Tình nhân-thế chua cay, người lịch-duyệt,

Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ Năm Phục Sinh năm C 24/4/2016

                             Tin Mừng: (Ga 13: 31-35)

Đức Giêsu nói: “Giờ đây, Con Người được tôn-vinh, và Thiên-Chúa cũng được tôn-vinh nơi Ngài. Nếu Thiên-Chúa được tôn-vinh nơi Ngài, thì Thiên-Chúa cũng sẽ tôn-vinh Ngài nơi chính mình, và Thiên-Chúa sắp tôn vinh Người.

 Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi. Anh em sẽ tìm kiếm Thầy; nhưng như Thầy đã nói với người Do-thái:

 “Nơi tôi đi, các người không thể đến được”, bây giờ, Thầy cũng nói với anh em như vậy. Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau.”

                                      “Tình nhân-thế chua cay, người lịch-duyệt,”

“Niềm giang-hồ tan-tác lệ Giang-Châu.”

                                                                 (Dẫn từ thơ Vũ Hoàng Chương)

Mai Tá lược dịch

Tình nhân-thế, con người ra như thế. Vẫn chua cay, giang-hồ, tan-tác đầy những lệ. Tình nhà Đạo, xưa nay vẫn khác. Khác, vì có lời dạy nhân-gian nay đằm thắm.

Trình thuật hôm nay, thánh Gioan Tin Mừng lại cũng nói về thứ tình-yêu rất đặc biệt. Thứ tình trọn đầy ý-nghĩa mà Đức Chúa đã làm gương. Tình Chúa nêu gương, là tình Ngài bày tỏ không chỉ riêng tư, mà là tình người dưới thế, ta luôn có với nhau. Tình Thầy luôn yêu, là tình đượm sắc mầu thương mến, rất hy sinh. Thầy hy sinh cho tất cả. Hy sinh đến chết. Hy sinh để ta được sống. Để ta cứ yêu. Yêu như Thầy vẫn hy sinh.

Ngôn ngữ phàm trần, không thấy có cụm từ nào được người đời biết đến, nhiều bằng từ ngữ “yêu”. Yêu, là phạm trù phổ biến dễ truy cập nhất. Một đề tài nói đến cả trong mọi trường hợp, mọi địa hạt: từ nghệ thuật đến văn chương, thi tứ, tthơ nhạc, cho đến phim ảnh văn xuôi, truyện ngắn. Nhất nhất, nói về tình yêu. Tình yêu có chữ “hy sinh” ở đời, là tình ta nghe biết nhiều nhất.

Với đời thường, tình yêu là cảm xúc ướt át, diễm lệ mọi người quanh ta, hằng đeo đuổi. Đeo và đuổi cho đến khi nào không thể làm gì hơn được nữa, mới thôi. Yêu, theo nghĩa dân gian người phàm, là tình thấy đầy nơi phố chợ có thể đằm thắm lúc ban đầu. Nhưng, nhạt dần với tháng năm. Tình nào không kèm chữ “hy sinh”, chung cuộc rồi ra cũng sẽ chán, khi vừa xuất hiện đối tượng mới, tươi trẻ, hấp dẫn và tràn đầy nhựa sống hơn.

Tình đời mau chán, bởi người người chỉ chú trọng đến xác thân hoặc dục tính. Tình đời loại này, thường dẫn đến điểm thoát rất nhanh, nơi đọan cuối của đường hầm, nhiều tăm tối. Tình như thế, tuyệt nhiên là tình không mang dáng vẻ “hy sinh”, nào hết.

Tình “có hy sinh”, là mối tình được thể hiện bằng hành động, chứ không phải bằng lời. Tình đó là tình được dặn dò khuyên nhủ, như một lệnh truyền ngày Chúa chia tay giã từ. Lệnh truyền Chúa nơi tình có hy sinh vẫn được nhấn mạnh rất nhiều lần; vì Ngài vẫn thường bảo: “với dấu này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau.” (Yn 13: 35)

Làm người, ai cũng từng hơn một lần, đã biết yêu. Là môn đệ của Thầy, người người lại càng phải biết yêu thương nhau nồng nàn hơn nữa. Yêu, say đắm hơn bao giờ hết. Yêu, như Thầy vẫn thương chúng ta. Yêu thương nhau, là thứ tình thực tiễn được đánh giá qua cách thức ta đối xử với nhau. Xử sự với nhau, thật hiền hòa, thật tử tế. Ta đối xử với nhau thật kiên nhẫn, chịu đựng.

Tình ta thương nhau, là tình của những người đồ đệ theo chân Chúa. Đó là tình không kiêu sa. Cũng chẳng mượt mà, trau chuốt đánh bóng chính người mình. Tình ta thương nhau, như tình Chúa yêu ta là tình không dày đạp người khác. Dày vùi và đạp lên đó để mọi người nhìn mình cho rõ, như người hùng anh cần được yêu, phải được tôn kính. Tình ta thương nhau, là cùng vui với người vui. Cùng khóc với người đang khóc. Cùng đạt ước nguyện tạo niềm vui cho nhau. Tình ta thương nhau, là biết thương tiếc khóc than vì người khác đã mất mát, khổ đau.

Yêu thương nhau như tình Thầy yêu ta, là biết nói lên sự thật. Với lòng xót thương không bến bờ.Yêu thương nhau như Thầy yêu ta, là yêu thương đấy, vẫn yêu trong hy sinh tha thứ cho người mình thương yêu. Thương yêu rất mực tin tưởng vào người mình yêu thương. Yêu trong kiên định, cả vào những giây phút gặp nhiều khó khăn, trắc trở. Yêu, cả vào lúc thấy có khổ đau. Những lúc đang trầm mình dưới bùn đen, ở dưới thấp. Yêu như thế, mới giống tình Chúa yêu thương mọi người, không xét nét.

Tình có hy sinh là chấp nhận thua thiệt, để người kia được lợi. Yêu trong hy sinh, là biết tự kiềm chế mọi đam mê, dục vọng. Yêu rất hy sinh, là như thể đang chết dần chết mòn cho những cảm xúc vênh vang, kiêu hãnh. Yêu trong hy sinh, là chết đi cho chính mình. Chết cho con người mình. Chết, không phải về thể xác. Mà, chết cho nhu cầu xác thân, tạm bợ. Dù, nhu cầu ấy vẫn  chính đáng, vẫn rất cần.

Yêu trong hy sinh, càng không phải là yêu với mặc cảm tội lỗi. Mặc cảm thâm trầm, vì đã làm điều bất ưng và bất xứng, nay muốn tự hủy. Tự hủy, bằng tâm trạng âm thầm, khúm núm, cúi đầu sợ sệt. Yêu trong hy sinh, càng không phải là những khuyên răn, khích lệ bạn bè người thân hãy có cùng tâm trạng hủy diệt, vùi dập thân xác như mình. Nói khác đi, tình “có hy sinh”, là quà tặng Chúa ban nhưng-không gửi đến để người người chấp nhận một chọn lựa. Chấp nhận cơ hội vinh thăng cho tình yêu ta đang có, ngày càng tốt đẹp hơn.

Với dặn dò đàn con biết tỏ bày tình có hy sinh, Đức Chúa đã nêu gương để ta cũng có cử chỉ tự hạ làm người thấp hèn. Ngài tự giáng hạ vào chốn nghèo hèn, để Thiên Chúa là Cha sẽ nâng Ngài lên nơi vinh hiển. Noi gương Chúa, ta cũng tự hạ chính mình nhịn nhường mọi vinh hoa, phú quý sang qua người khác. Nhường nhau, để tạo cuộc sống mới dồi dào sức sống.

Tự hạ, nhưng không tự hủy. Tự hạ, không có nghĩa dứt bỏ phẩm giá con người rất vinh quang. Vinh quang, vì mang thân phận làm con dân Đức Chúa. Tự hạ, là tự giảm chính mình xuống mức thấp hơn người khác. Tự đặt mình ở mức thấp, để người khác được nổi bật hơn, hạnh phúc hơn mình. Thực tế, trong sống đời dân gian trầm hạ, cũng nên tìm ra phương cách hoặc động thái khả dĩ giúp ta cởi thoát những hành vi không mang đặc thù của người con yêu Đức Chúa. Cởi thoát, là tự mình không đòi ở chỗ cao, trên người khác. Hoặc, người khác phải cảm nhận công sức mình, đã bỏ ra. Cởi thoát, là không đòi cho được quyền ra lệnh người khác thực hành ý kiến của mình.

Tham dự tiệc thương yêu hôm nay, ta cầu mong Thầy Chí Thánh giúp ta yêu thương mọi người như một nhân vị, chứ không như sự vật. Cầu mong sao, ta tạo được cho mình và mọi người những tình tự “có hy sinh” đưa ta vào cuộc sống rất vui. Sống can đảm, để giải quyết mọi bất đồng trong tương quan với mọi người chung quanh.

Cầu và mong, tình của ta luôn là tình “có hy sinh” như Đức Chúa từng dạy bảo. Và cầu mong sao, trong yêu thương giao dịch, tình của ta với người, vẫn là tình hy sinh ở mức cao độ, như Thầy thương ta.

Và, cũng cầu lại cũng mong sao cho tình nhân-thế có con người vẫn luôn sống theo lời dặn-dò của Đấng Nhân-Hiền từng minh-chứng bằng cuộc sống của Ngài. Sống chung-tình, nhiều thương-mến, rất ngàn năm.

Lm Richard Leonard sj biên-soạn

Mai Tá lược dịch

MỘT BUỔI NÓI CHUYỆN LÝ THÚ CỦA CHA NGUYỄN NGỌC SƠN.

 MỘT BUỔI NÓI CHUYỆN LÝ THÚ CỦA CHA NGUYỄN NGỌC SƠN.

 Phan Sinh Trần

Hôm Chúa Nhật ngày 20 tháng ba , 2016 Nhóm Cầu Nguyện chúng tôi được nghe vị khách diễn giảng về Chúa Thánh Linh, tôi cho rằng bài chia xẻ này thuộc loại kinh điển, tiêu biểu cho  gốc cổ thụ lớn trong khu vườn Thánh Linh. Điều có vẻ nghịch lý một cách thích thú khi mà Ngài chưa từng một ngày ở trong phong trào Canh Tân Đặc Sủng Công Giáo, chưa từng tham dự các buổi tĩnh tâm Thánh Linh, nhưng lại rất uyên bác về nguyên lý của đời sống trong Chúa Thánh Thần, và hơn thế nữa, luôn sống trong sự sinh động, yêu thương, hòa hợp tuyệt diệu của Chúa Thánh Thần trong đời sống của một người con được Chúa chọn và yêu mến.

Cha bắt đầu buổi chia xẻ bằng sự khiêm nhường cầu nguyện khi Ngài chấp nhận để cho cả nhóm chúng tôi giơ tay cầu xin ơn Thánh Thần tuôn đổ ơn xuống trên Ngài và rồi Ngài cất tiếng lên chia xẻ cho chúng tôi trong ơn biện giảng hùng hồn Chúa ban.

Cha đưa ra một dụng cụ y khoa nhỏ để đo dung lượng thở cho mọi người thử, có anh thanh niên mạnh khỏe thì có thể thở được với dung lượng đo trên máy, tới 2200 ml, trong khi đó có bác cao niên ốm yếu, chỉ thở vào máy được có 770 ml… một sự so sánh rất cụ thể và minh họa về vấn đề, thiếu không khí trong lúc thở. Cha giải thích:

⦁ Não của chúng ta có 16 tỷ nơron thần kinh, cần tối thiểu 2.000 lít khí/ngày trong 10.000 lít tối thiểu của cơ thể. Chính bộ não ấy phát ra những lệnh cho tất cả các cơ quan hoạt động. Nếu chúng ta tăng cường dung tích khí thở mỗi lần lên 1.500ml hoặc 2.000ml, 2.500ml, bộ não chúng ta sẽ phát ra lệnh gấp đôi cho các bộ phận hoạt động; chúng ta sẽ học hành, làm việc hiệu quả và thông minh hơn nhiều. Thân thể chúng ta sẽ khoẻ mạnh, xinh đẹp nhờ các bộ phận hoạt động hài hoà…Chỉ cần 4 phút không có dưỡng khí là bộ não chúng ta sẽ chết, trong khi chúng ta có thể nhịn ăn được 30 ngày, nhịn uống được 3,4 ngày. Nói như thế để từ nay chúng ta chú ý đến việc thở hít khí tự nhiên hơn và tập thở để tăng cường chất lượng sống.

Sau đó, cha đề cập đến vấn đề sống đạo:

⦁ Vì sao các Bác, các Anh Chị có một đời sống Đạo rất chuyên cần, rất chăm chú đọc kinh mà vẫn thấy mình có một cái gì đó không được ổn, vẫn còn hoang mang cho tương lai cuộc đời, vẫn còn tìm đến cầu cơ, bói toán ?

Bởi vì, Tinh thần càng cần đến hơi thở Thần Khí hơn nữa, không biết tập thở Thần Khí thì linh hồn sẽ yếu rũ.

