XUÂN ĐÃ VỀ [CHÚC MỪNG NĂM MỚI-XUÂN ĐINH DẬU]

httpv://www.youtube.com/watch?v=T4aY59UKKJY&list=PLTOW-LJ7Z_dpT6pPN5bkkcYxM5CzwaSdI&spfreload=5

XUÂN ĐÃ VỀ [CHÚC MỪNG NĂM MỚI-XUÂN ĐINH DẬU] -Minh Kỳ -Vô Thường Guitar & Quang Dũng

httpv://www.youtube.com/watch?v=DF0IBaaqpZA&index=5&list=PLTOW-LJ7Z_dpT6pPN5bkkcYxM5CzwaSdI

MƯA SÀI GÒN CÒN BUỒN KHÔNG EM -Nguyệt Ánh -Thiên Kim -NNS (Super HD)

Hà Nội mùa này vắng những cơn mưa,

Suy Tư Tin Mừng Trong tuần thứ 5 thường niên năm A 05/02/2017

Tin Mừng: (Mt 5: 13-16)

“Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi.

“Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.

 *     *     *

“Hà Nội mùa này vắng những cơn mưa,”

cái rét đầu đông, giật mình bật khóc.

Hoa sữa thôi rơi, mỗi chiều tan học,

Cổ Ngư xưa, lặng lẽ dấu chân buồn.

(dẫn từ thơ Bùi Thanh Tuấn)

  Mai Tá lược dịch

Hà Nội vắng mưa, Cổ Ngư buồn. Phải chăng buồn này, buồn thế kỷ? Nhà Đạo vắng Chúa, chắc mất vui. Vui/buồn nhà Đạo, nay vẫn do người mình một lòng theo Chúa, sống bình yên.

Bình yên nhà Đạo, được thánh Mát-thêu ghi rõ ảnh hình về cộng đoàn tín hữu, ở đoạn cuối “Bài giảng trên núi”. Ảnh hình, về “Muối cho đời” và “đèn thắp sáng thế gian”, ý của thánh sử muốn nói về Hội thánh Chúa sống ở chốn gian trần.

 Muối là chất được sử dụng trong hầu hết các buổi ăn kiêng. Muốn cho thực phẩm giữ được lâu ngày, thêm mùi vị, người xưa vẫn dùng muối giúp cho cây mau phát triển. Dân du mục lại dùng muối như biểu tượng của tình huynh đệ, của thủy chung, tiết hạnh. Nên, khi họ nói: “giao ước muối” là nói đến tình đệ huynh. Muối đem vào cuộc sống hàng ngày một chút thi vị, rất linh thiêng.

Bởi thế nên, khi Chúa bảo: “Các con là muối cho đời” là Ngài có ý khuyên: hãy làm cho thế giới nên khác biệt. Khác theo nghĩa tích cực. Khác, không như Cựu Ước, có câu truyện vợ ông Lót vì ngoái cổ tiếc nuối dĩ vãng, nên thành cột muối. Nếu vậy, ta nên làm gì? Làm muối cho đời, hướng về phía trước với mọi người, hay cứ ngoái cổ về sau để thành cột muối như vợ ông Lót? Cái đó còn tuỳ mỗi người. Tuỳ góc độ, từ đó ta tiếp cận cuộc đời.

Rõ ràng, mọi người không thể giấu đèn dưới gầm giường, nhưng đặt nó trên giá đèn, để mọi người thấy ánh sáng. Thứ ánh sáng không hạn chế, không kỳ thị một ai. Người xưa có thói quen xây thành phố/đô thị trên đồi, hoặc ở đỉnh núi để mọi người nhìn thấy mà đến. Thành Giêrusalem là ví dụ điển hình. Là cộng đoàn tín hữu Đức Kitô, mọi người vẫn là và phải là kẻ thắp lên ánh sáng. Là, người tạo cho thế giới quanh ta nên khác biệt.

Điều đó có nghĩa gì? Là, cần rao giảng cho mỗi người phải sống nền văn hoá mới, cần rao giảng cho mỗi người. Nhưng, rao giảng cách nào? Trong tư thế nào?

Ngày nay, sống giai đoạn mới của lịch sử Đạo Chúa, ta cần nói lên điều đó. Nói rằng, ta đã sống đích thực tinh thần của Công Đồng Vatican II. Sống cuộc đời đổi mới vẫn tiếp diễn, quyết canh tân cuộc đời người Công Giáo. Đổi mới thế giới, ở vào thời kỳ “hậu- hiện đại”, chứ không theo chiều hướng tệ bạc, ngày càng mất đi giá trị đạo đức.

Thế giới với thế gian, nay dường như đã chào thua, để mặc con tạo xoay vần. Chẳng còn hy vọng vào cuộc sống đích thực Chúa vẫn khuyên dạy. Đức Giáo Hoàng Phanxicô gọi đó là “văn hoá của sự chết”. Thế giới nay mất đi niềm tự tin quí hiếm. Bởi thế nên, Hội thánh lại khuyên nhủ con dân mọi người hãy khám phá chính mình như con người có tư cách và niềm tự tin, khiến mọi người thấy được rằng mình xứng đáng là dân con Đức Chúa, có khả năng tân tạo thế giới. Khả năng, tạo khác biệt.

 Văn hoá phàm trần, thành thị nay đặt hết hy vọng vào tiến trình vật chất và phát triển kỹ thuật. Nhưng, văn hoá phàm trần ngày càng thấy mình trống rỗng vắng lạnh, vô nghĩa. Ngày nay, dù không còn chủ trương “chống Đạo” nữa. Nhưng, chủ thuyết “vô thần mới” lại vẫn tìm cách bắt bẻ tôn giáo. Bắt bẻ, cả Công giáo, Tin Lành, lẫn Chính Thống, Do Thái giáo. Tìm mọi cách, để chối bỏ tính siêu việt của Đạo chẳng còn muốn nghe ai phân bua, diễn giải nữa.

Hội thánh, nay nói gì với thế giới phàm trần?

Cách đây 50 năm, Hội thánh tỏ ra vẫn có niềm tin thật vững chắc. Giáo dân, ai cũng có điểm son nào đó làm di sản. Nay, thì không. Giáo dân, nay chọn sự toàn vẹn của đời tín hữu. Chọn lối sống của đồ đệ Đức Kitô. Chọn, thực hiện công trình của người thừa sai do Hội thánh uỷ thác. Mục vụ hôm nay không còn là động thái muốn làm thì làm, hết muốn thì thôi. Mục vụ, nay là chuyện sống còn của Hội thánh. Giáo dân hôm nay đã biết đi vào trọng điểm của niềm tin. Biết thực hiện mục tiêu mà Hội thánh đề ra, cho mọi người.

Hội thánh muốn mọi người đem Tin Mừng đến với mọi nơi, như thời tiên khởi. Đem Lời Chúa đến với người thị thành đang sống kiếp tục trần, Lời Chúa sẽ xuyên suốt như thực tại mới mẻ. Lời Ngài đòi hỏi xã hội và cả Hội thánh Chúa phải đổi thay. Đổi và thay, để không còn đắm chìm trong quá khứ và hiện tại đầy chuyện tiêu cực. Xem thế, thì Hội thánh phải có chỗ đứng mới trong thế giới đã đổi mới. Cách nào ư? Dưới đây là một vài phương cách để thực hiện:

Văn hoá của thế giới phàm trần đang trải nghiệm nhiều vấn đề xuất tự bên trong. Trải nghiệm một hiện diện của nhiều nhóm tôn giáo đôi khi kình chống, khích bác nhau. Một đất nước như Úc Châu nay khó mà gọi được là quốc gia theo tinh thần của Đạo Chúa, như trước nữa. Bởi, tín hữu Đạo Chúa nay đang chung sống với nhiều tôn giáo khác, dù ít người.

Bởi thế nên, dân con Đạo Chúa cần tìm nơi Tin Mừng điều gì đó mới mẻ và thích hợp với mọi người. Bởi, ngày nay mọi người đều không còn chịu ảnh hưởng của văn minh Kitô giáo nữa. Ngày nay, thế giới phàm trần lại cần khám phá ra rằng Đức Kitô là Đấng cứu độ mọi người. Bất kể họ là sắc dân, tôn giáo hoặc thờ phượng Đấng nào đi nữa. Ngày nay, phải quan niệm Lòng thương xótcủa Chúa đã và còn thể hiện trong lịch sử và cuộc sống của mọi nhóm hội/đoàn thể, mọi cộng đoàn tôn giáo/sắc tộc. Nói thế, không có nghĩa bảo rằng: mọi tôn giáo đều ngang bằng nhau. Nhưng, nói thế để hiểu rằng mọi tôn giáo đều phải được tôn trọng ngang nhau, bằng nhau.

Nếu vậy, tín hữu Đạo Chúa nên ứng xử như thế nào với tình thế mới này?

Niềm xác tín lâu nay trả lời, rằng: mọi người có cơ hội đồng đều. Được kính trọng như người có phẩm cách. Và, là người có những quyền căn bản ngang đồng. Xác tín này bắt nguồn từ Đạo Chúa. Và, xác tín này đặt tin tưởng theo cung cách mọi người/mọi vật được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. Mọi người đều giống Chúa. Đây, là ý tưởng mang tính Kitô giáo. Động thái này đang có mặt qua cung cách đặc biệt của nền văn minh Âu Tây. Ta nhận ra điều đó từ Kinh thánh. Chí ít, là từ Tin Mừng. Bằng chứng, là: văn minh Âu Tây xưa nay vẫn không có chỗ cho hệ thống giai cấp như văn minh Ấn.

Ngày nay, nhiều dấu hiệu cho thấy: tín hữu Đức Kitô vẫn nhận được những thông điệp như thế ngang qua văn hoá hiện thời. Ai cũng có thể liệt kê danh sách các động thái quyết chứng minh rằng: mọi người vẫn hành xử như các Kitô hữu. Cả, người không theo Đạo. Cả người tự cho mình là vô thần cũng nhận ra được điều ấy. Các ví dụ rất dễ kể ra, như: lòng cảm thông/thương xót người nghèo túng. Sự tôn trọng bản vị con người. Niềm ước ao được kết đoàn. Lòng quyết tâm đòi công minh chính trực. Ước vọng được thấy tình thương yêu mọi người trở thành hiện thực. Tất cả để khẳng định rằng: mọi giòng giống/sắc tộc, văn hoá đều có phẩm cách như nhau.

Khi ta duy trì các giá trị của nền văn hoá theo cách ấy, ta càng trở nên muối cho đời. Càng trở thành ánh sáng đặt trên bục cao, để mọi người được nhìn thấy. Càng trở nên thành thánh xây trên núi. Vấn đề còn lại, là: hãy tiếp tục sống như thế. Sống, nhưng không phải là sống văn hoá của sự chết. Mà là văn hoá sinh động, của mọi thời.

Đó, là ý nghĩa mà thánh sử Mát-thêu ghi lại trong bài trình thuật, rất hôm nay. Một văn hoá, mà nhà thơ trên vẫn diễn tả bằng ngôn từ rất thi tứ. Rất Hà Nội, như sau:

“Hà Nội trời buồn nhớ mắt người yêu.

Nhớ góc phố nhớ hàng me kỷ niệm.

Nhớ buổi chia tay mắt đầy hoa tím.

Ngõ hoa giờ hút dấu gót hài xưa.” (Bùi Thanh Tuấn – Chia tay Người Hà Nội)

Chia gì thì chia, cũng đừng buồn. Bởi, niềm vui chính là văn hoá của sự sống. Văn hoá, của tình thương, Chúa vẫn dạy. Của, Tin Mừng Đức Kitô là niềm vui muôn thuở, mọi văn hoá.

Lm Kevin O’Shea CSsR biên-soạn –

  Mai Tá lược dịch

Video: Nguyệt Cầm (Cung Tiến) – Khánh Ly

https://www.youtube.com/watch?v=AXkn1au9xso

Đêm, mùa trăng úa …làm vỡ hồn ta.

