Ngài giúp chúng ta lúc gặp khó khăn, thật tốt khi cảm thấy có bổn phận phải cảm tạ Ngài.  Rất tốt.  Nhưng chúng ta có yêu Chúa, dù một chút không?  Suy nghĩ về Thiên Chúa có làm cho chúng ta cảm động, ngạc nhiên và mềm lòng không?

Chúng ta hãy nghĩ đến công thức của điều răn trọng nhất, là điều răn nâng đỡ tất cả các điều răn khác: “Ngươi hãy kính mến Chúa là Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết sức ngươi” (Đnl 6:5; x Mt 22:37).  Công thức này sử dụng ngôn ngữ mãnh liệt của tình yêu, đổ dồn vào Thiên Chúa. Đấy, tinh thần cầu nguyện sống trước hết ở đây.  Và nếu nó ở đây thì nó ở luôn mãi và không bao giờ đi ra nữa.  Chúng ta có thể nghĩ về Thiên Chúa như là cái vuốt ve giữ cho chúng ta được sống, mà trước đó không có gì không?  Một cái vuốt ve mà không có gì, ngay cà cái chết, có thể tách chúng ta ra được không?  Hay có phải chúng ta chỉ nghĩ rằng Ngài là Đấng cao cả, Đấng Toàn Năng, đã tạo nên mọi sự, là vị Thẩm Phán kiểm soát mọi hành động của chúng ta?  Đương nhiên, tất cả là sự thật.  Nhưng chỉ khi Thiên Chúa là tình thương mến trên tất cả các tình thương mến của chúng ta, thì ý nghĩa của những lời này mới trở nên trọn vẹn.  Khi ấy, chúng ta cảm thấy hạnh phúc, dù hơi “bối rối”một chút, vì Ngài nghĩ đến chúng ta và đặc biệt yêu thương chúng ta!  Đó không phải là điều cảm động sao?  Không cảm động sao khi Thiên Chúa vuốt ve chúng ta bằng tình yêu của một người Cha?   Thật quá đẹp!  Ngài đã có thể đơn thuần làm cho người ta nhận biết Ngài là Đấng Tối Cao, ban hành các giới răn của Ngài và chờ đợi kết quả.  Nhưng thay vào đó, Thiên Chúa đã và đang làm hơn điều này một cách vô cùng.  Ngài đồng hành với chúng ta trên đường đời, che chở và yêu thương chúng ta.

Nếu tình yêu đối với Thiên Chúa không thắp lên ngọn lửa, thì tinh thần cầu nguyện không sưởi ấm được thời gian.  Như Chúa Giêsu nói, chúng ta có thể đọc nhiều lời “như dân ngoại làm”; hoặc thậm chí phô trương các nghi lễ của mình, “như những người Biệt Phái đã làm” (Mt 6:5.7).  Một tâm hồn được tình yêu đối với Thiên Chúa cư ngụ biến ngay cả một tư tưởng không lời, hay một lời khẩn cầu trước một ảnh thánh, hoặc một nụ hôn gửi đến nhà thờ, thành lời cầu nguyện.  Và tốt đẹp thay khi các bà mẹ dạy những đứa con nhỏ của họ gửi một nụ hôn đến Chúa Giêsu hay Đức Nữ Trinh Maria.  Có biết bao nhiêu sự dịu dàng trong việc này!  Khi ấy trái tim của trẻ em biến thành một nơi cầu nguyện.  Và đó là một hồng ân của Chúa Thánh Thần.  Đừng bao giờ quên cầu xin hồng ân này cho mỗi người chúng ta!  Bởi vì Thần Khí của Thiên Chúa có cách nói đặc biệt của Ngài trong tâm hồn chúng ta, “Abba” – “Cha ơi”, Ngài dạy chúng ta nói “Cha ơi” như Chúa Giêsu đã nói, một cách nói mà chúng ta không bao giờ có thể tự mình tìm ra được (xem Gl 4: 6).  Chính trong gia đình mà chúng ta học cầu xin hồng ân này của Chúa Thánh Thần và trân quý nó. Nếu anh chị em học nó với cùng một sự bộc phát như khi anh chị em học cách gọi “cha ơi” và “mẹ ơi”, thì anh chị em đã học được nó mãi mãi.  Khi điều này xảy ra, thời gian cho toàn thể cuộc sống gia đình được bao bọc trong cung lòng của tình yêu Thiên Chúa, và chúng ta tự nhiên tìm được thì giờ cầu nguyện.

Như chúng ta biết rõ, thì giờ của gia đình là thì giờ phức tạp và eo hẹp, bận rộn và bận tâm.  Nó luôn luôn ít, không bao giờ đủ, có quá nhiều điều để làm. Ai đã có gia đình sớm học được cách giải một phương trình mà ngay cả các nhà toán học vĩ đại cũng không làm sao mà giải nổi: người ta làm gấp đôi trong vòng hai mươi bốn giờ!  Có những bà mẹ và những người cha có thể thắng giải Nobel vì việc biến 24 giờ thành 48 giờ này:  Tôi không biết họ làm điều ấy thế nào, nhưng họ tra tay và làm!  Có quá nhiều công việc trong một gia đình!

Tinh thần cầu nguyện dâng thì giờ cho cho Thiên Chúa, ra khỏi sự ám ảnh của một cuộc sống luôn thiếu thì giờ, tìm thấy sự bình an nơi những điều thiết yếu, và khám phá ra niềm vui của những món quà bất ngờ.  Hai vị hướng dẫn tốt cho việc này là hai chị em cô Martha và Mary, được đề cập trong bài Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe; hai cô đã học được từ Thiên Chúa sự hài hòa của các nhịp điệu trong gia đình: vẻ đẹp của ngày lễ nghỉ, sự thanh thản của công việc và tinh thần cầu nguyện (x. Lc 10:38-42).  Cuộc viếng thăm của Chúa Giêsu, Đấng mà họai cô yêu mến, là ngày lễ của hai cô.  Tuy nhiên, là một ngày mà cô Martha đã học được rằng công việc tiếp đãi khách, dù quan trọng, nhưng không phải là tất cả, mà việc lắng nghe Chúa, như cô Maria, lại là điều thiết yếu, là “phần tốt nhất” của thì giờ.  Cầu nguyện phát sinh từ việc lắng nghe Chúa Giêsu, từ việc đọc Tin Mừng.  Anh chị em đừng quên đọc một đoạn Tin Mừng mỗi ngày. Cầu nguyện phát sinh từ lòng tin tưởng vào Lời Chúa.  Chúng ta có lòng tin tưởng này trong gia đình của mình không?  Chúng ta có sách Tin Mừng trong nhà không?  Chúng ta có đôi lúc mở nó ra để đọc với nhau không?  Chúng ta có suy niệm về nó khi đọc kinh Mân Côi không? Tin Mừng được đọc và suy niệm trong gia đình giống như một bánh bổ dưỡng nuôi tâm hồn mọi người.  Vào buổi sáng và buổi tối, và khi chúng ta ngồi vào bàn ăn, chúng ta học cách cùng nhau đọc một lời cầu nguyện, rất đơn sơ: chính là Chúa Giêsu đến giữa chúng ta, như Người đã đến với gia đình các cô Martha, Maria và Lazarô.  Có một điều mà tôi giữ mãi trong lòng vì tôi đã nhìn thấy trong thành: có những trẻ em đã không học làm Dấu Thánh Giá! Nhưng anh chị em, bậc cha mẹ, hãy dạy con con cái mình cầu nguyện, làm Dấu Thánh Giá: đây là một nhiệm vụ cao quý của các bà mẹ và các người cha!

