TẠI SAO ĐI CA NGỢI TỔNG THỐNG MỸ ĐẾN NHƯ VẬY!?

Image may contain: 1 person

Phạm Đức Bảo is with Thanh Nguyen Danh and 38 others.

TẠI SAO ĐI CA NGỢI TỔNG THỐNG MỸ ĐẾN NHƯ VẬY!?

Larry De King

Vài hôm trước, ngày 24 tháng 9 là cuộc họp thường niên của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc UNGA (UN General Assembly) tổ chức ở tổng hành dinh New York. Trong cuộc họp, phần phát biểu của Tổng thống Trump gây chấn động với những lời kết tội Trung Quốc trực diện, nặng nề, chính xác.

Ông lên án Trung Quốc từ kinh tế, chính trị đến cả nhân quyền ở Hong Kong. Đại ý như sau:

1. Trung Quốc đã từ chối thực hiện những cải cách như đã hứa khi được cho vào WTO.

2. Trung Quốc không tuân theo kinh tế thị trường, mà thao túng tiền tệ, bao cấp các công ty để cạnh tranh bất chính.

3. Trung Quốc ăn cắp sở hữu trí tuệ, ăn cắp bí quyết thương mại ở quy mô lớn.

4. Trung Quốc cưỡng bức chuyển giao công nghệ với những công ty ngoại quốc đến Trung Quốc đầu tư.

5. Trung Quốc là nền kinh tế đứng thứ 2 thế giới mà lại tuyên bố mình là 1 quốc gia còn đang phát triển để lạm dụng những ưu ái dành cho các nước thuộc nhóm này.

***
Khi đến phiên phát biểu của mình, ông từ từ rời ghế và đến bục nói. Như thường lệ, ông nói chậm rãi, chính xác, quả quyết, khẳng định vị thế của 1 quốc gia hùng mạnh đứng đầu thế giới. Đến phần nói về Trung Quốc mới thật là ghê gớm. Mình có cảm giác như ông đang móc dao từ trong túi ra, bình tĩnh ngắm, rồi phóng thẳng vào tim đối phương, từng nhát một, không trật phát nào. Ống kính quay về phía đại diện Trung Quốc cho thấy một gương mặt đứng hình, đơ cứng, không còn cảm xúc.

Từ trước tới nay chưa có 1 lãnh đạo quốc gia nào, kể cả các đời Tổng thống Mỹ, dám chửi Trung Quốc như tát vào mặt vậy. Thông thường họ dùng những từ ngữ ngoại giao lịch sự để thể hiện các bất đồng. Nhưng đây là Trump. Ông không cần màu mè, lịch sự, hay xã giao, mà chửi đích danh Trung Quốc với lời lẽ rất đanh.

Đã qua rồi những ngày dễ dàng lươn lẹo để làm giàu. Trung Quốc hôm nay đã gặp phải con diều hâu già lọc lõi, với cặp mắt tinh anh nhìn thấu tận tâm can của mình.

Trung Quốc không nên được xếp vào quốc gia đang phát triển hay đã phát triển, mà phải được xem là quốc gia luôn gian manh cần đặc biệt quan tâm ở mọi nơi mọi chốn.

Nhiều năm qua, vì nhiều lý do, sự gian manh của Trung Quốc được phớt lờ, hoặc ít ai chú trọng đúng mức. Nay thì khác rồi. Tên móc túi chỉ thành công khi không ai chú ý. Một khi mọi cặp mắt đổ dồn về hắn thì chỉ còn cách bỏ nghề.

Ngày nào còn Tổng thống Trump và nước Mỹ thì phải tập làm ăn và hành xử lương thiện thôi Trung Quốc ơi.

Đã xa rồi những ngày dễ dãi đó. “The days are over”, như Tổng thống Trump chốt lại trong phần phát biểu, và có lẽ từ đây bắt đầu chu kỳ suy tàn của 1 Trung Quốc gian manh độc ác, kẻ thù ngàn năm của Việt Nam.

Cảm ơn Larry De King vì bài viết quá hay.
.

Nước sông ô nhiễm được dùng làm nước sạch cho gần 9 triệu dân Sài Gòn

 

Nước sông ô nhiễm được dùng làm nước sạch cho gần 9 triệu dân Sài Gòn

Nước sông ô nhiễm được dùng làm nước sạch cho gần 9 triệu dân Sài Gòn

Ảnh: Thương Hiệu & Công Luận

Tin Saigon.- Báo Người Lao Động ngày 27 tháng 9 năm 2019 loan tin, hệ thống sông Sài Gòn- Đồng Nai là nơi cung cấp nước sinh hoạt hay còn gọi là nước sạch cho người dân Sài Gòn, Đồng Nai đang bị ô nhiễm nặng, hàm lượng amoni, vi sinh, mangan và nhiều chất khác trên dòng sông này ngày càng tăng.

Theo thông tin từ dư luận, nguyên nhân của việc nước sông ô nhiễm là do có khá nhiều nhà máy, thuỷ điện được đặt dọc sông Sài Gòn- Đồng Nai ở phía thượng lưu. Các nhà máy này tùy tiện xả chất thải ra sông, và phía cuối thượng lưu thì nước của sông được dùng để sản xuất nước sạch bán cho người dân sử dụng hàng ngày.

Theo ông Võ Văn Hoan, Phó chủ tịch uỷ ban tại Sài Gòn, thì tác động của biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng lớn đến nguồn nước thô cung cấp cho thành phố. Ông Hoan cho rằng, dù nguồn nước ô nhiễm nặng, nhưng chất lượng nước tại nhà máy sau khi giải quyết đã đạt quy chuẩn nước dùng cho ăn uống. Tuy nhiên, hệ thống đường ống cấp nước đến các gia đình nhiều nơi đã xuống cấp, khiến cho chất lượng nước ở nhiều khu vực không còn bảo đảm.

Còn sở Tài nguyên- Môi trường thành phố cho biết, chất lượng nước trên sông Đồng Nai- Sài Gòn đoạn từ Hoá An đến Cát Lái đang bị ô nhiễm vi sinh rất nghiệm trọng, còn ô nhiễm dầu mỡ thì nhẹ.

An Nhiên

ĐÀI LOAN xuống đường

Image may contain: 4 people, text
Image may contain: text
Trần Bang

29.9.2019

ĐÀI LOAN xuống đường

Trong khi người dân Hồng Kông khởi động loạt biểu tình đòi dân chủ cho đến ngày quốc khánh Trung Quốc, hàng ngàn người ở Đài Bắc và Sydney (Úc) đã xuống đường ngày 29/09/2019 để ủng hộ phong trào dân chủ Hồng Kông.

Người dân hai thành phố lớn hưởng ứng chiến dịch « ngày chống chủ nghĩa độc tài » với khẩu hiệu « Cứu Hồng Kông, Chống Độc tài ». Tại Sydney, nhóm thân Bắc Kinh không dám đến gần vì e ngại xảy ra đụng độ như hồi tháng 8.

Theo thông tín viên RFI Angélique Forget tại Thượng Hải, những sự kiện đang diễn ra ở đặc khu hành chính khiến người dân Đài Loan lo ngại cho số phận của hòn đảo.

« ‘Cùng nhau ủng hộ Hồng Kông, cùng nhau chống chế độ chuyên chế’, đây là khẩu hiệu mà các nhà tổ chức đặt cho cuộc tuần hành diễn ra ở Đài Bắc.

Từ khi phong trào phản kháng nổ ra ở Hồng Kông, đây không phải là lần đầu tiên người dân Đài Loan tuần hành vì họ cũng sợ ảnh hưởng của Bắc Kinh.

Tuy nhiên, thực trạng của hai vùng đất lại rất khác nhau : trên nguyên tắc, Hồng Kông được hưởng một quyền tự trị nào đó, nhưng thuộc về Trung Quốc ; còn Đài Loan, thực tế là một hòn đảo độc lập nhưng Bắc Kinh đòi chủ quyền.

Vào đầu năm 2019, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình thậm chí đã đe dọa dùng vũ lực chiếm lại hòn đảo và áp dụng quy chế ‘một quốc gia hai chế độ’ tương tự như trường hợp Hồng Kông.

Tình trạng khủng hoảng hiện nay ở cựu thuộc địa Anh khiến người dân Đài Loan lo ngại, đồng thời tạo đà cho những người ủng hộ đường lối cứng rắn đối với Bắc Kinh.

Uy tín của tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn, người không khoan nhượng trước Trung Quốc, cũng được tăng lên trong các cuộc thăm dò, trong khi chỉ vài tháng trước đây, bà bị cho là sẽ thất bại trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2020.

Các cuộc biểu tình ở Hồng Kông rõ ràng đã gây được thiện cảm ở Đài Loan ».

(Thu Hằng RFI )

CHÍNH TRỊ LÀ GÌ , TẠI SAO PHẢI QUAN TÂM ?

Image may contain: 1 person, text

Lê Hồng Song

CHÍNH TRỊ LÀ GÌ , TẠI SAO PHẢI QUAN TÂM ?

