‘Ông trùm’ MB24 bị phạt tù nhưng vẫn ở ngoài làm ‘sếp’ đa cấp?

‘Ông trùm’ MB24 bị phạt tù nhưng vẫn ở ngoài làm ‘sếp’ đa cấp?

Petro Times

18-4-2016

Vũ Ngọc Thuyển bị phạt tù 4 năm nhưng vẫn ở ngoài và giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty CP Liên minh tiêu dùng Việt Nam. Ảnh: PetroTimes

Dù bị tuyên phạt 4 năm tù về hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, thế nhưng “trùm sò” MB24 Vũ Ngọc Thuyển vẫn tại ngoại và ung dung trở thành Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty CP Liên minh tiêu dùng Việt Nam (Vietnet).

Ngày 28/1/2015, “trùm” đường dây lừa đảo MB24 Vũ Ngọc Thuyển (40 tuổi, ở huyện Lạng Giang, Bắc Giang) đã bị Tòa án Nhân dân tỉnh Bắc Giang tuyên phạt 4 năm tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

Thế nhưng, chẳng hiểu vì sao mà sau khi nhận bản án, “siêu lừa” này vẫn đang tại ngoại và trở thành Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty CP Liên minh tiêu dùng Việt Nam.

Trở lại vụ án lừa đảo gây chấn động dư luận với hình thức mới của Công ty Cổ phần Đào tạo Mua bán trực tuyến MB24, tháng 8/2011 Ban lãnh đạo Công ty MB24 Hà Nội (ở Lô 4 C8, phường Mỹ Đình, Từ Liêm, Hà Nội) thống nhất thành lập Công ty MB24 – Chi nhánh thành phố Bắc Giang và bổ nhiệm Vũ Ngọc Thuyển làm giám đốc chi nhánh.

Ngay sau khi được bổ nhiệm, Thuyển đã mua 5 bộ máy tính, thuê nhân viên thành lập công ty và thuê nhà số 794 đường Lê Lợi (phường Dĩnh Kế, TP. Bắc Giang, Bắc Giang) làm trụ sở của công ty.

Thuyển đã tổ chức tuyên truyền việc kinh doanh của Công ty MB24 – Chi nhánh thành phố Bắc Giang là giao dịch thương mại điện tử và bán các gian hàng ảo để được hưởng hoa hồng kiếm lời, nhưng thực chất là để lừa đảo người khác để thu lợi bất chính. Từ ngày 28/7/2011 đến hết ngày 31/7/2012, Thuyển cầm đầu Công ty MB24 – Chi nhánh Bắc Giang để chiếm đoạt số tiền gần 170 triệu đồng.

Bị báo chí vạch trần bộ mặt lừa đảo của Công ty MB24, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Bắc Giang đã vào cuộc điều tra, bắt tạm giam Vũ Ngọc Thuyển và Tạ Quang Phú (33 tuổi, nguyên Giám đốc Công ty Muaban24 – Chi nhánh huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang).

Cùng với các “trùm sò” khác đã lần lượt lĩnh án, ngày 28/1/2015, TAND tỉnh Bắc Giang đã tuyên phạt bị cáo Vũ Ngọc Thuyển 4 năm tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

H1Trụ sở Công ty CP Liên minh tiêu dùng Việt Nam tại Hà Nội. Ảnh: PetroTimes

Mặc dù đã bị tuyên án, nhưng không biết vì lí do gì mà Thuyển vẫn chưa phải thi hành án. Hơn nữa, Thuyển còn trở thành Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty CP Liên minh tiêu dùng Việt Nam (ở số 15 phố Đặng Thùy Trâm, Hà Nội).

Không những thế, Thuyển vẫn ung dung phát ngôn trên nhiều tờ báo về hoạt động kinh doanh đa cấp của Công ty CP Liên minh tiêu dùng Việt Nam.

Theo Sở Công thương tỉnh Bắc Giang, Công ty cổ phần Liên minh Tiêu dùng Việt Nam được thành lập theo giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp. Công ty này được đăng ký lần đầu ngày 21/6/2013 do Sở Công Thương tỉnh Bắc Giang cấp.

Thời điểm này, Thuyển tham gia Công ty CP Liên minh tiêu dùng Việt Nam với vai trò là Tổng Giám đốc.

Điều khiến dư luận quan tâm chính là thời điểm đăng ký kinh doanh trùng với thời điểm Thuyển đang bị cơ quan công an bắt giữ để điều tra. Phải chăng, cơ quan chức năng cố tình “nhắm mắt bỏ qua” để siêu lừa này tiếp tục tác oai tác quái bên ngoài.

Trong một diễn biến khác, Công ty CP Liên minh tiêu dùng Việt Nam đã bị cơ quan chức năng Hà Nội tiến hành kiểm tra và kết luận có sai phạm trong quá trình kinh doanh của chi nhánh tại Hà Nội.

Cụ thể, giấy phép kinh doanh do Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Bắc Giang cấp cho công ty mẹ liên minh tiêu dùng tại Bắc Giang được hoạt động kinh doanh đa cấp.

Tuy nhiên, đối với chi nhánh tại Hà Nội, mặc dù giấy phép lần 1 vào ngày 3/3/2014 và bổ sung lần 2 vào ngày 20/6/2014 lại không có nội dung kinh doanh đa cấp.

Đoàn kiểm tra tiến hành lập biên bản đối với Công ty CP liên minh tiêu dùng Việt Nam về hành vi dùng website để giao dịch thương mại điện tử cho sản phẩm của mình, nhưng chưa được sự công nhận chính thức của Cục thương mại điện tử và công nghệ thông tin (Bộ Công Thương).

Cũng trong đợt kiểm tra, đoàn công tác chỉ rõ, trong 9 mặt hàng mà doanh nghiệp này kinh doanh tại Hà Nội chỉ có 3 mặt hàng thông báo với Sở Công Thương Hà Nội về kinh doanh đa cấp. Còn 6 mặt hàng chưa thông báo.

Cơ quan chức năng đã tiến hành thu giữ hơn 380 túi kẹo sâm và 750 lọ đông trùng hạ thảo và tinh chất nước sâm do nước ngoài sản xuất nhưng không có hóa đơn chứng từ tại kho của công ty.

Thành lập Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam

Thành lập Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam
Nguoi-viet.com

SÀI GÒN (NV) – Một tổ chức tranh đấu khôi phục nhân quyền và dân quyền tại Việt Nam có tên là Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam vừa thấy xuất hiện qua một bản công bố.

Logo của tổ chức Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam. (Hình: lienketqnhn.org)

“Không còn khốn khó thương đau nào hơn thống khổ hôm nay khi 90 triệu đồng bào sống trong ngục tù Cộng Sản! Không còn nhục nhã hờn căm nào bằng ô nhục căm hờn hôm nay khi giặc Tàu – Cộng ngang nhiên chiếm đoạt đất đai, biển đảo của chúng ta! Toàn dân hãy đứng lên giành quyền làm chủ của nhân dân, để chuyển đổi lịch sử, đón mừng mùa Xuân dân tộc trên quê hương Việt Nam thân yêu.”

Đó là những lý do được tổ chức nêu trên nêu ra khi thành lập trong chủ đích “Tranh đấu khôi phục nhân quyền và dân quyền tại Việt Nam, thực thi đúng lý tưởng cao đẹp của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền năm 1948 và hai công ước Liên Hiệp Quốc về các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966” và “Bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ của tổ quốc và sự trường tồn của dân tộc.”

Đồng ký tên trên bản tuyên bố đề ngày 16 Tháng Tư, nhằm ngày Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương 10 Tháng Ba Âm Lịch, thấy có tên một số chức sắc các tôn giáo tại Việt Nam như Hòa Thượng Thích Không Tánh (Phật Giáo), Linh Mục Phan Văn Lợi (Công Giáo), Chánh Trị sự Hứa Phi (Cao Đài Chơn Truyền), nhân sĩ Lê Văn Sóc (Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy), Mục Sư Nguyễn Hoàng Hoa (Tin Lành). Tại hải ngoại có Bác Sĩ Võ Đình Hữu, chủ tịch Hội Đồng Đại Biểu Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ, Bác Sĩ Đỗ Văn Hội, chủ tịch Hội Đồng Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ, và một số nhân sĩ.

Bản tuyên bố cáo buộc rằng sau khi nhuộm đỏ được cả nước năm 1975, đảng Cộng Sản Việt Nam đã thiết lập “một chế độ độc tài toàn trị bạo ngược, tước bỏ mọi quyền tự do căn bản của người dân được long trọng quy định trong Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 10 Tháng Mười Hai, 1948.”

Từ đó “biến hành pháp, lập pháp, tư pháp, quân đội, công an, báo chí thành công cụ tuyên truyền, khủng bố trấn áp thô bạo những ai tranh đấu cho tự do dân chủ, cho nhân quyền và dân quyền và cho sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Hậu quả là Việt Nam chẳng có uy tín trên chính trường quốc tế và bị quốc tế thường xuyên lên án về thành tích vi phạm nhân quyền.”

Vì Việt Nam chủ trương ưu tiên cho kinh tế quốc doanh nên “Nền kinh tế ngày càng lụn bại, tài chánh ngày càng kiệt quệ, nợ công ngày càng cao, cuộc sống nhân dân ngày càng điêu đứng. Hàng triệu công nhân bị bóc lột sức lao động, hàng chục triệu nông dân bị cướp ruộng cướp đất, hàng triệu thị dân bị cướp nhà cướp cửa. Thực lực kinh tế quốc gia và điều kiện sinh sống của công dân đứng hàng gần chót thế giới.”

Về mặt tinh thần thì “đảng Cộng Sản Việt Nam đã và đang tiêu diệt các tôn giáo chân truyền, thành lập các tổ chức tôn giáo quốc doanh nhằm phục vụ chế độ vô thần, đi ngược với truyền thống của dân tộc. Các tôn giáo không đóng được vai trò lương tâm và giáo dục cho xã hội. Vì thế, dối trá tràn lan, bạo lực tung hoành, văn hóa nghệ thuật và khoa học kỹ thuật chẳng có mấy thành tựu, thế hệ trẻ lớn lên trở thành công dân mất tự do và vô trách nhiệm, không có trí tuệ và đạo đức.”

Tuần lễ vừa qua, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ công bố bản phúc trình hàng năm về tình hình nhân quyền quốc tế, trong đó, nêu hàng loạt những vi phạm nhân quyền nghiêm trọng của Hà Nội. Guồng máy công an được dung dưỡng để trấn áp người dân nên dù họ có tra tấn chết người cũng không mấy khi bị kết tội.

Ngày 4 Tháng Ba, Thượng Nghị Sĩ Bill Cassidy (Cộng Hòa-Louisiana) đệ trình Dự Luật Nhân Quyền Việt Nam với chủ đích ngăn chặn các hành động dàn áp nhân quyền của Việt Nam.

Hồi Tháng Năm, 2015 Dự Luật Nhân Quyền Việt Nam cũng được Tiểu Ban Nhân Quyền Hạ Viện Hoa Kỳ thông qua. (TN)

Tình hình tự do báo chí toàn cầu

 Tình hình tự do báo chí toàn cầu

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2016-04-18

Nhà báo Pháp Ursula Gauthier bị Trung Quốc trục xuất do viết bài chỉ trích chính sách của nhà nước Trung Quốc đối với người Hồi Giáo Tân Cương.

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Phóng Viên Không Biên Giới RSF, tổ chức bảo vệ tự do báo chí toàn cầu, sẽ công bố phúc trình cho thấy năm 2016 là một năm vô cùng tiêu cực đối với truyền thông toàn cầu, trong lúc tình hình báo chí tại Việt Nam cũng không có gì khá hơn những năm trước.

Phải đến ngày 20 tháng 4 những con số chính xác và thứ bậc rõ ràng về tình hình tự do báo chí thế giới mới được công bố, nhưng ngay thứ Tư  ngày 13 thì Reporters Sans Frontieres Phóng Viên Không Biên Giới đã phổ biến thông báo cho thấy 2016 là năm mà tự do báo chí bị suy giảm đáng ngại từ cấp quốc tế đến cấp khu vực.

Theo thông báo, con số càng lớn thì tình hình càng lúc càng tệ. Điển hình năm  2015 chỉ số tự do báo chí  toàn cầu tính chung là 3.719 điểm. Đến 2016 thì tăng lên 3.857 điểm, tức là tệ hơn năm ngoái đến  3,71 %.