Trong lời cầu nguyện của gia đình, trong những lúc mạnh mẽ cũng như những khi khó của nó, chúng ta được Chúa trao phó cho nhau, để mọi người trong gia đình được tình yêu của Thiên Chúa che chở..

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

http://giaoly.org/vn/

Nguyên bản: http://w2.vatican.va/content/francesco/it/audiences/2015/documents/papa-francesco_20150826_udienza-generale.html

Tác giả:  Phaolô Phạm Xuân Khôi

CON BẢO THẦY LÀ AI?

CON BẢO THẦY LÀ AI?

(Suy niệm Tin Mừng Mác-cô (8, 27-35) thuộc Chúa Nhật 24 thường niên B)

Linh Mục Inhaxiô Trần Ngà

Hôm ấy, “Đức Giê-su và các môn đệ của Ngài đi tới các làng xã vùng Xê-da-rê Phi-líp-phê. Dọc đường, Ngài hỏi các môn đệ: “Người ta nói Thầy là ai? ” Các ông đáp: “Họ bảo Thầy là ông Gio-an Tẩy Giả, có kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, kẻ khác lại cho là một ngôn sứ nào đó” (Mc 8, 27-28).

Như thế, người Do-thái đương thời không biết đích xác Chúa Giê-su là ai. Họ tưởng Ngài chính là Gio-an Tẩy Giả bị Hê-rô-đê trảm quyết nay sống lại. Có kẻ thì tưởng lầm Ngài là ngôn sứ Ê-li-a xưa kia được đưa lên trời nay lại giáng lâm. Kẻ khác thì cho rằng Ngài là một ngôn sứ nào đó.

Sau khi nghe các môn đệ cho biết dư luận quần chúng về mình, Chúa Giê-su quay sang hỏi các ông: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai? ” Ông Phê-rô trả lời: “Thầy là Đấng Ki-tô” (Mc 8, 29).

Thế là ngoài Phê-rô, dường như chẳng ai biết được chân tướng của Chúa Giê-su. Phê-rô quả có phúc lớn vì được biết căn tính của Thầy mình.

Hôm nay, Chúa Giê-su cũng đặt lại câu hỏi nầy với mỗi người chúng ta. Ngài muốn chúng ta bày tỏ nhận định của ta về Ngài: “Về phần con, Thầy là ai đối với con?”
Thầy là Thẩm Phán khắt khe

Khi câu hỏi nầy được đặt ra với một nhóm thanh niên đang ngồi tận ngoài cổng nhà thờ sáng Chúa nhật, vừa hút thuốc vừa dự lễ, thì họ trả lời qua khói thuốc: “Đối với chúng tôi, Chúa Giê-su là một vị Thẩm Phán khắt khe, hay bắt bẻ những người phạm luật. Dù chẳng yêu mến gì Chúa Giê-su, nhưng vì sợ bị khép vào tội bỏ lễ chúa nhật, nên chúng tôi miễn cưỡng đến ngồi đây dự lễ.”

Thầy là một vị Thần Tài

Khi câu hỏi nầy được nêu ra với một số doanh nhân tất bật với việc làm ăn buôn bán, thì họ trả lời rằng: “Đối với chúng tôi, Chúa Giê-su là một ông Thần Tài. Dù chẳng yêu mến gì ổng, nhưng chúng tôi biết đối xử sòng phẳng với ổng. Nếu ổng phù hộ chúng tôi ăn nên làm ra, thì chúng tôi còn đặt ổng lên bàn thờ, có nhang đèn hoa trái hẳn hoi. Nếu ổng không giúp chúng tôi phát đạt, chúng tôi mời ổng đi chỗ khác.”

Thầy là tấm phao cứu hộ

Khi câu hỏi nầy được nêu lên với một nhóm người khác đang theo đuổi lạc thú, họ đáp: “Chúa Giê-su là ai ư? Thật tình chẳng mấy khi chúng tôi nghĩ đến. Có lẽ khi nào chúng tôi già yếu, lâm bệnh nguy kịch, hoặc gặp gian nan khốn đốn trong cuộc đời, chúng tôi sẽ tìm đến với Ngài… Vâng, lúc đó, chúng tôi sẽ cần đến Ngài như những người đi biển gặp nạn cần đến tấm phao!”

Thế là đối với một số người, Thiên Chúa chỉ là vị Thẩm Phán khắt khe, một Thần Tài xa lạ hay đơn giản chỉ là một tấm phao cứu sinh hay là một nô bộc phục dịch con người. Đúng như lời Chúa Giê-su: “Dân nầy tôn kính Ta ngoài môi miệng còn lòng chúng thì quá xa cách Ta.” (Mc 7,6)

Thiên Chúa đau buồn biết bao khi đoàn con yêu dấu của Ngài nhận định về Ngài như thế.

Khi thấy dân chúng chẳng hiểu căn tính của mình, ngay cả các môn đệ cũng chẳng biết Đấng Ki-tô là ai, Chúa Giê-su liền bày tỏ cho họ biết Ngài chính là Đức Ki-tô, nhưng không phải là một “Đức Ki-tô vinh thắng” chinh phục các lân bang và báo thù cho dân riêng của Chúa như người Do-thái mong đợi, nhưng là một “Đức Ki-tô nhẫn nhục” hiến mạng sống mình chết thay cho muôn dân. Ngài tỏ cho môn đệ biết: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày sẽ sống lại” (Mc 8,31).

Ước gì, đừng có ai trong chúng ta xem Chúa là thẩm phán khắt khe để rồi đến với Chúa vì sợ hình phạt chứ không vì lòng yêu mến; thờ Chúa như Thần Tài để xin ân huệ mà thiếu lòng yêu mến; xem Chúa như tấm phao và chỉ tìm đến Chúa khi gặp gian nan nguy khốn.

Dostoyevsky, văn hào vĩ đại nhất của nước Nga vào thế kỷ 19, đã tôn Đức Giê-su làm Thần Tượng của mình và đã tuyên xưng:

“Đối với tôi, không có gì đẹp đẽ, sâu  xa, dễ mến, hợp lý và hoàn hảo cho bằng Đức Ki-tô, và hơn thế nữa, dù có ai chứng minh với tôi rằng Đức Ki-tô ở ngoài chân lý, thì tôi không ngần ngại chọn ở lại với Đức Ki-tô hơn là chiều theo chân lý” ( Thư gửi bà Von Vizine ).

Lạy Chúa Giê-su,

Nếu hôm nay Chúa đến và hỏi: Về phần con, con bảo Thầy là ai, thì con xin thưa:

Chúa là Đấng đã nộp mình chịu chết để đền tội cho con. Chúa đã hy sinh đời mình cho con được sống. Chúa là Đấng yêu thương con hết lòng hết sức trên hết mọi sự.

Vì thế, con xin chọn Chúa làm Thần Tượng của đời con. Con xin dành chỗ nhất cho Chúa trong trái tim con.

Linh Mục Inhaxiô Trần Ngà

Phó tổng thư ký Thanh Niên online bị cách chức và thu thẻ nhà báo

Phó tổng thư ký Thanh Niên online bị cách chức và thu thẻ nhà báo

Nguoi-viet.com

SAIGON, Việt Nam (NV) – Ngày 4 Tháng Chín, Thứ Trưởng Bộ Thông Tin Và Truyền Thông CSVN Trương Minh Tuấn đã ký quyết định số 1485/QĐ-BTTTT về việc thu hồi thẻ nhà báo của ông Đỗ Văn Hùng, nguyên Phó Tổng Thư Ký Tòa Soạn Báo Điện Tử Thanh Niên.