Chính trị là nồi cơm, là manh áo, là giá xăng điện, là những kế sách an sinh xã hội vv…

Chỉ vì chúng ta sống trong một xã hội ngu dân , bị kẻ cai trị nhồi sọ và tẩy não nên chúng ta cho rằng . Chính trị là thứ gì đó to lớn mà những kẻ dân đen như ta ko thể hiểu .

Tại sao ở xã hội độc tài người dân luôn sợ nói tới chính trị, sợ nó như 1 loại bệnh dịch? Trong khi ở các nước dân chủ người dân nói chính trị như ăn cơm, uống nước mỗi ngày. Trẻ em 6 ,7 tuổi đã được bố mẹ và nhà trường giáo dục các vấn đề trong xã hội ,  như bảo vệ môi trường ,bảo vệ động vật ,  nêu các chính sách cho người già , người vô gia cư vv…

Trong khi ở chế độ độc tài họ lại không muốn người dân tham gia chính trị , thậm chí còn sử dụng nền giáo dục ngu dân để khống chế . Là vì họ muốn giữ được quyền lực lâu hơn , để có thể tham nhũng nhiều hơn ,để có thể ăn tàn phá hoại và thậm chí bán cả lãnh thổ quốc gia mà không bị người dân chỉ trích .

Bởi vì dốt chính trị nên bạn không biết nhà nước thu thuế như thế nào , và nguồn thuế của bạn đã đi đâu .

Bởi vì dốt chính trị thay vì chỉ trích chính phủ đã đưa ra những chính sách tệ hại làm ảnh hưởng môi trường sống . Bạn lại cong mông đi chửi những người đi biểu tình đòi môi trường sạch cho bạn hưởng .

Bởi vì dốt chính trị thay vì bạn dồn sức chửi những kẻ đang tham ô ngàn tỷ, phá hoại đất nước . Bạn lại đi chu mỏ qua cali chửi đồng bào bên đó là những người phá hoại , trong khi họ cách xa bạn nửa vòng trái đất và ko hề ăn cướp của bạn 1 đồng , họ cũng không rước giặc về nhà giết biển phá rừng hay tăng giá xăng điện , cũng không lập bot hút máu của bạn .

Bởi vì dốt chính trị nên bạn mới cho rằng , không nơi đâu bình an , hạnh phúc như ở Việt Nam . Trong khi đó mỗi ngày ở VN có 315 người chết vì ung thưcứ mỗi năm lại có 165 .000 ca mới được phát hiện .Tai nạn giao thông mỗi năm lên tủ ngồi gần 8000 người ,chưa kể những ca bị tàn phế , thực phẩm độc hại tràn lan thị trường và len lỏi vào tận bàn cơm gia đình bạn vv…

Bởi vì dốt chính trị nên bạn mới cảm thấy sợ hãi , và cho rằng những người đang lên tiếng đấu tranh đòi quyền sống ,  đòi công bằng là phản động . Trong khi nếu bạn có kiến thức về chính trị và cùng lên tiếng đồng hành như chúng tôi thì sẽ tạo ra một xã hội tốt đẹp biết nhường nào ,bóng tối và sự giả dối sẽ bị đẩy lùi cho một tương lai tươi sáng hơn .

Hãy quan tâm chính trị , bởi chỉ có sự hiểu biết chính trị mới kiến tạo ra được một xã hội tốt đẹp và mang lại sự công bằng cho chính bạn .

CÓ MỘT XÁC CHẾT TREO TRÊN BẦU TRỜI HÀ NỘI

CHẾT NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC CHÔN VÌ PHẢI CỐ CHO NÓ NHƯ VẪN SỐNG

(Xin đừng ai liên tưởng tới thứ khác nha)

Image may contain: bridge and outdoor
Nguyễn Quang ThiềuFollow

CÓ MỘT XÁC CHẾT TREO TRÊN BẦU TRỜI HÀ NỘI

Xác chết ấy chính là đường sắt trên cao Hà Đông – Cát Linh.

Báo chí đưa tin câu trả lời của những người có trách nhiệm về đường sắt này : “Nhà thầu không có năng lực, không có hồ sơ thiết kế, thi công”. Thế mà họ vẫn ký, vẫn khởi công. Những kẻ ký hợp đồng làm con đường này là những kẻ phản bội lại đất nước trong mọi nghĩa.

Vì sao họ vẫn ký khi họ được thông báo về nhà thầu và những gì liên quan ?

Bởi họ ngu dốt không hiểu biết gì ?

Bởi lòng tham vô độ chứa đầy tội ác mà họ chỉ cần bỏ túi những đồng tiền của Nhân dân, của Nhà nước còn mặc xác nhân dân, mặc xác tổ quốc ?
Bởi họ bị đất nước của cái nhà thầu ma quỉ kia đe dọa ?

Cho dù bởi bất cứ cái gì thì họ đã mang tội với Nhân dân, với Đất nước không biết bao giờ mới xóa được

Với tội như thế, luật pháp có dám trừng phạt họ không ? Và nếu họ không bị trừng phạt thì luật pháp chỉ là một tờ giấy gói xôi chăng ?

Ngày ngày tôi vẫn đi làm dưới con đường sắt này. Trước kia tôi chỉ nghĩ đó là một con đường xấu xí, tiêu một núi tiền khổng lồ vô lý và chậm thi công.

Còn bây giờ tôi thấy thực sự đó là một xác chết treo lơ lửng trên bầu trời thành phố mà không được mai táng.

Kinh hãi đến nhường nào khi trên đầu chúng ta treo một xác chết

Ôi tang thương, tang thương….

TÌM HIỂU VỀ GIÁO DỤC MIỀN NAM TRƯỚC NĂM 1975

TÌM HIỂU VỀ GIÁO DỤC MIỀN NAM TRƯỚC NĂM 1975

Thi cử bậc Phổ thông tại miền Nam ngày xưa

Bài viết của : Gordon Thúy

Sang xứ người đã vài thập kỷ, kỷ niệm thời học trò ngày càng lùi dần vào quá khứ. Bất chợt hôm nay có người nhắc lúc này đang là mùa thi tốt nghiệp phổ thông bên nhà, bỗng bồi hồi nhớ lại ngày xưa…

Trước 1975, chương trình giáo dục phổ thông tại miền Nam gồm 12 lớp, chia ra hai bậc: tiểu học và trung học. Bậc tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5 (cấp 1 ngày nay). Bậc trung học từ lớp 6 đến lớp 12, lại chia ra làm 2 bậc: trung học đệ nhất cấp (cấp 2) gồm lớp 6, 7, 8, 9; trung học đệ nhị cấp (cấp 3) từ lớp 10 đến lớp 12.

Đó là hệ thống giáo dục do Pháp thiết lập, sau này bàn giao lại cho chính phủ VN và được Việt hóa, dùng tiếng Việt và sách giáo khoa Việt để giảng dạy và thi cử (sau hội nghị giáo dục toàn quốc 1958)

Các cấp bậc và các kỳ thi

Bằng tiểu học

Thời bố mẹ tôi còn đi học, thập niên 40, cuối bậc tiểu học có kỳ thi tiểu học, thi đậu thì được cấp bằng tiểu học hay thường gọi bằng tiếng Tây là Certificat (CEPCI – tức là Certificat d’Études Primaire Complémentaire Indochinoise). Những người có Certificat đã có thể kiếm được việc làm “chữ nghĩa” tại văn phòng lĩnh lương khá hậu vào thời ấy.

Sau này thì bằng tiểu học được bãi bỏ, nhưng đến thời anh em tôi cắp sách đến trường vào thập niên 60 thì học sinh hoàn tất bậc tiểu học phải qua một kỳ thi hóc búa hơn: thi tuyển vào các trường trung học công lập. Những kỳ thi này được xem là khó vì số trường trung học công lập do chính phủ lập ra và miễn học phí không đủ phục vụ cho dân số học trò vào lúc đó, nên tỉ lệ đậu vào trường công chỉ độ 62%, riêng đối với những trường “top” chỉ khoảng 10% trúng tuyển, cũng khắt khe như tỉ lệ học sinh Mỹ ngày nay được tuyển vào các trường đại học Ivy League như Harvard, Princeton, Yale, v.v.

Những học sinh không đậu vào trường công phải ghi tên vào các trường tư, đóng học phí tốn kém và trình độ giảng dạy cũng không bằng trường công: thành phần ưu tú đã vào trường công, trường tư nhét nhiều học sinh vào ngồi cùng lớp để giảm chi phí tăng lợi nhuận, nhà trường không kỷ luật gắt gao vì muốn giữ học sinh, v.v.

Học sinh không đậu vào lớp 6 trường công thì vào lớp tiếp liên tại các trường tư hay ở nhà để luyện thêm, năm sau thi tiếp, sau 3 kỳ không được thi nữa. Vì thế học sinh trường công có thể chênh lệch nhau 2 tuổi. Tôi có một bạn ngày xưa học cùng lớp tiểu học, nhưng thi 3 lần mới đậu vào trường công, nên đến khi vào trường, lại thua tôi hai lớp.

