Những Mái Chèo Lơi

Những Mái Chèo Lơi

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Đàn cá sẽ chết khi dòng sông nghẽn mạch giữa hàng lớp thủy điện dàn trận từ Lan Thương về Lào, Campuchia rồi kiệt sức ở Cửu Long xa xôi.

Lan Phương – BBC

Khác với Sài Gòn và Phnom Penh, và tựa như Bangkok, Vientiane gần như vắng bóng hành khất. Trong suốt thời gian long nhong ở thủ đô Vạn Tượng, chỉ duy nhất mỗi lần tôi thấy một người khiếm thị vịn vai cô con gái nhỏ đang lần dò băng ngang qua đường Lane Xang – trước khu Chợ Sáng.

Hình ảnh này khiến tôi nhớ đến những những người mù trong quãng đời thơ ấu của mình. Họ thường ngồi ở cầu thang chợ (Đà Lạt) gẩy những tiếng đàn buồn bã, và cất tiếng những lời ca u uất, giữa  đám đông hờ hững.

Hơn năm mươi năm đã trôi qua rồi. Tôi cứ tưởng là không còn ai lê la hát xẩm trên thế gian này nữa chứ. Chúng ta đã bước vào thế kỷ XXI lâu lắm rồi mà!

Ảnh:NgyThanh

Lại có hôm, ở Phnom Penh, nằm chờ hoài mà trời vẫn không chịu sáng. Chán, tôi mở cửa khách sạn tản bộ dọc theo bờ sông. Đi mãi trời mới hừng đông. Trong ánh nắng mai yếu ớt đầu ngày, tôi ngạc nhiên khi thấy những chiếc thuyền con mong manh (cùng những mái chèo mỏng mảnh) đang lững lờ trên dòng Mê Kông bao la và trầm lặng.

Ảnh chụp năm 2015

Bất giác, tôi bật hát khẽ những lời ca (thiết tha) của Văn Phụng năm nào:

Ai qua bến Đà giang cho tôi nhắn vài câu, thương về mái tranh nghèo bên hàng cau. Chia ly đã từ lâu. Ôi mong nhớ làm sao, bao nhiêu bóng người thân mến năm nào. Tôi thương mái chèo lơi, bên manh áo tả tơi, những người lái con đò trên dòng nước.

Tôi không biết bến Đà Giang ở nơi nao, và cứ ngỡ rằng những “mái tranh nghèo bên hàng cau” chỉ là hình bóng xa xôi (thuộc Thời Trung Cổ) vẫn còn rơi rớt đâu đó – trên đất nước mình – vào hồi đầu thế kỷ trước mà thôi. Có ngờ đâu “những mái chèo lơi” vẫn lặng lẽ khua nước ngay giữa Biển Hồ, và trên vô số sông rạch của Cambodia, cho mãi đến bây giờ.

Ảnh chụp năm 2015

Điều bất ngờ hơn nữa là chủ nhân của “những manh áo tả tơi” này, phần lớn, lại không phải là dân bản xứ. Họ chính là những đồng hương khốn khổ của tôi, chứ nào có phải là ai xa lạ. Theo tường trình (“The Situation of Stateless Ethnic Vietnamese in Cambodia”) của MIRO – Minority Rights Organization – vào năm 2014 có khoảng năm phần trăm, hay 750.000 người gốc Việt đang sinh sống ở đất Miên. Đây là sắc dân thiểu số đông nhất ở đất nước này.

Hầu hết họ đều là dân ngụ cư, không khai sinh, không căn cước, không được quyền tiếp cận với bất cứ dịch vụ xã hội nào, và (tất nhiên) không có quyền sở hữu tài sản hay đất đai gì ráo trọi. Bởi vậy, phần lớn kiều bào ở Miên (theo như cách gọi rất lịch sự của Đại Sứ Quán Việt Nam ở Phnom Penh) đều sống lêu bêu – rầy đây mai đó – trên những túp lều nổi xung quanh Biển Hồ, hoặc dọc theo những nhánh sông phụ thuộc.

Họ sống làm sao?

Cũng giản dị thôi. Chỉ cần một chiếc thuyền con, cùng một mái chèo, và hai ba người miệt mài quăng chài hay thả lưới suốt ngày – bất kể nắng mưa – là có cá ăn, phần dư dôi cũng đủ để đổi lại một hai ký gạo, ít mắm muối, và vài ba xị đế.

Y tế, giáo dục, thể thao, giải trí … đều là những khái niệm mơ hồ – nếu chưa muốn nói là xa xỉ – và chả ai có bao giờ nghĩ đến. Đời sống giản dị, và giản lược, từ tay đến miệng thế thôi. Có lẽ không nơi nào trên trái đất này mà đám Việt kiều trông lam lũ và thảm thương đến vậy!

Ảnh chụp năm 2015

Cũng đã đôi lần (vào thập niên 1970) cái đám người trôi sông lạc chợ này cũng đã đàn đúm dắt díu nhau tìm về tổ quốc nhưng rồi họ nhận thức ra ngay rằng quê hương cũng không phải là nơi nương náu được nên rồi lại đành phải tiếp tục tha phương cầu thực. Ở xứ người họ bị gọi một cách khinh miệt là  Duồn: “Tụi Duồn về quê tụi bay hết đi.” Qua bên kia biên giới thì họ bị chửi … là Miên: “Đám Miên chạy qua đây làm gì?”

Tuy bị chính quyền và dân chúng của cả hai nước Việt/Miên bạc đãi nhưng bù lại họ nhận được thiên nhiên dung chấp. Sự bao dung này, tiếc thay, nay không còn nữa. Từ Bankok, vào hôm 25 tháng 12 năm 2015, thông tín viên Lan Phương (BBC) vừa buồn bã cho hay:

“Những người đàn ông giăng lưới ở Đồng Tháp không hiểu vì sao năm nay không có nước lên xứ đồng bằng.

Cá linh đi xa dần, đắt đỏ như món đặc sản không biết tìm đâu ra. Lưới cá treo ở góc nhà, quên mất đã có thời Cửu Long cá nhiều đến mức ứ đầy thủng lưới.

Người nông dân không biết diễn tả điều gì đã hủy hoại sự sung túc một thời trên đồng bằng châu thổ của mình. Dân ở Biển Hồ (Campuchia) cũng chỉ biết im lặng nhìn vào mắt lưới trống rỗng lập lờ dưới nước mùa thiếu cá về.”

Qua lại hồ Tonlé Sap, và lui tới những sông rạch dọc ngang của xứ Chùa Tháp – cả năm qua – nơi đâu tôi cũng thấy những ánh mắt lo âu cùng với những lời hỏi han (nghe) như những tiếng than dài: “Không biết tại sao mà cá mỗi năm một ít, ông à!”

Tôi im lặng, tất nhiên, dù thiệt tình thì lờ mờ có biết nguyên do – sau khi đọc được Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng do nhà Văn Nghệ xuất bản năm 2000. Tác phẩm này của Ngô Thế Vinh vừa được nxb Giấy Vụn tái bản, lần thứ ba, vào năm 2014. Xin xem qua đôi lời giới thiệu nội dung của nhà báo Ngô Nhân Dụng :

Ðầu mối tai họa này là chính sách khai thác điện lực và dẫn thủy nhập điền của chính quyền Cộng sản Trung Quốc. Sông Mekong, tại Trung Quốc mang tên là Lan Thương (Lancang, 澜沧) chảy qua Tây Tạng và các tỉnh Thanh Hải, Vân Nam, trước khi đổ xuống phía Nam. Theo tạp chí World Rivers Review của cơ quan Sông quốc tế (International Rivers, IR), thì vào năm 2014, Trung Cộng đã xây dựng bảy đập thủy điện lớn ở đầu nguồn sông Mekong thuộc nước Tàu, con sông phát nguyên từ Tây Tạng chảy xuống Biển Ðông nước ta. Họ sẽ xây thêm 21 đập ngăn nước lớn khác trong 10 năm tới. Các nước hạ nguồn cũng bắt chước xây các đập nước khác; với dự án xây 11 con đập nữa.

 Nhưng tai họa lớn nhất là nước biển lấn dần vào đất liền thì chỉ dân Việt ở đồng bằng sông Cửu Long gánh chịu. Ðập Don Sahong đang xây ở Hạ Lào, nhằm cung cấp điện cho Lào và Thái Lan sẽ ảnh hưởng lớn trên đời sống dân Campuchia và miền Nam Việt Nam.

Trong cuốn sách biên khảo viết dưới hình thức vừa tiểu thuyết vừa ký sự, Cửu Long Cạn Dòng, Biển Ðông Dậy Sóng, Bác Sĩ Ngô Thế Vinh đã mô tả hành động của chính quyền Trung Quốc: “Vào Tháng Tư năm 2001, Trung Quốc đã ký một thỏa hiệp về thủy vận trên sông Cửu Long nhưng chỉ với 3 quốc gia Miến Ðiện, Thái và Lào với kế hoạch vét lòng sông, cả dùng cốt mìn chất nổ phá tung những khối đá trên các đoạn ghềnh thác, các đảo nhỏ trên sông để khai thông mở rộng đường sông cho tàu lớn trọng tải từ 500-700 tấn có thể di chuyển từ cảng Tư Mao xuống Chiang Khong Chiang Sean Bắc Thái xuống thẳng tới Vạn Tượng. Trong khi Việt Nam và Campuchia là hai quốc gia cuối nguồn, trực tiếp chịu ảnh hưởng của kế hoạch ấy thì bị gạt ra ngoài.”

Thảo nào mà ở Phnom Penh đã có kẻ bỏ lại “những mái chèo lơi” cho sông nước, chỉ còn khoác mỗi “manh áo tả tơi” thất thểu bước lên bờ, rồi nằm dài giữa công viên phố thị.

Ảnh chụp năm 2015

Khi mà ở thượng nguồn sông Tiền, và sông Hậu ngư dân phải đi ăn xin thay vì đi chài lưới thì ai cũng có thể tiên đoán được hậu vận của hàng chục triệu người dân Việt – ở Đồng Bằng Sông Cử Long – mà không cần phải là thầy bói.

Ngày trở về – Dau Nguyen

YouTube player

Nhạc cảnh “Ngày trở về” như một lời cảm ơn xin gởi tới các anh Thương Phế Binh VNCH vì những đóng góp xương máu của các anh cho Tự Do dân tộc và những thiệt thòi bất công các anh đã gánh chịu trong bao năm qua.
Nhạc và lời: Phạm Duy. Tiếng hát: Duy Khánh. Hình ảnh: Internet. Thực hiện nhạc cảnh: Dau Nguyen.

Rùa Hồ Gươm & Người Hà Nội.

Rùa Hồ Gươm & Người Hà Nội.

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Chỉ đạo thông tin: trong không khí vui tươi, hân hoan chào đón đại hội đảng, báo chí tạm thời không đăng tin cụ ruà ở hồ gươm chết.

Tin nhắn văn bản

Sách Lam Sơn Thực Lục của Nguyễn Trãi có ghi:

“Đầu năm 1428, Lê Thái Tổ cùng quần thần bơi thuyền ra hồ Thủy Quân. Ra giữa hồ, có Rùa vàng nổi lên mặt nước, chắn trước thuyền của vua gọi to:

– Xin nhà vua hãy hoàn lại gươm thần cho Long Vương!

Lê Thái Tổ rút gươm trả, rùa vàng ngậm lấy gươm lặn xuống nước đi mất. Từ đó hồ Tả Vọng được đặt tên là hồ Hoàn Kiếm.”

Câu chuyện về Cụ Rùa ở hồ Hoàn Kiếm, tất nhiên, không chỉ ngừng ngang đó. Gần 600 năm sau – nhà báo Hải Diệp, trong chuyên đề Nhật Ký Đại Lễ Ngàn Năm Thăng Long – có ghi: “… vào ngày khai mạc Đại lễ  (1/10) cụ đã nổi vào buổi sáng… với người dân Thủ đô, vào dịp Đại lễ sự xuất hiện của cụ Rùa luôn gợi lên một cảm thức linh thiêng bên hồ Gươm huyền thoại.”

Ông Trương Duy Nhất, ngó bộ, không bằng lòng lắm với ghi nhận (vừa nêu) nên  lầu bầu phản đối:

 “Hồ bẩn, ngột ngạt, rùa phải ngóc đầu nhoi lên mặt nước để thở thì bị gán cho tích này điềm nọ, đến mức báo chí còn thổi rằng đó là cụ rùa thiêng ngoi lên để… chào mừng đại lễ nghìn năm Thăng Long- Hà Nội. Mô Phật! May mà rùa không biết nói!”

