Phải chặn ngay cái trò hội nghị cử tri

Phải chặn ngay cái trò hội nghị cử tri

Có thể một Myanmar đang thai nghén. Và ông Nguyễn Phú Trọng đang cuống quýt chống đỡ. Ông có quyền chống, có quyền phá, nhưng hãy bằng những phương tiện chính đáng và văn hoá, đừng quá lạm dụng bạo lực. Trước một công chúng chỉ có lòng yêu nước, dùng bạo lực là hành vi không cao thượng.

____

Bùi Quang Vơm

27-3-2016

Việc cố gắng đánh phá phong trào tự ứng cử là điều ai cũng biết là có sự chỉ đạo ráo riết của bộ chính trị đảng cộng sản.

Tiếp xúc cử tri ngày 8-3, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Không để lọt vào cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước những phần tử thế này thế khác”. Đây là chỉ thị của lãnh đạo tối cao. Chỉ là phát ngôn công khai, nhưng phía sau, có thể hình dung một lực lượng khổng lồ đang được huy động.

Và cũng có thể hiểu rằng công cụ chuyên chính của đảng sẽ không loại trừ bất cứ thủ đoạn nào, chưa kể các cấp dưới mẫn cán nhưng thiếu văn hoá có thể sáng tạo những trò lố bịch như trò khiêu vũ, trò cưa đá trước tượng đài Lý Thái Tổ của Nguyễn Đức Chung, nguyên Giám đốc công an Hà Nội.

Tại hội nghị xây dựng đảng ngày 26/03/2016, ông Trọng nhắc lại “Các thế lực xấu, thù địch đang rất muốn chúng ta thay đổi chế độ chính trị. Tôi đã nói đổi mới chính trị không có nghĩa là thay đổi chế độ chính trị, không có nghĩa là làm thay đổi bản chất của Đảng ta, Nhà nước ta. Đường lối phải đi đúng phương hướng của Cương lĩnh và Hiến pháp mới được thông qua. Tiếp tục phát huy dân chủ nhưng phải có kỷ cương, kỷ luật“.

Quyết tâm của ông Trọng rất cao, và một vài nhân vật cơ hội trong bộ chính trị mới cũng đang hò hét hùa theo, nhưng có vẻ như số này không nhiều, và có vẻ trơ trẽn, lạc lõng.

Hội nghị hiệp thương lần hai đã chấp nhận một danh sách ứng cử viên chưa từng có trong suốt 80 năm cầm quyền. Ở hai thành phố lớn quan trọng nhất nước, ứng cử viên độc lập đều chiếm quá bán. Hà nội 48/80 và thành phố HCM 50/97. Có thể thấy rằng chủ trương “mỗi ứng viên do đảng giới thiệu sẽ phải tranh cử với một ứng viên tự do” như ý muốn ban đầu của tiến sĩ Nguyễn Quang A và những người dẫn đầu phong trào đã được thực hiện.

Tuy nhiên, chỉ là ban đầu. Trước mắt là vòng hiệp thương lần ba, lập danh sách ứng viên đủ tiêu chuẩn. Và để lọt vào danh sách nằm trên bàn hiệp thương lần ba sẽ phải qua hai trận “huyết chiến” là hội nghị lấy phiếu tín nhiệm của cử tri ngày 28/03 và hội nghị xác minh, trả lời các khiếu nại tố cáo của cử tri đối với các ứng viên, ngày 12/04. Các thủ đoạn ác độc và vô liêm sỉ nhất sẽ được đảng trình diễn ở cả hai hội nghị này.

Hội nghị cử tri về bản chất là hội nghị nhằm giúp các ứng viên tiếp xúc và vận động với những người sẽ bỏ phiếu cho mình. Trong hội nghị này đáng lẽ chủ yếu là để ứng viên trình bày chương trình hành động của mình, trong trường hợp trúng cử. Nhưng từ trước đến nay, các ứng viên do đảng và nhà nước giới thiệu thường gần 100% là đảng viên. Loại ứng viên này làm gì có chương trình, và những điều họ được phép nói là truyền đạt hay diễn giải lại nghị quyết của đảng cộng sản. Cho nên, hội nghị cử tri biến thành công cụ để thanh lọc các ứng viên có khả năng độc lập, các ứng viên tự do.

Sẽ có những cử tri “đểu” kiểu dư luận viên. Sẽ có loại cử tri được tuyển từ những tên ma cô, côn đồ, dân anh chị của tiểu khu. Tất nhiên cũng sẽ có những cử tri danh giá, loại cử tri có ít nhiều ảnh hưởng tại tiểu khu, nhưng linh hồn đã bị được đem ra đổi chác. Đội quân này sẽ được dàn dựng để chiếm số đông trong số cử tri được “cấp phép” tham dự, được huấn luyện trước, và được cung cấp trước những căn cứ tố cáo ứng viên do công an phường soạn thảo, kể cả bịa đặt và cung cấp. Thủ đoạn phá phiếu tín nhiệm là phá rối đến mức không thể tổ chức lấy phiếu được. Các cử tri này sẽ dùng những tư liệu không xác minh được để gây sự, bằng ngôn ngữ thô lỗ và hành động khiêu khích hung hăng, nhằm mật mặt, bôi nhọ, hạ nhục ứng viên, một mặt, cố tình tạo tình huống để ứng viên sơ hở và phạm sai sót. Cuối cùng là chính những cử tri loại này gây sự lẫn nhau, tạo ra ẩu đả để hội nghị không thể kết luận và bị coi là không có kết quả.

Đối phó với loại thủ đoạn này là việc rất khó khăn, do các ứng viên độc lập thường chỉ là những cá nhân riêng rẽ, vũ khí duy nhất chỉ là sự trong sáng trong động cơ tranh cử, và cố gắng bằng danh dự và năng lực.

Nếu có thể vận động, chuẩn bị được một lực lượng cử tri trung thực khách quan trong hội nghị là một việc quan trọng có tính quyết định. Cần phải cảnh báo và kiến nghị trước những hành vi không được phép trong hội nghị. Cần phải có người vạch mặt chân tướng của các lọai cử tri “đểu” khi xét tư cách cử tri. Cần phải yêu cầu quay phim, ghi hình, chụp ảnh hội nghị. Cần phải ngoài hội nghị…

Ở vòng xác minh và xét các khiếu nại tố cáo, thủ đoạn quen thuộc là tung tài liệu bội nhọ ứng viên như kiểu “hai bao cao su”, các clíp ghép dựng, các tố cáo vô danh, những tài liệu không thể xác minh, nhằm đưa hồ sơ của ứng viên vào tình trạng không rõ ràng để loại khỏi danh sách.

Vũ khí của chúng ta chỉ duy nhất là pháp luật. Vì vậy, cần phải được thu thập chứng cớ để đưa ra xét xử trước pháp luật những loại phát ngôn như “một số người có sự ủng hộ của tổ chức phản động trong nước, nước ngoài đứng ra vận động bầu cho họ, thậm chí cung cấp tài chính để vận động”. Cần phải tìm cho ra người phát ngôn này là ai. Và những loại hành vi như việc ông Trần Văn Bái tổ trưởng tổ dân phố 13 Phường Gia Thụy, Long Biên, Hà Nội phát tán một tài liệu “hành trình tội lỗi của Nguyễn Quang A” chứa nhiều thông tin bịa đặt, vu cáo và phỉ báng tiến sĩ Nguyễn Quang A, người dẫn đầu phong trào tự ứng cử, cần phải bị kiện ra Toà.

Đang có những âm mưu phá hoại phong trào tự ứng cử, kể cả việc lôi chú ý của dư luận sang một hướng khác. Chuyện xử Anhbasam Nguyễn Hữu Vinh, cộng tác viên Nguyễn Thị Minh Thúy, và chuyến thăm của bộ trưởng quốc phòng Trung quốc ngày 17/03/2016 có cùng mục đích ấy. Từ nay cho tới hiệp thương lần ba, ngày 17/04/2016 sẽ còn nhiều trò diễn nữa.

Không thể để mắc mưu nhà cầm quyền. Dư luận cần tập trung vào việc chống lại những thủ đoạn bẩn thỉu đang được âm thầm chuẩn bị. Phải tổ chức điều tra, xác minh ngay những cử tri được trả lương và được huấn luyện trước, bao vây và vô hiệu hoá ngay những nhân vật vô lại này. Cần phải kiện ra toà ngay nhân vật vu khống các ứng viên có tổ chức phản động chống lưng, phải kiện ra toà ngay tác giả và ông Trần Văn Bái, kẻ lưu hành và phát tán tài liệu vu cáo, xúc phạm.

Chúng ta cũng biết rất rõ rằng, chúng ta đang được ủng hộ. Phía sau những ứng viên dũng cảm là cả khối hơn 90 triệu dân chúng đã hoàn toàn giác ngộ. Họ đã nhận ra quyền quyết định cơ quan quyền lực cao nhất của Quốc Gia là của họ, nằm trong tay họ, và họ biết rằng những tên tham nhũng nhất chính là những kẻ có chức quyền cao nhất, chính là những tên thuộc danh dách do đảng và nhà nước giới thiệu.

Chúng ta cũng biết rằng chúng ta không đơn độc. Ngay trong bộ máy lãnh đạo đảng cộng sản, ngay trong bộ máy quyết định quy trình của chiến dịch bầu cử từ cấp trung ương tới các địa phương, đang có những nhân tố ủng hộ chúng ta, đang âm thầm tiến hành một cuộc cách mạng thật sự.

Có thể một Myanmar đang thai nghén. Và ông Nguyễn Phú Trọng đang cuống quýt chống đỡ. Ông có quyền chống, có quyền phá, nhưng hãy bằng những phương tiện chính đáng và văn hoá, đừng quá lạm dụng bạo lực. Trước một công chúng chỉ có lòng yêu nước, dùng bạo lực là hành vi không cao thượng.

Vô Cảm & (Giả Vờ) Hữu Cảm

Vô Cảm & (Giả Vờ) Hữu Cảm

tuongnangtien

RFA

tuongnangtien's picture

Dù sống ở Mỹ đã lâu nhưng chả mấy khi có dịp đi đâu, và cũng không mấy lúc tiếp xúc với người bản xứ nên tôi không được am tường lắm về nhân tình/thế thái của nước Hoa Kỳ. May nhờ có net, cùng nhiều vị thức giả chịu khó du hành (và ghi chép) nên thỉnh thoảng tôi cũng biết thêm được đôi điều lý thú về xứ sở này:

  • “Lần đầu tiên đến Mỹ cách đây 19 năm, tôi thực sự ngạc nhiên vì những ngôi nhà ở Mỹ không đóng khóa cửa. Trong mỗi ngôi nhà của họ có biết bao thứ đắt tiền. Nhưng không mấy ai lọt vào nhà người khác để lấy cắp. Có nhiều lý do. Nhưng lý do cơ bản nhất là ý thức làm người của họ cùng với sự trợ giúp cho ý thức sống ấy là luật pháp và cách quản lý xã hội …” (Nước Mỹ “quên” khóa cửa và thấy khóa bị phá ở Nội Bài – Nguyễn Quang Thiều).
  • “Người Mỹ có lòng hảo tâm, thích giúp đỡ. Trên máy bay, khi chúng tôi đưa hành lý lên khoang chứa gặp khó khăn, lập tức người đứng cạnh làm giúp. Nhiều người cuối tuần đi giúp chăm sóc ở các nhà dưỡng lão. Có người chạy xe dọc theo các xa lộ để giúp đỡ những trường hợp xe bị sự cố, tai nạn.” (Mỹ Du Ký – Tiêu Dao Bảo Cự).

Tôi thực sự không ngờ là ở Hoa Kỳ lại có những ngôi nhà cửa không khoá, và có những người (tốt bụng) chạy xe dọc theo các xa lộ để giúp đỡ tha nhân như thế. Sự hiểu biết giới hạn này –  như đã thưa – vì tôi đi ít, sống ít, và thường chỉ sống “cầm chừng” như một công dân bán – thời- gian (part – time – citizen) ở phần quê hương thứ hai này. Cứ ra khỏi nhà, ra khỏi nơi làm việc quen thuộc là tôi lại biến ngay thành một anh di dân ngơ ngác nơi xứ lạ.

I came from Viet Nam. Và rất nhiều đêm, nếu không muốn nói là hàng đêm, tôi vẫn cứ lò dò trở về chốn cũ.

Tôi thường trở về Đà Lạt, nơi mà tôi đã lớn lên, và đã ướp đẫm tuổi thơ (cũng như tuổi trẻ của mình) bằng rất nhiều đặc sản của núi rừng: nuớc hồ Xuân Hương, sương mù, phấn thông vàng, mùi cỏ dại của Đồi Cù, và cả trăm loại hương hoa man dại.

Đôi lúc tôi trở lại Ngã Sáu, tần ngần đứng trước xe bò viên, chờ người bán mở nắp thùng nước lèo bốc khói. Không gian (của cả Sài Gòn) bỗng ngạt ngào hương vị. Chút nước thánh này – sau khi đã nhai thiệt chậm miếng thịt pha gân vừa ròn, vừa ngậy – nếu hoà nhẹ chút xíu tương đỏ, tương đen, cùng ớt xa tế ngọt ngọt cay cay có thể khiến cho đứa bé thơ trong tôi xuýt xoa mãi cho đến… khi tóc đã đổi mầu.

Có khi thì tôi trở lại những đồi trà, nương khoai, rẫy bắp ở Blao. Tôi cùng lũ bạn tù mệt lả, lếch thếch trong nắng chiều vàng, trên đường về trại Tân Rai – sau một ngày dài lao cải.

Cũng có lúc tôi ghé qua Rạch Giá, loanh quanh trong chợ Nhà Lồng – thơm nức mùi thức ăn, vào một sáng mưa mù trời vì biển động – mà lòng buồn, bụng đói, dạ hoang mang. Tôi đi thật chậm qua những bàn ăn thâm thấp, không dám mở miệng xin sỏ gì ráo trọi, chỉ chờ thực khách buông đũa là nhào đến húp vội phần thức ăn thừa (nếu) còn sót lại trong tô.