Bằng trung học

Hết lớp 9 bậc trung học đệ nhất cấp có kỳ thi trung học, đậu bằng trung học mới được lên trung học đệ nhị cấp. Bằng trung học là thước đo trình độ để tiến thân trong việc làm cho những người trẻ vào đời. Nữ giới có bằng trung học có thể làm thư ký văn phòng, thi vào sư phạm cấp tốc dạy tiểu học, vào trường trung cấp y tế đào tạo y tá, v.v. Nam giới nếu nhập ngũ thì được đào tạo thành hạ sĩ quan, còn có bằng tiểu học chỉ đóng binh nhì.

Đến thời anh em tôi lên trung học vào thập niên 60 kỳ thi trung học đệ nhất cấp đã bãi bỏ vào năm 1967.

Tú tài I, Tú Tài II

Lên đến trung học đệ nhị cấp thì học sinh chọn ban chuyên môn: ban A chuyên về khoa học (sinh vật và lý hóa), ban B chuyên về toán, lý, hóa, ban C chuyên về văn chương, triết học, ngoại ngữ. Các môn chính học nhiều tiết hơn môn phụ, nhưng chương trình học ban nào cũng gồm đủ cả các môn văn, triết, sử, địa, toán, lý hóa, sinh vật, công dân, sinh ngữ 1, sinh ngữ 2. Cuối năm lớp 11 thi Tú tài I, cuối năm lớp 12 thi Tú Tài II. Sau này tú tài I bãi bỏ năm 1973.

Các kỳ thi Trrung học, Tú tài I và II đều là kỳ thi quốc gia, được tổ chức toàn quốc, cùng ngày, cùng đề thi. Đề thi được bộ khảo thí thuộc bộ Giáo dục chọn lựa, niêm phong mật và gửi xuống các ty giáo dục, chỉ được bóc niêm trước giờ thi.

“Ban soạn đề thi bị cô lập ở Sài Gòn khoảng một tuần để hoàn tất việc chọn đề rồi đem niêm phong cẩn thận. Đề thi cho mỗi tỉnh được đựng trong một cái rương nhôm có hai ổ khóa và được giữ bảo mật cho đến gần ngày thi, giao cho hội đồng giám thị của từng tỉnh để phân phát đề thi cho mỗi trung tâm thi xuống tận mỗi phòng thi. Vì bảo mật nên việc di chuyển đề thi có cảnh sát hộ tống.

Mỗi phòng thi có hai giám thị: một giáo sư trung học và một giáo viên tiểu học. Ngoài ra là một giám thị hành lang để giữ trong ngoài nghiêm ngặt không ai ra vào trong khi thi. Bài thi của thí sinh phải có chữ ký của hai giám thị phòng thi để ngăn ngừa việc tráo bài thi. Việc di chuyển bài thi khi thí sinh đã nộp vào cũng đòi hỏi sự cẩn mật như việc di chuyển đề thi.”

Thể thức thi cử & chấm điểm

Học sinh đến thi tại các trung tâm thi cử theo phiếu báo danh nhận được, không thi tại trường của mình, và không được các thầy cô dạy mình trông thi. Học sinh chỉ mang bút và tẩy vào lớp, giấy thi và giấy nháp do trung tâm khảo thí cấp để tránh chuyện làm “phao”.

Phiếu báo danh sắp thứ tự theo tên, chẳng hạn như những tên An, Ân, Ẩn, Ánh, v.v. được xếp vào cùng phòng thi, tên Thanh, Thêm, Thoa, Thu, Thúy, Thủy, v.v. vào cùng phòng. Mỗi tờ giấy thi có ô vuông trên đầu trang để học sinh ghi tên tuổi, ngày sinh, số báo danh, v.v. Phần này gọi là “phách” sẽ rọc đi cất riêng sau khi giám khảo ghi mã số vào phần phách và phần bài thi bên dưới.

Giáo sư chấm bài không biết tên tuổi của người viết bài, chỉ dựa thuần vào chất lượng bài thi để chấm điểm. Học sinh còn cho biết những điều phải tránh như không được dùng mực đỏ, không được gạch dưới, không được viết chữ in, tức là những điều khác thường, vì bài sẽ bị loại theo nghi vấn bài được “làm dấu” để giám khảo nhận ra “gà nhà” mà chấm thiên vị.

Sau khi việc chấm bài hoàn tất thì hội đồng thi sẽ mang phách ra ráp lại theo đúng mã số, từ đó mới biết tác giả của từng bài và điểm thi của từng thí sinh, rồi lập bảng điểm và biết ai được “bảng vàng đề tên”, ai phải thở dài ai oán “thi không ăn ớt thế mà cay”.

Kỳ thi tú tài kéo dài ba ngày dài lê thê. Sáng ngày thứ nhất thi môn chính, vì là ban C nên tôi thi môn văn sáng ngày thứ nhất, chiều thi môn phụ như sử, địa, hay công dân, toán, lý, hoá, sinh ngữ phụ (Anh văn).

Sáng ngày hai thi môn chính thứ hai: sinh ngữ chính Pháp văn, chiều thi môn phụ. Ngày thứ ba thi các môn còn lại. Hình như ban A hay B có đến 3 môn chính (sinh, lý, hoá hay toán, lý, hoá) nên ba môn này sẽ thi vào ba buổi sáng, chiều thi các môn khác.
Môn văn hay triết thường là bình luận một tác phẩm, một đề tài triết, viết dài độ 4-6 trang. Sinh ngữ chính của ban C được dạy 7 năm trung học, đòi hỏi viết một bài luận văn tiếng Pháp (rédaction). Môn sinh ngữ phụ Anh văn đã học 3 năm lớp 10-12 đòi hỏi đọc một bài viết rồi trả lời các câu hỏi (reading comprehension), làm một vài phép văn phạm, dịch một đoạn văn ngắn ra tiếng Việt.

Các môn phụ hệ số thấp như sử, địa, công dân, v.v. cũng phải thuộc làu làu từng quyển sách dầy độ 150-250 trang. Vì thế bảo rằng các cô tú cậu tú có cả “bồ” chữ nghĩa trong bụng cũng không ngoa.

Ngày xưa sau khi vượt vũ môn thi viết còn phải vào thi vấn đáp, sau này kỳ thi vấn đáp đã được bỏ năm 1968.

Các môn thi, cách chấm điểm, và xếp hạng

Điểm thi các môn từ 0 đến 20, đạt trên trung bình từ 10 trở lên là đậu, dưới 10 là rớt. Các thứ hạng thi đậu được xếp như sau:

10.00 – 11.99: thứ
12.00 – 13.99: bình thứ
14.00 – 15.99: bình
16.00 – 17.99: ưu
18.00 – 20.00: tối ưu

Tất cả các môn học trong năm đều cho thi, không từ môn nào. Tuy nhiên, điểm các môn được nhân theo hệ số (coefficient) tùy theo ban chuyên môn của mình. Ban A có môn sinh vật hệ số 4, số điểm sẽ nhân lên 4 lần, môn lý hoá sẽ nhân 3, ngoại ngữ nhân 2, các môn khác như sử, địa, công dân nhân 1. Ban B có số điểm toán sẽ nhân 4 lần, điểm lý hóa nhân 3, ban C thì môn văn hay triết sẽ nhân 4, ngoại ngữ nhân 3, v.v., tức là môn chính của mình phải xuất sắc thì mới đậu cao.

Thí dụ: nếu một học sinh ban B (toán) được 20 điểm môn công dân, hệ số 1, mà môn toán hệ số 4 chỉ có 2 điểm, thì tổng số điểm sẽ là 20×1 + 2×4 = 28, chia cho 5 hệ số, trung bình chỉ có 5.60: RỚT!

Ngược lại, nếu công dân có 2 điểm mà toán được 18 điểm, thì tổng số điểm là 2×1 + 18×4 = 74, trung bình gần 15 điểm: đậu bình!

Những ban khoa học và toán thường có nhiều thí sinh xuất sắc hơn ban văn chương sinh ngữ, vì giải toán đúng 100% có thể đạt điểm tối đa là 20, trong khi viết bài bình luận hay vẫn khó mà đạt điểm 20 được.

Kết quả thi cử

Những kỳ thi tú tài là một thử thách lớn và là cơn ác mộng trầm kha đối với giới học sinh thời đó. Có một bài hát tả oán như sau: “Thi ơi là thi, sinh mi làm chi!” Cả năm học hành kết quả khá, mà đến ngày thi lỡ bị “tào tháo đuổi” hay hỏng xe không đến được phòng thi là kể như sự nghiệp tan tành, không có mảnh bằng lận lưng là đời tàn trong ngõ hẹp.

Theo tôi, triết lý giáo dục của Pháp chủ định dùng kỳ thi để tuyển lựa ra thành phần ưu tú (élite) và loại bỏ thành phần “không xứng đáng”. Miền Nam theo nề nếp đó. Khỏi nói cũng biết học sinh thi rớt như rạ. Trung bình tú tài I chỉ đậu độ 30%, còn tú tài II, vì đã vượt vũ môn lên từ 30% của tú I, nên có sĩ số đậu khoảng 70%.Thi cử mà chỉ đậu có 30% thì đúng là thi loại bỏ chứ không phải là thi kiểm tra trình độ nữa rồi. Nhà thơ Nguyễn tất Nhiên đã có bài thơ được Phạm Duy phổ nhạc: “Thi hỏng tú tài ta đợi ngày đi (vào quân trường), đau lòng ta muốn khóc”.