Nhà báo Đỗ Hùng. (Hình: Facebook)

Quyết định nêu rõ: “Thu hồi Thẻ nhà báo mang số hiệu IBT 00209, thời hạn 2011-2015 của ông Đỗ Văn Hùng được cấp tại Báo Thanh niên, vì ông Đỗ Văn Hùng đã bị xử lý miễn nhiệm chức vụ Phó Tổng thư ký toà soạn Báo điện tử Thanh niên.”

Cũng theo quyết định này, “Báo Thanh niên có trách nhiệm thu hồi Thẻ nhà báo của ông Đỗ Văn Hùng nộp về Bộ Thông tin và Truyền thông (qua Cục Báo chí) trước ngày 18 tháng 9 năm 2015.”

Quyết định này ngoài yêu cầu “Báo Thanh Niên và ông Đỗ Văn Hùng chịu trách nhiệm thi hành quyết định” thì cũng đồng thời gửi tới “Ban Tuyên Giáo Trung Ương, A87 Bộ Công An.”

Quyết định thu hồi thẻ nhà báo của ông Đỗ Văn Hùng. (Hình: Facebook)

Trước đó, Tổng Biên Tập Báo Thanh Niên đã ký quyết định số 65/QĐ-TN ngày 3 Tháng Chín về việc xử lý miễn nhiệm chức vụ Phó Tổng Thư Ký Tòa Soạn Báo Điện Tử Thanh Niên đối với ông Đỗ Văn Hùng.

Báo chí trong nước cũng chỉ loan tin ông Đỗ Văn Hùng bị cách chức và bị thu hồi thẻ nhà báo theo quyết định của Bộ Thông Tin Và Truyền Thông CSVN.

Tuy nhiên, giới nhà báo trong nước cho rằng ông Đỗ Văn Hùng “gặp nạn” do một đoạn ngắn trên Facebook cá nhân của ông Hùng.

Ông Đỗ Văn Hùng, thường được biết với tên Đỗ Hùng, và là facebooker Mít Tờ Đỗ.

Ngày 2 Tháng Chín, trên Facebook của mình, ông Hùng đăng tải một status “toàn dấu sắc”, nhan đề “Quốc khánh”, chơi chữ và có tính chất trào phúng:

“Lúc ấy, Thế chiến (thứ mấy tớ đéo nhớ), Đế quốc đánh với Phát xít. Phía Phát xít, Thống chế chết. Đám tướng tá, lính lác đánh đấm kém, chết hết đéo sót mấy mống. Phía Đế quốc thắng lớn. Thế chiến kết thúc.

Chớp lấy cái thế ấy, bác Ái Quốc, tướng Giáp với mấy chú, mấy mế xứ Pác Bó vác cuốc, vác giáo mác, vác súng ống xuống đánh phát xít, đánh Pháp, cướp lấy khí giới, cướp thóc, chiếm bốt, cứ thế đánh tới bến.

Đánh tới cuối tháng 8, bác Ái Quốc thắng lớn. Bác ấy với các chú kéo xuống Giáp Bát, chiếm phố, chiếm lấy bốt phát xít, chiếm hết. Hết đánh đấm, bác ấy nói: ‘Các chú thắng phát xít, thắng Pháp, quá xuất sắc.’

Tới tháng 9, bác ấy xuống phố bố cáo quốc khánh. Bác ấy nói: ‘Đất nước hết chiến đấu, hết đói kém. Phát xít cút. Đế quốc Pháp cút. Các mế, các chú, các cháu bé hết khóc lóc. Thế giới bác ái…’

Nói tới đó, bác Ái Quốc thắc mắc: ‘Bác nói thế các chú, các mế, các cháu có thấy quá lí nhí?’

Bá tánh phía dưới đáp: ‘Chúng cháu thấy bác nói rất lớn. Nói thế quá tốt!’

Tướng Giáp đứng kế đó thét lớn: ‘Quyết chiến quyết thắng!’

Bá tánh đáp: ‘Quyết thắng! Quyết thắng!’

Hết!

(Chúc các bác Quốc khánh sướng nhé!)”

Status nhan đề “Quốc khanh” trên Facebook của nhà báo Đỗ Hùng. Hiện status này đóng. (Hình: Facebook)

Status này được đăng tải trên Facebook cá nhân của ông Đỗ Văn Hùng. Chỉ một tiếng sau, nó đã được trang Facebook của dư luận viên là “đơn vị tác chiến điện tử” tha về, rỉa rói, xâu xé như:

“Nguyễn Dược: Nhà báo gì mà thô tục thế”

“Nguyễn Thu Trang: Các nhà báo phải có cái đầu ít ra là bình thường mới làm được nghề… Hôm nọ có bác gửi cho mình cái ảnh chụp status của nhà báo Đỗ Hùng. Đọc xong thấy anh rấy có cái đầu không bình thường… Nói xấu Bác Hồ là mình ghét”

“Hiền Anh: Không có tâm và tuyên truyền bậy bạ thì cầm bút sao nổi? Thể hiện sự không hiểu biết… Chửi cái gì cũng được nhưng nói xấu Bác là mình cực ghét…”

Trong khi đó, một số facebooker thì:

“Tuyet Anh Jethwa: Đọc bao nhiêu cái quyết định trên mạng chả tìm được cái nào nêu rõ lý do vì sao bị thu thẻ??? Không thẻ càng khỏe viết”

“Dũng Quang Lương: Không nêu lý do và tội danh, sao bị thu thẻ nhà báo nhỉ???”

“Nguyễn Thông: Hùng chơi Facebook, bởi là đứa thông minh, hài hước, dí dỏm nên những status y phát lên đều gây cười, tiếng cười thoải mái. Y không chừa thứ gì, miễn là có thể cười, từ chuyện ăn thịt chó, đi xe đạp, đến chuyện quốc sự. Tôi có lần nhắc y, gì thì gì, cũng cần lơ đi vài thứ, nhưng cứ lâu lâu lại thấy y xé rào. Chỉ cốt cười. Và lần này thì tai vạ. Đụng đến cụ Hồ, đến thần tượng của họ, đến cả Tuyên ngôn độc lập thì họ không thể tha. Chỉ trong ba ngày từ khi Hùng đăng status lên Facebook, nhà chức việc có ngay quyết định kỷ luật cách chức Phó tổng thư ký tòa soạn, tước thẻ nhà báo, do đích thân thứ trưởng Bộ Thông tin – Truyền thông ký. Lần này thì khiếu hài hước đã hại Hùng, bạn nghề mà tôi rất trân trọng, quý mến.” (Q.D.)

Thất nghiệp và nghèo đói làm gia tăng đội ngũ cửu vạn

Thất nghiệp và nghèo đói làm gia tăng đội ngũ cửu vạn

Nhóm phóng viên tường trình từ VN
2015-09-04

Thất nghiệp và nghèo đói làm gia tăng đội ngũ cửu vạn Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

cuu-van-622.jpg

Cửu vạn đợi hàng để chở – Với mỗi kg hàng kéo thuê thế này họ sẽ được trả hai ngàn đồng.

RFA PHOTO

Your browser does not support the audio element.

Nạn buôn lậu không phải mới có; nhưng vấn đề mà chúng tôi muốn nói ở đây là đội ngũ cửu vạn đã gia tăng một cách bất thường bởi nạn thất nghiệp và nghèo đói. Điều này dẫn đến tình trạng cửu vạn liều lĩnh, chấp nhận mọi nguy hiểm để kiếm đủ tiền mua gạo mỗi ngày. Đây cũng là cơ hội để dân buôn lậu hoành hành, chèn ép cửu vạn và chấp nhận mất hàng nếu bị bắt vì lấy số nhiều làm lãi. Có thể nói rằng biên giới Việt – Lào ở Khe Sanh, Hướng Hóa, Quảng Trị là cái ổ buôn lậu lớn hiện nay.