Thằng chả ăn nói báng bổ, tầm bậy tầm bạ (thấy rõ) vậy mà hoàn toàn … không trật! Đại Lễ Ngàn Năm Thăng Long đã qua nhưng “cụ rùa thiêng (vẫn cứ) ngoi lên để chào mừng” khiến cho ký giả Kỳ Duyên sốt ruột:

“Về hiện tượng Cụ Rùa nổi lên trên mặt nước quá nhiều lần – không còn là bình thường, mà ở góc độ sinh học, là bất thường. Khi đó, Cụ không còn là ngắm phố phường, con cháu lại qua. Mà dường như Cụ đang ngóng con cháu hãy giúp Cụ…. nhiều người dân Hà Nội kinh hoàng nhận ra, mình Cụ Rùa đầy vết lở loét, dấu hiệu rõ ràng nhất của nước hồ nhiễm bẩn quá nặng.”

Dù chưa bao giờ nhìn thấy Cụ Rùa, và cũng chưa bao giờ có dịp đặt chân đến Hà Thành, tôi cũng “kinh hoàng” chết mẹ (luôn) vì “Chín Mươi Lăm Phần Trăm Hồ Ao Hà Nội Bị Ô Nhiễm” – theo như tường thuật ký giả Hương Thu:

“Trung tâm nghiên cứu và cộng đồng môi trường (CECR) vừa công bố kết quả nghiên cứu về môi trường của 120 hồ, ao, đầm, thủy vực lớn nhỏ của 6 quận trung tâm Hà Nội.Theo đó, chỉ có 6 hồ đạt yêu cầu chất lượng ở tất cả các chỉ tiêu nghiên cứu, chiếm tỷ lệ 5%, phần lớn các ao hồ bị ô nhiễm chất hữu cơ, nồng độ oxy hòa tan dưới mức tiêu chuẩn cho phép.Hơn 80% hàng lang bờ bị ô nhiễm, và đang đứng trước nguy cơ bị lấn chiếm để xây nhà, bãi đỗ xe, trở thanh bãi tập kết phế liệu,rác thải sinh hoạt.

“Theo CECR, nguyên nhân gây ô nhiễm chính là do nước thải sinh hoạt và một phần nước thải từ gia đình hoặc cộng đồng tùy tiện thải xuống hồ. Ngoài ra, hiện tượng đổ phế thải xây dựng, đổ đất, lấn chiếm ao hồ… cũng làm giảm đáng kể diện tích ao hồ, nhiều hồ đang dần biến mất.”

Riêng mức độ ô nhiễm của hồ Linh Quang, xem ra, có vẻ (hơi) vượt chỉ tiêu –  theo lời nhà báo Hải Hà,

“Gần 50 năm nay, hồ Linh Quang chưa một lần được nạo vét. Nước hồ đen đặc bốc mùi hôi thối, mực nước nơi sâu nhất cũng chỉ hơn 1 mét, còn lại toàn là bùn và rác do người dân đổ xuống để lấn chiếm. Vừa qua khi phát hiện các ca tả ở phường Văn Chương, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương đã lấy mẫu nước hồ để xét nghiệm và phát hiện phẩy khuẩn tả cũng như nhiều loại vi khuẩn gây bệnh đường ruột khác… ”

Cùng với sự “tôi luyện khả năng chịu đựng” sự hôi thối của ao/hồ, sức “chai lỳ” của người Tràng An (trước hệ thống sông cống dơ bẩn và tù đọng) cũng vô cùng đáng nể – theo như (nguyên văn) cách dùng từ của phóng viên Việt Hưng:

 “Sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Sét, sông Lừ… và còn rất nhiều con sông nữa, trước kia mang dòng nước chảy khắp Hà Nội, cùng với hệ thống các ao hồ đã có tác dụng điều hoà, giảm bớt cái nóng oi bức của miền Bắc.

Giờ đây, với tốc độ phát triển chóng mặt của Hà Nội cả về kinh tế và dân số, các dòng sông này đổi tên thành những ‘cống nước thải’ , mang đầy rác rưởi và bốc mùi hôi thối khó chịu. Người dân sống gần ‘cống’ lâu ngày đã tôi luyện khả năng chịu đựng, chai lỳ trước mùi hôi thối và môi trường ô nhiễm. Bằng chứng là họ vẫn cứ đời này qua đời khác sống ‘mạnh khỏe’ cạnh những dòng sông chết ấy, vẫn quần áo thơm tho ngẩng cao đầu bước đường, bỏ lại sau lưng mùi tanh nồng của nước thải…”

Người dân khu Hào Nam ngồi chơi bên cái cống nồng nặc mùi rác thải. Nguồn: Dân Trí.

Với hệ thống sông hồ “tanh nồng” như thế, người Hà Nội – tất nhiên – phải dùng nước bẩn. Sự bẩn thỉu được phóng viên Châu Như Quỳnh mô tả là “hãi hùng” khi nhìn thấy ở khu vực Thanh Trì – Hà Nội – trong bát “nước sạch” vừa được xả từ vòi, nhiều con giun màu đỏ, có chiều dài khoảng từ 0,5-1,5cm bơi ngoe nguẩy, hết nổi lên lại lặn xuống.

Giun trong bát nước vừa được lấy từ vòi. Nguồn: Dân Trí

Tiến sĩ Trần Văn Nhị (Viện Khoa học & Công nghệ) cho biết:”Ngày ngày, hàng trăm nghìn người dân Hà Nội phải uống nguồn nước chứa những chất độc có khả năng gây ung thư cao mà không biết đến bao giờ mới được sử dụng nước sạch hoàn toàn.”

Để khắc phục tình trạng này, ông đưa ra một lời khuyên (vô cùng) giản dị: “Trong khi chờ đợi phép màu từ phía các nhà chức trách, mỗi hộ dân nên tìm cách tự cứu lấy mình.”

Tự cứu bằng cách nào ?

Cầu Trời mưa xuống chăng?

Việt Nam vốn là nơi xuất sứ của câu thành ngữ “hiền như một ngụm nước mưa” mà, phải không?

Dạ phải nhưng đó là chuyện đã xưa rồi, hồi trào phong kiến hay trào thực dân kìa. Kịp tới khi cách mạng về thì ở xứ sở này không còn cái gì mà hiền (hay lành) được nữa, kể cả nước mưa. Ông Dương Hồng Sơn, Giám Đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Môi Trường, tuyên bố:

“Ở Việt Nam, lượng mưa axit đã chiếm 30%, có nơi tới 50% số lần mưa… gây tác hại không nhỏ đối với con người, cơ sở hạ tầng, sản xuất… Những báo cáo của mạng lưới quan trắc quốc gia cho thấy, mưa axit từ nước ngoài vào Việt Nam đang tăng lên…” (Mưa Độc Có Thể Tàn Phá Hệ Hô Hấp Của Con Người).

Nước ngoài là nước nào vậy cà?

Dân chúng Miên, Lào, Miến Điện không mấy ai có “cơ hội” được đụng chạm gì nhiều tới máy móc. Họ đâu có làm gì ra khói, ngoại trừ những lúc họ nướng khoai, sao có thể tạo ra mưa acid được, cha nội?

Vậy thì khói thải ở đâu ra? Phải có lửa ở chỗ nào đó mới được chớ, đúng không?  Không có lửa sao có khói, mấy cha? Lò dò một chập, tui tìm được xuất xứ của nguồn khói lạ (nguyên nhân gây ra “mưa axit từ nước ngoài vào nước ta”) qua một bài viết ngắn, bằng Anh Ngữ: “Transboundary sulfur pollution & Vietnam.”

Tác giả, một chuyên gia về khí quyển hiện sinh sống tại nước Úc, bày tỏ sự quan ngại rằng ở Ðông Nam Á có những quốc gia chỉ tạo ra những lượng lưu huỳnh rất nhỏ nhưng lại phải chịu nhận sự tích tụ của loại hóa chất này (rất lớn) từ những lân bang. Việt Nam và Nepal là hai “nạn nhân” điển hình, trong vùng, về tệ trạng này.

Tài liệu mà tiến sĩ Nguyễn Đức Hiệp trích dẫn (R. Arndt, G. Carmichael, J. Roorda – Seasonal source-receptor relationships in Asia, Journal of Atmospheric Environment, Vol. 32, No. 8, 1988, pp. 1937-1406) được phổ biến từ năm 1988 lận. Hơn hai mươi năm sau, ông Dương Hồng Sơn – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Môi trường thuộc Viện Khoa học Khí tượng – mới từ tốn cho công luận biết là  “hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đáng giá tổng thể ảnh hưởng của mưa axit,” dù vẫn theo lời ông: “Mưa độc có thể tàn phá hệ hô hấp của con người” (VnMedia 23/12/2008).

Mà dân Việt thì rõ ràng không cần thêm “khói lạ” của ông bạn láng giềng vĩ đại. Khói nhà vốn đã có dư rồi, theo đánh giá của GS.TS.Vũ Hoan – Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học Kỹ thuật Hà Nội:

“Hiện nay tình trạng ô nhiễm môi trường không khí Hà Nội đang ở mức báo động đỏ. Nồng độ bụi lơ lửng ở các quận nội thành đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép 5–6 lần thậm chí có nơi trên 10 lần. Lượng khí thải độc hại như CO2, SO2, CO3, NO, CO… ngày càng gia tăng và tác động tiêu cực tới con người, môi trường.”

“Vào giờ cao điểm, nồng độ bụi tính trung bình của riêng TP Hà Nội gấp 4 lần tiêu chuẩn cho phép, nồng độ khí CO cao hơn 2,5 lần, hơi xăng cao hơn 12,1 – 2000 lần tiêu chuẩn cho phép.  Người dân sống quanh các  điểm nóng giao thông có biểu hiện triệu chứng rõ tới sức khoẻ như kích thích các hệ cơ quan mắt, mũi, họng, da và thần kinh thực vật…”

“Hà Nội phải chịu đựng âm thanh hỗn tạp của còi xe, tiếng động cơ, tiếng ồn tại các công trường xây dựng và hàng loạt tạp âm khác làm cho môi trường không khí trở nên chật chội ngột ngạt.”

Bụi mù mịt ở đường Láng – Hòa Lạc. Ảnh: Thu Huyền

Thở không khí bụi bặm và ngột ngạt khói xe, sống bên cạnh sông hồ hôi thối, dùng nước uống không đủ tiêu chuẩn vệ sinh, tiêu thụ những loại thực phẩm độc hại … (chắc) không phải là “độc quyền” của người dân Hà Nội. Tôi e rằng người dân Việt, ở rất nhiều thành phố khác nữa, cũng đang sống trong môi trường (bệnh hoạn) tương tự.

Hà Nội chỉ may mắn hơn những địa phương khác ở chỗ có một Cụ Rùa. Sự xuất hiện bất thường, đều đặn, của sinh vật này – trong thời gian qua – là một tín hiệu (không lành) về tình trạng môi sinh của cả cộng đồng.

Điều không may là “tín hiệu” này không được đánh giá đúng mức. Mọi nỗ lực của UBNDTP Hà Nội đều chỉ chăm chú vào “cá thể” của Cụ Rùa thôi, và cả nước (xem chừng) cũng đều đồng tình như thế cả.

Tại sao người dân Việt lại có thể sống vô tư như vậy? Lý do, tôi trộm nghĩ, có lẽ bởi họ thường xuyên được “ru ngủ ” bởi những “bài ca” êm dịu – đại loại như:

E là đã đến lúc phải tỉnh dậy đi thôi, muộn lắm rồi!

Linh hồn nhẹ nhàng khi ‘thoát xác’

Linh hồn nhẹ nhàng khi ‘thoát xác’

Cuối tháng 4 / 1987, người ta chở bà Mary Houghton, 68 tuổi vào bệnh viện Boston vì chứng đau tim. Bệnh nhân ngưng thở lúc 6 giờ tối, mọi cứu chữa đều vô hiệu và bác sĩ tuyên bố bệnh nhân đã chết. Xác bà được tạm đặt trong một căn phòng riêng chờ thân nhân đến làm giấy tờ tẩm liệm. Khoảng 11 giờ đêm, bà Houghton tỉnh lại bấm chuông gọi y tá. Bác sĩ trực đến khám và xác nhận bà lão đã hồi sinh.

Trường hợp bệnh nhân tắt thở vài giờ sau lại sống dậy không có gì lạ lùng với y giới nhưng bà Houghton đã nhớ lại những diễn tiến sau khi chết và kể lại như sau:

“Tôi đang ngồi ở nhà đọc báo thì thấy choáng váng, xây xẩm mặt mày và tự nhiên hôn mê. Khi tỉnh dậy tôi cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thoát, chung quanh tôi là một lớp sương khói dày đặc khiến tôi bỡ ngỡ không biết mình đang ở đâu. Tôi lên tiếng gọi nhưng vô hiệu.

Tôi mò mẫm đi trong lớp sương mù đó được một lúc thì nhận thức rằng có lẽ mình đã chết. Tôi biết mình mắc chứng đau tim đã lâu, bác sĩ nói rằng tôi chẳng còn sống được bao lâu nữa nên tôi không lấy thế làm buồn.