Có những học sinh uống thuốc chống ngủ để gạo bài thâu đêm, đế nỗi bị lậm thuốc sinh ra điên loạn. Có những học sinh thi rớt bị gia đình mắng mỏ, hay tự thất vọng đã uống thuốc độc kết liễu đời mình, năm nào báo cũng đăng. Có người thi 7 năm liền mới bằng tú tài! Sau này để “cứu giúp” học sinh thi hỏng, bộ Giáo dục cho thi tú tài II hằng năm hai lần, lần đầu vào đầu hè, lần sau cuối hè, để mọi người có cơ hội “thua keo này ta bày keo khác!”.

Bằng tú tài I đánh dấu một thành quả cao hơn bằng trung học, được vào một số học viện như Học viện Cảnh sát Quốc gia, hoặc trường cao đẳng như Trường Cao đẳng Công chánh, vào quân đội thì được huấn luyện thành sĩ quan, tuy nhiên không được lên đại học. Chỉ có bằng tú tài II mới đánh dấu việc hoàn tất thành công trung học đệ nhị cấp (cấp 3) và mở ra cổng trường đại học. Năm 1973 kỳ thi tú tài I cũng được bãi bỏ (thank God, tạ ơn thượng đế!), chỉ còn giữ tú tài II.

Thi cử tại Mỹ & VN

Sau này sang Mỹ sinh sống thấy con tôi học rất thoải mái, học trong lớp vừa xong một chương là cho bài kiểm, bài thi liền để còn nhớ bài, không đợi đến cuối năm khảo nguyên một cuốn sách mấy trăm trang như ở VN, (mà đúng ra thì VN khảo cả chục cuốn sách vì chương trình nguyên năm có cả chục môn học).

Tại trường Mỹ bài nào kiểm không khá là thầy cô cho “dạy lại, thi lại” ngay (re-teach, re-test), đến giờ nghỉ trưa hay sau buổi học bảo trò đến thầy cô kèm thêm cho thấu đáo. Đến hết bậc trung học bên Mỹ, nếu các môn bắt buộc trong chương trình phổ thông đã hoàn tất và đủ điểm, là lập tức mũ áo vênh vang lên lãnh bằng ngay, chẳng có tú I tú II gì sất! Từ đó tôi thấy sự khác biệt về thi cử giữa hai hệ thống: ở Mỹ dạy cho đậu chứ không dạy cho rớt, ở VN không thật xuất sắc là rớt như chơi.

Bonus vui: Một đứa đi thi, cả nhà mệt nghỉ!

Chưa thấy một người làm quan, cả họ được nhờ, mà chỉ thấy cả nhà mệt nghỉ vì đứa con đi thi. Bố lo tiền cho con đi học kèm thêm suốt năm, mẹ nấu chè nấu cháo ăn dặm ban đêm cho có sức khoẻ, giữa khuya lại thức giấc quát con ơi đi ngủ thôi con kẻo mai không dậy đi học nổi! Bà nội ngày rằm mồng một sì sụp khấn vái xin Trời Phật phù hộ cho cháu nó thi đỗ phen này, bảng vàng đề tên, không hổ danh giòng họ.

Ngày đi thi bố chuẩn bị dầu nhớt cho chiếc xe từ mấy hôm trước để đưa sĩ tử đi đến nơi về đến chốn. Mẹ nấu món ăn cho lành, bổ dưỡng, dễ tiêu, để không bị đau bụng đau bão. Nhất định phải có chè đậu, phải nấu bằng đậu đỏ cho may mắn, không nấu đậu đen, và tuyệt đối không cho ăn chuối hay trứng gà trứng vịt những ngày này, nhất định không cho cơ hội trượt vỏ chuối hay lãnh trứng vịt!

Đến ông anh trong nhà chẳng muốn quan tâm gì mà cũng bắt buộc trở nên “hữu dụng”: “Ra đầu ngõ đứng đi con!”. Thế là ngày nào sĩ tử cũng ra ngõ gặp trai, hên cách gì! Sau đó thì anh xách xe chạy theo đuôi bố, nhỡ xe bố trở chứng nằm ẹp là có tài xế dự khuyết trám chân vào ngay! Không nhiêu khê như nhân vật trong Lều Chõng của Ngô Tất Tố ngày xưa, nhưng toàn thể tiểu gia đình cũng không kém phần sôi động vất vả.
Đại gia đình trong hai họ nội ngoại cũng chăm chăm vào. Con bác A, con chú B, con cô C, đều cũng đi thi năm nay đấy nhé. Chúng mày cố gắng hết sức mình nhé. Thi đậu thì mới có tương lai nhé. Thi rớt là tàn đời con ạ. Giờ mà không cố gắng, sau này có hối cũng muộn rồi con ạ! Bao cái “nhé! nhé! ạ! ạ!” ấy càng làm cho thí sinh tăng thêm xì trét (stress), phen này mà lỡ thi rớt thì chỉ có chít!

Hàng xóm cũng mặc tình “quan trên trông xuống, người ta trông vào”. Đến ngày toàn quốc ứng thí mà thấy cô ả áo dài tươm tất, mặt mày tái nhợt, lủi thủi theo xe bố bước ra đầu ngõ là ai cũng nhận biết ngay cái mặt “tội đồ đi thi” đây rồi, chẳng dấu vào đâu được. Các bác hàng xóm, các anh chị lớn, các em bé, v.v. đều mỉm cười thông cảm, ngấm ngầm gửi lời chúc thiện, làm mức độ xì trét lại tăng lên vụt vụt.

Chín tháng cặm cụi gạo bài, ba ngày căng thẳng loay hoay, gặm bút, viết viết, xóa xóa, đến khi khổ nạn qua rồi thì thí sinh trở nên xẹp lép như bong bóng xì hơi, ỉu xìu như chiếc bánh bao chiều, tả tơi như chiếc mền rách!

Kết quả rồi cũng được niêm yết, đứa đậu, người rớt. Học sinh trường công thì kết quả đậu rất cao. Tỉ lệ đậu toàn quốc chỉ độ 70% cho tú II, nhưng trong trường “top” của tôi, lớp 50 học sinh chỉ có một bạn rớt, còn lớp bên cạnh 100% đậu.

Trường của tôi là trường top của nữ sinh miền Nam và có một truyền thống rất tốt đẹp và rất… hậu hỉ. Mỗi học sinh đậu bình được thưởng một bông mai bằng vàng 18 karat, nho nhỏ xinh xinh, biểu tượng của trường, đường kính độ 1.8cm (nửa chỉ?), còn học sinh đậu ưu và tối ưu được thưởng một bông mai hơi lơn lớn xinh xinh, đường kính độ 2cm. Thời đó vàng rẻ, và hội phu huynh tài trợ. Năm lớp chúng tôi lãnh thưởng hoa mai vàng có tổng thống và bà Nguyễn văn Thiệu đến trường dự lễ và đọc diễn văn khen thưởng. Sau này các chị lớn kể với thầy cô rằng nhờ chiếc bông mai vàng của trường tặng thưởng mà các chị đã bán đi lấy tiền thăm nuôi chồng học tập tại các trại cải tạo, hay trao cho chồng cầm đi làm của hộ thân trên đường vượt biên.

Trong hàng xóm hay trong họ hàng thì khác, phản ánh tình hình chung, có đậu có rớt, độ 50/50. Tôi cứ nghĩ mà xót xa cho những bạn đã cố gắng hết sức mình mà vẫn ôm hận. Bố mẹ lại được dịp hể hả so sánh con mình với con nhà khác. Tội nghiệp bố cả đời vất vả chỉ mãn nguyện có bấy nhiêu, và chỉ được báo hiếu có bấy nhiêu, rồi thì bố mất sớm khi con chưa thành tài, sau này mỗi lần lãnh lương rủng rỉnh chẳng có dịp mua quà biếu bố cho bố vui.

Rồi mùa mưa kéo qua mùa thi
Rồi em cũng bỏ trường mà đi!

Đó là hai câu thơ một bạn trong trường viết ra. Tú tài II là chặng đường cuối, kết thúc tuổi học trò thơ ngây và đánh dấu tuổi vào đời. Ngày xưa bậc trung học kéo dài 7 năm dưới cùng một mái trường, nên cuộc chia tay với thầy cô, bạn bè, lớp học, sân trường, phấn trắng, bảng đen, v.v. không ít bịn rịn.

Rồi từ đó mỗi kẻ một nơi!

Sau này gặp lại, bọn tôi cùng nhau ôn lại những kỷ niệm đi học, đi thi ngày xưa. Kiến thức miệt mài nấu sử sôi kinh đã quên gần hết, nhưng điều không quên đi, không mất đi, là cái đạo đức, cái nền nếp làm người mà thầy cô đã dạy dỗ uốn nắn cho ngày xưa. Cách sống cho ra người ấy đã giúp cho học trò của thầy cô ngày xưa vươn lên ở bất cứ mọi nơi, khắc phục mọi khó khăn, vượt qua mọi trở ngại, chinh phục mọi môi trường mới, chinh phục lòng người, tạo dựng một chỗ đứng trong đời cho mình và tìm cơ hội chăm lo lại cho người khác.

