Họ đã sai lầm khi tấn công bạo lực và cướp tài sản của hai vị luật sư.

Họ đã sai lầm khi tấn công bạo lực và cướp tài sản của hai vị luật sư.

Hà Nội, ngày 3 tháng 11 năm 2015.

Luật sư Nguyễn Văn Đài

(Luật Lê Luân và Trần Thu Nam sau khi bị đánh và bị cướp)

Luật sư Trần Thu Nam và luật sư Lê Luân là hai trong số 5 luật sư nhận bào chữa miễn phí cho gia đình em Đỗ Đăng Dư.

Trong nhiều năm qua, luật sư Trần Thu Nam là một trong rất ít các luật sư của Việt Nam nhận bào chữa trong các vụ án của những người hoạt động nhân quyền và dân chủ.

Những nỗ lực của luật sư Nam trong những năm qua đã được đền đáp khi gần đây đã có thêm rất nhiều luật sư bắt đầu hợp tác với nhau để bảo vệ cho các nạn nhân bị vi phạm nhân quyền. Trong số đó, luật sư Lê Luân đã tham gia rất tích cực.

Có lẽ điều này đã làm cho những yêu độc tài tức giận và dẫn đến vụ tấn công bạo lực ngày hôm nay.

Phần thứ hai, có thể là lúc này mọi sự chú ý trên cộng đồng mạng đều tập chung vào chuyến thăm VN của Tập Cận Bình. Những kẻ thân TQ muốn chia sẻ bớt sự chú ý của cộng đồng mạng.

Do vậy, một vụ tấn công nhằm nhiều mục đích: thỏa mãn sự bức xúc của những kẻ yêu độc tài; dằn mặt những luật sư mới tham gia bảo vệ công lý; kéo bớt sự chú ý của cộng mạng ra khỏi chuyến thăm của Tập Cận Bình.

Họ có thể thỏa mãn.

Nhưng họ đã nhầm!

Nhưng tôi tin là cả hai luật sư bị đánh, bị cướp sẽ không bỏ cuộc. Các luật sư khác cũng sẽ không bỏ cuộc. Đồng thời còn thu hút sự quan tâm ủng hộ lớn lao hơn của cả giới luật sư và dư luận. Chắc chắn Đoàn luật sư Hà Nội và Liên đoàn Luật sư Việt Nam sẽ không bỏ qua vụ này. Những kẻ tấn công bạo lực và cướp tài sản sẽ phải bị điều tra và đưa ra xét xử.

Cho dù có thêm những chuyện gì xảy ra thêm nữa thì Nhân dân Việt nam vẫn sẽ tiếp tục phản đối mạnh mẽ chuyến thăm của Tập Cận Bình.

Dư luận quốc tế và cộng đồng mạng sẽ lên án mạnh mẽ vụ tấn công bạo lực và cướp tài sản nhằm vào các luật sư.

Chính phủ các nước và các tổ chức quốc tế, Liên hiệp quốc chắc chắn không bỏ qua vụ này.

Rất rõ ràng, họ đã sai lầm khi tổ chức tấn công bạo lực và cướp tài sản nhằm vào các luật sư.

Tại sao giới luật sư bị tấn công?

Tại sao giới luật sư bị tấn công?

Luật sư Trần Thu Nam (phải) và luật sư Luân Lê bị hành hung khi rời khỏi nhà cháu Đỗ Đăng Dư

Luật sư Trần Thu Nam (phải) và luật sư Luân Lê bị hành hung khi rời khỏi nhà cháu Đỗ Đăng Dư

Ảnh Facebook
 Ngày 3/11 Luật sư Trần Thu Nam của đoàn luật sư Hà nội đã bị tấn công gây thương tích, khi đến gia đình Đỗ Đăng Dư, một thiếu niên bị đánh chết trong trại tạm giam của công an. Luật sư Nam là người đại diện cho gia đình Đỗ Đăng Dư trong vụ án này. Sau đây là ghi nhận của Kính Hòa ý kiến của một số luật sư, trí thức Việt nam về chuyện luật sư Việt nam liên tục bị hành hung trong nhiều năm nay.

Đài Á châu tự do liên lạc được với Luật sư Trần Thu Nam vào buổi chiều ngày 3 tháng 11 khi ông đang chuẩn bị vào bệnh viện để chữa trị vết thương. Ông nêu lên giả thuyết của ông về nguyên nhân tại sao ông bị đánh:

Tôi đang khiếu nại công an Hà nội là không cấp giấy chứng nhận người bảo vệ quyền lợi người bị hại cho tôi. Tôi đang khiếu nại họ lên Viện kiểm sát và Liên đoàn luật sư, và Liên đoàn luật sư đã lên tiếng. Tôi không biết chắc chắn là tại sao họ lại đánh tôi vì tôi không có thù oán với ai cả. Nhưng trong quá trình bảo vệ vụ Đỗ Đăng Dư, tôi có khiếu nại công an thành phố Hà nội về việc gây khó khăn cho luật sư, và tôi đang làm một báo cáo gửi lên Ủy ban nhân quyền Liên hiệp quốc.”

Quyền lực của bộ máy công an

Trong nhiều năm qua, những luật sư đứng ra đại diện cho các tù nhân chính trị thường hay bị tấn công gây thương tích, thậm chí bị tù đày như các luật sư Lê Công Định, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài,… Nhưng vụ án Đỗ Đăng Dư hoàn toàn không mang tính chính trị, vì nạn nhân phạm tội trộm cắp và bị đánh chết trong tù. Luật sư Võ An Đôn ở Tuy Hòa, người đưa tin rất sớm về vụ hành hung luật sư Nam nói với chúng tôi rằng:

Nguyên nhân theo tôi nghĩ là có thể người ta trả thù cái việc mà luật sư Trần Thu Nam bảo vệ cho gia đình bị hại (Đỗ Đăng Dư). Những vụ án không liên quan đến chính trị nhưng lại liên quan đến ngành công an, công an thì liên quan đến chính quyền, người ta cầm bộ máy hành pháp, lực lượng rất là đông, và người ta trả thù.”

Luật sư Đôn cũng từng bị các viên chức cao cấp ở tỉnh Tuy Hòa đe dọa xóa tên ông ra khỏi luật sư đoàn của tỉnh. Các vụ án mà luật sư Đôn tranh biện ở tòa cho đến nay cũng không dính dáng đến chính trị.

Một luật sư từng bị tù vì có liên quan đến các vụ án chính trị là Luật sư Nguyễn Văn Đài ở Hà nội còn nêu một lý do khác đằng sau vụ hành hung luật sư Nam là ý muốn đánh lạc hướng của nhà cầm quyền. Ông cũng nói là hiện nay có nhiều luật sư đứng ra nhận lãnh những vụ án liên quan đến sự lạm dụng quyền lực của cơ quan công quyền.

Gần đây có vụ án Đỗ Đăng Dư đã xuất hiện nhiều luật sư cảm mến tinh thần dấn thân của luật sư Nam mà tham gia cùng luật sư Nam trong các vụ án như vậy. Thì có thể đây là một điều làm cho chính quyền họ tức tối, và có thể dẫn đến vụ hành hung này. Lý do thứ hai mà tôi dự đoán là trên dư luận mạng người ta đang chú ý đến chuyến thăm của Tập Cận Bình vào ngày mùng năm mùng sáu tới đây. Thành ra vụ tấn công này là để làm giảm sự chú ý của mọi người trên cộng đồng mạng về Tập Cận Bình. Lý do thứ nhất thì có lý hơn nhưng tôi cũng nghĩ đến lý do thứ hai.

