Cách thức quỵt nợ của “đảng ta”: cộng sản tự phá sản

Cách thức quỵt nợ của “đảng ta”: cộng sản tự phá sản

Tư nghèo (Danlambao) – Dưới sự luôn luôn được lãnh đạo toàn diện bởi đảng, Bộ Tài chính đã mở đường cho các đồng chí (hướng làm giàu) trong các doanh nghiệp nhà nước cách thức chạy làng, chạy nợ, chạy được bảo kê.

Theo Bộ Tài chính, doanh nghiệp Nhà nước nếu không trả được nợ có thể thực hiện phá sản. Nợ của doanh nghiệp quốc doanh sẽ không tính vào khoản nợ công. (1)

Trước hết nợ công là gì?

Nợ công hoặc Nợ quốc gia, là tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay. Gồm:

– Nợ trong nước (vay từ người trong nước) và nợ nước ngoài (vay từ người ngoài nước).

  • Nợ ngắn hạn (dưới 1 năm), nợ trung hạn (1-10 năm) và nợ dài hạn (trên 10 năm). (2)

Kế đến Doanh nghiệp nhà nước là gì?

Đây là những tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn (3)

Do đó các quan chức của đảng đang nắm giữ các ghế trong chính phủ tha hồ tự mở các doanh nghiệp nhà nước. Khi mở thì tiền đâu?

Thì cũng chính các quan lấy ngân sách quốc gia và tự cho mình mượn. Ngân sách này bao gồm tiền thuế của nhân dân và tiền các quan nhân danh chính phủ của nước Việt Nam đi mượn.

Sau khi tự mở, tự cho vay thì các quan trở thành người đại diện sở hữu chủ công ty.

Lấy thí dụ ngân sách quốc gia gồm tiền dân cộng tiền mượn là 100.

Các quan lấy ra 50 để làm ăn và làm giàu.

Làm được 10 các quan bỏ túi, làm không được các quan tìm cách thanh toán cái vốn 50 và bỏ vào túi 30.

Tổng cộng các quan bỏ túi 40.

Sau đó khai phá sản.

Con số 50 không cánh mà bay và quốc gia vẫn phải nợ 100.

Sau đó các quan về hưu, hạ cánh an toàn, tên của các quan không phải là “nhà nước” nên vô can với món “nợ công” – chỉ “liên quan” như 90 triệu dân đen khác.

Các quan cộng sản khác chui vào nhà nước với con số nợ cũ 100 thuộc quyền… sở hữu của nhân dân phải trả và lại mượn tiếp 100, tự cho vay tiếp và mở doanh nghiệp nhà nước, tự hốt liền hốt hết và sau đó tự phá sản.

17.01.2017

Tư nghèo

danlambaovn.blogspot.com

‘Người tù thế kỷ’ chấp nhận bồi thường 10 tỷ

‘Người tù thế kỷ’ chấp nhận bồi thường 10 tỷ

Ông Huỳnh Văn Nén và vợ đi kêu oan
Bản quyền hình ảnhFACEBOOK
Ông Huỳnh Văn Nén ngồi tù oan gần 18 năm

Sau 7 lần thương lượng, ‘người tù thế kỷ’ Huỳnh Văn Nén vừa chấp nhận mức bồi thường trên 10 tỷ đồng cho 18 năm ngồi tù oan.

Ông Huỳnh Văn Nén (sinh năm 1962, Bình Thuận) bị Tòa án Nhân dân tỉnh Bình Thuận kết án, xử phạt tù chung thân về 3 tội: “Giết người”, “Cướp tài sản công dân”, “Cố ý hủy hoại tài sản của công dân” (tại bản án hình sự sơ thẩm ngày 31/8/2000).

Ông được tuyên vô tội ngày 28/11/2015, sau đó làm đơn yêu cầu bồi thường án oan với số tiền là 18 tỷ đồng cho gần 18 năm ngồi tù oan.

Đồng thời ông cũng nộp đơn yêu cầu xử lý 14 cán bộ công an, Tòa án Nhân dân, Viện Kiểm sát tỉnh Bình Thuận thiếu trách nhiệm gây oan sai cho ông cũng như các thành viên gia đình.

Trong phiên thương lượng thứ 7 hôm 12/1/2017, ông Nén chấp nhận số tiền 10.001.335.000 đồng. Tuy nhiên, kết quả này chỉ có giá trị pháp lý khi được Tòa án Nhân dân Tối cao thẩm định.

Đây là tiền bồi thường tổn thất tinh thần và bồi thường tiền thu nhập thực tế bị mất trong những ngày ông Nén bị giam; Bồi thường tổn hại về sức khỏe của ông Nén và thu nhập của ông từ khi ra tù đến khi ông đủ 60 tuổi; Bồi thường thiệt hại danh dự, uy tín của cha, vợ và các con ông Nén; Bồi thường chi phí thăm nuôi và kêu oan cho ông Nén…

Không thấy   tòa nhắc tới đơn yêu cầu xử lý cán bộ trong phiên này.

Trước vụ ông Nén, đã có tiền lệ vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn. Ông Nguyễn Thanh Chấn được bồi thường 7,2 tỷ đồng sau khi được xác nhận bị oan.

Ngành tòa án sẽ mời giáo viên đến dạy.. chính tả

From facebook:  Minh Nguyen shared Lê Công Định‘s post.
Image may contain: 1 person, text

Lê Công ĐịnhFollow

Thẩm phán và thư ký toà đều là những người tốt nghiệp đại học, mà còn phải học viết câu chữ và chính tả, thì thật hết biết!

Ai có dịp đọc các bản án của toà Việt Nam, từ địa phương đến tối cao, đều nhận ra rằng tất cả (tôi nhấn mạnh là tất cả) án văn đều viết sai chính tả, sai văn phạm, thậm chí nhiều câu tối nghĩa đến mức ngu ngơ, khiến người đọc phải đoán ý.

Còn tình trạng án một đằng tuyên một nẻo, như Chánh án tối cao Nguyễn Hoà Bình thừa nhận, là chuyện thường ngày ở pháp đình cộng sản.

Thay vì trau dồi kiến thức pháp luật và năng lực xét xử, đa phần thẩm phán ngày nay chỉ chú trọng moi tiền từ người vô phúc đáo tụng đình. Vì vậy, thực trạng bê bối của toà án Việt Nam mà ông Chánh án tối cao mô tả hoàn toàn có thật.

‘Không được đón Đặng Xuân Diệu’ ở sân bay Pháp?

‘Không được đón Đặng Xuân Diệu’ ở sân bay Pháp?