Hơn nửa đời lưu lạc, tôi vẫn cứ sống lơ mơ – theo kiểu “ngày ở / đêm về” – như thế. Và bởi thế, tôi biết rất ít về nước Mỹ và vẫn không ngớt ngạc nhiên về cách hành sử của người dân bản xứ:

  • Cop shuts down highway to save small dog, becomes Web hero     
  • Ảnh: abcnews
    Nỗ lực cứu một con ngựa bị rơi rơi xuống hố là chuyện tương đối dễ hiểu nhưng huy động đến cả lực lượng cứu hoả, và cảnh sát (chận cả một dòng xe đang chạy trên xa lộ) chỉ vì sinh mạng của một chú chó con – loài thú vẫn thường nhìn thấy treo lủng lẳng, ngược đầu, trong những quán nhậu ở quê mình – là điều khiến cho tôi hơi bị …hoang mang!

Tôi lại càng hoang (tợn) khi thấy hôm 22 tháng 2 năm 2016, trang Vietnamnet đưa tin: Hàng chục người đứng nhìn một thanh niên chết đuối!


  • Nam thanh niên chết dưới hồ trước sự chứng kiến của nhiều người. Ảnh và chú thích: vietnamnet

Gần mười hôm sau, ngày 1 tháng 3 năm 2016, VTC ái ngại thêm tin: Thấy người thoi thóp bên đường, nhấn ga chạy nhanh…! Ký giả Đăng Đức (báo Petro Times) gọi đây là “tình trạng vô cảm trong xã hội hiện nay.” Ông cũng kể thêm vài trường hợp để làm rõ vấn đề:

Vụ “hôi của tập thể” ngày 16/10 vừa qua chẳng hạn, anh Vũ Trường Chính (TP HCM) bị 4 tên đạo tặc móc trộm gói tiền 50 triệu đồng khi anh đang dừng xe chờ đèn đỏ, anh phát hiện và giằng co với chúng khiến bọc tiền rơi tung tóe ra đường. Trong lúc nạn nhân đang lo bắt cướp thì người đi đường lại ào đến… nhặt tiền rồi bỏ chạy. Chính những người điều khiển giao thông gây tai nạn cũng thể hiện một cách hành xử “máu lạnh” không kém khi có không ít kẻ thay vì đến hỏi thăm, giúp đỡ người bị nạn thì lại chọn giải pháp là bỏ trốn, rũ bỏ trách nhiệm…

Một biểu hiện rất rõ của chứng thờ ơ, vô cảm nữa là chuyện lên xe ôtô ở nơi công cộng, thấy kẻ gian móc túi hoặc bọn côn đồ hành hung người khác, người ta cũng chỉ lờ đi xem như đấy không phải chuyện của mình…


  • Thấy tai nạn mà chỉ đứng nhìn. Ảnh & chú thích:petrotimes

Để lý giải cho hiện tượng này, tác giả bài báo, dẫn lời của một chuyên gia – TS tâm lý Trịnh Trung Hoà: “Người Việt chúng ta từ xưa đến nay luôn có truyền thống tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách, yêu thương, sẻ chia với đồng loại. Trong lịch sử, chưa bao giờ dân ta có bệnh vô cảm. Thế nhưng, gần đây, giữa nền kinh tế thị trường, lối sống chạy theo cái ‘tôi’ nên người ta thờ ơ trước nỗi đau của đồng loại. Nguyên nhân đầu tiên là do sự chuyển hóa sang cơ chế thị trường, mạnh được yếu thua, một số người có tâm lý việc không liên quan đến mình thì mặc kệ”.

Ủa, sao cũng “giữa nền kinh tế thị trường” mà thiên hạ lại tận tụy, hết lòng cứu mạng cả loài chó/ngựa còn “ta” thì thản nhiên nhìn đồng loại/đồng bào chết chìm hay thoi thóp – như vậy cà? Sự khác biệt, chả qua, chỉ vì cái “định hướng xã hội chủ nghĩa” chăng? Cái định hướng này không chỉ làm cho con người trở thành vô cảm mà còn có thể biến họ trở thành hữu cảm (giả vờ) nữa – theo như nhận xét của blogger Phạm Trọng Thức:

“Khoảng 10h sáng hôm qua, 9/8, đi ngang qua Văn Miếu mình thấy đang có trò dàn cảnh để chụp ảnh cảnh sát giao thông dắt dân qua đường… Không rõ những người thiết kế cái chương trình đó nghĩ gì mà vẫn cứ làm một cái việc vừa giả dối vừa cũ rích, chỉ tổ trở thành mục tiêu cho bà con đàm tiếu…

Xin chỉ ra những điểm không chân thực và phản tuyên truyền trong bức ảnh:

Thứ nhất, hình ảnh cảnh sát giao thông quen thuộc là mấy ông mặt sắt đen xì, hách dịch, đôi khi hung hãn, chứ không phải là cô cảnh sát giao thông son phấn và đeo kính trắng.

Thứ 2, luật giao thông quy định trong đô thị người đi bộ sang đường ở nơi có biển báo, vạch sơn phù hợp. Thực tế thì mọi người sang đường bát nháo, muốn đi chỗ nào thì đi. Vậy bức ảnh chụp cô cảnh sát giao thông dắt dân qua đường ở nơi không có vạch, biển cho người đi bộ không khác gì tiếp tục đồng loã hoặc khuyến khích cho lối đi lại bát nháo.

Thứ 3, mặt khác bức ảnh không khác gì thừa nhận bất lực trong việc đưa tập quán giao thông vào khuôn khổ như phải đi đúng đèn, vạch sơn, biển báo, xe cộ nhường người đi bộ, v.v…

Nhưng điều quan trọng nhất là trong đời sống thật, việc cảnh sát giao thông thân thiện, giúp đỡ là quá ít ỏi so với các hoạt động ‘bẫy’ dân để phạt, thái độ trịnh thượng hạch sách, không giúp đỡ, ăn hối lộ, v.v… Khi những cái xấu, bất thường quá nhiều, thì cái bình thường lại trở nên cao quý. Nhưng ngay cả cái gọi là bình thường đó cũng phải dàn dựng mới có để mà chụp ảnh.”

Cái “định hướng xã hội chủ nghĩa” chắc chắn sẽ qua. Tuy thế, di sản (cùng di hoạ) của nó e sẽ còn ở lại với chúng ta không biết cho đến bao giờ. Bao giờ thì người Việt thôi thản nhiên nhìn tha nhân bị móc túi, bị chết chìm, thôi làm bộ “dàn cảnh” tử tế, và có thể sống nhân từ với những con thú nhỏ bao quanh?

Một mình lưỡng lự canh chầy
Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh!

Gia đình nữ sinh bị cưa chân kiện đòi bồi thường

Gia đình nữ sinh bị cưa chân kiện đòi bồi thường
Nguoi-viet.com
ĐẮC LẮK (NV) – Gia đình nữ sinh bị cưa chân oan uổng do bác sĩ tắc trách đã gửi đơn lên bệnh viện đa khoa huyện Cư Kuin và Sở Y Tế Đăk Lăk yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Em Hà Vi với một chân bị cắt đang điều trị tại bệnh viện Chợ Rẫy. (Hình: Tiền Phong)

Chia sẻ với truyền thông Việt Nam, chiều 24 tháng 3, bà Lê Thị Thùy Trang, chị gái em Lê Thị Hà Vi (16 tuổi), nữ sinh bị cưa chân oan do sự tắc trách của bác sĩ cho biết “được sự hướng dẫn của luật sư, chiều nay gia đình đã chính thức gửi đơn theo đường bưu điện đến bệnh viện đa khoa Huyện Cư Kuin và Sở Y Tế Đắk Lắk yêu cầu bồi thường thiệt hại 1 tỷ đồng về mặt tinh thần đối với em Vi.”

Theo đó, với sự tư vấn của Luật Sư Đỗ Hải Bình, nội dung đơn này ghi rõ sự việc xảy ra và quá trình điều trị vì sự tắc trách của đội ngũ y bác sĩ dẫn đến tình trạng bé Vi bị cưa chân và yêu cầu cơ quan chức năng có liên quan bồi thường về mặt vật chất, tinh thần để bù đắp phần nào mất mát mà bé Vi và gia đình đã đang và sẽ phải chịu đựng.

Theo Luật Sư Đỗ Hải Bình nhấn mạnh: “Không được sợ, gia đình không được hiền thế này, song họ lại dễ dàng hứa mồm rồi họ lại không thực hiện. Nhiệm kỳ này sắp hết, giám đốc khác lên thay liệu họ có giải quyết cho mình không, họ không chịu trách nhiệm thì làm sao? Cha mẹ thương con, ôm con, có tâm và hiền với người ta thì đúng rồi nhưng cần phải nhìn xa hơn, mai mốt già yếu rồi thì lấy sức đâu mà chăm cho bé nữa,” ông Bình phân tích.

Trong khi tờ đơn khiếu nại về việc bồi thường thiệt hại vừa gửi thì trong chiều 24 tháng 3, gia đình em Vi nhận được cuộc điện thoại phó giám đốc bệnh viện Cư Kuin gọi “hỏi thăm đồng thời đặt lịch cuộc hẹn với giám đốc bệnh viện.”

Chia sẻ thêm về tình trạng hiện tại của em Vi, bà Trang cho biết, em Vi vừa được chuyển sang bệnh viện chấn thương chỉnh hình để tập luyện thể chất.

Nói với Tiền Phong, ông Nguyễn Văn Tâm, giám đốc bệnh viện đa khoa huyện Cư Kuin thừa nhận, nguyên nhân dẫn đến bệnh nhân mất chân là do bác sĩ yếu kém về chuyên môn, tắc trách trong công việc.

Để xoa dịu dư luận, ngành y tế Đăk Lăk đã xin lỗi bệnh nhân cùng gia đình. Bộ trưởng Y Tế hứa tạo điều kiện cho em Hà Vi sau này theo học ngành y nếu có nhu cầu. Toàn bộ chi phí điều trị và lắp chân giả cho nữ sinh sẽ được miễn phí. (Tr.N)

Chung cư cao cấp ở Sài Gòn đầy tội phạm

Chung cư cao cấp ở Sài Gòn đầy tội phạm
Nguoi-viet.com
SÀI GÒN (NV) – Công an Sài Gòn loan báo, nhiều băng giang hồ phía Bắc chọn các chung cư cao cấp để làm trụ sở để hoạt động phi pháp từ đâm chém, trộm cướp, buôn bán, sản xuất ma túy…

Một nhóm giang hồ chuyên cho vay nặng lãi, đòi nợ thuê bị công an bắt vừa qua. (Hình: Thanh Niên)

Thanh Niên ngày 25 tháng 3 dẫn lời ông Nguyễn Sỹ Quang, trưởng phòng Tham Mưu, người phát ngôn công an Sài Gòn cho biết, theo số liệu thống kê, chỉ trong 3 tháng đầu năm 2016, Sài Gòn đã xảy ra hơn 1,300 vụ phạm pháp hình sự, công an bắt giữ hơn 1,000 người, trong đó có 109 băng nhóm với 452 tội phạm đủ loại. Ngoài ra, có 53 ổ mại dâm 141 vụ cờ bạc… bị phát hiện, thu giữ trên 1.2 tỷ đồng.

Công an Sài Gòn tổng kiểm tra hàng loạt quán bar, vũ trường, khách sạn, tiệm cầm đồ…, là những khu vực nhạy cảm, nhiều tội phạm ẩn náu và tiêu thụ tài sản trộm cắp. “Ở các chung cư cao cấp trước đây công an bỏ ngỏ, nhưng hiện đây là nơi tiềm ẩn nhiều tội phạm từ các nơi khác đến ẩn náu. Trong quá trình điều tra, cảnh sát phát hiện nhiều băng nhóm phía Bắc đến cư ngụ, hoạt động xã hội đen như cho vay nặng lãi, buôn bán hoặc thậm chí sản xuất ma túy…,” ông Quang cho hay.

Cụ thể mới đây, công an phát hiện tại hai chung cư cao cấp Samland và Giai Việt trên đường Tạ Quang Bửu, phường 5, quận 8, phát hiện hơn 20 tên giang hồ mang nhiều tiền án phạm tội cư ngụ.

Ngoài việc không khai báo tạm trú, cảnh sát còn tìm thấy súng, hàng trăm hồ sơ cho vay, sổ theo dõi con nợ, giấy thu tiền góp… Những tay giang hồ này thuộc hai đường dây cho vay, đòi nợ thuê hoạt động ở Sài Gòn, được hai ông trùm trả lương hàng tháng để thu tiền góp.

Ông Nguyễn Thành Phong, chủ tịch thành phố Sài Gòn phải thốt lên: “Người dân ra đường thì nơm nớp lo sợ cướp giật; khóa cửa đi làm mà lo lắng không biết ở nhà có sự cố gì xảy ra với tài sản của mình hay không thì chất lượng cuộc sống có gọi là tốt?”, ông Phong nói. (Tr.N)

MỘT CON ĐƯỜNG, BA THẾ HỆ !!!

  MỘT CON ĐƯỜNG, BA THẾ HỆ !!!

6d9f2aff-7935-46ca-9392-c48c98077e6b

Tang lễ ông Nguyễn Ngọc Bích tại Nghĩa trang National Memorial Park, Falls Church, Virginia, ngày 12.3.2016 vừa qua có lẽ là cuộc tiễn đưa lớn nhất trong cộng đồng người Việt vùng thủ đô nước Mỹ từ nhiều năm nay. Và sau ông Bích, chắc còn nhiều năm nữa mới lại có một tang lễ lớn như vậy của người Việt tại đây.

