Trong một cuộc bầu cử dân chủ, người dân Đài Loan chọn Tổng thống phụ nữ đầu tiên

Trong một cuộc bầu cử dân chủ, người dân Đài Loan chọn Tổng thống phụ nữ đầu tiên

CTV Danlambao – Ông Chu Lập Luân (Eric Chu) của Quốc Dân Đảng đã chấp nhận thua cuộc và chúc mừng bà Thái Anh Văn (Tsai Ing-wen) của Dân Tiến Đảng trở thành người phụ nữ Đài Loan đầu tiên được người dân tín nhiệm vào vai trò lãnh đạo quốc gia.

Chiến thắng của bà Thái Anh Văn đã là mối quan ngoại của Bắc Kinh khi bà và Dân Tiến Đảng (DPP – Democratic Progressive Party) chấm dứt 8 năm cầm quyền của Quốc Dân Đảng (KMT – Kuomintang) là đảng cầm quyền vốn có khuynh hướng phò Bắc Kinh.

Dân Tiến Đảng do bà Thái Anh Văn lãnh đạo được xem là đảng có truyền thống bảo vệ nền độc lập của Đài Loan đối với Trung hoa lục địa và không chấp nhận tuyên bố của Bắc Kinh về việc quốc đảo này là một phần của Trung cộng.

Trong những năm vừa qua, việc cựu tổng thống Mã Anh Cửu thuộc Quốc Dân Đảng thúc đẩy mối quan hệ gần gủi hơn với Bắc Kinh đã dẫn đến nhiều cuộc biểu tình phản đối của dân chúng Đài Loan.

Do đó, chiến thắng của bà Thái Anh Văn là một thông điệp hùng hồn nhất của người dân Đài Loan gửi đến Bắc Kinh về khát vọng độc lập của họ.

Đây cũng là một thông điệp gửi đến những chính trị gia Đài Loan thoả hiệp với Bắc Kinh làm tổn hại đến nền độc lập của Đài Loan.

Không những thất bại với cuộc tranh cử chức vụ Tổng thống, Quốc Dân Đảng cũng đang đối diện với nguy cơ mất ghế đa số trong cuộc bầu cử quốc hội với 556 ứng viên từ nhiều đảng khác nhau đang tranh cử cho 113 ghế.

Ngay trong tuyên bố đầu tiên với báo chí sau khi thắng cử, bà Thái Anh Văn đã cảnh báo Bắc Kinh rằng mọi hành vi gây hấn từ Bắc Kinh sẽ làm tổn hại đến quan hệ hai nước.

Phát ngôn nhân Trung cộng là Hồng Lỗi trước đó đã tuyên bố gây hấn: “Chính phủ Trung Quốc rất cứng rắn và không bao giờ chấp nhận bất kỳ hành hoạt động ly khai nào của một Đài Loan độc lập”.

Bắc Kinh vẫn luôn xem Đài Loan là một tỉnh ly khai và không công nhận Đài Loan là một quốc gia độc lập.

Bà Thái Anh Văn, 59 tuổi, là con gái nhỏ nhất trong một gia đình 9 người con. Bà tốt nghiệp cử nhân luật tại đại học Quốc gia Đài Loan, thạc sỹ luật tại đại học nổi tiếng Cornell, Hoa Kỳ và tiến sỹ tại Đại học Kinh tế Luân Đôn.

Trở về nước năm 1984, bà là giáo sư đại học và sau đó làm việc cho chính phủ, trở thành cố vấn an ninh cho tổng thống Lý Đăng Huy thuộc Quốc Dân Đảng.

Năm 2008 bà trở thành chủ tịch Dân Tiến Đảng. Bà là tổng thống thứ 2 của Đài Loan thuộc Dân Tiến Đảng. Người đầu tiên là tổng thống Trần Thủy Biển đã thắng cử nhờ vào chủ trương độc lập của ông và là tổng thống Đài Loan từ năm 2000 – 2008.

17.01.2016

Mười hai lời khuyên của Đức Phanxicô cho các gia đình

Mười hai lời khuyên của Đức Phanxicô cho các gia đình

Đức Phanxicô gặp gia đình Catire và Noel Walker và các con, từ trái, Cala, Dimas, Mia và Carmin) ngày chúa nhật tại Đại chủng viện San Carlos Borromeom, Philadelphia. 2

 Từ khi nhậm chức đến bây giờ, Đức Phanxicô liên tục nói với các cha mẹ, ông bà, trẻ em. Đây là một vài lời khuyên đẹp nhất của ngài.

  1.   “Xin vui lòng”, “Cám ơn”, “Tha thứ”. Đó là những chữ giúp cho gia đình sống trong bầu khí bình an. Những chữ đơn giản nhưng không dễ để thực hiện! Nó bao gồm một sức mạnh lớn lao: sức mạnh bảo vệ tổ ấm gia đình dù phải qua muôn vàn thử thách và khó khăn. Nhưng nếu không có những chữ này thì gia đình sẽ có những nứt rạn có thể dẫn đến tan vỡ.
  2.     Chữ đầu tiên là “Xin vui lòng,” khi chúng ta nhẹ nhàng xin một chuyện, dù chúng ta nghĩ chuyện này là chuyện mình có quyền được, thì chúng ta đã bảo vệ được bầu khí cùng sống chung của vợ chồng và gia đình. (…) Dù chúng ta xem như đã biết nhau, nhưng đừng nghĩ một khi có là có mãi mãi.
  3.  Trước khi làm một cái gì trong gia đình, chúng ta cũng xin: “Xin vui lòng, tôi có thể?”. Ngôn ngữ lịch sự này đầy cả tình yêu và tạo nhiều điều tốt đẹp trong gia đình.
  4.  Một tín hữu không biết cám ơn là một tín hữu đã quên ngôn ngữ của Chúa.
  5.   Có một hôm, tôi nghe một người rất lớn tuổi, rất tốt, rất đơn sơ, rất khôn ngoan nhưng khôn ngoan của một tấm lòng mộ đạo, một tấm lòng yêu cuộc sống: “Lòng biết ơn chỉ lớn lên trong mãnh đất của những tâm hồn cao thượng”. Tấm lòng cao thượng này là ơn Chúa trong tâm hồn chúng ta, thúc đẩy chúng ta nói lên lời cám ơn, lên tâm tình tri ân.
  6.  “Tha thứ”. Đó là một chữ khó khăn nhưng lại rất cần thiết. Khi chữ này không được nói lên thì các rạn nứt nhỏ sẽ banh rộng ra (…).
  7.  Nhận biết mình sai lầm và muốn chuộc lại những gì đã bị lấy mất – lòng tôn kính, chân thành, tình yêu – là làm cho sự tha thứ thành chính đáng. (…) Nếu chúng ta không xin lỗi được, có nghĩa là chúng ta không biết tha thứ. (…) Bao nhiêu tổn thương tình cảm và rạn nứt trong gia đình bắt đầu vì không nói lên được chữ “tha thứ”.
  8. Không thể nào tránh cãi vã trong đời sống vợ chồng nhưng tôi có một lời khuyên: đừng bao giờ kết thúc một ngày mà chưa làm hòa! (…) Và làm hòa như thế nào? Quỳ gối xuống? Không! Một cử chỉ nhỏ là đủ, chỉ một cử chỉ nhỏ, hòa khí trong gia đình sẽ trở lại (Buổi tiếp kiến chung 13 tháng 5-2015).
  9. Chúa Giêsu được sinh ra trong một gia đình. Ngài có thể sinh ra là chiến binh, là hoàng đế… Không, Ngài xuống thế gian như một người con trong một gia đình.
  10.  Biết bao nhiêu người mẹ học được lòng quan tâm của Mẹ Maria cho Con của mình! Biết bao nhiêu người cha đã học từ Thánh Giuse, một người công chính, hiến cả cuộc đời mình để nâng đỡ và bảo vệ vợ con mình trong những lúc khó khăn! Và Chúa Giêsu ở tuổi vị thành niên đã khuyến khích các người tìm hiểu để thấy sự cần thiết và nét đẹp cần phải vun trồng cho ơn gọi sâu đậm hơn, ước mơ cao cả hơn!
  11.  Như Đức Mẹ và Thánh Giuse, mỗi gia đình đều có thể đón nhận Chúa Giêsu. Lắng nghe Ngài, nói chuyện với Ngài, cùng ở chung với Ngài, bảo vệ Ngài và lớn lên với Ngài; và như thế mới cải thiện được thế giới (…) Đó là sứ mệnh lớn lao của gia đình: dành một chỗ để Chúa Giêsu đến, đón nhận Chúa Giêsu vào gia đình để Ngài lớn lên về mặt thiêng liêng trong gia đình này (Buổi tiếp kiến chung 17-12-2014).
  12.  Các bà mẹ là chất khử độc mạnh nhất cho chủ nghĩa ích kỷ cá nhân. “Cá nhân” có nghĩa là “không chia được”. Ngược lại, các bà mẹ “chia sẻ” ngay khi họ đem đứa con ra chào đời và nuôi nó lớn lên. (…) Một xã hội không có các bà mẹ thì không phải là một xã hội của loài người vì, dù trong những giây phút đau buồn nhất, các bà mẹ cũng là chứng nhân của tấm lòng tận tâm, dịu dàng, chứng nhân của sức mạnh tinh thần. (…) Không có các bà mẹ, không những không có các tín hữu mới mà đức tin sẽ mất đi phần lớn sự nồng ấm đơn giản và sâu đậm (Buổi tiếp kiến chung 7 tháng 1-2015).

Marta An Nguyễn chuyển dịch

Hàng ngàn phụ nữ, trẻ em Việt bị ép bán dâm, lao động khổ sai

Hàng ngàn phụ nữ, trẻ em Việt bị ép bán dâm, lao động khổ sai
Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Đó là thông tin do Bộ Công An Việt Nam công bố khi thảo luận về việc chống buôn người ở khu vực biên giới Việt Nam-Cambodia-Lào giữa cơ quan bảo vệ pháp luật của ba quốc gia.

Công an Việt Nam đang lấy lời khai của một nhóm thiếu nữ Việt Nam bị bán sang Malaysia. (Hình: An Ninh Hải Phòng)

Một viên thiếu tướng là cục trưởng Cục Hình Sự của Bộ Công An Việt Nam cho biết, mỗi năm, số vụ buôn người xảy ra ở khu vực biên giới Việt Nam-Cambodia-Lào chiếm khoảng 6% tổng số vụ buôn người bị phát giác tại Việt Nam.

Nạn nhân của các vụ buôn người qua Cambodia và Lào sống tại nhiều tỉnh, thuộc nhiều khu vực: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông (Tây Nguyên), Bình Phước, Tây Ninh (Đông Nam bộ), Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang (Tây Nam bộ), Điện Biên, Sơn La (Tây Bắc), Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Huế, Quảng Nam (miền Trung)…

Đáng chú ý đa số nạn nhân đều là phụ nữ, trẻ em. Khi sập bẫy của các tổ chức buôn người, các nạn nhân bị ép làm mại dâm trong các tiệm cắt tóc, gội đầu, massage trá hình hoặc bị ép buộc làm việc trong các cơ sở kinh doanh, dịch vụ, công trường, đặc biệt là các mỏ.

Viên cục trưởng Cục Hình Sự của Bộ Công An Việt Nam thừa nhận, các tổ chức buôn người đã móc nối, câu kết chặt chẽ với nhau, tạo thành những đường dây buôn người xuyên quốc gia, theo một quy trình khép kín từ khâu tuyển chọn, lừa gạt, vận chuyển, đến giao dịch và bóc lột.

Một viên thượng tá của công an tỉnh Nghệ An, nói thêm, tham gia buôn người có cả những người từng là nạn nhân. Đây là những người có mặc cảm bị bỏ rơi, lại nắm được phương thức, thủ đoạn lừa gạt phụ nữ và trẻ em, am hiểu địa bàn và nhu cầu của “con mồi” nên khi được những kẻ từng buôn bán mình móc nối, họ thực hiện nhiều phương thức hữu hiệu trong lừa gạt, khống chế các nạn nhân mới và điều tra rất khó khăn.

Dẫu có ít nhất 3,000 phụ nữ, trẻ em Việt Nam đang bị ép bán dâm, lao động khổ sai nhưng cả năm vừa qua, công an Việt Nam chỉ giải cứu được 40 nạn nhân. Sở dĩ số nạn nhân được giải cứu thấp là vì “nghiệp vụ điều tra chưa cao.” Quản lý trong lĩnh vực xuất cảnh – nhập cảnh và quản lý các cơ sở kinh doanh như nhà hàng, khách sạn, quán bar, casino,… dọc biên giới còn lỏng lẻo.

Con số 3,000 tuy đã là rất lớn nhưng không thấm vào đâu so với thực tế của tệ nạn buôn người tại Việt Nam. Nếu công an Việt Nam thống kê và loan báo cả số nạn nhân bị bán từ Việt Nam sang Trung Quốc thì chắc chắn con số đó sẽ làm nhiều người kinh hoàng.

Chính quyền Việt Nam từng công bố một thống kê, theo đó, trong thập niên vừa qua, có đến 22,000 phụ nữ và trẻ em bị bán sang Trung Quốc, bị ép làm vợ đàn ông Trung Quốc, bị ép hành nghề mại dâm. Trong số 22,000 nạn nhân này, phần lớn là phụ nữ và trẻ em thuộc các sắc tộc thiểu số ở Việt Nam. Tuy nhiên ít ai tin rằng số nạn nhân chỉ ngừng lại ở con số vừa kể. Nhiều chuyên gia khẳng định, rất khó xác định chính xác con số nạn nhân Việt Nam bị các tổ chức buôn người lừa gạt, cưỡng ép đưa sang Trung Quốc bởi họ sống tại các vùng hẻo lánh, nên không được ghi nhận đầy đủ.