đặng xuân diệu
Bản quyền hình ảnhTRINH HOI
Một số người ra đón Đặng Xuân Diệu tại sân bay Charles de Gaulle nhưng không gặp được

Luật sư Trịnh Hội trả lời BBC về trường hợp Nguyễn Văn Đài, Trần Huỳnh Duy Thức… nhân trường hợp tù nhân Đặng Xuân Diệu, một trong những ‘thanh niên Công giáo’, được đi Pháp ‘chữa bệnh’ hôm 12/1 nhưng một nhóm nhà hoạt động đã không được vào đón.

Hôm 13/1, một số người ra đón Đặng Xuân Diệu tại sân bay Charles de Gaulle, Paris, Pháp nhưng không gặp được ông.

Sau đó, Đảng Việt Tân đưa cáo buộc “chính quyền Pháp thông báo phía Việt Nam không muốn có bất cứ cuộc đón tiếp của người Việt nào ở đây với tù nhân Đặng Xuân Diệu vừa được phóng thích, nếu có đến thì cũng không được tụ tập chào đón, quay phim”.

Đặng Xuân Diệu là một trong 14 bị cáo bị Tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An kết án 13 năm tù giam hồi 1/2013 với tội danh Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân theo Điều 79 Bộ Luật Hình sự.

Hôm 13/1, trả lời BBC, Luật sư Trịnh Hội, giám đốc điều hành tổ chức VOICE, cho hay:

“Cách đây khoảng vài tuần, bên EU có chủ động liên lạc với chi nhánh của chúng tôi ở châu Âu để nhờ đứng ra làm giấy tờ bảo trợ cho Đặng Xuân Diệu qua Pháp định cư.”

“Chúng tôi đã vui vẻ nhận lời. Mục tiêu hoạt động của chúng tôi rất đơn giản: thúc đẩy việc bảo vệ nhân quyền và xây dựng xã hội dân sự Việt Nam.”

“Khi bên EU liên lạc với chúng tôi về việc bảo trợ cho Đặng Xuân Diệu thì điều mà chúng tôi quan tâm đến nhất là tình trạng sức khỏe của ông ấy cũng như việc ông liên tục bị ngược đãi trong tù.”

“Việc ông Diệu hoặc một tù nhân lương tâm khác có thuộc tổ chức hay đảng phái nào không thành vấn đề.”

“Miễn là các hoạt động của họ đang thúc đẩy cho một Việt Nam tốt đẹp hơn.”

“Cũng cần nói ngay VOICE là một tổ chức nhỏ, phi chính phủ, phi lợi nhuận đang cùng các tổ chức khác tranh đấu cho một nước Việt Nam dân chủ và nhân bản hơn.”

“Trong đó bao gồm việc kêu gọi trả tự do cho hơn 100 tù nhân lương tâm hiện đang bị cầm tù.”

 

nguyễn văn đài
Bản quyền hình ảnhTRINH HOI
Luật sư Trịnh Hội (bìa phải) và bà Vũ Minh Khánh (vợ luật sư bất đồng chính kiến Nguyễn Văn Đài, thứ ba, phải qua) trong một chuyến vận động

Luật sư cũng cho biết thêm: “Hiện tại, chúng tôi tiếp tục vận động các nước Mỹ, Úc, Canada, và EU để những tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Đài, Trần Huỳnh Duy Thức, Đinh Nguyên Kha… sớm được tự do.”

“Trường hợp của luật sư Nguyễn Văn Đài cũng tương tự như ông Trần Huỳnh Duy Thức. Cả hai chỉ muốn được thả vô điều kiện chứ không phải đi tỵ nạn ở một nước thứ ba.”

“Lúc tôi đi vận động ở Mỹ và châu Âu với bố của ông Duy Thức hay với vợ của luật sư Đài thì cả hai cũng đều nói vậy.”

“Họ chỉ mong là các nước sẽ làm áp lực để người thân của họ được thả ra.”

‘Tôn trọng lựa chọn cá nhân‘

Trả lời câu hỏi của BBC, “Ông nghĩ sao về chọn lựa ở lại hay đi khỏi Việt Nam của tù nhân lương tâm?” ông Trịnh Hội đáp: “Tôi nghĩ đây là câu hỏi mà trước tiên và quan trọng nhất là phải để chính người tù nhân lương tâm đó trả lời.”

“Và chúng ta phải thật sự tôn trọng quyết định của họ. Là những người ở bên ngoài, chúng ta không hiểu hoàn cảnh của họ ra sao và càng không có quyền phán xét.”

“Đi khỏi Việt Nam hay ở lại tùy vào hoàn cảnh của mỗi người và nếu cho mình là những người hoạt động thì bất kỳ ở nơi nào, họ vẫn có thể tiếp tục hoạt động.”

“Ông Điếu Cày và bà Tạ Phong Tần là những thí dụ điển hình.”

“Nếu chỉ nói riêng về hành động thả tù nhân lương tâm của nhà cầm quyền, ý kiến của tôi là càng có nhiều người được thả càng tốt.”

“Tự điều ấy sẽ nói lên những điều khoản lố bịch trong Bộ luật Hình sự Việt Nam cũng như cả hệ thống tư pháp.”

“Phiên này thì xử 7 năm, phiên khác 10 năm, 13 năm. Vài năm sau họ lại buộc phải thả tù nhân vì bị áp lực của cộng đồng quốc tế.”

“Nếu bạn là tôi thì bạn nghĩ sao?”, ông Trịnh Hội hỏi lại.

THÁNH ANTÔN VIỆN PHỤ (Thế kỷ IV)

THÁNH ANTÔN VIỆN PHỤ (Thế kỷ IV)

THANH ANTONE

Thánh Antôn chào đời năm 250 tại Corma, gần Hieraclens, miền thượng Ai cập.  Cha mẹ Ngài nổi danh giàu có lẫn đạo đức, đã lo lắng dạy dỗ Ngài sống đạo ngay từ nhỏ.

Khi được 18 tuổi thì cha mẹ Ngài qua đời.  Sáu tháng sau ngày mất cha mất mẹ, tại một giáo đường, thánh nhân đã nghe đọc lời sách thánh: “Nếu con muốn nên trọn lành, hãy về bán hết của cải và đem phân phát cho kẻ nghèo khó rồi theo Ta” (Mt 19,21).  Tưởng như Thiên Chúa nói riêng với mình đã về bán hết của cải và đem phân phát cho người nghèo khó.

