20 BÀI HỌC VÔ GIÁ GIÚP BẠN SỐNG TỐT VÀ Ý NGHĨA HƠN

‘Khéo dư nước mắt…’

‘Khéo dư nước mắt…’
Nguoi-viet.com
Tạp ghi Huy Phương

Mới mấy tháng trước đây thôi, vào lúc nửa đêm, tại một tiệm bánh pizza Papa John’s ở thành phố Helena, Montana, một người đàn ông bịt mặt vào tiệm, tiến đến quầy thu ngân, đưa ra một mảnh giấy đòi nộp tiền. Công nhân của cửa tiệm vội vã mở hộc, hốt hết tiền đưa cho “kẻ cướp,” nhưng không, người đàn ông bịt mặt, ngần ngừ rồi bỗng bật khóc và nói rằng, ông ta chỉ cần ít thức ăn cho các con ông ở nhà đang đói, chứ ông không phải là tên ăn cướp chuyên nghiệp. Người đàn ông, sau đó rời khỏi tiệm với một hộp pizza và một ít cánh gà, cho gia đình của ông, đang không có gì ăn tối nay. Chủ tiệm đã báo cảnh sát ngay sau đó, nhưng chắc là không có ai nỡ bỏ tù một người khốn khổ như vậy.

Dân Bắc Hàn khóc khi Chủ Tịch Kim Nhật Thành qua đời năm 1994. (Hình minh họa: AFP/Getty Images)

Người ta thường lên án nạn cướp bóc, trấn lột, nhưng nghĩ sao trong trường hợp này, liệu nhân viên cửa tiệm có thể rộng lượng cho đi một ít thức ăn, nếu có một người đàn ông đói khát bất ngờ, thay vì bỏ tiền ra mua thức ăn, lại ngửa tay xin một vài cái cánh gà, hay một miếng bánh cho gia đình và chính ông ta không?

Trong tám tiếng đồng hồ chạy theo công việc, tám tiếng đồng hồ sống với gia đình và tám tiếng nghỉ ngơi hay đắm mình vào giấc ngủ, có thời gian nào chúng ta nghĩ đến những đồng loại bất hạnh đang ở gần với chúng ta đây thôi, trong nước Mỹ giàu có, hạnh phúc và cả ở trên quê hương khốn khổ đã xa bên kia của mình.

Chúng ta lên án người khác thì dễ nhưng mở lòng bao dung thì khó! Ở gần chỗ đèn xanh, đèn đỏ đầu đường phố, chúng ta thường miệt thị những kẻ không nhà đang đứng hàng giờ để ngửa bàn tay xin lòng đoái thương của kẻ qua đường. Chúng là kẻ chây lười, hút xách, nghiện ngập, lười biếng, bỏ tù chúng đi là vừa, chúng chỉ làm mất đi vẻ mỹ quan của thành phố. Trưng bảng xin tiền ra giữa đường là phạm luật, làm tiền là thương mại, phải có giấy phép của chính quyền địa phương, nhưng rồi cảnh sát cũng phải làm ngơ.

Ngoài phố Bolsa, trong những ông sư cùng mặc áo vàng đứng “khất thực” nơi đây, ai giả, ai thật, vậy tốt hơn là tôi ngoảnh mặt làm ngơ đi cho đỡ suy nghĩ. Trước một ngôi chợ ở khu Việt, vào những ngày giáp Tết, giữa dòng người tấp nập, vội vàng, tôi trông thấy một người đàn ông cầm một cái hộp quyên tiền có ghi dòng chữ: “Giúp trẻ em khuyết tật và mồ côi”. Người ta thấy ông nhưng không ai nhìn ông. Với sự nghi ngờ cố hữu, có lẽ mọi người đều có câu hỏi, “ông này thuộc cơ quan, tổ chức nào, quyên góp cho ai” hơn là đặt vào tay ông một đồng bạc lẻ.

Ai cũng cho rằng cách đây vài chục năm, ở Mỹ chúng ta có thể dừng xe lại để cho một người xin quá giang, hay là khi chúng ta gặp hoạn nạn, có thể ra dấu chặn một chiếc xe đang chạy trên đường để xin giúp đỡ. Nhưng ngày nay thì không! Thà làm ngơ đi, lương tâm nếu có cắn rứt đôi chút cũng chẳng sao, trái lại những việc qua đường có khi mang đến tai họa cho bản thân mình, mà còn bị mang tiếng là dại dột.

Bây giờ trên đất Mỹ, nơi vùng đất có nhiều sắc dân cư ngụ, thường xảy ra cướp bóc, ít khi bạn có thể hỏi một người Mỹ qua đường, chỗ ty bưu điện gần đây nhất hoặc đi đến đường Beach còn bao xa. Thường thì chúng ta được nhận một cái khoát ta hay một cái lắc đầu. Ở thời buổi này, thà làm người bất lịch sự còn hơn phải dây dưa vào những chuyện qua đường rắc rối!

Năm 1955, từ Huế vào Sài Gòn, cậu thanh niên tỉnh lẻ mới lớn, là tôi, đang đi với một người bạn học trên đường Bonard, thì một người đàn ông, ăn mặc khá tươm tất, tiến lại phía tôi, – mà không phải là bạn tôi -, mở lời:
– “Tôi đói quá! Cậu cho tôi xin một đồng để mua một nắm xôi!”
Tôi không chút ngần ngại, móc túi trao cho ông kia một đồng. Có lẽ thấy kiếm một đồng bạc đầu tiên không khó khăn gì, người đàn ông chưa cất tiền vào túi vội, nài nỉ, nói thêm:
– “Cậu cho tôi xin thêm một đồng để mua tờ báo, tối lót lưng ngủ qua đêm!”

Tôi lại cho tay lên túi áo, nhưng lần này thì thằng bạn Sài Gòn vội giật cánh tay tôi kéo đi, và chửi thẳng vào mặt tôi là “đồ ngu!” Tôi quả là ngu, vì quá tin người, giữa một Sài Gòn hỗn tạp, tập trung đủ hạng người tứ xứ!

Ở các thành phố, thỉnh thoảng chúng ta nhẹ dạ giúp đỡ, khi gặp một người than thở, là mới ở bệnh viện ra không có tiền xe về Cần Thơ. Nhưng cũng hôm sau, ở một địa điểm khác, chúng ta lại gặp người này, “mới ở bệnh viện ra,” không có tiền xe về Rạch Giá! Vậy thì chắc chúng ta không bao giờ bị mắc lừa nữa, nhưng những người thật sự “mới ở bệnh viện ra, không có tiền xe” cần sự giúp đỡ của người khác, sẽ phải chịu thiệt thòi.

Thế giới động lòng, dang tay đón tiếp những người vượt biển tị nạn vào những năm 1980, nhưng sau đó, ngày càng đông người ra đi, phương tiện cứu giúp có hạn, nhất là sau khi biết “nhà nước cộng sản” chủ trương đóng tàu bán vé, lấy vàng, thì chủ trương cứu vớt của nhiều quốc gia cũng phải xét lại. Cho đến hôm nay, “độc lập-tự do-hạnh phúc” đã 38 năm, người Việt vẫn còn đóng tàu để trực chỉ nước Úc, họ nghĩ là nơi đây, lòng trắc ẩn của người địa phương vẫn còn cao. Liệu chúng ta có sẵn lòng cứu vớt, giúp đỡ những người như thế hôm nay không?

Phải chăng, gian trá, bạo lực đã tàn phá hết tình nhân ái trong lòng chúng ta, tình thương người hầu như đã nguội lạnh qua thời gian, và hình như xã hội càng văn minh chừng nào, lòng người càng trở nên chai đá chừng ấy.

Liệu hôm nay, lỡ đường, như trong những tích truyện xa xưa, chúng ta có thể gõ cửa một ngôi chùa hay một nhà thờ để xin tá túc qua một đêm giá lạnh hay không. Chúng ta đã nghe câu chuyện cách đây hai mươi năm, một thi sĩ lang thang không nhà đã chết trong chiếc xe của ông đậu trước cửa chùa, phải chi cánh cửa chùa đêm ấy rộng mở!

Phải chăng đến lúc, lòng người đã nguội lạnh, con người đã chai đá, con tim đã trở thành vô cảm, không còn nước mắt để khóc thương cho những mảnh đời khổ, hoàn cảnh éo le của từng mỗi cá nhân hay cả mệnh nước khốn cùng nữa.

Tôi nghĩ rằng không!

Mỗi đêm trên đất Mỹ này, có bao nhiêu phụ nữ Việt Nam, già có, trẻ có, đã sụt sùi khóc cho những số phận bất hạnh của những nhân vật trong những cuốn phim bộ Ðại Hàn. Có điều nước mắt ấy chảy ra không đúng chỗ, đúng lúc thôi! Bộ cái tin hằng trăm phụ nữ, đồng bào ruột thịt của mình sang Nam Dương làm nghề “khui bia,” vụ 15 phụ nữ bị lừa sang Nga đi bán quán, để sau đó buộc phải bán dâm, một cô gái 14 tuổi bị bắt làm nghề mãi dâm khi đang có thai bốn tháng, hay người dân thứ tư bị công an cộng sản đánh chết trong mấy tháng đầu năm nay, không đáng cho chúng ta nhỏ được một giọt nước mắt hay sao?

Người cộng sản chỉ biết tập trung khóc tập thể ở ngoài công trường khi lãnh tụ qua đời để “biểu diễn” lòng trung thành của họ, nhưng hình như không còn chút mảy may xót xa, động lòng với những gì khốn khổ đang xảy ra chung quanh mình, ngay trong cuộc sống mỗi ngày bởi áp bức, bất công!

5 tác phẩm Việt Nam đoạt giải cuộc thi ảnh quốc tế

 5 tác phẩm Việt Nam đoạt giải cuộc thi ảnh quốc tế

Tác phẩm “Vượt qua đồi cát” của nhiếp ảnh gia Việt Nam Lê Minh Quốc giành chiến thắng tại hạng mục khu vực Đông Á và Thái Bình Dương của cuộc thi ảnh CGAP 2015.

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

 Nhóm tư vấn hỗ trợ hộ nghèo (CGAP) tổ chức một cuộc thi ảnh hàng năm nhằm vinh danh các nhiếp ảnh gia giúp thúc đẩy quá trình hoà nhập tài chính cho người nghèo trên thế giới. Lê Minh Quốc, một nhiếp ảnh gia đến từ Việt Nam với tác phẩm “Vượt qua đồi cát”, đã chiến thắng tại hạng mục khu vực Đông Á và Thái Bình Dương. Nicole Crowde, nhiếp ảnh gia của The Washington Post và là thành viên ban tổ chức cuộc thi, nhận xét: “Bức ảnh khiến bạn tò mò và muốn biết nhiếp ảnh gia đã chụp nó bằng cách nào”. Ảnh: Lê Minh Quốc

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Nhiếp ảnh gia Lộc Mai, Việt Nam, đoạt giải khuyến khích với tác phẩm “Hành trình tiếp theo”. Những phụ nữ trong ảnh sống trong một làng chài ở Nha Trang. Họ đang sửa lưới đánh cá để chồng của họ sử dụng trong chuyến ra khơi tiếp theo. Ảnh: Lộc Mai

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Tác phẩm “Thu hoạch trứng vịt” của nhiếp ảnh gia Trần Văn Tuý ở Việt Nam đoạt giải khuyến khích. Ban tổ chức cuộc thi bình luận: “Bức ảnh khiến bạn thực sự thấy rằng chương trình tài chính có thể giúp cuộc sống của bạn trở nên tốt hơn”. Ảnh: Trần Văn Túy

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Tác phẩm “Buổi sáng” của tác giả Đỗ Hiếu Liêm, Việt Nam, đoạt giải khuyến khích. CGAP cho biết, khoảng 10% dân số thế giới sống dựa vào nghề đánh bắt, sản xuất thuỷ sản và hải sản. Ở Việt Nam, công việc này mang lại một nguồn thu nhập đáng kể. Ảnh: Đỗ Hiếu Lâm

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Ngô Quang Phúc, một nhiếp ảnh gia Việt Nam, giành giải khuyến khích với bức ảnh những người làm nghề đẩy xiệp tại thị trấn ven biển Bạc Liêu. Dù lao động rất vất vả, thu nhập của họ rất thấp. Ảnh: Ngô Quang Phúc

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Tác phẩm “Trồng lúa” của tác giả Sujan Sarkar, Ấn Độ, đoạt giải thưởng cao nhất của cuộc thi. Nó mô tả cảnh một gia đình làm việc trên ruộng lúa ở Tây Bengal, Ấn Độ. Corinne Dufka, một thành viên của ban tổ chức cuộc thi, nhận định, bức ảnh miêu tả thành công một hoạt động nông nghiệp. Ảnh: Sujan Sarkar

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Tác phẩm “Làm việc trên núi” của tác giả Tatiana Sharapova, Nga, khắc họa một bà lão người làm việc tại một cánh đồng trên núi ở Ấn Độ. Bà trồng rau để bán ở chợ. Ảnh: Tatiana Sharapova

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Giải nhì của cuộc thi thuộc về nhiếp ảnh gia Li Ming Cao của Trung Quốc với bức ảnh ngư dân quăng lưới đánh cá vào sáng sớm. Sau đó, ông lão bán cá ở chợ để kiếm tiền. Ảnh: Li Ming Cao