Yêu ông Bích hay ghét ông Bích, không ai có thể chối cãi ông ấy là người rất nổi tiếng, không những trong cộng đồng người Việt tại Washington D.C., Virginia và Maryland mà còn ở nhiều nơi khác trong các cộng đồng người Việt hải ngoại. Có lẽ lý‎ do là ông Bích đã tham gia sinh hoạt trong rất nhiều hội, tổ chức, đảng phái ở nhiều nơi, không kể hai hội do chính ông lập ra từ những năm đầu tới Mỹ : Hội Văn Hóa Bắc Mỹ và Nghị Hội (Toàn quốc Người Việt tại Hoa Kỳ). Ông Bích làm chủ tịch nhiều hội mà ít ai biết hết.

Ông Bích xuất hiện ở khắp nơi, xuất hiện không ngừng nghỉ, nói về đủ mọi đề tài. Dịch thuật. Văn. Thơ. Báo chí. Phê bình văn học. Lịch sử. Chính trị. Quân sự. Tôn giáo…

Ông Bích đột ngột qua đời ngày 3.3.2016 trên chuyến bay từ Washington D.C. tới Manila “để dự Hội Nghị Biển Đông do ông tổ chức cùng các đoàn thể khác trên khắp thế giới” (theo Cáo Phó)  lúc đang là “cái đinh” trong vụ tranh chấp ồn ào tại ngôi Chùa Giác Hoàng ở Hoa-Thịnh-Đốn mà ông là một trong sáu thành viên của Ban Quản Trị từ ngày thành lập cách đây 40 năm.

Khi ông Bích bất ngờ nằm xuống giống như trên một sân khấu đang diễn một vở kịch sôi động bỗng nhiên vai chính biến mất làm khán giả ngơ ngác. Sự ngơ ngác này có thể đọc được trong các lời Phân Ưu đăng trên nhiều tờ báo ở Vùng Hoa-Thịnh-Đốn: “Chúng tôi bàng hoàng và vô cùng thương tiếc”, “Thật không có cái chết nào ý nghĩa, cao quý và chấn động hơn thế nơi hải ngoại”, “Một học giả, một nhà văn hóa lớn, một nhà đấu tranh bất khuất”, “Một nhà văn hóa hàng đầu, một người yêu nước thương dân đến tận hơi thở cuối cùng, một nhân cách phi thường”, “Một thư viện vừa cháy”, vân vân.

Hiển nhiên, ông Nguyễn Ngọc Bích ra đi đột ngột đã để lại một khoảng trống mà ít ai có thể thay thế. Hay nói cách khác, một thế hệ đang theo nhau, kẻ trước người sau, rời khỏi sân khấu. Trước ông Bích hai tuần là Tướng Đỗ Kế Giai, ra đi ngày 21.2.2016. Sau ông Bích một tuần là Nhà báo Trần Bình Nam (Trần Văn Sơn), qua đời ngày 11.3.2016.

Thế hệ thứ nhất của người Việt lập cư ở hải ngoại sau khi VNCH sụp đổ năm 1975 đang theo nhau tàn rụng trong lúc không có mấy “khuôn mặt trẻ” thuộc thế hệ một rưỡi và thế hệ thứ hai trong những sinh hoạt của các hội đoàn ở hải ngoại để được “trao đuốc”.

Họ đang làm gì và ở đâu?

Có lẽ họ đang đi theo những con đường khác, hay đang tìm một con đường khác để đi vì không thấy con đường của các bậc cha anh sẽ đưa họ đến một chân trời tươi sáng. Họ muốn có một cái gì mới, thay vì cứ đi theo đường xưa lối cũ với những khuôn mặt cũ, tuồng tích cũ, sai lầm cũ. Con đường mà họ cho là đã đưa đến thất bại, đến mất nước, đến lưu vong.

Hay, chỉ đơn giản là họ cũng muốn đi chung con đường với các bác, các chú, các cô… để được “trao đuốc”nhưng đã bị đẩy ra vì đầu óc đố kỵ, bè phái, hay tệ nạn độc đoán, độc tôn.

Và như thế, ba thế hệ người Việt ở hải ngoại đang không cùng đi trên một con đường.

Nhưng thật đáng ngạc nhiên, gần đây khách vãng lai Khu Eden, trung tâm thương mại lớn nhất trong cộng đồng người Việt Vùng Hoa-Thịnh-Đốn và cả miền Đông Bắc Hoa Kỳ, để ý đến một văn phòng lớn gồm hai căn phố ( số 46-48, West Wing Eden Center) với một cái bảng hiệu sơn màu xanh dương, vàng và trắngphía trên khung cửa “TRUNG TÂM SINH HOẠT NGƯỜI VIỆT”, bên dưới là hàng chữ “MỘT CON ĐƯỜNG – BA THẾ HỆ”.

Người ta ngạc nhiên vì Khu Eden là một trung tâm thương mại, tiền phố khá đắt, sao lại vào đây sinh hoạt, và sinh hoạt những gì?

Theo một bản tin được phổ biến không lâu thì đây là một văn phòng dịch vụ được mở ra từ hơn một năm nay để giúp đỡ đồng hương trong vùng gồm nhiều lãnh vực:

  1. Thuế Vụ – Tax.
  2. Dịch thuật – Translation.
  3. Công chứng – Public Notary.
  4. Đầu tư – Investment.
  5. Trợ giúp pháp l‎ý – Paralegal service
  6. Dạy Anh ngữ.
  7. Obamacare.
  8. Luyện thi nhập tịch công dân Mỹ.

Tại đây cũng có những  máy computer để mọi người sử dụng miễn phí cho những sinh hoạt cá nhân, kể cả gọi Skype về Việt Nam.

Từ ngày 25 tháng 2, một “Tủ Sách” đã được thành lập tại trung tâm sinh hoạt này nhằm hai mục đích:

Bán những cuốn sách Việt ngữ giá trị thuộc đủ mọi thể loại: biên khảo, tiểu thuyết, bút ký, hồi ký, thơ… do chính tác giả hay các nhà xuất bản gửi bán. Hiện nay, Nhà xuất bản Tiếng Quê Hương ở Virginia đã gửi nhiều tác phẩm vừa xuất bản rất hay như Chuyện Kể Năm 2000 nguyên văn bản chính của tác giả Bùi Ngọc Tấn và Hậu Chuyện Kể Năm 2000, Việt Nam Cuộc Chiến Leo Dốc của Frank Scotton, do Phan Lê Dũng dịch, Những Sự Thật Cần Phải Biết của Đặng Chí Hùng, Cộng Sản và Tôi, tuyển tập gồm 70 tác giả…Ngoài ra còn có một số sách giá trị xuất bản đã lâu ngày nay khó tìm như Việt Nam Theo Đường nào vào Thế Kỷ 21 của Phạm Kim Vinh, Nguyễn Du Toàn Tập (trọn bộ 2 cuốn) của Bách Việt, Bút Ký Irina Tập 2 của Irina Zisman, vv. Đặc biệt, nhiều cuốn sách được bán giảm giá để khuyến khích người Việt đọc sách Việt ngữ.

Cũng trong chiều hướng ấy, ngoài sách bán, còn có một tủ sách cho mượn đọc tại chỗ thuộc nhiều thể loại và nhiều sách hay. Hàng ngày, đồng hương vào Khu Eden mua sắm, hớt tóc, làm đầu, sửa sắc đep, hay thưởng thức các món ăn ngon trong rất nhiều nhà hàng có thể ghé qua Tủ Sách để thưởng thức những món ăn tinh thần miễn phí thanh cao, vừa giải trí vừa làm giàu cho sự hiểu biết.

64de9405-d568-4de3-af96-242540375ef0

Tên tiếng Anh của Trung tâm sinh hoạt này là “AASTODAY”, một cố gắng mở rộng hoạt động để phục vụ cộng đồng của AASUCCESS, một tổ chức bất vụ lợi đã hoạt động từ nhiều năm nay tại Vùng Hoa Thịnh Đốn với mục đích rèn luyện cho các học sinh, sinh viên người Mỹ gốc Á kỹ năng (hay năng khiếu) sống để khắc phục những khó khăn, vượt qua những trở ngại tại học đường và ngoài xã hội để đi tới thành công, như tên của Hội. AA là chữ tắt của Asian American, nhưng hầu hết hội viên là gốc Việt mà con chim đầu đàn là Dave Nguyễn, hay Nguyễn Trọng Đạt, một thuyền nhân lúc mười tuổi, thuộc thế hệ một rưỡi của người Việt tị nạn trên nước Mỹ.

Sau khi vượt qua những khó khăn và trở ngại trên quê hương mới để đi đến thành công cho chính mình, Dave Nguyễn đã không thu mình vào trong “tháp ngà” ích kỷ để hưởng thụ thành quả của những năm tháng sách đèn mà đã hướng ra ngoài, nghĩ đến những người trẻ, những khó khăn và kém may mắn của thế hệ đi sau, thế hệ thứ hai, ra đời trên nước Mỹ, và đã lập ra AASUCCESS.

AASUCCESS đã nhận  được sự bảo trợ của những người có lòng, trong cộng đồng người Việt cũng như ngoài cộng đồng người Việt, thuộc nhiều thế hệ khác nhau. Nhờ đó trong thời gian qua, AASUCCESS đã hướng dẫn nhiều lớp người trẻ đi đến thành công, và những người này sau đó đã trở nên những thành viên mới của Hội, rèn luyện những người đi sau và giúp Hội mở rộng hoạt động.

Qua những kinh nghiệm và học hỏi trong khi dấn thân hoạt động cho công ích, nhất là sự đồng lòng chung sức của cả ba thế hệ người Việt trên một con đường đã vạch ra, gần đây AASUCCESS đã chọn châm ngôn cho Hội là “Một con đường, ba thế hệ”. Một bí quyết, một điều kiện không thể thiếu để đi đến thành công trên con đường phục vụ công ích?

Nói không khó nhưng làm được thì không phải dễ. Thực hiện được châm ngôn ấy, trước hết cần có một lý‎tưởng. Ngồi lại với nhau mà chỉ vì danh hay lợi thì sẽ không đi đến đâu, chẳng làm được cái gì. Đó là tình trạng của nhiều hội đoàn người Việt ở hải ngoại, dù mang những danh xưng to lớn đến đâu, nhưng cũng chỉ là những chiếc xe không thể lăn bánh.

Có lý tưởng, tức là vạch ra một con đường để cùng đi, chưa đủ. Mỗi người cần có nhiệt tâm, đức khiêm tốn, tôn trọng lẫn nhau, học hỏi người khác, và tinh thần đồng đội.

Không có nhiệt tâm, dù làm việc nhỏ đến đâu cũng sẽ “không ra môn ra khoai” gì. Khiêm tốn, tôn trọng lẫn nhau, học hỏi người khác không phải chỉ để dành cho người trẻ đối với người già mà cả người già đối với người trẻ. Cuối cùng người trong một tổ chức phải coi nhau những cầu thủ trong một đội bóng trên sân cỏ. Tất cả cho chiến thắng của toàn đội. Tạo hào quang cho cá nhân trong khi toàn đội thất bại sẽ chẳng có ý nghĩa gì. Và vô ích.

Có lẽ Dave Nguyễn đã học hỏi được kinh nghiệm đau xót trên đây khi dấn thân muốn giúp các chú, các bác một tay để phục vụ cộng đồng.

Trước sự “lão hóa” của các tổ chức trong cộng đồng người Việt hải ngoại, các bậc “thức giả” thường chép miệng thở dài: “Tre đã già mà măng không mọc”.

Không. Măng đã mọc và đang vươn lên. Nhưng không phải từ những lũy tre già của ngôi làng xưa.

Ký Sự của Ký Thiệt / PHAN NGUYÊN LUÂN… thực hiện

Đưa bé đến trường bằng xe anh đạp.

Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 2 Phục sinh năm A 10/4/2016

 “Đưa bé đến trường bằng xe anh đạp.”

Khi bước ra đường bình minh mới lên.

Ba má đã khuyên mình nên đi sớm.

Em hãy leo lên để anh đi liền!”

(Phạm Duy – Đức Bé Đến Trường)

 (Năm xưa trên cây xồi, Mẹ Maria ôi thôi!)

  Trần Ngọc Mười Hai

Bần đạo đây, mỗi lần viết chuyện phiếm, thường trích-dẫn rất nhiều nhạc bản tình-ca ướt-át, hoặc nhạc đồng quê, sinh-hoạt thật không thiếu. Duy, có nhạc trẻ nhỏ như hôm nay, thật cũng ít.

Chính vì ít, nên bần đạo cũng chẳng bận tâm nhiều đền âm-giai, tiết-điệu mà nhiều lần chỉ chú ý đến ca-từ/lời lẽ sao cho thích hợp với chủ-đề mình muốn bàn mà thôi. Thú thật thì, nhạc đời về tình yêu-đương đôi lứa, thấy rất nhiều. Còn về tình đời bé nhỏ của trẻ em, thật rất ít. Ít-oi, như các lời ở dưới vẫn ca rằng:

 Đưa bé đến trường từ nơi xóm hẹp.

Qua những con đường vòng quanh đã quen.

Ra tới công viên ngựa xe như nước.

Len giữa đám đông chật như đóng nêm.
Trên xe, trên xe em nói huyên thuyên.

Bao nhiêu, bao nhiêu chuyện cổ tích tiên,

anh tuy nghe luôn, anh vẫn quên liền.

 Thôi em, thôi em con dốc nghiêng nghiêng.

Anh đang leo lên nghẹt thở đứng tim.

Xin em im đi cho anh gắng anh đạp!
Xe lăn bon bon chuông bấm kinh coong.

Đang đi em xin ngừng lại gốc soan,

cho em giơ tay em hái hoa đẹp.

 Thôi em, thôi em ta hãy đi mau.

Không ai, không ai chờ đợi bé đâu.

Anh nghe như chuông nơi mái trường reo. “

(Phạm Duy – bđd)

 Thú thật với bạn đọc, rằng thì là: viết phiếm mà không kèm giòng nhạc êm ái, có tiết-điệu diễm-kiều/ủy mị, thì rất khó. Khó là bởi, viết mãi rồi thấy mình toàn những nói và nói, chẳng để người đọc lắng nghe. Mà, người đọc nào chịu nghe nếu không có giòng âm-nhạc ướt-át/trữ-tình cơ chứ. Thế nên, hôm nay, trước khi đi vào chi-tiết cần viết phiếm, xin mời bạn ta nghe thêm ít câu nữa:

Xe đi loanh quanh, mưa xuống nhanh nhanh.