“ Ngay lúc này tôi chưa thể đi vào chi tiết của bất cứ nước nào kể cả Việt Nam nhưng có thể nói một cách tổng quát thì Việt Nam luôn nằm trong danh sách các nước chủ trương kiểm duyệt thông tin và báo chí gắt gao nhất.
– Ông Benjamin Ismail”

Lý do suy giảm là do sự cấm đoán, kiểm duyệt của những chính quyền từ Đông sang Tây, từ Âu sang Á, từ những nhà lãnh đạo không muốn báo chí loan tải những thông tin bất lợi và đe dọa đến quyền lực của họ.

Từ Paris, nơi có trụ sở chính của Phóng Viên Không Biên Giới, người chuyên trách khu vực Châu Á trong tổ chức là ông Benjamin Ismail, cho biết vì không có sự tiến bộ nào đáng nói nên nhiều phần chắc Việt Nam vẫn nằm ở vị trí thấp trong danh sách 180 quốc gia có tự do báo chí:

Ngay lúc này tôi chưa thể đi vào chi tiết của bất cứ nước nào kể cả Việt Nam nhưng có thể nói một cách tổng quát thì Việt Nam luôn nằm trong danh sách các nước  chủ trương kiểm duyệt thông tin và báo chí gắt gao nhất. Trên bảng đồ về chỉ số tự do báo chí của RSF, màu đen là màu dành cho  những quốc gia vi phạm quyền tự do báo chí và Việt Nam là một trong những quốc gia bị tô đen như vậy đã nhiều năm.

Thường mỗi năm chúng tôi đều công bố danh sách những nhà lãnh đạo, những nhóm vũ trang, những tổ chức thuộc hay không thuộc chính phủ mà chúng tôi gọi là những hung thần của báo chí, của ký giả, của bloggers và cả những xã hội dân sự. Năm nay, trong những khuôn mặt lãnh đạo đó có Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, hai khắc tinh của truyền thông Việt Nam.

Vì đã có quá nhiều ký giả, nhà văn, blogger, những người cầm bút, người đưa tin trên  mạng đã bị hành hung, bắt bớ, tù đày, khủng bố, ông Benjamin Ismail nói tiếp, và hiện còn 16 người trong diện này đang bị cầm tù bất kể yêu cầu trả tự do cho họ từ bên ngoài, Việt Nam trở thành đất nước phức tạp và rối rắm trong việc ứng xử với báo giới:

Thí dụ trường hợp mới đây về blogger Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, đã bị Việt Nam tống giam vì tội đưa tin trên trang blog của ông. Không những thế mà gia đình  vợ con của các blogger cũng bị sách nhiễu bị phiền phức.

Việt Nam vẫn không tiến bộ

Năm 2002,  ông Benjamin trình bày tiếp, khi Phóng Viên Không Biên Giới lần đầu tiên công bố báo cáo về chỉ số tự do báo chí toàn cầu, mà khi đó chỉ 134 quốc gia trên danh sách, thì Việt Nam đứng hàng 131 trên 134 nước, coi như là gần chót. Và tính từ đó đến giờ khi con số đã lên 180 quốc gia thì Việt Nam cũng không nhảy được bậc nào khá hơn:

Thứ hạng trung bình của Việt Nam trong ba bốn năm qua chỉ quanh quẩn ở bậc 170/180 và tôi chỉ có thể nói vị trí năm nay của Việt Nam trong danh sách các nước vi phạm tự do báo chí cũng nằm trong khoảng đó mà thôi.

Một người đang đọc báo về cái chết của Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Hà Nội vào ngày 05 tháng 10 năm 2013. AFP photo

Nhà văn Vũ Thư Hiên, một cây viết đối kháng với nhà nước Việt nam, hiện cư ngụ tại Pháp, phát biểu rằng những điều ông Benjamin Ismail của Phóng Viên Không Biên Giới vừa nói không làm ông ngạc nhiên:

Nếu nói về báo chí mà đây là báo in thì rõ ràng không có một tiến bộ nào cả. Tất cả báo in nằm trong tay một tổng biên tập là đảng cộng sản. Nhưng nếu mà nói về mạng xã hội thì tôi thấy họ cũng đã có chút mở rộng. Vì thế cho nên thứ tự bao nhiêu trong tự do báo chí thì không biết Phóng Viên Không Biên Giới có nhích lên một chút trong sự xếp hạng chăng.

Tôi nghĩ cái mà chúng ta nhìn vào là sự trấn áp bằng hình thức này hay hình thức khác để tính ra sự xếp hạng thì đúng hơn là nói về các tờ báo hay các trang mạng. Mình xem cách mà chính quyền đối xử với những người phát biểu chính kiến để mà xếp hạng có lẽ là đúng hơn. Ta thấy những nhà văn như Phạm Đình Trọng hay các nhà báo   như Huỳnh Ngọc Chênh đã bị canh gác không cho ra khỏi nhà thì đấy là hình thức trấn áp. Trong trường hợp này  Việt Nam không những không tiến mà còn lùi đi, xuống cấp chứ không lên đâu.

Việt Nam, cho đến thời điểm này không có tự do báo chí dù có trên 600 mặt báo đủ loại, là khẳng định của ông Lê Hùng, biên tập viên nhà xuất bản Thanh Niên đã về hưu, từng nếm mùi khó khăn khi tập Truyện Kể Năm 2000 của nhà văn Bùi Ngọc Tấn mà ông xuất bản gặp phải lệnh đốt bỏ:

Với tư cách một người đã nằm trong báo chí trong bộ máy tuyên truyền của chính quyền tôi thấy Việt Nam chưa bao giờ được hưởng cái gọi là tự do báo chí và tự do ngôn luận. Thời kỳ làm trong bộ máy nhà nước tôi cũng đã qua thử nghiệm của bản thân mình. Trong công việc chuyên môn hàng ngày tôi thấy Việt Nam chưa bao giờ đạt  tự do báo chí. Đường lối, chủ trương của đảng là ca ngợi đảng cộng sản, ca ngợi chế độ. Không phải chỉ riêng tôi mà rất nhiều đồng nghiệp của chúng tôi thấy hoàn toàn giả dối. Cái hiện thực ấy nó quá là không đẹp.

“ Thứ hạng trung bình của Việt Nam trong ba bốn năm qua chỉ quanh quẩn ở bậc 170/180 và tôi chỉ có thể nói vị trí năm nay của Việt Nam trong danh sách các nước vi phạm tự do báo chí cũng nằm trong khoảng đó mà thôi.
– Ông Benjamin Ismail “

Ở Việt Nam cho đến thời điểm này đúng là báo chí thì rất nhiều, hình thức rất là đa dạng, màu sắc in ấn đẹp đẽ nhưng về mặt nội dung tôi xin khẳng định 700 tờ báo, 800 tờ báo, tạp chí, cũng vẫn chỉ là một mà thôi. Không những một nội dung, một cách nói mà mọi cách nói, mọi tư tưởng mọi nội dung khác, mọi thể hiện khác đều bị loại bỏ.

Chỉ số tự do báo chí toàn cầu mà  Phóng Viên Không Biên Giới sắp công bố ngày 20 tới đây đặc biệt nhấn mạnh đến sự suy giảm trong lãnh vực này trong ba năm liên tiếp tính từ 2013 đến 2016.

Điều mà các chế độ toàn trị trên thế giới sợ hãi nhất và tìm cách diệt cho bằng được, Phóng Viên Không Biên Giới kết luận, là truyền thông tự do,  là để cho báo chí rộng đường dư luận và loan tải bất cứ tin tức gì có hại đến  sự cầm quyền của những nhà lãnh đạo độc tài.

Bức ảnh y-tế làm rung động thế-giới .

Bức ảnh y-tế làm rung động thế-giới .

Vị bác sĩ với đôi mắt thâm quầng lo lắng theo dõi tín hiệu sinh tồn của người đàn ông trên bàn mổ, đằng xa nữ y tá ngủ gục sau ca phẫu thuật ghép tim kéo dài 23 giờ.

Gần 30 năm trôi qua, trái tim người thầy thuốc đã ngừng đập nhưng bệnh nhân được ông cứu sống vẫn còn sống. Không đơn thuần tái hiện nỗi vất vả của đội ngũ y tế, tác phẩm của nhiếp ảnh gia James Stansfield trên hết truyền tải mối liên kết đặc biệt giữa bác sĩ và người bệnh.

 BAC SI
Bức ảnh lịch sử ghi lại khoảng khắc sau ca ghép tim 23 giờ do bác sĩ Regila phụ trách. Ảnh: James Stansfield.

Theo Truth Inside of You, vị bác sĩ trong ảnh là Zbigniew Religa, người thực hiện ca ghép tim đầu tiên tại Phần Lan năm 1985. Hai năm sau, với tư cách Trưởng khoa Tim mạch tại Zabrze, ông quyết định nhận phẫu thuật cho Tadeusz Zitkevits 61 tuổi sau khi hàng loạt bác sĩ từ chối với lý do bệnh nhân quá già.

Ca phẫu thuật được đánh giá quá khó nếu không muốn nói là bất khả thi, song Regila chẳng hề nao núng. Tháng 8/1987, tìm được quả tim thích hợp cho Zitkevits, vị bác sĩ lập tức lên lịch mổ. Trước sự kinh ngạc của tất cả mọi người, ca ghép tim kéo dài 23 giờ đồng hồ kết thúc thành công. Nhiếp ảnh gia người Mỹ James Stansfield có mặt tại bệnh viện đã kịp thời ghi lại giây phút Religa căng thẳng theo dõi tín hiệu sinh tồn của Zitkevits và một nữ y tá ngủ gục vì mệt mỏi ở đằng xa.

 BAC SI 2
Zitkevits bên bức ảnh lịch sử. Ảnh: Super Express.

Sau ca ghép rúng động thế giới, bác sĩ Regila tiếp tục cống hiến cho lĩnh vực tim mạch nước nhà cho đến khi qua đời ngày 8/3/2009. Cả Zitkevits lẫn Stansfield đều đến dự đám tang của ông.

Zitkevits, năm nay bước sang tuổi 90, chưa bao giờ quên ơn người thầy thuốc năm xưa và lưu giữ tấm ảnh trong phòng mổ như bùa hộ mệnh. Tác phẩm của Stansfield trở thành khoảnh khắc lịch sử và được kênh National Geographic bình chọn là tấm ảnh đẹp nhất năm 1987.

Anh chị Thụ & Mai gởi

‘Giai cấp tiên phong’ đến đường cùng, lãnh thổ mặc ‘bạn vàng’ quản lý

‘Giai cấp tiên phong’ đến đường cùng, lãnh thổ mặc ‘bạn vàng’ quản lý

Blog RFA

JB Nguyễn Hữu Vinh

15-4-2016

“Giai cấp tiên phong” và đảng của “giai cấp tiên phong”

Vài hôm nay, báo chí nêu vấn nạn người dân nông thôn bỏ nhà ra thành phố kiếm sống. Nguyên nhân hiện tượng này, được lý giải đơn giản như trong câu nói của bà Nguyễn Thị Quá (ngụ thôn Tân Mỹ, xã Hòa Phú, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên): “Không đi thì lấy gì ăn? Vào trong ấy lê chân cả ngày còn kiếm được 50.000-100.000 đồng gửi về cho con, chứ ở đây lấy gì cho chúng học?”.

Hậu quả của hiện tượng này chưa ai thống kê được.

Trước hết, là cảnh gia đình ly tán, dẫn đến nhiều vấn đề xã hội phát sinh, trẻ em không được học hành, người già thiếu người chăm sóc. Sau đó, nông thôn dần biến thành những vùng đất hoang.

Báo chí nêu một ví dụ: “Ông Lê Duy Thắng, Chủ tịch UBND xã Thiệu Giao, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, cho hay toàn xã có khoảng 7.800 người nhưng nay chỉ còn 2.400 người ở lại địa phương gồm 900 người già, hơn 400 học sinh và các thành phần lao động khác” – Nghĩa là 2/3 số người ở xã này đã ra đi tìm đường cứu… gia đình.

Đến thành phố, những người nông dân làm đủ mọi nghề kiếm sống, hoặc hòa nhập vào tầng lớp “tiểu thương” như bán hàng rong, bán vé số, hoặc phục vụ trong các gia đình với vai trò “osin”, thậm chí nhiều thanh niên còn tham gia các hoạt động tệ nạn như nạn rải đinh, trấn lột… đủ cả.

