Buổi hoàng hôn của Đảng Cộng sản Trung Quốc

Buổi hoàng hôn của Đảng Cộng sản Trung Quốc

 (Cuộc chơi giành vương quyền kiểu Châu Á)

Minxin Pei (Bùi Mẫn Hân): “The Twilight of Communist Party Rule in China”  American Interest, 15-12-2015

Phạm Gia Minh dịch

Chiến lược sinh tồn của ĐCSTQ sau sự kiện Thiên An Môn đang hết tác dụng và chiến lược mới dường như lại thúc đẩy nhanh hơn sự sụp đổ của nó.

Trong giai đoạn sau Chiến tranh lạnh chưa có chế độ chuyên chế nào trên thế giới lại thành công như ĐCSTQ. Năm 1989 chính quyền đã có một cuộc đàn áp đẫm máu và chết chóc nhưng được bưng bít khi hàng triệu người phản kháng biểu tình trên hầu hết các thành phố chính trong cả nước để kêu gọi dân chủ và trút sự căm giận của mình lên chính quyền tham nhũng. Đảng chỉ thoát chết nhờ sự trợ giúp của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) với hàng đoàn xe tăng nghiến nát những người biểu tình ôn hòa trên khu vực quảng trường Thiên An Môn ở Bắc kinh ngày 4 tháng 6. Một phần tư thế kỷ kể từ thời điểm cuộc thảm sát Thiên An Môn đã trôi qua nhưng ĐCSTQ luôn phớt lờ mọi dự báo về hồi kết không tránh khỏi của mình. ĐCSTQ đã sống sót sau cú sốc của Liên Xô sụp đổ và còn thích ứng được với cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á những năm 1997-1998, khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Kể từ sự kiện Thiên An Môn, nền kinh tế Trung Quốc đã tăng gần 10 lần theo các điều khoản thực tế. GDP tính theo đầu người đã tăng từ 980$ lên 13.216 $ tính theo sức mua tương đương (PPP) trong cùng giai đoạn, đưa quốc gia này lên hàng ngũ các nền kinh tế có thu nhập trên trung bình.

Một cách dễ hiểu thành tích đó đã khiến nhiều nhà quan sát, kể cả những người từng trải về Trung Quốc tin tưởng rằng ĐCSTQ đã trở thành một chế độ chuyên chế dẻo dai với nhiều sức mạnh nội tại mà đa phần các chế độ chuyên chế khác không có. Ngoài ra, ĐCSTQ được biết đã xây dựng một quy trình hiệu quả cho việc lựa chọn đội ngũ lãnh đạo kế thừa dựa trên các quy định, chuẩn mực để phát hiện những công chức có năng lực cho hệ thống nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội. Khác với chế độ cứng nhắc kiểu Xô viết dưới thời Leonid Bregiơnhev, ĐCSTQ đã thể hiện năng lực đáng nể trong học hỏi và thích ứng (1).

Đáng tiếc là đối với những người ủng hộ lý thuyết về sự “chuyên chế dẻo dai” các giả định của họ, bằng chứng và những kết luận rút ra ngày càng khó bảo vệ dưới ánh sáng của những diễn biến gần đây ở TQ. Các biểu hiện của cuộc chiến quyền lực căng thẳng trong giới lãnh đạo cao cấp, tham nhũng tràn lan, tính năng động kinh tế bị đánh mất và chính sách đối ngoại hung hăng tiềm ẩn nhiều rủi ro, tất cả đều đang hiển hiện. Kết quả là ngay một số học giả mà công trình của họ gắn liền với luận đề về chế độ chuyên chế dẻo dai cũng đã buộc phải tự nhìn nhận lại (2). Càng ngày càng thấy rõ rằng những diễn biến gần đây làm thay đổi nhận thức về tính bền vững của ĐCSTQ không mang tính chu kỳ mà có tính hệ thống. Chúng là triệu chứng cho thấy sự suy kiệt, hết tác dụng của sách lược sinh tồn mà chế độ đã đề ra sau biến cố Thiên An Môn. Một số trụ cột của sách lược đó như sự đoàn kết của tầng lớp lãnh đạo cao cấp, tính hợp pháp dựa trên hiệu quả, sự tham gia của các giai tầng tinh hoa trong xã hội và chủ trương kiềm chế chiến lược trong đối ngoại đã hoặc là đã sụp đổ hoặc trở nên sáo rỗng buộc ĐCSTQ phải ngày càng phải dựa vào đàn áp và kích động chủ nghĩa dân tộc để tiếp tục cầm quyền.

Bởi lẽ đó, giới lãnh đạo cấp cao Trung Quốc đang phải đối mặt với một sự lựa chọn quả quyết nhất kể từ sự kiện Thiên An Môn: mô hình phát triển tư bản thân hữu độc tài chuyên chế sau 1989 thì nay đã chết và giờ đây họ chỉ có thể hoặc là tham khảo Đài Loan và Hàn Quốc để dân chủ hóa, giành được cội nguồn bền vững cho tính hợp pháp, hoặc là sẵn sàng thực thi chính sách đàn áp gia tăng để duy trì chế độ một đảng cầm quyền. Việc họ sẽ lựa chọn như thế nào sẽ có ảnh hưởng không chỉ Trung Quốc mà cả châu Á và toàn thế giới.

Bất chấp hình ảnh có tính đại chúng về các cuộc cách mạng “quyền lực nhân dân” hay “mùa Xuân Ả Rập”, cội nguồn quan trọng duy nhất của sự thay đổi trong các chế độ chuyên chế chính là sự sụp đổ của tính đoàn kết trong giới lãnh đạo cấp cao. Diễn biến này có nguyên nhân chủ yếu là do gia tăng mâu thuẫn và xung đột trong giới lãnh đạo cấp cao đối với vấn đề sách lược tồn vong của chế độ và phân chia quyền lực cũng như lãnh địa bảo trợ. Kinh nghiệm chuyển đổi dân chủ từ giữa những năm 1970 cho thấy một khi chính quyền chuyên chế đối mặt với những thách thức đến từ các lực lượng xã hội đòi hỏi các đổi thay về chính trị thì vấn đề gây chia rẽ nội bộ giới lãnh đạo cấp cao chính là hoặc đàn áp các lực lượng đó thông qua leo thang bạo động hoặc là hòa giải với chúng thông qua quá trình tự do hóa.

Khi lực lượng cải cách chiếm ưu thế các bước ban đầu tiến tới chuyển đổi chế độ diễn ra tiếp theo thường là giảm nhẹ sự quản chế về chính trị và xã hội. Nếu như lực lượng cứng rắn thắng trong cuộc đấu thì đàn áp sẽ mạnh hơn nhưng các cuộc đụng độ xã hội và chính trị cũng sẽ leo thang và điều này sẽ tiếp diễn cho tới khi chế độ phải đối mặt với cuộc khủng hoảng khác buộc nó phải xem xét lại câu hỏi phải chăng đàn áp là sách lược đúng đắn nhất (3). Một dạng chia rẽ phổ biến khác trong giới lãnh đạo cấp cao đó là những xung đột do phân bổ quyền lực và đi cùng với nó là ranh giới các lãnh địa của sự bảo trợ (đôi khi đó cũng là sự bảo kê về kinh tế và chính trị – ND).Trong các chế độ chuyên chế được hình thành vững chắc, ví như ở các quốc gia hậu toàn trị (post-totalitarian) do đảng CS Leninit lãnh đạo thì xung đột này có xu hướng gia tăng khi mà cuộc ganh đua giành quyền lực dẫn tới tình trạng vi phạm các quy tắc và chuẩn mực được thiết lập từ lâu (ví dụ như làm trái Điều lệ Đảng – ND) nhằm bảo vệ sự cân bằng tinh tế về quyền lực trong giới lãnh đạo tinh hoa cũng như vì sự an toàn thân thể của họ. Trong nhiều trường hợp, nếu như không phải là tất cả các trường hợp – và Trung Quốc cũng không là ngoại lệ – khi những vi phạm đó được cam kết bởi các nhóm gia đình và điều này thể hiện một sự cha truyền con nối trong chính trị (4).

Trong trường hợp Trung Quốc, sự sụp đổ của tính đoàn kết trong giới lãnh đạo cấp cao phát sinh không từ cuộc tranh cãi giữa những người theo đường lối cứng rắn với những người cải cách mà lại bởi cuộc đấu đá nội bộ giữa những người theo đường lối cứng rắn với nhau để giành thế thượng phong.

Dấu hiệu khởi phát của sự mất đoàn kết trong giới chóp bu chính là việc thanh trừng Bạc Hy Lai, một cựu lãnh đạo đang bay cao của ĐCS ở Tứ Xuyên ngay trước Đại hội ĐCSTQ lần thứ 18 năm 2012. Sau này các sự kiện đã cho thấy sự ra đi của họ Bạc chỉ là khúc dạo đầu cho một cuộc thanh trừng làm sạch nội bộ ĐCS lớn nhất kể từ thời Cách mạng văn hóa. Sau đó,Tập Cận Bình, người thắng cuộc đã chính thức đảm nhận vị trí TBT đồng thời là Chủ tịch quân ủy PLA vào tháng 11/2012 liền triển khai một chiến dịch chống tham nhũng hung hãn chưa từng thấy nhằm đạt được thế thượng phong chính trị qua con đường tiêu diệt các đối thủ của mình. Cho dù chiến dịch do họ Tập khởi xướng ngày một trở nên lan rộng nhưng dường như sau một đêm nó đã tháo rời toàn bộ hệ thống mà giới lãnh đạo tinh hoa của ĐCSTQ đã dày công xây nên trong thời kỳ hậu Thiên An Môn nhằm gìn giữ tính đoàn kết, thống nhất của họ.

Có ba trụ cột chống đỡ cho hệ thống này. Cái thứ nhất là sự cân bằng tinh tế của quyền lực chính trị ở chóp bu được biết đến dưới cái tên sự lãnh đạo tập thể được thiết kế ra nhằm ngăn chặn sự xuất hiện của một lãnh tụ kiểu Mao Trạch Đông, người đã có thể áp đặt ý chí của mình cho toàn đảng. Trong hệ thống này mọi quyết định quan trọng đã được hình thành thông qua quá trình xây dựng sự đồng thuận và thỏa hiệp nhằm bảo đảm quyền lợi của các lãnh đạo cấp cao cùng nhóm lợi ích của họ. Cột trụ thứ hai là an toàn cá nhân tuyệt đối cho các lãnh tụ chóp bu, được xác định bất kể đương chức hay đã về hưu đối với các Ủy viên thường vụ BCT cũng đã tiêu tan cùng với sự rớt đài của Zhou Yongkang (Chu Vĩnh Khang) – một cựu ủy viên thường vụ BCT, người đứng đầu ngành an ninh nội bộ đã lãnh án tù chung thân vào năm 2015 sau khi bị kết tội tham nhũng. Những nỗ lực chống tham nhũng và các biện pháp khắc khổ đi kèm theo đã chấm dứt ít ra là tạm thời thực trạng chia chác của cướp được trong giới lãnh đạo cấp cao, gây ra cho họ nhiều nỗi đắng cay và theo báo cáo thì điều này đã thúc đẩy họ chống đối bằng cách ngưng trệ công việc. Trong khi còn nghi vấn liệu cuộc chiến chống tham nhũng của họ Tập sẽ thực sự nhổ được tận gốc vấn nạn này hay không thì nó đã rất thành công trong việc phá nát cấu trúc khuyến khích bên trong của chế độ được hình thành sau biến cố Thiên An Môn.

Xét về bản chất riêng của mình, sự chuyển biến từ “ lãnh đạo tập thể” sang “ nguyên tắc một cá nhân mạnh lãnh đạo” chưa chắc đã làm sáng tỏ một cách cần thiết thứ chủ nghĩa Lênin mang màu sắc Trung Quốc. Tuy vậy, kết cục ban đầu dễ thấy nhất của sự chuyển biến này cho đến nay đó là sự bốc hơi của tính đoàn kết, thống nhất – chất keo đã gắn kết cả một hệ thống hình thành sau biến cố Thiên An Môn. Mặc dù vậy hiện nay chưa thấy những dấu hiệu thách thức quyền lực của Tập Cận Bình trong ĐCSTQ và có thể đánh cuộc một cách an toàn khi cho rằng các đối thủ của họ Tập đang đấu thầu thời gian để đợi tới thời điểm phù hợp thì sẽ đánh trả.

Nếu như sự mất đoàn kết và thống nhất trong giới tinh hoa đang bị biến thành cuộc đấu chính trị cuối cùng để giải quyết tranh chấp dẫn tới sự chối bỏ hệ thống mà họ Tập đang cố gắng xây dựng thì chỉ có thể xẩy ra hai kết cục. Một, đó là trở lại với hệ thống tham nhũng hậu Thiên An Môn. Nhìn bề ngoài, điều này có vẻ như một giải pháp nhiều cám dỗ và hứa hẹn nhất, tuy nhiên lại bất khả thi bởi lẽ một số điều kiện cơ sở làm nền móng cho hệ thống hậu Thiên An Môn, cụ thể là sự tăng trưởng kinh tế do đầu tư mang lại và sự hài lòng về chính trị của tầng lớp trung lưu được bảo đảm bởi sự thịnh vượng gia tăng chưa từng có phần lớn đã biến mất. Nếu như nguyên trạng như trước đây không thể phục hồi thì ĐCSTQ sẽ cần một lối thoát khác. Trong khi mà chưa ai có thể biết ĐCS sẽ lựa chọn gì thì cũng đáng để nhớ lại rằng,vào những thời khắc đó ĐCS sẽ cố thử lại và tận dụng đến cùng ba mô hình quản trị chuyên chế: đó là Maoit (chủ nghĩa Cộng sản cực đoan), Đặng (chủ nghĩa tư bản thân hữu) và Tập (cá nhân mạnh lãnh đạo). Thật mỉa mai là ĐCSTQ có thể bị rơi vào tình thế tuyệt vọng và tàn khốc như ĐCS Liên Xô vào giữa những năm 1980: đó là thiếu ý tưởng và chiến lược phục vụ việc duy trì mãi mãi hệ thống lãnh đạo độc đảng và khi đó nó có thể đủ tuyệt vọng tới mức dám đánh cược vào bất cứ thứ gì, kể cả cải cách dân chủ và đa nguyên chính trị như là sách lược lâu dài để giúp ĐCS có sức sống trong một đất nước Trung Hoa đã chuyển biến hoàn toàn bởi quá trình hiện đại hóa đời sống kinh tế – xã hội.

Nếu như tính đoàn kết, thống nhất là chất kết dính của hệ thống hậu Thiên An Môn thì hiệu suất kinh tế như mọi người đều thừa nhận đó chính là cội nguồn quan trọng cho tính hợp pháp trong quần chúng của đảng cầm quyền. Một phần tư thế kỷ phát triển với tốc độ cao đã đem lại cho ĐCSTQ thời kỳ tương đối ổn định xã hội cùng với những nguồn lực khổng lồ để tăng cường năng lực đàn áp và mua chuộc những giới tinh hoa xã hội mới cùng tầng lớp trung lưu đang nổi lên ở các vùng đô thị. Tuy nhiên, hiện nay khi mà “sự thần kỳ kinh tế của TQ” đã kết thúc thì cột trụ thứ hai của hệ thống hậu Thiên An Môn cũng đang sụp đổ theo.

Nhìn bề ngoài, sự suy giảm mạnh của kinh tế Trung Quốc có vẻ như là một sự giảm tốc tự nhiên sau mấy thập kỷ tăng trưởng nóng. Nhưng một cái nhìn gần hơn vào nguyên nhân dẫn đến “ sự rớt đài vĩ đại của TQ” cho ta thấy chính những trở ngại mang tính cơ cấu và thể chế chứ không phải các yếu tố mang tính chu kỳ mới là chủ đạo và Trung Quốc đang bước vào một giai đoạn phát triển kinh tế từ thấp tới khiêm tốn nên điều này sẽ rất nguy hiểm đối với tính hợp pháp của ĐCSTQ.

Tin tức của báo chí về những rắc rối kinh tế của Bắc Kinh gần đây phần lớn chỉ tập trung vào các biểu hiện dễ thấy và đầy kịch tính của căn bệnh kinh tế Trung Quốc chẳng hạn như sự sụp đổ của thị trường chứng khoán mang tính bong bóng hay việc đồng Nhân dân tệ mất giá một cách đáng ngạc nhiên. Tuy nhiên, sự suy giảm tăng trưởng của Trung Quốc có cội rễ sâu xa hơn.

Về mặt cơ cấu, sự tăng trưởng nhanh của Trung Quốc thời kỳ hậu Thiên An Môn đã được thúc đẩy chủ yếu bởi các nhân tố và hoàn cảnh xảy ra một lần và không lặp lại (one-off) chứ không nhờ tính ưu việt có mục đích của nhà nước chuyên chế. Trong số các nhân tố và hoàn cảnh đó thì nhân tố “cổ tức nhân khẩu học” (demographic dividend) là quan trọng nhất vì nó đã cung ứng gần như không có giới hạn đội ngũ công nhân Trung Quốc trẻ, khỏe lương thấp để phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa. Ngoài chuyện lương thấp, các công nhân từ nông thôn lên thành phố có thể tạo ra một sự gia tăng nhanh chóng năng suất lao động khi kết hợp với máy móc, thiết bị mà không cần đào tạo thêm nhiều. Kết quả là chỉ riêng việc tái bố trí lực lượng lao động dư thừa từ nông thôn sang các nhà máy, cửa hàng thương mại và công trường xây dựng ở thành phố nền kinh tế đã đạt năng suất lao động cao hơn. Theo số liệu của Trung Quốc, năng suất lao động của một công nhân ở thành thị cao gấp bốn lần một nông dân. Trong ba thập kỷ vừa qua có khoảng 270 triệu người lao động nông thôn (không tính gia đình của họ) đã dịch chuyển ra thành thị và hiện nay chiếm tới 70% lực lượng lao động nơi đây. Một số nhà kinh tế ước tính rằng khoảng 20% tăng trưởng GDP của Trung Quốc trong những năm 80 và 90 thế kỷ trước là do tái bố trí lực lượng lao động nông thôn tạo nên (5). Tuy nhiên bởi vì dân số Trung Quốc đang già đi khá nhanh nên sự dịch chuyển dân số ào ạt từ nông thôn ra thành thị đã đạt điểm đỉnh. Nhân tố thuận lợi mang tính cơ cấu này chỉ xảy ra có một lần mà không lặp lại.

Một cú hích tích cực góp phần thúc đẩy tăng trưởng của Trung Quốc thời kỳ hậu Thiên An Môn chính là việc quốc gia này ra nhập WTO vào năm 2001.Vào  những năm 1990 tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc trung bình đạt 15.4% hàng năm nhờ có sự hội nhập với nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên sau khi ra nhập WTO Trung Quốc đã đạt tăng trưởng xuất khẩu 21.7% trong suốt giai đoạn 2002-08. Sự gia tăng nhờ xuất khẩu bắt đầu chậm lại sau 2011. Giữa các năm 2012 và 2014 xuất khẩu chỉ tăng trưởng có 7.1% tức là bằng 1/3 tăng trưởng của thập kỷ trước đó. Bảy tháng đầu năm 2015 xuất khẩu co lại khoảng 1% , sự việc diễn ra có lẽ đã khiến Bắc Kinh nhanh chóng hạ giá đồng tiền của mình.

Nhưng có lẽ khía cạnh gây rắc rối nhất trong triển vọng phát triển kinh tế dài hạn của Trung Quốc chính là sự suy giảm lãi suất từ các khoản đầu tư được hoạch định bởi chiến lược tăng trưởng của quốc gia này. Trong tư cách là một nước đang phát triển với số vốn tương đối thấp, ở thời kỳ ban đầu Trung Quốc đã hưởng lợi lớn từ sự tăng trưởng bền vững của các khoản đầu tư. Trong các năm 1980 Trung Quốc đã đầu tư trung bình khoảng 35.8% GDP vào các nhà máy, hạ tầng cơ sở và nhà ở. Tỷ lệ này đã tăng lên 42.8% trung bình trong các năm 2000 và đạt 47.3% từ năm 2010. Sự gia tăng đầu tư ào ạt này đã tạo ra hơn một nửa mức tăng trưởng GDP của Trung Quốc và là động cơ tăng trưởng chủ yếu của nền kinh tế trong hai thập kỷ rưỡi.

Tuy nhiên tăng trưởng dựa vào đầu tư trong bối cảnh của Trung Quốc có 3 hậu quả xấu. Một là lãi xuất từ các khoản đầu tư giảm dần  bởi lẽ mỗi đơn vị gia tăng của đầu ra đòi hỏi phải đầu tư nhiều hơn và được tính bởi tỷ lệ vốn/sản lượng (capital output ratio – lượng đầu tư cần thiết để sản xuất ra thêm một đồng nhân dân tệ trong GDP). Trong những năm 1990 tỷ lệ sản lượng vốn của Trung Quốc là 3.79, đến  những năm 2000 đã tăng lên 4.38. Xu hướng tăng trưởng đòi hỏi phải tăng đầu tư rõ ràng không mang tính bền vững. Trung Quốc gần đây  đầu tư gần như một nửa GDP của mình, một con số phi thường  đã trở thành hiện thực  nhờ sự quản lý của nhà nước trong phát triển hạ tầng cơ sở. Mức độ dư thừa công suất và phân bổ vốn bất hợp lý cũng là một con số phi thường.

Một tác hại nữa gây bất lợi cho nền kinh tế đó là các khoản đầu tư đã vắt kiệt tiêu dùng của các hộ gia đình (36% GDP năm 2013 nếu so với 60% ở Ấn độ) làm nảy sinh tình trạng mất cân đối cơ cấu khiến sự tăng trưởng bền vững hầu như là không thể. Sự tăng trưởng đó cần bắt đầu từ  việc quay lưng lại với phương thức lấy xuất khẩu làm chủ đạo để trở lại với tăng trưởng thị trường trong nước, tuy nhiên điều này không thể đạt được khi mà tiêu dùng hộ gia đình đang ở mức thấp một cách giả tạo.

(Xin bổ sung thêm một ý giải thích vì sao tiêu dùng hộ gia đình nói riêng và thị trường trong nước ở Trung Quốc luôn ở mức thấp đó là do chính sách hộ khẩu và an sinh xã hội mang tính kỳ thị người nhập cư từ nông thôn ra thành thị khiến họ phải gia tăng tiết kiệm, hạn chế tiêu dùng để đề phòng khi ốm đau, hết tuổi lao động thì còn có nguồn dự trữ – ND).

Chi phí sau cùng của tăng trưởng dựa vào đầu tư, đó là quá trình này được cung cấp tài chính bởi các khoản tín dụng và sau đó đầu tư vào vào những ngành công nghiệp đã dư thừa công suất tới mức nguy hiểm. Với tỷ suất dư nợ / GDP vượt ngưỡng 280% GDP hiện nay (so sánh với 121% năm 2000) rủi ro của sự bùng nổ toàn diện một cuộc khủng hoảng tài chính đã tăng cao bởi lẽ những con nợ lớn là chính quyền địa phương, các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp phát triển bất động sản chỉ sở hữu năng lực chi trả yếu kém do nền tảng các nguồn thu từ thuế khá eo hẹp (với các chính quyền địa phương), dư thừa công suất và lợi nhuận thấp (với các doanh nghiệp nhà nước), bong bóng bất động sản xì hơi (với các doanh nghiệp phát triển bất động sản).

Nếu những rắc rối trong tương lai phát triển kinh tế dài hạn của Trung Quốc đơn thuần chỉ mang tính cơ cấu thì tương lai của đất nước chưa đến mức tàn khốc. Những cuộc cải cách hiệu quả có thể tái phân bổ nguồn lực một cách hữu hiệu giúp cho nền kinh tế có năng suất cao hơn. Tuy nhiên thành công của những cải cách đó lại gắn kết chặt chẽ với bản chất của nhà nước Trung Quốc và các thể chế chính trị của nó. Việc tạo ra của cải một cách bền vững chỉ có thể tồn tại ở các quốc gia nơi mà quyền lực chính trị bị giới hạn bởi luật pháp, quyền sở hữu tư nhân được bảo đảm thực sự và có nhiều phương tiện để tiếp cận các cơ hội. Ở các quốc gia bị chi phối bởi một nhóm nhỏ cầm quyền thì xảy ra điều ngược lại: những kẻ nắm quyền điều hành chính trị sẽ trở thành dã thú, sử dụng những công cụ cưỡng bách của quốc gia để bòn rút của cải từ xã hội, bảo vệ đặc quyền của mình và làm nghèo người dân (6).

Quả thực các chính sách kinh tế của ĐCSTQ đã thay đổi tới mức không thể nhận ra kể từ thời Mao. Tuy nhiên, đảng và nhà nước Trung Quốc còn chưa từ bỏ bản năng dã thú cùng các thể chế của mình. Bất chấp những lời tự nhận hùng biện về tôn trọng thị trường và quyền sở hữu, thực tế chỉ đạo và chính sách của các tầng lớp lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc cho thấy họ không tôn trọng quyền sở hữu tư nhân và cũng chẳng muốn bảo vệ nó. Bằng chứng về sự thiếu vắng mong muốn hạn chế những bản năng và thèm muốn dã thú của nhà nước độc đảng lãnh đạo chính là việc giới lãnh đạo chóp bu không dấu diếm sự thù hằn đối với bất kỳ ý tưởng nào về chủ nghĩa hợp hiến mà bản chất của nó là đặt ra những giới hạn phải được thực thi đối với chính quyền và những người nắm quyền lực. ĐCSTQ khước từ mọi giới hạn đối với quyền lực của mình và trên thực tế đã dẫn đến việc Trung Quốc không thể có thể chế tư pháp độc lập hoặc các tổ chức điều hành đủ năng lực thực thi pháp luật. Bởi lẽ, các nền kinh tế thị trường đích thực không thể hoạt động nếu thiếu những thể chế và tổ chức như vậy, cho nên rõ ràng là một khi đảng tự đặt mình cao hơn luật pháp thì cải cách kinh tế theo hướng kinh tế thị trường là điều bất khả thi.

Nhiều nhà quan sát lập luận rằng chế độ độc đảng này tuy thế vẫn đủ năng lực thực hiện các cải cách mang tính thị trường với dẫn chứng là diễn biến lịch sử của thời kỳ sau Mao. Lý lẽ này đã bỏ qua một sự thật rất quan trọng đó là những cải cách sau Mao tuy tạo ra ấn tượng bề nổi nhưng nay đã cạn kiệt tiềm năng bên trong. Hơn thế nữa, cần phải hiểu rằng hệ thống Maoit kém hiệu quả tới mức dù chỉ một vài cải cách mang tính bộ phận đã có thể giải phóng sự gia tăng mạnh mẽ năng suất lao động, đặc biệt là trong một xã hội mà năng lượng kinh doanh của người dân còn đang bị sự khủng bố chuyên chế đè nén trong ba thập kỷ vừa qua. Điều quan trọng hơn là những cải cách từng phần đó còn chưa đi vào các bộ phận quan trọng trong nền móng kinh tế do ĐCSTQ lãnh đạo: đó là khu vực sở hữu nhà nước với những tài sản có năng suất cao nhất như ruộng đất, tài nguyên thiên nhiên, sản xuất điện, viễn thông, ngân hàng, các dịch vụ tài chính và công nghiệp nặng. Chắc chắn không phải khu vực kinh tế tư nhân năng động đang kìm hãm nền kinh tế Trung Quốc mà chính là các xí nghiệp quốc doanh kém hiệu năng vẫn tiếp tục được nhận hỗ trợ và tiêu phí dòng vốn quý giá (7).

Cải cách kinh tế toàn diện và đích thực nếu được chấp nhận trên thực tế sẽ đe dọa phá vỡ nền móng đó. Khả năng nhiều nhất là nó sẽ xóa bỏ phần lớn sự kiểm soát hiện hữu đối với nền kinh tế và khối tài sản quốc gia khổng lồ của Trung Quốc, kết cục sẽ là sự sụp đổ về mặt tổ chức của ĐCSTQ. Đảng này cấp kinh phí và hỗ trợ một mạng lưới tổ chức hạ tầng cơ sở rộng khắp của mình – các đảng bộ, đảng ủy các cấp và chi bộ… thông qua số lượng lớn các quỹ đảng nhưng chính xác là bao nhiêu thì còn là một ẩn số. Phần lớn kinh phí cho các tổ chức và hoạt động của đảng được tài trợ từ ngân sách không minh bạch của nhà nước TQ. Nếu như ĐCSTQ từ bỏ sự kiểm soát nền kinh tế của mình và các khoản chi tiêu của chính phủ được minh bạch hóa thì đảng sẽ không còn nguồn tài chính để tồn tại. Sẽ không thể duy trì các đặc quyền và bổng lộc hậu hĩ của đảng ví như chăm sóc sức khỏe chất lượng cao, quỹ cho các hoạt động giải trí, nhà công vụ và còn nhiều khoản phụ cấp đối với các quan chức như là tiêu chuẩn được hưởng khi là thành viên của câu lạc bộ tầng lớp tinh hoa.

Còn một hậu quả thảm khốc nữa của cải cách theo hướng thị trường đó là sự sụp đổ của hệ thống bảo trợ mà ĐCSTQ sử dụng để đảm bảo có được sự trung thành từ những người ủng hộ mình. Nền móng của hệ thống này là các doanh nghiệp nhà nước, các cơ quan kinh tế và các tổ chức điều hành do đảng kiểm soát. Nếu như cải cách định hướng thị trường dẫn tới tư nhân hóa thực sự các doanh nghiệp nhà nước (nhóm doanh nghiệp này sản xuất ít nhất cũng vào khoảng 1/3 GDP) thì ĐCSTQ sẽ không thể ban phát cho đội ngũ trung thành với mình bằng những hợp đồng và công việc béo bở và điều này đe dọa sẽ lấy đi sự ủng hộ của họ. Xin cung cấp thông tin rằng trong bản hướng dẫn chi tiết kế hoạch kinh tế của ĐCSTQ phát hành mùa Thu năm 2013 lãnh đạo đảng đã nhắc nhở đảng sẽ không bao giờ từ bỏ các doanh nghiệp nhà nước.

Như vậy, sự tiếp tục của các thể chế mang tính dã thú và bòn rút, cướp đoạt ở Trung Quốc đang ngăn chặn những cải cách thị trường triệt để, toàn diện và thành công. Tính bất khả thi của nhiệm vụ xây dựng một nền kinh tế thị trường đích thực được hậu thuẫn bởi nguyên tắc thượng tôn pháp luật có thể minh họa bằng câu ngạn ngữ Trung Quốc khôn ngoan yuhumoupi có nghĩa là đừng mặc cả với hổ về bộ da của nó. Triển vọng lâu dài cho sự tăng trưởng kinh tế Trung Quốc là đáng bi quan bởi vì khu vực tăng trưởng nhanh nhờ có cải cách từng phần và các nhân tố cũng như hoàn cảnh thuận lợi chỉ diễn ra một lần đang chấm dứt. Một sự tăng trưởng bền vững cho Trung Quốc sẽ đòi hỏi phải nhìn nhận lại triệt để thể chế kinh tế và chính trị để đạt được hiệu quả cao hơn. Nhưng bởi lẽ bước đi quan trọng có tính quyết định này sẽ hủy hoại nền tảng lãnh đạo của ĐCSTQ cho nên khó có thể tin được rằng đảng sẽ cam kết tự vẫn về kinh tế và do đó cả về chính trị. Những ai còn chưa bị thuyết phục bởi lập luận này hãy nên đếm lại có bao nhiêu nhà độc tài trong lịch sử đã tự nguyện từ bỏ các đặc lợi cùng đặc quyền kiểm soát nền kinh tế của mình nhằm mục đích bảo đảm cho một tương lai thịnh vượng dài lâu của quốc gia.

Lừ lừ hướng tới đàn áp và chủ nghĩa dân tộc

Nếu như tình trạng kinh tế trì trệ trong dài hạn đã được khẳng định thì sự ủng hộ của tầng lớp trung lưu Trung Quốc với hiện trạng sẽ bị mai một. Sự tham gia của tầng lớp đang tăng trưởng nhanh này là một trụ cột chủ chốt nữa trong sách lược sinh tồn của ĐCSTQ thời kỳ sau biến cố Thiên An Môn và đã góp phần vào sự bùng nổ kinh tế trong ¼ thế kỷ vừa qua. Kinh tế phát triển chậm lại chắc chắn sẽ giảm bớt cơ hội, kỳ vọng và hạn chế tính năng động đi lên đối với các thành viên của nhóm xã hội quan trọng này và sự chấp nhận vai trò lãnh đạo của ĐCSTQ từ nhóm này chỉ là ngẫu nhiên do vừa qua đảng đã mang đến sự phát triển kinh tế liên tục và đáng hài lòng.

Cùng với sự bốc hơi của (chất keo gắn) sự đoàn kết, thống nhất trong giới lãnh đạo cấp cao, nguy cơ kinh tế trì trệ và thái độ xa lánh rất có thể xảy ra của giới trung lưu thì mô hình hậu Thiên An Môn chỉ còn có hai cột trụ: đó là đàn áp và kích động chủ nghĩa dân tộc. Các chế độ chuyên chế ngày nay vì thiếu tính hợp pháp trong công chúng (mà đáng ra phải đạt được qua quá trình cạnh tranh chính trị) chủ yếu dùng ba phương tiện để giữ quyền lực của mình. Một là mua chuộc quần chúng bằng các lợi ích vật chất. Hai là đàn áp nhân dân bằng bạo lực và nỗi sợ. Ba là kêu gọi tình cảm dân tộc của họ. Ở những chế độ chuyên chế tinh vi và thành công những kẻ cầm quyền thường dựa vào tính hợp pháp có được nhờ thành tích đạt được (mua chuộc) hơn là sử dụng nỗi sợ hãi và chủ nghĩa sô vanh hiếu chiến. Nguyên nhân chính là đàn áp thì tốn kém mà chủ nghĩa dân tộc thì có thể trở nên nguy hiểm. Trong thời kỳ hậu Thiên An Môn có thể tin chắc rằng ĐCSTQ đã sử dụng cả ba phương tiện, chủ yếu vẫn phụ thuộc vào thành tích phát triển kinh tế nhưng vẫn dùng phương tiện đàn áp và chủ nghĩa dân tộc một cách có chọn lọc như các biện pháp cầm quyền dự phòng.

Tuy nhiên, những xu hướng kể từ khi Tập Cận Bình lên cầm quyền vào cuối năm 2012 cho thấy đàn áp và chủ nghĩa dân tộc được coi là đóng vai trò ngày càng nổi bật trong chiến lược sinh tồn của ĐCSTQ. Lời giải thích hiển nhiên là tăng trưởng kinh tế không chắc chắn của Trung Quốc đang gây nên căng thẳng xã hội và bào mòn sự ủng hộ của quần chúng đối với ĐCS, và như vậy buộc chế độ phải ngăn cản những thách thức tiềm ẩn từ xã hội bằng sức mạnh và chuyển hướng sự chú ý của công chúng sang chủ nghĩa dân tộc. Vậy mà nhiều nhà quan sát đã bỏ qua lời giải thích có giá trị này.

Một chiến lược sinh tồn phụ thuộc vào việc đem lại tăng trưởng kinh tế nhằm duy trì tính hợp pháp vốn dĩ không bền vững không chỉ bởi lẽ tăng trưởng kinh tế là điều không thể bảo đảm chắc chắn và sự kỳ vọng của công chúng thì bao giờ cũng gia tăng nên cũng không thể luôn luôn đáp ứng được mà còn vì sự tăng trưởng kinh tế bền vững sẽ làm phát sinh những thay đổi kinh tế- xã hội mang tính cơ cấu. Và chính những thay đổi đó ắt sẽ đe dọa độ bền vững của chế độ chuyên chế như các nghiên cứu xã hội học và lịch sử các cuộc chuyển đổi dân chủ đã cho thấy.

Các nhà nước chuyên chế khi buộc phải chấp thuận tính hợp pháp dựa trên thành tích phát triển (nguyên văn là faustian bargain – giao kèo với quỷ dữ – ND) thì mặc nhiên là chúng sẽ thua cuộc bởi lẽ những đổi thay kinh tế – xã hội do tăng trưởng kinh tế đem lại sẽ củng cố năng lực tự trị của các lực lượng xã hội ở thành thị, ví dụ như các nhà kinh doanh tư nhân, trí thức, người làm nghề, các tín đồ tôn giáo, công nhân phổ thông nhờ trình độ học vấn cao hơn, tiếp cận với thông tin dễ dàng hơn, tích lũy được tài sản cá nhân nhiều hơn và năng lực tổ chức hoạt động tập thể cũng được cải thiện. Nhiều công trình nghiên cứu hàn lâm đã chỉ ra sự tương quan chặt chẽ giữa trình độ phát triển kinh tế với sự hiện diện của dân chủ cũng như giữa thu nhập gia tăng với khả năng sụp đổ của các chế độ chuyên chế (8). Trong thế giới ngày nay, mối tương quan tích cực giữa tài sản (được tính bằng GDP theo đầu người) và dân chủ có thể được thể hiện trong biểu đồ (9) và nó cho thấy tỷ lệ phần trăm các nền dân chủ (được định nghĩa bởi tổ chức Freedom House) tăng đều đặn cùng với mức tăng của thu nhập. Có một bộ phận các quốc gia dân chủ giảm trong khi thu nhập tăng lên. Sự phân bố các quốc gia không dân chủ hoặc độc tài trên biểu đồ đã hình thành nên đồ thị hình chữ U. Trong khi có nhiều hơn các chế độ độc tài tồn tại ở những nước nghèo hơn (phần đáy của 2/5 các quốc gia có thu nhập trên đầu người ) thì sự hiện diện của chúng ở phần trên của danh sách 2/5 các quốc gia dường như đã phản bác lại nhận định cho rằng sự thịnh vượng có tương quan cùng chiều (nguyên văn tương quan dương tính – ND). Tuy nhiên khi xem xét kỹ hơn số liệu sẽ thấy hầu hết các quốc gia giàu có nhưng nằm dưới chế độ độc tài đều là những nước sản xuất dầu mỏ, nơi mà giới tinh hoa cầm quyền có đủ năng lực tài chính để mua chuộc người dân của mình để họ chấp thuận chế độ chuyên chế (9).

clip_image001

Nguồn: Tính toán sử dụng dữ liệu thu nhập dựa trên sức mua trên đầu người (PPP) do Ngân hàng Thế giới cung cấp. Chỉ số tự do do Freedom House cung cấp.

Những nhà cầm quyền Trung Quốc nếu như nhìn qua biểu đồ sẽ cảm thấy lo lắng cho triển vọng trong trung và dài hạn của mình. Hiện nay 87 quốc gia có thu nhập theo đầu người (chuẩn PPP – sức mua tương đương – ND) cao hơn Trung Quốc và 58 quốc gia trong số đó được đánh giá là có dân chủ, 11 quốc gia được Freedom House sếp hạng “ tự do một phần” và 18 quốc gia bị coi là độc tài (nguyên văn là “ không tự do” theo Freedom House). Tuy nhiên trong số 18 quốc gia “ không tự do” có thu nhập theo đầu người cao hơn Trung Quốc thì có tới 16 quốc gia sản xuất dầu mỏ (Belarus được tính trong nhóm này bởi vì được Nga trợ cấp đáng kể nhu cầu năng lượng), hai quốc gia không sản xuất đầu mỏ là Thái Lan (chính quyền quân sự độc tài đã lật đổ chính quyền nửa dân chủ vào năm 2014) và Cuba (cũng là một quốc gia Leninit độc đảng, độc tài). Trong số 11 quốc gia tự do một phần Mexico và Malaysia là những nhà sản xuất dầu mỏ đáng kể trong khi Côoét và Venezuela là những nước sản xuất dầu mỏ kinh điển. Điều làm cho các lãnh đạo của ĐCSTQ có thêm lý do để lo ngại đó là thu nhập tính theo đầu người của Trung Quốc vào khoảng $13.216 (PPP) năm 2014 cũng chỉ bằng mức của Đài Loan và Hàn Quốc vào cuối những năm 1980 khi cả hai quốc gia này bắt đầu tiến trình dân chủ hóa (10). Nếu như kinh nghiệm chuyển đổi thể chế ở các nước có thu nhập trên trung bình như Đài Loan và Hàn Quốc có thể được đem ra tham khảo và áp dụng thì ĐCSTQ cần phải tính đến nhu cầu và những sự vận động xã hội đang dâng cao để tiến hành những thay đổi chính trị trong thập kỷ tới (một vài tín hiệu của sự vận động này đã được ghi nhận).

Hàm ý duy nhất có thể rút ra từ phân tích này đó là trừ khi Trung Quốc muốn đi theo tấm gương của Cuba và duy trì một nền kinh tế đóng để đảm bảo sự tồn vong của chế độ độc đảng, quốc gia này sẽ phải đối mặt với tình trạng lợi thế ngày một suy giảm trong nỗ lực giữ nguyên quyền lực (miễn là Trung Quốc một cách kỳ diệu không trở thành một nước giống như Ả Rập Saudi). Nhưng bởi lẽ Trung Quốc sẽ không bao giờ là quốc gia dầu lửa nên ĐCSTQ vì sự tồn vong của mình trong dài hạn còn có cơ hội khai mở một số hình thái của thể chế chính trị có cạnh tranh và trở thành một chế độ “ tự do một phần” – và đây là một bước trọng yếu tiến về phía trước so với chủ nghĩa Leninnit hiện nay. Một cách khác, Trung Quốc có thể chống lại ngay cả những cải cách khiêm tốn nhất và đặt cược sự tồn vong của mình vào việc leo thang đàn áp và nuôi dưỡng chủ nghĩa dân tộc.

Đánh giá những chính sách và biện pháp được ban lãnh đạo hiện nay của ĐCSTQ thông qua thì dường như đảng này có ý định đặt cược chống lại lịch sử. Trong ba năm gần đây đảng đã rất nỗ lực gia tăng đàn áp. Trong số các bước đi đáng để ý nhất: ĐCSTQ đã mạnh mẽ thắt chặt kiểm duyệt Internet, truyền thông xã hội, báo chí, thông qua Luật về an ninh quốc gia chủ yếu nhắm tới việc ngăn chặn các tổ chức phi chính phủ để bảo đảm an ninh cho chế độ, phá hủy hàng trăm cây Thánh giá của nhà thờ Thiên Chúa nhằm hạn chế tự do tín ngưỡng, tăng cường kiểm soát tư tưởng trong các ký túc xá trường Đại học, cao đẳng và bắt bớ hàng chục luật sư nhân quyền, nhà hoạt động vì quyền công dân trên cơ sở các bằng chứng ngụy tạo. Theo nhiều cách nhìn nhận, mức độ đàn áp của ngày hôm nay là cao hơn bất kỳ giai đoạn nào kể từ cuộc trấn áp Thiên An Môn.

Cũng không kém phần đáng lo ngại và còn nguy hiểm hơn đó là những tuyên bố dân tộc chủ nghĩa có tính leo thang của Trung Quốc. ĐCSTQ nhận thức mọi điều nhưng lại từ bỏ chủ trương đối ngoại của Đặng Tiểu Bình là dấu mình chờ thời và không đối đầu để ủng hộ cho một chiến lược đối ngoại khoe cơ bắp và điều này đã làm cho Trung Quốc đi theo một tiến trình xung đột với Hoa Kỳ. Bằng chứng về lời kêu gọi mới đây kích động chủ nghĩa dân tộc và chính sách ngoại giao quả quyết của Bắc Kinh có thể tìm thấy trong màn diễu binh lần đầu tiên kỷ niệm sự kiện bại trận của Nhật Bản trong chiến tranh thế giới lần thứ II (mặc dù Trung Quốc và ĐCSTQ chỉ đóng vai trò rất phụ trong cuộc chiến đó), đó còn là chiến dịch tuyên truyền kỷ niệm “giấc mơ Trung Hoa” (nội dung chủ yếu là sự phục hưng của Trung Quốc với vị thế một siêu cường) và đòi hỏi gần như công khai vị thế ngang hàng với Hoa Kỳ (được diễn đạt bằng ngôn từ “quan hệ kiểu mới giữa các siêu cường” trong tuyên bố của Bắc Kinh), những cuộc tấn công trên mạng không ngơi nghỉ nhằm vào các cơ quan chính phủ và các cơ sở thương mại Hoa Kỳ cùng với những cuộc khiêu khích và thủ đoạn gây hấn đẩy tình hình tới miệng hố chiến tranh ở Biển Hoa Đông và Nam Trung Hoa (Biển Đông – ND). Cụ thể là thiết lập vùng nhận dạng hàng không ADIZ trên vùng trời đảo Senkaku, cải tạo hàng loạt bãi chìm và xây dựng trên các đảo thuộc vùng lãnh hải còn đang tranh chấp ở Biển Đông).

Nếu như ĐCSTQ tin rằng leo thang đàn áp và chủ nghĩa dân tộc sẽ giúp cho đảng duy trì quyền lực trong giai đoạn đang có hỗn loạn trong giới lãnh đạo cấp cao, kinh tế suy thoái và căng thẳng xã hội dâng cao thì đảng cũng nên nhìn nhận những rủi ro to lớn và cái giá phải trả cho chiến lược sinh tồn mới này. Ngoài việc khiến Trung Quốc bị lạc hậu chiến lược này tỏ ra không bền vững và nguy hiểm. Trấn áp có thể có tác dụng trong một thời điểm nhưng các chế độ chuyên chế quá phụ thuộc vào nó sẽ phải sẵn sàng gia tăng việc sử dụng bạo lực liên tục và áp dụng những biện pháp hà khắc để ngăn cản các lực lượng chống đối.

Đàn áp có thể là không tốt cho việc kinh doanh, vì khi đó nhà cầm quyền buộc phải ngăn chặn dòng thông tin và tự do kinh tế để bảo đảm an ninh cho chế độ (quả thực, các hãng phương Tây đang phàn nàn về những bất tiện do tường lửa Vạn lý Trường thành gây ra). Gia tăng mức độ đàn áp trong lúc kinh tế đang chìm đắm trong đình đốn sẽ gây căng thẳng và áp lực lên các nguồn lực của ĐCSTQ bởi lẽ việc trấn áp đòi hỏi phải duy trì mạng lưới tốn kém những kẻ nội gián chuyên cung cấp thông tin, công an chìm, nhân viên kiểm duyệt và các lực lượng bán vũ trang. Đàn áp còn làm phát sinh những chi phí khổng lồ về đạo đức và có thể nhóm lửa cho những cuộc tranh luận bên trong chế độ.

Hãy đặt câu hỏi một cách rõ ràng: liệu Trung Quốc có thực sự sẵn sàng để trở thành một Bắc Triều Tiên khác?

Sử dụng chủ nghĩa dân tộc và khoe cơ bắp có thể đem lại những lợi ích chính trị nhất thời nhưng ĐCSTQ sẽ phải trả giá bằng an ninh của mình trong dài hạn. Một trong những lựa chọn chiến lược khôn ngoan nhất của Đặng Tiểu Bình là phát triển các mối quan hệ bạn bè với phương Tây do Hoa Kỳ lãnh đạo nhằm thúc đẩy chương trình hiện đại hóa Trung Hoa. Trong thời kỳ hậu Đặng Tiểu Bình hai nhân vật tiền nhiệm của họ Tập là Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào cũng đã học bài học cốt tử từ sự sụp đổ của Liên Xô: xung đột chiến lược với Hoa Kỳ sẽ gây nguy hiểm cho chính sự tồn vong của ĐCSTQ. Chi phí cho một cuộc chạy đua vũ trang sẽ ở mức không chịu đựng nổi và sự thù địch công khai trong quan hệ Trung – Mỹ sẽ phá hủy mối quan hệ kinh tế song phương.

Không rõ ban lãnh đạo ĐCSTQ có nhận thức được những rủi ro mà chiến lược sinh tồn mới đang hoàn thiện của họ sẽ mang lại hay không nhưng nếu các thành viên trong ban lãnh đạo tin chắc rằng chỉ có chiến lược đó mới cứu vãn được sự lãnh đạo của đảng và do hiện đang lo sợ bởi sự sụp đổ của những trụ cột quan trọng trong mô hình hậu Thiên An Môn thì rất có thể họ sẽ tiếp tục đường lối hiện nay. Và thật mỉa mai, đường lối đó, nếu như phân tích ở trên là đúng thì chắc chắn sẽ thúc đẩy sự kết thúc của ĐCSTQ thay vì ngăn chặn nó.

Thăng Long – Hà Nội 24/02/2016

Bản dịch của Phạm Gia Minh

Tài liệu tham khảo

1The literature on China’s “resilient authoritarianism” is large. Representative works include Andrew J. Nathan, “Authoritarian Resilience,” Journal of Democracy (January 2003); David L. Shambaugh, China’s Communist Party: Atrophy and Adaptation (University of California Press, 2008).

2Andrew Nathan acknowledged in 2013 that, “The consensus is stronger than at any time since the 1989 Tiananmen crisis that the resilience of the authoritarian regime in the People’s Republic of China (PRC) is approaching its limits.” Nathan, “Foreseeing the Unforeseeable,” in Andrew Nathan, Larry Diamond, and Marc Plattner, eds., Will China Democratize? (Johns Hopkins University Press, 2013); David Shambaugh published a much-noted long essay, “The Coming Chinese Crackup,” in the Wall Street Journal on March 6, 2015 arguing that the endgame for the CPC regime has begun.

3Samuel P. Huntington, The Third Wave: Democratization in the Late Twentieth Century (University of Oklahoma Press, 1993); Guillermo O’Donnell and Philippe C. Schmitter, Transitions from Authoritarian Rule: Tentative Conclusions about Uncertain Democracies (Johns Hopkins University Press, 2013).

4See Aviezer Tucker, “Why We Need Totalitarianism”, The American Interest (May/June 2015).

5Cai Fang Wang Dewen,Impacts of Internal Migration on Economic Growth and Urban Development in China,” in Josh DeWind and Jennifer Holdaway, eds., Migration and Development Within and Across Borders (The Social Science Research Council, 2008.)

6The literature on the predatory state and extractive institutions is vast. The most influential works are Daron Acemoğlu and James Robinson, Why Nations Fail (Crown Publishing, 2012); Douglass North, Institutions, Institutional Change and Economic Performance (Cambridge University Press, 1990).

7The huge inefficiency of state-owned enterprises, as compared with the dynamism of the Chinese private sector, is detailed in Nick Lardy, Markets over Mao: The Rise of Private Business in China (Peterson Institute for International Economics, 2014)

8Seymour Martin Lipset, “Some Social Requisites of Democracy: Economic Development and Political Legitimacy,” American Political Science Review (March 1959); Adam Przeworski, Democracy and Development: Political Institutions and Well-Being in the World, 1950–1990 (Cambridge University Press, 2000).

9Academic research has also established a strong link between oil and dictatorship. See Michael Ross, “Does Oil Hinder Democracy?” World Politics (April 2001).

10Yu Liu and Dingding Chen, “Why China Will Democratize,” Washington Quarterly (Winter 2012).

Minxin Pei is the Tom and Margot Pritzker ’72 Professor of Government at Claremont McKenna College and a non-resident senior fellow of the German Marshall Fund of the United States. His latest book, China’s Crony Capitalism: Dynamics of Regime Decay, will be published by Harvard University Press in 2016. This article is drawn from a larger research project on China’s likely regime transition that has received financial support from the Smith Richardson Foundation, the Carnegie Corporation of New York, and the John D. and Catherine T. MacArthur Foundation.

Nguồn: http://viet-studies.info/kinhte/Pei_CCPTwilighlt_trans.htm

Tập Cận Bình đang cưỡi cọp

Tập Cận Bình đang cưỡi cọp

Ngô Nhân Dụng –

Thứ Bảy, ngày 20 tháng 2 năm 2016


Những hành động hung hăng của cộng sản Trung Quốc trong vùng Biển Đông nước ta nhắm khích động tự ái quốc gia của dân lục địa, trong khi Tập Cận Bình đang tìm cách củng cố uy thế và quyền hành cá nhân. Ngày hôm qua, Thứ Sáu 19 tháng Hai năm 2016, Tập Cận Bình đã được Lưu Vân Sơn (Liu Yunshan, 刘云山), người đứng đầu bộ máy tuyên truyền trong Bộ Chính Trị, dẫn đi thăm báo Nhân Dân, đài truyền hình Trung Ương, và Tân Hoa Xã. Mỗi nơi này đều trương khẩu hiệu “Tuyệt đối Trung thành.”

Gần đây, Tập Cận Bình vận dụng tối đa bộ máy tuyên truyền để tăng uy thế trong lúc cố dẹp tan những thành phần đối kháng. Hồ Cẩm Đào và Giang Trạch Dân chưa bao giờ làm lộ liễu như vậy. Báo, đài Trung Cộng đã suy tôn Tập là “hạt nhân cốt lõi” của lãnh đạo; kêu gọi quân đội và quan chức phải “tuyệt đối trung thành” với “Đảng,” tức là với họ Tập. Tháng 12 năm ngoái, Tập đã tới thăm báo Quân Đội Nhân Dân, trước khi công bố kế hoạch đại cải tổ quân đội, sa thải 300 ngàn người. Tin tức tiết lộ về phiên họp Bộ Chính Trị vào cuối tháng 12 năm 2015 kể rằng Tập Cận Bình đã yêu cầu “Các thành viên Bộ Chính Trị tuân thủ đường lối của Trung Ương và trung thành với Đảng.”

Trong ba năm nắm quyền, Tập Cận Bình dần dần nắm đầu tất cả các ngành trong bộ máy cầm quyền: Đảng, Quân Ủy trung ương, Bẩy ủy ban đặc trách các vấn đề kinh tế, chính trị, ngoại giao, vân vân. Kể từ thời Mao Trạch Đông, chưa có lãnh tụ Trung Cộng nào uy quyền lớn như vậy, kể cả Đặng Tiểu Bình. Tân Hoa Xã mới nhắc lại câu của Mao Trạch Đông: “Trong đảng, trong nhà nước, trong quân đội, trong nhân dân, cả bốn phía đông, tây, nam, bắc và ở giữa, tất cả phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.”

Trong một tháng qua, một nửa lãnh tụ ở các tỉnh đã công khai thề “tự nguyện trung thành bảo vệ chính sách căn cốt của Tổng bí thư Tập Cận Bình!” Đây là một hiện tượng hiếm hoi, từ những năm sau cùng của Mao Trạch Đông bây giờ mới lại thấy.

Tin tức trong cuộc họp mật của Bộ Chính Trị mà lại tiết lộ là điều hiếm khi xẩy ra, chứng tỏ thế lực của Tập Cận Bình chưa vững, vẫn cần đề cao uy thế cá nhân. Dùng guồng máy tuyên truyền để củng cố uy quyền cho thấy Tập Cận Bình biết mình đang ngồi trên lưng cọp, không biết lúc nào có thể ngã rồi bị cọp ăn thịt. Con cọp đó là kế hoạch cải tổ cơ cấu kinh tế.

Trung Cộng biết cần phải thay đổi. Nếu không thì kinh tế sẽ ngày càng lụn bại sau khi đã vận dụng đã hết khả năng của các chính sách cũ: Chú trọng đến tỷ lệ tăng trưởng cao; đặt trọng tâm vào xuất cảng, đổ tiền đầu tư vào xây dựng, ngân hàng nhà nước nuôi dưỡng các xí nghiệp quốc doanh. Hai năm nay họ đã chấp nhận tỷ lệ tăng trưởng thấp; tìm cách hướng vào tiêu thụ nội địa; giảm bớt vai trò nhà nước để thị trường quyết định nhiều hơn. Việc cải tổ chắc chắn bị các cán bộ từ trên xuống dưới cản trở và chống đối ngầm, vì đụng tới những quyền lợi họ đang được hưởng. Vì thế, Tập Cận Bình cần phải thâu tóm quyền hành, dẹp hết các phe nhóm trong đảng có khả năng thay thế mình, dọa các cán bộ còn lại bằng cái máy chém “chống tham nhũng.” Cần phải “thống nhất sơn hà” mới có thể tiến hành một chương trình cải tổ chắc chắn sẽ gây nhiều xáo trộn.

Đó là một “thế cưỡi cọp.” Nếu việc cải tổ sẽ tiến hành chậm và có lúc vấp ngã, con cọp sẽ lồng lên, hất thằng cưỡi cọp xuống. Mà công việc chuyển hướng cơ cấu kinh tế không thể tiên đoán sẽ gây ra những hậu quả như thế nào. Tỷ lệ tăng trưởng đã xuống 6.9%, thấp nhất trong một phần tư thế kỷ (Trong thực tế, con số đúng là 3% đến 4%).

Trong năm 2015 uy tín Cộng sản Trung Quốc xuống rất thấp, ở trong nước cũng như bên ngoài, vì mấy lần đổ hàng tỉ đô la cố nâng giá thị trường chứng khoán nhưng thất bại. Việc phá giá đồng nguyên vụng về trong cùng thời gian đó khiến thị trường càng mất tin tưởng.

Một hình ảnh tiêu biểu cho cái lưng con cọp bấp bênh là chính sách tiền tệ của tập đoàn lãnh đạo.  Hiện nay, họ đang lo lắng trước mối đe dọa “giảm phát” (deflation), khi các nhà sản xuất và bán hàng hạ giá đồng loạt để cạnh tranh. Giá cả xuống sẽ khiến người tiêu thụ ngưng mua hàng, để chờ giá xuống thêm; nhà sản xuất thấy khó bán hàng sẽ hạ giá xuống nhiều hơn; tạo một cái vòng luẩn quẩn.

Để giữ mức lạm phát không xuống quá thấp, Ngân hàng trung ương ở Bắc Kinh (tên chính thức là Nhân Dân Ngân Hàng) đã in thêm tiền. Số tiền tệ lưu hành gia tăng 14% một năm, gấp đôi tỷ lệ tăng trưởng kinh tế chính thức. Họ theo đúng từng chữ trong “sách vỡ lòng” kinh tế học: Khi nhiều đồng tiền cùng đuổi theo một số hàng hóa thì giá cả sẽ tăng. Giá tăng, sẽ không lo giảm phát.

Nhưng đây có phải là cách điều hành kinh tế đúng nhất hay không? Nếu ở trên đời này cứ việc in thêm thật nhiều tiền, mà đồng tiền vẫn giữ nguyên được giá trị, thì người ta có thể biến thế giới này thành cõi thiên đường rồi!

Muốn giữ giá trị đồng tiền, Nhân Dân Ngân Hàng lại đem đô la Mỹ ra mua đồng nguyên, thu bớt tiền nội địa vào. Thế ra họ vừa in thêm tiền, vừa đổ đô la ra mua, thu lại các đồng tiền đó.  Một nhà phân tích đầu tư đã ví hai hoạt động đồng thời này giống như một người vừa uống thuốc aspirin vừa uống rượu whiskey!

Đồng nguyên mất giá vì chính người dân Tàu không tin tưởng vào đồng bạc của mình. Tức là không tin tưởng vào khả năng lãnh đạo của guồng máy đảng và nhà nước. Nhiều người đã đổi đồng nguyên lấy đô la để đưa ra nước ngoài, theo nhiều ngả. Trong tháng Giêng vừa qua, số ngoại tệ dự trữ của Ngân hàng trung ương đã giảm bớt 100 tỷ đô la; sau khi đã giảm 108 tỷ trong tháng 12, 2015. Số ngoại tệ dự trữ gần 4,000 tỷ nay chỉ còn 3,200 tỷ đô la. Con số chênh lệch lớn hơn cả ngân sách quốc phòng của chính phủ Mỹ trong năm tới (600 tỷ)!

Cũng trong ngày hôm qua, 19 tháng Hai, bản báo cáo hàng tháng của Ngân hàng trung ương mới công bố đã làm cả thị trường thế giới kinh ngạc, vì nó thiếu hẳn mục tổng số ngoại tệ mua bán trong tháng Giêng vừa qua. Họ chỉ cho biết con số mua bán của riêng ngân hàng trung ương mà không nói đến các cơ sở tài chánh kinh tế khác, như thường lệ. Giới đầu tư chắc chắn sẽ tìm ra các con số bị bỏ sót, nhưng người ta tự hỏi tại sao Nhân Dân Ngân Hàng lại cố ý bỏ sót như vậy? Một lý do dễ đoán là chính quyền muốn che giấu số đô la được chuyển ra nước ngoài; một phong trào phát động mạnh từ tháng Tám năm ngoái, khi thị trường chứng khoán sụp đổ hai lần liên tiếp.

Trong khi đó, thế giới vẫn đang chờ coi bao giờ thì “quả bom nợ” Trung Quốc sẽ bùng nổ. Riêng số nợ “khó đòi” đã lên tới 5 ngàn tỷ mỹ kim, tương đương với một nửa tổng sản lượng nội địa tạo ra trong một năm. Thế giới phải lo lắng vì nếu hệ thống ngân hàng Trung Quốc sụp đổ vì các món nợ khó đòi thì ảnh hưởng dây chuyền sẽ kéo theo tất cả các nước đang buôn bán với Trung Quốc, tức là không nước nào thoát nạn!

Cho nên Tập Cận Bình phải tìm cách bảo đảm chỗ ngồi của mình còn vững dù ngồi trên lưng cọp! Trong hơn một năm nữa, Đại hội Đảng kỳ thứ 19 sẽ diễn ra, Tập Cận Bình phải xếp đặt ngay từ bây giờ. Trong đại hội sắp tới, năm trong số bẩy người Thường Vụ Bộ Chính Trị sẽ đến tuổi phải nghỉ, chỉ Tập và Thủ tướng Lý Khắc Cường được miễn. Trong số 25 người thuộc Bộ Chính Trị, còn sáu người khác sẽ phải về hưu vì quá 68 tuổi. Trong số 12 người còn lại, cuộc chạy đua vào Thường Vụ sẽ rất gay go. Chưa hết, 250 người thuộc Trung Ương Đảng cũng chạy đua vào Bộ Chính Trị.

Vì vậy, từ năm ngoái Tập Cận Bình đã nâng cao các “con gà” của mình để chuẩn bị chiếm chỗ trong hai cơ quan đầu não của đảng cộng sản. Năm 2015, họ Tập cho chánh văn phòng của mình là Lật Chiến Thư (Li Zhanshu, 栗战书) bay qua gặp Putin ở Matx Cơ Va, mặc dầu ông này không có vai trò ngoại giao nào, trong đảng cũng như nhà nước. Trong tháng Giêng năm nay, một phụ tá khác của họ Tập là Lưu Hạc (Liu He,) đã điện thoại với bộ trưởng Tài chánh Mỹ bàn chuyện giao thương, qua mặt Phó thủ tướng Uông Dương (Wang Yang, 汪洋), một người cấp bậc cao hơn. Lưu Vân Sơn, trưởng ban tuyên giáo, cũng là người đang được Tập Cận Bình nâng đỡ để chuẩn bị lên các cấp bậc cao hơn sau này.

Lưu Vân Sơn lo việc “tung hô vạn tuế” đẩy ngôi sao Tập Cận Bình trong các năm tới để nếu công việc cải tổ cơ cấu kinh tế có vấp ngã thì họ Tập vẫn ngồi vững trên lưng cọp, chờ cho tai qua nạn khỏi. Tất cả chiến dịch tô son vẽ phấn cho Tập Cận Bình chứng tỏ họ Tập chưa cảm thấy địa vị an toàn. Tuy đang nắm nhiều quyền hành trong tay, vượt qua cả Hồ Cẩm Đào lẫn Giang Trạch Dân, ít nhất ngang với Đặng Tiểu Bình, nhưng Tập Cận Bình vẫn còn lo dùng bộ máy tuyên truyền để củng cố địa vị. Nếu thực sự an tâm về chỗ ngồi của mình, chắc họ Tập sẽ dành hết thời giờ và năng lực để thúc đẩy cho việc cải tổ cơ cấu kinh tế tiến tới. Con cọp này quả thật khó điều khiển!

Hàng ngàn công nhân Pouchen VN đình công

Hàng ngàn công nhân Pouchen VN đình công

Hàng ngàn công nhân công ty Pouchen-Đồng Nai đình công đòi thay đổi ‘quy chế mà họ cho là bất công. Ảnh do công nhân gửi trang Facebook Tin mừng cho người nghèo

Cuộc đình công của hàng ngàn công nhân công ty Pouchen Việt Nam, tỉnh Đồng Nai bước sang ngày thứ ba trong lúc một nhà hoạt động phong trào nghiệp đoàn cáo buộc người của họ bị công an câu lưu.

Công ty Pouchen Việt Nam, đóng tại xã Hóa An, TP. Biên Hòa, Đồng Nai, là doanh nghiệp 100% vốn Đài Loan, chuyên gia công giày.

Báo trong nước tường thuật sáng 27/2, quốc lộ 1K tại Đồng Nai bị kẹt cứng do hàng ngàn công nhân công ty Pouchen Việt Nam đình công tràn ra đường.

“Công nhân đình công nhằm phản đối chính sách đánh giá hiệu quả công việc, từ đó xếp loại lao động A-B-C để tính ra mức lương, thưởng mà theo công nhân là quá khắt khe.

Cách thức trừ của công ty theo những người đình công là chưa hợp lý. Công nhân cho hay họ nghỉ không phép hay có phép đều bị trừ, phép bệnh cũng không thoát khỏi bị tính.

Phía công an còn hăm dọa người của phong trào là “gặp đâu đánh đó”.Đỗ Thị Minh Hạnh, nhà hoạt động công đoàn

Theo chính sách mới này, công nhân chỉ cần nghỉ một ngày không phép là bị xếp loại C, cuối tháng hay cuối năm đều bị cắt hết các khoản trợ cấp và tiền thưởng. Vì thế, từ trưa 25/2, khoảng 16.000 công nhân đã ngừng làm việc tập thể”, báo Thanh Niên hôm 27/2 tường thuật.

Cùng ngày, trao đổi với BBC qua điện thoại từ TP. Hồ Chí Minh, nhà hoạt động công đoàn Đỗ Thị Minh Hạnh cho hay, một thành viên của Phong trào Lao Động Việt đã bị công an mặc thường phục câu lưu tại Đồng Nai.

“Từ cuối năm 2015 đến nay, bản thân tôi thì bị canh giữ tại nhà ở TP. Hồ Chí Minh, trong lúc đồng sự của tôi bị ngăn cản khi tiếp xúc với công nhân tại Đồng Nai. Phía công an còn hăm dọa người của phong trào là “gặp đâu đánh đó”, bà nói.

Nhà hoạt động dự báo: “Cuộc đình công của công nhân công ty Pouchen có khả năng kéo dài, do họ bức xúc về tiền trả cho họ bị chèn ép. Cuộc đình công này cho thấy công nhân chưa có quyền thành lập nghiệp đoàn độc lập để bảo vệ quyền lợi của họ, ngoài những nghiệp đoàn giả hiệu do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam công bố

CA cầm dao chém người, công nhân Pouchen biểu tình kẹt cứng quốc lộ 1K

CA cầm dao chém người, công nhân Pouchen biểu tình kẹt cứng quốc lộ 1K

YouTube player

CTV Danlambao – Hàng vạn công nhân Pouchen vẫn tiếp tục đình công sang ngày thứ 3 liên tiếp, bất chấp các nỗ lực nhằm xoa dịu tình hình của của liên đoàn lao động cùng các ban ngành, đoàn thể tỉnh Đồng Nai.

Căng thẳng nổ ra vào chiều ngày 26/2/2016, các công nhân khi đang đấu tranh đòi quyền lợi chính đáng thì bất ngờ bị một viên CA thường phục cầm dao xông vào đâm chém tán loạn.

Đến sáng ngày 27/2/2016, công nhân Pouchen tiếp tục tràn cả xuống đường biểu tình khiến quốc lộ 1K, đoạn đi qua xã Hoá An, Biên Hoà, Đồng Nai trở nên tê liệt.

Nghỉ việc do ốm đâu cũng bị trừ tiền

Như đã đưa tin trên Danlambao, nguyên nhân cuộc đình công xuất phát từ việc công ty Pouchen áp dụng những quy định trừ tiền lương, thưởng quá khắt khe và bất hợp lý.

Cụ thể, công ty áp dụng xếp loại lao động theo 3 mức là A, B, C. Trong một năm, mỗi công nhân có 100 điểm thưởng, nếu bị trừ điểm thì tiền thưởng theo đó sẽ càng ít lại.

Theo quy định của công ty, người lao động nghỉ việc không phép sẽ bị trừ 13 điểm, thậm chí nghỉ có phép do ốm đâu, bệnh tật vẫn bị trừ 3 điểm.

Trong trường hợp người lao động nghỉ làm không phép, bị trừ 13 điểm thì sẽ bị xếp vào loại C, đồng nghĩa với việc bị cắt hết tất cả các khoản tiền trợ cấp và tiền thưởng cuối tháng hoặc cuối năm.

Những quy định này khiến cho đồng lương vốn đã còm cõi của người lao động nay càng có nguy cơ bị thiệt thòi nhiều hơn.

Do không còn niềm tiên vào các tổ chức “đại diện” như công đoàn hay liên đoàn lao động, các công nhân đã buộc lòng phải đứng lên đấu tranh đòi lại quyền lợi chính đáng.

 
Sáng 27/2/2016, công nhân Pouchen tiếp tục tràn ra đường khiến quốc lộ 1K tê liệt.

CA cầm dao đâm chém tán loạn

Trưa ngày 25/2/2016, 16 ngàn công nhân đồng loạt đình công để phản đối những quy định bất hợp lý.

Đến ngày 26/2/2016, cuộc đình công vẫn tiếp diễn sang đến ngày thứ 2 liên tiếp. Các công nhân công khai khước từ vai trò “đại diện” của liên đoàn lao động tỉnh Đồng Nai trong việc thương lượng với công ty.

Lúc 15 giờ chiều cùng ngày, tình trạng hỗn loạn đã xảy ra khi xuất hiện một viên CA thường phục cầm dao đâm chém tán loạn đối với những người đang đấu tranh đòi quyền lợi.

Ít nhất 4 công nhân đã bị đâm, chém đến mức đổ máu và gây nhiều thương tích trên người.

Trước sự phản ứng dữ dội của công nhân, nhiều CA sắc phục đã lập tức xông đến để giải vây cho viên CA thường phục này.

Video do các công nhân ghi lại cho thấy, một công nhân bị chém khiến máu tuôn ướt đẫm cả bàn tay. Trong khi đó, kẻ thủ ác đã được đưa vào một chiếc xe và được nhiều CA sắc phục bảo vệ.

 
Khuôn mặt Nguyễn Thanh Hải, cán bộ CA tỉnh Đồng Nai – kẻ đã dùng dao đâm chém khiến 4 công nhân bị thương. Ảnh: GNsP

Ngay lập tức, hàng trăm công nhân kéo đến bao vây chiếc xe để  “hỏi tội” tên CA thường phục, đồng thời ngăn chặn không cho hắn tẩu thoát.

Dù đã được đồng bọn bao che, nhưng video cũng cho thấy rõ khuôn mặt hoảng sợ của kẻ thủ ác trước các công nhân đang đầy phẫn uất và giận dữ.

Sau hơn 3 tiếng đồng hồ, lúc 18 giờ tối cùng ngày, chiếc xe chở viên CA thường phục mới được đưa đi khỏi hiện trường.

Theo trang web của cổng thông tin điện tử Đồng Nai, viên CA chém người này được xác nhân tên là Nguyễn Thanh Hải, hiện đang là cán bộ CA Đồng Nai.

Đến sáng ngày 27/2/2016, cuộc đình công nhanh chóng bùng phát thành cuộc biểu tình, các công nhân Pouchen tiếp tục tràn cả xuống đường khiến quốc lộ 1K, đoạn đi qua xã Hoá An, Biên Hoà, Đồng Nai trở nên tê liệt.

Một lần nữa, các công nhân tiếp tục khước từ vài trò “đại diện thương lượng” của liên đoàn lao động và giới chức Đồng Nai.

Trước áp lực mạnh mẽ, đến chiều ngày 27/2/2016, ban giáp đốc công ty đã buộc phải ra thông báo ngưng áp dụng các chính sách xếp loại lao động bất hợp lý.

Đây là một chiến thắng lớn đối với hai vạn công nhân công ty Pouchen, đồng thời cũng là một thất bại thảm hại đối với liên đoàn lao động và giới chức tỉnh Đồng Nai.

CTV Danlambao

danlambaovn.blogspot.com

Con Đường Chúa Đã Đi Qua & Hỡi Người Hãy Nhớ – LM Nguyễn Sang

httpv://www.youtube.com/watch?v=LTIz_ywlFjI

Con Đường Chúa Đã Đi Qua – Nguyễn Sang

  1. Lạy Chúa , con đường nào Chúa đã đi qua ,con đường nào Ngài ra pháp trường, mão gai nào hằng lên đau xót .Lạy Chúa ,Thánh giá nào Ngài vác trên vai, đau thương nào phủ kín tâm tư, đường tình đó Ngài dành cho con
    Đk. Lạy Chúa , xin cho con bước đi với Ngài,xin cho con cùng vác với Ngài, thập giá trên đường đời con đi. Lay Chúa, xin cho con đóng Đinh với Ngài, xin cho con cùng chết với Ngài để được sống với Ngài vinh Quang
    2. Lạy Chúa , mũi đồng nào đâm thấu con Tim, Đinh nhọn nào còn Vương máu đào, sỉ nhục nào còn ươm trên mắt. Lạy Chúa, những bước nào gục ngã đau thương, bao roi đòn hằng vết thê lương, đường tình đó Ngài dành cho con.
  2. httpv://www.youtube.com/watch?v=LwiCmSbG264

    Hỡi Người Hãy Nhớ – LM Nguyễn Sang

    ÐK: Hỡi người, hãy nhớ mình là bụi tro. Một mai người sẽ trở về bụi tro.
    1. Ôi thân phận của con người tựa bông hoa nở tươi, một làn gió nhẹ lung lay cũng biến tan sắc màu.
    2. Hôm nay người vui cười rồi mai đây lệ rơi. Ðời là giấc điệp qua mau nuối tiếc chi bóng sầu.
    3. Ôi muôn sự đều hão huyền, giả trá và phù vân. Một điều vững bền thiên thu: đức kính yêu Chúa Trời.
    4. Mau quay về cùng Chúa Trời, lòng hân hoan nhảy vui. Ðường tội lỗi nguyện lui xa, Chúa sẽ thương hải hà.
    5. Ôi trên đời nào ai người lòng không vương tội khiên. Dù người chính trực trung kiên cũng mấy phen yếu hèn.
    6. Ăn năn vì ngàn lỗi lầm nguyện Chúa hãy dủ thương, và đừng khép miệng con dâng tiếng hát khen chúc mừng.

CHỈ TRONG THINH LẶNG

CHỈ TRONG THINH LẶNG

J.B. Thái Hòa chuyển dịch

Ngòi bút thiêng liêng người Bỉ, Bieke Vandekerckhove, có một sự khôn ngoan chân thành.  Những gì cô chia sẻ với chúng ta, cô không học được từ một quyển sách, hay từ mẫu gương của ai đó.  Nhưng cô học được từ một gian nan, một đau khổ độc nhất vô nhị, ngay từ tuổi 19 cô đã mắc một chứng bệnh nan y, không chỉ sớm dẫn đến cái chết mà còn tàn phá và hạ giá thân thể của cô trên đường đến cái chết.

THINH LANG

Nỗ lực đương cự với tình trạng này, đẩy cô theo nhiều hướng, ban đầu là giận dữ và vô vọng, nhưng cuối cùng đưa cô hướng về tu viện, đến với sự khôn ngoan của tu trì, và theo đường hướng đó, đi vào chiều sâu của thinh lặng, hoang mạc ẩn dấu kinh hoàng bên trong mỗi chúng ta.  Xa lánh mọi tiếng nói của thế giới, trong sự thinh lặng linh hồn của mình, trong sự hỗn loạn của cơn thịnh nộ, khắc khoải, mà cô tìm thấy sự khôn ngoan và sức mạnh, không chỉ để đương đầu với bệnh tật của mình, nhưng còn để tìm thấy một ý nghĩa và niềm vui sâu sắc hơn trong đời.

Như John Updike đã nói trong thơ, có những bí mật tránh mặt sự khỏe mạnh, và cô Vandekerckhove đã làm rõ ràng rằng, có thể khám phá những bí mật đó trong thinh lặng.  Tuy nhiên, khám phá các bí mật mà thinh lặng dạy cho chúng ta, không phải là chuyện dễ dàng gì.  Sự thinh lặng sẽ rất đáng sợ cho đến khi chưa làm bạn được với nó, và tiến trình này cũng như là băng qua hoang mạc nóng bức vậy.  Nội tâm chúng ta không dễ thanh bình, sự khắc khoải không dễ thành cô tịch, và tính khí hướng ngoại tìm sự an ủi không dễ dàng nhường đường cho sự thinh lặng.  Nhưng có một sự an bình và ý nghĩa, chỉ có thể tìm được trong hoang mạc của nội tâm hỗn loạn và thịnh nộ trong chúng ta.  Những giếng nước an ủi sâu thẳm nằm ở cuối hành trình nội tâm, qua những nóng bức, khát khô, và ngõ cụt, phải được đẩy ra qua sự kiên trì gan góc.  Và như bất kỳ hành trình anh hùng nào, nhiệm vụ của chúng ta là đừng để trái tim nhụt chí.

Và đây là những gì cô Vandekerckhove mô tả một khía cạnh trong cuộc hành trình của mình: “Tiếng nói nội tâm có thể khá nản chí.  Đây chính xác là lý do vì sao quá nhiều người chạy trốn để tìm đến với những tiếng động bên ngoài.  Họ thích có một tiếng động đổ tràn trên họ.  Nhưng nếu muốn tăng tiến đường linh hồn, bạn phải ở lại trong không gian thịnh nộ linh hồn của mình, bền gan kiên vững.  Bạn phải tiếp tục ngồi đó thinh lặng và chân thành trong sự hiện diện của Thiên Chúa cho đến khi cơn thịnh nộ lắng xuống và trái tim bạn được thanh tẩy và im tiếng.  Thinh lặng buộc chúng ta phải xem xét đường lối thực hành của con người.  Và rồi chúng ta va phải một bức tường, một đường cụt.  Cho dù xã hội có muôn ngàn cách đáp ứng cho các nhu cầu nhân sinh của chúng ta, nhưng dù có làm gì, dù có cố gắng thế nào, trong chúng ta vẫn tiếp tục cảm nhận một mất mát và ghẻ lạnh.  Thinh lặng đối đầu với chúng ta trong một vực thẳm không đáy, và dường như không có lối thoát.  Chúng ta không có chọn lựa nào khác ngoài chung vai sát cánh với chiều sâu lòng đạo trong mình.”

Đây là một sự thật thâm thúy:  Thinh lặng đối đầu với chúng ta trong một vực thẳm không đáy và chúng ta không còn chọn lựa nào khác ngoài chung vai sát cánh với chiều sâu lòng đạo trong mình.  Đáng buồn thay, hầu hết chúng ta chỉ học được điều này qua một sự cưỡng bách cay đắng khi thực sự đối mặt với cái chết của chính mình.  Khi bơ vơ trong cơn hấp hối, không còn bất kỳ chọn lựa và lối thoát nào, thì dù cho vật vã và cay đắng, nhưng theo lời Karl Rahner, chúng ta phải để mình chìm trong sự không thể hiểu thấu của Thiên Chúa.  Hơn nữa, trước khi quy phục như thế, đời sống chúng ta sẽ luôn vẫn bất ổn và hoang mang, và sẽ luôn luôn có các góc tối nội tâm khiến chúng ta kinh sợ.

Nhưng hành trình đi vào thinh lặng có thể đưa chúng ta ra khỏi những nỗi sợ tăm tối và chiếu ánh sáng chữa lành lên những góc tối nhất của mình.  Nhưng, như Vandekerckhove và các tác giả thiêng liêng khác đã chỉ ra, thì sự bình an này chỉ tìm được sau khi chúng ta đạt đến một ngõ cụt, bế tắc không lối thoát, nơi mà điều duy nhất có thể làm là lao đầu vào tiêu cực.

Trong quyển sách Vị của Thinh lặng, Vandekerckhove kể lại một người bạn duy tâm của mình chia sẻ với cô giấc mơ được ra khỏi bản thân mà đi vào một hoang mạc nào đó nhằm khám phá đường thiêng liêng.  Phản ứng tức thời của cô không hẳn làm anh ấy vui lòng gì: “Con người ta sẵn sàng đi vào bất kỳ hoang mạc nào.  Người ta sẵn sàng đến bất kỳ nơi đâu, miễn sao đó không phải là hoang mạc của chính mình.”  Thật đúng.  Chúng ta luôn mãi thèm khát những hoang mạc tư tưởng mà chối bỏ hoang mạc của chính mình.

Hành trình thiêng liêng, cuộc hành hương, mà chúng ta cần phải làm nhất, nó không cần đến vé máy bay đâu.  Chuyến đi đáng giá nhất cho linh hồn mà chúng ta có thể thực hiện, chính là chuyến hành hương nội tâm, đi vào trong hoang mạc thinh lặng của mình.

Là con người, chúng ta mang tính xã hội trong cấu thể.  Điều này nghĩa là, “không tốt nếu để con người một mình.” Chúng ta được định sống trong sự thông hiệp với người khác.  Thiên đàng sẽ là một cảm nghiệm thông hiệp, nhưng trên đường đến đó, có một việc làm nội tâm nhất định mà chúng ta phải và chỉ có thể làm một mình, tránh xa mọi tiếng động của thế giới.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

J.B. Thái Hòa chuyển dịch

XIN ĐỂ THÊM MỘT THỜI HẠN

XIN ĐỂ THÊM MỘT THỜI HẠN

 LM Giuse Nguyễn Hữu An

Nhìn lên trần nhà đầy mạng nhện đeo bám, càng tối càng không thấy, nhưng khi nhìn gần, nhìn có ánh sáng soi chiếu sẽ thấy rõ cả những nhện con, những mạng lưới chằng chịt.  Tâm hồn con người cũng như thế, sống trong bóng tối thì không thấy mình tội lỗi, trái lại khi sống trong ánh sáng lại biết mình là tội nhân.

Môisen, có một lần lùa đàn cừu tận núi Khoreb, bỗng nhiên ông nhìn thấy một quang cảnh hùng vĩ: bụi gai bốc cháy mà không bị thiêu rụi.  Trước Thiên Chúa thánh thiện, Môisen thấy mình nhỏ bé, tội lỗi (Xh. 3, 1-5).

Phêrô, trước mẻ cá lạ lùng cũng thấy mình yếu hèn, bất xứng, liền nói với Chúa Giêsu: Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là người tội lỗi (Lc 5, 8).

Trước Thiên Chúa là Đấng Thánh, Chí Thánh, Ngàn Trùng Chí Thánh, con người chỉ là tội nhân cần đến lòng thương xót của Người.  Vì thế mỗi người luôn cần đến sám hối và hoán cải.

Tin mừng Chúa nhật hôm nay kể câu chuyện: Nhân sự kiện hai vụ án Philatô giết người vô tội và tháp Silôa đổ xuống đè chết 18 người, Chúa Giêsu cảnh tỉnh: nếu các ngươi không sám hối thì cũng bị chết như vậy (Lc 13:3-5).

Người đời thường nghĩ rằng: những kẻ bị tật nguyền, những ai bị tai hoạ là bởi tội của họ hoặc do tiên nhân để lại.  Họ đã đau khổ lại càng đau khổ hơn bởi quan niệm sai lầm này. Trong thực tế mọi người phải chấp nhận giới hạn của mình và hậu quả do mình gây nên hay vì sự liên đới nào đó do người khác mang lại.  Chẳng hạn, hai tai nạn Chúa Giêsu đưa ra trong trong đoạn Tin mừng đều có nguyên nhân của nó.  Philatô cần có tiền để xây dựng hệ thống dẫn nước đem lại lợi ích cho toàn dân.  Vì thiếu tiền nên đã vào đền thờ quyên góp.  Nhóm cực hữu cho hành động này là xúc phạm sự thánh nên trang bị khí giới để chống đối và bảo vệ đền thờ.  Thấy thế Philatô ra lệnh giết chết họ trong đền thờ.  Hành động của họ dù với mục đích tốt nhưng lại thiếu khôn ngoan nên họ đã bị thiệt mạng.  Vụ án mạng tháp Silôa sập đè chết 18 người vì lý do thiếu kỷ thuật trong việc xây cất.  Vụ này cũng như vụ việc cầu Văn Thánh rạn nứt hay các công trình xây cất hiện nay bị xuống cấp mau chóng là do bớt xén vật liệu, làm dối làm ẩu.

Những tai họa đều có nguyên nhân của nó, hoặc là do mình, hoặc là do người khác.  Những người Do thái nghĩ là do có tội nên Chúa phạt họ, còn mình vô tội thì được bình yên. Điều này đưa đến sự an toàn giả tạo.  Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh rằng mọi người đều là tội nhân nên cần phải sám hối ăn năn.  Lúc sống yên lành là lúc cần hoán cải.  Cây vả trong dụ ngôn cũng ở trong tình trạng an toàn.  Cây vả không cho trái độc, không làm hại cây khác, không phá cảnh quang.  Nó chỉ có tội làm hại đất, sử dụng đất màu mỡ mà không cho trái. Nhiều người cũng cảm thấy an toàn như cây vả.  Tự hào vì mình không làm điều xấu, chẳng làm hại ai.  Thế nhưng họ lại quên rằng mình đã phạm tội không làm điều tốt, những điều tốt có thể làm được và phải làm.  Nhiều người thường tự hỏi: tại sao người tốt cần phải hối cải? Tôi là người thường đọc kinh dự lễ rước lễ, không làm điều xấu hại ai, tại sao tôi phải ăn năn sám hối?  Sống đạo không phải chỉ lo tránh tội mà còn là gieo trồng cái tốt, cái thiện.

Có câu chuyện kể của ông chủ tiệm đồ cổ.  Vào một đêm đông, trời đã khuya, bão tuyết rơi lạnh lẽo, gió thổi mạnh rít từng cơn.  Bỗng dưng có tiếng gõ cửa.  Ông chủ cảm thấy khó chịu vì bị quấy rầy giữa đên khuya.  Khi cánh cửa vừa mở, một người thanh niên dáng bụi đời đang run rẩy với một bàn tay xoè ra van xin, một bàn tay đỡ cây gậy trên vai treo ít đồ đạc cá nhân.  Thấy hoàn cảnh đáng thương, ông chủ đưa tay với lấy ít bánh mì, vài đồng bạc lẻ trao cho hành khách.  Nhận được của bố thí, người thanh niên quay gót trở đi không nói lời cám ơn giã từ.  Khi đó chợt một ý tưởng đến trong đầu ông chủ nhà là nên mời người đó vào nghỉ đỡ một đêm, nhà vẫn còn phòng khách trống, còn chăn nệm ấm êm.  Tuy nhiên ông lại nghĩ nếu để cho người này ở lại thì căn nhà sạch sẽ của mình sẽ bị ẩm ướt, bị dơ bẩn.  Thế rồi ông vội vàng đóng kín cửa.  Hai ngày sau, có người thợ đem đến một cây gậy làm bằng gỗ quý. Khi đã thương lượng giá cả, người bán gậy cho biết, anh ta là người thợ chuyên đào mộ ở nghĩa trang.  Anh vừa chôn một người thanh niên mới chết, người thanh niên này vô gia cư, không tiền bạc, không người thân.  Tài sản anh ta chỉ là cây gậy, người thanh niên chết vì bị lạnh cóng, máu đông lại khi ngủ trên tuyết.  Nghe đến đây ông chủ tiệm cảm thấy hối hận và xấu hổ.  Ông hối hận không phải vì đã làm điều xấu mà vì điều tốt ông có thể làm cho người thanh niên nhưng ông đã không làm khiến cho anh phải chết rét.  Ông chủ tiệm kết thúc câu chuyện với nỗi thao thức: điều tôi ao ước là những sự dữ chúng ta làm có lẽ Thiên Chúa sẽ tha thứ.  Nhưng những gì tốt chúng ta đã không làm sẽ mãi mãi không được tha thứ.

Đó cũng chính là điều Chúa Giêsu muốn nói qua dụ ngôn cây vả.  Mục đích cây vả là sinh trái.  Người chủ vườn thất vọng không phải là cây vả sinh trái xấu, trái độc, trái chua mà là cây vả không sinh trái tốt.  Cứ để thêm một năm chăm bón vun xới may ra cây vả sinh hoa trái.  Chúa mời gọi thời gian sám hối hoán cải.  Lời mời gọi sám hối không chỉ là lời mời gọi xa tránh sự dữ nhưng còn là lời mời gọi làm việc lành, sinh hoa trái tốt.  Bởi đó, việc sám hối liên hệ ràng buộc mọi người.  Ai cũng phải làm lành lánh dữ.  Lánh dữ, không làm điều xấu chưa đủ, từ bỏ tội lỗi chưa đủ nhưng cỏn phải tích cực thực hành những điều tốt lành nữa.

Khuynh hướng tự nhiên của con người là muốn được yên thân, an phận, không muốn làm phiền ai và cũng không muốn ai gây phiền hà cho mình.  Vì thế một người ngoan đạo có thể bị rơi vào tình trạng tự mãn, sống ích kỷ mà không hay biết.

Dụ ngôn cây vả cho ta thấy khuôn mặt Thiên Chúa. Chúa Cha là người chủ vườn kiên nhẫn: “Ðã ba năm nay…” Ngài đã nuôi bao hy vọng: “Tôi ra tìm trái mà không thấy.”  Quyết định chặt cây chỉ đến sau những lần hụt hẫng.  Ngài chỉ phạt khi đã làm đủ cách để lay động tim ta.  Chúa Giêsu là người làm vườn kiên nhẫn không kém: “Xin ông cứ để nó lại năm nay nữa.”  Ngài không ngừng ấp ủ chút hy vọng mong manh: “Tôi sẽ vun xới, bón phân, may ra sang năm nó có trái.”  Nhưng đừng quên lời đe dọa cuối cùng: “Nếu không ông chủ cứ chặt nó đi.”  Kiên nhẫn, hy vọng, chăm bón, nhưng cương quyết đòi hỏi: đó là thái độ của Thiên Chúa đối với tội nhân.  Ðức Giêsu vừa thôi thúc chúng ta mau mau hoán cải, vừa chấp nhận cho ta có thời gian trì hoãn.

Mùa chay là mùa ân sủng.  Người chủ vườn nhẫn nại và quảng đại cho cây vả thêm một năm nữa để hy vọng nó có thể sinh hoa trái.  Mỗi Mùa Chay, Thiên Chúa cho chúng ta thêm cơ hội để đổi mới con người, làm nhiều việc lành bác ái phúc đức.  Mỗi người không biết mình sẽ ra đi về với Chúa khi nào.  Mùa Chay là thời gian thuận tiện để mỗi người kiểm điểm về cây vả đời mình.  Thêm một cơ hội, thêm một kỳ hạn nữa.  Điều quan trọng là mỗi người đã làm gì với cơ hội và với kỳ hạn đó?

LM Giuse Nguyễn Hữu An

Vai trò xã hội dân sự và ứng cử viên độc lập

Vai trò xã hội dân sự và ứng cử viên độc lập

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2016-02-26

000_Hkg10247998

Các đại biểu tới dự lễ khai mạc Đại hội đảng lần 12 tại Hà Nội ngày 21 tháng 1 năm 2016.

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Xã hội dân sự là các hội nhóm dân sự góp phần tạo dựng đời sống xã hội thăng tiến qua việc xây dựng, thúc đẩy tiến trình dân chủ mà một trong những hình thái quan trọng nhất là ứng cử và bầu cử. Tại Việt Nam trước phong trào tự ứng cử trong thời gian qua chuẩn bị cho cuộc bầu cử Quốc hội vào tháng 5 sắp tới, vai trò của các hội nhóm xã hội dân sự hiện nay còn quá rời rạc và thiếu sự phối hợp với nhau khiến sức mạnh tập thể không phát huy được để có thể hổ trợ hữu hiệu phong trào này.

Báo Quân đội Nhân dân số ra ngày 22 tháng 2 có bài viết: “Cần tỉnh táo trước những thủ đoạn phá hoại cuộc bầu cử Quốc hội khóa XIV” tập trung lên án các cá nhân tự ứng cử vào quốc hội khóa này. Với những lập luận quen thuộc tờ báo nhắc lại “việc lựa chọn, giới thiệu người ứng cử và tự ứng cử phải bảo đảm theo đúng quy trình, trong đó phải bảo đảm việc tổ chức hiệp thương giới thiệu người ra ứng cử đại biểu Quốc hội theo đúng quy định của pháp luật”

Lập luận trên cho thấy tờ báo Đảng đã tỏ ra lo ngại về phong trào người dân tự ứng cử ngày một nghiêm túc và bài bản hơn mặc dù ai trong số những người tự ứng cử cũng biết chắc một điều khó mà qua được ba cửa ải hiệp thương để có tên trên lá phiếu cử tri. Lo ngại này cho thấy phong trào nói không với chính sách Đảng cử dân bầu tuy còn yếu ớt nhưng đã thành hình một cách rõ nét trong một bộ phận người dân, bắt đầu từ xã hội dân sự, nơi tập hợp những con người cùng chung mục đích.

TS kinh tế Phạm Chí Dũng, một nhà báo tự do trong Hội nhà báo độc lập Việt Nam cho biết nhận xét của ông về khó khăn và thuận lợi của người ứng cử độc lập qua hệ thống mạng xã hội, ông nói:

Hiện nay các nhóm ứng cử viên độc lập không có truyền thông nhà nước mà họ chỉ có truyền thông mạng xã hội hay là nói nôm na là truyền thông lề dân. Nhưng dù sao thì nó cũng phản ảnh một phần cái ưu thế của truyền thông độc lập. Chúng ta cũng nên tận dụng cái ưu thế trước, trong, và sau đại hội 12 thì mạng xã hội đã chiếm một vai trò nổi bật không ngờ tới và thậm chí một số phe phái trong đảng đã phải dùng mạng xã hội để tung ra các đòn triệt hạ lẫn nhau.

Từ đó vai trò của mạng xã hội không chỉ trong việc ủng hộ cho các nhóm ứng cử viên độc lập mà còn giúp cho về mặt truyền thông và làm cho anh chị em ứng viên độc lập được nhiều người biết tới.

Vai trò của xã hội dân sự có lẽ đậm nét nhất trong việc cáo giác vi phạm luật ứng cử và bầu cử cho cộng đồng. Trường hợp của Mục sư Nguyễn Trung Tôn là điển hình cho hành vi cưỡng bức có chủ đích ngăn cản người tự ứng cử, Mục Sư Nguyễn Trung Tôn kể lại việc ông nộp đơn tự ứng cử mới đây:

Hai nhân viên đem hồ sơ lại và nói lãnh đạo không ký vì hồ sơ anh khai lý lịch như vậy không được. Cái mẫu lý lịch không phải mẫu này mà anh ra ngoài chợ anh mua mới được. Khai lý lịch thì khai tôn giáo: không, đừng khai là Tin lành đừng khai là mục sư khia lý lịch đơn giản thì bọn em xác nhận. Còn cái đơn xin ứng cử thì nói thật với anh là theo quy định thì phải tốt nghiệp đại học mới được.

“ Nếu như có bị chính quyền tổ chức những thủ đoạn, kỹ thuật chơi xấu thì truyền thông độc lập cần lên tiếng ngay để bảo vệ.
– TS Phạm Chí Dũng “

Ông Nguyễn Huy Vũ, người có nhiều bài viết đóng góp cho phong trào tự ứng cử cho biết nhân xét của ông:

Lực lượng ứng cử tự do hiện nay ngoài những vấn đề những khó khăn về truyển thông, về cơ chế, về tổ chức thì cái rào cản lớn nhất hiện nay họ chưa được sự ủng hộ rộng rãi của các trí thức lớn của chế độ. Nếu họ có được một sự ủng hộ rộng rãi và vận động ủng hộ của các trí thức nhằm đòi hỏi một cuộc bầu cử nghiêm túc và ủng hộ họ ra ứng cử thì tôi nghĩ tình hình nó sẽ thay đổi nhanh chóng bởi vì tiếng nói của trí thức lớn của chế độ sẽ giúp lập ra tính chính danh của phong trào tự ứng cử. Dù sao nó chỉ đòi hỏi một cái quyền bầu cử và ứng cử vốn đã được hiến đinh trong hiến pháp Việt Nam.

Khi người ta thấy được rằng ra ứng cử và được sự ủng hộ có tính chính danh của xã hội thì sẽ có nhiều người ra ứng cử hơn và lúc đó nó sẽ phá vỡ cơ chế hiện nay. Cho nên cái điểm mấu chốt nhất hiện nay giúp cho phong trào là có được sự ũng hộ rộng rãi hơn và lên tiếng mạnh mẽ hơn của các trí thức lớn trong chế độ.

Vai trò của truyền thông độc lập

Sự ủng hộ của xã hội dân sự quan trọng như vậy nhưng khó mà tập trung trong hoàn cảnh hiện nay. Tuy nhiên nếu kết hợp được với truyền thông ngoài luồng thì vẫn có thể đánh động được quần chúng, ông Phạm Bá Hải, điều phối viên của hội Cựu tù nhân lương tâm cho biết:

Xã hội dân sự người ta có thể đóng vai trò cử tri để ủng hộ ứng cử viên độc lập. Những người mà chúng ta ủng hộ họ rất cô đơn vì hệ thống truyền thông là lực lượng của nhà nước đều bị kiểm soát cả. Các tổ chức xã hội dân sự chúng ta nên vận động những thành viên và dùng truyền thông để ủng hộ cổ xúy cho các quan điềm của ứng cử viên tạo nên cái lực truyền thông để dân chúng người ta biết quan điểm là lập trường xây dựng đất nước của ứng cử viên nhằm tác động vào quần chúng nói chung và đất nước.

TS Phạm Chí Dũng cũng cùng chung quan điểm về truyền thông mạng, một kênh quan trọng bậc nhất hiện nay đối với xã hội dân sự:

Với tình hình một nửa dân số Việt Nam đang có Internet mà trong đó có khoản 10 % quan tâm đến vấn đề dân chủ nhân quyền thì tôi hy vọng rằng trong số 10 % đó, khoảng gần 5 triệu người Việt Nam họ sẽ quan tâm tới vấn đề ứng cử viên độc lập và nó có lợi ích thế nào đối với quốc hội Việt Nam, đối với việc cải cách Việt Nam trong tương lai và họ sẽ ủng hộ một phần cho ứng cử viên độc lập.

Tôi nghĩ rằng đó là những vấn đề chính ngay trước mắt mà giới truyền thông, giới luật sư cũng như các ứng cử viên độc lập cần phải thực hiện ngay để có thể thúc đẩy quá trình ứng cử độc lập. Đồng thời một việc nữa là để đối phó với những tình huống bất trắc của các ứng cử viên độc lập thì từng ứng cử viên độc lập nên thường xuyên thông báo cho các cơ quan truyền thông độc lập về tình trạng an ninh rủi ro của mình. Nếu như có bị chính quyền tổ chức những thủ đoạn, kỹ thuật chơi xấu thì truyền thông độc lập cần lên tiếng ngay để bảo vệ.

Cho dù còn quá sơ khai và tập trung không đồng bộ, xã hội dân sự vẫn là một giải pháp cần thiết cho ứng viên độc lập vì xã hội dân sự là số đông, nếu tập trung được những khối óc và sức mạnh tập thể cũng như biết sử dụng, khai thác sức mạnh ấy thì phong trào tự ứng cử sẽ đạt được những thành công nhất định ban đầu, để từ đó làm bước đệm cho các hoạt động dân chủ sau này.

Nhắc các cụ ở tuổi trên sáu mươi

Nhắc các cụ ở tuổi trên sáu mươi

Dược sĩ : Nguyễn Hữu Đức

Trong vòng một thế kỷ qua, tuổi thọ trung bình kể từ lúc sinh ra của người sống tại Mỹ đã tăng lên đáng kể, từ 47 tuổi năm 1900, lên đến 77 tuổi năm 2004. Tính ra, vào năm 2030, người trên 65 tuổi sẽ chiếm hơn 20% dân số, tức khoảng 70 triệu người.

Hệ thống duy trì sức khỏe cho các vị cao niên tại Mỹ tốt, nhờ vào các phương cách y khoa phòng ngừa. Việc ngừa bệnh và tăng cường sức khỏe tại Mỹ hiện được chia làm ba cách: primary prevention (phòng ngừa tiên khởi, phòng ngừa thứ nhất), secondary prevention (phòng ngừa thứ nhì) và tertiary prevention (phòng ngừa thứ ba).

Phòng ngừa tiên khởi nhắm mục đích ngừa đừng để bệnh xảy ra trong tương lai; phòng ngừa thứ nhì nhắm mục đích tìm và chữa bệnh sớm trong giai đoạn bệnh chưa gây triệu chứng; phòng ngừa thứ ba nhận định tình trạng sức khỏe hiện tại của người bệnh, tìm các phương cách giúp người bệnh sống khỏe mạnh và an toàn hơn.

Phòng ngừa tiên khởi

Các vị cao niên nên tập thể dục ít nhất 30 phút mỗi ngày, ít nhất 5 ngày một tuần; bỏ ngay thuốc lá nếu đang hút; bớt uống rượu nếu có uống rượu nhiều. Thể dục thường xuyên giúp chúng ta tăng cường sức khỏe; giảm thiểu nguy cơ bị các bệnh tim mạch, tai biến mạch máu não, cao áp huyết, tiểu đường, rỗng xương, béo mập, ung thư ruột già, ung thư vú, căng thẳng tinh thần (anxiety), buồn chán (depression) , lẫn; giúp bớt té ngã, như vậy, ngừa những chấn thương do sự té ngã; khiến chúng ta sinh hoạt trong đời sống hàng ngày khá hơn; và cũng là cách trị liệu hữu hiệu trong nhiều trường hợp bệnh, như các rối loạn tinh thần khiến chúng ta lúc buồn lúc vui (mood disorders), lẫn, đau nhức kinh niên, suy tim, tai biến mạch máu não, bón, khó ngủ.

Aspirin nên được dùng cho những vị mang nguy cơ có thể sẽ bị bệnh tim mạch trong vòng 5 năm tới (nguy cơ >3% so với người thường), chẳng hạn như những người có bệnh tiểu đường. Tuy nhiên, chúng ta cẩn thận khi dùng aspirin vì aspirin có thể gây chảy máu đường tiêu hóa, nhất là cho các vị trên 75 tuổi, các vị có bệnh loét bao tử hoặc từng chảy máu đường tiêu hóa trong quá khứ, các vị đang uống những thuốc warfarin, steroid.

Cứ mỗi 10 năm, chúng ta chích ngừa phong đòn gánh (tetanus), để lỡ có đứt tay trầy chân, chúng ta yên tâm sẽ không bị phong đòn gánh, một bệnh nhiễm trùng nguy hiểm có thể gây tử vong. Thuốc thường được pha chung với thuốc ngừa bệnh bạch hầu (diptheria, một bệnh nhiễm trùng nguy hiểm tạo những màng trắng ở họng), nên được gọi là thuốc chích ngừa Td (tetanus- diptheria vaccine).
Hàng năm, các vị cao niên 65 tuổi trở lên nên chích ngừa cúm khoảng tháng 10, 11, trước khi cúm đến vào mùa Đông. Người dưới 65 tuổi song đang mang các bệnh tim, phổi, hoặc những bệnh kinh nhiên khác khiến sức để kháng của cơ thể suy giảm, cũng nên chích ngừa cúm.

Các vị cao niên 65 tuổi trở lên cần chích ngừa bệnh sưng phổi pneumococcus, chỉ cần một lần trong đời. Giống ngừa cúm, người dưới 65 tuổi song đang mang các bệnh tim, phổi, hoặc những bệnh kinh nhiên khác khiến sức để kháng của cơ thể suy giảm, cũng nên chích ngừa sưng phổi pneumococcus.

Gần đây, có thuốc chích Zostavax ngừa bệnh shingles (một bệnh do siêu vi, gây đau đớn, có khi rất dữ, nhất là cho người lớn tuổi, Việt Nam ta hay gọi nôm na là “bệnh giời ăn”), các vị 60 tuổi trở lên nên chích thuốc Zostavax ngừa bệnh này.

Phòng ngừa thứ nhì

Phòng ngừa thứ nhì (secondary prevention) gồm việc truy tìm các ung thư ruột già, vú, nhiếp hộ tuyến, cổ tử cung; đo áp huyết định kỳ; thử máu xem có cao các chất mỡtrong máu; truy tìm bệnh rỗng xương; truy tìm bệnh phình nở động mạch aorta trong bụng (abdominal aortic aneurysm).

50 tuổi trở lên, cả đàn ông lẫn phụ nữ, chúng ta nên truy tìm ung thư ruột già, dù không có triệu chứng gì cả. Phương pháp truy tìm ung thư ruột già tốt nhất là soi toàn ruột già (colonoscopy) , nếu bình thường, 10 năm chúng ta sẽ soi lại.

Nguy cơ bị ung thư nhiếp hộ tuyến tăng sau tuổi 50. Tiếc thay, hiện vẫn chưa có phương pháp truy tìm ung thư nhiếp hộ tuyến thực chính xác. Từ 50 tuổi trở lên, đàn ông chúng ta nên nhờ bác sĩ thăm khám nhiếp hộ tuyến hàng năm, và thảo luận với bác sĩ có nên thử PSA hay không. [Thường chất PSA trong máu tăng cao khi có ung thư nhiếp hộ tuyến, nhưng có nhiều trường hợp thử thấy PSA tăng cao, khi đâm kim lấy mô nhiếp hộ tuyến xem dưới kính hiển vi (biopsy), không thấy có ung thư, ngược lại, cũng có trường hợp ung thư, song PSA lại không cao nhiều, nên phương pháp truy tìm ung thư này không thực chính xác lắm, việc có nên thử PSA hay không sẽ tùy vào ý muốn của bạn, sau khi nghe lời giải thích của bác sĩ.]
Ung thư vú tăng cao nhiều sau tuổi 50. Từ tuổi 40 trở đi, phụ nữ nên đi khám vú hàng năm, và chụp phim vú mỗi 1-2 năm. Đến tuổi 50 trở đi, vẫn đến bác sĩ 
khám vú hàng năm, và mỗi năm nên chụp phim vú.

Việc làm Pap smear để truy tìm ung thư cổ tử cung cần được tiếp tục cho đến khi quá tuổi 65-70 mới ngưng, nếu ít nhất 3 lần làm Pap smear trong vòng 10 năm trước đó hoàn toàn bình thường.

Cao áp huyết xảy ra rất nhiều ở người có tuổi, đưa đến các biến chứng tim mạch như chết cơ tim cấp tính (heart attack), tai biến mạch máu não (stroke). 1-2 năm, chúng ta nên đến nhờ bác sĩ đo hộ áp huyết, để nếu có cao áp huyết còn sớm chữa.

Bệnh rỗng xương nhiều ở phụ nữ đã mãn kinh. Phụ nữ 65 tuổi trở lên nên chụp phim truy tìm rỗng xương. Phụ nữ trước tuổi 65, đã mãn kinh, tùy trường hợp, bác sĩ sẽ khuyên chụp phim hay không.
Đàn ông hút thuốc lá có thể bị phình nở động máu aorta trong bụng (abdominal aortic aneurysm), nếu bể vỡ dễ gây tử vong. Đàn ông 65-75 tuổi hút thuốc lá hay từng hút trong quá khứ, hoặc có anh, em bị bệnh phình nở động máu aorta trong bụng, nên làm siêu âm bụng một lần để truy tìm bệnh phình nở động máu aorta.

Phòng ngừa thứ ba

Phòng ngừa thứ ba (tertiary prevention) nhận định hiện trạng sức khỏe của người bệnh, và tìm các phương cách giúp người bệnh sống khỏe mạnh và an toàn hơnỞ các vị cao niên, phòng ngừa thứ ba gồm những việc bác sĩ nhận định sức khỏe tổng quát của các vị, những hoạt động để chăm sóc cho chính bản thân hàng ngày (tắm rửa, ăn uống, …), rồi về mặt trí óc, tri thức có sáng suốt không, về mặt tinh thần, có dấu chứng buồn chán (depression) không.

Về mắt, các vị cao niên nên được khám bởi bác sĩ chuyên khoa Mắt mỗi 1-2 năm, truy tìm những bệnh quan trọng như cao áp suất mắt (glaucoma). Về tai, bác sĩ cũng nên để ý xem tai vị cao niên có nghe kém không.

Về dinh dưỡng, các vị cao niên cần một thực phẩm đầy đủ những chất cần cho cơ thể. Các vị cần ít nhất 1200 mg calcium, 800 đơn vị sinh tố D mỗi ngày. Hàng ngày, thuốc đa sinh tố (multivitamins) cũng rất tốt, ngừa một số bệnh kinh niên có thể xảy ra do thiếu sinh tố. Nếu vị cao niên nào xuống cân, 10% hay hơn sức nặng trong vòng 1 năm qua, bác sĩ cần lưu ý và tìm hiểu tại sao.

Hàng năm, có khoảng 30% người cao niên té ngã, tỉ lệ này tăng lên 50% ở các vị trên 80 tuổi. Té ngã có thể đưa đến gãy xương hoặc phải vào nhà thương, nên các phương cách giúp tránh té ngã cũng là những phòng ngừa quan trọng ở các vị cao niên. Các yếu tố khiến dễ té ngã gồm những thay đổi vóc dáng, cách đi đứng do tuổi tác, mắt kém, tri thức không sáng suốt, bệnh ảnh hưởng đến sức mạnh và sự phối hợp của các bắp thịt, các yếu tố môi trường (sàn nhà trơn trượt, thảm trải sàn không được chắc, đèn không đủ sáng, giầy dép không vừa chân, lỏng lẻo, vân vân), thuốc dùng. Riêng về thuốc, càng dùng nhiều thuốc, càng dễ có phản ứng phụ của thuốc và té ngã, bác sĩ nên thường xuyên nhận định thuốc nào vị cao niên còn cần, thuốc nào

 không cần nữa nên bỏ. (Khi đi khám bệnh, chúng ta nên luôn mang thuốc theo, và cho bác sĩ biết thuốc nào còn cần, thuốc nào không thấy cần nữa.)

Ngoài ra, nhưng việc khác như tiểu són, còn lái xe được không, ở nhà có bị con cái hất hủi, bỏ bê không, vân vân, bác sĩ cũng cần để ý thăm hỏi, giúp các vị cao niên giải quyết vấn đề.

Sức khỏe còn quí hơn vàng. Chúng ta may mắn sống trên đất Mỹ, nơi có nền y khoa tốt. Hiểu biết về các phương cách ngừa bệnh và duy trì sức khỏe ở đây, chúng ta không những sống khỏe mạnh và an toàn  GÌ?

Uống thuốc vơí nước gì tốt nhất

Đối với nhiều người, uống thuốc với bất cứ nước gì có vẻ không quan trọng, thậm chí có người lựa chọn hẳn một loại nước có mùi vị thích hợp, nhằm loại trừ cảm giác khó chịu do dùng thuốc. Như có người uống thuốc với nước trà (chè) hoặc với nước trái cây (nước cam, nước chanh…) hay với nữ, thậm chí với bia rượu là loại thức uống đang có sẵn hay chỉ đểu có cảm giác dễ chịu!

Điều vừa kể thật ra có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả điều trị của thuốc, vì nếu dùng loại nước không thích hợp sẽ ảnh hưởng đến sự hấp thu của thuốc ở hệ tiêu hóa, đưa đến thuốc bị giảm tác dụng hay không còn tác dụng điều trị.

*Nước gì tốt nhất?

Nước lã đun sôi để nguội hoặc nước lọc hợp vệ sinh là loại nước tốt nhất dùng để uống thuốc. Uống thuốc với loại nước này với lượng nước đủ sẽ giúp đưa thuốc viên (viên nén hoặc viên nang) từ miệng xuống nhanh đến dạ dày, tan rã và hòa tan tạo dung dịch thuốc, sau đó trôi xuống ruột là vị trí dược chất sẽ hấp thu vào máu cho tác dụng.

Đối với thuốc là viên nang hay còn gọi là viên nhộng là dạng dễ nuốt, một số người uống khan, không uống chung với nước (đặc biệt là người cao tuổi do rối loạn tiểu tiện thường đi tiểu lắt nhắt rất ngại uống nước), viên nang uống khan có thể dính lại ở thực quản gây viêm loét thực quản rất tai hại. Vì vậy, uống thuốc với lượng nước đủ là cần thiết, thậm chí có một số thuốc đòi hỏi phải uống nước thật nhiều (như thuốc chứa dược chất sulfamid) để thuốc được lọc, bài tiết nhiều theo nước tiểu không gây đóng sỏi hại thận.

Có thể dùng nước đóng chai nhưng phải là nước tinh khiết chứ không nên dùng nước chứa các chất khoáng (còn gọi nước suối) để uống thuốc, bởi vì chất khoáng như: canxi, natri… có thể tương kỵ gây ảnh hưởng đến thuốc.

*Các loại nước không nên dùng?

Tùy trường hợp, có loại nước hoàn toàn không thích hợp vì nếu uống với thuốc sẽ làm mất tác dụng của thuốc hay gây hại đối với cơ thể, cụ thể như sau:

Sữa: trong sữa có chứa canxi có thể kết hợp với một số kháng sinh (như tetracyclin) tạo thành phức hợp không tan, làm kháng sinh không hấp thu được vào máu để cho tác dụng. Tuy nhiên, vẫn có trường hợp thuốc nên uống chung với sữa. Như dùng thuốc gây bào bọt dạ dày (aspirin), hay dễ nôn ói (thuốc ngừa thai phải uống hàng ngày dễ gây buồn nôn ở một số phụ nữ), hay cần chất béo để thuốc dễ hấp thu (vitamin A, vitamin D) thì cần uống chung với sữa. Như vậy, để lựa chọn đúng thức uống uống với thuốc nên hỏi bác sĩ hay dược sĩ để được tư vấn.

Cà phê, trà, nước giải khát có ga: trong các loại nước này, đặc biệt nước ngọt, nước tăng lực đều có chứa caffein (là chất kích thích giúp tỉnh táo) sẽ kết hợp với thuốc bổ chứa sắt, tạo thành chất kết tủa không hấp thu được. Ngoài ra, caffein còn làm giảm tác dụng các thuốc được dùng nhằm an thần gây ngủ nếu uống cùng lúc.
Nước ép trái cây: nhiều loại nước ép trái cây hiện nay đã được chứng minh là gây hại nếu uống chung với thuốc. Nước cam, nước táo dùng uống thuốc có thể làm giảm sự hấp thu một số thuốc, do làm chất sinh học ở ruột đảm nhận việc chuyển vận thuốc vào máu không hoạt động được. Nghiêm trọng nhất là nước bưởi chùm (grape-fruit, là loại bưởi dùng nhiều ở phương Tây, nhưng thận trọng cũng nên lưu ý cả nước bưởi trồng ở ta). Khi uống chung với một số thuốc (như thuốc statin trị rối loạn lipid huyết, thuốc atenolol trị tăng huyết áp…) nước bưởi chùm sẽ làm tăng độc tính của thuốc, do ức chế men chuyển hóa thuốc ở gan, làm tăng nồng độ thuốc quá đáng ở trong máu.

Bia rượu: đây là loại thức uống không nên uống chung với thuốc. Rượu làm tăng độc tính hại gan của paracetamol, tăng độc tính hại dạ dày của aspirin, tăng độc tính gây mê của thuốc an thần gây ngủ. Riêng với kháng sinh như: metronidazol, các cephalosporin… nếu uống chung với rượu bia sẽ gây phản ứng antabuse gây vật vã, hạ huyết áp rất khó chịu làm người dùng thuốc cứ tưởng sắp chết đến nơi.

Trong thời gian dùng bất cứ loại thuốc nào, an toàn hơn hết là kiêng hẳn, không nên uống rượu bia.

Dược sĩ Nguyễn Hữu Đức

Có Những Người Chị Người Em Dễ Thương.

Có Những Người Chị Người Em Dễ Thương.

 Bút ký của : Đòan Thanh Liêm.

Tôi còn đang ở lại thành phố Denver Colorado, sau chuyến hành trình bằng xe lửa

dài trên 2,000 dặm kéo dài đúng 48 giờ liên tục, xuất phát từ thành phố Lancaster

Pennsylvania vào ngày 30 tháng Sáu, xuyên qua nhiều tiểu bang qua các thành phố

lớn như Philadelphia, Washington DC, Chicago để tới Denver vào sáng thứ Sáu

mồng 2 tháng Bảy. Đây có thể là chuyến xe lửa dài nhất mà tôi thực hiện trong

mấy năm gần đây. Tôi phải tranh thủ làm như vậy, thì mới kịp có mặt tại Denver để

tham dự đám cưới của hai người cháu gái tên là Việt Trâm và Việt Tiên gọi tôi là “

ông chú”, mà cùng được tổ chức trong cùng một ngày Thứ Bảy mồng 3 tháng Bảy.

Cha mẹ của các cháu, chính là anh chị Tống Đình Thỉnh là chủ nhân của hãng

Hương Duyên chuyên chế biến giò chả có tiếng ở Denver. Anh Thỉnh là trưởng

nam của người anh bà con của tôi. Đây cũng là một dịp Họp Mặt Đại Gia Đình của

dòng họ chúng tôi, gốc gác từ một thôn xã trong vùng đồng bằng sông Hồng, thuộc

tỉnh Nam Định Bắc phần.

Sau chuyến đi mệt nhọc này, tôi phải ở lại Denver một thời gian, vừa để gặp gỡ

hàn huyên tâm sự với bà con trong dòng họ từ nhiều nơi xa quy tụ về đây, vừa để

nghỉ ngơi tĩnh dưỡng để phục hồi sức lực hầu đi tiếp thêm vài đọan đường nữa,

trước khi về lại California với gia đình. Bài viết này, tôi đã manh nha từ lâu, chủ ý

ghi lại cái sự chăm sóc rất ư là chân tình chu đáo, mà tôi nhận được từ nơi những

người chị, người em rất mực thân thương quý mến của mình, trong chuyến đi dài

ngày của tôi vào mùa xuân và mùa hè năm 2010 này. Để quý bạn đọc tiện bề theo

dõi, tôi xin viết về các chị em người Mỹ trước, rồi sau đó sẽ viết về các chị em

người Việt của mình.

I – Các Chị Em người Mỹ.

Tôi đã có dịp viết về gia đình của Sandy và Jim Foster tại thành phố Knoxville

Tennessee, là nơi tôi thường xuyên lui tới để tham dự các khóa hội thảo quốc tế

Xây dựng Hòa bình vào các mùa hè mỗi năm. Liên tiếp trong 3 năm gần đây, mỗi

lần đến Knoxville, thì tôi thường ở với gia đình Foster. Chị Sandy lúc nào cũng lo

lắng chăm sóc chu đáo cho tôi. Đặc biệt năm nay tôi ở lại nhà anh chị đến 10 ngày,

mà lại đúng vào lúc tôi bị bệnh gout hòanh hành nơi đầu gối, khiến cho việc đi

đứng rất khó khăn, thì Sandy tìm ngay lọai thuốc giảm đau cho tôi (pain relief).

Chị lại làm món ăn có nhiều rau dành riêng cho tôi. Thấy tôi không đem theo đủ áo

ấm, chị bèn kiếm ngay cho tôi một áo len để tăng cường bảo vệ sức khỏe cho tôi.

Chị còn luôn nhắc chừng tôi là : “ Anh không được say mê công việc quá đáng,

khiến làm hại đến sức khỏe đấy !” Khi tiễn tôi ra xe để đi Indiana, chị còn gửi theo

cả một túi đày đồ ăn và trái cây, thật là tươm tất.

Chị Marylou Matteson cũng vậy. Từ 2 năm nay, anh chị rời khỏi Knoxville để tới

làm việc cho tổ chức xã hội Mennonite Central Committee (MCC) tại nơi trụ sở

chính đặt tại thành phố Akron, gần với Lancaster thuộc tiểu bang Pennsylvania. Và

vào ngày 29 tháng 6 vừa đây, tôi đã từ Philadelphia ghé tới thăm anh chị trong một

ngày. Ngay buổi chiều hôm tôi đến, Marylou đã rủ tôi cùng với anh chị và một số

gia đình bạn để đi coi trận đấu base ball (bóng chày) tại Lancaster giữa đội chủ nhà

là Lancaster Barnstormers với đội khách là Southern Maryland Blue Crabs. Đây là

lần đầu tiên tôi đi coi một trận baseball như thế này, thật là hào hứng với rất đông

khán giả tòan là dân Mỹ ở địa phương. Marylou hỏi tôi : “Anh có dự định viết bài

báo nào về trận đấu này không?” Tôi lắc đầu, nói : người Việt nam thì hiện đang

mê say theo dõi World Cup ở Nam Phi, chứ họ không có quen với lọai baseball này

đâu. Marylou là con người đôn hậu dịu dàng và có đời sống đao đức tâm linh thật

là sâu sắc. Niềm vui lớn nhất của chị hiện đặt nơi đứa cháu nội tên là Mila mới

được chừng 3 tuổi. Marylou luôn gửi email cho các bạn bè cùng khắp để trao đổi

các suy nghĩ về sinh họat thường ngày của gia đình, cũng như của đại gia đình

MCC mà hai anh chị đã dấn thân nhập cuộc với mọi công tác từ thiện nhân đạo, từ

khi đã bắt đầu bước vào tuổi cao niên. Chị luôn khích lệ, cổ võ cho công việc

nghiên cứu tìm kiếm của tôi để hòan thành cuốn sách về sự phục hồi Xã hội Dân

sự tại Đông Âu, mà tôi đã theo đuổi từ 10 năm nay. Cũng giống như Sandy, chị gói

cho tôi ít đồ ăn khô và trái cây để cho tôi ăn trên xe lửa. Chị còn cho tôi cả một

cuốn sách về suy ngẫm tâm linh để tôi mang theo đọc trên xe. Anh Matt thì nói đùa

:’ Marylou sợ anh Liêm không có gì để đọc, nên đã gửi thêm cho cuốn sách đó

đấy’. Và chúng tôi đều cười ngất lúc chia tay.

Chị bạn khác nữa là Sherry Hall, người bạn đời của Dick Hughes ở New York. Hai

anh chị có người con gái là Tara Hughes-Hall, nay đã trưởng thành và đi ở riêng để

làm việc tại Buffalo. Lần nào đến New York, thì tôi cũng đều được Dick và Sherry

rủ đi dùng bữa và đi thăm viếng nơi này, chỗ nọ. Lần này hai người rủ tôi đi xem

triển lãm tranh ảnh của nhà báo ảnh nổi danh quốc tế là Henri-Cartier Bresson

(photo-journalist) tại Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại (MoMA = Museum of Modern

Art), do sự hướng dẫn của một người bạn, đó là Adrian Kitzinger là một trong các

tác giả của cuộc triển lãm vĩ đại này.

Khi nghe tôi nói là tôi được cho ở free tại một khách sạn tại khu thị tứ nhất của

New York là Times Square, thì Sherry cười ngất, chị bảo chỉ có Mister Liêm mới

có được một sự đãi ngộ đặc biệt như vậy (such a special treatment!). Sherry có lần

còn kể là : Trong một dịp chở cháu Trực con trai tôi ra phi trường để về lại

California, thì luýnh quýnh thế nào mà chị lại chở đến một phi trường khác. Thế

nhưng may là nhờ đi sớm, nên vẫn còn kịp thì giờ để chị có thể trở lại cho đúng

với phi trường ghi trong vé máy bay. Sherry cười ngất : Thằng cháu Trực nó chắc

không thể nào quên được cái vụ tôi chở đi lộn phi trường này đấy nhỉ. Hồi trước,

lúc cháu học về Pharmacy ở Boston, thì Trực thường về New York và ở nhà với cô

chú Dick và Sherry. Là một cô giáo, Sherry thật là dịu hiền dễ thương đối với mọi

người.

Còn riêng với tổ chức Human Rights Watch (HRW), thì ngòai chị luật sư Dinah

Pokempner ra, tôi còn thân thiết với chị Sara Colm vẫn làm việc ở Phnom Penh.

Có lần tôi đến thăm Sara ở New Orleans vào dịp chị về nghỉ tại nhà, thì Sara cũng

dẫn tôi đi ăn trưa, xong còn dẫn tôi về nhà và gặp ông xã cũng chuyên họat động

về bảo vệ môi sinh và lọai động vật hiếm quý trên thế giới. Sara làm việc âm thầm,

mà rất hiệu quả, đặc biệt trong việc bênh vực người thiểu số ở vùng cao nguyên

Việt nam sát với ranh giới Cambodia. Ngòai ra, thì mỗi khi ở thủ đô Washington,

tôi đều gặp lại chị Sophie Richardson tại văn phòng HRW ở gần khu vực Dupont

Circle. Sophie mới ngòai 30 tuổi là một chuyên gia đặc trách về khu vực Á châu

của HRW. Chị được nhiều bà con trong cộng đồng người Việt tại Washington biết

đến và mến chuộng vì sự tích cực bảo vệ nhân quyền cho Việt nam. Chị thường

hẹn tôi đến gặp bàn chuyện và đi ăn trưa luôn thể, theo lối mà người Mỹ gọi là

“working lunch”. Nói chung, thì cả ba vị nữ lưu trí thức Dinah, Sara và Sophie này

của HRW đều rất mực duyên dáng dễ thương và đều hăng say với lý tưởng tranh

đấu cho phẩm giá và quyền con người tại khắp nơi trên thế giới ngày nay vậy

II – Các Chị Em người Việt.

Trong các bài bút ký trước đây, tôi đã viết nhiều về những gia đình tại các thành

phố tôi đã đi qua, mà đã cho tôi chỗ trú ngụ cũng như cho tôi mọi thứ cần thiết cho

sự sinh họat đi lại của tôi. Vì thế ở đây, tôi chỉ xin viết thật vắn tắt về những người

chị người em, tất cả đều dễ mến dễ thương đó thôi.

Tại thành phố Houston năm nay, thì tôi ngụ tại nhà của hai anh bạn, mà đều có tên

là Bằng cả. Đó là, anh Nguyễn Công Bằng với bà xã là chị Anh Trinh, rồi đến anh

Chu Bá Bằng với bà xã là chị Ánh. Chị Anh Trinh cũng như chị Ánh đều rất sung

mến Đạo Phật, mà cả hai chị đều lo lắng chăm sóc cho tôi rất chu đáo tận tình. Chị

Ánh gợi lại cho tôi những kỷ niệm rất đẹp về anh Nguyễn Xuân Nghiên là bạn ở

cùng lều vải trên khu Khám Lớn Saigon hồi xưa với anh Bác sĩ Bằng và tôi, khi

chúng tôi mới di cư vào miền Nam năm 1954. Anh Nghiên trước 1975 là một giáo

sư dậy môn Lý Hóa có tiếng ở Saigon, nhưng sau đó anh bị tai nạn xe trên xa lộ

Biên Hòa và mất vào khỏang năm 1977. Còn chị Anh Trinh thì hay dẫn tôi đi tham

dự các buổi sinh họat cộng đồng ở Houston, mà chị thường được mời ra làm công

việc giới thiệu chương trình ( MC = emcee).

Tại vùng thủ đô Washington, thì tôi được nhiều chị lo lắng chăm sóc cho việc ăn ở

rất chu đáo, gọn gàng. Cụ thể như trường hợp của chị Lệ bà xã của nhà báo Phạm

Bá Vinh, với chị Ngọc Lan bà xã của ký giả Nguyễn Văn Khanh của Đài Á châu

Tự Do RFA, của chị Như Lan bà xã của Thẩm phán Nguyễn Văn Thành (Thành

Em, để phân biệt với vị Thẩm phán Quân sự lớn tuổi hơn, mà cũng có tên là

Nguyễn Văn Thành hiện cũng định cư tại Virginia), và của chị Trương Anh Thụy

bà xã của anh Nguyễn Huy Long.

Đặc biệt là lần nào ở Washington, thì tôi cũng đều được chị Jackie Bông giúp đỡ

cho bất kỳ việc gì tôi cần đến, điển hình như vào chiều ngày 30 tháng Sáu, tôi phải

ở lại nhà ga Union Station đến 3 giờ trong khi chờ đổi tàu khác để đi Chicago, thì

chị Jackie đã đến nhà ga gặp gỡ chuyện trò và dẫn tôi đi ăn ở Mc Donald. Chúng

tôi cùng hợp tác với nhau trong Mạng Lưới Nhân Quyền Việt nam. Và các con tôi

vẫn gọi chị là Cô Út Jackie, vì tụi chúng đọc cuốn Hồi Ký “Autumn Cloud” (Thu

Vân = Mây Mùa Thu), thì biết được cô Jackie là con út trong gia đình nhà họ Lê

với tên đày đủ là Lê Thị Thu Vân.

  • Tại thành phố Rochester NY, thì chị Dung bà xã của anh Nguyễn Xuân Sơn – bào

đệ của họa sĩ Thái Tuấn – cũng lo lắng chăm sóc cái ăn cái uống cho tôi rất chu

đáo. Cái món xôi chị gói cho tôi mang lên xe lửa để ăn dọc đường, thì thật là tuyệt

vời, đến nỗi tôi chia bớt cho cô bạn người Đức cùng ngồi chung trong một băng

ghế, thì cô bạn này hết sức khen ngợi tài nấu nướng của các bà nội trợ Việt nam.

Rồi tại thành phố Worcester MA, anh chị suôi gia Võ Hồng Phước, cũng như anh

chị Nguyễn Hữu Sơn cũng đều ân cần chăm sóc cho tôi về mọi phương diện. Và

sau cùng, tại thành phố Philadelphia PA, cô Mỹ Linh con dâu của bác Nguyễn

Ngọc Chương lại còn cung cấp thêm cho tôi cả món quà đặc sản cô mới đem từ

Việt nam về Mỹ – để tôi đem tặng cho gia đình anh chị Marylou và Matt Matteson

ở Lancaster gần đó – như tôi đã ghi ở đọan trên đây nữa.

Thật là mọi bề chu đáo gọn gàng, nhờ bàn tay khéo léo và tấm lòng quý mến yêu

thương của các người chị, người em thật là tuyệt vời – dù là người Mỹ cũng như

người Việt của tôi vậy.

Bài viết đến đây đã khá dài rồi, tôi chỉ xin tóm lược lại trong một vài dòng thật

ngắn gọn như sau. Trên bước đường rong ruổi khắp nơi trên đất Mỹ suốt trên 3

tháng trong mùa hè năm 2010 vừa qua, nhiều lúc tôi cũng thấy mệt mỏi lắm đấy

chứ, vì một phần đường xa, xe cộ lắm khi bị trục trặc và trễ giờ, và nhất là vì phải

ngồi suốt cả nhiều đêm trên xe khiến làm mất ngủ.

Nhưng đi tới nhà nào, thì tôi cũng đều gặp được sự tiếp đón ân cần chu đáo, với

tất cả tình yêu thương đầm ấm chan hòa. Nhờ vậy mà mọi sự mệt nhọc thể xác đều

tan biến đi hết, và tinh thần tôi được vỗ về an ủi, trong trạng thái lâng lâng thanh

thóat vô cùng tuyệt diệu. Đó là lý do chính yếu đã giúp cho tôi luôn giữ được sự

lạc quan thanh thản – để mà có thể tiếp tục công việc hoạt động xã hội – với tấm

lòng yêu mến thiết tha đối với cuộc đời và với niềm yêu thương nồng thắm đối với

mọi con người trong xã hội vậy./

Sơ thảo tại Denver Colorado vào Tháng Bảy 2010

Bổ túc tại Costa Mesa California vào Tháng 12 – 2011

Đòan Thanh Liêm

Lần đầu tiên hai tờ báo lớn công khai phê phán Donald Trump

Lần đầu tiên hai tờ báo lớn công khai phê phán Donald Trump
Nguoi-viet.com

WASHINGTON, DC (NV) – Ban biên tập hai nhật báo Washington Post và Boston Globe lần đầu tiên bày tỏ quan điểm về ông Donald Trump và cho rằng đảng Cộng Hòa không thể để ông này trở thành ứng cử viên của đảng.

Ông Donald Trump (giữa) trong cuộc tranh luận trên truyền hình CBS, với hai đối thủ chính hiện nay, đó là ông Ted Cruz (trái) và Marco Rubio. (Hình: AP/John Bazemore)

Theo Washington Post ôngTrump là người có mức ủng hộ của cử tri gốc Hispanic thấp nhất, so với các đối thủ Marco Rubio, Ted Cruz và John Kasich.

Đến giai đoạn tổng tuyển cử đảng Cộng Hòa rất cần nhiều phiếu của khối cử tri này khi phải đương đầu với bà Hillary Clinton hay ông Bernie Sanders. Như thế, nếu ông Trump là ứng cử viên, đảng sẽ bị giảm hy vọng chiến thắng.

Dân Mỹ gốc Hispanic trên toàn quốc khoảng 55 triệu và 27 triệu hội đủ điều kiện đi bầu. Năm 2012, Tổng Thống Dân Chủ Barack Obama chiếm được 71% phiếu Latino và sau đó đảng Cộng Hòa vẫn nỗ lực vận động để có sự ủng hộ của khối cử tri này.

Tờ Boston Globe phê phán nặng nề hơn. Dưới tựa đề “Ban lãnh đạo đảng Cộng Hòa, quý vị hãy bằng mọi cách chặn đứng Trump,” bài báo viết: “Lịch sử sẽ không xét đoán dễ dãi với giới lãnh đạo Cộng Hòa nếu không bằng mọi quyền lực ngăn chặn một kẻ dọa dẫm mị dân trở thành người dẫn đạo của đảng quý vị.”

Ban chủ biên tờ Boston Globe kêu gọi cử tri ghi danh Cộng Hòa trong cuộc bầu cử ngày 1 Tháng Ba sắp tới ở tiểu bang Massachusetts hãy ủng hộ Thống Đốc Ohio John Kasich. Báo này cũng phê phán Thượng Nghị Sĩ Texas Ted Cruz và bác sĩ thần kinh hồi hưu Ben Carson là cánh hữu thủ cựu và chê Thượng Nghị Sĩ Florida Marco Rubio non nớt thiếu kinh nghiệm.

Trong lời phát biểu tại buổi đón mừng chiến thắng đêm Thứ Ba ở Las Vegas, ông Trump nói: “Quý vị biết tôi hết sức vui mừng vì điều gì không? Bốn mươi sáu phần trăm! Bốn mươi sáu phần trăm cử tri Hispanic đã ủng hộ tôi tại Nevada! Hispanic là số dzách!”

Phản bác lập luận này, tờ Washington Post giải thích là sự thật ông Trump chỉ có được sự ủng hộ của một bộ phận nhỏ cử tri Hispanic ghi danh Cộng Hòa và chỉ có 8% số đó tham gia bầu cử sơ bộ ở Nevada. Cử tri Hispanic ở Nevada ghi danh theo Cộng Hòa 32% và theo Dân Chủ 62%.

Tờ báo cho rằng khó có thể tin một người đã từng gọi di dân Mexico là những kẻ sát nhân và hiếp dâm, đã nhiều lần tuyên bố muốn xây bức tường giữa biên giới Mexico-Hoa Kỳ, lại có thể thắng bằng phiếu ủng hộ của cử tri Hispanic.

Ngay cả Đức Giáo Hoàng Francis hồi đầu tháng này trả lời phỏng vấn của các nhà báo trên đướng trở về Rome sau chuyến tông du sáu ngày ở Mexico, cũng phê phán ông Trump.

Ngài nói: “Một người chỉ nghĩ đến việc dựng các bức tường ở khắp nơi thay vì xây cầu thì không phải là dân Thiên Chúa Giáo. Phúc Âm không dạy như thế.”

Ba chiến thắng liên tiếp trong bốn cuộc bầu cử đầu tiên khiến nhiều người cho rằng chung cuộc chắc chắn ông Donald Trump sẽ thành ứng cử viên chính thức của đảng Cộng Hòa. Kết luận như vậy có lẽ quá sớm. Đến nay, mới chỉ là bước sơ khởi của giai đoạn bầu cử sơ bộ và các cuộc bầu cử còn kéo dài đến Tháng Sáu.

Ông Trump là một hiện tượng nổi bật chưa từng có trong bầu cử Mỹ và đang thu hút tất cả mọi sự chú ý, nhưng chưa phải ông đã tạo được hoàn cảnh tương lai dễ dàng và đơn giản như vậy.
Những chống đối, chỉ trích, phê phán trong bầu cử là chuyện thường tình và chưa thể biết có tác động  hiệu quả đến đâu. Tuy nhiên, nhu cầu cụ thể của một ứng cử viên Cộng Hòa là tranh đọat đủ con số 1,237 đại biểu tại đại hội đảng. Số đại biểu cho đến bây giờ mới chỉ là Trump: 81, Rubio: 17, Cruz: 17, Kasich: 6, Carson: 4. Tất cả những con số này chưa có ý nghĩa gì đáng kể.

Thứ Ba sắp tới, được gọi là “Super Tuesday,” đảng Cộng Hòa có 12 cuộc bầu cử cùng lúc ở 14 tiểu bang và lãnh thổ, với tổng cộng 689 đại biểu. Tuy nhiên, tất cả đều được phân phối theo tỷ lệ phiếu vì  luật lệ của đảng Cộng Hòa, không cho phép áp dụng thể thức “winner-take-all” (người thắng chiếm hết) nếu bầu cử trước ngày 15 Tháng Ba.

Như vậy, cho dù ông Trump tiếp tục thắng và giả dụ chiếm tỷ lệ phiếu trung bình cao lắm khoảng 35%, thì cũng chỉ mới thêm được 241 đại biểu, nghĩa là sau ngày này, người nào dẫn đầu còn cần thêm hơn 900 đại biểu nữa. Kết quả chung cuộc hãy còn xa. (HC)

Đưa đầy đủ các sự kiện vào SGK Lịch sử, một việc làm cần thiết

Đưa đầy đủ các sự kiện vào SGK Lịch sử, một việc làm cần thiết

Anh Vũ, thông tín viên RFA
2016-02-25

tichhopmonlicsu-622.jpg

Sách giáo khoa môn lịch sử

File photo

Your browser does not support the audio element.

Sách giáo khoa môn Lịch sử lớp 12 trước đây chỉ vẻn vẹn 11 dòng về chiến tranh Biên giới năm 1979. Song đến nay, Bộ GD&ĐT quyết định đưa vào SGK đầy đủ các vấn đề, kể cả vấn đề nhạy cảm như chiến tranh Biên giới 1979 và HS-TS… Vấn đề này có ý nghĩa như thế nào?

“Quan hệ tế nhị”

Nhiều năm nay, khác với các cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ được tuyên truyền rầm rộ, thì cuộc chiến tranh Biên giới chống quân TQ xâm lược năm 1979 được dư luận đánh giá là vấn đề tế nhị và nhạy cảm, truyền thông ít được phép nhắc đến.

Từ Hà nội, Nhà văn Phạm Viết Đào một người đã tìm hiểu và bạch hóa nhiều vấn đề “nhạy cảm” trong cuộc chiến tranh Biên giới 1979 với TQ nói với chúng tôi:

“ Quan hệ VN-TQ có những sự thật lịch sử trong chiến tranh thì có những cái đã không được bạch hóa. Đó có thể do là một chủ trương có từ trên đối với các cơ quan chức năng như tuyên giáo, báo chí… buộc phải im lặng.
-Nhà văn Phạm Viết Đào”

“Quan hệ VN-TQ có những sự thật lịch sử trong chiến tranh thì có những cái đã không được bạch hóa. Đó có thể do là một chủ trương có từ trên đối với các cơ quan chức năng như tuyên giáo, báo chí… buộc phải im lặng.”

Mới đây, GS Vũ Dương Ninh  đồng chủ biên cuốn SGK Lịch sử lớp 12 khi trả lời phỏng vấn của VnExpress đã thừa nhận, vào năm 2000, khi thảo luận vấn đề soạn SGK Lịch sử lớp 12 nên viết thế nào về những sự kiện có liên quan đến vấn đề hải đảo và biên giới giữa VN và TQ? Đã có ý kiến chỉ đạo là không viết vì khi đó ta vừa bình thường hóa quan hệ với nước bạn. Vì lý do “quan hệ tế nhị” với nước bạn nên nội dung này bị sửa đi sửa lại và rút bớt rất nhiều. Từ 4 trang xuống chỉ còn lại 11 dòng.

Việc hạn chế đưa các thông tin về các sự kiện đấu tranh bảo vệ biên giới, hải đảo vào SGK Lịch sử để giảng dạy cho học sinh, sinh viên sẽ gây ra một hậu quả khôn lường. Ông Vũ Bằng, một thầy giáo giảng dạy môn lịch sử ở Bắc ninh bày tỏ:

“Lịch sử luôn cần phải ghi lại những sự kiện khách quan đã diễn ra và có tác động lớn đến sự phát triển của đất nước. Các sự kiện lịch sử về việc đấu tranh bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc, là những sự kiện rất quan trọng, không thể không được nói tới. Với tư cách một người thầy giảng dạy môn Lịch sử, tôi rất lo nếu cứ cắt xén sự kiện thế này, thế hệ sau sẽ không tiếp nhận được thông tin đúng đắn, để có định hướng rõ ràng. Sự bưng bít thông tin một cách cố ý tạo nên hậu quả nguy hiểm khôn lường.”

Theo báo Dân trí cho biết, số đông người VN hiện nay không biết về cuộc chiến Biên giới 1979, cũng như không hề biết rằng Hoàng Sa đã bị Trung Quốc cưỡng chiếm từ năm 1974, vì không có tài liệu chính thống nào nói về việc này. Điều đó đã ảnh hưởng đến ý thức và lòng yêu nước của công dân đối với tổ quốc.

Hinh02-400.jpg

Tích hợp môn lịch sử với những môn khác trong chương trình sách giáo khoa, ảnh minh họa. Courtesy photo.

Theo báo Giáo dục, GS Vũ Dương Ninh cho rằng việc chọn lọc các sự kiện thì cuộc đấu tranh bảo vệ biên cương của tổ quốc, cả đất liền và hải đảo, đều là sự kiện rất quan trọng, không thể không nói tới. Sách giáo khoa Lịch sử phải tôn trọng sự thực khách quan này, vì thế cần phải viết các sự kiện đấu tranh bảo vệ biên cương của tổ quốc trong SGK, vì tính khách quan của lịch sử, tính giáo dục truyền thống của sử học và vì yêu cầu, đòi hỏi của xã hội.

Không thể nói rằng nếu đưa thông tin lịch sử về các sự kiện như chiến tranh biên giới 1979 sẽ ảnh hưởng tới quan hệ hữu nghị Việt – Trung. Đây là một sự nguỵ biện thiếu cơ sở. NV. Phạm Viết Đào tiếp lời:

“Họ làm như thế là họ sai quá đi chứ, nhưng rất khó hiểu là chuyện ấy họ (chính quyền) có bị TQ lũng đoạn hay không? Nhưng dù sao, việc tìm cách che dấu lịch sử như vừa qua cũng như việc sát nhập môn lịch sử vào các môn học khác là việc không thể nói là vô tình được. Mà nó phải có một sức ép nào đó đối với công tác tuyên giáo về vấn đề lịch sử. Tôi nghĩ đó phải có một âm mưu nào đấy.”

Phải tôn trọng sự thật

Sách giáo khoa Lịch sử phải tôn trọng sự thật và cần phải viết đầy đủ, trung thực các sự kiện đó, để đảm bảo tính khách quan của lịch sử, cũng như tính giáo dục truyền thống của sử học. Bản thân cuộc chiến tranh đã diễn ra như thế nào thì ta phải nói đúng như thế ấy. Thầy giáo Vũ Bằng nhận định:

“Việc bưng bít thông tin đang khiến nhiều người nghi ngại là nếu tình hình tương tự xảy ra chúng ta sẽ xử lý như thế nào?  Với học sinh, sinh viên từ chỗ không biết sẽ không phân biệt được đúng sai, từ đó các em không chuẩn bị được tinh thần cảnh giác để nhìn nhận đúng nguy cơ và sẵn sàng đứng lên bảo vệ khi đất nước có chiến tranh.”

Theo VnExpress ngày 22/2/2016, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho biết sách Lịch sử trong thời gian tới, Bộ GD&ĐT sẽ xem xét để đưa nội dung các cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, phía Tây Nam, hải chiến Hoàng Sa… vào sách giáo khoa sắp biên soạn với dung lượng phù hợp.

“ Với học sinh, sinh viên từ chỗ không biết sẽ không phân biệt được đúng sai, từ đó các em không chuẩn bị được tinh thần cảnh giác để nhìn nhận đúng nguy cơ và sẵn sàng đứng lên bảo vệ khi đất nước có chiến tranh.
-Thầy giáo Vũ Bằng”

Nói về ý nghĩa của quyết định này của Bộ GD&ĐT, NV. Phạm Viết Đào thấy rằng, lịch sử dẫu thế nào thì chúng ta vẫn cứ phải bạch hóa, đã là lịch sử thì không được phép thêm bớt, vì thêm là bất nhân và bớt là bất nghĩa và thế hệ này không làm thì thế hệ sau họ cũng phải làm. Ông nói:

“Song bây giờ tình thế đã thay đổi, mọi sự thật lịch sử phải được trả lại và có lẽ đã đến lúc chúng ta với TQ phải sòng phẳng với nhau, chứ không thể úp mở như ngày xưa được nữa. Đó là cái xu thế tất yếu nó buộc phải như thế thôi. Vấn đề là đến bây giờ, họ không thể lấy ta để che mặt trời mãi được nữa. Theo thông tin mới nhất là Ban Tuyên giáo đã chỉ đạo phải đưa các sự kiện lịch sử ấy vào biên soạn. Điều đó cho thấy, đã đến lúc họ phải bạch hóa các thông tin này thôi. Tôi nghĩ, chúng ta phải sòng phẳng với TQ, chứ không thể kiểu úp mở, ôm nhau như hiện nay được.”

Đây là một quyết định hợp lòng người đáng hoan nghênh, góp ý về việc biên soạn SGK Lịch sử trong thời gian tới, thầy giáo Vũ Bằng đề nghị:

“Cách viết các nội dung về chiến tranh biên giới trong sách giáo khoa phải tuân thủ tính khách quan, sự thật lịch sử nhưng phải ngắn gọn, đầy đủ bản chất, dễ hiểu và dễ nhớ. Sách giáo khoa mới, nhất thiết phải nhắc tới các sự kiện về chiến tranh bảo vệ biên giới đất liền và hải đảo. Các vấn đề như: Hải chiến Hoàng Sa năm 1974, chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc năm 1978-1979, hay trận đánh Gạc Ma bảo vệ Trường Sa năm 1988… phải được phản ảnh đầy đủ.”

Được biết từ tháng 1/2014, sau buổi làm việc với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã giao Bộ GD&ĐT và các cơ quan nghiên cứu đưa vấn đề Biển đông và chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo HS-TS vào sách giáo khoa các cấp để phổ biến tri thức lịch sử nhằm giáo dục truyền thống dân tộc và lòng yêu nước cho mọi người. Theo Bộ GD&ĐT, trong lúc chưa có bộ sách giáo khoa mới, thì Bộ khuyến khích các trường học, tổ bộ môn sử đưa nội dung trên vào bài giảng, hoặc có thể là hoạt động ngoại khóa, chuyên đề, như nhiều trường hiện nay đã làm.