Chuyện Phiệm Đọc Trong Tuần thứ 5 mùa Thường niên năm A 05/02/2017

“Đêm, mùa trăng úa …làm vỡ hồn ta.”
Ngập ngừng xa…suối thu dồn lá úa trôi qua.
Sầu thu, sầu lên vút mịt mù, mà e nhớ hương mùa thu.
Trăng Tầm Dương lung linh bóng sáng,

từng thoáng lệ ngân, mà hồn phân vân cuồng điên nhớ.
Long lanh tiếng Nguyệt Cầm, tiếng đàn trầm.
Ai nhớ nương tử một đêm nao trăng thanh trong lời hát…

chết theo nước xanh…Chết theo nước xanh…
Ôi, đàn trăng cũ làm vỡ hồn anh…”

(Cung Tiến – Nguyệt Cầm)

(Mt 10: 8-10)

Trần Ngọc Mười Hai

“Ôi, đàn trăng cũ làm vỡ hồn anh!” Chao ôi là lời hát, rất âm-nhạc! “Long lanh tiếng Nguyệt cầm, tiếng đàn trầm”, “chết theo nước xanh”, Ối chà là thi ca, rất ấn-tượng!

Vâng. Quả có thế. Thi-ca và âm nhạc, bao giờ cũng gây ấn-tượng cả nơi người hát lẫn người nghe. Chẳng thế mà, người người lại cứ mời bạn/mời tôi ta cứ nghe câu hát để đời, tiếp theo đây:

“Long lanh long lanh … trăng chiếu một mình,
chơi vơi chơi vơi … nhạc lắng tơ ngơi
Nguyệt cầm ơi! từng lệ ngân, chết từng mùa Xuân…
Đêm, ngời men nhớ…Nhạc tê ngời thuở xưa.
Trăng sầu riêng chiếc…

Trăng sầu riêng chiếc, sầu cho tới bao giờ?
Hồn ghê bốn bề sao ngợp hồn xanh biếc trời cao.
Kià thuyền trăng, trăng nhớ Tầm Dương, nhớ nhạc vàng,

đêm ấy thuyền neo bến ấy.
Nguyệt Cầm nghe nấc từng câu…
Có hàng mây trắng về đâu?
Mắt chìm sâu, đêm lắng đời sâu.
Nguyệt Cầm khơi mãi tình sầu .
Khơi mãi nguồn đêm …Mùa trăng úa làm vỡ hồn ta…

Ngập ngừng xa suối thu dồn lá úa trôi qua .
Sầu Thu sầu lên vút mịt mù, mà e nhớ hương mùa Thu .
Trăng Tầm Dương, lung linh bóng sáng từng thoáng lệ ngân,

mà hồn phân vân cuồng điên nhớ.
Long lanh tiếng Nguyệt cầm, tiếng đàn trầm.
Ai nhớ! Nương Tử một đêm nao trăng thanh trong lời hát,

chết theo nước xanh.. chết theo nước xanh.
Ôi, đàn trăng cũ làm vỡ hồn anh.”

(Cung Tiến – bđd)

Vâng. Hôm nay đây, lại cũng thấy “tiếng đàn trầm” của những “Nguyệt cầm” cũng khá buồn ở đời và trong Đạo, được đấng bậc thuộc Giáo hội Chính thống Nga, phát biểu như sau:

“Hôm rồi, Thượng Phụ Chính Thống Nga đã có buổi phỏng vấn với ký-giả của “Russia Today” bàn về một số vần-đề thời-thượng, trong đó có chuyện hôn-nhân đồng-tính và chuyện nghiêm-túc chính-trị. Đến từ đất nước, trong đó chính quyền nhiều lần tìm cách xoá bỏ Đạo Chúa suốt 70 năm liền, Thượng Phụ Kirill nay lại đưa ra một tầm-nhìn lịch-sử khá dài ngõ hầu đối-đầu với giới thù-địch ở nước này. Và dưới đây, là vài trích-đoạn rút từ cuộc phỏng-vấn hiếm có này:

 Nếu hỏi tại sao các chính-trị-gia Phương Tây lại cứ hay bài-bác chuyện chính-trị nghiêm-túc? Thì: câu trả lời, đại loại sẽ bảo rằng: chừng như cụm từ “chính-trị nghiêm-túc” có nghĩa là hạn-chế tự-do của người đi Đạo, không cho họ tiếp tục thực-thi niềm tin sắt đá nơi họ, mà thôi. Người xưa cứ bảo với ta rằng: Âu Châu chịu ảnh-hưởng cả từ Hy-Lạp cổ và La Mã xưa nữa. Điều đó, có thật. Nhưng nếu tính theo cân-lượng, thì ảnh-hưởng này không thể so với tầm quan-yếu của các giá-trị đạo-đức ở Đạo Chúa và các luật-lệ từ đó kéo dài hằng nhiều thế-kỷ.

 Thành thử, giả như Âu-Châu nay bị cắt đứt mọi mối liên-kết với nguồn gốc của nó, thì tự nó sẽ nảy sinh vấn-đề là nó có bị lôi kéo vào vào một thứ chính-trị nghiêm-túc hoặc thứ gì khác không? Đó mới là vấn-đề mà chúng là những con người lâu nay từng trải qua biết bao cuộc bách-hại ở Liên-xô, vẫn thắc mắc. Trở về với quá-khứ khi mọi sự được giải-quyết nhân-danh nhân-quyền và tự-do, mọi sự để lo cho một tương lai tươi sáng hơn.

 Thế nhưng, chỉ những người tin-tưởng nào ở vào tình-huống bị áp-lực mãi cho đến thời Đổi mới là cảm-thông được. Còn thì, giới tư-bản, trưởng-giả và chủ-đất mà các lãnh-đạo người Sô-viết mới ngưng không còn chiến-đấu chống lại tất cả những người như họ và ngay đến nền kinh-tế Sô-viết cũng chỉ giống phân nửa nền kinh-tế thị-trường mà thôi; đó là chưa kể về Chính-sách Kinh-tế Mới vào thập niên 1920; nhưng, họ đã chiến-đấu chống lại Đạo Chúa mãi đến cùng. Chẳng ai hiểu tại sao họ lại làm thế.

 Thành thử, chúng ta đã tỏ ra lo-lắng cả vào khi, dưới danh-nghĩa của một “chính-trị nghiêm-túc” và mọi quyền lợi cũng như tự-do trên hoàn-vũ, chúng ta thoáng thấy có dấu-hiệu về sự kỳ-thị chống lại những người muốn sống cởi mở đối với các xác-tín về Đạo của họ…

 Theo tôi, mẫu mã của chủ thuyết đa-sắc-tộc hoạt-động tốt hơn triết-thuyết đa-văn-hoá của phương Tây. Do bởi nước Nga là một quốc-gia đa-chủng, nhưng ý-tưởng về một chủ-thuyết đa-văn-hoá lại chẳng bao giờ được đề-bạt ở đây hết, cả vào lúc đất nước của chúng tôi chìm ngập với chủ-nghĩa Sô-viết cũng thế. Khi ấy, có người lại đã nghĩ về chuyện tuyên-bố rằng chúng tôi từng có lai-lịch một đất nước tân-kỳ nếu giữ nguyên là những người thuộc giới Sô-viết. 

Nhưng, ai cũng đều hiểu là: người Turks vẫn muốn giữ nguyên tình-trạng của người mình, là Turk, người Tajik cũng thế vẫn chỉ muốn ở thế nguyên-trạng là Tajik, người Ubeks cũng vậy và người Nga cũng không ra khỏi hiện-trạng của Nga và người Do-thái-giáo cũng thế nốt…

 Được như thế, không có nghĩa bảo rằng: chúng tôi muốn trộn lẫn sắc-tộc thành một thứ cocktail, mà mỗi người cùng mọi người vẫn phải được ở nguyên-si là mình. Nhưng, tất cả mọi người chúng tôi đều chung sống trong cùng một đất nước, nên chúng tôi phải tuân-giữ luật-lệ cũng như tỏ ra tử-tế với nhau.

 Và chính sách nghiêng về chuyện này phải được nhắm đến, tức là: không được xoá bỏ đường ranh vạch giữa các nền văn-hoá cũng như đạo-giáo khác nhau và làm nên một khối “xa-bần/hổ lốn” rút từ đó. Trái lại, chúng ta phải đoan chắc hỗ-trợ cho nhau, để mọi người có được quyền-hạn và tự-do ban-bố cho tất cả, mỗi người một cách để rồi mỗi nhân-vị có bất cứ niềm tin nào dù khác nhau vẫn có thể cảm thấy thoải mái như ở nhà mình khi sống trong đất nước của mình, chứ không như người sống cạnh người lạ…

 Nếu hỏi rằng: tương-lai của Đạo Chúa tại Âu-Châu mai ngày sẽ ra sao? Thì, câu trả lời của tôi là: Ngày nay, người đi Đạo chỉ là thiểu-số. Các giá-trị đạo-đức lâu nay ta truyền-bá đang biến dần hoặc bị lãng quên. Tại sao thế? Lý do, là vì ta cứ khuyến-khích mọi người hướng thượng, leo lên đồi cao, trong khi văn-hoá của người thường lại cứ yêu-cầu mọi người đi về hướng ngược lại, tức là: tụt xuống dưới.

 Giả như có người nào đó cứ để bản-năng của mình hướng-dẫn, và giả như văn-minh/văn-hoá nhân-loại được dựng-xây trên nền-tảng như thế đó, thì đa số mọi người sẽ theo đường lối này, lý do là vì làm thế dễ hơn, nó không đòi nhiều cố-gắng hoặc phải làm cho thật nhiều. Người nào cũng chỉ muốn có đời sống dễ chịu, thôi.

 Thế nhưng, Kinh thánh lại cứ bảo rằng” con đường chật hẹp sẽ dẫn ta đi vào sự sống”. Và, con đường chật hẹp dẫn đến ơn cứu-độ đòi phải có sự can-đảm. Nhưng, giả như con đường này biến-dạng, thì toàn-thể nhân-loại sẽ rơi tọt xuống hố. Đức Giêsu đã không thuyết-phục mọi người bằng lời rao giảng. Thật ra, cuộc sống của Ngài dưới trần-thế lại đã chấm-dứt trên Thập-giá là nơi con người đóng chặt Ngài ở trên đó. Đành rằng Ngài đã trỗi-dậy khỏi cõi chết… Thế nhưng, cũng có một số người coi là Ngài đã thất-bại.

 Giả như chúng ta không tin vào sự sống lại của Đức Kitô, thì khi đó sự sống vào cuối đời của Ngài sẽ không gây ấn-tượng gì cho lắm, cũng chỉ như thể Ngài bị xử trảm, thế thôi. Các tông-đồ cũng như thế, ngoại trừ thánh Gioan. Còn thì tất cả đều bị xử trảm. Thành thử, điều căn bản xem ra tất cả đều là người thua thiệt, thua và để mất mọi sự.

 Nhưng, thông-điệp của Đức Kitô và các tông-đồ theo Ngài đã tồn-tại suốt 2000 năm, vẫn còn đó kích-động nhiều người. Nó tạo-hứng cho các nghệ-nhân và văn-sĩ là những người sáng-tạo nhiều công-trình tuyệt-tác dù bên ngoài vẫn tạo áp-lực nghịch-ngạo. Thế nhưng, điều còn quan-trọng hơn là bảo rằng: Đức Kitô đã và đang đi vào tâm-can của rất nhiều người, dù có muốn hay không, cũng vậy…” (Xem Patriarch Kirill, Russian Orthodox Patriarch on Gay Marriage, secularisation, the future of Christianity, MercatorNet 29/11/2016)

 Đọc bài phỏng-vấn đấng bậc vị vọng ở trên, bần đạo bầy tôi đây lại nhớ đến những câu truyện kể cùng nhận-định về lập-trường sống cho nhân-sinh-quan rất dễ thấy như sau:

“Trên thế gian này, có một quy luật đã được định ra rất rạch ròi là: có gieo sẽ có gặt. 

Dưới đây là 11 điều để bạn bắt đầu:

 Cho đi một nụ cười

Nở một nụ cười và trao nó đến cho mỗi người bạn gặp, và bạn sẽ nhận được những nụ cười đáp lại.

 Cho đi những suy nghĩ tích cực

Hãy đưa ra những suy nghĩ tích cực về những người khác chung quanh bạn, và ngay cả về những thứ mà bạn đang làm, bạn sẽ có một cuộc sống tốt và những ý nghĩ tốt đẹp cũng sẽ được dành cho bạn.

 Cho đi lời tử tế

Hãy nói những điều tử tế với mọi người và lời thân ái của bạn sẽ được đáp trả bằng những lời thân ái. Nhân chi sơ, tánh bản thiện mà.

 Cho đi một thái độ lạc quan

Luôn tỏ ra lạc quan với cuộc sống, và sự vui vẻ của bạn sẽ được hoan nghênh.

