LỜI NHẮN KHẨN CỦA LS HÀ HUY SƠN

LỜI NHẮN KHẨN CỦA LS HÀ HUY SƠN

FB Hà Huy Sơn

23-5-2016

LS Hà Huy Sơn. Nguồn: Internet

LỜI NHẮN KHẨN GỬI:

– Chủ tịch Nước, Trần Đại Quang,
– Tổng thống Barack Obama.

Tôi là Luật sư Hà Huy Sơn đang hành nghề tại Hà Nội, xin gửi tới các ông lời chào trân trọng và lời cảm phiền như sau:

Trước đây 01 ngày, tôi nhận được lời mời của Đại sứ quán Hoa Kỳ tham dự buổi gặp vào sáng ngày 24/05/2016 tại Hà Nội. Tôi tin tưởng là Chính phủ 02 nước đã bình thường quan hệ và chiếu theo hiến pháp Việt Nam, tôi hoàn toàn có quyền đến buổi gặp mặt này.

Vào lúc 18g 30 ngày hôm nay, chính tôi được xem Chương trình chuyển động 24h của Đài truyền hình Việt Nam đưa tin: Ông Chủ tịch Nước trịnh trọng tuyên bố quan hệ 02 nước đã được bình thường hóa hoàn toàn.

Nhưng ngay sau đó 05 phút Cảnh sát khu vực đến nhà tôi nói rằng: họ biết tôi có buổi hẹn và hỏi sáng mai tôi có đi đến đó không. Tôi đã trả lời sáng mai tôi sẽ đến đó.

Tôi gửi lời nhắn lời tới các ông, vì ngày mai mấy câu hỏi của tôi sẽ được trả lời:

1- Mối quan hệ 02 nước Việt Nam và Hoa Kỳ có thực sự bình thường hóa như ông Chủ tịch Nước tuyên bố không?

2- Danh dự của tôi, công dân Việt Nam và quyền con người theo hiến pháp có được tôn trọng không?

3- Nhà nước VN có tôn trọng Hoa Kỳ hay không mà ngăn chặn khách mời của Đại sứ quán Hoa Kỳ là tôi khi đến tham dự buổi gặp này?

Là một công dân Việt Nam, một công dân của Thế giới tôi hy vọng tôi có quyền phổ quát của con người.

Trân trọng,

Hà Nội, 19g 12 ngày 23/05/2016.
Luật sư Hà Huy Sơn

_____

Blog RFA

Bình thường hóa quan hệ

Nguyễn Thị Từ Huy

23-5-2016

Hôm nay, 23/5/2016, Chủ tịch nước Trần Đại Quang khi thông báo quyết định dỡ bỏ cấm vận vũ khí của Tổng thống Obama đã kèm theo bình luận cho rằng điều này chứng tỏ quan hệ Việt-Mỹ đã hoàn toàn được bình thường hóa.

Dĩ nhiên, người dân Việt Nam đồng ý với bình luận này của Chủ tịch nước. Như vậy Mỹ và Việt Nam, những kẻ thù trong quá khứ, giờ đây đã không còn là kẻ thù nữa, đã bắt tay hợp tác với nhau trên mọi lĩnh vực, rào cản cuối cùng đã được dỡ bỏ. Đây là một thành công ngoại giao mà người dân Việt Nam sẽ ghi nhận cho chính phủ.

Tuy nhiên, cũng liên quan đến việc bình thường hóa quan hệ, vẫn còn một câu hỏi mà chính phủ phải trả lời cho dân: Bao giờ thì Nhà nước Việt Nam chịu bình thường hóa quan hệ với nhân dân của mình?

Bao giờ thì chính phủ hết coi người dân là kẻ thù?

Trên thực tế Mỹ và Việt Nam vốn là kẻ thù cũ. Còn người dân và chính phủ Việt Nam chưa bao giờ là kẻ thù, chưa bao giờ, nhưng người dân vẫn luôn bị chính phủ coi là kẻ thù. Giờ đây, chính phủ đã có thể coi cựu thù năm xưa là bạn. Vậy, liệu chính phủ có thể ngừng coi nhân dân của mình (nhưng người dân trong nước cũng như những kiều bào ở nước ngoài) là kẻ thù không?

Việt Nam đã và đang bước vào sân chơi quốc tế rộng lớn. Việt Nam cần lựa chọn các giá trị chung mang tính phổ quát. Chính phủ Việt Nam sẽ thực sự có uy tín khi hòa vào dòng chảy chung của nhân loại tiến bộ, tôn trọng và thực hiện các cam kết của mình.

Chính phủ cần phải đi tới quyết định bình thường hóa quan hệ với nhân dân của mình, cùng với nhân dân thực hiện các quyền phổ quát và đương nhiên mà bất kỳ ai, sinh ra làm người, cũng đều được hưởng, dù là đứng ở cương vị nào trong xã hội. Đó là các quyền : quyền sống, quyền được bảo vệ thân thể, quyền được học hành, quyền được tự do đi lại, quyền tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do lập hội, tự do biểu tình, tự do bầu cử… Những quyền này hiện nay một số người dân Việt Nam đang bị tước bỏ, và bị xâm phạm ngay chính trong những ngày Tổng thống Obama được tiếp đón để bình thường hóa quan hệ hai nước.

Người dân Việt Nam, trong bối cảnh toàn cầu hóa, dĩ nhiên không chấp nhận cho bất kỳ ai tước bỏ các quyền đó của mình. Thực tế những ngày qua cho thấy họ đang đòi lại các quyền đó, một cách kiêu hãnh và can đảm, một cách đáng nể phục, trong bối cảnh mà cuộc sống của họ bị đe dọa.

Hơn bốn mươi năm sau chiến tranh, ngày hôm nay đánh dấu mối quan hệ Việt-Mỹ đã chính thức được bình thường hóa hoàn toàn.

Đến bao giờ chính phủ Việt Nam mới bình thường hóa quan hệ với nhân dân Việt Nam?

Thấy gì giữa những cuộc đón tiếp: Ý đảng và lòng dân

Thấy gì giữa những cuộc đón tiếp: Ý đảng và lòng dân

Sáu tháng sau khi ông Tập Cận Bình, Tổng bí thư Đảng CS Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thăm Việt Nam, ngày 22/5/2016, Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Obama cũng đã đến Hà Nội, mở đầu chuyến thăm Việt Nam.

Cả hai chuyến thăm đều là của những nhân vật đứng đầu quốc gia.

donObamataisanbaynoibai

Một là “đàn anh trong phe Xã hội Chủ nghĩa’, là “bạn 16 chữ vàng và 4 tốt” của Đảng và nhà nước Việt Nam, đến từ một đất nước “núi lền núi, sông liền sông”. Trung Quốc hiện là đối tác kinh tế hàng đầu của Việt Nam.

Một là cựu thù của Việt Nam cộng sản, từng là “kẻ thù trước mắt và lâu dài”, là “sen đầm quốc tế”, là “kẻ thù của hòa bình nhân loại” và là một “đế quốc xâm lược” – theo hệ thống tuyên truyền xưa nay của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông Hồ Chí Minh đã nói: “đế quốc chủ nghĩa là nguồn gốc chiến tranh”– (Ngày 17 tháng 11 năm 1950, Thư gửi Hội nghị hòa bình ở Việt Nam, Hồ Chí Minh)

Đến Việt Nam, ông Tập Cận Bình hứa hẹn TQ viện trợ 1 tỷ NDT trong 5 năm cho VN. Đúng như lời ông Hồ Chí Minh đã dặn dân Việt Nam: “Các nước anh em, giúp đỡ nhiều” (Trích Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.543)

dontapcanbinhNOibai

Đến Việt Nam, ông Obama nói về nhân quyền cho Việt Nam, điều mà nhà cầm quyền Việt Nam ghét cay ghét đắng và thường xuyên cho rằng đó là công việc nội bộ của Việt Nam. Không những không mang một khoản viện trợ tiền tỷ nào, lại thực hiện vai trò “anh chàng lái súng” (nói theo ngôn ngữ tuyên truyền của Đảng xưa nay), ông ta chỉ hứa bỏ cấm vận vũ khí sát thương với các điều kiện về nhân quyền.

Có lẽ vì những khác biệt như vậy, nên sự đón tiếp của Đảng đối với hai nguyên thủ quốc gia cũng khác nhau nhiều.

Đón ông Tập Cận Bình ở sân bay là hàng quân danh dự đứng im như phỗng.

Đón ông Obama ở sân bay là một cô gái ôm bó hoa tặng rồi ông Obama lủi thủi đi vào xe.

Đón ông Tập Cận Bình là một dàn đại bác bắn 21 phát đinh tai nhức óc người dân.

Đón ông Obama là sự im lặng ngờ vực và hồi hộp từ phía nhà nước.

Đón ông Tập Cận Bình là hàng ngũ an ninh, công an và các loại quân Việt Nam được tung ra dày đặc.

Đón ông Obama, đặc vụ Mỹ soi từng góc sân bay và mọi ngóc ngách.

Đón ông Tập Cận Bình, hàng đoàn công an, an ninh, mật vụ và các loại lực lượng khác nhau được tung ra để canh nhân dân.

Đón ông Obama, công an chỉ cần đứng dẹp trật tự bên đường.

Thế nhưng, đó là cách đón tiếp của ĐCS và nhà nước đối với những vị mà họ gọi là khách quý. Còn đối với  nhân dân thì sao?