Mất mùa và thất nghiệp

Những trận gió Lào gay gắt cùng lổn ngổn các công trình xây dựng mọc lên từ những đám ruộng đã đẩy người nông dân lùi dần vào thất nghiệp và chán chường. Nếu như các công trình xây dựng, các dự án đã dần cắt nhỏ, thu hẹp đám ruộng của người nông dân thì gió Lào cùng cái nóng như thiêu như đốt, khô hạn đã làm cho người nông dân hoàn toàn tuyệt vọng trên đám ruộng của họ. Họ buộc phải chọn tha phương cầu thực hoặc lây lất giữa quê nhà.

Người được cấp hai sào lận. Bây giờ người ta dồn điền đổi thửa, mình còn ruộng ít hơn. Gió Lào mình cũng ít sợ so với nước lụt, sợ không phơi được lúa. Nhưng gió Lào cũng ghê lắm, gió mà không mang hơi nước, cây cối khô hết…
-Chị Hồ Thị Lùng

Chọn công việc nặng nhọc, nguy hiểm như khuân vác hàng lậu, còn gọi là cửu vạn cũng là một phương cách cứu đói của các nông dân mất ruộng hoặc mất mùa. Đặc biệt là các nông dân, thợ rừng đồng bào thiểu số Vân Kiều, Pa Kô. Chị Hồ Thị Lùng, dân tộc Vân Kiều, hiện trú ở Hướng Nghiệp, Hướng Hóa, chia sẻ: “Người được cấp hai sào lận. Bây giờ người ta dồn điền đổi thửa, mình còn ruộng ít hơn. Gió Lào mình cũng ít sợ so với nước lụt, sợ không phơi được lúa. Nhưng gió Lào cũng ghê lắm, gió mà không mang hơi nước, cây cối khô hết…”

Theo chị Lùng, hiện nay, số lượng người đồng bào thiểu số tham gia làm cửu vạn, bốc hàng thuê cho các chủ buôn lậu tại Khe Sanh, Hướng Hóa có thể lên đến hàng ngàn người. Họ không đồng loạt làm việc mà luân phiên theo thứ tự trong tuần. Bởi quá nhiều cửu vạn nhưng có ít chủ buôn lậu nên các chủ buôn chia làm ba phiên để cửu vạn khỏi bị thiệt thòi.

Nghĩa là trong một tuần có sáu ngày, bỏ ngày đầu tuần vì đây là ngày công an biên phòng và bộ đội biên phòng giao ban, họ sẽ làm việc gắt gao. Những ngày khác, cứ mỗi nhóm được làm việc hai ngày, sau đó đến nhóm khác, ba nhóm chia nhau làm việc trong sáu ngày. Mỗi ngày, nếu bốc vác cật lực người ta sẽ kiếm được từ 150 ngàn đồng đến 200 ngàn đồng. Đối với nông dân nghèo, quen chịu khổ, hai trăm ngàn đồng là một con số mơ ước. Chính vì vậy không ai bỏ qua cơ hội này.

cuu-van-400.jpg

Ngày càng nhiều người dân nơi đây làm cửu vạn thồ hàng lậu vì mất mùa dẫn đến đói, nghèo. RFA PHOTO.

Như vậy, nếu chia đều trong một tháng, mỗi cửu vạn sẽ kiếm được một triệu sáu trăm ngàn đồng nếu siêng làm việc và mọi chuyện suông sẻ. Thời gian còn lại, người ta sẽ đi hái măng rừng hoặc kiếm củi rừng để bán thêm. Tính ra thu nhập cao hơn rất nhiều so với việc bám đám ruộng khô cằn mà không biết cuối mùa sẽ ra sao.

Trường hợp không may mắn, nếu như bị bắt hàng, mất hàng do bỏ chạy, chủ hàng sẽ trừ tiền để đền hàng, thường thì chủ hàng chịu 50% và cửu vạn chịu 50% giá trị gùi hàng. Nếu mất hàng, có khi tiền khuân vác cả tháng chỉ đủ để bù vào gùi hàng. Chính vì vậy mà bằng mọi giá, cửu vạn phải băng rừng, luồn lách để mang hàng về đúng điểm tập kết. Bởi mỗi ký lô hàng khuân vác chỉ được trả từ hai ngàn đồng đến ba ngàn đồng. Trung bình, một người siêng năng, khỏe mạnh, mỗi ngày phải gùi đủ một trăm ký lô hàng lậu băng rừng về đến điểm tập kết thì kiếm được hai trăm ngàn đồng.

Với một phụ nữ quen làm việc trong rừng, quen vác củi và chịu đựng mưa nắng, chị Lùng nói rằng mỗi lần gùi, chị có thể gùi được từ bốn chục đến năm chục ký lô hàng. Thường là hàng điện tử hoặc các loại nhu yếu phẩm, nếu là thuốc lá thì không thể gùi được khối lượng như vậy vì hàng nhẹ, kềnh càng, mỗi lần gùi có thể hai chục hoặc ba chục ký lô. Nhưng bù vào, hàng thuốc lá lậu được trả đến bốn ngàn đồng trên mỗi ký nên dân cửu vạn rất ưa được khuân vác thuốc lá.

Khối lượng hàng lậu khổng lồ

Một cửu vạn khác tên Hồ Văn Tính, người dân tộc Pa kô, chia sẻ thêm: “Gió Lào thì từ tháng tháng Ba đến tháng Sáu, nó làm khô hết ruộng nương, rừng rẫy. Bữa nay bắt đầu mùa mưa rồi đây. Năm nay thì mưa cũng mưa bình thường chứ chưa mưa lụt to như mấy năm đâu, bởi mùa mưa mới bắt đầu…”

Gió Lào thì từ tháng tháng Ba đến tháng Sáu, nó làm khô hết ruộng nương, rừng rẫy. Bữa nay bắt đầu mùa mưa rồi đây. Năm nay thì mưa cũng mưa bình thường chứ chưa mưa lụt to như mấy năm đâu, bởi mùa mưa mới bắt đầu…
-Ông Hồ Văn Tính

Theo ông Tính, nếu tính khối lượng hàng hóa mỗi ngày tuồn qua đường rừng, xuyên về Việt Nam có thể lên đến hàng chục tấn, thậm chí vài chục tấn. Bởi lấy số lượng cửu vạn nhân với số lượng hàng hóa của anh ta/chị ta khuân vác được thì sẽ biết ngay lượng hàng lậu đi vào Việt Nam mỗi ngày.

Ông Tĩnh cho biết thêm là hàng hóa tuy từ bên Lào tuồn sang Việt Nam nhưng lại có gốc gác Trung Quốc là chủ yếu. Hầu hết hàng hóa Trung Quốc sản xuất tại một số điểm bí mật ở các vùng thôn quê tại Lào đều được đưa sang Việt Nam theo cửa khẩu Quảng Trị. Nghĩa là không như trước đây, hàng hóa Trung Quốc sản xuất tại Trung Quốc. Hiện tại, một số đầu nậu, nhà sản xuất hàng lậu của Trung Quốc sang Lào thuê mặt bằng, thuê nhân công để sản xuất một số mặt hàng như trứng gà, vỏ lốp xe, bàn ủi, linh kiện điện tử và đặc biệt là đồ chơi trẻ em.

Trong dịp Tết Trung Thu này thì người ta sản xuất bánh Trung Thu và đồ chơi trẻ em nhiều nhất. Ngày nào cửu vạn cũng chuyển sang Việt Nam từ vài tấn đến hàng chục tấn bánh Trung Thu do các chủ người Trung Quốc sản xuất tại đất Lào. Và số lượng đồ chơi trẻ em được chuyển sang Việt Nam thì nhiều vô kể, không thể kiểm soát được.