Ðiều bất ngờ là khi vừa chấp nhận điều này thì tôi thấy mình đang đứng ngay bên cạnh giường quan sát thân thể của tôi nằm bất động trên đó. Sau một lúc xúc động tôi cố gắng trấn tĩnh và tự chủ rằng mình sống như thế cũng là đủ rồi. Trong khi xúc động thì luồng ánh sáng bao quanh tôi trở nên đen tối, khó chịu, tôi có cảm giác như bị lôi kéo vào một vũng bùn nhầy nhụa, hôi hám. Tôi bèn lên tiếng cầu nguyện thì thấy trong mình dễ chịu lạ thường, lớp ánh sáng bao quanh dần dần trở nên quang đãng hơn.

Một lúc sau tôi thấy thân thể nhẹ hẫng như có thể bay bỗng lên được. Tôi bèn để cho nó tự nhiên và thấy mình lơ lửng trên không nhìn xuống phía dưới. Lúc ở trên cao nhìn xuống, tôi thấy có một chùm chìa khoá màu đỏ của ai để trên nóc tủ thuốc.

Tôi thầm nghĩ ai lại để chìa khoá ở đó làm chi ?

Ðang suy nghĩ vẫn vơ thì tôi thấy mình đã đi xuyên qua trần nhà để lên lầu trên và thấy hai người y tá đang xem một trận đấu bóng rỗ trên ti-vi, trận đấu vừa kết thúc khi đội Los Angeles Lakers thắng Boston Celtics, và một người y tá đánh cuộc thua phải trả cho bạn đồng nghiệp 20 mỹ kim. Tôi thong thả đi dọc theo hành lang bệnh viện và gặp rất nhiều người như tôi cũng đang lướt đi, không ai nói với ai lời nào.

Ða số có vẻ vội vã, có người hoảng hốt là đàng khác. Tôi thấy một thanh niên đang đứng cạnh xác mình một cách đau khổ, tôi lên tiếng an ủi nhưng có lẽ anh không nghe được lời khuyên bảo của tôi. Vì một lý do gì không rõ, tôi hiểu ngay sự bận tâm của anh ta vì đã không hoàn tất được một số việc. Anh ta cố sức chui lại vào cái xác đã lạnh cứng nhưng vô hiệu.

Anh đâm ra hoảng hốt khiến tôi cũng mất bình tĩnh theo nên tôi đành bỏ anh ta ở đó mà đi chỗ khác. Tôi nghĩ đến các con của tôi và lập tức thấy mình đang đứng trước mặt đứa con gái lớn. Con gái tôi đang khóc. Tôi muốn ôm lấy nó nhưng tiếng khóc của nó làm tôi thấy khó chịu.

Mỗi khi trong người khó chịu thì lớp ánh sáng bao quanh tôi lại chuyển sang một màu đen tối, nhầy nhụa khiến tôi sợ hãi. Tôi cố gắng trấn tĩnh tâm hồn và nghĩ đến hai đứa con trai thì thấy mình đang đứng ngay bên cạnh chúng. Hai đứa đang bàn việc chôn cất cho tôi.

Thằng Michael phàn nàn về việc tôi đã không chịu mua bảo hiểm nhân thọ.. Cả hai chỉ nghĩ đến số tiền mà chúng sẽ phải chi ra hơn là nhớ thương đến mẹ của chúng. Tôi không hiểu tại sao tôi lại có thể đọc rõ tư tưởng của các con tôi như vậy. Càng đứng đó tôi càng bực bội vì hai đứa cứ cãi nhau mãi về việc chôn cất và việc phân chia gia tài nên tôi lại bỏ đi.

Tôi không biết sẽ đi đâu. Tôi chẳng có thân nhân hay bạn bè nào cả. Ðến lúc đó tôi mới bắt đầu nghĩ lại cuộc đời của mình. Hình như tôi đã sống một cách ích kỹ, không giao thiệp với ai và cũng không có ai là bạn thân thiết. Cả một quá khứ bỗng hiện ra trước mắt tôi như người đang xem phim chiếu bóng.

Tôi thấy rất rõ những quyết định của mình, những lỗi lầm mà tôi đã tạo ra. Những việc mà tôi nghĩ là tầm thường, không đáng kể đều hiện ra rõ rệt và phản ảnh tâm trạng của tôi khi đó; vì sao tôi đã hành động như vậy; tại sao tôi lại làm việc đó… Hơn bao giờ hết tôi thấy mọi sự việc một cách khách quan vô tư chứ không chủ quan như trước. Tôi không hiểu tại sao mình lại có thể bình tĩnh nhận xét như thế được.

Tôi bắt đầu cầu nguyện và tự nhiên thấy lớp ánh sáng bao quanh bỗng sáng chói một cách lạ lùng. Tôi thầm nghĩ phải chăng tôi có thể hành động khác khi xưa khi biết rõ những nguyên nhân, hậu quả việc làm của mình. Tất cả có thể quy về một điều duy nhất: Tôi là một người quá tự hào về mình, quá hãnh diện về những giá trị viển vông, tạm bợ mà không hề biết rằng những điều đó hoàn toàn vô giá trị khi người ta từ bỏ cõi sống này.

Chính vì tự hào mà tôi đã khoác lên mình những mặc cảm tự tôn, coi thường người khác, bất chấp dư luận và nghĩ rằng tôi luôn luôn có lý trong mọi công việc. Hậu quả là tôi có một đời sống khô khan, không bạn bè thân thiết, ai ai cũng muốn xa lánh tôi, ngay cả những đứa con của tôi nữa. Phải chăng tôi có thể chuộc lại những điều đã làm? Chưa bao giờ tôi lại có ý nghĩ lạ lùng như vậy. Lần đầu tiên tôi hối hận một cách chân thành và tự nhiên tôi lên tiếng cầu nguyện.

Tự nhiên tai tôi bỗng ù đi, luồng ánh sáng bao quanh tôi trở nên sáng chói một cách lạ lùng, tôi thấy bình tĩnh như có một sự an ủi lớn lao nào đó vừa đến với tôi, và tôi cương quyết rằng tôi sẽ chuộc lại những lỗi lầm khi xưa. Tôi chắp tay cầu nguyện Thượng Ðế hãy cho tôi một cơ hội nữa và luồng ánh sáng chung quanh tôi tự nhiên sáng chói một cách mãnh liệt khiến tôi phải nhắm mắt lại và bất chợt tôi nghe được các âm thanh quen thuộc. Tôi thấy mình đang nằm trên giường bệnh viện… Tôi đã tỉnh lại”.

Lời khai của bà Houghton đã được bác sĩ Elizabeth Kubler Ross kiểm chứng rất kỹ. Hai nhân viên trực trong bệnh viện xác nhận họ có đánh cuộc với nhau về trận bóng rỗ, kết quả trận banh xảy ra đúng như lời bà Houghton đã thuật lại.

Hai đứa con trai của bà Houghton cũng xác nhận họ đã cãi nhau về việc bảo hiểm và tiền chôn cất.

Ðiều bất ngờ là một bác sĩ trực đánh mất chùm chìa khoá xe hơi màu đỏ từ mấy tuần trước, nhờ lời khai của bà Houghton mà ông nhớ rằng trong lúc vội vã, ông đã ném đại nó lên nóc tủ thuốc.

Chiếc tủ này rất cao, gần chạm đến trần nhà, một người đúng dưới đất không thể nhìn thấy nó được nên mặc dù tìm kiếm mãi mà vẫn không ai thấy… trừ khi họ đứng trên trần nhà nhìn xuống.

S.,T.

“Đại gia” cũng khóc

“Đại gia” cũng khóc

Đoàn Dự ghi chép

Bước sang năm mới 2016, đại gia Lê Ân cũng vừa tròn 78 cái xuân xanh. Thế nhưng không ai nghĩ ông là một cụ già, bởi lẽ ông vẫn còn khẩu khí ngút trời và luôn có những hành động khó đoán. Sau một thời gian dài theo đuổi vụ kiện về căn nhà với người con trai cả cùng máu mủ, đại gia Lê Ân đã giành phần thắng trong phiên tòa ngày 23-12-2015. Tuy nhiên, kết quả ấy đồng nghĩa với nụ cười hay nước mắt? Bởi vì ông cực kỳ giàu có, sở hữu các tài sản hàng ngàn tỷ đồng, chỉ riêng chiếc xe Rolls Royce rước dâu ông “mua chơi” khi làm đám cưới với cô vợ thứ 5 mới 20 tuổi đã là 26 tỷ đồng, tức cỡ 1,5 triệu đo-la lúc ấy (2011), vậy thì căn nhà đối với ông đâu có nhằm nhò gì. Dù khỏe ông cũng không thể sống tới vài trăm tuổi được. Các tài sản lớn như núi ông sẽ để lại cho ai ngoài cô vợ trẻ? Cha con lôi nhau ra tòa, nếu suy nghĩ kỹ “đại gia” sẽ thấy ngậm ngùi và cái đó người ta kêu là… đại gia cũng khóc!

Trong số những đại gia vẫn hãnh diện khoe số tài sản hơn một ngàn tỷ của mình tại Việt Nam hiện nay, Lê Ân là trường hợp không dễ hiểu chút nào. Cuộc đời ông nhiều thăng trầm, nhiều ngang trái mà cũng nhiều… ngông nghênh. Vì vậy chuyện ông kiện tụng người con cả ruột thịt không hẳn bởi một căn nhà, mà chủ yếu là để chứng minh công lý phải thuộc về phía ông.

Người con trai tranh chấp tài sản với đại gia Lê Ân có cái tên khá đặc biệt do chính ông đặt: Lê Đa Ni En. Đó là con trai lớn nhất ông có với bà vợ đầu tiên tên Lê Thị Ngọc Lan, đã gắn bó với ông từ thuở hàn vi. Để hiểu rõ vụ kiện một cách đơn giản, chúng ta có thể tóm tắt như sau:

Căn nhà số 408 ngoài mặt đường Cách Mạng Tháng 8 được vợ chồng ông Lê Ân mua và sinh sống từ năm 1970, diện tích 76m2. Năm 1984, Lê Ân ly dị bà Ngọc Lan, để lại căn nhà này cho vợ cùng 5 người con ở và buôn bán.
Ông “làm lại cuộc đời” với người vợ thứ hai lai Mỹ, cô này có một đứa con, bỏ lại cho ông nuôi rồi đi mất. Ông hàn gắn với người thứ ba tên Kim Thu, đồng thời năm 1970, để gần gũi với máu mủ ruột rà, ông mua căn nhà ở ngay phía sau sát sau sát với căn nhà 408 Cách Mạng Tháng 8, có diện tích 149,7m2.

Từ năm 1990, Lê Ân chuyển ra Vũng Tàu, mua nhà ở Vũng Tàu, căn nhà 149,7m2 (tức căn phía trong) khóa cửa bỏ không.

Bẵng đi một dạo, Lê Ân phát hiện ra Lê Đa Ni En đứng tên chủ quyền căn nhà 408 Cách Mạng Tháng 8 với diện tích lên đến 225,7m2, tức bao gồm luôn cả căn bỏ không phía trong, điều đó có nghĩa Đa Ni En đã gộp hai căn làm một và điều lạ lùng là cơ quan hành chánh quận Tân Bình Sài Gòn vẫn làm giấy tờ cho Đa Ni En làm chủ trong khi cả hai căn đều đứng tên Lê Ân. Ông Lê Ân điên tiết, bèn khởi kiện con trai ra tòa để đòi lại tài sản của mình.
Sau 25 năm kiện tụng, ngày 23-12-2015 đại gia Lê Ân đã thắng con trai mình về mặt pháp lý. Còn về mặt đạo đức thì thật ê chề khi hai cha con coi nhau như thù địch. Thậm chí trước tòa họ không xưng hô với nhau có chút tình nghĩa, mà ông Lê Ân gọi con trai mình là “ông Đa Ni En”, còn Đa Ni En gọi ông là “đại gia Lê Ân”. Ông Lê Ân biện giải với tòa rằng ông muốn lấy lại căn nhà để sẽ bán đi, chia đều cho các con.

Tuy nhiên, mọi thứ dường như đã bị đẩy đi quá xa khi, cũng trước tòa, ông nói về con trai: “Con cả của tôi không có cái tâm. Tôi nhìn mặt nó không phải mặt người mà là mặt quỷ. Mấy chục năm qua nó định đánh tôi nhưng tôi đều chạy. Chả lẽ tôi đánh lại nó thì bằng với nó hay sao? Là một người cha mà có đứa con ngỗ nghịch như vậy thì tôi đành ngậm bồ hòn làm ngọt. Cay đắng lắm nhưng tôi không biết làm thế nào”. Ối trời cao đất dầy, cha con mà cạn tàu tráo máng như thế thì đúng là cay đắng thật!