Người dân Việt Nam đón ông Tập Cận Bình bằng những băng rôn, khẩu hiệu, những chiếc áo với hình của ông Tập và dòng chữ như “Tập Cận Bình, hãy cút đi!”, “Tập Cận Bình, têm xâm lược bẩn thỉu, cút khỏi Việt Nam!”.

tapvatrong

VinhdonTapCanBinh

 

donTapCanBinh_dan

tranbang

Người dân Việt Nam đón ông Obama bằng cách đi xa từ cả trăm cây số, ăn ngủ vật vờ qua đêm, đứng bên đường vẫy tay, vẫy hoa chào mừng ông Obama đến Việt Nam. Hàng ngàn người dân xếp dọc hai bên đường đoàn xe chở ông Obama đi, vẫy tay, hân hoan với những chiếc điện thoại, máy ảnh tự chụp. Họ đón ông Obama với một sự yêu mến và kính trọng thật sự. Ở đó không có khái niệm bạn, thù mà là sự nô nức hào hứng. Nếu so với “ngày hội non sông” bầu cử hôm qua, thì quả là hai trạng thái tinh thần khác biệt hoàn toàn.

Người dân đi đón ông Tập Cận Bình được nhà nước xử đãi bằng công an, canh gác bởi an ninh, côn đồ, bắt nhốt vào đồn ngồi cả ngày bỏ đói, thậm chí được tặng dùi cui, nắm đấm và đổ máu. Thế nhưng họ vẫn kiên quyết phản đối tên xâm lược, dù là bạn vàng của đảng.

Người dân đón ông Obama cũng được canh gác bởi công an, an ninh… nhất là đối với những người đấu tranh dân chủ, dày đặc và quyết liệt. Vậy nhưng họ vẫn kiên quyết đi bằng nhiều cách, không phải phản đối, mà để hân hoan chào đón Tổng thống Mỹ.

Người dân Việt Nam chen chúc nhau để được chụp ảnh cùng với ông Tổng thống Mỹ, trong khi ông Chủ tịch nước Việt Nam đứng vô đơn bơ vơ bên cạnh chẳng ai đoái hoài.

donObamadocduong

donObamadocduong1

DonObamatrenduong

ObamavaTrandaiquanggapdan

Đến Việt Nam, ông Tập Cận Bình “lén lút – bí mật” chui vào rao giảng cho Quốc hội Việt  Nam.

Đến Việt Nam, ông Obama tiếp xúc với người dân cách công khai và nói chuyện với dân trước hội trường.

Đến Việt Nam, ông Tập Cận Bình vào lăng viếng ông Hồ Chí Minh, một đồng đội và là đồng chí của ông ta.

Đến Việt Nam, ông Obama đến thăm một ngôi chùa, tỏ lòng kính trọng nét văn hóa, tâm linh của người Việt.

Đến Việt Nam, ông Tập Cận Bình dự chiêu đãi của những người lãnh đạo ĐCS tiếp bạn vàng bằng sơn hào hải vị từ tiền thuế người dân.

Đến Việt Nam, ông Obama vào ăn bún chả bình dân rồi trả bằng tiền của mình.

Obamaanbuncha

Nhìn những dòng người đông đúc, vui mừng, thân ái và rạng rỡ khi đón Tổng thống Mỹ Obama, chợt nhớ khi đón ông Tập Cận Bình, nhóm chúng tôi, mấy chục người bị bắt vào Sở Công an Hà Đông, và những hình ảnh anh chị em Sài Gòn bị đánh đập bỏ lên xe đổ máu… khi họ Tập đến nhà, chúng tôi tự hỏi: Vì sao vậy?

Đó phải chăng là sự chứng minh rõ nét ý đảng và lòng dân là hai khái niệm đang đi ngược chiều nhau? Một đảng chính trị tự soán ngôi cầm quyền, tự xưng là lãnh đạo đất nước mà đi ngược lại nguyện vọng của người dân, liệu họ có là “đảng của giai cấp công nhân và dân tộc” như họ tuyên bố hào sảng?

Đó cũng chính là nỗi đau, là sự bất hạnh của dân tộc Việt Nam hôm nay.

Khi một đảng phái, một tổ chức đi ngược lại ý nguyện của người dân, đi ngược lại tiến trình tiến bộ của đất nước, thì đích thị đó là một nhóm phản động – phản động đúng với ý nghĩa chân chính nhất của từ này.

Hà Nội, ngày 23/5/2016

J.B Nguyễn Hữu Vinh

5 TRIỆU VỀ NƠI ĐÂU SAU 20 NGÀY VÀ GIẢI PHÁP LÂU DÀI CHO NGƯ DÂN

5 TRIỆU VỀ NƠI ĐÂU SAU 20 NGÀY VÀ GIẢI PHÁP LÂU DÀI CHO NGƯ DÂN

FB Nguyễn Anh Tuấn

22-5-2016

H1Từ khi Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo về việc cứu trợ khẩn cấp cho ngư dân vùng thiệt hại với mức 5 triệu/ghe tàu nằm bờ, đến này đã được 20 ngày, song ngư dân ở Kỳ Anh vẫn cho biết chưa nhận được khoản tiền này.

Nhiều bà con ngư dân ở đây hiện vẫn phải đi vay nóng để chạy ăn từng bữa. Họ hay nói vui, ‘chính phủ hỗ trợ gạo (22kg/người) vậy có nghĩ dân nấu lên ăn với gì không?’.

Bà con cũng phản ánh, chính sách hỗ trợ 5 triệu/ghe tàu nằm bờ (dù mãi chưa được thực hiện) vẫn có điểm bất hợp lý.

Không phải ngư dân nào cũng có ghe mà mỗi nghe thường có 1 người chủ, và 3-4 người ‘đi bạn’.

Chính sách nêu trên chỉ hỗ trợ cho người chủ ghe, còn những ngư dân ‘đi bạn’ vốn khó khăn hơn thì lại không được gì.

Tuy nhiên, tất cả các chính sách hỗ trợ trên đều là trước mắt và ngắn hạn.

Chẳng chính phủ nào có thể nuôi hàng triệu miệng ăn mãi, dù chỉ là phát gạo.

Để giải quyết tận gốc vấn đề sinh kế của ngư dân miền Trung vẫn cần phải gỡ được đầu ra cho con cá.

TỨC LÀ DÂN PHẢI ĂN CÁ TRỞ LẠI.

Mà muốn thế thì phải khôi phục NIỀM TIN trong công chúng về chất lượng môi trường biển và hải sản.

Không một Ban Tuyên giáo, một Bộ Thông tin Truyền thông với bất kỳ chiến lược định hướng, tuyên truyền nào có thể làm được điều này.

Cũng vậy, chẳng có bất kỳ chỉ thị, mệnh lệnh, quyết định hành chính, hay bất kỳ lời kêu gọi hoặc hình thức nêu gương của lãnh đạo nào có thể làm được.

Duy chỉ một thứ có thể: MINH BẠCH THÔNG TIN.

Cần nhận rõ điều này: Kẻ chỉ đạo bưng bít, giấu diếm thông tin không ai khác chính là người triệt đường sống ngư dân miền Trung một cách lâu dài nhất, trì hoãn các hoạt động điều tra, tìm kiếm nguyên nhân, tắc nghẽn quá trình khắc phục hậu quả, trực tiếp khiến tàu bè không thể ra khơi thể hiện vai trò của các ‘cột mốc sống’ cho chủ quyền biển Việt Nam như trước đây.

Phản động, nếu có, không ai khác, chính là những kẻ này.

Ai có quyền xử lý thi thể Hồ Chí Minh?

Ai có quyền xử lý thi thể Hồ Chí Minh?

Pháp luật Việt Nam hiện hành có sẵn câu trả lời.
Thi thể của cố Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện đang được bảo quản và trưng bày tại một lăng mộ đặc biệt, nằm trong trung tâm chính trị Ba Đình, Hà Nội. Ảnh: Zing.vn
Thi thể của cố Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện đang được bảo quản và trưng bày tại một lăng mộ đặc biệt, nằm trong trung tâm chính trị Ba Đình, Hà Nội. Ảnh: Zing.vn

Ngày 16/10/2015, Tòa án Nhân Dân tỉnh Quảng Trị tuyên án chung thân đối với “cậu” Thủy (tên thật là Nguyễn Văn Thúy) với hai tội danh: lừa đảo và xâm phạm hài cốt.

Theo Tuổi Trẻ, trong phần xét hỏi bị cáo, ông Vũ Ngọc Mậu, chủ tọa phiên tòa đặt câu hỏi: “Xương cốt người là thứ thiêng liêng. Xương cốt liệt sĩ lại càng là điều thiêng liêng hơn nữa. Tại sao bị cáo có thể cho phép mình làm cái việc vô đạo ấy?”[1]

Lời phát biểu của người đại diện tòa án trong phiên xử “cậu Thủy” cho thấy trong đời sống tinh thần của người Việt, thi hài và xương cốt của người quá cố thường đòi hỏi sự tôn trọng cao nhất từ xã hội. Trên hết, quyền được an nghỉ theo ý nguyện lúc sinh thời của người đã khuất càng phải được tôn trọng và bảo vệ.

“Cậu” Thủy không phải là người duy nhất bị tuyên án về tội “xâm phạm hài cốt và thi thể” trong thời gian gần đây. Ngày 11/9/2015, Tòa án Nhân dân Cấp cao tại Hà Nội đã tuyên y án sơ thẩm 19 năm tù đối với bác sĩ Nguyễn Mạnh Tường, người vào năm 2013 đã ném thi thể của một khách hàng xuống sông sau khi cô này tử vong trong quá trình phẫu thuật thẩm mỹ.[2]

Vậy cụ thể, hành vi cấu thành tội phạm theo Bộ luật Hình sự Việt Nam cho tội này bao gồm những gì?

