Hạn và nhiễm mặn Đồng bằng sông Cửu Long: Yếu kém của chính thể VN

  Hạn và nhiễm mặn Đồng bằng sông Cửu Long: Yếu kém của chính thể VN

Tiến sĩ Nguyễn Thị Hải Yến (CHLB Đức)

‪#‎VNTB Bên đảng thì vục mặt vào họp hành triền miên cho vấn đề nhân sự. Bên chính phủ thì chỉ thấy họp hành cho các dự án đắp đê ngăn mặn. Hết năm này đến năm khác đều xài hàng ngàn tỷ đồng cho chương trình đê chống mặn, nhưng rốt cuộc người dân cũng vẫn phải ngửa cổ lên trời mà khóc vì hạn hán và nhiễm mặn.

NHIEM MAN

Về vấn đề hạn và nhiễm mặn của Đồng bằng sông Mekong, nó là một phương trình tổng quát như sau: Hạn + Nhiễm mặn = Nước biển dâng + Thời tiết (hạn hán) + Các đập thủy điện (của China và sắp tới là của Lào, Thái Lan, Campuchia) + Sự yếu kém của Việt Nam (về khoa học trong công tác quản lý và trồng rừng và bảo vệ môi trường của các viện trường, về qui hoạch và phát triển kinh tế của chính quyền Hà nội, và sự phát triển kinh tế tự phát phá nát môi sinh của chính người dân).

Nước biển dâng và thời tiết

Ảnh hưởng của mực nước biển dâng do Biến đổi Khí hậu (BĐKH), là từ từ, tăng dần và yếu tố thời tiết gây hiện tượng hạn và nhiễm mặn nặng (cục bộ về thời gian) như năm nay là 2 yếu tố liên quan đến thiên tai, và đều là những yếu tố bất khả kháng với những chính thể yếu kém (các chính sách chỉ khai thác tài nguyên bất chấp môi trường), nền kinh tế, sau khi các quả đấm thép Vinaline, Vinshine… của ông thủ tướng đương nhiệm chìm nghỉm cuốn theo hàng ngàn tỷ đô la vay mượn quốc tế, “cả nước đành quay ra buôn bán vỉa hè” như Việt Nam hiện nay.

Các đập thủy điện

Yếu tố do các đập thủy điện trên phía thượng nguồn, chắc chắn là có nhưng nó không phải là yếu tố quyết định duy nhất. Từ những năm đầu thập kỷ 2000s các đập China đi vào hoạt động, năm nào thì họ cũng tích nước và xả, tất nhiên năm hạn hán, họ sẽ tích nhiều hơn xả.

Việc hạn hán nặng như năm nay phần nhiều là do thời tiết, mùa mưa năm trước rất ngăn, lượng mưa hầu như khắp nơi trong lưu vực đều rất thấp, ảnh hưởng của các đập thủy điện China chỉ đóng vai trò cộng dồn/ lũy kế (accumulation) làm cho hiện tượng hạn, và nhiễm mặn trở nên nặng nề hơn.

Cứ nhìn lại năm 1998, năm mà các đập của China chưa hoạt động thì hạn hán và nhiễm mặn cũng rất nặng nề. Việc phản ứng của các nhà khoa học về vấn đề các đập thủy điện của China là chính đáng, nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó và cứ bo bo cho rằng đó là nguyên nhân chính thì cũng chẳng khác việc làm màu của ông thủ tướng thất thế Nguyễn Tấn Dũng phút cuối “mở nửa miệng” “đề nghị” China xả nước.

“Đề nghị” đấy nhưng China chấp nhận đề nghị đó hay không là thái độ của họ. Ở cấp độ quốc gia về vấn đề chủ quyền biển đảo, đến quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa kia, mất trắng thế mà chính quyền Hà Nội cũng chỉ có các cái loa rè ở Bộ ngoại giao như Nguyễn Phương Nga, Lê Hải Bình phát trong xó nhà, hàng loạt các dự án khai thác tài nguyên giao cho China, thì Mekong đã là cái gì để cái chính thể này họ thực tâm làm?

Việc các nhà khoa học đổ hết gánh nặng lên kênh đối thoại của Mekong Vietnam thông qua Ủy hội Sông Mekong (MRC), mà không cung cấp cho họ những số liệu khoa học (scientific indcations) là việc thoái thác trách nhiệm và đá bóng hèn mạt của giới khoa học.

Việc các nhà khoa học đăng đàn thành làn sóng phản biện Báo cáo Nghiên cứu tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mêkông (MDS*) nào là dùng mô hình giống như trò chơi thực tập, nào là số liệu cũ, nào là chỉ mới tính toán số liệu các loại cá trắng mà ko thấy tính số liệu cá đen…

Nhưng thật sự xấu hổ khi chỉ cần nhẹ nhàng đặt lại vài câu hỏi: Thế vậy thế giới có cần phát triển ứng dụng các mô hình mô phỏng? Thế nào là số liệu cũ? Tại sao chỉ tính toán sản lượng cá trắng?

Nhưng thử hỏi những cái số liệu của các Viện nghiên cứu – Trường Đại học ở Việt Nam ngốn hàng tỷ đồng tiền thuế đấy, cũng dưới trướng của những nhà phản biện này đấy có sử dụng được không?

Đơn giản, 8 Viện-Trường ở phía Nam tham gia chương trình quan trắc chất lượng nước đấy, thế mà chỉ có 1 thông số độ mặn, nhóm chuyên gia MDS cũng chỉ nhặt được có 2 năm 2008 và 2010.

Không thể nói MDS là hoàn hảo, nhưng đến thời điểm này, nó là tài liệu quan trọng cung cấp những số liệu khoa học có giá trị bổ trợ (support) cho việc tham vấn thông qua kênh MRC cũng như cơ sở khoa học củng cố tính pháp lý để khởi kiện các công trình đập thượng nguồn.

Việc các nhà khoa học không nhìn nhận những giá trị của MDS cho thấy khả năng đọc và hiểu báo cáo khoa học, việc họ dùng hiện tượng hạn hán năm nay để cho rắng kết quả mô hình là không tin cậy, cố tình lật úp các giá trị của MDS không những thể hiện khả năng tiếp cận và phân tích một vấn đề, mà nó còn làm “vỡ trận” trong cộng đồng trí thức về lĩnh vực này, và bước cản đối với việc dùng MDS để hỗ trợ tính pháp lý cho quyền lợi của Việt Nam.

Rào cản chính trong tiến trình phát triển KHCN của VIỆT NAM chính là những nhóm người chuyên quyền và độc quyền này. Nó đè bẹp giới trí thức trẻ dưới quyền và làm nản lòng những nhà khoa học khác.

Việc nhóm Vietecology ở Hoa Kỳ kêu gọi một cuộc vận động nhằm vào vấn đề này là đáng khuyến khích, nhưng theo tôi, chúng ta không thể giậm chân tại chỗ và rập khuôn hay làm màu kiểu như tôi vừa đề cập.

Yếu kém của chính thể Việt Nam

Theo tôi là yếu tố chính.

Nếu nhìn trên Google Earth chúng ta cũng sẽ rất tâm đắc với những bài phát biểu, báo cáo của bất cứ ông bà nào của cái chính thể này: về việc trồng rừng và phủ xanh đồi trọc, chương trình trồng rừng thành công rực rỡ này nọ.

Nhưng xắn quần lội bùn đến quá đầu gối sẽ thấy ở dọc bờ biển của Mekong Delta: các cánh rừng đước được trồng dày đặc, thân cây chỉ bằng bắp tay, cây chen chúc mọc thẳng, và không còn không gian để phát triển tán, những trận gió lốc thường cuốn băng lớp tán lá lều khều yếu ớt đó.

Còn khu rừng trồng cây bần và cây mắm, thì cũng vẫn nguyên tắc “lâm nghiệp kinh điển: khoảng cách 2 x 2”, với cánh rừng đơn loài (monospecies) này, mặc dù các rễ bần mọc ngược lên trên không khí, cũng không thể có tác dụng lưu trữ trầm tích như rừng đa dạng sinh học và nhiều tầng. Thành phần hạt của cát tại hai nơi rừng trồng mono-species và rừng tự nhiên nhiều loài là rất khác biệt.

Hiện GIZ (German Society for International Cooperation / Cơ quan Hợp tác Quốc tế Đức) cũng đang thúc đẩy một nghiên cứu bằng cách trồng cấy các loại cây con của các loài khác nhau vào gần và dưới tán lá của các cây cao, theo cơ chế giả/ bắt chước (mimic) sinh thái học, để giúp các viện lâm nghiệp của VIỆT NAM thay đổi và áp dụng việc trồng rừng cho mục đích bảo vệ bờ biển hiệu quả.

Vấn đề là, tính kế thừa của nghiên cứu này có hiện hữu hay không, hay quan chức các Viện cũng còn đang mải mê trên những cung đường “tìm kiếm ghế” và bảo toàn quyền và tiền kia?

Việc quan trắc chất lượng nước

Đặc biệt độ mặn phải thật sự chuẩn hóa, để số liệu và kết quả thuyết phục. Số liệu quan trắc chất lượng nước (water quality) của MRC vùng châu thổ (Delta) thuộc VIỆT NAM, giá trị của thông số DO thì rất thấp, BOD thì rất cao. MRC đã thiết kế chung 1 phương pháp cho cả hệ thống Mekông, vùng thượng nguồn nước ngọt sẽ không bị vấn đề gì cả, nhưng vùng Delta của Việt Nam thì rất khác, hai thông số này bị ảnh hưởng rất nhiều bởi độ mặn.

Nhưng thay vì phải nâng cấp phương pháp và hiệu chỉnh trọng số cho vùng nhiễm mặn so với vùng nước ngọt, thì chính các Viện-Trường thực hiện của Việt Nam luôn cho rằng DO và BOD như thế là do ô nhiễm do lối sống (living style, ăn ở trên thuyền, và thải trực tiếp xuống sông) và mật độ dân số cao (high population density)…

Cảm giác như Việt Nam tự đầu hàng và chấp nhận. Do trình độ hay do tắc trách?

Hồi còn làm cho MRC, khi số liệu quan trắc của Việt Nam gửi sang, tôi thấy nhiều giá trị của các thông số được ghi là 0 (zero), tôi có nói bạn cấp dưới của tôi là liên lạc với Viện đó để xác nhận giá trị 0 này.

Vòng vo một hồi vẫn nhận được câu trả lời là giá trị đúng như thế. Cuối cùng tôi nói bạn ấy là về Việt Nam đến Phòng Lab tìm hiểu, mới té ngửa là cứ những giá trị nào mà máy đo cho con số thập phân, hoặc âm là nhân viên ở Viện ghi là 0.

Trong khi đó, những giá trị này là thể hiện thông số của máy đo, và bắt buộc phải ghi chính xác con số hiện trên máy. Nhưng đáng tiếc là khi tôi đưa những vấn đề này ra, đã bị một loạt nhân viên của Viện này, cho là đồ nhãi ranh, và thậm chí nhảy vào email cá nhân của tôi chửi rủa.