Chân anh, chân em tràn ngập nước văng.

Anh em ca lên cho đỡ run lạnh.

Ca lên, ca lên câu hát anh em.

Ta thương yêu nhau, đời là cõi tiên.

 Nay mai xa nhau, kỷ niệm chẳng quên!
Đưa đón em bằng một xe móp mẹp.

Đưa đón em bằng tình anh với em.

Đưa đón em sao mà vui tha thiết.

Đưa đón em như là đưa người tình.
Mai mốt em thành người trong xã hội.

 Chức lớn sang giầu, nổi danh khắp nơi.

Em có đi chơi bằng xe hơi mới.

Xin chớ cán xe đạp của anh, bé ơi!

Xin chớ cán xe đạp của anh, bé ơi!

(Phạm Duy – bdd)

Nói gì thì nói. Viết gì thì viết. Viết cho lắm, cho nhiều mà không nghe người đọc phản-hồi, thì hỏng bét, đấy bạn ạ. Bởi thế nên, hôm nay, bần đạo đã từng nghe người đọc có bạn phản-hồi về chuyện hôm trước bần đạo nói về việc tôn-sùng Đức Maria, vẫn chưa đủ ý, đủ lời.

Thật vậy, nay bèn xin phép bạn đọc, ta nghe thêm đôi điều về chuyện này. Trước nhất là lời lẽ của đấng bậc thày dạy, rất thần-học, rằng:

 “Thật ra thì, lối bắt-chước Thiên-Chúa một cách trực-tiếp như thế, lại vắng bóng ở thư đích-thực do ông Phaolô soạn. Bởi lẽ, ông cũng có khuyên những ai dõi bước theo chân ông hãy sao/chép gương lành của Đức Kitô mà thôi.

 Thế nhưng, do bởi ta chỉ hiểu biết rất ít về Đức Giêsu do ông Phaolô trưng-dẫn tựa như lời ông dặn tín-hữu dân ngoại: hãy theo mẫu gương của chính ông hoặc các cộng-sự-viên gần ông nhất, là thứ mẫu và gương họ tạo về Phaolô như lời lẽ trong thư thứ nhất Côrintôi đoạn 11 câu 1 từng tuyên-bố: “Anh em hãy bắt chước tôi, cũng như tôi đối với Đức Kitô.”

 Và, đoạn 4 câu 16 trong thư này, ông còn thôi-thúc tín-hữu nhiều hơn nữa về chuyện bắt-chước như sau: “Vậy, tôi khuyên anh em hãy biết theo gương tôi.”

 Theo cách các nhà mô-phạm vẫn tỏ-bày, thì điều này có vẻ như lời khuyên-bảo về Đạo gửi đến tín-hữu ở Côrintô, ông Phaolô đề-nghị họ hãy sống và làm như ông từng thiết-lập quan-điểm mới về đạo-lý trong đó tín-hữu thấy mình trước nhất có được trạng-huống này là từ Đức Kitô; thứ đến là do Thiên-Chúa mà ra.

 Với một Người Cha ở rất xa và một Đức Kitô không diện-mạo rõ ràng, thì lời khuyên của ông Phaolô đưa ra là dành để cho các tín-hữu mới tòng-đạo còn nhút-nhát khiến họ có thể xem những người gần-gũi với họ xem có ai khiến họ tin-tưởng được hay không, mà thôi.

 Xem như thế, đã bắt-đầu thấy có xu-hướng rất dễ thấy nơi các vị theo Công giáo hoặc Chính-thống-giáo tạo khuôn-mẫu, những người môi-giới và trung-gian hoà-giải giữa các kẻ tin và Thiên-Chúa. Các người trung-gian khi xưa, là: Đức Kitô và ông Phaolô. Và sau này, nhờ nguồn hứng của cộng-đoàn Phaolô khi ấy, là: Đức Maria, Mẹ của Đức Giêsu Đấng-bậc trong một số nguồn-cội của Đạo Chúa lại có khuynh-hướng được đối-xử gần như nữ-thần, ít ra là Đấng Thứ Tư trong Bốn Ngôi Thần Thiêng Thánh ái.

 Vào các thế-kỷ đầu của Hội thánh, các Đấng được các thánh tử-vì-Đạo gộp chung lại làm một và từ đó, một số các thánh khác ngày càng làm như thế. (Xem Gs Geza Vermes, Khuôn Trăng Diện mạo Ngài thay đổi: Đức Giêsu và cuộc sống trọn lành theo ông Phaolô,

www.giadinhanphong.blogspot.com 14/3/2016)

Những giòng suy-niệm trên đây đại-ý muốn bảo rằng: Đạo của ta cũng đã tạo hình-tượng để dân con mọi người tôn-thờ và bắt chước Đức Maria là mẹ hiền của Hội-thánh luôn thương-yêu, che chở và cầu bàu cho con cái của Mẹ. Tuy nhiên, chừng như ta lại cứ tôn-sùng/phụng thờ Mẹ quá độ, đến là thế.

Tôn-sùng Mẹ đến như thế, như thể nghệ-sĩ già họ Phạm đã đưa lên thành ca-khúc, rất như sau:

“Đón bé ra trường, chiều mưa hoang lạnh.

Manh áo tơi trùm cả em, lẫn anh.

Thương chiếc xe xanh, nhỏ xinh ướt át.

Nhưng ấm trong tim hồi chuông giáo đường.
Đón bé ra trường, chiều mưa xám xịt.

Đi giữa hai hàng đèn đêm đứng im.

 Em bé co ro ngồi ôm tay lái.

Anh cũng so vai còng lưng tiến lên.
Nhưng em không quên em nói, em khoe.

Hôm nay cô cho mười điểm, thích ghê!

Nhưng đôi tai anh đâu có nghe gì.

 Thôi em, thôi em khi nước mưa tuôn,

xe đang đi trên đường hẹp đất trơn.

Em im đi cho anh gắng anh đạp!

(Phạm Duy – bđd)

Tôn-sùng hay phụng-thờ Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ loài người, cũng là biểu-tượng của sự tôn-trọng và cảm-kích tình mẫu-tử trong đời người. Kể nhiều về tình này, chắc mỗi người và mọi người đều kích-động, mủi lòng, như truyện kể dài ở bên dưới để minh-hoạ cho bài phiếm hôm nay.

Truyện, là truyện như thế này đây:

“Tôi không khó khăn nhận ra mẹ khi bà vừa bước ra khỏi trạm kiểm soát an ninh phi trường. Một tay kéo chiếc valy nhỏ, một vai mang chiếc xách tay, mẹ thong dong như trôi theo dòng người. Dáng mẹ trông mảnh mai, thanh nhã, linh hoạt dù rằng đã ở cái tuổi tám mươi. Tóc đã bạc phơ. Chiếc áo sơ mi màu trắng như giúp khuôn mặt mẹ tươi tắn hơn ngày tôi gặp mười lăm năm trước. Mẹ đưa mắt tìm kiếm. Tôi giơ tay vẫy. Bà mừng rỡ vẫy lại. Tôi cười khi mẹ đến gần:

-Chào mẹ!

Mẹ buông rơi chiếc va ly, mở vòng tay ôm ghì lấy tôi. Tôi cũng ôm xiết mẹ mà sao không cảm nhận chút nồng ấm nào.

 Từ khi chưa đầy một tuổi, ba mẹ tôi đã đành đoạn bỏ rơi tôi. Thôi nôi, ngoại cúng kiến van vái. Lên ba, ông ngoại mất. Lên năm, bà ngoại lìa đời. Cậu mợ tôi thừa hưởng gia sản nên… thừa hưởng luôn việc săn sóc dưỡng dục tôi. Vì vậy mà khi khôn lớn, tôi hầu như quên hẳn mình còn đủ cha đủ mẹ.

 Tôi lái xe vào trung tâm thủ đô, chạy vòng vòng cho mẹ xem phố xá rồi quẹo sang đường Constitution. Tôi chỉ mẹ xem đài tưởng niệm Washington, tòa Bạch ốc và hứa một ngày khác sẽ đưa mẹ vào xem tận bên trong. Mẹ nói mẹ muốn ưu tiên gặp em của mẹ, còn việc tham quan chừng nào cũng được. Tôi cho mẹ biết cậu mợ đang chu du Âu châu, hai tuần nữa mới về. Sợ mẹ hiểu lầm, tôi giãi bày:

-Cậu mợ ghi tên đi chơi trước ngày mẹ báo tin qua đây nên không hủy bỏ được. Con đã xin nghỉ một tháng. Trong tháng đó mình sẽ đi một vòng sơ khởi nước Mỹ. Mẹ sẽ gặp em trai mẹ vào tuần lễ thứ ba…

 Tôi ngưng nói khi thấy mẹ xoay mặt về khung cửa kính. Nhân lúc xe qua cầu, tôi cất cao giọng:

-Đây là sông Potomac . Đi xuôi dòng sẽ trông thấy một phần hình ảnh rất đẹp của thủ đô. Nhà của con phía thượng dòng cách đây độ nửa giờ.

 Mẹ vẫn nhìn quang cảnh thành phố, chỉ có tiếng “thế à” hờ hững vang lên. Tôi nhìn đồng hồ và mừng là đã tới giờ cơm chiều. Tôi nói nhỏ nhẹ:

-Suốt ngày đêm trên máy bay, chắc mẹ thèm cơm. Khu thương mại Eden của người Việt vùng này có một nhà hàng nấu món canh chua cá bông lau, cá kho tộ ngon lắm!

Bà nói giọng mệt mỏi:

-Nói chung thì mẹ thèm một tô phở.

Một cái gì nghẹn ngào đột ngột trào dâng trong tôi. Hai mươi năm tập kết ra Bắc mẹ đã bị đồng hóa. Không chỉ thay đổi cả giọng nói, ngôn từ mà lơ là luôn cả món ăn ưa thích của miền Nam . Tôi ngờ rằng bà không phải là người sinh ra tôi… Tôi đưa mẹ vào tiệm Phở Xe Lửa và gọi tô đặc biệt. Mẹ khen ngon hơn phở ở Sài Gòn. “Nhưng vẫn thua phở Hà Nội”, tôi nhanh nhẩu tiếp lời. Mắt mẹ thoáng chút ngạc nhiên rồi lặng lẽ quan sát xung quanh…

 Tôi cũng quan sát bà. Tôi giống mẹ lạ lùng. Chắc chắn nhìn chúng tôi, không ai nghĩ khác hơn là mẹ và con. Mà giống mẹ để làm gì khi tâm hồn chúng tôi không có chút gì hòa điệu… Tôi nhấn một chiếc nút trên trần khi xe sắp quẹo vào driveway và lái thẳng vào garage. Trong khi tôi mở cóp nhấc xuống các hành lý, mẹ đi ra phía trước đường. Tôi bước đến bên mẹ khi bà ngắm nghía ngôi nhà, trầm trồ:

-Nhà của con đây hả? To và đẹp quá, ngoài tưởng tượng của mẹ. Quang cảnh cũng thật sáng sủa tươi mát.

Tôi cười buồn:

-Chúng con mới mua năm ngoái và chắc cũng sắp bán…

Giọng mẹ thảng thốt:

-Tại sao thế?

Tôi nắm cánh tay mẹ dìu đi:

-Mẹ vào nhà nghỉ ngơi. Từ từ rồi mẹ sẽ biết…

Tôi bấm số liên hợp và mở toang cánh cửa. Mẹ bước vào, đứng sững người trên tấm thảm nhỏ mang chữ welcome. Dường như mẹ không tin những gì mẹ đang thấy. Mẹ ngập ngừng bước đi, mắt dừng lại từng vật trang trí ở phòng khách, phòng gia đình, miệng lẩm bẩm lời tán thưởng. Khi mẹ hướng về khu bếp, tôi biết mẹ sẽ ở đây lâu hơn nên lặng lẽ trở ra ngoài mang hành lý vào nhà.

 Khóa cửa xong, tôi đảo mắt tìm mẹ. Bà đang ở trong phòng đọc sách, đứng lặng yên trước bàn thờ. Mẹ không nhìn các tượng Phật rất đẹp tôi thỉnh tận Thái Lan. Mắt mẹ đang đăm đăm nhìn di ảnh của Huy. Anh mặc áo tiểu lễ hải quân với dây biểu chương, trên một nắp túi là chiếc huy hiệu hạm trưởng và bảng tên Lê Quang Huy. Bên kia là hai hàng huy chương nhiều sắc màu khác biệt. Và Huy đang tươi cười… Mẹ nói bằng giọng ngạc nhiên mà bình thản:

-Sao con không nói gì với mẹ?

Tôi lắc đầu:

-Để làm gì? Mẹ có biết gì về ảnh đâu và chắc cũng không ưa ảnh!

 Mười lăm năm trước, khi về chịu tang ba tôi, tôi đã từ chối trả lời mọi câu hỏi của mẹ. Tôi muốn cho thấy khi bà đã có can đảm bỏ rơi tôi thì tôi cũng có can đảm coi như đời tôi không dính dáng gì tới bà. Mãi gần đây, khi mẹ ngỏ ý muốn qua thăm chúng tôi, Huy khuyên tôi nhận lời, dù gì bà cũng là người sinh thành ra mình. Tôi nghe lời khuyên nhưng chỉ một mình tiếp đón mẹ. Huy chết bất thần vì cơn đột quỵ. Mẹ nhìn khắp bàn thờ rồi quay phắt sang tôi:

-Sao không thấy con thờ ba con?

-“Thờ ba? Tại sao con phải thờ ba?

 Mặc dù đã tự nhủ, tôi vẫn không dằn được cơn bực tức bùng vỡ.