Điều 246 Bộ Luật Hình Sự: Tội xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt:[3]

Người nào đào, phá mồ mả, chiếm đoạt những đồ vật để ở trong mộ, trên mộ hoặc có hành vi khác xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

Câu hỏi pháp lý được đặt ra là ai sẽ có thẩm quyền xử lý thi thể của người đã chết theo quy định của pháp luật Việt Nam? Vì rõ ràng là những ai không có thẩm quyền theo luật định, nếu tự ý xử lý thi thể, hài cốt đều có thể bị buộc tội theo điều 246 BLHS.

Vụ án 46 năm

Thi thể Hồ Chí Minh, vị cố Chủ tịch nước thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã không được mai táng trong suốt 46 năm qua và đặt ra nhiều dấu hỏi về mặt pháp lý.

Sau khi Hồ Chí Minh qua đời vào đúng ngày Quốc khánh của VNDCCH, 2/9/1969, Bộ chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp bàn vào ngày 29/11 cùng năm và quyết định giữ gìn lâu dài thi hài ông.

Kể từ ngày 29/8/1975, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức mở cửa cho người dân vào thăm và trực tiếp quan sát thi thể của ông.

Liên tục trong vòng trên dưới 40 năm, cho đến những năm 2010 và 2012, Bộ chính trị tiếp tục ra các quyết định nhằm cho phép ĐCSVN cũng như chính phủ Việt Nam được giữ gìn thi hài ông Hồ Chí Minh vô thời hạn.

Lễ truy điệu Hồ Chí Minh năm 1969. Ảnh: Ban quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
Lễ truy điệu Hồ Chí Minh năm 1969. Ảnh: Ban quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Theo tài liệu đăng tải bởi Thiếu Tướng Phạm Văn Lập, Chính ủy Bộ Tư Lệnh Bảo vệ Lăng Hồ Chí Minh, vào ngày 22/12/2010, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án số 2341 về “Giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa của Công trình Lăng trong giai đoạn mới”.

Tiếp đó, ngày 08/3/2012, Thường vụ Quân ủy Trung ương đã ra Nghị quyết số 122/NQ-QU về “lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa của Công trình Lăng trong giai đoạn mới.”[4]

Những diễn biến trên cho thấy, quyết định tiếp tục duy trì thi thể ông Hồ Chí Minh như hiện tại có dấu hiệu vi phạm Điều 246, Bộ luật Hình sự, thuộc nhóm các “hành vi khác xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt”.

Trái di chúc của người đã chết

Khi sinh thời, Hồ Chí Minh đã lập di chúc, trong đó đặc biệt nêu rõ ý nguyện của ông cho việc hậu sự của bản thân. Ông có di nguyện được hỏa táng cũng như đã căn dặn chi tiết việc xử lý tro cốt.

Bản gốc Di chúc của Hồ Chí Minh nói ông muốn được hỏa táng. Ảnh: giaoduc.net.vn
Bản gốc Di chúc của Hồ Chí Minh nói ông muốn được hỏa táng. Ảnh: giaoduc.net.vn

Cho đến thời điểm hiện tại, chính phủ Việt Nam đều công nhận tính chính danh cũng như giá trị pháp lý của bản di chúc này.[5] Do đó, di nguyện của ông Hồ Chí Minh đúng ra phải được thực hiện trước nhất và trên hết.

Luật pháp Việt Nam hiện nay công nhận quyền hiến tặng các bộ phận cơ thể cũng như quyền được hiến xác của một người sau khi chết. (Điều 34 – Bộ Luật Dân sự).[6] Từ đó cho thấy việc được toàn quyền chọn phương pháp xử lý thân thể của một cá nhân sau khi qua đời là một quyền lợi hợp pháp, được luật pháp Việt Nam công nhận. Và vì thế, không có cơ sở pháp lý nào để giải thích vì sao di nguyện được hỏa táng của ông Hồ Chí Minh không được thực hiện trong 46 năm qua.

Trong trường hợp ông Hồ Chí Minh không lập di chúc, quyền xử lý thi thể của ông vốn nên thuộc về những người có quyền thừa kế theo luật định. Bộ luật Dân sự nêu rõ các hàng thừa kế thứ nhất, thứ hai và thứ ba.[7] Trong các hàng thừa kế, cũng không có quy định đặc biệt nào dành cho ĐCSVN. Ngoài ra, các quyết định về việc xử lý thi thể ông Hồ Chí Minh từ phía chính phủ cũng không nêu ra bất kỳ văn bản ủy quyền từ người thân hay họ hàng của ông Hồ Chí Minh cho Bộ chính trị. Do đó, việc  liên tục trong 46 năm tự  ý xử lý thi thể ông Hồ Chí Minh mà không dựa theo bất kỳ cơ sở pháp luật nào là một hành vi “xâm phạm thi thể” theo Điều 246 BLHS.

“Ý Đảng – Lòng Dân” có cao hơn pháp luật?

Bắt đầu từ quyết định đầu tiên năm 1969 cho đến Nghị quyết số 122/NQ-QU năm 2012, ĐCSVN và chính phủ Việt Nam thường dựa vào “Ý Đảng – Lòng Dân” để làm cơ sở lập luận, cho phép họ được quyền xử lý và bảo quản thi thể Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, “Ý Đảng – Lòng Dân” trong trường hợp này không phải là cơ sở pháp lý được pháp luật Việt Nam thừa nhận.

“Ý Đảng – Lòng Dân” là một lập luận không những không mang tính pháp lý mà ngay cả ý nguyện của chính Hồ Chí Minh cũng không được bảo vệ và tôn trọng. Trong khi bất kỳ một công dân Việt Nam nào khác đều có quyền xử lý thi thể của mình sau khi chết theo ý nguyện cá nhân thì việc đi ngược lại di chúc của Hồ Chí Minh thể hiện sự xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của ông, ngay cả khi ông đã chết.

Quyết định của Bộ chính trị ĐCSVN cho phép họ tự ý xử lý và tiếp tục bảo trì thi thể Hồ Chí Minh theo phương cách của họ trong gần 46 năm qua, về bản chất, không khác biệt nhiều với hành vi của “cậu” Thủy hay bác sĩ Mạnh Tường đã làm đối với những thi thể và hài cốt của các nạn nhân trong các vụ án của họ.

Một trong những nguyên tắc pháp lý được thừa nhận rộng rãi trên thế giới là nguyên tắc stare decisis, một thuật ngữ Latin chỉ việc phán quyết giống nhau đối với những vụ án giống nhau.

Nếu như chủ tọa phiên xử vụ án “cậu” Thủy, ông Vũ Ngọc Mậu đã cho rằng, “xương cốt người là thứ thiêng liêng” và “xương cốt liệt sĩ lại càng thiêng liêng” để đánh giá hành vi của “cậu” Thủy và các đồng phạm là “vô đạo” và tuyên án chung thân, vậy thì hành vi của các cá nhân có liên quan trong ĐCSVN trong việc xâm phạm xương cốt và thi thể của Hồ Chí Minh cũng cần phải được phán quyết tương tự.

Bằng không, lập luận “Ý Đảng – Lòng Dân” sẽ là một trong những rào cản lớn nhất cho việc xây dựng xã hội pháp trị (rule of law) ở Việt Nam.

Đoàn Nhã An
——————
Tài liệu tham khảo:
[3] Bộ luật Hình sự (Bộ Tư pháp)
[6] Bộ luật Dân sự (Bộ Tư pháp)
[7] Bộ luật Dân sự (Bộ Tư pháp)

(Luật khoa Tạp chí)

Mỹ và Việt Nam bàn chuyện đặt thiết bị quân sự ở Đà Nẵng

 Mỹ và Việt Nam bàn chuyện đặt thiết bị quân sự ở Đà Nẵng

Tin tức về việc Mỹ tính chuyện đặt thiết bị quân sự ở Việt Nam được loan đi trong bối cảnh Tổng thống Barack Obama sẽ tới Việt Nam sớm Chủ Nhật này.

Tin tức về việc Mỹ tính chuyện đặt thiết bị quân sự ở Việt Nam được loan đi trong bối cảnh Tổng thống Barack Obama sẽ tới Việt Nam sớm Chủ Nhật này.

21.05.2016

Washington và Hà Nội đang thương thảo việc đặt các thiết bị quân sự ở Đà Nẵng để đối phó với các thiên tai trong khu vực.

Tờ Financial Times dẫn lời các quan chức Mỹ cho biết như vậy hôm qua.

Báo này viết rằng việc đôi bên tính tới chuyện đặt các thiết bị ở thành phố nằm ở vị trí chiến cách không xa biển Đông phần nhiều mang tính biểu tượng, và đó cũng là một ví dụ cho thấy sự biến chuyển trong mối quan hệ giữa hai nước cựu thù, giữa lúc Bắc Kinh không che giấu tham vọng “nuốt trọn” biển Đông.

Lầu Năm Góc từ chối bình luận về thông tin trên. Trong khi đó các quan chức Mỹ không tiết lộ danh tính cho Financial Times biết rằng đôi bên nhấn mạnh vào việc dùng thiết bị quân sự sẽ được đặt ở Đà Nẵng để đối phó với thiên tai vì không muốn làm Trung Quốc tức giận.

Tin tức về việc Mỹ tính chuyện đặt thiết bị quân sự ở Việt Nam được loan đi trong bối cảnh Tổng thống Barack Obama sẽ tới Việt Nam sớm Chủ Nhật này, và trong khi chính quyền Hà Nội nhiều lần công khai kêu gọi Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm vận sát thương đã áp đặt nhiều chục năm qua.