Ngoài Cambodia, Lào, Trung Quốc, các tổ chức chống buôn người trên thế giới cũng đã từng nhiều lần cảnh báo về thực trạng phụ nữ, trẻ em Việt Nam bị lừa bán sang nhiều quốc gia Đông Nam Á khác như: Indonesia, Malaysia, Nga, Anh,… (G.Đ)

Bèo Giạt

Bèo Giạt

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

đều mang gốc gác Việt

liều lĩnh bỏ quê nhà

bằng đường dây người lậu

đi cầu thực phương xa

những con người khốn khó

tâm hồn rách tả tơi

xuất xứ từ nghèo đói

mang giấc mơ đổi đời

Bắc Phong – “Những Người Rơm”

Cuối năm, blogger Hoàng Giang gửi đến độc giả một câu chuyện rất “nhẹ nhàng” và “đáng yêu” ngăn ngắn:

Tôi mới đọc được mẩu tin nho nhỏ, mà chắc chả mấy ai bận tâm, mẩu tin cũng nhẹ nhàng tình “củm” có tựa đề là “How did this Swedish cat turn up in south France?”. Tức là có một chú mèo tên là Glitter sống ở Bromolla, miền nam Thụy Điển mất tích đã 8 tuần. Anh chủ Sammy Karlsson tưởng chừng như sẽ không có hy vọng tìm lại được Glitter nữa thì bỗng dưng vào đúng tuần lễ Thanksgiving, anh nhận được một cuộc gọi từ vùng Nimes tại miền nam nước Pháp hỏi anh về chú mèo lông xù này.

Sammy ngạc nhiên tới mức anh tưởng người ta đang đùa cợt mình, nhưng khi bức hình được gửi đến, thì chú mèo đó chính xác là Glitter của anh. Trong một bài phỏng vẫn, anh nói đùa rằng “Có lẽ Glitter đã phải lòng một cô gái Pháp nào đó, và chàng quyết định đội chiếc mũ bê rê.” Hiện chàng mèo đang được tiêm phòng và làm quốc tịch Pháp sau đó sẽ được gửi trả về với chủ tại Thụy Điển.

Câu chuyện mới đáng yêu làm sao, cứ tưởng tượng một chú mèo thong dong trên khắp nẻo phố châu Âu, chu du hơn 1,700km, mà tự dưng cũng muốn mình được như thế, vô lo vô nghĩ…

Ước muốn được “thong dong trên khắp nẻo phố châu Âu” của Hoàng Giang tuy không có gì là viển vông nhưng vẫn rất xa vời, và mỗi lúc một thêm xa, nếu chúng ta (chả may) sinh ra là … người Việt Nam – cái xứ sở mà nhiều người dân phải cầm cố nhà cửa/ruộng vườn mới đủ chi trả cho con cái một chuyến đi ra khỏi nước.

Dù giá quá đắt nhưng không phải ai đi (rồi) cũng đến. Hãy nghe qua một mẩu đối thoại giữa một cô gái Việt, và người bạn trai (đồng cảnh) từ hai phòng giam sát cạnh nhau – trong một nhà tù nào đó ở Âu Châu:

Tuyết ho, tôi xót ruột. Ho xong, nó nói:

“Em mơ còn nằm trong cái xe thùng chở em sang đây. Ðứa con gái nằm ngay bên cạnh em chết ngạt.”

“Chết!?”

“Chết. Bị nhốt trong thùng xe hai ngày hai đêm. Khi bọn đầu gấu mở cửa xe ra, thấy bốn người chết từ bao giờ. Con ấy thân với em nhất. Chúng em đã từng chia phiên nhau kề mũi vào cái lỗ nhỏ để thở.

The Vietnamese girl, believed to be 16, had been crammed into a tiny space behind the dashboard of a car stopped at Dover. Ảnh & chú thích: dailymail.co.uk

Thương hại nó hay nhường cho em thở lâu hơn. Dọc đường nó cứ đòi về, không muốn đi nữa. Nhưng em biết về thế nào được với bọn đường dây. Nó mà sống sót cũng bị đường dây hành tới chết về cái tội đòi về… Anh có nghe không đấy?”

“Nghe rõ cả.”

“Nó nói khổ đều quanh năm chịu được, dồn vào một ngày thì chết. Anh nghĩ có đúng không?”

“Chắc đúng.”

“Mẹ nó bán ruộng, bán vườn để chung tiền cho nó đi, cứ mong nó mang đôla về chuộc đất, xây nhà như những người có thân nhân Việt kiều. Bây giờ nó chết, chưa kịp nhìn thấy tờ đôla xanh. Trước khi chết nó tựa vai em lầm bầm ‘Mẹ ơi! Con không muốn làm Việt kiều. Con muốn về nhà. Con muốn cơ cực ở nhà với mẹ suốt đời.’ Giọng nó như đứa trẻ con ba tuổi.” (Tâm Thanh – “Người Rơm”).

Người rơm còn có một tên gọi khác, dễ nghe hơn, theo ngoại ngữ: nouveaux boat people – những thuyền nhân mới. Khác với lớp người tị nạn từ Việt Nam vào cuối thế kỷ trước, những kẻ đến sau không còn được thế giới chào đón nữa.

Nhân loại, xem chừng, đã oải. Không ai còn đủ kiên nhẫn và bao dung với những kẻ khốn cùng, (không vốn liếng, không ngoại ngữ, không nghề nghiệp, không cả một mảnh giấy tùy thân) cứ tiếp tục đến mãi từ một xứ sở… Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc!

Thêm một điều khác biệt nữa là tuy được gọi tên “những thuyền nhân mới” nhưng họ không vượt biên bằng thuyền.

Trong cuộc hành trình dài bằng phần nửa vòng trái đất, họ thường bám trên các xe vận tải hạng nặng xuyên qua Châu Âu. Trốn trong những thùng chứa hàng trong xe, họ phải ép xác, có khi chịu đựng không ăn uống trong nhiều ngày…” (PhươngVũ Võ Tam Anh, “Người Việt Khốn Khổ Tại Paris”).

Sau khi đặt chân được đến miền đất hứa (Anh Quốc) có một hiện tượng lạ xẩy ra là lớp người rơm, ở tuổi vị thành niên, đều mất biến – theo bài tường thuật (Missing Kids UK) của Sam Judah, qua Tạp Chí Thời Sự BBC:

“Người ta tin rằng hầu hết các trường hợp đều được các băng đảng đưa lậu vào Anh, bị cảnh sát phát hiện và đưa vào các trung tâm chăm sóc.

Các em rõ ràng là không bỏ trốn khỏi những kẻ bắt giữ mình, mà còn thường trốn khỏi các gia đình nhận nuôi dưỡng mình và các trung tâm chăm sóc để trở lại với những kẻ đó, nhằm tìm cách trả các khoản nợ lớn và nhằm để gia đình ở Việt Nam khỏi bị trả thù.

Văn, một cậu bé người Việt 15 tuổi, mà dường như được đăng tải trên trang mạng trẻ mất tích dưới một cái tên khác, đã được đưa lậu vào Anh bằng xe tải và đã bị buộc phải giúp việc nhà cho những kẻ đã đưa cậu vào. Sau đó, cậu được đưa vào làm ‘thợ vườn’ ở một số trại trồng cần sa trên cả nước…

Hồi năm ngoái, 96 thiếu niên người Việt đã được chuyển tới cho cơ quan quản lý tình trạng buôn bán người của chính phủ, khiến Việt Nam trở thành quốc gia có nhiều đối tượng được cho là nạn nhân ở tuổi vị thành niên nhất tại Anh.

BBC, nghe được hôm 18 tháng 2 năm 2014, còn cho biết thêm một khía cạnh tồi tệ khác: “Số liệu từ Cơ quan Tội phạm Quốc gia Anh Quốc (NCA) cho thấy trẻ em từ Việt Nam nằm đầu bảng danh sách bị đưa lậu vào Anh vì mục đích lạm dụng tình dục.”

Người rơm ở rừng Calais, Pháp Quốc. Ảnh: radiochantroimoi

Cập nhật hơn, The Guardian, số ra ngày 23 tháng 5 năm 2015, có bài tường thuật (“3,000 children enslaved in Britain after being trafficked from Vietnam”) của hai ký giả Annie Kelly và Mei-Ling McNamara. Xin ghi lại vài đoạn ngắn, theo bản dịch (“3.000 trẻ em bị buôn bán từ ‘đất nước Hồ Chí Minh’ sang Anh làm nô lệ”) của blogger Nguyễn Công Huân:

Giống như nhiều trẻ em Việt Nam khác, Hiền đã được đưa đến Anh để sống một cuộc đời nô lệ hiện đại. Em cuối cùng phải vào tù về tội trồng cần sa…

Chuyến đi của Hiền tới Anh Quốc bắt đầu khi em bị bắt cóc khỏi làng lúc 5 tuổi bởi một người nói rằng ông ta là chú của em. Như một đứa trẻ mồ côi, em không còn lựa chọn nào khác ngoài làm theo những mệnh lệnh của người khác. Em đã mất năm năm đi qua nhiều quốc gia bằng đường bộ, hoàn toàn không biết mình đã đi qua những đâu, từ Việt Nam qua biên giới giữa Pháp và Anh để tới một căn nhà ở London. Ở đây em phải làm nô lệ trong nhà trong 3 năm, nấu ăn và dọn dẹp cho nhóm những người Việt đi ra vào ngôi nhà em bị giam giữ…

Trong lời khai với cảnh sát, Hiền nói rằng em vẫn không hiểu chính xác loại cây em trồng là cây gì, mặc dù em hiểu rằng nó rất có giá trị. Em chăm sóc đám cây, sử dụng thuốc trừ sâu khiến em bị ốm, và chỉ rời căn hộ khi em giúp chuyển các cây cần sa này tới nơi khác để sấy khô. Em bị khóa trong nhà, bị đe dọa, bị đánh đập và bị cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài.

Ảnh: theguardian

Ước mơ của đám trẻ con Việt Nam đang bị giam giữ trong những trang trại trồng cần sa, hay những nơi mua bán tình dục – nếu có – hẳn không phải là được “thong dong trên khắp nẻo phố châu Âu” (như chú mèo Glitter trong câu chuyện của Hoàng Giang) mà là được trở lại quê hương. Được “cơ cực ở nhà với mẹ suốt đời,” như nguyên văn tâm sự của một nhân vật (dẫn thượng) của nhà văn Tâm Thanh.

Chuyện hồi hương, buồn thay, cũng không dễ dàng chi – theo tường trình của thông tín viên Lê Hải, từ Luân Đôn:

“Khi đã vào đến nước Anh rồi thì tùy thuộc vào chính quyền Việt Nam có chịu nhận những người này về hay không. Thường thì số lượng người bị trục xuất về Việt Nam gia tăng khi giữa hai nước có các đoàn công tác cấp cao, và chính phủ Anh có thể đề nghị tăng viện trợ để đổi lại bằng chuyện Việt Nam nhận người về.”

Cách ứng xử của những người lãnh đạo ở Việt Nam hiện nay (Luân Đôn phải tăng viện trợ Hà Nội mới chịu nhận người về) dễ làm người ta liên tưởng đến lời lẽ cứng rắn trong bức thư mà ông Lý Quang Diệu gửi cho bà Thủ Tướng Anh, về vấn đề thuyền nhân Việt Nam, vào ngày 5 tháng 6 năm 1979. Xin được trích dẫn đôi dòng, theo bản Việt Ngữ của nhà văn Phạm Thị Hoài:

“Phải nói, phải nhắc đi nhắc lại, cho nhân dân và các nhà lãnh đạo trên toàn thế giới biết rằng chính quyền nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chính là kẻ tích cực xúc tiến cuộc di tản ồ ạt này, gây thiệt hại nặng nề cho các nước Đông Nam Á…

Họ có đầu óc lạnh lùng tính toán, không hề biết động lòng với chính đồng bào mình, nhưng làm phép tính giữa chi phí và lời thu về thì rất nhanh.”

(People and leadears throughout the world must be told, again and again, that this is the government of the Socialist Republic of Vietnam which has actively promoted this massive migration, causing havoc to the countries of Southeast Asia…

They have cold, calculating minds, which, whilst incapable of compassion to their own people, are nevertheless most acute in computing cost-benefits.)

Nguồn: Margaret Thatcher Foundation

Từ 1979 đến nay là gần nửa thế kỷ. Trong khoảng thời gian này  đã có hai đợt di dân tập thể từ Việt Nam: thuyền nhân cũ và những thuyền nhân mới – ancient boat people and nouveaux boat people.

Giữa hai lớp người này có nhiều điểm dị biệt nhưng chính sách của nhà đương cuộc Hà Nội thì trước sau như một, hoàn toàn xuyên suốt và nhất quán: “Họ có đầu óc lạnh lùng tính toán, không hề biết động lòng với chính đồng bào mình, nhưng làm phép tính giữa chi phí và lời lãi thu về thì rất nhanh.”

Nói cho nó gọn thì đây là một hình thức buôn dân của giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay. Nước họ còn dám bán thì buôn dân, tất nhiên, chỉ là chuyện nhỏ.

Rạp Hưng Đạo ngày xưa của ai ?

Rạp Hưng Đạo ngày xưa của ai ?