Sau khi lo lắng gửi gấm em gái của mình cho một nữ tu viện, Ngài lui vào sa mạc để làm việc và cầu nguyện, Ngài theo đuổi một cuộc sống rất khắc khổ, chỉ ăn bánh với muối và uống nước ngày một lần sau khi mặt trời lặn.  Để giữ được sự cô tịch trọn vẹn, Ngài còn ẩn thân vào một ngôi mộ bỏ trống.  Thỉnh thoảng một người bạn mang bánh đến cho Ngài nhưng ma quỉ đã tìm cách quấy phá để trục Ngài ra khỏi “căn phòng” và cuộc sống khắc khổ, chúng thường hay la hét và hiện hình kỳ quái.  Phản ứng lại, thánh nhân thường cầu nguyện nhiều hơn và tăng những việc hãm mình.  Giận dữ vì các mưu mô bị thất bại, ma quỉ còn công khai hành hạ Ngài nữa.

Một ngày kia người bạn mang bánh đến, bỗng thấy thánh nhân nửa sống nửa chết, mình đầy thương tích.  Nhưng khi vừa bừng tỉnh, thánh nhân liền chỗi dậy và la lớn: “Tôi còn sẵn sàng chiến đấu.  Lạy Chúa, không, không gì có thể tách lìa con khỏi lòng yêu mến Chúa được.”

Giữa những đau đớn vì các cuộc tấn công của ma quỉ, Ngài khinh bỉ trả lời: “Ồn ào vô ích.  Dấu thánh giá và lòng tin tưởng vào Chúa là những thành trì kiên cố.”

Thánh nhân luôn tin tưởng nơi Chúa.  Ngày kia, được an ủi trong tâm hồn và cảm thấy là ma quỉ đã lùi bước, Ngài cầu nguyện: “Ôi, lạy Chúa, Chúa ở đâu?  Sao Chúa không ở đây lau sạch nước mắt và thoa dịu những dày vò của con?”  Tiếng Chúa trả lời: “Cha ở gần con, cha giúp con chiến đấu.  Bởi vì con đã chống trả lại ma quỉ, cha sẽ bảo vệ quãng đời còn lại của con. Cha sẽ làm cho tên con rạng rỡ trên trời.”

Tràn đầy nghị lực, thánh nhân chỗi dậy tạ ơn Chúa.  Muốn xa mọi người hơn nữa, Ngài vượt sông Nil đến trú ngụ trong một pháo đài hoang phế đầy những rắn rết.  Nhưng sự thánh thiện của Ngài như một sức nam châm, vẫn thu hút nhiều người đến xin làm môn đệ.  Thế là một phong trào ẩn tu nổi lên mạnh mẽ.  Sa mạc mọc lên những mái tranh, từ đó không ngừng vang lên những lời kinh ca khen Chúa.  Thánh nhân trở nên vị thủ lãnh của nếp sống ẩn tu.

Dầu vậy, thánh An tôn đã hai lần từ giã sa mạc.  Vào năm 311 khi có cuộc bách hại của Alaximiô, Ngài nói: “Nào ta cùng đi chiến đấu với anh em ta.”

Ngài lên đường đi Alexandria.  Người ta thấy thánh nhân khích lệ các tù nhân nơi các trại giam, theo họ tới trước quan tòa và khuyên nhủ họ can đảm chết vì đạo, Ngài còn xuống hầm trú để an ủi các linh mục.  Ngài thoát chết là một điều lạ lùng.

Cuộc bách hại chấm đứt được một năm, thánh nhân lại tìm về sa mạc.  Số các môn sinh ngày càng tăng thêm đông.  Sợ bị cám dỗ thành kiêu căng, và thấy gương các thánh tử đạo, thánh Antôn khao khát sống khắc khổ để đền tội.  Ngài tiến sâu hơn nữa vào sa mạc.  Sau ba ngày đi theo đoàn người buôn bán, Ngài dừng lại gần biển Đỏ, dưới chân núi Kolzim và dựng một căn lều vừa đủ để nằm để ở.  Dân Bê-đu-anh (Bédouins) cho Ngài bánh ăn.  Về sau các môn sinh tìm tới và mang cho Ngài một cái xuổng với một ít hạt giống, đây là nguồn gốc của tu viện thánh Antôn hay là Deir-el-Arat, một tu viện theo nghi lễ Cốp (Copte) ngày nay vẫn còn.

Lần thứ hai, thánh nhân trở lại Alexandria theo lời mời của đức giám mục Athanasiô, để chống lại lạc giáo.  Dân chúng cả thành chen lấn nhau đi đón Ngài.  Các lương dân cũng bảo nhau: “Chúng ta đi gặp người của Thiên Chúa.”

Nhiều người cảm động vì những bài diễn thuyết và những phép lạ Ngài làm, đã xin lãnh bí tích rửa tội, người ta tưởng sẽ gặp một lão già tám mươi hoang dại, nhưng đã ngạc nhiên khi thấy Ngài rất lịch thiệp, xử dụng ngôn ngữ văn hóa và diễn tả tư tưởng rất uyên thâm.  Các triết gia ngoại giáo ngạc nhiên hỏi Ngài:

–  Ngài làm gì được trong sa mạc không có sách vở chi hết?  Thánh nhân trả lời:

–  Thiên nhiên đối với tôi là một cuốn sách mở rộng.

Và người ta ngỡ ngàng về những điều thánh nhân đã khám phá được trong cuốn sách vĩ đại này của Đấng Tạo hóa.

Điều đáng kể dường như không phải những nhiệm nhặt Ngài theo đuổi, mà là tâm hồn trong trắng Ngài kết hiệp mật thiết với Chúa, Ngài nói: “Hư danh là kẻ thù nguy hiểm nhứt của chúng ta.”

Danh tiếng của thánh Antôn lan rộng đến nỗi vua Constantinô và con cái ông đã viết thư tham khảo ý kiến Ngài, môn sinh của Ngài hãnh diện lắm.  Nhưng Ngài bảo họ: “Đừng ngạc nhiên lắm khi thấy nhà vua là một con người viết thư cho một con người.  Đáng ngạc nhiên là chính Thiên Chúa đã muốn viết luật cho loài người, và đã nói với chúng ta qua Đức Giêsu Kitô.”

Và trả lời cho lớp người vương giả ấy, Ngài dùng những lời cao thượng để khuyên họ biết khinh chê danh vọng mà nhớ tới cuộc chung thẩm.

Khi Ngài đã quá 90 tuổi, Thiên Chúa qua một thị kiến đưa ngài đến thăm thánh Phaolô ẩn tu trong sa mạc.  Ngài còn được cho biết là sẽ sống tới tuổi 105.

Biết sắp tới giờ từ giã trần gian, Ngài đi thăm anh em Ngài lần chót.  Ngài nói với họ về sự chết với niềm vui của người hồi hương.  Họ đã khóc ròng, nhưng Ngài khuyên nhủ họ: “Hãy sống như phải chết mỗi ngày.  Hãy cố gắng noi gương các thánh.”

Thánh nhân trở lại núi với hai môn sinh.  Trong căn phòng nghèo nàn của mình, Ngài đã phó linh hồn trong tay Chúa lúc 105 tuổi.  Chúng ta biết được ân sủng giai thoại quý báu của đời thánh An tôn là nhờ thánh Athanasiô kể lại.

Giáo hội thưởng công cho thánh nhân

Với một lòng yêu mến Chúa dạt dào, thánh Antôn đã làm gương cho nhiều người về đời sống thánh thiện và các nhân đức siêu việt của Người.  Thánh nhân qua đời ngày 17/01/356 .  Vào năm 561, xác thánh nhân được cải táng trong nhà thờ kính thánh Gioan tiền hô tại Alexandria.  Các Giáo Hội Trung Ðông đã sùng kính thánh Antôn đầu tiên, tràn qua Âu Châu và Giáo Hội đã chính thức tôn phong Ngài lên bậc hiển thánh.

Lạy Chúa, Chúa đã cho thánh Antôn, viện phụ, sống một đời phi thường trong sa mạc để phụng sự Chúa.  Xin Chúa nhận lời người nguyện giúp cầu thay, cho chúng con biết quên mình để một niềm yêu mến Chúa trên hết mọi sự (lời nguyện nhập lễ, lễ thánh Antôn, viện phụ).

 Nguồn: Tổng hợp

Langthangchieutim gởi

MÙ CÓ PHẢI LÀ BẤT HẠNH KHÔNG?

MÙ CÓ PHẢI LÀ BẤT HẠNH KHÔNG?

Khi nghĩ đến người mù, nhất là những người bị mù bẩm sinh, ta thường nghĩ đến hai chữ “tội nghiệp”, “đáng thương”, hay “bất hạnh”.  Dĩ nhiên có khi chính bản thân người mù cảm thấy bất hạnh thật vì họ không được nhìn thấy ánh sáng, không được nhìn thấy vẻ đẹp thiên nhiên, nhất là không được nhìn thấy những người thân yêu của mình.  Và ngay cả khái niệm về màu sắc, họ cũng không biết đến.

Tuy nhiên, giữa người mù và người sáng, chưa chắc ai bất hạnh hơn ai.  Có khi vì mắt sáng tỏ, nên người ta bất hạnh hơn là bị mù loà.  Bằng chứng là trong các vụ án trộm cắp, lường gạt, đâm chém, hiếp đáp, ngoại tình…, ta có thấy thủ phạm nào là người mù không, ngoại trừ những người sáng mắt?  Trong số những dân chơi cuồng quay nơi các vũ trường ngập ngụa ma tuý, thuốc lắc, hàng “đá”, ta có bắt gặp bóng dáng người khiếm thị nào bên cạnh những người mắt sáng ở đó không?  Trước vành móng ngựa xét xử các quan tham vô lại, có lẽ ta cũng khó mà tìm được một bị cáo nào là kẻ mù loà ở đấy; có chăng chỉ toàn là những người cả hai mắt đều tỏ đều tường!!!  Và nếu ta cất công thắp đuốc đi tìm các tù nhân là người mù trong các trại giam, chắc chắn ta sẽ thất vọng vì nơi đó chỉ thấy toàn những người có đủ cả hai mắt.  Vậy thì ai “bất hạnh” hơn ai?  Người mù hay người sáng?  Bởi thế, khi nhìn thấy một người mù, khoan đã cho rằng người đó tội nghiệp, người đó bất hạnh.  Hạnh phúc hay bất hạnh không hệ tại ở việc sáng hay mù cặp mắt thể lý,

nhưng là hệ tại ở việc sáng hay mù cặp mắt tâm hồn, cặp mắt đức tin.

Trong câu chuyện Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, ta thấy Bartimê là một người mù loà, hành khất bên vệ đường ngoại thành Giêricô.  Không biết anh có thuộc “Hội Người Mù” nào hay không!  Song thiết tưởng anh là một người lương thiện. Anh sống bằng những gì kiếm được từ lòng hảo tâm của người khác.  Mặc dù nghèo, nghèo nên phải đi ăn xin, nhưng cuộc đời anh thanh thoát.  Anh sống vô tư giản dị, không bon chen giành giật, không tính toán hơn thua, không đua đòi ăn diện.  Anh cũng không vợ nọ con kia, không rượu bia các thứ.  Có lẽ anh cũng chưa bao giờ phạm vào những tội “đội sổ” của con người thời đại hôm nay: buôn gian bán lận, lậu thuế trốn thuế, tham ô, móc ngoặc, hối lộ, hay rút ruột các công trình xây dựng…  Suốt cả cuộc đời, chắc hẳn anh cũng chưa hề lường gạt, bóc lột hay hãm hại ai.  Tắt một lời, anh sống hoàn toàn ngay chính.

Hơn thế nữa, trong khi rất nhiều người sáng đôi mắt thể lý, lại mù loà trước ánh sáng vô hình, không thể nhận ra Chúa Giêsu là ai, thì anh mù Bartimê này lại “thấy tỏ tường” chính Đức Giêsu là ai.  Anh không van xin Chúa bằng danh xưng “Giêsu Nazareth”, mà dùng danh xưng “Con Vua Đavít” – một danh xưng ám chỉ tước hiệu Đấng Mêsia.  Tiếng kêu lớn tiếng của anh khi bị mọi người ngăn cản: “Lạy Con Vua Đavít”, đồng thời cũng là một lời tuyên xưng niềm tin vào chính Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, Đấng mà anh tin là sẽ phục hồi sự sáng cho anh.  Bởi đó, khi được Chúa Giêsu hỏi anh muốn xin gì, anh không xin Chúa Giêsu mua cho anh mấy tờ vé số, cũng không xin Chúa Giêsu cho anh ít đồng bạc cắc bố thí, như anh đã từng nói với những người qua lại, mà anh chỉ xin Chúa Giêsu cho anh được thấy, tức là được sáng mắt.  Nếu không tin Chúa Giêsu là Đấng có thể mở được mắt cho nguời mù bẩm sinh, anh đã không xin Ngài điều này.

Đồng ý “đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn”, nhưng không phải một khi “cửa sổ” ấy bị đóng vĩnh viễn do mù loà là đương nhiên tâm hồn trở nên tối tăm băng giá như vùng bắc cực đâu.  Ngược lại nữa là khác.  Khi đôi mắt của họ không còn khả năng thấy được những thực tại hữu hình, thì tâm hồn họ lại rất bén nhạy với những thực tại vô hình.  Bởi đó người ta bảo rằng người mù thường cảm nhận rất sâu xa về những thực tại siêu linh, và họ cũng rất nhạy bén trước những nỗi thống khổ của anh em đồng loại.  Nói cách khác, người mù thường có cặp mắt đức tin sáng tỏ, như trường hợp anh mù Bartimê hôm nay.

Dẫu chưa một lần được gặp gỡ hay diện kiến Đức Kitô; chưa một lần được trực tiếp nghe những lời Ngài giảng dạy, cũng chưa một lần được phúc chứng kiến các phép lạ Ngài đã làm; anh chỉ mới được nghe người ta nói về con người của Đức Giêsu; thế mà anh đã tin.  Anh tin một cách mãnh liệt.  Và nhờ niềm tin đó, anh đã gặp được hiện thân lòng nhân hậu của Thiên Chúa, hiện thân của những mối phúc thật là Đức Giêsu Kitô.  Anh được Chúa phục hồi sự sáng, sự sáng của cặp mắt thể lý, và quan trọng hơn là cặp mắt đức tin nơi anh vốn đã sáng nay sáng tỏ hơn.  Từ đây đời anh hoàn toàn đổi mới. Còn hạnh phúc nào bằng?  Anh đã tự nguyện dấn bước theo Chúa trong niềm vui trào tràn.

Sẽ thật hạnh phúc cho tôi, nếu tôi có đôi mắt thể lý lẫn đôi mắt tâm linh sáng ngời.  Ngược lại, sẽ thật bất hạnh biết bao nếu tôi có đôi mắt thân xác sáng tỏ nhưng đôi mắt tâm hồn lại mù tối như đêm ba mươi.  Hãy tạ ơn Chúa vì Ngài đã ban cho tôi có đôi mắt thể lý chưa một lần phải đến bác sĩ nhãn khoa.  Xin Ngài gìn giữ tôi, để đôi mắt đức tin của tôi cũng luôn được tinh tường sáng suốt.  Đặc biệt xin Chúa cho những người mù luôn giữ được cái tâm trong sáng để cuộc đời của họ không bao giờ là “bất hạnh”, là “đáng thương” như người ta vẫn nghĩ.  Amen.

LM Giuse Nguyễn Thành Long

  From: ngocnga_12  và Anh chị Thụ & Mai gởi

Bi quan và lạc quan trong năm mới

Bi quan và lạc quan trong năm mới

Kính Hòa, phóng viên RFA

clip_image002

Một người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long tươi cười và vẫy tay chào Ngoại trưởng Mỹ John Kerry khi tàu chở ngoại trưởng đi ngang túp lều của ông hôm 14/1/2017. AFP photo

Những việc mới

Hai sự kiện văn hóa và cả chính trị, bùng nổ trên không gian mạng Việt Nam trong những ngày đầu năm 2017 là quyển sách về học giả Trương Vĩnh Ký bị thu hồi, và con rồng Hải Phòng.

Học giả Trương Vĩnh Ký vốn không được các nhà làm sử chính thống của Đảng Cộng sản Việt Nam xem là quan trọng vì lý do ông là một trong những người có quan hệ với người Pháp từ sớm. Tuy nhiên ông lại được nhiều người Việt Nam ngưỡng mộ vì kiến thức uyên bác của ông, cùng những tác phẩm về ngôn ngữ, về văn hóa Việt Nam mà ông để lại cho đời.

Với tựa đề rất khiêm tốn “Petrus Ký, nỗi oan thế kỷ” của tác giả Nguyễn Đình Đầu những tưởng sẽ được ra mặt công chúng trong thời điểm cách xa đến hơn 30 năm sau cuộc cải cách thể chế kinh tế xã hội đầu tiên của Đảng Cộng sản. Nhưng “ai đó” đã ra lệnh thu hồi cuốn sách. Và “Ai đó” cũng là tựa đề của bài viết về câu chuyện văn hóa chính trị này của blogger, nhạc sĩ Tuấn Khanh.

Trong bài viết này tác giả giới thiệu cho độc giả khái niệm “ai đó” trong xã hội cộng sản, một quyền lực thực sự, không mang tên, và tất nhiên không mang một trách nhiệm nào cả. Và “ai đó” không chỉ là nguyên nhân của việc rút bỏ tác phẩm “Petrus Ký, nỗi oan thế kỷ” mà còn là quyền lực đã ra tay xóa bỏ nhiều nhân vật lịch sử của Việt Nam.

“Ai đó” đã xóa từng phần lịch sử Việt Nam chống giặc phương Bắc ra khỏi trí nhớ các thế hệ một cách rất hệ thống, âm mưu bỏ phần giáo dục lịch sử của quê hương, ghép vào môn Công dân. Và “ai đó” cũng cổ vũ việc in sách ca ngợi các kẻ xâm lược khát máu Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình… cho các thế hệ mới. “Ai đó” cũng dựng nên các câu chuyện dối trá như Lê Văn Tám nhưng không quên trừng mắt chà đạp các nhân vật có thật như Phạm Quỳnh, Trương Vĩnh Ký. Lê Văn Duyệt, Bá Đa Lộc…

Tuấn Khanh cũng kể lại câu chuyện của ông năm xưa khi đi thăm tượng đài cụ Phan Thanh Giản tại một ngôi trường, một nhân vật cũng bị “ai đó” muốn xóa bỏ khỏi lịch sử. Tuấn Khanh và các bạn bè của ông phải bỏ đi khi bị các nhân viên bảo vệ hung hăng cản trở.

Về học giả Trương Vĩnh Ký, nhà văn Mạnh Kim viết:

Dường như người ta vẫn còn “sợ” những vĩ nhân thật sự như cụ Trương? Hay là chân dung vĩ đại của một học giả thông kim bác cổ như cụ Trương có thể làm mờ nhạt đi hình ảnh một bọn học lóm mà xét về học thuật lẫn nhân cách khi so với cụ Trương chỉ đáng là một đám hạ tiện? Mà cần gì phải cấm ở thời mà không gian mạng có thể cho biết đâu là một bậc chân học giả và đâu là phường tiểu nhân vô học luôn tự nhận mình là cha thiên hạ!

Câu chuyện Petrus Ký mang tính chính trị đã rõ, nhưng tại sao con rồng Hải Phòng cũng mang tính chính trị. Mà con rồng Hải Phòng là gì?