 Cho đi sự cảm kích

Hãy biết ơn, cảm kích, cuộc sống của bạn sẽ có thêm những giá trị, và đến lượt bạn cũng sẽ được tưởng thưởng xứng đáng.

 Cho đi sự khích lệ

Hãy khích lệ, bạn cũng tràn ngập dũng khí tươi mới để đối mặt (với thử thách) từng ngày, và hãy chuẩn bị để thu hút những người động viên cổ vũ bạn.

 Cho đi sự kính trọng

Hãy luôn kính trọng những người, những điều xứng đáng, cho đây là điều đáng để bạn phải làm và bạn sẽ nhận được những tràng pháo tay tán thưởng.

 Cho đi niềm hạnh phúc

Chia sẻ niềm hạnh phúc, đồng thời bạn cũng sẽ cảm thấy sung sướng, và nó cũng sẽ mang lại cho bạn niềm hạnh phúc.

 Cho đi thời gian của bạn

Hãy dành thời gian của bạn cho những mục tiêu lớn lao hơn mục tiêu cá nhân, và bạn sẽ nhận được những phần thưởng mà bạn không ngờ tới.

 Cho đi niềm hy vọng

Hãy luôn hy vọng và hãy xem nỗi tuyệt vọng sẽ biến mất, đức tin và niềm vui sẽ dâng lên bội phần.

 Cho đi lời cầu nguyện

Hãy cầu nguyện cho bạn bè của mình, và cho cả những người mình xem là kẻ thù. 

Bởi trên đời này, trong cuộc sống này đã có quá nhiều hận thù, hiềm khích rồi. 

Những lời nguyện cầu sẽ vượt quãng đường dài để mang điều kỳ diệu đến những nơi u tối, xóa bỏ lòng thù hận.

“Cho đi lời cầu nguyện” nghe sao thấy quen quen như các dặn dò ở Kinh Sách. Dặn dò, là vừa dặn và vừa dò để rồi hãy cứ cho đi mà chẳng cần gì đến sự thận-trọng hoặc suy-tính rất lâu ngày. Bởi, đấng thánh nhân-hiền của Đạo mình, vẫn luôn dặn-dò và khuyên nhủ như sau:

“Hãy đến với chiên lạc nhà Israel,

dọc đường hãy rao giảng: Nước Trời đã gần kề.

Anh em hãy chữa lành người đau yếu,

làm cho kẻ chết sống lại,

cho người phong hủi được sạch,

và khử trừ ma quỷ.

Anh em đã không công mà được,

thì cũng hãy cho không như vậy.

Đừng chuốc lấy vàng lấy bạc hay tiền đồng hòng vặn thắt lưng.

Không bao bị đi đàng,

cũng đừng có hai áo, giày dép, gậy gộc.

Vì làm thợ thì đáng được của nuôi thân.”

(Mt 10: 8-10)

Vâng. Đúng thế. Thợ gặt đến với chiên nhà Israel mà còn thế, huống chi là người nghèo chỉ cần những gì là tối thiểu cho cuộc sống. Một cuộc sống chỉ biết cho đi chứ không biết chuốc vào người dù nhiều thứ.

Thời hôm nay, cho đi không chỉ có nghĩa là: bố thí, vứt bỏ những gì mình có dư hoặc thừa mứa, không dùng đến. Cho đi, còn là và vẫn là tặng ban cả những gì mình đang cần hoặc túng bấn không biết được tương-lai mai ngày, sẽ ra sao.

Cho đi, hôm nay, là cho mà không nghĩ chuyện đòi lại vào một ngày rất gần, dù từ người nhận hoặc ai khác. Cho đi, hôm nay và mai rày, lại là quyết-tâm kéo dài suốt cuộc sống, dù thiếu thốn. Cho đi, còn là và sẽ là động-thái gắn liền với sinh-hoạt hằng ngày ở mọi nơi, vào mọi lúc cả những lúc và những thời không có gì để cho, chỉ muốn nhận mà thôi.

Cho đi, lại vẫn là ý-nghĩa của cuộc đời không bon chen/giành giựt, cũng rất bận. Và cho đi, chính là mục-tiêu mọi người đều nhắm đến khi quyết-tâm thực-hiện một đổi thay cho tương-lai con người ở trần-thế. Cho đi, còn đồng-nghĩa với sống hùng, sống mạnh, sống viên-mãn với người nhận mà mình không biết đang ở đâu.

Nói cách khác, cho đi là cứu-cánh của cuộc sống nơi con người ở mọi thời. Thế-trần này, phải bao gồm toàn những người cho đi chứ không chỉ mỗi nhận vào. Đó, chính là niềm tin của người đi Đạo. Bởi, niềm-tin đồng-nghĩa với thương-yêu, giùm giúp, tức “cho đi.” Tin, là cho đi và cho hết cả con người mình, tinh-thần lẫn vật-chất, chứ không chỉ mỗi của ăn nuôi dưỡng xác thể của mình.

Để minh-hoạ cho động-thái quyết cho đi vào mọi lúc, không gì hay/đẹp và khích-lệ cho bằng truyện kể ở đời có những lúc người đời cứ quên lãng mục-tiêu của đời người. Thế nên, nay mời bạn và mời tôi, ta nghe thêm câu truyện kể về động-thái “cho” làm đoạn kết cho chuyện phiếm khô-khan, nghèo-nàn ít hứng thú, như sau:

“Có ai đó nói rằng, khi quay ngược trái tim mình lên, trái tim sẽ có hình ngọn lửa. Có phải đó là ngọn lửa của yêu thương, của tình người ấm áp ? Ngọn lửa ấm áp cho tình yêu đến phút cuối của cuộc đời. Tôi cũng từng nghe người ta nói rằng, tuổi trẻ thường mang trái tim màu đỏ với tình yêu đầy nhiệt huyết, có thể cống hiến hết  tất cả những gì mình có cho tình yêu và lý tưởng. Nhưng phải chăng chính vì trái tim nhiệt huyết ấy mải mê chạy theo nhng đam mê hoài bão, mà vô tình quên mất đi ngọn lửa yêu thương?

 Có lần về Việt nam, tôi đã từng chứng kiến cảnh một bà già mù lòa đi ăn xin, trong cơn mưa lạnh căm căm, không một manh áo ấm. Nhưng đi đến đâu người ta cũng xua đuổi. Người bán hàng sợ “xui”, sợ hôi, sợ dơ, sợ cả một ngày bị bà già “ám” mà không bán được hàng. Người qua  đường thì muốn đi thật nhanh, tránh đụng phải bà già mà sẽ bị bẩn những bộ quần áo đắt tiền. Có người còn ra vẻ am hiểu sự đời “Thời nay người giả ăn mày không hiếm. Đừng hòng giả dạng mà qua mặt được ta”…

 Một đám đông xúm lại trên đường quây quanh một cô gái trẻ đang bị hai thanh niên côn đồ đánh đập dã man. Cuối cùng cô bị ngã nằm sống soài trên đường, máu bê bết, quần áo bị xé nát tả tơi, ánh mắt cầu cứu van xin. Nhưng không ai thèm để ý. Họ tụ  năm tụm bảy tại đây không gì hơn ngoài sự hiếu kỳ. Mọi người đang thưởng thức một bộ “phim  kiếm hiệp”. Người ta không muốn dây dưa, chẳng muốn dính vào. Cả mấy chục thanh niên trai tráng bu quanh vẫn sợ hai thằng lưu manh kia mới lạ. Không ai phí công gọi điện cho cảnh sát. Chẳng kẻ nào muốn xắn tay đưa cô gái đến bệnh viện vì nghĩ sẽ gặp rắc rối nếu nạn nhân chết trên đường. Có người độc miệng còn nói “ Chắc cũng là trai gái làng chơi thanh toán với nhau thôi”.

 Tôi cũng đã từng trông thấy cảnh một em bé gái mặt nhễ nhãi mồ hôi, giữa trưa nắng hè ở trước cổng trường đại học, cầu xin sự ban ơn của các anh chị sinh viên, để có thêm chút tiền đóng viện phí cho nhà thương, nơi ba em đang nằm điều trị. Em ngây thơ nên cứ tin rằng các anh chị sinh viên, với trái tim thanh niên đầy tình yêu và nhiệt huyết, sẽ có thể làm giảm bớt nỗi đau đang cào cấu ba em – nằm chờ chết trong bệnh viện. Nhưng mọi người đứng đó nghe em trình bày rồi lại lắc đầu bỏ đi. “Bọn lừa đảo bây giờ đâu có thiếu! Ai mà ngu đi tin những câu chuyện “bịa đặt” như vậy kia chứ ?”.

 Một anh chàng giám đốc trẻ gọi điện thoại về cho mẹ nói rằng, anh đang bận công việc tại sở làm khi được biết tin mẹ bệnh. Có lẽ cũng còn sót lại “chút tình người”, nên anh gửi cho mẹ một số tiền để lo thang thuốc.

 Nhưng sự thật phũ phàng, là anh ta đang bận dự lễ sinh nhật của người yêu. Bữa tiệc linh đình mà anh chiêu đãi hằng trăm bè bạn ở một nhà hàng sang trọng, để người yêu anh nở mày nở mặt. Chỉ tiền rượu thôi cũng đã tính bằng trăm triệu. Giây phút đó, nào anh có nhớ chính nhờ mẹ đã ban cho anh sự sống, và cũng chính nhờ có cái lưng còng của mẹ, nên ngày nay anh mới có thể  đứng thẳng nghênh mặt nhìn đời?

 Có thể cuộc sống ngày nay với những gian dối dẫy đầy, đã khiến bạn mất niềm tin vào con người, và từ đó dễ dàng khiến chúng ta lo sợ rằng tình thương của mình sẽ cho nhầm chỗ? Nhưng đâu phải trên thế giới này, tất cả đều là những toan tính, dối lừa …

 Bà cụ mù đi ăn xin trong trời rét căm căm, cô gái lỡ lầm bị đánh đập không thương tiếc, bé gái trước cổng trường đại học cầu xin ai đó giúp ba em: Họ đã lầm khi họ van xin không đúng chỗ, để rồi họ chỉ nhận được những cái xua tay, những cái lắc đầu quây quẩy.  Họ quá ngây thơ nên cứ hy vọng mà cầu xin một “món hàng” mà từ lâu đã trở thành “quý hiếm”: Tình thương … 

 Có ai đó nói gia đình là tất cả, nhưng bạn đã làm được gì cho gia đình ấy ? Một câu nói ân cần nhắc mẹ uống thuốc, một  chén cháo nóng lúc ba đau, đó là tình yêu không lời bạn dành cho họ. Chúng ta đã NHẬN, quá nhiều –  từ gia đình, bạn bè, từ cuộc sống, và từ cả những người không quen biết, thì cũng đến lúc mình cần phải biết CHO đi, biết ban tặng. Bạn phải biết sẵn sàng chia sẻ, sẵn sàng ban phát tình thương, như đã có rất nhiều lúc trong cuộc đời, mà bạn đã rất cần sự chia sẻ và tình thương vậy …

 Khi xưa, thời trai tráng, tôi cũng đã từng như các bạn trẻ ngày nay, đã từng chạy theo tình yêu mà quên đi ba mẹ. Tôi cũng đã từng quay mặt làm ngơ trước bao cảnh thương tâm, chỉ vì sợ bị gạt gẫm, bị chê cười. Giờ đây khi mái tóc đã lắc rắc muối tiêu, tôi mới thật sự hiểu hết ý nghĩa của hai chữ “CHO và NHẬN “. Dẫu muộn màng, nhưng vẫn còn hơn không …

 Tuy biết rằng ngọn lửa nào rồi cũng có lúc tàn. Nhưng hãy để cho ngọn lửa trong trái tim chúng ta mãi sưởi ấm – đến khi còn có thể. Đừng thắc mắc, đừng đặt quá nhiều câu hỏi. Đừng sợ người, sợ ta, sợ thị phi, đàm tiếu. Hãy sống với trái tim mang dòng máu đỏ đầy yêu thương và nhiệt huyết. Nguyên tắc cuộc sống vốn vô cùng đơn giản: có CHO thì có NHẬN.