Trong các cuộc tiếp xúc với báo chí trước chuyến thăm, quan chức Mỹ đều cho biết chưa đi tới quyết định cuối cùng về việc dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát thương đối với Việt Nam.

Yếu tố nhân quyền

Phát biểu tại cuộc họp báo đầu tuần này, ông Daniel Kritenbrink, Giám đốc phụ trách các vấn đề châu Á thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ, nói rằng nhân quyền luôn là một yếu tố trong việc đi tới quyết định dỡ bỏ lệnh cấm vận hay không.

Ông nói thêm: “Nhân quyền vẫn luôn là một thành tố quan trọng, nếu không nói là trung tâm, trong việc đưa mối quan hệ song phương tiến về phía trước. Việc xét tới yếu tố nhân quyền sẽ vẫn là một điều quan trọng trong bất kỳ quyết định bán vũ khí nào với Việt Nam hay với bất kỳ quốc gia nào”.

Trong cuộc họp báo, ông Kritenbrink cũng nói thêm rằng ông hy vọng đôi bên sẽ ký một số thỏa thuận thương mại trong chuyến thăm của ông Obama.

Tuy nhiên, kể cả khi lệnh cấm vận vũ khí được bở dỏ hoàn toàn, các quan chức Mỹ cho rằng Việt Nam nhiều khả năng sẽ không mua các loại vũ khí, như tên lửa chống tàu, vì điều đó có thể khiến Trung Quốc phật lòng.

Thay vào đó, Hoa Kỳ nhiều khả năng sẽ bán cho Việt Nam radar và các thiết bị để trinh sát tốt hơn vùng biển Đông.

Chưa rõ là đôi bên có bàn tới chuyện mua vũ khí khi ông Obama tới Việt Nam hay không.

Theo Financial Times, VOA

THÁNH Ri-ta Ca-si-a, (St. Rita Cascia)

THÁNH Ri-ta Ca-si-a, (St. Rita Cascia)

Nữ tu , ngày 22/5

THANH RITA

Các thánh được Chúa ban phúc lành, và được Thiên Chúa cứu độ hằng thương xót. Đây chính là dòng dõi những kẻ tìm kiếm Chúa (Tv 23,5-6) hoặc “Không ai bỏ nhà, bỏ vợ, anh em, cha mẹ hay con cái vì nước Thiên Chúa, mà lại không được gấp bội ở đời này”( Lc 18, 29-30 ). Thánh Ri-ta Ca-si-a là Đấng đã được Thiên Chúa thương tuyển chọn nhờ lòng quảng đại, sự kiên trì, khiêm tốn, cầu nguyện liên lỉ của bà đối với cuộc đời  xem ra đầy khổ ải.

 Thánh Ri-ta Ca-si-a là ai ?

Thánh Rita sinh năm 1381 tại nước Ý Đại Lợi, miền Spoleto. Thánh nhân đã gặp truân chiên ngay từ bước đầu tiên khi Người muốn dâng mình trọn vẹn cho Chúa trong một tu viện nào đó,vì vâng lời cha mẹ, Người đã kết hôn  với một người chồng thô bạo, hung tợn và rất nóng tính. Thánh nhân đã can đảm,  anh dũng và kiên trì cầu nguyện cho một người chồng luôn lơ đãng, coi thường đạo lý và ham mê sắc dục. Thánh nhân đã luôn tâm niệm:” Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy, hạnh phúc thay ai trông cậy nơi Người”( Tv 33, 9 ). Lời cầu nguyện ròng rã của bà trong 18 năm trời đã được Chúa nhậm lời cho người chồng hung bạo,thô lỗ và tục tằn được ơn sám hối, ăn năn trở về với Chúa. Chúa đã cất người chồng của Rita bằng một cái chết do mối thù truyền kiếp của kẻ thù gây ra. Sóng gió tưởng qua đi cách êm thắm,nào ngờ, hai đứa con của bà đòi trả thù bằng cách  “răng thế răng, mắt thế mắt”, Rita lại tiếp tục cầu nguyện thà cho hai con bà chết, còn hơn để chúng còn sống mà phạm tội làm mất nước thiên đàng. Chúa đã nhậm lời Rita, hai người con ngã bệnh nặng, bà đã chăm sóc, khuyên răn hai người con trở về với Chúa trước khi chúng nhắm mắt lìa ời. Thánh Rita vẫn một lòng cương quyết dấn thân cho Chúa trong tu viện. Bà đã xin nhập Dòng thánh Augustine ở Ca-si-a, nhưng bị từ chối vì bà đã có chồng, không còn trinh khiết. Thánh nhân đã kiên trì cầu nguyện và phấn đấu hết sức, tin tưởng, cậy trông, phó thác nơi Chúa, Chúa đã chấp nhận lời Rita cầu xin và đã can thiệp bằng phép lạ để Ngài được nhận vào Dòng Augustine.

 ĐỜI SỐNG TẬN HIẾN CỦA Ri-ta ở Ca-si-a :

Thánh Rita sống đời tận hiến hết sức mực thước, gương mẫu, Ngài nổi bật trong những nhân đức như bác ái, ăn chay, hãm mình, phạt tội. Thánh nhân cầu nguyện cho những người đau yếu, bệnh hoạn, tật nguyền thường được Chúa nhậm lời. Với sự đạo đức, thánh thiện của Ngài, thánh Rita đã lôi kéo được rất nhiều người trở về với Hội Thánh Chúa Kitô. Thánh Rita đã được kết hiệp với sự thương khó của Chúa bằng những vết gai trên đầu, giống Chúa Kitô chịu đội mão gai. Các vết thương trên đầu của Rita trở nên đau nhức, mùi hôi xông lên khó chịu đến nỗi Ngài phải tránh xa mọi người.Thánh Rita coi đó là ơn huệ vô giá Chúa dành cho Ngài, Ngài xin được chịu cho tới chết. Thánh Rita đã sống những nhân đức hết sức anh hùng, Ngài đã qua đời ngày 22 tháng 5 năm 1457 vì bệnh lao phổi. Năm 1626; Rita được phong chân phước và năm 1900, Rita được phong lên bậc hiển thánh. Thánh Rita được coi là quan thầy của những trường hợp khó khăn nhất là những trường hợp khó khăn về hôn nhân, gia đình.

 LỜI CẦU NGUYỆN:

 “Lạy Chúa, Chúa đã mời gọi thánh Rita Ca-si-a đem hết sức mình sống đức ái toàn hảo, nhằm đạt lấy nước trời ngay ở trần gian. Này chúng con hết lòng tin tưởng vào lời chuyển cầu của thánh nhân, xin giúp chúng con bước đi vững vàng trên con đườg bác ái yêu thương trong niềm vui của người Kitô hữu.

 Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Tường trình biểu tình ở các tỉnh miền Trung

Tường trình biểu tình ở các tỉnh miền Trung

Xuân Nguyên, thông tín viên RFA
2016-05-22

YenThanh.jpg

Người dân tại Yên Thành, tỉnh Nghệ An biểu tình.

RFA PHOTO

00:02/00:00

Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Your browser does not support the audio element.

Các tỉnh miền Trung hưởng ứng lời kêu gọi biểu tình như thế nào?

An ninh bủa vây người hoạt động

Từ Nghệ An cựu tù nhân Thái Văn Dung cho rằng, tuy các tỉnh miền Trung là nơi trực tiếp hứng chịu vấn nạn ô nhiễm môi trường do công ty Formorsa xả chất độc ra biển, nhưng việc người dân hưởng ứng lời kêu gọi biểu tình là rất khó xảy ra. Bởi vì, thứ nhất là cuộc biểu tình ngày hôm nay rơi vào ngày bầu cử Đại biểu Quốc hội XIV và Hội đồng Nhân dân các cấp, thứ nhì là sự kiện Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đến thăm Việt Nam, cho nên số lượng người tham gia biểu tình sẽ rất ít.

Cựu tù nhân Thái Văn Dung kể cho chúng tôi nghe về việc anh bị an ninh huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An canh giữ, cản trở đi việc biểu tình, anh nói:

An ninh có gọi điện hỏi tôi anh có đi bầu cử không? Tôi trả lời rằng không đi bầu, bởi chưa đi bầu đã biết kết quả thì đi bầu làm gì.
– Nhà báo Võ Văn Tạo

“Cách đây mấy hôm và cả hôm nay, công an canh giữ tôi rất đông và rất nhiều, những ai vào làng, vào nơi tôi sinh sống thì sẽ bị kiểm tra giấy tờ, và tất cả các xe Taxi vào địa điểm này cũng bị công an kiểm tra giấy tờ, và hỏi xem lý do vào làng là gì? Vào làng với mục đích gì? Và nếu trên xe có bất cứ cái gì như thùng quà… thì sẽ bị công an kiểm tra.”

Anh Nguyễn Văn Hải, một người hoạt động tại thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An, nơi từng xảy ra cuộc biểu tình bảo vệ môi trường, nói với chúng tôi:

“Bây giờ ở ngoài cổng, công an đã chặn ở ngay đầu ngõ, lúc chiều còn có 3 công an tỉnh về đây, rồi sau đó có công an xã canh giữ xung quanh nhà.”

Từ huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, ông Lê Đình Lượng – một người hoạt động cũng xác nhận rằng, trong những ngày gần đây, an ninh túc trực 24/24 để canh giữ những người hoạt động taị đây. Ở đây có an ninh mặc sắc phục, thường phục, thậm chí còn có cả côn đồ xuất hiện để gây gỗ với những hoạt động.