Chính cái môn không hệ số, không thi cử này lại là cái vốn sống trong suốt cuộc đời.

Viện đại học Đà lạt ngày xưa đã lấy tên là Đại học Thụ Nhân, trích từ câu nói của Quản Trọng thời Xuân Thu, và có khắc câu ấy hai cột trụ hai bên cổng trường:

“Nhứt niên chi kế mạc như thụ cốc, (vì lợi ích một năm hãy trồng lúa,
“Thập niên chi kế mạc như thụ mộc (vì lợi ích mười năm hãy trồng cây,
“Chung thân chi kế mạc như thụ nhân” (vì lợi ích cả đời hãy trồng người)
(có nơi ghi: “Bách niên chi kế mạc như thụ nhân” (vì lợi ích trăm năm hãy trồng người)
Chúng tôi đồng ý với nhau chúng tôi là những sản phẩm nhà trường đã “trồng” được trong những năm tháng dưới mái trường xưa, và đã không để nhà trường và thầy cô phải hổ thẹn!

Chú thích thêm :

Năm 1945, gs Hoàng Xuân Hãn tham gia Nội Các Trần Trong Kim với chức vụ Bộ Trưởng GD và Mỹ Thuật . Ông triệu tập các trí thức Nam, Trung, Bắc không phân biệt lập trường Chính Trị, Quốc Gia hay CS thành lập Chương Trình GD bằng chữ Quốc Ngữ tại trường Quốc Học Huế trong thời gian kỹ lục. Các vị gs gồm có : Phạm Đình Ái (Lý Hóa), Nguyễn Thúc Hào (Toán), Nguyễn Dương Đôn (Toán), Hồ Hữu Tường (Toán), Nguyễn Huy Bảo, LM Nguyễn văn Hiền (Triết), Tạ Quang Bữu (Vật Lý), Ưng Quả (Pháp Văn), Hà Thúc Chính (Anh văn), Ngô Đình Nhu (Sử Địa), Hoài Thanh, Đào Duy Anh (Việt Văn), Lê văn Căn, Nguyễn Hữu Quán (Vạn vật) v.vv

Vì hầu hết các vị gs đã từng học bên Pháp nên chương trình theo rất sát chương trình Trung Học của Pháp . Trong Giáo giới người ta gọi chương trình này là chương trình Hoàng Xuân Hãn

(Theo quyển Khoa Cử và Giáo Dục Viet Nam, gs Nguyễn Q Thắng ).

Hôm các gs hoàn tất soạn thảo , gs Hãn dự định tổ chức một bửa tiệc cám ơn các gs tại trường QH, thì lại đúng ngay ngày các ông Trần Huy Liệu, Huy Cận … ( Tướng Trần Độ khi đó là SQ Đại Đội Trưởng theo hộ tống ) vào Huế ép Bảo Đại từ chức, trao Ấn Kiếm). Phía Việt Minh đến hỏi chương trình đâu, mọi người chỉ gs Phạm Đình Ái đang giữ trong cập tạp. Phái đoàn VM liền dẩn gs Ái về Hà Nội rồi sau đó đem luôn ra chiến khu. Đến năm 1952, gs PDA mới trốn về được. Về sau, gs PDA dạy Vật Lý trường Chu văn An, Sài Gòn

Chương trình này được đem áp dụng tại miền Bắc và Trung, riêng miền Nam đến giữa thập niên 50 mới đem áp dụng vì Pháp trở lại miền Nam khi đó .
(st)

Image may contain: one or more people and outdoor

Sư phụ tôi khuyên không nên đánh nhau khi đang tức giận

Hoàng Trọng to Truyện Cười Hải Ngoại

Một vị samurai đến thu nợ của người đánh cá. Người đánh cá nói: “Tôi xin lỗi, nhưng năm vừa qua thật tệ, tôi không có đồng nào để trả ngài.”

Vị samurai nổi nóng, rút kiếm ra định giết người đánh cá ngay lập tức. Rất nhanh trí, người đánh cá nói: “Tôi cũng đã học võ và sư phụ tôi khuyên không nên đánh nhau khi đang tức giận.”

Vị samurai nhìn người đánh cá một lúc, sau đó từ từ hạ kiếm xuống. “Sư phụ của ngươi rất khôn ngoan. Sư phụ của ta cũng dạy như vậy. Ðôi khi ta không kiểm soát được nỗi giận dữ của mình. Ta sẽ cho ngươi thêm một năm để trả nợ và lúc đó chỉ thiếu một xu thôi chắc chắn ta sẽ giết ngươi.”

Vị samurai trở về nhà khi đã khá muộn. Ông nhẹ nhàng đi vào nhà vì không muốn đánh thức vợ, nhưng ông ta rất bất ngờ khi thấy vợ mình và một kẻ lạ mặt mặc quần áo samurai đang ngủ trên giường. Nổi điên lên vì ghen và giận dữ, ông nâng kiếm định giết cả hai, nhưng đột nhiên lời của người đánh cá văng vẳng bên tai: “Ðừng hành động khi đang giận dữ.”

Vị samurai ngừng lại, thở sâu, sau đó cố tình gây ra tiếng động lớn. Vợ ông thức dậy ngay lập tức, kẻ lạ mặt cũng vậy, hoá ra đó chính là mẹ ông.

Ông gào lên: “Chuyện này là sao vậy. Suýt nữa con đã giết cả hai người rồi!” Vợ ông giải thích: “Vì sợ kẻ trộm lẻn vào nhà nên thiếp đã cho mẹ mặc quần áo của chàng để doạ chúng.”

Một năm sau, người đánh cá gặp lại vị samurai. “Năm vừa qua thật tuyệt vời, tôi đến để trả nợ cho ngài đây, có cả tiền lãi nữa”, người đánh cá phấn khởi nói.

“Hãy cầm lấy tiền của ngươi đi.” Vị samurai trả lời, “Ngươi đã trả nợ rồi.”

Sưu tầm

Victor Noir là một nhà báo, chuyên về chính trị của Pháp trong thời kỳ Napoleon Bonaparte III (1852-1870).

Le Tu Ngoc
Victor Noir là một nhà báo, chuyên về chính trị của Pháp trong thời kỳ Napoleon Bonaparte III (1852-1870).

Ông bị bắn chết bởi hoàng tử Pierre Bonaparte trong một cuộc đấu súng tay đôi. Nguyên nhân xuất phát từ một bài viết gièm pha Napoleon mà báo ông đã đăng. Hơn 100.000 người tới tham dự tang lễ của nhà báo.

Dù đã chết, Victor Noir vẫn được coi là biểu tượng bất tử về sinh sản của nước Pháp.

Nhiều phụ nữ tin rằng chỉ cần xoa tay vào chỗ nhạy cảm của ông, họ sẽ nhanh chóng mang thai.

Nghĩa trang “Père Lachaise” ở Paris được nhiều du khách gọi đùa là nghĩa trang VIP, bởi nó là nơi yên nghỉ của nhiều người nổi tiếng. Bên cạnh lăng mộ nổi tiếng với những nụ hôn bằng son môi của đại văn hào Oscar Wilde, tượng đá của Victor Noir lại nhẵn bóng ở phần nhạy cảm.

Sau 21 năm, di cốt của Victor Noir mới được chuyển về chôn cất tại nghĩa trang Père Lachaise.

Phía trên tấm bia mộ của nhà báo nổi tiếng một thời Victor Noir là một bức tượng bằng đồng đen, tạc chân dung của ông do nhà điêu khắc Amede Jules Dalou thực hiện. Khác với nhiều bức tượng, Amede không để Victor đứng mà nằm dài trên mộ.

Dưới bàn tay tài hoa của mình, nhà điêu khắc nổi tiếng đã biến bức tượng thành một chàng trai Pháp hào hoa, phong độ với mái tóc bồng bềnh, gương mặt ngời sáng. Ông cũng được tạc nằm theo tư thế thoải mái: đôi môi hé mở, áo khoác phanh rộng, tay buông lỏng và quần không cài nút…

Đặc biệt, Amede đã điêu khắc bộ phận cơ thể nhạy cảm của Noir nổi lên sau lớp vải quần.

Từ khi có bức tượng, ngôi mộ của Victor mặc nhiên mang theo một truyền thuyết mà các quý bà, quý cô rất ưa chuộng. Đó là chỉ cần đến ngôi mộ của ông, chạm môi vào bức tượng và xoa tay lên vị trí “của quý”, các bà sẽ dễ dàng có thai và tăng khả năng tình dục. Mỗi khi thực hiện xong các bước nguyện cầu, mọi người thường cài lên mũ hay cánh tay bức tượng những bông hoa tươi thắm, như một lời cảm ơn.

Ngày nay, tượng nhà báo Pháp trở nên nổi tiếng ở Paris và trên khắp thế giới. Du khách nữ khi tới đây đều thực hiện “nghi lễ” này với một sự thích thú.

Trải qua hàng trăm năm sương gió, bức tượng bằng đồng bị oxy hóa xanh xỉn. Nhưng chỉ riêng vị trí đó cùng mũi, bờ môi, cằm và hai mũi giày của nhà báo trẻ vẫn sáng bóng do được mọi người chạm vào quá nhiều.