 Tôi vẫn nhớ mãi câu chuyện nhỏ ngày xưa khi còn bé. Có một buổi sáng nọ, bà ngoại tôi dắt một người ăn xin vào nhà, và đem cả một phần cơm điểm tâm ra cho người nghèo đói ấy. “Cô bé  tôi” khi ấy, mặc dù đã được ăn no căng đầy bụng, vẫn ganh tỵ mà hỏi ngoại  “Tại sao mình phải cho bà cụ đó nhiều quá vậy? Ngoại chỉ cho một miếng bánh mì là bả đã mừng lắm rồi “. Ngoại tôi cười móm mém “Con à, cuộc đời này có vay thì có trả, có cho thì có nhận. Mai này lớn lên con sẽ thấy lời ngoại dạy là đúng .. “

 Và vì thế mà đến giờ tôi vẫn luôn tâm đắc với câu “châm ngôn cuộc đời” của Ngoại: “ Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình ”… (Hoàng Thanh kể).

 Kể thế rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta quay về với nhạc-bản ở trên hát lên đôi câu ca khiến ta hăng hái tiến bước về phía trước để rồi sẽ quyết tâm làm việc gì đó mang ý-nghĩa của một nhân-sinh-quan tích-cực, không bao giờ chán nản. Bởi có cho hoài và cho mãi mới thấy cuộc đời này, đầy ý-nghĩa.

Vậy nên, ta cứ hát lên những lời ở trên, rằng:

“Đêm mùa trăng úa làm vỡ hồn ta…”
Ngập ngừng xa…suối thu dồn lá úa trôi qua.
Sầu thu, sầu lên vút mịt mù, mà e nhớ hương mùa thu.

Trăng Tầm Dương lung linh bóng sáng,

từng thoáng lệ ngân, mà hồn phân vân cuồng điên nhớ.
Long lanh tiếng Nguyệt Cầm, tiếng đàn trầm.
Ai nhớ nương tử một đêm nao trăng thanh trong lời hát…

chết theo nước xanh…Chết theo nước xanh…
Ôi đàn trăng cũ làm vỡ hồn anh…”

(Cung Tiến – bđd)

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn phiếm lai rai

nhân-sinh-quan/lập trường

cần nhắc mãi

với mình và với người

để khỏi quên.

LINH HỒN NGƯỜI CHẾT HIỆN VỀ

 LINH HỒN NGƯỜI CHẾT HIỆN VỀ XIN LỄ CẦU NGUYỆN

LM Trịnh Ðức Hòa, DCCT khi giảng về đề tài Tứ Chung, cha Hòa kể lại câu chuyện mà cha cố Vũ Tuấn Tú thuật:

“Năm 1996, tôi được một gia đình ở giáo xứ nhà thờ St. Barbara mời đến tư gia để dâng Thánh Lễ. Ở đấy có một hiện tượng lạ. Một cô con gái trẻ bị một linh hồn nhập vào và nói giọng đàn ông. Tôi bèn xin gia đình ấy cùng đọc chuỗi kinh Mân Côi Năm Sự Thương. Khi đọc đến chục kinh thứ tư thì linh hồn ở trong cô gái nói rằng:
“Con là người con trai trong gia đình. Con bị tai nạn ở vùng San Jose (thuộc miền bắc California). Xin gia đình đừng nghĩ là con tự tử. Hôm nay, Chúa cho phép con về để xin cha mẹ và cha Tú dâng 3 Thánh Lễ cầu nguyện cho con để con được về với Chúa.”
Tôi hỏi:
“Chỉ cần có 3 Thánh lễ thôi à?”
“Vâng, con chỉ cần ba Thánh lễ thì sẽ được lên Thiên Ðàng. Xin gia đình tiếp tục cầu nguyện cho một số linh hồn người thân đang còn ở luyện ngục.”
Nói xong thì linh hồn ấy xuất đi và cô gái trở lại tình trạng bình thường, không còn nói tiếng đàn ông nữa.”

Suy niệm:

-Phải kể đây là một thanh niên thánh thiện, giữ đạo hẳn hoi, không phạm tội trọng. Vì thế, khi bị tai nạn chết bất thình lình, không kịp xưng tội, chịu Mình Thánh Chúa, mà anh chỉ cần 3 Thánh lễ để lên Thiên Ðàng. Ðó là tấm gương sáng cho tất cả chúng ta. Xin tạ ơn Chúa!
CÂU CHUYỆN 2: XIN GIA ÐÌNH THA THỨ, ÐỪNG THƯA KIỆN BÁC SĨ.
Ðây là câu chuyện thật đã xẩy ra cho một gia đình nổi tiếng về thương mại ở vùng Quận Cam (Orange County), California.
– Một cô gái 18 tuổi bị bịnh nên được đưa vào nhà thương nhưng vì sự chữa trị chậm trễ của các bác sĩ mà cô gái ấy qua đời.
Cả gia đình đau buồn vì cái chết của cô. Họ định sau tang lễ thì sẽ nhờ luật sư thưa kiện các bác sĩ vì đã không chữa trị kịp thời và chu đáo nên con của họ chết.
Một đêm kia, cha mẹ của cô gái quá cố nằm mơ thấy con gái hiện về mặc áo trắng đẹp đẽ và vui vẻ nói với cha mẹ rằng:
“Xin bố mẹ đừng buồn, đừng thưa kiện người ta vì con được hưởng phước Thiên Ðàng rồi.”
Ðược con gái báo mộng là cô đang ở Thiên Ðàng thì cha mẹ cô mừng rỡ nên không còn nghĩ đến việc kiện tụng nữa.

Suy niệm:

Người trẻ khi chết mà lên Thiên Ðàng ngay, đó là một hồng ân. Như vậy người trẻ này là một người thánh thiện và đạo đức. Ðó là phúc lớn cho bản thân cô và gia đình cô. Cô là tấm gương sáng cho mọi người, đặc biệt là cho giới trẻ. Cảm tạ Chúa!

Kim Hà

Anh chị Thụ & Mai gởi

VIỆT NAM NHẤT THẾ GIỚI !

From facebook:  Ngô Minh Khôi added 2 new photos.·

VIỆT NAM NHẤT  THẾ GIỚI !

Sáng nay, mùng 4 Tết, VTV1 nói ra rả việc VN dược truyền thông thế giới bình chọn là điểm đáng đến nhất. Có một thứ “Việt Nam nhất thế giới” thì không nghe nói bao giờ! Trộm trên FB mấy cái VN nhất để bà con vừa vui rượu Tết vừa ngẫm!

Image may contain: text
Image may contain: text

CÁN CÂN QUYỀN LỰC

From facebook:  Hằng Lê
CÁN CÂN QUYỀN LỰC

Thứ nhất, ông Nguyễn Phú Trọng nói, chống tham nhũng rất khó vì ta tự đánh ta (ta ở đây tức là Đảng cộng sản).

Thứ hai, ông Cục trưởng cục phòng chống tham nhũng đã thừa nhận: tham nhũng là kẻ có quyền chức, chống lại có khi chúng tôi chết trước.

Thứ ba, ông Phó ban Nội chính trung ương cũng phải thẳng thắn: tham nhũng chỉ có cán bộ là đảng viên thôi.

Thứ tư, chính Chính phủ thừa nhận Chính phủ không chống được tham nhũng.

Vậy với dân chúng, họ làm gì có quyền hành hay quyền lực chính trị nào, ngoài tấm thân với bàn tay không, mà cả một tổ chức hùng hậu gồm công an, nhà tù, báo chí mà “đánh còn khó” và “đánh là ta tự đánh ta” thì mong gì dân chúng chống được tham nhũng?

Vậy với mong muốn có một cái lồng để nhốt quyền lực lại thì đã đến lúc cần một nhánh quyền lực độc lập khỏi đảng cộng sản để có thể kiểm soát, đối trọng và giải quyết vấn đề tự suy thoái của quyền lực hay chưa?

Vì chỉ có quyền lực mới giải quyết được vấn đề của quyền lực, chỉ có đảng phái khác mới giám sát và đấu tranh được với đảng phái khác trong cùng một thể chế chính trị.

Nếu không thể làm được điều đó, thứ nhất là trói đảng cộng sản lại bằng một đạo luật chính thức để hoạt động chứ không thể chỉ bằng cương lĩnh, nghị quyết hay điều lệ (không phải luật pháp), thứ hai là dùng một đảng phái khác đối trọng và kiểm soát lại với đảng cộng sản trong hoạt động, thứ ba, chỉ có tam quyền phân lập (dùng thiết chế toà án là trung tâm và cơ chế lưỡng viện, hành pháp là nhánh có thể phủ quyết luật của quốc hội, toà án xét xử cả tổng thống và các đạo luật nếu vi hiến), mới khiến con người được sống an toàn dù có đứng trước vành móng ngựa bởi sự cáo buộc của công tố hay cơ quan điều tra trong một nền tư pháp tranh tụng văn minh và khoa học thực sự.

Vì nếu sống trong trạng thái hiện tại, thì có những người sống cũng đã không được nói, mà rồi đến khi cận kề cái chết hay thậm chí đã bị vùi chôn trong cát bụi rồi vẫn còn không được cất lên tiếng nói của sự thật, của lương tâm con người mình.

Facebook luật sư Lê Luân

Image may contain: 1 person

Ngày Xuân Đất Lạ – S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

 Ngày Xuân Đất Lạ-

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Ảnh của tuongnangtien

Từ làng nổi Koh K’ek tôi đi ghe ra Pursat, rồi bắt xe đò trở lại Phnom Penh. Dọc theo quốc lộ 5, thỉnh thoảng, có nơi bầy bán mai vàng. Nhìn những cành hoa vừa nhu nhú nụ, sao hơi thấy nôn nao. Tết đến rồi đa!

Vào đến thủ đô Nam Vang lúc chiều vừa tắt nắng. Ngang công viên Tượng Đài Độc Lập, đôi chỗ, thấy bán bóng bay. Những chùm bóng đủ mầu rực rỡ, to hơn kích cỡ bình thường, với hàng chữ Việt (Cung Chúc Tân Xuân – Chúc Mừng Năm Mới) khiến tôi không khỏi ngẩn ngơ:

Không dưng thấy mắt hơi cay. Tôi đổ thừa tại khói xe nhưng lại nhớ đến lời kêu gọi thiết tha của ông Nguyễn Thiện Nhân hồi cuối năm trước: “Tất cả đồng bào Việt Nam ở nước ngoài nếu trong 40 năm qua chưa có dịp về nước thì nên về … chắc chắn sẽ thấy nó phát triển.”

Năm nay, Ban Tuyên Giáo còn “tiếp sức” với ông Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc bằng nguyệt san Di Sản Việt Nam (Vietnam Heritage – December 2016-January 2017 ) với nội dung vô cùng phong phú. Tất cả những bài viết đều bằng Anh Ngữ, kèm nhiều hình ảnh sống động: đua thuyền, thổi cơm thi, đá gà, dựng nêu, múa lân, đốt pháo …

Xem mà nhớ quê hương muốn ứa nước mắt luôn, và chỉ ước ao sao mình có thêm đôi cánh (hay được cấp cái visa) để bay về quê tức khắc. Nước Việt thiệt là nền nã, an bình, và phú túc.

Đọc đến trang cuối mới thấy một mẩu tin (“ Vietnam to slap higher fines on public urination”) ngăn ngắn, khiến độc giả – dù là người Việt – cũng phải bàng hoàng:

People who urinate in public will be fined VND1-3 million ($44-133) from February 1, 2017, according to a new government decree.

The fines have been raised significantly from the current $9-13.

Public urination is nothing strange in Vietnam, where there is an acute shortage of public toilets...

Data from Hanoi’s Department of Construction shows that the capital has 340 public toilets, but two thirds are located in residential areas and only 100 are situated along streets or at entertainment facilities.

Ho Chi Minh City faces the same problem with only 200 public toilets serving the needs of its 10 million residents and the 5 million foreign tourists that visit the city each year.

Úy, trời, đất, qủi, thần, ơi ? Giữa Thủ Đô Của Lương Tâm Nhân Loại và Thành Phố Hồ Chí Minh (Quang Vinh) mà mười lăm triệu người phải dùng chung chỉ có hai trăm cái nhà vệ sinh công cộng thôi sao?

Ảnh: internet

Nếu thế, nếu có bệnh tiểu đường thì sống làm sao ở một đất nước mà khắp nơi đều có bảng ghi “cấm đái.” Đã thế, kể từ ngày 1 tháng 2 năm 2017 – theo luật lệ mới – mỗi lần tè bậy là có thể bị phạt đến 144 Mỹ Kim thì chịu đời sao thấu. Đ…mẹ, tiền (dollar) chớ bộ giấy lộn hay sao – mấy cha? Thảo nào mà nhà báo Lê Phú Khải  đã phải nặng lời: “Có lẽ không có ở đâu trên trái đất này có một chính quyền cư xử với dân ti tiện như vậy.”