Cái văn hóa bạc nhược này được phôi thai từ chính thượng tầng chính phủ mà chúng ta thấy rõ nhất là cái đại hội “đoảng” 12 vừa rồi.

Sự yếu kém của Việt Nam về chính sách phát triển kinh tế và dân sinh

Ở các chế độ đặc thù cộng sản, luôn có một cái rất là kêu, đó là kế hoạch phát triển KTXH định kỳ 5 năm “đẹp như mơ”. Thật là xấu hổ khi hàng loạt quan chức cũng như các nhà khoa học làm quan hùng hổ trình bày kiểu, năm 2015 sản xuất được xxx tấn lúa, thu ngoại tệ xuất khẩu lúa gạo là yyy tỷ đồng Việt Nam, vậy thì kế hoạch 5 năm, đến năm 2020 sẽ phải đạt xxx + aaa, hoặc xuất khẩu là yyy + bbb, trong khi đó quỹ đất nông nghiệp thì chỉ có giảm, năng suất lúa thì đã kịch trần.

Hãy nhìn vào con số thống kê nhẩy bập bùng lên xuống theo sự kiện họp hành ở Ba Đình, sẽ thấy được bản chất của những cái kế hoạch kia.

BĐKH là thế, Việt Nam nằm vào nhóm đầu những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất, nhưng thử hỏi, chính phủ và bộ NN&PTNT đã đưa ra được một kế hoạch, hay chiến lược nào về phát triển kinh tế, dân sinh thay thế chưa?

Bên đảng thì vục mặt vào họp hành triền miên cho vấn đề nhân sự. Bên chính phủ thì chỉ thấy họp hành cho các dự án đắp đê ngăn mặn. Hết năm này đến năm khác đều xài hàng ngàn tỷ đồng cho chương trình đê chống mặn, nhưng rốt cuộc người dân cũng vẫn phải ngửa cổ lên trời mà khóc vì hạn hán và nhiễm mặn, và cuộc sống của họ cũng vẫn nổi trôi theo sự hà khắc của thời tiết. Đó chính là quan điểm của GS Võ Tòng Xuân.

Về sự phát triển tự phát, phá nát môi sinh của chính người dân và các chính quyền địa phương

Việc chính quyền địa phương giao đất cho hàng loạt các cá nhân, hàng chục ngàn héc-ta đất ven biển để đầu tư nuôi tôm những năm của thập kỷ 1990s và 2000s; việc chủ đầu tư thoải mái phá những vành đai rừng ngập mạn tự nhiên, xẻ đất đào kênh mương dẫn nước biển sâu vào trong nội địa để nuôi tôm, là một trong những nguyên nhân đẩy nhanh tiến trình và phủ rộng vùng nhiễm mặn và làm chìm dần vùng đới bờ của châu thổ Mekong do mực nước biển dâng.

Một số cá nhân cho rằng quan điểm của GS. Võ Tòng Xuân là không logic, vì nếu cho phát triển nuôi trồng thủy sản thay thế trồng lúa, thì càng đẩy nhanh tiến trình nhiễm mặn.

Thực tế, với một chế độ cộng sản độc tài chuyên chế hiện nay, chính thể này, với một nền kinh tế nợ công đầm đìa này, liệu Việt Nam có thể chiến thắng các nước thượng nguồn về tranh chấp tài nguyên nước? Có đủ nội lực kinh tế cho các dự án chống mặn như kiểu Hà Lan? Câu trả lời là hầu như Zero.

Tuy nhiên, chuyển đổi sinh kế cho người dân không có nghĩa là cho phát triển ồ ạt, mà bắt buộc phải dựa trên hàng loạt các chỉ số đánh giá tiềm năng, hậu quả với một bản quy hoạch thực sự.

Tôi hy vọng nhóm Vietecology ở Mỹ sẽ kết nối các chuyên gia có tâm và tầm trong và ngoài nước tạo thành một diễn đàn mà ở đó các phản biện và đóng góp sẽ được cọ xát và đối trọng với những phản biện kiểu hỏa mù, giải cứu “vỡ trận” ngay từ chính nhóm người Việt đã; có thế mới có thể “nhảy” ra ngoài được. Và cũng sẽ tạo ra một hành lang lành mạnh trong phản biện, có thế mới thu hút được các ý kiến phản biện cũng như sự đóng góp thiết thực.
(*) Báo cáo MDS là dự án cấp quốc gia trị giá 4,3 triệu đô la Mỹ do Bộ Tài nguyên và Môi trường và Ủy ban Sông Mêkông Việt Nam chủ trì, thuê hai đơn vị tư vấn DHI (Đan Mạch) và HDR (Mỹ) thực hiện.

[http://www.ijavn.org/…/vntb-han-va-nhiem-man-ong-bang-song-…]

http://www.ijavn.org/2016/03/vntb-han-va-nhiem-man-ong-bang-song-cuu.html

CHA PIO NĂM DẤU VÀ PHÉP GIẢI TỘI

 CHA PIO NĂM DẤU VÀ PHÉP GIẢI TỘI

Giải tội cho người thập phương:

Ngài giải tội tùy theo tình trạng mỗi tâm hồn, chỉ cốt sao cho họ thành thực, được ơn tha thứ và cải thiện đời sống, nên nhiều khi ngài có những cư xử khác thường:

CHA PIO NAM DAU

1/ Một người viết báo ở Rôma kể: Trước khi cha Piô ban phép giải tội, ngài nói với tôi cách gắt gỏng là hãy cẩn thận với vài khuyết điểm. Lời ngài nói như xuyên qua linh hồn tôi. Trong một dịp khác, ngài vạch rõ những khuyết điểm ăn sâu trong lòng, và tôi dần dà cải đổi. Lần thứ ba, ngài hỏi: từ bấy lâu nay có xưng tội không? Tôi mỉm cười và trả lời tự tin: Ngày nào con cũng dự lễ và rước lễ mà. Cha Piô nhăn mặt và gay gắt nói:
– Con đến đây để xưng tội chứ không để ca ngợi mình. Thế con có nóng giận với các em gái con không?
– Dạ có.
– Đó là điều con phải xưng. Và đừng làm thế nữa.

2/ Một bà kia xưng tội phạm đức trong sạch. Bà biết rõ khi trở về bà sẽ bị cám dỗ và sa ngã lại. Cha Piô từ chối ban phép giải tội. Lần sau bà đến nữa, ngài cũng không giải tội. Lần thứ 5, khi xếp hàng, bà nghĩ: Tôi thà chết không phạm tội này nữa. Khi bà xưng, cha Piô lắng nghe, và ngài đã ban phép giải tội cho bà. Ngài biết được nội tâm người ta.

3/ Một bà khác xưng rằng:
– Con đọc sách báo xấu.
– Con có xưng tội này rồi phải không?
– Dạ phải.
– Cha giải tội nói gì với con?
– Cha giải tội bảo con không được phạm tội này nữa.
– Không nói một lời, cha Piô đóng sầm cửa sổ, quay sang giải tội cho người bên kia. Người phụ nữ ấy khóc lóc và đi xưng tội với một linh mục khác, sau đó rước lễ từ tay cha Piô. Trước khi ra về bà khóc lóc, nói: “Tôi muốn đốt hết tất cả những sách báo xấu xa trên toàn thế giới”.
Cha Piô thật hài lòng, ngài muốn tội nhân thay đổi khi ra khỏi tòa giải tội.

4/ Ngày kia, có một anh thanh niên đến xin xưng tội với cha Piô. Ngài nhìn anh với đôi mắt nghiêm nghị, ngài la lên “đồ con heo!”. Mọi người quay về phía anh, thật nhục nhã, anh ta vội vả rời phòng giải tội. Một linh mục kinh ngạc, đăm đăm nhìn cha, nói:
– Sao cha dùng những lời lẽ thậm tệ đến thế?
– Cha Piô nhún vai: nếu tôi không la vào mặt hắn, hắn sẽ phải án phạt đời đời. Hắn sống với vợ lẽ, và đây là điều ghê tởm trước mặt Thiên Chúa. Sự nhục nhã đó có lợi cho hắn, vài ngày nữa hắn sẽ trở lại. Nếu tôi ban phép giải tội cho hắn bây giờ, hắn sẽ không sám hối và không sửa đổi.
Anh ta đã không thể ngủ nghỉ, ăn uống khi nghĩ tới mối liên hệ bất chính. Anh ta đã trở lại, quì gối xuống ăn năn khóc lóc trước mặt cha Piô. Ngài cúi xuống khoác tay lên người anh, ngài ôn tồn nói:
– Con thấy không, bây giờ Chúa Cứu Thế rất hài lòng về con.

5/ Một hôm, ngài đang nói chuyện với một bà có ông chồng vừa qua đời. Trước đây chồng bà đã bỏ bà và 2 con nhỏ để sống với một phụ nữ khác trong 3 năm. Bất thình lình ông bị bệnh ung thư. Trước khi ông chết, bà vợ này khẩn khoản xin ông lãnh nhận các Bí tích cuối cùng. Ông nhận lời.
Người đàn bà nhỏ nhắn và đơn sơ này đưa tay sửa lại chiếc khăn vuông trên đầu và hỏi cha Piô:
– Thưa cha, linh hồn chồng con bây giờ ở đâu?
– Cha Piô nhìn bà ta với đôi mắt lo ngại. Hình như ngài cảm được nỗi buồn phiền trong tâm hồn của bà, Ngài nói khẽ:
– Linh hồn chồng bà đã bị án phạt đời đời.
Người đàn bà lắc đầu khổ sở, nước mắt tuôn tràn.
Cha Piô nói tiếp cách buồn bã:
– Khi nhận các Bí tích sau cùng, ông ta đã giấu nhiều tội. Ông không ăn ăn hối hận, cũng không quyết tâm chừa cải. Ông vẫn là tội nhân đối với lòng thương xót Chúa, vì ông muốn hưởng hết lợi lộc của cõi đời này, rồi sau đó mới quay về ăn năn, thống hối…, nhưng không còn thì giờ cho ông nữa!.
Trước khi bà ra về, ngài hết sức an ủi bà, nhưng suốt ngày những điều ấy chờn vờn trong tâm trí ngài, vì một người đã bị hư mất.
(Cuộc đời Cha Piô, Người Tín Hữu xb, 2000, trang 188).

Nhức nhối chuyện giáo dục ở Việt Nam

Nhức nhối chuyện giáo dục ở Việt Nam

VietTuSaiGon

RFA

Việt Nam là nước nghèo, dù đứng trên góc độ nào vẫn không thể chối bỏ thực trạng nghèo khổ và lạc hậu. Nhưng đáng sợ hơn cả là đất nước hình chữ S này lại gánh chịu trên đôi vai vốn gầy gò của mình cái gánh y tế và giáo dục quá tồi, hỏng hóc và vô luận. Chỉ có thể nói vậy!