Ông Lê Đình Lượng tiếp lời:

“Ngày hôm qua có một em đi từ nhà tôi ra đường, đi được khoảng 3km em ấy liền bị an ninh bắt giữ, sau vài giờ giam giữ và đánh đập, an ninh đã thả em ra.”

Từ Nha Trang, nhà báo Võ Văn Tạo nói về tình trạng an ninh đối xử với những người hoạt động tại đây:

“Thường xuyên thì không, nhà tôi không có sự canh giữ thô bạo như ở Hà Nội, Sài Gòn, nhưng tại Nha Trang một số người như blogger Mẹ Nấm – Nguyễn Ngọc Như Quỳnh bị công an canh giữ trước nhà, blogger Phạm Hải cũng thế, mốt số anh em khác cũng vậy, họ bị an ninh gọi điện thoại đến can ngăn, hăm he đủ thứ…

AnNinhNgheAn.jpg

An ninh tại Nghệ An canh giữ, cản trở người dân đi biểu tình. RFA PHOTO

Riêng với tôi họ chỉ hỏi bác có đi biểu tình hay không? Tôi trả lời rằng tôi không biết được.”

Được biết, trong những ngày gần đây, một số người dân đã gạch chéo thẻ cử tri, nhàu hoặc xé nát thẻ cử tri để bày tỏ quan điểm tẩy chay cuộc bầu cử mang tính hình thức ‘đảng cử – Dân bầu’, những hình ảnh này xuất hiện tràn lan trên mạng xã hội Facebook.

Nói về việc có đi bầu cử ĐBQH khóa 14 hay không, nhà báo Võ Văn Tạo kể lại:

“Hôm qua, hôm kia an ninh có gọi điện hỏi tôi anh có đi bầu cử không? Tôi trả lời rằng không đi bầu, bởi chưa đi bầu đã biết kết quả thì đi bầu làm gì. Mặt khác, các văn bản quy phạm Pháp luật Việt Nam quy định việc bầu cử chỉ là quyền chứ không phải là nghĩa vụ như người ta tuyên truyền bên ngoài, đã là quyền lợi thì thích là làm, không thích là bỏ.”

Tại Huế, tình trạng người dân bi an ninh canh giữ, cản trở người dân đi biểu tình cũng xảy ra. Theo tin chúng tôi nhận được, facebooker Tiêu Kim Thúy đã bị công an phường Phú Bài, thị xã Hương Thuỷ – tỉnh Thừa Thiên Huế bắt giữ vào lúc 23 giờ ngày 21/5/2016 vì người này đã đi in áo có logo Cá. Hiện nay không ai biết người này đang bị giam giữ ở đâu.

Biểu tình nhỏ tại Nghệ An

Đúng 5 giờ chiều, một cuộc biểu tình nhỏ đã diễn ra tại huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Từ cuộc biểu tình nhỏ này, ông Lê Đình Lượng cho chúng tôi biết:

“Hiện tại ở đây có khoảng hai đến 30 chục người, có vài người là an ninh của huyện Yên Thành, họ đang khuyên người dân đừng đi biểu tình, an ninh mặc sắc phục và thường phục đứng ở đây rất nhiều, họ cứ lượn đi lượn lại xung quanh khu vực biểu tình. Và người dân ở đây bắt đầu tham gia hưởng ứng cuộc biểu tình.”

Người dân ở đây họ ngộ ra vấn đề về thực trạng của xã hội, cho nên lượng người đi bầu cử rất ít, và lực lượng an ninh đã phải đi vận động các gia đình ở đây đi bầu cử.
– Ông Lê Đình Lượng

Ông Lê Đình Lượng nói với chúng tôi về việc người dân tại nơi ông sống hưởng ứng lời kêu gọi biểu tình.

“Người dân ở đây họ ngộ (thức tỉnh) ra vấn đề về thực trạng của xã hội, cho nên lượng người đi bầu cử rất ít, và lực lượng an ninh đã phải đi vận động các gia đình ở đây đi bầu cử, thế nhưng tại các điểm bầu cử cũng rất vắng, sáng nay khoảng 9 – 10 giờ, tôi có đi chụp hình thì thấy như vậy.

Về vấn đề môi trường, mọi người cũng đã hiểu về việc nhà máy Formosa thải chất độc hại ra môi trường biển khiến biển bị ô nhiễm nặng nề nên cá chết rất nhiều, và điều này ảnh hưởng đến đời sống dân sinh trên diện rộng. Và do người dân thấy được tầm ảnh hưởng đó nên họ đã xuống đường ôn hòa 3 – 4 lần để phản đối thái độ thờ ơ của chính quyền về vụ việc này.”

Cuối cùng ông nói thêm, hiện nay lực lượng an ninh được điều động đến đông hơn trước, và theo kế hoạch thì khoảng 6 giờ chiều người dân sẽ ngưng biểu tình.

Chúng tôi tiếp tục liên lạc với cựu tù nhân Thái Văn Dung để hỏi về việc sẽ gửi thông điệp gì nếu có cơ hội được gặp tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama, cựu tù nhân Thái Văn Dung cho biết:

“Một thông điệp là ‘Việt Nam cần thay đổi’, tôi muốn gửi đến Tổng thống Mĩ và quốc tế rằng, Việt Nam chúng tôi cần thay đổi, thay đổi về cải cách chính trị, kinh tế, chúng tôi muốn đa nguyên – đa đảng để xây dựng đất nước phát triển.”

Cựu tù nhân Thái Văn Dung khẳng định rằng, muốn thay đổi đất nước thì phải dựa vào nội lực, dựa vào những người đấu tranh và dựa vào người dân. Tuy nhiên cựu tù nhân Thái Văn Dung vẫn mong muốn tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama và Quốc tế làm điều gì đó, dù nhỏ nhoi để thúc đẩy tiến trình dân chủ tại Việt Nam.

TRĂM NGHÌN NHÁNH KHỔ

 TRĂM NGHÌN NHÁNH KHỔ

Vũ Thế Thành

Các quán nhậu vỉa hè dọc kênh Nhiêu Lộc dạo này nhiều người hát rong, cũng ampli, loa, micro không dây, nhạc đệm,…Họ chỉ hát toàn nhạc xưa, nhạc sến, với điệu rumba, bolero nghe tưởng như đồng hồ đếm ngược. Lần trước về Sàigòn, tôi đã ngồi quán vỉa hè, nghe những bài ca vỉa hè như thế…Lặng cả người, “…Buồn vào hồn không tên, thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời. Đường phố vắng đêm nao quen một người, mà yêu thương trót trao nhau trọn lời..

Tôi chợt nhớ những ngày sau tháng tư 75, đám bạn bỗng nhiên làm đám cưới chớp nhoáng, lấy vợ lấy chồng để “đối phó” với thời cuộc, rồi vội vã tìm đường vượt biên. Có đứa vượt qua biên giới, nhưng cũng có đứa về bên kia thế giới. Những người ở lại tưởng họ đã đến bến bờ thiên đường.

Bước lên tàu là ngàn khơi sóng vỗ, không phải là chuyến xe Sàigòn- Đà Lạt. Có khi Hà bá mời xuống chơi, có khi tủi nhục trên đường vượt biển, phần còn lại là may mắn. Mà có may mắn lọt vào xứ người cũng chưa hết. Cô bạn tôi cao chưa quá thước rưỡi, với tay đưa khay bánh vào ngăn, trượt chân, u đầu sứt trán. Quên cả đau, vội vội vàng vàng lượm bánh xếp lại vào khay. Bà xếp Tây mắng, “Xứ này không ăn dơ như thế”.

Cũng có người đi làm nail, tiền tươi thóc thật, dồn hết cho con ăn học. Hy sinh đời bố, củng cố đời con, hiểu sát nghĩa đen là đây, là mồ hôi trộn nước mắt. Tiền gửi về nhà, người thân trong nước tưởng đâu bên đó kiếm tiền dễ như ăn cơm sườn, xin thêm thứ này thứ nọ. Có biết đâu đó là tiền chắt chiu, có khi là tiền thí mạng, không mua bảo hiểm y tế.

Nhưng cũng có người kiên nhẫn vừa làm vừa học, thành danh nơi xứ người. Nhưng cho dù thế nào nơi xứ người, vẫn còn ít nhiều cơ hội, có chịu nắm hay không mà thôi. Trong nước thì coi như bế tắc. Hồi đó, tôi dạy kèm thêm luyện thi đại học, dạy nhóm 5-7 học sinh. Có em học xuất sắc, bài thi làm không chê vào đâu được. Vậy mà rớt. Em là con “ngụy”, thứ “ngụy” còn trong trại cải tạo, làm sao vào đại học nổi, em rớt ngay từ bãi gửi xe. Em đến báo tin, thầy trò ngồi uống cà phê vỉa hè, buồn ứa nước mắt. Đất nước này không dung những tiềm năng như em… Số phận đời người chứ đâu phải trò chơi chính trị. Sao lại có thể xây dựng đất nước bởi những con người bằng thiệt học giả?

Những năm sau 75, đói khổ và ê chề thấy rõ. Giáo sư, bác sĩ, ông này bà nọ xuống đường ra chợ trời hết, người đạp xích lô, người bơm mực bút bi, bán bún riêu, buôn hàng lạc xon,… Lanh hơn thì buôn hột xoàn đổi đô la,…

Năm 78, tôi gặp một phụ nữ ăn mặc lam lũ, nhưng đẹp, qúy phái, không quá 30, trên chuyến tàu chợ. Chị kéo lê 2 bao than ra gần cửa tàu, ngước mắt nhìn tôi, nói như năn nỉ: “Lát nữa gần đến ga Bình Triệu, anh làm ơn đạp dùm tôi 2 bao than này xuống”. Chị buôn lậu than, đến ga sẽ bị tịch thu. Đôi mắt chị buồn và nhẫn nhục quá, làm tôi nhớ đến đôi mắt của bà mẹ trong một tác phẩm của C.V.Gheorghiu. Cảnh sát bắt bà mẹ vào bót để tra hỏi nơi ẩn nấp của con bà. Gheorghiu đã mô tả đôi mắt của bà cũng buồn và nhẫn nhục như thế.