⦁ Vì sao chúng ta thực hành các việc đạo đức đều đặn đi lễ mỗi ngày mà vẫn không có được sự linh ứng của lời cầu nguyện?

⦁ Người tín hữu giáo dân Việt Nam rất tôn kính Mình Máu Thánh Chúa, 80% tín hữu giữ lễ Chúa Nhật và rước lễ trong những dịp lễ trọng, khoảng 15-20% đi lễ thường ngày. Nhưng chúng ta thấy rằng dù đi lễ và rước Mình Máu Thánh Chúa thường xuyên nhưng chúng ta lại chưa phát huy được sự sống kỳ diệu phi thường của Thiên Chúa trong con người của mình. Cuộc sống của người tín hữu chưa toát ra được niềm vui, bình an, hạnh phúc, ơn cứu độ cho mình cũng như cho người khác. Phép lạ trong đời sống người tín hữu là những gì hoạ hiếm chứ không phải là những chuyện thường ngày mà chúng ta phải thực hiện để mang lại ơn cứu độ cho những người nghèo khổ, tật bệnh, bị ma quỷ kiềm chế có mặt ở khắp nơi trên đất nước. (⦁ nguồn: hanhkhatkito.org)

Trong không khí im lặng chú ý của phòng họp, khi mà mọi người đều thấm thía về các yếu đuối, Cha tiếp tục đặt ra các vấn nạn của Ki tô hữu:

Vì sao chúng ta không có tâm tình biết ơn, không biết ơn khi ta ăn hạt cơm nóng sốt mà người nông dân đổ mồ hôi, công sức, dãi dầu mưa nắng, có khi còn phải đổ máu, hy sinh thân mình vì cày lên bom mìn sót lại từ thời chiến tranh … Còn trong gia đình mình thí sao,   Chúng ta có khi nào biết ơn người vợ đã mấy chục năm qua rửa hàng núi chén dĩa ngày qua tháng nọ dọn nhà sạch sẽ cho ta được thoải mái, … Trong đất nước thì mình ít khi nhớ ơn bao tiền nhân, chiến sĩ vô danh, đã tận tụy khai phá, đã hy sinh xương máu cho ta có được mảnh đất này để sinh sống.

Chúng ta thử đặt tình trạng mình như một người mù trong vài phút rờ rẫm, đi từ đây ra cửa thôi, sẽ thấy khổ sở thế nào, đụng chạm lủng củng ra sao, có khi còn vấp té nữa. Trong khi đó chúng ta được sáng mắt, được Chúa ban cho không khí để thở, ban cho cặp mắt để ngắm nhìn, … có bao giờ chúng ta hít sâu vào trong tâm tình biết ơn, vì Chúa ban cho mình không khí và biết bao nhiêu tạo vật, thiên nhiên mỹ miều, hữu dụng, xinh đẹp chung quanh ta.

Sau đó, Cha tóm tắt về căn nguyên của một đời sống Ki tô hữu, phong phú và tươi mát bao gồm trong hai yếu tố chính, kết hợp với Chúa Giê Su và sống trong Thần Khí của Thiên Chúa.

⦁ Một là kết hợp mật thiết với Chúa Giê Su như cành liền với cây trong cầu nguyện, đơn sơ thủ thỉ với Chúa một câu trong tâm tình yêu mến, hướng về Chúa ở mọi lúc, mọi nơi.

Cây nho, chính là Ta,các ngươi là nhánh. Ai lưu lại trong Ta và Ta trong kẻ ấy, thì nó sinh nhiều quả,vì ngoài Ta, các ngươi không thể làm gì.(Gioan 15:5)

⦁ Hai là, xin Chúa Giê Su thực hiện lời hứa “ban Thánh Thần” và xin cho bằng được ơn Chúa Thánh Thần, được tiếp nhận Thần Khí Chúa sống động trong mọi sinh hoạt của đời sống mình, cách xin được Chúa nhận lời là khi ta dám từ bỏ các quyến rũ của trần gian, ma quỉ và quyết tâm thuộc về Chúa một cách trọn vẹn, chấp nhận đi theo con đường do Chúa hoạch định.

Từ bỏ mình rất khó, từ bỏ cái tôi càng không dễ, tuy nhiên đã có nhiều người giống như ông Gia Kêu và Mát thêu, hành nghề thu thuế đã làm được, giống như cô Ma đa len na vốn sống buông thả nhưng sau, đã làm được, cũng như nhiều người khác đã làm được. Chúng ta, là Ki tô hữu có thể từ bỏ “cái Tôi” một khi ta dám chấp nhận sự dạy dỗ của Lời Chúa và kết hiệp với Chúa, được Chúa giúp sức cho.

Tập hít thở trong Thần khí Chúa:

⦁ Có lẽ chúng ta phải nhìn lại thái độ của chúng ta đối với Thần Khí, chúng ta cần phải gắn bó nhiều hơn với Chúa Thánh Thần và tập thở từng giây phút Thần Khí mà Chúa Giêsu thổi trên chúng ta khi Người hiện ra với chúng ta và nói rằng: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”.

⦁ Mỗi lần chúng ta nhớ đến Chúa Thánh Thần và cầu xin Ngài là mỗi lần chúng ta thở Thần Khí. Một ngày chúng ta dành chừng 5 phút, ngồi ở bàn làm việc hay nằm trên giường trước khi ngủ, chúng ta nói thầm với Chúa Giêsu khi chúng ta hít khí vào: “Lạy Chúa, xin ban Thần Khí cho con”. Thần khí là sức mạnh, niềm vui, tình yêu, bình an, ân sủng của Người được đưa vào trong ta để biến đổi ta. Rồi khi chúng ta thở ra bằng miệng từ từ, thân xác ta thở ra thán khí thì tinh thần cũng thở ra những uế khí, tà khí ra khỏi con người mình. Đó là: buồn phiền, chán nản, lo lắng, sợ hãi, thất vọng, ghen tương… Đang khi đẩy chúng ra khỏi tâm trí, chúng ta cũng nói thầm với Chúa Giêsu: “Lạy Chúa, xin xua đuổi tà khí ra khỏi lòng con”.

CHA SON

Đời sống được Chúa Thánh Thần dẫn dắt thì rất tuyệt vời, cho dù trong đời ta đi qua bao nhiêu truân chuyên hay thác ghềnh khó khăn. Tôi xin được trích từ trang mạng công giáo hiện đang có nhiều người đọc nhất ở Việt Nam, có tên là “hành khất  Ki Tô” để minh họa các kinh nghiệm sống động này của Cha Nguyễn ngọc Sơn:

Chúa mời gọi ta quên đi quá khứ tội lỗi của mình hay của người khác, để thông hiệp với Đức Kitô và phát huy những ân sủng lạ lùng của cuộc đời làm con Chúa Cha và cũng là người tình, là hiền thê của Đức Kitô

⦁ … Anh chị em cho phép tôi được chia sẻ một kinh nghiệm về việc Chúa Kitô chữa lành bệnh nhân để xác tín về đời sống siêu việt của con cái Chúa. Sáng Chúa Nhật hằng tuần tôi thường giúp các người bệnh từ nhiều nơi tìm đến. Hôm đó, có người con trai dẫn bà mẹ chừng 65 tuổi đến xin tôi cầu nguyện chữa lành vì bà bị đau toàn thân, nhất là ở tim gan ruột. Các bác sĩ ở Canada khám không ra bệnh sau khi xét nghiệm đủ thứ. Con cháu đưa sang Hoa Kỳ chữa cũng không khỏi nên đưa về Việt Nam. Nghe tiến trình chữa bệnh như thế nên tôi chỉ còn biết đặt tay trên đầu bà, đọc 4 kinh tôi thuộc là Kinh Xin Ơn Đức Chúa Thánh Thần, Lạy Cha, Kính Mừng, Sáng Danh, rồi tiễn bà về. Tuần sau, bà đến đưa tôi 1 vòng đeo tay bằng vàng, 1 răng nanh heo rừng cũng mạ vàng để đeo ở cổ và nói: “Thưa cha, hôm nay con đã khoẻ mạnh và hoàn toàn bình phục nên đến cảm ơn  cha và thú thực với cha về bệnh tật của con. Con là 1 bà già sống gần nhà thờ nên sáng nào cũng tản bộ đi dự lễ. Vì già yếu không nín được đường tiểu nên con thường chui vào bụi cây bên đường. Mọi khi không xảy ra chuyện gì, nhưng một hôm con thấy đôi cánh tay đen đủi ôm chân con. Con rất hoảng sợ và phát bệnh từ đó. Sau khi các bác sĩ chữa không khỏi, gia đình đưa con đến nhiều thầy pháp. Họ cho con 1 lá bùa và con đã bỏ chung với áo Đức Bà đeo ở cổ vì con là đạo gốc! Còn chiếc lắc vàng đeo tay và răng nanh đeo cổ đã được ếm bùa Lỗ Ban. Hôm nay con giao lại tất cả cho cha để làm kỷ niệm”. ( nguồn: hanhkhatkito.org)

Sự việc khiến tôi từ đó hiểu được rằng Chúa Giêsu vẫn còn tiếp tục chữa lành cho con người trong thời đại hôm nay.

⦁ Niềm vui và hạnh phúc đời ta chính là Đức Giêsu. Người sẽ chuyển thông cho chúng ta sự sống vĩnh hằng, quyền năng vô biên, hạnh phúc vô tận để ta cảm nghiệm được mình được là con cái của Thiên Chúa giống như Người. Tôi đã cảm nhận được niềm vui đó cách đây 2 tuần khi sang giảng tĩnh tâm cho cộng đồng người Việt thuộc Nhà thờ Thánh Polycarp, đường Chapman, California, Hoa Kỳ. Hôm đó có Ông Nguyễn Kỳ đến cám ơn vì Chúa đã chữa cho Ông khỏi bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Cách đây 3 tháng, bác sĩ cho biết ông bị ung thư và nói không thể sống quá 6 tháng. Bây giờ Chúa cho ông khỏi hẳn, không còn thấy triệu chứng của ung thư. (nguồn:hanhkhatkito.org)

Thiên Chúa chúng ta sống động vô cùng, giàu sang vô tận, đẹp đẽ vô song. Nếu chúng ta gắn bó với Chúa thì chúng ta cũng sẽ tốt đẹp, mạnh mẽ, giàu sang như thế

⦁ Tôi xin chia sẻ một kinh nghiệm riêng tư: Trong dịp cứu trợ đồng bào lũ lụt năm 2010, người ta yêu cầu Caritas Việt Nam hãy làm dự án xin các tổ chức nước ngoài yểm trợ. Tôi nghĩ rằng: đất nước chúng ta có nhiều người đóng góp rộng rãi và rất quảng đại… Chúng tôi cầu nguyện, và chúng tôi nhận được số thuốc trị giá khoảng 2 tỷ đồng của Công ty Rohto Mentholatum. Chị giám đốc thương mại của công ty này không có đạo, đến gặp chúng tôi và cho chúng tôi rất nhiều thuốc cần cho đồng bào lũ lụt dù chúng tôi chưa làm một đơn xin nào. Ngoài ra, bao nhiêu nhà hảo tâm khác đã góp tiền và vật dụng cho đồng bào nghèo khổ. Tôi thầm cảm tạ Chúa và cảm nhận được quyền năng vô biên của Ngài.

(nguồn: hanhkhatkito.org)

Sự kiện này nhắc nhở tôi quyền năng chữa lành kỳ diệu của Chúa Giêsu trong một số trường hợp khuyết tật vì lý do tâm linh

⦁ Tôi xin chia sẻ 1 trường hợp cụ thể. Cách đây 3 tuần một phụ nữ trung niên dẫn theo người con gái tên Hương, đang có thai hơn 7 tháng, đến xin tôi chữa cho con bà bị câm và điếc trên 2 tuần qua. Đi theo có cả người chồng, anh trai, cô và cậu của cô gái. Cô gái tỏ vẻ rất sợ hãi không muốn vào nhà nguyện, nên tôi đành tiếp tất cả trong phòng làm việc. Người mẹ cho tôi biết tình trạng của con, chạy thầy, chạy thuốc cũng đã nhiều mà bệnh không khỏi. Vì cô gái không nghe được nên tôi giải thích cho tất cả hiểu về sức khoẻ thể chất và tinh thần. Cô Hương cứ nhắm nghiền đôi mắt như ngủ.

Sau đó tôi mời mọi người có mặt vào nhà nguyện để ban bí tích Xức dầu Bệnh nhân và Xức dầu Trừ tà. Trong khi cử hành nghi thức, cô Hương không mở mắt và tỏ ra không biết gì. Nhưng cuối cùng, trước khi cho bệnh nhân rước lễ, tôi hỏi cô Hương; “Con có muốn rước Chúa không?”. Cô trả lời rõ ràng: “Con muốn”. Bà mẹ đứng bên cạnh buột miệng kêu lớn: “Con tôi nghe và nói được rồi!”..