Mẹ quay đi, lặng lẽ thắp nén nhang cắm vào lư hương, nhìn Phật Bà, nhìn Huy rồi thở dài lặng lẽ bước lên thang lầu. Tôi đã từng nghe nhiều tiếng thở dài tương tự của mẹ trong suốt thời gian mười ngày về dự đám táng ba tôi. Tôi đã cho bà thấy tôi không chỉ dửng dưng với người chết mà còn lạnh lùng với cả người còn sống. Liệu có ai cư xử khác tôi khi suốt quãng đời dài gần bốn mươi năm mà chỉ vài lần được nghe nhắc đến mẹ cha mình bằng lối bông đùa.

 Năm tôi lên mười bốn, sau trận Mậu Thân khói lửa khắp Chợ Lớn Sài Gòn, một bữa, lần đầu tôi nghe cậu nhắc tới ba mẹ.

 Trong bộ đồ trận rằn ri mang lon trung tá, cậu ra vẻ trịnh trọng:

-Nè, Phượng! Con có biết là suýt nữa con đã có dịp trùng phùng ba mẹ con không?

Trong khi tôi tò mò lắng nghe, cậu tỉnh bơ tiếp:

– Nhưng vì cậu thấy họ không xứng đáng làm bậc cha mẹ, cậu đã đuổi họ về mật khu rồi!

Tôi thường cười với mỗi cợt đùa của cậu nhưng lần đó tôi mím môi muốn khóc. Năm hai mươi mốt tuổi, khi tôi đưa Huy về nhà giới thiệu nhân buổi tiệc mừng cậu thăng cấp tướng, cậu nói nhỏ vào tai tôi:

-Chà chà! Như vầy là kẹt cậu rồi! Con mà chọn tên hải quân đó làm chồng thì cậu khốn khổ với chị cậu. Tuy nhiên, nếu con… năn nỉ cậu, cậu cũng liều cho con làm… bà thiếu tá.

 Tôi vẫn cười thầm về chuyện này vì bốn tháng sau, sự thể đảo ngược. Chính cậu lại là người phải “năn nỉ” tôi để cả gia đình được lên tàu của Huy rời khỏi Việt Nam.Chúng tôi thành hôn ở Mỹ. Huy trở lại đại học, tôi đi làm ngày đêm. Rồi lần lượt hai đứa con ra đời. Huy ra trường đi làm. Tôi vào đại học. Vất vả mà hạnh phúc. Tôi quá bận rộn để nhớ về quê cha đất tổ, cho tới mười năm sau tôi mới lại nghe tin tức ba mẹ. Lại vẫn do cậu đưa tin. Cậu tôi cho biết đã liên lạc được với chị của mình.

 Không lâu sau đó tôi liên tiếp nhận được thư ba mẹ tôi bày tỏ lòng khao khát mong nhận được thơ tôi và hình ảnh gia đình. Và tiếp đến là những lá thư mong mỏi tôi về Việt Nam . Tôi nhận thư, tôi đọc, lòng ngơ ngẩn, bâng khuâng nhưng không có chút hứng thú trả lời. Thậm chí nhiều năm sau, cái tin ba tôi đau nặng cũng chỉ được đón nhận với lòng dửng dưng. Huy bảo tôi nên về. Cậu mợ gọi điện bảo tôi phải về. Tôi thưa với cậu mợ rằng tôi không có cha mẹ nào khác ngoài cậu mợ nhưng cậu mợ tiếp tục thúc bách và giảng đạo lý. Tôi rủ cậu mợ cùng về. Cậu bảo cậu không muốn giỡn mặt với chính quyền cộng sản.

 Cuối cùng tôi khăn gói một mình lên đường. Thời điểm này chúng tôi còn nghèo nên Huy đành ở lại với hai con. Nhưng đoạn đường quá xa để ba tôi không thể chờ. Ông vĩnh viễn ra đi vài giờ trước lúc tôi bước vào ngôi nhà xưa. Dù vậy tôi vẫn còn kịp nhìn mặt ba tôi. Nhìn chỉ một lần mà vẫn đủ để khuôn mặt già nua, khắc khổ, hoàn toàn xa lạ đó theo tôi về tận xứ Mỹ.

 Thỉnh thoảng nhân một liên tưởng về dòng họ ai còn ai mất, khuôn mặt của ông lại hiện ra cùng với những tiếng thở dài của mẹ. Thế mà tuyệt nhiên, tôi không hề nghĩ đến việc thờ phượng ông…Mẹ nằm trong buồng riêng suốt đêm ngày, mãi đến tối hôm sau mẹ mới tươi tỉnh hẳn. Tôi rủ mẹ đi ăn đồ biển. Mẹ ăn tự nhiên, ngon lành. Nếm đủ tôm cua nghêu sò ốc hến. Luôn cả hào tươi. Lâu lắm mới có dịp ăn ngoài, tôi cũng tận lực nuốt. Trên đường về nhà, mẹ hỏi:

-Cậu bảo con có hai thằng con trai. Chúng nó đâu mà mẹ chưa gặp?

-Tụi nó đều đã lập gia đình. Mỗi đứa ở mỗi tiểu bang khác nhau, khá xa. Đứa lớn ở Georgia, có hai con, đứa nhỏ ở Texas, đang chờ con đầu lòng. Con đã sắp xếp để mẹ đến chơi với chúng nó, mỗi đứa vài ngày, sau khi mẹ gặp cậu mợ.

Mẹ nhìn tôi, dò hỏi:

-Con ở đây một mình sao?

Tôi gật đầu:

-Vì vậy mà con có ý muốn bán nhà này về sống với mấy đứa nhỏ, luân phiên mỗi đứa một thời gian. Tụi nó đang năn nỉ con về ở chung.

Giọng mẹ ngập ngừng:

-Phải thú nhận rằng mẹ vừa trông thấy căn nhà này là mê ngay. Nếu con bán thì bán cho mẹ. Mẹ con ta sẽ ở đây, mãi mãi tới ngày mẹ chết…

 Tôi đăm đăm nhìn mẹ. Tôi đã biết từ lâu là mẹ rất giàu, chỉ ngạc nhiên về ý cuối. Nó đến quá bất ngờ như là một nhánh gai quẹt vào người. Tôi nghe xót đau, khó chịu. Tôi không chuẩn bị việc này, cũng không muốn nó xảy ra. Đầu óc tôi đông cứng. Chợt hình ảnh Huy hiện ra, miệng cười cười. Ba tháng nay, từ ngày anh mất, khi tôi gặp điều gì khó xử là anh lại hiện về. Nụ cười của anh luôn luôn giúp tôi tìm giải pháp. Tôi thấy bao nhiêu phiền phức nếu cho mẹ ở chung.

 Tôi đã quen với cuộc sống không có mẹ. Chỉ mới hai mươi bốn tiếng đồng hồ “có mẹ” mà tôi đã chịu đựng biết bao gượng ép. Mẹ nhìn tôi dò hỏi. Tôi nói:

-Con mới mất anh Huy. Con cần một thời gian yên tĩnh.

-Mẹ cũng cần có thời gian sắp xếp mọi việc ở Việt Nam . Năm tới mẹ trở qua sống hẳn với con. Con đồng ý chứ?

 Tôi không biết nói gì hơn. Tôi như nghe tiếng Huy văng vẳng:

-Đừng làm mẹ buồn!

Tôi cố nhìn vào bóng đêm loang loáng tìm hình bóng Huy nhưng chỉ thấy ánh đèn đỏ vừa bật ở ngã tư…

Sau năm ngày dạo chơi phố xá và ngắm cảnh Nữu Ước, chúng tôi dành hai đêm thử thời vận ở sòng bạc Atlantic City . Thánh nhân đãi kẻ khù khờ, cả hai mẹ con thắng lớn. Chúng tôi về đến nhà, tẩy rửa xong lớp bụi đường thì trời tối hẳn. Tôi thấy mệt mỏi nhưng mẹ tỉnh bơ đề nghị để mẹ nấu ăn ở nhà. Tôi nói sẽ ăn ở nhà nhưng mẹ khỏi nấu. Mẹ không tỏ gì ngạc nhiên khi tôi gọi thức ăn bằng điện thoại. Bà ngồi thoải mái trong bộ ghế êm ái, xem truyền hình đưa tin thế vận hội. Tôi sắp đặt chén đũa, khăn ăn và nước ngọt rồi ngồi xuống cạnh mẹ.

 Chợt mẹ quay sang tôi, giọng ngập ngừng thiếu tự nhiên:

-Mẹ phải nói với con chuyện này. Em trai con muốn nhờ mẹ hỏi con giúp nó một việc.

Em trai tôi? Tôi từ từ hình dung đứa em trai của mình. Tôi đã nhớ ra một hình dáng hiền hòa thường quanh quẩn gần tôi. Cũng như cậu và mẹ, em tôi nhỏ thua tôi năm tuổi. Nhưng nó khác với tất cả chúng tôi là đã không chào đời ở miền Nam .

Tôi nhìn mẹ chờ đợi. Giọng mẹ đều đều:

-Đứa con gái út của nó học rất giỏi. Năm tới lên đại học. Nó muốn nhờ con giúp cháu qua học bên này. Nó không muốn cho cháu ở nội trú. Nó xin cho cháu ở với con. Cơ bản là con không phải tốn kém gì hết. Mẹ sẽ lo đi chợ, nấu ăn cho cả nhà…

 Cơn giận chợt ứ lên ngực làm tôi khó thở. Tôi hít vào một hơi thật sâu. Tôi biết là mở miệng lúc này tôi sẽ nói ra lời cay độc. Tôi nhìn ra ngoài trời đang đổ mưa với những ánh chớp liên hồi. Tôi nhớ tới những cơn mưa đầy sấm sét trong căn nhà thênh thang thuở lên mười. Thuở đó cậu tôi đổi đi đơn vị xa và mợ theo cậu. Người giúp việc thì ngủ gần bếp, xa căn buồng riêng biệt của tôi. Tôi đã vô cùng sợ hãi và từng ước ao có được một đứa em. Bây giờ tôi đâu còn cần. Tôi nói chầm chậm:

-Thì ra mẹ qua đây không phải vì con mà vì tương lai cháu nội của mẹ!

Bà nhìn tôi tỏ vẻ ngạc nhiên:

-Con nói gì lạ vậy. Tất nhiên mẹ qua đây là vì con, bởi vì mẹ muốn bù lại thời gian ba mẹ bỏ bê con. Mẹ không hề vì cháu nội. Nó chỉ ngỏ lời sau khi biết ý định của mẹ.

Mẹ đưa tôi lá thư cầm sẵn:

-Đây là thư nó gửi cho vợ chồng con.

Tôi hững hờ nhận.

Mẹ tiếp:

-Thật ra nó cũng đã hỏi các thủ tục xin ở nội trú. Không có con ở đây, con của nó vẫn qua đây học. Mẹ thấy điều quan trọng là có người ruột thịt cận kề, coi sóc, nhắc nhở.

Tôi cười chua xót, không còn ngăn được lời mai mỉa:

-Ruột thịt? Có là ruột dư với thịt thừa! Và mẹ đã từng cắt bỏ không thương tiếc!

Mẹ nhìn tôi đăm đăm:

-Con vẫn còn giận mẹ đến thế sao? Lần con về, mẹ đã hết lời giải thích…

-Con vẫn nhớ các lời giải thích đó: Ba mẹ đâu có muốn xa con, chẳng qua chỉ vì muốn góp phần giành độc lập, thống nhất đất nước.

-Thì đất nước đã độc lập thống nhất, sao mẹ và cháu nội không ở Việt Nam mà hưởng. Mẹ buông tiếng thở dài. Tôi cũng chợt nhận ra mình vừa buông lời xỉa xói hỗn hào. Tôi trầm giọng:

-Con xin lỗi. Hễ nhớ đến những ngày con bị bỏ rơi là cứ muốn nổi xung thiên…

-Mẹ phải làm gì để được con tha thứ, quên đi chuyện cũ. Con nghĩ lại đi. Ba mẹ đâu có gửi con cho ai xa lạ. Người đó chính là ba mẹ ruột của mẹ. Con lúc nào cũng nhận được trọn vẹn tình thương và chăm sóc…

 Tôi cố giữ giọng bình thường:

-Ba mẹ ruột của mẹ chớ đâu phải ba mẹ ruột của con! Suốt tuổi thơ của con, con bị bạn bè cười nhạo là đứa trẻ mồ côi, là con không cha không mẹ!

 Nước mắt tôi tự dưng ứa ra, rơi dài xuống. Mẹ đứng lên, bước lại ôm choàng lấy tôi. Tôi khóc nức nở trên vai mẹ. Khi muộn phiền đã dịu xuống, tôi nhìn thẳng vào mắt mẹ:

-Mẹ không thấy là mẹ không công bằng sao? Lúc con ở cái tuổi rất cần sự săn sóc của ba mẹ thì ba mẹ bỏ đi biền biệt. Còn bây giờ, khi mẹ muốn ở gần con thì mẹ đã bước vào cái tuổi gần đất xa trời, cái tuổi mẹ cần con chớ con không cần mẹ. Thật lòng mà nói, cho tới giờ phút này, con không một mảy may cảm thấy chút gì thương yêu mẹ, thì nói chi thương yêu cháu.

 Mẹ ôm mặt, thân hình thả rơi lên ghế. Tôi nghe tiếng nấc của mẹ và nghe lòng chùng xuống. Tôi nói nhanh như sợ không còn nói được:

-Nhưng có điều chắc chắn là con cũng không thể chối bỏ mẹ không phải là mẹ của con. “Chừng nào mẹ muốn ở với con, mẹ cứ ở. Chừng nào mẹ muốn đi, mẹ cứ đi.” Điều em con muốn, cháu con muốn, con khó mà nói được lời từ chối!