Chính trị hay không chính trị? Đảng trị hay pháp trị?

Một trí thức đối lập nổi tiếng của Việt nam là Tiến sĩ Hà Sĩ Phu, hiện sống ở Đà Lạt, khi được hỏi tại sao vụ án mà luật sư Nam đang làm đại diện không có tính chính trị nhưng ông cũng bị quấy nhiễu, Tiến sĩ Hà Sĩ Phu không đồng ý:

Chuyện đó cũng là chính trị đấy anh ạ, vì công an hiện nay lộng hành như là một đội kiêu binh của đảng. Cho nên chạm vào nó cũng là chính trị đấy. Nó giết người như không đấy, chửi nó thì cũng như là chửi đảng vậy, mặc dù nạn nhân (vụ án) không liên quan đến chính trị.”

Sau khi Việt nam quyết định cải cách kinh tế vào năm 1986, qui chế luật sư đoàn cũng được thành lập thay cho chế độ bồi thẩm đoàn nhân dân do nhà nước chỉ định trong các phiên xử án trước kia. Tiếng nói của các luật sư đã ít nhiều mang tính độc lập, các phiên tòa đã có sự tranh luận với sự hiện diện của các luật sư.

Đồng thời các luật sư lại thường hay bị bắt bỏ tù hay bị hành hung.

Ông Hà Sĩ Phu nhắc lại rằng trong nguyên tắc cầm quyền của các đảng cộng sản, thì lực lượng công an dùng để trấn áp là vô cùng quan trọng, hơn nữa các chế độ này lại không xem trọng luật pháp.

Anh có nhớ ngày xưa ông Phạm Văn Đồng có nói gì đấy không? Ông ấy nói rằng làm luật để nó trói tay mình à! Độc tài họ ghét luật lắm, vì luật là để bảo vệ dân quyền mà. Có hai giới mà họ ghét lắm, đó là giới luật sư và giới nhà báo.”

Tính đối kháng giữa đảng cầm quyền và giới luật sư thể hiện rõ nhất trong vụ luật sư Nguyễn Đăng Trừng bị khai trừ khỏi đảng cộng sản vào tháng chín năm 2014, với lý do được báo chí nhà nước Việt nam nêu rõ là cản trở sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Điều thú vị là luật sư Trừng cũng là một người tham gia đảng cộng sản và góp phần làm cho cuộc cách mạng cộng sản thành công ở Việt nam.

Xã hội dân sự và công lý

Theo dòng diễn biến chính trị xã hội gần đây, nhiều người hy vọng là một xã hội dân sự ở Việt nam sẽ được cho phép hình thành. Và trong xã hội dân sự đó vai trò của giới luật sư sẽ ngày càng quan trọng hơn.

Tuy nhiên Tiến sĩ Hà Sĩ Phu không chia sẻ cái nhìn này. Ông liên hệ vụ hành hung luật sư Nam và vụ quấy nhiễu, hành hùng blogger Nguyễn Lân Thắng trong thời gian gần đây.

Họ sẽ dùng cái xã hội dân sự láo của họ. Cái kiểu Trần Nhật Quang đấy. Kiểu dùng côn đồ không liên quan đến chính quyền. Đây là bọn côn đồ nhân danh quần chúng. Thế thì muốn cái đội ngũ đó công khai thì họ phải làm ra vẻ chấp nhận xã hội dân sự. Để cho xã hội dân sự láo của họ ra đời, chứ không phải xã hội dân sự thực sự tử tế và dân chủ! Cũng còn khó khăn lắm chứ không nên tưởng là họ cho ra là được đâu.

Ông Trần Nhật Quang là nhân vật đứng đầu nhóm người đến quấy nhiễu gia đình blogger Nguyễn Lân Thắng.

Luật sư Trần Thu Nam vốn được nhiều đồng nghiệp nhận xét là một người thận trọng. Trong một lần trao đổi với chúng tôi ông có nói rằng nghề luật sư của ông là một nghề nhiều rủi ro. Luật sư Võ An Đôn cũng chia sẻ lo ngại này của luật sư Nam, và ông cho rằng muốn chấm dứt tình trạng này thì không có cách gì khác là phải để cho nền tư pháp của quốc gia được độc lập.

Sau khi vụ hành hung luật sư Nam xảy ra, luật sư Lê Công Định, người từng bị ở tù vì bảo vệ các bị cáo trong những vụ án chính trị, viết trên trang FB của ông rằng công tố và luật sư là hai trụ cột của nền công lý, việc tấn công luật sư sẽ đánh đổ một trong hai trụ cột đó, khiến cho nền công lý bị què quặt. Cũng qua FB, ông trao đổi với chúng tôi rằng Liên đoàn Luật Sư Việt Nam phải phản ứng mạnh mẽ, không đơn thuần vì hai đồng nghiệp bị đánh, mà còn vì nền công lý của Việt Nam.

NAY ANH MAI TÔI

NAY ANH MAI TÔI

LỄ CÁC LINH HỒN

Kn 3, 1-9; Rm 5, 5-11; Ga 6, 37-40

Tác giả:  Huệ Minh

Ngôi thánh đường nhỏ bé của giáo xứ tôi nằm cạnh nghĩa trang bé nhỏ của giáo xứ. Đứng bên đây thánh đường ngó bên kia thánh đường là những người thân thương trong giáo xứ đã ra đi trước chúng tôi. Không chỉ có nghĩa trang nhỏ bé này nhưng đâu đó ở các nghĩa trang và thậm chí đâu đó và tro cốt của ông bà cha mẹ của chúng ta vì có thể có những người xưa đã khuất nhưng không tìm thấy dấu vết bởi chiến chinh.

Nhìn những nấm mộ đó, nơi những người thân của ta nằm đó, ta lại nhớ đến phận người. Phận người vẫn không thể nào thoát khỏi cái định mệnh của kiếp người : sinh – lão – bệnh – tử. Phận người là thế đó như theo kiểu cách nói của cố nhạc sĩ họ Trịnh :

Con chim ở đậu cành tre,

Con cá ở trọ trong khe nước nguồn.

Tôi nay ở trọ trần gian

Trăm năm về trốn xa xăm cuối trời

Sương kia ở đậu miền xa

Con sáo ở trọ bao la đất trời

Nhân gian về trọ nhiều nơi

Bâng khuâng vì những đôi môi rất hồng

Mây kia ở đậu từng không

Mưa nắng ở trọ bên trong mắt người

Tim em người trọ là tôi

Mai kia về trốn xa xôi cũng…gần

Mây kia ở đậu từng không

Mưa nắng ở trọ bên trong mắt người

Môi xinh nở đậu người xinh

Đi đứng ở trọ đôi chân Thúy Kiều

Xin cho về trọ gần nhau

Mai kia dù có ra sao cũng đành

Trăm năm ở đậu ngàn năm

Đêm tối ở trọ chung quanh nỗi buồn

Ơ hay là một vòng sinh

Tôi như người bỗng lênh đênh giữa đời

Phận người là thế, ở trọ để rồi cuộc đời khép lại sau cái chết.

Sau cái chết, tùy niềm tin của tôn giáo và gần hơn nữa là niềm tin của mỗi người khác nhau. Với niềm tin Kitô giáo thì cái chết chỉ là khép lại cuộc sống trần gian để bước vào vương quốc vĩnh cửu.

Với Trịnh Công Sơn thì : “Người chết nối linh thiêng vào đời”.