(nguồn: hanhkhatkito.org)

CHUA

Cảm tạ Chúa, vì cho dù ở đâu, thời nào thì Thần Khí oai quyền của Thánh Phao lô, Thần Khí thiết tha,hy sinh của Thánh Tê pha nô (Stephano), Thần Khí chữa lành và an ủi ở trong Thánh An Tôn, thánh Mác ti nô xưa và Thần Khí tuôn đổ trong Cha Nguyễn ngọc Sơn hôm nay,… và rất có thể là ngay cả trong bạn và trong tôi nữa ở thời đại hôm nay, vẫn đang có một cách dồi dào từ một nguồn duy nhất.Tôi xin mượn lời chia xẻ của Ngài để kết thúc bài làm chứng này.

“Lời nói tự nhiên chỉ mang lại niềm vui bình thường, nhưng khi ta thở được Thần Khí của Chúa Giêsu thì những lời nói của chúng ta có thể soi sáng cho tâm trí mù tối của con người, vực họ dậy khỏi tình trạng tê liệt, bất động, thậm chí chết chóc, của tâm hồn. Hơn nữa, Chúa Giêsu sẵn sàng ban cả những ơn chữa bệnh thể xác cho tất cả những ai muốn làm tông đồ, làm chứng nhân cho Người. Cầu chúc anh chị em trở thành người môn đệ được Chúa Giêsu yêu mến vì được tràn đầy Thánh Thần tình yêu của Đấng Phục Sinh”

Phan Sinh Trần

Hành xác ở lễ hội đền Hùng: Lạc con, mất tài sản

Hành xác ở lễ hội đền Hùng: Lạc con, mất tài sản
Nguoi-viet.com

PHÚ THỌ (NV) – Gần 2 triệu người cùng đổ dồn về đền Hùng cùng lúc khiến nơi đây trở nên hỗn loạn, nhiều gia đình thất lạc con nhỏ, ngất xỉu vì chen lấn, mất tài sản do bị móc túi.

Dòng người chật kín đổ về lễ hội đền Hùng. (Hình: Thanh Niên)

Theo tin Thanh Niên, do Lễ hội đền Hùng năm nay diễn ra vào cuối tuần nên hơn 2 triệu người cùng lúc đỗ về núi Nghĩa Lĩnh để “làm lễ tạ ơn các vua Hùng.”

Mặc dù lực lượng an ninh ưu tiên cho gia đình có trẻ nhỏ lên phía trên trước. Tuy nhiên do biển người chen chân chật kín sân trước lối lên núi, bậc thang lên núi lại quá nhỏ, ùn tắc dẫn đến chen lấn, xô đẩy, gây nên hỗn loạn.

Nói với phóng viên Thanh Niên đang có mặt tại lễ hội đền Hùng sáng 16 tháng 4, chị Hà Mai Hoa, ở Hà Nội cho hay: Sáng sớm chị cùng gia đình đi Phú Thọ để dự lễ hội. Lúc đi thuận lợi, tuy nhiên khi cả nhà vừa đến nơi để đi bộ lên núi Nghĩa Lĩnh thì chị lạc mất con trai 5 tuổi và hiện đang nhờ cảnh sát gọi loa, nhờ giữ cháu và đưa cháu về khu nghỉ dưới chân núi.

Nhiều em nhỏ thất lạc bố mẹ phải nhờ an ninh đưa xuống chân núi chờ người nhà tới đón. (Hình: Thanh Niên)

Ông Hà Kế San, phó chủ tịch tỉnh Phú Thọ, trưởng ban tổ chức Lễ Hội Đền Hùng xác nhận, dù ban tổ chức đã tung toàn bộ lực lượng để bảo vệ khu vực diễn ra lễ hội, nhưng lượng người quá đông khiến nơi này bỗng trở nên hỗn loạn. Tình trạng móc túi, rơi đồ đã liên tục diễn ra, có những gia đình lạc mất con đã đến nhờ ban tổ chức phát loa gọi nhờ người giúp đỡ tìm kiếm.

“Nhiều người vì nóng lòng muốn lên đền Thượng sớm nên đã chen lấn, xô đẩy nhau để được lên trước. Các đám đông liên tục giằng kéo khiến các em nhỏ bị lạc khỏi bố mẹ. Thậm chí nhiều người đã bị ngất xỉu do bị xô ép, không đủ sức chen chân lên đền Thượng,” ông San nói. (Tr.N)

Sáng mắt trên lễ đài chiến thắng

Sáng mắt trên lễ đài chiến thắng

Daniel Burstein * Trần Quốc Việt (Danlambao) dịch

Poitiers, Pháp, 28 tháng Tám, 1980

Tháng Tám vừa qua vào cao điểm mùa gió mùa ở Biển Đông, một chiếc thuyền bị rò rỉ nước trôi giạt vào bờ biển Indonesia. 64 người tỵ nạn Việt Nam cả người ướt đẫm, đói, và sợ hãi cố tiến vào bờ.

Sự kiện này lẽ ra hầu như bị lãng quên trong toàn bộ lịch sử đau khổ mà thuyền nhân Việt Nam chịu đựng, ngoại trừ một điều: Trong 64 người sống sót ấy có Trương Như Tảng, nhà cách mạng Việt Nam cao cấp nhất đào thoát sang Phương Tây.

Trong suốt sáu tháng kế tiếp ở trại tỵ nạn trên đảo Anambas, lý lịch của Tảng là người thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và là bộ trưởng tư pháp trong Chính phủ Cách mạng Lâm thời vẫn còn là một bí mật mà chỉ vợ ông biết. Bí mật ấy vẫn còn giấu kín ngay cả sau khi Tảng được phép định cư ở Pháp, nơi một ủy ban người Việt lo nhà cho ông ở tại Poitiers và việc làm công nhân cho ông ở nhà máy lốp xe Michelin.

Tuy nhiên, vào tháng Sáu, Tảng đã trút bỏ vỏ bọc người tỵ nạn bình thường và thông báo lý lịch ông tại cuộc họp báo Paris.

“Là người đã dành trọn cuộc đời trưởng thành của mình cho sự nghiệp quốc gia Việt Nam,” ông tuyên bố, “tôi phải nói cho quý vị biết rằng công cuộc giải phóng ở Việt Nam đã bị phản bội.”

Để trốn thoát Tảng đã phải trải qua bao giông tố ngoài biển khơi, chạm trán với đội tuần tra an ninh Việt Nam, và thậm chí cả cuộc tấn công của hải tặc. Trải qua tất cả những khó khăn này, ông vẫn mơ về ngày ông có thể công khai nói thật ra những điều ông nghĩ ở Paris, và kêu gọi tất cả những người Việt Nam trong và ngoài nước hãy cùng nhau đấu tranh chống lại chế độ mới.

Cách đây vài tuần, trong cuộc phỏng vấn chứa đựng nhiều thông tin và chi tiết nhất từ trước đến nay, Trương Như Tảng cho phóng viên này biết sự đấu tranh có tổ chức đang bắt đầu thành hình ở Việt Nam. Đó không chỉ là kháng chiến rải rác của các lực lượng cũ, cánh hữu, thân Mỹ mà đã và đang tiếp tục từ năm 1975. Quan trọng hơn là, Tảng nói, nhiều người trước kia thuộc về “lực lượng thứ ba” và ngay cả những đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam bất đồng chính kiến đang tự tổ chức thành những ổ kháng chiến.

Thừa nhận Lê Duẩn (tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam) và những người khác trong giới lãnh đạo Hà Nội vẫn kiểm soát chặt chẽ đất nước, Tảng tóm tắt một số nhân tố đang phá hoại sự ổn định của chính quyền của họ. Ông nhắc đến sự thiếu hụt lương thực nghiêm trọng, đàn áp chính trị, mà ông nói “thậm chí còn tệ hơn thời chế độ Thiệu ở Sài Gòn,” thương vong nặng nề trên chiến trường ở Cambodia, Liên Xô không cung cấp viện trợ kinh tế đầy đủ như đã hứa, và sự rạn nứt trong giới lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt về chính sách đối ngoại thân Liên Xô và lập trường thù địch đối với Trung Quốc của Việt Nam.

“Nhân dân Việt Nam không muốn đánh Trung Quốc,” Tảng khẳng định. “Cho dù bao nhiều lần đi nữa Lê Duẩn nói với nhân dân rằng Trung Quốc chịu trách nhiệm về những vấn đề kinh tế của đất nước, nhưng nhân dân thấy rất rõ ràng Hà Nội phải chịu trách nhiệm chuyện ấy.”

Trong ánh sáng lờ mờ trong căn nhà hầu như chẳng bày biện gì ở Poitiers, ông có vẻ như chẳng màng đến cái giá riêng tư ông phải trả để được nói thẳng công khai. Khác với đa số những người tỵ nạn Việt Nam trốn thoát khỏi cảnh đói kém và đàn áp sắc tộc để có cuộc sống tốt hơn ở Phương Tây, ông đã đổi biệt thự sang trọng có người giúp việc, xe hơi riêng, khẩu phần thịt và đường cao hơn bình thường để lấy sự tồn tại nghèo nàn và bấp bênh của một công nhân di dân ở Pháp.

“Tôi không thể im lặng mãi,” ông nói về lý do ông trốn thoát. “Tôi không thể nào đứng nhìn một cách thụ động để thấy mọi thứ mà nhân dân tôi đã đấu tranh suốt 20 năm trời bị hủy diệt.”

Cách đây 20 năm Trương Như Tảng đã quay lưng lại với nền giáo dục từ Sài Gòn giàu có và học vấn đại học từ Paris của mình để gia nhập cách mạng Việt Nam. Ông là một trong 60 người Miền Nam tham gia thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam vào năm 1960.

Chẳng bao lâu sau đó bị tù vì những hoạt động cách mạng, ông thoát khỏi có lẽ cái chết dưới tay nhà cầm quyền Sài Gòn khi ông được trao đổi lấy ba tù binh Mỹ vào năm 1968. Rồi ông biến mất vào những căn cứ bưng biền của Việt Cộng.

Khi chính phủ cách mạnh lâm thời được thành lập vào năm sau, Tảng được bổ nhiệm làm bộ trưởng tư pháp. Mặc dù các đội tìm-và-diệt của Mỹ thường đến gần công sự trong rừng của Tảng trong vòng 100 mét, nhưng trong suốt thời gian chiến tranh ông tập trung thảo ra những kế hoạch để chuẩn bị cho bộ tư pháp hoạt động ở Miền Nam Việt Nam mới sau chiến thắng của Chính phủ Cách mạng Lâm thời.

Chiến thắng đến, nhưng Tảng không bao giờ có cơ hội thực hiện những kế hoạch của mình. Khi duyệt binh từ lễ đài trong buổi lễ chào mừng chiến thắng ở thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn cũ) vào tháng Năm 1975, ông bị cú sốc lớn đầu tiên: Lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam và Chính phủ Lâm thời không nhìn thấy đâu cả. Khi ông hỏi tướng Văn Tiến Dũng (bộ trưởng quốc phòng Việt Nam hiện nay) về lý do tại sao chỉ có cờ Miền Bắc Việt Nam tung bay, tướng này đã trả lời ông một cách khinh thường, “Quân đội đã được thống nhất.”

Giai đoạn kế tiếp là giai đoạn vỡ mộng đối với Tảng. Ông cố gắng tập hợp ban chuyên gia pháp lý cho bộ tư pháp, nhưng những ai mà các cán bộ cộng sản không thích đều lặng lẽ bị đưa đến các trại “cải tạo”. Những người dân thường đòi biết ông, với tư cách bộ trưởng tư pháp, làm được gì cho bạn bè và người thân của họ bị tịch thu tài sản hay cho những người bị buộc phải dọn lên các vùng kinh tế mới.

“Tôi chứng kiến một chế độ độc tài phát-xít đang được xây dựng lên,” Tảng buồn bã nói, “và mặc dù tôi đã tranh cãi, nhưng tôi chẳng thể làm được gì. Các mệnh lệnh đều xuất phát từ Hà Nội, và quân đội và công an mật luôn luôn sẵn sàng ủng hộ họ.”

Vào năm 1976 Việt Nam được thống nhất theo cách ông mô tả là “bạo lực và trả thù.” Hồ Chí Minh thường tuyên bố khi thống nhất đến quá trình thống nhất nên chậm và theo từng bước một. Nhưng vào năm 1976, vấn đề thống nhất bị áp đặt lên Miền Nam, và họ không có cơ hội phản đối điều ấy.

“Lê Duẩn ra sức củng cố quyền lực này rất nhanh chóng,” Tảng tin.“Ông ta không thể nào để Miền Nam phát triển thành nơi cuối cùng phản đối cương quyết các chính sách của ông.”

Trong số 24 thành viên của Chính phủ Lâm thời vào thời điểm hiệp định hòa bình Paris được ký vào năm 1973, chỉ có ba thành viên được trao cho những chức vụ trong chính phủ thống nhất sau năm 1976. Tảng nói ngoại trừ một vài người khác là các viên chức quân đội, còn tất cả những người còn lại của Chính phủ Lâm thời cũ đều sống trong cảnh hoàn toàn ẩn dật và trong lòng họ rất ghê tởm những gì đã diễn ra.