 Mẹ vẫn ngồi yên, thút thít khóc. Đúng lúc tôi muốn ngồi xuống ôm lấy mẹ thì tiếng chuông reo. Tôi thở hắt ra, bước về phía cửa nhận thức ăn mang tới…Rời San Francisco trên chiếc xe chở khách chúng tôi ôn lại những địa điểm đã viếng thăm qua ba ngày ở vùng vịnh. Mẹ tỏ vẻ hài lòng đã được chính mắt chiêm ngưỡng chiếc cầu nổi danh Golden Gate . Mẹ cũng yêu thích cái công viên cùng tên với khung cảnh nên thơ thanh bình mà mẹ gọi là hồ Tịnh Tâm.

 Hai ngày ở San Jose, ấn tượng nhất đối với mẹ là những hình ảnh sinh động, huy hoàng và lạ mắt của vô số loài sống dưới nước hiển hiện ngay trước mắt trong Monterey Bay Aquarium. Khi chúng tôi về tới quận Cam . Cậu và các con cháu đón chúng tôi ở bến xe, chỉ thiếu có mợ.

 Khi tôi thông báo mẹ sẽ sang thăm gia đình cậu, cậu nói sẵn sàng gặp mẹ nhưng từ chối cho chúng tôi tạm trú. Nhà cậu mợ rất rộng, nhiều buồng ngủ. Vợ chồng con cái tôi mỗi khi qua Cali là ở nhà cậu mợ hà rầm. Cậu mợ hẳn phải đau lòng khi lần này để tôi ở khách sạn chỉ vì… có mẹ!. Mợ không muốn chứa mẹ trong nhà. Hai đứa em trai của mợ đều bị tập trung, một bỏ xác trong rừng Yên Bái.

 Mỗi ngày trong suốt một tuần, cậu lái xe đến khách sạn đón chúng tôi đi viếng thăm hết nơi này đến nơi khác. Ngày đầu, cậu dành cho khu Little Saigon . Mẹ thú nhận là rất ngạc nhiên về mức phát triển quy mô và sự phồn vinh sang giàu của người Việt tỵ nạn. Những ngày kế dành cho danh lam thắng cảnh. Có ngày chúng tôi bay khỏi thành phố đỏ đen Las Vegas về phía Bắc để chiêm ngưỡng Grand Canyon vô cùng kỳ vĩ ngoạn mục. Cậu thường dùng khoảng thời gian di chuyển để hỏi mẹ về gia đình và dòng họ ở quê nhà. Cậu cũng kể về cuộc đời của cậu trong suốt nửa thế kỷ không gặp chị. Tôi vô cùng thú vị được nghe hai chị em nhắc lại những kỷ niệm thời họ sống bên nhau…

 Đêm chót trước khi rời Quận Cam trở lại Maryland chúng tôi được cậu mời một bữa tiệc cá 7 món, đặc sản Cali . Khi chúng tôi đến nhà hàng, tôi thật sự ngạc nhiên và vui mừng khi thấy có cả mợ hiện diện. Mợ đứng lên vui vẻ chào hỏi và mời mẹ ngồi bên cạnh. Mợ vốn hoạt bát, nên mẹ lúc nào cũng cười tươi. Tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Lúc chờ tính tiền cậu hỏi mẹ bao giờ về Việt Nam . Mẹ bảo còn lâu, khoảng sáu tháng nữa. Và năm tới có thể là qua ở luôn. Cậu gật gù nhìn mẹ rồi nhìn tôi.

 Tôi tưởng cậu tán thành quyết định của mẹ nhưng cậu chậm rãi nói:

-Phải nói là rất ngạc nhiên khi nghe chị tính qua Mỹ ở luôn. Chị biết không, khi xưa nhiều người chủ-trương đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào! Mấy chục năm qua, Ngụy đã nhào Mỹ đã cút thế mà giờ đây có người từng đánh đuổi Mỹ lại cứ muốn … “cút” theo Mỹ!

 Tôi bật cười nhưng kịp hãm khi thấy mặt mẹ sa sầm… Về Maryland, theo dự trù chúng tôi nghỉ ngơi ba ngày trước khi bay xuống Georgia và Texas . Nhưng chỉ mới qua đêm, buổi sáng mẹ buồn rầu đổi ý. Mẹ muốn về ngay Việt Nam . Tôi ngỡ ngàng. Nhưng tôi chợt hiểu ra. Câu trêu chọc của cậu đã chạm tự ái mẹ.”

Truyện kể thì như thế. Chẳng có ý tuyên-truyền chính-trị quốc/Cộng, cũng chẳng muốn phổ biến thói quen tôn sùng Đức Mẹ đến độ thờ lạy. Có nhớ, có lần bần đạo chợt nhận ra ca-từ ở bài hát mình vẫn cùng hát với cộng-đoàn tình-thương đến 60 năm trong đó có câu:

 “NĂM XƯA TRÊN CÂY SỒI

LÀNG FATIMA XA XÔI,

CÓ ĐỨC MẸ CHÚA TRỜI

HIỆN RA UY LINH SÁNG CHÓI.

MẸ NHẮN NHỦ NGƯỜI ĐỜI

HÃY MAU ĂN NĂN ĐỀN BỒI,

HÃY TÔN SÙNG MẪU TÂM ,

HÃY NĂNG LẦN HỘT MÂN CÔI.

MẸ MARIA ƠI! CON VÂNG NGHE MẸ RỒI,

SỚM CHIỀU TỪ NAY THỐNG HỐI.

MẸ MARIA ƠI! XIN MẸ ĐOÁI THƯƠNG NHẬM LỜI

CHO NƯỚC VIỆT XINH TƯƠI,

ĐỨC TIN SÁNG NGỜI.”

Thôi, chết thật rồi, các cụ ạ! Xin gì không xin lại đi xin cho đất nước Việt Nam , ôi thôi! “đức tin sáng ngời” là thứ, là điều chỉ có Chúa mới cho thôi. Còn Đức Maria, dù là Mẹ Việt Nam hay Mẹ quốc tế, chỉ là Đấng hộ-phù, cầu bàu cùng Đức Chúa, mà thôi.

Nghĩ thế rồi, nay mời bạn mời tôi, ta cứ thế hiên ngang ngẩng đầu về phía trước, không phải để xin xỏ điều gì với Mẹ hiền rất Maria, mà để hát với lũ trẻ bài đồng ca mà rằng:

“Mai mốt em thành người trong xã hội.

Chức lớn sang giầu, nổi danh khắp nơi.

Em có đi chơi bằng xe hơi mới.

Xin chớ cán xe đạp của anh, bé ơi!

Xin chớ cán xe đạp của anh, bé ơi!

(Phạm Duy – bdd)

 Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn muốn hát thật nhiều

Cho vui cuộc đời mình và đời người

Chứ không để xin xỏ, điều gì

Với một ai.

Từng ngọn nến ta thắp lên ngàn ánh sáng,

Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ Hai Phục Sinh năm C 03/4/2016

 Tin Mừng (Ga 20: 19-31)

Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em!” Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Người lại nói với các ông: “Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.”

Một người Dtrong Nhóm Mười Hai, tên là Tôma, cũng gọi là Điđymô, không ở với các ông khi Đức Giêsu đến. Các môn đệ khác nói với ông: “Chúng tôi đã được thấy Chúa!” Ông Tôma đáp: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Tôma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em.” Rồi Người bảo ông Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Ông Tôma thưa Người: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Đức Giê-su bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!”

Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người

“Từng ngọn nến ta thắp lên ngàn ánh sáng”,

Nguyện cầu xin cho thế gian mãi vui”

(Dân từ thơ Quốc Vượng)

 Thắp sáng ngọn nến, để thế-gian mãi vui, còn là thắp sáng cả niềm tin-tưởng của dân gian trần thế, chốn người phàm. Thắp sáng ngọn nến tinh-thần đầy tình thương còn là ý-tưởng được diễn tả ở trình thuật, rất hôm nay.

Trình thuật hôm nay, ghi lại giòng kể rất thông thoáng những điều dính dấp đến niềm tin của TôMa. Là môn đệ một lòng yêu Chúa, nhưng thánh nhân vẫn tỏ ra hơi cứng tin. Vẫn tuyên bố một lập trường, nghe khá quen. Lập trường: chỉ tin khi được phép sờ vào vết thương đau Thầy Chí Thánh, nay sống lại.

Tôma là hình ảnh của rất nhiều con dân nhà Đạo, ở khắp nơi. Những người có thói quen phản ứng theo cung cách của chốn đời thường. Chí ít, là nơi các kẻ tin cậy và thương mến Đức Kitô, những thành viên dấn bước theo chân Chúa, xưa cũng như nay. Có thể gọi họ là những người có niềm yêu không thay đổi. Nhưng, niềm tin như thế cũng chẳng nên “viết trrên giấy có kẻ giòng”, ngày Chúa sống lại.

Trình thuật tuần Chúa sống lại, là Tin Mừng mới mẻ về một niềm yêu, và cả về niềm tin. Mới mẻ là bởi, trên hết mọi sự, niềm tin phải là tin vào Đức Kitô sống lại. Và, niềm yêu cũng cũng vẫn là lòng thương mến Đấng Nhân Hiền đã dạy đàn con thân yêu phải như thế. Ngài yêu thương loài người rất bền bỉ, cả lúc chết lẫn khi sống lại. Khi sống lại, Ngài hoàn tất sứ vụ Thiên Sai, Cha đã trao.

Tin Mừng Chúa đã sống lại nay hiện diện với Tôma thánh nhân, cũng mang dáng dấp của một thuật truyện khá thần bí. Thần bí với Tôma là đại diện cho nhiều dân con nhà Đạo. Khá thần bí, vì dân con nhà Đạo không hiểu rằng sứ vụ Thiên Sai chỉ kết thúc bằng và qua sự Sống lại của Đúc Chúa; để nhờ đó, Ngài mới về với Thiên tính, hòa hợp cùng Chúa Cha.

Trình thuật hôm nay còn nhắm gửi đến cộng đoàn Êphêsô, là hội thánh đang hoang mang và hãi sợ. Hoang mang, vì cộng đoàn dân Chúa đã kinh qua nhiều thử thách. Hãi sợ, vì Người Do thái vẫn dè chừng, dòm ngó, chẳng để yên. Hoang mang và rất sợ, còn vì người ngoài cuộc chẳng tin là Thầy mình đã sống lại.

Bàn về niềm tin và niềm yêu của người dân đi Đạo, trình thuật hôm nay cũng nhấn mạnh đến sự hiện diện và quyền năng của Đức Kitô Phục Sinh. Đức Chúa Phục Sinh nay ở giữa chúng ta, những kẻ cứng tin như thánh Tôma. Và từ lúc đó, việc tin Chúa Phục sinh đã phổ biến rất nhanh, như lời kể trong sách Công Vụ: “Càng ngày có nhiều người tin theo Chúa, cả đàn ông đàn bà rất đông” (CV 5: 12b)

Về niềm tin của cộng đoàn dân Chúa tuy có hãi sợ, lúc ban đầu: “Nơi các môn đồ ở, các cửa đều đóng kín.” (Ga 20: 19). Nhưng với lời chúc phúc của Thầy Chí thánh đã sống, niềm hãi sợ giờ này đã tan đi:  “Bình an cho anh em” (Ga 20: 27).

Với chúc phúc của Đức Chúa, thánh Tôma và dân con nhà Đạo từ nay đã trở về với cung lòng yêu thương của Đức Chúa. Về với niềm tin đích thực, không đổi thay. Được Chúa Nhân Hiền chúc phúc, loài người từ nay được Chúa ờ cùng. Ở với đàn con nay đã có niềm tin và niềm yêu, không đổi thay. Với niềm tin –yêu không còn thay đổi, thánh tông đồ nay đã mở mắt để nhận ra Thầy mình đích thực là Đức Chúa, Đấng Thiên Sai do Cha gửi đến: “Lạy Chúa  con! Lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20: 29). Thành thử, lòng cứng tin của thánh Tô ma tông đồ cũng là cơ hội để Chúa Cha chúc phúc cho mọi người. Đứng đầu là thánh nhân.

Qua tuyên xưng của thánh nhân tông đồ, con dân nhà Đạo nay không còn cứng tin nữa. Nhưng, nhận ra Thiên tính của Thầy Chí Thánh, Đấng Nhân Hiền. Và, đây còn là thông điệp đậm nét mà thánh sử Gio-an, người môn đệ “được Chúa thương yêu”, muốn bày tỏ. Thuật lại niềm tin yêu và hãi sợ của Tô-Ma tông đồ, thánh Gio-an cũng minh chứng: đây không đơn thuần chỉ là cuộc xum họp gia đình môn đệ của Đức Chúa, mà thôi.

Nhưng, đây còn là thông điệp mang xác chứng của một lệnh truyền: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.” (Ga 20: 21). Là Đức Chúa sống lại, nay Thầy sai anh em ra đi để rao truyền niềm yêu và niềm tin “không còn thay đổi” đến với mọi người. Với lệnh truyền của Đức Chúa Phục sinh được chứng xác, đồ đệ kẻ tin nay được đảm bảo có Thánh Thần Chúa ở cùng. Rồi từ đó, các vị được quyền thứ tha lỗi lầm của anh em cùng niềm yêu và tin, nhưng chưa tha thứ.

Quyền uy tha thứ mọi lỗi phạm của anh em, không chỉ là quyền hòa giải giữa các người anh em với nhau, nhưng còn là một giảng hòa sâu đậm giữa con người với Đức Chúa, nữa. Với lệnh truyền hòa giải, nay  dân con nhà Đạo sẽ trở nên một. Một người con có Cha Chung là Đức Chúa, đã sống lại. Một cộng đoàn gồm những người có niềm yêu và niềm tin. Những người con yêu được ở trong Chúa. Và với Chúa.

Xem như thế, xác định về niềm yêu và tin của mọi dân con Đức Chúa, từ nay được “viết trên giấy có kẻ giòng”, “không đổi thay”. Từ nay, mọi con dân nhà Đạo sẽ không còn cứng tin như Tôma tông đồ, vào dạo trước. Và từ nay, các Tô-ma đương đại sẽ không còn hoang mang, hãi sợ. Vì được Đấng Nhân Hiền Chí Thánh chúc phúc: “Bình an cho anh em!” .