Theo ông Tính, hầu hết hàng hóa Trung Quốc không có nhãn mác, không có xuất xứ rõ ràng đều có địa điểm sản xuất tại đất Lào, khác xa với người ta tưởng là Trung Quốc sản xuất các loại hàng này tại Trung Quốc. Đương nhiên không loại trừ số lượng hàng hóa khổng lồ từ Trung Quốc cũng không có nhãn mác tuồn sang Việt Nam. Nhưng hiện tại, có vẻ như hàng hóa Trung Quốc sản xuất trên đất Lào, không có nhãn mác chảy sang Việt Nam theo đường hàng lậu đang phát triển cao, khó mà kiểm soát được số lượng cũng như mức độ nguy hiểm của nó.

Và cũng theo ông Tính, hầu hết nông dân nghèo khổ ở các huyện trong tỉnh Quảng Trị đều đổ xô về Hướng Hóa để làm cửu vạn chứ không riêng gì các nông dân của các tộc người thiểu số hoặc các nông dân bị mất đất mới tham gia công việc này mà hầu hết những người có thu nhập thấp đều tìm đến làm cửu vạn. Bởi nghề khuân vác, cửu vạn như một lối thoát của nạn thất nghiệp, mất đất và mất mùa tại đây. Cái nghèo đã đưa chân người nông dân đến với công việc này!

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.

Một xã hội ổn định với những khối ung thư tiềm ẩn

Một xã hội ổn định với những khối ung thư tiềm ẩn

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-09-03

09032015-cover-up-instability.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Những người dân oan có mặt tại Hà Nội bắt đầu xuống đường diễu hành biểu tình lớn, kéo vào trung tâm TP Hà Nội với sự tham gia của gần 1000 người phản đối bản án của bà Cấn Thị Thêu.(tháng 11, 2014)

Những người dân oan có mặt tại Hà Nội bắt đầu xuống đường diễu hành biểu tình lớn, kéo vào trung tâm TP Hà Nội với sự tham gia của gần 1000 người phản đối bản án của bà Cấn Thị Thêu.(tháng 11, 2014)

File photo

Chính quyền Hà Nội luôn cho rằng xã hội Việt Nam hiện đang rất ổn định, đặc biệt mỗi khi xảy ra những bất ổn ở những nước trong khu vực như đánh bom, biểu tình quần chúng…

Thực chất có đúng thế không hay đang có rất nhiều mầm mống bất ổn trong nước?

Những vụ ‘chém giết’

Vào mấy tháng gần đây truyền thông trong nước loan tin một số vụ thảm sát được mô tà là ‘kinh hoàng’ như vụ giết chết 6 người trong một gia đình tại Bình Phước; rồi vụ cả 4 người trong một nhà bị giết giữa rừng ở Nghệ An, chuyện thảm sát ở Khe Sanh, Quảng Trị; rồi ở huyện Chư Prong tỉnh Gia Lai mới hôm ngày 23 tháng 8, hung thủ dùng dao chém chết 4 người và làm bị thương 3 người…

Dân tiếp tục kêu oan

Hiện nay tại Hà Nội nhiều người dân từ các địa phương khắp nơi trên cả nước thường xuyên tập trung với những biểu ngữ kêu oan về những hành xử của chính quyền địa phương đối với họ trong nhiều năm qua.

Một cựu tù nhân bị bắt và bỏ tù khi quay lại cảnh cưỡng chế trái luật của cơ quan chức năng, bà Cấn Thị Thêu, cho biết lý do vì sao họ phải liên tục đến các cơ quan công quyền trung ương tại Hà Nội để khiếu kiện:

“ Họ cướp hết đất của chúng tôi, chúng tôi đi kiếu kiện 7 năm trời theo đúng chính sách, pháp luật của nhà nước; nhưng họ cứ ‘dưới đùn lên, trên đùn xuống’ không giải quyết cho chúng tôi. Chúng tôi không còn cách nào nữa: đòi một ngày không được, chúng tôi phải đòi hai ngày, 1 tháng không được, phải đòi 2 tháng… Chúng tôi sẽ tiếp tục đi đòi cho đến khi nào họ trả lại quyền lợi cho chúng tôi, chúng tôi mới dừng đấu tranh.

Họ cướp hết đất của chúng tôi, chúng tôi đi kiếu kiện 7 năm trời theo đúng chính sách, pháp luật của nhà nước; nhưng họ cứ ‘dưới đùn lên, trên đùn xuống’ không giải quyết cho chúng tôi

bà Cấn Thị Thêu

Chúng tôi nghĩ họ thể hiện bản chất ăn cướp của họ: cướp hết đất của chúng tôi, đẩy chúng tôi vào cảnh nghèo đói, cùng quẩn; này họ cho rằng chúng tôi đi như thế là mất cảnh quan đô thị, mất vệ sinh. Điều đó theo tôi cho thấy họ không suy nghĩ gì đến người dân chúng tôi cả, họ chĩ lo vơ vét cho đầy túi tham của họ, bỏ mặc người dân sống đói nghèo, lay lắt! Đó là điều mà chúng tôi căm thù, lên án họ.

Chúng tôi mong muốn những bà con trong và ngoài nước cùng chúng tôi lên án những hành vi, hành động phi pháp của nhà nước Việt Nam gây ra tội ác, đẩy chúng tôi đến cảnh phải khổ thế này: bị tù oan sai, bị đánh đập, bị mất hết tư liệu sản xuất. Chúng tôi mong muốn tất cả bà con giúp đỡ nhân dân chúng tôi.”

Nhiều lần cơ quan chức năng các địa phương đã đến tại thủ đô đưa người dân về lại quê quán của họ. Cơ quan chức năng cho rằng người dân đi khiếu kiện là gây mất vẻ mỹ quan của thành phố, gây bất ổn xã hội. Tuy nhiên ngày càng có nhiều người vì bị đối xử bất công, vụ việc của họ không được giải quyết theo đúng pháp luật của chính quyền Hà Nội đưa ra nên họ cho rằng chính hành xử của cơ quan công quyền mới là nguyên nhân dẫn đến những bất ổn trong xã hội.

Người dân biểu tình phản đối Trung Quốc lấn chiếm lãnh hải cũng bị đánh đập bắt bớ

Người dân biểu tình phản đối Trung Quốc lấn chiếm lãnh hải cũng bị đánh đập bắt bớ

Nhận định thực tế

Ông Vũ Văn Luân, tổng thư ký Liên chi hội Nuôi trồng thủy sàn Nước lợ huyện Tiên Lãng, người được cựu tù nhân Đoàn Văn Vươn ủy quyền đứng đơn một số vụ kiện khi ông này đang ở trong tù, đưa ra nhận định về nguyên nhân dẫn đến những bất ổn tại Việt Nam như sau:

“Theo như Mác nói, một xã hội phát triển phải có những yếu tố: dân chủ và phân chia quyền lực. Dân chủ để phản biện và phân chia quyền lực để giám sát. Nhưng xã hội Việt Nam không học theo Mác nên sự độc quyền cực lớn: độc quyền nhà nước và tham nhũng. Việt Nam đang rơi vào 2 cái ‘bẫy’ này.

Tôi khẳng định nếu không có báo chí tư nhân thì không có tiếng nói phản biện của người dân trong xã hội này. Nếu không có tiếng nói phản biện thì không thể nào tìm được một hình ảnh và một gương lãnh đạo tốt cho xã hội.”