Nhằm cố gắng giữ ông trong đoàn thể, sau thống nhất giới lãnh đạo Hà Nội ban cho ông chức vụ nhỏ trong bộ lương thực. Ông từ chối, không muốn tiếp tục đồng lõa với chính quyền ông chống đối, ông cũng không muốn bị giám sát thường xuyên ở Hà Nội. Khi ông cuối cùng chấp nhận công việc làm giám đốc công ty cao su vào năm 1978, lý do ông làm thế là để tạo vỏ bọc nhằm tổ chức kế hoạch đào thoát.

Trong sáu tháng ở trại tỵ nạn ông có nhiều thời gian suy nghĩ về chuyện tại sao cách mạng Việt Nam không thành công. Bây giờ ông tố cáo giới lãnh đạo hiện nay đã từ bỏ định hướng về thống nhất dân tộc và phi liên kết quốc tế được Hồ Chí Minh đề ra. Từ ngữ mị dân Mác-xít, ông nói, chỉ là ngôn ngữ áp bức mới ở Việt Nam.

“Ở Việt Nam hiện nay không có chuyên chính vô sản,” ông nói. “Chỉ có điều mà chúng tôi gọi bằng tiếng Việt là ‘gia đình trị’-tức độc tài của các dòng họ. Trong trường hợp này đó là các gia đình của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ (trưởng ban tổ chức Đảng) kiểm soát tất cả mọi thứ.”

Để chứng minh điều này là đúng, Tảng kể ra danh sách gồm các con trai, anh em, anh em vợ của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đang giữ những chức vụ chủ chốt từ đứng đầu công an mật tới bí thư chính ủy lực lượng không quân.

Tiếng Pháp rất giỏi của ông hay cách nói năng nhẹ nhàng của ông vẫn không có thể che giấu sự cay đắng trong giọng nói khi Tảng nói. Nhưng bất chấp những từng trải của mình, lý tưởng của ông vẫn còn nguyên vẹn. Ông nhất định không từ bỏ giấc mơ của mình về xã hội công bằng và dân chủ ở Việt Nam.

Mặc dù ông ban đầu dự định hoạt động chính trị từ từ trong lúc ông thích nghi với cuộc sống mới ở Paris, nhưng bây giờ ông thấy mình thường xuyên đến Paris để tham gia vào các nỗ lực nhằm củng cố phong trào kháng chiến Việt Nam và để hình thành cầu nối với các lực lượng kháng chiến Lào và Cambodia. Ông đã tiếp xúc với bạn học cũ vào thời trung học – hoàng thân Norodom Sihanouk, cựu quốc trưởng Cambodia – và hai người đã trao đổi những lời hứa đoàn kết.

Tảng không mất đi sự mỉa mai khi ông nói về mặt trận chung của nhân dân Việt Nam, Cambodia, và Lào chống lại những kẻ mà ông gọi là “kẻ thù chung”: giới lãnh đạo Hà Nội và những kẻ ủng hộ Liên Xô của họ. Ông ý thức rằng điều ông đang đề xuất thể hiện sự bắt đầu lại từ đầu hội nghị thượng đỉnh của nhân dân Đông Dương vào năm 1970, nơi các nhà lãnh đạo Mặt trận Giải phóng Dân tộc Miền Nam Việt Nam, Miền Bắc Việt Nam, Cambodia, và Lào đã gặp nhau ở Trung Quốc để thành lập liên minh chung chống lại Hoa Kỳ và chế độ Sài Gòn.

Trên đất Pháp ngoại quốc, Trương Như Tảng lại bắt đầu lại từ đầu, làm những gì ông đã làm cách đây 20 năm ở Sài Gòn – đặt nền tảng cho cuộc cách mạng Việt Nam.

Daniel Burstein

Nguồn:

Dịch từ báo Christian Science Monitor số ra ngày 28/8/1980. Tựa đề của người dịch. Tựa đề tiếng Anh là “A revolution who fled the revolution”.

http://www.csmonitor.com/1980/0828/082850.html

Bản tiếng Việt:

Trần Quốc Việt

danlambaovn.blogspot.com

Trở về Hòn Ngọc Viễn Đông hay xóa bỏ văn hóa?

Trở về Hòn Ngọc Viễn Đông hay xóa bỏ văn hóa?

Cát Linh, phóng viên RFA
2016-04-16

thuvienhcm-622.jpg

Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh

Courtesy thuvientphcm.gov.vn

Your browser does not support the audio element.

Khi việc đề nghị đốn hạ 300 cây cổ thụ trăm tuổi trên đường Tôn Đức Thắng chưa kịp lắng xuống thì những ngày qua, thông tin về một phần của Thư viện Khoa học thành phố sẽ bị “xẻ đất” để giao cho một doanh nghiệp tư nhân nhằm mục đích xây cao ốc tiếp tục gây hoang mang cho người dân trong nước.

Đặc biệt, dư luận có sự liên kết giữa hai sự việc với câu phát biểu của ông Đinh La Thăng về việc “mong TP Hồ Chí Minh trở về vị trí số 1 Đông Nam Á” và nhiều người tự hỏi: phải chăng xóa bỏ những di tích văn hóa lịch sử là một trong những cách trở về với tên gọi Hòn Ngọc Viễn Đông?

Xóa bỏ văn hóa đọc?

Tuy chỉ mới là dự định, và chưa có quyết định chính thức từ Sở qui hoạch kiến trúc và UBND TP, nhưng thông tin việc xây cao ốc trong khuôn viên của Thư viện Khoa học Thành phố đã gây nhiều bức xúc cho những người quan tâm đến việc bảo tồn di sản văn hóa, lịch sử của đất nước. Không những thế, các trang mạng xã hội đồng loạt lên tiếng cho rằng việc xẻ đất để xây cao ốc trong khuôn viên thư viện là một việc làm đi ngược lại với việc bảo tồn lịch sử dân tộc, và xem thường văn hóa của một đất nước.

Một tuyên ngôn trắng trợn, xóa bỏ văn hóa rồi còn gì. Chỉ có thể nói được thế thôi. Nếu quả thật bán đi để tiêu, mà sách vở thì cho, nhét vào chỗ khác thì là một việc xóa bỏ văn hóa. Ngạc nhiên và quá đau xót.
-GS Nguyễn Huệ Chi

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, nhà nghiên cứu văn học Việt Nam cổ, trung và cận đại, nguyên trưởng phòng Văn học Việt Nam cổ cận đại khi nghe thông tin này đã thốt lên rằng:

“Thế thì đau đớn quá. Nghĩa là thời buổi này người ta không cần văn hóa và khoa học nữa rồi. Một tuyên ngôn trắng trợn, xóa bỏ văn hóa rồi còn gì. Chỉ có thể nói được thế thôi. Nếu quả thật bán đi để tiêu, mà sách vở thì cho, nhét vào chỗ khác thì là một việc xóa bỏ văn hóa. Ngạc nhiên và quá đau xót.”

Trong khi giáo sư Nguyễn Huệ Chi cho rằng đó là một xóa bỏ văn hóa, thì Giáo sư Ngô Đức Thịnh, nguyên Viện trưởng viện nghiên cứu văn hóa VN bày tỏ sự lo ngại trước một văn hóa đọc đang ngày càng đi xuống của xã hội Việt Nam. Tuy chưa được nghe thông tin chính thức, nhưng giáo sư Ngô Đức Thịnh cho biết ông sẽ không đồng tình với kế hoạch này:

“Nếu việc này có thật thì tôi không đồng ý, tôi phản đối chủ trương đó. Thư viện Tổng hợp cũng không rộng rãi gì, mà bây giờ văn hóa đọc của Việt Nam đang đi xuống. Cho nên cái việc lấy thư viện để làm cao ốc, chỗ ở, hay kinh doanh thì tôi thấy không hợp lý.”

Nói thêm về điều mà ông gọi là văn hóa đọc, Giáo sư Ngô Đức Thịnh cho biết rằng “phần đông sinh viên Việt Nam ngày nay rất lười đọc.”

“Tất nhiên là bây giờ thì có internet, có đủ thứ, nhưng nói gì thì nói, một cuốn sách khi mới ra, cầm nó trong tay, có cảm giác rất thích thú, nhất là mùi thơm của giấy. Không phải là bây giờ mọi người nói internet thì có thể thay được tất cả. Không thay được hết đâu. Thế thì có thể không chủ quan lắm, tôi cho rằng văn hóa đọc của Việt Nam đang đi xuống.”

Yếu tố làm nên Hòn Ngọc Viễn Đông

Tân bí thư thành ủy Đinh La Thăng nhấn mạnh bên hành lang Quốc hội vào ngày 19 tháng 2 vừa qua, đó là ông mong muốn TPHCM phải giành lại vị trí số 1 Đông Nam Á.

cay-xanh-sg-622.jpg

Hơn 20 người dân tại Sài Gòn hôm 26/3 tập trung tại khu vực đường Tôn Đức Thắng để phản đối việc chặt một số cây cổ thụ tại đó để triển khai dự án giao thông.

Hơn một tháng sau đó, ngày 23 tháng 3, cơ quan quản lý đường sắt đô thị TPHCM ra thông báo sẽ đốn hạ 300 cây cổ thụ trên đường Tôn đức Thắng để phục vụ cho dự án giao thông gồm tuyến tàu điện ngầm, cầu Thủ Thiêm 2, nhà ga Ba Son.

Và như vừa nêu là thông tin về một dự án cao ốc 20 tầng, cao khoảng 80m sẽ được xây trong khuôn viên Thư viện KHTH TP với chức năng làm văn phòng, khách sạn.

Trao đổi với chúng tôi, Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã nói rằng, khi người Pháp xây dựng Sài Gòn, thì đã đi trước tất cả, từ Hồng Kong cho đến Singapore còn thua kém nhiều. Để có được Hòn Ngọc Viễn Đông của Đông Nam Á là Việt Nam lúc bấy giờ, họ đã xây dựng những kiến trúc cũng như quy hoạch những con đường trong đó nhiều cây xanh:

“Tôi nghĩ là kiến trúc lớn như vậy thì không phải chỉ có toà nhà, mà là cả một khuôn viên. Bất cứ một công trình nào xây thì cũng sẽ phá tổng quan của kiến trúc đó. Tôi nghĩ là ý thức của vấn đề, về văn hóa cũng như lịch sử rất kém. Phải tôn trọng tất cả những kiến trúc có giá trị vừa văn hóa vừa lịch sử. Thư viện đó mà không tôn trọng thì vấn đề học tập sẽ rất kém, không phát triển được.”

Tôi nghĩ là kiến trúc lớn như vậy thì không phải chỉ có toà nhà, mà là cả một khuôn viên. Bất cứ một công trình nào xây thì cũng sẽ phá tổng quan của kiến trúc đó. Tôi nghĩ là ý thức của vấn đề, về văn hóa cũng như lịch sử rất kém.
-TS Nguyễn Nhã

Thế nhưng, giờ đây, theo Tiến sĩ Nguyễn Nhã, nếu nói đến từ Hòn Ngọc Viễn Đông hay vị trí số 1 Đông Nam Á thì đó là cái thưở rất xưa rồi.

Nhắc đến câu nói của ông Đinh La Thăng, Giáo sư Ngô Đức Thịnh nhấn mạnh rằng muốn Sài Gòn quay trở lại là Hòn Ngọc Viễn Đông, nhưng một trong những yếu tố làm nên Hòn Ngọc Viễn Đông chính là hàng cây xanh, là thư viện. Và ông đặt câu hỏi rằng: “như thế, có phải đi đang ngược lại với lời mình nói hay không?”

Tiến sĩ Nguyễn Nhã cũng chia sẻ rằng, những vết tích còn lại ở Sài Gòn và cả Hà Nội, như hàng cây xanh, thư viện chính là những hình ảnh làm nên bản sắc riêng của hai thành phố này. Theo ông, việc không gìn giữ được những yếu tố lịch sử văn hóa đã chứng tỏ một tầm nhìn rất thấp của những người lãnh đạo đất nước.

Cho đến nay, chưa có quyết định chính thức nào được đưa ra. Một vị đại diện Hội đồng Nhân dân TP trả lời truyền thông trong nước rằng đang chờ báo cáo của UBND TP về dự tính quy hoạch xây cao ốc trên đất thư viện như vừa nêu.

Những người quan tâm đến việc bảo tồn văn hóa lịch sử của đất nước như Giáo sư Ngô Đức Thịnh, Giáo sư Nguyễn Huệ Chi và dư luận đều hy vọng rằng thế hệ sau này vẫn còn được biết đến Thư viện Khoa học Tổng hợp, một trong những biểu tượng văn hóa còn lại của Hòn Ngọc Viễn Đông trước đây.

Tân chính phủ: Bế tắc với những vấn nạn cũ

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan  từ Hà Nội nhận định:

Như vậy nó chứng tỏ nền kinh tế Việt Nam còn nhiều vấn đề lắm, đặc biệt nội tại của nền kinh tế nếu loại trừ khu vực đầu tư nước ngoài ra, thì rõ ràng cỗ máy kinh tế Việt Nam còn rất nhiều vấn đề bất ổn…”

bà Nguyễn Thị Kim Ngân phát biểu bế mạc kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khóa 13,

nhiều chỉ tiêu kinh tế xã hội chưa đạt kế hoạch, tăng trưởng kinh tế chưa bền vững, nợ công, nợ xấu tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn và đặc biệt Việt Nam không thể đạt được mục tiêu đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

 Tân chính phủ: Bế tắc với những vấn nạn cũ

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2016-04-15

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại phiên họp đầu tiên với các thành viên chính phủ mới hôm 14/4/2016.