Đa số họ đã tự chuyển từ thành phần từ “liên minh” sang thành phần “công nhân” tại các khu công nghiệp. Họ được mệnh danh là “giai cấp tiên phong và có Đảng CS là của giai cấp công nhân, trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân”.

Tại các khu công nghiệp, công nhân được các “ông chủ tư bản bóc lột” tùy thích, không ai bảo vệ họ. Họ “được” bóc lột thậm tệ về ngày công, về giờ làm và nhiều mặt đời sống tinh thần.

Công nhân công ty TNHH Bluecom Vina, cho biết: Cả tuần làm việc, nhiều anh chị em thường xuyên phải tăng ca đến tận 22h đêm nên quá sức chịu đựng. Bên cạnh đó, phía công ty có quy định rõ ràng về việc thứ bảy, công nhân không phải làm tăng ca, tuy nhiên thực tế vẫn thường xuyên phải làm thêm giờ.

Công ty có cả hàng ngàn công nhân, nhưng không tìm ra một tổ chức nào để bảo vệ họ. Vì thế, ngày 11/4/2016  gần 1.000 công nhân công ty TNHH Bluecom Vina tại KCN Tràng Duệ, An Dương, Hải Phòng đồng loạt nghỉ việc đòi thành lập công đoàn.

Hài hước hơn, là nơi có các tổ chức công đoàn hoạt động, thì các tổ chức này cũng là tổ chức của nhà nước quản lý, do đảng lãnh đạo nên hầu như không có tác dụng bảo vệ quyền lợi công nhân.

Hôm nay, 15/4/2016, bức xúc vì một ngày phải làm việc liên tục 12 tiếng đồng hồ nhưng vẫn không đủ chỉ tiêu sản lượng mà công ty đặt ra, các chế độ chính sách cho người lao động cũng không được đảm bảo, hàng ngàn công nhân công ty sản xuất giầy da KaiYang (Đài Loan, đóng trên đường Hoàng Quốc Việt, TP. Hải Phòng) đã đồng loạt bỏ việc.

“Mặc dù công nhân đã kiến nghị rất nhiều lần lên tổ chức công đoàn công ty trong 5-6 tháng nay nhưng tình trạng vẫn không được cải thiện, dẫn đến việc công nhân phải ngưng việc nhằm tạo sức ép lên công ty”. – Bài viết trên tờ Tuổi trẻ cho biết.

Xem ra, bây giờ đảng không mấy quan tâm đến “giai cấp tiên phong” của mình nữa thì phải? Có người nói rằng: Bản chất giai cấp của Đảng đã thay đổi từ lâu.

Chỉ là em mượn tí mà thôi

Còn nhớ, cựu Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết nói chuyện với Việt Kiều về tham nhũng ở VN rằng: “Ở VN của mình, không muốn tham cũng động lòng tham. Người thủ quỹ khi nào cũng giữ khư khư tiền, khi nào cũng có số dư, cho nên khi bí quá thì em mượn chút, mượn không thấy ai đòi hết, thì em mượn thêm chứ không phải VN tham nhũng nhất thế giới đâu” – Đây có lẽ là định nghĩa về tham nhũng hay nhất thế giới cần đưa vào giáo khoa cho toàn thế giới!

Hôm nay, báo chí đưa tin: Nữ kế toán Mặt trận tổ quốc “nuốt” hơn 6,1 tỉ tiền cứu trợ lũ lụt.

Chuyện ở VN tham ô tiền cứu trợ bão lụt, thiên tai thì đã quá nhiều. Từ 2002, Hà Tĩnh đã nổ ra vụ tham ô 24,4 tỷ đồng cứu trợ bão lụt ở Hương Sơn. Thế nhưng đến tận 2006 Bộ Công an mới chỉ đạo điều tra. Người dân nói rằng: Số tiền đó, nó đã ăn, thải ra và tiêu hóa lại biết bao lượt, làm sao mà điều tra. Sau 14 năm tham nhũng, 10 năm chỉ đạo của Bộ Công an, nay sự việc không thấy sủi tăm nữa.

Trước đó ở  Nghệ An cũng đã bị Mặt trận xà xẻo mất 1 tỷ trong 3 tỷ đồng tiền cứu trợ.

Xem ra, cái khoản cứu trợ nhân đạo của người dân là khoản dễ kiếm và bỏ túi nên khắp nơi nở rộ. Chắc vậy nên mới có chuyện nhà nước nhiều địa phương quy định: Muốn cứu trợ thiên tai, phải qua tổ chức nhà nước.

Tổ chức quốc tế Global Financial Integrity có một bản báo cáo: Từ năm 2004-2013, có tới 92,93 tỷ USD được chuyển phi pháp từ VN ra nước ngoài. Nghĩa là mỗi năm người Việt chuyển ra nước ngoài 200.000 tỷ đồng. Nhiều người thắc mắc là tiền ở đâu mà lắm thế?

Xin thưa, tiền từ mỗi người dân, từ tài nguyên, khoáng sản của đất nước, từ xăng dầu, đường đi, thuế má đủ loại và từ những tấm lòng nhân đạo của người dân chứ đâu.

Không chỉ tham nhũng về kinh tế, tiền của, mà những quyền cơ bản của công dân cũng đang bị trấn lột nghiêm trọng. Bản Báo cáo nhân quyền của Mỹ mới đưa ra có những nội dung như sau:

“Theo nhận xét chung của bộ ngoại giao Mỹ, trong lãnh vực nhân quyền, các vấn đề nghiêm trọng nhất tại VN bao gồm: (1) hạn chế nghiêm ngặt các quyền chính trị của công dân, «đặc biệt là quyền thay đổi chính phủ của họ thông qua các cuộc bầu cử tự do và công bằng»; (2) hạn chế quyền tự do dân sự của người dân, trong đó có quyền tự do hội họp, lập hội, và ngôn luận; (3) không bảo vệ đúng mức quyền của người dân được xét xử công bằng, bao gồm quyền được bảo vệ chống lại các hành vi giam cầm vô lý”.

Có lẽ, những thứ này cũng chỉ là “em mượn tí mà thôi” – chỉ có thời gian mượn đã gần 1 thế kỷ nay.

Lãnh thổ giao bạn vàng “quản lý”

Thường, mỗi khi cướp đất của tôn giáo, của người dân, câu cửa miệng của nhà cầm quyền là “Đất đai do nhà nước quản lý” để giải thích việc muốn lấy đất đai, tài sản của dân khi nào là… tự nhiên. Có lần, tôi đã nói với một Phó chánh Thanh tra TP Hà Nội rằng: Sinh ra nhà nước là để quản lý, điều đó không sai, ở đất nước VN này may ra có Hoàng Sa và một phần Trường Sa, nhà nước không chịu quả lý cho dân nhờ thôi” – Ông ta đánh trống lảng.

Báo Thanh niên cho biết: “Hai quan chức Mỹ cho hay đã có một loạt chuyến bay đến và đi từ đá Chữ Thập trong ngày 8 và 10/4, sử dụng các loại máy bay thường được dùng để chuyên chở các quan chức cấp cao Trung Quốc là Airbus 319 và Bombardier CRJ. Vì thế, đây rõ ràng là chuyến thăm của một quan chức thuộc hàng cấp cao đến Trường Sa”.

Thời gian qua, nhiều thông tin về biển đảo của VN đang bị Trung Cộng xâm lược, chiếm đóng, bồi đắp hiện ra sao, lại không đến từ hệ thống phát ngôn của nhà nước Việt Nam, hài hước thay lại từ Mỹ và quan chức Mỹ.

Trên báo VN hôm nay đưa tin: “Mỹ đã quyết định triển khai binh sĩ tới 5 căn cứ quân sự Philippines do ngày càng lo ngại về sự phô bày thanh thế của Trung Quốc ở Biển Đông, nơi có tranh chấp chủ quyền biển gay gắt liên quan đến nhiều nước, bao gồm Việt Nam”.

Hoặc là: “Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thăm tàu ​​sân bay ở biển Đông“

Nhưng, không thấy xuất hiện các thông tin về việc quân đội VN, cảnh sát VN thực hiện bảo vệ biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa, cũng như các động tác của nhà nước như thế nào trước hành động ăn cướp lãnh thổ của Trung Quốc.

Hình như, cho đến nay, việc lãnh hải, lãnh thổ và biển đảo đang được giao cho “bạn vàng” quản lý đã là chuyện không cần bàn cãi. Và chuyện đó không còn thuộc trách nhiệm của nhà nước VN?

Cũng qua báo chí gần đây, người ta thấy những việc về nhân quyền, tù nhân chính trị…, khi động đến nhà nước cứ như đỉa phải vôi và la làng rằng đây là “can thiệp nội bộ”. 12 năm trước, tháng 10 năm 2004, bà Tôn Nữ Thị Ninh từng nói tại buổi họp báo tại CLB Báo chí Quốc gia Hoa Kỳ vào về chuyện người chống đối chính quyền bị bắt rằng: “Trong gia đình chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh thì để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó, dĩ nhiên là trừng trị theo cách của chúng tôi. Các anh hàng xóm đừng có mà gõ cửa đòi xen vào chuyện riêng của gia đình chúng tôi”.

Thế nhưng, việc chủ quyền, lãnh thổ bị “bạn vàng” cướp chiếm, thì lại để “hàng xóm” không chỉ gõ cửa đòi xen vào, mà còn đưa luôn cả súng đạn, quân đội đến thì lại im lặng?

Oái oăm thay, người đến giúp đỡ, lại chính là “kẻ thù trước mắt và lâu dài” (theo quan điểm của Đảng) là Đế quốc Mỹ.

Ngẫm đến từ “bạn 16 chữ vàng, bốn tốt” giữa Việt Nam và Trung Cộng mới thấy hài hước làm sao. Thực chất, cần phải nói rõ rằng đây là “bạn vàng” của Đảng CSVN chứ không phải của nhân dân Việt Nam. Hai chủ thể đó khác nhau và chọn lựa khác nhau. Bạn vàng của Đảng thường là các nhà, các chế độ độc tài như Saddam Hussein, Gadhaphi, Hugo Chavet, Kim Dâng Un, Tập Cận Bình và cả Putin – một tên độc tài quân phiệt mới gốc Cộng sản.

Trên thế giới, người ta đã bỏ cách kết bè, kết cánh theo kiểu “đồng chí” của cộng sản. Chỉ riêng mấy nước Cộng sản còn sót lại vẫn bám theo kiểu “bạn bè đồng chí” hết sức u mê này mà coi nhẹ quyền lợi đất nước.

Mỹ, Nhật, Đức và các nước lớn, ngay cả Nga không có bạn bè, chỉ có đồng minh và quyền lợi của đất nước là trên hết. Do vậy họ đã hành động sáng suốt không hề nhầm lẫn theo kiểu ý thức cộng sản.

Mới đây, phát biểu của Bộ trưởng Ngoại giao Nga – người bạn cũ của VN – về Biển Đông như một cái tát mạnh vào những người đang hóng hớt và hy vọng hão huyền về cái gọi là truyền thống hữu nghị một thời dĩ vãng nay vẫn bám riết đầu mấy vị lãnh đạo VN. Không hiểu những cái tát đó có làm tỉnh ra mấy cái đầu kia không?

Xem ra, với tư duy này, thì chuyện “Tàu hỏa phanh gấp nhường đường cho xe máy” không chỉ xảy ra trong đời sống xã hội, mà cả trong đời sống chính trị, đối ngoại của VN.

Lượng tiền người Việt chuyển ra nước ngoài tăng đột biến

Lượng tiền người Việt chuyển ra nước ngoài tăng đột biến

Nhân viên ngân hàng đếm tiền đôla Mỹ tại trụ sở chính của Vietcombank ở Hà Nội.

Nhân viên ngân hàng đếm tiền đôla Mỹ tại trụ sở chính của Vietcombank ở Hà Nội.

14.04.2016

Một báo cáo vừa được Viện nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) công bố hôm thứ Hai cho biết lượng tiền gửi từ Việt Nam ra nước ngoài tăng đột biến, lên đến 7,3 tỷ đôla. Đây được xem là diễn biến ‘bất thường’ cần phải được theo dõi.