Không biết rõ tác giả định nói gì ? Chắc chắn phải có một ý nghĩa thâm sâu . Tuy không hiểu hết ý nghĩa của nó, nhưng nó giúp ta suy nghĩ : người chết nối linh thiêng vào đời vì thực tại cái chết là một thực tế đặt con người đứng trước một cái gì huyền bí, đáng sợ, và khi đứng trước thi hài người chết, ai ai cũng phải đối diện với cái ý nghĩ này : nay người, mai ta.  Và: nay tôi, mai anh.  Tôi chết, anh còn sống, nhưng còn sống đối với anh chỉ là “chưa chết”. Anh chỉ được “triển hạn”, chứ không bao giờ được “miễn trừ”.

Với những ý nghĩ như vậy mà chúng ta thường im lặng, trầm mặc đứng trước người chết, nhất là đứng trước thi hài một người thân yêu của mình.  Chúng ta im lặng, trầm mặc và buồn sầu, không chỉ vì người thân yêu không còn nữa, mà còn vì nghĩ đến cái chết  sẽ xẩy ra cho mình.  Người chết như mang theo phần nào chính chúng ta.  Trong người chết, nhất là những người ruột thịt máu mủ của chúng ta, một phần ruột thịt máu mủ của chúng ta đã ra đi.

“Người chết nối linh thiêng vào đời” là như vậy. Nghĩa là người chết đặt chúng ta đối diện với một thực tại khác, một thế giới của sự im lặng, huyền bí, một thế giới của sự tôn nghiêm, đáng kính, đáng sợ…  Vì sợ người chết,  sợ sự chết, nên người ta dù muốn hay không cũng phải nghĩ đến cái chết của mình, phải chuẩn bị cho cái chết không thể tránh được.

Có câu ngạn ngữ :”Cái chết ở trước mặt người già và sau lưng người trẻ”.  Đây là tâm lý chung cho mọi người vì người già dễ cảm thấy mình gần đất xa trời hơn người trẻ.

Tuy thế, nhiều khi người già cũng như người trẻ đều “tham sinh úy tử” nên ít khi nghĩ đến cái chết, nhưng khi thần chết đến thì người ta cảm thấy đã quá muộn. Vì thế, ông Henri Bordeaux nói : “Phần đông người ta chỉ mở mắt một lần, mà lần ấy lại là chính lúc tắt thở, nhưng người ta vội bóp mắt lại ngay”.

Đồng quan điểm với ông  Henri Bordeaux, ông John C. Collins nói : “Người chết mở mắt cho người sống”,  cũng có nghĩa là người sống bóp mắt người chết.

Ông Stephen Leacock nói : “Lạ lùng thay cái chuỗi đời người : còn nhỏ thì ước được lớn lên. Lớn lên rồi, ước đến tuổi trưởng thành. Đến tuổi trưởng thành rồi, ước được một tổ ấm.  Được tổ ấm rồi, ước làm ông nội nghỉ ngơi.  Được nghỉ ngơi rồi lại nuối tiếc  quãng đời quá khứ và cảm thấy một luồng gió lạnh đang rì rầm thổi tới.  Nhưng khi ý thức được rằng đời sống chính là ở hiện tại, ở trong ngày hôm nay, thì đã quá muộn rồi”.

Khi ta nhìn thấy những nấm mồ ở nghĩa trang như muốn nhắc nhở ta : hôm nay phiên tôi, ngày mai đến phiên anh.  “Hôm nay” là một ngày nhất định, rõ ràng, tại đây và lúc này, ai cũng phải công nhận rằng người thân yêu của chúng ta đã ra đi về đời sau, và lát nữa sẽ được chôn vùi trong lòng đất.

Nhưng còn chữ “Ngày mai” là một ngày bất định, mông lung, mờ mịt không biết bao giờ mới đến như người ta nói : “Sinh hữu hạn, tử bất kỳ” (Tục ngữ).  Đây là điều bắt buộc chúng ta phải động não vì nó liên quan đến số phận đời đời của chúng ta.

Theo tâm lý chung, người đời ai cũng “tham sinh úy tử” (ham sống sợ chết).  Người ta cũng nhận xét rằng : các cụ già thường sợ chết hơn các thanh thiếu niên.  Nhưng có một điều thực tế : không bao giờ người ta thấy mình sống lâu cả.  Dẫu đã tóc bạc da đồi mồi, đi không vững, đứng không ngay, cũng còn thấy  như mới bước chân vào đời ngày hôm qua vậy :

Nhớ từ năm trước vẫn thơ ngây,

Thoát chốc mà già đã tới ngay

(Nguyễn Khuyến)

Dù cuộc sống cứ mãi trôi nhưng rồi thi thoảng ta phải  dừng lại lại để bình tĩnh đứng ra ngoài cuộc đời bề bộn, ra ngoài cái Tôi chủ quan, mà quan sát và ý thức  nhận định một cách khách quan :

Tại sao tôi sống ?

Sống để làm gì ?

Chết rồi, ra sao ?

Phải tìm ra ý nghĩa của cuộc sống. Có người không biết tại sao mình sống, rồi sẽ ra sao !  Cho nên họ có cái nhìn bi quan về cuộc sống bởi vì họ không tìm ra được lẽ sống.

Lẽ sống của người Ki tô hữu ngày hôm nay được làm rõ trong tất cả các bài đọc. Với tất cả lẽ sống đó, niềm tin đó ta lại hân hoan sống trong trần gian này với niềm vui, với niềm tin và hy vọng một ngày kia ta cũng sẽ đoàn tụ với cha ông chúng ta trên thiên đàng nơi mà Chúa đã dọn sẵn cho những ai mà Thiên Chúa Cha trao cho Chúa Giêsu.

Cuộc đời này rất ngắn và rất vội, Giáo Hội dành ra tháng 11 này cách đặc biệt để ta có dịp báo hiếu, cầu nguyện cho ông bà cha mẹ, những người đã khuất trước chúng ta. Và, cũng nhắc nhớ phận người của mỗi người chúng ta. Ngày nào đó, ta cũng phải trở về với tro bụi trong quy luật hạn hữu của con người nhưng chuyện cần thiết và quan trọng nhất là sống làm sao để mai ngày được ơn cứu độ.

Sống ở đời, giàu hay nghèo, sang hay hèn, đại gia hay tiểu gia không phải là vấn đề. Không phải là vấn đề bởi lẽ ta thấy dù giàu hay nghèo, sang hay hèn đó khi nhắm mắt lìa đời chỉ có vài mét đất như nhau mà thôi. Vì thế, chuyện cần và đủ cho cuộc đời của mỗi người đó là sau khi chết ta có được một chỗ trong cung lòng Thiên Chúa hay không ?

Với phận con người mỏng dòn và yếu đuối để rồi ta lại cứ tiếp tục cầu nguyện. Cầu nguyện cho những người đã khuất và cầu nguyện cho chính bản thân chúng ta để ngày mỗi ngày ta biết trút bỏ những gì không là cần thiết, những gì làm vướng víu không để ta thanh thoát về với Chúa. Xin Chúa thêm ơn cho mỗi người chúng ta để chúng ta tiếp tục tin tưởng, cầu nguyện và tín thác những người thân của ta trong tay Chúa cũng như cuộc đời của ta trong tay Chúa vậy.