Các Tôma thời đương đại, chung cuộc rồi ra cũng nhận biết được dung mạo của Thầy Nhân Hiền đã sống lại, nơi người anh, người chị của mình tại các xóm nghèo thành thị. Và, những người em còn ở chốn nhân gian đầy kinh sợ. Sợ nghèo, sợ đói. Sợ cả dân gian chưa có được niềm tin. Sợ đến độ chẳng còn biết “tin” vào ai. Nói gì đến niềm yêu “không đổi thay”.

Và nếu con dân nhà Đạo vẫn còn những đồ đệ chưa xác tín, vẫn hãi sợ mông lung, thì này đây thêm một khẳng định, nơi trình thuật: “Những điều được chép ở đây, là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa.

Và, để nhờ tin mà được sống nhờ danh Nguời.” Nói cho cùng, mấu chốt cơ bản của Đạo Chúa không là gì khác ngoài những TIN và YÊU. Một niềm yêu và niềm tin không đổi thay. Và các niềm ấy, không chỉ “viết trên giấy có kẻ giòng”, thôi. Mà, còn được ghi tạc nơi phần sâu thẳm của tâm can mỗi người. Nơi mọi người.

Tham dự tiệc thánh hôm nay, ta cầu mong sao niềm tin của ta vẫn mãi trong sáng. Không hãi sợ. Không sợ cả người ngoài hay kẻ xấu.

Cầu và mong sao, khi được Chúa chúc bình an và sai đi loan truyền niềm yêu không đổi thay, ta sẽ vững tin hơn, mà lên đường. Vững tin, để rồi với lời chúc phúc bình an của Đức Chúa, ta sẽ nhận ra Ngài nơi mọi người, người trong Đạo cũng như ở ngoài.

 Lm Richard Leonard, sj biên soạn

Mai Tá lược dịch.

BA CÁCH ĐÓN NHẬN CÁI CHẾT KHÁC NHAU

BA CÁCH ĐÓN NHẬN CÁI CHẾT KHÁC NHAU

Chúa Giêsu đã từng nói: “Được cả thế gian, mà phải thiệt mất mạng sống, nào có ích gì”.  Thực vậy, có những người khi sống đã được cả thế gian, nhưng cuối đời họ đã đánh mất tất cả.  Mất cả danh dự.  Mất cả bổng lộc.  Mất cả người thân và cuối cùng là mất cả mạng sống.

Cuối năm 2006, toàn thể thế giới đều nghe nói về ba cái chết của ba nguyên thủ ba quốc gia.  Ba người ba cá tính, ba cung cách lãnh đạo khác nhau.  Trước cái chết của họ, có kẻ khóc, có người vui. Có kẻ ngậm ngùi thương tiếc, có kẻ khai rượu ăn mừng.  Điểm chung của họ là được cả thế gian nhưng rồi họ cũng ra đi tay trắng như bao người khác.

Người thứ nhất đó là tổng thống Chilê, Ausgusto Pinochê đã qua đời ngày 10/12/2006.  Ông đã cai trị nước Chi Lê từ năm 1973 đến 1990.  Các tổ chức nhân quyền của Chi Lê đã ước lượng dưới quyền thống trị của ông, có ít nhất 2,100 người bị xử tử vì lý do chính trị, hơn 1,100 tù nhân bị mất tích và khoảng 10,000 tù nhân bị tra tấn trong những trại tù bí mật ở trong nước.  Ông đã bị toà án quốc tế truy tố năm 1998 về tội diệt chủng.  Ngày an táng của ông, Đức Hồng Y Karmelic đã cầu xin Thiên Chúa “quên đi những lầm lỗi của Augusto Pinochê”.

Người thứ hai đó là tổng thống Geral Ford, tổng thống thứ 38 của Hoa Kỳ.  Ông đã an nghỉ vĩnh viễn vào ngày 26/12/2006.  Cuộc đời ông không có gì vẻ vang, không có chiến tích đánh đông dẹp tây, nhưng ông được nhìn nhận là người ôn hoà.  Ông đã có một hành động thật phi thường là tha thứ cho cựu tổng tống Nixon khỏi bị truy tố.  Ông đã nói rằng: Ông tha thứ cho Nixon vì quốc gia Hoa Kỳ chứ không phải vì bản thân Nixon.

Cuối cùng là cái chết của nhà độc tài Sadam Hussen, cựu tổng thống Iraq.  Ông đã bị kết án treo cổ tử hình vì tội giết người vô tội.  Ông là một người đã được trời ban cho mọi vinh hoa phú qúy trần gian, nhưng khi chết chỉ có một dây thòng lòng quốn quanh cổ.  Dù rằng, ông không chấp nhận bản án, không chấp nhận cái chết nhục nhã này, nhưng định mệnh đã lấy đi mạng sống của ông khỏi trần gian.

****************************************

Ba nhân vật này đã đi vào cái chết khác nhau.  Có người bình thản ra đi.  Có người ra đi nhưng vẫn ôm trong lòng những ray rức lương tâm.  Có người ra đi trong bất mãn tột cùng.  Và như vậy, cuộc đời chỉ có giá trị khi mình biết sống để phục vụ sự sống.  Cuộc đời sẽ bị người đời khinh chê nếu chỉ biết gieo vãi sự chết chóc và kinh hoàng.  Sự ra đi trong thanh thản bình an hay lo âu sợ hãi cũng tùy thuộc vào cuộc sống của chúng ta: nhân đức hay tội lỗi, công bình hay giả dối, hiền lành hay gian ác.

Cách đây hơn hai ngàn năm, trên đồi Golgôtha, có ba tử tội đã bị kết án tử hình trên thập tự giá.  Ba tử tội, tuy sinh không cùng năm nhưng lại chết cùng ngày, cùng tháng.  Ba tử tội đã đi vào cái chết thật khác nhau.

Người thứ nhất bên tả đã oán hận phận số của mình.  Cuộc đời của anh chỉ biết giết người và cướp của.  Cuộc đời anh chỉ lo gom góp cho bản thân, chỉ nhằm phục vụ bản thân, cuối cùng anh đã ra đi tay trắng trong uất hận đau thương.

Người thứ hai bên hữu đã đón nhận cái chết trong khiêm tốn, ăn năn. Anh đã hoang phí cuộc đời để chạy theo ảo ảnh trần gian. Thế nhưng, anh đã kịp ăn năn về cả một quá khứ lầm lạc.  Anh đã chấp nhận cái chết khổ hình như một hình phạt xứng với tội lỗi của mình.  Anh ra đi trong an bình của người biết sám hối ăn năn.

Ở chính giữa là thập giá Chúa Giêsu.  Chúa đi vào cái chết như của lễ đền tội cho nhân sinh. Chúa chấp nhận cái chết vì loài người và để cứu rỗi loài người.  Chúa đã chịu khổ hình không do lầm lỗi của mình mà vì vâng phục thánh ý Chúa Cha.  Chúa đã chết vì tình yêu đối với nhân loại, đến nỗi đã trở thành khuôn mẫu cho mọi tình yêu.  Vì “không có tình yêu nào cao qúy hơn tình yêu dám chết thay cho bạn hữu”.

****************************************

Hôm nay thứ sáu tuần thánh, Giáo hội mời gọi chúng ta chiêm ngắm tình yêu tự hiến của Chúa Giêsu.  Khi mang thân phận của một con người như chúng ta, Chúa Giêsu đã sống một đời để phục vụ con người, và Ngài cũng đón nhận cái chết vì con người.  Thế nên, tình yêu của Ngài đã thành bất tử trên trần gian.  Thập giá không còn là nỗi ô nhục mà là một cuộc khải hoàn vinh quang.

Đó chính là sứ điệp ngày thứ sáu tuần thánh mà Chúa đang mời gọi chúng ta, muốn trở nên môn đệ của Chúa hãy vác khổ giá mà buớc theo Chúa.  Hãy sống một đời biết cho đi.  Hãy biết dùng khả năng của mình mà phục vụ sự sống cho đồng loại.  Và hãy biết hiến thân mình để đem lại hạnh phúc cho tha nhân, vì chưng: “được lời lãi cả thế gian, chết mất linh hồn nào ích gì?”  Amen!

Trích từ Veritas

ĐƯỜNG EM-MAU, ĐƯỜNG THƯƠNG XÓT (ĐẠI LỄ PHỤC SINH NĂM THÁNH 2016)

  ĐƯỜNG EM-MAU, ĐƯỜNG THƯƠNG XÓT (ĐẠI LỄ PHỤC SINH NĂM THÁNH 2016)

Cv 10,34a.37-43; 1Cr 5,6b-8; Lc 24,13-35

Tác giả:  TGM. Jos Ngô Quang Kiệt

Lời Chúa hôm nay nói về những con người mới. Thánh Phê-rô và thánh Phao-lô trở nên người mới sau khi gặp Chúa Phục Sinh. Tin mừng trình bày chi tiết hai môn đệ buồn phiền chán nản đến tuyệt vọng: Bỏ Giê-ru-sa-lem; Bỏ lý tưởng; Bỏ cộng đoàn; Bỏ Chúa. Họ đi vào đêm đen, tâm hồn chìm trong bóng tối, không lối thoát. Họ đang chết. Nhưng, Chúa đã đến. Chúa làm ấm lên cõi lòng băng giá; Chúa làm sáng lên đêm đen; Chúa làm sống lại hi vọng. Họ trở lại: với Chúa, với anh em, với lý tưởng và với sự sống.

Chúa Giê-su đã phục sinh các tâm hồn nhờ những phương thuốc thần diệu sau:

1.Chúa phục sinh. Họ chết vì nghĩ rằng Chúa đã chết. Họ sống lại ngay khi biết Chúa sống lại. Nhưng để phục sinh Chúa đã phải trải qua khổ nạn, trải qua cái chết, trải qua nhục nhã, trải qua thất bại.

 2.Chúa đi tìm. Con người cô đơn và buồn phiền. Đi trên con đường tăm tối bất định. Họ không thể tìm Chúa nên Chúa đi tìm họ. Chúa đến gặp họ, ngay trên đường họ đi, ngay trong nỗi buồn của họ.

3.Lúc trời đã tối. Buổi tối là lúc nghỉ ngơi. Chẳng ai làm việc buổi tối, nhất là phải ra đường thì rất nguy hiểm. Nhưng Chúa đã lên đường lúc trời tối vì  Chúa thương những tâm hồn tăm tối hơn bóng tối.

4.Chúa chia sẻ. Chúa đến chia sẻ những ưu tư lo lắng của họ. “Các anh có chuyện gì mà buồn thế”? Chúa để họ chia sẻ nỗi niềm. Họ được dịp giãi bầy. Chúa lắng nghe. Chúa giải nghĩa Thánh Kinh suốt chặng đường dài mấy giờ đồng hồ.

 5.Chúa trở nên người bạn. Từ người xa lạ Chúa đã trở thành thân thiết. Đến nỗi họ không muốn rời xa Chúa nữa, vì Chúa hiểu họ và giúp họ.

Đó chính là Lòng Thương Xót của Chúa. Lòng Thương Xót nhìn thấu nỗi cô đơn tuyệt vọng; Quan tâm đi tìm những tâm hồn lạc lõng bơ vơ; Chiếu sáng và sưởi ấm giữa đêm đen lạnh lẽo; Cảm thông chia sẻ với những tâm hồn cô đơn; Chữa lành những tâm hồn bị thương tích; Phục sinh những tâm hồn đang chết dần mòn.

Thế giới hôm nay tràn đầy những con người như thế: buồn sầu, tuyệt vọng nhưng chẳng có ai cứu giúp. Vì con người ngày nay quá bận rộn, chỉ chú ý đến bản thân, không có thời giờ cho người khác. Mỗi con người đang trở thành một con đường cô đơn đi về sự chết, cần có Chúa, cần có Lòng Thương Xót để đường Em-mau trở thành đường yêu thương gặp gỡ, đường sự sống. Ta hãy thực hành những gì Chúa đã làm. Đó là:

Hãy đi tìm. Biết bao anh em đang cô đơn lạc lõng giữa ngã ba đường, đang khao khát được gặp gỡ, được chia sẻ.

Hãy khẩn cấp lên đường. Dù giữa đêm khuya. Biết bao người sắp chết đang chờ đợi ta.

Hãy trò chuyện. Hãy lắng nghe. Biết bao nỗi lòng cần được giãi bầy, cần được cảm thông.

Hãy làm bạn. Một người bạn sẵn sàng chia vui sẻ buồn, sẵn sàng hiện diện. Có mặt dù chỉ để cảm thông, chỉ để ăn một bữa cơm, chỉ để nói một câu chuyện, hoặc giản đơn chỉ để ở bên nhau dù không làm được gì.

Nhưng trước hết và trên hết ta hãy phục sinh chính mình. Thánh Phao-lô mời gọi ta hãy chết cho con người cũ để “sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Ki-tô nơi Thiên Chúa” được tỏ hiện. “Đừng lấy men cũ là lòng gian tà và độc ác, nhưng hãy lấy bánh không men, là lòng tinh tuyền và chân thật, mà ăn mừng đại lễ”.

Hãy đón nhận Lòng Thương Xót của Chúa Phục Sinh. Hãy đem Lòng Thương Xót gieo rắc khắp nơi để bất cứ con đường nào ta đi cũng trở thành Đường Em-mau, Đường của Lòng Thương Xót; để bất cứ ai gặp ta cũng gặp được Lòng Thương Xót, gặp được lòng tốt, gặp được sự cảm thông chia sẻ, gặp được một người bạn.

Lạy Chúa, hằng ngày Chúa đi bên cạnh con mà con không nhận biết Chúa. Xin cho con nhận ra Chúa trong những người anh em sống chung với con, đi bên cạnh con, cùng làm việc với con. Amen.

+ TGM.Giuse Ngô Quang Kiệt

Đan viện Châu Sơn – 2016

Đã quên sao ?

Đã quên sao ?