Theo báo cáo Kinh tế vĩ mô quý 1/2016 của VEPR, số liệu thống kê đến quý 3/2015 cho thấy những diễn biến bất thường xảy ra sau sự kiện Trung Quốc phá giá đồng Nhân dân tệ vào tháng 8/2015. Theo đó, cán cân tổng thể đang cân bằng chuyển sang thâm hụt lớn tới mức 6,6 tỷ đôla trong quý 3/2015 do cán cân tài chính đổi chiều.

Theo phân tích của chuyên gia VEPR, hai yếu tố quan trọng của cán cân tài chính là dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài không có biến động đáng kể, trong khi dòng vốn đầu tư khác mà chủ yếu là tiền gửi ở nước ngoài đã gia tăng đột biến lên mức 7,3 tỷ đôla.

Báo cáo của VEPR cho đây là diễn biến bất thường cần phải được tiếp tục theo dõi.

Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành của VEPR nói đây là diễn biến bất thường này một phần có thể xem như tình trạng “bẫy thanh khoản” với ngoại tệ của hệ thống ngân hàng.

Báo cáo cũng cho biết ngân sách Việt Nam tiếp tục bị thâm hụt lớn. Trong khi báo cáo của chính phủ Việt Nam trình Quốc hội cho biết ước tính thâm hụt ngân sách năm 2015 ở mức 6,34% GDP, VEPR lại đưa ra con số là 7%, lớn hơn nhiều so với mục tiêu 5% GDP mà Quốc hội Việt Nam đề ra.

Theo Vietnamnet, Thanh Niên, Báo Đất Việt.

Bác Quang

Bác Quang

tuongnangtien

tuongnangtien's picture

RFA

Năm 2006, khi chỉ mới có tin bác Triết sắp trở thành chủ tịch nước (thôi) mà dư luận – trong cũng như ngoài nước – đã râm ran tán thưởng quá xá. Ký giả  Karl D John (Asia Times) hăm hở đưa tin:

“Nguyen Minh Triet, 63, another southerner, was confirmed as president by the National Assembly on Tuesday… And there is a widespread perception he will be more active than his predecessor, particularly in implementing economic and legal reforms that pave the way for Vietnam’s accession to the World Trade Organization (WTO) this year” – Theo nhận xét chung thì ông sẽ năng nổ hơn người tiền nhiệm, đặc biệt trong lĩnh vực cải tổ kinh tế và pháp luật, làm nền cho VN gia nhập tổ chức WTO trong năm nay.”

Bác Quang – ngày nay, tiếc thay –  không có được sự chào đón nồng nhiệt tương tự. Không những thế, ông còn bị nhiều điều tiếng dèm pha hay dè bỉu:

– Lê Minh Nguyên: “Đầu tiên phải nói là ông ta sửa lại khai sinh để từ năm đúng là 1950 thành năm giả là 1956, một sự gian dối dễ chứng minh qua các văn bản hộ tịch và bằng cấp bị so le, nó nói lên tính toán tham vọng quyền lực của ông ta.”

– Trần Hồng Tâm: “Ông Trần Đại Quang, sinh năm 1956, vẫn còn dưới 65 tuổi. Nhưng có người đã chứng minh rằng ông sinh năm 1950. Ông đã sửa số 0 thành số 6 trên giấy khai sinh. Sau khi bị tố giác, ông đã sử dụng ảnh hưởng của mình tại nguyên quán làm ra một giấy khai sinh mới ‘hợp lệ’ hơn. Riêng tiêu chuẩn đầu tiên về tuổi tác ông đã để lại không ít tai tiếng.”

– Bùi Thanh Hiếu: “Không ồn ào gây chú ý, bộ trưởng công an Trần Đại Quang leo lên chức Chủ Tịch Nước một cách êm thắm không gặp phải bất kỳ sự trở ngại nào. Con đường của Trần Đại Quang tiến thân trong ngành công an cũng khá suôn sẻ… Con đường của Quang đi chỉ gặp sóng gió duy nhất một lần đó là bị các đối thủ vạch ra chuyện Quang khai gian đến 6 tuổi.

Cả ba nhân vật dẫn thượng – rõ ràng – đều là những người không đủ lượng bao dung. Họ đều để ý đến cái chi tiết rất nhỏ nhặt (“sửa số 0 thành số 6”) trên tờ giấy khai sinh của bác Quang, rồi cứ thế mà vu vạ đó là việc làm thiếu lương thiện và vô cùng tai tiếng.”

Tai tiếng (mẹ) gì! Chớ có ai biết vị chủ tịch đầu tiên của Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà – Hồ Chí Minh – tên tuổi (chính xác) ra sao đâu mà toàn dân vẫn đời đời nhớ bác Hồ vỹ đại đấy thôi. Nói gần nói xa, chả qua nói thiệt là thiên hạ chỉ vì ghanh ghét với cái chức vụ cao qúi (Chủ Tịch Nước) của bác Quang nên mới cố vạch lá tìm sâu hay bới bèo ra bọ.

Riêng ông Nguyễn Gia Kiểng lại còn đi quá xa khi cho rằng “một chủ tịch nước như ông Trần Đại Quang khác gì một vết lọ nghẹ quẹt lên mặt dân tộc Việt Nam?”

Ơ hay, sao lại thế nhỉ? Về ngoại hình, bác Quang đâu có kém cạnh gì bác Triết. Còn về diện mạo thì trông đỡ tối tăm hơn bác Sang thấy rõ, đúng không? Sao hai bác kia nhậm chức suôn sẻ, và hạ cánh an toàn mà bác Quang lại bị coi như là “một vết lọ nghẹ quẹt lên mặt dân tộc Việt Nam” – hả Giời?

Ảnh lấy từ trang: talawas

Ông Nguyễn Gia Kiểng còn nhất định cho rằng: “Trong nhà tù nhiều khi tù nhân phải trả tiền để ‘được’ còng bằng những chiếc còng không nhiễm trùng HIV. Dưới sự lãnh đạo của Trần Đại Quang công an cũng làm tiền trắng trợn hẳn hơn trước….”

“Trước” là hồi nào vậy cà? Khi HIV chưa xuất hiện thì làm sao có cái vụ (tai tiếng) trả tiền để “được” đưa chân vào những cái còng không nhiễm trùng được chớ? Ở giai đoạn này, Việt Nam còn dùng sổ gạo và tem phiếu và người dân chỉ cần vài điếu thuốc lá lẻ cũng đủ bôi trơn bộ máy (“Samit là nói ít hiểu nhiều, Ba Số Năm vừa nằm vừa ký”) nên mấy ông Bộ Trưởng Công An tiền nhiệm đỡ mang tiếng hơn ông Quang là chuyện tất nhiên.

Tương tự như ông Nguyễn Gia Kiểng, nhiều người cứ nhất định cho rằng Bộ Công An dưới thời Trần Đại Quang tệ hại hơn thời trước rất nhiều:

  • Các vụ ép cung, tra tấn, đánh người cho tới chết, xẩy ra thường xuyên trong đồn công an.
  • Chuyện chạy án, chạy tiền để được phóng thích vào những đợt ân xá là hiện tượng phổ biến.
  • Công an giả dạng côn đồ để đánh người, và vứt cứt đái hay mắm tôm vào nhà dân xẩy ra ở khắp mọi nơi.

May mắn là trong giới truyền thông vẫn còn những người sáng suốt nên những vấn nạn vừa nêu đã được nhìn nhận một cách khách quan hơn:

“Nhiều người tưởng rằng khoảng 5-6 năm gần đây mới rộ lên hiện tượng công an đánh chết dân, nhưng thật ra thì điều đó đã xảy ra hàng chục năm rồi, kể từ khi đảng Cộng sản cầm quyền. Thậm chí ngày trước công an đánh chết còn nhiều dân hơn ngày nay ấy chứ. Chẳng qua là đến bây giờ, một phần trong số những câu chuyện thương tâm ấy mới được đưa lên mặt báo và nhất là lên Facebook mà thôi. Con số 226 người chết trong thời gian bị tạm giam, tạm giữ (ba năm 2011-2014) là con số trong một báo cáo của Bộ Công an và được báo chí trích đăng; ngày trước, làm gì có chuyện Bộ Công an có những báo cáo như thế và báo chí công bố như thế.”

Ảnh lấy từ trang: donghoavangtuthuc

Tôi vô cùng tâm đắc với nhận định vô tư và chính xác (thượng dẫn) của nhà báo Đoan Trang. Chả có gì bảo đảm được rằng dưới thời Bùi Thiện Ngộ, Lê Minh Hương, Lê Hồng Anh … những vụ “tự tử” trong đồn công an hay nạn ép cung, mớm cung, chạy án … lại ít hơn bây giờ. Chả qua là mọi việc đều có thể được dấu kín như bưng nên công luận không biết đến thôi.

Trong số tất cả lời tố cáo ghi trên chỉ có điều duy nhất xác thực là vấn nạn công an thường giả dạng côn đồ để vứt cứt đái hay đổ nước hôi thối vào nhà dân chúng. Hiện tượng này quả là hoàn toàn mới lạ, và mang đậm dấu ấn của cái thời mà ông Trần Đại Quang giữ chức vụ Bộ Trưởng Công An.

Đây tuy là những hành vy bẩn thỉu và đê tiện nhưng (nói nào ngay) hoàn toàn không độc ác. Chả làm ai chết cả chết cả. Trần Đại Quang – ít nhất – cũng  chưa bao giờ bị kết án là sát nhân (hãm hiếp người tình của lãnh tụ, lấy búa đập vào đầu nạn nhân, rồi vứt xác ra đường cho xe cán) như Trần Quốc Hoàn – Bộ Trưởng Công An đầu tiên của nước VNDCCH.

Ông Trần Đại Quang cũng không hề bị tai tiếng như hai ông Phạm Hùng và Mai Chí Thọ trong những vụ thu vàng bán bãi vượt biên, đẩy vô số người dân ra khỏi nước, khiến hàng triệu thuyền nhân đã chết chìm giữa biển khơi (*). Thời ông Quang phụ trách ngành công an tuy Việt Nam cũng có không ít thuyền nhân (những thuyền nhân mới, nouveaux boat people) hay còn gọi là “người rơm” nhưng số lượng những kẻ mất mạng giữa đường hay mất mát tài sản để chung chi cho những chuyến vượt biên đều không đáng kể – nếu so sánh với những đợt di tản của đám “thuyền nhân cũ” (ancient boat people) hồi cuối thế kỷ trước.

Nguồn ảnh: facebook

Những “điểm son” kể trên, tiếc thay, đã không được công luận biết đến. Thiên hạ, nếu không chê bai hay dè bỉu thì cũng chỉ nói đến việc đăng quang của vị tân chủ tịch nước, cũng chả khác chi với chuyện tái đắc cử chức vụ TBT, với giọng điệu chán chường hay … huề vốn.

Xin đơn cử một thí dụ, đọc được trên trang FB của BBC:

“Ừ thì cơ mà ai lên làm thì đời sống Công Nhân vẫn vậy, như 20 năm qua cũng ko thay đổi đc là bao nhiêu đáng kể. Vẫn ở cái nhà trọ chật hẹp, vẫn ko biết khi nào mới mua nổi nhà để an cư lạc nghiệp, vẫn bữa cơm ăn cho có để làm, vẫn nỗi lo con cái những hôm tăng ca cả hai với chồng thì ko biết ai đón gửi ai…

Còn Nông Dân vẫn vậy vẫn tự bơi với ruộng đồng, vẫn điệp khúc được mùa mất giá, vẫn mất mùa thì do thiên tai được mùa thì do tài tình lãnh đạo của Đảng, vẫn điệp khúc hàng ngoại giết chết hàng nội, vẫn điệp khúc Trung Quốc ko thu mua thì đành đổ bỏ.

Rồi giá xăng vẫn cao ngất ngưởng so với thế giới, học phí viện phí vẫn tăng, các loại thuế phí khác vẫn tăng ko hề giảm. Vẫn nỗi lo gánh nặng tiền học cho con, vẫn nỗi lo gánh nặng lỡ xui đi viện..

Đến bệnh viện, đến chốn công quyền vẫn phải xin xỏ, chầu chực, vẫn phải bôi trơn. Vẫn tham ô, tham nhũng, cái mặt Quan vẫn vác ngược khênh kiệu hạch sách nhân dân .Vẫn thực phẩm độc hại, vẫn mọi thứ còn nguyên.