Năm 1940 tại góc đường Général Marchand và Gallieni (Nguyễn C…ư Trinh và Trần Hưng Đạo ngày nay) thường ngày vẫn có một cậu con trai khoảng 18 – 20 tuổi ngồi cặm cụi sửa vá xe đạp bên vệ đường. Thời đó người dân chính gốc thành phố còn thất nghiệp dài dài, nói chi đến những dân nhập cư từ tỉnh thành xa, do đó người ta xem việc một thanh niên sửa xe như vậy là chuyện bình thường.Những người lui tới con đường đó, đặc biệt là những khách hàng từng đôi ba lần xe đến sửa xe ấy là một chàng trai hiền hậu, dễ thương, lại chăm chỉ, cẩn thận. Xe hư đâu sửa đó, đảm bảo chất lượng, tiền công vừa phải, đôi khi với những khách hàng già cậu ta còn tự nguyện sửa miễn phí “để làm quen”. Lâu dần, khách hàng càng lúc càng đông, thậm chí có người bị hư xe ở xa cũng ráng dẫn bộ tới, để cậu sửa. Chàng trai ấy tên là Niệm.
Một năm sau ngày ra nghề, người ta thấy chỗ bức tường phía sau lưng anh thợ sửa xe ngồi, có treo lủng lẳng vài chiếc vỏ, ruột xe đạp, cùng với một ít những phụ tùng khác. Anh giải thích “Để khi nào khách có cần thì mình thay cho tiện”. Thời đó không có chợ phụ tùng hoặc các loại phụ tùng xe được bày bán khắp nơi như ngày nay, cho nên việc phục vụ linh hoạt của cậu Niệm được bà con ủng hộ. Hai năm sau, khách hàng nhìn thấy có thêm một hai chiếc xe đạp lắp ráp hoàn chỉnh dựng ở đó. Cậu Niệm lại giới thiệu “Nhân tiện ráp sẵn, nếu bà con nào có cần thì mình nhường lại, giá phải chăng”. Tất nhiên, bởi sẵn có uy tín hàng của cậu ta ráp đến đâu bán được đến đó.
Sau khi Nhật đảo chính Pháp, trong lúc Sài Gòn đang hoảng loạn vì những cuộc dội bom của phi cơ đồng minh xuống thành phố, dân chúng lo chạy tránh bom, thì góc đường đó, chàng trai sửa xe vẫn cứ bám trụ với “cơ ngơi của mình, gồm 4 chiếc xe đạp vừa mới ráp, cộng với một thùng phụ tùng mới. Với cậu giữa cái chết do bom đạm và chết đói, cậu ta sợ chết đói hơn, vả lại trong đầu cậu trai nghèo này, chừng như còn nuôi một hoài bão.
Chiến tranh thế giới thứ hai vừa kết thúc, cũng là lúc người ta ngạc nhiên khi thấy chàng trai đó đứng ra thuê hẳn một góc nhà (chỗ căn phố mà suốt mấy năm qua cậu ta vẫn ngồi phía trước hiên nhà để hành nghề) và khai trương bảng hiệu: “Nguyễn Thành Niệm, sửa xe và bán phụ tùng xe đạp”. Thì ra, do khéo dành dụm trong nhiều năm qua, đến lúc đó cậu ta đã có được số vốn nho nhỏ, đủ để “dựng tiệm”. Cậu tâm sự với những người quen biết “Cái nghèo nó làm cho mình phải bỏ dở chuyện học hành, mà không học thì khó bề lập thân. Bây giờ chỉ có một cách là phải chí thú làm ăn phải đi lên con đường thương mại….”. 5 năm sau, đầu thập niên 50, cả một dãy phố từ đầu đường Nguyễn Cư Trinh chạy dọc theo đường Trần Hưng Đạo, đến gần đường hẻm Nguyễn Văn Dụng, đã quy về một mối, do một người làm chủ: Nguyễn Thành Niệm.
Cậu ta trúng nghề phụ tùng xe đạp là chủ yếu, nhưng cũng phải kể đến yếu tố cần kiệm và óc nhạy bén với thị trường. Chỉ trong vòng 10 năm, từ một chàng sửa xe đạp tầm thường, Nguyễn Thành Niệm tậu được đến gần 30 căn phố mặt tiền đường Gallieni (Trần Hưng Đaọ). Có người nói, sở dĩ Nguyễn Thành Niệm mua được nhiều nhà như thế là bởi vì thời đó mọi người vừa trải qua một giai đoạn khủng hoảng do cuộc chiến tranh, bị lung lạc tinh thần, muốn bán rẻ nhà cửa để hồi hương lập nghiệp, nên giá nhà rẻ, và Niệm đã chộp đúng thời cơ.
Con đường “lập thân” của Nguyễn Thành Niệm đã mở rộng. Anh ta chuyển sang kinh đoanh đa dạng hơn, gồm cả phụ tùng xe gắn máy, xe hơi, máy móc cơ giới nói chung. Và thế là một công ty nhập khẩu phụ tùng xe, máy được hình thành. Công ty Indo – Comptoir của Nguyễn Thành Niệm cuối thập niên 50 là một trong 10 công ty xuất nhập khẩu phụ tùng xe cơ giới lớn nhất Sài Gòn có chi nhánh ở khắp miền Nam, vươn tới Nam Vang, Vientian, Pakse (Lào). Nguyễn Thành Niệm trở thành một tỷ phú.
Đầu thập niên 60, tại dãy phố góc đường Nguyễn Cư Trinh – Trần Hưng Đạo, cạnh trụ sở của công ty Nguyễn Thành Niệm, người ta thấy mọc lên một toà nhà đồ sộ với chữ hiệu trên mặt tiền rất nổi: Rạp hát Hưng Đạo. Thì ra, đúng nơi mấy chục năm trước Niệm ngồi sửa se đạp, giờ đã được dựng lên một rạp hát lớn nhất thành phố, lại do chính ông làm chủ. Có lần Nguyễn Thành Niệm đã nói với bạn bè “Cuộc đời cũng giống như một sân khấu, mình cố làm sao cho sân khấu lộng lẫy thì càng hay…”
Thượng Hồng

Chiếc Gương và Cửa Sổ

Chiếc Gương và Cửa Sổ

Có một phú ông tên Hạo Tường luôn cảm thấy trong cuộc sống của mình thiếu thốn một cái gì đó, nên ông quyết định lên đường tìm Thiền sư để tham hỏi.
Khi gặp Thiền sư: “Thưa ngài! Tôi có rất nhiều tiền, muốn thứ gì thì có thứ đó nhưng lại không cảm thấy vui và hạnh phúc được”. Vị thiền sư mời ông ta đứng trước một cửa sổ được làm bằng kính và hỏi ông thấy được những gì qua ô cửa kính đó. “Dạ, con thấy những đoàn người tất bật, hối hả qua lại trên những con đường, có khi bằng phẳng, có khi gập gềnh, khúc khủyu nữa”
Thiền sư chẳng nói gì và mời ông ta đứng trước một chiếc gương soi, hỏi ông thấy gì qua chiếc gương đó. “Con thấy chính mình…”

Thiền sư ôn tồn nói: “Chiếc gương được làm bằng kính, cửa sổ cũng được làm bằng kính, nhưng cửa sổ thì trong suốt nên có thể thấy được bên ngoài, có thể nhìn được người, cảnh vật xung quanh ta nhưng chiếc gương thì phủ một lớp sơn phía sau hoặc một tấm gỗ nên chỉ có thể nhìn được mình mà thôi, khi trong con người mình có thể gỡ bỏ đi lớp sơn hay tấm gỗ kia thì lúc đó con sẽ nhìn thấy người khác, lúc con nhìn thấy người khác con sẽ cảm thấy hạnh phúc với những gì đang có”.

Lời bạn: Bạn có là người hạnh phúc không? hay là người luôn bận rộn với cuộc sống hiện đại này? Hoặc ta cảm nhận cuộc sống mình mỗi ngày một vui hơn? Mỗi ngày chúng ta chạy danh cầu lợi. Ở đâu đó, chúng ta đã có một góc của sự bình yên và hạnh phúc nhưng chưa bao giờ thay đổi góc độ nhìn để dung nạp, tha thứ cho người khác. Chỉ khi nào ta hiểu được hai chữ “dừng bước”. Ta đứng lại để tiếp nhận người khác đang tồn tại, họ hiện hữu trong sự tương quan của ta, ta dừng lại để nhìn, để hiểu và để thương. Khi thương được mọi người ta sẽ thương chính mình.
Huệ Thiện” (sưu tầm & chuyển ngữ)

Nguyễn Bích Lan – Người thắp lửa

 Nguyễn Bích Lan – Người thắp lửa

Mời quí anh chị đọc cho vui một bài viết về một cô bé ở 1 làng quê nghèo bên bờ sông Hồng tỉnhThái Bình. Em đã dũng cảm chống lại định mệnh khắc nghiệt gây ra bởi bệnh Muscle Diseases (Muscular Dystrophy) đau đớn làm liệt 2 chân ở tuổi 13 và không có thuốc chữa. Nhà nghèo không sắm nổi xe lăn; hàng ngày khi bố mẹ đi làm, em chỉ biết ngồi giam mình trong phòng và nhìn đời qua khung cửa sổ trước mặt mà buồn cho thân phận. Rồi trong đớn đau tuyệt vọng, em tìm đọc sách và tự học English, mở lớp dậy anh văn miễn phí trước sân nhà cho trẻ em làng xóm, tự học sử dụng computer, internet, rồi bắt đầu dịch thuật những tác phẩm của các văn hào nổi tiếng trên thế giới cho các nhà xuất bản ở Hànội.  Em cũng làm thơ, viết văn và cho xuất bản mấy cuốn sách thuộc loại best seller cho lớp trẻ VN hiện nay. Em cũng đoạt nhiều giải thưởng văn học, và được nhiều người mến mộ.

Cách nay hơn 10 năm tôi tình cờ quen biết em khi ủy ban xây dựng thánh đường quê tôi đã tới nhà em gần đó, nhờ em làm trung gian gởi các tin tức tiến triển về công trình xây dựng thánh đường qua emails cho tôi để tôi quyên góp trợ giúp tài chánh. Và vì thế tôi được biết hoàn cảnh bệnh tật ngặt nghèo của em.  Bẵng đi 1 thời gian không liên lạc nhau vì gia đình em dọn lên Hànội để tiện việc chữa bệnh và em làm việc với các xuất bản sách.  Mới đây tôi tình cờ vào Facebook và liên lạc lại được với em. Dưới đây là tin nhắn của em gởi cho tôi, kèm theo 1 bài báo viết về em.  Mời quí anh chị đọc cho vui.

Thân mến,

tn- B

Nguyễn Bích Lan – Người thắp lửa

TP – Gần đây, khi đến thăm bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, tôi thấy một nhóm người nước ngoài đang trầm trồ trước khu trưng bày vinh danh tám người phụ nữ Việt Nam hiện đại. Họ dừng lại rất lâu trước những bức ảnh của một cô gái gầy gò – người trẻ nhất trong số tám nhân vật được tôn vinh.

Rồi họ  lặng đi trước câu chuyện về tài năng và tấm gương nghị lực của cô gái ấy. Đứng cạnh họ, lòng tôi trào dâng niềm tự hào. Niềm tự hào ấy khởi nguồn từ bốn năm về trước, vào ngày 23/1/2011, khi tôi quan sát chính cô gái gầy gò ấy lên sân khấu nhận giải thưởng dịch thuật từ Hội Nhà văn Việt Nam: Giải thưởng Văn học năm 2010 cho bản dịch tiểu thuyết Triệu phú khu ổ chuột. Dù được em trai dìu đi, từng bước chân của cô gái – dịch giả, nhà văn Nguyễn Bích Lan – khó nhọc và chậm rãi. Cô nở nụ cười trấn an những người đang lo lắng. Hình dáng nhỏ bé của cô dường như lọt thỏm giữa sân khấu lớn, nhưng ánh mắt của cô bừng lên ánh sáng ấm áp của niềm tin và nghị lực.

Tranh NGUYEN X HOANGTranh: Nguyễn Xuân Hoàng.

Khi đôi chân không thuộc về mình

Những ai biết Bích Lan nhiều năm về trước chắc hẳn khó tưởng tượng rằng một ngày cô gái có bề ngoài dễ vỡ ấy có thể chinh phục được số phận, vượt qua bệnh tật và sự rình rập của cái chết để đứng trong hàng ngũ những nhà văn, dịch giả có đóng góp đáng trân trọng cho sự phát triển của văn học Việt Nam hiện đại.

Sinh năm 1976 tại một làng quê nhỏ ở Thái Bình, Bích Lan chưa kịp đi qua tuổi học trò ngây thơ thì thế giới đổ sụp xuống cô. Một ngày mùa đông, ở tuổi mười ba đầy trong trẻo, Bích Lan đang hăm hở đạp xe lướt đi trên con đường nhỏ xuyên qua những cánh đồng lúa xanh rì rào để đến trường thì đôi chân của cô bất ngờ mất khả năng cử động. Sự hoảng sợ thít chặt lấy cô, và cô ngã nhào từ xe xuống chiếc mương lõng bõng bùn nước. Càng vùng vẫy, Bích Lan càng tuyệt vọng. Đôi chân dường như không thuộc về cô nữa. Cô không thể nào đứng dậy được. Cô chỉ có thể thoát ra khỏi cái mương sâu hoắm ấy, khỏi sự giá lạnh và sợ hãi khi một người bạn cùng lớp ào xuống, kéo cô lên. Nhưng cũng từ đó, sự đau đớn dai dẳng đeo bám cô và triền miên hành hạ cô. Từ nhiều tháng trước đó, Bích Lan đã bị sụt cân, và giờ đây cô phải nằm bẹp trên giường, bất lực nhìn cuộc sống chầm chậm trôi qua. Cô ngơ ngác không hiểu điều gì đang xảy ra với mình.