Có lần đi chơi khuya, tôi gặp Bùi Giáng ở ngã ba Trần Quang Diệu-Trương Minh Giảng, ăn mặc chắp vá màu mè như phường tuồng, cầm cây chổi cùn múa may, chặn đầu xe tôi lại, “Cho trẫm điếu thuốc”. Hoàng thượng đã chiếu cố xin thuốc dân đen, dân nào dám cãi. Tôi rút điếu thuốc và cung kính châm lửa cho hoàng thượng. Ngài rít một hơi rồi phẩy tay, “Cho lui…”. Lui rồi, ngoái cổ lại, thấy hoàng thượng tiếp tục múa chổi đi quyền.

Bùi Giáng đã có mầm mống bất thường từ trước rồi, sau 75 nặng hơn, lang thang khắp chốn. Cái điên của Bùi Giáng thật hay giả, cũng khó biết. Mất trí như ông vậy mà hay, ý thức buồn vui làm chi cho khổ?

Mà Sài Gòn lúc đó sao lắm người điên thế! Cũng không phải điên, họ có phá phách gì ai đâu. Tôi thường gặp vài ông ăn mặc lịch sự lắm, áo sơ mi trong quần, có ông còn đeo cà vạt, đi đi lại lại ở khu Lê Công Kiều, nơi bán sách cũ. Vừa đi vừa khua tay, lảm nhảm rồi lại gật gù, nào là Marx, Hegel, Mounier, Sartre,…

Người bạn tôi qua được tới bến bờ, vừa làm vừa học, gửi về cho tôi thùng quà chừng 1,5 kg kèm bức thư ngắn: “Gửi mày mấy hộp thuốc tây, bán đi mà lai rai. Còn lọ nhỏ để uống, đừng bán. Thuốc an thần đó”. Tâm thần phải chăng là lối thoátcủa con người với thực tại quá phũ phàng?

Sau 75, tôi học được một điều, mà đến nay vẫn thấy chí lý. Đó là, người chiến thắng tuyệt đối đúng. Lịch sử thuộc về người chiến thắng. Chân lý cũng thuộc về người chiến thắng luôn. Đánh thắng cả 3 tên đế quốc đầu sỏ, sao lại không đúng?Cái gì không có nội dung, mới cần tới hình thức là thế. Người chiến thắng tự hào là đúng rồi, nhưng tự hào cả những cái sai. Sai mà cứ tưởng mình đúng. Chuyện “tủ lạnh chạy đầy đường” chỉ là chuyện khôi hài, chuyện nhỏ. Cái “sai mà tưởng đúng” mới làm đất nước ra nông nỗi thế này, di lụy chẳng biết bao giờ mới hết.

Ngẫm lại, một nhà chính trị tài giỏi là người có thểđưa đất nước tới mục tiêu mà ít đổ máu nhất, chứ đâu cần phải đốt cả dãy Trường Sơn, đánh tới người cuối cùng. Mạng người quá bèo. Bèo thì cũng đành, nhưng hệ lụy cho người còn sống, cha mẹ vợ con họ mới là nỗi đau gặm nhấm cả đời.

Cả đất nước sống bằng khẩu hiệu, đất nước ta dân chủ gấp vạn lần,… Nghe riết rồi quen, nghe tai này lọt tai kia cũng quen luôn. Không quen lỡ có ngày phát điên thì sao?

Người lẽ ra phải điên mà không chịu điên, đó là mấy bà. Cầm có tí tẹo tiền, xách giỏ đi chợ, loanh quanh đầu chợ cuối chợ cả tiếng đồng hồ,có khi chẳng mua được thứ gì. Mà có tiền đi chợ là còn may, có người chỉ khoai sắn, rau lang, bí đỏ,…quanh năm. Ăn để sống sót thì thứ gì chẳng nhét vô bụng được. Bột ngọt khi đó là thần thánh.

Mấy ông “tù cải tạo” coi vậy chứ chỉ khổ cái thân, chứ cái đầu chưa đến nỗi. Có biết bên ngoài thế nào đâu mà khổ, mà lo. Vợ một bác sĩ quân y đi thăm nuôi, dúi vào tay chồng ít tiền. Thăm nuôi lần sau, thấy tiền vẫn còn nguyên, ông chồng không dám xài. Bà than, “Tội nghiệp cho cả gia đình tôi ! Ở ngoài vợ con nhịn đói để nuôi tù, ở trong nhịn đói vì không nỡ nuốt cái đói khát của vợ con”. Não lòng đến thế là cùng!Nước mắt nuốt ngược thế này, chỉ bị nghẹn mà không phát điên,bà nàychắc có căn phần phúc đức.

Nghe nói mấy ông “ngụy cải tạo” định lập ra ngày vinh danh mấy bà vợ. Không đủ đâu mấy ông. Mấy bà này chắc phải phong thánh.

Tháng tư năm nay, Sàigòn nóng khủng khiếp. Sàigòn không mưa nhưng Đà Lạt mưa. Những ngày cuối tháng tư năm nào Đà Lạt cũng mưa, mưa mù mịt che khuất cả đồi thông ởCouventdes Oiseaux đối diện nhà, nhưng mưa chỉ vào lúc trưa chiều, tối tạnh.

Đà Lạt 8 giờ tối đã như 12 giờ khuya ở Sài Gòn. Tôi vẫn thích đi bộ mỗi khi có chút hơi men thế này. Con đường dốc về nhà như kéo theo mệt mỏi của đời người. Tựa lưng vào cửa nhà, hoa lá trong vườn yên tĩnh như đêm. Dưới ánh đèn đường rọi qua hàng rào, bóng của lá cây ngọc lan chập chờn trên mặt sân. Cuối tháng tư rồi. Người ta sẽ đốt pháo hoa ở Sàigòn để ăn mừng. Ai vui xin cứ vui. Nhưng còn chút tâm tình này của kẻ buồn, không nói cho thế hệ sau biết những buồn bã sau 75 là như thế đó, lòng dạ nào yên?

Đời trăm nghìn nhánh khổ, nhánh nào cho người, nhánh nào cho mình? Năm 75 là ngã rẽ của đời người. Bạn bè, người thành danh, đứa bầm dập, và cho dù có ở phương trời nào, tây hay ta, nỗi khổ vẫn theo số mệnh mà đến. Giờ đây, đứa nào cũng chạm tay vào buổi hoàng hôn cuộc đời rồi. Tháng tư, tôi thắp ngọn nến trong lòng. Thoảng trong mùi hương ngọc lan, tôi hát theo, hát thầm bài hát nghe được ở quán rượu “…Cuộc đời là hư vô, bôn ba chi xứ người, khi mình còn đôi tay…” (**)

Vũ Thế Thành

NGƯỜI PHÚ HỘ VÀ LAZARÔ NGHÈO

BÀI 15 – VỀ DỤ NGÔN NGƯỜI PHÚ HỘ VÀ LAZARÔ NGHÈO

DUC THANH CHA

 

 

 

 

 

 

 

“Bỏ bê người nghèo là khinh thường Thiên Chúa!…

Ở trong cái đảo ngược của hai số phận chất chứa trong dụ ngôn

đó là mầu nhiệm cứu độ của chúng ta,

một mầu nhiệm Chúa Kitô liên kết nghèo khổ với lòng thương xót”

Xin chào Anh Chị Em thân mến!

Hôm nay tôi muốn suy niệm với anh chị em về dụ ngôn người phú hộ và Lazarô nghèo. Đời sống của 2 con người này dường như đi song song với nhau, ở chỗ, thân phận sống của họ tương phản và hoàn toàn tách biệt nhau. Cửa chính của nhà người phú hộ lúc nào cũng đóng kín trước con người nghèo khổ này, một con người nằm ngoài cửa ấy, mong tìm được một chút gì để ăn từ bàn ăn của người phú hộ này. Người phú hộ ăn mặc xa hoa, trong khu Lazaro thì lại đầy ghẻ lở. Người phú hộ yến tiệc linh đình hằng ngày, trong khi Lazarô đang bị chết đói. Chỉ có những con chó rình chực và đến liếm các chỗ lở loét của ông.

Cảnh tượng này nhắc nhở chúng ta về lời khiển trách khắc nghiệt của Con Người trong cuộc Chung Thẩm là “Ta đói các người không cho Ta ăn,Ta khát các người không cho Ta uống, Ta trần truồng các người không cho Ta mặc” (Mathêu 25:42-43). Lazaro là tiêu biểu rõ ràng cho tiếng kêu âm thầm của người nghèo qua mọi thời đại cũng như cho cái tương khắc của một thế giới có vô khối kho tàng và nguồn lợi ở trong tay của một thiểu số.

Chúa Giêsu nói rằng một ngày kia người phú hộ chết đi: người nghèo và người giầu đều chết, cả hai có cùng một số phận, như tất cả chúng ta; không có ngoại lệ ở chỗ này. Thế rồi con người ấy ngước lên Abraham, van xin ngài bằng danh xưng “cha” (các câu 24,27). Như thế là người này cho mình là con cái của Abraham, thuộc về Dân Chúa. Thế mà trong đời sống người ấy lại tỏ ra chẳng để ý gì đến Thiên Chúa; trái lại, ông ta biến mình thành tâm điểm của hết mọi sự, khép mình trong thế giới xa hoa và phung phí của mình. Khi loại trừ Lazarô như thế ông ta không quan tâm gì đến Thiên Chúa hay đến Lề Luật của Người. Bỏ bê người nghèo là khinh thường Thiên Chúa! Chúng ta cần phải biết rõ điều ấy: bỏ bê người nghèo là khinh thường Thiên Chúa.

Cần phải lưu ý tới một điểm đặc biệt trong dụ ngôn này, đó là con người giầu này không có tên, ngoại trừ tĩnh từ “giầu có”; trong khi tên của con người nghèo được lập đi lập lại đến 5 lần và “Lazarus” có nghĩa là “Chúa giúp”. Lazarô, người nằm ở ngay trước cửa, là một tiếng gọi sống động đối với con người giầu có này là hãy nhớ đến Thiên Chúa, thế nhưng con người giầu ấy đã không đón nhận tiếng gọi ấy. Bởi thế mà ông ta sẽ bị luận phạt, chẳng phải vì cái giầu sang phú quí của ông, mà vì không biết cảm thương Lazarô và giúp đỡ Lazarô.

Ở phần hai của dụ ngôn này, chúng ta lại thấy Lazarô và người phú hộ sau khi chết (các câu 22-31). Ở bên kia thế giới, tình hình bị đảo lộn, ở chỗ, Lazarô nghèo được Thiên Thần mang lên Trời cho Abraham; trái lại, người phú hộ lại bị trầm luân cực hình. Bấy giờ người phú hộ “ngước mắt lên thấy Abraham từ đằng xa và Lazarô ở trong lòng của ngài”. Ông ta dường như trông thấy Lazarô lần đầu tiên, thế nhưng lời lẽ của ông ta lại quay ra phản bội ông: “Lạy Cha Abraham – ông ta lên tiếng – xin thương đến tôi và bảo Lazarô nhúng đầu ngón tay vào nước để làm mát lưỡi của tôi; vì tôi đang khốn cực trong ngọn lửa này”. Bấy giờ người phú hộ nhìn nhận Lazarô và xin Lazarô giúp, trong khi ở đời này ông ta đã giả bộ như không thấy Lazarô. Biết bao nhiêu lần nhiều người giả bộ không nhìn thấy người nghèo! Đối với họ không có việc người nghèo hiện hữu. Trước kia ông ta đối xử tới độ từ chối Lazarô cả những gì dư thừa từ bàn ăn của mình, giờ đây ông ta lại muốn Lazarô mang đến cho ông ta một chút gì đó! Ông ta vẫn tin rằng ông ta có quyền đòi hỏi vì thân phận xã hội trước đây của ông ta. Khi từ chối không thể đáp ứng điều yêu cầu của ông ta, Abraham đích thân cống hiến cái then chốt của cả câu truyện này, ở chỗ, ngài giải thích rằng các sự lành và những sự dữ đã được phân phối để bù lại tình trạng bất công trên thế gian, và cánh cửa trong cuộc đời tách biệt người phú hộ khỏi con người nghèo đã bị biến thành “một vực thẳm khổng lồ”. Bao lâu Lazarô còn ở nhà của ông ta thì người phú hộ đã có cơ hội cứu độ, bằng cách mở rộng cửa giúp đỡ cho Lazarô, thế nhưng giờ đây cả hai đều đã chết, tình trạng đã trở thành bất khả cứu chữa. Thiên Chúa không bao giờ trực tiếp kêu gọi, thế nhưng bài dụ ngôn này bắt người ta phải cảnh giác là lòng thương xót Chúa đối với chúng ta được gắn liền với lòng thương xót của chúng ta với tha nhân; khi thiếu mất tha nhân thì Thiên Chúa không tìm thấy khoảng trống trong tấm lòng khép kín của chúng ta, Ngài không vào đó được. Nếu tôi không mở rộng cửa lòng của tôi ra cho người nghèo thì cánh cửa đó vẫn cứ đóng, cả với Thiên Chúa. Như thế thì ghê sợ thay.

Tới đây người phú hộ nghĩ tới anh em của mình, những người cũng có nguy cơ tiến đến một kết cục như ông, nên ông đã xin rằng nếu được thì Lazarô có thể về báo cho họ. Thế nhưng Abraham trả lời rằng: “Họ đã có Moisen và các vị tiên tri; họ hãy nghe theo những vị ấy”.

Chúng ta không được đợi chờ xẩy ra những biến cố lạ lùng rồi mới hoán cải, thế nhưng chúng ta cần phải mở lòng mình ra cho Lời Chúa là lời kêu gọi chúng ta hãy kính mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân. Lời Chúa có thể làm cho con tim cằn cỗi phục hồi và chữa lành cái mù lòa của nó. Người phú hộ biết Lời Chúa, nhưng ông ta đã không để cho Lời Chúa lọt vào lòng của ông, ông không lắng nghe Lời Chúa, bởi thế ông không thể mở mắt mình ra và tỏ lòng cảm thương con người nghèo khổ ấy. Không có sứ giả nào hay không có sứ điệp nào có thể thay thế cho người nghèo chúng ta gặp ngoài phố xá, vì ở nơi họ, Chính Chúa Giêsu đến gặp gỡ chúng ta: “Thật vậy, Ta nói cho các người hay là khi các người làm điều ấy cho một trong những người anh em hèn mọn nhất của Ta đây là các người làm cho Ta” (Mathêu 25:40), Chúa phán. Vậy, ở trong cái đảo ngược của hai số phận chất chứa trong dụ ngôn đó là mầu nhiệm cứu độ của chúng ta, một mầu nhiệm Chúa Kitô liên kết nghèo khổ với lòng thương xót.

Anh chị em thân mến, nghe bài Phúc Âm này, tất cả chúng ta, cùng với thành phần nghèo khổ trên trái đất này, có thể cùng với Mẹ Maria hát lên rằng: “Ngài đã hạ người quyền hành xuống khỏi bệ cao và đã nâng người hèn mọn lên; Ngài đã cho người đói khó no đầy thiện hảo và để người giầu có trở về tay không” (Luca 1:52-53).

https://zenit.org/articles/general-audience-on-the-parable-of-lazarus/

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch (kèm theo nhan đề và những chỗ nhấn mạnh tự ý)

MUÔN HOA DÂNG MẸ

MUÔN HOA DÂNG MẸ

Tháng Năm tươi thắm muôn hoa,
Vàng hồng trắng đỏ, đậm đà sắc hương.
Lòng thành, tin cậy mến thương,
Trước nhan thánh Mẹ, khiêm nhường tiến dâng.

DUC ME

Mỗi dịp tháng năm về, các Nhà thờ rộn rã mùa dâng hoa kính Đức Mẹ.  Phụng vụ Mùa Hoa tưng bừng nhộn nhịp với nhiều thể loại phong phú Rước hoa và Dâng hoa tuỳ mỗi tập quán mỗi đặc trưng văn hóa địa phương.  Những bài ca dâng Mẹ ngân nga khắp nơi.  Ca khúc “Đây Tháng Hoa” của Nhạc sĩ Duy Tân, có lẽ ai cũng thuộc lòng.

Đây tháng hoa, chúng con trung thành thật thà.  Dâng tiến hoa, lòng mến dâng lời cung chúc.  Hương sắc bay, tỏa ngát nhan Mẹ diễm phúc.  Muôn tháng qua, lòng mến yêu Mẹ không nhòa.

– Đây muôn hoa đẹp còn tươi thắm xinh vô ngần.  Đây muôn tâm hồn bay theo lời ca tiến dâng.  Ôi Maria, Mẹ tung xuống muôn hoa trời.  Để đời chúng con đẹp vui, nhớ quê xa vời.

– Muôn dân trên trần mừng vui đón tháng hoa về.  Vang ca tưng bừng ngợi khen tạ ơn khắp nơi.  Ánh hồng sắc hương càng tô thắm xinh nhan Mẹ.  Sóng nhạc reo vang tràn lan đến muôn muôn đời.

Nói tới hoa là nghĩ về một kỳ công của Thiên Chúa.  Hoa muôn màu muôn sắc, hoa tươi xinh, hoa thơm ngào ngạt.  Hoa tô thắm vũ trụ nên xinh tươi.  Hoa mời gọi ong bướm đến hút mật.  Hoa khoe sắc thắm, nhoẻn cười với con người.  Lời của hoa thật dịu huyền giữa thiên nhiên.  Hoa hòa vào lòng người dâng lời cảm tạ Thiên Chúa.

Loài hoa nào cũng đẹp.  Loài hoa nào cũng gởi cho ta một sứ điệp yêu thương. “Hoa Hướng Dương biểu trưng cho mặt trời toả sáng, sưởi ấm lòng người.  Hoa Mười Giờ gởi ta một tình yêu thuỷ chung, son sắt.  Dù đời em chỉ toả sáng lúc mười giờ, nhưng trọn đời em vẫn yêu thương.  Thật vấn vương khi nhắc đến loài Hoa Phượng.  Loài hoa gợi ta nhớ lại những phút giây vui đùa trên sân trường thuở nhỏ, một tuổi thơ mơ tiên, hồn nhiên, trong trắng, thơ ngây, tuổi ô mai, tuổi vấn vương, tuổi học trò.  Màu hoa tươi tắn là tình yêu chan chứa cho cuộc đời khô cằn nắng cháy và cũng là ước nguyện, sức sống cho tương lai.  Hoa Lưu Ly là lời tha thiết yêu thương “xin đừng quên tôi.”  Cuộc đời là muôn đời liên kết “xin đừng quên tôi” hỡi người tôi yêu!  Đó phải chăng là những ai còn nhớ và những ai đã quên, nhất là khi ta vắng mặt sau cuộc đời trần thế.” (Sứ điệp loài hoa, trg 11.)

Hoa đã trở thành bạn thân thiết với con người.  Khi vui người ta tặng hoa để chúc mừng nhau.  Khi buồn người ta cũng trao gởi lẳng hoa như trao gởi tấm lòng đồng cảm thân thương.  Hoa khích lệ lòng người.  Hoa hướng con người nhớ tới Đấng tạo hoá đã xoay vần vũ trụ bốn mùa xinh tươi.  Hoa mơn man lòng người đau khổ.  Hoa khích lệ những ai thất bại.  Hoa chúc mừng những ai chiến thắng.  Hoa ca vang kỳ công kiệt tác của Thiên Chúa.  Đôi khi, chỉ một cánh hoa đủ trào dâng lòng mến của Thánh Têrêxa Hài Đồng.  Nhiều lần, một dàn hoa làm tâm hồn Thánh Phanxicô ngây ngất tình Chúa.

Lắng nghe tiếng nói huyền diệu của hoa, Thánh Bênađô biết được tâm trạng của hoa.  Chẳng hạn, hoa Hồng giàu lòng yêu mến.  Hoa Huệ biểu tượng đức Khiết trinh, hoa Tím là duyên đức đoan trang khiêm tốn.  Thánh nhân ca ngợi các nhân đức Đức Mẹ qua ý nghĩa các loài hoa.  Hoa Hồng đức mến, hoa Huệ đức Khiết trinh, hoa Tím đức Khiêm nhường.  Đức Mẹ là hoa Huệ khiết trinh.  Đức Mẹ là hoa Hồng yêu mến.  Hương thanh khiết và tình yêu của Mẹ đã làm cho mùa xuân trần gian được hồi sinh. Ơn cứu độ được ban tặng cho trần đời nhờ hoa lòng của Mẹ hằng đẹp lòng Thiên Chúa.
Sứ Thần Gabriel đã cung kính thưa với Mẹ rằng: “Mừng vui lên, hỡi Ðấng đầy ơn phước, Thiên Chúa ở cùng bà!” (Lc 1, 28).  “Ðấng đầy ơn phước” là tên gọi đẹp nhất của Mẹ Maria, tên gọi mà Thiên Chúa đã ban cho Đức Mẹ, để chỉ cho biết rằng từ muôn thuở và cho đến muôn đời, Đức Mẹ được yêu thương, được Thiên Chúa tuyển chọn.  Đức Mẹ tuyệt đẹp vì không vương vấn tội, vẻ đẹp của sự thánh thiện vô tỳ tích, một vẻ đẹp không chỉ do con người nỗ lực thanh tẩy mà còn do ân sủng Thiên Chúa trao ban.
Tháng Năm về, mỗi lần thưởng thức hương hoa, ta hãy hướng về Đức Mẹ, xin Mẹ tỏa hương thiên đàng của người, ấp ủ ta thành những đóa hoa tươi thắm của Mẹ.  Mỗi khi hái hoa dâng tiến Đức Mẹ, ta hãy mượn hương sắc và lời huyền diệu của hoa để ca tụng hoặc cầu xin người.  Dâng hoa Hồng, xin Mẹ cho ta được yêu mến Mẹ nhiều hơn.  Dâng Hoa Huệ, ta ca ngợi đức khiết trinh của Mẹ.  Xin Mẹ lấy hương huệ trinh nguyên của hồn Mẹ ướp hồn ta nên trong trắng.

Tháng Năm về, mỗi tín hữu yêu mến Hoa Mân Côi cách đặc biệt hơn.  Hoa Mân Côi là sứ điệp Yêu Thương, sứ điệp Ơn Cứu Độ, là kinh nguyện Phúc Âm được kết dệt từ các mầu nhiệm chính trong đạo: Mầu Nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể, Mầu Nhiệm Cuộc Đời Dương Thế, Vượt Qua và Thăng Thiên, được suy gẫm qua 20 Mầu Nhiệm “Hoa Mân Côi”: Năm Sự Vui, Năm Sự Sáng, Năm Sự Thương, Năm Sự Mừng.

Mỗi khi cất lên lời kinh: Kính mừng Maria đầy Ơn Phước… là chúng ta kết thành Hoa Mân Côi kính dâng Mẹ.  Từ trời cao, Đức Mẹ mừng vui và ban muôn ơn lành cho đoàn con cái sốt mến thành tâm hướng về Mẹ.

Ở thành Nancêniô bên nước Pháp, có một gia đình trung lưu.  Vợ đạo đức, chồng hiền lành nhưng khô khan.  Vợ luôn cầu xin Chúa mở lòng cho chồng sửa mình, nhưng chồng cứng lòng mãi.

Năm ấy, đầu tháng Hoa Đức Mẹ, bà sửa sang bàn thờ để mẹ con làm việc tháng Đức Mẹ.  Chồng bà bận việc làm ăn, ít khi ở nhà, và dù ông ở nhà cũng không bao giờ cầu nguyện chung với mẹ con.  Ngày lễ nghỉ không bận việc làm thì cũng đi chơi cả ngày, nhưng ông có điều tốt là khi về nhà, bao giờ cũng kiếm mấy bông hoa dâng Đức Mẹ.

Ngày 15 tháng 6 năm ấy, ông chết bất thình lình, không kịp gặp linh mục.  Bà vợ thấy chồng chết không kịp lãnh các phép đạo, bà buồn lắm, nên sinh bệnh nặng, phải đi điều trị ở nơi xa.  Khi qua làng Ars, bà vào nhà xứ trình bày tâm sự cùng cha xứ là cha Gioan Maria Vianey.

Ngài là người đạo đức nổi tiếng, được mọi người xem là vị thánh sống.  Bà vừa tới nơi chưa kịp nói điều gì, cha Vianey liền bảo:

– Đừng lo cho linh hồn chồng bà.  Chắc bà còn nhớ những bông hoa ông vẫn đem về cho mẹ con bà dâng cho Đức Mẹ trong tháng Hoa vừa rồi chứ?

Nghe cha nói, bà hết sức kinh ngạc, vì bà chưa hề nói với ai về những bông hoa ấy, nếu Chúa không soi cho cha, lẽ nào người biết được?

– Cha Vianey nói thêm: Nhờ lời bà cầu nguyện và những việc lành ông ấy đã làm để tôn kính Đức Mẹ, Chúa đã thương cho ông ấy được ăn năn tội cách trọn trong giờ chết.  Ông ấy đã thoát khỏi hỏa ngục, nhưng còn bị giam trong luyện ngục, xin bà dâng lễ, cầu nguyện, làm việc lành thêm cầu cho ông chóng ra khỏi nơi đền tội nóng nảy mà lên Thiên đàng.  Nghe xong lời cha Vianey, bà hết sức vui mừng tạ ơn Đức Mẹ.  (trích từ: Sách Tháng Đức Bà, Hiện Tại xuất bản, 1969, trg 10).

Chỉ có mấy bông hoa nhỏ dâng kính Đức Mẹ mà người đàn ông khô khan ấy cũng được Đức Mẹ ban ơn cứu rỗi lớn lao như vậy.  Trong cuộc hành hương nội tâm hay lữ hành nơi dương thế, chúng ta tin có Mẹ Maria luôn cầu bầu che chở, yêu thương nâng đỡ.  Chúng ta nhìn lên Mẹ như mẫu gương của bậc thầy lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa.  Hãy luôn vững lòng cậy trông với niềm tin yêu.  Đức Mẹ hằng yêu thương phù trợ mỗi người chúng ta.
Trong tháng Năm này, chúng ta tham dự những buổi dâng Hoa, rước kiệu, lần hạt Mân Côi… dâng lên Mẹ những hoa tin, cậy, mến, hi sinh, đau khổ, bệnh tật… chắc sẽ được Đức Mẹ ban nhiều ơn lành.  Mẹ thích những bông hoa Xanh của lòng cậy, hoa Đỏ của lòng mến, hoa Trắng của lòng trong sạch, hoa Tím của hy sinh hãm mình, hoa Vàng của niềm tin, hoa Hồng của tình yêu sắt son chung thủy.

Xin dâng lên Mẹ hoa Trắng của sự trinh trong, xin Mẹ giúp chúng con gìn giữ tâm hồn luôn trong trắng, thánh thiện.  Xin dâng lên Mẹ hoa Xanh của niềm cậy trông và hy vọng, xin đừng để chúng con thất vọng chùn bước trước bất cứ khó khăn nghịch cảnh nào của cuộc sống.  Xin dâng lên Mẹ hoa Vàng của niềm tin kiên vững, xin Mẹ dạy chúng con sống phó thác tin tưởng vào tình thương và sự quan phòng của Chúa như Mẹ.  Xin dâng lên Mẹ hoa Hồng của lòng yêu mến, xin Mẹ dạy chúng con biết yêu Chúa hết lòng và yêu anh chị em mình như Chúa đã yêu chúng con.  Xin dâng lên Mẹ hoa Tím của những đau khổ, bệnh tật, thất bại, xin Me dạy chúng con biết vui lòng chấp nhận Thánh Giá Chúa gởi đến để trung thành bước theo Đức Kitô, Con của Mẹ.

Lạy Mẹ Maria, những đoá hoa lòng đơn sơ, chân thành nhưng đượm tình yêu mến, chúng con xin dâng lên Mẹ, xin Mẹ thương nhận lấy và chúc lành cho chúng con.  Amen!

LM Giuse Nguyễn Hữu An