Các ông ấy chẳng ai buồn hứa với Dân khi tôi làm Cán Bộ tôi sẽ làm gì để giải quyết bớt vấn đề của nhân dân bức xúc bấy lâu nay. Các ông vẫn cứ đọc cái mớ lý thuyết suông, vẫn nói suông.. Những bài chính trị mà chúng tôi cũng thuộc…”

http://www.rfavietnam.com/node/3170

Rõ ràng toàn là những đòi hỏi quá đáng, và … quá quắt. Ngay đến bác Hồ mà còn không bảo vệ được cả vợ lẫn con, bác Tôn cũng chỉ có mỗi một việc làm là … sửa xe đạp cho nó qua ngày đoạn tháng thì bác Quang biết làm sao hơn và làm gì khác được?

Tưởng Năng Tiến

(*)Death Tolls and Casualty Statistics Vietnam – Vietnamese Boat People

  • Jacqueline Desbarats and Karl Jackson (“Vietnam 1975-1982: The Cruel Peace”, in The Washington Quarterly, Fall 1985) estimated that there had been around 65,000 executions. This number is repeated in the Sept. 1985 Dept. of State Bulletin article on Vietnam.
  • Orange County Register (29 April 2001): 1 million sent to camps and 165,000 died.
  • Northwest Asian Weekly (5 July 1996): 150,000-175,000 camp prisoners unaccounted for.
  • Estimates for the number of Boat People who died:
    • Elizabeth Becker (When the War Was Over, 1986) cites the UN High Commissioner on Refugees: 250,000 boat people died at sea; 929,600 reached asylum
    • The 20 July 1986 San Diego Union-Tribune cites the UN Refugee Commission: 200,000 to 250,000 boat people had died at sea since 1975.
    • The 3 Aug. 1979 Washington Post cites the Australian immigration minister’s estimate that 200,000 refugees had died at sea since 1975.
      • Also: “Some estimates have said that around half of those who set out do not survive.”
    • The 1991 Information Please Almanac cites unspecified “US Officials” that 100,000 boat people died fleeing Vietnam.
    • Encarta estimates that 0.5M fled, and 10-15% died, for a death toll of 50-75,000.
    • Nayan Chanda, Brother Enemy (1986): ¼M Chinese refugees in two years, 30,000 to 40,000 of whom died at sea. (These numbers also repeated by Marilyn Young, The Vietnam Wars: 1945-1990 (1991))
  • Rummel
    • Vietnamese democide: 1,040,000 (1975-87)
      • Executions: 100,000
      • Camp Deaths: 95,000
      • Forced Labor: 48,000
      • Democides in Cambodia: 460,000
      • Democides in Laos: 87,000
      • Vietnamese Boat People: 500,000 deaths (50% not blamed on the Vietnamese government)

 

Nguy cơ bầy đàn từ cơ chế bầy đàn

Nguy cơ bầy đàn từ cơ chế bầy đàn

Blog RFA

VietTuSaiGon

17-4-2016

Một thời đại bầy đàn sẽ sinh ra những thế hệ, thông qua cơ chế lãnh đạo, những lớp người mang tâm lý bầy đàn và bản năng, dục vọng sẽ lên tiếng thay thế tiếng nói của đạo đức, phẩm hạnh hay tình người. Đó là cái giá phải trả của bất kỳ cộng đồng, dân tộc nào sống dưới cơ chế bầy đàn.

Hình ảnh người ta chen chúc nhau, hú hét và đạp rào chắn để tranh chỗ dâng lễ trong ngày giỗ Tổ Hùng Vương vào Mồng Mười tháng Ba âm lịch năm nay tại Phú Thọ như một trái phá đánh thẳng vào những ai ngây ngô với niềm tin rằng người Việt Nam rồi đây sẽ tốt đẹp hơn trong chế độ xã hội chủ nghĩa đích thực. Bởi các đời Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ quan điểm: “Chúng ta đang trong giai đoạn quá độ lên xã hội chủ nghĩa, khi mà kinh tế chúng ta đủ mạnh, đủ bền thì chúng ta sẽ là một thiên đường xã hội chủ nghĩa…”.

Đó là một loại lý lẽ mị tính, chẳng có gì để bàn. Vấn đề cần bàn ở đây chính ở chỗ ngay cả trong lòng miền Bắc, trước năm 1975, hầu như không có kiểu xô bồ như hiện tại. Và tại miền Nam Việt Nam, trước 1975 sạch sẽ, văn minh bao nhiêu thì sau 1975, mọi thứ trở nên xô bồ, hỗn độn bấy nhiêu. Điều này cho thấy vấn đề gì? Và đâu là nguyên nhân?

Trước nhất, hình ảnh người ta chen lấn nhau để chờ ăn sushi miễn phí hay xô dẩy, giẫm đạp nhau để nhận quà, đạp nhau để tranh phết cầu may, chen chúc, hú hét, giẫm đạp lên nhau để đội lễ lên đền Hùng… Tất cả đều khái quát tính bầy đàn và man rợ mà những đám đông này có được.

Điều này có phải do nguyên nhân từ chỗ xếp hàng chầu chực miếng thiếu ăn, sợ đói khổ và sợ cắt mất phần ăn ở thời kinh tế tập trung bao cấp để lại? Phải, nhưng đó chỉ là một phần của nguyên nhân. Thời kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa kéo qua đất nước này đã ngót nghét 30 năm, kể từ 1986 đến 2016. Ba mươi năm đủ để người ta thay đổi cho hợp thời đại và hợp với phông văn hóa chung. Hơn nữa suốt 30 năm không có xếp hàng chầu chực miếng ăn, không đến nỗi đói khổ, không đến nỗi quá lo lắng về miếng ăn, cái mặc nhưng tại sao người ta vẫn cứ hành xử mông muội, bầy đàn?

Điều này bắt buộc phải coi lại chế độ cầm quyền, bởi đó là thứ qui luật đương nhiên, một chế độ cầm quyền tử tế sẽ cho ra những sách lược tử tế và có những chính sách xã hội tử tế để cuối cùng là một xã hội tử tế hình thành dưới chế độ cầm quyền đó. Ngược lại, một chế độ cầm quyền bầy đàn và mông muội sẽ sinh ra những sách lược bầy đàn, mông muội để cuối cùng là kéo theo cả một dân tộc bầy đàn, mông muội dưới bàn tay cai trị của chế độ đó.

Điều này buộc phải coi lại cơ chế cầm quyền của đảng Cộng sản Việt Nam! Tuy rằng cơ chế kinh tế đã chuyển đổi theo hướng thị trường nhưng cách hành xử, sách lược và chủ trương của đảng Cộng sản Việt Nam vẫn đậm đặc tính bầy đàn, mông muội.

Tính bầy đàn, mông muội từ Hiến Pháp và trên cả Hiến Pháp, một chuyện chỉ có trong chế độ Cộng sản. Điều 4 Hiến Pháp đã qui định đảng Cộng sản là đảng lãnh đạo duy nhất, như vậy, tính độc tài đã được pháp chế hóa, bên cạnh đó, luận cương và điều lệ đảng luôn đặt cao hơn  Hiến Pháp, điều này cho thấy tính bầy đàn của đảng Cộng sản cao hơn bao giờ hết. Bởi nếu không đặt nặng quyền lợi cũng như không coi trọng tính bảo thủ, tính bầy đàn thì người ta không thể đặt lợi ích của đảng lên trên lợi ích của dân tộc.

Một khi đã đặt lợi ích dân tộc bên dưới để đặt lợi ích của đảng Cộng sản lên cao hơn thì cơ chế lãnh đạo và cai trị của nó sẽ đậm tính bầy đàn. Tính bầy đàn nhen nhóm từ chỗ lợi ích nhóm, từ chỗ muốn yên thân hay muốn vinh thân phì gia thì phải có tính đảng, phải theo đảng và phải là đảng viên, phải nằm trong hệ thống của đảng. Điều này vô hình trung đẩy xã hội vào tâm lý bầy đàn, muốn có sức mạnh thì phải có bầy đàn, muốn tiến thân thì phải có đảng.

Cái tâm lý bầy đàn này nhen nhóm, hình thành và phát triển kể từ khi trẻ em bắt đầu tham gia Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh cho đến lúc tham gia Thanh Niên Đoàn để rồi cố gắng, nỗ lực học điều lệ đảng và để được nhắm đối tượng đảng, được kết nạp đảng. Vô hình trung, đảng trở thành bầy đàn ưu tú, bầy đàn mạnh nhất giữa những bầy đàn bị xô ra khỏi chuồng có nhiều thức ăn và (ngoại trừ những thành phần trí thức, hiểu biết và có phản biện xã hội, có tư duy độc lập, dân chủ) những thành phần không được vào đảng, không được kết nạp vào bầy đàn ưu tú, bầy đàn mạnh nhất thì sẽ tìm cách tồn tại giữa một rừng bất an vì không có chỗ chống lưng.

Và một khi sống giữa rừng bất an, phải đối mặt với hàng trăm thứ bất công, trong đó chủ yếu là bất công do bầy đàn mạnh nhất mang lại, bản năng sinh tồn của người ta phải trỗi dậy như một cơ chế đề kháng tự nhiên. Trong khi đó, tiến trình phát triển tâm lý bầy đàn trong xã hội lại là thứ cần thiết nhất của bầy đàn mạnh nhất, cụ thể ở đây là đảng Cộng sản. Bởi tính bầy đàn nổi dậy càng mạnh thì tính tĩnh lặng, sự minh triết càng mất đi tỉ lệ. Khi cả đất nước thành một đám đông hò hét thì bầy đàn mạnh nhất, hung hăng nhất sẽ dễ dàng lãnh đạo cái đám đông hò hét, hầm hố và bầy đàn còn lại.

Trong khi đó, ngược lại, với một đất nước mà giá trị suy tư, giá trị tư lự và chiêm nghiệm đã thấm nhuần trong mỗi cá thể công dân, người ta nghĩ đến phẩm hạnh và đạo đức thì chắc chắc người ta phải coi trọng giá trị con người, coi trọng tính sáng tạo và tính độc lập, coi trọng tự do… Và để có những điều đó, người ta buộc phải đấu tranh, phải tìm và phải hy sinh, thậm chí phải sẵn sàng chấp nhận mọi rủi ro trước sức mạnh bầy đàn thủ lĩnh. Và đây là điều mà nhà cầm quyền bầy đàn không bao giờ mong xảy ra, họ phải triệt tiêu bằng mọi giá.

Những động thái triệt tiêu không phải ngày một ngày hai mà được. Ngay từ đầu thống nhất hai miền bằng màu cờ Cộng sản, người Cộng sản đã thực hiện chính sách Độc Thần của họ bằng cách tôn thờ Hồ Chí Minh, ướp xác của ông và thờ phụng trong lăng trang nghiêm, dành cơ hội đi thăm lăng ông cho những thành phần ưu tú trong xã hội. Tiếp đó là đập phá đền đài, miếu mạo, đạp đổ thần linh trong nhân dân. Một khi thần linh trở thành mối đe dọa trong nhân dân, sự tôn thờ và kính ngưỡng có thể trở thành mối nguy cho tính mạng thì người ta hoặc là bỏ trốn đi nơi khác hoặc là chấp nhận mình vô thần để được yên thân.

Và trong cái sinh quyển vô thần của nhân dân, có một ông thần Hồ Chí Minh luôn ngự trị, ông trở thành thần hộ mệnh cho bất kì ai dưới triều đại Cộng sản xã hội chủ nghĩa. Và đến khi ông thần Hồ Chí Minh đã chính thức được phong thần, đã được chính mồm mép của các ông sư bà ni hay cha đạo đội nón cối xác quyết là bố tát, là thánh… Thì việc còn lại của đảng độc tài và độc thần là phải tạo ra những bộ đệm thần linh. Chính những bộ đệm thần linh này sẽ đảm bảo tính lâu dài của chủ nghĩa Độc Tài và Độc Thần. Vì sao?

Bởi hiện tại, một khi chủ nghĩa vô thần đã trở nên nhảm nhí trong nhân dân và toan tính độc thần cũng bị lung lay bởi những nhà đấu tranh dân chủ, nhân quyền, bởi những tương tác trong thế giới phẵng thời đại internet và bởi những bí mật xấu của lãnh tụ bị bạch hóa thông qua thế giới mạng, thông qua những trang mạng xã hội, hình ảnh của ông thần Hồ Chí Minh trở nên méo mó và không còn đảm bảo tính linh thiêng của nó nữa.