Gia đình cô đã đưa cô đi chạy chữa khắp nơi. Rồi khi thầy thuốc tìm ra căn bệnh của cô, mọi hy vọng trong cô dường như bị dập tắt: bệnh của cô là một loại bệnh hiếm gặp và hiện chưa có thuốc chữa – bệnh loạn dưỡng cơ. Các bác sĩ cảnh báo căn bệnh này sẽ khiến cho cơ thể của cô ngày càng suy yếu, khiến cô dần mất khả năng di chuyển. Thậm chí nhiều bác sĩ tin rằng Bích Lan sẽ chỉ sống được một thời gian ngắn, vì căn bệnh sẽ khiến cô suy nhược trầm trọng.

 Nguyễn Bích Lan - Người thắp lửa - ảnh 2

Nguyễn Bích Lan.

Học để được sống

Những ngày ấy, sự đớn đau thể xác, bóng tối dày đặc của tương lai, và sự kiệt quệ về tài chính rất dễ khiến một người bình thường buông xuôi tất cả. Và sẽ thật dễ dàng khi Bích Lan để sự chán nản và tự ti chiếm lĩnh lấy cô. Nhưng thật kỳ diệu, chính trong những giây phút tăm tối nhất, Bích Lan khao khát được sống. Không chỉ sống, mà sống có ý nghĩa. Như cô đã viết trong truyện ngắn Những ngọn lửa: “Tôi cảm thấy từ một góc bí mật nào đó rất sâu trong con người mình, một ngọn lửa bắt đầu được nhóm lên. Mãi về sau tôi mới biết gọi tên ngọn lửa đó là ước mơ”.

“Tôi cảm thấy từ một góc bí mật nào đó rất sâu trong con người mình, một ngọn lửa bắt đầu được nhóm lên. Mãi về sau tôi mới biết gọi tên ngọn lửa đó là ước mơ”.

Nguyễn Bích Lan

Bích Lan ước mơ chinh phục số phận của mình. Và trong căn phòng nhỏ bé nơi cô đã phải giam mình trong thời gian dài, cô gái bé nhỏ 14 tuổi ấy bắt đầu hành trình tiếp thu tri thức của thế giới. Vượt qua tất cả mọi đau đớn thể xác, cô lao vào đọc sách. Cô đọc và đọc tất cả những quyển sách mà cô mượn được, về tất cả các lĩnh vực. Không có được diễm phúc đến trường, cô tự học một cách mê say. Học để quên đi đau đớn. Học để được sống. Học để một ngày có cơ hội báo hiếu với mẹ.

Một hôm, nhìn em trai học tiếng Anh, Bích Lan quyết định tiếp cận với môn ngoại ngữ ấy- môn học còn rất xa lạ với rất nhiều học sinh thời đó – bằng những quyển sách mà cô mượn được, bằng băng cassette và bằng trí thông minh và tinh thần kiên định. Rồi cô chập chững bước những bước đầu tiên vào biển tri thức vốn đã tồn tại hàng nghìn năm nay ở thứ ngôn ngữ thông dụng nhất thế giới – tiếng Anh. Càng đọc, càng học, cô càng đứng vững trên đôi chân của trí tuệ. Rồi cô bước đi, cô chạy, cô tung tăng vùng vẫy trong biển tri thức. Ở đó, Bích Lan tìm thấy chiếc chìa khoá để tự cứu mình và sống có ý nghĩa: cô bắt đầu dịch các tác phẩm văn học mà cô yêu thích.

Những ngón tay nhỏ bé và gầy guộc của Bích Lan, yếu đến nỗi không thể cầm vững chiếc bút, nay được tiếp thêm sức mạnh khi chúng giúp cô chuyển tải vẻ đẹp của văn học thế giới sang ngôn ngữ Việt. Thật kỳ diệu khi trong vòng 13 năm qua, giữa những cơn đau thể xác vẫn dai dẳng khôn nguôi, Bích Lan miệt mài làm việc, cho ra đời 30 quyển sách dịch, tất cả đều là những tác phẩm văn học kinh điển hoặc những quyển sách đầy ắp tính nhân văn. Hàng triệu người Việt đã được truyền thêm nghị lực sống từ “người không tay không chân” Nick Vujicic, qua bốn quyển sách của anh mà cô là dịch giả. Cũng qua Bích Lan, bạn đọc Việt Nam được đắm mình trong vẻ đẹp huyền ảo và trí tuệ sâu sắc trong các tác phẩm của những nhà văn lừng danh thế giới như William Faulkner, Rabindranath Tagore, JP. Donleavy, Vikas Swarup, Julia Otsuka…

Nguyễn Bích Lan - Người thắp lửa - ảnh 3

Những ngọn lửa

Nhưng dịch thuật chưa đủ, Bích Lan gửi trọn tâm huyết và khát khao sống mãnh liệt của mình qua từng trang viết. Cô sáng tạo miệt mài, cẩn trọng, đầy trách nhiệm và say mê như thể mỗi phút giây của cuộc đời này là giây phút cuối. Cô đều đặn có những tác phẩm thơ, văn xuôi, và báo chí nóng hổi tính thời đại in đều đặn trên các tờ báo uy tín. Đến giờ, Nguyễn Bích Lan đã là tác giả của những quyển sách như Không gục ngã (Tự truyện, Nhà xuất bản Trẻ, 2010), Sống trong chờ đợi (Thơ và truyện ngắn, NXB Trẻ, 2012).

Là người dõi theo các sáng tác của Bích Lan, tôi hồi hộp mở tập truyện ngắn mới nhất của cô – Những ngọn lửa (NXB Phụ nữ, 2015). Và như tôi đã mong đợi, Bích Lan không làm tôi thất vọng. Mỗi câu chuyện trong quyển sách này kéo tuột tôi vào từng ngóc ngách sâu thẳm của một xã hội Việt Nam thời hiện đại. Ở nơi ấy, áp lực kinh tế đang khiến con người sống vô cảm, tàn nhẫn với nhau. Con vô cảm với mẹ ruột, mẹ ruột vô cảm với con, thầy vô cảm với trò… Bằng giọng văn sắc sảo, lúc thì đầy ắp chất thơ, lúc thì dịu dàng, nóng bỏng, lúc thì chua chát, ngoa ngoắt, Bích Lan phác thảo rõ nét những sắc thái của cuộc sống thời hiện đại, để những câu chuyện của cô cứa vào chúng ta sắc lẹm như những lưỡi dao. Bóng tối của lòng tham, của sự ích kỷ đang phủ trùm lên chúng ta. Cô thắp lên những ngọn lửa – những ngọn lửa của hy vọng, của lòng nhân ái, vị tha, của tình yêu giữa con người với con người vẫn tồn tại đâu đó trên cõi đời này.

Đọc quyển sách, ta không khỏi khát khao thay đổi bản thân mình, nhắc nhở mình phải sống tốt hơn, nhân ái hơn với những người xung quanh.

Vài năm trước, khi đại diện của quỹ văn học Akademie Solitude (Đức) nhờ tôi giới thiệu một nhà văn Việt Nam để họ trao học bổng sáng tác, tôi không ngần ngại đề cử Nguyễn Bích Lan. Tôi rất vui khi quỹ Akademie Solitude trao học bổng cho Bích Lan năm ấy sau khi đánh giá tầm ảnh hưởng của những tác phẩm văn học của cô.

Hiện nay, Bích Lan vẫn chỉ nặng 28kg. Cô miệt mài làm việc 9 tiếng một ngày, tuân thủ những nguyên tắc khắt khe nhất của một người sống bằng nghề viết. Từ thứ Hai đến thứ Sáu, cô dịch sách. Vào thứ Bảy và Chủ nhật, cô viết hoặc dịch bài cho báo. Xen kẽ vào những công việc ấy, cô viết truyện ngắn hoặc thơ.

Độc giả Diệu Trâm từ Hội An, sau khi đọc các tác phẩm của Bích Lan, chia sẻ: Đôi khi gục lên ngã xuống nhiều lần để rồi nhận ra chuyến hành trình của mình không là gì cả so với những gì tôi biết được biết về chị Bích Lan, về những gì mà chị đã từng đối mặt và vẫn đang vượt qua… Tôi muốn gửi đến chị lời cảm ơn vì đã nhóm lên ngọn lửa niềm tin và hi vọng trong cuộc sống vốn dĩ rất ngắn ngủi này.

Không phàn nàn về số phận

Bích Lan cho biết, cô không có gì phải phàn nàn về hoàn cảnh của mình hiện tại. Cô cảm thấy ổn cho dù vẫn đau yếu bởi cô đã tìm ra cách sống chung với bệnh tật để ngày nào của mình cũng là một ngày hữu ích. Trong năm nay, ngoài tập thơ Ru và tập truyện ngắn Những ngọn lửa, Bích Lan sẽ hoàn thành bản dịch truyện cổ Andersen, và cuốn Màu của nước – tiểu thuyết nổi tiếng về phân biệt chủng tộc của nhà văn Mỹ James McBride.

Xin khép lại bài viết này với lời chia sẻ của bà Tống Thị Ninh, mẹ của Bích Lan: Bích Lan tuy không được trời cho một sức khỏe tốt, nhưng lại có được tinh thần mạnh mẽ. Những cuốn sách mà Lan đã dịch và viết mang đến cho bản thân cháu và gia đình rất nhiều người bạn đáng quý ở trong và ngoài nước. Tôi thật vui vì cháu dám sống một cuộc đời hữu ích.

Anh chị Thụ & Mai gởi

Đại hội 12: Đảng của dân tộc hay hội kín của Mafia?

Đại hội 12: Đảng của dân tộc hay hội kín của Mafia?

nguyenhuuvinh

RFA

Cõ lẽ, trong suốt 12 kỳ Đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam, chưa có kỳ nào mà những sự kiện, những vấn đề liên quan đến Đảng CS nóng lên như những ngày này. Đó là cuộc đấu đá trong đời thực đã được phản ánh trên các mạng xã hội và sự hoảng hốt, hăm dọa cũng như những lời nói của quan chức, cách làm của đảng đã cho người dân thấy sâu sắc hơn nhiều điều cốt tử về bản chất của đảng là gì.

Đảng của nhân dân, của dân tộc?

Hệ thống tuyên truyền Cộng sản xưa nay chưa bao giờ ngớt đưa ra những lời tuyên bố rằng thì là “Đảng CSVN là đảng của dân tộc, của nhân dân”, là “đại biểu ưu tú” của nhân dân… Thôi thì đủ mọi loại ngôn từ đẹp đẽ như chính cái đảng này là của nhân dân vậy. Thậm chí, ngay trong cái gọi là Hiến pháp, Đảng CS còn được trịnh trọng ghi rõ rằng: “Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc…”

Vì vậy, nên Đảng mặc sức lấy tiền thuế của dân tiêu không cần ai cho phép.

Thế nhưng, đảng có phải của nhân dân? Của dân tộc hay không?

Hãy nhìn những gì đã diễn ra trong thời gian qua, câu hỏi này không khó xác định.

Khi trên Biển Đông, bọn bành trướng bá quyền Trung Cộng đã chiếm Hoàng Sa từ xa xưa, nay Trường Sa đang bị chiếm đóng, bồi lấp các đảo chìm thành đảo nổi, đưa hàng ngàn tàu thuyền, thậm chí là cả dàn khoan khổng lồ vào tận thềm lục địa Việt Nam khoan thăm dò dầu khí, ngư dân bị tàu Trung Cộng bắn giết trên biển… thì cả hệ thống đảng lãnh đạo tuyệt đối đến nhà nước Việt Nam hầu như im hơi lặng tiếng hoặc vài lời phát ngôn lấy lệ.

Điều đó ban đầu gây nghi ngờ cho dân chúng, thậm chí nhiều người nghĩ rằng chẳng có một cái đảng nào, một nhóm hội nào là của dân tộc, của đất nước lại có thể im lặng trước chủ quyền đất nước, lãnh thổ bị xâm lăng trắng trợn như vậy. Thậm chí, một số người còn nghi ngờ rằng chắc “đảng và nhà nước” đã có những phương án hữu hiệu để gìn giữ đất nước, non sông?

Thế nhưng, đến khi Nguyễn Phú Trọng, TBT đảng tuyên bố rằng “nếu có đụng độ trên Biển Đông, thì chúng ta có ngồi yên để bàn chuyện Đại hội Đảng được không”. Đến khi đó, thì mọi người mới giật ngữa mình khi biết sự thật đằng sau. Đó là Đảng chỉ lo việc lấy tiền dân cho cái Đại hội của đảng là quan trọng nhất, còn việc lãnh thổ, chủ quyền và tính mạng người dân chỉ là chuyện con tép con tôm.

Ngay lập tức, mạng xã hội đã đưa câu nói của Nguyễn Phú Trọng như một chủ đề nóng về bản chất của đảng là gì. Đọc những phản ứng của dân chúng trên mạng xã hội, chợt nhớ đến câu Kiều ngày nào:

Lời ngay, đông mặt trong ngoài,
Kẻ chê bất nghĩa, người cười vô lương !

Cũng vì thế, đảng đón tiếp Tập Cận Bình, tên trùm xâm lược bằng 21 phát đại bác chưa dứt và màn bắt bớ, giam cầm, đánh đập trấn áp người dân Việt để lấy lòng Tập Cận Bình chưa xong, thì họ Tập đã bắn lại cả hệ thống đảng và nhà nước Việt Nam bằng một khẩu siêu đại bác với câu nói khẳng định Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam là của Tàu ngay khi vừa cắp đít ra khỏi Quốc hội Việt Nam.