Còn theo cựu tù nhân lương tâm, mục sư Nguyễn Trung Tôn ở Thanh Hóa, thì sự ổn định hiện nay ở Việt Nam chỉ là giả tạo:

Khi nói đến bất ổn xã hội có thể bằng cách đánh giá này, đánh giá kia; nó không chỉ thể hiện trên bề nổi mà có thể là những tảng băng ngầm, như những khối ung thư tiềm ẩn trong lòng xã hội

mục sư Nguyễn Trung Tôn

“ Khi nói đến bất ổn xã hội có thể bằng cách đánh giá này, đánh giá kia; nó không chỉ thể hiện trên bề nổi mà có thể là những tảng băng ngầm, như những khối ung thư tiềm ẩn trong lòng xã hội. Ví dụ như khi người dân đến ủy ban nhân dân xã, công an xã để làm việc, trong tâm thức, suy nghĩ của họ luôn ẩn chứa sự sợ hãi vì công quyền Việt Nam nhiều khi làm việc không căn cứ trên cơ sở pháp luật. Vừa dùng luật pháp vừa dùng luật rừng; khi nào không dùng được luật pháp, họ sử dụng đầu gấu, luật rừng để ép người dân phải đồng thuận, chấp nhận vào một số điều họ không đồng ý.

Đó là sự bất ổn xã hội trầm trọng, nó như một khối ung thư, một căn bệnh cực kỳ nguy hiểm và có thể bùng phát bất cứ lúc nào. Không phải là nổ bom chỗ này, bắn giết người chỗ kia mà cho là bất ổn mà khi ý thức của người dân đầy đủ thì họ khắc phục được những hậu quả đó, xã hội vẫn phát triển và người dân vẫn bảo đảm được những quyền lợi chính đáng của họ.

Còn ở Việt Nam, tuy rằng họ dùng tất cả mọi biện pháp để trấn áp không để những vụ việc xảy ra trên mặt bề nổi, nhưng lại âm thầm cho phép sự ra tay của xã hội đen làm cho bất ổn xảy ra âm thầm, ngấm ngầm và triệt tiêu đi tinh thần, ý chí của người dân; làm cho người dân trở nên những người luôn mang trong mình sự sợ hãi. Thậm chí triệt tiêu đi ý thức tranh đấu làm cho người ta trở nên nhu nhược.

Đó là sự bất ổn có thể giết chết cả một thế hệ, một dân tộc trong tương lai.”

Một người từ Quảng Nam, mục sư Lưu Văn Kiều, cũng có nhận định về tình hình hiện nay ở Việt Nam:

“ Thực ra đây là sự im lặng trước cơn bão. Khi gặp những người nông dân ‘dốt chữ’ mới nghe họ nói, nghe họ phản ứng như thế nào về chính quyền, về đảng cộng sản, về cuộc sống hiện tại thì mới thấu được tình hình. Nên như tôi nói đây là sự yên lặng trước cơn bão. Chắc chắn sẽ bùng phát. Đã là một lò thuốc súng rồi thì vấn đề chỉ cần có một ngòi nổ. Theo tôi nghĩ phải có một phong trào, bắt đầu từ tự phát. Sự tự phát không làm được gì nhưng nó khích lệ tinh thần của một số con người, một số sự kiện mà khi có sự kiện xãy ra rồi thì với ‘điểm nóng’ đó vô tình những sự kiện trước đó khích lệ cho họ và sẽ có một ngòi nổ lớn.”

Nhiều người trong nước thừa nhận họ rất bất an trong tình hình hiện nay. Tất cả mọi thành phần đều là đối tượng của những mối đe dọa hiện diện tại nhiều nơi; trong khi đó chính quyền luôn nhắc rằng ‘đa nguyên, đa đảng’ và dân chủ như những quốc gia khác là ‘quá trớn’; như thế sẽ dẫn đến những vụ đánh bom, phá hoại chứ không ‘bình lặng’ như ở Việt Nam.

Series “NGƯỜI VỀ TỪ CÕI CHẾT”

Series “NGƯỜI VỀ TỪ CÕI CHẾT”

“Người về tiên cảnh hồn thanh thản,

Kẻ ở dương gian, dạ ngậm ngùi”.

Bạn có người thân mới qua đời?  Hoặc sắp qua đời?  Bạn thấy đau khổ và thương nhớ họ?  Bạn muốn biết có “đời sau” chăng và đời sống ấy ra sao?  Mời bạn xem một số các video clips mà Hội Hồng Ân mới chuyển ngữ từ những chứng từ của một số người “Từ Cõi Chết Trở Về”.  Họ thấy gì?  Nghe gì? Gặp được ai… ở đó?

Những người “chết đi sống lại” hay còn được gọi là “cận tử” là những người đã chạm mặt với Tử Thần, có nhiều người bác sĩ đã phải bó tay và tuyên bố họ đã chết, nhưng họ đã “sống lại” khiến cho mọi người kinh ngạc. Họ gồm đủ mọi lớp người, không phân biệt tôn giáo, giai cấp, nghề nghiệp, tuổi tác, chủng tộc, …

Và điều quan trọng hơn cả là sau khi được “chết đi, sống lại”, các người này đều đã thay đổi cách sống của họ.  Họ trở nên tốt hơn, yêu thương gia đình và người chung quanh hơn. Họ đều cảm nhận mình có một sứ mạng mới để làm trong cuộc đời này trước khi được bước sang cuộc song đời sau.  Vì thế, những “Người về từ cõi chết” này đã luôn tìm cơ hội để nói cho mọi người biết đâu là ưu tiên trong cuộc sống và  việc chuẩn bị đời này thế nào để bước vào đời sau trong hạnh phúc.  Nhiều người đi khắp nơi thuyết trình về sứ mạng mới này của họ, cũng như được nhiều đài Tivi phỏng vấn và đóng thành phim tài liệu.

LƯU Ý:

Các trải nghiệm cận tử này không phải là những gì buộc chúng ta phải tin, vì nó chỉ là những cảm nghiệm riêng tư của các cá nhân. Hội Hồng Ân hoàn toàn tin và tuân phục các giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo.  Các đoạn phim được trình bày là nhằm giúp cho chúng ta tin rẳng có đời sau và thanh thản bước vào cái chết như KinhTiền Tụng trong Thánh Lễ Cầu Hồn: “Đời song con người thay đổi chứ không mất đi”, và Chúa phán: “Ta là Sự Sống Lại và là Sự Sống”, “Chúa là Tình Yêu”, “Chúa là Ánh Sáng”…

Hội Hồng Ân mong sao cho mỗi người chúng ta biết sống và biết yêu thương nhau hơn trong cuộc hành trình về quê trời.  Hay tin tưởng vào Chúa và Lòng Thương Xót Chúa. Sau cuộc đời này, chúng ta bước vào cuộc sống với Thiên Chúa, nên không có gì phải sợ hãi khi bước qua ngưỡng cửa
đó.