Lúc này, nhu cầu xây dựng một lớp đệm thần linh sẽ cao hơn bao giờ hết, tái xây dựng, phục chế và thậm chí xây mới đền đài miếu mạo, lăng tẩm, điện… Và tổ chức các hoạt động nhảy ốp đồng hay cầu cơ, các sinh hoạt tâm linh giả cầy được phép hoạt động hết công suất dưới sự bảo trợ của đảng cầm quyền. Và đương nhiên, một phần mê tín dị đoan và một phần tâm linh thuần nhiên trong nhân dân được đánh thức. Lúc đó, nhà cầm quyền nghiễm nhiên lồng ghép, đan xen hoạt động tâm linh với hoạt động chính trị.

Không cần tinh ý người ta cũng dễ dàng nhận thấy bất kì ngôi chùa quốc doanh hay đền miếu quốc doanh nào cũng có tượng Hồ Chí Minh. Trong khi đó, chùa chiền, miếu mạo, nhà thờ quốc doanh chiếm số lượng cao và hoạt động rất mạnh.

Khi người ta qùi mọp lạy khấn thần linh là lúc mọi niềm tin ký thác vào hành vi vái lạy. Và khi người ta ngước lên thấy Hồ Chí Minh đứng trên cả thần linh cũng là lúc người ta buộc phải treo niềm tin trên sợi dây huyễn hoặc của tâm hồn mình. Một thế giới bầy đàn ra đời trong một nhà nước bầy đàn và những hoạt động xã hội ngày càng bầy đàn hơn để đảm bảo cho bầy đàn lãnh đạo được yên vị. Đó là tất cả những gì chúng ta có thể nhìn thấy ngày hôm nay và đừng hỏi vì sao ngày càng đông người Việt Nam hành xử bầy đàn mà chỉ cần hỏi cơ chế lãnh đạo của  đảng Cộng sản có phải là cơ chế bầy đàn hay không là đủ!

Tổng thống Myanmar ân xá cho hơn 80 tù nhân

 Tổng thống Myanmar ân xá cho hơn 80 tù nhân

Tổng thống Myanmar Htin Kyaw cho biết ông Htin Kyaw ký lệnh này với mục tiêu “hòa giải trên cả nước” nhân khởi đầu năm mới của Phật giáo.

Tổng thống Myanmar Htin Kyaw cho biết ông Htin Kyaw ký lệnh này với mục tiêu “hòa giải trên cả nước” nhân khởi đầu năm mới của Phật giáo.

17.04.2016

Tổng thống Myanmar Htin Kyaw vừa ân xá cho 83 tù nhân được cho là đã bị giam cầm vì những lý do chính trị.

Văn phòng tổng thống loan báo lệnh ân xá hôm Chủ nhật, và cho biết ông Htin Kyaw ký lệnh này với mục tiêu “hòa giải trên cả nước” nhân khởi đầu năm mới của Phật giáo.

Tân chính phủ được bầu chọn dân chủ của Myanmar do Liên minh Dân chủ Toàn quốc của bà Aung San Suu Kyi thống lãnh bãi bỏ cáo buộc đối với mấy trăm người hoạt động dân chủ bị truy tố dưới chế độ quân nhân cầm quyền trước đó đã cai trị nước này năm thập niên cho đến khi giao lại quyền hành cho chính phủ bán dân sự vào năm 2011.

Trong phát biểu trên truyền hình toàn quốc, Tổng thống Htin Kyaw hứa sẽ trả tự do cho “các tù nhân chính trị, những người hoạt động chính trị, và các sinh viên bị truy tố liên quan đến chính trị.”

Liên minh Dân chủ Toàn quốc lên nắm quyền tại Myanmar, còn gọi là Miến Ðiện, hồi tháng trước sau khi giành thắng lợi áp đảo trong cuộc tổng tuyển cử hồi tháng 11.

Bà Aung San Suu Kyi, người bị quản thúc tại gia hai thập niên, không làm tổng thống được theo quy định của hiến pháp do quân đội đặt ra trước đó.  Nhưng bà giữ chức ngoại trưởng và chức “cố vấn nhà nước,” và cách đó cho phép bà lãnh đạo chính phủ thông qua người làm tổng thống.

Vì sao gần nửa triệu doanh nghiệp ngừng hoạt động?

Vì sao gần nửa triệu doanh nghiệp ngừng hoạt động?

Nam Nguyên, phóng viên RFA

000_Hkg10113116.jpg

Một cửa hàng quần áo bán các sản phẩm sản xuất trong nước ở trung tâm thành phố Hà Nội ngày 29 tháng 10 năm 2014.

AFP PHOTO

Your browser does not support the audio element.

Khó có nền kinh tế nào có thể cất cánh trong tình trạng doanh nghiệp chết hàng loạt, giải thể hay ngừng hoạt động. Giới chuyên gia mô tả tình trạng bất bình thường, qua sự kiện 46% doanh nghiệp ngừng hoạt động trong vòng 10 năm qua. Nam Nguyên trình bày một số khía cạnh liên quan.

Theo các số liệu chính thức của các cơ quan chuyên môn như Tổng cục Thống kê, Cục Quản lý kinh doanh, Bộ Kế hoạch Đầu tư, riêng trong năm 2015, số doanh nghiệp phải ngừng hoạt động là hơn 71.000 đơn vị, tăng hơn 22% so với năm trước. Số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động gia tăng hàng năm, đến nỗi có sự ví von là một doanh nghiệp ra đời chưa kịp tham gia thị trường, thì lại có một doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, gặp khó khăn, lâm cảnh nợ nần và phải ngừng hoạt động.

“ Việt Nam nên nghiên cứu một tổ chức giúp đỡ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì đây thể hiện hơn 90% tổng số doanh nghiệp.
– Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành”

Có nhiều nguyên do để doanh nghiệp tư nhân Việt Nam phải rời sân chơi thị trường, thứ nhất là cạn vốn mà không có chỗ để vay thêm. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì giá thành cao, phẩm chất hàng hóa chưa tốt vì công nghệ lạc hậu, năng suất lao động thấp. Ngoài thuế và phí theo qui định, tất cả doanh nghiệp ở Việt Nam dù công hay tư đều phải chấp nhận những khoản chi tiêu không chính thức, không biết kê vào mục nào.

Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành, một Việt Kiều về nước làm việc ở Hà Nội từ hơn 20 năm qua, nhận xét về nguyên nhân mà ông cho là lớn nhất khiến các doanh nghiệp tư nhân chết hàng loạt.

“Khó khăn lớn nhất là các doanh nghiệp ấy chưa có được sự hỗ trợ của nhà nước để phát triển từ nhiều mặt. Thí dụ doanh nghiệp chưa tiếp cận được nguồn vốn, nếu tiếp cận được thì lãi suất vẫn còn quá cao. Vì vậy trong thời gian tới cần có chính sách tiền tệ như thế nào để cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận được nguồn vốn với lãi suất hợp lý. Ngoài ra Việt Nam nên nghiên cứu một tổ chức giúp đỡ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì đây thể hiện hơn 90% tổng số doanh nghiệp. Nhà nước nói là tạo mọi điều kiện để cho doanh nghiệp phát triển, thế thì mọi điều kiện đó là cái gì…Nhà nước cần ngồi lại với các doanh nghiệp để đưa ra những quyết sách mới…”

Trò chuyện với chúng tôi, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nguyên thành viên Ban Tư vấn Kinh tế của Thủ tướng Phan Văn Khải, từng phân tích là về nguyên tắc, nguồn tín dụng trên thị trường mà các doanh nghiệp tư nhân trông chờ có thể bị giảm đi khá nhiều, vì các nhà đầu tư đi tìm lợi nhuận cao hơn và chắc chắn hơn, thông qua việc mua trái phiếu chính phủ được phát hành rất nhiều trong thời gian qua. Trong dịp đề cập tới những vấn đề bất ổn đang giăng bẫy nền kinh tế Việt Nam, chuyên gia Phạm Chi Lan từ Hà Nội nhận định:

“Về khu vực tư nhân trong nước thì rất nhiều doanh nghiệp bị ngừng hoạt động, số ngừng hoạt động cứ tiếp tục tăng lên. Nhiều doanh nghiệp lớn hơn không phải ngừng hoạt động, tình trạng hoạt động khá hơn thì lại đi bán cho các công ty khác qua các thương vụ mua lại sáp nhập… Chính sách của nhà nước vẫn thiên về hỗ trợ nhiều hơn cho khu vực đầu tư nước ngoài, thay vì khu vực tư nhân trong nước…”

000_Hkg10237188.jpg

Một cửa hàng tiện lợi Hàn Quốc ở trung tâm thành phố Hà Nội, ảnh chụp ngày 08 tháng 12 năm 2015.

Theo báo cáo thường niên Doanh nghiệp Việt Nam 2015 do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phổ biến, tổng số doanh nghiệp đã đăng ký thành lập vào khoảng 941.000 đơn vị, tính từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực năm 2000. Riêng trong giai đoạn từ 2007 đến 2015 tổng số doanh nghiệp ngừng hoạt động lên tới 428.000 đơn vị tương đương 45,5% tổng số doanh nghiệp. Như vậy tính đến cuối năm 2015 Việt Nam đang có khoảng 513.000 doanh nghiệp, đại đa số là doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Bên cạnh các vấn đề thuộc về chính sách như thuế, phí và tỷ giá, doanh nghiệp còn bị ảnh hưởng bởi thủ tục hành chính nhiêu khê và bất hợp lý. Vấn đề này vô hình chung góp phần tăng thời gian và chi tiêu của doanh nghiệp. Báo chí Việt Nam thường ví von thủ tục hành chính: hành là chính, còn nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng thì từng cám cảnh, thủ tục bây giờ ác độc lắm không có tiền là không xong.

Trong xu hướng cải cách ở Việt Nam, chuyên gia Bùi Kiến Thành cho rằng việc cần làm ngay là cải cách một cách thực chất về thủ tục hành chính. Ông nói:

“Lãnh đạo nhà nước đã nói bế tắc lớn nhất của chúng ta là vấn đề thủ tục hành chính chưa được khai thông. Cho nên cải cách hành chính là vấn đề ưu tiên hàng đầu đối với việc quản lý nhà nước. Như vậy đã biết hướng đi rồi còn lại là cải cách hành chính như thế nào. Ở cấp Trung ương phải làm gì, ở cấp địa phương thực hiện ra sao, đi đến chỗ những người tiếp cận với nhân dân có thái độ như thế nào để được nhân dân ủng hộ. Việc này không chỉ thay đổi tư duy mà còn là phong cách xử lý trong quan hệ với dân, để cho nhà nước và nhân dân gần nhau hơn, có được sự hợp tác chặt chẽ giữa nhân dân và nhà nước để có thể vươn lên, việc này là ưu tiên hàng đầu…”

Được biết Chính phủ Việt Nam đã tiến hành cải cách hành chính theo nghị quyết 30 năm 2011. Cho đến nay, kế hoạch này đã đi nửa đoạn đường 2011-2020 nhưng kết quả đạt được không đáng kể. Tình trạng này đã được các đại biểu Quốc hội khóa 13 nhận xét nặng nề, trong kỳ họp cuối cùng trước khi mãn nhiệm.

Chuyên gia Bùi Kiến Thành tiếp lời:

“ Chính sách của nhà nước vẫn thiên về hỗ trợ nhiều hơn cho khu vực đầu tư nước ngoài, thay vì khu vực tư nhân trong nước.
– chuyên gia Phạm Chi Lan”

“Muốn cải cách hành chính thì cải cách thể chế như thế nào. Cái gì cần cải cách trong thể chế, cái gì cần phải đưa ra trong những qui định mới, trong việc xử lý công việc của các bộ các ngành như thế nào, tổ chức ra những cơ chế gì để ủng hộ doanh nghiệp phát triển, cơ chế gì để cho nhân dân có thể tham gia phát triển, không chỉ kinh tế mà thôi mà còn về vấn đề tự do, phát huy dân chủ, làm chủ đất nước…”

Tệ nạn tham nhũng làm suy yếu hệ thống công quyền và mất niềm tin của nhân dân. Trong các cuộc hội thảo, giới chuyên gia và cộng đồng doanh nghiệp phản ánh rất nhiều về tình trạng phải thực hiện các khoản chi không chính thức. Riêng ông Bùi Kiến Thành mô tả tham nhũng ở Việt Nam là một quốc nạn, mà đã đến lúc phải có các nỗ lực quyết liệt để giảm bớt tình trạng này. Ông nói:

“Phòng chống tham nhũng cần phải làm quyết liệt hơn các thời trước, phải có phương pháp nào để trên bảo dưới phải nghe…phải có kỷ cương phép nước như thế nào, để cho các công chức nhà nước thực sự phục vụ nhân dân chứ không phải là lãng quên trách nhiệm của mình là người phục vụ nhân dân…”

Vấn đề doanh nghiệp chết hàng loạt có xu thế gia tăng trong thời gian tới. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thông báo, tân Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đồng ý tổ chức hội nghị đối thoại với doanh nghiệp tư nhân dự kiến vào cuối tháng 4/2016 sắp tới tại Dinh Thống Nhất Saigon. Tân Thủ tướng mong muốn lắng nghe cộng đồng doanh nghiệp để tìm giải pháp phát triển, trong bối cảnh đã có tới 428.000 doanh nghiệp ngừng hoạt động vì khó khăn trong 10 năm qua.