Tưởng rằng cái tát vỗ mặt đó sẽ làm tỉnh ngộ những người cầm quyền trong đảng CSVN, nếu đúng là đảng của dân tộc, của đất nước. Thế nhưng không, với đảng CSVN, thì những hành động xâm lược, những âm mưu và hành động giết chóc người dân của Tàu Cộng chưa là gì. Đảng vẫn coi kẻ thù của dân tộc, của nhân dân là bạn vàng của đảng.

Vì thế trước khi tổ chức Hội nghị Đảng, Nguyễn Sinh Hùng còn te tưởi chạy sang Trung Cộng để khấu đầu trước Mao Trạch Đông, kẻ đã đưa quân xâm lược Hoàng Sa của Việt Nam.

Có lẽ nhà cầm quyền Trung Cộng thấy rằng sự khinh bỉ, sự ngạo ngược của chúng chưa đủ cho đám cầm quyền CSVN thấy nhục, thấy hèn. Nên ngay sau khi Nguyễn Phú Trọng đón họ Tập, Nguyễn Sinh Hùng chạy sang Tàu về đến nơi, họ Tập đã cho hàng chục lượt máy bay bay qua không phận Việt Nam như chỗ không người. Và hành động của Việt Nam đối với việc này lại là sử dụng “Người phát ngôn” để rồi từ “quan ngại” đến “hết sức quan ngại” là coi như xong việc.

Điều này làm người ta nhớ lại hành động mới đây của Thổ Nhĩ Kỳ đã bắn rơi máy bay Nga khi chỉ mới xâm phạm không phận đất nước họ 17 giây. Sự so sánh đó, để thấy rằng đảng CSVN đang là của dân tộc hay của ai.

Với giặc thì vậy, còn với dân?

Nếu như trước đây, các Đại hội Đảng thường được kêu gào, tuyên truyền từ hàng năm trời trước đó, rồi đưa ra “Dự thảo Báo cáo chính trị” để hò hét “lấy ý kiến nhân dân” như những màn diễn hài hước. Thì lần này, Đảng coi như việc Đại hội là việc của một hội kín nào đó đang mua bán ma túy nào đó chứ nhân dân chẳng là gì và màn diễn đó không ồn ào như trước nữa.

Khi chưa đưa ra Dự thảo Báo cáo chính trị, đảng đã dọa dẫm người dân “lợi dụng khi góp ý”. Và cứ thế, đảng âm thầm muốn viết gì, nói  gì là coi như việc của mình.

Trong khi người dân được đảng hô hào “bám biển giữ chủ quyền” và bị giặc giết, cướp ngoài biển không ai hay, thì quân đội, cảnh sát được đảng lấy tiền dân nuôi béo lại được sử dụng để tập duyệt bảo vệ Đại hội đảng với hơn nửa vạn người cùng đầy đủ súng ống, đạn dược và các phương tiện thiết bị đắt tiền mà người dân một nắng hai sương nhịn ăn nhịn mặc để nộp thuế cho đảng mua.

Hài hước hơn nữa, các cuộc diễn tập đó, đảng ngang nhiên coi người dân là thù địch và là đối tượng cần trấn áp để cho Đảng được yên. Những người dân một thời theo đảng, cầm lá cờ đỏ chạy theo phục vụ đảng cung cúc, tưởng rằng đảng nói thật khi kêu gọi chống tham nhũng… nay được đảng chỉ thẳng mặt, vạch rõ tên là đối tượng phản động và trở thành đối tượng của hàng ngàn công an, bộ đội trấn áp không thương tiếc. Quy mô trấn áp được đưa ra là hàng ngàn người dân giương khẩu hiệu chống tham nhũng và khiếu kiện đất đai do bị nhà nước và đảng cướp mất.

Hẳn rằng, đảng đã biết rằng bây giờ đảng có trở mặt thì thằng dân bao nhiêu đời nay “dưới sự lãnh đạo sáng suốt” bằng nhà tù, súng đạn của cái gọi là “chuyên chính vô sản”, thì dân chúng vẫn đủ khiếp sợ, không dám mở mồm kêu la chứ chưa dám nói đến việc chống lại.

Còn lòng tin yêu của người dân với đảng như hệ thống tuyên truyền bao năm ra rả tâng bốc ư? Đã đến lúc đảng nắm chắc vũ khí, xây đủ nhà tù thì những điều đó đâu cần nữa. Mặc dù vậy, bộ máy tuyên truyền của đảng vẫn leo lẻo không ngượng rằng: “Nhân dân đã tin tưởng và trao quyền lãnh đạo cho đảng”.

Hỡi ôi, không rõ nhân dân trao cho đảng khi nào và trao bằng cách gì? Phải chăng, họ đã biến nghĩa của chữ “cướp” thành chữ “trao”?

Có lẽ trong lịch sử của Đảng CSVN, đây là lần đầu tiên, đảng hiểu rằng người dân không còn là của đảng, hay nói cách khác, là tự đảng biết rằng người dân đã biết đảng chẳng phải là của nhân dân. Và việc “bảo vệ Đại hội đảng được đưa ra quy mô như vậy đối với nhân dân là nhằm trấn áp lại nhân dân, đã làm cho người ta hiểu ra bản chất của đảng.

Điều này cũng dễ hiểu. Trong đời thường, khi một nhà nông tự biết mình không đủ chính nghĩa, không có sức mạnh của sự tin yêu, không đủ lòng tin vào hàng xóm, vào cộng đồng, thì việc tăng cường khóa cổng, hàng rào và nuôi thêm đàn chó là cần thiết.

Hội kín?

Thông thường, một việc làm chính nghĩa trong sáng và lành mạnh, thì người ta không ngại bất cứ một sự nhòm ngó hoặc chê bai. Trong khi đảng tự nhận là đầy tớ của nhân dân, phục vụ nhân dân. Lẽ ra đã là đầy tớ, thì mọi việc làm, hành động của mình phải được ông chủ cho phép sau khi báo cáo hẳn hoi. Nhưng, ở đây thì ngược lại. Mọi hành động của đám đầy tớ này là bí mật, những ông chủ chỉ đứng từ xa để nghe ngóng, để đánh hơi và dài cổ chờ đảng… diễn trò. Tất cả mọi hoạt động họp hành của đảng, đều được giữ kín như bưng trước mặt ông chủ của mình.

Theo dõi những hành tung của Đảng thời gian qua, người dân thấy đảng đang hành động như một Hội kín nào đó của một tổ chức mua bán ma túy hoặc giết người chứ không thể là của một đảng quang vinh, vi đại và là đại biểu trung thành của họ.

Những kỳ họp hành Hội nghị, đảng tuyên bố lập lờ rằng có những ứng cử viên “đặc biệt” để lại khóa sau. Rồi họp hành là tuyệt mật, là bảo vệ kín đáo từ lời nói đến việc làm, từ con người đến kế hoạch, chương trình…

Những cuộc Hội nghị Trung ương, người dân thường chỉ được nghe Tổng Bí thư đọc những lời lẽ tốt đẹp, thành công rực rỡ… và chấm hết.

Thậm chí, mới đây, đảng còn tuyên bố kỷ luật một số đảng viên đã làm lộ bí mật về nhân sự ở Đại hội đảng bộ huyện cho đảng viên khác biết, chứ chưa cần nói với người dân.

Vậy thì đảng đang làm gì và chọn những tên đầy tớ như thế nào, mặt mũi nó ra sao để “làm đầy tớ phục vụ người dân”?

Theo thông báo của đảng, những ngày tới đây, chỉ có hơn 1000 đảng viên, nhưng khi đảng họp, thì hàng loạt tuyến phố sẽ bị cấm, hàng loạt sinh hoạt, đời sống người dân sẽ bị ngưng trệ. Tất cả để bảo đảm cho đám đảng viên được yên tâm ngồi họp kín với nhau.

Quan sát những hành động của đảng chuẩn bị cho đại hội lần này, người dân không khỏi đặt ra câu hỏi: Đảng đang định diễn thêm những trò gì khi mà đảng đang giành lấy bằng được cái quyền lãnh đạo người dân?

Lẽ nào, cơ đồ đất nước này qua hàng ngàn năm xây dựng, giữ gìn và xây đắp bằng xương máu của bao thế hệ, tính mạng cả trăm triệu người dân hiện nay cả hiện tại và tương lai của họ, họ lại ngu xuẩn đưa đi giao cho một cái đảng mà mọi sinh hoạt, mọi việc làm như của một hội kín hoặc một đám mafia nào đó họ không thể biết?

Tôi không tin người dân Việt Nam lại ngu xuẩn đến thế.

Hà Nội, 13/1/2015. Ngày kết thúc Hội nghị Trung ương đảng thứ 14.

J.B Nguyễn Hữu Vinh

TÌNH NGHĨA VỢ CHỒNG NHƯ ÁNG MÂY TRÔI

TÌNH NGHĨA VỢ CHỒNG NHƯ ÁNG MÂY TRÔI

  1. Nguyễn Mạnh San

Sau hơn 36 năm liên tục được phục vụ tha nhân trong trách nhiệm tinh thần của một Phó

Tế Vĩnh Viễn (Permenant Deacon), tôi đã được chứng kiến tận mắt và được nghe tận tai

những nỗi tâm tư uẩn khúc của những cặp vợ chồng trẻ có, trung niên có và cao niên có, đã

tâm sự cho tôi nghe về đời sống lứa đôi của họ. Vì sống trong một xã hội văn minh Hoa

Kỳ, có biết bao nhiêu những sự cám dỗ vật chất hàng ngày vây quanh họ, làm cho một số

tình nghĩa vợ chồng đổi thay, sống ích kỷ đối với nhau, chỉ muốn cá nhân mình được

hưởng thụ mọi thứ mình đang có, không muốn chia sẻ cho nhau những gì mình có, có

những cặp vợ chồng cư xử với nhau thiếu hẳn tình người. Chính vì thế, người ta có thể ví

tình nghĩa vợ chồng như áng mây trôi, nếu trôi vào bến nước trong, thì vợ chồng luôn luôn

sống bên nhau với những niềm vui tươi hạnh phúc bất tận bên nhau; nhưng nếu trôi vào

bến nước đục, thì người vợ hay người chồng sẽ phải gánh chịu biết bao nhiêu sự đau khổ.

Tuy nhiên, trong trường hợp như vậy, cả hai vợ chồng nếu có lòng tin vững mạnh vào sự

an bài của Thượng Đế, mà người ta thường gọi là định mệnh, để nhẫn nhục chịu đựng và

sẵn lòng tha thứ cho nhau những điều lầm lỗi của nhau, thì vợ chồng vẫn có thể sống hòa

thuận yêu nhau suốt đời. Sau đây tôi xin trình bầy về 2 trường hợp tình nghĩa vợ chồng,

thuộc giới cao niên, đang sống tại viện dưỡng lão và một trường hợp thuộc giới trung niên,

đang sống tại tư gia, mà cả 3 trường hợp này có nội dung hoàn toàn khác biệt nhau. Trong

việc hành xử công tác Tông Đồ Mục Vụ của một Phó Tế Công Giáo, tôi được Cha Chánh

Xứ sai đi thăm viếng, an ủi tinh thần cho 3 vị này trong nhiều tháng qua.

 

Trường hợp thứ nhất: Ông Cư bị mắc căn bệnh lãng trí, đi đứng không vững, phải đi bằng

walker và người con gái lớn phải gửi ông vào trong viện dưỡng lão đã hơn 6 tháng nay,

hàng tuần tôi vào thăm ông để an ủi và cầu nguyện cho ông và lần đầu tiên tôi vào thăm

ông, thì tình cờ tôi gặp bà vợ ông cũng vào thăm nuôi ông. Ông cho tôi biết hàng ngày, cứ

mỗi ngày bà mang thức ăn bà nấu ở nhà vào cho ông ăn cơm trưa và trước khi bà ra về lúc

3 giờ chiều để đi làm, bà đều tắm rửa sạch sẽ và thay quần áo cho ông,mặc dầu bà biết rõ

trong viện dưỡng lão, đã có nhân viên làm việc tại đây săn sóc mọi điều cho ông, nhưng

bất luận lần nào tôi vào thăm ông, tôi cũng được chứng kiến tận mắt cảnh tượng săn sóc

chồng hết sức chu đáo của bà, như người Mẹ đang săn sóc một đứa con còn nhỏ dại, làm

tôi hết sức cảm động và tự hỏi lòng mình, sao lại có những bà vợ đầy tình nhân ái, hết lòng

hy sinh cho chồng, cả những lúc chồng đau ốm như thế này, trong khi bà vợ vẫn phải đi

làm việc từ chiều cho đến tối khuya mới về tới nhà. Tôi còn được biêt bà có dư thừa tiền

bạc để thuê mướn thêm người đến săn sóc ông, thay cho bà trong viện dưỡng lão nếu bà

muốn, nhưng bà cho tôi biết là bà muốn được tự tay săn sóc ông, cho trọn vẹn tình nghĩa

vợ chồng và bà nhấn mạnh rằng cho dù vợ chồng chỉ ở với nhau có một ngày cũng nên

nghĩa. Đây đúng là một tấm gương sáng chói, cho những cặp vợ chồng đang sống trong

một xã hội Hoa Kỳ, được coi là văn minh vào bậc nhất trên thế giới, nhưng có quá nhiều

cạm bẫy vật chất cám dỗ người ta hàng ngày, bất kể già, trẻ, lớn bé đều có thể bị cám dỗ, nếu không ý thức được tình nghĩa thiêng liêng trong đời sống vợ chồng, tuy hai thân xác nhưng là một tâm hồn .