Chuyện mất đạo đức của ngành y tế có thể xem như hết thuốc chữa, chỉ mong vào những thế hệ sau. Nhưng để có những thế hệ sau tốt hơn thì ngay từ bây giờ phải có một nền giáo dục tốt, một nền giáo dục đào tạo ra những con người đúng nghĩa chứ không phải những cái máy, những con vẹt hay những cá thể mang thần kinh khốn nạn (nói theo cách của giáo sư Ngô Bảo Châu).

Rất tiếc là hiện tại, nền giáo dục Việt Nam không những dự báo sẽ cho ra đời những cái máy, những con vẹt, những kẻ mang thần kinh khốn nạn mà rất có thể tương lai Việt Nam sẽ là những thế hệ khốn nạn, những đám đông khốn nạn và một đất nước khốn nạn.

Bởi lẽ, dù đứng trên góc độ nào thì nói về giáo dục, cái chuẩn đầu tiên và mục tiêu lớn nhất vẫn là con người chứ không phải cơ sở hạ tầng hay những cái chuẩn về cơ sở hạ tầng, những cái “chuẩn quốc gia” đậm tính hình thức và dung chứa đầy rẫy tham nhũng, hối lộ, đút lót và đánh mất lòng tự trọng.

Từ những năm 2010 cho đến nhay, có nhiều vụ nổi cộm về nạn bằng giả trong giới quan chức, đút lót để mua chức, đút lót để được dạy học, mua chỗ hành nghề trong giáo dục để hợp thức hóa việc dạy ngoài giờ, chạy sô trong giảng dạy… Những chuyện này, hầu như không có chuyện nào là không phản giáo dục, nếu không muốn nói là nó phát sinh nguy cơ làm cho nền giáo dục trở thành chợ búa và hổ lốn.

Nhưng đó vẫn chưa phải là chuyện cộm cán khi mà đạo đức của người dạy học trở nên băng hoại, đội ngũ quản lý giáo dục trở thành những kẻ cò mồi, tú ông, tú bà để đưa học sinh vào con đường trụy lạc với giới quan chức. Sự tổn thương về phẩm hạnh của học sinh trở thành thứ hàng xa xỉ để giới quan chức giáo dục bôi trơn con đường hoạn lộ thông qua việc môi giới cho những cuộc mua vui của giới quan chức hành chính cấp cao hơn.

Câu chuyện hiệu trưởng Sầm Đức Xương ở Hà Giang đã môi giới nhiều nữ sinh bán dâm cho giới quan chức cấp tỉnh và khi các em nữ sinh này tố cáo thì Sầm Đức Xương không bị gì mà chính các em nữ sinh, các nạn nhân bị truy tố trước cơ quan pháp luật địa phương. Điều này cho thấy giới quan chức, đặc biệt là quan chức ngành giáo dục đã không những đánh mất nhân cách, tư cách mà còn hiện rõ bản chất lưu manh, tú ông mà về nguyên tắc giáo dục họ tuyệt đối không được bén mảng đến gần môi trường phấn trắng bản đen.

Nhưng trong nền giáo dục Cộng sản xã hội chủ nghĩa, những kẻ lưu manh không những bị loại bỏ mà còn được nâng cấp, thăng tiến trở thành lãnh đạo ngành, kẻ làm sai quấy càng nhiều thì càng mau thăng quan tiến chức, kẻ càng nghiêm túc, càng có trách nhiệm với công việc bao nhiêu thì càng bị đày bấy nhiêu, bởi họ trở thành cái gai trong mắt của đám lãnh đạo.

Và những tưởng đây sẽ là bài học để giới quản lý giáo dục biết nhìn vào đó mà tổ chức quản lý tốt hơn cũng như giới cầm phấn đứng bục giảng sẽ lấy làm bài học mà tu thân, mà giữ đạo đức làm thầy. Nhưng không, hoàn toàn không dừng ở đó mà câu chuyện đáng xấu hổ này vẫn tiếp tục nảy nở.

Câu chuyện về thầy giáo Cao Văn Dũng (mà đa phần báo chí trong nước chỉ đăng tên C.V.D hoặc thầy D.) ở trường tiểu học Hưng Bình tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã xúc phạm thân thể, sờ mó vùng kín của các nữ học sinh lớp ba (tức hành vi dâm ô với học sinh tiểu học) và khi bị cha mẹ các em tố cáo, thầy giáo này vẫn chưa chịu bất kỳ hình thức kỉ luật nào tương thích. Giả sử giới quản lý giáo dục cố tình bao biện cho con yêu râu xanh này rằng y là một giáo viên giỏi, trường đang thiếu giáo viên thì điều này chỉ cho thấy hai vấn đề: Chạy theo thành tích và nói láo.

Bởi một nền giáo dục quen chạy theo thành tích từ chuẩn tỉnh cho đến chuẩn quốc gia dựa vào cơ sở hạ tầng và thành tích chạy thi giải này giải nọ nhưng yếu tố nhân cách, phẩm cách không bao giờ được đề cập thì chẳng những không tạo ra thế hệ con người tốt mà có nguy cơ lưu manh hóa xã hội.

Hơn nữa, giả sử lý do để không loại bỏ con yêu râu xanh này là vì trường thiếu giáo viên thì càng không hợp lý! Bởi hiện tại, có hàng ngàn sinh viên loại giỏi, loại khá đã tốt nghiệp nhưng không có chỗ để dạy, phải đi bưng bê thức ăn cho quán, đi phụ hồ, đi bưng cà phê, chạy xe ôm… để tồn tại. Như vậy giáo viên không bao giờ thiếu mà chỉ thiếu sự công bằng và thiếu sự minh bạch trong tuyển chọn, đào tạo cũng như bố trí công việc.

Trở lại chuyện giáo viên dâm ô với những học sinh tiểu học, những cháu bé này đang tuổi thiếu nhi, sự sờ mó của con yêu râu xanh này sẽ làm các cháu tổn thương tâm lý và khó có thể nói rằng tương lai của các cháu không bị khủng hoảng bởi một sự mặc cảm sâu xa nào đó. Lẽ ra thì tội dâm ô với trẻ em phải bị truy tố trách nhiệm hình sự. Nhưng ở đây, bà Ngô Thị Nguyệt, Phó trưởng phòng Giáo dục thành phố Vinh cho rằng mức độ sai phạm chưa có gì trầm trọng vì chưa để lại hậu quả nghiêm trọng và “do hoàn cảnh thầy Dũng nghèo khổ nên trường tạo điều kiện cho thầy vượt qua khó khăn…”(?!).

Chỉ riêng góc độ xã hội thuần túy thì tên Cao Văn Dũng đã phải lãnh án tù giam từ năm đến bảy năm với bản án hình sự. Đằng này hắn ta là một giáo viên, mà kẻ làm quản lý giáo dục lại cho rằng mức độ phạm tội chưa trầm trọng thì không còn gì để bàn!

Trong khi đó, chúng ta đang sống trong một đất nước mà ăn trộm một con gà có thể chịu ba năm tù, vậy mà dâm ô, sàm sỡ trẻ nít chỉ bị nhắc khéo.

Lẽ ra, động thái đầu tiên mà ngành giáo dục bắt buộc phải làm là loại bỏ tên giáo viên râu xanh này ra khỏi ngành nhằm giữ cho ngành giáo dục được trong sạch, sau đó chuyển toàn bộ hồ sơ phạm tội cũng như đơn thư tố cáo về những tội y gây ra sang cho ngành công an và Viện kiểm sát để họ tiếp tục điều tra làm rõ vấn đề.

Đằng này một Phó trưởng phòng giáo dục ở một thành phố là quê hương của ông Tổ Cộng sản Việt Nam, thành phố luôn “học tập và làm việc theo gương Bác” lại cho rằng tội sàm sỡ, dâm ô trẻ em vị thành niên là “không có gì trầm trọng”. Câu nói này chẳng khác nào đang đổ nước thối vào gương mặt của ngành và chứng minh rằng ngành giáo dục là thối nát, là chẳng có gì gọi là đạo đức.

Thế nhưng bà Nguyệt đã nói như vậy và kẻ sàm sỡ, dâm ô vẫn chưa bị bắt, vẫn còn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Điều này không những gây bức xúc cho giới phụ huynh học sinh mà còn cho thấy rằng nền giáo dục đang đứng ngay hố trũng của thối nát, băng hoại, vô liêm sỉ!

Và câu chuyện của Sầm Đức Xương cũng như câu chuyện của tên giáo viên mà báo chí nhà nước đăng với tên “thầy D.” chỉ cho thấy rằng tương lai đất nước này sẽ bệ rạc khinh khủng hơn hiện tại rất nhiều. Bởi các thế hệ trẻ của đất nước đang bị đầu độc bởi những tên lưu manh đội lốt nhà giáo và chúng được dung dưỡng, được bao che bởi giới quan chức lãnh đạo ngành dốt nát và cũng không kém phần khốn nạn.

Một tương lai của đám đông khốn nạn, tập thể khốn nạn, quốc gia khốn nạn đang chờ đợi chúng ta nếu như ngành giáo dục Việt Nam tiếp tục bị thao túng bởi những kẻ mang thần kinh khốn nạn như đang thấy!

DẤU CHỨNG TÌNH YÊU

DẤU CHỨNG TÌNH YÊU

Cô Ann Thomas kể lại câu chuyện sau đây:

Hôm đó, cô và Betty ghé vào một sạp bán đồ cũ. Ann vừa lôi ra một khay đồ linh tinh, Betty bước tới hỏi:

– Cô có đồ gì đáng giá không?

Ann trả lời:

– Không toàn là đồ năm vố thôi.

Đoạn cô bước sang bên cạnh nhường cho Betty vào xem. Betty chăm chú nhìn vào đống lặt vặt, nhặt lên một cây thập giá cũ han gỉ và nói:

Thật khó mà tin được. Tôi đã tìm được đồ quí: cây thánh giá này làm bằng chất bạc xưa.

Cô bạn của Ann đem về nhà lau chùi và đánh bóng cây thập giá. Đây quả là một vật quí.

Về sau, đứa con trai bảy tuổi của Betty tên Bobby cầm cây thập giá lên ngắm nghía hồi lâu. Bỗng nhiên cậu bé oà lên khóc. Betty liền hỏi:

– Con sao vậy?

Bobby nói:

– Con không cầm lòng được khi thấy Chúa Giêsu bị treo trên thập giá.

***

Ba người nhìn vào cây thập giá, có ba thái độ khác nhau: một người dửng dưng cho là đồ ve chai, người khác thích thú vì khám phá ra vật quí, còn người khác nữa lại xúc động rơi lệ vì nhận ra Đức Giêsu chịu đau đớn trên thập giá.

Tin Mừng hôm nay kể, Đức Giêsu bất thần hỏi các môn đệ: “Đám đông nói Thầy là ai?” Các ông thưa: “Họ bảo Thầy là ông Gioian Tẩy Giả, nhưng có kẻ thì bảo là ông Êlia, kẻ khác lại cho là một trong các ngôn sứ thời xưa đã sống lại”. Nhưng Người lại muốn biết suy nghĩ của chính họ: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Và chỉ một mình Phêrô mau mắn, đầy xác tín thưa: “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa” (Lc 9:18-20).