Dai gia cung khoc - H.2
Thẳng thắn mà nói, ông Lê Ân là một người rất sòng phẳng. Ông luôn quyết liệt kiểu ăn miếng trả miếng, ơn thì đền, oán thì trả. Trước khi cưới cô Mai Thị Mai (báo chí thường gọi là cô Mai Mai) nhỏ hơn ông 55 tuổi làm vợ thứ 5, đại gia rất hận ba người vợ trước đó, nhân lúc mình nguy khốn đã phụ bạc mình. Để thỏa cơn uất hận, ông cho tạc ba bức tượng của ba bà vợ cũ và trưng bày ngay trước khuôn viên Khu du lịch Chí Linh của ông ở Vũng Tàu. Đến nay ông vẫn bộc bạch với báo chí hầu như chưa nguôi cơn giận: “Tui cho tạc tượng mấy bả để khắc cốt ghi tâm những gì mấy bả đã đối xử với tui. Mỗi lần nhìn tượng mấy bả, tui càng có thêm nghị lực để vươn lên, nhắc nhở mình rằng không nên sa lầy vào những cuộc hôn nhân không tốt đẹp như vậy nữa!”

Dĩ nhiên yếu tố để được gọi là đại gia là tiền bạc chứ không ai đòi hỏi đại gia phải có phẩm chất của bậc đại trượng phu, bao dung, độ lượng!

Tuổi thơ nghèo khó
Ông Lê Ân sinh năm 1938 (Mậu Dần) trong một gia đình đông anh em ở Quảng Nam. Ông là người con thứ 5.
Lê Ân có tuổi thơ nghèo khó, túng thiếu. Biến cố đầu tiên của cuộc đời ông chỉ xuất hiện khi, năm 1958, 20 tuổi, ông trốn quân dịch, vào thị xã An Lộc, tỉnh Bình Long (nay là tỉnh Bình Phước) dưới chế độ TT Ngô Đình Diệm.
Vào An Lộc, Lê Ân mưu sinh bằng cách thuê một chiếc máy may hiệu Singer đã cũ – loại máy sử dụng bàn đạp bằng chân – rồi đặt trước doanh trại quân đội An Lộc, phía trên vỉa hè để sửa thuê quần áo lính. Ông sửa rẻ, lại đẹp nên lính đem ra sửa rất đông, nhiều khi làm không hở tay.

Hơn năm sau, Lê Ân đã có đủ tiền mua lại cái máy may đã thuê đồng thời mua thêm 2 cái máy may khác để mướn thợ làm phụ với mình.

Một lần, Lê Ân có một vị khách lạ. Ông cụ này từ Bắc vào Nam từ năm 1948. Khách bảo “Thấy cậu khéo tay, lại cần mẫn làm ăn. Nếu muốn học may áo vest thì tôi truyền cho”. Như hạn hán gặp cơn mưa, Lê Ân nhận lời ngay lập tức và trở thành đệ tử của vị khách.

Sau khi đã học hết nghề, với một tấm giấy hoãn dịch giả mua được của một sĩ quan ở An Lộc, Lê Ân gom hết vốn liếng, về Sài Gòn thuê một căn nhà trên đường Trần Quý Cáp (nay là Võ Văn Tần, quận 3) rồi mở một tiệm chuyên may đồ vest với tên gọi Chiến’s Tailor.

Chỉ một thời gian ngắn, Chiến’s Tailor trở thành một trong những tiệm may đồ vest hàng đầu của Sài Gòn với cách thức do ông đặt ra: vải tốt, may đẹp, giá hạ và đúng hẹn. Tiền vào như nước nên chẳng bao lâu sau Chiến’s Tailor trở thành một trung tâm Âu phục danh tiếng. Ông nói: “Để quảng cáo cho mình, cứ hễ bước ra đường là tôi mặc đồ vest và là đồ do chính tôi may”. Cái thói quen ấy Lê Ân vẫn còn giữ mãi tới ngày nay, áo vest ông mặc phải nói là rất đẹp.

Có tiền, Lê Ân bắt đầu mở rộng thêm các ngành nghề kinh doanh khác, như thành lập xưởng sản xuất giày dép da hiệu Italy; kinh doanh xe lam, xe buýt chạy đường Sài Gòn – Bảy Hiền – Bà Chiểu; thành lập công ty kinh doanh địa ốc; mua trái phiếu người cày có ruộng của nhà nước và công khố phiếu quốc gia..vv.

Tiếp theo đó, Lê Ân dồn toàn bộ vốn liếng thành lập một ngân hàng tư nhân của riêng mình. Tuy nhiên, ngân hàng này chưa kịp kinh doanh có lời thì Sài Gòn “giải phóng”. Toàn bộ trái phiếu, công khố phiếu quốc gia và các chứng từ có giá trị lớn của ông dưới chế độ cũ đều biến thành… giấy lộn!

Cái đáng quý nhất còn sót lại của Lê Ân sau khi ngân hàng của ông bị “đứt bóng” là uy tín. Chính vì có uy tín nên mặc dầu trắng tay nhưng ông vẫn có những người bạn cho mượn vốn. Ông kể: “Tôi bắt đầu lại bằng cách xin đấu thầu thu gom sắt thép phế liệu thời hậu chiến. Thời đó, đây chính là một nguồn lợi khổng lồ”.

Ngoài việc kinh doanh phế liệu, Lê Ân còn lao vào một lãnh vực hoàn toàn mới mẻ đối với ông. Thời điểm này, người Việt ở các nước ngoài đã bắt đầu gửi quà về cho gia đình, mà quà đa số là những thùng thuốc tây. Hợp tác với một dược sĩ tên Gia, ông lập một hệ thống tư nhân thu mua thuốc tây – trong đó đặc biệt là các loại thuốc “ngậm” – tức những thứ thuốc đặc trị các bệnh ít gặp. Ông nói: “Chính vì là thuốc “ngậm” rất ít người mua nên khi thu vào giá rất rẻ, nhưng nếu có ai cần đến thì lại bán được với giá rất cao. Mới nghe qua người ta thấy phi đạo đức, nhưng cứ thử nghĩ, tôi bỏ ra một cây vàng chẳng hạn để mua một thùng thuốc “ngậm”, rồi một năm sau, không bán được cho ai, thuốc hết “đát” phải vứt bỏ là tôi mất luôn cả một cây vàng”.

Với việc dám mua bán các loại thuốc đặc trị, Lê Ân thu được những khoản lời khổng lồ. Đặc biệt nhất là sau 2 năm kinh doanh thuốc tây, hầu như ông thuộc lòng các mặt hàng thuốc, từ tên gọi cho tới công dụng, liều dùng, giá cả v.v…

Từ những khoản lợi nhuận này, ông tiếp tục đầu tư làm xưởng sản xuất xe đạp và nhà máy chế biến xà bông, đồng thời thành lập tiệm vàng Chiến Thành với giấy phép kinh doanh là gia công vàng bạc nữ trang. Tuy nhiên, mỗi đêm Lê Ân lại âm thầm phân kim hàng chục lượng vàng đã mua được từ nhiều nguồn khác nhau, thêm bạc vào đó (gọi là vàng “xanh”, kém chất lượng) để bán lại cho những người muốn đi vượt biên. Chính vì hành vi này mà Lê Ân bị bắt và bị đi cải tạo một thời gian khá dài về tội giúp đỡ phương tiện cho người vượt biên.

Bị đi kinh tế mới 
Sau khi ra tù, Lê Ân bị cú sốc thứ hai khi nhà nước CSVN thực hiện chủ trương đánh tư sản mại bản, gia đình ông thuộc thành phần bị đuổi đi kinh tế mới.

Một người như Lê Ân đâu có chịu ở nơi rừng rú, khỉ ho cò gáy, thiếu thốn đủ mọi thứ. Từ kinh tế mới, ông đem gia đình trốn về Nha Trang để không ai biết gốc tích của mình, rồi mua nhà, lập cửa hàng bán đồ phụ tùng xe đạp, sản xuất khung xe đạp và mua bán vải tại Chợ Đầm Nha Trang.

Tuy nhiên, sai lầm lớn nhất của ông là giao toàn bộ tài sản, tiền bạc, vàng và kim cương hột xoàn cho người vợ đầu gối tay ấp đã có với mình 5 mặt con, tức bà Lê Thị Ngọc Lan. Năm 1984, bà này làm đơn ra tòa xin ly dị với lý do là ông luôn luôn mèo chuột, có nhân tình nhân ngãi hà rầm bà không chịu nổi. Ông không có giấy tờ gì chứng minh mình là chủ các tài sản đã giao cho vợ nên lại một lần nữa trắng tay.

Quá thất vọng, Lê Ân bỏ Nha Trang trở về Sài Gòn. Ông “làm lại cuộc đời” bằng cách mở một shop nhỏ buôn bán quần áo thời trang tại quận 3 Sài Gòn. Bàn tay Lê Ân dường như có ma thuật, shop tuy nhỏ nhưng buôn bán hết sức thành công. Sau đó ông mở thêm một chuỗi các cửa hàng tại nhiều quận khác tại Sài Gòn. Có tiền, ông lập thêm các tiệm thuốc tây tại các quận 1, 3 và quận 10.

Khi có nhiều tiền, ông thành lập Qũy tín dụng Hòa Hưng (đây là tên do ông đặt ra với ý nghĩa vừa an hòa vừa hưng thịnh chứ không phải Hòa Hưng ở khu Ngã ba Ông Tạ). Ông mua đồng rúp và lập thêm nhiều chi nhánh kinh doanh vàng bạc. Ngoài ra ông còn có cổ phần lớn tại nhiều trung tâm tín dụng khác.

Đối diện với án tử hình 
Như một quy luật phát triển, Quỹ tín dụng Hòa Hưng được chấp thuận cho phép nâng cấp thành Ngân hàng cổ phần Đại Nam. Tuy nhiên, lúc có giấy phép thì tên của ông không có trong hội đồng quản trị.

Sau khi bị loại khỏi cuộc chơi này, Lê Ân trở thành thành viên của các tổ chức tín dụng nằm trong một khối liên kết mà trước đó ông được bầu làm chủ tịch.

Ông đề xuất sáp nhập Qũy tín dụng Phú Đông với Quỹ tín dụng Thống Nhất vì hai quỹ này đang làm ăn lỗ lã, rồi ông bỏ vốn ra cứu nó sống lại và được các thành viên bầu làm chủ tịch. Ông cũng “cứu sống” Quỹ tín dụng Phụ nữ Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo và nâng cấp nó thành Ngân hàng Thương mại cổ phần Vũng Tàu (VCSB). Ngân hàng này chính thức được khai trương tại Vũng Tàu ngày 9/10/1991 do Lê Ân đứng đầu Hội đồng quản trị.

Tiếp đến, Lê Ân thành lập Công ty Lê Hoàng để lập Khu du lịch Chí Linh. Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước không cho phép VCSB lập khu du lịch bởi vì ngân hàng không có chức năng làm du lịch. VCSB chuyển toàn bộ dự án kinh doanh khu du lịch Chí Linh cho Công ty Lê Hoàng. Chính vì vậy có dư luận cho rằng Lê Ân lạm quyền, chi 82 tỉ đồng lấy từ VCSB cho Công ty Lê Hoàng nơi Lê Ân làm chủ tịch Hội đồng quản trị..

Thanh tra Ngân hàng Nhà nước khởi tố vụ án. Ngày 11/2/2000, Lê Ân cùng 6 thành viên trong Ban lãnh đạo VCSB bị bắt, và ngày 28/5/2001, ông bị tuyên án tử hình về tội lừa đảo, chiếm dụng vốn liếng của VCSB, còn 6 thành viên kia thì bị các mức án tù khác nhau.

Lê Ân làm đơn kháng cáo và giao nộp toàn bộ các chứng từ của VCSB cho cơ quan điều tra để chứng minh mình vô tội. Toàn là tiền vốn do ông đã bỏ ra cho VCSB hoạt động mà thôi, nếu ông chuyển một số vốn “của mình” sang Công ty Lê Hoàng thì đâu có gì là trái? Ông đã thành công và được giảm án từ tử hình xuống 12 năm tù.
Trong thời gian thụ án, do cải tạo tốt nên Lê Ân được cho ra ở nhà phía ngoài, không bị nhốt chung với các tội nhân khác. Và ngày 31/8/2005, Lê Ân được thả sau hơn 5,5 năm bị giam giữ (tính cả 1 năm bị bắt giữ và ra tòa trước khi tuyên án).

Ông ra tù thì tài sản phải trả lại cho ông. Bởi vậy hiện nay Lê Ân rất giàu, ngoài Trung tâm Du lịch Chí Linh ông còn làm chủ một bãi tắm tại Vũng Tàu thuê của nhà nước, có bán vé để chuyên đón tiếp khách du lịch nước ngoài, và nhiều cơ sở kinh doanh lớn khác.