Đó là một công trình hoa lá màu vàng, hình rồng được thành phố Hải Phòng dùng hàng tỉ đồng để trang trí cho thành phố nhân dịp đầu xuân. Công luận chê con rồng này quá xấu. Blogger Đoan Trang thì gọi nó là con rồng đầu Pikachu, một quái thú truyện tranh Nhật Bản.

Hãy nghe blogger Cánh Cò để hiểu tại sao con rồng Hải Phòng mang tính chính trị. Cánh Cò nói rằng con rồng là một con vật không có thật, nó cũng không có thật như xã hội chủ nghĩa. Nó đã được tưởng tượng ra vào thời phong kiến, và lạ kỳ thay nó vẫn tồn tại tới ngày nay dưới chế độ cộng sản vốn tự mệnh danh là đả thực bài phong.

Trước sức ép của công luận, người ta đã dở bỏ con rồng Hải Phòng:

Nhưng trước khi tự biến mất vào không gian vô tận con rồng “tạp giống” này là một câu chuyện hay ho nói về quyền lực và quần chúng. Nó nằm chễm chệ tại một con đường đẹp nhất Hải Phòng bởi sự cho phép của quyền lực. Quyền lực từ thể chế Đảng, âm ỉ và luôn có xu hướng phò “phong kiến” tuy âm thầm nhưng chưa bao giờ vắng bóng trong mọi sinh hoạt của người cộng sản. Phong kiến thờ rồng, lấy kiểu dáng của nó làm chủ đạo. Vua luôn mặc áo màu vàng vì đó là màu của rồng theo hình ảnh mà dân gian tạo ra từ hàng ngàn năm trước.

Con rồng vàng đất cảng không ra ngoài ước vọng âm thầm của lãnh đạo Hải Phòng khi tự cho phép mình một ảo vọng về “cửu trùng” ngay trong triều đại mà cộng sản chỉ tôn sùng màu đỏ.

Con rồng vàng Hải Phòng suy cho cùng chỉ là sản phẩm dị hình của một thể chế hợm hĩnh. Nó không những điển hình cho sự dốt nát về tính thẩm mỹ mà còn phần nào chứng minh tính cách của hệ thống cầm quyền: thờ phụng thứ lý luận tạp nham dưới nhãn mác con rồng Xã hội chủ nghĩa.

Những việc cũ

Một chuyện đã cũ của năm 2016, nhưng chưa chấm dứt trong năm 2017, đã vậy nó còn được các giới chức vô tình xới lên làm công luận tức giận. Đó là chuyện Bộ Tài nguyên và Môi trường không xếp thảm họa Formosa Vũng Áng nằm trong những sự việc nổi bật trong lĩnh vực môi trường trong năm 2016. Bạch Hoàn viết trên mạng xã hội:

clip_image004

Công nhân trang trí cho Tết Nguyên đán sắp tới tại Hà Nội, ảnh chụp hôm 13/1/2017. AFP photo

Ông Trần Hồng Hà làm quan rất to. Nhưng chắc là ông chưa được dạy rằng, làm quan là lo trước cái lo của thiện hạ, vui sau cái vui của thiên hạ.

Thế nên, trong con mắt của ông Trần Hồng Hà, hàng trăm ngàn người dân miền Trung khốn khổ phải tha hương cầu thực, chẳng thể nào có sức nặng bằng vài hoạt động của cán bộ của ngành này.

Thế nên, trong con mắt ông Trần Hồng Hà, hàng ngàn lá đơn của ngư dân miền Trung kiện Formosa cũng chẳng thể nào có sức nặng bằng những thứ mang lại thành tích cho ngành này.

Ông Trần Hồng Hà là đương kim Bộ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường của Việt Nam.

Câu chuyện cũ hơn, kéo dài từ rất lâu mà dường như chưa có lối ra là chuyện dân chủ hóa Việt Nam.

Có những cái nhìn tuyệt vọng về câu chuyện này.

Tác giả Định An dẫn lời một đại tá về hưu trên trang Dân Luận:

Việt Nam bây giờ như thế này có sự góp phần của thế hệ như tôi, nhưng lúc đó không ai cho rằng nó sai, con đường đó là không đúng. Thế hệ trước tôi và tôi đã say mê lý tưởng cộng sản và chết bởi nó. Đến bây giờ nhiều người vẫn không thức tỉnh, họ vẫn sống với ảo vọng từ quá khứ huy hoàng, và những kẻ thức tỉnh lại chọn cách sống im lặng mặc cho đất nước bị tàn phá.

Blogger Người Buôn Gió cũng có cái nhìn tương tự khi ông nhìn lại năm 2016. Ông viết rằng Môt sự xuống sức dần dần, mòn mỏi, từ từ, theo thời gian ngấm vào thể trạng đất nước Việt Nam là điều đang diễn ra và sẽ diễn ra tiếp tục. Điều này thật đáng tiếc lại phản ánh đúng hiện thực hơn.

Trong bài viết và cũng là câu hỏi rằng nền chính trị độc tài của Việt Nam có tồn tại dài lâu hay không, blogger Nguyễn Thị Từ Huy đưa ra bốn nguyên nhân có thể làm chế độ hiện nay sụp đổ, đó là tha hóa chính trị, khủng hoảng xã hội, thảm họa môi trường, khủng hoảng kinh tế. Bà cũng nhìn về năm 2016, nhưng với ánh mắt lạc quan hơn:

Một số hiện tượng xã hội tiêu biểu diễn ra trong năm 2016 khiến người ta có thể hình dung một năm 2017 cũng sẽ không kém phần sôi động. Lần đầu tiên các ứng viên độc lập tham gia ứng cử Quốc hội tạo thành một phong trào, thu hút không chỉ các nhà hoạt động xã hội mà cả các nghệ sĩ và các thành phần tự do trong xã hội. Lần đầu tiên hơn mười ngàn người dân đã xuống đường bảo vệ môi trường sống trong tinh thần ôn hoà bất bạo động, trong tình yêu cuộc sống và trong tình yêu của Thiên chúa. Lần đầu tiên xảy ra hiện tượng một MC truyền hình kêu gọi hỗ trợ đồng bào vùng bão lụt chỉ sau ba ngày nhận được 16 tỷ đồng, gợi lên nhiều phân tích bình luận, nhưng có lẽ bình luận đáng ghi nhớ nhất là : hiện tượng này trả lại ý nghĩa cho hai từ “minh bạch” trong một xã hội đặc trưng bởi sự tham nhũng.