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

M.Yousuf Tushar, nhiếp ảnh gia người Bangladesh, giành giải khuyến khích khi chụp một người đàn ông làm hạt trầu để bán tại khu vực Teknaf, Bangladesh. Ảnh: .Yousuf Tushar

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Người đoạt giải cao nhất trong hạng mục khu vực Đông Âu và Trung Á thuộc về tác giả Bulent Suberk, Thổ Nhĩ Kỳ, với tác phẩm “Cà chua”. Ảnh mô tả một gia đình nông dân ở làng Bursa Aksu, Thổ Nhĩ Kỳ đang làm bột cà chua. Ảnh: Bulent Suberk

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Hailey Tucker, một công dân Mỹ, giành giải nhất trong hạng mục khu vực châu Phi cận sa mạc Sahara với bức ảnh người nông dân thu hoạch ngô tại Tanzania. Ảnh: Hailey Tucker

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Người phụ nữ trong ảnh đang phơi khô nguyên liệu làm mũ Panama ở Ecuador. Ảnh: Luis Sanchez Davilla

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Bức ảnh một chàng trai trẻ làm việc cùng cha trong một cửa hàng của Subhasis Sen, một người Ấn Độ, đoạt giải khuyến khích. Ảnh: Subhasis Sen

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Ảnh “Chăn gia súc vào buổi sáng” của Li Ming Cao tại Trung Quốc đoạt giải khuyến khích. Ảnh: Li Ming Cao 

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Trong tác phẩm đoạt giải ba của nhiếp ảnh gia Pranab Basak, Ấn Độ, một thiếu nữ đang giúp cha sản xuất đồ gốm. Ảnh: Pranab Basak

 

BÍ QUYẾT SỐNG HẠNH PHÚC

BÍ QUYẾT SỐNG HẠNH PHÚC

Bí quyết Sống Vui Hạnh Phúc
Nhiều tiền ít tiền, không phung phí là được
Ai phải, ai sai, mình không sai là được
Biết ít biết nhiều, làm xong việc là được
Người già người trẻ, mạnh khỏe là được
Người giàu người nghèo, hoà Thuận là được
Ông xã về sớm về trễ, miễn về là được ,
Bà xã cho ăn cơm , cơm nóng cơm nguội có ăn là được
Người xấu người đẹp, có duyên là được
Nhà lớn nhà nhỏ, ấm no là được
Sung túc hay nghèo nàn, bình an là được
Xe mới xe cũ, chạy là được

Và……phải nhớ rằng …
Vui cười không mệt, buồn phiền mới mệt
Yêu thương không mệt , ghen ghét mới mệt
Chân thật không mệt, gian dối mới mệt
Tương ái không mệt, tương tàn mới mệt
Rộng rãi không mệt, ích kỷ mới mệt
Khoan dung không mệt , khó khăn mới mệt
Khiêm nhường không mệt, khoe khoang mới mệt
Mỉm cười không mệt, tức giận mới mệt,
Đơn thuần không mệt, phức tạp mới mệt
Tương tư không mệt, đơn phương mới mệt
Chung tình không mệt, Đa tình mới mệt
Tình bằng hữu không mệt, tư tình mới mệt
Chân thành không mệt, giả dối mới mệt
Được mất không mệt, tính toán mới mệt
Thể chất mệt không phải mệt, tâm can mệt mới mệt
Đọc những điều này không mệt, thực hành mới mệt

Anh chị Thụ & Mai gởi

Tình Liên đới Quốc tế là một Điều Có Thật

  • Tình Liên đới Quốc tế là một Điều Có Thật

 

Bút ký của Đòan Thanh Liêm

 

Từ xa xưa cha ông ta vẫn thường nói “Bốn bể một nhà”, “Mọi người đều là anh em”. Trong văn học Trung quốc, có chuyện Thủy Hử viết về những Anh hùng Lương Sơn Bạc, thì bản dịch sang tiếng Anh lại có nhan đề là “All Men are Brothers”. Và đây cũng là nhan đề của cuốn suy nghĩ tự thuật của Thánh Gandhi ở Ấn Độ :

– All Men Are Brothers : Autobiographical Reflections by Mohandas Gandhi –

Vào hồi giữa thập niên 1950, lúc còn là một sinh viên trường Luật ở Saigon, thì tôi hay gặp trên sách báo một từ ngữ bằng tiếng Pháp “ La Solidarité Internationale” có nghĩa là “Tình Liên đới Quốc tế”. Và tôi rất thích thú với từ ngữ này, nó gợi ra cho tôi một chân trời mở rộng, một tình cảm cao quý, một thái độ lạc quan trước sự cảm thông, hiểu biết và yêu thương lẫn nhau giữa những con người vượt ra khỏi biên giới chật hẹp của mỗi một quốc gia. Nay nhân dịp đầu Xuân Nhâm Thìn 2012, tôi muốn thuật lại với quý bạn đọc về những kinh nghiệm chính bản thân mình đã trải qua suốt trên 50 năm nay, qua bao nhiêu gặp gỡ với những bạn bè quốc tế, cũng như tham gia các sinh họat mà có liên hệ trực tiếp đến sự Hợp tác và Liên đới Quốc tế là chủ đề chính yếu của bài viết này. Do sinh họat thuần túy trong các tổ chức thiện nguyện tư nhân độc lập, nên tôi không hề bị một sự ràng buộc hạn chế nào như là đối với một nhân viên thuộc cơ sở hành chánh của chính quyền nhà nước Việt nam Cộng hòa thời kỳ trước năm 1975.

Để bắt đầu, tôi xin lần lượt ghi lại theo thứ tự thời gian cái diễn trình làm quen và cộng tác với bạn hữu từ nhiều quốc gia trong những việc làm cụ thể thiết thực nhằm phục vụ nhân quần xã hội.

I – Những năm giữa thập niên 1950, hồi còn đi học ở Saigon.

 Lần đầu tiên tôi có dịp tiếp cận với một cơ quan từ thiện nhân đạo quốc tế. Đó là vào cuối năm 1954 khi một số sinh viên mới di cư từ Hanoi vào Saigon, thì được cơ quan CARE trao cho thực hiện một công việc cũng nhẹ nhàng đơn giản thôi. Đó là ghi chép lại tên tuổi, địa chỉ của một số nhà hảo tâm mà đã gửi tặng những phần quà cho lớp người di cư tỵ nạn Việt nam. Các món quà do các nhà hảo tâm này từ nước Mỹ và Canada cung cấp gồm phần lớn là quần áo, khăn mặt, xà bông, tập vở, bút viết, đồ chơi dành cho trẻ em tại các trại di cư tỵ nạn ở miền Nam thời đó. Qua việc này, tôi được biết về sự thông cảm và chia sẻ của những bạn hữu quốc tế đối với người di cư tỵ nạn cộng sản từ miền Bắc vào miền Nam như chúng tôi.

Thế rồi vào các năm 1956 – 58, lúc tôi đến cư ngụ tại cư xá sinh viên có tên là Câu lạc bộ Phục Hưng trên đường Nguyễn Thông do các linh mục thuộc Dòng Đa minh chi Lyon bên Pháp điều hành, thì tôi hay được dịp gặp những người khách phần lớn từ Âu châu ghé thăm và trao đổi chuyện trò với lớp sinh viên chúng tôi. Sát với cư xá nơi chúng tôi ở, thì có nhà thương Saint Paul và nhà dòng của các Nữ tử Bác ái (Filles de la Charité), hồi đó còn có nhiều nữ tu người Pháp, người Hòa lan, Thụy sĩ nữa. Nơi đây còn có những lớp đào tạo nữ y tá (infirmières) do Hội Hồng Thập Tự Pháp bảo trợ. Và cả lớp đào tạo nữ cán sự xã hội (assistantes sociales) và lớp đào tạo nữ giáo viên vườn trẻ (jardinières). Các lớp này đều được giảng dậy theo chương trình của bên Pháp, nên có nhiều giảng viên người Pháp lui tới đây để giảng bài và giúp đỡ trong việc thực tập nữa.

Cũng gần đó, thì lại có Cư xá Thanh Quan dành cho nữ sinh viên do các nữ tu AFI phụ trách (Auxiliaires Féminines Internationales = Nữ Trợ tá Quốc tế). Các chị này có một số là người Pháp, Bỉ, Ý Đại Lợi, họ thật lòng chăm sóc cho giới sinh viên và học sinh Việt nam, và chúng tôi thường có dịp gặp gỡ trao đổi và sinh họat chung với nhau qua những cuộc du ngọan đi thăm các vùng xung quanh thành phố Saigon. Trong thời gian còn học ở trường Luật, tôi lại tham gia làm hội viên của tổ chức văn hóa Pháp có tên là Alliance Francaise (Pháp văn Đồng minh Hội), nên lại có thêm dịp tiếp cận với văn hóa Pháp, cụ thể như đọc sách báo mới từ Pháp gửi qua, tham dự các buổi diễn thuyết của các học giả, giáo sư từ bên nước Pháp qua Saigon, để nhằm phổ biến văn hóa Pháp.

  • Cũng từ năm 1957 trở đi, thì tôi được một số bạn rủ rê tham gia sinh họat cắm trại và làm công tác xã hội giúp một số địa phương ở ngọai ô thành phố, mà thường được gọi là “Work Camp”. Nhóm này về sau vào năm 1960 – 61 thì được phát triển thành một tổ chức có danh xưng chính thức là : “Hội Thanh niên Thiện chí – Công tác và Nghị luận “. Trong một số buổi Họp Mặt Thân Hữu, tôi cũng đã có dịp gặp gỡ với mấy người bạn ngọai quốc từ nhiều quốc gia ghé qua thăm Việt nam nữa. Hồi đó, cũng như nhiều bạn khác cùng lứa tuổi, trình độ tiếng Anh của tôi vẫn còn rất hạn chế, tôi có thể đọc và nghe tiếng Anh thì hiểu hầu hết được, nhưng khinói thì vẫn còn chậm chạp ngượng nghịu, chứ chưa thể phát biểu dễ dàng trôi chảy như sau này lúc du học ở Mỹ về lại Việt nam.

II – Thời gian du học tu nghiệp tại Mỹ 1960 – 61.

Năm 1958, sau khi tốt nghiệp đại học Luật khoa Saigon, thì tôi được nhận vào làm chuyên viên nghiên cứu luật pháp (legal analyst) tại Quốc hội Việt nam Cộng hòa. Rồi đến năm 1960, cơ quan này gửi tôi đi du học tu nghiệp tại Mỹ do học bổng của cơ quan Viện trợ Mỹ USOM đài thọ.

Tại thủ đô Washington, tôi được bố trí đến tập sự tại một bộ phận chuyên về việc sưu tầm và sọan thảo tài liệu cho ngành Lập pháp, có tên là Legislative Reference Service (LRS) thuộc Thư Viện Quốc Hội (Library of Congress = LOC). Các bậc đàn anh đàn chị tại đây đã hết sức tận tâm hướng dẫn cho tôi trau dồi học hỏi thêm về lãnh vực nghiên cứu luật pháp, sưu tầm tài liệu tham khảo cần thiết cho công tác của ngành Lập pháp. Đồng thời vào các buổi chiều tối, tôi lại đi học thêm về luật pháp tại Đại học George Washington và về kinh tế tại Đại học American University cũng gần nơi tôi cư ngụ.

Trong suốt nửa năm theo học và tập sự tại Washington, tôi đã có nhiều dịp gặp gỡ quen biết với các chức sắc làm việc tại văn phòng Hạ nghị viện, Thượng nghị viện và đặc biệt tại LOC, cũng như học tập và sinh họat chung với nhiều bạn sinh viên Mỹ và sinh viên du học đến từ các quốc gia khác. Vào những dịp nghỉ lễ dài ngày như lễ Tạ Ơn, Lễ Giáng Sinh (Thanksgiving, Christmas), tôi còn được mời đến nhà ăn bữa cơm gia đình với các nhân viên cùng làm việc trong cơ quan. Một trong số nhân viên làm ở Quốc hội Mỹ thời đó mà làm cho tôi nhớ hòai, đó là ông Roger Cohen – trưởng văn phòng của một Ủy ban thuộc Thượng nghị viện. Ông này hồi thế chiến 2 là sĩ quan trong đội quân đồng minh đổ bộ lên bờ biển Normandie của Pháp để mở đầu chiến dịch tấn công quân Đức quốc xã ở Âu châu. Sau khi chiến tranh kết thúc, ông cưới được một bà vợ người Pháp. Do vậy, ông nói tiếng Pháp khá trôi chảy. Ông thích nói chuyện với tôi bằng tiếng Pháp và nói ít khi ông gặp được người khách nào đến văn phòng này mà nói được tiếng Pháp như tôi. Từ đó mà hai người chúng tôi khá thân thiết với nhau.

Nói chung, thì tôi được bà con làm việc tại Quốc hội Hoa kỳ đón tiếp rất là thân tình chu đáo, điều này quả thật đã gây cho tôi một ấn tượng tốt đẹp khó quên. Thủ đô Washington hồi đó thật là yên tĩnh thanh bình, hằng ngày trên đường từ nhà đến trụ sở của Thư viện Quốc hội tại khu đồi Capitol (Capitol Hill), tôi đều phải đi ngang qua công viên Lafayette đối diện với Tòa Bạch Ốc dọc theo đại lộ Pennsylvania, mà không hề thấy những ụ rào cản ngăn chặn xe cộ đi lại như hiện nay nhằm đề phòng quân khủng bố tấn công. Những hôm trời mát mẻ, tôi có thể lững thững đi bộ xuyên qua khu downtown dài chừng 2-3 miles để đi làm, đường xá tấp nập đông người qua lại trông thật vui mắt sinh động.