Thế là “giấc mơ hồi hương” tan vỡ. Lại phải tiếp tục đi thôi, dù chưa biết sẽ đi đâu?  Thôi, cứ ghé đại chỗ nào làm vài ly cái đã:

Dừng chân nơi quán lạ
Thèm com chiều h
ương quê
Chị
ơi thôi đừng đợi
Chiều nay em ch
ưa về (tnt)

Chả quen biết ai ở Nam Vang, và cũng đã trải qua hai cái Tết chán ngắt ở Xứ Chùa Tháp rồi nên tôi nghe lời rủ rê của một người bạn đồng nghiệp (đang làm thông tín viên thường trực cho RFA, ở Thái Lan) bay sang Bangkok, rồi đi xe về vùng quê nghỉ chơi vài bữa.

Anh kết hôn với một cô giáo Thái, người vùng Chai Nat. Họ sống cách thủ đô chỉ chừng hai trăm cây số mà cảnh khung cảnh nơi đây an bình và trầm lặng khiến tôi cảm thấy ngỡ ngàng. Nhà hai người nằm cạnh bờ sông. Dòng sông (Chao Phraya) mà chỉ mới chỉ thoạt trông thôi tôi cũng đã “phải lòng” rồi: tĩnh lặng, hiền hoà và yêu kiều quá!

Ảnh chụp tháng Giêng 2017

Tôi sinh trưởng ở cao nguyên, nơi chả có biển rộng hay sông dài gì ráo trọi. Suốt thời thơ ấu, tôi chỉ quen với những buổi sáng rừng tưng bừng (tiếng con vuợn hú) và những đêm trăng tà ngây ngất, hoang vu.

Mãi đến năm mười sáu – trong một chuyến giang hồ (vặt) đầu đời – khi đặt chân đến Tân Châu, tôi mới được nhìn thấy một nhánh sông Tiền đang cuồn cuộn cuốn mau dưới ánh nắng chiều lấp lánh. Tôi đoán đó là “Giòng An Giang” của Anh Việt Thu mà ca sĩ Ánh Tuyết đã khiến cho nhiều người thương mến:

Giòng An Giang sông sâu nước biếc
Giòng An Giang cây xanh lá thắm
Lả lướt về qua Thất Sơn
Châu Đốc giòng sông uốn quanh
Soi bóng Tiền Giang Cửu Long.
..

Cô thôn quê đang giặt yếm trên sông
Tiếng sáo vắng trên đồng lúa xanh tươi
Trâu lang thang, đôi cò trắng tung bay dập dìu. 

Tôi không thấy cô gái Thái nào giặt yếm, hay phơi khăn, trên sông Chao Phraya cả. Cũng không nghe “tiếng sáo vắng trên đồng lúa xanh tươi” nhưng cò trắng và cò quăm thì (ôi thôi) không phải từng đôi mà dễ đến hàng ngàn, bay rợp cả bầu trời.

Thỉnh thoảng, tôi cũng bắt gặp vài cánh cò lạc lõng ở California nhưng đến Chai Nat thì mới nhìn thấy tận mắt – lần đầu – cảnh vật an bình mà mình chỉ được nghe qua tiếng đàn và giọng hát (trầm ấm) của Phạm Ngọc Lân:

Con cò lại bay trên đồng ruộng xanh
Tre già bảo nhau cúi đầu trầm ngâm
Cùng mùi khói rơm quen thuộc
...

Đồng xanh, cánh cò, khói rơm, và trâu bò dục mõ … tuy cũng quyến rũ nhưng chính nét diễm kiều và hiền dịu của dòng sông Chao Phraya mới khiến cho tôi say đắm. Chợ họp không đông, ngay tại bến đò. Những con đò thưa khách, từ từ cặp bến rồi chầm chậm rời bờ. Dù không đón, cũng chả đưa ai, mà lòng cũng thoáng bâng khuâng.

Người dân Chai Nat đều có dáng vẻ chậm rãi và khoan thai y như con sông và bến đò của họ. Ở đây, rõ ràng, chả ai có việc gì phải vội. Tôi cũng thế, tôi cũng “chậm” lại (luôn) mà chả hiểu tại sao và tự lúc nào?

Sáng, chiều thơ thẩn đi dọc bờ sông. Nhìn nắng, nhìn nước, nhìn trời, nhìn mây, ngó lá, ngó hoa, ngó cây, ngó quả. Chao ơi, xứ sở gì mà thơ mộng và trù phú dữ vậy nè? Đu đủ, mía, xoài, vú sữa, chuối, dừa … mọc tá lả khắp nơi – kể cả ở những khúc sông hoang dã. Thiệt là quá đã!

Đã nhứt là đứng sau bất cứ búi tre, bụi chuối nào cũng có thể vạch quần tè mà không sợ làm bận mắt tha nhân. Tuy thế, đái bậy dường như chỉ là thói quen của người dân Việt (và người dân Miên nữa) chớ người Thái thì không.

Dọc theo bờ sông Chao Phraya, tại những khoảng cách nhất định, đều có những nhà vệ sinh chung. Tuy chỉ nhỏ nhắn thôi nhưng xinh sắn và sạch sẽ nên dân chúng không ai bị bệnh … đái đường!

Ảnh chụp tháng Giêng 2017

Vợ chồng anh bạn còn cho tôi biết thêm rằng phong trào xây dựng nhà vệ sinh công cộng ở Thái Lan đã phát khởi từ hai mươi năm trước. Bởi thế, những chiếc ghế đá đặt phía trước cho khách nghỉ chân đều đã nhuốm rêu phong nhưng bồn tiểu và bồn cầu thì vẫn trắng tinh vì được thay thế định kỳ và cọ rửa thường xuyên.

Nghe mà lại nhớ đến lời khẳng định về sự “phát triển đất nước” của ông Nguyễn Thiện Nhân, và những với bài viết (dùng toàn những lời có cánh) trên Vietnam Heritage mà không khỏi thở dài!

Loài vật có thể tiểu tiện hay đại tiện bất cứ nơi đâu vì chúng không có ý thức gì về ngoại cảnh. Ép buộc con người phải sinh hoạt gần như cầm thú – trong những đô thị với hàng trăm ngàn người mới có một nhà vệ sinh chung – là điều chỉ có thể xẩy ra trong một chế độ bất nhân, nơi mà những kẻ nắm quyền “ăn không từ một thứ gì” – kể cả những cái cầu tiêu hay buồng tiểu.

 

Tai nạn giao thông và đánh nhau tăng trong dịp Tết

RFA
2017-02-02
Giao thông tại Hà Nội chụp hôm 23/9/2015.

Giao thông tại Hà Nội chụp hôm 23/9/2015.

AFP photo
Tai nạn giao thông trong dịp Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017 tăng cả về số vụ, số người chết và số người bị thương. Đó là công bố do Cục Cảnh sát Giao thông thuộc Bộ Công an đưa ra hôm nay.

Thống kê trong 7 ngày nghỉ lễ tết, từ 26 tháng Giêng đến ngày 1 tháng 2, cho thấy có tổng cộng gần 370 vụ tai nạn giao thông trên toàn quốc, làm chết 203 người, bị thương 417 người.

Theo Cục cảnh sát giao thông, so với cùng kỳ của Tết Bính Thân 2016, tai nạn giao thông tăng 29,5% , số người chết tăng 11,5% và số người bị thương tăng 48%.

Cục Cảnh sát Giao thông, Bộ công an nhận định nguyên nhân gây tai nạn giao thông chủ yếu do người điểu khiển phương tiện lưu thông sử dụng bia rượu cao, chạy quá tốc độ, không đội mũ bảo hiểm.

CHUÁ CHỮA LÀNH BỆNH LAO THẬN VÀ ĐỔI MỚI ĐỜI SỐNG

CHUÁ CHỮA LÀNH BỆNH LAO THẬN VÀ ĐỔI MỚI ĐỜI SỐNG

Linh mục:    James Manjackal

HINH 01

Trong gia đình từ thời thơ ấu, tôi đã nghe mẹ  đọc kinh Chúa Thánh Thần vào đầu những giờ kinh tối trong gia đình, việc đọc kinh thường kéo dài từ một đến một tiếng rưỡi đồng hồ. Sau này, đi học trong các chủng viện vào đầu giờ ở các lớp học cũng như trong các sự kiện quan trọng,  đã có xướng lên một lời cầu nguyện hoặc một bài thánh ca xin ơn Chúa Thánh Thần. Đó là tất cả những gì tôi biết về Chúa Thánh Thần trong quá khứ. Tôi vốn không có ngay cả một hệ giáo lý hay một luận án về Chúa Thánh Thần trong quá trình trau dồi về thần học của mình.  Tất nhiên tôi có được biết từ giáo lý rằng Đức Thánh Linh là ngôi thứ ba của Thiên Chúa Ba Ngôi và Ngài ban ơn trong cuộc sống của chúng ta. Tuy nhiên tôi chưa bao giờ có một kinh nghiệm thực sự về Chúa Thánh Thần cho đến khi tôi được Chúa đụng chạm  thông qua lời cầu nguyện mạnh mẽ của một người đàn ông trẻ tuổi nọ.

HINH 2

Sau khi tôi chịu chức linh mục vào ngày 23 tháng 4 năm 1973, tôi  làm việc trong các cơ quan đại diện của Visakhapatnam khoảng một năm rồi sau đó tôi được bổ nhiệm làm giáo sư tại Đại Chủng Viện SFS Ettumanoor, Kerala. (Ấn Độ)

Khi còn là sinh viên ở các chủng viện, nguyện vọng tha thiết của tôi là được làm giáo sư tại một trường đại học hay chủng viện, một vị trí thoải mái và đáng kính trong đời sống tu trì.  Tôi không bao giờ có thể tưởng tượng ra được rằng mình sẽ du hành, lang thang từ nơi này đến nơi khác tập thích ứng với các tình huống khác nhau về ứng sử với con người, tương thích với văn hóa và tiêu thụ thực phẩm lạ.  Trong thâm tâm tôi đã muốn tìm kiếm cho mình các tiện nghi vật chất và sự  an lành của một cuộc sống ổn định.  Năm 1975, tôi tình cờ đọc được bài viết về ân tứ chữa lành và nói tiếng lạ từ một tạp chí Mỹ,  “Giao ước mới”.  Tôi không thể tin rằng vào những ngày trong thời đại này lại có người được chữa lành bởi đức tin và lời cầu nguyện.  Tôi chế giễu những ơn tiếng lạ, cho rằng nó xuất ra từ  cảm tính rên rỉ thái quá của phụ nữ !.  Tâm trí tôi tràn ngập niềm tự hào về  kiến thức Triết học và Tâm lý học của mình.  Sau đó, tôi nghe nói về một khóa tĩnh tâm Đặc Sủng ở Poona ,  Bắc Ấn Độ.  Cùng với một linh mục già thuộc giáo đoàn, tôi đã tham dự khóa tĩnh tâm  của cha James D’Souza. Cha là một nhà thuyết giảng hùng hồn và là một ca sĩ có giọng hát hay. Tôi thích sự giảng dạy và ca hát của Ngài. Tôi đã đi lên không phải để tiếp nhận một lời cầu nguyện chữa lành vì tôi không bị bệnh. Tôi đã thực hiện một buổi xưng tội sốt sắng và làm theo tất cả các hướng dẫn của các nhà truyền giáo như đưa tay lên cao và vỗ tay.  Khi Ngài nói về ơn nói tiếng lạ và các đặc sủng khác, tôi nghĩ rằng ơn đó không dành cho tôi nhưng ban xuống cho các tâm hồn ưu tú về tâm linh. Vào ngày Nhóm đón nhận “Phép Rửa trong Chúa Thánh Thần” tôi chuẩn bị tốt tinh thần ,  ngồi cùng với các thành viên khác nhưng tôi  đã không cảm nhận được bất cứ điều gì đặc biệt khi được Cha cầu nguyện và đặt tay trên tôi.