Tác giả:  Huệ Minh

Phản ứng của người dân trước chuyến thăm của ông Tập Cận Bình

Phản ứng của người dân trước chuyến thăm của ông Tập Cận Bình

RFA

Gia Minh, PGĐ Ban Việt ngữ

Phản đối chuyến thăm sắp tới của Chủ Tịch Trung Quốc Tập Tận Bình. Photo: FB Nguyen Lan Thang

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ thăm chính thức Việt Nam vào hai ngày 5 và 6 tháng 11 tới đây. Một số nhân sĩ, trí thức và người dân quan tâm, trong cũng như ngoài nước, lên tiếng phản đối chuyến công du này. Lý do vì sao và tình thế nào đối với mối quan hệ Việt- Trung lúc này?

Tuyên bố để bày tỏ thái độ

Sau khi tin về chuyến công du Việt Nam của chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình được chính thức xác nhận, vào ngày 15 tháng 10 có hơn 120 người trong nước công khai Bản Lên Tiếng về việc không hoan nghênh ông Tập Cận Bình đến Việt Nam vào thời điểm này.

Sang ngày 2 tháng 11, tám tổ chức xã hội dân sự độc lập tại Việt Nam cùng hơn 130 người cả trong và ngoài nước công khai Tuyên bố về Chuyến Thăm Việt Nam của ông Tập Cận Bình.

Tuyên bố gồm 5 điểm nêu rõ lập trường của những tổ chức và cá nhân ký tên về mối quan hệ Việt- Trung, những hành động xâm chiếm lãnh thổ- lãnh hải của Việt Nam do Bắc Kinh tiến hành lâu nay, việc hành xử bạo lực đối với ngư dân Việt đánh bắt hải sản tại khu vực ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa …

Nhà văn quân đội Phạm Đình Trọng, một trong những người ký tên vào bản Tuyên bố cho biết lý do ông tham gia cùng bảy tỏ chính kiến với nhiều người quan tâm khác:

“Tuyên bố đó để nói rõ thái độ của nhân dân Việt Nam. Lãnh đạo có thể lấy lòng, khúm núm, cầu cạnh như thế nào; đó là một nhóm lãnh đạo chứ còn tiếng nói của chúng tôi là tiếng nói của người dân nhằm bộc lộ thái độ, ý chí của chúng tôi đối với Trung Quốc.

Chúng tôi nghĩ rằng trong (lúc) bị đàn áp, o ép thì chỉ có thể lên tiếng thế thôi; chứ còn biểu tình chắc không làm được, khó. Đáng lẽ một nước có dân chủ thì vào dịp này người ra rất cần có biểu hiện thái độ, ý chí bằng tập hợp lực lượng. Nhưng việc tập hợp lực lượng như thế chắc không được, không làm được nên chúng tôi phải làm là ra tuyên bố đó thôi.”

Giáo sư- tiến sĩ Nguyễn Thế Hùng thuộc nhóm chủ trương trang Bauxite Việt Nam cũng là một trong những người ký tên cho biết quan điểm của ông khi tham gia hoạt động này:

“Cũng nhân chuyến thăm của ông Tập Cận Bình, nhưng trí thức, những người dân yêu nước Việt Nam cần bày tỏ cho ông chủ tịch Tập Cận Bình thấy những việc làm sai trái của họ đối với Việt Nam, những nguyện vọng, ước muốn của nhân dân Việt Nam cụ thể về vấn đề Biển Đông.”

Đường lối của Hà Nội

Thông tin cho biết chuyến thăm của chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đến Việt Nam trong tuần đầu tháng 11 này là do lời mời của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và chủ tịch nước Trương Tấn Sang.

H1Ông Nguyễn Thiện Chí, giảng viên cao cấp Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh, cho rằng hoạt động ngoại giao như thế là đường lối lâu nay của Hà Nội:

“Châm ngôn của Bộ Ngoại giao, của đảng chúng tôi là đa phương hóa, đa dạng hóa. Tiếp đến là muốn gần gũi, trao đổi, tiếp cận. Hoan nghênh cả thôi. Nhà nước tiếp cận làm sao có lợi, cho tốt thôi. Dẫu sao họ nghe tiếng nói của bên này, của nhân dân Việt Nam thì họ sẽ có một thái độ nào đó đúng mực. Còn hõ khôn nghe thì nhân dân thế giới phê phán thôi!

Chúng tôi muốn thân thiện, hết sức thân thiện, muốn hòa bình, muốn hữu nghị. Nhưng hữu nghị thì phải cả hai bên, chứ một bên không được. Tối thiểu phải lịch sự, văn minh; bên kia quay lưng làm sao được?!”

Theo nhà văn quân đội Phạm Đình Trọng thì phía Trung Quốc sang Việt Nam lần này cũng tương tự như vào những dịp đảng cộng sản Việt Nam tiến hành đại hội 5 năm đưa ra đường lối, chính sách và đội ngũ nhân sự lãnh đạo đảng và nhà nước. Ông nói:

“Dịp này là dịp mà Trung Quốc rất cần, họ muốn có mặt, có ảnh hưởng tại Việt Nam. Lý do vì sắp tới đại hội đảng sắp đặt ‘ghế ngồi’, nhân sự cho lãnh đạo Việt Nam trong thời gian tới. Trung Quốc họ rất cần có mặt lúc này để làm áp lực, sắp đặt theo ý muốn của họ về nhân sự. Chuyến đi của ông Tập Cận Bình sang Việt Nam lúc này là như thế và cũng để hỗ trợ cho những người, những tư tưởng ngóng vọng sang Trung Quốc và muốn tồn tại thế lực của Trung Quốc. Tập Cận Bình sang cũng để làm hậu thuẫn cho những con người đó, những tư tưởng ấy.”

Chính sách của Trung Quốc

Ông Nguyễn Thiện Chí còn là thành viên thuộc Ủy ban Thường Vụ Hội Hữu nghị Việt- Trung và trưởng ban liên lạc cựu lưu học sinh, thực tập sinh Trung Quốc, thừa nhận lâu nay Trung Quốc nói và làm không đi đôi với nhau. Nay toàn thế giới đã nhận thấy điều đó. Ông Nguyễn Thiện Chí nói rõ:

“Giữa lời nói và việc làm của Trung Quốc không đi đôi với nhau. Điều này thế giới thấy cả rồi. Như Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam được thế giới công nhận và họ nói nhiều lắm. Có những nước không nói ra nhưng trong bụng vẫn cho đó là của Việt Nam.

Trong phạm vi vi mô của bản thân, một người dân trong nước và là sĩ phu, chỉ mong muốn thế này thôi: Trung Quốc bình tĩnh, thật cầu thị lắng nghe tiếng nói của nhân dân thế giới để hành xử cho đúng. Vì họ là nước lớn, nước lớn mạnh lắm; còn chúng tôi nước nhỏ đấu tranh thì còn chờ các nước láng giềng, chờ các nước trong Liên Hiệp Quốc, chờ những người dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới họ quan tâm theo dõi, họ giúp đỡ chúng tôi trong vấn đề này. Nước nhỏ chống lại nước lớn khó lắm, phải có thời gian. Nếu nước lớn biết cầu thị, muốn sống trong hòa bình, đừng xâm lược, đừng tham lam (tham lam không được) thì phước quá. Nhưng thời gian sẽ ủng hộ chúng tôi.”

Nhà văn Phạm Đình Trọng đánh giá thực tế diễn tiến như hiện nay là một cơ hội mà chính quyền Hà Nội cần phải nắm bắt chứ không thể bỏ qua như nhiều lần khác:

“Tình trạng rất có lợi cho Việt Nam và cũng mở mắt cho Việt Nam về dã tâm của Trung Quốc ‘hai năm rõ mười’ rồi, không còn nghi ngờ gì nữa. Và xu thế của thế giới đối với Trung Quốc cũng đã rất rõ: Philippines như thế, rồi Mỹ như thế; nhưng mà thái độ của Việt Nam vẫn lập lờ.

Lực lượng Mỹ vào Biển Đông để hạn chế sự bành trướng của Trung Quốc tại Biển Đông đều được từ úc, Châu Âu ủng hộ nhưng Việt Nam vẫn có thái độ im lặng, lập lờ, không rõ ràng. Điều đó thể hiện là áp lực của Trung Quốc đối với những người lãnh đạo Việt Nam rất lớn. Áp lực đó, sức ép đó đang còn duy trì và ảnh hưởng rất nặng nề đếnViệt Nam, cho nên một cơ hội, thời cơ thuận lợi sẽ lại qua đi thôi!”

Đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội trong trả lời phỏng vấn Tân Hoa Xã nhân chuyến thăm của ông Tập Cận Bình đến Việt Nam lần này nói rõ mục đích nhằm vạch ra đường hướng cho mối quan hệ Việt- Trung trong thời gian tới.

Những người quan tâm tại Việt Nam bày tỏ hy vọng lãnh đạo Hà Nội sẽ sáng suốt nghe theo tiếng nói của người dân và thế giới tiến bộ; không còn răm rắp tuân thủ chính sách do tầng lớp lãnh đạo Trung Quốc vạch ra.

Hai luật sư bào chữa cho vụ anh Đỗ Đăng Dư bị đánh hội đồng

Hai luật sư bào chữa cho vụ anh Đỗ Đăng Dư bị đánh hội đồng

Từ trái qua phải: Ông Đỗ Đăng Kỷ (chú ruột Dư), LS Lê Văn Luân, LS Trần Thu Nam, LS Nguyễn Hà Luân, LS Ngô Ngọc Trai, bà Đỗ Thị Mai (mẹ Dư), hai pv.

Các luật sư đến thăm gia đình nạn nhân Đỗ Đăng Dư Từ trái qua phải: Ông Đỗ Đăng Kỷ (chú ruột Dư), LS Lê Văn Luân, LS Trần Thu Nam, LS Nguyễn Hà Luân, LS Ngô Ngọc Trai, bà Đỗ Thị Mai (mẹ Dư), hai pv.

Ảnh: Facebook Trần Thu Nam

Hai luật sư Trần Thu Nam và Lê Văn Luân chiều hôm nay đến gia đình của nạn nhân chết trong trại giam Đỗ Đăng Dư giúp về pháp lý bị một nhóm người hành hung.

Tin cho biết luật sư Trần Thu Nam bị đánh vào mặt đổ máu, còn luật sư Lê Văn Luân bị nhẹ hơn.

Sau khi bị hành hung chừng một tiếng và còn ngồi chờ cơ quan chức năng đến giải quyết vụ việc, vào lúc 3 giờ 45 phút chiều luật sư Lê Văn Luân cho biết lại sự vụ như sau:

“ Bây giờ hai người bị đánh chảy máu mà anh Trần Thu Nam bị rất nặng, chảy máu mũi, mắt, miệng. Đến gặp gỡ làm thủ tục luật sư thôi; nhưng xong rồi đi ra giữa đường thì có chừng 8 cậu thanh niên, bịt mặt mang khẩu trang đánh. Đánh xong họ lấy mất luôn cả điện thoại. Luật sư không có thù oán gì với ai ở đây. Mấy lần về làm việc em Dư này có người bị rồi.”

Bà Đỗ thị Mai, mẹ của nạn nhân 17 tuổi Đỗ Đăng Dư chết, cho biết:

“ Các bác đến giúp cho gia đình kêu oan về việc cháu bị chết ở trại giam. Lúc đầu có 2 người đứng ở cổng nhà tôi và khi các bác đi khỏi nhà chừng 100 mét thì bị chúng đánh luôn.”

Xin được nhắc lại vụ việc thanh niên 17 tuổi Đỗ Đăng Dư con bà Đỗ thị Mai được công an thông báo chết hôm ngày 10 tháng 10 vừa qua gây nghi ngờ trong công luận về cái chết của nạn nhân.

Luật sư Trần Thu Nam bào chữa cho vụ anh Đỗ Đăng Dư bị đánh hội đồng
Luật sư Trần Thu Nam bào chữa cho vụ anh Đỗ Đăng Dư bị đánh hội đồng (Ảnh facebook Trần Thu Nam)

Nạn nhân Đỗ Đăng Dư bị bắt hôm ngày 5 tháng 8 do ăn cắp một khoản tiền chưa đến hai triệu đồng của một người hàng xóm. Công an địa phương bắt nạn nhân và nói với gia đình đưa đi cải tạo nhưng giam giữ tại trại giam Xa La, Hà Đông.

Đến ngày 4 tháng 10 thì báo với gia đình đến bệnh viện và nạn nhân trong tình trạng hôn mê do phù não. Sang ngày 10 thì cơ quan chức năng báo gia đình là nạn nhân đã chết.

Gia đình yêu cầu giám định pháp y. Luật sư Trần Thu Nam chứng kiến nhưng ông không đồng ý ký biên bản vì ghi không chính xác.

Vụ việc một thanh niên 17 tuổi chết trong khi bị giam giữ được công luận trong và ngoài nước chú ý vì có nhiều điểm không đúng pháp luật Việt Nam.

Một số luật sư như luật sư Trần Thu Nam, Lê Văn Luân, Trần Vũ Hải, Nguyễn Hà Luân ở Hà Nội có thư gửi các cấp lãnh đạo cấp cao phải cho điều tra vụ việc một cách khách quan để bảo đảm công lý cho nạn nhân.

Trong khi đó cơ quan chức năng cho rằng nạn nhân chết vì bị một bạn tù đánh.

ĐỜI NGƯỜI CHIẾC LÁ

ĐỜI NGƯỜI CHIẾC LÁ

  LM Giuse Nguyễn Hữu An

Những ngày cuối tháng 10, Đất Thánh các Giáo xứ đông người đi tảo mộ.  Bên người thân yêu đang an nghỉ, con cháu, thân nhân thành kính đốt nến thắp nhang, hiệp thông cầu nguyện.

Mỗi chiều, tôi ra Đất Thánh của Giáo xứ cùng mọi người dọn dẹp cỏ rác, phát quang bụi rậm, sữa sang lễ đài, chuẩn bị cho ngày lễ các đẳng linh hồn.

Nhìn những chiếc lá vàng rơi rụng khắp Nghĩa Trang, tôi nghĩ về mùa thu, nghĩ về đời người và chiếc lá.

Nhớ bài thơ của thi sĩ Lưu Trọng Lư:

Em nghe không mùa thu.

Lá thu rơi xào xạc.

Con nai vàng ngơ ngác.

Đạp trên lá vàng khô.

(Tiếng thu)

Màu vàng của lá, màu úa của cỏ, nắng nhạt gió chiều là hình ảnh đặc trưng của mùa thu.  Mùa “chịu tang” của những chiếc lá vàng.  Ngồi nhìn lá rơi, mỗi chiếc lá chọn cho mình một cách “chia tay.”  Có những chiếc lá ra đi trong sự quằn quại khổ đau, dùng dằng bịn rịn như thể không muốn lìa cành; có những chiếc lá “hấp hối” loạng choạng buông mình cách nặng nề nghiêng ngả trên mặt đất.  Lại có những chiếc lá ra đi cách nhẹ nhàng trong dáng điệu thướt tha buông mình theo gió.  Những chiếc lá khác không bàng hoàng hối hả mà chậm rãi, thanh thản, an nhiên rơi mình trên thảm cỏ xanh như thể một bông hoa say trong giấc ngủ yên lành.  Một đời lá mong manh, chóng tàn phai rụng xuống.  Mới đó, lá còn xanh tươi, mà nay đã úa vàng lìa cành.

Đời người có khác chi một chiếc lá cuối thu.  Có những người ra đi trong bấn loạn, hối tiếc, khổ đau, nặng nhọc.  Lại có người ra đi về với cội nguồn một cách thanh thản nhẹ nhàng thanh thản.  “Lá rụng về cội.”  Lá rơi bên gốc cây.  Lá chờ đợi một quá trình sinh học để trở thành dinh dưỡng nuôi cây.  Lá góp thân xác tàn úa để trả ơn cho cây.  Đời lá ngắn ngủi mà đầy ý nghĩa nhân sinh.

Nhìn lá vàng rơi, ta nhớ lời Thánh Kinh: “Có thời sinh ra, có thời chết đi” (Gv 3,2).  Mỗi loài thụ tạo đều có thời hạn của nó.  Đời người như chiếc lá mỏng manh, ngắn ngủi.  Chỗ dựa trần gian chẳng an toàn vững chắc. Tiền bạc vật chất, bằng cấp, kiến thức, chức quyền đều chóng tàn phai.  Sức khoẻ, sắc đẹp hao mòn rồi rệu rã theo tuổi đời năm tháng.

Nhìn lá vàng rơi, ta nhận ra sự thật cay đắng nhất của đời người là sự chết.  Nó chẳng từ ai, chẳng thương tiếc ai.  Nó đến bất ngờ làm ta bang hoàng.  Phải bỏ lại tất cả mọi thứ ta gắn bó và gom góp suốt đời để ra đi với hai bàn tay trắng.  Cái chết của mỗi người là một chuyến đi cuối cùng.  Một chuyến đi quyết định và quan trọng.  Một chuyến đi vĩnh viễn không bao giờ trở lại.  Một chuyến đi một vài tuần về thăm quê nhà, một chuyến đi nghỉ hè đôi ba ngày… tôi đã phải sắp xếp chuẩn bị nhiều ngày, có khi nhiều tuần ….  Nhưng tôi đã chuẩn bị được những gì cho chuyến đi cuối cùng và thật quan trọng của cuộc đời tôi?  Tôi có nỗ lực để xắp xếp chuẩn bị cho chuyến đi vĩnh viễn và không bao giờ trở lại này không?

Nhìn lá vàng rơi, ta nhớ lời Thánh Vịnh: “Đời sống con người giống như cây cỏ, như bông hoa nở trên cánh đồng, một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc không còn mang vết tích” (Tv 102,15-16).  Dù văn minh đến dâu, con người vẫn không thắng nổi cái chết bằng sức mạnh của khoa học kỹ thuật.  Giàu nghèo sang hèn, trí thức hay bình dân, văn minh hay lạc hậu… ai ai rồi cũng phải chết.  Đứng trước cái chết, mọi người đều bình đẳng.  Sống là chuẩn bị cho con người đi về với cái chết.  Suy tư về cái chết là suy tư về sự sống.  Chết là một phần của sự sống bởi lẽ trong sự sống đã có sự chết.  Nó là cánh cửa nối liền hai thế giới như cửa sông đưa giòng nước vào nguồn biển rộng.  Cứ theo định luật tự nhiên, con người được sinh ra, lớn lên, già đi và chết.  Đó là định luật chung của con người.  Không ai có thể sống mãi mà không chết.  Các vua chúa ngày xưa đã cố công đi tìm thuốc trường sinh bất tử nhưng họ cũng chết.  Để sống cách trọn vẹn, phải can đảm chấp nhận sự sống lẫn sự chết.  Đời người ngắn ngủi như chiếc lá như lời Thánh Vịnh:

Đời con là một kiếp phù du,

Loài người Chúa dựng nên thật mỏng manh quá đỗi.

Sống làm người ai không phải chết,

Ai cứu nổi mình thoát quyền lực âm ty?

(Tv 88,48-49)

Con người không có quyền gì trên sự chết và sự sống.  Sống và chết là kỳ công và đều bởi Thiên Chúa.  Sự sống là mong manh, thế mà Thiên Chúa lại phải đánh đổi bằng máu của các tiên tri, bằng mạng sống của Con yêu dấu là Chúa Giêsu.

Nhìn lá vàng rơi ta nghĩ về cuộc đời lữ thứ.  Xin đừng mưu mô tính toán mà làm gì.  Xin đừng chia rẽ và thù ghét làm chi.  Cuộc đời này thật ngắn, tiền bạc trên thế gian này nhiều lắm, bàn tay ta có tham mấy cũng chẳng vơ vét hết được.  Rồi đến lúc bàn tay xuôi xuống, lạnh cóng, cô đơn, chẳng nắm giữ được gì.

Để có được sự ra đi trong thảnh thơi nhẹ nhàng và đong đầy niềm tin hy vọng ngày mai tươi sáng, ta hãy định nghĩa cuộc đời mình bằng sự “hiện hữu”, đừng bao giờ là sự “sở hữu”.  Ta hãy chọn phương châm “sống với” chứ đừng “sống vì”.  Thấu cảm được ý nghĩa về cuộc đời thì ta mới nhẹ nhàng, thanh thản ra đi mà không vướng bận, không ưu phiền.  Như ai đó đã từng nói: “Ngày ta sinh ra đời, mọi người cười ta khóc.  Hãy sống như thế nào để khi ra đi mọi người khóc ta cười”.

 LM Giuse Nguyễn Hữu An

Chuyện Tình Lá Thu.

Chuyện Tình Lá Thu.
LA THU
Chiếc lá xanh kia đã bạc màu,
Rừng thu vàng đỏ lá chen nhau,
Phải chăng thu tới trên màu lá,
Lao xao tàn úa rụng về đâu.
*
Hôm nao mơn mởn lộc cành cao,
Đón xuân tươi thắm dưới nắng đào,
Hoa ngát hương lá xanh biêng biếc,
Trên cành kìa lũ bướm xôn xao.
*
Mùa hè sang nắng ấm hanh vàng,
Mơ say lá tắm nắng vườn hoang,
Hoa rực rỡnhương thơm tỏa ngát,
An nhiên tình mộng dưới trăng ngàn.
*
Bất chợt cơn mưa đến lạnh lùng,
Vô tình nhàu nát cánh hoa nhung,
Lá xót xa âm thầm chết lặng,
Giữ làm sao được – Đóa mong manh.
*
Trong đêm hoa héo tàn sương lạnh,
Lá u sầu úa sắc phai xanh,
Còn đâu tình mộng dưới trăng thanh,
Heo may về lá bỗng lìa cành.
*
Tình mình có buồn như lá thu,
Thời thơ mộng ấy tít xa mù,
Anh hỡi thu về anh có nhớ,
Tìm trong lá úa dấu tình xưa…
 
Phạm Thị Minh Hưng.

Hành động của một người mẹ ở tiệm ăn nhanh đã khiến mọi người đều sững sờ

Hành động của một người mẹ ở tiệm ăn nhanh đã khiến mọi người đều sững sờ

bua_sang_mcdonald
Tôi là một bà mẹ ba con (14, 12 và 3 tuổi), vừa hoàn tất chương trình đại học và bộ môn cuối cùng là xã hội học.