Cũng giống với ngôi mộ của Oscar Wilde, những người trông coi nghĩa trang và cả người dân Paris đều bày tỏ sự phiền muộn về việc du khách có hành động không đúng đắn với bức tượng, làm ảnh hưởng đến sự yên nghĩ vĩnh hằng của Victor.

Để đẹp lòng dân, cuối tháng 10/2004, văn phòng thành phố Paris quyết định rào lại ngôi mộ, để không ai có thể chạm vào tượng. Hành động này khiến nhiều phụ nữ cảm thấy bị xúc phạm và các cuộc biểu tình phản đối đã xảy ra. Hàng rào táo gỡ sau đó không lâu và chính quyền đưa ra một tuyên bố rằng, họ tin tưởng vào ý thức của mỗi người dân, du khách.

Père La Chaise nằm ở trung tâm Paris, là khu nghĩa địa cổ thơ mộng, rộng tới 44 ha. Nhiều du khách khi tới đây tham quan đều phải mang theo bản đồ để đề phòng lạc. Nó được xây từ năm 1704. Nơi đây là chốn an nghỉ nghìn thu của nhiều người nổi tiếng như Balza, La Fontaine, Oscar Wilde, Jim Morrison, Victor Noir…
(st) 

No photo description available.

Thứ bảy 28/09, những người biểu tình ủng hộ dân chủ Hong Kong…

Trần Bang and 2 others shared a post.
Image may contain: 7 people, people standing
Image may contain: 2 people
Image may contain: 6 people
Image may contain: 5 people
Image may contain: 5 people, people sitting and crowd
+5

Võ Hồng Ly is with Võ Hồng Ly.

28.09.2019

Ngày hôm nay, thứ bảy 28/09, những người biểu tình ủng hộ dân chủ Hong Kong có một chương trình hoạt động dày đặc :

1- Khôi phục lại các bức tường thông điệp “Lennon Walls” đã bị những kẻ tay sai thân cộng phá bỏ tuần trước.

2- Kỷ niệm 05 năm phong trào Dù Vàng Hồng Kông (2014-2019)

3- Joshua Wong, 22 tuổi đã tổ chức một cuộc họp báo cùng cộng sự để tuyên bố ra tranh cử trong cuộc bầu cử hội đồng quận vào tháng 11 tới. Dưới đây là những hình ảnh mới nhất của Joshua và những người ủng hộ anh trong cuộc họp báo vừa diễn ra cách đây 30 phút.

Tối nay, hàng ngàn người dân cũng dự kiến sẽ tập trung tại trung tâm Hong Kong để tiếp tục chiến dịch biểu tình phản đối sự can thiệp của Trung cộng và đòi Tự Do, quyền bầu cử phổ quát cho Hồng Kông.
____
Hình : Stand News ./.

Điểm sách VĂN HỌC VIỆT NAM của Trần Bích San – BS Trần Văn Tích

Điểm sách VĂN HỌC VIỆT NAM của Trần Bích San – BS Trần Văn Tích

Chúng ta đã có nhiều công trình biên khảo về nền văn học dân tộc của Dương Quảng Hàm, Nghiêm Toản, Phạm Thế Ngũ, Hà Như Chi, Phạm Văn Diêu v.v. Đó là chỉ nói về Miền Nam, dưới chế độ quốc gia. Ở Miền Bắc cũng có nhiều tuyển tập văn học sử, phần lớn do một tập thể biên soạn. Các tác giả sáng tác theo tinh thần quốc gia chỉ nhắm mục đích là cung cấp cho giới đọc sách một cái nhìn tổng quát về văn học sử Việt Nam. Đến lượt mình, Trần Bích San nêu rõ tâm nguyện khi chấp bút nơi trang 25 sách Văn học Việt Nam: “Sách này được soạn thảo với mục đích bảo tồn sự trung thực của lịch sử văn học Việt Nam.” Như vậy, khác hẳn các nhà nghiên cứu văn học sử tiền bối, Trần Bích San không những là một người biên khảo văn học mà còn là một người lính chống cộng.

***

Tác phẩm Văn học Việt Nam phát hành cuối năm 2018, dày 1200 trang, in chữ cỡ 12, do Nhà Xuất bản Cỏ Thơm ấn loát và tác giả cùng thân nhân phát hành. Sách gồm 31 chương, bắt đầu với

Chương 1 Nguồn gốc Văn học Việt Nam rồi qua các

Chương 2 Chữ Việt Thượng Cổ,

3 Chữ Hán–Chữ Nho,

4 Chữ Nôm,

5 Chữ Quốc Ngữ; kế tiếp là các

Chương 6 Giáo Dục Nho Học,

7 Giáo Dục Pháp Thuộc,

8 Giáo Dục Quốc Gia,

9 Giáo Dục Cộng Sản, rồi đến các

Chương 10 về Nho Giáo,

11 Quan Niệm Quân Tử–Đại Trượng Phu,

12 Mẫu Người Kẻ Sĩ,

13 Danh Vị Tam Nguyên,

14 Học Vị Phó Bảng.

Từ Chương 15 Văn Khảo Khái Luận, qua các

Chương 16 Phương Pháp Biên Soạn Văn Học Sử,

17 Sai Lầm, Nghi Vấn Trong Văn Học Sử,

18 Trở Ngại Biên Khảo Nho Nôm.

Sách trình bày cung cách và tầm nhìn văn học sử cùng với những vấn đề tồn nghi. Lịch sử văn học dân tộc được ký thác trong các

Chương 19 Trương Vĩnh Ký,

20 Đông Dương Tạp Chí và Nam Phong Tạp Chí,

21 Tự Lực Văn Đoàn,

22 Các Nhà Văn Nữ Chữ Việt,

23 Trào Lưu Văn Chương Lãng Mạn,

24 Khuynh Hướng Trào Phúng,

25 Thơ Văn Yêu Nước,

26 Thi Ca Dục Ái.

Phần cuối gồm những

Chương 27 Câu Đối,

28 Phê Bình Văn Học,

29 Truyện Ngắn,

30 Phóng Sự–Tùy Bút và

31 Ca Dao.

Sách chấm dứt với ba Phụ Lục: Các Nhà Văn Nữ Chữ Quốc Ngữ, Mục Lục Tác Giả, Nhân Vật và Tiểu Sử Tác Giả.

Sáng tạo

Chương 2 Chữ Việt thời Thượng cổ là một chương mới, các sách viết về văn học sử dân tộc trước kia không có. Chương này trình bày các luận cứ nhằm chứng minh là người Việt có văn tự riêng từ đời thượng cổ căn cứ vào các di tích khảo cổ học.

Các chương dành riêng cho hai vấn đề Danh vị Tam nguyên và Học vị Phó bảng là những chương chỉ giáo quý báu và khoa học, chúng được trình bày một cách có hệ thống về hai học vị thời phong kiến kèm theo danh tính và tiểu sử các vị tam nguyên (Lê Quý Đôn, Trần Bích San, Nguyễn Khuyến, Vũ Phạm Hàm cùng với giai thoại văn học) và một số vị phó bảng (như Nguyễn Văn Siêu, Hoàng Diệu, Kiều Oánh Mậu, Phan Chu Trinh, v.v.) Riêng đối với Kiều Oánh Mậu, sách Văn học Việt Nam chỉ ghi nhận ông là tác giả Bản triều Bạn nghịch Liệt truyện. Thực ra Kiều Oánh Mậu còn là một nhân vật văn học sử rất quan tâm đến nền văn học chữ Nôm nên đã diễn nôm các truyện Tỳ bà, Hương sơn Quan thế âm. Đáng nói hơn nữa, Kiều Oánh Mậu đã tiến hành chú thích rất công phu Truyện Kiều của Nguyễn Du, phân biệt rõ ràng các bản phường, bản kinh và trả lại tên gọi chính thức Đoạn trường tân thanh cho Truyện Kiều.

Chương 17 Sai lầm, Nghi vấn trong Văn học sử có thể được xem như một bản tập đại thành về những vấn đề còn tồn nghi liên quan đến thành phần chính thức của Tự lực Văn đoàn, đến năm sinh năm mất của một số nhân vật, đến hành trạng tiểu sử của một vài khuôn mặt, đến tác giả đích thực của một số tác phẩm văn học, v.v.

Ca dao đã được đề cập đến ở Chương 1 nhưng Chương cuối, Chương 31 lại cũng mang tên Ca dao. Đúng ra nó phải mang tên “Ca dao Lịch sử” vì Chương này trình bày ca dao thời Nguyễn triều và nhất là ca dao thời hiện đại, ca dao đả kích chế độ cộng sản, gồm từ trang 997 đến trang 1023 với những tiểu mục Sau tháng Tư đen, Đổi tiền, học tập cải tạo, Hợp tác xã, Đi kinh tế mới, đào kinh, Phí phạm công quỹ, Vượt biên, vượt biển, Cuộc chiến biên giới Việt–Trung năm 1979, Việt kiều, Khối Cộng sản tan rã, Đổi mới, Chế độ, Dân biểu nghị gật, Lãnh tụ, Cán bộ cao cấp, Đường lối cai trị, Tham nhũng thối nát, Phẩm chất Việt xuống thấp, Bán nước.