Trường hợp thứ hai: Ông Duy bị bán thân bất toại, nhưng trí óc vẫn còn sáng suốt bình

thường, phải nằm liệt giường, ăn uống phải có người bón, đi tiểu tiện phải có người bế lên

cho ngồi xe lăn, đưa vào nhà vệ sinh v.v…Nên người nhà phải gửi ông vào viện dưỡng lão

và thỉnh thoảng tôi có thì giờ, tôi cũng vào thăm ông. Lần đầu tiên tôi vào thăm ông, tôi

gặp bà vợ ông săn sóc ông chu đáo, y như trường hợp thứ nhất và bà cũng yêu cầu tôi, bất

luận ngày nào mà tôi có thể vào thăm chồng bà, thì xin cho bà biết trước, để bà có dịp được

gặp tôi, nhờ tôi tư vấn cho bà về những vấn đề khó khăn của bà đối với con cái. Mới đầu

tôi tin tưởng vào lời yêu cầu này của bà có lý do chính đáng, nên mỗi lần tôi vào thăm ông,

tôi đều có báo trước cho bà biết tôi đến thăm ông và bà luôn luôn có mặt và sau khi bà cho

ông ăn uống xong đâu đấy, bà liền tâm sự những câu chuyện khó khăn về con cái của bà

cho tôi nghe. Vì bẵng đi một tháng, tôi mắc công việc phải đi xa ngoài tiều bang, không

đến thăm ông được và khi tôi quay trở về, tôi vội vàng đến thăm ông, quên không báo cho

vợ ông biết trước như mọi lần, nên không có mặt bà, ông buồn rầu tâm sự cho tôi nghe là

cả tháng nay, vợ ông cũng chỉ đến thăm ông có 2 lần, mỗi lần bà chỉ thăm ông khoảng 20

hay 30 phút là bỏ ra về, vì Thầy phục vụ ở cùng giáo xứ với bà nhà tôi, nên bà ấy rất kính

nể Thầy và cứ mỗi lần Thầy đến thăm tôi, thì bà ấy lo săn sóc tôi chu đáo để cho Thầy nhìn

thấy tận mắt, nhưng khi nào Thầy không vào thăm tôi, thì bà ấy cũng không vào thăm tôi,

hoặc có vào thì chỉ độ 2 hay 3 lần mỗi tháng là cùng. Khi tôi mới vào viện dưỡng lão thì

ngày nào bà cũng vào săn sóc tôi như có mặt Thầy vậy, nhưng kể từ khi tôi ký tờ di chúc,

bằng lòng để lại tất cả tài sản, gồm nhà cửa đã trả hết tiền nợ ngân hàng và tiền bạc của tôi

để dành trong ngân hàng trên 3 trăm ngàn cho một mình bà có quyền thụ hưởng sau khi tôi

qua đời, thì bà tỏ thái độ thờ ơ, không còn tiếp tục hàng ngày đến viện dưỡng lão săn sóc

chu đáo cho tôi như trước kia nữa. Tới bây giờ tôi mới thấu hiểu câu nói của tiền nhân là:

Thức khuya mới biết đêm dài, sống lâu mới biết lòng người đổi thay. Nhưng may thay, kể

từ ngày có Thầy đến thăm tôi, vì sợ tôi kể cho Thầy nghe hết tất cả sự thật này, nên nhà tôi

mới yêu cầu Thầy, là mỗi lần Thầy đến thăm tôi, thì Thầy báo cho bà ấy biết trước, để bà

ấy có mặt với Thầy và bà ấy muốn tỏ cho Thầy thấy rằng bà ấy vẫn hết lòng thương yêu

chồng, qua những hành động săn sóc tận tình của bà dành cho tôi, trước mặt Thầy như

Thầy đã thấy. Vậy từ nay trở đi, nếu Thầy còn tiếp tục đến thăm tôi, thì xin Thầy nhớ báo

cho bà ấy biết trước, để tôi được hưởng cái phước lộc của Thầy, mà Chúa đã gửi Thầy đến

thăm tôi trong những lần vừa qua. Tôi cũng xin chân thành xác nhận với Thầy, mặc dầu

nhà tôi đối xử tệ bạc với tôi trong lúc tôi đau ốm, phải vào nằm trong viện dưỡng lão, mà

tôi vừa kể cho Thầy nghe, nhưng tôi không oán trách nhà tôi, vì mỗi người Công Giáo

chúng tôi, hầu hết ai ai cũng phải vác Thánh Giá, nếu muốn bước theo chân Ngài, có người

thì vác Thánh Giá nặng, có người vác Thánh Giá nhẹ, mà bên Phật Giáo coi đây là sự việc

quả báo hay còn gọi là nghiệp chướng, vì tội lỗi của mình gây ra hay là tội lỗi gây ra bởi

Cha Ông chúng ta, để lại cho con cháu đến đời này phải hứng chịu, thay cho Cha Ông của

chúng ta.

 

Trường hợp thứ ba: Ông Huy mới 60 tuổi, là một thi sĩ sáng tác nhiều bài thơ, miêu tả tình

yêu trai gái như cá với nước, tình yêu của Cha Mẹ dành cho con cái như mây trời bao la và

tình nghĩa vợ chồng cao ngất như núi thái sơn. Chúng tôi vẫn thường gặp mặt nhau, để hàn

huyên tâm sự với nhau. Ông Huy thường ngâm cho tôi nghe những bài thơ tình cảm xã hội,

mang tính chất triết lý về cuộc sống đạo đức, thủy chung của con người Việt Nam nói riêng

do ông sáng tác; còn tôi thường kể cho ông nghe những câu chuyện tình cảm, có dính líu

tới Pháp Luật Hoa Kỳ Thực Dụng, do tôi sưu tầm từ một số các vụ án, xét xử tội phạm tại

Tòa Án Liên Bang Hoa Kỳ, cũng là nơi tôi tòng sự trên 3 thập niên qua hoặc những câu

chuyện tình cảm oan trái do những tù nhân nam nữ, thuộc nhiều sắc tộc khác nhau, tâm sự

cho tôi nghe, trong số những anh chị em tù nhân này, có tới 90% là người Hoa Kỳ, bị giam

giữ tại các trại tù liên bang và tiểu bang, mà tôi được gửi đến để phục vụ họ, trong nhiệm

vụ là một Tuyên Úy trại tù tình nguyện, vào những ngày nghỉ cuối tuần. Mới đây ông Huy

bị bệnh nặng, phải vào nằm nhà thương mất 2 tuần lễ, ông mới được bác sĩ cho trở về nhà

nằm nghỉ dưỡng bệnh và sau hơn một tuần ông trở về nhà, tôi ghé thăm ông bất thình lình,

là chỗ bạn bè thân thiết, nên tôi không cần phải gọi điện thoại báo cho ông biết trước, tôi

theo chân ông vào trong bếp, ông tiếp tục bỏ mì gói vào bát nước sôi để chuẩn bị cho bữa

ăn trưa của ông. Nhìn thấy da mặt ông xanh xao, thân hình gầy còm như con cá mắm, đi

dứng chậm chạp, chứng tỏ sức khỏe của ông vẫn con yếu ớt lắm, mà ông vẫn phải tự nấu

nướng cho ông ăn, rồi ông buồn rầu cất tiếng tâm sự với tôi: Thưa Thầy, mặc dầu tôi được

bác sĩ cho về nhà dưỡng bệnh đã hơn 2 tuần nay, nhưng vẫn chưa lấy lại sức, chỉ có một

mình tôi ở nhà, tôi phải tự săn sóc lấy mọi chuyện cho tôi, kể từ khi tôi ở nhà thương về tới

nay, tôi vẫn tự tay nấu ăn lấy, dọn dẹp nhà bếp, cầu tiêu, nhà tắm cho sạch sẽ trong những

lúc nhà tôi không có ở nhà. Vì tôi không biết nấu nướng, nên thường ngày tôi chỉ biết nấu

mì gói, ăn thay cho bữa cơm trưa, trong khi nhà tôi thì mải mê đi làm một số các dịch vụ

thương mại, đến tối mịt mới quay trở về nhà, tất cả các con cháu tôi thì ở xa ngoài tiểu

bang, cho dù nếu các cháu có ở gần chúng tôi đi chăng nữa, nhà tôi cũng ngăn cản tôi,

không muốn cho tôi nhờ vả chúng nó bất cứ điều gì tôi cần sự giúp đỡ của các con tôi, nhà

tôi nói là đừng làm phiền chúng nó, vì chúng nó đã lập gia đình cả rồi, chúng nó còn phải

lo cho gia đình của chúng nó và để tránh khỏi phải cãi vã với nhà tôi về sự ngăn cản này,

nên tôi cũng chẳng bao giờ mở miệng nhờ cậy các con tôi giúp tôi bất cứ điều gì tôi cần,

nhưng nhiều lúc, trong lòng tôi cảm thấy rất buồn tủi, làm cho tôi có cảm tưởng như chúng

nó là con riêng của nhà tôi, chứ không phải con của hai chúng tôi nữa. Mấy chục năm sống

bên nhau, tôi biết rõ nhà tôi không thuộc loại người đàn bà rượu chè, cờ bạc, lẳng lơ trai

gái. Nhưng khổ một nỗi, lúc nào nhà tôi cũng chỉ nghĩ cách làm sao kiếm ra được thật

nhiều tiền và rồi cất giữ tất cả số tiền kiếm được là nhà tôi hài lòng vui vẻ, vì mỗi lần kiếm

được bao nhiêu tiền lại cất giữ đi bấy nhiêu hoặc lại đem số tiền vừa kiếm được đi đầu tư

vào dịch vụ thương mại khác, nên lúc nào nhà tôi cũng than thở với tôi là không có tiền.

Mặc dầu nhà tôi hiểu rất rõ, là khi chết đi thì đâu có mang tiền đi theo mình được, nhưng

nhà tôi vẫn không chịu thay đổi cá tính bẩm sinh say mê tiền bạc hơn tất cả mọi thứ trên

đời này và nếu có ai sống trong hoàn cảnh như thế, nói theo môn tâm lý học, thì tiền mới

chính là người yêu duy nhất của người vợ hay của người chồng. Riêng với cá tính bẩm sinh

của tôi, tất cả những ai đã từng quen biết tôi, trong đó có cả Thầy cũng đã thấy rõ con

người của tôi như thế nào, trong nhiều năm qua, tôi sống rất giản dị và tôi chưa hề biết nói

câu từ chối lời yêu cầu giúp đỡ nào của ai hết, nếu lời yêu cầu đó nằm trong khả năng mà

Chúa đã ban cho tôi. Tiền bạc chỉ có ý nghĩa đối với tôi khi tôi là chủ nhân của đồng tiền,

chứ không phải là kẻ nô lệ cho đồng tiền, để đến nỗi quý trọng đồng tiền hơn tình người.

Trong hoàn cảnh của tôi, về mặt tinh thần, nhiều lúc tôi cảm thấy cô đơn, nhưng về mặt lý

trí, tôi cảm thấy niềm an ủi cho thân phận mình, vì Chúa ban cho tôi có được người vợ

đoan trang, nết na, chung thủy, nhưng chỉ phải mỗi cái tật say mê đi ra ngoài làm thương

mại, để mong ước kiếm được nhiều tiền thêm, nên không có đủ thì giờ chăm lo thu dọn nhà

cửa cho ngăn nắp sạch sẽ và tôi vẫn nhớ câu người ta thường nói: Được cái nọ mất cái kia

hoặc muốn theo chân Chúa thì phải vác Thánh Giá nặng hay nhẹ theo Ngài, quả đúng như

thế nên tôi lấy đó làm niềm an ủi, chấp nhận sống trong hoàn cảnh tự mình săn sóc cho

thân mình, kể cả trong những lúc đau ốm, đáng lý cần phải có người phụ giúp tôi, nhưng

nhìn chung quanh mình, cũng chỉ có một thân một mình, tôi với tôi. Kể từ ngày tha hương,

bỏ quê cha đất tổ để đi tìm tư do cho đến nay, chúng ta quen nhau đã mấy chục năm qua,

đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cho tôi có dịp được tâm sự nỗi lòng thầm kín của tôi

với Thầy và xin Thầy hiểu cho tôi, là hoàn toàn tôi không có ý gì chê trách nhà tôi đâu, mà

chỉ để cho vơi đi niềm sầu muộn ấp ủ trong lòng bấy lâu nay.

Nói tóm lại, trường hợp thứ nhất tiêu biểu cho người vợ hết lòng hy sinh và yêu thương

chồng mình thật tình, hoàn toàn bất vụ lợi. Trường hợp thứ hai tiêu biểu cho hành động của

người vợ săn sóc chồng mình, với chủ đích tư lợi cá nhân, chứ không phải hoàn toàn vì

tình yêu chân thật đối với người chồng. Trường hợp thứ ba tiêu biểu cho tình thương yêu

của người vợ đối với người chồng không thuộc hàng ưu tiên, vì chỉ có tiền bạc mới là điều

tối quan trọng trên hết mọi sự và có thể nói tiền bạc chính là người yêu lý tưởng của người

vợ.