Trước tình hình như vậy, nhà hoạt động dân quyền trẻ tuổi Nguyễn Hồ Nhật Thành viết:

Đừng trông chờ một lãnh tụ hay một đảng phái nào có thể làm điều này giúp chúng ta vì nếu một lãnh tụ hay một đảng phái nào có khả năng giải phóng chúng ta thì họ cũng sẽ có khả năng trói chúng ta lại lần nữa. Cuộc chuyển đổi trong tương lai phải là cuộc chuyển đổi từ sức mạnh quần chúng thông qua nền tảng của các hội, nhóm xã hội dân sự độc lập.

Dân quyền không chỉ là những quyền tự do cơ bản mà còn là một kiểu thức văn hóa. Khi mỗi người ý thức và thực hành được quyền của mình thì họ sẽ trở nên tôn trọng quyền của người khác. Xã hội sẽ tốt đẹp hơn nếu mỗi người có thể tự do sống với quan điểm của mình mà không cần phải “đeo mặt nạ”, không sợ bị gọi là “phản động” hay những sự miệt thị khác.

Nguyễn Thị Bích Ngà cũng có niềm lạc quan như vậy trong một đoạn văn tự phán trên facebook:

Tôi không xuống đường, tôi không đi làm phóng sự, tôi chẳng dám mạnh mẽ, tôi cũng chẳng chi đồng chó nào để giúp họ đấu tranh thì tôi làm đếch gì cho phép mình cái quyền phê phán hay bảo họ phải làm gì. Nếu tôi có chi tiền thì tôi cũng không được phép chờ đợi ở họ vì tôi phải biết con số tôi bỏ ra là quá nhỏ so với những gì họ đã bỏ ra. Chờ đợi và thúc giục đến khi chưa được như ý thì phê phán và phủ nhận là hành động vô duyên, không tử tế. Và, nhiều người đang bị mắc lỗi tâm lý chờ đợi này rất nặng, trong đó có tôi.

Thay vì chờ đợi vào người khác, mình hãy tự làm được gì thì làm, không làm được thì hãy giúp người đang làm trong khả năng tốt nhất mà mình có thể. Vậy thôi. Đừng để tâm lý chờ đợi làm mình trở thành người vô duyên, kỳ cục và mất niềm tin!

Đó cũng là niềm tin của nhà hoạt động dân sự trẻ tuổi Nguyễn Anh Tuấn, khi anh nhớ lại những ngày phải cải trang trốn tránh nhà cầm quyền trong vụ bê bối môi trường Formosa. Anh đã nghe những vị chức sắc tôn giáo vùng Hà Tĩnh khuyên bảo giáo dân không bán hải sản nhiễm độc dù rằng có thể không còn phương tiện sinh nhai nào khác. Nguyễn Anh Tuấn viết rằng ngay lúc đó tôi biết rằng tôi, gia đình tôi, người thân của tôi nợ những người dân nơi đây một lời cảm ơn, vì họ thà chịu đói chứ không đẩy cá độc ra thị trường gây hại cho chúng tôi. Và cũng lúc đó, tôi biết, dân tộc mình vẫn còn hy vọng.

K.H.

Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/programs/ReadingBlogs/pessimism-n-optimism-in-the-new-year-kh-01162017073053.html

Here I am Lord

httpv://www.youtube.com/watch?v=EcxOkht8w7c&feature=youtu.be

Here I am Lord with lyrics

HỊCH TƯỚNG SĨ thế kỷ 21.

From facebook :  Hoàng Vũ‘s post.

Image may contain: 1 person, text

Hoàng Vũ with Nguyễn Công Lý and 43 other

 HỊCH TƯỚNG SĨ thế kỷ 21.