Tại nhà trọ, tôi ở chung với các bạn người Mỹ, người Đại Hàn, nên hay có dịp chuyện trò tâm sự với nhau. Gần Tòa Bạch Ốc hồi đó còn có một quán ăn do người Đại Hàn làm chủ lấy tên là Jenny’s chuyên bán đồ ăn Á châu, nên mỗi khi đến ăn tại đó thì tôi lại gặp rất nhiều các bạn sinh viên người Việt, Nhật, Đài Loan, Phi Luật Tân, Thái Lan, Lào, Cambodia, Indonesia, Mã Lai, Ấn Độ… và dĩ nhiên là cả người Mỹ nữa. Cũng gần đó lại còn có quán trọ của tổ chức YMCA (Young Men Christian’s Association) chuyên môn phục vụ giới thanh niên trong việc nối kết họ sinh họat gắn bó với cộng đồng địa phương, tôi hay được mấy bạn Mỹ rủ tới đó họp mặt ăn sáng, uống cà phê và trao đổi những câu chuyện bằng hữu thân tình vào các buổi sáng ngày chủ nhật.

Đặc biệt nhất là các buổi sinh họat gặp gỡ thân hữu do tổ chức Trung tâm Quốc tế Washington (WIC = Washington International Center) đứng ra sắp xếp, nhằm giới thiệu cho các sinh viên mới đến vùng thủ đô (newcomer) làm quen với nhau, cũng như đi thăm các cơ sở chính quyền, các viện bảo tàng, các danh lam thắng cảnh ở địa phương. Trung tâm này được nhiều người volunteer (thiện nguyện viên) đến giúp đỡ hướng dẫn cho sinh viên chúng tôi làm quen được với khung cảnh văn hóa xã hội ở Mỹ. Sinh viên chúng tôi rất thích thú với các sinh họat tại WIC, đến nỗi sau này dù đã quá quen thuộc với lối sống tại thành phố này, thì lâu lâu chúng tôi lại ghé qua thăm để gặp lại nhau và gặp được các bạn từ các nơi xa mới đến nước Mỹ nữa.

Nói chung, thì qua thời gian học tập và tu nghiệp ở Washington DC, tôi đã có dịp học hỏi được rất nhiều điều bổ ích để trau dồi cho nghề nghiệp chuyên môn về nghiên cứu luật pháp của mình, được chứng kiến cái lối sống văn minh ngăn nắp trong xã hội Mỹ, và còn làm quen được với rất nhiều bạn người Mỹ cũng như người từ các quốc gia xa lạ khác nữa. Tuổi trẻ chúng tôi thật là hồn nhiên, vô tư trong sáng, nên thời gian sống ở Washington vào năm 1960 – 61 đã để lại trong ký ức của tôi một dấu ấn thật sâu đậm, không bao giờ có thể phai mờ đi được.

Nhân tiện, tôi cũng xin ghi sơ qua cái cảm nghĩ về Lễ Nhậm chức của Tổng thống Kennedy vào tháng Giêng năm 1961. Bữa đó trời rất lạnh, nên tôi phải ở nhà coi TV, lâu lâu mới thả bộ ghé ra khúc đại lộ Pennsylvania gần nhất để coi các đòan diễn hành, rồi lại trở về nhà tiếp tục coi TV, thì càng thấy đày đủ chi tiết hơn. Hồi đó chưa có TV màu, nhưng trình độ phóng sự của các chuyên viên đã đạt tới mức độ cao về sự chính xác và mau lẹ. Tôi thật phấn khởi được trực tiếp nghe Tổng thống Kennedy đọc bài diễn văn thật hùng hồn, rõ ràng mạch lạc dứt khóat, có tác dụng làm nổi lên ngọn lửa nhiệt thành say mê nơi thế hệ trẻ như lớp sinh viên chúng tôi đang ở vào lứa trên dưới 25 tuổi. Câu nói bất hủ : “ Ask not what the country can do for you, but ask what you can do for your country” của Tổng thống, thì không bao giờ thế hệ sinh viên chúng tôi lại quên đi được. Báo chí mấy ngày sau đã thi đua nhau hết lời ca tụng bài diễn văn nhậm chức có tính cách lịch sử này (an historical inaugural address).

III – Sinh họat với các bạn trẻ trong tổ chức Đòan Thanh Niên Chí

Nguyện Quốc Tế (IVS = International Voluntary Services) trong thập niên 1960 – 70.

Năm 1961, sau thời gian tu nghiệp tại Mỹ tôi trở về lại Việt nam và tiếp tục đi làm tại văn phòng Quốc hội ở khu trung tâm thành phố Saigon. Vào những lúc rảnh rỗi, tôi hay đến gặp gỡ trao đổi với các bạn trẻ công tác tại Đòan Thanh Niên Chí Nguyện Quốc Tế có trụ sở ở khu vực Trại Chăn Nuôi Tân Sơn Nhất, gần với Ngã Tư Bảy Hiền. Các bạn này phần đông cũng vào tuổi ngòai 20, vừa mới tốt nghiệp đại học và tình nguyện tham gia họat động ở Việt nam như là giáo sư dậy Anh ngữ hay làm việc về canh nông, y tế tại địa phương các tỉnh. Phần đa số đó là người Mỹ, nhưng cũng có một số là người Nhật, Đài Loan, Phi Luật Tân, Ấn Độ, Pakistan… nữa.Trong các buổi sinh họat do Hội Thanh Niên Thiện Chí tổ chức, thì thường có một vài đòan viên IVS đến tham dự, và tuổi trẻ chúng tôi dễ dàng kết bạn thân tình với nhau qua những cuộc họp bạn vui chơi ca hát, thi đua thể thao, hay qua những trại công tác xã hội như sửa chữa vài lớp học, dọn dẹp vệ sinh rác rưởi, khai thông đường cống thóat nước, mở rộng lối đi… tại một vài địa phương vùng ngọai ô thành phố.

Vào cuối năm 1964, mấy đòan viên IVS lại đã hết sức tích cực giúp đỡ giới thanh niên sinh viên chúng tôi trong chiến dịch cứu trợ nạn nhân bão lụt tại các tỉnh miền Trung từ Tuy Hòa ra đến Quảng Ngãi, Quảng Nam. Qua những công tác cụ thể thiết thực như vậy, giới trẻ Việt Nam chúng tôi càng thêm gắn bó thân thiết với nhau, cũng như với các bạn thanh niên IVS. Và rồi vào năm sau, với Chương Trình Công Tác Hè 1965 (Summer Youth Program 65), thì IVS đã tận tình giúp đỡ chúng tôi bằng cách vận động với cơ quan Viện trợ Mỹ USAID cấp phát một ngân khỏan lên đến 20 triệu đồng cho quỹ điều hành của chương trình này. Có thể coi Chương trình này là một thứ dự án chung của giới thanh niên sinh viên Việt Nam hợp tác với các bạn trẻ của IVS (joint project).

Tôi xin ghi ra đây tên của một số bạn IVS này, điển hình như sau :

Don Luce, John Sommer, Charlie Sweet, Gene Stoltzfuss, Mark Lynch, Hugh Manke, Dan Wheatfield, Jackie Chagnon, Masafumi Nagao, Rick Pyeat, Tom Cooper…Các bạn này còn đến hỗ trợ cho công tác của chương trình phát triển cộng đồng của chúng tôi tại các quận 6,7,8 Saigon từ những năm 1965 trở đi. Đặc biệt, do sự yêu cầu của chúng tôi, thì các anh đi vận động với các cơ quan xã hội như CARE, VNCS, ACS (Vietnam Christian Service, Asian Christian Service) để họ yểm trợ mấy chương trình về huấn nghệ được tổ chức trong khuôn viên của những chùa, nhà thờ tại đia phương các quận nói trên nữa.

Vào năm 1968 trở đi, IVS còn mời các anh Trần Ngọc Báu, Trần Văn Ngô và tôi xung vào Ban Cố vấn (Advisory Board) cho họ nữa. Và chúng tôi lại có dịp sát cánh thân thiết hơn nữa với các bạn thanh niên chí nguyện này. Mỗi khi IVS có quan khách nào từ Washington qua thăm, thì họ lại cũng mời anh em trong Ban Cố vấn chúng tôi đến gặp gỡ trao đổi với vị quý khách này nữa. Nhờ có sự hợp tác lâu bền với IVS như vậy, mà giới thanh niên Việt nam chúng tôi đã có thể mở rộng tầm nhìn và cả quy mô sinh họat mỗi ngày thêm khởi sắc hơn trong chiều hướng hội nhập quốc tế, ít nhất là trong phạm vi cuả Xã hội Dân sự.

IV – Vận động quốc tế yểm trợ các chương trình phát triển xã hội tại Việt nam trong giai đọan 1965 – 1975.

Vào tiết thu năm 1965, anh chị em thanh niên sinh viên chúng tôi khởi sự một chương trình phát triển cộng đồng tại một địa phương nghèo khó nhất tại Saigon, đó là ở quận 8 phía bên kia cầu chữ Y và cầu Chà Và. Khu vực này hồi đầu thập niên 1950 là căn cứ địa của phe Bình Xuyên do Tướng Bảy Viễn cầm đầu. Dân cư ở đây phần đông là người từ các vùng Long An, Cần Giuộc, Cần Đước vì tình hình mất an ninh, nên trong nhiều năm họ đã phải đổ xô về tá túc tại ngọai ô thành phố, họ sinh sống trong những căn nhà xây cất tồi tàn tạm bợ lẩn sâu trong các khóm hẻm, thường được gọi là những “khu ổ chuột”, thiếu thốn mọi tiện nghi tối thiểu về vệ sinh công cộng, cũng như về cơ sở giáo dục y tế, về đường xá giao thông đi lại.

Sau một thời gian dò dẫm làm quen được với giới thân hào nhân sĩ ở địa phương, cũng như giới tu sĩ, giới giáo chức, chúng tôi đã bắt đầu phát động được một phong trào quần chúng tự nguyện dấn thân vào những dự án cải tiến dân sinh trong các khóm hẻm. Cụ thể như xây dựng hệ thống thóat nước, san bằng các đường hẻm lồi lõm, lầy lội, tu bổ các nhà vệ sinh công cộng và nhất là mở thêm nhiếu lớp học sơ cấp. Công trình cải thiện môi trường sống tại khu vực kém mở mang như vậy đã gây được sự chú ý của nhiều giới chức trong chính quyền, giới chức ngọai giao, giới truyền thông báo chí, cũng như giới họat động xã hội quốc tế mà có quan tâm đến việc xây dựng và phát triển tại Việt nam giữa thời kỳ chiến tranh mỗi ngày một leo thang, tạo ra số đông những nạn nhân chiến cuộc nhan nhản tại vùng ven biên thành phố.

Vì là một tổ chức thiện nguyện xã hội của tư nhân mà được sự bảo trợ của Tòa Đô Chánh và Bộ Thanh Niên, nên chương trình phát triển chúng tôi được tự do liên hệ với bất kỳ tổ chức từ thiện nhân đạo nào của Việt nam, cũng như của ngọai quốc, để xin họ yểm trợ cho một số dự án cải tiến xã hội tại địa phương 3 quận này. Điển hình như việc trang bị máy móc cho các lớp dậy nghề do các tổ chức tôn giáo đứng ra thiết lập và điều hành, giúp đỡ việc trang bị bàn ghế cho các lớp học tại những khu vực còn thiếu thốn về cơ sở giáo dục phổ thông v.v…

Nhất là vào năm Mậu Thân 1968, cả 3 quận đều bị tàn phá nặng nề về nhà cửa và các cơ sở công cộng lên đến hàng mấy chục ngàn đơn vị gia cư, thì chương trình chúng tôi phải tận lực lo lắng tổ chức cho bà con chỉnh trang tái thiết lại nhà cửa. Tính ra trong 20 khu tái thiết, chúng tôi đã cùng với bà con ở địa phương hòan thành được đến 8,000 đơn vị gia cư. Công trình tái thiết này không những đã gây được sự tin tưởng của gia đình các nạn nhân ở địa phương, mà còn được nhiều tổ chức nhân đạo quốc tế đành giá cao. Kết quả là các tổ chức này đã hết sức tín nhiệm đối với chương trình phát triển cộng đồng của anh chị em chúng tôi. Các tổ chức như CARE, Catholic Relief Services (CRS = Tổ chức Cứu Trợ Công giáo Mỹ), OXFAM (Tổ chức Cứu Đói của Anh quốc), Adenauer Foundation của Đức quốc v.v… đều hết sức yểm trợ cho các dự án phát triển tại địa phương.

Và ngay chính bản thân mình, thì tôi đã được mời vào Ban Cố Vấn cho các tổ chức như Asian Christian Service (ACS), IVS (như đã ghi ở đọan trên) và nhất là vào Ban Quản trị cho Shoeshine Boys Foundation (Tổ chức trợ giúp các trẻ em đánh giày). Thành ra thông qua những công tác xã hội cụ thể, thiết thực nhằm giúp đỡ các nạn nhân chiến cuộc, tôi đã có cơ hội liên kết được với nhiều bạn bè quốc tế và sát cánh với họ trong nhiều dự án nhân đạo từ thiện tại nhiều địa phương khác nữa ngòai thủ đô Saigon, đặc biệt là tại mấy tỉnh miền Trung là nơi chiến sự đã diễn ra ác liệt tàn khốc hơn cả, cụ thể như những cuộc tấn công trong chiến dịch Mùa Hè Đỏ Lửa vào năm 1972.

Trong hai năm 1972 – 74, tôi còn được mời cộng tác với tổ chức Hội Đồng Tôn giáo Thế giới có trụ sở chính đặt tại Geneva Thụy sĩ (The World Council of Churches – WCC) với chức vụ Giám đốc Văn phòng Nghiên cứu và Liên lạc tại Saigon. Trong thời gian này, tôi đã có dịp tham gia bàn thảo về việc thành lập Quỹ Tái Thiết và Hòa Giải tại Đông Dương với trụ sở đặt tại Bangkok Thái Lan nữa (Funds for the Reconstruction and Reconciliation in Indochina

FRRI)

Kể từ năm 1970, tôi còn hay được mời đi qua nước Pháp, Thụy Sĩ, Hòa Lan ở Âu châu và một số nước ở Á châu như Thái Lan, Phi Luật Tân để tham dự những cuộc hội thảo quốc tế bàn về những vấn đề văn hóa xã hội tại các quốc gia trong thế giới thứ ba (third world). Đây là những dịp để cho tôi học hỏi thêm về kinh nghiệm của những bạn bè quốc tế trong lãnh vực xây dựng và phát triển xã hội. Và đồng thời cũng là cơ hội cho tôi được trình bày trước diễn đàn thế giới về những suy nghĩ của một người cán bộ xã hội thiện nguyện ở Việt Nam giữa lúc chiến tranh đang ở vào giai đọan đen tối khốc liệt nhất, đặc biệt là sau cuộc Tổng tấn công vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968, mà báo chí và TV đều tường thuật rất đày đủ tin tức với nhiều hình ảnh rất thương tâm phổ biến đến với công chúng tại khắp nơi trên thế giới.

V – Nhận định tổng kết.

 Bài viết đến đây kể đã dài rồi, tôi xin tóm lược sự trình bày bằng mấy nhận định tổng kết thật ngắn gọn trong mấy điểm như sau đây:

1 – Ngày nay với sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là trong ngành truyền thông và giao lưu kinh tế văn hóa, con người dễ dàng gần gũi với nhau hơn. Do vậy mà tính cách nhân bản và tình nhân ái bảo bọc gắn bó giữa con người với con người – dù khác biệt nhau đến mấy đi nữa – thì cũng vẫn có điều kiện thuận tiện mà được thể hiện một cách cụ thể rõ ràng, chứ không chỉ là một ước mơ không tưởng như ở thời kỳ xa xưa nữa. Sau bao nhiêu cuộc chiến tranh tàn sát đẫm máu, con người đã tỉnh ngộ và tìm ra được một bài học quý báu, đó là : “ Chỉ có thể đem lòng yêu thương cao thượng rộng lớn ra thì mới dứt khóat hàn gắn được mối hận thù ân óan lâu đời trong xã hội.” Và càng ngày lý tưởng Hòa bình Nhân ái càng được đề cao trân trọng nơi tâm hồn con người ở mọi quốc gia trên thế giới.

2 – Tại miền Nam hồi trước năm 1975, mặc dù nếp sinh họat trong thời chiến tranh vẫn còn bị gò bó hạn chế nhiều về mặt chính trị quân sự, nhưng Xã hội Dân sự thì vẫn tồn tại và lại phát triển tương đối khởi sắc qua sự kiện là các tổ chức phi chính phủ và bất vụ lợi (non-governmental/non- profit organisations) như các đòan thể, hiệp hội tư nhân – điển hình như Hội Hồng Thập Tự, Hội Hướng Đạo, Hội Thanh Niên Thiện Chí – thì vẫn được tự do họat động, mà còn được tự do liên lạc và hợp tác cả với các tổ chức thiện nguyện quốc tế nữa. Những điều tường thuật trong bài viết này là một chứng minh cụ thể cho tính cách thông thóang cởi mở trong xã hội ở miền Nam Việt nam thời kỳ trước năm 1975 vậy.

3 – Là một người có cái duyên được gặp gỡ quen biết với nhiều bạn bè quốc tế ngay từ thời còn là một sinh viên đại học ở Saigon, cũng như trong thời gian đi du học tu nghiệp tại nước Mỹ, tôi đã chứng kiến rõ rệt sự thông cảm, thân ái quý trọng lẫn nhau giữa những bạn trẻ xuất phát từ mọi quốc gia với tinh thần hồn nhiên trong sáng của thế hệ những con người đang được thụ hưởng đày đủ sự tiện nghi tiến bộ do nền kinh tế thịnh vượng cung ứng và cũng do sự hòa hõan quốc tế bảo đảm cho họ có được một nếp sống thanh bình an lạc.

Và thông qua những công tác xã hội phục vụ những nạn nhân chiến cuộc ngay tại vùng ngọai ô thành phố Saigon, nhất là sau cuộc tổng tấn công hồi Tết Mậu Thân năm 1968, tôi đã nhận được sự chia sẻ những gánh nặng khó khăn từ những bạn bè quốc tế với những sự yểm trợ cụ thể, thiết thực cho các dự án tái thiết và cải tiến xã hội tại địa phương các quận 6,7,8 Saigon, cũng như tại một số nơi khác nữa như ờ miền Trung chẳng hạn.

Một cách hết sức tóm lược, bài viết mà quý bạn đọc đang coi ở đây chính là một sự minh họa cho cái Tình Liên Đới Quốc Tế thật là cao quý trong thời đại của chúng ta ngày nay vậy./

California, những ngày cuối năm Tân Mão 2011

Đòan Thanh Liêm

Một lần chợt nghe quê quán tôi xưa,

Chuyện Phiếm đọc trong tuần sau lễ Chúa Chịu Phép Rửa Năm C 10/01/2016

 “Một lần chợt nghe quê quán tôi xưa,”
Giọng người gọi tôi nghe tiếng rất nhu mì,
Lòng thật bình yên mà sao buồn thế,
Giật mình nhìn tôi ngồi hát bao giờ.”

(Trịnh Công Sơn – Bên Đời Hiu Quạnh)

(Mc 14: 22)

 Trần Ngọc Mười Hai

            Có những lúc và những lần, bần đạo bầy tôi đây thấy “lòng mình thật yên bình”, lại rất vui. Vui nhất, là khi cảm-nhận câu nói: ‘tất cả là Ân-huệ’, tức: câu châm-ngôn áp-dụng cho mọi trường-hợp, khi mọi việc đi vào ổn định, chẳng còn  kêu ca, than phiền điều gì hết.

“Lòng mình thật bình yên”, ‘ tất cả đều là Ân huệ’, dù có điều chưa toại-nguyện. Chí ít là những lúc “chợt nghe quê quán tôi xưa”, mà nghệ sĩ mình vẫn lan-man, tản mạn đôi ca từ, rằng:

“Rồi một lần kia khăn gói đi xa.

Tưởng rằng được quên thương nhớ nơi quê nhà.

Lòng thật bình yên mà sao buồn thế.

Giật mình nhìn tôi ngồi khóc bao giờ.

Đường nào quạnh hiu tôi đã đi qua.

Đường về tình tôi có nắng rất la đà.

Đường thật lặng yên lòng không gì nhớ.

Giật mình nhìn quanh ồ phố xa lạ.”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

“Phố xá (ồ rất) xa lạ”, rồi đến: “con đường đầy quạnh hiu”… Ấy đấy, là tâm-tình của ai đó giống như tôi/như bạn bỗng chốc “giật mình nhìn quanh quất”, rất đời người.

Vào chốn “đời người”, hẳn bạn và tôi, ta lại cũng nhận ra rằng: sự việc ở trong đời, người người lại vẫn có cái nhìn, thật rất khác. Khác, từ cách ăn/cách nói, cho chí các hành-vi xử-sự giống hệt phương-cách giải-quyết các vấn-đề riêng-tư, đặc-biệt như truyện kể bên dưới:

“Tiệm ăn nọ, một hôm, có thực-khách gọi bồi bàn đem cho mình tách cà phê để nhâm nhi, cho đỡ buồn. Nhưng chợt thấy con ruồi đang vùng vẫy bơi lội, hòng thoát nạn.

Truyện kể chỉ có thế, không thêm bớt. Thế nhưng, người kể lại đưa ra câu hỏi để coi xem ở đâu đó trên mạng vi-tính, đã thấy nhiều người gom góp một phản-ứng, rất như sau:

Trước nhất, là người Nhật. Người Nhật thường rất lễ độ, không đụng tới tách cà-phê, cứ lẳng lặng ra quầy trả tiền và kín đáo rời khỏi tiệm.

Người Anh lạnh lùng chỉ cho chủ tiệm coi con ruồi đang phấn-đấu cho sự sống còn, rồi thôi.

Người Mỹ, gọi điện cho luật-sư riêng, ra chỉ-thị lập thủ-tục kiện chủ tiệm, đòi bồi thường 2 triệu đô vì thiệt-hại tinh-thần.

Người Đức đề-nghị chủ tiệm thi-hành kỷ-luật với nhân-viên phạm lỗi.

Với người Ý, thì mọi chuyện sẽ ổn-thỏa, nếu chủ tiệm bỏ vụ tính tiền càphê và bữa ăn.

Ả-rập vua dầu lửa, thì: rút ngân-phiếu mua lại cửa tiệm, đóng cửa sa-thải hết nhân-viên.

Người Thụy-Điển: cảnh-cáo chủ tiệm không tôn-trọng sinh mạng, hạnh-phúc của  sinh-vật.

Người Mễ vớt con ruồi lên khỏi tách, rồi tỉnh bơ uống cạn chỗ cà-phê chưa kịp uống.

Người Hoa: uống ừng-ực tách càphê xong hỏi chủ tiệm cách dẫn-dụ ruồi bay vào bếp.

Người Do-thái dụ bán ruồi cho người Hoa, bán tách càphê cho người Mễ, kiện nhà chủ cùng nghiệp-đoàn ăn uống về tội kỳ-thị người Do-thái. Chính phủ Do-thái chỉ-thị cho đội dù đặc-nhiệm đổ bộ vùng đất Gaza và một phần lãnh-thổ Ai-cập dọc biên thùy Palestine, vận động Do-thái tố chính-phủ Mỹ làm tay sai Hồi-giáo, bán đứng Do-thái, nhân câu chuyện ruồi hạ cánh xuống tách càphê với ý-đồ rõ rệt…

Còn người Việt thì sao?

Người Việt mình, vốn kế-thừa văn hóa Trung-quốc từ nhiều năm trước, nên sẽ bày tỏ tùy từng trường-hợp. Nếu chủ tiệm là đồng hương, ông sẽ om sòm la-lối, rồi hạch sách đủ điều đến phát sợ. Nhưng, nếu chủ tiệm là người Mỹ gốc Hoa kỳ, bèn nín khe hơi đâu mà rách việc…”

Truyện kể, tiếng là để minh-họa điều gì đó, chứ không để thóa-mạ người Do-thái hay sắc-tộc nào, thời hôm nay. Thời buổi hôm nay, làm gì có những chuyện đại-loại kể về người Do-thái hoặc ai đó về ẩm-thực, vè cách ăn lẫn lối uống rất văn-minh, đầy tình người.

Người Do-thái mọi nơi và mọi thời vẫn văn-minh, lịch-sự về nhiều thứ, chí ít là chuyện ăn uống, tư-duy mọi chốn, hết mọi thời.

Thời của Chúa, ai cũng thấy Đức Giêsu và môn-đồ Ngài vẫn chung vui với mọi người cả khi ăn uống, lẫn lúc nguyện-cầu và suy-tư. Tin Mừng Nhất Lãm và cả ở Tin Mừng từ tác-giả Gioan từng mô-tả các bữa ăn, tiệc tùng, hoặc cưới hỏi có Đức Chúa tham-dự. Chẳng hạn như truyện kể lại Đức Giêsu hôm ấy kêu mời ông Zakêu xuống khỏi cây cao, cùng vào dự tiệc.

Lại có trường-hợp Tin Mừng kể lại chuyện Đức Giêsu thực-khách đã đến chung vui với  nhiều nhóm/hội đoàn thể khác nhau, giảng-giải cho họ biết chuyện ăn uống, ứng-xử với thực-khách ở quanh vùng. Ngài sử-dụng thức ăn như đề-tài thảo-luận và giảng-dạy, cốt để mọi người nhớ đến mà hiểu ý Ngài, mỗi khi làm như thế. Đặc biệt hơn cả, là truyện 5 chiếc bánh và 2 con cá, hàm ngụ một dụ-ngôn đầy tâm-tình giúp giùm, đùm bọc.

Nói tóm lại, ở Tin Mừng, chuyện chung vui cùng bàn ăn/uống vẫn được coi là việc cần-thiết phải làm để sống vui sống trọn vẹn phận làm người. Đằng khác, những việc như thế lại cũng được dùng làm dấu-chỉ để mọi người thực-hiện động-tác bác-ái, hoặc bàn-luận tính-cách biểu-tượng cho nhiệm-tích thánh-thiêng về sự sống vĩnh-cửu.