Các bà vợ của Lê Ân
Người vợ đầu tiên của đại gia Lê Ân là bà Lê Thị Ngọc Lan (năm nay 72 tuổi tức kém ông 6 tuổi). Hai người đã có với nhau 5 mặt con. Tuy nhiên, trong thời gian ông ở tù, bà này làm đơn xin ly dị, đem vào trong tù cho ông ký và chiếm hết tài sản của ông. (Tượng phía bên trái, hình người đàn bà mặc áo dài miền Trung, bưng bình nước đổ đi coi như đã dứt hết tình nghĩa).

Dai gia cung khoc - H.3
Người vợ thứ hai là một phụ nữ Việt lai Mỹ, ở với ông được một năm thì bỏ đi làm ăn xa và mất tích, để lại cho ông một con trai. (Người này không bị “lên tượng” vì ông không căm hờn).

Người vợ thứ ba tên Nguyễn Kim Thu (khi cưới mới 20 tuổi), là một cô gái xinh đẹp, có học thức, người gốc Bắc. Đám cưới của hai người diễn ra hoành tráng nổi tiếng ở Sài Gòn lúc đó. Tuy nhiên, chỉ được mấy tháng, cô này đã bộc lộ nhiều thủ đoạn, trong đó có cả việc uống thuốc ngừa thai để không có con với ông. Cưới nhau chưa đầy 6 tháng, cô ôm toàn bộ tiền và vàng của ông bỏ trốn. (Tượng thứ ba phía bên phải, mặc áo tứ thân miền Bắc, tay cầm nón quai thao cho biết gốc Bắc chứ cô không liên quan gì tới nghệ sĩ Quan Họ Bắc Ninh).
Người vợ thứ 4, tên Khanh, gốc Phan Thiết. Rất tin vợ, ông đặt cô vào vị trí Phó chủ tịch Hội đồng quản trị công ty Lê Hoàng. Khi Ngân hàng VCSB “đứt bóng” và ông lâm cảnh tù tội, việc điều hành công ty được ông giao lại cho cô này. Tuy nhiên, trong thời gian ông ở tù, cô âm thầm chuyển giao toàn bộ tài sản lẫn quyền lực của ông cho “người tình” là một trưởng phòng trong công ty của ông. Kết cục của cuộc hôn nhân thứ 4 này cũng là một cuộc ly dị trước tòa. (Tượng giữa).

Người vợ thứ 5 hiện nay, tên Mai Thị Mai. Cô là một cô gái khá đẹp, kém đại gia Lê Ân 55 tuổi. Ông làm đám cưới cực kỳ hoành tráng với cô cách đây 3 năm, khi ông 75 tuổi còn cô 20 tuổi.
Mai Mai thuộc một gia đình “thường thường bậc trung” ở huyện Đất Đỏ tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, sau khi tốt nghiệp trung học đã xin được vào làm thư ký trong Khu du lịch Chí Linh của đại gia Lê Ân năm cô 19 tuổi. Không để ý tới khoảng cách tuổi tác, đại gia yêu cô, cầu hôn với cô và dùng siêu xe Rolls Royce Phantom trị giá hơn 1 triệu đô để … rước nàng về dinh, mời tất cả mọi người ở Bà Rịa ai đi đám cưới thì có xe đưa rước và ăn uống hoàn toàn miễn phí theo kiểu buffet trong 3 ngày tại Khu Du lịch Chí Linh.

Dai gia cung khoc - H.4

Muốn bày tỏ sự cưng chiều cô vợ trẻ, ông còn mua cho cô một chiếc xe hơn 500 ngàn đô la và bỏ ra 6 tỷ đồng đặt mua chiếc giường đẳng cấp Hoàng gia Anh để mỹ nhân 20 tuổi ngả lưng khi mỏi mệt. Ông lớn hơn bố mẹ vợ hơn chục tuổi nên gọi bố mẹ vợ là “cậu, mợ”, xưng “tôi”, còn bố mẹ vợ gọi ông bằng “anh”, xưng “cậu, mợ”.

Mai Mai là người như thế nào? Vị đại gia nay 78 tuổi này cho biết: “Cuộc sống hiện tại của tôi rất hạnh phúc. Mai Mai có cái tâm tu, tâm tiên chứ không phải tâm con người. Tâm của con người thì đâu có được như thế. Cô ấy chăm sóc tôi rất chu đáo. Mặc dầu đã hơn 3 năm rồi mà chúng tôi không có con nhưng cô ấy vẫn làm tròn trách nhiệm của một người vợ, không hề có điều tiếng gì. Sáng nào chúng tôi cũng cùng nhau dậy sớm, tập thể dục xong tôi đưa vợ đi ăn sáng rồi mới về làm việc. Ngày nào ăn thức ăn còn dư cô ấy cũng không để tôi ăn lại vào ngày hôm sau vì sợ tôi tuổi cao, sức đề kháng cơ thể không tốt, nên chính cô ấy ăn thức ăn cũ còn tôi ăn thức ăn mới. Khi nào mua đồ ăn lạ về, người giúp việc làm xong, cô ấy đều ăn thử trước xem thế nào rồi mới đưa tôi ăn. Thật sự nhiều khi tôi rớt nước vì có được người vợ như vậy”.

Ông Ân kể tiếp: “Tiền bạc của cải tôi làm ra nhiều nhưng kiếm được một người vợ như vợ tôi không phải chuyện dễ. Quê vợ tôi ở cách chỗ chúng tôi chỉ khoảng 30 phút lái xe thôi, nhưng cả tháng hay 3 – 4 tháng cô ấy mới về một lần, còn thì chỉ quanh quẩn ở nhà giúp tôi làm việc và chăm sóc tôi. Ban đêm tôi làm hồ sơ, vợ tôi nhập máy vi tính. Thử hỏi người đàn ông nào nếu có người vợ như vậy thì họ có cảm thấy mãn nguyện không?”. (Không, tui không mãn nguyện bởi vì ban đêm ngồi viết bài, tui mần thẳng trên máy vi tính, nếu có người ngồi bên cạnh thì tui chịu không nổi dù đó là “người yêu quý gần 40 năm trước” của tui!- ĐD).

Nói thêm về đức độ của người vợ trẻ, đại gia Lê Ân cho biết: “Hiện tại, vợ tôi đang muốn tôi làm một quán cơm từ thiện nhưng tôi chưa có thời gian. Người ta làm quán cơm từ thiện 1.000$, 2.000$/bữa, 3 món canh, xào, mặn; còn cô ấy muốn quán cơm của chúng tôi phải hoàn toàn miễn phí. Một ngày gần đây tôi sẽ thu xếp thời gian để làm một quán cơm như vậy cho cô ấy vừa lòng. Tiền bạc đối với tôi không thiếu nhưng tôi chỉ thiếu thời gian mà thôi”.

“Đại gia” và con trai tại tòa 
Nói tóm lại, tổng cộng ông Lê Ân có 5 người vợ và 6 người con (kể cả 1 người là con của bà thứ 2 Việt lai Mỹ). Tuy nhiên, trở lại quá khứ, thậm chí cả trong hiện tại, ông có mối quan hệ không lấy gì làm tốt đẹp nếu không muốn nói là hết sức tồi tệ với bà vợ đầu tiên đã ly dị Lê Thị Ngọc Lan và người con cả Lê Đa Ni En.
Đa Ni En là con trai lớn của ông Lê Ân với bà Ngọc Lan. Sau khi ly dị với bà Lan, ông Ân đã nhiều lần kiện tụng, đòi mẹ con bà phải trả lại ngôi nhà 3 tầng ở số 408 đường CMT8, quận Tân Bình, Sài Gòn. Cũng chính vì căn nhà này mà mối quan hệ cha con của ông hết sức căng thẳng.

Ông Lê Ân cho biết: “Thằng trưởng nam (trong Nam kêu là “anh Hai”) của tôi đối xử với tôi không ra gì. Tôi nói thiệt, nói ra thấy quá phũ phàng chứ sự thiệt tôi không dám về căn nhà số 408 Cách Mạng Tháng 8 vì sợ bị cậu “quý tử” này đánh. Nó khăng khăng là căn nhà đó của má nó, nó dùng võ lực cấm tôi bước chân vô. Khi tôi kiện má nó để đòi lại căn nhà này, nó lên báo chửi tôi rất nhiều. Mọi người nói với tôi: “Anh đã mất một đứa con rồi…”. Tôi nói: “Tôi biết là đã mất nó lâu rồi”. Trong di chúc tôi viết rất rõ: “Tôi dứt khoát khai trừ đứa con này. Tôi còn sống cũng như tôi chết, nó không phải là máu mủ, ruột rà với tui…”.

Mới đây, ông Lê Ân lại tiếp tục đưa đơn kiện đòi bà Lê Ngọc Lan và anh Lê Đa Ni En để đỏi lại nhà. Báo Một thế giới thông tin: “Tại Tòa án Nhân dân quận Tân Bình Sài Gòn vào chiều 23.12.2015, hai người đàn ông có mối quan hệ ruột thịt đã xem nhau như người xa lạ. Trước hội đồng xét xử, ông Lê Ân gọi anh Đa Ni En là “ông Lê Đa Ni En”. Ngược lại, anh Đa Ni En gọi ông Lê Ân là “đại gia Lê Ân”. Và trong suốt phiên tòa, hai người đàn ông gần như không một lần nhìn mặt nhau”.

Phiên tòa kết thúc, phần thắng thuộc về ông Lê Ân và hội đồng xét xử bác đơn kiện của anh Lê Đa Ni En.
Sau khi rời tòa, ông Lê Ân và anh Lê Đa Ni-En bước nhanh ra khỏi TAND Q.Tân Bình, tránh nhìn mặt nhau. Chỉ khi đi chung chiếc cầu thang, lối đi duy nhất để ra xe, có cơ hội nhìn nhau nhưng anh Đa Ni En dấn bước đi rất nhanh, còn ông Lê Ân lặng lẽ đi phía sau, cố tình làm bộ chăm chú vào các bậc thang, coi như không thấy đứa con đang tranh giành tài sản với mình.

Ông Lê Ân nói: “Khi đối diện với chính con đẻ của mình trước tòa, trông thấy mặt nó tôi không thể nào bình tĩnh nữa. Tôi đã đeo đuổi vụ kiện vợ phản chồng, con phản cha trong hơn 25 năm nay, quyết tâm đòi lại căn nhà cho bằng được”.

Thế đấy, “đại gia cũng khóc” là ở chỗ đó.

Đoàn Dự

Anh giơ tay ra!

Anh giơ tay ra!

Cầu nguyện:

Lạy Chúa,
lúc đầu chúng con chỉ muốn cầm tay nhau
để làm thành một vòng tròn khép kín.
Sau đó chúng con hiểu rằng
cần phải buông tay nhau
để nhận những người bạn mới,
để vòng tròn đuợc mở rộng đến vô cùng
và trái tim đuợc lớn lên mãi.

Lạy Chúa, chúng con biết rằng
cần phải nối vòng tay lớn
xuyên qua các đại dương và lục địa.
vòng tay người nối với người,
vòng tay con người nối với Tạo Hóa.

Chúng con thích Chúa
đứng chung một vòng tròn
với tất cả loài người chúng con,
nắm lấy tay chúng con
và đua chúng con lên cao.

Ước gì việc Chúa giang tay trên thập giá
giúp chúng con biết cầm lấy tay nhau
và nhận nhau là anh em.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

Đói Cơm

tôi Cao Khả Cường, ở Đức, thành phố Kaarst xin gởi chuyện ngắn có thật, trước đây hơn 50 năm.

 Đói Cơm

Chiều sụp tối mau … Chợ Điền Lộc vắng, im, vài cánh cửa hở, đèn hắt ánh vàng vành.

Không lâu, sau chén trà nấu vội, uống vội, ánh vàng cuối cùng tắt. Chợ Điền Lộc, chiều … Tối Đen Như Mực …

Ngày mai, sương mới, chợ đông. Chợ ngủ – Mực Đêm che mắt, giấc sớm, về …

Canh chó (khoảng 7 đến 9 giờ tối) bổng có bước chân, nhiều bước chân vòng chợ, quanh nhà , đi …

Cổng chợ, bà Chanh hoảng hồn, hỏi :

„Ai rứa !“

„Thưa Mạ, con đây !“ – Một thanh niên gỏ cửa, trả lời, bước …

Cầm cái đùi, ông Ớt ở cạnh nhà mụ Chanh, lớn giọng:

„Ai đó !“

„Thưa Ôn, cháu đây“ – „Mời cả nhà ra hết! Hôm ni họp đầu đình !“ – Một thiếu nữ đập cửa, trả lời, chạy …

Hắn cầm cây đuốt, lửa đỏ rực, rảo theo đồng đội, vừa đi vừa nói lớn :

„Giải phóng mời tất cả dân làng ra chợ họp! “ – „ Giải phóng mời tất cả dân làng ra chợ họp! “

Tay phải lại rờ bảng súng AK47, ngón trỏ vòng vòng, vân vê cò súng. Hắn, thằng Điên, ở chợ từ thủa mồ côi, mà mồ côi từ lúc nào, hắn không hay biết, cả làng Kế Môn không ai biết, ăn-ngủ nhờ chợ, người mua, người bán kêu hắn : Thằng Điên.