Ta cùng các ngươi
Sinh ra phải thời bao cấp
Lớn lên gặp buổi thị trường.
Trông thấy:
Mỹ phóng Con thoi lên vũ trụ chín tầng
Nga lặn tàu ngầm xuống đại dương nghìn thước
Nhật đưa rô bốt na nô vào thám hiểm lòng người
Scôtlen dùng công nghệ gen chế ra cừu nhân tạo.
Thật khác nào:
Đem cổ tích mà biến thành hiện thực
Dùng đầu óc con người mà thay đổi thiên nhiên!
Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa
Chỉ giận chưa thể đuổi kịp nước Nga, vượt qua nước Mỹ, mà vẫn chỉ hơn Lào, hao hao Băng la đét.
Dẫu cho trăm thân này phơi trên sao Hỏa, nghìn xác này bọc trong tàu ngầm nguyên tử, ta cũng cam lòng.
Các ngươi ở cùng ta,
Học vị đã cao, học hàm không thấp
Ăn thì chọn cá nước, chim trời
Mặc thì lựa May Mười, Việt Tiến
Chức nhỏ thì ta… quy hoạch
Lương ít thì có lộc nhiều.
Đi bộ A tít, Cam ry
Hàng không Elai, Xi pic.
Vào hội thảo thì cùng nhau tranh luận
Lúc tiệc tùng thì cùng nhau “dô dô”.
Lại còn đãi sỹ chiêu hiền
Giáo sư, tiến sỹ, thạc sỹ, cử nhân, ai cũng có phần, không nhiều thì ít.
Lại còn chính sách khuyến khoa
Doanh nghiệp, giáo viên, trí thức, nông dân nhận cúp, nhận bằng còn thêm tiền thưởng.
Thật là so với:
Thời Tam quốc bên Tàu, Lưu Bị đãi Khổng Minh,
Buổi hiện đại bên Nga, Pu tin dùng Mét vê đép,
Ta nào có kém gì?
Thế mà, nay các ngươi:
Nhìn khoa học chậm tiến mà không biết lo
Thấy công nghệ thụt lùi mà không biết thẹn
Giáo sư ư? Biết “Thần đèn” chuyển nhà mà chẳng chạnh lòng
Tiến sỹ a? Nghe “Hai lúa” chế tạo máy bay sao không tự ái?
Có người lấy nhậu nhẹt làm vui
Có kẻ lấy bạc cờ làm thích
Ham mát xa giống nghiện “u ét đê”
Ghét ngoại ngữ như chán phòng thí nghiệm
Chỉ lo kiếm dự án để mánh mánh mung mung
Không thích chọn đề tài mà nghiên nghiên cứu cứu
Ra nước ngoài toàn muốn đi chơi
Vào hội thảo chỉ lo ngủ gật
Bệnh háo danh lây tựa vi rút com pu tơ
Dịch thành tích nhiễm như cúm gà H5N1
Mua bằng giả để tiến sỹ, tiến sy
Đạo văn người mà giáo sư, giáo sãi.
Thử hỏi học hành như rứa, bằng cấp như rứa, thì mần răng hiểu được chuyện na niếc na nô?
Lại còn nhân cách đến vậy, đạo đức đến vậy, thì có ham gì bút bút nghiên nghiên.
Cho nên:
“Tạp chí hay” mà bán chẳng ai mua
“Công nghệ tốt” mà không người áp dụng.
Đề tài đóng gáy cứng, chữ vàng, mọt kêu trong tủ sắt
Mô hình xây tường gạch, biển xanh, chó ị giữa đồng hoang.
Hội nhập chi, mà ngoại ngữ khi điếc, khi câm?
Toàn cầu chi, mà kiến thức khi mờ, khi tỏ?
Hiện đại hóa ư? vẫn bám đít con trâu
Công nghiệp hóa ư? toàn bán thô khoáng sản
Biển bạc ở đâu, để Vi na shin nổi nổi chìm chìm?
Rừng vàng ở đâu, khi bô xít đen đen đỏ đỏ?
Thật là:
“Dân gần trăm triệu ai người lớn
Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con”!
Nay nước ta:
Đổi mới đã lâu, hội nhập đã sâu
Nội lực cũng nhiều, đầu tư cũng mạnh
Khu vực có hòa bình, nước ta càng ổn định
Nhân tâm giàu nhiệt huyết, pháp luật rộng hành lang
Thách thức không ít, nhưng cơ hội là vàng!
Chỉ e:
Bệnh háo danh không mua nổi trí khôn
Dịch thành tích chẳng làm nên thương hiệu.
Giỏi mánh mung không lừa nổi đối tác nước ngoài
Tài cờ bạc không địch nổi hắc cơ quốc tế.
Cặp chân dài mà nghiêng ngả giáo sư
Phong bì mỏng cũng đảo điên tiến sỹ.
Hỡi ôi,
Biển bạc rừng vàng, mà nghìn năm vẫn mang ách đói nghèo
Tài giỏi thông minh, mà vạn kiếp chưa thoát vòng lạc hậu.
Nay ta bảo thật các ngươi:
Nên lấy việc đặt mồi lửa dưới ngòi pháo làm nguy;
Nên lấy điều để nghìn cân treo sợi tóc làm sợ
Phải xem đói nghèo là nỗi nhục quốc gia
Phải lấy lạc hậu là nỗi đau thời đại
Mà lo học tập chuyên môn
Mà lo luyện rèn nhân cách
Xê mi na khách đến như mưa
Vào thư viện người đông như hội
Già mẫu mực phanh thây Gan ruột, Tôn Thất Tùng chắc cả trung đoàn
Trẻ xông pha mổ thịt Bổ đề, Ngô Bảo Châu cũng dăm đại đội
Được thế thì:
Kiếm giải “Phiu” cũng chẳng khó gì
Đoạt Nô ben không là chuyện lạ
Không chỉ các ngươi mở mặt mở mày, lên Lơ xút, xuống Rôn roi
Mà dân ta cũng hưng sản, hưng tâm, vào Vi la, ra Rì sọt.
Chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu
Mà tổ tiên các ngươi cũng được bốn mùa thờ cúng,
Chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí,
Mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm.
Chẳng những tên tuổi ta không hề mai một,
Mà thương hiệu các ngươi cũng sử sách lưu truyền.
Trí tuệ Việt Nam thành danh, thành tiếng
Đất nước Việt Nam hóa hổ, hóa rồng
Lúc bấy giờ các ngươi không muốn nhận huân chương, phỏng có được không?
Nay ta chọn lọc tinh hoa bốn biển năm châu hợp thành một tuyển, gọi là Chiến lược
Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này theo lời ta dạy bảo thì suốt đời là nhà khoa học chính danh.
Nhược bằng không tu thân tích trí, trái lời ta khuyên răn thì muôn kiếp là phường phàm phu tục tử.
Vì:
Lạc hậu, đói nghèo với ta là kẻ thù không đội trời chung
Mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn trừ hung, không lo rửa nhục
Chẳng khác nào quay mũi giáo mà đầu hàng, giơ tay không mà thua giặc.
Nếu vậy rồi đây khi nước Việt hóa hổ, hóa rồng, ta cùng các ngươi há còn mặt mũi nào đứng trong trời đất này nữa?
Cho nên mới thảo hịch này
Xa gần nghiên cứu
Trên dưới đều theo!

Fb Nguyễn Đình Đức

CHÂN DUNG DLV

Thảo Tâm and Tuong Dang shared Tòng Thanh Phạm‘s post.
Image may contain: 1 person, sitting and text
Tòng Thanh Phạm with Bùi Huy Nhiễm and 3 others.

CHÂN DUNG DLV

Bọn côn đồ xã hội đen do CSVN nuôi dưỡng và xử dụng để làm gì?
Bọn côn đồ xã hội đen này được dùng đơn lẻ như những tên chém mướn, đòi nợ thuê, nhưng khi cần thì sẽ được biến thành lực lượng “quần chúng phẫn nộ tự phát”!
Lực lượng này tự nguyện lòn lách, lèo lái con người trong xã hội theo ý muốn của cộng sản một cách vô tình. Có nghĩa là họ bị lợi dụng mà không hề biết rằng mình đã bị lợi dụng. Họ chỉ biết nhắm mắt hả họng mà ca những giáo điều sáo rỗng, bênh vực những kẻ đã tước đoạt mọi quyền tự do mà con người sinh ra phải đương nhiên được hưởng; bảo vệ những kẻ đã ăn chận, vơ vét mồ hôi nước mắt của người dân; tôn thờ những tên gian ác đã một thời tàn sát đồng loại chỉ vì những chủ thuyết ngoại lai; truyền bá những cái “gương đạo đức” của một kẻ cực kỳ gian manh xảo quyệt suốt một đời ném đá dấu tay, giả nhân giả nghĩa.
Những kẻ này theo dõi từng lời nói, hành động của đồng bào để báo cáo chỉ điểm mà điển hình là những Đoàn viên đã đến trường chỉ để theo dõi báo cáo bạn học, giúp công an dập tắt ngay từ trong trứng nước ý muốn biểu tình để biểu lộ lòng yêu nước của sinh viên học sinh vừa qua!
Những kẻ này phỉ báng bất cứ ai nói lên sự thật, thóa mạ bất cứ ai nói lên những sai trái của CHỦ mà không cần biết thế nào là lẽ phải, đúng sai…
Nhưng một sự thật hiển nhiên là những việc làm đó CHỈ KHẢ THI Ở VN MÀ THÔI, đơn giản chỉ vì người dân các nước khác không bao giờ cho phép nhà cầm quyền của họ làm như thế, họ không bao giờ chấp nhận bị biến thành cái loại người như thế!

Đông Phương