Tết qua đã hơn nửa tháng rồi mà những người Úc gốc Việt đi Việt Nam ăn tết vẫn chưa trở về. Chợ búa lưa thưa ế ẩm buồn hiu như chợ chiều 30. Tiếng rao hàng dẽo nhẹo có kèm theo câu pha trò của mấy anh bạn hàng bán trái cây thường khi vẫn vang inh ỏi gọi mời bây giờ im thin thít khiến người ta có cảm tưởng đây là một khu shop hết thời sắp closing down dẹp tiệm.

Đứng chờ mua bánh mì, tôi nghe hai bà Việt Nam nói chuyện với nhau rôm rả. Bà này hỏi bà nọ:

– Lâu quá không thấy bà đi chợ, bộ đi Việt Nam hả?

Bà nọ cười toe toét trả lời:

– Ờ, tui về VN trước tết cả tháng lận. Đáng lẽ chưa trở qua đâu nhưng mới đây con nó kêu về nói bộ An sinh xã hội gởi giấy “hỏi thăm sức khỏe”. Tui về ló cái mặt ra cho nó thấy rồi vài bữa trở qua bển nữa. Ở đây buồn quá, về bển chơi cho vui cái tuổi già. Việt Nam bây giờ tiến bộ lắm, nhà cửa đầy đủ tiện nghi, xe cộ có máy lạnh, khách sạn 5 sao, sang còn hơn ở ngọai quốc, cái gì bên Úc có là ở bển cũng có. Ăn uống cũng vậy, nhà hàng lềnh khênh, đồ tây, đồ tàu, Mỹ, Úc, Hàn, Nhật, Thái, Ấn vv… không thiếu nước nào. Đặc biệt đồ biển tươi chong, tôm cá nhảy soi sói chớ không phải đông đá như bên này.

Nghe bà ta nói mà tôi cảm thấy bất mãn lẫn chua xót dùm cho chính phủ Úc ân nhân, đã làm ơn còn mắc oán. Tôi không hiểu sao bà lại có thể hiu hiu tự đắc nói như vậy mà không chút áy náy ngượng miệng.

Chẳng lẽ bà đã quên là bà từ đâu chạy tới đây rồi hay sao? Chẳng lẽ bà không còn nhớ tại vì sao, nguyên do nào bà có mặt ở nước Úc này?
Chẳng lẽ bà đã quên hết những kinh nghiệm xương máu dưới chế độ cộng sản phi nhân, những thống khổ đọa đày, những áp bức kềm kẹp, bóc lột tận cùng xương tủy của bọn độc tài đảng trị khiến bà không chịu đựng nổi nên phải liều mình vượt thoát ra đi bất kể sống chết thế nào.

Chẳng lẽ bà không còn nhớ gì đến chuyến vượt biển kinh hoàng, những ngày đêm đói khát lênh đênh trên biển cả bao la mịt mùng vô tận, giữa bao hiểm nguy rình rập bủa vây, nào là sóng gió bão bùng, nào là hải tặc cướp bóc hết lần này đến lần nọ tưởng chừng như không còn mạng tới bờ.

Nhưng may mắn thay cho bà, cuối cùng bà đã cặp bến tự do. Nước Úc đã nhân đạo mở rộng vòng tay đón tiếp bà, đã cưu mang bà, cho bà hưởng mọi quyền lợi như người dân bản xứ, cho con cái bà có cơ hội phát triển, vươn lên và thành đạt như tất cả những con dân được sinh ra và lớn lên trong một thế giới tự do, một xã hội có luật pháp, có nhân quyền.

Và giờ đây khi bà tới tuổi hưu trí, chính phủ Úc lại còn tử tế phụng dưỡng bà trọn đạo như bà là mẹ già của họ bất kể bà có đóng góp gì cho nước Úc này hay không trong đời tị nạn của bà.

Quê hương ai chẳng nhớ chẳng muốn về, nhưng nếu về thăm thân nhân, bằng hữu, cảnh cũ làng xưa vì tình quê nung nấu trong lòng thì còn có thể hiểu được, thì còn rán dày mặt bấm bụng mà về một vài lần cho thỏa lòng thương nhớ đất tổ quê cha. Nhưng đàng này bà cứ đi đi về về như đi chợ, ở Việt Nam nhiều hơn ở Úc chỉ vì muốn du hí muốn hưởng thụ, vô hình chung bà đã tiếp tay làm đầy thêm túi tiền cho bọn chóp bu cộng sản vốn không thể đội trời chung với bà. Mỉa mai thay! một nơi mà ngày xưa bà cho là địa ngục trần gian không thể sống, bất cứ giá nào cũng phải cao bay xa chạy thì giờ đây bà lại hớn hở quay đầu về ca tụng, coi đó là thiên đường. Dĩ nhiên là thiên đường vì bà đang có đồng đô Úc trong tay. Nếu như chính phủ Úc cúp trợ cấp cho bà thì bà sẽ ra sao? Ở xứ này, bệnh họan vô nhà thương không tốn một đồng xu từ A tới Z. Còn thiên đường cộng sản từ A tới Z đều phải nộp thủ tục đầu tiên. Tội cho dân nghèo, tiền đâu mà làm thủ tục đầu tiên để được chữa bệnh!

Nếu bà cho là Việt Nam ngày nay đáng cho bà sinh sống thì bà hãy ở hẳn bên đó đi và đừng lợi dụng quốc tịch Úc, dùng đồng tiền cấp dưỡng của chính phủ Úc để thủ lợi mua vui cho bà. Như vậy mới không hổ mặt bà và công bằng cho nước Úc.

Bà chỉ thấy cái vỏ hào nhoáng mị dân bề ngoài chớ có biết đâu thực chất bên trong trống rỗng. Cả một bè lủ gọi là chính quyền, lãnh đạo chỉ giỏi đàn áp, tham nhũng vơ vét làm của riêng, mạnh ai nấy đầu tư ở nước ngoài thủ thân dọn đường chạy. Dân đói mặc dân. Chẳng ai có lòng thương nước thương dân, đặt lợi ích của toàn dân trên hết để cải thiện công bằng trật tự xã hội, ổn định đời sống cho dân nhờ. Dân giàu thì nước mới mạnh. Đàng này, cái nghèo đói đã khiến con người chỉ nghĩ đến làm sao kiếm miếng ăn, từ chỗ đó sinh ra lươn lẹo mánh mung, trộm cướp, giựt giọc, giết người một cách ác độc vô cảm vô nhân tính. Xã hội càng ngày càng loạn, luân thường đạo lý càng xuống dốc thì đất nước càng sớm đi đến chỗ diệt vong nhứt là từ vua tới dân, mạnh ai có tiền cũng chỉ biết ăn chơi hưởng thụ mà không biết xây dựng, củng cố hay bảo vệ giữ gìn thì sớm muộn gì cũng vào tay ngọai bang thôi.

Người trong nước đã thấy vận mạt của Việt Nam cho nên ai có khả năng cũng tìm đủ mọi cách để ra khỏi nước thì tại sao bà lại lội ngược dòng. Cái vị thế của bà, một công dân Úc ai thấy cũng ao ước thèm thuồng nhưng sao bà không biết quý, có phải là nghịch lý lắm hay không?

Mỗi người có quyền tự do riêng, muốn làm gì thì làm nhưng cũng nên lựa chọn, lựa chọn đạo lý làm người hay lựa chọn vong ân bội nghĩa, vô ý thức!

Người Phương Nam

ĐỨC GIÊSU VẪN SỐNG

ĐỨC GIÊSU VẪN SỐNG

LM Giuse Phạm Thanh Liêm

DUC GIESU

Sáng ngày thứ nhất trong tuần, khi đến thăm mồ Đức Giêsu, chị Maria Magdala phát hiện không có xác Đức Giêsu trong đó.  Chị cho rằng có ai đã lấy xác Đức Giêsu và quăng đi đâu đó, vì có lẽ chị không biết mồ nơi an táng Đức Giêsu là tài sản của ông Giuse Arimathia.  Chị chạy về báo tin cho các tông đồ, cụ thể là cho Phêrô và Gioan.  Hai môn đệ này tới, và cũng nhận thấy xác Đức Giêsu không còn trong mồ nữa.  Tin mừng Gioan cho thấy “người môn đệ đến trước,” đã thấy và đã tin (Ga 20:8); tuy nhiên tin mừng lại không cho thấy ông tin điều gì.  Theo tin mừng Maccô, không có tông đồ nào tin Đức Giêsu Phục Sinh khi các chị phụ nữ báo tin Đức Giêsu đã phục sinh (Mc 16:9-14).

Tất cả các tông đồ chỉ tin Đức Giêsu Phục Sinh, khi các ông gặp gỡ Ngài.  Trong lần hiện ra đầu tiên cho các tông đồ, Thomas không ở đó nên không thấy, nên ông đã không tin Đức Giêsu phục sinh cho dù các tông đồ khác và các chị phụ nữ loan tin cho ông.  Tám ngày sau, khi Chúa Phục Sinh hiện ra với ông, ông mới tin.  Phục Sinh, là điều vượt trên kinh nghiệm bình thường của con người, nên các tông đồ không tin Đức Giêsu Phục Sinh, cũng là điều dễ hiểu.  Đã đành các tông đồ có kinh nghiệm người chết sống lại như trường hợp con trai bà góa thành Naim, con gái ông Giairô, Lazarô em của Matta và Maria, nhưng Đức Giêsu Phục Sinh khác với những người khác sống lại.  Ngài vẫn sống nhưng người ta không giữ Ngài lại được.  Ngài hiện ra và biến đi, không gì ngăn cản được Ngài.

Những người được Đức Giêsu phục sinh như Lazarô, con trai bà góa thành Naim, ai muốn gặp có thể tới để gặp họ.  Đức Giêsu Phục Sinh thì không như vậy.  Chỉ người nào Ngài muốn, người đó mới được gặp Ngài mà thôi.  Trong khoảng 40 ngày, các tông đồ còn có thể gặp Ngài (Cv 1:3); nhưng sau thời điểm này, không ai được diễm phúc gặp gỡ Đức Giêsu Phục Sinh nữa.  Ai tin Ngài, là ngang qua những chứng nhân để tin vào Ngài.  Đức Giêsu Phục Sinh là một biến cố mà người ta phải tin để biết.  “Phúc cho những ai không thấy mà tin.”  Bao nhiêu người tin vào Đức Giêsu Phục Sinh, đều là những người được ơn đức tin.  Tin Đức Giêsu Phục Sinh, là hồng ân lớn lao.  “Không ai có thể tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa mà không nhờ Thần Khí” (1Cor 12: 3).

Tin Đức Giêsu Phục Sinh, là một hành vi tự do.  Những lý chứng cho thấy Đức Giêsu Phục Sinh, không đạt được tính buộc người ta phải chấp nhận như luận chứng toán học 2+2=4.  Người ta vẫn tự do để tin Đức Giêsu Phục Sinh hay không.  Tin cũng là biết.  Hai anh chị yêu nhau, người này nói yêu người kia, và người kia cần tin.  Tin vào người khác, là một cách biết người đó.  Tin ai đó, cho rằng những điều người đó nói hay làm chứng là đúng, và nếu không tin thì không thể biết được vậy.

Tất cả các tông đồ chỉ tin Đức Giêsu Phục Sinh, sau khi các ngài đã được thấy Đức Giêsu Phục Sinh.  Sau đó những ai tin vào Đức Giêsu Phục Sinh đều phải tin qua lời chứng của các tông đồ.  Các tông đồ đã dùng chính mạng sống của mình để làm chứng rằng những gì các ngài nói là sự thật.  Từ ngữ tử đạo (martureô) có nghĩa là làm chứng.  Lời chứng đáng tin nhất, là lời chứng của người dám dùng chính mạng sống mình để bảo đảm rằng điều mình khẳng quyết là sự thật.  Tất cả các tông đồ đều tử đạo trừ tông đồ Gioan.

Không tin Đức Giêsu Phục Sinh, đây là điều bình thường.  Tin Đức Giêsu Phục Sinh, là một ơn vô cùng lớn.  Kitô hữu không ngạc nhiên khi người ta không tin Đức Giêsu Phục Sinh.  Kitô hữu cũng biết rằng họ muốn người khác chia sẻ niềm tin với họ, là để người đó hạnh phúc hơn.  Tuy nhiên, đức tin là một hồng ân, là điều vượt khả năng của Kitô hữu.  Chỉ có Thiên Chúa mới có thể ban hồng ân ấy cho người ta.  Muốn tin Đức Giêsu Phục Sinh, Kitô hữu phải cầu xin Chúa ban ơn ấy cho người đó. Không phải vì người Kitô hữu giảng hay, dạy tốt mà người đó tin vào Đức Giêsu Phục Sinh.  Tin Đức Giêsu Phục Sinh, không phải là chuyện con người có thể làm được.  Đó là hồng ân của Thánh Thần.

Để có thể đón nhận đức tin, để có thể biết như người của Thiên Chúa, người đó phải có đời sống có thể đón nhận đức tin.  Nếu một người có đời sống bất lương, nếu người đó chỉ tin vào mình, thì cũng khó có thể tin Đức Giêsu Phục Sinh.  Tin Đức Giêsu Phục Sinh, đòi người đó phải đổi đời, phải có đời sống mới, phải sống lương thiện.  Không sẵn sàng đổi đời để thành người lương thiện, người đó sẽ tìm mọi cách để biện luận từ khước tin vào Đức Giêsu Phục Sinh.

Kitô hữu không là những người mê tín, nhưng là những người ý thức mình được ơn đặc biệt.  Tin Đức Giêsu Phục Sinh, là hồng ân vô cùng lớn.  Niềm tin này làm Kitô hữu có cái nhìn mới về thế giới, về Thiên Chúa, và về con người.  Tin vào Đức Giêsu Phục Sinh, Kitô hữu nhận ra mình được Thiên Chúa yêu thương vô cùng.  Và một khi biết Thiên Chúa yêu thương mình, mình có thể phó thác đời mình trong tay Thiên Chúa, Đấng yêu thương mình vô cùng, Ngài sẵn sàng làm tất cả mọi sự để được mình.

LM Giuse Phạm Thanh Liêm