Rất nhiều lần, Đấng Thánh Hiền-lành trong Đạo vẫn khuyên-răn dân con đi Đạo hãy cùng nhau ăn uống và tưởng nhớ ý-nghĩa rất hằng sống trong thức ăn, như sau:

“Cũng đang bữa ăn,

Đức Giêsu cầm lấy bánh,

dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra,

trao cho các ông và nói:

“Anh em hãy cầm lấy,

đây là mình Thầy.”

(Mc 14:22)

Vâng. Ăn và uống, xưa nay, vẫn là triết-lý sống trong đời. Ăn để sống, chứ không phải sống để ăn. Dù, có ăn/uống trong tình-huống nào đi nữa, người người ở mọi nơi có coi chuyện ăn/uống là lạc thú đến thế nào đi nữa, trong cõi đời, vẫn nên cùng ăn/cùng uống với mọi người.

Với người Do-thái, ăn và uống còn là đạo-lý của mọi người, trong đời. Ăn/uống đơn-độc một mình, không thể là cung-cách vui-tươi đầy ý-nghĩa của người đi Đạo. Đức Giêsu là người Do-thái, nên Ngài cũng không thoát khỏi tục-lệ của đất nước, dân tộc Ngài. Quả thật, Ngài vẫn vào chốn hoang-vu để nguyện-cầu một mình, nhưng Ngài chẳng bao giờ ăn độc, hoặc uống một mình bao giờ hết.

Tiệc Tạ-từ chiều hôm ấy, tuyệt-nhiên không là buổi “độc ẩm” dành cho tử tội ở khám-đường trước khi ra pháp-trường, nhưng vẫn là và lại là bữa Tiệc-Lòng-Mến rất sẻ san. San và sẻ Thân Mình Ngài, một đặc-trưng của Thiên-Chúa-là-Tình-yêu ban cho con người, ở mọi thời. Đó, có thể là Tiệc thân-thương gia-đình giữa bạn bè/người thân, hoặc tiệc tùng bầu bạn dành cho mọi người là những kẻ kế-thừa Vương Quốc Nước Trời, ở mọi nơi. Mọi thời.

Nói khác đi, ăn và uống vẫn là tình-huống qua đó bầu bạn/người thân sẻ-san cho nhau niềm thương-yêu chân-chất/tươi vui trong hiện-tại, để người người lại sẽ cùng sống với nhau trong tương-lai, mai ngày đầy thương-mến.

Đó, cũng là ý-tưởng-làm-nền, từng được đấng bậc mô-phạm ở Úc là tác-giả Michael McGirr, Khoa-trưởng thần-học “Niềm Tin và Mục vụ” thuộc trường St Kevin ở Melbourne, Úc Châu đã có bài viết rất như sau:

“Thân gửi Đại-tá Sanders rất quí mến,

Hy-vọng, thư tôi viết cho ông, hôm nay, sẽ không là giòng chảy đường-đột, bất lịch-sự nhưng chỉ là cung-cách để nói lên rằng: tôi thật lấy làm ngỡ-ngàng khi biết: ông đã sống thọ đến 90 tuổi đời, không kém. Dù, ông là người thành-lập thương-hiệu KFC với món gà quay ngon nổi tiếng thế-giới nhưng tôi chắc rằng ông cũng từng đi đâu đó tìm chỗ ăn uống, thôi.

Thật cũng lạ, ông đây vốn dĩ là người nổi-tiếng về lối gọn-gàng râu/tóc, áo/quần bảnh-bao, ăn mặc lịch-sự không ai sánh tày, vậy mà ông lại đi chọn cái nghề kiến-tạo nên một đế-quốc nổi đình nổi đám với món gà quay mỡ màng, thơm phức. Lẽ đáng, ông phải là chuyên-gia giặt ủi rất đặc-thù về nghề “hấp tẩy nỉ sẹc” tuyệt trần, mới đúng…

 Năm 1955, cửa hàng bé nhỏ do ông làm chủ, từng tồn-tại suốt 120 năm cạnh con lộ tẻ ở Kentucky, nay bị chính-quyền có kế-hoạch cắt xén để mở xa-lộ xuyên tiểu-bang, đã cắt gọn mọi chuyện, thế nên doanh-thương buôn bán hàng ăn đã xuống cấp đến mức-độ thê-thảm và cuối cùng doanh-nghiệp của ông bị phá-sản.

 Vậy nên, ông bèn tạo vị-thế gọi là “gà nòi băng lộ”, đem nhà hàng của mình dời về địa-điểm có tuyến đường mới mở; và từ đó, ý-tưởng lập tiệm KFC đã khởi-phát, rất mau. Hiện nay, hàng ngàn địa-điểm kinh-doanh như thế đã khởi-sắc rất nhiều nơi. Có nơi, còn có cả mặt bằng đậu xe thoải-mái, luôn được nới rộng. Có nơi, ông còn để cho xe chạy đến đi thẳng vào khu đặt và nhận hàng ăn chỉ trong vòng vài phút phù du, đầy đủ cả. Và từ đó, món ăn nhanh hợp khẩu-vị lại bộc-phát không ngừng.

 Điều này, dẫn tôi về lại trọng-điểm của bức thư tâm-tình, thế này đây: KFC vừa mới cho ra lò một lô các đại-lý bán lẻ ngay ở góc đường dầy đặc xe cộ qua lại, nơi tôi sinh sống. Trước mặt, lại xuất-hiện một tiệm bán thịt nướng “souvlaki” ngon miệng, mở ra cùng một địa điểm như của ông, nhưng khiêm-tốn cốt để thực-khách đừng quên món gia-bảo này.

 Tiệm thịt nướng xiên “souvlaki” này, nay bày-biện ghế bàn tràn lan trên vỉa hè đường phố tấp-nập người qua lại, để bà con thực-khách có thể dừng-chân-đứng-lại vừa ăn vừa đấu láo cho vui đời, cả về đêm. Chắc ông cũng thấy nhiều tài-xế Taxi vừa lái xe vừa chuyện trò inh-ỏi cả vào thời-khắc ngắn-ngủi, khác với ý-tưởng lái xe đến tận nơi đặt hàng và bốc hàng trong phút chốc, khiến thực-khách lại cứ bị cô-đơn khi ăn ở trên xe. Bên ngoài cửa tiệm, lại có bảng hiệu ghi giòng chữ: “Quí vị sẽ không bị wi-fi quấy rầy chút nào!”                   

Thịt nướng có que xiên “souvlaki” đã đạt vị-thế khá đáng kể trong lịch-sử ăn uống bên ngoài nhà. Nói về lịch-sử, tôi thấy: cuối bài anh-hùng-ca “Illiad” của Homer, có đề-cao/tuyên-dương Con Ngựa Thành Troie, thì ở đây cũng có tiệm thịt nướng “souvlaki” đã đột-ngột xuất-hiện, rất hiện-tượng. Cho đến nay, người Hy-Lạp đã đóng đô tại đó suốt mười năm liền, tại chỗ. Người thành Troie, lại cũng bị nhồi nhét bên trong bức tường thành đến ngột-ngạt.

Cuối cùng thì, nhiều vị hẳn còn nhớ: câu chuyện về anh-hùng thần-thoại Hy-Lạp Achilles từng chiến-đấu với Hector, con vua Priam Thành Troie, hôm đó chính tay Achilles đã giết chết Hector rồi còn kéo xác anh ta chạy quanh thành-phố để chọc tức dân thành này, cho bõ ghét.

Thế rồi, một chuyện lạ-lùng lại đã xảy ra, cũng rất ngộ. Vua Priam đã tự mình rời khỏi ngai vàng, bước xuống đảm-trách vai-trò ít quen-thuộc, đơn-giản là ông lại chỉ nhận trọng-trách của người cha, mà thôi. Ông không còn muốn sống đời vua/quan nữa, mà chỉ muốn đơn-giảm làm người bình-thường bước đến lều của Achilles đầy quyền-năng, cốt để nhặt xác người con yêu quí của ông, mà thôi. Ông nghĩ, mình sẽ bị đối-phương giết chết ngay tức thời. Nhưng, Priam đã không kịp nghĩ về sự-kiện: trọn cả thế-giới, nay mỏi mệt với mọi cuộc xung-đột và chinh-chiến, nên không còn muốn gây hấn với ai nữa.

Tâm can con người, nay chán-chường vị-thế của bậc đại-trượng-phu cũng như cung-cách xì-sụp/quì mọp của người dưới trướng nữa. Ai nấy đều nhận thấy cần phải có thái-độ khác trước; và từ đó, tính khiêm-nhu/hạ mình để phá vỡ mọi bế-tắc ở chính-trường. Chính Homer đã tạo công ăn việc làm cho mọi người, từ nhiều thế-kỷ trước cả thời Đức Kitô nữa.

Từ đó đến nay, con người mới hiểu được nhân-loại nên đã giúp mình sống tốt đẹp và sinh-động cách đích-thực hơn.

Và, phần chủ-chốt trong thiên-hùng-ca “Illiad” lại là một trong các phần cốt-lõi của nền văn-chương thi-tứ qua đó Achilles đã tặng Priam món thịt trừu nướng “souvlaki” cắt từng mảnh nhỏ xiên que nhọn, ăn với bánh mì. Chính tôi đây, thỉnh thoảng cũng tìm mua một gói thịt nướng xiên bán trên xe “van” từ sở về, vốn là món thịt nướng xiên có từ 3000 năm trước. Dĩ nhiên, Archilles không nhắc-nhở gì đến nước sốt hành/tỏi bỏ thêm vào đó.

Ngày nay, mọi người chúng ta đều có thời-khắc “dừng-chân-đứng-lại” trên đường đời, hầu thưởng-thức món thịt nướng xiên “souvlaki”, một món ăn có đặc-thù tính bằng cơ-hội ta ngồi cùng bàn với nhau mà thưởng thức, và xem hôm ấy có ai cùng ngồi bàn với mình hơn là có gì trên bàn, để cùng ăn.

Điểm sáng trong ngày của tôi, là chuyện: thông thường thì: ân-huệ ta sẻ san cho nhau theo cách của gia-đình tụ-tập vào bữa chiều. Và, giờ phút cuối trong ngày, lại là thời-khắc tuyệt-vời để ta cảm ơn. Và, trong các bữa ăn như thế, lại cũng có nhiều sự việc rất “ân-huệ” như thời-khắc để ta san-sẻ, dù lớn nhỏ, những gì xảy đến với ta cả nơi bàn tiệc lẫn bàn nhựa/bàn gỗ ta làm việc hoặc bàn-luận, cũng giản-đơn.

Có lần, tôi bắt gặp một nữ-phụ tay cầm khay/dĩa đựng món gà quay thơm phức ở tiệm KFC nọ; và chị này đã làm dấu thánh-giá trước khi dùng bữa ngon, hôm ấy. Tôi biết chắc là: chị đã dâng lời cảm-tạ vì được bữa ăn ngon, hơn có được bí-kíp quay/nướng cùng nêm/nếm gia-vị và thêm rau sống vào trong đó. Và tôi nghĩ: cuối cùng ra, đó chính là vấn-đề. Vấn-đề ân-huệ mình cảm-nghiệm, không quên kèm theo sau lời cảm-tạ vì đã có được của ăn,thức uống tuyệt vời đến là thế.

Kính thư,

Michael McGirr

(X. A Letter to Colonel Sanders, Australian Catholics số Giáng Sinh 2015, tr. 16) 

 Tất cả là như thế. Như thế, tức để khẳng-định rằng: mọi sự trên đời, đều là ân-huệ tình thương ta cảm-nhận, vào nhiều lúc. Ân-huệ, có thể là của ăn/thức uống từng ngày mình vẫn dung nhưng quên rằng: mọi thứ trên đời đều do Ơn Trên ban tặng.

Tất cả là ân huệ, vẫn là điều dẫn đ,ưa ta đi vào với thời-khắc vui tươi có yêu-thương, giùm giúp theo tính-cách bầu bạn/thân thương rất gia-đình. Ân-huệ nào, cũng là ân là huệ đầy tình người, tình Chúa gìn giữ ta trong Tình thương vĩnh cửu, rất triển-nở.

Trải-nghiệm thế rồi, nay mời bạn/mời tôi, ta đi vào vườn truyện kể rất dễ nể, để còn nhớ. Nhớ rằng, mọi chuyện vui trong đời người, đều xuất từ ân-huệ Trời ban, để ta thưởng-lãm suốt đời mình.

Vườn truyện hôm nay có câu truyện, những kể rằng:

“Có hai người bạn đang dạo bước trên sa mạc. Trong chuyến đi dài, hai người nói chuyện với nhau rất nhiều chuyện và đã có một cuộc tranh cãi gay gắt về đủ thứ trong đời, cả chuyện công ăn việc làm, thực-phẩm lẫn công-danh.

Trong một lúc mất bình tĩnh, một người đã tát vào mặt người bạn mình. Người bị tát thấy rất đau, nhưng không nói gì. Anh chỉ lặng lẽ viết lên cát rằng: “Hôm nay, bạn tốt nhất của tôi đã tát vào mặt tôi.”