Cha phụ trách tĩnh tâm, khi đến cầu nguyện trên tôi, Ngài nói, “James một ngày nào đó bạn sẽ là nhà thuyết giảng Đặc Sủng”, nghe điều này, tôi cười to và nói “không bao giờ, không bao giờ đâu”.  Không chỉ có vậy, tôi không thể chấp nhận những cách đặc biệt của Canh Tân Đặc Sủng đâu, và tôi luôn luôn tỏ ra nhút nhát trước mặt người khác. Từ những ngày còn đi học và sau này được đào tạo trong chủng viện, tôi đã không thể phát biểu trước đám đông.  Ngay cả sau khi chịu chức, tôi là một người thất bại hoàn toàn trên bục giảng.  Tôi vẫn còn nhớ rõ những gì đã xảy ra với tôi trong dịp giảng bài đầu tiên của mình.  Sau khi chịu chức, với nhiều miễn cưỡng, tôi đành đồng ý để cử hành Thánh Lễ và giảng vào ngày hôm sau, một ngày lễ Chúa nhật.  Ở nhà tôi đã chuẩn bị trên giấy một vài ghi chú về Tin Mừng của ngày hôm đó và kẹp chúng trong quyển Kinh Thánh mới của tôi.  Tôi không gặp vấn đề khi dângThánh lễ, vì tôi sẽ nhìn vào sách lễ mà đọc những lời cầu nguyện và những lúc khác tôi thường khép mắt lại vì tôi sợ phải nhìn vào mọi người. Sau khi đọc bài Tin Mừng tôi nhìn dán chặt cả hai mắt trên cửa chính cuối nhà thờ và bắt đầu tìm kiếm tờ giấy ghi chú kẹp sát bìa bên trong quyển Kinh Thánh.  Tôi trở nên rất lo lắng và sợ hãi, tôi quên mất là đã để chúng ở phía bìa bên phải hoặc bên trái sách.  Tôi sợ không dám dời mắt khỏi cánh cửa nhà Thờ và nhìn vào Kinh Thánh, vì tôi nghĩ rằng làm như vậy mình sẽ nhìn thấy dân chúng và với tình trạng sợ hãi này tôi sẽ sup đổ cách thảm hại hơn. Run rẩy, đổ mồ hôi, nhiều lần tôi đã cố gắng để thốt lên vài lời, … “Anh Chị Em thân mến, thân mến” mà không nói thành câu. Đến vài phút đã trôi qua, từ bên trong cửa sổ, cha xứ nhìn biết tình trạng khó khăn đến ngớ ngản của tôi, Ngài thì thầm qua cửa sổ “Cha giảng đủ rồi, bây giờ Cha có thể tiếp tục Thánh Lễ.”  Giống như một quả bóng xì hết hơi, xấu hổ và tự thương hại, tôi tiếp tục dâng Thánh Lễ. Tôi chắc chắn rằng mọi người có thể đã cười hay thương hại cho vị linh mục trẻ,  mới và nhút nhát!  Sau Thánh Lễ khi tôi đến phòng thánh, tôi nghe một vị linh mục nhận xét: “Cha ấy là một nhà truyền giáo của (Dòng)Thánh Francis de Sales, ông sẽ rao giảng điều gì đây?”.  Đó là lý do tôi đã cười khi nghe Cha phụ trách tĩnh tâm nói rằng tôi sẽ là một nhà giảng thuyết đặc sủng.  Nhưng đó quả thực là một lời tiên tri!  Vì trong suốt 32 năm tiếp theo, tôi chỉ dùng thời gian này để truyền giảng ở khắp nơi trên thế giới.

Vào ngày cuối cùng của khóa tĩnh tâm, hầu hết mọi người tham gia đã lên làm chứng về ơn chữa lành của Chúa, chia sẻ kinh nghiệm được các ơn tiên tri, ơn thị kiến, ơn tiếng lạ,… Tuy nhiên, riêng tôi, không có được ơn gì để làm chứng.  Nhiều người đã có kinh nghiệm được gặp gỡ Chúa Giêsu và được nghe Ngài nói chuyện với họ!  Tôi cảm thấy buồn bã.  Tôi bắt đầu cáo tội mình vì quá tự hào nên đã không hợp tác đầy đủ với việc tĩnh tâm và không gặt hái được các ơn tứ của Chúa Thánh Thần.  Có lẽ tại thời điểm này trong sâu thẳm con tim, tôi bắt đầu ao ước và khao khát thần khí Chúa. Nhiều người bạn tò mò hỏi tôi đã nhận được ơn gì trong khóa tĩnh tâm nhưng tôi không thể đưa ra một câu trả lời chính xác nào.  Rồi một tuần sau khi tĩnh tâm, tôi đã bị ốm nặng lần đầu tiên trong đời.  Tôi nằm ở hai bệnh viện trong hơn bốn tháng.  Tôi trở nên yếu và xanh xao, không thể ăn do các cơn đau trong dạ dày, lưng tôi cũng rất đau.  Tôi nôn thốc tháo ra mọi thứ kể cả các viên thuốc.  Khi đứng lên, tôi không thể tự dâng Thánh lễ, tôi quen với việc dâng Thánh Lễ trên giường với sự giúp đỡ của một số linh mục khác.  Khi nhìn thấy tình trạng đau ốm nặng nề và thảm hại của tôi, nhiều người nghĩ rằng tôi sẽ không thể sống lâu.  Cuối cùng bệnh tật của tôi được chẩn đoán, đó là bệnh lao ở thận cùng với sỏi thận và nhiễm trùng. Liệu pháp bao gồm chín mươi mũi tiêm và uống thuốc viên con nhộng trong hai năm để chữa bệnh lao. Các bác sĩ đề nghị phẫu thuật trong thận sau chín mươi ngày tiêm thuốc.

Vào ngày thứ bảy kể từ khi bắt đầu cuộc điều trị dài ngày này, một điều lớn lao đã xảy ra làm thay đổi toàn bộ cuộc đời của tôi.  Trong buổi chiều sau giờ ngủ trưa, tôi đang trò chuyện với hai Sơ đến thăm, đột nhiên có một người đàn ông trẻ, khoảng hai mươi tuổi đi về phía tôi và hỏi: “Thưa Cha, con xin phép cầu nguyện trên Cha cho được chữa lành “.  Vào thời điểm đó, Canh Tân Đặc sủng chưa được biết đến và truyền bá tại Kerala, thậm chí không có linh mục nào thực hành việc cầu nguyện chữa lành. Nhưng người Tin Lành Ngũ Tuần quen thuộc với việc cầu nguyện cho sự chữa lành.  Là một linh mục Công giáo, tôi không muốn một người Tin Lành Ngũ tuần đặt tay trên tôi, một linh mục.  Khi tôi hỏi anh ta về nhân thân, anh nói rằng chỉ mới tám tháng nay, anh đã được biết Chúa lãnh nhận phép rửa tội và được ban cho nhiều đặc sủng của Chúa Thánh Thần.  Tôi càng không thể nào tin rằng Chúa đã sai anh ta du hành bằng xe buýt đến bệnh viện để lo cầu nguyện cho tôi.  Chưa bao giờ chúng tôi từng quen biết nhau trước đây!  Anh không chờ đợi tôi cho phép anh trong việc đặt tay cầu nguyện, kết thúc chia sẻ lời chứng của mình, Anh ta đặt tay trên đầu của tôi và bắt đầu cầu nguyện. “Lạy Cha trên trời, xin gởi Con của Ngài là Chúa Giêsu giờ đây đến với vị linh mục này đang bị tổn thường vì bệnh lao thận, sỏi thận và nhiễm trùng và phục hồi ngài hoàn toàn lành mạnh trong cơ thể và tâm hồn”.  Khi đó, tôi nghĩ trong tâm trí mình rằng anh ta có thể đã thấy các biểu đồ bệnh viện nơi bệnh tật của tôi được báo cáo!  Tôi đã không biết rằng anh đang cầu nguyện với ơn trí tri.  Nhiều lần anh đã cao rao ngợi khen Thiên Chúa và đôi khi xen lẫn với tiếng lạ trong lời cầu nguyện.  Tôi cảm thấy một luồng điện chạy từ tay anhtruyền dẫn vào trong tôi.  Rồi tôi ý thức được sức mạnh của việc ca ngợi và cầu nguyện công khai. Trong khóa tĩnh tâm tôi không thể tán thành việc cầu nguyện ồn ào với các lời ca khen lớn tiếng.  Đột nhiên tôi nghĩ đến những lời cầu nguyện của người mù, ăn xin có tên là Barthimaeus. Ông đã kêu nài lớn tiếng “Lạy Con Vua David, xin thương xót tôi”.  Mặc kệ các môn đệ đã cố gắng để giữ cho ông yên lặng, nhưng ông càng gọi lớn hơn nữa.  Sau đó, Chúa Giêsu gọi ông đến bên và ban cho điều ông thỉnh cầu (Mc 10: 46-52).  Biểu lộ ra ngoài miệng chính là sự diễn tả ước muốn từ trái tim!  Một lời nguyện to và mạnh mẽ từ miệng là sự dốc đổ lòng ao ước mãnh liệt và tín thác của linh hồn.

” Tiếng tôi lên với Thiên Chúa, tôi kêu,

tiếng tôi lên với Thiên Chúa,

Người sẽ ghé tai lại với chúng tôi,     (Tv 77: 1).

Các tông đồ vào thời điểm của cuộc bách hại thứ nhất, dâng cao lời kêu xin lên Thiên Chúa.  Lời cầu nguyện của họ mạnh đến mức làm rung chuyển ngôi nhà mà họ đang tụ tập với nhau (Cv 4: 24-31).  Tất cả sự hoài nghi của tôi về việc cầu nguyện lớn tiếng đã được chữa lành hoàn toàn.  Tôi cũng bắt đầu cầu nguyện cùng anh ta với lời ca ngợi vang xa.

Sau đó, chàng thanh niên bắt đầu chuyển hướng cầu nguyện với một cung giọng khác, cho các sự kiện xảy ra trong quá khứ của cuộc đời tôi. Anh cầu nguyện “Lạy Chúa, vị linh mục này là một linh mục tốt lành nhưng Ngài không thể rao giảng Tin Mừng vì Ngài rất hay mắc cỡ và rụt rè, căn nguyên của một mặc cảm tự ti đã phát triển trong thời thơ ấu của mình. Ngài đã mất cha khi lên bảy tuổi. Ngài cảm thấy bị xua đuổi và phân biệt đối xử trong số năm người con cùng sinh hoạt chung. Mẹ góa bụa của Ngài rất vất vả để nuôi nấng các con. Ngài mập và to con nên anh chị em gọi đùa là “thằng béo”. Bạn trong trường gọi Ngài là “thằng đen” vì là người da màu. Như vậy, tuổi thơ đã chịu đựng rất nhiều thương tổn, Em nhỏ này, đã có nhiều oán hận kẻ khác trong tim mình. Lậy Chúa, Xin Chúa Thánh Thần lấy đi khỏi Ngài các vết thương, sự oán giận và ban cho Ngài một tâm tư mới. Giải thoát Ngài khỏi mọi trói buộc và quyền lực của tối tăm. Ôi, lạy Chúa Thánh Thần xin đổ đầy tim Ngài với tình yêu của Chúa…” Tôi bị sửng sốt vì lời cầu nguyện, Anh ta như phân cắt nội tâm tôi ra thành từng mảnh trong sức mạnh của Lời Chúa. (Thư Do Thái 4:12) . Vì  tất cả những gì anh nói là sự thật trong cuộc sống của tôi.  Tôi biết chắc rằng các bệnh trạng anh nêu ra trong khi cầu nguyện không hề hiện hữu trong các biểu đồ của bệnh viện!  Anh ta đã đọc một biểu đồ từ Chúa Thánh Thần! Trong nước mắt tôi đã nhớ lại những lời của Chúa Giêsu: ” “Lạy Cha là Chúa trời đất, Con xưng tụng Cha, vì đã giấu không cho những người thông thái khôn ngoan biết những điều này, nhưng đã tỏ cho những kẻ đơn sơ. ” (Lc 10: 21).  Một lần nữa tôi khóc cho niềm tự hào vô nghĩa của tôi, đặc biệt là sự tự hào về trí tuệ thông thái của mình.  Tôi cảm biết là mình quá thô thiển trong cách dùng hiểu biết thế gian mà đo lường và giới hạn sự khôn ngoan và tình yêu không có giới hạn, không thể dò thấu của Thiên Chúa. Tôi nhận ra rằng người thanh niên này, một người tân tòng, lại được ơn tái sinh trong Chúa Thánh Thần trong khi đó thì tôi, một người Công giáo truyền thống, một vị linh mục thụ phong, vẫn còn ở trong bản tính xác thịt của mình.  Tôi bắt đầu hiểu rằng những điều mắt chưa thấy, tai chưa hề nghe và lòng người chưa từng nghĩ đến, thì Đức Chúa Trời đã chuẩn bị sẵn cho những kẻ yêu kính Ngài. Vì Thiên Chúa đã mạc khải cho chúng ta nhờ Thần khí, bởi Thần khí dò thấu mọi sự, cả những chiều sâu thẳm nơi Thiên Chúa.  (I Cor 2: 9-10).  Tôi nhận thức có nguồn nước hằng sống đang chảy qua tôi và giải thoát cho tôi khỏi tội nhơ.  Tôi cảm thấy có năng lượng tập trung trên thân mình, một cảm giác ấm áp trên bụng và trên phần của thượng thận ở lưng.  Tôi tin rằng Chúa đã chữa lành cho tôi.  Tôi tuyên bố sự chữa lành và ngợi khen Chúa Giêsu.