Giảng viên bộ môn này đã hoàn toàn truyền cảm hứng cho sinh viên với những phẩm chất mà tôi ước gì người nào cũng được như thế.

Đề tài cuối cùng cô đặt ra cho chúng tôi mang tên “nụ cười”. Cả lớp được yêu cầu ra ngoài và cười với ba người đồng thời ghi lại phản ứng của họ.

Tôi thuộc tuýp người thận thiện, luôn mỉm cười và chào hỏi mọi người xung quanh. Vì vậy, đề tài này đối với tôi mà nói thật dễ như ăn bánh.

Ngay sau khi được giao đề tài, một buổi sáng đẹp trời tháng Ba, tôi cùng chồng và con trai nhỏ đến tiệm thức ăn nhanh McDonald’s. Đó cũng là cách vợ chồng tôi dành thời gian chơi đùa cùng con mình.

Khi chúng tôi đang xếp hàng đợi đến lượt mình gọi thức ăn thì đột nhiên tất cả mọi người đều lùi lại, ngay cả chồng tôi cũng làm thế.

Tôi đứng yên không nhúc nhích dẫu chỉ một chút. Một cảm giác hoang mang tràn ngập khi tôi quay đầu nhìn xem vì sao mọi người lùi lại.

Khi quay đầu lại, tôi ngửi thấy một mùi hôi cơ thể kinh khủng và đứng sau tôi là hai người đàn ông vô gia cư nghèo khổ.

Khi tôi nhìn xuống một người đàn ông thấp bé đứng gần mình, ông ta mỉm cười. Đôi mắt xanh tuyệt đẹp của ông ngập tràn ánh sáng thiên thần và ông đang tìm kiếm sự chấp nhận.

Ông nói “Một ngày tốt lành nhé!” khi đếm những đồng xu lẻ đang nắm chặt trong tay.

Người đàn ông thứ hai đang mò mẫm tay mình khi đứng sau lưng bạn. Tôi nhận ra rằng người đàn ông này có vấn đề về thần kinh và người mắt xanh ‘lịch sự’ kia là người giúp đỡ ông ấy.

Tôi cố cầm nước mắt khi đứng đó cùng họ.

Cô gái trẻ tại quầy hỏi họ muốn mua gì.

Ông mắt xanh nói “Cô cho chúng tôi cà phê cả nhé.” (Nếu họ muốn ngồi trong cửa hàng và sưởi ấm, họ phải mua gì đó. Họ chỉ muốn được ấm áp một chút, và cà phê là những gì họ có đủ khả năng chi trả.)

Lúc đó một động lực thôi thúc mãnh liệt khiến tôi dang tay ra và ôm lấy người đàn ông mắt xanh ấy.

Cũng trong khoảnh khắc đó, tôi nhận thấy mọi cặp mắt đang đổ dồn về phía mình và dò xét từng cử chỉ của tôi.

Tôi mỉm cười và gọi thêm hai phần ăn sáng đặt trên một khay riêng.

Sau đó, tôi đi vòng qua góc bàn mà hai người đàn ông chọn ngồi, để khay thức ăn lên bàn và đặt tay mình lên bàn tay đang lạnh cóng của người đàn ông mắt xanh.

Ông ngước nhìn tôi mắt ngấn nước và nói “Cám ơn cô.”

Tôi cúi xuống, vỗ vào tay ông ấy và nói “Tôi làm việc này không phải vì ông. Chúa thông qua tôi để ban tặng ông niềm hy vọng.”

Tôi bắt đầu khóc khi quay lại bàn với chồng và con trai mình. Khi ngồi xuống, chồng tôi mỉm cười và nói “Đó là lý do vì sao Chúa ban em cho anh, là để mang hy vọng đến cho anh, em yêu!”

Chúng tôi nắm lấy tay nhau một lúc lâu và biết rằng, bởi vì được nhận phước lành mà chúng tôi có thể lại cho đi những gì được nhận.

Vợ chồng tôi không phải là những ‘con chiên’, nhưng chúng tôi có niềm tin. Ngày hôm đó, ánh sáng thuần khiết của tình yêu Chúa trời đã soi rọi tôi.

Tôi quay lại trường vào buổi tối cuối cùng của lớp học với câu chuyện của mình trong tay. Tôi nộp bài và người hướng dẫn bộ môn đã đọc nó.

Sau đó cô ấy ngước lên nhìn tôi và nói “Tôi có thể chia sẻ câu chuyện này được chứ?”

Tôi nhẹ nhàng gật đầu khi cô yêu cầu cả lớp chú ý.

Và khi cô ấy bắt đầu đọc, tôi chợt nhận ra rằng, chúng ta là những sinh mệnh riêng lẻ và là một phần trong chỉnh thể vũ trụ, chia sẻ là điều cần thiết để hàn gắn và để được hàn gắn.

Bằng cách của mình, tôi đã làm những người tại cửa hàng McDonald’s, chồng tôi, con trai tôi, giáo viên bộ môn và tất cả mọi người tham dự ngày cuối cùng ở lớp học tối hôm đó xúc động.

Tôi tốt nghiệp với một bài học lớn nhất trong đời, đó là: Chấp nhận người khác một cách vô điều kiện.

Nguồn: inspire21
Biên dịch: Hướng Dương

Thăm cố hương của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm

Thăm cố hương của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm

Nhóm phóng viên tường trình từ VN

RFA

000_ARP2823700

Ông Ngô Đình Nhu cùng phu nhân, bà Trần Lệ Xuân cùng các con.

AFP photo

Ngày 1 tháng 11 năm 1963, Tổng Thống nền Cộng Hòa đầu tiên của Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm cùng với bào đệ là Cố Vấn Tổng Thống Ngô Đình Nhu bị giết tại Sài Gòn trong một cuộc đảo chính. Đây cũng là khoảnh khắc khép lại thời vàng son của dòng họ Ngô Đình. Và đây cũng là thời điểm mà cố hương của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm gặp nhiều nguy biến nhất. Có thể nói rằng số phận lênh đênh của dòng họ xuất chúng này vẫn chưa bao giờ ngừng.

Cố hương vời vợi…
Một người tên Hàm, sống ở Lệ Thủy, Quảng Bình, chia sẻ: “Ông đầu tiên học trường thuộc địa, gọi là trường Hậu Bổ, sau đó ra làm quan Tuần Vũ, cũng như tỉnh trưởng vậy đó. Sau đó nhờ tài năng ông được rút về trung ương, tức triều đình Huế. Sau đó đụng chạm với Phạm Quỳnh, đụng phải sự cố chấp, không chịu canh tân, ông từ quan. Sau đó nữa ông âm thầm hoạt động cách mạng độc lập, để có nền Việt nam Cộng Hòa sau này là nhờ ông biết hoạt động độc lập…”.

Theo cụ Hàm, quê gốc của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm không phải ở làng Đại Phong, xã Phong Thủy, Lệ Thủy, mà là ở phủ Xuân Dục, Quảng Bình. Cụ Ngô Đình Dinh, ông nội của Tổng Thống Diệm là một con chiên mộ đạo. Do tránh nạn tiêu diệt Ki-Tô giáo của triều đình Huế, cụ đã trốn vào làng Đại Phong, Phong Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình để sống.