Phêrô trả lời quá chính xác, các môn đệ khác thở phào nhẹ nhõm vì các ông còn mơ hồ không biết Thầy là ai. Nhưng Đức Giêsu phải xác định ngay rằng Đấng Kitô đây không phải là vị vua chiến thắng muôn nước, bá chủ muôn dân, khôi phục nước Israel, giải phóng nô lệ Rôma như họ vẫn nghĩ. “Đấng Kitô của Thiên Chúa” sẽ là vị vua chiến thắng tử thần, chinh phục các tâm hồn, khôi phục quyền làm con Chúa, và giải phóng con người khỏi ách nô lệ tội lỗi, ma quỉ.

Tuy nhiên, con đường đi đến chiến thắng lại là con đường đau khổ, con đường thập giá: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng các kinh sư loại bỏ, bị giết chết và ngày thứ ba sống lại” (Lc 9,22). Tất cả những ai muốn làm môn đệ Người, không thể đi con đường nào khác: “Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23).

Thập giá tuy là một khí cụ độc ác và ô nhục mà con người đã nghĩ ra để hành hạ kẻ khác, nhưng Đức Giêsu lại biến nó thành dấu chứng của tình yêu: Tình yêu vâng phục thánh ý Cha và tình yêu dâng hiến cho nhân loại. Khi nhìn lên thập giá, chúng ta không ngừng nghe vang vọng lời yêu thương ấy. Chính tình yêu đã biến thập giá trở nên nhẹ nhàng, và khổ đau thành nỗi hân hoan.

Chúa đã chết thay cho chúng ta, mặc dầu chúng ta không xứng đáng ơn cao cả ấy, tại sao chúng ta lại không dám chết cho chính mình, từ bỏ tội lỗi để bước theo chân Người? Chúa đã sẵn lòng chịu mọi đau khổ cực hình thay cho chúng ta, mặc dầu chúng ta ngàn lần bất xứng, tại sao chúng ta lại từ chối hy sinh cho anh em, đang cần sự nâng đỡ ủi an?

***

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã phán: “Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai mất mạng sống mình vì Tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”, xin ban cho chúng con ơn can đảm, để chúng con luôn sẵn lòng bỏ mình cho tình yêu. Xin cho chúng con tìm được niềm vui khi đón nhận mọi gian nan thử thách Chúa gởi đến trên đường đời. Amen!

Thiên Phúc

Anh chị Thụ & Mai gởi

“Chúc tụng Ðấng nhân danh Chúa mà đến!.”

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu đi trước lên Giêrusalem. Và xảy ra là khi Người đến gần Bếtphaghê và Bêtania, giáp núi gọi là núi Cây Dầu, Người sai hai môn đệ đi và bảo rằng: “Các con hãy đến làng trước mặt kia, vừa vào làng, các con sẽ gặp con lừa con cột sẵn đó chưa ai cỡi bao giờ; các con hãy mở dây mà dẫn về. Và nếu có ai hỏi các con “Tại sao các ông mở dây?”, thì hãy nói thế này: “Vì Chúa cần dùng đến nó”. Hai người được sai ra đi, và gặp lừa con đứng đó như Chúa đã bảo. Hai ông đang mở dây lừa con, thì chủ nó hỏi rằng: “Sao các ông mở dây lừa con?” Hai ông đáp: “Vì Chúa cần đến nó”. Hai ông dắt lừa về cho Chúa Giêsu, trải áo lên mình lừa và đặt Chúa lên trên. Dọc đàng, người ta trải áo trên lối đi. Khi Người đến gần triền núi Cây Dầu, tất cả đoàn môn đệ hân hoan lớn tiếng ca ngợi Chúa về mọi phép lạ họ đã thấy mà rằng: “Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến! Bình an trên trời và vinh quang trên các tầng trời”. Một vài người biệt phái trong đám đông nói cùng Người rằng: “Thưa Thầy, xin hãy mắng các môn đệ Ngài đi”. Chúa Giêsu nói: “Tôi bảo cho các ông biết: nếu họ làm thinh, thì những viên đá sẽ la lên”.

Đó là lời Chúa..

Những lời nói thật lòng

Những lời nói thật lòng

Lang Anh

19-3-2016

1. Dự cả hai lần hội nghị hiệp thương, khi được mời góp ý, thiếu tướng Trần Ngọc Thổ – nguyên Tham mưu trưởng Quân khu 7 – nói: “Vừa rồi họp ở địa phương, tôi cũng nói việc lựa chọn ĐBQH hết sức cẩn thận. Nhìn vào danh sách ứng cử ĐBQH thì thấy ngoài Đảng quá nhiều, tự ứng cử quá nhiều. Đây là tổ chức thứ tư (ý ông Thổ nói MTTQ VN – PV) của Đảng sau Chính phủ, Nhà nước, Quốc hội chứ có phải ai muốn vào thì vào, ai muốn ra thì ra”.

Thiếu tướng Trần Ngọc Thổ: ‘Tự ứng cử quá nhiều’

2. Trả lời câu hỏi về việc tới nay liên quan tới kiện toàn các chức danh nhà nước thì đã có ai nộp đơn xin từ chức chưa, thí dụ như trường hợp của Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội?

Ông Nguyễn Hạnh Phúc cho biết, không nhất thiết những trường hợp này phải nộp đơn xin từ chức, vì công tác nhân sự là của Đảng. Không nhất thiết Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội phải có đơn từ chức

3. Tổng Bí thư nhấn mạnh, để hạn chế thấp nhất thiệt hại, không để người dân thiếu nước ngọt, cần chủ động phương án phòng chống, thích ứng cho cả trước mắt và lâu dài, nghiên cứu chuyển đổi cây trồng vật nuôi, cơ cấu kinh tế phù hợp, như phát triển công nghiệp chế biến gắn với vùng cây nguyên liệu vốn là tiềm năng thế mạnh của địa phương.

Trước mắt, cần kiểm tra xử lý kịp thời tình trạng xâm nhập mặn, làm sao ngăn mặn, giữ ngọt, tìm ra những nguyên nhân không chỉ khách quan mà cả chủ quan để tháo gỡ giải quyết, cái gì vướng mắc thì đề nghị Trung ương hỗ trợ, cần có phương án chủ động, tính toán kỹ lưỡng các kịch bản có thể xẩy ra.

“Trung ương luôn sát cánh cùng bà con vùng hạn mặn vượt khó khăn”

Ba sự kiện, ba kiểu phát ngôn của các quan chức cấp cao của Đảng.

Phát ngôn đầu tiên là của thiếu tướng Trần Ngọc Thổ, nguyên tham mưu trưởng Quân khu 7. Ông bày tỏ nỗi ấm ức của ông trước thực trạng số Đại biểu tự ứng cử Đại Biểu Quốc Hội năm nay quá nhiều so với các kỳ bầu cử trước. Trong cơn bực tức của mình, ông đã buột miệng nói trắng ra, là Mặt trận tổ quốc cùng với Chính phủ, Nhà nước và Quốc hội tất cả đều là thành phần trong 4 tổ chức của Đảng mà thôi. Một lời nói rất thật lòng của một đảng viên cấp cao cho thấy bản chất của nền chính trị Việt Nam, dù cơ quan tuyên huấn vẫn ngày ngày rao giảng nói về nhà nước và quyền lực thuộc về nhân dân. Ông Thổ có lẽ đã cho mình trèo qua hiến pháp khi bất bình về cái quyền ứng cử, vốn là quyền đương nhiên của công dân căn theo hiến pháp và cả Luật bầu cử quốc hội được thông qua ngày 22/06/2015 vốn vẫn chưa ráo mực.

Cũng trong cùng mạch sự kiện, ông Nguyễn Hạnh Phúc, tổng thư ký Quốc hội, khi trả lời về công tác quyết định nhân sự cấp cao của chính phủ, vốn được Hiến pháp ghi rõ là thẩm quyền thuộc về Quốc hội thì cũng đã trả lời rất thẳng thắn: “Công tác nhân sự là của Đảng”

Có lẽ cả ông Phúc và ông Thông không lường hết được tính lan truyền và phổ cập của thông tin toàn cầu. Cũng có thể các ông quá tự tin và cho rằng chẳng có gì phải dấu diếm. Dù sao thì những câu nói rất thật lòng của các ông chỉ phơi bày một sự thật duy nhất thôi: Ở đất nước này, người dân chẳng có quyền gì ngoài quyền đóng thuế. Mọi sự bầu bán, mọi thứ được gọi là lá phiếu, chỉ là câu chuyện riêng của Đảng Cộng Sản với 4,5 tr đảng viên. Liệu còn bao nhiêu người Việt Nam nữa còn chưa chịu nhìn thẳng vào sự thật mà chính các đảng viên cao cấp nhất của ĐCS đã thẳng thắn phơi bày.

Cuối cùng, nhân sự kiện cả vùng đồng bằng sông Cửu long chết khát, lúa chết, người cũng đang khát, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng công cán đến ngó xem và để lại một phát ngôn dân tuý: “Trung ương luôn sát cánh cùng bà con hạn mặn vượt khó khăn”

Cảnh báo về thiếu nước ngọt vùng đồng bằng sông Cửu Long đã được đưa ra từ 20 năm qua khi Trung Quốc bắt đầu xây những con đập đầu tiên tại thượng nguồn và cổ suý các nước khác xây đập trên dòng chính sông Mekong. Trong khoảng 10 năm qua, dù liên tục trải qua bất ổn, thay chính phủ liên tục và đảo chính liên miên, nhưng Thái Lan, dù bất cứ ai nắm quyền, cũng đều có những kế hoạch dài hơi để đối phó vấn đề này, dù mức chịu ảnh hưởng của Thái thấp hơn Việt Nam rất nhiều. Ngày hôm nay, hạn nặng khắp vùng hạ lưu sông MeKong, nhưng người Thái đã sẵn sàng các trạm bơm, hồ nước và đập chứa để đối phó tình hình. Gần nhất là họ đang bơm 47 triệu m3 nước từ dòng chảy chẳng còn nhiều của sông Mekong để dự trữ cho nông nghiệp Thái Lan. Tất nhiên, những trạm bơm và hồ chứa ấy không tự nhiên sinh ra. Người Thái đã chuẩn bị cho chúng trong hàng chục năm.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, có lẽ cần phải hỏi ông điều này, Đảng cộng sản đã luôn cầm quyền và luôn được nghe cảnh báo. Mười năm qua, đã có bao nhiêu hồ chứa, bao nhiêu đập trữ nước được chuẩn bị để đối phó với tình hình ở đồng bằng sông Cửu long? Để đến nỗi bây giờ hạn hán cạn khô, Đảng chỉ còn cách cầu xin Trung Quốc xả van mà hầu hết các chuyên gia tính toán điều đó chẳng cứu được gì nhiều cho cơn khát tại Nam bộ. Cuối cùng thì đất nước này còn cần quỳ gối trước Trung Quốc thêm bao nhiêu lần nữa cùng với các ông, để đổi lại vẫn là đói nghèo và chết khát???