Vào ngay lúc đó tôi có một nỗi sợ nảy ra trong lòng, đó là, liệu người đàn ông trẻ này vốn có thể nhìn thấy tôi một cách từ trong suốt cho đến thấu suốt, sẽ nói trắng ra các tội lỗi tàng ẩn quá đặc biệt của tôi trước mặt hai Sơ này.  Rồi, anh ta cầu nguyện “Lạy Chúa Giêsu, chính Ngài đã gọi cha tới chức linh mục, nhưng Cha đang dâng tiến lễ với trái tim và bàn tay không thanh tịnh”. Những lời của tiên tri Malachi đến tâm trí của tôi và bắt đầu cáo buộc tội tôi về sự không thánh khiết trong chức linh mục.  ” hỡi các thầy tế lễ khinh dể danh ta!… Các ngươi dâng bánh ô uế trên bàn thờ ta.”  (Mal 1: 6-7).  Anh tiếp tục cầu nguyện rằng ” Vị linh mục này đang còn chưa tha thứ đối với nhiều người, xin ban ơn biết tha thứ cho người khác và rửa Ngài trong máu quý giá của Chúa và ban cho Cha một quả tim trắng hơn tuyết” (Is 1: 18).  Vào thời điểm này, chính Chúa Thánh Thần bắt đầu cáo buộc về các tội lỗi tôi đã phạm (Ga 16: 8).  Tôi không biết rằng cậu thanh niên đã bước ra khỏi phòng với các sơ để đi cầu nguyện đặt tay cho những người khác.  Tôi nhìn thấy một tờ giấy trắng trước mặt tôi, trong đó có ghi rõ ràng tất cả tội lỗi của tôi, những tội lỗi tôi đã xưng ra, và đôi khi những tội tôi dấu diếm vì sợ hãi và xấu hổ.  Tôi thấy rõ người mà tôi chưa tha thứ và những người mà tôi chưa thực sự làm hòa trong tâm tư. Tôi thấy trái tim của tôi bị bao bọc trong tối tăm với tấm màn của những thói quen xấu và mạng nhện của sự giả hình.  Lời Chúa, về sự rước Chúa cách bất xứng tất sẽ đưa đến sự tội và bị kết án (I Cor 11: 27), bắt đầu xua đẩy tôi vào một cuộc khủng hoảng sâu trong lương tâm.  Tôi đã có một thói quen xấu bắt rễ sâu xa từ tuổi thiếu niên của tôi.  Ngay cả bàn tay của tôi đã nhuộm vàng với mùi hôi của khói thuốc lá.  Trong nước mắt tôi thưa: “Lạy Chúa, con không thể thoát ra khỏi những thói quen xấu này. Con bất lực. Con không thể tiếp tục làm một linh mục thánh thiện” Trong những giọt lệ, tôi kêu khóc với Chúa, có lẽ là lần đầu tiên trong đời tôi cầu nguyện với nước mắt. Tôi hoang mang cực độ, không biết là nên rời khỏi chức vụ linh mục hay tiếp tục.  Chúa Thánh Thần trong tôi đang nói, nếu tôi muốn tiếp tục, tôi phải là một linh mục thánh thiện, một con người khác.  Tôi cho rằng các Thánh lễ tôi dâng trong quá khứ đã không được chấp nhận bởi Cha trên trời và không một lời lời cầu nguyện nào của tôi đã được Chúa nghe lời.  Khi tôi bước lên bàn thờ tôi cần phải tha thứ và hòa giải (Mt 5: 23).  Tôi phải tha thứ cho người khác để cho lời cầu nguyện của tôi có hiệu quả (Mc 11: 25).  Tôi nghĩ rằng tôi là một con người khốn khổ, hoàn toàn hư mất!  Tôi đang ở trong bóng tối đen ngòm, nghi ngờ và bối rối.  Tôi nghĩ rằng mình đã lừa dối Thiên Chúa và mọi người trong chức linh mục của mình.  Tôi đang cầu nguyện trong sự bất lực “Lạy Chúa xin cứu con là kẻ tội lỗi”.

Thiên Chúa của tôi đã không bỏ rơi tôi trong tuyệt vọng.  Lần đầu tiên trong cuộc sống của tôi, tôi thấy Chúa Phục Sinh đi về phía tôi trong ánh sáng chói lòa.  Khuôn mặt Ngài chiếu sáng, áo trắng của Ngài lấp lánh hào quang.  Bao quanh Ngài có nhiều thiên thần.  Tôi có thể nghe thấy tiếng nhạc du dương của các thiên thần.  Ngài đặt tay lên vai tôi, tôi đã trở nên rất nhỏ bé trước Ngài.  Chúa nói với tôi một cách rất rõ ràng “James, con là linh mục của ta mãi mãi. Ngay từ khi ta thụ thai trong lòng mẹ ta (cung lòng của Đức Maria), con đã có đó như một linh mục chia sẻ chức vụ tư tế đời đời của ta. Cha tha thứ cho tất cả tội lỗi của con và làm cho con hoàn toàn nên mới”.  Đó là một sự mặc khải lớn lao đối với tôi, rằng tôi đã thuộc về nhiệm thể của Ngài từ khi Ngài mặc lấy hình dạng con người.  Đức Maria đã trở thành mẹ của tôi từ lâu trước khi Chúa Giê Su giao phó Mẹ cho nhân loại trên thập tự giá khi nói “ Này là con Mẹ…”. Rồi tôi thực sự cảm nghiệm được sự gần gũi với Mẹ Maria, tôi cảm thấy mình như một em bé được an ủi và chữa lành trong khi Mẹ bế đặt trên đùi mặc dù tôi không nhìn thấy Mẹ.  Không có từ nào diễn tả hết được kinh nghiệm tôi đã trải qua trong buổi ngất trí kéo dài hơn ba tiếng rưỡi đồng hồ.  Chúa bảo tôi thực hiện một cuộc thú tội tổng thể thật sâu sắc về cuộc sống quá khứ của tôi.  Ngoài ra, Ngài hướng dẫn tôi ra đi hòa giải với những người mà tôi oán hận.  Trong thời gian dài được đào tạo ở chủng viện hay trong nhà tập, tôi chưa bao giờ có kinh nghiệm gặp gỡ Chúa Giêsu trong cầu nguyện hay nghe giọng nói ngọt ngào này mặc dù Giáo Sư và Linh hướng của tôi đã dạy tôi chiêm niệm và cầu nguyện.  Bây giờ tôi biết rằng lời cầu nguyện và chiêm niệm không phải là một cái gì đó mà tôi có thể đạt thấu nhưng là ơn mà tôi có thể nhận được chỉ như món quà tinh khiết của Chúa Thánh Thần.

Tôi thức dậy từ giấc mơ đầy ơn phúc khi một y tá gọi tên tôi.  Tôi nhìn thấy cô đứng trước tôi với các liều thuốc tiêm và viên thuốc.  Với nhiều niềm vui trong tim, tôi nói với cô ấy rằng tôi vừa trải qua một kinh nghiệm sâu sắc về sự đụng chạm của Chúa Giêsu và tôi đã được chữa lành.  Khi cô rời khỏi phòng tôi cất tiếng ca ngợi Thiên Chúa với một giọng nói lạ, tôi cảm thấy rằng ngôn ngữ và lời nói của tôi được gỡ bỏ và Chúa Thánh Thần cho một ngôn ngữ và lời nói mà nghĩa của nó là khó hiểu với tôi.  Món quà rất đáng gọi là quà tặng là ơn nói tiếng lạ, mà tôi vốn đã không muốn có, nay được trao cho tôi bởi Chúa của tôi.  Tôi đã thực sự cố gắng để hội ra được mọi chiều: rộng, dài, cao, sâu của tình yêu vô biên của Thiên Chúa thể hiện qua Chúa Giêsu, Con của Ngài (Eph 3: 18).  Sau một lúc, bác sĩ điều trị đến và trách cứ tôi vì không chịu dùng thuốc.  Ông nói: “Cha là một linh mục, tôi tin rằng Cha có ý thức và kiến thức, Cha có nghĩ rằng Cha lại đang được chữa lành bằng lời cầu nguyện của thanh niên tân tòng. Nếu Cha không uống thuốc, bệnh sẽ tái phát.”  Tôi nói: “Xin lỗi Bác sĩ, tôi sẽ uống thuốc nhưng tôi biết mình được chữa lành bởi những lời cầu nguyện của cậu nhỏ”.  Tôi uống viên thuốc và chịu mũi tiêm trước sự hiện diện của bác sĩ bởi vì tôi biết rằng các bác sĩ và thuốc men đều nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa và tôi hứa rằng tôi sẽ tiếp tục việc điều trị theo y khoa cho tới khi ông có kết luận khác (Huấn ca 38: 1-2).

Tôi rất hạnh phúc và vui vẻ.  Tôi bắt đầu nói với những người bên cạnh và các Sơ về việc được chữa lành.  Đêm hôm đó, tôi có giấc ngủ ngon và sâu mà không cần một viên thuốc ngủ.  Đó là sự lành bệnh về thể lý đầu tiên mà tôi nhận được.  Kể từ khi tôi có vấn đề về thận, tôi đã không thể ngủ được nếu không sử dụng thuốc an thần.  Hôm sau, tôi thức dậy vào lúc 4 giờ sáng như thể có ai đó đánh thức mình dậy sớm, chắc chắn vị đó là Chúa (kể từ ngày hôm đó tôi luôn thực hiện việc cầu nguyện cá nhân hàng ngày vào buổi sáng lúc 4 giờ).  Tôi ngồi trên chiếc ghế của tôi và cầu nguyện trong một tiếng rưỡi với cùng kinh nghiệm sốt sắng của ngày hôm trước nhưng với sức mạnh gia tăng hơn nhiều.  Trong lúc tôi cầu nguyện, Chúa đặt để sự khôn ngoan của Ngài vào trong miệng của tôi và trao cho năng lực để rao giảng về Vương Quốc của Ngài và ra lệnh cho tôi phải từ chức giáo sư chủng viện và đi ra rao giảng.  Sau khi cầu nguyện tôi đi bách bộ một giờ.  Mới ngày hôm trước, tôi còn không thể đứng dậy một mình ra khỏi giường và bước xung quanh căn phòng! Sau khi tắm rửa, tôi liền đi đến nhà nguyện cử hành Thánh Lễ cùng với hơn một trăm năm chục người tham dự. Bài đọc Tin Mừng trích sách Luca chương mười chín, về câu chuyện của Gia kêu.  Không có bất kỳ sự chuẩn bị trước nào, cậy dựa hoàn toàn vào Chúa Thánh Thần tôi đã có thể giảng trong mười tám phút và làm điều đó nữa, tức là nhìn mặt đối mặt với mọi người.  Tôi cảm thấy đã hoàn toàn được giải thoát khỏi gánh nặng và trói buộc của sự sợ hãi và mặc cảm tự ti. Tôi cảm thấy có một sự gần gũi đặc biệt với những người trong Thánh Lễ. Tôi có thể nhìn ngắm họ với sự tự do và tình mến như thể mỗi người là anh chị em ruột của tôi.  Sau Thánh lễ, được thông báo về sự thay đổi trong hành vi của tôi, bác sĩ liền đề xuất lệnh cho làm lại tất cả các xét nghiệm. Sau đó, ông gọi tôi vào phòng và chỉ cho tôi cách so sánh những kết quả cũ và mới của các cuộc thử nghiệm lâm sàng đồng thời tuyên bố, xác nhận rằng thận của tôi đã hoàn toàn bình phục và rằng tôi có thể ngưng tất cả các loại thuốc cùng được xuất viện.  Tôi không biết làm thế nào để diễn tả hết niềm vui vào thời điểm đó.  Tôi nói, “Ngợi khen Chúa” và ôm từ giả bác sĩ trước khi rời bệnh viện.