Courtesy chinhphu.vn

Your browser does not support the audio element.

Tiếp nhận di sản đầy khó khăn

Dàn lãnh đạo mới của Đảng và Nhà nước cũng như tân chính phủ của Việt Nam tiếp nhận di sản đầy khó khăn từ các nhiệm kỳ trước để lại.

Ngày 11/4 Ngân hàng Thế giới cảnh báo rủi ro tiêu cực vẫn chiếm ưu thế trong nền kinh tế Việt Nam, World Bank đồng thời hạ triển vọng tăng trưởng 2016 của Việt Nam xuống mức 6,2% từ mức 6,5% đưa ra trước đó.

Theo SaigonTimes Online, Ngân hàng Thế giới ghi nhận thâm hụt tài khóa so với GDP của Việt Nam diễn ra ở mức cao trong thời gian dài. Ngân hàng Thế giới cũng cảnh báo tình trạng nợ công tăng nhanh trong khi dự trữ ngoại tệ thấp và đang có xu thế giảm, hiện đang là lý do gây quan ngại.

Bản cập nhật đánh giá tình hình kinh tế Việt Nam của Ngân hàng Thế giới được đưa ra trong bối cảnh Việt Nam bổ nhiệm lãnh đạo cao cấp và công bố chính phủ mới.

Năm nay là một năm rất khó khăn của kinh tế Việt Nam thì có thay đổi chính phủ hay không, cũng khó thay đổi được tình trạng đó. Bởi vì sự khó khăn là thực tế của Việt Nam hiện nay, một mặt là nền kinh tế trong năm vừa qua có đạt tốc độ tăng trưởng nhất định nhưng còn quá nhiều vấn đề chưa giải quyết được.
-Phạm Chi Lan

Trả lời chúng tôi vào tối 14/4/2016,  chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan  từ Hà Nội nhận định:

“Năm nay là một năm rất khó khăn của kinh tế Việt Nam thì có thay đổi chính phủ hay không, cũng khó thay đổi được tình trạng đó. Bởi vì sự khó khăn là thực tế của Việt Nam hiện nay, một mặt là nền kinh tế trong năm vừa qua có đạt tốc độ tăng trưởng nhất định nhưng còn quá nhiều vấn đề chưa giải quyết được. Những vấn nạn lớn như nợ công tăng cao, tình trạng nợ xấu của các ngân hàng chưa được cải thiện, doanh nghiệp nhà nước vẫn quá nhiều và kém hiệu quả, khu vực tư nhân trong nước thì rất nhiều doanh nghiệp phải ngừng hoạt động, con số này tiếp tục tăng lên. Nhiều doanh nghiệp lớn hơn, tình trạng hoạt động khá hơn thì lại đi bán cho các công ty khác qua thương vụ mua lại sáp nhập. Như vậy nó chứng tỏ nền kinh tế Việt Nam còn nhiều vấn đề lắm, đặc biệt nội tại của nền kinh tế nếu loại trừ khu vực đầu tư nước ngoài ra, thì rõ ràng cỗ máy kinh tế Việt Nam còn rất nhiều vấn đề bất ổn…”

Bà Phạm Chi Lan nhấn mạnh rằng, không chỉ Ngân hàng Thế giới nhận định nhự vậy, mà chính các chuyên gia trong nước, nhiều tổ chức nghiên cứu của Việt Nam cũng nhận thấy kinh tế của năm 2016 sẽ là một năm khó khăn. Vị chuyên gia từng tham gia biên soạn Báo cáo Việt Nam 2035 đề cập tới bối cảnh Việt Nam đang phải đương đầu với thách thức hội nhập lớn hơn. Trong năm nay Cộng đồng Kinh tế ASEAN hình thành, hàng hóa cạnh tranh của các nước ASEAN ở Việt Nam sẽ tăng lên rất mạnh.

Vẫn theo bà Phạm Chi Lan, thực tế mấy năm vừa qua đã thấy hiện tượng gọi là những cuộc đổ bộ của các doanh nghiệp ở các nước Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines… họ tràn vào Việt Nam để chiếm lấy cơ hội thị trường trong nước của Việt Nam, nhất là trong điều kiện các doanh nghiệp trong nước còn yếu kém, mà chính sách của nhà nước thì vẫn thiên về hướng hỗ trợ nhiều hơn cho đầu tư nước ngoài so với khu vực tư nhân trong nước. Trong tình hình như thế, bà Phạm Chi Lan nói, rõ ràng thách thức của Việt Nam là rất lớn.

000_Hkg10220419-622.jpg

Từ trái sang: Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Hà Nội. (Ảnh minh họa chụp năm 2015)

Trò chuyện với chúng tôi, cùng ngày 14/4/2016, chuyên gia tài chánh Bùi Kiến Thành, một Việt kiều hiện sống và làm việc ở Hà Nội cũng nhìn nhận ban lãnh đạo mới của Đảng và Chính phủ Việt Nam thừa nhận một di sản đầy khó khăn của các nhiệm kỳ trước để lại. Ông nói:

“Dự báo của Ngân hàng Thế giới dựa trên quá trình từ trước ngày chính phủ mới nhậm chức. Thế thì đối với một chính phủ mới nhậm chức nhận được những thông tin như vậy thì cũng phải vươn lên thôi… những điều gì Ngân hàng Thế giới có khuyến cáo thì chúng ta lắng nghe… Cái gì 30 năm nay từ 1985 đến nay chưa làm được thì phải tỉnh táo xem lý do khách quan, chủ quan tại sao chưa làm được, để biết phải làm gì để vượt qua những khó khăn đấy… đó là phần việc mà lãnh đạo Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng như tân Chính phủ phải nghiên cứu hết sức quyết liệt tìm hiểu con đường đi tới. Hiện nay tư duy đã nói hết sức làm những chuyện gì để Việt Nam vươn lên, để hội nhập quốc tế, muốn hội nhập thì phải thực hiện những hiệp định chúng ta đã ký với nước ngoài, trong đó có những điều khoản phải thi hành… có rất nhiều chuyện cần phải làm chứ không phải chỉ là ngồi bàn cãi riêng với nhau mà thôi… phải nghiên cứu tất cả mọi điều kiện để chúng ta tiến tới…”

Thâm hụt ngân sách lớn

Di sản kinh tế Việt Nam qua hai nhiệm kỳ 10 năm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng để lại là sự âu lo về nợ công, thâm hụt ngân sách lớn, sự đổ vỡ đầy mất mát của một số tập đoàn kinh tế nhà nước và tình trạng tham nhũng tràn lan chưa bị đẩy lùi. Việt Nam cũng đã tiến hành cải cách thể chế với kết quả không đáng kể, trong nhiệm kỳ thứ hai của ông Nguyễn Tấn Dũng.

Bây giờ chính phủ nhiệm kỳ mới lại vẫn tiếp tục với những vấn đề không mới mà đã được cảnh báo từ lâu. Được biết,Việt Nam theo cơ chế lãnh đạo tập thể, chịu trách nhiệm tập thể, Đảng Cộng sản lãnh đạo toàn diện. Như vậy, phải chăng Chính phủ nhiệm kỳ mới của Việt Nam cũng sẽ tiếp tục bế tắc như chính phủ tiền nhiệm và trì trệ trong các nút thắt thể chế. Chúng tôi nêu câu hỏi này với chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan và được bà trả lời:

Tôi không nghĩ hẳn là Việt Nam ở tình trạng không thấy ‘ánh sáng cuối đường hầm’. Con đường đi để vượt qua khó khăn từng được nêu lên nhiều rồi chứ không phải bây giờ mới nói… trong những năm vừa qua cũng có những cải cách nhất định được tiến hành…
-Phạm Chi Lan

“Tôi không nghĩ hẳn là Việt Nam ở tình trạng không thấy ‘ánh sáng cuối đường hầm’. Con đường đi để vượt qua khó khăn từng được nêu lên nhiều rồi chứ không phải bây giờ mới nói… trong những năm vừa qua cũng có những cải cách nhất định được tiến hành…thí dụ chính phủ cũ cũng tiến hành công cuộc tái cơ cấu kinh tế, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, có một số thay đổi trong cố gắng để cải thiện môi trường kinh doanh…thì đã có làm một số việc nhưng vấn đề chính là làm không tới nơi tới chốn và có những vấn nạn lớn thì lại chưa được giải quyết, thành ra nó không giúp khắc phục được điều kiện kinh tế khó khăn của Việt Nam những năm vừa qua. Dù nó có thể làm cho tăng trưởng được nhất là với khu vực đầu tư nước ngoài, còn có nhiều ưu đãi dành cho họ, rồi vẫn cố gắng để tiếp nhận những dự án mới, thì họ còn có thể đóng góp cho tăng trưởng. Nhưng khi nền kinh tế nội bộ không tăng trưởng được thì nó sẽ ảnh hưởng về lâu về dài với Việt Nam…”

Cụ thể về tương lai của chính phủ nhiệm kỳ mới, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, nhân vật từng là thành viên Ban tư vấn kinh tế của Thù tướng Phan Văn Khải, tiếp lời:

“Tôi cho là những người lãnh đạo mới lên của nhiệm kỳ này, có lẽ họ cũng đã được thông báo và biết tình hình đó. Tôi chỉ mong họ thực sự nhận thức được sâu sắc những vấn đề của nền kinh tế Việt Nam đương đầu hiện nay và con đường thoát ra khỏi nó, mà các chuyên gia trong ngoài nước đã đưa ra nhất nhiều kiến nghị rồi. Kiến nghị rõ nhất và tập trung nhất, tôi nghĩ là thể hiện trong Báo cáo Việt Nam 2035 mà thời gian vừa rồi Ngân hàng Thế giới cùng với Chính phủ Việt Nam tiến hành nghiên cứu và đã được công bố. Trong đó thông điệp rất rõ là nếu không cải cách thể chế thì Việt Nam sẽ không thể phát triển được, khó thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, còn nếu cải cách thể chế thì Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển được tốt hơn trong những năm tới vượt qua những khó khăn hiện nay.”

Báo chí Việt Nam đưa tin ngày 12/4, tân Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân mô tả những thách thức đầy khó khăn đối diện Quốc hội khóa tới và tân chính phủ.

Soha News trích lời bà Nguyễn Thị Kim Ngân phát biểu bế mạc kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khóa 13, theo đó bà nhìn nhận nhiều chỉ tiêu kinh tế xã hội chưa đạt kế hoạch, tăng trưởng kinh tế chưa bền vững, nợ công, nợ xấu tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn và đặc biệt Việt Nam không thể đạt được mục tiêu đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Điểm qua truyền thông báo chí trong nước, VnExpress là tờ báo điện tử  hiếm hoi, đề cập thẳng vào những thách thức đối với các tân lãnh đạo Việt Nam. Tờ báo trích lời ông Carl Thayer, một chuyên gia về Việt Nam thuộc Học viện Quốc phòng Australia nhận định rằng, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chịu 4 thách thức lớn, gồm giảm nợ công, cải cách hệ thống ngân hàng để giảm nợ xấu, đẩy mạnh việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước và hỗ trợ nỗ lực giảm tham nhũng.

Rõ ràng những vấn nạn vừa nêu là không mới và như lời chuyên gia Phạm Chi Lan bày tỏ hy vọng là, những lãnh đạo mới lên “Sẽ thực sự nhận thức được sâu sắc những vấn đề của nền kinh tế Việt Nam đương đầu hiện nay và con đường thoát ra khỏi nó, mà các chuyên gia trong ngoài nước đã đưa ra nhất nhiều kiến nghị rồi.”

Bị công an ‘đánh vì 700.000 đồng’?

Bị công an ‘đánh vì 700.000 đồng’?

Báo trong nước mô tả “thượng sĩ Hà đã tác động mạnh khiến anh Phong ngã xuống đường nằm bất động”

Hôm 16/4, vợ của người bán hàng rong bị công an đánh tại quận 6, thành phố Hồ Chí Minh nói với BBC rằng vụ việc xảy ra do chồng bà ‘không chịu nộp 700.000 đồng tiền bảo kê mỗi tháng’.

Thượng sỹ Lương Việt Hà là người xuất hiện trong video clip đánh ông Phạm Thiện Minh Phong, 28 tuổi, người bán hàng rong tại khu vực chợ Bình Tiên, (đường Phạm Phú Thứ, phường 4, quận 6) khiến nạn nhân phải nhập viện vì “xuất huyết màng não bán cầu ở bên phải”.

Hôm 15/4, báo trong nước đưa tin ông Hà “đã bị tạm đình chỉ công tác để xác minh”.