Lãnh đạo ngân hàng dễ bị hình sự hóa’

Lãnh đạo ngân hàng dễ bị hình sự hóa’

BBC

Chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu nói các lãnh đạo ngân hàng ‘cần thay đổi tư duy quản trị’

Chuyên gia tài chính Nguyễn Trí Hiếu bình luận với BBC về chuyện ‘lãnh đạo ngân hàng dễ bị hình sự hóa’ nhân vụ cựu Tổng giám đốc GPBank bị bắt.

Báo Nhân Dân và một loạt các báo khác cùng đưa tin hôm 18/3, Phòng 10 Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và tham nhũng (C46, Bộ Công an) cho biết, tống đạt quyết định khởi tố bị can, bắt tạm giam ông Phạm Quyết Thắng, cựu Tổng giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Dầu khí Toàn cầu (GPBank) cùng ba đồng phạm.

Hành vi của ông Thắng bị cho là ‘cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây thiệt hại cho ngân hàng hàng ngàn tỷ đồng’, các báo tường thuật.

GPBank là ngân hàng yếu kém bị rơi vào diện buộc phải tái cơ cấu từ năm 2012 và bị Ngân hàng Nhà nước ra quyết định mua lại bắt buộc toàn bộ cổ phần với giá 0 đồng hôm 7/7/2015.

Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước còn yêu cầu Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank) tham gia quản trị, điều hành GPBank.

‘Thông lệ quốc tế’

Hôm 19/3, trả lời BBC, chuyên gia tài chính ngân hàng Nguyễn Trí Hiếu nói: “Ông Thắng là một trong ba lãnh đạo ngân hàng bị bắt gần đây, cùng với Ngân hàng Xây dựng Việt Nam và Ngân hàng Đại dương. Tuy nhiên, cũng cần làm rõ là ông chưa bị kết tội trước khi tòa đưa ra phán quyết”.

Một số ngân hàng còn được lãnh đạo dùng làm ‘sân trước sân sau’ của đại gia nên họ dễ phạm phải những sai lầm

Chuyên gia ngân hàng Nguyễn Trí Hiếu

“Có một thực tế là không ít lãnh đạo ngân hàng tại Việt Nam đang xem ngân hàng là công cụ tài chính cá nhân để đem lại lợi ích cho bản thân hoặc một số cổ đông, chứ không vì quyền lợi khách hàng”.

Tuy vậy, ông Hiếu cũng cho biết: “Khi có thiệt hại xảy ra, các lãnh đạo ngân hàng rất dễ bị hình sự hóa. Thực tế là đã có những trường hợp ngân hàng mất vốn, không thu hồn được khoản vay là do khách hàng doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, kinh tế khó khăn…”

“Do vậy, cơ quan pháp luật cần phân định rõ những trường hợp nào lãnh đạo ngân hàng cần chịu trách nhiệm dân sự hay hình sự”.

Chuyên gia nhấn mạnh: “Từ những vụ bắt lãnh đạo ngân hàng gần đây, đã đến lúc giới lãnh đạo ngân hàng cần thay đổi tư duy quản trị theo hướng phục vụ quyền lợi người dân. Mặt khác, hội đồng quản trị tại các ngân hàng phải tổ chức lại theo thông lệ quốc tế, nghĩa là chỉ xây dựng chiến lược chứ không can thiệp vào việc điều hành, cho vay như lâu nay”.

“Mặt khác, cũng nên làm rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước trong việc thanh tra, giám sát các ngân hàng yếu kém. Nếu Ngân hàng Nhà nước không mạnh tay trong việc xử lý các ngân hàng có dấu hiệu mà để đến khi những ngân hàng này gây hậu quả lớn thì cũng phải làm rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý”, ông Hiếu nói thêm.

Việt Nam: Trung Quốc liên tiếp xâm phạm chủ quyền ở Hoàng Sa

Việt Nam: Trung Quốc liên tiếp xâm phạm chủ quyền ở Hoàng Sa

Ông Lê Hải Bình - người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam.

Ông Lê Hải Bình – người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam.

18.03.2016

Việt Nam một lần nữa ‘lên tiếng’ phản đối các ‘hành động’ liên tiếp của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Việt Nam ở Hoàng Sa.

Trang web Bộ Ngoại giao dẫn lời người phát ngôn Lê Hải Bình tại cuộc họp báo thường kỳ ngày 17/3 tuyên bố ‘Việc Trung Quốc tiếp tục bồi đắp, mở rộng, xây dựng, làm thay đổi nguyên trạng quần đảo Hoàng Sa và tổ chức du lịch ra quần đảo này, bất chấp sự quan ngại của phía Việt Nam và cộng đồng quốc tế là hành động xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa’.

Phản hồi được đưa ra sau hàng loạt các hoạt động liên tiếp của Trung Quốc tại Hoàng Sa trong thời gian gần đây bao gồm đưa 300 du khách ra đảo Ốc Hoa, xây dựng cảng hàng không với đường băng dài 3.500m trên Đảo Cây, và tiếp tục lấn biển tại khu cụm đảo An Vĩnh.

Ông Bình nói những hành động này đi ngược lại nhận thức chung của lãnh đạo hai nước, vi phạm thỏa thuận Việt-Trung về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển, và gây ảnh hưởng xấu cho quan hệ song phương.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng tố cáo Trung Quốc làm leo thang căng thẳng Biển Đông, vi phạm luật pháp quốc tế và Tuyên bố về Ứng xử ở Biển Đông mà Bắc Kinh đã ký với ASEAN hồi năm 2012.

Vẫn theo lời ông Bình, Việt Nam yêu cầu Trung Quốc chấm dứt các hành động này để phát huy bang giao và duy trì hòa bình, ổn định Biển Đông.

‘Việt Nam một lần nữa khẳng định có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Hoàng Sa cũng như quần đảo Trường Sa’, phát ngôn nhân Lê Hải Bình nhấn mạnh.

Ngoài những lời tố cáo Bắc Kinh xâm phạm chủ quyền Việt Nam, ông Bình cũng lên án những hành vi vô nhân đạo của Trung Quốc đối với ngư dân Việt.

Ông Bình nói ‘sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực đối với các ngư dân Việt Nam trong bất kỳ trường hợp nào là không thể chấp nhận được và chúng tôi kiên quyết phản đối’.

Thời gian gần đây, ngư dân đánh bắt ở Hoàng Sa liên tục bị tấn công, cướp bóc tài sản bởi những chiếc tàu mà họ tin là của Trung Quốc.

Bộ Ngoại giao Việt Nam đề nghị Bắc Kinh ‘xử lý nghiêm’ các hành vi phi pháp ‘của các lực lượng chức năng Trung Quốc, bồi thường thiệt hại cho ngư dân Việt Nam, và không để tái diễn các hành vi tương tự’.

Những tuyên bố của Việt Nam trước nay chưa từng được Trung Quốc đáp ứng, ngược lại, còn đáp trả bằng những hành động lấn lướt thêm nữa, khiến nhiều người phẫn nộ về cách phản ứng mà họ cho là ‘nhu nhược’ và ‘bất lực’ của Hà Nội trước ‘giặc ngoại xâm phương Bắc’.

Trước các động thái ‘bất chấp luật lệ’ của Bắc Kinh trong tranh chấp Biển Đông, Hà Nội kiên quyết theo đuổi giải pháp ôn hòa và còn lưỡng lự với biện pháp pháp lý.

Philippines, quốc gia láng giềng nhỏ bé cũng có tuyên bố chủ quyền một phần ở Biển Đông, từ năm 2013 đã làm đơn nhờ Tòa trọng tài thường trực của Liên Hiệp Quốc phân xử việc Trung Quốc đơn phương vẽ đường lưỡi bò chiếm trọn Biển Đông, vụ kiện mà cuối năm 2014 Việt Nam đã tuyên bố ủng hộ.

Theo Bộ Ngoại giao Việt Nam, VNA, Vietnamnet.

Báo Hoa ngữ ở Los Angeles trả $7.8 triệu dàn xếp vụ kiện tập thể

Báo Hoa ngữ ở Los Angeles trả $7.8 triệu dàn xếp vụ kiện tập thể
Nguoi-viet.com

LOS ANGELES, California (AP) – Tờ báo Hoa Ngữ Chinese Daily News (CDN) sẽ trả số tiền $7.8 triệu để dàn xếp vụ kiện kéo dài đã một thập niên nay về tố giác cho rằng họ không trả tiền lương làm việc thêm giờ của hơn 200 nhân viên, theo một thông cáo đưa ra hôm Thứ Sáu.


Tòa soạn nhật báo Chinese Daily News ở Los Angeles. (Hình: Google Map)

Ðơn kiện có từ năm 2004 này nói rằng tờ báo Hoa ngữ có số phát hành cao nhất nước Mỹ này buộc các ký giả, nhân viên thương mại, sản xuất và ngay cả tài xế xe giao hàng phải làm việc nhiều giờ, sáu ngày một tuần mà không trả tiền làm việc thêm giờ, không cho giờ ăn hay giờ nghỉ. Ðơn kiện cũng cho hay tòa báo không trả tiền nghỉ phép của nhân viên.

Tờ China Daily News có số phát hành vào khoảng 120,000 và đặt trụ sở ở Monterey Park, một khu ngoại ô của Los Angeles, nơi có đông đảo người gốc Á Châu sinh sống, đặc biệt là người gốc Ðài Loan vốn kéo đến nơi này trong thập niên 1980.

Tờ báo cũng là một trong mấy tờ nhật báo và tuần báo phục vụ cộng đồng Á Châu khắp vùng San Gabriel Valley, gồm cả cư dân từ Trung Quốc, Ðài Loan và Việt Nam.

Ðơn kiện tập thể này được sự theo dõi chăm chú của người Hoa sống ở trong và ngoài nước Mỹ.

Ðơn kiện này lên tới Tối Cao Pháp Viện, vốn gửi trả lại cho tòa kháng án năm 2011.

Cả hai bên đạt được thỏa thuận dàn xếp hồi năm ngoái. Tuy nhiên, thỏa thuận này chỉ mới được một thẩm phán chấp thuận hồi tháng qua và còn chờ thẩm phán này quyết định việc chia tiền cho những người đi kiện.

Số tiền $7.8 triệu này gồm cả tiền lời và tiền phạt việc vi phạm luật lao động.

Các chi phiếu trả tiền sẽ được gửi ra tuần tới, theo Luật Sư Randay Renick, đại diện người đi kiện.

Các nhân viên của tờ báo sẽ nhận từ $10,000 đến $100,000 tùy theo việc làm, thời gian làm việc và tổng số thời gian làm việc thêm giờ, theo ông Renick. Ông cũng cho hay số tiền được trả trung bình là $19,000.

Tòa báo không nhận là đã làm điều gì sai trái trong vụ này. Tờ CDN do công ty United Daily News Group of Taiwan làm chủ, vốn cũng ấn hành hơn một chục tờ báo khắp thế giới. (V.Giang)

 

Lý Chánh Trung có là trí thức cánh tả?

Lý Chánh Trung có là trí thức cánh tả?