Trước đây tám tháng, con Đĩ, đứa con gái, không biết con cái nhà ai, chia ăn, chia ngủ cùng hắn hơn năm trời, đùng một cái, chết trôi trên sông Ô Lâu. Buồn, hắn bỏ chợ, qua cầu Đại Lộc, lên độn … Bây giờ từ độn xuống chợ, hắn hiên ngang khẩu súng AK47 mang lưng, mà cái quần vẫn quần lính cũ, vẫn cồm cộm cái vá múc cơm bằng nhôm he hé túi quần.

„Cách mạng mời tất cả dân làng ra chợ họp! “ – „Cách mạng mời tất cả dân làng ra chợ họp!“ …

Chợ đất, giữa đêm – Chợ đầy người. Đuốt lửa cột cổ cột đình – Chợ sáng.

Có em ngơ ngác ngồi ngái ngủ, có chị túm áo vẫn hở hang và những cái mặt thất thần đứng chung – Chợ sợ.

Nhiều bàn tay cầm súng rải quanh đám người – Chợ súng.

Kẻ trước kẻ sau từng tiếng gọi, ông trước lùi khóc, bà sau bất tỉnh .

Chợ đấu tố – Chợ đấu tố …

„Mụ Chanh, bước ra đây !“ – Một thanh niên hất giọng.

Bà Chanh len ra trước đám người, hớt hải, run, mặt tái: „Dạ“

„Thằng Lý phản động mô rồi ?“ – Gả thanh niên giọng dữ.

„Chồng c..o..n đi Huế chưa về, thưa ô…n …“ Bà Chanh trả lời.

Gả thanh niên đưa tay cầm súng, nhìn bà Chanh, nhìn đám người, sang sẳng nói:

„Mặt trận giải phóng phải xử tử mụ Chanh vì tội phản động của thằng Hoàng Trung Lý, ngay bây giờ, mọi người nghe rỏ chưa.“

… Im lặng – Chợ im – Chợ im …

Hai thanh niên và một thiếu nử, kéo lết bà Chanh tới cây Phượng Vĩ lớn, giữa chợ, cột bà đứng thẳng. Không đứng, bà treo xiêu vẹo – Chợ xìu.

Bốn tiếng nổ từ hai gả đàn ông, hai bà đàn bà, nhắm bà Chanh, bắn tới – Chợ bắn.

Bà vẫn treo xiêu vẹo, không giọt máu đào, bà chết, đã chết trước lằng đạn – Chợ chết.

Có hai đứa trẻ thơ, cầm chén, đội đầu, chạy tới bà Chanh, khóc :

„Mạ ơi ! Con đói …“

„Mạ ơi ! Đói cơm …“

Hắn bước đến bà Chanh, định bụng dẫn hai em bé về. Nhìn bà Chanh, hắn chợt thấy tay bà cầm chặt cái vá múc cơm giống hắn – Chợ Đói Cơm.

Khả Quỳnh

07-01-2016:16:30 Meerbusch

Tàu Trung Quốc tấn công dồn dập tàu cá Việt

Tàu Trung Quốc tấn công dồn dập tàu cá Việt

Tàu cá QNg 98137 bị tàu Trung Quốc tông vào ca bin gây thiệt hại nặng (ảnh chụp từ trang web Tuoitre)

Tàu cá QNg 98137 bị tàu Trung Quốc tông vào ca bin gây thiệt hại nặng (ảnh chụp từ trang web Tuoitre)

Một tàu cá của ngư dân Quảng Ngãi vừa bị tàu vỏ thép của Trung Quốc đâm thẳng vào khi đang đánh bắt trên vùng biển của Việt Nam, một vụ việc thêm vào với hàng loạt các vụ tấn công của tàu cá Trung Quốc đối với ngư dân Việt trong các tuần lễ từ đầu năm đến nay.

Theo báo Tuổi Trẻ hôm 18/1, tàu cá QNg 98137 do ông Võ Ngọc Minh làm máy trưởng và 10 ngư dân Quảng Ngãi khác đang đánh bắt trên vùng biển cách Đà Nẵng khoảng 90 hải lý thì bị một tàu vỏ thép có chữ Trung Quốc tông thẳng vào trụ giữa cabin tàu.

Ông Minh cho biết tàu Trung Quốc đã đâm liên tục 2 lần vào tàu của ông khiến các ngư dân hoảng sợ bỏ chạy về Đà Nẵng. Tàu của ông Minh đã bị hỏng toàn bộ dân cáp liên lạc, cabin và ống khói.

Trong khi đó, thuyền trưởng một tàu cá khác là ông Võ Long cho biết hôm 31/12/2015 tàu của ông cùng 10 ngư dân cũng bị một tàu vỏ thép của một người “nói tiếng Hoa” đâm vào cabin khiến tàu của ông bị gãy ống khói.

Đại diện Cục Kiểm ngư Việt Nam nói “đang kiểm tra, xác minh vụ việc”.

Tình trạng tàu Trung Quốc tấn công tàu của ngư dân Việt đang có xu hướng gia tăng trong thời gian gần đây và ngày càng nghiêm trọng hơn.

Báo Thanh Niên cho biết từ đầu năm đến nay đã có 4 vụ tàu cá của ngư dân Việt bị tàu Trung Quốc cắt phá tại khu vực cách đảo Cồn Cỏ 20 hải lý và nhiều vụ phá hoại ở các địa điểm khác.

Trước đó vào cuối tháng 11/2015, một ngư dân Việt đã bị tàu Trung Quốc bắn chết ở khu vực gần quần đảo Trường Sa. Đến nay vẫn chưa có hồi đáp đền bù thiệt hại hay chịu trách nhiệm từ phía Trung Quốc.

Theo Tuổi Trẻ, Thanh Niên.

Chứng khoán Châu Á tiếp tục sụt giảm

Chứng khoán Châu Á tiếp tục sụt giảm

Chứng khoán Châu Á tiếp tục sụt giảm

Bảng điện tử hiển thị giá cổ phiếu tại một trung tâm môi giới ở Bắc Kinh.

Bảng điện tử hiển thị giá cổ phiếu tại một trung tâm môi giới ở Bắc Kinh.

20.01.2016

Giá chứng khoán Châu Á tiếp tục giảm hôm nay do giá dầu thế giới hạ thêm, kinh tế Trung Quốc sụt giảm, và triển vọng không lạc quan về nền kinh tế toàn cầu tổng thể trong năm nay.

Chỉ số Nikkei của Tokyo chính thức bước vào thị trường theo chiều giá xuống, còn được gọi là ‘bear market’, sau khi mất gần 4% vào cuối ngày giao dịch.

Trong khi đó, chỉ số Hằng Sinh tại Hồng Kông giảm 3,5% và chỉ số Kospi của Hàn Quốc sụt 2,3%. Chỉ số Thượng Hải của Trung Quốc và chỉ số ASX/S&P 200 của Úc đều giảm 1,3%.

Các nhà đầu tư đang trở nên bi quan sau 3 đợt tin xấu trong tuần này, bắt đầu với tuyên bố của Trung Quốc hôm qua rằng kinh tế nước này tăng trưởng 6,9% trong năm ngoái, tức mức tăng trưởng toàn năm thấp nhất trong vòng 1/4 thế kỷ qua, tiếp sau đó là quyết định của Quỹ Tiền tệ Quốc tế hạ thấp dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm nay xuống còn 3,4%, thấp hơn ước tính trước đó 0,2%.

Một cú giáng khác ập tới khi giá dầu của Mỹ rớt dưới 28 đô la/thùng, tức mức thấp nhất trong 12 năm, sau khi Cơ quan Năng lượng Quốc tế công bố phúc trình cảnh báo rằng các thị trường dầu trên thế giới có thể ‘ngập chìm trong tình trạng thừa cung’ vì nhu cầu giảm.

Khán thính giả và độc giả RFA với Đại hội Đảng XII

 Khán thính giả và độc giả RFA với Đại hội Đảng XII

Hòa Ái, phóng viên RFA
2016-01-19

Khán thính giả và độc giả RFA với Đại hội Đảng XII

000_Hkg10246956-620

Phụ nữ Việt Nam tại Đài Loan vui mừng với chiến thắng của Đảng Dân chủ Tiến bộ hôm 16/1/2016

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Đại hội Đảng lần thứ 12 sẽ chính thức khai khai mạc ở Hà Nội vào ngày thứ Năm, 21 tháng Giêng năm 2016, kéo dài trong 8 ngày và được bế mạc vào ngày 28 tháng Giêng. Thông tin về Đại hội Đảng lần này vẫn là tâm điểm của truyền thông trong nước và quốc tế. Hòa Ái ghi nhận ý kiến cũng như hy vọng của quý khán thính giả cùng độc giả Đài Á Châu Tự Do (ACTD) qua lần Đại hội Đảng XII.

Trong những ngày trước thềm Đại hội Đảng lần thứ 12, Ban Việt ngữ Đài ACTD mở Mục “Ý kiến của Bạn” xoay quanh chủ đề những ai sẽ nắm giữ các chức vụ lãnh đạo chủ chốt ở Việt Nam tại Đại hội Đảng CSVN toàn quốc vào tháng Giêng năm 2016 thu hút sự chú ý của khán thính giả cùng độc giả khắp nơi.

Điều đáng chú ý nhất là chức vụ Tổng Bí Thư Đảng CSVN, một trong bốn chức vụ chủ chốt, được quan tâm đặc biệt vì Tổng Bí thư đương nhiệm Nguyễn Phú Trọng tuyên bố cần xem xét cho các “trường hợp đặc biệt” tái cử trong Đại hội Đảng XII. Trong khi dư luận trong và ngoài nước đồn đoán lời tuyên bố này nhằm mục đích tạo điều kiện cho chính ông Nguyễn Phú Trọng tiếp tục giữ chức vụ Tổng Bí thư trong nhiệm kỳ tới thì đa số khán thính giả và độc giả Đài ACTD lại dành sự ưu ái cho vị trí tân Tổng Bí thư đối với ông Nguyễn Tấn Dũng với lập luận ông Nguyễn Tấn Dũng xứng đáng hơn ông Nguyễn Phú Trọng. Thính giả Nguyễn Quốc Hoàng, từ Hòa Kỳ, gửi lời đến Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng qua làn sóng phát thanh của Đài RFA:

“Tôi xin thưa với ông Nguyễn Phú Trọng, ông là người đại diện cho cơ quan quyền lực cao nhất để lãnh đạo Chính phủ VN. Ông đã đề nghị ra những ứng viên vào Bộ Chính trị cũng như Ban Bí thư của Trung ương là những người có hùng khí, biện luận, hiểu biết, có cương lĩnh, thẳng thắn và trong sạch, không tham ô và bè phái…Trước hết tôi thấy những cái sai của ông rất nhiều. Ông đã muốn bình chọn một người cho rằng biết lý luận và là người miền Bắc, thế là ông thực thi lại quyền chia để trị của người Pháp, là phân biệt Nam-Bắc. Nếu ông chống tham nhũng thì ông đã chống được cái gì?

Ngoài ra, đáng lý ông phải có công hàm gửi LHQ tố cáo hành vi ngang ngược của Trung Quốc đã xâm phạm lãnh thổ VN nhưng ngược lại ông còn cầu khẩn Trung Quốc giúp đỡ ông bảo vệ Đại hội Đảng lần này. Còn nếu ông là một người lý luận, vậy tôi hỏi ông rằng ông là người lý luận như thế nào mà ông là người lãnh đạo tối cao lại ra lệnh bắt bớ, giam cầm người biểu tình chống Trung Quốc, ông chống những người yêu nước? Cho nên tôi xin có ý kiến ông không nên ra ứng cử Đại hội lần này”.

Thính giả Roto ở Bình Dương, VN, nghĩ rằng ông Nguyễn Phú Trọng nên về hưu:

“ Ở VN, ai cầm quyền cũng đục khoét tài nguyên quốc gia, vơ vét làm giàu cho bản thân và gia đình, không xứng đáng cho tôi chọn.
– Thính giả Trương Kim”

“Ông Nguyễn Phú Trọng với tư tưởng cổ hủ, lạc hậu, bè phái, trung thành với chủ nghĩa Karl Marx-Lenin, chưa bao giờ mạnh miệng chống Trung Quốc xâm lấn biển đảo, gây hại cho ngư dân, làm Trưởng ban phòng chống tham nhũng mà để tràn lan tham nhũng thì nghỉ hưu cho rồi”.