Họ tiếp tục bước đi cho tới khi nhìn thấy một ốc đảo, nơi họ quyết định sẽ dừng chân và tắm mát. Người bạn vừa bị tát do sơ ý bị trượt chân xuống bãi lầy và ngày càng lún sâu xuống. Nhưng người bạn kia đã kịp thời cứu anh.

Ngay sau khi hồi phục, người bạn suýt chết đuối khắc lên tảng đá dòng chữ: “Hôm nay, bạn tốt nhất của tôi đã cứu sống tôi.” Người bạn kia, hết sức ngạc nhiên bèn hỏi: “Tại sao khi tớ làm cậu đau, cậu lại viết lên cát còn bây giờ lại là một tảng đá?”

Và câu trả lời anh nhận được là: “Khi ai đó làm chúng ta đau đớn, chúng ta nên viết điều đó lên cát nơi những cơn gió của sự thứ tha sẽ xóa tan những nỗi trách hờn. Nhưng “Khi chúng ta nhận được điều tốt đẹp từ người khác, chúng ta phải ghi khắc chuyện ấy lên đá nơi không cơn gió nào có thể cuốn bay đi.”

Hãy học cách viết những nỗi đau lên cát và khắc tạc những niềm vui và hạnh phúc bạn tận hưởng trong cuộc đời lên tảng đá để mãi không phai.”

Nói thế, tức bảo rằng: học ăn, học nói, học gói, học mở, tất cả đều phải học. Học bây giờ và học mai sau, suốt đời mình. Học cả chuyện ăn và nói, rồi ra ta sẽ thấy mình chin chắn, trưởng-thành trong mọi sự.

Thế đó, là giòng chảy tư-tưởng, ta truyền cho nhau để học, cả một đời.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn cứ học và học mãi

Cả chuyện ăn, chuyện nói

Lẫn mở gói

suốt đời mình.

Chiều xưa khúc nhạc nóng ran lên,

Suy Tư Tin Mừng tuần sau lễ Chúa Chịu Phép Rửa năm C 10/01/2016

 Tin Mừng (Lc 3: 15-16, 21-22)

 Hồi đó, dân đang trông ngóng, và trong thâm tâm, ai nấy đều tự hỏi: biết đâu ông Gio-an lại chẳng là Đấng Mêsia! Ông Gio-an trả lời mọi người rằng:

Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa.

Khi toàn dân đã chịu phép rửa, Đức Giê-su cũng chịu phép rửa, và đang khi Người cầu nguyện, thì trời mở ra, và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bồ câu. Lại có tiếng từ trời phán rằng: Con là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con.

    *    *    *

“Chiều xưa khúc nhạc nóng ran lên,”

Không có ai đi để lỗi thuyền.

Nguồn thơ ứa mãi hai hàng lệ,

Tờ giấy hoa tiên cũng ướt mèm.”

(Dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Mai Tá lược dịch.

Thơ với nhạc, cứ ứa mãi hai giòng lệ dễ nóng ran. Để đến nỗi, “giấy hoa tiên cũng ướt mèm.” Ướt, như đời con trẻ, vẫn cứ buồn.

Những ngày như hôm nay, rất nhiều bậc cha mẹ trẻ vẫn thường thắc mắc: sao ta lại cứ lo tìm cha tìm thầy cho con cái mình rửa tội, thế nhỉ? Có người còn đề nghị: nên triển hạn ngày thanh tẩy cho đến khi con cái triển nở, lớn lên thành người lớn. Để chúng có cơ hội mà chọn lựa. Dù lập trường này xem ra có phần hấp dẫn, nhưng vấn đề là: những lý do xảy đến tiếp sau đó, lại không mang tính nhất quán, rất mông lung.

Nhìn vào cuộc sống, có bậc cha mẹ trẻ nào từng thắc mắc: sao cứ bắt con cái ăn rau trái, rồi lại học đọc học viết, học làm tính, rồi còn bắt chúng sống theo kiểu con nhà lành, đến là mệt? Cha mẹ bắt như thế, vì biết rằng dinh dưỡng, học hành cùng sống đạo đức chức năng đều là những chuyện cần thiết, để trưởng thành, thật chín chắn.

Chừng như không nói nhưng ai cũng hiểu, là: ngay từ thuở thiếu thời, trẻ nhỏ vẫn có nhu cầu về cả thể xác, tinh thần lẫn đạo đức, giáo dục. Tất cả những thứ ấy, dù không nhất quán ta cũng không thể loại trừ, nếu muốn cho con cái có được đặc tính tốt để sau này sống với thế gian, mang nhiều hình thái.

Thanh tẩy, không phải là tẩy não. Là người lớn, ta có thể tự ý “rồi đến rồi đi, bao tháng năm”, dù có biết “tạ ơn đời, tạ ơn trời” vì đã cho ta một niềm tin-yêu, mà thực hành. Tuy nhiên, lúc khôn lớn, mà lại không kiến tạo cho mình một nền tảng tu đúc hoặc không căn bản để bám rễ mà chọn lựa định mức thần linh cho chính mình, xem ra nhiều phần dễ hạn chế tự do hơn là thăng tiến nó.

Theo nền văn hoá ta vẫn có, thì việc thanh tẩy cho con trẻ mà do cha mẹ mong muốn là điều rất nên làm. Phúc Âm ta nghe đọc hôm nay, sẽ cho thấy chính Chúa cũng chấp nhận để thánh Gioan thanh tẩy cho Ngài, trên sông Giođan, là điều rất đúng, và cũng nên làm.

Người thời nay nghe kể về sự việc diễn tiến tuy thấy có vẻ lạ kỳ vì thời nay, ta thường chấp nhận nhận rằng ta chỉ có một qui ước độc nhất là chối bỏ mọi qui ước có sẵn. Và, dường như ngày nay người người chỉ muốn làm một điều là chối bỏ những điều mà người đời trước từng làm, thôi.

Tuy thế, ta vẫn mang nặng một chủ trương cho rằng Thiên Chúa luôn làm điều “đáng làm”. Điều đó, thần-học Kinh-thánh gọi là “làm những chuyện đúng đắn”, rất thích hợp. Chẳng hạn như, ta tin rằng Thiên Chúa quyết định rằng Ngài đã mặc lấy thân phận loài người như Ngài đã làm. Theo cách thế Ngài từng làm nơi chốn Ngài quyết định làm, là chuyện đúng đắn, hợp lý.

Các thế kỷ về trước, người ta không ngừng tranh cãi lẫn biện luận rằng nếu Ngôi Lời đến với thế gian theo cung cách của người nữ, hoặc Ngài đến với hành tinh khác, vào kỷ nguyên khác, thì thế gian này sẽ ra sao? Câu trả lời, là: dù đây là vấn đề cũng khá ngộ nghĩnh để bàn cãi, nhưng vẫn không là chuyện đúng đắn, hợp lý Chúa đã làm, và muốn làm.

Cùng một thể với việc Chúa làm một cách đúng đắn/hợp lý, Đức Giêsu cũng đã làm chuyện đúng đắn khi Ngài để cho thánh Gioan tẩy rửa ngài. Tẩy rửa khỏi mọi ân hận, dù Ngài chẳng có gì để ân hận.

Đức Giêsu không chỉ chấp nhận thanh tẩy chỉ vì mọi người trông chờ Ngài làm thế, để thực hiện nghĩa vụ, cần làm. Kinh nghiệm tẩy rửa của Đức Giêsu khởi sự như một chấp nhận mình có lỗi và như thế bày tỏ rằng ơn thanh tẩy trước tiên là tình thương yêu của Cha.

Cho đến nay, nghi tiết tẩy rửa của chúng ta vẫn giữ lại hai thực tại tốt lành. Khi nhận ơn thanh tẩy, ta nhận thức cả tội nguyên tổ lẫn ân huệ dành cho tổ tiên. Ân huệ Chúa ban đến với ta một cách sống động dù ta vẫn biết là ta từng xa lánh tình yêu Ngài ban phát.

Ơn thanh tẩy cho Đức Giêsu và mọi cuộc thanh tẩy xảy ra từ đó, là khoảnh khắc ta cùng giữ lại với nhau và cho nhau Tình yêu cao cả của Thiên Chúa. Tình yêu Ngài gọi mời mỗi người chúng ta qua tên gọi để ta trở thành con cái Ngài. Ân huệ gọi mời của tình yêu, bất chấp thực tại yếu mềm và mỏng dòn của con người chúng ta.

Còn gì đúng đắn và hợp lý hơn cho việc chào đón bất cứ ai vào với thế giới của cộng đoàn gồm những kẻ tin, rất yếu mềm. Để, xác chứng rằng họ đã là thành viên của cộng đoàn yêu thương ấy. Và, để nhắc nhở họ rằng tội nguyên tổ không thể là điểm kết-thúc. Bởi, mọi người chúng ta, một khi đã được thanh tẩy trong Đức Kitô, thì Tình yêu của Thiên Chúa là Cha luôn là và luôn hiện-diện trong ta.

Cầu mong sao, Tiệc Thánh hôm nay ta mừng kính xứng đáng với Tình yêu thánh thiêng đổ xuống trên ta. Cầu và mong sao Tình yêu chúa ban, sẽ đem đến cho ta lòng quả cảm. Và hãnh diện. Để ta có thể làm điều đúng đắn, hợp lẽ cho các thế hệ mai ngày, đang tiếp đến.

Cũng cầu và cũng mong sao, Ơn Thanh Tẩy Chúa mở tầm mắt tinh-thần của ta, để ta không còn những thắc mắc vẩn vơ, như một số bậc cha mẹ trẻ vẫn vơ vẩn, nhiều thắc mắc._

Trong tâm tình ấy, nay ta lại mời mọi người ngâm mãi lời thơ buồn, những hát rằng:

“Nguồn thơ ứa mãi hai hàng lệ,

Tờ giấy hoa tiên cũng ướt mèm.”

(Hàn Mặc Tử – Buồn Ở Đây)

Nguồn thơ trên tờ giấy hay trên đâu đó, mãi mãi không là nỗi “Buồn Ở Đây”, trong nhà Đạo.

Lm Richard Leonard sj biên soạn

Mai Tá lược dịch.

NHỮNG CÁI CHẾT CỦA CÁC TÔNG ĐỒ CHÚA GIÊSU

NHỮNG CÁI CHẾT CỦA CÁC TÔNG ĐỒ CHÚA GIÊSU

Sau đây là tên mười hai Tông Đồ: đứng đầu là ông Simon, cũng gọi là ông Phê-rô, rồi đến ôngAn-rê, anh của ông; sau đó là ông Gia-cô-bê con ông Giê-bê-đê và ông Gio-an em của ông; ông Phi-lip-phê và ông Ba-tô-lô-mê-ô ; ông Tô-ma và ông Mát-thêu người thu thuế ; ôngGia-cô-bê con An-phê và ông Ta-đê-ô ; ông Simon thuộc nhóm Quá Khích, và ông Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, chính là kẻ nộp Người

NHỮNG CÁI CHẾT CỦA CÁC TÔNG ĐỒ CHÚA GIÊSU

“Sau đây là tên mười hai Tông Đồ: đứng đầu là ông Simon, cũng gọi là ông Phê-rô, rồi đến ôngAn-rê, anh của ông; sau đó là ông Gia-cô-bê con ông Giê-bê-đê và ông Gio-an em của ông; ông Phi-lip-phê và ông Ba-tô-lô-mê-ô ; ông Tô-ma và ông Mát-thêu người thu thuế ; ôngGia-cô-bê con An-phê và ông Ta-đê-ô ; ông Simon thuộc nhóm Quá Khích, và ông Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, chính là kẻ nộp Người”. (Mt 10,2-4)

1- Simon Peter (Phêrô): Chúa Giêsu gọi ngài là đá, còn được gọi là Simon con Giôna. Ông là một ngư phủ đến từ thành Bethsaida xứ Galilee. Đã bị đóng đinh ngược trên thập giá. Theo lời truyền của giáo hội thì ngài đã nói với những người lý hình rằng, ngài cảm thấy không xứng đáng chết cùng một thể thức giống như Chúa Giêsu, cách Thầy mình đã chết.

2- Andrew (Anrê): Em của Phêrô, ngư phủ thành Bethsaida. Ngài bị đóng đinh trên thập giá hình chữ X ở Patras, Greece, sau khi bị bảy người lính đánh đòn nhừ tử. Người ta dùng những sợi dây trói thân xác ngài vào thập giá cốt ý kéo dài sự đau đớn của ngài. Những môn đệ của ngài thuật lại rằng, khi ngài bị dẫn đến trước thập giá, ngài đã kính cẩn chào thập giá và nói những lời này: “Tôi đã từng ước mong và dự đoán sẽ có giờ vui mừng này. Thánh giá đã được tận hiến nhờ thân xác của Chúa Kitô treo trên đó”. Ngài tiếp tục rao giảng cho những tên lý hình trong hai ngày cho đến khi tàn hơi.

3- James the Great (Giacôbê Cả): con ông Giê-bê-đê, là anh em với thánh Gioan. Là người chài lưới khi Chúa Giêsu gọi ngài làm môn đệ hiến trọn đời cho sứ mạng rao giảng tin mừng. Là người lãnh đạo can trường của Giáo hội, Giacôbê đã bị chặt đầu ở Giêrusalem. Người lính Rôma có nhiệm vụ canh gác Ngài đã kinh ngạc chứng kiến thánh nhân bảo vệ niềm tin trước toà án. Sau này, người lính này cùng đi với Giacôbê tới nơi xử hình. Bị thuyết phục bởi niềm tin, chính ông đã tuyên xưng niềm tin mới với quan toà, và quỳ xuống bên cạnh thánh Giacôbê chấp nhận bị chặt đầu vì là người Kitô hữu.