Bùi Văn Phú Gửi cho BBC từ Hoa Kỳ

BBC

Giới trí thức thời Việt Nam Cộng hòa ai cũng nghe biết đến giáo sư Lý Chánh Trung qua những bài viết gây sôi nổi về tinh thần dân tộc, lòng yêu nước và về tinh thần tôn giáo nhập thế.

Qua những tập sách, cùng hàng trăm bài báo, ông đưa ra lý luận triết học, những cái nhìn từ đường phố, qua đó phản ánh quan điểm của ông là chống lại sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam, là mơ ước một xã công bằng, không còn cảnh người giầu bóc lột người nghèo.

Trong sinh hoạt của giới trí thức thời đó, giáo sư Trung không chỉ ngồi trong tháp ngà hay quanh quẩn ở sân trường, nơi giảng đường đại học để nói những điều lý thuyết mà ông đã dấn thân, xuống đường cùng với những nhà đối lập, những lãnh đạo tôn giáo, với thanh niên, sinh viên vì mục tiêu độc lập, tự chủ của đất nước. Ông tham dự ngày Ký giả Ăn mày dưới đường phố Sài Gòn, ông đến chùa Quảng Hương dự lễ ra mắt của Mặt trận Nhân dân Cứu đói.

Sinh hoạt của các phong trào, mặt trận này sau ngày 30/4/1975 đã được nhiều lãnh đạo thành đoàn xác nhận là những bình phong hoạt động của cộng sản.

Qua tác phẩm “Tìm về dân tộc”, xuất bản lần đầu năm 1967, khi tình hình chính trị miền Nam đầy rối ren và lính chiến đấu Mỹ đã được đưa vào Việt Nam, ông lên tiếng cảnh báo về một đất nước đang rơi vào hoàn cảnh bị đô hộ bởi người Mỹ, sau nhiều năm bị đô hộ bởi thực dân Pháp, cho dù ông đã được theo học ở các “trường dòng”, tức trường công giáo, từ Taberd ở Sài Gòn, Thiên An ở Huế và ông đã theo đạo công giáo năm 20 tuổi. Năm 1950 ông đi du học Bỉ, tại trường Đại học Công giáo Louvain và tốt nghiệp cử nhân ban tâm lý học và cử nhân chính trị học.

Năm 1956 ông về nước, làm việc tại Bộ Giáo dục với chức công cán ủy viên rồi lên đến đổng lý văn phòng của bộ này. Ông cũng dạy triết tại các đại học ở Sài Gòn, Huế, Đà Lạt.

Ông chủ trương một đất nước hoàn toàn độc lập, không chấp nhận có trường Tây trên lãnh thổ miền Nam, vì cho rằng như thế sẽ đào tạo ra một lớp người việt vong bản, mất gốc ngay trên quê hương. Ông kêu gọi phụ huynh cho con em theo học trường Việt cho dù số học sinh quá đông, đến 60 trong mỗi lớp, và trường sở phương tiện giáo dục còn thiếu thốn.

Rồi những năm sau đó ông lại chê hệ thống giáo dục của miền Nam khi ông viết trên báo Điện Tín ngày 1/3/1972:

“Ngay trong một môi trường tương đối thuận lợi như VĐH Đà Lạt, tôi thấy công cuộc giáo dục chẳng đi tới đâu hết cả, ngoài cái việc cấp phát hằng năm một mớ văn bằng. Những văn bằng mỗi năm thêm mất giá! Chẳng những mất giá vì trình độ sút giảm mà còn mất giá vì văn chương chữ nghĩa ngày nay đã rẻ hơn bèo, vì bực thang giá trị đã hoàn toàn đảo lộn, vì chiến tranh đã bít nghẽn mọi tương lai”. [“Đối diện với chiến tranh” tr. 165. Lý Chánh Trung, Nxb Trẻ 2000]

Từ những cái nhìn về triết học, tôn giáo, và trên quan điểm dân tộc giáo sư Lý Chánh Trung đã tham gia vào chính trị, vào các phong trào tranh đấu.

Trước Tết năm 1968, ông cùng 65 giáo chức đại học ký tên vào một thư ngỏ với mục đích kêu gọi ngưng bắn giết trên quê hương: “Để có không khí thích hợp cho những cuộc đối thoại cởi mở giữa những phe tham chiến và nhất là để cứu hàng ngàn người tiếp tục đổ máu trong khi những người có trách nhiệm đang đi tìm sáng kiến giải quyết xung đột, chúng tôi thiết tha kêu gọi các phe tham chiến hãy kéo dài vô hạn định thời gian hưu chiến nhân dịp Tết Nguyên đán và tìm phương thức tiến ngay đến hòa bình thực sự”. [Báo Sống Mới ngày 24/1/1968, in lại trong “Đối diện với chiến tranh” tr. 22]

Một tuần sau khi lời kêu gọi được đưa ra, bộ đội cộng sản Bắc Việt mở những cuộc tấn công vào các tỉnh thành miền Nam ngay trong những ngày đầu năm âm lịch. Đó là Tổng Tấn công Tết Mậu Thân đã đi vào lịch sử của cuộc chiến tranh tàn khốc trên quê hương.

Lời kêu gọi đó của những người trí thức, vì thực sự muốn hòa bình hay việc làm này đã được một ai trong lãnh đạo thành đoàn cộng sản chỉ đạo, để che đậy cho chiến dịch tấn công quân sự đang được khai triển? Nghi vấn đó cũng đã được nhiều người đặt ra cho giáo sư Lý Chánh Trung: Ông chỉ là người trí thức công giáo cánh tả, thuộc Thành phần thứ Ba hay ông được cộng sản móc nối để hoạt động nội thành?

Trong quá khứ ông đã phát biểu rằng ông không là đồng chí với người cộng sản mà chỉ đồng hành với họ. Ông được cho là đứng chung với những nhóm tranh đấu cho một miền Nam không lệ thuộc ngoại bang, không cộng sản.

Nhưng nhìn lại các phong trào tranh đấu chống chính quyền ở miền Nam, sau ngày 30/4/1975 nhiều cán bộ nội thành đưa ra những bằng chứng cho thấy nhiều tổ chức cánh tả và Thành phần thứ Ba đã được điều phối bởi cộng sản.

Những nhân vật chính trị như Ngô Công Đức, Nguyễn Văn Binh, Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba, Lý Quý Chung; tôn giáo như Phan Khắc Từ, Trương Bá Cần, Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín và thành phần sinh viên học sinh như Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Hiếu Đằng, Dương Văn Đầy, Lê Văn Nuôi, Nguyễn Công Khế, Ngô Kha, chưa kể đến những người đã quyết định vào bưng theo cộng sản như Trương Như Tảng, Lê Văn Hảo, Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường v.v…

Sau ngày 30/4/1975 giáo sư Lý Chánh Trung đã bị nhiều sinh viên một thời xem ông là thần tượng phản đối vì thái độ ủng hộ chính quyền mới của ông trước vấn đề sinh viên không được học hành mà bị bắt buộc phải đi nghe nhà nước tuyên truyền chính trị, về vấn đề học tập cải tạo kéo dài đối với quân cán chính miền Nam.

Trong khi đó ông tham gia Mặt trận Tổ quốc, là ủy viên ban chấp hành trung ương, làm phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh và được đưa vào Quốc hội các khoá VI, VII và VIII.

Ông chỉ bị thất sủng và sau đó bị loại ra khỏi các chức vụ nhà nước sau khi ông phát biểu năm 1988 về việc bầu Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, tức thủ tướng, mà chỉ có một ứng cử viên. Ý của ông là không muốn bầu cử độc diễn vì trước đây ở Sài Gòn ông đã chống lại ông Nguyễn Văn Thiệu ra tranh cử chỉ có một mình vào năm 1971.

Khoảng thời gian đó là lúc có chính sách đổi mới về kinh tế và cởi trói về văn nghệ nên ông còn mời nhà văn Dương Thu Hương đến nói chuyện về những tác phẩm của bà.

Giáo sư Trung cũng được chú ý đến nhiều khi viết bài trên báo đưa ra nhận định là môn học chính trị về triết thuyết Mác-Lê không còn hợp thời đại vì thày thì không muốn dạy và trò cũng không còn muốn học.

Sau khi các chế độ cộng sản ở Đông Âu sụp đổ và Liên bang Xô-viết tan rã thì ở Việt Nam mọi thứ lại bị xiết lại, với cá nhân ông, cũng như trong sinh hoạt của giới trí thức, văn học.

Nhưng trong 40 năm sống với cộng sản, ông dường như im lặng trước một xã hội vẫn đầy bất công, nền giáo dục xuống cấp.

Giới trí thức miền Nam cũ mong đợi ông sẽ có những thái độ với nhà cầm quyền cộng sản trước những bế tắc của xã hội do bởi chính sách độc tài chuyên chính dựa trên chủ thuyết Mác-Lê, như một số nhân vật đã lên tiếng là Tướng Trần Độ, nhà toán học Trần Xuân Bách, linh mục Chân Tín, giáo sư Nguyễn Ngọc Lan, luật sư Đoàn Thanh Liêm, giáo sư Đoàn Viết Hoạt, luật sư Lê Hiếu Đằng v.v… Nhưng ông đã không lên tiếng.

Kể từ đầu thập niên 1990 ông hầu như im lặng trước những vấn đề của thời cuộc.

Đến năm 2000, 50 bài viết của ông từ thời Việt Nam Cộng hòa được cho phép in lại trong tập “Đối diện với chiến tranh”. Đó là những bài chọn ra từ 300 bài viết đã được đăng trên các báo ở miền Nam trước năm 1975.

Nhiều người trách thái độ xu thời theo cộng sản của ông. Theo hồi ký của Võ Long Triều, một người từng là bạn của giáo sư Trung, thì đó là vì thái độ ham danh lợi của ông.

Dưới thời Việt Nam Cộng hòa giáo sư Lý Chánh Trung năng nổ xuống đường, có dăm bảy tác phẩm được xuất bản và rất nhiều những bài chính luận, nhận định về sự đồi trụy văn hóa, bất công xã hội, về nguy cơ bị nô lệ ngoại bang đã được đăng trên các báo và tạp chí.

Nhưng trong 40 năm sống với cộng sản, ông dường như im lặng trước một xã hội vẫn đầy bất công, nền giáo dục xuống cấp, hòa hợp hòa giải dân tộc không có, quyền tự quyết không được tôn trọng là những điều trước đây ông luôn quan tâm và lên tiếng.

Giáo sư Lý Chánh Trung sinh ngày 23/12/1928 tại Trà Vinh, mất ngày 13/3/2016 tại Sài Gòn, hưởng thọ 89 tuổi.

Các tác phẩm của ông: Cách mạng và đạo đức (1960), Ba năm xáo trộn (1967), Tìm về dân tộc (1967), Tìm hiểu nước Mỹ (1969), Những ngày buồn nôn (1972), Tôn giáo và Dân tộc (1973) và Đối diện với chiến tranh (2000).

Tác giả là một nhà báo tự do hiện sống tại vùng Vịnh San Francisco, California.

NGƯỜI CHA CỦA ĐỨC GIÊSU

NGƯỜI CHA CỦA ĐỨC GIÊSU

Trần Duy Nhiên

Nếu bạn hỏi mười người xem, ngoài Ðức Mẹ, vị thánh lớn nhất đối với họ là ai, thì có sáu đến bảy người sẽ nói rằng đó là thánh Giuse.

GIUSE

Nhưng nếu đề nghị họ kể bạn nghe những điều thánh Giuse đã làm, thì rất ít người có thể nói một cái gì mới lạ: họ sẽ bảo rằng thánh Giuse là cha nuôi của Chúa Giêsu, hoặc kể vài chuyện truyền kỳ về ngài mà ta không biết đúng sai đến độ nào: ví dụ như câu chuyện chàng thanh niên Giuse được chọn làm hôn phu của cô Maria vì cây gậy của chàng trổ hoa…

Ta hãy trở lại Kinh Thánh để xem các tác giả viết gì về thánh Giuse.

Thánh Mat-thêu giới thiệu như sau: “Bà Maria, thân mẫu của Ðức Giêsu, đính hôn với ông Giuse, nhưng trước khi chung sống thì đã có thai bởi phép Chúa Thánh Thần.  Ông Giuse, vốn là người công chính, không muốn tố cáo bà công khai, nên định bỏ bà kín đáo.  Ông tính làm như vậy thì có sứ thần của Chúa đến báo mộng rằng: “Này Giuse, đừng sợ rước Maria về…” Thức giấc, ông Giuse vâng theo sứ thần Chúa dạy, rước vợ mình về nhà.” (Mt 1, 18-24)

Bạn thuộc đoạn văn trên nằm lòng đến độ tôi rất ngại ngùng khi phải chép lại.  Mọi chuyện đã rõ:  Thánh Giuse có do dự đấy, nhưng thiên sứ đã đến sắp xếp mọi việc và đâu lại vào đấy, đúng với “chương-trình-mầu-nhiệm-của-Thiên-Chúa”

Mọi chuyện có thực sự xảy ra dễ dàng như thế không?

Tôi không chắc đâu.

Hình ảnh thánh Giuse luôn luôn là một cụ già râu tóc uy nghi, một người cha nhân lành và không biết thế nào là đam mê của tuổi trẻ.

Xin bạn nhớ cho: Cô Maria lúc ấy là một thiếu nữ vào độ tuổi 15-17, thế thì chàng hôn phu không thể là một ông già.  Chàng Giuse lúc bấy giờ là một chàng trai đầy sức sống ở lứa tuổi đôi mươi.  Chàng và Maria yêu nhau thắm thiết.  Cặp tình nhân đẹp tuyệt vời, nhất là ở nét đẹp tâm hồn.  Giuse thật hạnh phúc và bình an: Một người như Maria thì không thể có gì bất trắc xảy ra khiến cho cuộc sống gia đình tương lai họ bị đe dọa.

Thế mà đùng một cái: Người hôn thê thánh thiện của chàng lại mang thai!  Giuse có giàu óc tưởng tượng đến đâu cũng không thể hình dung nổi một tiếng sét giữa trưa hè chói chang như thế!

Thế nhưng, sự việc đã hiển nhiên như vậy đó.  Dù vậy, tự thâm sâu, tình yêu của Giuse vẫn trỗi vượt.  Ông không hề quay lại bản thân để cảm thấy mình bị lừa dối, bị xúc phạm, mà chỉ hướng về người yêu để tiếp tục tin rằng người hôn thê mình trong sạch vẹn tuyền.  Ông không hề tra hỏi dằn xé Maria một lời.  Ông im lặng ôm lấy nỗi đau và âm thầm trả Maria về với bí mật của cô.

Bạn sẽ bảo rằng tình yêu này đã được tưởng thưởng, bởi vì sau đó, sứ thần đã đến trình bày mọi sự.  Bạn có đi quá xa thực tế chăng?

Kinh Thánh ghi rõ: “Sứ thần đến báo mộng…”  Bạn thử sống lại hoàn cảnh của Giuse lúc ấy xem.  Bạn có một người hôn thê, bỗng nàng có mang, bạn nằm mộng thấy thiên thần bảo rằng hôn thê mình chưa bao giờ liên hệ với một thanh niên nào và bào thai trong lòng là do phép lạ Thiên Chúa.  Khi thức giấc, bạn có tin không?  Tôi thì dứt khoát không.

Thế mà Giuse đã làm gì nào?  “Thức giấc, Giuse vâng theo sứ thần, rước vợ mình về nhà.”  Ðơn giản chỉ có thế.  Ðơn giản đến độ vô lý.

Vâng, thế đấy.  Giuse vâng phục thánh ý Chúa một cách chóng vánh, quyết liệt và dứt khoát đến độ vô lý.  Ông chỉ cần một dấu hiệu cỏn con là đọc được thánh ý Chúa và thực thi ngay lập tức:  Đó là lý do mà ông được gọi là “người công chính.”

Còn bạn và tôi thì sao?

Chúng ta có tự coi mình là công chính chăng?  Chúng ta có sẵn sàng đón nhận thánh ý Chúa qua một dấu hiệu thật nhỏ và tuân theo mà không bàn cãi chăng?  Hay chúng ta chờ đợi những phép lạ nhãn tiền và sau đó, lý luận, mặc cả trước khi hành động?

“Người công chính” Giuse suốt đời là một người luôn thức tỉnh trước thánh ý Chúa, thức tỉnh ngay cả trong giấc ngủ.  Bằng chứng?  Bằng chứng là mỗi lần Chúa tỏ ý, là mỗi lần ông nằm mộng.

Ngoài lần nằm mộng ở Nazaret, thì ít nhất còn ba lần khác:

– Ở Bêlem: Sứ thần đến với ông Giuse báo mộng rằng: Hãy chỗi dậy, đem Hài nhi trốn sang Ai-cập… (Mt 2, 3)

– Ở Ai-cập: Sứ thần hiện ra báo mộng cho ông Giuse ở bên Ai-cập, bảo rằng: Hãy chỗi dậy, đem Hài nhi về Israel… (Mt 2, 19)

– Ở Giuđê: Khi biết Akêlao thay Hêrôđê thì ông sợ, thế là theo như lời Thiên Chúa báo mộng, ông lánh sang vùng Galilê (Mt 2, 23)

Sở dĩ Giuse xác tín rằng các giấc mộng của mình đúng là thánh ý Chúa, ấy là vì cứ mỗi lần nằm mộng, là mỗi lần ông phải quyết định ngược lại với mọi toan tính của mình.

Khi ông dự định âm thầm rời bỏ Maria thì Thiên Chúa bảo ông ở lại với hôn thê mình.

Ngược lại, khi ba vị đạo sĩ đến xác nhận vương quyền của Hài nhi và hẳn là người cha nuôi nghĩ rằng mình sẽ có thể thoải mái ở lại Bêlem cho đến khi con mạnh mẹ khỏe, thì chính lúc đó Chúa lại bảo ông chỗi dậy đi ngay, giữa đêm khuya, không hành trang, không tiền bạc; không phải về quê nhà, mà sang Ai-cập để sống kiếp lưu đày.  Ông nghĩ gì khi trước mặt là đường dài vạn dặm, mà vợ yếu con sơ?  Ông nghĩ gì khi ngày mai, ở xứ lạ quê người, tương lai ông cũng tối đen như trời khuya hôm ấy?

Thánh Kinh nói rất gọn: “Giuse chỗi dậy, đem Hài nhi và Mẹ trốn sang Ai-cập ngay giữa đêm khuya” (Mt 2, 13).  Lại thật đơn giản.  Ðơn giản đến độ vô lý.

Sau những ngày đầu khó khăn ở Ai-cập, giờ đây, Giuse hẳn đã sắp xếp ổn định cuộc sống gia đình.  Thế nhưng, một lần nữa, Chúa lại bảo ông phải bỏ tất cả mà ra đi.  Ông nghĩ gì khi nhìn lại cơ ngơi mà ông đã xây dựng từ hai bàn tay trắng?  Ông nghĩ gì khi nhìn về cái quê hương đã muốn giết hại con mình, rồi giờ này ông lại phải trở về mà không biết sẽ cư ngụ nơi đâu?  Nhưng Giuse vẫn là Giuse. “Giuse chỗi dậy đem Hài nhi và Mẹ về đất Israel” (Mt 2, 21).  Cũng lại đơn giản đến độ vô lý.

Tất cả những truân chuyên mà Giuse gánh chịu, rốt cuộc để làm gì?  Phải chăng vì lợi ích bản thân?  Tuyệt nhiên là không.  Tất cả là để bảo vệ Hài nhi, mà có lần trong mộng, ai đó đã bảo rằng Hài nhi ấy sẽ là vị cứu tinh dân tộc.  Giuse không bao giờ đặt lại vấn đề.  Không bao giờ ông cho rằng con trẻ gây cho ông quá nhiều rắc rối.  Ông chỉ một mực canh giữ con trẻ, người con do Thánh Thần, trong mọi toan tính hằng ngày.

Bạn và tôi có sẵn sàng trả giá để cho Chúa Giêsu luôn mãi sống trong mình chăng?  Hay nhiều khi quá mệt mỏi, ta chỉ muốn yên thân lo toan chuyện của mình và bỏ mặc dung mạo Chúa Giêsu ra thế nào thì ra?

Giuse đã trả mọi giá để giữ gìn Giêsu, nhưng đôi khi sức người cũng có hạn.  Trong chuyến đi Giêrusalem, năm con trẻ 12 tuổi, ông đã để Giêsu vuột khỏi tầm tay.  Ba ngày ròng, ông kiếm tìm.  Ba ngày ròng, ông bà “đau khổ tìm con”.  Và khi tìm thấy thì ông được gì?  Một gáo nước lạnh tạt vào mặt: “Sao lại phải tìm con? Cha mẹ không biết là con phải ở trong nhà của Cha con sao?” (Lc 2, 49).

Cậu bé ấy khi ra đời, chỉ là một hài nhi nằm gọn trong máng cỏ.  Mười hai năm trời chịu kham chịu khổ để cho cậu khôn lớn thế này.  Mười hai năm trời yêu thương để thêm da thêm thịt cho cậu thành một thiếu niên nặng cân như thế.  Mà tình thương thì có nặng gì cho cam, phải tốn bao nhiêu tình thương, cậu mới được như ngày hôm nay…!  Thế mà gặp một câu trả lời…!  Ông không hiểu gì cả, nhưng ông vẫn đón nhận lặng thinh.

Và đấy cũng là chiều kích bất ngờ của thánh Giuse.  Trong suốt bốn cuốn Tin Mừng, không thấy ghi lại một câu nói nào của thánh Giuse.  Ðức Maria được xem là mẫu mực của sự thinh lặng nguyện cầu, Người luôn ghi nhận và suy niệm trong lòng, thế nhưng cũng có 6 lần, Người lên tiếng.  (2 lần ngày truyền tin, 1 lần trước Ysave, 1 lần khi tìm lại trẻ Giêsu, 2 lần trong tiệc cưới Cana).  Còn thánh Giuse thì tuyệt đối không hề nói một lời.  Ngay cả lần tìm lại con ở đền thờ, thì cũng chính người mẹ lên tiếng: “Sao con lại làm như thế, cha con và mẹ đã đau khổ tìm con” (Lc 2, 48)

Trong xã hội Do Thái lúc bấy giờ, phụ nữ là hạng người không đáng kể.  Phúc âm thánh Mat-thêu ghi lại hai lần Chúa làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, lần đầu để nuôi 5000 người, không kể đàn bà và trẻ con, lần thứ hai 4000 người, không kể đàn bà và trẻ con (x. Mt 14, 21; 15, 38).  Giuse biết mình là chủ gia đình, nhưng người lên tiếng, vẫn là Maria.

Giuse sống cuộc sống càng ngày càng mờ để cho Ðức Giêsu càng ngày càng sáng.  Ông sống mờ nhạt đến độ những người trong thị trấn Nazaret không buồn nhớ đến tên ông, mà chỉ gọi là “ông thợ mộc.”

Theo thánh Mat-thêu và Mac-cô, khi Ðức Giêsu trở về Nazaret sau những ngày rao giảng, người đồng hương bàn tán: “Ông ấy không phải là con ông thợ mộc và bà Maria sao?” (Mt 13, 55; Mc 6, 3).  Sau này, khi viết lại Phúc âm, thánh Luca hẳn đã thấy cái chua chát đó nên đã sửa lại: “Ông ấy không phải là con ông Giuse sao?” (Lc 4, 23).

Dù sao đi nữa, sự âm thầm của Giuse quả là một đặc trưng của thánh nhân.  Âm thầm đến độ mà khi Ðức Giêsu bắt đầu lên tiếng trong đời sống công khai, thì Giuse không còn được nhắc đến mảy may; thậm chí thánh nhân chết lúc nào, thế nào, ở đâu thì cũng chẳng ai nói đến.  Trong cuộc đời công khai của Chúa thì thánh Giuse, người cha của Ðức Giêsu, có vẻ như bị xem nhẹ hơn cả bà gia của Phêrô hay đứa con gái của Zairô.

Nhưng chính điều đó đã biến thánh Giuse thành một vị đại thánh, bởi vì ngài đã đem cuộc đời mình biến thành một Lời Chúa sống động.

Gioan Tẩy giả đã khiêm tốn rao giảng: “Chúa phải lớn lên và tôi phải nhỏ lại.”  Thánh Giuse đã sống điều đó mà không nói một lời.

Tiếng “xin vâng” của Ðức Mẹ ở Nazaret và tiếng “xin vâng” của Chúa Giêsu ở Getsêmani đã được hòa âm trong trọn cuộc đời thánh Giuse.

Và Thánh Giuse sẽ mãi mãi là tấm gương cho bạn và tôi.

Tấm gương của một con người luôn luôn thao thức lắng nghe tiếng Chúa, và khi nghe được thì đáp lại không chần chừ, dù cho phải trả giá.

Tấm gương của một con người luôn luôn làm đủ mọi cách để gìn giữ Chúa với mình, và nếu chẳng may lạc nhau thì đi tìm Chúa không ngơi nghỉ cho đến khi gặp lại.

Tấm gương của một người “công chính,” chỉ làm có mỗi một điều là trình bày Chúa Giêsu cho mọi người, rồi âm thầm xóa mình đi khi Chúa bắt đầu lên tiếng với các linh hồn.

Trần Duy Nhiên

Việt Nam sai khi ‘nhờ cậy’ Trung Quốc cứu hạn

Việt Nam sai khi ‘nhờ cậy’ Trung Quốc cứu hạn
Nguoi-viet.com

CẦN THƠ (NV) – Ðó là nhận định của ông Lê Anh Tuấn, phó giám đốc Viện Nghiên Cứu Biến Ðổi Khí Hậu thuộc Ðại Học Cần Thơ. Nhận định này được trình bày trên tờ Thơi báo Kinh tế Sài Gòn.

Ðồng bằng sông Cửu Long đang đối diện với một đợt hạn hán chưa từng có. Do trời nóng nhiều ngày, ít mưa, lưu lượng nước giảm từ 30% đến 60% và do Trung Quốc trữ nước để vận hành các công trình thủy điện ở thượng nguồn sông Mekong, tại đồng bằng sông Cửu Long đang có hàng trăm ngàn hecta lúa và các loại cây khác chết khô, hàng triệu người khốn khổ do thiếu nước ăn uống.


Ông Thạch Thanh (42 tuổi) ở vùng bị mặn xâm nhập nặng thuộc huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, bần thần bên ruộng lúc khô cằn, nứt toác. (Hình: VNExpress)

Hôm 15 tháng 3, 2016, Trung Quốc đã bắt đầu xả nước từ đập thủy điện Cảnh Hồng, tọa lạc tại tỉnh Vân Nam để hỗ trợ Việt Nam chống hạn. Trong khi Việt Nam đề nghị để giúp ngăn mặn, giảm thiệt hại do hạn hán, Trung Quốc nên xả nước nhiều đợt từ nay đến trung tuần tháng 8, mỗi đợt khoảng bảy ngày, lưu lượng xả phải vào khoảng 2.300 khối mỗi giây thì Bộ Ngoại Giao Trung Quốc thông báo, việc xả nước chỉ kéo dài cho đến ngày 10 tháng 4.

Theo các viên chức Việt Nam thì phải mất khoảng nửa tháng, nước từ đập thủy điện Cảnh Hồng mới về tới đồng bằng sông Cửu Long.

Tuy việc Trung Quốc xả nước không như Việt Nam mong muốn nhưng một số viên chức Việt Nam hy vọng, nhờ vậy, nước mặn sẽ bị chặn lại, không lấn sâu hơn vào đất liền và các địa phương sẽ có nước để tổ chức tích trữ.

Trong bài viết có tựa là “Hạn, mặn ở đồng bằng sông Cửu Long: Có nên trông chờ vào thủy điện Trung Quốc?,” ông Tuấn không xem việc Trung Quốc xả nước, hỗ trợ Việt Nam chống hạn là đáng “phấn khởi.”

Ông nhấn mạnh, Trung Quốc không cho biết sẽ xả bao nhiêu nước và phương thức xả (liên tục hay gián đoạn trong khoảng thời gian từ nay đến 10 tháng 4. Ông Tuấn bảo rằng, điều đó chẳng có gì lạ vì xưa nay, tin tức và số liệu về thủy văn từ phía Trung Quốc lúc nào cũng rời rạc và mơ hồ như vậy.

Ông Tuấn cho biết, mỗi năm, đoạn thượng nguồn sông Mekong chảy trên đất Trung Quốc đóng góp khoảng 21% lượng nước cho khu vực trung lưu và hạ lưu của con sông này. Ðập của nhà máy thủy điện Cảnh Hồng (Jinghon) là nơi gần Lào nhất. Bên trên Cảnh Hồng còn năm đập nước khác trong chuỗi 14 đập nước mà Trung Quốc dự tính xây dựng tại thượng lưu sông Mekong. Dung tích hữu dụng của hồ chứa nước thuộc nhà máy thủy điện Cảnh Hồng là 249 triệu mét khối nước. Nếu Trung Quốc chỉ dùng hồ chứa nước thuộc nhà máy thủy điện Cảnh Hồng để giúp Việt Nam chống hạn theo đề nghị của Việt Nam thì chỉ sau 30 tiếng, hồ chứa nước của nhà máy thủy điện Cảnh Hồng sẽ cạn.


Bản đồ phác họa tình trạng hạn hán và nước mặn xâm nhập đồng bằng sông Cửu Long. (Ðồ họa: zing.vn)

Cũng vì vậy, hy vọng nước từ nhà máy thủy điện Cảnh Hồng sẽ giúp ngăn mặn, tích trữ để chống hạn bị ông Tuấn xem là hão huyền. Ông Tuấn cho rằng, có nhiều lý do khiến đề nghị Trung Quốc xả nước giúp Việt Nam ngăn mạn và giảm thiệt hại bởi hạn hán là thiếu khôn ngoan. Với đặc điểm như đã kể của nhà máy thủy điện Cảnh Hồng, Trung Quốc sẽ chỉ xả cầm chừng, rửa được tiếng nhơ (vô trách nhiệm trong sử dụng tài nguyên, hủy diệt môi trường và nguồn sống của hàng trăm triệu người), mua được tiếng tốt (có trách nhiệm với các quốc gia ở khu vực hạ lưu sông Mekong) mà vẫn duy trì được hoạt động của nhà máy thủy điện Cảnh Hồng.

Ngoài ra do khoảng cách từ nhà máy thủy điện Cảnh Hồng đến đồng bằng sông Cửu Long lên tới 4,000 cây số, địa hình của Lào, Thái Lan, Cambodia lại có nhiều nhánh, vùng trũng nên theo ông Tuấn lượng nước thật sự về tới đồng bằng sông Cửu Long sẽ chẳng còn được bao nhiêu.

Chưa kể khi về tới đồng bằng sông Cửu Long, lượng nước mà nhà máy thủy điện Cảnh Hồng xả ra sẽ không cứu cho hàng trăm ngàn hecta lúa và cây trồng khác đã chết khô sống lại.

Giữa tháng 4, thời điểm nhà máy thủy điện Cảnh Hồng ngưng xả nước là thời điểm toàn khu vực không có mưa, hạn hán sẽ nghiêm trọng hơn. Quyết định của Trung Quốc: Xả nước giúp Việt Nam chống hạn chẳng đem lại lợi ích nào thật sự tích cực cho Việt Nam.

Phó giám đốc Viện Nghiên Cứu Biến Ðổi Khí Hậu thuộc Ðại Học Cần Thơ nhắc lại kinh nghiệm của nhiều quốc gia khác, đó là khi đối diện với hạn hán nghiêm trọng, người ta chấp nhận thiệt hại, không tìm mọi cách để chuyển nước từ nơi khác đến để cứu hạn vì điều đó vô nghĩa do tốn kém quá mức, hiệu quả kinh tế rất thấp. Bên cạnh đó, các quốc gia này đều tích lũy nguồn lực để hỗ trợ thích đáng những người bị thiệt hại do hạn hán nói riêng và thiên tai nói chung.

Ông Tuấn cho rằng, đợt hạn hán và nước mặn xâm nhập lần này là một cơ hội để xem lại tính hiệu quả của hàng loạt chính sách mà chính quyền Việt Nam đã thực hiện trong quá khứ, bất chấp các khuyến cáo từ giới chuyên gia: Ngọt hóa vùng ven biển. Thoát lũ ra biển Tây. Xây dựng hệ thống đê bao, phá bỏ hai hồ chứa nước tự nhiên lớn nhất ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long là Ðồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên để tăng diện tích trồng lúa.

Theo ông Tuấn, dẫu hậu quả của đợt hạn hán và nước mặn xâm nhập lần này rất nghiêm trọng nhưng nó sẽ trở thành tích cực nếu xem lại toàn bộ định hướng phát triển kinh tế-xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long. (G.Ð)