Đại tá Nguyễn Sỹ Quang được Tuổi Trẻ hôm 15/4 dẫn lời: “Hành xử của Thượng sỹ Hà trong đoạn video là không đúng quy tắc ứng xử và điều lệnh của ngành. Công an TP. Hồ Chí Minh sẽ xử lý nghiêm, sai đến đâu xử lý đến đó”.

Khởi kiện?

Hoang Dinh Nam AFP Getty Images

Trả lời BBC qua điện thoại hôm 16/04, bà Nguyễn Ngọc Thúy, vợ ông Phong, nói: “Chồng tôi đi nghĩa vụ quân sự về, nhất quyết không đóng 700.000 đồng mỗi tháng như những người khác để được yên ổn bán rong”.

“Bán trái cây mỗi tháng thu nhập chỉ vài triệu đồng, đóng 700.000 đồng thì còn đâu ra để lo tiền thuê nhà, tiền học cho con?”.

Bà Thúy nói thêm, hai tháng trước, vì không đóng ‘hụi chết’, chồng bà bị thu chiếc xe lôi và mới dành dụm mua lại chiếc xe mới với giá 1,5 triệu đồng (xuất hiện trong đoạn clip).

Bà cũng cho hay: “Thượng sĩ Hà và mẹ có đến gặp vợ chồng tôi để nhận trách nhiệm vụ hành hung, xin bỏ qua và trả viện phí cho chồng tôi tại Bệnh viện 115. Hiện chồng tôi vẫn bị đau ở cổ và cột sống. Chồng tôi nói không thể bỏ qua vì ông Hà có thể tái diễn việc hành hung những người dân khác”.

Bà nói gia đình đang suy tính việc kiện Thượng sỹ Hà ra tòa.

Chúa Nhật 4 Phục Sinh

Phúc Âm

Gioan 10:27-30

27

Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi.

28

Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải

diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.

29

Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không

ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha.

30

Tôi và Chúa Cha là một.

THẬP GIÁ VÀ THÁNH GIÁ

THẬP GIÁ VÀ THÁNH GIÁ

LM Nguyễn Tầm Thường, SJ

     Thập giá ở khắp nơi, trên mộ bia trong nghĩa trang, trên tháp cao nhà thờ, trên bàn dâng lễ, trên ngực áo, bên vành tai, trên tường đá.  Nhiều thập giá quá.  Ðức Kitô bị đóng đanh trên thập giá.  Thập giá đã mặc nhiên được coi như biểu tượng của Kitô hữu.  Nơi nào thấy thập giá, người ta nghĩ ngay nơi ấy có đạo Chúa.  Vậy có thể nói nơi nào có thập giá, nơi ấy có Ðức Kitô không?

Tôi không nghĩ như vậy.

THAP GIA VA THANH GIA

Trước khi Ðức Kitô bị đóng đanh đã có thập giá rồi.  Người Rôma dùng thập giá để lên án tử hình cho các tội nhân.  Bấy giờ, ở đâu có thập giá là có sự chết.  Người ta sợ hãi thập giá.  Bóng thập giá là tử thần.  Thập giá tới đâu có khóc than ở đó.  Bởi thế, nếu nói đâu có thập giá là có Chúa thì kiểu nói ấy e rằng rất hàm hồ.  Hôm nay, nếu nói nơi nào có bóng thập giá là nơi ấy có vết chân người Kitô hữu thì có thể đúng.  Nhưng làm sao dám khẳng định nơi nào có Kitô hữu là có Chúa hiện diện?  Người ta có thể dùng thập giá để đấu tranh.  Ðã chẳng có những xứ đạo mất bình an chỉ vì xây cất nhà thờ đó sao.  Không phải cứ có bóng thập giá là có sự hiện diện của Chúa.

Biểu tượng và ngẫu tượng

Những gì tôi thấy hôm nay, thập giá trên tháp chuông cao, thập giá trên bàn thờ nhà tôi, thập giá ở cổng giáo đường, nhiều khi rất là vô nghĩa.  Tôi quá quen thuộc với biểu tượng nên biểu tượng có thể dễ trở thành ngẫu tượng.  Khi tôi mặc nhiên cho rằng nơi nào có thập giá là có Chúa thì tôi có thể chỉ nỗ lực xây dựng nhiều thập giá.  Ðiều này dễ rơi xuống hố sâu nguy hiểm.  Biểu tượng bao giờ cũng mang hai đặc tính.  Ðặc tính thứ nhất của biểu tượng là cần nhìn thấy.  Vì thế, thập giá có thể bằng xi măng, bằng đá, bằng đồng, bằng vàng.  Ðặc tính thứ hai là biểu tượng ấy phải diễn tả một thực tại không nhìn thấy ở đàng sau.  Ðiều này gian nan chứ không đơn giản.  Một thực tại vắng mặt thì có thể diễn tả bằng một biểu tượng.  Nhưng không phải cứ có biểu tượng là có thực tại vắng mặt.  Và bi đát hơn nữa là người ta có thể đánh lừa bằng biểu tượng.  Gởi tặng cánh hoa là gởi biểu tượng để chuyển ngữ một tình cảm không nhìn thấy.  Biểu tượng ấy chỉ đúng nghĩa khi có tình yêu ở phía sau.  Như thế phải có tình yêu trước.  Biết bao người tặng hoa nhưng không tặng tình yêu.  Biết bao người nhận hoa mà trao lầm trái tim vì ngỡ rằng có tình yêu ở đàng sau cánh hoa.

Ðiều đó cũng đúng với thập giá.  Thập giá là biểu tượng thì tôi phải đi tìm thực tại đàng sau biểu tượng.  Nếu tôi gọi thập giá là biểu tượng hiện diện của Chúa mà thật sự không có Chúa thì lòng yêu mến biểu tượng ấy thành ôm giữ ngẫu tượng.  Quá quen với não trạng thập giá là biểu tượng hiện diện của Chúa, nên ta ít tự hỏi nếu không có sự hiện diện của Chúa thì tôi đang ôm giữ gì.  Không còn là biểu tượng hiện diện của Chúa, nếu không là ngẫu tượng thì ta gọi là chi?

Lý do các thượng tế đưa ra để kết tội Chúa là vì Ðức Kitô nhận mình là Con Thiên Chúa.  Theo họ, Ðức Kitô đã phạm thượng vì xúc phạm đến Thiên Chúa.  Còn họ thì phải bảo vệ Thiên Chúa (Mc 14:60-64).  Chính trong hành động nhân danh Thiên Chúa để bảo vệ Thiên Chúa họ đã kết án Thiên Chúa.  Chính hành động họ nói Ðức Kitô phạm thượng, họ đã phạm thượng.  Gian nan là ở đấy.  Quá gần Thiên Chúa nên ngỡ Thiên Chúa ở rất xa.  Càng đợi trông một Thiên Chúa ở xa mà Ngài lại ở gần thì sự xa cách ấy lại càng xa hơn nữa.

Do đấy, kẻ ôm giữ thập giá là biểu tượng chứ chưa chắc có sự hiện diện của Chúa mà họ cứ khăng khăng tin rằng họ đang ôm giữ Chúa thì làm sao mà nhận ra sự xa cách ấy.  Cho nên họ tưởng rất gần Chúa mà thật sự rất xa.  Từ biểu tượng đến ngẫu tượng, họ tưởng rất xa, mà lại hóa quá gần.

Từ thập giá đến THÁNH giá

Ba cây thập giá dựng lên trong chiều ấy.  Ðức Kitô ở giữa hai tội nhân.  Trong ba cây thập giá ấy chỉ có cây ở giữa là THÁNH giá.  Khi Ðức Kitô tắt thở trên cây thập giá, Ngài đi vào Phục Sinh thì cây thập giá khốn khó ấy thành cây cứu rỗi và trở nên THÁNH.  Chất THÁNH ấy là tình yêu, là đau khổ, là sự chết, là vinh quang.  Không có tình yêu thì thập giá không là THÁNH giá.

Nhìn lại những bến bờ đã đi qua của thập giá và THÁNH giá, ta thấy ngay khi thập giá trở thành THÁNH giá rồi cũng không có nghĩa cứ thoáng nhìn là nhận ra THÁNH giá.  Vẫn có một khác biệt rất lớn.  Câu chuyện hai người trộm bị đóng đanh cùng với Chúa chứng minh điều đó.  Một người nhục mạ Chúa:

“Ông không phải là Ðấng Kitô sao?  Hãy tự cứu mình đi, và cứu chúng tôi với.” Một người thì nói: “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ!  Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm.  Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!” Rồi anh ta thưa với Ðức Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Ðức Giêsu nói với anh: “Hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Ðàng” (Lc 23:39-43)

Một người nhìn thấy thập giá là THÁNH giá.  Một người nhìn thấy THÁNH giá chỉ là thập giá.

Phân biệt thập giá và THÁNH giá không đơn giản.  Lại càng không giản đơn khi ta quá quen biểu tượng trong một não trạng mù mờ.  Trước THÁNH giá thật mà còn không nhận ra THÁNH giá thì trước những THÁNH giá giả vấn đề còn gian truân tới đâu.  Nếu không biết yếu tố làm nên chất THÁNH, nếu không tìm yếu tố làm nên chất THÁNH, nếu không sống yếu tố làm nên chất THÁNH thì ta không có THÁNH giá.  Cả một bến bờ cuộc sống chỉ là ngẫu tượng.

Trong xã hội hôm nay, từ tâm lý quảng cáo đến các tổ chức chính trị, văn hóa, thể thao, nghệ thuật, từ cá nhân đến tập thể, chỗ nào cũng thấy có những biểu tượng cho sinh hoạt của tổ chức đó.  Mặc dầu Chúa bảo: “Cứ dấu này mà người ta nhận ra chúng con là môn đệ Thầy, là chúng con hãy thương yêu nhau (Ga 13:34-35).  Nhưng chúng ta cũng vẫn có một biểu tượng cho sự hiện diện của đạo Chúa, đó là THÁNH giá.

Biểu tượng là để người khác nhìn.  Tôi sống trên quê hương tôi thì biểu tượng là ngôn ngữ nói với những người cùng một quê hương ấy.  Tôi phải dùng ngôn ngữ nào dễ hiểu và chính xác cho thực tại là Chúa ở sau biểu tượng?  Trên một quê hương nghèo đói thì biểu tượng để nói về Chúa là bác ái, chia xẻ cảnh khốn cùng.  Giữa cảnh các bé thơ thất học không có trường lớp, thầy cô thiếu lương, thì sự hiện diện của Chúa không là biểu tượng thập giá to hay nhỏ, mà phải là THÁNH giá có tình yêu, dấn thân cho Tin Mừng bằng con tim tận tụy như chính một rung cảm chiều nọ bên đồi vắng: “Ta thương đoàn dân này… Ta không muốn để họ đói… Ta sợ rằng họ lả dọc đường” (Mt 15:32).

**************************

Lạy Chúa, không có bác ái, không có THÁNH giá, chỉ có thập giá thì con chẳng nói gì về Chúa cho những người cùng một dân tộc mà Chúa sai con tới cả.  Một biểu tượng sai về Chúa sẽ làm cho Chúa còn khổ tâm hơn nữa.  Có khi người ta càng nhìn thấy thập giá mà càng xa Chúa.  Có khi càng nhiều bóng thập giá càng làm người ta khó chịu những kẻ xây dựng nên nó.  Ðiều đó cũng đúng thôi, vì thập giá không là THÁNH giá.  Có THÁNH giá phải có bác ái.

Lạy Chúa, nhưng nếu con không hiểu rõ con đang có THÁNH giá hay chỉ có thập giá trong giáo xứ, trong gia đình, trong đời sống của con thì làm sao con biết nói với dân tộc con về Chúa qua biểu tượng THÁNH giá.

LM Nguyễn Tầm Thường, SJ

trích trong “Viết Trong Tâm Hồn”

Những cái chết… “đúng qui trình”!

Những cái chết… “đúng qui trình”!

Dân Trí

Bùi Hoàng Tám

15-4-2016

(Minh họa: Ngọc Diệp)

Nếu đằng nào dân cũng “chết đúng qui trình” thì lập ra ban nọ, bệ kia mỗi năm tiêu tốn cả đống tiền của dân để làm gì nhỉ? Hay là giải tán quách nó đi để cho dân “chết đúng qui trình” vì đằng nào chả thế, chết là hết, cần gì đúng qui trình hay không đúng qui trình?

“Đúng qui trình” đang là cụm từ “hot”. Vào trang tìm kiếm Google lúc 14g30 ngày 14/4/2016 cho 03 từ này, thấy 353.000 kết quả trong 0,47 giây với đủ các nội dung.

Từ việc bổ nhiệm cán bộ sai qui định, cấp sổ đỏ hay cho phép xây nhà trái phép, cấp cứu người bệnh cho đến tăng giá các mặt hàng thuộc nhóm độc quyền… Tất tần tật đều rất “đúng qui trình”.