Tôi đi ra khỏi bệnh viện như một con người mới với các quyết định và quyết tâm mới.  Tôi quyết định sống cho một mình Chúa Giêsu và dành cả đời mình cho việc rao giảng Nước của Người.  Tôi từ bỏ công việc của tôi trong vị trí giáo sư chủng viện và chuẩn bị bước ra ngoài đi rao giảng,  sau khi đã dành bốn mươi ngày ăn chay và cầu nguyện.  Kể từ ngày 17, tháng 2 năm 1976 tôi bắt đầu giảng tĩnh tâm Đặc Sủng, lần đầu tiên, tôi giảng bằng tiếng Malayalam, ở tiểu bang Kerala, cho đến tận bây giờ tôi chỉ dành thời gian của tôi trong việc rao giảng Lời của Ngài mà thôi.  Bề trên kính mến của tôi sau đó đã đề nghị nhiều cơ hội cho tôi đi đến nước Đức hoặc đến Rome để theo đuổi học vị tiến sĩ, nhưng tôi đã mạo muội từ chối vì Chúa Thánh Thần nói với tôi, “Ta là đủ cho con”.  “Kẻ vừa tra tay cầm cày vừa ngó lui sau là người bất kham đối với Nước Thiên Chúa!” (Lc 9: 62).  Trong thời gian đào tạo tại chủng viện, khi tôi thấy có nhiều bạn đồng hành được đề cử ra nước ngoài để theo học bậc cao hơn, tôi đã có một khát vọng lớn đó là được đi ra nước ngoài để nâng cao trình độ kiến thức.  Tạ ơn Chúa, bây giờ Chúa còn đang thỏa mãn ước vọng của tôi, khi được tiếp tục giảng thuyết về Vương Quốc ở ngoại quốc. Thật quả đúng là khi chúng ta chịu từ bỏ bất kỳ ham muốn thế gian nào vì lợi ích của Chúa, Ngài sẽ trả lại gấp trăm lần! Đúng là Chúa Giêsu đã sử dụng tôi để Ngài xây dựng một nhà cầu nguyện cho Ngài, tại Athirampuzha, Kerala, cũng được gọi là Charis Bhavan.  Trong các buổi giảng tĩnh tâm, hội nhóm và sứ cầu nguyện chữa lành tôi gặp phải những chống đối  và ngay cả các bách hại nữa.  Nhưng Lời Chúa nói rằng, mỗi người muốn sống một cuộc đời thánh thì sẽ bị bức hại, lời này đã an ủi và tiếp sức mạnh cho tôi (II Tim 3: 12).  Tôi biết rằng tất cả những món quà và quyền hạn được trao cho tôi, một con người yếu đuối, chứa đựng trong những bình sành lọ đất, ngõ hầu quyền lực siêu vời kia thực rõ là của Thiên Chúa, chớ không phải xuất tự chúng tôi. (II Cor 4: 7). Cùng với Thánh Phaolô, tôi nữa, tôi cũng sẽ nói rằng Tôi có sức chịu đựng mọi sự, trong Ðấng ban sức mạnh cho tôi. (Phi-líp 4: 13).  Quyền năng của Ngài được bày tỏ trong giai đoạn tôi bị bắt cóc và cầm tù trong thế giới Hồi giáo ở các nước Ả Rập, và trong những lời lăng mạ và những hiểu lầm của bề trên và bạn bè.  Tôi kết luận lời chứng của tôi với những lời của Thánh Phêrô: “Anh em thân mến, đừng lấy làm lạ vì hỏa tai bốc cháy để thí luyện anh em, như một cái gì lạ lùng xảy đến. Nhưng càng được chung phần thống khổ của Ðức Kitô chừng nào, anh em hãy vui mừng! Ngõ hầu khi vinh quang của Ngài mạc khải ra, anh em cũng được vui mừng hớn hở. Nếu anh em phải chịu sỉ vả vì Danh Ðức Kitô, thì phúc cho anh em, vì Thần khí vinh quang, Thần khí của Thiên Chúa, sẽ đậu lại trên anh em. “(Phê rô 4: 12-14 ).

Cám ơn Chúa vì sự thành tín và rộng rãi của Ngài, ngày hôm nay mục vụ Canh Tân Đặc Sủng của Cha James Manjackal được Giáo Hội công nhận,

Cha thực hiện nhiều hành trình rao truyền Tin Mừng trong 87 quốc gia trên 5 châu lục, Ngài thuyết giảng trong các buổi tĩnh tâm Canh Tân Đặc Sủng, chủ trì các hội nghị và cầu nguyện xin ơn chữa lành, hướng dẫn trong các trường Tin Mừng và tiên phong trong công tác truyền bá đức tin cho người Hồi Giáo vùng vịnh Ả Rập. Cha sáng lập dòng “Tì nữ Maria đầy ơn phước” trong giáo phận Vijayapuram, bang Kerala, Ấn độ. Ngài viết nhiều sách về Canh Tân Đặc Sủng như “33 Lời nguyện Đặc sủng” được dịch ra vài ngôn ngữ, “Cầu nguyện làm nên điều kỳ diệu”, “Ngài đụng chạm và chữa lành tôi”, “Sự Chữa lành tạo nên Đời Sống mới”, “Tỉnh thức, Ta gõ cửa đây”, “Tìm thấy rồi”, “Vào trong tàu . Mới đây vào tháng 2, năm 2016, Cha được Đức Thánh Cha Phan xi cô chỉ định là một  trong bẩy trăm sứ giả của Lòng Thương Xót Chúa nhân dịp năm thánh Lòng Thương Xót.

Phan Sinh Trần gởi

Các bà mẹ lại bất hạnh

From facebook: Thiện Chung‘s post.
Image may contain: one or more people and people sitting
Thiện Chung

Xin các quý ông bên thắng cuộc hãy ngừng thủ dâm lấy một phút để nhìn lại chính những người mẹ của mình và tự hỏi : Có nơi nào trên trái đất mà các bà mẹ lại bất hạnh như các bà mẹ Việt nam ???

Đà Nẵng: An ninh câu lưu nhà hoạt động Nguyễn Anh Tuấn

From facebook : Hoang Le Thanh‘s post.

(Đà Nẵng, DL) – Anh Nguyễn Anh Tuấn, một người hoạt động dân chủ, nhân quyền vừa bị cơ quan an ninh câu lưu tại sân bay Đà Nẵng sau 3 năm hoạt động ở nước ngoài.

Anh Tuấn đáp chuyến bay từ Siem Reap, Campuchia trở về Đà Nẵng lúc 22h30 tối 31/1/2015, nhưng hiện nay cha của anh cho biết anh đang bị câu lưu.

Nguyễn Anh Tuấn sinh năm 1990 tại Đà Nẵng.

Ngày 26/4/2011, Nguyễn Anh Tuấn lúc đó là sinh viên ngành Quản lý công – Học viện Hành chính quốc gia Hà Nội gởi tới Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao đơn tự thú rằng, anh đang lưu giữ một số tài liệu được VKSND Tối cao cho là có nội dung chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam, giống như các tài liệu mà Viện này sử dụng để kết tội ông Cù Huy Hà Vũ.

(Nhắc lại: Ngày 5/11/2010, tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ bị bắt trong vụ án “Hai bao cao su đã qua sử dụng” sau đó chuyển qua tội về an ninh quốc gia).

Tháng 8/2013, anh Tuấn cùng các thành viên của Mạng lưới Blogger Việt Nam trao Tuyên bố 258 đến các đại diện của các tổ chức nhân quyền quốc tế tại Thái Lan, kể cả Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc.

Tháng 2/2014, anh Tuấn cùng với phái đoàn người Việt Nam dự buổi Kiểm định định kỳ phổ quát về Nhân quyền của Việt Nam ở Geneva, Thuỵ Sĩ.

Tháng 9/2015, Nguyễn Anh Tuấn đến Úc để làm Thực tập sinh 3 tháng cho Văn phòng dân biểu Úc, ông Chris Hayes.

Ngày 29/1/2015, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) công bố phúc trình về tình hình nhân quyền Việt Nam năm 2015, cho thấy tình hình nhân quyền ở VN vẫn ảm đạm khi chính quyền tiếp tục bắt giữ những người bất đồng chính kiến. (L.N.T)

*Cập nhật lúc 2h45 ngày 1/2/2016:

Ông Nguyễn Văn Thi, cha của Nguyễn Anh Tuấn cho biết:
– “Hiện Tuấn bị di lý về công an Tp Đà Nẵng. Như vậy là bắt người trái phép, gia đình đã đến đòi thăm gặp, phía công an đã đề nghị gia đình hợp tác, để Tuấn được thả.

“Nhưng gia đình không biết hợp tác cái gì?

“Bây giờ Tuấn bị giam giữ tại Cơ quan công an Tp Đà Nẵng”.

Trong hình: Nguyễn Anh Tuấn ở Geneva tháng 2/2014. Ảnh: VietnamUPR.

– See more at:

(Đà Nẵng, DL) – Anh Nguyễn Anh Tuấn, một người hoạt động dân chủ, nhân quyền vừa bị cơ quan an ninh câu lưu tại sân bay Đà Nẵng sau 3 năm hoạt…
DANLUAN.ORG

BỎ THẦY, CON THEO AI?

BO THAY
BỎ THẦY, CON THEO AI?

Tôi nổi giận, và Ngài bảo:  HÃY THỨ THA
Tôi run sợ, và Ngài bảo:  CAN ĐẢM
Tôi nghi hoặc, và Ngài nói:  HÃY TÍN THÁC
Tôi bồn chồn không ngơi, và Ngài nói: TĨNH LẶNG
Tôi thích đi con đường riêng của mình, và Ngài bảo:  HÃY THEO TA
Tôi muốn lập kế hoạch riêng của mình, nhưng Ngài bảo:  HÃY QUÊN ĐI
Tôi nhắm tìm của cải vật chất, và Ngài bảo:  HÃY BỎ LẠI ĐẰNG SAU
Tôi muốn được bảo đảm, nhưng Ngài nói:  TA CHẲNG HỨA HẸN GÌ
Tôi thích sống ̣đời riêng của mình, và Ngài nói:  TỪ BỎ CHÍNH MÌNH
Tôi nghĩ mình tốt lành, nhưng Ngài bảo:  TỐT LÀNH THÔI CHƯA ĐỦ
Tôi thích làm ông chủ, và Ngài nói:  PHỤC VỤ
Tôi thích ra lệnh cho người khác, nhưng Ngài nói:  HÃY HỌC VÂNG LỜI
Tôi kiếm tìm tri thức, và Ngài nói:  HÃY TIN
Tôi thích sự rõ ràng, nhưng Ngài lại nói bằng:  DỤ NGÔN
Tôi thích thi ca, Ngài lại nói CHUYỆN THỰC TẾ
Tôi yêu sự yên tĩnh của mình, còn Ngài lại muốn TÔI BỊ QUẤY RẦY
Tôi thích bạo lực, và Ngài bảo: BÌNH AN Ở CÙNG CHÚNG CON
Tôi rút gươm ra, nhưng Ngài bảo:  NÉM ĐI
Tôi nghĩ đến trả thù, nhưng Ngài bảo:  ĐƯA MÁ BÊN KIA
Tôi nói về trật tự, và Ngài bảo:  TA ĐẾN ĐEM GƯƠM GIÁO
Tôi căm ghét, nhưng Ngài bảo:  HÃY YÊU THƯƠNG KẺ THÙ
Tôi muốn gieo hoà hợp, và Ngài nói:  TA ĐEM LỬA XUỐNG THẾ GIAN
Tôi thích làm người lớn nhất, nhưng Ngài bảo:  HÃY HỌC LÀM TRẺ NHỎ
Tôi muốn ẩn thân, và Ngài nói:  ÁNH SÁNG PHẢI CHIẾU SOI
Tôi kiếm tìm chỗ nhất, nhưng Ngài bảo:  XUỐNG CHỖ CUỐI CÙNG
Tôi thích được quan tâm, và Ngài nói:  ĐÓNG CỬA LẠI MÀ CẦU NGUYỆN

Không, tôi không hiểu Ông Giêsu này. Ngài khiêu khích tôi làm tôi bối rối.
Cũng giống như nhiều môn đệ khác, tôi muốn đi theo một ÔNG THẦY KHÁC, chắc chắn hơn và ít đòi hỏi hơn.

Nhưng tôi cảm nhận như Phêrô:  “Tôi không biết ai khác có LỜI BAN SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI”

Sưu tầm