Liên quan đến ý kiến của TS. Nguyễn Thanh Giang chia sẻ trên Đài RFA, kêu gọi các đại biểu tham dự Đại hội Đảng CSVN nên sáng suốt chọn ra những gương mặt sáng giá nhất cho Ban Chấp hành Trung ương mới và đặc biệt chọn cho được chính xác 4 nhân vật lãnh đạo chủ chốt mà TS. Nguyễn Thanh Giang gọi là “tứ trụ triều đình” nhận được sự tán đồng của nhiều người. Những gương mặt tiêu biểu được quý khán thính giả và độc giả nêu ra bao gồm Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Thị Kim Ngân, Trần Đại Quang, Vũ Đức Đam… với hy vọng “thoát Trung” về mọi mặt, đặc biệt phải nêu rõ lập trường của Việt Nam là không bang giao với Trung Quốc cho đến khi chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa được trả lại cho Việt Nam. TS. Trần Công Trục, 1 thính giả của đài bày tỏ:

“Tôi rất kỳ vọng tin tưởng rằng sau Đại hội này, Việt Nam chúng tôi sẽ có một đội ngũ lãnh đạo mới và đội ngũ đó vẫn phải phát huy được truyền thống yêu nước, truyền thống đấu tranh bất khuất kiên cường của ông cha người Việt Nam chúng tôi từ trước đến nay, đặc biệt trong việc giữ vững chủ quyền thiêng liêng và sự toàn vẹn lãnh thổ mà các thế hệ Việt Nam chúng tôi đã đổ máu, đổ mồ hôi nước mắt để giữ gìn”.

Tuy nhiên, Hòa Ái ghi nhận có những ý kiến phản bác lại, cho rằng những gương mặt lãnh đạo mới cũng chỉ là một hình thức “bình cũ rượu mới”, nếu không nói theo cách bi quan vẫn là “bình cũ rượu cũ” vì bất cứ đảng viên nào của Đảng CSVN được cơ hội có quyền hành trong tay cũng đều như nhau. Thính giả Trương Kim ở Cần Thơ lên tiếng:

“Ở VN, ai cầm quyền cũng đục khoét tài nguyên quốc gia, vơ vét làm giàu cho bản thân và gia đình, không xứng đáng cho tôi chọn”.

“ Trước thềm Đại hội Đảng CSVN lần thứ 12 này, người dân Việt Nam trong và ngoài nước chỉ ước mong Đảng CSVN thay đổi thể chế chứ không bao giờ người dân trong và ngoài nước muốn tiếp tục chế độ Cộng sản.
– Thính giả Hùng Nguyễn”

Với xu hướng không nhân vật nào trong Đảng CSVN được người dân tín nhiệm cũng như Đảng CSVN không nên tiếp tục chế độ độc đảng như trước đây, thính giả Hùng Nguyễn cho rằng đã đến lúc Đảng lãnh đạo đương quyền nên thay đổi thể chế:

“Trước thềm Đại hội Đảng CSVN lần thứ 12 này, người dân Việt Nam trong và ngoài nước chỉ ước mong Đảng CSVN thay đổi thể chế chứ không bao giờ người dân trong và ngoài nước muốn tiếp tục chế độ Cộng sản”.

Thính giả Phúc Trần và số đông khán thính giả cùng độc giả chia sẻ không có kỳ vọng vào Đảng CSVN tự mình thay đổi thể chế mà mỗi người Việt nên đồng lòng thực hiện sự thay đổi này với lý do:

“Chế độ hiện tại không được lòng dân, không làm gì có lợi cho người dân thì tại sao không tẩy chay chế độ đó?”

Đáp ứng sự đồng thuận về ý kiến người dân nên thay đổi thể chế để đất nước được phát triển và văn minh hơn, hòa nhập với sự tiến bộ của thế giới, nhiều người nêu lên câu hỏi sẽ bắt đầu từ đâu và như thế nào. TS. Nguyễn Quang A trình bày thiển ý của ông:

“Hiến pháp của Việt Nam qui định là người dân có quyền lập hội, thế thì người dân cứ thế mà lập hội, không phải đợi ông nào cho phép cả. Việc Nhà nước chưa có luật để tạo điều kiện cho người dân thực hiện quyền lập hội của mình một cách văn minh, thì đấy là lỗi của của Quốc hội và người dân cứ thế mà thực thi. Hiến pháp qui định người dân có quyền bầu cử ứng cử, thế thì người dân cứ ra ứng cử và phản đối kịch liệt việc nhân danh Tổng Bí thư Đảng Cộng sản để bảo phải chọn như thế này thế kia, phải phản đối kịch liệt điều này”.

Trước khi Đại hội Đảng XII khai mạc vài ngày, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền-Human Rights Watch kêu gọi đã đến lúc phải chấm dứt tình trạng một nhóm nhỏ quan chức trong đảng Cộng Sản tự quyết định tương lai cho hơn 90 triệu người dân và Đảng CSVN nên tuyên bố sẽ tổ chức bầu cử tự do và công bằng, để người dân được quyền bỏ phiếu chọn lựa các lãnh đạo đất nước cho mình, Hòa Ái liên lạc với quý thính giả trong nước lẫn hải ngoại qua điện thoại đều nhận được sự nhất trí tuyệt đối trước lời kêu gọi vừa nêu.

MỐI TÌNH NGANG TRÁI CỦA NGƯỜI CHA VÀ CỦA NGƯỜI CON

MỐI TÌNH NGANG TRÁI CỦA NGƯỜI CHA VÀ CỦA NGƯỜI CON    

PT. Nguyễn Mạnh San

Cách đây  khoảng 10 năm, tôi có viết một câu chuyện, kể lại về một ông Việt kiều tên Robert Quách, góa vợ sống trong cảnh gà trống nuôi con, cho đến khi đứa con ông tới tuổi trưởng thành. Mặc dầu hiện tại ông đang trong tình trạng mỏi gối chùn chân, đi đứng chậm chạp, không vững nhưng chưa đến nỗi phải chống gậy, có lẽ ông nhờ uống thuốc dược thảo tam tinh bổ thận hoàn, được bào chế tận bên Tây Tạng, nên tâm hồn ông lúc nào cũng cảm thấy trẻ trung, yêu đời như ngày nào ông mới 20 tuổi.

Sau đây tôi xin được lược thuật lại những tình tiết gây cấn về mối tình ngang trái của ông Robert Quách và mối tình ngang trái của cậu con trai ông là Tommy, để quý đọc giả nào chưa đọc hai câu chuyện này trước kia, thì nay quý vị có dịp đọc hai câu chuyện này.

Câu chuyện thứ nhất, ông Robert Quách về Việt Nam thăm thắng cảnh quê hương yêu dấu lần đầu tiên và cũng theo chân một số anh em bạn bè đồng tuổi với ông ở Hoa Kỳ trở về thăm Sàigòn, với mục đích trước tiên là được nhìn lại những cảnh đẹp thiên nhiên ở quê nhà, sau nữa là để có dịp được thưởng thức một vài món ăn đặc sản nặng tình quê hương, mà trong đó có món độc đáo uống bia nằm, tức là cảnh đi mây về gió, của hai tâm hồn quấn quít bên nhau, qua những giây phút tình yêu lên ngôi, chẳng khác nào như những thanh niên thiếu nữ trong tuổi dậy thì, mới biết nếm mùi yêu đương lần đầu tiên trên đời. Một số bạn bè kể chuyện lại cho ông nghe là có những du khách Việt kiều về Việt Nam, từ trung tuổi tới cao niên, đều ưa thích món bia nằm nội hóa này, vì nó được xếp vào hàng thứ nhì sau món cầy tơ bẩy món, mà hai món đặc thù này ông cũng ao ước muốn nếm thử xem sao, nhất là cả hai món loại này thuộc loại quốc cấm tại Hoa Kỳ, ngoại trừ loại uống bia nằm được chính quyền tiểu bang Nevada cho phép tiêu thụ, nhưng chỉ được phép tiêu thụ tại một nơi riêng biệt, do chính quyền chỉ định và dưới sự kiểm soát y tế chặt chẽ của chính quyền địa phương, thuộc vùng ngoại ô, cách xa thành phố Las Vegas của tiểu bang Nevada. Vậy, nếu ai bất chấp pháp luật mà dám vi phạm 2 loại quốc cấm này tại Hoa Kỳ, nếu bị bắt quả tang đang tiêu thụ loại này, thì tùy theo luật pháp của mỗi tiểu bang quy định, kẻ tiêu thụ cũng như người cung cấp, cả hai không những phải đóng tiền phạt vạ mà còn có thể bi lãnh án ở tù nặng hay nhẹ, để được chính quyền mời đi nghỉ mát một thời gian, trong cac trại giam có máy điều hòa không khí, nhưng hoàn toàn vắng bóng đàn bà.

Trở lại câu chuyện của ông Robert Quách vừa kể trên, hai tuần lễ đầu ở Việt Nam, cứ cách mỗi tối, bạn bè của ông lại rủ ông đến quán nhậu bia ôm, mặc dầu cô nàng mà ông ôm trong đôi cánh tay từ ái của ông, vừa trẻ đẹp lại vừa ăn nói có duyên, quả đúng với cái tên thơ mộng của nàng là Thu Hương, nhưng ông vẫn chưa cảm thấy hài lòng, hình như vẫn thiếu một cái gì đó trong lòng ông, khó thốt ra thành lời. Có lẽ Thu Hương hiểu được tâm trạng khao khát cái gì đó mà ông Quách đang thèm muốn trong lòng, nên vào một buổi tối, trước giờ quán bia ôm đóng cửa, cô đề nghị ông thuê một phòng ngủ ở khách sạn vào đêm nay, để hai chúng mình cùng nhau đồng ca một liên khúc tình yêu lên ngôi, rồi liên khúc này được đôi song ca tài tử, một già một trẻ, một tình yêu duy nhất, liên tục trình diễn cho nhau nghe mỗi đêm, kéo dài cho tới ngày ông hết phép nghỉ thường niên 3 tuần lễ, vì ông phải lên đường trở về Hoa Kỳ làm việc. Tuy nhiên trước khi chia tay với người yêu, nàng dẫn ông đến văn phòng chính quyền địa phương tại Sàigòn, để ký giấy giá thú với nàng và ông hứa với nàng là ngay sau khi về tới Hoa Kỳ, ông sẽ xúc tiến ngay giấy tờ bảo trợ cho nàng sang Hoa Kỳ theo diện vợ chồng (Category of Marriage). Chỉ cách 2 tháng sau khi ông trở về Hoa Kỳ, nàng liền điện thoại báo tin mừng cho ông biết, là nàng sắp sửa có tí nhau với ông, rồi tiếp theo 1 tháng sau, nàng lại báo tin mừng cho ông biết, là Tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ chấp thuận cho phép nàng sang Hoa Kỳ, theo đơn xin đoàn tụ vợ chồng, mà ông đã đệ nạp với Sở Di Trú Hoa Kỳ và ông liền mua vé máy bay quay trở lại Việt Nam để đón nàng cùng sang Hoa Kỳ với ông, đồng thời cũng là dịp đầu tiên, để nàng đưa ông về giới thiệu với Mẹ, đây là người chồng yêu dấu của nàng, mà Mẹ nàng chưa từng thấy mặt đứa con rể của bà bao giờ, cũng như ông chưa từng thấy mặt Mẹ vợ bao giờ và hiện nay bà đang sống ở một vùng thôn quê, thuộc tỉnh Vĩnh Long. Khi Thu Hương dẫn ông về trình diện Mẹ nàng, chưa kịp mở miệng giới thiệu với Mẹ câu nào, thì bà vừa nhìn thấy mặt ông, bà té xuống đất ngất xỉu, vì bà nhận ra ông chính là Bố ruột của con gái bà và bà cũng chính là người tình năm xưa trước năm 1975 của ông, lúc đó ông là một Sĩ Quan QLVNCH trẻ tuổi, hào hoa phong nhã, đóng quân ở nơi gần tỉnh quê quán của bà, rồi sau tháng 4 năm 1975, ông bị kẹt lại Việt Nam và bà cố gắng giúp cho ông khỏi bị cộng sản bắt đi tù cải tạo, bà đã phải bán đi 2 lượng vàng là gia tài duy nhất của bà, để giúp ông có phương tiện vượt biên sang Hoa Kỳ, tính tới ngày tiễn ông lên đường vượt biên, thì bà đã có thai với ông được 6 tháng, mà sau này bà sanh con gái đặt tên là Thu Hương. Sau khi bà sanh Thu Hương, vì kế sinh nhai khó khăn tại quê quán, bà phải thường xuyên rời đi nơi này tới nơi khác, không có địa chỉ nơi cư trú nhất định, nên bà bị mất liên lạc với ông cả mấy chục năm qua, mà bà cứ tưởng rằng người yêu của bà đã chết trên biển cả, như nhiều người vượt biên đi tìm tự do, đã bị bão tố hay bị những tên hải tặc hãm hiếp giết chết trên biển cả. Trong mấy năm đầu đến Hoa Kỳ, ông Quách cũng cố gắng hết sức tìm kiếm tin tức về người tình năm xưa là Mẹ của Thu Hương, nhưng vẫn biệt tăm tích, nên sau vài năm, ông cảm thấy đàn ông ở một mình không tốt, ông đã lập gia đình và vợ ông đã sanh cho ông một bé trai kháu khỉnh, dễ thương, đặt tên là Tommy Quách, nhưng chỉ độ hơn 5 năm sau, ông lại bị lâm vào tình trạng đau lòng, tương tự như hoàn cảnh đau buồn của người tình năm xưa của ông vừa kể trên, là Mẹ Thu Hương vì bà đã phải vất vả ngược xuôi, đi buôn bán hàng rong, mới kiếm đủ tiền nuôi Thu Hương cho đến khi nàng khôn lớn. Trong khi đó, con trai của ông mới được 5 tuổi, thì vợ ông qua đời vì bệnh ung thư, ông ở vậy trong cảnh gà trống nuôi con cho tới ngày nay con trai ông đã 25 tuổi. Giờ đây, tình trạng của ông thật quá trớ trêu, ông vừa là chồng của nàng, lại vừa là Bố ruột của nàng và cũng sẽ là Bố ruột của đứa bé mà nàng sẽ sanh nó ra. Vậy để giải quyết tình trạng nan giải này, trước ngày ông quay trở về lại Hoa Kỳ cùng với vợ là Thu Hương, ông gọi điện thoại nhờ tôi tư vấn cho ông về vấn đề này. Tôi khuyên ông vì tương lai của đứa bé sắp ra đời, là con ruột của ông và Thu Hương vừa là vợ ông, lại vừa là con ruột của ông nữa, nên ông đừng ngần ngại, cứ đưa Thu Hương qua Hoa Kỳ và nếu có ai tò mò hỏi ông, cô này là ai vậy? Ông hãy mạnh dạn trả lời họ, cô ta là con gái của ông mà ông mới bảo trợ cô ta từ Việt Nam qua. Khi thời gian thường trú của Thu Hương ở Hoa Kỳ đủ 2 năm, ông làm giấy ly dị cô ta, để cô ta không bị trục xuất trả về Việt Nam và cô ta sẽ có nhiều cơ hội làm lại cuộc đời với người nào thương yêu hai mẹ con cô ta thật tình.Vì câu chuyện tình ngang trái của ông, ngoài Thu Hương, bà Mẹ của Thu Hương và ông ra, không một ai biết rõ sụ thật của câu chuyện này, đồng thời ông cũng cần giải thích cho đứa con trai ông là Tommy biết, ông sẽ bảo trợ chị Thu Hương hơn Tommy 2 tuổi, là con gái ngoại hôn của ông khi xưa ông còn độc thân ở Việt Nam và nhờ chuyến đi du lịch về Việt Nam vừa qua của ông, tình cờ ông gặp lại hai mẹ con chị Thu Hương, nên ông quyết định bảo trợ cho chị Thu Hương sang đây trước, còn Mẹ của chị Thu Hương chưa muốn sang ngay bây giờ, nhưng cũng sẽ sang sau. Thế là ông Quách làm theo đúng như những lời tư vấn trên đây của tôi. Sang tới Hoa Kỳ, 2 năm sau ông làm giấy ly dị Thu Hương, 4 năm sau, Thu Hương lấy chồng là một luật sư Mỹ rất giàu có, thương yêu hai mẹ con cô hết lòng, trợ giúp cô bảo lãnh cho Mẹ cô qua Hoa Kỳ, để cho Bố cô từng là chồng của cô và Mẹ cô từng là người tình năm xưa của Bố cô được đoàn tụ với nhau, trong những ngày còn lại cuối đời của hai ông bà già gần đất xa trời này. Nhưng tiếp theo câu chuyện này , thì phải kể đến câu chuyện tình yêu của cậu em trai cô, là Tommy sanh đẻ ở Hoa Kỳ, cùng Cha khác Mẹ với cô, có thể được coi là mối tình ngang trái di truyền, từ người bố là ông Quách, sang người con là Tommy như sau:

Chắc quý vị đọc giả vẫn còn nhớ, sau khi ông Quách không tìm kiếm được người tình năm xưa ở Việt Nam, là Mẹ của Thu Hương, ông đành lập gia đình với một thiếu nữ, cư ngụ cùng một tiểu bang với ông và hai người có một cậu con trai đầu lòng, kém cô Thu Hương 2 tuổi là Tommy, như đã được đề cập trên đây. Ngay sau khi ông bố Tommy đưa cô Thu Hương sang Hoa Kỳ, thì cũng là lúc Tommy ra trường 4 năm đại học ngành kỹ sư điện toán và anh đi về Việt Nam chơi cùng với một bạn học người Việt Nam, học cùng lớp với anh. Trong thời gian hơn 1 tháng anh ở Việt Nam, anh phải lòng với một cô gái 19 tuổi, sinh đẹp, tên là Quỳnh Hoa, cố này nói được những câu tiếng Mỹ thông thường, mỗi khi anh không hiểu tiếng Việt thì cô lại nói tiếng Mỹ cho anh hiểu. Hai người yêu nhau thắm thiết, Quỳnh Hoa làm thợ hớt tóc ôm, tuần nào anh cũng đến tiệm hớt tóc ôm ít nhất 2 lần, để cho Quỳnh Hoa hớt tóc ôm cho anh. Rồi trước ngày anh phải quay trở về Hoa Kỳ, để khởi sự nhận việc làm cho một hãng tư, mà hãng này có giao kèo với chính phủ liên bang, Quỳnh Hoa dẫn anh đi ký giấy hôn thú với nàng, tại một văn phòng chính quyền địa phương và anh hứa ngay sau khi anh về tới Hoa Kỳ, anh sẽ nạp đơn bảo trợ cho Quỳnh Hoa sang Hoa Kỳ đoàn tụ với anh và chỉ 8 tháng sau, qua cuộc phỏng vấn của Tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Sàigòn, Quỳnh Hoa được phép sang Hoa Kỳ đoàn tụ với chồng và một năm sau Quỳnh Hoa sanh cho anh một bé gái đầu lòng xinh xắn dễ thương. Nhân dịp đầy tháng con đầu lòng, vợ chồng Tommy tổ chức bữa tiệc gia đình, mừng thôi nôi cho con tại nhà và mời Bố, tức là Ông Nội của cháu bé và mời Mẹ của chị Thu Hương, là người tình năm xưa của Bố, hai người đang sống chung với nhau, đến nhà vợ chồng Tommy dự tiệc. Trong lúc ông ngồi ở phòng khách, chờ đợi hai vợ chồng Tommy dọn các thức ăn lên bàn tiệc ở phòng ăn, thì bất chợt ông Quách nhìn lên tấm hình chụp Bố Mẹ của con dâu ông treo trên tường, làm cho ông hết sức ngạc nhiên lẫn xúc động, vì Bố của Quỳnh Hoa trong tấm hình này, chính là người em trai ruột của ông, là một sĩ quan tình báo trong QLVNCH trước năm 1975, kể từ ngày ông vượt biên sang Hoa Kỳ và cho đến ngày ông về Việt Nam lần đầu tiên, gặp được mẹ con Thu Hương, ông vẫn chưa nhận được tin tức gì về người em trai này của ông, nên ông kín đáo không cho con trai ông biết về tấm hình này, ông âm thầm hỏi chuyện riêng con dâu, ông cũng giữ kín, không cho cô con dâu biết Bố của cô là em ruột của ông và cô kể lại sự việc xẩy ra cho Bố chồng nghe như sau:

Cô được Bà Ngoại của cô kể lại rằng, sau khi cộng sản xâm chiếm Miền Nam 1975, Bố cô bị đi tù cải tạo vì là cựu sĩ quan QLVNCH và bị giam trong một trại tù cải tạo ở miền Bắc, lúc đó cô mới 5 tuổi, ít lâu sau, Mẹ cô gửi cô cho Bà Ngoại nuôi, để Mẹ cô đi ra miền Bắc buôn bán, để dễ dàng đi thăm nuôi chồng mỗi khi chính quyền cho phép. Rồi một hôm Mẹ cô nhận được hung tin là Bố cô cùng 2 sĩ quan tù nhân khác, 3 người đang đi chốn trên đường vượt ngục, thì bị 2 tên cán bộ trại tù phát giác, bắn chết cả 3 người tại chỗ. Sau khi nghe được tin này, Mẹ cô đau buồn lâm bệnh nặng và vì không còn tiền để tiếp tục chữa bệnh nên 6 tháng sau Mẹ cô qua đời. Đọc xong 2 câu chuyện này, chúng ta nhận thấy câu chuyện thứ nhất, ông Quách về Việt Nam đã vô tình lập gia đình với cô con gái ruột của mình làm vợ. Câu chuyện thứ hai, Tommy con trai ông cũng về Việt Nam cưới vợ, nhưng người vợ của anh lại là cô em gái họ của anh, con Chú con Bác ruột với anh. Éo leo hơn nữa, nếu không phát giác kịp thời, thì Tommy con trai ông Quách phải gọi chị Thu Hương, người chị cùng Cha khác Mẹ với anh, là Dì ghẻ của anh và đứa con của chị Thu Hương cũng là con của Bố anh, trên thực tế phũ phàng này, nó cũng chính là em ruột của anh cùng Cha khác Mẹ với anh, thật là tình trạng éo le treo cẳng ngỗng này, không một ai có thể tưởng tượng nổi, làm sao lại có 2 câu chuyện thật và kỳ lạ như thế, có liên hệ mật thiết với nhau, sao lại có thể xẩy ra trên thết gian này? Hay đó chỉ là 2 câu chuyện xã hội giả tưởng mà thôi. Trên phương diện tình cảm, 2 câu chuyện tình yêu ngang trái trên đây không còn gì để kể thêm nữa và nếu nói theo ngành y học, có thể được coi như là một hiện tượng di truyền, từ người bố sang người con của hai mối tình ngang trái vừa kể trên đây, nhưng căn cứ trên phương diện pháp luật Hoa Kỳ, câu chuyện thứ nhất về ông Quách, nếu sở Di Trú Hoa Kỳ phát giác ra rằng ông Quách không sống chung với người vợ là cô Thu Hương, vì ngay từ ngày đầu cô đặt chân đến Hoa Kỳ, ông thuê một chung cư cho cô ở riêng với đứa bé con cô, căn cứ theo Pháp Luật Hoa Kỳ, coi đó là một cuộc hôn nhân gian dối, giả vờ lấy nhau trên giấy tờ (Fraud Marriage), cho dù cô có con với ông Quách đi chăng nữa, cô vẫn bị trục xuất trả về nguyên quán, trong trường hợp nếu cô không muốn mang đứa con đi theo cô về nguyên quán của cô, thì cô có thể để lại đứa con cho chính phủ Hoa Kỳ nuôi dưỡng, mặc dầu chồng cô không bị trục xuất nếu là công dân Hoa Kỳ (US Citizent), nhưng vẫn bị truy tố ra Tòa về tội lời khai man trá trước pháp luật và có thể lãnh án tù ở, nhưng nếu chồng cô chỉ là thường trú nhân (Permanent Resident), thì có thể bị trục xuất trả về nguyên quán cùng một lúc với cô. Trong trường hợp cô đem theo con về nguyên quán cùng với cô, thì đứa con cô sau này nó đủ18 tuổi, nó có thể xin giấy visa chiếu khán trở về Hoa Kỳ, nếu Cha của nó là công dân Hoa Kỳ hoặc trước kia nó được sanh ra tại Hoa Kỳ.

Nói tóm lại, sau tháng Tư đen 1975, biết bao nhiêu cảnh tang tóc, đau thương xẩy ra cho người Việt quốc gia dưới thời VNCH, nào là hàng triệu người phải lìa bỏ nước ra đi, để đi tìm tự do tại các quốc gia tự do trên khắp Năm Châu Bốn Bể, nào là hàng trăm ngàn người già, trẻ, lớn bé, trẻ thơ vô tội bị chết oan trên biển cả, nào là mấy trăm ngàn quân nhân, công cán chính của thời Quốc Gia VNCH, có người bị giam trong các trại tù cải tạo trên 2 thập niên, có nhiều người đã phải bỏ thân xác trong các chốn lao tù cải tạo cộng sản vì đói khổ, bệnh tật, không có thuốc men chữa trị, nào là những người vợ của các tù nhân cải tạo, phải vất vả ngược xuôi, lao đầu vào làm đủ mọi nghề lao động, kể cả nghề làm vợ bé cho các cán bộ cộng sản răng hô mã tấu mua vui, để kiếm tiền nuôi con cái còn thơ dại v.v. Kể sao cho hết những nỗi đau thương này, làm cho biết bao nhiêu người dân vô tội, phải bị chết đau đớn vì chính sách tàn bạo vô thần của công sản đỏ và biết bao nhiêu nước mắt đau khổ của những người dân vô tội, cũng như nước mắt và tiếng than khóc của những người vợ tù nhân cải tạo, của các góa phụ tù nhân cải tạo, trở thành những nước sông chảy dài tới tận biển đông.

Hạnh Phúc