Trên tờ Vn Economy, ông Nguyễn Sĩ Cương, Ủy viên Thường trực Ủy ban Pháp luật của Quốc hội đã từng chua chát thốt lên: “Thật lạ lùng là cái gì cũng đúng quy trình! Tiêm chết người rồi vẫn khẳng định là… đúng quy trình, bỏ tù oan đến cả 10 năm vẫn… đúng quy trình, bỏ lọt 230 kg ma túy qua cửa khẩu vẫn… đúng quy trình. Tôi cho rằng đấy chỉ là sự biện hộ và rũ bỏ trách nhiệm một cách vô cảm”.

Thế nhưng Tại Hội nghị Thành ủy Đà Nẵng lần thứ 4 ngày 13/4, ông Lê Minh Trung, Bí thư Quận ủy Thanh Khê còn có một khái niệm mới về “qui trình”: “Chết dần dần đúng… qui trình”.

Ông Trung nói: “Thành phố có hàng trăm héc-ta rau sạch, rau sạch này bán ở đâu, địa chỉ nào, chỉ cho dân đến mua. Không biết rau sạch hay là dơ thì cứ ăn, ăn xong rồi chết dần dần, gọi là “chết đúng qui trình”.

Thật ra, chuyện thực phẩm bẩn của ta thì chả có gì mới. Nghĩa là nó cũ một cách nguy hiểm hay nói một cách khác, một mối nguy hiểm rất… cũ.

Rau tưới bằng dầu hỏa, trồng ở bãi tha ma vừa chôn người chết, rửa ở rãnh nước thải. Gạo chứa thuốc trừ sâu, diệt cỏ. Tôm cá đồng nhiều dư lượng kháng sinh, hải sản ướp phân bón ure. Thịt lợn chứa chất tạo nạc và thuốc an thần. Thịt bò bơm nước. Thịt gà bôi phẩm màu hóa chất dùng để đánh bóng bàn ghế… là chuyện thường ngày.

Nhà thơ Trần Đăng Khoa kể: “Hồi ở Đài Tiếng nói Việt Nam, một phóng viên của tôi đi công tác Hà Tĩnh về, có tặng tôi hai quả bưởi. Bưởi đặc sản, quý lắm. Tôi cất trong tủ. Đợi có khách quý thì khao. Thế rồi quên. Mấy quả bưởi lăn lóc trong đống báo đã đọc. Khi được tặng bưởi, tôi đang là Giám đốc Kênh Truyền hình. Rồi sau đó, tôi chuyển sang làm Phó Bí thư Đảng uỷ. Bốn năm sau, tôi có lệnh điều động chuyển hẳn sang Hội Nhà văn. Lúc bấy giờ, tôi mới chuyển cơ quan, nghĩa là sau khoảng 6 năm, dọn tủ, tôi bất ngờ thấy hai quả bưởi mà mình đã bỏ quên. Càng bất ngờ hơn khi sau 6 năm, bưởi vẫn tươi nguyên, và lúc bổ ra, múi bưởi vẫn đẹp, vẫn tươi mọng. Thật kinh hoàng”.

Chuyện “trường tồn” của thực phẩm ở ta thì kinh hoàng rồi. Có người hài hước nói rằng rồi đây Việt Nam sẽ có nhiều… xác ướp nhất thế giới. Lý do là bởi khi còn sống, ăn nhiều chất phocmol nên khi chết, thịt sẽ “tươi” mãi mãi…

Có một câu hỏi cũng “tươi mãi”: Ai chịu trách nhiệm?

Câu trả lời nhìn chung là giống nhau và cũ: Không ai cả!

Thế nhưng lần này, có một câu mới, mới như… cũ. Đó là của bà PGS TS Viện trưởng Viện Kiểm nghiệm ATVSTP Quốc gia LÊ THỊ HỒNG HẢO: “Đầu tiên là trách nhiệm của người sử dụng”.

Lại nhớ có lần ông Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh Đinh La Thăng than thở: “Các bộ nói phối hợp rất tốt, nhưng thực tế dân vẫn cứ ăn thực phẩm bẩn, thế thì tốt ở đâu, tốt để làm gì, chẳng nhẽ nói dân cứ tạm ăn bẩn đi để các bộ xây dựng lộ trình?”.

Các bộ “phối hợp rất tốt” nhưng dân thì vẫn phải “ăn bẩn”, thế thì “tốt ở đâu” và “tốt để làm gì”? Rồi giờ đây trách nhiệm “đúng qui trình” là “của người sử dụng”.

Mà quan đúng qui trình thì dân chết cũng… đúng qui trình là phải lẽ tự nhiên thôi. Cái “qui trình chết” này của dân bắt đầu từ ăn phải thực phẩm bẩn, rồi nhiễm bệnh, rồi ốm, rồi chết. Rất đúng qui trình vì chả mấy ai chưa ốm đã chết trừ tai nạn gì đó thì không tính ở đây.

Chỉ có điều, nếu đằng nào dân cũng “chết đúng qui trình” thì lập ra ban nọ, bệ kia mỗi năm tiêu tốn cả đống tiền của dân để làm gì nhỉ? Hay là giải tán quách nó đi để cho dân “chết đúng qui trình” vì đằng nào chả thế, chết là hết, cần gì đúng qui trình hay không đúng qui trình?

Vì thế tại Đà Nẵng, ông Nguyễn Xuân Anh cho biết, thành phố sẽ lập lại Ban chỉ đạo an toàn vệ sinh thực phẩm mà thành viên Ban chỉ đạo phải là cấp trưởng ở các sở ngành, quận huyện và giám đốc các Sở Y tế, Công thương, Công an… cùng chủ tịch các quận, huyện.

Ban sẽ do một Phó Chủ tịch UBND TP làm trưởng ban, có cơ chế báo cáo trực tiếp với Thường trực Thành ủy và đề xuất các giải pháp đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

Đây là nét rất mới bởi chao ôi, người xưa có câu “Sinh có hạn, tử bất kỳ” nhưng giờ đây nếu mà chết cũng có… qui trình thì còn có gì để nói, phải không các bạn?

CHẾT RỒI… ĐI ĐÂU ?

CHẾT RỒI… ĐI ĐÂU ?

 PHÙNG VĂN HÓA

 Ephata 689

Đối với người bình thường thì cái chết luôn là một đề tài kiêng kỵ, người ta dường như muốn lẩn tránh nó. Thế nhưng có những trường hợp không thể lẩn tránh, đó là khi người thân yêu ruột thịt của chúng ta qua đời. Đứng trước ngôi mộ mới đắp khói hương nghi ngút, mọi người đều đã ra về chỉ còn mình ta với câu hỏi quay quắt: Xác thân nằm đó còn hồn đi đâu ? Sở dĩ cái chết của những người mà chúng ta rất đỗi yêu thương như cha mẹ vợ chồng con cái, mới gợi cho ta nỗi niềm thắc mắc, là bởi những con người ấy đã sống với ta một quãng thời gian lâu dài, với biết bao là yêu thương gắn bó, mà nay lại phải chia ly không ngày gặp lại ! Chết là một sự chia ly, và sự chia ly ấy có nghĩa: một người còn ở lại trên cõi đời này, còn người kia thì ra đi biền biệt sang cõi đời khác. Thật sự thì có hay không một cõi đời khác để người chết ra đi, đó là một nan đề triết học mà cho đến nay vẫn chưa được giải quyết. Với duy vật thì chết là hết chuyện chẳng có gì để nói. Tuy nhiên nói thì vậy nhưng đối với những con người có đầu óc suy tư, chẳng hạn J.P. Sartre, thì cái chết vẫn là một bí ẩn khôn dò: “Điều cần ghi nhận đầu tiên là tính chất phi lý của sự chết”. Sở dĩ chết là phi lý bởi vì nó mù quáng và đột ngột chấm dứt mọi dự phóng. Theo triết gia hiện sinh này thì con người tất yếu là dự phóng và dự phóng ấy chỉ là những hoài vọng vô ích ở cõi đời này, tuyệt nhiên chẳng có quan hệ gì với cõi đời sau.

Chết có phải hết hay còn, đó là đề tài muôn thuở của triết học cho cả Đông lẫn Tây. Để tránh cái tệ nạn viển vông, Đức Khổng trả lời cho đệ tử là Tử Cống rằng: “Cho người chết là mất hẳn không biết gì nữa là bất nhân không nên theo. Cho người chết là còn biết như lúc còn sống là bất trí không nên theo” ( Chi tử nhi tri tử chi, bất nhân, nhi bất khả vi giã; chi tử như tri sinh chi, bất trí, nhi bất khả vi giã – Lễ Ký ).

Cho người chết là mất hẳn không còn gì nữa là bất nhân, bởi như thế sẽ chẳng còn có tưởng niệm, có cầu nguyện, tóm lại, chẳng còn có đời sống tâm linh tôn giáo gì cả. Ông HCM một người tự nhận là CS vô thần mà khi làm di chúc vẫn nói mình đi theo ông Mác, ông Lê. Vậy thử hỏi cái việc đi theo ấy là đi đâu ? Phải có nơi có chốn để đi chứ đâu thể cứ nói khơi khơi vậy được ? Cần có nơi có chốn mới có thể đi. Đây là vấn đề hết sức quan hệ trong lãnh vực tâm linh, không thể bỏ qua.

Đạo Công Giáo hiện đang rơi vào khủng hoảng mà nguyên nhân gây ra cho nó chính là vì đã không xác định được cái nơi chốn để về. Trước đây Gíao Hội vẫn tin và giảng dạy về bốn sự sau hết gọi là Tứ Chung ( Novissimis ): Chết, Phán xét, Thiên Đàng, Hoả Ngục. Tín hữu luôn tin rằng sau khi chết con người sẽ chịu phán xét, kẻ lành lên Thiên Đàng hưởng phúc đời đời, còn kẻ dữ sẽ phải phạt trong Hoả Ngục muôn kiếp. Tin có Thiên Đàng có Hoả Ngục tức là tin đó là hai nơi chốn có thực. Cần có lòng tin như thế chúng ta mới cố gắng làm lành lánh dữ để được lên Thiên Đàng và khỏi sa Hoả Ngục. Tin vào đời sau, có thưởng có phạt đó không phải dị đoan nhưng là niềm tin chính đáng ( chánh tín ) của người có đạo. Thế nhưng niềm tin Thiên Đàng, Hoả Ngục có nơi có chốn ấy ngày nay đã bị Thần Học thẳng thừng bác bỏ: “Nếu bạn đã từng nghĩ như tôi hoặc vẫn còn đang nghĩ Thiên Đàng, Luyện Ngục và Hoả Ngục là những nơi chốn thì sai rồi. Bạn cứ mở cuốn Toát yếu Giáo Lý Công Giáo do Đức Giáo Hoàng Benedicto đương kim soạn thảo ra mà xem thì sẽ thấy quan niệm về Nơi Chốn của Thiên Đàng, Luyện Ngục và Hoả Ngục như là những Nơi Chốn là sai bét tè le” ( Nguồn: Lm. Ansgar Phạm Tĩnh, Tháng các Linh Hồn, tìm hiểu Thiên Đàng, Luyện Ngục và Hoả Ngục ) Thay cho quan niệm Thiên Đàng, Hoả Ngục có nơi chốn, Thần Học cho rằng đó chỉ là những tình trạng: “Thiên Đàng là tình trạng hạnh phúc tối thượng và vĩnh viễn. Ai chết trong ân sủng của Thiên Chúa và ai không còn bất cứ sự thanh luyện cuối cùng nào sẽ được quy tụ quanh Chúa Giêsu và Đức Maria, các Thiên Thần và các Thánh…” Thiên Đàng là tình trạng, và Hoả Ngục cũng thế:

“Hoả Ngục là tình trạng xa cách đời đời khỏi Thiên Chúa… Đức Kitô diễn tả thực tại Hoả Ngục bằng những lời này: “Quân bị nguyền rủa kia đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời” ( Mt 25, 41 ).

Ở đây ta thấy có sự bất nhất; trước thì nói Thiên Đàng không phải nơi chốn sao lại bảo Thiên Đàng là nơi quy tụ ?!? Không có nơi có chốn thì làm sao quy tụ được đây ? Lại nữa Hoả Ngục cũng phải có nơi có chốn bởi nếu không thì kẻ dữ sẽ vào đâu khi nghe Chúa phán: “Hãy đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời ?”

Cả Thiên Đàng lẫn Hoả Ngục chẳng những đều có nơi có chốn, hơn nữa còn có nhiều tầng bậc cao thấp khác nhau. Thánh Phaolô có lần đã được dẫn đưa tới tầng trời thứ ba: “Tôi biết một người trong Đức Kitô cách mười bốn năm trước đây đã được cất lên đến tầng trời thứ ba. Hoặc trong thân thể tôi chẳng biết hoặc ngoài thân thể tôi cũng chẳng biết, có Đức Chúa Trời biết. Tôi biết thể nào người đó, hoặc trong thân thể hoặc ngoài thân thể tôi cũng chẳng biết, có Đức Chúa Trời biết, đã được cất lên đến Lạc Viên ( Paradis ) nghe những lời không thể nói mà người nào cũng không được phép nói ra” ( 2Cr 12, 2-4 ).