Và sau hết, Hội Hồng Ân xin mượn lời 1 “Người về từ cõi chết” chia sẻ như sau: “Tất cả mọi lời hứa của Thiên Chúa đều là thật. Chúa yêu thương mỗi người và mọi người chúng ta và luôn ở bên ta, dự phần vào cuộc đời của mỗi chúng ta.  Tình yêu đó là tất cả. Nếu chúng ta thực sự đón nhận điều đó, nó sẽ thay đổi tất cả. Nó thay đổi cách bạn nhìn từng khoảnh khắc trong ngày. Chân lý về sự sống sau cái chết làm thay đổi sâu sắc cái cách mà bạn đón nhận từng khoảnh khắc trong cuộc đời mình.” (Dr. Mary Neal, Người chết hụt khi bơi thuyền)

Video #1: NGHIÊN CỨU VỀ TRẢI NGHIỆM CẬN TỬ CỦA DR. JEFFREY LONG (15 phút)

(Đây là clip tổng quát nhất, cho ta khái niệm chung về những gì các người “chết đi, sống lại” được trải nghiệm – nên xem đầu tiên, trước khi xem các clips khác)

Bác sĩ Jeffrey Long, chuyên môn về Xạ Trị Ung Thư, đã đối diện với nhiều bệnh nhân mà các bác sĩ đã bó tay, tưởng rằng họ đã chết, nhưng rồi họ đã sống lại.  Vì thế, ông đã bắt đầu nghiên cứu về những trải nghiệm cận tử của hơn 1,300 trường hợp, và nhận ra sự thống nhất về những chi
tiết của các trải nghiệm, không phân biệt quốc gia, văn hoá, tôn giáo, nghề nghiệp, tuổi tác…

https://www.youtube.com/watch?v=wEWfXl2gCCA

Video #2a & #2b: 90 PHÚT TRÊN THIÊN ĐÀNG (2 tập; 11
phút mỗi tập)

Mục Sư Don Piper bị xe vận tải 18 bánh chạy ngược chiều đụng trong một ngày mưa to.  Các nhân viên cấp cứu đã đến khám nghiệm, và thấy rằng ông đã chết.  Nhưng 90 phút sau, chuyện bất ngờ đã xẩy ra…

https://www.youtube.com/watch?v=blW9kYd2e2w

https://www.youtube.com/watch?v=XfOalmOko3Q

Video #3: TRẢI NGHIỆM CẬN TỬ CỦA CHÁU BÉ CHẾT ĐUỐI (6 phút)

Cháu bé Kristle Merzlock 7 tuổi, chết đuối và được cứu sống;
và khi đang mê man, cháu vẫn “nhìn” thấy được những gì đang xẩy ra trong phòng cấp cứu và đã mô tả lại sau đó, khiến bác sĩ phải hết sức kinh ngạc…

https://www.youtube.com/watch?v=fMY8a8Taopw

Video #4: CẬU BÉ 3 TUỔI VÀ NHỮNG HÌNH ẢNH Ở THIÊN ĐÀNG (7 phút)

Chết hụt vì bị bể ruột dư, cậu bé Colton Burpo, 3 tuổi, đã có cơ hội được lên Thiên Đàng, gặp Chúa Giêsu, gặp người chị gái mà cậu chưa hề biết mặt và chưa hề được
nghe kể (mẹ cậu bị xẩy thai).  Cậu còn thấy ông nội ra đón, được nghe ông kể chuyện ngày xưa… làm cha mẹ của bé hết sức kinh ngạc!

https://www.youtube.com/watch?v=AFKNiE1pJVA

Video #5: BÁC SĨ NỔI TIẾNG VỀ TIM, LLOY RUDY, KỂ VỀ VÀI TRƯỜNG HỢP “CHẾT ĐI SỐNG LẠI” (13 phút)

Bệnh viện là nơi phải chứng kiến những cảnh thương tâm nhất khi con người phải đối diện với tử thần, nhưng cũng là nơi có những trường hợp “bất hường” mà các bác sĩ không thể nào giải thích được; ví dụ như trường hợp mà bác sĩ Rudy kể lại, là bác sĩ đoàn phải bó tay và tuyên bố người bệnh đã chết trên bàn mổ, nhưng rồi anh đã sống lại và kể về những gì đã nghe, đã thấy khi các bác sĩ cho rằng anh đã chết…

https://www.youtube.com/watch?v=ksanwMAEKWE

Video #6: BƯỚC THANG LÊN THIÊN ĐÀNG (4 phút)

Deerinda Lowe bị xe vận tải 18 bánh đụng phải. Chân tay cô đều bị gẫy và còn bị nội thương nghiêm trọng.  Các bác sĩ không hy vọng cô có thể qua khỏi…

https://www.youtube.com/watch?v=9eOZsqjVG7k

Video #7: VIẾNG
THĂM THIÊN ĐÀNG CỦA DR. MARY NEAL
(8 phút)

Bác sĩ Mary Neal là chuyên gia phẫu thuật chỉnh hình, đã bị chết đuối trong lần đi nghỉ hè cùng chồng tại Chile. Cô bị chìm dưới nước khoảng 15 đến 25 phút, rồi được cứu sống.  Cô đã được các thiên sứ vui mừng ra chào đón và đưa đến gặp Chúa. Cô đã rất hạnh phúc ở đây và muốn ở lại, nhưng Chúa cho biết là cô có sứ vụ khác trong cuộc sống…

https://www.youtube.com/watch?v=_mNGG66i4jU

Video #8: TIẾNG GỌI CẢNH TỈNH TỪ ĐỊA NGỤC (5 phút)

Sau khi tốt nghiệp Trung Học, anh Carl Knighton nhập ngũ
và lấy vợ.  Cả 2 việc đều thất bại.  Hôn nhân tan vỡ.  Anh đào ngũ và bắt đầu sa đà vào ma túy.  Trong 1 lần hút
Cocaine, uống rượu và dung thêm vài loại ma tuý khác, anh đã chạm mặt với tử thần và rơi vào Hoả Ngục…

https://www.youtube.com/watch?v=FNvToi7rMoc

Video #9: TRẢI NGHIỆM CẬN TỬ CỦA BÁC SĨ PHẪU THUẬT ÓC, DR. EBEN ALEXANDER (8 phút)

Bác sĩ Eben Alexander, với 20 năm chuyên môn về mổ óc, là người của Khoa học và Y học, lại đã phải đối mặt với tử thần vì chứng bệnh về … óc: viêm màng não cấp tính.
Khi các bác sĩ phải bó tay thì hồn của ông đã bước vào Thiên Đàng, một thế giới kỳ diệu.  Và kinh ngạc hơn nữa, vì ông gặp được người em gái đã qua đời ra chào đón, người mà ông chưa từng biết mặt…

https://www.youtube.com/watch?v=CuRckswncO4

Video #10: BÉ GÁI 13 TUỔI CHẾT VÌ SÉT ĐÁNH (12 phút)

Cô bé Jennifer, 13 tuổi, bị sét đánh trúng trong một ngày
mưa gió bão bùng, khiến tim cô ngừng đập. Cô đã được đến 1 nơi mà cô mô tả là rất bình an và rất đẹp…

https://www.youtube.com/watch?v=mQMN4P5cB0E

Nếu muốn coi lần lượt cả 10 videos, xin bấm vào playlist này:

https://www.youtube.com/playlist?list=PLSEAe_FeuB6UiiacLc3OO86KMko3Ep5ka

“Chúa trồng con ở đâu, con nở  hoa ở đó”

“Bloom where God plants you”

St.Francis de Sales

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Mỹ vinh danh 2 nữ tù nhân lương tâm Việt Nam

Mỹ vinh danh 2 nữ tù nhân lương tâm Việt Nam

Nhà hoạt động Tạ Phong Tần là một trong hai nữ tù nhân lương tâm được Bộ Ngoại giao Mỹ vinh danh.

Nhà hoạt động Tạ Phong Tần là một trong hai nữ tù nhân lương tâm được Bộ Ngoại giao Mỹ vinh danh.

Trà Mi-VOA

04.09.2015

Hai nữ tù nhân lương tâm đang bị Việt Nam cầm tù được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vinh danh trong chiến dịch kêu gọi phóng thích 20 phụ nữ trên thế giới can đảm dấn thân vì nhân quyền.

Hai nhà hoạt động Tạ Phong Tần và Bùi Thị Minh Hằng có tên trong chiến dịch được phát động suốt tháng này. Qua đó, từ nay đến trước Hội nghị Bắc Kinh +20 ở New York vào hôm 27/9, mỗi ngày Bộ Ngoại giao Mỹ sẽ lần lượt vinh danh từng người trong danh sách để đánh đi một thông điệp tới các chính phủ độc tài rằng nếu muốn tăng cường sức mạnh cho phụ nữ như những gì đã cam kết với quốc tế, hãy thôi giam cầm những phụ nữ đi đầu cho nhân quyền.

Trong lời tuyên bố phát động chiến dịch, Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc, Samantha Power, nhấn mạnh:

“Mỗi ngày từ nay đến trước hội nghị Bắc Kinh +20, chúng tôi sẽ chia sẻ câu chuyện về từng người trong số 20 phụ nữ này với chi tiết đầy đủ. Chúng tôi sẽ nêu rõ tên tuổi, lai lịch, lý do họ bị bắt giam một cách bất công, cùng tên các chính phủ đã tước bỏ tự do của họ, các chính phủ cử đại biểu tới dự hội nghị Bắc Kinh +20 ở New York”.

Bà Tạ Phong Tần là người số 12 và bà Bùi Thị Minh Hằng số 19 trong danh sách bao gồm 20 nhà hoạt động nữ nổi bật của nhiều nước từ châu Á tới châu Phi.

Riêng tại Châu Á, ngoài Việt Nam, những nước có các nhà hoạt động nữ được vinh danh đến từ Miến Điện, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên.

“ Mỗi ngày từ nay đến trước hội nghị Bắc Kinh +20, chúng tôi sẽ chia sẻ câu chuyện về từng người trong số 20 phụ nữ này với chi tiết đầy đủ. Chúng tôi sẽ nêu rõ tên tuổi, lai lịch, lý do họ bị bắt giam một cách bất công, cùng tên các chính phủ đã tước bỏ tự do của họ, các chính phủ cử đại biểu tới dự hội nghị Bắc Kinh +20 ở New York.

Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc Samantha Power.”

Nhà hoạt động Phong Tần, nguyên là một nữ công an, bị tuyên án 10 năm tù vào năm 2012 về tội danh ‘tuyên truyền chống nhà nước’. Bà là một trong những sáng lập viên của Câu lạc bộ Nhà báo Tự do vào năm 2007 cổ súy cho quyền tự do bày tỏ quan điểm. Bà được biết đến qua trang blog Công lý Sự thật, với các bài viết phơi bày bất công xã hội, phản ánh vi phạm nhân quyền và vấn đề chủ quyền dân tộc trước họa xâm lăng của Trung Quốc.

Bà Bùi Thị Minh Hằng là nhà hoạt động được nhiều người biết đến từ các cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lấn Hoàng Sa – Trường Sa. Kể từ đó, bà trở thành mục tiêu thường xuyên bị hành hung, bắt bớ và giam cầm. Năm 2014, bà bị Tòa án Nhân dân Đồng Tháp kết án 3 năm tù với cáo buộc ‘gây rối trật tự công cộng’ sau loạt các hoạt động của bà cổ súy cho tự do tôn giáo và nhân quyền trong nước.

Cô Quỳnh Anh, con gái bà Hằng, chia sẻ cảm nghĩ khi nghe tin mẹ mình được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vinh danh:

“Bọn em cảm thấy rất lớn lao, rất vinh dự khi mẹ em là một trong hai nữ tù nhân lương tâm được nhắc tới. Đối với gia đình em, như thế là đủ. Nhưng đối với đất nước Việt Nam, em nghĩ điều này còn cần nhiều hơn nữa vì hiện nay ở Việt Nam có rất nhiều tù nhân lương tâm. Không chỉ mẹ em và cô Tạ Phong Tần là nữ tù nhân lương tâm, còn rất nhiều người nữa cũng cần được nhắc đến”.

Cô Tạ Minh Tú, em gái nhà hoạt động Tạ Phong Tần, cho biết tình trạng của bà Tần hiện nay:

“Hiện giờ chị Tần bị nhốt chung phòng với 2 tù nhân hình sự. Trong phòng rất kín, không có chỗ thông gió nên chị không ngủ được, cũng không được ra ngoài. Một tuần được mở cửa phòng ra 1 lần để ra trước sân thôi chứ không được ra ngoài lao động”.

Cả hai nhà hoạt động Phong Tần và Minh Hằng từng tuyệt thực nhiều lần trong trại giam để phản đối các điều kiện đối xử khắc nghiệt và ngược đãi.

Con gái bà Minh Hằng chia sẻ thêm về những khó khăn này:

“Đối với tù nhân lương tâm, rất khó khăn, nói chung khó khăn trong tất cả mọi điều. Tù nhân thường, người nhà họ có thể dùng tiền hay các mối quan hệ để lo lót để có thể có được những điều tốt nhất cho người thân của họ trong tù. Còn những tù nhân lương tâm, hoàn toàn không thể làm những điều đó. Họ khắt khe và tìm mọi cách o ép vì luật nằm trong tay họ. Có những điều luật rất mập mờ. Ví dụ về quy chế thăm nuôi, luật quy định được thăm gặp ‘đến 1 giờ’, có nghĩa là cũng có thể là 5, 10 phút hay 1 tiếng cũng là ‘đến một giờ’. Như gia đình em, thường chừng 15 – 20 phút là họ bắt em phải đi ra”.

“ Với tư cách con của một tù nhân lương tâm, em hy vọng duy nhất một điều là Việt Nam không còn tù nhân lương tâm nữa. Tù nhân lương tâm là những người xứng đáng được ghi nhớ, được biết ơn. Họ là những người đi đầu khởi xướng đòi tự do dân chủ cho đất nước.

Cô Quỳnh Anh – con gái bà Minh Hằng.”

Khi được hỏi nguyện vọng của gia đình hiện nay, cô Quỳnh Anh cho biết:

“Với tư cách con của một tù nhân lương tâm, em hy vọng duy nhất một điều là Việt Nam không còn tù nhân lương tâm nữa. Tù nhân lương tâm là những người xứng đáng được ghi nhớ, được biết ơn. Họ là những người đi đầu khởi xướng đòi tự do dân chủ cho đất nước”.

Thân nhân của nhà hoạt động Tạ Phong Tần cho rằng kêu gọi ngoại giao không thôi chưa đủ, cần các áp lực mạnh mẽ hơn để buộc Việt Nam phải thực hiện cam kết về quyền con người.

Cô Tạ Minh Tú:

“Nguyện vọng của gia đình là chị Tần được ra ngoài để trị bệnh vì hiện giờ chị ấy bị 4 thứ bệnh. Bộ Ngoại giao Mỹ kêu gọi tự do cho chị, nhà cầm quyền Việt Nam có nghe hay không thì không biết được. Còn phía Hoa Kỳ cần kêu gọi và xử trí thế nào vì Việt Nam đã ký với Liên Hiệp Quốc về Công ước nhân quyền, Hoa Kỳ phải có áp lực buộc họ phải thi hành”.

Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc Samantha Power cho biết vinh danh 20 nữ tù nhân này là một thông điệp mà Hoa Kỳ muốn gửi tới bản thân các nhà hoạt động và gia đình của họ rằng thế giới không quên những đóng góp hy sinh của họ thăng tiến cho quyền con người và rằng Mỹ sẽ tiếp tục áp lực các chính phủ phải phóng thích họ vô điều kiện.

Hà Nội phủ nhận có tù nhân lương tâm và gọi đó là những người phạm pháp bị xử lý theo pháp luật Việt Nam, khơi dậy những lời kêu gọi yêu cầu Việt Nam cải thiện luật nội địa phù hợp với các chuẩn mực nhân quyền căn bản chung của quốc tế.