Tất cả 3 trường hợp vừa kể trên đây, trường hợp thứ nhất không xa lạ gì đối với tập quán

của người phụ nữ Việt Nam, ngay từ khi còn ở quê nhà, dù người vợ ở bất cứ tuổi nào đi

chăng nữa, già hay trẻ đều đối xử lòng nhân ái với chồng con như thế, nhất là những lúc

chồng con đau ốm, người vợ phải vất vả, nhiều khi bị kiệt sức vì lo lắng săn sóc cho chồng

cho con ngày đêm và đó cũng là một nét son độc đáo của người phụ nữ Việt Nam nói riêng

và của người phụ nữ Á Châu nói chung . Trường hợp thứ hai thường thấy xẩy ra tại Hoa

Kỳ, vì người vợ hoặc người chồng bị tiêm nhiễm với đời sống xa hoa vật chất, theo chủ

nghĩa tôn thờ cá nhân (Material Individualism), nên đôi lúc trở thành ích kỷ, chỉ muốn cho

thân mình được sung sướng, không cần nghĩ tới người khác đang đau khổ, cho dù người đó

là chồng hay là vợ của mình. Trường hợp thứ ba thì rất ít thấy xẩy ra, vì nếu có người vợ

nào nằm trong trường hơp tương tự như thế này, có thể coi đây là một căn bệnh tâm thần,

chỉ biết say mê tìm cách kiếm tiền, không dành nhiều thì giờ cho gia đình, miễn sao kiếm

được nhiều tiền để dành là cảm thấy hạnh phúc; khác biệt hẳn đối với những gia đình

không có đủ lợi tức hàng tháng để sống, nên sáng tối cả vợ lẫn chồng đều không có mặt ở

nhà, vì phải đi làm việc lao động vất vả hay phải đi buôn bán ngược xuôi, mới kiếm đủ tiền

nuôi sống gia đình. Vậy trong 3 trường hợp trên đây, chỉ có trường hợp thứ hai là đáng

buồn nhất cho những ai đang ở trong trường hợp này, nhất là đối với những người cao niên,

bị bệnh nặng, phải vào nằm co ro trong viện dưỡng lão một mình, mà không có người thân

trong gia đình đến thăm nom thường xuyên, thì trong lòng cảm thấy thật đau khổ vô cùng.

Nguyễn Mạnh San

“Mỹ Ngụy” hồi đó hay “Hán Ngụy” bây giờ?.

“Mỹ Ngụy” hồi đó hay “Hán Ngụy” bây giờ?.

By Stephen B. Young

Ảnh của Toản Trần.

Stephen B. Young
Người Hoa Kỳ, hành nghề luật sư, thông thạo Việt ngữ (vợ người VN).
Không ngờ một người Mỹ lại rành lịch sử VN.
Bài được gởi qua email từ người bạn trong nước và dưới đây toàn bộ do ông tự viết, xin chia sẻ với mọi người.

PS: Share với mọi người ở trong và ngoài nước tham khảo. Xin cám ơn.

Mở đầu:
“..Trước đây, cái gọi là đảng Cộng Sản chụp mũ những người Việt nam không Cộng Sản mà hợp tác với Mỹ Quốc để giữ độc lập cho miền Nam Việt Nam là “Mỹ Ngụy” .
Bây giờ, nhìn về quá khứ thì chúng ta có thể đánh giá ai có công lớn hơn cho Dân Tộc Việt nam: “Mỹ Ngụy” hồi đó hay “Hán Ngụy” bây giờ?..”

Ai thống trị Việt Nam ngày nay ?

Có một tổ chức hiện nay cai trị Việt Nam từ Lạng Sơn đến Cà Mau như là vua chúa Phong kiến ở Tàu hay ở Âu châu thời Trung cổ. Một bộ máy võ trang tập trung các quyền hành lớn trong tay; không được dân bầu lên, và dân tuyệt đối không có quyền kiểm soát hay phê bình. Tổ chức này mang tên là “Đảng Cộng Sản Việt Nam”.Nhưng, thực sự, tổ chức nầy có phải là một Đảng đúng nghĩa của một đảng hay không?

Đáng lẽ ra một Đảng chánh trị phải có một chánh nghĩa, một sức mạnh do một lý tưởng, một nền tảng triết lý hay lý thuyết, một khuynh hướng thể hiện nguyện vọng của đảng viên để hành động nhằm phục vụ đất nước và dân tộc của mình. Vì vậy, nếu cái gọi là Đảng Cộng Sản mà không phải là một Đảng đúng nghĩa, thì bộ máy đó là cái gi?

Một tập thể những người có chung một chí hướng tôn thờ người ngoài, một công ty làm ăn, một tổ chức mafia khai thác thị trường đất nước của họ chăng? Như vậy chúng ta có vài tiêu chuẩn để đánh giá cái gọi là Đảng Cộng Sản bây giờ, đó là một đảng phái hay chỉ là một bọn làm ăn thiếu lương thiện?

Tôi đồng ý đã có thời gian cái goi là đảng Cộng Sản ngày nay có những hoạt động như là đảng phái đúng nghĩa. Nhưng những hoạt động ấy tốt xấu, hay dở, có lợi hay có hại cho đất nước Việt nam là chuyện khác. Tôi nói đó là một “thứ đảng phái” vì lúc ấy đảng Cộng Sản theo ý thức hệ Mác-Lê, vận dụng chủ thuyết mác-lê làm cách mạng võ trang cướp chánh quyền thực dân. Tiếp theo, đảng cộng sản phát động cuộc cách mạng xã hội, tiến hành giai cấp đấu tranh, đấu tố địa điền chủ, ám sát công chức, trí thức, lãnh đạo tôn giáo, tịch thâu tài sản của người giàu có để sau cùng đưa giới lao động, những tên du thủ du thực, lên cầm quyền và khi vào Bộ chánh trị, lại lãnh đạo đất nước, dân tộc. Hành động của đảng cộng sản lúc đó có mục đích thi hành “chính nghĩa xã hội chủ nghĩa ” theo ý hệ Mác-Lê.

Nhưng từ lâu lắm rồi, cái gọi là đảng Cộng Sản không còn giống như trước đó nữa. Nó đã hoàn toàn biến chất để trở thành một cái gì khác hẳn. Tức nó không phải cộng sản, không mang nội dung mác-lê, không chủ trương giai cấp đấu tranh để tiến lên xã hội công bằng, người không bốc lột người, như kinh điển mác-lê dạy người cộng sản.

Cách đây vài năm, ông Đặng Quốc Bảo, Khoa giáo trung ương, trong một báo cáo phổ biến hạn chế cho đảng viên cao cấp, nói rằng “hiện tại đảng Cộng Sản không còn chính nghĩa chút nào vì thuyết Mác-Lê lỗi thời và cũng không đúng, không khoa học”. Theo ông Bảo, thì đảng cộng sản không nên áp dụng thuyết ấy nữa. Hai ông Mác và Lê đã nghĩ sai về vũ trụ, về trời đất, về đời sống nhân loại. Vậy người thông minh phải vứt bỏ chủ thuyết Mác-Lê.

Nếu ông Bảo đánh giá lý thuyết Mác-Lê đúng, thì đảng Cộng Sản không có một chính nghĩa nào để vẫn khẳng định tiếp tục đưa Việt nam đi theo con đường của mác-lê.

Vậy đảng cộng sản là cái gì? Chỉ là một tập hợp những người đầy tham vọng và quyền lực. Họ không khác gì một thứ giặc cướp đối với nhân dân. Ông Bảo nói thêm rằng “ tổ chức anh chị em cán bộ phải giữ quyền cai trị Việt Nam vài năm nữa, vì nếu không có một lực lượng mạnh giữ ổn định chính trị xã hội, thì nước sẽ loạn và dân sẽ khổ ”.

Lấy sự ổn định làm chính nghĩa của mình không có ý nghĩa tốt đẹp vì hoàn toàn thiếu thuyết phục. Chính nghĩa ổn định, nhiều người bình thường có thể nói và thi hành. Cần gì phải có cái gọi là đảng Cộng Sản với 3 triệu đảng viên, với vai trò lãnh đạo toàn diện đất nước và xã hội ? Quân Đội làm được. Phật Giáo làm được. Việt Quốc làm được. Ai cũng hy vọng làm được. Cái gọi là đảng Cộng Sản không thể tự cho là chỉ có họ mới làm được.

Theo tuyên truyền của đảng cộng sản, trong quá khứ, họ có công đức lớn để đứng trên và trước mọi người khác. Tức họ cho rằng họ có vai trò lịch sử Có đúng như vậy không?

Để trả lời, giờ đây, Bộ Chính Trị hãy tổ chức gọi hồn các đồng chí của họ đã chết, chết vì hi sinh hay chết oan vì đảng cũng được, để hỏi công việc đảng làm. Rồi, có lẽ họ nên gọi hồn để hỏi cái gọi là đảng cộng sản thật sự có công đức với dân tộc Việt Nam hay không? Rồi, họ có thể gọi hồn để hỏi đảng cộng sản tại sao ngày nay vẫn nói đi theo mác-lê, mà trên thực tế không thấy xã hội việt nam chuyển biến theo mô hình” chính nghĩa Mác-Lê.” một chút nào nữa. Vậy thì cái đảng này nên tự giải tán, và có mang tội với đất nưóc, với dân tộc không?

Chúng tôi cũng có thể gọi hồn như Bộ Chính Trị. Chúng tôi có thể gọi hồn các vị cũng nằm xuống, vì nhiều lý do khác nhau, hỏi họ về công đức của cái gọi là đảng Cộng Sản.

Thí dụ, hỏi Đức Huỳnh Giáo Chủ của Phật Giáo Hòa Hảo, hỏi ông Trương Tử Anh, Đảng trưởng Đại Việt Quốc Dân Đảng , ông Lý Đông A, Thư ký trưởng Đảng Duy Dân, các nhân sĩ yêu nước Ngô Đình Khôi, Nguyễn văn Bông, Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh, Hồ văn Ngà, Phan văn Hùm, Nguyễn văn Sâm, … và những người dân Huế chết hồi Tết Mậu Thân, vân, vân, … cho đến 1 ,2 triệu người Việt nam bình thường khác, chết trên biển cả, trong rừng sâu, trong các trại tù rải rác khắp cả nước.

Gọi hồn tất cả những người này về và lắng tai nghe họ nói số phận của dân tộc Việt Nam từ khi Đảng Cộng Sản vận dụng “chính nghĩa Mác-Lê” để cướp lấy quyền lãnh đạo đất nước và giử độc tôn cho đảng .

Xin trả lời: Công đức ở đâu?

Bằng chứng thứ hai cho thấy cái gọi là đảng Cộng Sản là một đảng thì đảng ấy có hành động cụ thể như thế nào? Ngoài sự hiểu biết, sự suy nghĩ, sự tính toán của con người, các hành động của người đó phải cho chúng ta thấy rõ, một cách minh bạch, để kết luận người đó tốt hay xấu, giỏi hay dở, đạo đức hay gian ác, cần tồn tại hay nên vứt đi thôi ?

Cái gọi là đảng Cộng Sản đó, cách đây 8 năm, đã tự động hiến dâng đất đai của tổ tiên để lại cho Bắc Triều mới . Và cả biển nữa! Tại sao?
Để đáp ứng sự đòi hỏi của Bắc Triều mới? Phải.

Ở điểm này, chúng ta hãy nhìn rõ. Cái gọi là đảng Cộng Sản đó vì nhu cầu tồn tại đã dâng đất, dâng biển cho Bắc kinh. Đây là nhu cầu sanh tử. Đảng cộng sản phải làm một việc tội lỗi như vậy chỉ vì đảng lo sợ nhân dân Việt nam hỏi tội của họ đối với tổ quốc và nhân dân từ trước đến giờ. Mà nhân dân hỏi tội có nghĩa là đảng sẽ bị mất quyền cai trị. Hoặc một vụ Thiên An Môn Việt Nam sẽ xảy ra . Trước nỗi ám ảnh mất quyền lực, đảng cộng sản cần sự ủng hộ, sự tiếp tay của Bắc Triều mới, mặc dầu có tổn hại đến quyền lợi tối thượng của Quốc gia.

Như vậy đảng cộng sản ở Hà nội không thể tự cho là một đảng có chính nghĩa yêu nước được, mà phải bị kết án là một đảng bán nước mới đúng.
Nếu đảng Cộng Sản Hà nội chuyên tâm phục vụ cho đòi hỏi, tham vọng của Bắc Triều mới, thì Việt nam tất nhiên phải lâm nguy làm thân nô lệ cho Hán Tộc. Nếu chỉ có riêng cái đảng cộng sản làm nô lệ Hán tộc thì chúng ta hà tất phải tốn lời.

Thực tế ở Việt Nam cho ta thấy công an, tình báo của Việt Nam đều do công an, tình báo Trung Quốc đào tạo và cố vấn. Nhờ đó mà công an, tình báo Hà Nội mới có đủ bản lãnh đàn áp những người dân chủ ở Việt Nam, đàn áp dân oan nạn nhân của những vụ đất đai bị đảng cộng sản tước đoạt, đàn áp những vụ biểu tình chống Trung quốc xâm chiếm đất đai bằng vũ lực và thô bạo.

Nhìn lại lịch sử Việt nam thì từ thời Ngô Quyền đến nay, chỉ có vài nhà vua Việt nam theo Bắc Triều một cách xấu hổ như vậy. Có Nhà Mạc phải xin sự ủng hộ của Hoàng đế phương Bắc để đối phó với Nhà Lê. Có vua Lê Chiêu Thống xin Trung Quôc gởi binh qua Hà nội để đánh anh em Nhà Tây Sơn. Có vua Gia Long và Minh Mạng lấy y thức hệ Tống Nho của Nhà Thanh bên Tàu để làm nền tảng đạo lý xây dựng uy quyền cho Nhà Nguyễn . Nhưng các ông vua này không làm mất đất, mất biển vào tay ngoại bang chỉ vì quyền lợi riêng tư như đảng cộng sản ngày nay.
Cầu viện thường hay lệ thuộc tư tưởng của kẻ khác, khó tránh khỏi bị dẩn đến mất chánh nghĩa quốc gia. Phải chăng vì thế mà Nhà Mạc đã không thắng Nhà Lê, vua Lê Chiêu Thống thua Quang Trung Nguyễn Huệ. Riêng Nhà Nguyễn vì chọn lựa sai lầm học thuyết lỗi thời mà cứ khăng khăng ôm giữ nên thua người Pháp. Tức một thứ lệ thuộc tư tưởng. Khi có được chỗ dựa mạnh là Bắc kinh, cái gọi là đảng Cộng Sản sẽ đánh bại được toàn dân Việt Nam chăng? Tức đảng cộng sản vĩnh viễn đàn áp, bốc lột nhân dân chăng?