Ban đầu cụ làm nghề chèo đò, nấu nước trà cho làng mỗi khi có lễ lạc. Bởi quan niệm dân gốc và dân trú thời đó nên cụ gặp rất nhiều khó khăn, sống trong nghèo khổ, bần hàn. Cụ sinh được một người con là Ngô Đình Khả, chính là thân sinh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm sau này. Cụ Dinh mất sớm do bệnh tật, lúc đó, Ngô Đình Khả là đứa bé sáu tuổi. Một vị linh mục người Pháp mang Ngô Đình Khả về nuôi và cho học hành tử tế. Vốn có tư chất thông minh, Ngô Đình Khả nhanh chóng thăng tiến sau này nhờ vào học hành.

Với đời vợ cả, cụ Ngô Đình Khả sinh ra được hai người con trai là Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Thục. Sau khi vợ cả qua đời, cụ Khả tái hôn với bà Phạm Thị Thân, sinh ra sáu người con là Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn, Ngô Đình Luyện, Ngô Đình Thị Giáo và Ngô Đình Thị Hiệp.

Với gia thế làm quan kể từ sau giai đoạn khó khăn của ông nội Ngô Đình Dinh, có thể nói rằng đến thời cụ Ngô Đình Diệm là thời phát tiết của tộc Ngô. Cụ nổi tiếng là người học giỏi, cụ được Pháp đưa sang mẫu quốc để du học nhưng cụ không chịu đi để giữ khí tiết chống thực dân đô hộ, cụ ra Hà Nội để học Hành chính quốc gia, còn gọi là trường Hậu Bổ. Năm 1921, cụ tốt nghiệp trường Hậu Bổ và về làm quan tại Huế. Thời kì làm quan của cụ là thời kì mà nhân dân địa phương được sống sung túc nhất dưới sự dẫn dắt của cụ.

Cụ tổ chức đào kênh, đắp đường lộ, làm nhiều việc có lợi cho dân. Sau nhiều biến thiên lịch sử, cụ phải trốn sang nhiều nơi, thậm chí nhiều nước. Và đến năm 1954, cụ làm Thủ tướng dưới quyền của Quốc trưởng Bảo Đại. Mười năm sau, năm 1955, nền Cộng Hòa đầu tiên của Việt Nam ra đời dưới sự dẫn dắt của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm.

Cuối năm 1955, cụ Diệm làm Quốc Trưởng và sau này đổi thành danh xưng Tổng Thống cho đến tháng 11 năm 1963.

Ông Hàm cho rằng cái chết và sự lưu vong của gia đình họ Ngô là do một thủ đoạn tính toán về phong thủy. Bởi lúc đó, Quảng Bình nằm phía Bắc vĩ tuyến 17, thuộc lãnh địa của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Nghiệt nỗi, mộ cụ nội của Tổng Thống Ngô Đình Diệm vẫn nằm trên đất Đại Phong, Phong Thủy, Quảng Bình. Mà theo lời của một nhà chiêm tinh có uy tín lúc bấy giờ thì đất Lệ Thủy sinh ra bậc kỳ tài, ứng vào tộc Ngô và tộc Võ.

400
Sông Kiến Giang, đoạn ngang qua ngôi mộ cụ Dinh. RFA photo

Nếu giữ bậc hiền tài tộc Ngô thì khí vận của nhân tài tộc Võ không đủ để lay chuyển thời vận. Và người ta đã nhắm đến mộ của cụ Ngô Đình Dinh, ông nội cụ Ngô Đình Diệm để phá phách, trấn yểm. Việc trấn yểm, phá phách này kéo dài gần chục năm, cho đến khi ngôi mộ của cụ Dinh bị phá tan hoang cũng là lúc Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu bị ám sát.

Hiện tại, không còn dấu vết nào của dòng họ nhà Ngô Đình trên đất Đại Phong, Phong Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình. Mặc dù trong quá trình di cư, vẫn còn nhiều người họ hàng của tộc Ngô Đình sống lại làng Đại Phong nhưng đã đổi thành một họ khác như Trần, Lê. Sau biến cố ngày 1 tháng 11 năm 1963, những người họ hàng này lại một lần nữa rời bỏ quê hương, sống lưu vong.

Dấu xưa không còn và ngôi mộ thiên táng

Cụ Hải, sống ở Đại Phong, Lệ Thủy, Quảng Bình, chia sẻ: “Nhà ông Giáp và ông Diệm gần nhau. Rõ ràng ông Diệm phải giỏi ngang ngửa với ông Giáp mới đấu nổi với nhau chứ. Nhưng do người ta giết hại ông Diệm nên đành vậy thôi.”.

Theo cụ Hải, lúc cụ Ngô Đình Dinh, tức ông nội của Tổng thống Ngô đình Diệm qua đời, vì gia cảnh nghèo khó, vợ chết sớm, chỉ có một con trai nhỏ là Ngô Đình Khả mới sáu tuổi. Hai cha con sống lây lất qua ngày bằng việc chèo đó thuê ban ngày và ngủ nhờ đình làng ban đêm. Khi cụ Dinh mất, dân làng thương tình mua áo quan khâm liệm và chèo thuyền đưa thi hài ông dọc theo sông Kiến Giang, đến núi Bến Đẻ để an táng.

Nhưng đi nửa đường thì trời đổ mưa, nghe tiếng cọp gầm, dân làng sợ quá đào qua loa một huyệt bên đường lên núi để chôn tạm rồi sáng mai tiếp tục an táng. Đang đào thì cọp gầm gần quá, người dân hoảng hốt lấp vội đất và bỏ chạy. Sáng mai, bà con lại bơi ghe lên chỗ huyệt mộ để lấp đất cho tử tế. Nhưng khi đến nơi thì thấy một gò đất tròn, cao đã phủ trên ngôi mộ. Gò đất này do mối đụn lên mà tạo thành. Người làng kháo nhau ngôi mộ được thiên táng, tức trời chôn, đời sau sẽ phát tích. Và chuyện này đã thành sự thật.

Cùng lúc đó, bên khu nhà thờ làng tộc Võ, một cây dừa bị bão đánh đã lâu, từ thân khô của nó mọc ra hai nhánh và phát triển rất nhanh. Tin đồn về khí vận ở Lệ Thủy đang phát tiết lan rộng. Trong đó, ngôi mộ thiên táng của tộc Ngô được cho là tụ khí hơn khu nhà thờ làng có cây dừa mọc đôi của tộc Võ.

Đến những năm 1950, công cuộc đào phá long mạch mộ tộc Ngô bắt đầu nhưng không có tác dụng. Đến năm 1961, một đường hầm đào xuyên qua trước ngôi mộ, gọi là công sự để chế tạo vũ khí nhưng thực chất chưa bao giờ có vũ khí nào chế tạo ở đây.

Sau đó một thời gian, các đường công sự đào ngang đào dọc và ngôi mộ cũng tự dưng biến mất. Cuối cùng là cái chết thương tâm của gia đình Tổng thống Ngô Đình Diệm và cuộc đời tứ tán của dòng họ Ngô. Dấu vết xưa của dòng họ Ngô trên đất Lệ Thủy, Quảng Bình cũng không còn.

Theo như chia sẻ của cụ Hải thì khi mà khí vận của đất Lệ Thủy bị tuyệt, từ đó đến giờ, đời sống khó khăn, người đỗ đạt cao một cách nghiêm túc rất hiếm và niềm tự hào của người dân về gia tộc họ Ngô cũng bị triệt tiêu một cách đáng sợ. Nhưng cụ Hải cũng khẳng định rằng nếu chọn một điều gì đó để nói về quê hương mình, ông sẽ chọn gia tộc họ Ngô bởi đây là một gia tộc đi từ nghèo khổ đến đỗ đạt và cống hiến cho dân tộc này rất nhiều.