4- John (Gioan): con ông Giê-bê-đê, được Chúa Giêsu gọi là Môn đệ yêu dấu. Đối diện với cái chết tử đạo khi bị nấu trong nồi dầu sôi trong cuộc bách hại tôn giáo ở Rôma. Nhưng lạ thay, ngài được cứu thoát khỏi cái chết. Thánh Gioan bị kết án đi làm hầm mỏ tại trại tù ở đảo Patmos. Tại đây, Ngài đã viết cuốn sách Khải Huyền chứa đầy những lời tiên tri. Thánh Gioan được trả tự do, và trở về làm Giám mục ở Edessa, Thổ Nhĩ Kỳ. Ngài chết vì già yếu. Ngài duy nhất là tông đồ đã chết một cách bình an.

5- Philip (Philiphê): người thành Bethsaida xứ Galilee, bị đóng đinh.

6- Bartholomew (Batôômêô): con trai của Talemai. Ngài làm chứng cho Chúa ở Thổ Nhĩ Kỳ. Batôômêô tử vì đạo vì đã giảng đạo ở Armenia, nơi mà ngài bị quất bằng roi cho tới chết.

7- Thomas (Tôma): vị thánh duy nhất không tin Chúa Phục sinh, và sau đó đã tin vì đã được thọc tay vào vết thương nơi cạnh sườn của Chúa. Ngài chết vì bị đâm bởi lưỡi đòng ở Ấn độ, trong một chuyến đi truyền giáo nhằm thiết lập hội thánh tại tiểu lục địa này.

8- Matthew (Mát-thêu): người thu thuế, con trai của Alphaeus. Tử đạo ở Ethiopia, chết vì vết thương của lưỡi gươm.

9- James (Giacôbê): con ông Alphaeus. Là người lãnh đạo hội thánh ở Giêrusalem, bị quăng hơn một trăm feet xuống đất từ hướng Đông Nam trên đỉnh của Đền thờ, sau khi ngài không chịu từ chối niềm tin vào Chúa Kitô. Khi người ta khám phá ra là ngài vẫn còn sống mặc dù bị quăng xuống đất từ trên cao, những kẻ thù của ngài đã đánh ngài tới chết bằng cây gậy của người thợ hồ vải. Đỉnh đền thờ này cũng là nơi mà ma quỷ trước kia đã đưa Chúa Giêsu lên để cám dỗ Ngài.

10- Thaddaeus (Tađêô): trong Phúc âm Luca gọi là Giuđa, con của Giacôbê. Bị đóng đinh.

11- Simon: người Canaan, bị đóng đinh.

12- Judas Iscariot (Giuđa “kẻ bội phản”): người đã nộp Chúa Giêsu cho người Do Thái, sau đó hối hận và đi treo cổ tự tử.

13- Mathias (Mátthia): thay thế môn đệ Giuđa phản bội, bị ném đá và bị chặt đầu.

14- Thánh Paul (Phaolô): trở nên môn đệ của Chúa Giêsu, sau khi bị Chúa cho té ngựa trên đường đi Đamát bách hại dân Chúa. Phaolô đã tán thành việc ném đá ông Têphanô. Ngài bị tra tấn và sau đó bị chặt đầu bởi hoàng đế Nerô ở Rôma. Thánh Phaolô đã bị giam trong tù một thời gian dài, nhờ đó mà ngài đã có thời gian viết các thư gởi cho các tín hữu của các hội thánh, mà ngài đã thiết lập khắp nơi. Những thư này đã dạy những giáo điều làm nền tảng của Kitô giáo, và các thư này chiếm phần lớn trong sách Tân Ước.

15- Têphanô Vị tông đồ tử vì đạo đầu tiên. Ngài bị ném đá cho tới chết vì bị cho là nói phạm thượng.

16- Mark (Maccô): tác giả sách Tin Mừng. Qua đời ở Alexandria, Ai cập, sau khi bị ngựa kéo trên đường cho tới chết.

17- Luke (Luca): tác giả sách Tin Mừng. Bị treo cổ ở Greece sau cuộc rao giảng cho người ngoại.

Những cái chết của các tông đồ Chúa Kitô nhắc nhở chúng ta rằng, những đau khổ và thử thách của chúng ta thì nhỏ bé so với những sự bách hại lớn lao và sự đối sử tàn nhẫn mà các tông đồ xưa đã phải chịu trong việc bảo vệ niềm tin. Lời Chúa Giêsu đã nói: ”Vì danh Thầy, người ta sẽ ghét bỏ các con, nhưng những ai bền đỗ đến cùng, người ấy sẽ được cứu thoát:. (Mt 10:22).

Mỗi người Chúa ban cho sức mạnh đủ để chịu những thử thách như lời Chúa nói: Ơn Thầy sẽ đủ cho con. Hãy vững niềm tin vào Chúa.

Xu hướng gia tăng việc chống người thi hành công vụ ở VN

Xu hướng gia tăng việc chống người thi hành công vụ ở VN

Anh Vũ, thông tín viên RFA
2016-01-02

000_Hkg8090526-622.jpg

Công an đàn áp người biểu tình chống TQ ở Hà Nội hồi năm 2012.

AFP

Your browser does not support the audio element.

Tình trạng chống người thi hành công vụ đang diễn ra phổ biến ở tất cả các tỉnh thành trong cả nước và có xu hướng gia tăng phức tạp. Nguyên nhân do đâu và cần giải pháp nào để giảm bớt tình trạng này?

Nguyên nhân

Gần đây ở Việt Nam, tình trạng chống lại người thi hành công vụ đang có xu hướng gia tăng, với các hành vi chống đối ngày càng manh động, liều lĩnh, thể hiện sự coi thường pháp luật và kỷ cương xã hội của một bộ phận người dân.

Theo báo cáo của Chính phủ về tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII, tình trạng chống người thi hành công vụ, nhất là chống lại lực lượng công an ngày càng gia tăng. Đã xảy ra 922 vụ chống người thi hành công vụ, trong đó 673 vụ chống lại lực lượng công an.

Một nhân viên cảnh sát giao thông ở Hà nội, yêu cầu dấu danh tính cho biết:

“ Tình trạng chống người thi hành công vụ hiện nay ở Việt Nam đang có xu hướng gia tăng, nó thường xảy ra trong các lĩnh vực buôn lậu, buôn hàng cấm, giao thông đường bộ, đường thủy, hay việc khai thác tài nguyên khoáng sản và thu hồi đất đai. Với mức độ hết sức nghiêm trọng và xảy ra ở hầu hết các địa phương.
-LS Hà Huy Sơn”

“Trong thời gian qua, trong quá trình tuần tra kiểm soát của lực lượng CSGT đã gặp rất nhiều đối tượng tham gia giao thông nhưng không chấp hành hiệu lệnh của cảnh sát. Thậm chí có những hành vi chống lại lực lượng cảnh sát.”

Đánh giá về tình trạng chống người thi hành công vụ hiện nay, từ Hà nội LS Hà Huy Sơn – Giám đốc Cty Luật TNHH Hà Sơn nói với chúng tôi:

“Tình trạng chống người thi hành công vụ hiện nay ở Việt Nam đang có xu hướng gia tăng, nó thường xảy ra trong các lĩnh vực buôn lậu, buôn hàng cấm, giao thông đường bộ, đường thủy, hay việc khai thác tài nguyên khoáng sản và thu hồi đất đai. Với mức độ hết sức nghiêm trọng và xảy ra ở hầu hết các địa phương.”

Theo báo Pháp luật online cho biết, ngày 28/12/2015,  phát biểu tại phiên họp trực tuyến Chính phủ và các địa phương, Đại tướng Trần Đại Quang – Bộ trưởng Bộ Công an cho biết, năm 2015 riêng trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đã xảy ra 37 vụ chống CSGT khiến 9 cảnh sát bị thương, còn tính trong 5 năm (2011-2015) thì có 231 vụ khiến 1 CSGT hy sinh, 76 bị thương.

Bình luận về tình trạng chống người thi hành công vụ đang có xu hướng gia tăng hiện nay, ông Mai Dũng, một nhà hoạt động xã hội ở Hà nội nhận xét:

“Theo tôi nghĩ điều đó hoàn toàn phù hợp với logic, tình trạng chống người thi hành công vụ đang diễn ra khá nghiêm trọng. Trong điều kiện những người thi hành công vụ tỏ ra bất chấp pháp luật, còn người dân thì mất niềm tin, dù rằng họ vẫn sợ. Nhưng số có hiểu biết thì họ đã vượt qua được nỗi sợ hãi, thì họ chấp nhận đối kháng và họ sẵn sàng chấp nhận mọi rủi ro.”

Khi được hỏi, nguyên nhân do đâu đã khiến tính trạng chống người thi hành công vụ trở nên hết sức phổ biến?

000_Hkg5086113-600.jpg

Một vụ công an cưỡng chế nhà ở Hà Nội. Ảnh minh họa.

Có rất nhiều nguyên nhân và nhiều lý do khác nhau dẫn đến việc người dân bức xúc hay phẫn uất, song thái độ của nhân viên công vụ là nguyên nhân trực tiếp nhất. LS Hà Huy Sơn nhận định:

“Do đời sống người dân hết sức khó khăn, họ bị dồn vào con đường cùng quẫn. Thứ 2 là sự bất công, thiếu công bằng khi mà pháp luật chỉ phục vụ cho một nhóm người mà không phục vụ cho toàn xã hội. Nhiều người có quyền lực trong bộ máy nhà nước đã sử dụng quyền lực để phục vụ lợi ích của cá nhân, vì thế người dân đã phản ứng và chống lại lực lượng thi hành công vụ.”

Giải thích về các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, về các quy định xử phạt đối với hành vi chống người thi hành công vụ, LS Hà Huy Sơn cho biết: Điều 257 BLHS về tội chống người thi hành công vụ quy định: người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thì sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Nếu phạm tội có tổ chức; phạm tội nhiều lần; gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm. LS Hà Huy Sơn tiếp lời:

“Khi chưa đến mức độ phải xử lý hình sự thì người ta sẽ tiến hành xử phạt hành chính, hoặc là phạt tiền, tịch thu tang vật và phương tiện. Về mặt xử lý hình sự thì tại điều 257 của Bộ Luật hình sự đã quy định rõ: người nào sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng các thủ đoạn khác để cản trở hoặc ép buộc người thi hành công vụ thực hiện các hành vi trái pháp luật.”

Giải pháp

Nói về các giải pháp nhằm hạn chế và giảm thiểu tình trạng chống người thi hành công vụ. LS Hà Huy Sơn đề xuất:

“ Một mặt thì chính quyền gia tăng đàn áp để đe dọa nhằm làm cho sự sợ hãi của dân chúng tăng lên. Nhưng trong một xã hội vô pháp như hiện nay thì người dân đã hết sợ hãi rồi, cho nên để giải quyết vấn đề này sẽ hết sức bế tắc. Do vậy, nếu muốn xã hội ổn định thì họ phải chấm dứt việc đàn áp.
-Ông Mai Dũng”

“Nhà nước Việt Nam phải quản lý nhà nước trên cơ sở tôn trọng và tuân thủ các giá trị phổ quát của thế giới, như tôn trọng quyền công dân, tôn trọng nhân quyền. Việt Nam phải xây dựng một nhà nước pháp quyền, để có sự cân bằng giữa 3 cơ quan quyền lực, khi đó công lý mới có thể được đảm bảo và nó mới tránh được cái tình trạng như hiện nay, đó là pháp luật chỉ bênh vực cho một nhóm người thay vì toàn xã hội. Muốn thế phải thực sự tôn trọng quyền làm chủ đất nước của người dân, phải có bầu cử, ứng cử tự do và thực sự.”

Theo báo Lao động online, ThS. Luật học Văn Khắc Hùng, cho rằng để hạn chế tình trạng chống người thi hành công vụ, thì ngay trong lực lượng cảnh sát, nhất là cảnh sát giao thông cũng phải thực hiện nhiều biện pháp điều chỉnh hành vi, tác phong, cách thức giao tiếp, ứng xử để có những kỹ năng giải quyết mâu thuẫn giữa người thực thi pháp luật và người vi phạm, để giảm thiểu nguy cơ gây ức chế, tránh xảy ra các hành vi chống đối.

Nguyên nhân gốc rễ của vấn đề này là do, chính sách pháp luật cũng như cách hành xử của nhân viên công vụ mang tính chất đàn áp, hòng làm cho sự sợ hãi của dân chúng tăng lên. Ông Mai Dũng khẳng định:

“Một mặt thì chính quyền gia tăng đàn áp để đe dọa nhằm làm cho sự sợ hãi của dân chúng tăng lên. Nhưng trong một xã hội vô pháp như hiện nay thì người dân đã hết sợ hãi rồi, cho nên để giải quyết vấn đề này sẽ hết sức bế tắc. Do vậy, nếu muốn xã hội ổn định thì họ phải chấm dứt việc đàn áp.”