Mới đây khi nghe tin Bắc Kinh tổ chức Hoàng Sa và Trường Sa trở thành môt đơn vị hành chánh mới trực thuôc Tỉnh Hải Nam, lập tức xảy ra nhiều cuộc biểu tình của dân chúng thanh niên, sinh viên ở TP Hồ Chí Minh, ở Hà nội, chống chánh sách xâm lược của Trung Quốc. Cái gọi là Đảng Cộng Sản không dám lên tiếng phản đối kẻ cướp đất, trái lại thô bạo đàn áp dân chúng công khai bày tỏ lòng yêu nước. Khí thế của nhân dân Việt Nam bây giờ làm cho đảng cộng sản Hà Nội bắt đầu lo sợ. Nếu đảng cộng sản khôn ngoan thì hãy thấy ở đây, tức ở nhân dân, mới là chỗ dựa vững chắc hơn thế của Trung Quốc.

Nhưng cái gọi là Đảng Cộng Sản nghe theo ai?

Buồn mà nói. Vì nói cho đúng thì phải nói lớn và nói rõ phe nhóm cai trị Việt Nam hiện nay là một bọn Hán Ngụy. Tiếc vì chúng tôi biết chắc chắn có nhiều đảng viên của cái gọi là Đảng Cộng Sản không muốn như vậy. Họ thương dân, yêu nước thật lòng. Nhưng họ lo sợ, có thể vì bất lực, cho sự an nguy của bản thân và gia đình trước những thủ đoạn khéo léo, gian ác, đê hèn của lực lượng Công An, Tình Báo đang có mặt khắp nơi rình rập.

Bọn Hán Ngụy thật sự không có nhiều người, nhưng họ có thế mạnh và nhiều tiền bạc. Họ quyết tâm giữ quyền lực cai trị đất nước mãi mãi. Họ sẽ làm cái gì phải làm để không mất địa vị cầm quyền, tức quyền làm ăn, làm giàu của họ.

Lệ thuộc Bắc Kinh, đối với họ, là một giá phải trả, họ chấp nhận trả, để có phương tiện ổn định xã hội chính trị Việt nam, tức duy trì chế độ độc tài toàn trị. Ổn định là cho quyền lợi của họ. Đất nước đối với họ chỉ là phương tiện trao đổi. Trung Quốc có một triết lý bình định thiên hạ từ đời Tần Thủy Hoàng. Ông ấy lấy ý kiến của phái Pháp Gia gồm lý thuyết âm dương, ngũ hành để kiến tạo thái hòa. Làm chính trị như vậy không theo sự giảng dạy của Khổng Mạnh, trái lại, đưa ra chính sách đại đoàn kết, giữ phép nước dưới sự lãnh đạo đọc tôn theo một vị hoàng đế. Đó là thuyết của Mặc Địch.

Cái đạo chính trị này – “ hoàng đế chính thuyết ”– là lý thuyết xây dựng xã hội không cần nghe ý dân. Đi từ trên xuống, không phải từ dân lên. Ngày nay là tập trung dân chủ, tức dân chủ xã hội chủ nghĩa và tư tưởng Hồ chí minh. Hoàng Đế nghe trời, ra lịnh và thiên hạ phải tuân theo. Dân không nghe theo thì sẽ bị phạt, nặng nhẹ tùy theo mức độ của sự phản bội, bất hiếu đối với chế độ.

Một ông Hoàng Đế không cần đức, không cần uy tín mà vẫn giữ được ổn định xã hội. Hiếu nghĩa thay thế nhân nghĩa. Cấp trên nói cái gì thì cấp dưới vâng dạ theo răm rắp. Nói vô phép, mất dạy, thì bị phạt, không được phần thưởng.

Đạo làm hoàng đế có mục đích lấy ý trời và qua cơ cấu hành chánh, ép thiên hạ vâng lệnh làm theo ý đó, mặc cho họ muốn hay không.
Trong lịch sử Việt Nam, các Nhà Lý, Trần và Lê không lấy đạo Hoàng Đế của Bắc Triều để trị dân. Nhà Lý và Nhà Trần theo đạo Phật. Nhà Lê cho đến Vua Lê Thánh Tôn theo quan điểm nhân nghĩa do Nguyễn Trãi viết ra.

Vua Lê Thánh Tôn bắt đầu theo chủ nghĩa Bắc Triều , tức lấy Tống Nho bênh vực ngôi vị Hoàng Đế một cách mù quáng với đạo hiếu nghĩa cha mẹ, vua chúa. Đến Nhà Mạc, Chúa Trịnh, thì ảnh hưởng Tống Nho ở cấp quan văn và các đại gia đình quan chức mở rộng. Nhà Nguyễn áp dụng Tống Nho và quan điểm hoàng đế, đưa triều đình Huế đi theo gương Nhà Thanh bên Tàu.

Trước đây, cái gọi là đảng Cộng Sản chụp mũ những người Việt nam không Cộng Sản mà hợp tác với Mỹ Quốc để giữ độc lập cho miền Nam Việt Nam là “Mỹ Ngụy” .

Bây giờ, nhìn về quá khứ thì chúng ta có thể đánh giá ai có công lớn hơn cho Dân Tộc Việt nam: “Mỹ Ngụy” hồi đó hay “Hán Ngụy” bây giờ?

Người Mỹ khi họ giúp các Chính Phủ Việt nam Cộng Hòa, khi họ làm cố vấn cho Chính phủ và quân đội quốc gia, họ thật sự muốn gì? Họ khuyến khích người Quốc Gia làm gì? Họ đòi hỏi Chính Phủ Sài gòn có chính sách nào?

Nói chung, người Mỹ từ Tổng Thống Eisenhower cho đến Tổng Thống Nixon, từ Đại Sứ Elbridge Durbrow cho đến Đại Sứ Ellsworth Bunker, tất cả đều yêu cầu Chính Phủ Sài gòn lo cho dân, áp dụng chế độ hiến trị, tổ chức các cuộc bầu cử từ xã ấp đến trung ương, trong sạch, dân chủ, cải cách ruộng đất, phát triển kinh tế, mở rộng giáo dục theo tôn chỉ “nhân bản, khoa học, khai phóng ” …Đối với Mỹ thì ý dân là hơn ý trời. Mỹ không bao giờ theo “ hoàng đế chính thuyết ”.

Như vậy làm “Mỹ Ngụy” là chọn phương pháp lo cho dân, cho quê hương Việt Nam, cho văn hóa, đạo đức dân tộc. Người Mỹ đến Việt Nam, không ở lại Việt Nam. Và “dân ngụy.” không hiến dâng đất dai, biển cả cho ngoại bang. Hơn nữa, trong lịch sử, người Mỹ không làm thuộc địa, không làm Thái thú, chỉ làm bạn đồng minh giai đoạn.

Còn người Việt nào bây giờ làm Hán Ngụy thì phục vụ ai? Họ có lo sợ số phận Tổ quốc của họ không? Hay chỉ có chung một thứ tập hợp những người cùng chí hướng tôn thờ quyền lợi bản thân mà thôi?

Stephen B. YOUNG

Đại hội 12 ‘sẽ đổi cán cân quyền lực’

 Đại hội 12 ‘sẽ đổi cán cân quyền lực’

BBC

Một nhà ngoại giao Mỹ đã nghỉ hưu, thường viết về chính trị Việt Nam, nhận định với BBC rằng Đại hội Đảng Cộng sản XII hứa hẹn “thay đổi”.

Ông David Brown là viên chức ngoại giao từng làm việc ở đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn trước năm 1975.

Hiện đang ở thăm Hà Nội trong lúc diễn ra Hội nghị Trung ương 14, ông trả lời phỏng vấn của BBC qua email hôm 13/1.

Đầu tiên ông cho biết không khí và sự quan tâm chung đến sự kiện chính trị này tại thủ đô Việt Nam.

David Brown: Tại Hà Nội, người dân thảo luận nhiều. Có cảm giác lan rộng rằng Đại hội Đảng XII có thể đem đến thay đổi đáng kể trong cân bằng lãnh đạo, có thể rồi sẽ dẫn tới những chính sách hiệu quả hơn.

Tầm mức bàn luận lan rộng chưa từng thấy cũng thể hiện qua các bài blog trên mạng và Facebook.

BBC: Vì sao ông cho rằng đây sẽ là Đại hội Đảng có ảnh hưởng to lớn nhất trong hai thập niên?

Ông David Brown đi du lịch Việt Nam

Ba lần đại hội trước chỉ luân chuyển các vị trí trong Đảng với mục tiêu cân bằng quyền lực, chứ không tính đến thay đổi.

Đại hội 12 quan trọng vì thay đổi có thể xảy ra. Ông Nguyễn Tấn Dũng đã phá vỡ mọi quy tắc trong nỗ lực chi phối cả đảng và nhà nước. Ông tập hợp được người ủng hộ chiếm đa số trong Ban chấp hành Trung ương hiện tại. Ông tạo cho mình nhãn hiệu là một nhà cải cách tương đối.

Nếu ông Dũng thành công trong nỗ lực trở thành Tổng bí thư và có thể quyết định vị trí Thủ tướng, Việt Nam sẽ có thể thực thi các cải tổ kinh tế từ lâu bị ngăn chặn. Nói ngắn gọn là từ bỏ “chủ nghĩa xã hội theo cơ chế thị trường” và tập trung cho quản lý kinh tế tốt, thay vì tham gia vào nền kinh tế.

BBC: Cho đến khoảng hai tháng trước, dường như đa số nhà quan sát nghĩ rằng Thủ tướng Dũng sẽ được tái cử để thành Tổng bí thư. Hiện tại, lại có cảm giác thách thức cho ông Dũng to lớn hơn người ta tưởng. Ông có ngạc nhiên không?

Như có thể tiên liệu, chiến thuật của ông Dũng không được lòng của một khối đáng kể các đảng viên kỳ cựu. Có ý kiến nói ông ấy không thực sự trung thành với việc duy trì kiểm soát của Đảng đối với mọi tầng nấc quyền lực. Thành ra không ngạc nhiên khi xảy ra phản ứng “ai lên cũng được, trừ ông Dũng”.

” Nếu ông Dũng thành công trong nỗ lực trở thành Tổng bí thư và có thể quyết định vị trí Thủ tướng, Việt Nam sẽ có thể thực thi các cải tổ kinh tế từ lâu bị ngăn chặn.

David Brown”

BBC: Với các chính khách Mỹ trong năm bầu cử tại Mỹ này, họ có quan tâm ai sẽ lãnh đạo Việt Nam từ 2016?

Không. Nhưng người ta sẽ chú tâm đáng kể về chính trị Việt Nam nói chung và ý chí thực hiện cam kết của các nhà đàm phán về TPP, khi TPP được đưa ra trước Quốc hội Mỹ để xin thông qua cuối năm nay.             

Chọn Ai Giữa Ba Người ?

Chọn Ai Giữa Ba Người ?

 Đang lái xe trong một chiều tối gió bão, bạn đi ngang qua một trạm xe buýt dựng bên đường với bốn bức vách mỏng manh và một mái nhỏ che trên nóc.  Bạn thấy có ba người đang ngồi đợi xe trong gió lạnh, mưa ướt:

  1. Một bà lão rất yếu ớt, dường như sắp chết.
  2. Một người bạn cũ đã từng cứu sống bạn.
  3. Người trong mộng của bạn – người mà bạn từng mơ ước về một Happy Ending.

 Bạn sẽ làm gì ? Bạn sẽ chọn ai giữa ba người này để giúp đỡ ?

Vì xe bạn chỉ có thể chở duy nhất một người, bạn sẽ chọn ai ?

Hoàn cảnh khó xử này đã được dùng trong một cuộc phỏng vấn xin việc làm để xem những người dự tuyển xử lý ra sao.  Hãy dừng lại và suy nghĩ trước khi bạn đọc tiếp…

  1. Bạn có thể chọn bà lão, bởi vì bà ta sắp chết, do đó bạn nên cứu trước hết.
  2. Hoặc bạn có thể chọn người bạn cũ bởi vì anh ta đã từng cứu sống bạn và đây là cơ hội thích hợp nhất để đáp trả lại tình nghĩa năm xưa.
  3. Bạn vẫn có thể chọn người trong mộng vì có thể là bạn sẽ chẳng bao giờ còn cơ hội gặp lại người ấy nữa.

 Ứng cử viên được chọn trong số 200 người dự tuyển đã không khó khăn gì để đưa ra câu trả lời của mình.

ANH TA ĐÃ NÓI GÌ ?  ANH TA ĐƠN GIẢN TRẢ LỜI RẰNG:

 “Tôi sẽ đưa chìa khoá xe hơi của mình cho người bạn cũ để anh ta đưa bà lão vào bệnh viện.  Còn tôi sẽ ngồi lại cùng đợi xe buýt với người trong mộng của cuộc đời tôi!”

  • Thế đấy, chúng ta cứ ngồi nghĩ đi nghĩ lại… đắn đo xem nên chọn ai đây… trong khi chúng ta sẽ nhận được nhiều hơn nếu chúng ta biết cho đi và phá vỡ những giới hạn nhỏ bé tự mình đặt ra.

“Bởi vì khi cho đi là người ta được lãnh nhận”

(Kinh Hoà Bình của thánh Phanxicô)

  Sưu Tầm và Tổng Hợp

 Tìm Hiểu thêm:

http://www.simonhoadalat.com/giaoducgd/SuyTu/64KinhHoaBinh.htm

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi