Lời trăn trối của tỷ phú trên giường bệnh khiến ai cũng phải suy ngẫm

Lời trăn trối của tỷ phú trên giường bệnh khiến ai cũng phải suy ngẫm

ty-phu

Sau bao năm miệt mài theo đuổi ước vọng giàu sang nhưng rồi tỷ phú Vương Quân Dao cũng phải đối diện với cái chết khi tuổi đời còn quá trẻ. Những lời ông nói trên giường bệnh khiến nhiều người không khỏi giật mình.

Trong sự nghiệp kinh doanh, tôi đánh trận nào thắng trận đó. Trong con mắt người khác, tôi là một doanh nhân thành đạt điển hình. Nhưng niềm vui tôi có được ngoài công việc cũng không nhiều. Thói quen hưởng thụ vật chất dư thừa của cuộc sống giàu sang khiến cơ thể tôi phát phì.

Giờ đây, khi mắc bệnh phải nằm viện, tôi mới có thời gian suy nghĩ lại cuộc sống trước đây. Bao nhiêu sự đắc ý, bao nhiêu công danh lợi lộc đối với một người sắp chết, chúng không còn sức hút nữa, không có chút ý nghĩa nào nữa.

Trong bóng tối, tôi đã nhiều lần tự hỏi chính mình. Nếu như có thể làm lại cuộc đời, điều tôi muốn làm nhất là gì? Liệu có thể xem nhẹ tiền tài và danh vọng? Có thể làm được vậy không?

Trong bóng đêm, tôi thấy những thiết bị y tế phóng ra những ánh sáng đủ màu sắc và những tiếng gọi của tử thần.

Hiện tại, tôi hiểu được rằng, khi còn sống, con người nên biết đủ tiền tài, dành thời gian nhiều hơn để theo đuổi niềm đam mê khác như tình yêu thương, nghệ thuật, hoặc chỉ để có một thân hình đẹp.

Theo đuổi tiền tài chỉ làm con người tham lam hơn và sống nhạt nhẽo. Biến con người thành những hình hài kỳ quái giống như tôi hiện tại.

Lúc Thượng Đế tạo ra con người với đầy đủ giác quan, là muốn con người cảm thụ vạn vật bằng tất cả con tim, không phải niềm vui mang đến từ tiền bạc.

Tôi đã kiếm được rất nhiều tiền khi còn khỏe mạnh, nhưng khi chết, tôi lại không mang theo được thứ gì. Tình thương yêu không có quan hệ đến vật chất, chúng không phai mờ và mất đi, có được nó mới là thật sự đạt được giàu sang. Tình thương sẽ đi theo, luôn bên cạnh, tiếp thêm động lực và tạo ra ánh sáng soi đường cho mỗi bước đi đúng đắn. Còn tiền bạc sẽ không đi theo con người ta mãi mãi.

Tiền bạc đủ dùng cho chi tiêu sinh hoạt cơ bản, phần còn thừa nên để nó phục vụ lý tưởng, phục vụ tinh thần và phục vụ xã hội.

Tình yêu thương sẽ đưa chúng ta đi xa ngàn dặm. Dù đi bao xa, trèo lên bao cao, nó đều nằm trong trái tim của mỗi người. Ai cũng nắm trong tay tình yêu và thế giới này đều nằm trong đó.

Chiếc giường nào đắt tiền nhất trên thế giới? Đó chính là giường bệnh.

Trên chặng đường đi của đời người, chúng ta có thể có người lái xe thay, có thể giúp kiếm tiền nhưng không có ai mang bệnh hộ chúng ta được. Đồ vật mất đi có thể tìm trở lại, nhưng có một thứ mất đi không bao giờ tìm trở lại được, đó là sinh mệnh.

Vương Quân Dao sinh năm 1966 vì mải mê theo đuổi ước vọng giàu sang để thực hiện giá trị nhân sinh của đời người, anh đã làm việc rất chăm chỉ. Vì mắc phải bệnh ung thư và làm việc quá sức, anh đã từ biệt cõi đời khi mới 38 tuổi.

Bác sỹ đòi rút ống thở của con trai, ông bố trả lời bằng hành động cực sốc:

Câu chuyện của anh khiến tôi nhớ đến lời trăn trối cuối cùng của một vị vua vĩ đại, Alexander. Trước khi chết ông đã để lại 3 điều ước:

“Điều ước đầu tiên, hãy bảo thầy thuốc mang quan tài của ta về một mình.”

“Ước nguyện thứ hai, hãy rải vàng, bạc và châu báu trong kho trên suốt dọc đường đến mộ ta khi các ngươi mang quan tài ra nghĩa địa.”

“Ước muốn cuối cùng, hãy đặt hai bàn tay ta ra bên ngoài cỗ quan tài.”

Rồi vua Alexander giải thích: “Ta muốn mọi người hiểu được ba bài học mà ta đã nhận ra. Để người thầy thuốc đưa cỗ quan tài về một mình: bởi một vị thầy thuốc không thể nào thực sự chữa bệnh cho người ta. Nhất là khi đối diện với cái chết, thầy thuốc hoàn toàn bất lực. Ta hy vọng mọi người sẽ học được rằng phải trân quý cuộc sống của chính mình.

Mong ước thứ hai của ta là để nhắn nhủ mọi người rằng không nên theo đuổi mộng giàu sang. Ta tiêu tốn cả đời chạy theo sự giàu sang, nhưng ta đã lãng phí hầu hết thời gian của đời người.

Mong ước thứ ba của ta là để người đời hiểu rằng ta đến thế gian này với hai bàn tay trắng và ta sẽ rời bỏ thế gian này cũng với hai bàn tay trắng.”

Nói xong những lời này, vua Alexander đã nhắm mắt lại và trút hơi thở cuối cùng.

Công danh lợi lộc chẳng dài lâu, đời người chỉ thoáng qua như mây khói. Vì vậy, hãy tận dụng những năm tháng đời người ngắn ngủi để sống sao cho có ý nghĩa, sống sao cho có ích, đừng để đến khi sắp cận kề cái chết, mới nhận ra ý nghĩa của đời người.

San San

Những ai có tính ” khoe khoang ” nên đọc ngay bài này nhé .!

Những ai có tính ” khoe khoang ” nên đọc ngay bài này nhé .!

Ngày 10/2/2014, tờ Chronicle of Philanthropy đưa tin Mark Zuckerberg đã dẫn đầu nước Mỹ trong bảng xếp hạng người làm từ thiện.

Cặp vợ chồng này giàu nhất thế giới nhưng không đi siêu xe, mặc trang phục giản dị và rất ít đi du lịch. Không có vệ sĩ, không có tùy tùng, không có scandal, sở hữu 33,4 tỷ đô la.

mark-zuckerberg

Trước khi lập gia đình, Mark Zuckerberg chỉ thuê một căn hộ nhỏ để làm chỗ nghỉ ngơi. Sau khi kết hôn, anh cũng không ở trong những căn biệt thự xa hoa cao cấp.

Nhiều người thuộc tầng lớp trung lưu ở Mỹ cũng sống trong những căn hộ cao cấp hơn ngôi nhà của anh nhiều lần. Họ mua chiếc xe có giá hơn 80 ngàn đô la. Tuy nhiên, 3 chiếc xe của Mark Zuckerberg cộng lại mới có giá khoảng 64 ngàn đô la.

 

Ngày 23/9/2013, Mark Zuckerberg đã quyên tặng 100 triệu đô la để giúp sửa chữa các trường học tại Newark, bang New Jersey, Mỹ. Số tiền quyên tặng đạt cao nhất trong những người trẻ ở Mỹ làm từ thiện. Có lẽ người giàu có ở Mỹ được tính là giàu khi họ dùng bao nhiêu tiền cho việc làm từ thiện chứ không phải thể hiện ở những đồ dùng cá nhân xa hoa sang trọng. Một lần quyên tiền là 100 triệu đô la, thời điểm đó, một chiếc siêu xe Lamborghini Aventador giá 387.000 đô la, với giá trị tài sản của mình, anh có thể mua 258 chiếc. Nếu là bạn, bạn có dùng tiền vào việc mỗi năm đổi một chiếc siêu xe?

Ngày 10/2/2014, tờ Chronicle of Philanthropy đưa tin Mark Zuckerberg đã dẫn đầu nước Mỹ trong bảng xếp hạng người làm từ thiện.

Có thể nói họ là cặp vợ chồng 8X giàu nhất thế giới nhưng không đi siêu xe, mặc trang phục giản dị và rất ít đi du lịch. Không có vệ sĩ, không có tùy tùng, không có scandal, sở hữu 33,4 tỷ đô la, họ là cặp vợ chồng hiếm có trong xã hội ngày nay.

Nhìn vào cuộc sống bình dị của anh, chúng ta thật sự phải suy ngẫm lại về giá trị của sự giàu sang. Sự giàu có không phải thể hiện ở việc mình có bao nhiêu tiền, mà là ở chỗ mình có thể cho đi bao nhiêu.

Chị Xuân Lang Nguyễn gởi

NGOẠI TÌNH MỘT BỆNH NAN Y !..

NGOẠI TÌNH MỘT BỆNH NAN Y !..

 Phương cách đề phòng và chữa trị

  Trần Mỹ Duyệt

Trên 1/3 đàn ông và 1/4 đã lập gia đình nếu có cơ hội cũng sẽ ngoại tình. Và trên 50% những gia đình ít nhiều bị ảnh hưởng bởi người vợ hoặc người chồng ngoại tình.  (Adultery: Just the Statistics. Dr. Kelly James Bonewell)

HAM MUỐN DỤC VỌNG (Sex additction):

Tất cả những gì khiến cho con người cảm thấy vui vẻ, thoải mái, thích thú, và sung sướng đều có thể hướng đến hành động nghiện ngập, và tình dục (sex) cũng không ngoại lệ. Nếu người chồng,  người vợ, hoặc người yêu của bạn bị bắt gặp có hành động kiếm tìm thỏa mãn tình dục với một người khác, bạn không chỉ đối diện với vấn nạn về lòng chung thủy, mà bạn đang phải đối diện với tình trạng nghiện hay ham muốn dục vọng của người ấy nữa.

Phần lớn nam giới bị rơi vào tình trạng này, họ thường giải thích về hành động ấy của mình là đi tìm một cái gì khác hơn, chứ không phải chỉ là thuần túy về sinh lý. Và đó là điều khó lòng để an ủi người phối ngẫu khi những người này thường đối diện với sự lừa đảo, gian dối, đau khổ và buồn bã đến từ hành động ngoại tình của vợ, chồng hoặc người yêu của họ.

Những người ngoại tình thường cũng rất khó lòng để hướng dẫn, để khuyên bảo, hoặc khải dẫn, bởi vì họ luôn luôn phủ nhận, từ chối hành động sai trái của mình. Phần lớn họ còn tỏ ra bực bội, khó chịu, hoặc chống đối, phản đối mỗi khi vấn đề được nêu lên. Và đó là điều mà ngay cả những nhà trị liệu kinh nghiệm cũng không dễ dàng thành công trong lãnh vực này. Vì để chữa trị bệnh ngoại tình, thì phương cách hữu hiệu nhất là người đó phải tuân thủ một chương trình tâm lý trị liệu lâu dài, nhất là phải thường xuyến làm những trắc nghiệm về nói láo.

Và sẽ trở nên vô ích, mất thời giờ để trị liệu những trường hợp này, trừ khi họ có một quyết tâm thật lòng muốn được giúp đỡ.

Ngoại tình sẽ ảnh hưởng rất lớn trên hạnh phúc hôn nhân, và chỉ có thể hiệu quả nếu cả hai vợ chồng đều tham dự những chương trình tâm lý trị liệu một cách tự nguyện và thành ý.

Thông thường những người đi vào con đường ngoại tình, nghiện ngập, ham muốn tình dục họ không chỉ để lại những đau đớn, khổ sở cho vợ, chồng hoặc người yêu chung thủy, nhưng hành động ấy còn tạo nên những hệ lụy rất trầm trọng cho đời sống hôn nhân, vàhạnh phúc gia đình. Lý do vì hôn nhân là một chương trình của Thượng Đế và sự trung thành bền vững trong hôn nhân là điều đòi buộc của Thiên Chúa. Theo đó, Ngài sẽ phán xét nghiêm nhặt những ai phá vỡ và coi thường lời thề hôn ước. Lời thề mà họ không chỉ nói với nhau nhưng còn là trước mặt Ngài. Lời thề đòi buộc họ chung thủy với nhau “khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan. Khi mạnh khỏe cũng như lúc đau yếu.” Lời thề buộc họ “yêu thương và tôn trọng nhau suốt mọi ngày trong cuộc sống”. Bởi thế, qua hành động ngoại tình đi tìm kiếm thỏa mãn dục vọng ngoài hôn nhân không những đã phá vỡ những giá trị của lời thề ấy, mà còn khiến cho con người họ trở nên thấp hèn, đángthương trước mặt Thiên Chúa, trước mặt chồng, vợ hoặc người yêu của họ.

Trong phương diện tâm linh và tâm lý, hành động ngoại tình còn đi xa hơn nữa. Nó để lại trong lòng người phản bội một mối ân hận, cắn rứt, và day dứt hầu như suốt đời. Kinh nghiệm này không những đã được cảm nghiệm qua cuộc sống thường ngày của nhiều người, mà nhất là đã được kể lại qua Thánh Kinh như một bài học vừa có tính cách giáo dục, vừa có tính cách răn đe. Trường hợp ngoại tình của David, vị vua lẫy lừng của Isarel, và cũng là tổ phụ của chính Đấng Cứu Thế sau này. Tuy cuộc ngoại tình của ngài đã được sửa chữa, nhưng hậu quả của nó không những ảnh hưởng đến những biến loạn của gia đình, sự nghiệp chính trị,sự phản loạn và cái chết trong mọi ngày của ông. Và David đã phải hối hận, ăn năn đêm ngày. “Tội tôi luôn ở trước mặt tôi.” (Thánh Vịnh 51:3)

Nhiều người khi qua mặt được vợ, chồng, hoặc người yêu của mình thường tự nhủ: “Có Trời mới biết! Hoặc chuyện thường tình thôi mà, người ta cũng ngoại tình có sao đâu!”. Nhưng những người ấy không nghĩ rằng họ đang gieo một cái nhân mà quả nó sẽ rất đắng đót, rất chua chát, và rất khó nuốt sau này. Hậu quả trước mắt là những đứa con ngoại hôn hoặc phá thai.Tiếp đến là những cãi vã, những hờn giận, và những chuỗi ngày bất an. “Đừng có lầm tưởng: Thiên Chúa không để người ta nhạo báng đâu. Con người sẽ gặt những gì họ đã gieo.” (Galatians 6:7)

Theo Ca dao Việt Nam : “Đời cha ăn mặn đời con khát nước”. Do ngoại tình, người chồng, người vợ hoặc người tình thường tỏ ra lơ là với trách nhiệm và bổn phận trong gia đình.

Nhất là không có tư cách hoặc rất khó lòng để hoàn thành bổn phận giáo dục con cái. Trong một trường hợp đã xảy ra cho người cha ngoại tình là đứa con cả ngang nhiên mang bồ của nó về phòng ngủ chung.

Người mẹ lúc ấy chỉ còn ngồi khóc và biết trách ai bây giờ vì chính bố nó đã làm gương cho nó.

PHƯƠNG PHÁP ĐỀ PHÒNG:

Nếu gọi ngoại tình, thèm thuồng mơn trớn, dục vọng ngoài hôn nhân là một căn bệnh, đương nhiên chúng ta phải tìm phương pháp chữa bệnh. Nhưng cách tốt nhất vẫn là “phòng bệnh hơn chữa bệnh”.

Đợi đến khi căn bệnh bột phát mới tìm đến bác sĩ thì đã muộn màng. Nhà văn Non Côi Sông Vị Tú Xương đã tự diễn tả về cái thói trăng hoa của mình cũng như sự bất lực của chính ông:

“Một trà, một rượu, một đàn bà

Ba cái lăng nhăng nó quấy ta

Chừa được thứ nào hay thứ nấy

Có chăng chừa rượu với chừa trà.”

Nhưng bệnh nào cũng có những nguyên nhân và những phương cách chữa trị. Bệnh ngoại tình cũng vậy, tùy vào từng trường hợp và từng đối tượng để có cách trị liệu riêng, nhưng sau đây là hai phương thức tạm gọi là hai môn thuốc một cho giới phụ nữ và một cho nam giới.

a)  Giới phụ nữ:

-Làm đẹp trách nhiệm và bổn phận vợ chồng:

Phần lớn đàn ông thiếu thốn về sinh lý thường bị lôi cuốn vào những cuộc tình vụng trộm. Điều này đã được các nhà tâm lý phân tích rất kỹ. Bởi vì nhu cầu sinh lý là một nhu cầu hầu như không thể thiếu trong cuộc sống tâm sinh lý của đàn ông.

Có thể người con gái hay phụ nữ nào đó không đẹp bằng vợ, không khôn ngoan và nấu ăn ngon hơn vợ, nhưng chắc chắn một điều là người đó mang lại cho họnhững giây phút sảng khoái mà họ không tìm thấy ở người vợ hay người yêu của mình.

Không phải là một điều khuyên răn vô căn cứ nếu như chúng ta tin rằng Thánh Kinh là chân lý sống. Và chính Thánh Kinh qua sự khởi hứng của Thánh Thần đã khiến Phaolô viết lên những lời này gửi cho giáo đoàn Corinthô, và qua đó cũng gửi cho chính chúng ta:

“Anh em đừng từ chối nhau, ngoại trừ cả hai cùng đồng ý trong một thời gian để cầu nguyện, nhưng rồi hãy trở lại những quan hệ hôn nhân bình thường. Làm vậy để Satan không thừa cơ anh em yếu đuối mà cám dỗ.”  (1Cor 7:5)

Cha ông từ ngàn xưa cũng đã có kinh nghiệm này:

“Đói thì thèm thịt thèm xôi

Hễ no cơm tẻ thì thôi mọi bề”.

-Không dùng sex để trao đổi:

Do những khác biệt về nhu cầu tâm sinh lý và những khó khăn về thể lý, người phụ nữ có những cái nhìn khác nhau về sinh lý.

Mặt khác, họ cũng hiểu rằng vì người chồng của mình có nhu cầu ấy, nên một số đã dùng sinh lý như nhưmột cái giá để trả treo, để mà cả, hay để đòi hỏi những điều mình muốn.

Và khi hành động như vậy, họ ngầm biến hạnh phúc lứa đôi thành một cơ hội để trao đổi, để thảo thuận điều gì đó, hoặc cũng có thể là một hình phạt cho người chồng vì đã làm buồn lòng họ.

Với những phụ nữ này, và với những người chồng đòi hỏi và ham muốn quá độ, Thánh Phaolô đã khuyên họ:

“Chồng phải hoàn tất nhiệm vụ vợ chồng đối với vợ, và cũng thế, vợ phải hoàn tất nhiệm vụ hôn nhân đối với chồng.

Vợ không có quyền trên thân xác mình, nhưng chồng có quyền.

Cũng vậy, chồng không có quyền trên thân xác mình mà vợ có quyền.” (1Cor 7:3-4)

  1. b) Nam giới:

 -Dành thời giờ cho vợ:

Khuyết điểm lớn nhất và cũng là lý do gây ra những xung khắc trong hôn nhân ở phía nam giới là sựlơ là, và coi thường vợ.

Ngoài quan niệm gia trưởng, nhiều đàn ông còn tỏ ra vũ phu, thiếu hiểu biết và vô trách nhiệm trong vai trò làm chồng, và làm cha trong gia đình. Những người này tự cho mình cái quyền muốn làm gì thì làm, muốn nói gì thì nói, và muốn sinh lý lúc nào là có lúc đó.

Và họ đã không ngờ rằng sau lưng họ có sẵn một tá đàn ông khác đang chờ đón và sẵn sàng có nhiều thời giờ cho vợ họ.

“Đàn ông yêu bằng con mắt.

Đàn bà yêu bằng lỗ tai”.

Cũng như người đàn ông dễ dàng phản bội vợ vì không đem lại cho họ những gì họ cần trong đời sống vợ chồng.

Người phụ nữ cũng dễ dàng dâng hiến cho những người đàn ông khác những gì họ có để đổi lại những lời nói ngọt ngào, yêu dương và những cử chỉ chiều chuộng.

Khi hỏi những người phụ nữ ngoại tình là chồng họ có thua kém gì những người đàn ông kia không, phần lớn đều cho biết không những không thua kém mà còn trổi vượt hơn ở nhiều phương diện.

Nhưng chắc chắn ở phương diện mềm mỏng và “lãng mạn” là thua kém. Họ không biết quí những thời giờ vợ chồng bên nhau và cho nhau.

-Body language:

“Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.” Nếu người đàn ông tỏ ra ngại ngùng, hoặc cạn lời thì họ vẫn có thể dùng thứ ngôn ngữ của “cử điệu” hay văn chương hơn, ta gọi là “ngôn ngữ trái tim”, vì cử chỉ yêu thương cũng phát xuất từ trái tim.

Nhiều đàn ông, con trai quên rằng họ đã thành công trong việc chinh phục trái tim người đẹp không phải chỉ nguyên lời nói, vì rõ ràng là trong thời gian quen nhau, nhiều lần lời nói của họ cũng đã khiến họ gặp phải những chống đối và giận hờn. Nhưng chính do những cử chỉ săn sóc, âu yếm, và tế nhị luôn luôn đem lại cho họ chiến thắng.

Vậy tại sao trong thời gian gần đây, trong chuỗi ngày hiện tại những ngôn ngữ đó, kể cả ngôn ngữ trái tim và ngôn ngữ của đời thường bỗng dưng biến mất để lại một khoảng cách câm nín, hoặc có nói thì lại cộc cằn, thô lỗ, nóng nảy và bực tức. Nhiều người đã biện minh rằng vì sức ép của công việc, sức ép của trách nhiệm, và sức ép của cuộc sống đã khiến họ trở nên như vậy. Nhưng đó chỉ là một cách chống chế, thực tế, họ đã để những giận hờn, những bất hòa trong đời sống làm tê liệt khả năng ngôn ngữ của họ.

KẾT LUẬN

Ngoại tình là căn bệnh nan y. Nó cũng là một căn bệnh làm lung lay, tiêu tan nhiều gia đình, phá vỡ nhiều cuộc tình. Rất tiếc, nó cũng là căn bệnh rất khó chữa. Vậy cách tốt nhất vẫn là “phòng bệnh hơn chữa bệnh”.

Một trong những phương pháp đề phòng nhưng cũng được xem như liều thuộc trị liệu đối với nam giới,đó là thái độ chiều chuộng và quảng đại của người đàn ông. Nguyên tắc hành động của người chồng khôn ngoan là không cãi lý với vợ, vì lý sự với vợ

“thắng cũng ngủ salong mà thua cũng ngủ salong”.

Ngoài ra, đừng tiết kiệm lời khen, vì ai cũng biết “đàn bà yêu bằng lỗ tai”. Hãy cứ khen đi, bạn sẽ thấy kết quả tốt ngay.

Riêng với giới phụ nữ thì cách trị liệu bệnh ngoại tình hữu hiệu nhất vẫn là biết khéo léo trên giường ngủ. Phần lớn những cãi vã, những bực dọc của người đàn ông thường phát xuất từ cái giường. Biết giữ được chồng trên giường thì không lo mất chồng ở ngoài đường. Con đường chinh phục đàn ông luôn đi qua cái bụng, và thái độ thèm khát, kiếm tìm hạnh phúc ngoài xã hội chung qui cũng tại bị đói khát về mặt tâm sinh lý.

vuisongtrendoi gởi

Hơn 21 ngàn du học sinh Việt Nam đang ở Hoa Kỳ

Hơn 21 ngàn du học sinh Việt Nam đang ở Hoa Kỳ

Nguoi-viet.com

Ðại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Ted Osius trò chuyện với các em học sinh khi tham dự một cuộc hội thảo về giáo dục Mỹ tổ chức tại Tòa Ðại Sứ ở Hà Nội. (Hình: Getty Images)

HÀ NỘI (NV) – Hiện đang có 21,403 du học sinh Việt Nam theo học ở Hoa Kỳ, con số này đưa Việt Nam vươn lên vị trí thứ 6 trong số các quốc gia đứng đầu về du học sinh theo học tại Hoa Kỳ, so với vị trí thứ 9 của năm 2015.

Bản thông cáo báo chí của Ðại Sứ Quán Hoa Kỳ hôm 15 tháng 11, 2016 cho hay như vậy và con số thống kê này là từ Open Doors.

Báo cáo Open Doors 2016 về “Trao đổi Giáo dục Quốc tế” được cho thấy số du học sinh từ Việt Nam sang Mỹ gia tăng đến 14.3% so với năm 2015, đồng thời Việt Nam tiếp tục giữ đà gia tăng về số lượng du học sinh tại Hoa Kỳ trong suốt hơn một thập niên qua.

Báo cáo Open Doors do Viện Giáo Dục Quốc Tế hợp tác với Vụ Giáo Dục và Văn Hóa, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ công bố hàng năm.

Tin cho hay, “Ngày càng nhiều sinh viên đi du học để tìm kiếm kinh nghiệm thực hành quốc tế mà họ có thể áp dụng trong sự nghiệp và cuộc sống sau này trong một xã hội toàn cầu.”

Bên cạnh đó, theo bản thông cáo, “Số lượng sinh viên quốc tế theo học tại các trường đại học và cao đẳng Hoa Kỳ đã lần đầu tiên vượt ngưỡng một triệu sinh viên trong năm học 2015-2016, tăng 7% so với năm trước và đạt gần 1,044,000 sinh viên.”

“Mặc dù con số này chỉ chiếm 5% tổng số sinh viên tại Hoa Kỳ, sự tăng trưởng mạnh mẽ này khẳng định Hoa Kỳ vẫn luôn là điểm đến được ưa chuộng về giáo dục đại học,” bản thông cáo viết.

Bản thông cáo dẫn lời đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Ted Osius, nói rằng: “Sự phát triển nhanh chóng về số lượng sinh viên Việt Nam theo học tại các trường đại học Hoa Kỳ cho thấy sức mạnh và tầm quan trọng của mối giao lưu nhân dân. Những sinh viên này có vai trò như những đại sứ văn hóa, giúp người Mỹ hiểu biết thêm về người Việt Nam. Và khi họ trở lại Việt Nam, họ giúp mọi người hiểu hơn về Hoa Kỳ. Ngoài ra, những sinh viên này có thể sử dụng kiến thức mà họ đã thu nhận tại Hoa Kỳ để xây dựng một nước Việt Nam thịnh vượng hơn.”

Vẫn theo báo cáo Open Doors 2016: “Sinh viên Việt Nam tại Hoa Kỳ chủ yếu theo học ở bậc đai học. Trong niên khóa 2015-2016, có 67.2% sinh viên Việt Nam theo học đại học, 15.1% theo học cao học, 7.8% tham gia chương trình đào tạo thực hành không bắt buộc OPT, và 9.9% theo học các chương trình không cấp bằng như chương trình tiếng Anh, hoặc học tập ngắn hạn.”

Theo Open Doors 2016, Hoa Kỳ tiếp nhận nhiều nhất trong số 4.5 triệu sinh viên du học trên toàn cầu, hơn bất cứ quốc gia nào trên thế giới, và hơn gấp đôi số lượng sinh viên quốc tế tại Anh, nước đứng thứ hai về tiếp nhận sinh viên quốc tế.

 “So với năm học trước, con số sinh viên quốc tế theo học tại Hoa Kỳ tăng gần 69,000 người trong niên khóa 2015-2016. Hơn 313,000 sinh viên Mỹ nhận được tín chỉ trong các chương trình du học nước ngoài trong năm học 2014-15, tăng gần 3% so với năm trước.”

Chủ Tịch Viện Giáo Dục Quốc Tế Hoa Kỳ (IIE) Allan Goodman nói: “Những số liệu mà báo cáo Open Doors đưa ra cho thấy sinh viên quốc tế đánh giá cao phẩm chất, sự đa dạng và danh tiếng tốt của các cơ sở giáo dục đại học Hoa Kỳ, và ghi nhận rằng những trường đó sẽ mang lại cho họ những cơ hội không chỉ giúp ích trong giáo dục, mà cả trong sự nghiệp.”

“Chúng ta càng mở rộng cánh cửa với những nền văn hóa khác cho sinh viên của chúng ta, đất nước chúng ta và thế giới sẽ càng thịnh vượng.”

Báo cáo Open Doors còn cho hay, số sinh viên quốc tế tại các trường đại học và cao đẳng Hoa Kỳ đã tăng 85% so với cách đây một thập niên, và năm nay là năm thứ mười liên tiếp cho thấy tổng số sinh viên quốc tế tại Hoa Kỳ tiếp tục tăng.

“Sinh viên quốc tế chiếm hơn 5% trong tổng số hơn 20 triệu sinh viên đang theo học tại Hoa Kỳ, tăng khoảng 4% so với các năm trước. Mức tăng này là do cả hai yếu tố, số sinh viên quốc tế tại Hoa Kỳ tăng lên và số sinh viên Mỹ nhập học giảm đi.” (KN)

MẠC KHẢI NÓI VỀ HỎA NGỤC:

MẠC KHẢI NÓI VỀ HỎA NGỤC: 

41/ Với nữ tu Agreda:

“Nếu ở Thiên đàng, Mẹ còn có thể phải đau khổ, Mẹ đau đớn nhường nào khi thấy biết bao linh hồn phải hư mất! Trong khi cuộc đời qua đi quá mau chóng như vậy, mà con cái Giáo hội cứ tự vướng mắc vào dò bẫy ma quỉ, mê theo cuộc sống kiêu sa, ve vuốt dục vọng xác thịt, tự lên án phạt mình đời đời, mặc dầu được Chúa ban cho mọi thứ ân sủng. Có lẽ họ ngờ rằng được chết một cách tự nhiên, dứt bỏ được cuộc đời như loài thú là sung sướng rồi. Nhưng không đâu, còn hỏa ngục nữa, hỏa ngục đời đời sẽ ngốn nuốt họ. Tự lao mình vào đó thật ngu dại tội lỗi chừng nào!

Hỡi phàm nhân lầm lạc, các con cứ nghĩ đi đâu? Các con làm gì thế? Các con có biết thế nào là nhìn thấy Thiên Chúa nhãn tiền, là thông phần đời đời vào sự sống và vinh quang của Người không? Các con tìm gì để thay vào hạnh phúc vô cùng ấy được? Các con sẽ không thể tìm được một hạnh phúc nào khác đâu. Ai đã làm tâm trí các con mờ đục và mê loạn như thế? Các con cũng phải suy nghĩ cho kỹ rằng lao nhọc ngắn, mà hạnh phúc hay tai họa vĩnh cửu sẽ vô cùng”.

42/ Với 3 em nhỏ Fatima:

Ngày 13/7/1917 Đức Mẹ hiện ra với 3 em. Luxia tả:

“Sau khi đến đồi Cova da Iria gần chỗ cây sồi, nơi nhiều người đang lần hạt, chúng con lại thấy chớp sáng và sau đó Đức Mẹ hiện đến.

– Bà muốn con làm gì?

– Ta muốn các con tới đây ngày 13 tháng tới. Ta muốn các con tiếp tục lần hạt hằng ngày tôn kính Đức Mẹ Mân côi, để xin hòa bình cho thế giới và chấm dứt chiến tranh vì chỉ có Đức Mẹ có thể giúp.

– Hãy hi sinh cầu cho các tội nhân và lặp lại mỗi khi hi sinh: “Lạy Chúa Giêsu, vì yêu mến Chúa, để cầu cho tội nhân thống hối và đền tạ Trái Tim Vô nhiễm Nguyên Tội Đức Mẹ”.

Nói xong,  Đức Mẹ mở rộng tay ra như đã làm trong 2 lần trước. Những tia sáng thấu qua trái đất và chúng con thấy một biển lửa. Ma quỉ và các linh hồn dưới hình người bị dìm vào đó như những cục than hồng, cháy đen hay đỏ rực đang ngoi ngóp, phập phồng, có lúc bị tung lên với những ngọn khói đen kịt, rồi văng trở lại biển lửa kinh khiếp, rên siết, thống khổ và thất vọng. Điều đó làm chúng con kinh hãi và run sợ. (Chắc vì thế mà chúng con khóc thét lên, như những người chung quanh con sau này cho con biết). Quỉ dữ có thể phân biệt vì chúng coi hung dữ, tàn bạo như những quái vật khủng khiếp chưa từng thấy, cháy đen hay đỏ rực như than trong lò. Kinh sợ và hốt hoảng, chúng con ngước nhìn xin Đức Mẹ cứu giúp. Đức Mẹ nhân từ, buồn sầu nhắn nhủ:

– Các con vừa thấy hỏa ngục, nơi tội nhân khốn nạn phải rơi vào. Để cứu họ, Chúa muốn thiết lập trên thế giới sự tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Đức Mẹ”.

– Đức Mẹ dạy sau kinh Sáng Danh của mỗi chục kinh Kính mừng, sẽ đọc thêm lời này: “Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội lỗi chúng con, xin cứu chúng con khỏi sa hỏa ngục. Xin đem các linh hồn lên Thiên đàng, nhất là những linh hồn cần đến lòng thương xót (của) Chúa hơn”.

43/ Với nữ tu Giosepha:

Trong cuốn Tiếng Gọi Tình Yêu, Chúa cho chị xuống hỏa ngục, chị viết lại rằng:

“Tôi bị đẩy vào một cái hang có lửa đỏ rực, và dường như tôi bị ép giữa 2 khối lửa, và có dùi sắt nung đỏ xuyên thấu khắp mình tôi…một mùi hôi thối nồng nực khiến người ta phải ngột ngạt gớm ghê, nôn mửa, bay tỏa khắp nơi như mùi thịt thối đốt chung với sinh diêm và hắc ín. Tiếng gào thét inh ỏi…

Chị Giosepha ghi lại một phiên họp của quỉ. Quỉ chúa phán:

Theo ý tao:

Với hạng người này, tụi bay làm chúng ơ hờ, rồi cuối cùng hướng theo lòng ác.

Với hạng người kia, chúng bay cám dỗ chúng bằng tính tham lam, tích trữ bạc vàng, tiền của.

Với hạng khác, tụi bay cho chúng cái mồi dâm dục, để chúng mù quáng trong cái thú hư đốn nhảy nhót khêu gợi, phim ảnh đồi trụy, sách báo tục tĩu, nhậu nhẹt say sưa, chơi bời dâm đãng…”

44/ Với nữ tu Faustina:

Thánh nữ Faustina, tông đồ Lòng Thương xót Chúa, viết năm 1936: ” Tôi được Thiên thần dẫn vào một vực sâu thẳm trong hỏa ngục. Đó là nơi cực hình lớn lao. Nó mênh mông và đáng sợ chừng nào! Những thứ hình phạt tôi đã thấy trong hỏa ngục là:

1/ Hình phạt mất Chúa,

2/ Lương tâm cắn rứt đời đời,

3/ Tình trạng mỗi người không bao giờ thay đổi,

4/ Lửa đốt linh hồn, nhưng không diệt nó- đó là sự đau đớn kinh khủng, vì đó là lửa hoàn toàn thiêng liêng, bởi cơn giận của Chúa,

5/ Tối tăm triền miên và mùi khói ngạt thở dữ dằn, và mặc dù tối tăm, nhưng quỉ dữ và các linh hồn bị phạt vẫn nhìn thấy nhau và thấy các kẻ dữ, cả phía quỉ lẫn phía kẻ bị phạt,

6/ Lũ quỉ Satan còn mãi mãi,

 7/ Sự thất vọng kinh khủng, sự gớm ghét Chúa, những lời độc ác, tục tĩu, và  phạm thượng.

Trên đây là những hình khổ đau đớn mọi người bị phạt phải chịu.

Ngoài ra, còn có những hình khổ riêng cho mỗi thứ tội. Đó là những hình khổ về các giác quan. Mỗi linh hồn phải chịu những đau khổ dữ tợn, không thể tả, liên quan đến những cách mà họ đã phạm tội. Có những hang hầm  và những ngục tù khác nhau để giam phạt. Tôi chắc phải chết ngay khi nhìn thấy những nơi cực hình này, nếu Thiên Chúa Toàn năng không nâng đỡ tôi.

Hãy cho tội nhân biết, họ sẽ chịu cực hình đến muôn đời muôn kiếp, trong những giác quan họ đã dùng để phạm tội.

Tôi viết ra những điều này theo lệnh của Chúa, để không còn linh hồn nào chữa mình rằng không có hỏa ngục, hoặc không có ai ở trong hoả ngục bao giờ, và không có ai nói hỏa ngục là thế nào.

+Tôi, Sơ Faustina , theo lệnh Chúa, đã được thăm  các vực sâu hỏa ngục để tôi có thể nói lại cho các linh hồn, và làm chứng hỏa ngục có thật. Hiện nay, tôi không nói về hỏa ngục, nhưng tôi được lệnh của Chúa phải viết lại. Các quỉ dữ đầy lòng giận ghét tôi, nhưng chúng phải vâng nghe  tôi, khi tôi vâng lệnh Chúa . Những điều tôi đã viết chỉ là bóng mờ nhạt những gì tôi đã thấy. Nhưng tôi để ý một điều: Hầu hết những linh hồn phải sa hỏa ngục đã không tin có hỏa ngục.

Sau khi tôi đã ra khỏi  đó, tôi thấy khó quên những sợ hãi, vì tôi quá  kinh khiếp. Các linh hồn trong đó đau đớn ghê rợn chừng nào!

Do đó, tôi cầu nguyện sốt sắng hơn cho các tội nhân ăn năn cải thiện, tôi nài xin không ngừng Lòng Thương Xót Chúa xuống trên các linh hồn ấy. Ôi, Chúa Giêsu, con thà chịu đau khổ cho đến tận thế, giữa những đau khổ lớn lao nhất, hơn là xúc phạm đến Chúa dù một lỗi nhỏ mọn nhất”.

(Trích Diary Divine Mercy in my Soul, St. Faustina, Stockbridge, Ma, 2001, pp. 296-297)

Theo thánh nữ Faustina tả ở trên, Hỏa ngục có 2 hình khổ : Thất khổ và giác khổ. Thất khổ là “mất Chúa”, “giác khổ” là giác quan nào phạm tội thì giác quan ấy phải đau đớn. Cường độ đau đớn là  không thể tả. Trường độ là đời đời, đúng như Chúa Giêsu nói: dòi bọ không chết, vì tiếng lương tâm cắn rứt mãi, vì đã cứng lòng, không nghe theo ơn Chúa. Lửa đốt linh hồn linh thiêng trong quyền phép Thiên Chúa…

 45/ Với Linh mục người Ấn độ

27-11-2006 (Source: FOSS/web Phinomenon)

Chúa Nhật ngày 14.4.1985 là Lễ Kính Lòng Thương Xót Chúa?, Linh Mục Tom Maniyangat đang trên đường đi tới một Nhà Thờ truyền giáo ở phía Bắc của Kerala, nước India (Ấn) để dâng Thánh Lễ, và ngài đã bị chết vì tai nạn xe.  Xe của ngài đụng thẳng đầu một xe jeep.  Ngài được chở vội tới nhà thương cách chỗ xảy ra tai nạn khoảng 70 cây số, nhưng ngài đã qua đời trên đường chở tới nhà thương.

Linh Hồn cha Tom lìa khỏi xác, nên cha cảm nghiệm được là ngài đã chết.  Ngài nhìn thấy thi thể ngài, và người ta đang chở ngài tới nhà thương.  Cha nghe được tiếng người ta khóc lóc và đọc kinh cầu nguyện cho cha.

Rồi cha gặp Thiên Thần Bản Mệnh.  Thiên Thần nói với cha: “Tôi sẽ dẫn Linh Mục lên Trời.  Chúa muốn gặp và nói chuyện với Linh Mục”.  Thiên Thần cũng nói với cha rằng, trên đường đi, ngài cũng muốn cho cha thấy Hoả Ngục và Luyện Ngục nữa.  Dưới đây là những gì cha Tom Maniyangat kể về Hỏa Ngục và Luyện Ngục:

Hỏa Ngục

“Trước tiên, Thiên Thần dẫn tôi xuống chứng kiến Hoả Ngục.  Đó là một quang cảnh thật ghê sợ.  Tôi thấy Satan và các quỉ dữ, thấy những ngọn lửa không hề tắt với sức nóng 2,000 độ Fahrenheit, thấy dòi bọ lúc nhúc, thấy người ta rên la và đánh đập nhau, thấy những người khác đang bị bày quỉ dữ tra tấn hành hạ.

“Tôi được nói cho biết có bảy “cấp bậc” hoặc bảy tầng đau khổ trong Địa Ngục.  Những người “phạm hết tội trọng này đến tội trọng khác” khi sống trên dương thế, phải chịu sức nóng ghê gớm nhất.  Thân hình họ trông rất xấu xí và rất ghê rợn.  Họ là con người nhưng lại giống như những con quái vật: những thứ trông xấu xí và đáng sợ.  Thiên Thần cho tôi biết tất cả những đau khổ này là do các tội trọng không hối cải.

Cho nên, tôi hiểu có bảy cấp bậc đau khổ, căn cứ theo số tội trọng và loại tội trọng đã phạm trên dương thế.  Tôi được thấy một số người mà tôi quen biết, nhưng tôi không được phép tiết lộ danh tánh của họ.

Những tội khiến họ bị trầm luân phần lớn là do phá thai, dâm dục, thù hận, không tha thứ và tội phạm thánh.

Thiên Thần nói với tôi rằng, nếu họ sám hối, họ sẽ tránh được Hoả Ngục mà chỉ phải vào Luyện Ngục thôi.  Tôi cũng hiểu rằng, một số người sám hối tội lỗi có thể được thanh luyện trên trái đất qua những đau khổ họ phải chịu.  Bằng cách này, họ có thể tránh được Luyện Ngục và bay thẳng lên Thiên Đàng.

Tôi rất ngạc nhiên khi thấy trong Hoả Ngục gồm có cả Giám mục, Linh Mục, một vài người tôi không thể ngờ.  Nhiều người trong số họ ở trong Hoả Ngục, vì họ đã hướng dẫn lạc đường cho người khácbởi những lời dậy sai lầm và bởi gương xấu của họ.

……. 

Khi người ta di chuyển thi thể của tôi tới nhà xác, Linh Hồn tôi liền nhập vào xác tôi.  Tôi cảm thấy rất đau đớn vì nhiều thương tích và các xương bị gẫy.  Tôi bắt đầu rên, và rồi các người chung quanh tôi đã hết sức sợ hãi, họ hốt hoảng vừa chạy vừa la. 

Một người trong số họ đến gặp bác sĩ và nói: “Thi thể cha đang rên rỉ!” Bác sĩ vội chạy tới và khám nghiệm thân thể tôi.  Ông thấy tôi còn sống, cho nên ông nói: “Cha vẫn còn sống.  Đúng là một phép lạ! Hãy mau chở ngài tới nhà thương…”

Trở về, đi tới.

Trở về, đi tới.

Nhạc sĩ Tuấn Khanh, viết từ Sài Gòn

 Trong một chuyến đi quốc nội, vô tình đoàn người đang xếp hàng lấy vé ra máy bay bỗng xuất hiện vài người khách Trung Quốc. Đó là những người khách hết sức ung dung. Họ ăn nói lớn tiếng, cười to và tự nhiên, không khác gì dân bản xứ. Hàng dài người Việt đang xếp hàng im lặng nhìn. Mỗi người một suy nghĩ.

Bất chợt 2 người khách Việt nói với nhau “Không biết mình qua Trung Quốc có tự nhiên được vậy không?”. Lời tán gẫu nhỏ, nhưng lại đủ cho vài người chung quanh nghe. Đột nhiên ai nấy đều cười. Những nụ cười khôn cùng ý nghĩa.  “Thì tụi nó qua đây, tự nhiên như nước nó rồi còn gì”, một người khác nói bâng quơ, nhưng như muốn tất cả những người Việt còn lại cùng nghe. Trên mỗi gương mặt Việt lại có một nụ cười. Cũng thật khó tả.

Một người đàn ông lớn tuổi, đầu bạc trắng, cắt ngắn, đi dọc với tôi, kể rằng vừa rồi ông gặp một người khách Trung Quốc. Câu chuyện về ranh giới quốc gia, khác biệt dân tộc, chiến tranh… lại nổ ra.

Người Trung Quốc rất tự tin, nói rằng từ nhỏ, ông ta đã được học về lịch sử, nói rằng Việt Nam thuộc về Trung Quốc từ ngàn năm, nhưng sau đó làm phản và tách ra. Vì vậy chuyện phải quay trở về mẫu quốc là điều tất nhiên.

“Tụi tao có một tỷ người học thuộc điều đó, tụi mày chỉ có một trăm triệu, cãi không lại tụi tao đâu”, người khách Trung Quốc này cười lớn. Dù không ác ý, nhưng sự diễn đạt rất thật của ông làm tôi lẫn người đàn ông Việt tóc bạc khi kể cho nhau nghe, đều nao lòng.

Tàu Gạc Ma vào Cam Ranh

Nếu như quả có một cuộc trở về định mệnh như vậy, thật xót xa cho lịch sử hàng ngàn năm của cha ông Việt đã chống chọi, bứt xiềng gông cho con cháu hôm nay. Một cuộc trở về như vậy, có lẽ chỉ có một ít người muốn, còn tất cả còn lại đều đau đớn, căm gan. Nhưng hôm nay, dường như mọi thứ đang “đi tới” chứ không phải “trở về”.

Cuối tháng 10, ba chiếc tàu chiến Trung Quốc ghé cảnh Cam Ranh. Chính quyền tỉnh Khánh Hòa huy động người dân và đoàn thể ra phất cờ tiếp đón binh lính Trung Quốc.

Chiếc tàu dẫn đầu là Tương Đàm 531, tên gọi của chiếc chiến hạm đã tấn công Gạc Ma năm 1988, thảm sát 64 binh sĩ quân đội nhân dân Việt Nam khi không có khả năng kháng cự.

Nhiều năm sau cuộc chiến Gạc Ma, chiến hạm này đã được bán cho Bangladesh, nhưng vì cái tên Xiangtan/Tương Đàm gợi nhớ về chiến công hiển hách năm 1988, nên khi đóng tàu mới, chiến hạm Tương Đàm lại ra đời như niềm kiêu hãnh của ngành hải quân Trung Quốc.

Điều khác nhau duy nhất là chiếc Tương Đàm cũ, có số hiệu 556, còn chiếc mới có số hiệu 531.

Khi ca sĩ Khánh Ly hát ở Sài Gòn, mọi sự ngăn cấm của các quan chức đều dựa trên ý rằng “không muốn gợi nhớ về một quá khứ không tốt”. Sau năm 1975, hơn 15.000 đầu sách của hai nền Cộng hòa miền Nam Việt Nam bị đốt, bị cấm và bị truy lùng vì cho là “gợi lại hình ảnh và văn hóa đồi trụy”. Hàng chục ngàn bài hát cùng các văn nghệ sĩ miền Nam bị cấm, cô lập như kẻ thù. Thậm chí có người đã phải vào tù vì có “tội lỗi với nhân dân”…

Ấy nhưng Tương Đàm, cái tên đẫm máu người Việt ngang nhiên mang quá khứ đi vào hiện tại, từ Gạc Ma vào nơi quan yếu của Việt Nam, Cam Ranh, lại được chính quyền mở champagne chào đón.

Chắc những người được lệnh chào đón ba chiếc tàu chiến Trung Quốc cũng không biết rằng, vào lúc này, Bắc Kinh đã hoàn thành xong vành đai chiến lược để bao vây đảo Trường Sa của Việt Nam. Phi đạn và chiến đấu cơ của Trung Quốc tạo nên một vòng hỏa tuyến từ đảo đá Chữ Thập, Su Bi, Châu Viên, Vành Khăn, Gaven, Tư Nghĩa, nối đến Gạc Ma.

Từ đây, Trung Quốc có khả năng uy hiếp trực tiếp Sài Gòn, Cam Ranh và Trường Sa. Tờ Focus Taiwan đưa tin này, mới đây, vào ngày 18/10/2016.

“Trở về” hay “đi tới”?

Người Trung Quốc chắc không còn nói chuyện Việt Nam trở về, mà hình như họ chọn cách đi tới, vì mọi thứ đều đã thuận lợi. Hôm nay thì chính quyền tỉnh Quảng Ninh đã chính thức có chính sách mỗi ngày cho 100 xe Trung Quốc lái thẳng vào Việt Nam.

Một sự ưu ái khá lạ lùng và sẽ sớm là chuyện của các cửa khẩu ở những vùng khác noi theo, mà chắc con số 100 xe mỗi ngày sẽ dần chỉ là thông báo ước lệ.

Không lâu nữa, năm 2018, bởi những ràng buộc bởi Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN – Trung Quốc (ACFTA), một loại thỏa ước thương mại mà Bắc Kinh lập ra để đối đầu với TPP của Mỹ, từ Trung Quốc, các loại động vật sống dùng để nhân giống; nhiều loại thịt, nhiều loại thuỷ hải sản đông lạnh và hoa quả sẽ được miễn thuế 0% khi vào Việt Nam.

Thật đúng lúc, giữa lúc bốn tỉnh miền Trung chịu nạn biển nhiễm độc, lũ lụt tàn phá hoa màu, nhà cửa, giới chăn nuôi khánh kiệt… thì ngay lúc họ chuẩn bị hồi phục, đã bị nhấn chìm trong cơn đại hồng thủy nhập khẩu 0% từ Trung Quốc.

Tôi có kể với bạn về chuyện người Trung Quốc học lịch sử rằng Việt Nam phải trở về mẫu quốc? Có một sự thay đổi nhỏ, có màu máu và nước mắt, là chính quyền Cộng sản Trung Quốc đang sốt ruột đi tới thật nhanh, chứ không đợi ai đó trở về.

Cuộc đi tới này lộng lẫy và man rợ không kém gì các đạo quân của Thành Cát Tư Hãn tràn tới: cỏ không thể mọc, con người chỉ còn biết quỳ xuống và ngửa mặt khóc than vì sao đất nước chúng ta lại đến nông nỗi như vầy.

Nhân dân tệ hóa…

Trong chuyến thăm Trung Quốc đầu tháng 9 năm nay, thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã hứa là sẽ sớm quyết việc thanh toán thương mại Việt Nam – Trung Quốc bằng đồng Nhân dân tệ.

Còn bà phó Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Nguyễn Thị Hồng, người tháp tùng thủ tướng, thì hân hoan nói rằng chuyện này không khó, vì lâu nay các tỉnh phía Bắc đã “thử” làm như vậy rồi. Không biết Quốc hội Việt Nam có biết về việc này không?

Liệu Quốc hội mới có ít hơn những kẻ ngủ gục, chơi game và xin nghỉ sớm để lên tiếng về những hiểm họa như vậy?

Bất kỳ ai có một học vấn tối thiểu cấp trung học, cũng đều hiểu việc Nhân dân tệ hóa nền kinh tế Việt Nam mang đến nguy cơ lệ thuộc như thế nào. Đặc biệt, Trung Quốc đang “đi tới” rất ào ạt trong sự hân hoan của những kẻ như bà Nguyễn Thị Hồng, và trong với bối cảnh vô cùng thuận lợi khi hệ thống Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đồng bộ hô to chương trình chống đô-la hóa bằng quyết định 2589/QĐ-NHNN, hạ lãi suất tiền gừi bằng đô-la.

Trung Quốc đang biến nhiều quốc gia Châu phi trở thành những chư hầu kinh tế, cũng bằng cách dùng nhân dân tệ hóa như vậy. Hiện tại Zimbabwe, Angola và Nam Phi đã trở thành những quốc gia lệ thuộc kinh tế nặng nề vào Trung Quốc khi áp dụng thanh khoản bằng đồng Nhân dân tệ.

Bạn nghĩ rằng chỉ là vấn đề thương mại? Áp lực kinh tế này, cũng đã trở thành áp lực chính trị khiến Nam Phi 3 lần từ chối cấp visa cho Đức Đạt Lai Lạt Ma, chỉ vì muốn ve vuốt Bắc Kinh. Đại hội những người đoạt giải Nobel Hòa Bình tại Cape Town ở Nam Phi vào năm 2014, kể cả thị trưởng của thành phố cũng đã tuyên bố hủy hội nghị, nhằm tố cáo vì Pretoria đã cúi đầu trước Trung Quốc.

Campuchia cũng vậy, trong vòng xoáy trở thành chư hầu của Bắc Kinh để chống lại Việt Nam, chính quyền này cũng đã ướm việc chính thức thanh toán bằng đồng Nhân dân tệ, khởi đầu bằng du lịch.

Dân tộc này, đất nước này không thể đi vào khốn khó

Trong câu chuyện mà người đàn ông nói giọng Bắc, tóc bạc, kể với tôi về cuộc trò chuyện với người Trung Quốc. Giọng cười của ông rất sảng khoái.

Một người biết ông, nói nhỏ với tôi rằng ông đã cùng gia đình tim đường định cư ở nước ngoài rồi. Có lẽ, vì vậy mà giọng cười của ông rất nhẹ nhàng, tiếng cười của một người đứng ngoài một nồi nước sôi sùng sục, hé nắp nhìn vào.

Nhưng tôi và hàng triệu con người khác – những người ở trong nồi – chắc không thể an nhiên được như ông. Vì bởi chúng ta là những người ở lại, là những người không có khả năng ra đi hay đã quyết chọn sống còn trên mảnh đất này.

Tôi chắc rằng sẽ không có nhiều những kẻ muốn “trở về” trong chiếc nồi đóng kín nắp ấy. Nhưng chúng ta lại chứng kiến một cuộc đi tới, chà xát mọi thứ, không có sự xót thương di sản cha ông để lại.

Cuộc đi tới của những chiến hạm Trung Quốc, của những đoàn xe tự do đi lại trên đất nước này, những đợt cuồng phong áp thuế 0% dẫm nát nông dân Việt Nam, và có thể có cả những đồng Nhân dân tệ mà chúng ta sẽ cầm trên tay để làm quen, không còn xa nữa.

Tôi vừa leo ra khỏi nắp nồi ấy, bằng hy vọng và sự thật về quê hương của mình. Và tôi nhận thấy mình có một niềm tin mới, rằng sẽ không có một sự “trở về” hay “đi tới” nào cả. Dân tộc này, đất nước này không thể đi vào khốn khó, nếu người người cùng nuôi hy vọng và nhìn bằng sự thật về đất nước mình, dân tộc mình, và cùng nhau leo ra khỏi nắp nồi đóng kín đó, trước khi quá muộn.

Tuấn Khanh, 30/10/2016

Việt Nam đứng thứ 6 các nước có nhiều du học sinh tại Mỹ

Việt Nam đứng thứ 6 các nước có nhiều du học sinh tại Mỹ

RFA
2016-11-15
Học sinh, sinh viên tại Hà Nội tìm hiểu thông tin du học, ảnh chụp hôm 4/10/2016.

Học sinh, sinh viên tại Hà Nội tìm hiểu thông tin du học, ảnh chụp hôm 4/10/2016.

AFP

Hiện có hơn 21.000 sinh viên Việt Nam đang du học tại Hoa Kỳ, đưa Việt Nam lên đứng hàng thứ 6 trong số các nước có nhiều du học sinh theo học tại Hoa Kỳ.

Báo cáo Open Doors 2016 về Trao đổi Giáo dục Quốc tế do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố ngày 15/11 tại Hà Nội ghi nhận như vừa nêu. Theo đó Việt Nam đã tăng 3 bậc so với năm 2015 và lượng du học sinh Việt Nam sang Mỹ đã tăng khoảng 14,3%.

Báo cáo cho biết, sinh viên Việt Nam tại Hoa Kỳ chủ yếu theo học ở bậc đại học. Khoảng 15% trong số này theo học cao học và 7,8% tham gia các chương trình thực hành không bắt buộc và 9,9% theo học các chương trình không cấp văn bằng như chương trình tiếng Anh hoặc học tập ngắn hạn.

Hoa Kỳ là nước tiếp nhận sinh viên quốc tế đứng đầu thế giới, tổng lượng du học sinh nước ngoài tại Hoa Kỳ chiếm hơn 5% trong tổng số 20 triệu sinh viên bản địa.

Nhiều người bất bình vụ giáo viên nữ bị điều động ‘phục vụ quan khách’

 Nhiều người bất bình vụ giáo viên nữ bị điều động ‘phục vụ quan khách’

14.11.2016

Bình luận trên mạng xã hội, nhiều người viết rằng việc điều động các nữ giáo viên 'trẻ đẹp' làm lễ tân, phục vụ quan khách là sự coi thường phụ nữ.

Bình luận trên mạng xã hội, nhiều người viết rằng việc điều động các nữ giáo viên ‘trẻ đẹp’ làm lễ tân, phục vụ quan khách là sự coi thường phụ nữ.

Đang có một làn sóng bất bình trên mạng xã hội ở Việt Nam sau khi báo chí đưa tin nhiều nữ giáo viên bị điều động “phục vụ” quan khách cho một sự kiện ở Hà Tĩnh.

Tin cho hay người đứng đầu thị xã Hồng Lĩnh hồi tháng 8 đã ra văn bản “phân công” 21 nữ giáo viên “phục vụ lễ tân” cho sự kiện có tên Liên hoan dân ca, ví dặm Nghệ Tĩnh. Sau đó, các giáo viên phản ánh họ phải đi cùng “quan khách” tới một nhà hàng “ăn uống, tiếp bia rượu và hát karaoke”.

Một số giáo viên nói họ cảm thấy “rất phiền hà” và “không được thoải mái”. Thậm chí một số giáo việc bức xúc vì việc họ phải đi phục vụ như vậy đã dẫn đến ghen tuông, rạn nứt hạnh phúc gia đình.

Phát biểu trên báo chí, ông Nguyễn Văn Hổ, Chủ tịch UBND Thị xã Hồng Lĩnh cho rằng “không có vấn đề gì” trong việc điều động các nữ giáo viên “phục vụ đại biểu”. Ông cho biết việc này không chỉ diễn ra với “riêng buổi lễ đó”, mà một số hội thảo, hội nghị lớn trên địa bàn của ông “cũng có chủ trương điều động các lực lượng đoàn thể tham gia phục vụ”. Ông gọi việc điều động này là “nhiệm vụ chính trị”.

Vụ việc xảy ra cách đây 3 tháng giờ đây được nêu lên trên báo chí chỉ ít ngày trước Ngày Hiến chương Nhà giáo Việt Nam, 20/11, một dịp thường niên để tôn vinh các nhà giáo, nên thu hút sự chú ý đông đảo của công luận.

Bình luận trên mạng xã hội, nhiều người viết rằng việc điều động các nữ giáo viên “trẻ đẹp” làm lễ tân, phục vụ quan khách là sự coi thường phụ nữ. Họ xem việc làm này là “một sự sỉ nhục” cũng như “làm tổn thương” lòng tự trọng, danh dự và nhân phẩm các cô.

Hôm 14/11, Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ đã nêu ý kiến của ông với báo chí về vụ việc. Ông cho rằng “Đây là hành vi … chưa đến mức độ nghiêm trọng, nhưng chắc chắn là không phù hợp, phải nghiêm túc rút kinh nghiệm”.

Bộ trưởng Nhạ cũng nhận xét rằng “trước hết phải hỏi trách nhiệm của thầy cô, sau mới tính đến người ép buộc”. Ông nói: “Thầy cô phải tự xem xét lại mình, khi thấy không đúng thì phải kiến nghị, chứ mình thực hiện là vi phạm”.

Nữ nhà giáo Tô Thụy Diễm Quyên, 49 tuổi, ở thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ với VOA về cách bà nhìn nhận về vấn đề này:

“Những chuyện như thế này không chỉ xảy ra ở Hồng Lĩnh mà có thể xảy ra ở những nơi khác nhưng mà người ta không phản ánh lên. Cái lỗi ở đây theo tôi là từ nhiều phía. Vì từ phía các cô giáo, các cô đồng ý đứng làm lễ tân, nhưng mà đi vào phòng karaoke các cô có quyền từ chối. Bản thân tôi cũng đã từng có một vài lần được mời đi tương tự như thế, và tôi từ chối, và chẳng ai làm gì tôi hết. Cũng tùy theo vùng miền và tùy theo lãnh đạo địa phương. Tất cả các thầy cô giáo đều có quyền từ chối, nhưng mà có những người họ sợ rằng là khi họ từ chối họ sẽ gặp khó khăn. Tôi cho rằng nếu các cô từ chối không vào phòng karaoke, thì lãnh đạo của họ sẽ không có quyền gì cả, họ không có quyền để bắt buộc được”.

Một số người có ý kiến tương tự như bà Quyên. Họ cho rằng hành xử của các quan chức có thể không phù hợp luật pháp và các giá trị đạo đức, nhưng nếu các giáo viên không có bản lĩnh và không biết bảo vệ nhân phẩm của chính mình thì khó có thể dạy cho học sinh hình thành, phát triển được nhân cách tốt.

Ngược lại, nhiều người bất bình về cách lập luận của Bộ trưởng Nhạ mà họ cho là một dạng ngụy biện đổ lỗi cho nạn nhân.

Phó giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Hoàng Ánh, một giảng viên tại một trường đại học ở Hà Nội, phân tích với VOA rằng các giáo viên thường rất khó khăn mới xin được việc, nên họ không dám phản đối các mệnh lệnh không hợp lý để phải đứng trước rủi ro bị mất việc.

Bà Ánh cho rằng để ngăn chặn những vụ việc tương tự, cần phải xây dựng những điều khoản cụ thể trong luật. Bà nói:

“Chúng ta nên đưa những chuyện này vào những văn bản có tính chất pháp lý. Luật giáo dục phải quy định rõ ràng các lãnh đạo được làm gì và không được làm gì với nhân viên. Tại vì trong luật thì chỉ bảo vệ quyền của người lãnh đạo. Ví dụ, luật ghi rõ là cán bộ phải theo sự điều động của cấp trên. Và như ông ấy tự quy cái này là nhiệm vụ chính trị thì các cô rất khó từ chối, nhất là những người ông ấy tiếp đều là cấp trên cả”.

Nhiều người trong công chúng cho rằng vụ việc ở Hồng Lĩnh có thể xem là hành vi “hạ nhục” các nữ giáo viên một cách có tổ chức và có dấu hiệu phạm tội hình sự. Họ mong muốn bộ trưởng giáo dục phải mãnh mẽ bênh vực thay vì đổ lỗi cho các giáo viên.

Việt Nam đứng hạng 76/88 về Tự Do Internet

Việt Nam đứng hạng 76/88 về Tự Do Internet

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2016-11-15
Freedom House, tổ chức NGO chuyên theo dõi nhân quyền và tự do báo chí toàn cầu, hôm thứ Hai 14 tháng 11 công bố phúc trình thường niên về Tự Do Internet 2016,  cho thấy Việt Nam đứng hạng 76 trong số 88 quốc gia trên thế giới.

Freedom House, tổ chức NGO chuyên theo dõi nhân quyền và tự do báo chí toàn cầu, hôm thứ Hai 14 tháng 11 công bố phúc trình thường niên về Tự Do Internet 2016, cho thấy Việt Nam đứng hạng 76 trong số 88 quốc gia trên thế giới.

RFA

Freedom House, tổ chức NGO chuyên theo dõi nhân quyền và tự do báo chí toàn cầu, hôm thứ Hai 14 tháng 11 công bố phúc trình thường niên về Tự Do Internet 2016,  cho thấy Việt Nam đứng hạng 76 trong số 88 quốc gia trên thế giới.

Kiểm soát toàn diện Internet

Duy trì chính sách kiểm soát Internet, theo dõi, đánh sập các trang mạng xã hội, hạn chế thông tin và tiếp tục vi phạm quyền của người sử dụng mạng, bất chấp luật lệ, đàn áp bloggers bằng chiêu bài bảo vệ an ninh quốc gia… là tình trạng đã và đang xảy ra tại Việt Nam mà không có sự cải thiện đáng kể nào từ năm ngoái đến năm nay.

Những lý do đó khiến Việt Nam bị xếp hạng 76 trên 88 quốc gia trong phúc trình về Tự Do Internet 2016 được Freedom House công bố trưa thứ Hai 14 tháng Mười Một vừa qua.

Việt Nam nắm quyền kiểm soát hầu như toàn diện Internet trong những năm qua và vẫn tiếp tục là một trong những nước kiểm duyệt mạng nghiêm khắc nhất trên thế giới.
-Bà Sanja Kelly

Báo cáo thường niên về Tự Do Mạng 2016 của Freedom House xếp 30 quốc gia đầu với màu xanh lục được coi là có tự do mạng, trong đó những quốc gia gồm Mỹ, Canada, Đức, Australia, Nhật, Anh, Pháp, Italy, Estonia, Georgia, Nam Hàn, Philippines vân vân… Tiếp đến những nước có màu vàng tức chỉ có tự do phần nào; Việt Nam nằm gần cuối bảng trong nhóm các nước màu tím tức không có Tự Do Internet. Như vậy, Việt Nam kém Saudi Arabia một bậc và chỉ hơn Trung Quốc một bậc về Tự Do Internet mà thôi.

Với sự phối hợp của Google, buổi công bố phúc trình Tự Do Internet 2016 được Freedom House gọi là một sự kiện đặc biệt vì có một vòng thảo luận bao gồm chuyên gia của Freedom House cũng như các tổ chức xã hội dân sự khác tham dự.

Lên tiếng với đài Á Châu Tự Do, giám đốc chương trình Tự Do Internet của Freedom House, bà Sanja Kelly:

Tự do mạng là một dự án đặc biệt qua đó cho thấy sự tăng gia hoặc giảm sút những hành động kiểm duyệt mạng, bắt bớ tấn công người sử dụng hoặc những vấn đề khác liên quan đến các mạng xã hội và những người truy cập các trang mạng đó.

Việt Nam nắm quyền kiểm soát hầu như toàn diện Internet trong những năm qua và vẫn tiếp tục là một trong những nước kiểm duyệt mạng nghiêm khắc nhất trên thế giới. Chúng tôi biết có nhiều bloggers bị bắt nhốt hay bị sa thải khỏi công ty vì đã lên tiếng chỉ trích chính phủ. Chúng tôicũng nhìn thấy người dân bị bắt và bị xét xử vì những lời phát biểu của họ trên mạng. Trong rất nhiều trường hợp, chỉ một trang blog về nhân quyền hay dân chủ mà người viết bị tống giam từ 5 đến 10 năm tù trong lúc cái gọi là ‘tội’ mà chính quyền gán cho họ chỉ là đưa ra một hệ tư duy khác với chính quyền.

Trong năm qua tại Việt Nam, đã có nhiều tổ chức xã hội dân sự không được phép thành lập, nhiều trang facebook bị ngăn chận. Đây là cả một vấn đề đáng quan ngại vì facebook là một kênh thông tin và truyền thông của rất nhiều người sử dụng ở Việt Nam mà nhà cầm quyền thì đã và đang tìm mọi cách để phá hủy đường truyền và đường liên lạc hữu hiệu này.

Vẫn theo phúc trình của Freedom House về Tự Do Internet 2016, cả thế giới có 3 tỷ 200 triệu người lên mạng mỗi ngày, 67% số người ở các nước bị sách nhiễu, trù dập vì phê bình chính phủ hay quân đội, 38% số lượng các trang mạng xã hội hoặc những lời nhắn trên mạng, kể cả những đường truyền hay điện thoại di động với các dịch vụ trên mạng bị cố ý làm cho đứt quảng, thì Việt Nam là một trong những quốc gia áp dụng những hình thức kiểm duyệt như thế.

Buổi hội luận tiếp sau phần công bố phúc trình của Freedom House, cũng do tổ chức NGO này điều hợp, đã tạo sự chú ý của cử tọa khi ý kiến về sự nhanh nhạy, tiện ích và hữu hiệu của công nghệ thông tin đã khiến cho các chính phủ không thể nào ngăn chận hay kiểm soát được toàn diện mạng lưới toàn cầu qua Facebook, Twtter hoặc apps.

Tắt một lời, nhờ công nghệ thông tin của thế kỷ XXI mà càng bị ngăn chận bị kiểm duyệt chừng nào thì phương cách truyền tải thông tin cách này cách khác càng bùng nổ một cách tinh vi hiệu quả hơn bao giờ hết.

Thanh Trúc tường trình từ Washington.

Cả đất nước phải nín lặng trước bài thơ “Xin đổi kiếp này” của học sinh lớp 7

Cả đất nước phải nín lặng trước bài thơ “Xin đổi kiếp này” của học sinh lớp 7

Face book Suong Quynh

Một bài thơ quá hay, quá sâu sắc.
Mình không nghĩ một học sinh lớp 7, mới 13 tuổi thôi mà đã viết được những vần thơ thế này rồi.

Được biết e học sinh này tên là Nguyễn Bích Ngân, học sinh trường THCS Nguyễn Đình Chiểu.

Cả đất nước phải nín lặng trước bài thơ

ĐỨC TIN ĐÃ CỨU TÔI

ĐỨC TIN ĐÃ CỨU TÔI

+ Gm. GB BÙI TUẦN

  1. Chúa Giêsu đã cảnh báo:“Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người”(Lc 21,36).

Trước đây, tôi đọc lời Chúa cảnh báo đó rất nhiều lần, mà không quan tâm đủ. Nhưng thời gian này, Chúa dạy tôi hãy nhờ đức tin mà đón nhận lời cảnh báo đó của Chúa. Tôi xin Chúa thêm đức tin cho tôi. Nhờ vậy, tôi nhận ra lời Chúa cảnh báo trên đây là rất nghiêm trọng.

Tôi xin chia sẻ vắn tắt.

  1. Trước hết, tôi thoáng nhìn thấy những điều sắp xảy đến là rất đáng sợ. Những điều đáng sợ đó đã bắt đầu rồi. Tôi thấy ba hình ảnh sau đây:
  1. Hình ảnh thứ nhất là một thác máu đang đổ trên trần gian.

Chúa cho tôi hiểu đó là máu của hàng trăm ngàn thai nhi đổ ra hằng ngày do nạn phá thai. Đó là máu của bao người chết trên đường do nạn giao thông. Đó là máu của bao người bị bọn xấu chém giết mỗi ngày.

  1. Hình ảnh thứ hai là một thác những chất dơ bẩn hôi thối đang tràn trên lịch sử.

Chúa cho tôi hiểu đó là những gian dối, những bất trung, bất tín đủ loại, những ích kỷ cá nhân và tập thể, những phản bội đủ thú, những hưởng thụ sa đà vào rượu chè, cờ bạc, dâm ô.

  1. Hình ảnh thứ ba là một thác bùn đang chảy sâu vào cuộc sống.

Chúa cho tôi hiểu đó là những thứ bận rộn vô bổ, những luật lệ chỉ cốt phô trương, những thói quen vô cảm. Tất cả những thứ đó như bùn, làm cho người ta lún vào mà không bước đi được.

Khi nhìn thấy ba dòng thác trên đây, tôi rất sợ. Chúa bảo tôi: Đây mới chỉ là khởi đầu của một chuỗi dài những điều sẽ xảy đến.

  1. Tôi phải làm gì đây?

Chúa trả lời: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn”.

Để tỉnh thức và cầu nguyện, tôi nhờ đức tin. Tôi tin vào Lời Chúa. Tôi dần dần nhận ra một điều hết sức quan trọng: Chúa Giêsu là Đấng cứu thế. Người đang cứu tôi. Người sẽ cứu tôi. Người sẽ cứu tất cả những ai tin ở Người.

Nếu không tin vào Chúa Giêsu là Đấng cứu độ, tôi sẽ nhìn mà không thấy. Nếu có thấy mà cũng chẳng biết sợ.

  1. Nhiều sự việc quá nguy mà không thấy sự nguy hiểm, đó là điều chính tôi đã từng cókinhnghiệm. Mới rồi, tôi đang bước đi rất chậm. Tay chống gậy. Mắt nhìn xuống đất chăm chú. Nhưng trong tích tắc, tôi té ngã, đập đầu xuống sân ximăng, máu đầu chảy ra. Đúng là tôi có nhìn, mà không thấy chỗ đó quá rong rêu, dễ trượt, đầy nguy hiểm cho người già yếu. Bài học đó dạy tôi là trên con đường đời, có những chỗ nguy hiểm, nếu không tỉnh thức và cầu nguyện, thì tôi sẽ nhìn mà không thấy.
  1. Tỉnh thức và cầu nguyện là phải hết sức tin vào Chúa.Tin vào Chúa là Đấng quyền năng và giàu thương xót. Chính Người cứu tôi.
  1. Tới đây, tôi nhớ lại đoạn Phúc Âm kể lại phép lạ Chúa Giêsu chữa người mù tại Giêrikhô.

“Khi Đức Giêsu gần đến Giêrikhô, thì có một người mù đang ngồi ăn xin ở vệ đường, nghe thấy đám đông đi qua, anh ta hỏi xem có chuyện gì. Họ bảo cho anh biết là Đức Giêsu Nazarét đang đi qua đó. Anh liền kêu lên rằng: ‘Lạy ông Giêsu, Con vua Đavít, xin dủ lòng thương xót tôi’. Những người đi qua quát nạt, bảo anh ta im đi. Nhưng anh ta càng kêu lớn tiếng: Lạy Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi. Đức Giêsu dừng lại, truyền dẫn anh ta đến. Khi anh ta đã đến gần, Người hỏi: ‘Anh muốn tôi làm gì cho anh?’ Anh ta đáp: Lạy Ngài, xin cho tôi được thấy. Đức Giêsu nói: ‘Anh hãy thấy đi. Lòng tin của anh đã cứu anh’. Lập tức, anh ta nhìn thấy được và đi theo Người” (Lc 18,35-43).

  1. Đọc đoạn Phúc Âm vừa rồi, tôi có cảm tưởng tôi cũng là một thứ người mù. Chúa Giêsu đã mở mắt tôi ra, để tôi thấy bao nguy hiểm quanh tôi, nhưng tôi được chính Người cứu tôi. Được như vậy, là nhờ đức tin. Đức tin là một món quà quý Chúa trao ban cho những ai khiêm nhường.
  1. Sau khi đã mở mắt tôi ra, để tôi thấy ba thác nguy hiểm trên đây, đồng thời nhận thấy Đức Kitô là Đấng cứu độ, thì Chúa lại mở mắt thêm cho tôi, để tôi thấy thêm sự thực về tôi.

Tôi thấy tôi nghèo đói về mọi mặt:

– Về sức khoẻ.

– Về nhân cách.

– Về trí thức.

– Về đạo đức.

– Về khôn ngoan.

– Về đức tin.

  1. Nghèo đói nào của tôi cũng rất nghiêm trọng. Từ tình trạng nghèo đói nghiêm trọng đó, tôi nhìn lên Chúa Giêsu. Người hiện lên trước mặt tôi như một tình yêu cứu độ. Người hứa cứu tôi, không để cho những nghèo đói đó thành cớ đưa tôi vào thảm hoạ tội lỗi, để sau cùng là thảm hoạ hoả ngục đời đời. Trái lại, Người hứa sẽ làm cho những nghèo đói đó của tôi thành cơ hội để gặp được Chúa.

Chúa đã thực hiện điều hứa đó. Từ vực sâu nghèo đói thiêng liêng, tôi giơ tay lên, và Chúa đã nắm lấy tay tôi. Chúa đã cứu tôi thực sự.

  1. Giờ đây, tôi hiểu được phần nào lời Chúa phán:“Hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người”.

Điều sẽ xảy đến thực rất khủng khiếp. Ngay một sự mình mù, mà lại không nhận biết mình mù, mình trong vực thẳm hư vong mà lại cứ cho là mình ở trong cõi bình an hạnh phúc. Ngay chỉ thế cũng đã là khủng khiếp lắm rồi. Nếu, hơn nữa, người mù lại dắt người mù, từng đoàn như vậy, thì khủng khiếp biết bao.

Để thoát khỏi cảnh khủng khiếp hãi hùng đó, Chúa dạy tôi là hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn.

  1. Tôi thấy mình chưa tỉnh thức đủ, chưa cầu nguyện đủ. Tôi xin Đức Mẹ, các thánh trên trời và trong luyện tội thương giúp tôi.

Dần dần, trong tôi bừng lên niềm vui và hy vọng. Tôi thấy mình được đỡ nâng, an ủi. Tôi cảm thấy Chúa Giêsu là Đấng cứu độ luôn ở bên tôi. Tôi đi về phía trước, với hy vọng chắc chắn mình sẽ được vào cõi sống đời đời đầy bình an hạnh phúc. Hy vọng đó là niềm vui lớn lao. Chia sẻ niềm vui và hy vọng đó cũng sẽ là bài ca tạ ơn Chúa giàu lòng thương xót đã ban đức tin cho tôi.

Hy vọng chia sẻ này cũng sẽ giúp tôi và nhiều người biết sống lời cảnh báo của Chúa một cách nghiêm túc, nhất là trong tình hình hiện nay có nhiều bất ngờ đáng sợ.

Long Xuyên, ngày 5.11.2016.

+ Gm. GB BÙI TUẦN

Anh chị Thụ & Mai gởi

CÓ HỎA NGỤC HAY KHÔNG?

CÓ HỎA NGỤC HAY KHÔNG?

 Lm Nguyễn Hữu Thy

Ở Âu Châu, tháng mười một là một tháng u buồn ảm đạm nhất trong năm: Khí trời mới vào đông tuy chưa có tuyết rơi, nhưng rất lạnh lẽo giá buốt, sương mù dăng dăng dầy đặc và những làn mưa phùn bay phất phơ trong từng cơn gió lạnh, làm thấm ướt cả áo măng-tô của các khách bộ hành qua lại trên phố xá.  Và cũng chính tháng mười một đã được Giáo Hội chọn làm Tháng Các Linh Hồn, nghĩa là thời gian dùng để kính nhớ và cầu nguyện cho các người đã quá cố.

Hành động đó đã minh nhiên chứng minh rằng chết không phải là hết, nhưng sau khi chết con người còn tiếp tục sống và sống một cuộc sống vĩnh cửu.  Nhưng ở đây một câu hỏi được đặt ra là sau khi từ bỏ cõi đời này, chỉ có Thiên Đàng là nơi vĩnh cửu duy nhất sẽ đón nhận các người đã quá cố hoặc còn có nơi nào khác nữa, hay nói rõ hơn, có hỏa ngục hay không?

Theo tâm lý tự nhiên ngày nay, đa số người đương thời có khuynh hướng muốn được yên thân sống thoải mái dễ dãi, chứ không muốn nhắc đến luân lý, đạo đức hay tội lỗi nữa.  Vì thế họ cũng không muốn đề cập tới vấn đề hỏa ngục, nếu không nói là họ phủ nhận sự hiện hữu của hỏa ngục.

Nhưng ít nhất vẫn còn có Sting, tên thật là Gordon Summer (1951), một ca sĩ nhạc Rock nổi tiếng người Anh, luôn tin có hỏa ngục, một nơi có mặt của mọi thành phần xã hội: từ các quan tòa, các luật sư, các Hồng Y, Giám Mục, các nhạc sĩ, các ca sĩ, v.v…  Trong một bài hát thuộc loại nhạc kích động với tựa đề bằng tiếng Anh: “Saint Augustine in Hell” (Thánh Augustinô ở trong hỏa ngục), Sting đã hát: “They’re all here, You’re not alone” (Tất cả họ đều có mặt ở đây.  Chứ không phải một mình anh đâu).  Bài hát đề cập tới việc vị thánh nhân đã ra sức vất vả chống lại sự cám dỗ về đức trong sạch khi phải đứng trước một người phụ nữ nhan sắc đầy quyến rũ.

Thật cả là một hiện tượng quá ngạc nhiên, hoàn toàn vượt quan niệm thường tình: Trong hỏa ngục cũng có cả sự hiện diện của những bậc vị vọng, những người khi còn sống đã từng đóng vai trò người bảo vệ luân lý, đạo đức và công bằng, và theo sự phán đoán bình thường nhân loại, thì họ là những người sau khi chết sẽ được bay thẳng về Thiên Đàng.  Còn hỏa ngục là nơi chỉ dành cho những kẻ đã phạm những tội ác nặng nề chống lại nhân loại như: Hitler, Stalin, Mao Trạch Đông, Pol Pot, Nero, Giu-đa, Napoléon, hay những bọn khủng bố, những kẻ giết người như ngóe, bọn phản bội hại người hay những kẻ cực đoan đã gây nên bao tang thương đau khổ và chết chóc cho hàng triệu người vô tội, tiêu hủy cả một nền văn hóa của nhân loại, và không ngừng gieo rắc hận thù, ghen ghét trên khắp thế giới.

Cái hố sâu trong hỏa ngục

Vâng, theo quan niệm đại chúng thì những kẻ đã gây nên những tội ác như thế cần phải được trừng phạt một cách đích đáng, và – dựa theo luật công bằng – sự trừng phạt đó có thể vượt sang cả bên kia thế giới vĩnh cửu nữa.

Tuy nhiên, trong cuộc sống cụ thể, người ta thường dùng danh từ “hỏa ngục” như một cách so sánh hay có tính cách ẩn dụ, để ám chỉ những khó khăn to nhỏ trong cuộc sống hằng ngày.  Ví dụ: Trong một chuyến đi nghỉ hè xa mà phải ngồi chờ cả ngày tại phi trường hay tại nhà ga xe lửa, hết ngồi rồi lại đứng, bởi vì máy bay hay tàu bị trục trặc hay vì một sự cố nào đó xảy ra, nên phải hủy chuyến bay hoặc phải đến trễ; khi khởi công xây nhà mà trời cứ mưa tầm tã cả ngày; khi con cái và mọi người trong nhà đau ốm liên miên, nhưng tiền dành dụm lại không còn, vay mượn thì không ai cho; hay cảnh phải lam lũ vất vả cả ngày mà kiếm không đủ cơm nuôi gia đình; nhất là khi cuộc sống trong gia đình hoàn toàn thiếu đầm ấm, bất hạnh phúc, vợ chồng lục đục bất hòa với nhau suốt ngày v.v…  Bấy giờ đó quả là“hỏa ngục!” và người ta mới cảm nhận được sự đau đớn và thất vọng chua xót trong lòng trước niềm khao khát được cơm no áo ấm, được một cuộc sống ấm êm, hạnh phúc.

Nhưng cả khi phải đối mặt với những thử thách và khó khăn vất vả như thế, người ta cũng chưa hẳn tin hỏa ngục như là một nơi có thực.  Trái lại, người ta đã tương đối hóa hỏa ngục và sử dụng nó như một kiểu chơi chữ, như một nơi giả tưởng để diễn tả một sự chịu đựng đắng cay nào đó mà thôi.  Đó chính là điều mà các nhà tâm lý học, triết gia và văn họa sĩ của thế ký XX vừa qua đã làm, và quan điểm đó của họ đã để lại một ảnh hưởng sâu rộng trong ngôn ngữ cũng như trong tư tưởng của các tầng lớp xã hội.

Quả vậy, nhà phân tâm học Sigmund Freud và giáo sư tâm lý học C.G. Jung đã diễn tả ý niệm “hỏa ngục” chỉ còn như là cái vực sâu thẳm nhất của nội tâm con người; còn trong cuốn tiểu thuyết nổi danh “Doctor Faustus” của ông, văn hào Thomas Mann đã coi “hỏa ngục” như là biểu hiệu cho sự man rợ ghê tởm, xảy ra dưới chế độ diệt chủng Đức Quốc Xã; trong khi đó, triết gia Jean-Paul Sartre – bằng một hình thức hiện sinh nhẹ nhàng – lại cho thấy rằng “hỏa ngục” luôn luôn là “những người khác.”  Hỏa ngục được coi như một nơi hoàn toàn và tuyệt đối không có sự hiện diện của Thiên Chúa, dù một lời nói hay một dấu hiệu cũng hoàn toàn không.

Tuy nhiên, điều đó không luôn luôn như vậy.  Đặc biệt nhất là các bức hình thời trung cổ trình bày về ngày Phán Xét Chung – mà ngày nay người ta còn tìm thấy trên trần các nhà thờ chánh tòa và vương cung thánh đường cổ hay trong bản văn Sách Khải Huyền của thánh Gioan tông đồ – đã vẽ lên một cách rõ ràng và đầy ấn tượng tình trạng của những kẻ bị kết án trầm luân trong hỏa ngục.  Trong khi đó, chữ “hỏa ngục” trong tiếng Do-thái là “Ge hinnom”, hoàn toàn chỉ có nghĩa là vùng thống trị của ma quỷ mà thôi; khác với chữ “âm phủ” (nước của những kẻ chết) mà trong tiếng Do-thái là “Scheol” và cũng khác với các quan niệm Hy Lạp thời thượng cổ về nước của kẻ chết, tức thế giới của tối tăm.

Những trình bày về hỏa ngục chỉ muốn nhắm cảnh giác và làm cho người xem động lòng lo sợ, hầu họ biết ăn năn sám hối và cải thiện cuộc sống, dựa trên ý nghĩa Kinh Thánh và những lời dạy của Chúa Cứu Thế, ví dụ: “Thà cụt tay cụt chân mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai tay hai chân mà bị ném vào lửa đời đời.  Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi; thà chột mắt mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào lửa hỏa ngục.” (Mt 18,8-9)

Trong vùng ảnh hưởng nền văn hóa Tây phương nói chung, những hình ảnh trình bày về hỏa ngục hay những suy diễn tưởng tượng về hỏa ngục rất đa dạng.  Vâng, có khi hỏa ngục được coi như một nơi của thù oán; có khi lại được coi như một lò lửa cháy bừng bừng đến vô tận; và nhiều khi còn được coi như núi hỏa ngục.  Trong cuốn tiểu thuyết nổi danh “La Divina Commedia” của ông, Dante Alighieri (1265-1321), một thi hào người Ý, còn trình bày hỏa ngục như một cái hố sâu mà Satan đã gây ra khi y bị rơi từ Thiên đàng xuống.

Còn các danh họa Kitô giáo, như Hieronymus Bosch (1450-1516), Peter Paul Rubens (1577-1640), Sandro Botticelli (1445-1510), hay Michelangelo (1475-1564), đều trình bày hỏa ngục như chặng đường cuối cùng của cuộc sống con người, chứ không còn là nơi thanh luyện hay cải hóa nữa.  Và có lẽ đó cũng là quan niệm chung của các nền văn hóa và các tôn giáo khác.

Điều đó cũng nói lên rằng các danh họa Kitô giáo trên đã luôn luôn trung thành với các giáo huấn truyền thống của Giáo Hội.  Bởi vì dựa theo lời Đức Giêsu trong Phúc Âm, nhiều thánh Giáo phụ từ thế kỷ I cho tới thế kỷ III, ví dụ như Clemens de Rom, Irenée de Lyon, đã khẳng định rằng người ta không được phép đùa giỡn với một cuộc sống bên kia biên giới sự chết được, vì đó là một sự thật minh nhiên.  Và sau cái chết chỉ còn lại hai nơi cư ngụ duy nhất cho con người: Hoặc Thiên đàng hoặc hỏa ngục, có lẽ tạm thời còn có một nơi tạm trú thứ ba, đó là Lửa Luyện Tội.  Ngoài những chỗ đó ra, tuyệt đối không còn bất cứ nơi chốn nào khác nữa.

Thế nhưng, bỗng nhiên Origênê (185-254), thuộc hàng Giáo phụ, lại giới thiệu một suy tư thần học mới: Thuyết “Apocatastase” – sự cứu vớt muôn loài muôn vật.  Origênê cho rằng sau cuộc sống đời này, tất cả mọi tạo vật đều được trở về cùng Thiên Chúa Tạo Hóa, còn hỏa ngục hoàn toàn trống rỗng.  Đó quả là một quan điểm có thể được coi là hấp dẫn, mang tính cách nhân bản và tiến bộ.  Vì thế, nhiều Giáo phụ thuộc thế kỷ IV và thế kỷ V, như Gregoire de Nyssan đã chấp nhận thuyết đó.

Nhưng thuyết Apocatastase của Origênê chỉ kéo dài đến năm 553 thì hoàn toàn chấm dứt.  Công đồng đại kết Constantinople II đã tuyên cáo: “Nếu ai nói hay nghĩ rằng hình phạt dành cho ma quỷ và những kẻ vô đạo chỉ có tính cách tạm thời và trong một lúc nào đó sẽ được chấm dứt hay sẽ có sự hồi phục lại cho ma quỷ và những kẻ vô đạo, thì bị dứt phép thông công.”

Lời khẳng định: Từ hỏa ngục không hề có con đường nào dẫn tới cùng Thiên Chúa, là một quan điểm trải qua bao thế kỷ đã được chứng thực bởi các thị kiến của nhiều vị thần bí, như Anna Catharina Emmerick, Anna Schäfer hay chân phước Padre Piô, v.v… và trên nguyên tắc, mãi cho tới nay Giáo Hội vẫn không chối bỏ.  Trái lại, trong cuốn Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo (SGLHTCG), được phát hành năm 2005, còn được xác định: “Giáo Hội dạy rằng có hỏa ngục và án phạt đời đời.  Sau khi chết, linh hồn kẻ còn mang tội trọng sẽ xuống hỏa ngục chịu cực hình ‘lửa đời đời’” (SGLHTCG phần 1, đoạn 2, chương 3, mục 12, số 1035).  Chính Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI trong cuốn sách mới nhất của Người “Chúa Giêsu thành Na-da-rét” cũng đã xác nhận rằng có hỏa ngục, và là một nỡi vĩnh viễn dành cho những ai chối từ tình yêu Đức Kitô.

Án phạt đời đời

Tuy nhiên, ở đây người ta cũng có thể chân thành nêu lên câu hỏi: Ngày nay còn có bao nhiêu người và bao nhiêu cơ quan đoàn thể trong Giáo Hội thực sự coi trọng những phát biểu đó nữa?  Trong thời đại ngày nay, ai còn đầy xác tín nói về hoả ngục và về án phạt đời đời?  Và nếu trường hợp có người còn can đảm dám làm chuyện đó, thì anh ta sẽ quả quyết thế nào về hỏa ngục: là một nơi chốn, một tình trạng hay chỉ là một cảm giác?

Thế hệ của những nhà thần học cũng như những vị giáo phẩm trong Giáo Hội ngày nay, xem ra có một sự đồng thuận cho rằng, hỏa ngục không phải là một nơi chốn dành để trừng phạt những kẻ có tội với các đau khổ thể xác, nhưng là một điều có tính cách trừu tượng, hay nói đúng hơn, đó là sự “xa lìa Thiên Chúa”, như chính ĐTC Gioan Phaolô II khi sinh thời cũng đã từng phát biểu.  Nhưng nói chung, tất cả những nhà thần học này đều trung thành với giáo huấn của Giáo Hội về hỏa ngục.

Nhưng bên cạnh đó còn có những nhà thần học khác đã tìm cách dựa theo khoa chú giải Kinh Thánh có tính cách phê bình sử quan, để đưa ra một con đường trung dung khác, thay vì quan điểm “sự cứu rỗi cho muôn loài muôn vật” và “sự hiện hữu của hỏa ngục”.  Theo quan điểm thứ ba này thì hỏa ngục hiện hữu thực sự và như một “khả hữu thực tiễn” (Karl Rahner).  Nhưng điều đó không có nghĩa là sẽ có một linh hồn nào đó sẽ bị lạc đường sa vào chỗ ấy, bởi lẽ tình yêu và lòng từ bi của Thiên Chúa thì bao la vô tận.

Sự chia lìa vĩnh cửu với Thiên Chúa

Đặc biệt tại đa số các cộng đoàn Kitô giáo thuộc vùng lãnh thổ nói tiếng Đức, xem ra người ta có khuynh hướng chọn lối cắt nghĩa thứ hai.  Các giáo sĩ ngày nay ít đề cập đến hỏa ngục trong các bài giảng của mình, vì họ thường quan niệm rằng: trong vấn đến tín ngưỡng, nên tôn trọng sự tự do chọn lựa của con người, hay nói rõ hơn, nên để giáo dân tự do sống đạo theo sự ý thức của họ, chứ không nên giữ đạo vì do sợ hãi khỏi phải xuống hỏa ngục.  Phải chăng đây là một quan niệm hoàn toàn đúng đắn?

Một điều không thể phủ nhận được là quan niệm trên đã từ từ làm cho người ta quên đi sự nguy hiểm về cuộc sống xa lìa vĩnh cửu với Thiên Chúa, nguồn sống và nguồn mọi hạnh phúc của con người.  Đồng thời nó cũng dẫn tới một hậu quả khác nữa, đó là khuynh hướng tương đối hóa tội lỗi, nghĩa là chỉ có tội nhẹ, chứ không còn có tội trọng nữa; và điều đó cũng muốn nói rằng con người không còn nguy hiểm sợ mất sự sống vĩnh cửu nữa.

Hay sự im lặng không muốn đề cập tới hỏa ngục như thế còn có những lý do khác nữa?  Phải chăng sự im lặng đó còn nhắm tránh cho người tín hữu mặc cảm tội lỗi, bởi vì trong nhiều thế kỷ qua, các bài giảng về hỏa ngục đã làm cho các tín hữu đâm ra áy náy sợ hãi, vì lo mất linh hồn?  Hoặc: phải chăng vì do những lý do quyền lực, kinh tế hay chính trị, v.v… mà người ta đã từng làm cho cuộc sống tâm linh của các tín hữu trở thành lệ thuộc và mất tự do, khi trình bày cho họ hình ảnh về hỏa ngục?

Nếu sự thể thực sự là như vậy, thì cần thiết phải tìm cách giải quyết ngay cái mặc cảm phiền phức đó. Nhưng phải chăng để làm cho công cuộc Phúc Âm hóa của Giáo Hội, mà Đức Gioan Phaolô II cũng như Đức Bênêđíctô XVI đã khởi động và cổ vũ, trở nên khả tín và khả thi, nếu khi người ta trình bày công cuộc Cứu Rỗi của Đức Kitô và viễn tượng về Nước Trời, tuyệt đối không được đả động tới những thực tại ngược lại, hay nói rõ hơn, không được đề cập tới hỏa ngục?

Nếu sứ mệnh của Giáo Hội không chỉ dừng lại nơi những hoạt động thiêng liêng và từ thiện được dành cho mọi tầng lớp xã hội như các đoàn thể từ thiện khác vẫn làm, thì Giáo Hội cần phải tái khám phá ra sự hiện hữu của hỏa ngục như một biểu hiệu sự công bằng của Thiên Chúa, chứ không phải như một dụng cụ để hành hạ hay trả thù.  Vâng, mặc dù nói đến hỏa ngục là một điều ít ai muốn nghe, nhưng sự hiện diện của hỏa ngục cũng góp phần vào việc sống trọn tinh thần Phúc Âm.

 Lm Nguyễn Hữu Thy

 Langthangchieutim gởi