Thánh Phaolô nói ngài đã được cất lên tới tầng thứ ba. Điều này cho thấy rõ ràng Thiên Đàng có một nơi chốn chứ chẳng phải tình trạng như Thần Học nói. Thiên Đàng như một nơi chốn hoàn toàn khác với tình trạng ở chỗ: một đàng Thiên Đàng là nơi cư ngụ vĩnh viễn của Chúa Giêsu, Đức Mẹ, các Thánh và những kẻ lành, còn tình trạng chỉ là trạng thái lúc có lúc không và mang tính chất bất định. Mặt khác, Thiên Đàng phải là một nơi chốn mang tính vĩnh viễn mới khiến cho ta quy hướng mong mỏi được về, chứ có ai lại muốn  về với cái tình trạng bất định làm gì ?

Nguyên nhân sâu xa khiến Thần Học bác bỏ Thiên Đàng như một nơi chốn là bởi người ta đã không nhận ra chiều kích tâm linh của Thiên Đàng cũng như của Hoả Ngục. Thiên Đàng, Hoả Ngục là lãnh vực thuộc tâm giới chứ không phải vật giới. Tâm giới thuộc vô hình, còn vật giới thuộc hữu hình. Con người chết, tức từ cõi hữu hình bước sang cõi vô hình. Gọi là vô hình bởi vì giác quan không thể cảm nhận chứ nó thực sự là một cõi, một thế giới với vô vàn vô số tầng bậc khác nhau.

Theo quan điểm nhà Phật thì cõi vô hình ấy gồm có sáu nẻo đó là: Thiên, Nhân, Atula, Ngạ Quỷ, Súc Sanh và Địa Ngục. Nguyên nhân khiến con người sau khi chết phải vào sáu nẻo luân hồi là do cái nghiệp dẫn dắt. Nghiệp nhân nào thì có quả báo của nghiệp đó. Cũng theo quan điểm Phật Giáo thì mục đích rốt ráo của việc tu hành là để thoát khỏi lục đạo luân hồi hầu vãng sanh Tây Phương Cực Lạc.

Trong tinh thần hội nhập hôm nay, thiết nghĩ chỉ có thuyết Nghiệp Báo của Phật giáo mới có thể giải đáp thoả đáng được cho câu hỏi “Chết rồi đi đâu”. Triết Học đề ra cho mình ba vấn đề. Một là con người bởi đâu sinh ra, hai là sống trên đời để làm gì và ba là chết rồi đi đâu ? Đề ra nhưng không thể giải quyết, triết học đương nhiên lâm vào bế tắc. Riêng với Thần Học, một thứ triết duy lý trá hình, thì sự thất bại còn não nề hơn, chẳng những không biết chết về đâu mà còn phủ nhận cả cái nơi cần trở về ấy nữa.

Bởi nguyên do nào mà Thần Học lại đi đến chỗ phủ nhận cả Thiên Đàng lẫn Hoả Ngục ? Xin thưa là vì vẫn còn chưa thoát khỏi quan niệm Đấng Thần Linh Tạo Hoá. Quan niệm Đấng Tạo Hoá đưa đến hai hệ quả. Một là Thuyết Định Mệnh, tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng và như thế được lên Thiên Đàng hay phải xuống Hoả Ngục đều do Chúa quyết định. Hai là Thiên Chúa không bao giờ dựng nên Hoả Ngục bởi vì Ngài là Thiên Chúa Tình Yêu chẳng khi nào lại nỡ đày đoạ con cái mình vào nơi khốn nạn ấy !

Dẫu sao Thuyết Định Mệnh ngày nay chẳng còn mấy ai chấp nhận. Tuy nhiên nếu bảo rằng tôi phải trách nhiệm về đời mình thì người ta có thể lập luận: điều ấy chỉ đúng trong cuộc sống hiện tại còn đời sau thì không. Tại sao ? Bởi vì cái đời sau, nghĩa là sau khi chết ấy, tôi có còn phải là tôi nữa đâu ?

Chính vì cho rằng sau khi chết tôi không còn phải là tôi nên mới có những người tự kết liễu đời mình bởi nghĩ chết là hết cái… nợ đời ! Thật sự thì chẳng bao giờ hết được nợ vì rằng đây chính là cái “Nghiệp” mà mỗi người đã vương mang từ muôn kiếp. Thi hào Nguyễn Du nói: “Đã mang lấy nghiệp vào thân, cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa” “Nghiệp” dịch từ chữ Phạn là Karma nghĩa của nó là Tác Ý. Tất cả tư tưởng lời nói việc làm là do ý muốn làm động cơ khởi phát và ý muốn ấy cứ lập đi lập lại để thành ra Nghiệp. Ý muốn thuộc về Tâm là cái vô hình nhưng nó quyết định cho mọi hành vi con người. Có ý muốn tốt sẽ hành động tốt, ngược lại ý muốn xấu sẽ hành động xấu. Đức Kitô nói: “Không có cây tốt lại sanh trái xấu, cũng không có cây xấu lại sanh trái tốt. Cứ xem quả thì biết cây. Người ta không hái trái vả nơi lùm gai. Cũng không hái trái nho nơi chà chuôm. Người thiện do lòng chứa thiện mà phát ra điều thiện. Kẻ ác do lòng chứa ác mà phát ra điều ác. Vì do sự đầy dẫy trong lòng mà miệng mới nói ra” ( Lc 6, 43 – 45 ).

Chứa ở đây là chất chứa, có chất chứa những ý muốn thiện lành thì mới có thể có những hành động thiện lành. Ngược lại, cứ chứa chấp những ý muốn xấu xa ác độc thì sẽ hành động ác. Người đời coi thường những ý muốn khởi phát ở nơi Tâm, tưởng nó vô hại mà không biết rằng mình đang tạo nghiệp. Nghiệp nhân nào sẽ có nghiệp quả đó. Được lên Thiên Đàng hay phải đoạ đày muôn kiếp trong Hoả Ngục hoàn toàn không do một Đấng Thần Linh nào đó quyết định, nhưng là do nghiệp dẫn. Hiểu như thế thì vấn đề quan trọng của mỗi người có đạo chúng ta là phải làm sao tạo cho mình một cái nghiệp lành để hưởng quả lành tối thượng là Nước Thiên Đàng đời đời.  Tạo nghiệp lành để hưởng quả lành, và nghiệp lành ấy không gì bằng là thi hành Thánh Ý Chúa trong tư tưởng lời nói việc làm: “Chẳng phải mỗi kẻ nói cùng Ta rằng: lạy Chúa lạy Chúa mà vào Nước Trời được đâu, nhưng chỉ những kẻ biết vâng theo Ý Chỉ của Cha Ta trên trời mà thôi” ( Mt 7, 21 ).

Vâng theo Thánh Ý Thiên Chúa là một việc khó mà dễ. Nói là khó, rất khó bởi vì vẫn còn thấy có cái Ta ( Ngã chấp ). Còn dễ là biết bỏ cái Ta không thật đó đi. Bỏ cái Ta có nghĩa là bỏ hết dục vọng còn chứa chấp ở nơi mình, khi ấy Đấng Cha tức bộ mặt xưa nay ( Bổn lai Diện Mục ) sẽ hiện tiền: “Cứ phá bỏ được những dục vọng bên ngoài thì sẽ thấy cái thiện căn bản của lòng mình được no đầy” ( Dĩ khử phù ngoại dụ chi nhi sung kỳ bản nhiên chi thiện ( Trung Dung – Chương một ).

Bỏ dục vọng, tức bỏ đi những ý muốn xấu ác, chỉ có thế thôi. Thế nhưng để làm được việc làm này thì phải có ơn Chúa. Mặc dầu ơn Chúa là cái không thể thiếu, nhưng nếu ta không cộng tác tức không gắng sức tạo cho mình một cái nghiệp lành bằng cách tham dự Thánh Lễ hàng ngày cách sốt sắng và chuyên cần đọc Kinh Mai Khôi, thì cũng vô ích: “Song ai bền đỗ đến cùng thì mới được cứu” ( Mt 10, 22 ).

PHÙNG VĂN HÓA

LÒNG XÓT THƯƠNG

LÒNG XÓT THƯƠNG

 Lm. VĨNH SANG, DCCT

 EPHATA 689

 Chiều nay tôi có việc đến thăm một gia đình sống trong khu “ổ chuột”, con đường giao thông trong khu vực quanh co bí hiểm, lối di chuyển chỉ vừa hơn một chiếc xe hai bánh, khi hai xe đối đầu thì một xe phải dừng lại nghiêng một bên để nhường xe kia đi qua, tiếng máy xe nổ vang do dội âm từ hai bức tường đối diện. Bề bộn trên con hẻm là những vũng nước, những chai lọ và những rác rưởi lặt vặt. Dân cư sống trong khu vực đến từ nhiều nơi có thể gọi là “giang hồ tứ chiếng” ( bốn phương sông nước), dĩ nhiên khu vực ấy chỉ dành cho những người nghèo, đáp ứng những khả năng và nhu cầu tối thiểu của người nhập cư vào thành phố.

Bất ngờ khi tôi ngồi ngoài hiên ngôi nhà tôi muốn thăm, một người đàn ông đến gần xin gặp, tôi không xa lạ gì anh vì đã đôi ba lần gặp nhau, nhưng trong những dịp ấy tôi chưa bao giờ nói chuyện với anh, tôi có biết đôi chút về anh qua những người quen khác, sau này tôi biết thêm qua mạng Facebook nhờ những hoạt động của anh. Xuất thân từ giới giang hồ của thành phố, anh sống đời dọc ngang, dĩ nhiên là trong giới anh chị, anh có nhiều thành tích và nổi tiếng gan lì khi đối đầu với cảnh sát.

Thế rồi cách đây hai năm, anh tập tành chơi Facebook, mạng thông tin đã nhanh chóng biến đổi anh, những tấm gương sống hy sinh trên Facebook, những câu chuyện về những người sẵn sàng dấn thân được kể trên Facebook, những sự thật phũ phàng trong xã hội ở “thượng tầng kiến trúc”, tất cả đã tác động lên anh, từ một tay anh chị, anh trở thành người thao thức và trăn trở với tình thương, sự thật và công bằng. Anh đã tâm sự với một người bạn rằng anh muốn theo đạo Công Giáo vì khi dấn thân xã hội anh tìm được điểm tựa đáng tin cậy.

Câu chuyện anh nói với tôi chiều nay làm tôi băn khoăn suy nghĩ. Trong một lần đi về một vùng quê miền Bắc, anh gặp một em bé bị hư thận, nhà rất nghèo, căn bệnh đe dọa tính mạng của em, anh cưu mang em bé này vào thành phố. Các xét nghiệm y khoa cho thấy anh và em bé này có những tương đồng để có thể cho và nhận thận của nhau, anh quyết định hiến một trái thận cho cháu. Anh nói với tôi rằng anh quá nghèo nên kêu gọi bạn bè của anh mỗi người giúp một tay chi trả chi phí cho ca ghép thận, anh không xin tôi tiền nhưng anh xin tôi cầu nguyện và nâng đỡ, ủng hộ anh trong việc này, anh bảo với tôi rằng:

“Con chỉ cần cha ủng hộ và nâng đỡ con là con đủ sức mạnh rồi !”

Chiều hôm qua khi tập thể dục ở Nhà Dòng, tôi theo dõi bộ phim “Vết Sẹo” để quên thời gian, khúc phim kể về nỗi đau của một bà vợ trẻ miền quê, chị khám phá ra quả thận mà chị hiến cho chồng đã bị anh ta giả vờ đau thận, đánh lừa vợ để chuyển cho người tình của anh ta ! Còn chiều nay thì tôi lại gặp một người nghèo hiến thận vì tình thương vô vị lợi. Tôi băn khoăn suy nghĩ vì một người nghèo nhưng giàu lòng nhân ái, dám hy sinh cả mạng sống mình vì tình thương, dám sống lòng thương xót một cách cụ thể.

Trong lá thư Mùa Chay 2016, Đức Thánh Cha Phanxicô nói với chúng ta rằng “Chỉ khi chúng ta cảm nhận được Lòng Thương Xót của Chúa, chúng ta mới có khả năng sống lòng nhân ái với nhau”. Vậy có thể nói được rằng, khi một người vì Danh Chúa mà dám sống lòng nhân ái với người khác, đó là con người đã chạm được chính Lòng  Thương Xót của Ngài. Hoặc có thể nói là người Kitô hữu mà không sống lòng nhân ái với anh em, thì đó là dấu chỉ con người ấy chưa chạm được vào Lòng Thương Xót của Chúa. Có lắm khi tôi đã sống vỏ bọc đạo đức, thi hành nhiệm vụ của một cán bộ công chức ngành tôn giáo, hoạt động chu toàn nhiệm vụ cần mẫn, nhưng không bao giờ cho đi cái của mình, mà chỉ nhiệt thành cho người khác cái mà mình “lạc quyên” được, rồi tâm đắc thanh thản với những thành tích hoạt động, và vênh vang với địa vị chiếu trên…

Lạy Chúa, xin biến đổi chính mình con, lạy Chúa giàu lòng thương xót.

Lm. VĨNH SANG, DCCT,

14.4.2016