Theo báo Pháp luật online cho biết, tình trạng chống người thi hành công vụ không chỉ trở thành nỗi lo thường trực đối với lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ, mà còn thể hiện sự coi thường kỷ cương, pháp luật và trật tự xã hội của người dân. Việc tấn công nhà ở của các quan chức, như vụ nổ mìn sập nhà Giám đốc Công an Thái nguyên cách đây chưa lâu, hay việc nhà phó trưởng công an Phủ lý bị xả đạn mới đây đã cho thấy điều đó.

Việt Nam không thể có Than Shwe, Thein Sein

Việt Nam không thể có Than Shwe, Thein Sein
Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Than Shwe là vị tướng đã dám thí nghiệm dân chủ hóa nhằm thay thế chế độ độc tài quân phiệt ở Myanmar với một “lộ trình dân chủ.” Dân chúng được bỏ phiếu bầu Quốc Hội, Quốc Hội bầu tổng thống, vân vân, ít nhất là dân chủ trên hình thức. Tướng Thein Sein đắc cử tổng thống đã tiến thêm một bước thứ hai, thêm một nội dung: Trả lại các quyền tự do căn bản cho dân Miến Ðiện, cho phép đảng đối lập hoạt động và tranh cử. Sau cuộc bầu cử tự do và trong sạch ở Myanmar trong Tháng Mười Một năm 2015, mà đảng đối lập chiếm đa số cao, nhiều người Việt tự hỏi liệu có một Than Shwe hay Thein Sein ở nước ta hay không?

Xin trả lời ngay rằng: Rất khó. Chuyện gì cũng có thể xảy ra, nhưng xác suất để một nhân vật như Than Shwe hay Thein Sein xuất hiện trong đời sống chính trị Việt Nam rất thấp, dưới 10%, có thể dưới 3%.

Một chế độ độc tài chuyển sang dân chủ hóa thường xảy ra do ba động cơ. Có khi chế độ cũ sụp đổ do nguyên nhân từ bên ngoài. Dân Bồ Ðào Nha nổi lên đòi dân chủ sau khi thất trận ở Angola, các sĩ quan cấp tá đảo chính để tiến đến dân chủ hóa. Các cuộc Cách Mạng Mầu Cam và Mùa Xuân Á Rập do ảnh hưởng từ các nước láng giềng. Nhiều chế độ độc tài tan vỡ sau khi nhân dân nổi lên, như ở Phi Luật Tân, ở Ðài Loan và Nam Hàn. Và có những cuộc chuyển hóa diễn ra nhờ sự thỏa hiệp giữa chính quyền độc tài và các thế lực đối nghịch. Ba Lan, Tiệp Khắc, Chile, Brazil, Argentina đã đi theo con đường đó. Ba hình thái chuyển đổi này có thể trộn lẫn với nhau.

Myanmar là một trường hợp đặc biệt. Có một chút áp lực từ bên ngoài, là hành động cấm vận của các nước Tây phương và âm mưu thao túng của Trung Cộng làm dân Miến nổi giận. Dân bất mãn biểu tình năm này sang năm khác tạo thêm chút áp lực từ bên trong. Chính quyền quân phiệt đã trả tự do cho dân và thương thuyết với bà Aung San Suu Kyi để Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ (NLD) tham gia tranh cử, khởi động quá trình dân chủ hóa. Nhưng những áp lực bên trong cũng như bên ngoài thực ra chưa đủ mạnh khiến các tướng lãnh chịu thay đổi. Cuộc thỏa hiệp cũng diễn ra một chiều, vì khi Thein Sein gặp Suu Kyi thì phía đối lập trong thực tế không có gì để trao đổi cả.

Bà Suu Kyi đã khôn ngoan chấp nhận những nhượng bộ nhỏ nhất, Liên Minh NLD đưa người ra tranh cử trong một cuộc bỏ phiếu bổ túc chỉ chọn một số nhỏ, 40 người trong số các đại biểu Quốc Hội. Tiến trình dân chủ hóa được thực hiện nhờ Thein Sein và Than Shwe đã thuyết phục Suu Kyi tin rằng họ thực tâm muốn thay đổi. Niềm tin này có được là nhờ yếu tố văn hóa: Người Miến Ðiện tin nhau, tin rằng họ đều yêu nước, tin không người Miến nào chịu làm tay sai cho ngoại bang. Người Miến nào cũng nhớ lịch sử, vua Càn Long nhà Thanh đã từng xâm lăng Miến Ðiện hai lần chỉ để độc chiếm quyền khai thác các mỏ đá quý và ngọc, và ông ta đã thất bại. Giới lãnh đạo quân phiệt Miến Ðiện không bị ràng buộc với Trung Cộng vì một chủ nghĩa, một lý thuyết nào. Những người Miến Ðiện này có thể tin nhau được; vì sau khi quan sát các hành động, cách ứng xử của nhau, họ biết rằng tất cả vẫn cùng chia sẻ một niềm tin vào luật nhân quả; tất cả vẫn sống theo các quy tắc đạo lý chung: Tự giải thoát khỏi ba chất độc Tham, Sân và Si; đặt công ích lên trên tư lợi.

Có thể nói ngay rằng yếu tố văn hóa “Niềm Tin” này chưa thấy hy vọng được thể hiện ở nước ta trong hoàn cảnh hiện nay. Không phải vì người Việt Nam vốn không tin nhau, dân mình không đến nỗi tệ như vậy. Nhưng vì môi trường chính trị nước ta đã bị nhiễm độc sau hơn nửa thế kỷ mọi người phải sống trong không khí dối trá, với một chính quyền dùng bạo lực và dối trá như hai phương tiện cai trị quan trọng nhất. Và tới giờ họ vẫn tiếp tục như vậy.

Nhưng liệu ở nước ta có thể xuất hiện những người như Than Shwe, Thein Sein hay không?

Như đã trình bày trong bài trước, giới lãnh đạo quân phiệt ở Myanmar đã chấp nhận thay đổi khi Tướng Than Shwe còn nắm quyền, năm 2003 ông ta phát khởi bảy bước dân chủ hóa trên hình thức. Thein Sein là người được chọn để thi hành bước kế tiếp, trả lại các quyền tự do căn bản cho dân Miến. Quá trình này không phải chỉ nhờ vào hai vị tướng lãnh đó muốn mà chắc chắn phải được các tướng lãnh khác đồng ý. Một điều chúng ta phải chú ý là trong 12 năm qua không có một tướng lãnh nào tỏ ý phản đối lộ trình của Than Shwe. Nhất là trong ba năm qua Thein Sein và Suu Kyi có thể cùng tiến từng bước một mà “thái thượng hoàng” Than Shwe cũng như các tướng lãnh khác không một người nào can thiệp để ngăn cản. Sau cuộc bỏ phiếu ngày 8 Tháng Mười Một vừa qua, tất cả những người đang nắm thực quyền, từ tổng thống đến chủ tịch Quốc Hội và vị tướng tổng chỉ huy quân đội, đều công khai chấp nhận kết quả là đảng NLD đã toàn thắng. Ông Than Shwe còn gặp bà Suu Kyi để sau đó nói rõ ràng là bà xứng đáng lãnh đạo đất nước.

Liệu đảng Cộng Sản Việt Nam có thể hành động như nhóm tướng lãnh quân phiệt ở Myanmar hay không?

Ðiều này rất khó, vì hai nhóm người này khác nhau nhiều quá.

Các tướng lãnh Miến Ðiện cướp chính quyền năm 1962 vì họ không tin vào chế độ dân chủ, vì muốn giúp nước chứ không phải vì muốn thực hiện một thứ chủ nghĩa nào cả. Tướng Newin công bố theo “chủ nghĩa xã hội” vì ông tin đó là một phương tiện tốt nhất để phát triển. Ông ta chỉ theo thời thế, lúc đó tầng lớp lãnh đạo ở các nước nghèo đều mơ mộng như vậy, Ấn Ðộ, Ai Cập, Indoneisia, Cuba, vân vân. Mục đích của họ vẫn là giúp nước, khi thấy phương tiện không hữu ích thì sẵn sàng bỏ đi. Các chế độ quân phiệt dễ được chuyển hóa vì họ đặt quyền lợi tổ quốc và nhân dân trên cao hơn tất cả các phương tiện, trong đó có thể chế chính trị và phương pháp tổ chức kinh tế.

Ðảng Cộng Sản thì khác. Họ tin chủ nghĩa Marx-Lenin như tin một tôn giáo; Stalin đã biến phong trào Cộng Sản thành một thứ “giáo hội” để dễ thao túng. Ðối với một người sùng tín thì niềm tin của họ quan trọng hơn các giá trị thế tục, trong đó có cả những khái niệm như quốc gia và “Tổ quốc.” Biết người Việt nào cũng yêu nước, đảng Cộng Sản đã hô hào bắt dân phải yêu “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” chứ không phải yêu Tổ quốc nào cũng được. Chủ nghĩa Xã Hội là cứu cánh. Ngay từ căn bản đó, người Cộng Sản không thể hành động giống như các tướng lãnh quân phiệt.

Ngày nay, các đảng viên Cộng Sản cũng không còn tin vào chủ nghĩa của họ nữa. Nhưng họ vẫn cố bám lấy nhãn hiệu đó để biện minh tại sao họ phải duy trì chế độ độc tài chuyên chế. Bỏ độc quyền chuyên chế tức là bỏ chủ nghĩa Lenin, một phương cách thực hiện chủ nghĩa Marx. Ðường lối này lại rất ích lợi cho họ trong thực tế, vì những người cầm đầu đảng đã trở thành một khối quyền lợi riêng vĩ đại, cần cấu kết với nhau để bảo vệ các quyền lợi đó. Ðề cao chủ nghĩa Marx-Lenin là thủ đoạn cần thiết để duy trì guồng máy thống trị, tiếp tục hưởng các đặc quyền đặc lợi.

Các tướng lãnh ở Myanmar tự bản chất đã có địa vị trong xã hội. Dù theo thể chế chính trị nào thì nước họ vẫn cần có quân đội, nhất là ở một quốc gia luôn luôn bị đe dọa có nội chiến, với những nhóm chủng tộc khác nhau, đã từng chống lại chính quyền trung ương trong nhiều thế kỷ. Quyền của các tướng lãnh là do cấp bậc mà có, không ai phủ nhận được. Những lãnh tụ quân phiệt biết rằng dù quyền lợi của họ có giảm đi nhưng vẫn còn đó, thay đổi thể chế là một hy sinh có thể chấp nhận được.

Ngược lại, các lãnh tụ Cộng Sản, và ngay cả các cán bộ, đảng viên trung cấp, biết rằng chính họ không có một địa vị xã hội nào ở bên ngoài cái guồng máy đã áp đặt trên cả xã hội cho phép họ thao túng. Ðịa vị và tài sản của họ đều nhờ guồng máy đó mà đạt được. Trong các chế độ Cộng Sản, nghỉ hưu nghĩa là mất địa vị, mất quyền lợi. Các lãnh tụ còn giữ được chút quyền và hưởng chút lợi chỉ nhờ đã giỏi gài đặt đàn em cùng phe cánh thừa kế, sẵn sàng chia sẻ cho. Nhưng muốn vậy, điều kiện quan trọng nhất là chế độ vẫn tồn tại, nếu không sẽ mất hết.

Hơn nữa, tại Myanmar các nhân vật như Than Shwe và Thein Sein vẫn được các tướng lãnh khác kính trọng, họ sẵn sàng đi theo các thủ lãnh trên đường dân chủ hóa. Họ bảo được nhau, hòa thuận với nhau. Ở Myanmar nền luân lý cổ truyền vẫn còn mạnh, con người ăn ở với nhau bằng những quy tắc luân lý ai cũng tin theo. Ðảng Cộng Sản Việt Nam hoàn toàn khác. Họ đã xóa bỏ các quy tắc luân lý cũ trong suốt 80 năm qua; quy tắc luân lý cao nhất được Hồ Chí Minh đề ra là “tuân theo lệnh đảng.” Giờ đây các lãnh tụ đang “chửi bới” nhau như hàng tôm hàng cá, cạn tàu ráo máng. Nếu không vì quyền lợi liên kết, dứt nhau ra là nguy, chắc họ có thể giết nhau rồi. Bất cứ ai muốn trở thành Than Shwe hay Thein Sein ở Việt Nam cũng sẽ bị cả khối người đang hưởng các các đặc quyền đặc lợi chống đến cùng. Vì vậy, xác suất để cho Than Shwe hay Thein Sein xuất hiện có thể chỉ dưới 2%, 3%.

Nhưng dù có người muốn đóng vai Than Shwe hay Thein Sein ở nước ta thì con đường dân chủ hóa vẫn còn khó. Bởi vì cho tới nay cả nước không có một Aung San Suu Kyi và một Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ.

Cuộc vận động dân chủ hóa không thể từ trên ban xuống mà thành, cần phải được thúc đẩy bởi những động lực từ dưới dâng lên. Muốn vậy, người Việt Nam cần một cuộc vận động đòi tự do dân chủ khắp nơi, trong tất cả các tầng lớp xã hội, để kết tụ thành một phong trào có thế mạnh và có thực chất. Nhiều nhóm người yêu nước và tỉnh thức đã bắt đầu trong hai chục năm qua. Tấm gương Myanmar có thể giúp dân Việt Nam thêm hăng hái tiến hành cuộc vận động này nhanh hơn.