Nào đâu có trăm năm, mà chờ mà đợi?

 “Nào đâu có trăm năm, mà chờ mà đợi?”

Nào đâu có kiếp sau, đâu có kiếp sau, mà đợi mà chờ?”

(Nhạc: Phạm Duy/Thơ: Lưu Trọng Văn – Trăm Năm Bến Cũ)

(1Gioan 3: 23-24)

           Trần Ngọc Mười Hai

Tư-tưởng này, bất chợt đến với bần-đạo sau khi nghe cô em dâu hát lên lời hát của Lưu Trọng Văn trong buổi Hát Cho Nhau Nghe hôm 5/3/2016 ở Sydney.

Tư-tưởng này, đã trở về với bần đạo cũng, sau khi nghe tin …tức từ vị chóp bu Đạo Chúa ở Rôma hôm rồi, rằng:

 “Hôm 21-1-2016, Phòng báo chí Tòa Thánh đã phổ biến thư của ĐTC Phanxicô gửi ĐHY Robert Sarah, Tổng trưởng Bộ Phụng Tự và kỷ luật bí tích, để thông báo quyết định về vấn đề này, và Sắc lệnh của Bộ Phụng tự thay đổi qui luật trong sách lễ theo cùng chiều hướng trên đây.

 Thư của Đức Giáo Hoàng gửi Hồng Y Sarah ký ngày 20-12-2014 có đoạn viết: ”Sau khi suy nghĩ chín chắn, tôi đi đến quyết định du nhập một sự thay đổi trong qui luật của Sách Lễ Roma. Vì thế, tôi qui định thay đổi qui luật theo đó những người được chọn để được rửa chân phải là đàn ông hoặc trẻ nam. Từ nay các vị mục tử của Giáo Hội có thể chọn những người tham dự nghi thức rửa chân trong số tất cả các thành phần dân Chúa. Ngoài ra, nên giải nghĩa thích đáng cho những người được chọn về ý nghĩa nghi thức rửa chân”.

 Trong Sắc Lệnh ký ngày 6-1-2016, Hồng Y Sarah và Đức TGM Tổng thư ký Arthur Roch của Bộ nhắc lại rằng cuộc cải tổ nghi thức Tuần Thánh với Sắc lệnh ”Maxima Redemptionis nostrae mysteria” (Các Mầu nhiệm quan trọng nhất của ơn cứu chuộc chúng ta, ngày 30-11-1955) cho phép cử hành nghi thức rửa chân cho 12 người đàn ông trong Thánh Lễ kỷ niệm Chúa lập phép Thánh Thể.. Khi cử hành nghi thức ấy, các GM và LM được mời gọi trở nên đồng hình dạng trong tâm hồn với Chúa Kitô, ”Đấng đã đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ” (Mt 20,28), và được tình yêu ‘đến cùng’ (Ga 13,1) thúc đẩy, hiến thân cho phần rỗi của toàn thể nhân loại.

 Sắc lệnh nhắc đến quyết định của Đức Phanxicô thay đổi qui luật đó và qui định rằng ”Các mục tử có thể chọn một nhóm như các tín hữu đại diện mỗi thành phần dân Chúa. Nhóm nhỏ ấy có thể gồm cả đàn ông lẫn phụ nữ, người trẻ, người già, người lành mạnh và bệnh nhân, giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân”.

 Do năng quyền Đức Giáo Hoàng ban, Bộ Phụng Tự và kỷ luật bí tích du nhập sự đổi mới này vào trong các sách phụng vụ và nhắc nhớ các vị mục tử về nghĩa vụ giáo huấn thích hợp cho các tín hữu được chọn (rửa chân) cũng như cho những người khác, để họ tham gia nghi thức này một cách ý thức, tích cực và nhiều thành quả”. (X. Lm G. Trần Đức Anh OP, Radio Vaticana 21.01.2016)

 Đọc tin…tức từ đấng bậc chóp bu, bần đạo bầy tôi chạnh nhớ thân phận người nữ-phụ ở Hội thánh. Chạnh lòng rồi nhớ đến nhiều lời bình về sự việc này, trong đó có lời của đấng bậc vị vọng như sau:

“Thánh tổ-phụ Giêrônimô có lần nói: “Khi một nữ-phụ ao-ước được phục-vụ Đức Kitô nhiều hơn cả và thế-gian này, thì khi ấy chị sẽ thôi không còn là phụ-nữ nữa và người ta sẽ gọi chị là nam-nhân.”

 Huyền-thoại Do-thái-giáo khi xưa ta biết được là nhờ sách Sáng Thế Ký được mở để nói rằng Kinh thánh hiểu rõ rất nhiều sự/việc. Huyền-thoại Do-thái-giáo có mục-tiêu diễn-giải điều đó là những gì. Là bảo rằng: nam-nhân là những người mà ta không còn ngờ-vực gì nữa, từng hun-đúc nên các chuyện bí-nhiệm thần-thoại như thế. Để rồi, cuối cùng ra, đã ghi-chú các sự/việc này , do bởi các nữ-phụ trong xã-hội ấy không được tiếp-cận với thứ quyền-lực để diễn-giải mọi sự về Thiên-Chúa và/hoặc cũng chẳng có khả-năng để viết lách và diễn-giải nữa.

 Thêm vào đó, phụ-nữ xưa nay vẫn bị mọi người nghĩ rằng: các chị không thích bon chen tìm hiểu và/hoặc hiểu/biết gì về mọi thứ và cả những thực-tại xảy ra cùng sự thật của các sự-kiện từng xảy ra, nữa. Thế nên, phụ-nữ nói chung không gây ảnh-hưởng nào hết cách trực-tiếp lên các trách-nhiệm này/khác về văn-hoá. Là phụ-nữ, các chị cũng chẳng có quyết-định ban đầu nào khả dĩ có thể tạo hình-hài cùng khuôn-thước về bản-chất của bất cứ sự gì. Các chị cũng không tham-gia dự-phần vào bất cứ tiến-trình tạo quyết-định về sự việc nào hết.

 Thành thử, ai trong chúng ta cũng chẳng lạ gì khi thấy các truyện-kể hoặc bài viết do nam-nhân viết hoặc tạo hình-hài ở Kinh-thánh đều tìm câu trả lời cho thắc-mắc hỏi rằng: làm sao ác-thần/sự dữ lại đi vào công-cuộc tạo-dựng rất tốt đẹp của Thiên-Chúa được. Câu trả lời vẫn có thể có từ lời tuyên-bố bảo rằng: sở dĩ có chuyện đó là do lỗi của thụ-tạo “dưới-cơ con người” do Thiên-Chúa tạo ra để thoả-mãn nhu-cầu của nam-nhân đầu đời. Và ác-thần/sự dữ ấy có tên là nữ-nhân-đầu-đời, tên Evà…”  (Xem thêm Tgm John S. Spong, The Woman as the Source of Evil trong The Sins of Scripture, HarperCollinsPublishers 2005 tr. 87-93)

Nghe các đấng bậc biện-luận với nhau như trên, bần đạo chẳng biết làm gì hơn, là: lại quay về với nhạc-bản của nghệ sĩ họ Phạm phối nhạc cho bài thơ của Lưu Trọng Văn, vẫn hát thêm:

“Trăm năm đầu lỗi hẹn hò,

Chứ cây đa bến cũ, con đò khác đưa…

Thôn-nữ CHỊ, đã qua cầu, thóc lép,

Thôn-nữ EM, như trăng tuột khỏi chồi tay,

Thôn-nữ ÚT, đã lên đòng, nào ai biết.

 Khúc tình xưa, xưa ấy đã xưa rồi,

Con chuồn chuồn không lung nhùng trong mạng nhện.

Con bướm vàng nằm xoài dưới chân anh.

Một vùng trăng cỏ non như níu áo

Ngọn tre xanh đủng đỉnh muộn màng

Á a á a a…

A á ạ à Á à à a…

(Phạm Duy/Lưu Trọng Văn – bđd)

Cũng trong đêm nhạc này, trong hai bài phổ nhạc của nghệ-sĩ Phạm-Duy, bài “Cô Hái Mơ” là bài viết đầu tay của ông và bài “Trăm Năm Bến Cũ” được viết vào cuối đời trong đó tác-giả gói-ghém tâm-sự “Ngày trở về” sau khi đọc bài thơ của Lưu-Trọng-Văn có đầu đề là “Nào Đâu Có Trăm Năm, Mà Chờ Mà Đợi”, rất đúng ý.

Vâng. Ở nhạc-bản trên, chỉ mỗi câu ngâm “Á a à à a ..” thôi, thì tôi và bạn nghe qua cũng đã hiểu. Hiểu rất nhiều, về thân-phận người nữ-phụ, xưa nay. Nói đúng hơn, nữ-phụ khi xưa thì như thế. Còn, phụ-nữ hôm nay, rày đã khác. Khác rất nhiều. Khác, hơn xưa khi người người góp mặt biểu đồng tình với người chị/người em ở thánh hội. Như, lời đấng bậc khác, từng diễn tả như sau:

“Chuyện người nữ-phụ lấy tóc lau chân Đức Giêsu… cho thấy một sự thật. Sự thật là, người nữ-phụ xử-sự theo cách hối-lỗi rất thật-tình và tha-thiết, nên chị ta có được kết quả là đạt được lòng mến tràn đầy từ Đấng có quyền thứ-tha. Ngài tha-thứ, nhưng không phô-trương uy-quyền được Cha Ngài ban. Trái lại, sự việc cải-hối và niềm tin nơi nữ-phụ ở đây đã đem lại cho chị ơn tha-thứ…

 Xã-hội hôm nay, thấy rất nhiều người làm quấy dù chỉ một lần trong đời, nhưng vẫn bị người đời tặng cho mình nhiều mũ-chụp, suốt quãng đời còn lại, của chính họ, dù họ thật tình muốn chỉnh-sửa. Thiên-Chúa không xử-sự với con người như loài người vẫn xử-sự với nhau, và cho nhau. Chúa xử-sự với con người theo tình-thế của họ ở đây, bây giờ. Quá-khứ của con người không quan-trọng đối với Chúa. Quan-trọng chăng, chỉ mỗi điều, là: nay ta sống thế nào, mà thôi. Nay, ta xử-sự ra sao với các nữ-phụ dù họ có phạm lỗi hay không. Ta có xử sự với các nữ-phụ trong tương-quan với mọi người đúng theo tinh-thần Chúa khuyên-dạy hay không mà thôi.

Trong một thế-giới mà nam-nhân hoàn-toàn khuynh-loát và làm chủ, thì nữ-phụ xưa nay vẫn bị chê-trách rất nhiều chuyện, kể từ ngày chị được tác-tạo thành con người đến hôm nay. Giả như có tên du-thủ du-thực nào đó phạm tội hãm-hiếp phụ-nữ, thì mọi người trong thế-giới nam-nhân sẽ bảo rằng: sở dĩ có chuyện này, là vì chị ta lôi-cuốn anh ấy qua cách ăn mặc rất kích-dâm hoặc lôi cuốn. Nếu có nam-nhân nào đó từng xách-nhiễu một nữ-phụ đơn-sơ/trong trắng nào đó, thì họ lại cũng bảo rằng sở dĩ có chuyện này là do chị ấy gây chuyện rồi kích-động trước, thế thôi.

 Giả như ông chồng nọ quyết ly-dị vợ mình, ắt hẳn cũng vì chị vợ nay thành loại người mà anh tự thấy mình không còn có thể chịu đựng nổi chị ấy nữa. Giả như nữ-phụ nào có khả năng chơi được trò chơi dành cho nam-nhân, thì chị ấy sẽ bị đè bẹp/vùi-dập bằng những lời xách-mé/xỉa xói nói cho hay cho tốt sẽ bảo rằng: cô ấy là thứ đàn-bà trơ-tráo không biết e-thẹn là gì, hoặc tệ hơn, lại sẽ nói: cô bé này đúng là con chó cái, thế thôi.

 Và, giả như chị phải vận-dụng mọi kỹ-năng hoặc tay nghề thực-sự mới được thế, thì thiên-hạ lại sẽ bảo là chị ta đang sử-dụng “mọi thứ của phụ-nữ” mới đạt được điều mình mong muốn có kết-quả.

 Tất cả những điều này tiếp-tục mẫu-mã dựng chuyện cho câu truyện kể về Vườn Địa Đàng, trong đó nhân-vật Evà là nguyên-nhân gây nên đổ-vỡ cho am-nhân. Chị là người hoàn-toàn trách-nhiệm trong việc đưa ác-thần/sự dữ vào với thế-giới nhân-trần. Đây là truyện kể tuyệt-vời, nhưng vẫn chỉ là: một câu truyện kể, thế thôi. Thật sự, thì: đây chỉ là truyện dụ-ngôn qua đó bậc tiên-tổ của ta khi xưa vẫn tìm cách bắt-chộp “sự thật” về sự hiện-hữu của các ngài, mà thôi.

 Và, các truyện kể ở Kinh thánh lâu nay mang tính thần-thoại mà nhiều người gọi là huyền-nhiệm hay bí-nhiệm để nói lên một sự việc gì đó mà một số người gọi là “thần-học Giao-ước” giữa Thiên-Chúa và loài người. Thần-học này, lâu nay vẫn coi nữ-giới là “kẻ cám dỗ” nam-nhân vốn dĩ là những người đáng quí đáng trọng. Theo đó, nữ-giới vẫn bị gọi là thứ “cây rái cấm-kỵ” kích thích lòng ham/muốn nơi cơ-thể của nam-nhân.

 Vì thế nên, phụ-nữ xưa nay vẫn “bị” định-nghĩa là người đồi-bại và làm sa-đoạ tính thánh-thiêng của người phàm. Các chị còn bị chê-trách coi như nguyên-nhân tạo cho nam-nhân mất đi uy-quyền của chính họ. Từ khi có truyện kể dụ-ngôn này, văn-hoá Đạo Chúa ở phương Tây bị nối-kết với khuynh-hướng xa lánh phụ-nữ, tức: diễn-tả mọi thứ thánh-thiêng theo nghĩa không giới-tính.

 Cũng từ đó, tính trinh-trong của phụ-nữ và khiết-tịnh ở nam-giới đã trở-thành phương-cách để mọi người tự thánh-hoá đời sống, theo phương-cách cao hơn. Cả đến hôn-nhân cũng bị nhiều người định-nghĩa như một châm-chước/nhượng-bộ tội-lỗi, tức: phương-án chọn-lựa dành cho những người yếu kém về nhiều thứ.

 Một trong các vị thánh từng chuyển-dịch Kinh Thánh là thánh Giêrônimô vẫn được bảo là vị thánh từng thấy khó xử trong chuyển-dịch, khi thấy rằng khiá-cạnh độc-nhất mang tính cứu-độ của hôn-nhân là ở chỗ việc này “sản-xuất ra nhiều trinh-nữ hơn nữa”. Và tuyên-bố này vẫn khiến nhiều người khó mà tin được sự việc lại có thể như thế.

 Như thế, tức bảo rằng: phụ-nữ thật sự là sự dữ/ác-thần tận cốt lõi. Đó là thông-điệp xuất tự người gửi là Hội-thánh Đức Kitô và thông-điệp này được đặc-biệt tạo-tác xuất từ dụ-ngôn truyện kể về vườn Địa Đàng có Evà là hiện-thân của sự dữ.” (Xem Lm Frank Doyle sj, Suy Niệm Lời Ngài Chúa Nhật thứ 8 Mùa thường niên năm C, nxb Tôn Giáo 2012, tr. 138)

Đó, chính là vấn-đề. Vấn-đề, là ở chỗ: ta xử-sự với các nữ-phụ có cùng kiểu, đồng quyền và theo cùng cung-cách như vẫn làm với người khác, chí ít là những người khác khác chính-kiến, khác lai-lịch hoặc khác cả giới-tính, nữa hay không mà thôi.

Và, vấn-đề còn lại đặt ra cho mọi người, là: ta đối-xử với nữ-phụ trong/ngoài Giáo-hội có theo khuôn-khổ của sự tự-do con cái Chúa, hay không? Hỏi thế, không phải để có được một trả lời ngay tức khắc cho mình và cho người. Hỏi như thế, tứ: chỉ hỏi để mà hỏi. Hỏi, để kiếm tìm một hình-thức sống sao cho vui tươi, phúc hạnh và phải lẽ.

Thế nên, để mọi người, nam cũng như nữ, được sống vui-tươi/hài hoà với nhau, tưởng cũng nên về với truyện kể nhè nhẹ trong đó có những cử chỉ cũng nhè nhẹ nhưng vui/đẹp của người nữ-phục đã biết nhưng chưa quen, vẫn vui sống, như sau:

 “Có một chàng trai bị bệnh ung thư. Chàng mới 19 tuổi, nhưng có thể chết bất kì lúc nào vì căn bệnh quái ác này.Suốt ngày, chàng trai phải nằm trong nhà, được sự chăm sóc cẩn thận đến nghiêm ngặt của bố mẹ. Do đó, chàng trai luôn mong ước được ra ngoài chơi, dù chỉ một lúc cũng được.

 Sau rất nhiều lần năn nỉ, bố mẹ cậu cũng đồng ý. Chàng trai đi dọc theo con phố- con phố nhà mình mà vô cùng mới mẻ- từ cửa hàng này sang cửa hàng khác. Khi đi qua một cưả hàng bán CD nhạc, chàng trai nhìn qua cửa kính và thấy một cô gái. Cô gái rất xinh đẹp với một nụ cười hiền lành – và chàng trai biết đó là “tình yêu từ ánh mắt đầu tiên”. Chàng trai vào cửa hàng và lại gần bàn cô gái đang ngồi. Cô gái ngẩng lên hỏi:

-Tôi có thể giúp gì được cho anh ?

 Cô gái mỉm cười, và đó là nụ cười đẹp nhất mà chàng trai từng thấy.

-Ơ…,chàng trai lúng túng.

-Tôi muốn mua một CD…

Chàng chỉ bừa một cái CD trên giá rồi trả tiền.

-Anh có cần tôi gói lại không? Cô gái hỏi, và lại mỉm cười.

Khi chàng gật đầu, cô gái đem chiếc CD vào trong.

Khi cô gái quay lại với chiếc CD đã được gói cẩn thận, chàng trai tần ngần cầm lấy và đi về.

 Từ hôm đó, ngày nào chàng trai cũng tới cửa hàng, mua một chiếc CD và cô gái bán hàng lại gói cho anh. Những chiếc Cd đó, cháng đem về nhà và cất ngay vào tủ. Anh rất ngại, không dám hỏi tên hay làm quen với cô gái. Nhưng cuối cùng, mẹ anh cũng phát hiện ra việc này và khuyên anh cứ nên làm quen với cô gái xinh đẹp kia.

 Ngày hôm sau, lấy hết can đảm, chàng trai lại đến cửa hàng bán CD, rồi khi cô gái đem chiếc CD vào trong để gói, anh đã để một mảnh giấy ghi tên và số điện thoại của mình lên bàn.

Rồi anh cầm chiếc CD đã được gói- như tất cả mọi ngày- đem về. Vài ngày sau…

Reeeeeeeeeeeeeeng!!!.

Mẹ chàng trai nhấc điện thoại:

-Alô!?

 Đầu dây bên kia là cô gái ở cưả hàng bán CD. Cô xin gặp chàng trai nhưng bà mẹ òa lên khóc:

-Cháu không biết sao ? Nó đã mất rồi…hôm qua…

Im lặng một lúc. Cô gái xin lỗi, chia buồn rồi đặt máy.

Chiều hôm ấy, bà mẹ vào phòng cậu con trai. Bà muốn sắp xếp lại quần áo cuả cậu, nên đã mở cửa tủ.

Bà sững người khi nhìn thấy hàng chồng, hàng chồng CD được gói bọc cẩn thận, chưa hề được mở. Bà mẹ rất ngạc nhiên, cầm một cái lên, mở ra xem. Bên trong lớp giấy bọc là một chiếc CD cùng với một mảnh giấy ghi: ” chào anh, anh dễ thương lắm-Jacelyn”.

 Bà mẹ mở thêm một cái nữa. Lại thêm một mảnh giấy ghi: “Chào anh, anh khoẻ không? Mình làm bạn nhé? – Jacelyn”

Một cái nữa, thêm nữa… trong mỗi cái CD là một mảnh giấy…..”

Và, lời bàn “Mao Tôn Cương” từ người kể, vẫn bảo rằng: “Trong mỗi cử chỉ đều có thể tiềm ẩn một món quà. Giá như chúng ta đừng ngần ngại mở tất cả những món quà mà cuộc sống đem lại.”

Thật ra thì, có những thứ quà không cần mở cũng biết rằng: quà ấy thật vô giá như quà tặng Thượng Đế biếu/tặng ta trong cuộc đời người. Đó là, sự hiện-diện của mọi nữ-phụ ở quanh ta. Nữ-phụ ấy, có thể là mẫu-thân, là vợ, người chị hoặc em gái, con/cháu rất nữ-giới. Quà nào cũng vui cũng quý-giá như sự sống đích-thật của mọi người.

Kể thế rồi, nay lại cũng mời bạn và tôi, ta đi vào vùng trời có lời vàng của Đức Chúa, vẫn nhủ/khuyên rất nhiều lần, như sau:

“Này là lệnh-truyền của Thiên-Chúa:

Ta phải tin vào Danh Con của Ngài,

Đức Giêsu Kitô,

Và, yêu mến nhau

như Ngài đã truyền lệnh cho ta.

Và, ai giữ lệnh-truyền của Ngài,

thì lưu lại trong Ngài

và Ngài ở trong kẻ ấy.

Và, điều này ta biết được, là:

Ngài lưu lại ở trong ta,

do tự Thần-Khí Ngài đã ban cho ta.”

(1Ga 3: 23-24)

Thần-Khi Ngài ban cho ta, ở trong ta, thì làm sao ta và người lại cứ khinh-chê, coi rẻ các nữ-phụ, trong đời. Khinh và chê, như thể họ không là người như mình. Khinh và chê, như thể người người vẫn đối-xử với các nữ-phụ như từng đối-xử với người hành-tinh xa lạ, chẳng có tình người của người cùng một hành-tinh.

Làm sao chứng-thực được rằng: Thần-khí Ngài ở trong ta, khi ta đối xử với nhau không đồng đều. Vẫn cứ tạo ranh-giới, rào cản và kỳ-thị. Kỳ-thị nam nữ rất tranh-giành. Và, đó chính là mấu chốt của mọi đối xử rất bất-công, không đồng đều, một đối-xử không phải của người hành-tinh, rất địa cầu này.

Vậy, tưởng cũng nên coi lại lề-lối sống với nhau trong hài-hoà/yêu-thương không đợi chờ gì, huống hồ là “trăm năm”.

Vâng, quyết thế rồi, tưởng cũng nên hát lên ca-từ nay trích-dẫn để có lập-trường sống kiên-định rằng:

“Nào đâu có trăm năm,

mà chờ mà đợi?”

Nào đâu có kiếp sau,

đâu có kiếp sau, mà đợi mà chờ?

Đất MẸ, đất NÀNG, con sáo sang song.

Đất MẸ, đất NÀNG, con sáo sang sông.

 Trăm năm bến cũ, có còn đó không?

Còn đó không?

Cây đa bến cũ còn lưa,

Bến cũ còn lưa

O đò năm trước đi mô không về…”

(Phạm Duy/Lưu Trọng Văn – bđd)

 Trần Ngọc Mười Hai

Và những câu hỏi

rất như thế

vẫn lảng vảng

trong đầu mình

suốt mọi ngày.