Kèm theo những phần do chính tác giả phụ trách viết, có những phần gọi chung là “Bài đọc thêm”, những phần này góp công vào việc giải thích chi tiết hơn, chu đáo hơn, cụ thể hơn những điều đã được ký thác trong văn bản chính.

Thiếu sót

Có những chi tiết tác giả chưa biết để nêu ra trong thành quả trí tuệ của mình. Không những chỉ có Nam Phong được chuyển toàn bộ vào sáu dĩa DVD (tr. 644) mà Bách Khoa cũng được tàng trữ nguyên vẹn tại Thư viện Quốc gia của Quốc Hội Hoa Kỳ và thư viện Đại học Yale; mới đây tạp chí này còn được Diễn đàn Thế kỷ bên Mỹ số hoá toàn bộ và 426 số báo đã được điện tử hoá, qua công trình của nhà nghiên cứu văn học Phạm Phú Minh.

Trần Thanh Mại đã tìm ra khuê danh của Bà Huyện Thanh Quan là Nguyễn thị Hinh. Chữ “hinh” viết với bộ “hương” trong chữ Hán nghĩa là mùi thơm lan toả mạnh và xa, như nói hinh hương đảo chúc nghĩa là đốt hương cầu khấn; thùy hinh thiên tự nghĩa là để lại tiếng thơm ngàn năm. Khi Hiệp khách hành của Kim Dung sắp chấm dứt, người đọc có dịp làm quen với nhân vật nữ tên họ là Mai Văn Hinh, Văn Hinh có thể chuyển sang Anh ngữ thành literary perfume, một cái tên thực đẹp.

Trong tác phẩm của mình, Tác giả Trần Bích San chỉ có thể trình bày những kiến giải tưởng chừng đã ổn định nhưng thực ra không phải hoàn toàn chính xác.

Ví dụ, đối với Kinh Dịch, tác giả chấp nhận là đã được “Khổng Tử giải nghĩa” (tr. 290). Đó là một phần nội dung thuyết tác dịch tam thánh của Trịnh Huyền đời Đông Hán, theo thuyết này, truyền thuyết cho rằng Phục Hy chế ra quẻ, Chu Văn Vương viết Quái từ và Khổng Tử viết Thập dực. Tuy nhiên theo khảo chứng của các tác giả gần đây, thuyết này không đáng tin vì Phục Hy là một nhân vật hư cấu, huyền thoại, không có thật; vả lại Kinh Dịch không phải là tác phẩm do một nhân vật viết trong một thời đại. Chu Dịch đã được nhiều tác giả chuyển sang Việt ngữ, như Phan Bội Châu, Ngô Tất Tố, v.v.

Nơi trang 125, tác giả cho rằng Thuyết Văn Giải Tự của Hứa Thận soạn có 9,353 chữ. Sự thực lịch sử phức tạp hơn. Hứa Thận căn cứ vào kinh điển cổ văn cùng các sách Sử lựu thiên và Thương Hiệt thiên để biên soạn thành bộ tự điển Thuyết Văn Giải Tự vào năm Kiến Quang nguyên niên đời Hán An đế (121). Công trình trước tác đòi hỏi 23 năm. Nguyên bản sách này đã bị tàn khuyết, triều Nam Đường thời Ngũ Đại, Từ Huyền hiệu đính xác định văn bản thu chép được 10,516 chữ, trong đó có 1163 chữ trùng lắp, còn lại 9,353 chữ. Năm 1963 sách được Trung Hoa Thư cục xuất bản. Trong lịch sử qua các triều đại, các bản chú thích Thuyết văn Giải tự có rất nhiều, ảnh hưởng lớn nhất là Thuyết văn Giải tự chú của Đoàn Ngọc Tài đời Thanh do Thượng Hải Cổ tịch Xuất bản xã phát hành năm 1981.

Chế độ quốc gia vốn quan tâm rất lớn đến kho tàng văn học chữ Hán nên đã có nhiều cống hiến rất đáng biểu dương và trân trọng như thành lập Ủy ban Dịch thuật thuộc Phủ Quốc vụ khanh Đặc trách Văn hoá với người đứng đầu cơ quan là Mai Thọ Truyền, kế đó lại thành lập Trung Tâm Học Liệu với trụ sở ở đường Trần Bình Trọng. Ngoài ra còn có những tổ chức dịch thuật từ Hán sang Việt khác như Ủy ban Phiên dịch của Viện Khảo cổ Sài Gòn, Ủy ban Phiên dịch Sử liệu Việt Nam của Viện Đại học Huế, Hội Việt Nam Nghiên cứu Liên lạc Văn hoá Á châu, v.v. Riêng Ủy ban Dịch thuật của Phủ Quốc vụ khanh qui tụ nhiều ban ngoài ban Hán, ban Nôm còn có các ban Trung Hoa học, Anh, Pháp, Nhật, Đức, v.v. Mỗi ban lại chia ra nhiều tổ chuyên môn như ban Hán văn có các tổ Sử, tổ Địa, tổ Triết. Đội ngũ dịch giả khá đông đảo, dễ đến hơn trăm người, nhiều người có danh vọng và uy tín như Đoàn Trung Còn, Lê Xuân Giáo, Lê Mạnh Liêu, Hoàng Khôi, Lê Xuân Mai, Tạ Quang Phát. Những dịch phẩm đã hoàn tất bao trùm các lĩnh vực văn, sử, triết, luật, địa, kinh… Xin liệt kê vài tác phẩm đáng để ý vì có giá trị đặc biệt về văn học lịch sử, do từng cá nhân hoặc do Phủ Quốc vụ khanh phụ trách dịch thuật, ấn loát và phát hành:

Quốc triều Hình luật do Cao Nãi Quang dịch, xuất bản năm 1956;

An Nam Chí lược, do Ủy ban Phiên dịch Sử liệu Việt Nam Viện Đại học Huế xuất bản năm 1961;

Ô Châu Cận lục do Bùi Lương dịch, xuất bản năm 1961;

Sử ký Tư Mã Thiên, Nhượng Tống dịch, xuất bản năm 1964;

Ức Trai tập, Hoàng Khôi dịch, xuất bản năm 1972, v.v.

Ngoài ra Công dư Tiệp ký của Vũ Phương Đề, Vân đài loại ngữ, Kiến văn Tiểu lục của Lê Quí Đôn, Lịch triều Hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, v.v. cùng với Tứ thư Ngũ kinh của Nho giáo cũng được Trung tâm Học liệu tổ chức dịch thuật và ấn loát, phát hành trong khi Truyện Kiều bản Chiêm Vân Thị in tại Nhà in Tương Lai, đường Võ Tánh, Sài Gòn cũng được đích thân Bộ Văn hoá Giáo dục và Thanh niên tái bản năm 1973 với phần chữ Nôm in rất mỹ thuật. Các tài liệu tham khảo này in và đóng thành sách với trang giấy cỡ lớn, văn bản ít lỗi ấn loát và nhất là với ưu điểm nổi bật mà chỉ có sách dịch dưới chế độ quốc gia mới làm được, đó là việc in nguyên văn chữ Hán chữ Nôm kèm theo ở phần sau hoặc xen kẽ với phần dịch. Công việc in nguyên văn Hán tự không những giúp phổ biến rộng rãi các tác phẩm cổ mà các nguyên bản chữ Hán đính kèm dịch phẩm còn có tác dụng giúp người đọc có phương tiện và cơ hội thẩm tra lại những chỗ còn nghi vấn khi cần thiết hoặc cung cấp thêm tài liệu cho giới nghiên cứu tiến hành khảo dị.

Bổ túc

Chúng tôi trộm nghĩ sách Văn học Việt Nam cần được bổ túc bằng một chương riêng liên quan đến thi loại từ trong văn học Việt Nam.

Tất cả các tài liệu văn học sử Việt Nam từ trước đến nay không có tài liệu nào trình bày về thi loại từ. Trường Đại học Văn khoa Hà Nội trước 1954 và Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn trước 1975, cả hai trường đều không có một giờ nào giảng về từ cho sinh viên. Thậm chí Giáo sư Văn khoa Trần Trọng San còn cho rằng “trong văn học Việt–Hán chỉ có độc nhất một bài từ: bài này làm theo điệu Vương lang qui do Đại sư Ngô Chân Lưu tặng sứ thần nhà Tống Lý Giác ở thời Lê Đại Hành (năm 907); trong văn chương chữ Nôm chỉ có mấy bài từ làm theo điệu Tây giang nguyệt trong truyện Sơ kính tân trang của Phạm Thái ở đời Hậu Lê”. Đến lượt mình, tác giả Trần Bích San chỉ có một lần duy nhất đan cử thể từ nơi trang 183 một cách ngắn ngủi, nguyên văn: “các bài từ của Phạm Thái”.

Từ là một thể loại thi ca cổ điển của Trung Hoa. Từ manh nha thời Nam triều, trưởng thành vào đời Đường, thịnh hành ở thời Tống. Từ sản sinh sớm nhất trong dân gian, gốc gác của nó vốn là chốn thanh lâu và các chuyên viên trình diễn từ đầu tiên là giới kỹ nữ. Từ là tổng hoà thi và nhạc bởi vì mỗi bài từ đều được viết theo một nhạc phổ mà thuật ngữ chuyên môn gọi là từ phổ và công việc đặt lời ca cho từ phổ được gọi là điền từ.

Bài ca của Đại sư Ngô Chân Lưu sáng tác để tống tiễn sứ thần Lý Giác thực ra làm theo điệu Nguyễn lang qui chứ không phải Vương lang qui. Nhà Trần tiếp sứ Nguyên là Trần Phu đã cho cử nhạc gồm các điệu Trang Chu mộng điệp, Bạch Lạc Thiên, Mẫu biệt tử, Vi sinh, Ngọc tiêu, Đạp ca, Thanh ca, Giáng chân long, Nhập Hoàng đô, Yến giao trì và Nhất thanh phong. Đó là những khúc hát đã được Lê Quí Đôn ghi lại trong Kiến văn Tiểu lục, dựa theo Giao châu Thi tập của Trần Cương Trung; rất có thể đây là những điệu từ. Điệu Đạp ca chẳng hạn có lẽ là điệu Đạp ca từ. Bài từ cuối cùng là của Tản Đà, đó là bài Tống biệt viết vào năm 1917 theo điệu Hoa phong lạc.

Giữa hai thời điểm 907 và 1917 – hơn mười thế kỷ – thỉnh thoảng cũng có tác giả vận dụng thể từ. Về phái nữ có Liễu Hạnh tiên chúa với những bài theo các điệu Bộ bộ thiềm, Xuân quang hảo, Cách phố liên, Nhất tiễn mai; Trương Quỳnh Thư trong Sơ kính tân trang với hai điệu Tây giang nguyệt và Nhất tiễn mai; Hồ Xuân Hương với điệu Xuân đình lan.

Về nam giới có thể kể chúa Trịnh Cương với điệu Kiều dương cách; Ngô Thì Sĩ với điệu Tô mộ già; Tùng Thiện Vương với rất nhiều điệu tập hợp trong từ tập Cổ duệ từ như Hoãn khê sa, Thanh bình lạc, Dương châu mạn, Mô ngư nhi, Giải bội lệnh, Lưỡng đồng tâm, Kim nhân bổng ngọc bàn, Pháp khúc hiến tiên âm; Đào Tấn với gần hai mươi điệu trong Mộng mai từ tập: Mãn giang hồng, Bồ tát man, Nhất lạc sách, Ngư phủ từ, Lâm giang tiên, Trường tương tư, Giá cô thiên, Ức Vương tôn, Ức Giang nam, Hậu đình hoa, Ỷ la hương, Ngu mỹ nhân, Tiểu trùng sơn, Như mộng lệnh, Điệp luyến hoa, Chuyển ứng khúc, Bốc toán tử, v.v. Thi hào Nguyễn Du cũng có ít nhất một bài theo điệu Hành lạc từ và mười lăm bài theo điệu Trúc chi từ (mà tác giả Truyện Kiều gọi là Trúc chi ca). Ngoài ra các nhân vật hư cấu truyện Nôm như Vương Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, Tô Hữu Bạch trong Ngọc Kiều Lê tân truyện của Lý Văn Phức cũng đều có điền từ.

Phần “Bài Đọc Thêm” của Chương này sẽ giới thiệu vài ba bài từ kinh điển, quen thuộc chữ Hán của các tác giả Trung Hoa nổi tiếng bên cạnh các bài từ cùng điệu bằng chữ Hán hay chữ Nôm của nam nữ từ gia Việt Nam.

Khoa văn học sử có nhiệm vụ nghiên cứu các hiện tượng văn học, các phong trào văn học, các tác giả văn học. Văn học sử tìm hiểu quá trình phát triển của nền văn học dân tộc, khám phá những qui luật nội tại của văn học giúp áp dụng những qui luật ấy vào công việc phê bình và đính chính văn học. Văn học sử cố gắng giải thích những điều kiện lịch sử trong đó nền văn học dân tộc đã hình thành và tồn tại.

Văn học của một dân tộc có những đặc điểm không giống với văn học của các dân tộc khác và nhiệm vụ của văn học sử là nghiên cứu những đặc điểm liên hệ; ví dụ một đặc điểm của nền văn học Việt Nam là sự phát triển song song của nền văn học viết bằng chữ Hán và nền văn học viết bằng chữ Nôm trong khung thời gian dài nhiều thế kỷ, hoặc một đặc điểm khác là sự chống đối mãnh liệt giữa hai nền văn học tạm gọi nôm na là văn học Việt quốc và văn học Việt cộng.

Ra đời trong bối cảnh lưu vong, Văn học Việt Nam của Trần Bích San đáp ứng được phần lớn nhiệm vụ mà văn học sử đã ủy thác cho nó. Nó là một trân phẩm hiện đại, khoa học, nhân bản, khai phóng; nó đáng được xem là của gia bảo đối với những ai còn nặng lòng với tiếng Việt chữ Việt.

BS Trần Văn Tích

(Bonn, CHLB Đức)

Địa chỉ mua sách:

Tiến sĩ Trần Gia Thái, Ph.D. hoặc Trần Ngọc Châu,

P.O.Box 740248,

New Orleans, LA 70174, USA.

ĐT: (504)615–5606, (504)263–5661;

E–mail: chautran6@aol.com

Giá bán sách: $50.00USD. Độc giả ở Hoa Kỳ được miễn bưu phí. Tất cả tiền bán sách dùng tặng quỹ yểm trợ Thương Phế Binh VNCH.

From: Vu Nhat Tri

GIÁO SƯ HOÀNG XUÂN HÃN, 

GIÁO SƯ HOÀNG XUÂN HÃN, NGƯỜI SOẠN THẢO VÀ BAN HÀNH CHƯƠNG TRÌNH TRUNG HỌC VIỆT NAM ĐẦU TIÊN.

 Giáo sư Hoàng Xuân Hãn (1908–1996) là một nhà sử học, nhà ngôn ngữ học, nhà nghiên cứu văn hóa, giáo dục Việt Nam đồng thời là một kỹ sư, nhà toán học.

– Năm 1930, ông đỗ vào trường École normale supérieure và Trường Bách khoa Paris. Ông chọn học trường Bách Khoa. Trong thời gian này ông bắt đầu soạn cuốn Danh từ khoa học.
– Năm 1932-1934, ông vào học École Nationale des Ponts et Chaussées (Trường Cầu đường Paris).
– Năm 1934, ông trở về Việt Nam, 4 tháng sau đó sang Pháp. Trên chuyến tàu, ông gặp cô sinh viên Nguyễn Thị Bính sang Pháp học Dược khoa.
– Từ năm 1934 đến năm 1936 ông trở lại Pháp, đậu cử nhân toán 1935 và thạc sĩ toán 1936 tại khoa Toán trường Đại học Sorbonne (Licence des Sciences mathématiques Sorbonne).
– Năm 1936, ông kết hôn với cô Nguyễn Thị Bính sau này trở thành dược sĩ.
– Từ năm 1936 đến năm 1939, ông trở về Việt Nam dạy các lớp đệ nhất ban toán trường Bưởi. Trong thời gian này ông hoàn tất cuốn Danh từ Khoa học.
– Năm 1936, ông cho xuất bản tập giáo trình Eléments de trigonométrie (Cơ bản của lượng giác học), có lẽ là tập giáo trình Toán phương tây đầu tiên được viết bởi người Việt.
– Năm 1942, ông cho xuất bản Danh từ khoa học (Vocabulaire scientifique).
– Năm 1943, Đại học Khoa học được thành lập tại Hà Nội. Ông được mời dạy môn cơ học.
– Tháng 4 năm 1945, vua Bảo Đại mời ông vào Huế để tham khảo ý kiền về việc thành lập chính phủ độc lập đầu tiên của Việt Nam.
– Ngày 17 tháng 4 năm 1945, Hoàng Xuân Hãn tham dự nội các Trần Trọng Kim với chức vụ Bộ trưởng Giáo dục – Mỹ thuật.

– Từ ngày 20 tháng 4 đến ngày 20 tháng 6 năm 1945, với chức bộ trưởng, ÔNG ĐÃ THIẾT LẬP VÀ BAN HÀNH CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC BẰNG CHỮ QUỐC NGỮ Ở CÁC TRƯỜNG HỌC.

– Sau ngày chính phủ Trần Trọng Kim từ nhiệm, ông trở về dạy và viết sách toán bằng tiếng Việt, cùng cứu vãn những sách cũ, sách cổ bị đưa bán làm giấy lộn khắp đường phố Hà Nội.
– Hoàng Xuân Hãn sang Paris năm 1951 và định cư tại Pháp.
– Vào tháng 8 năm 2011, Trường Đại học Ponts et Chaussées (Trường Cầu đường Paris), một trong những đại học có uy tín hàng đầu của Pháp đã chọn giáo sư Hoàng Xuân Hãn đặt tên cho giảng đường đại học thuộc trường. Trước đó, nhân kỷ niệm 100 năm truyền thống Trường Cầu đường Paris, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn được Nhà trường vinh danh là một trong 100 sinh viên tiêu biểu nhất trong lịch sử của Trường.

From: TU PHUNG