S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Ếch & Bò

tuongnangtien
Trung Quốc đã làm rất tốt về việc xây dựng mạng xã hội của riêng họ. Vì vậy, Việt Nam cũng nên xây dựng mạng xã hội của mình.
La grenouille qui veut se faire aussi grosse que le boeuf.
Trong lịch sử loài người, dường như, không xứ sở nào lại có một tầng lớp lãnh đạo “sính” chuyện viết lách như ở VN:
- TBT Trường Chinh, làm thơ với bút hiệu Sóng Hồng.
- TBT Nguyễn Văn Linh, viết báo với tên NVL.
- TBT Nông Đức Mạnh, người suốt đời chỉ quan tâm đến lâm nghiệp và nông nghiệp (trồng cây gì? nuôi con gì?) cũng vừa làm công luận vô cùng kinh ngạc về bộ Tuyển Tập dầy cộm của ông, do nhà xuất bản Sự Thực xuất bản năm 2018.
Nói chung thì tất cả các đồng chí lãnh đạo đều có tác phẩm để đời ráo trọi:
- Tuyển Tập Lê Duẩn
- Tuyển Tập Phạm Văn Đồng
- Tuyển Tập Trường Chinh
- Tuyển Tập Lê Khả Phiêu
- Tuyển Tập Nguyễn Phú Trọng
Riêng Chủ Tịch Đầu Tiên của nước VNDCCH, kiêm Chủ Tịch Đảng, đã để lại cho hậu thế Hồ Chí Minh Toàn Tập (trọn bộ) tới 15 cuốn lận. Người còn làm thơ (tiếng Tầu) viết kịch (tiếng Tây) và đặc biệt nổi bật trong thể loại tự truyện – autobiography – với những bút danh xa lạ: Trần Dân Tiên hoặc Th. Lan. Ngay cho đến nay, bài viết (“Địa Chủ Ác Ghê”) của Bác – xuất bản năm 1953, với bút hiệu CB – vẫn còn được dư luận rất quan tâm và vô cùng … ái ngại!
T. S Mạc Văn Trang nhận xét: “Cái này là mốt của những nhà cộng sản, bất kỳ ai làm Tổng Bí thư đều có sách, từ xưa đến giờ: ông Lê Duẩn có rất nhiều sách, ông Trường Chinh, ông Nguyễn Văn Linh, ông Đỗ Mười cũng rất nhiều sách.”
Đến như cỡ ông Đỗ Mười mà “cũng rất nhiều sách” thì đủ biết là giới lãnh đạo CSVN thích “trước tác” đến cỡ nào. Có điều ít ai để ý là ngoài việc chăm chỉ viết lách, họ còn vô cùng nhiệt tình … đốt sách nữa cơ. Họ đốt từ Hà Nội đến Sài Gòn. Một người dân ở lại miền Bắc sau năm 1954, ông Tự Do, cho biết:
“Tôi phải học năm cuối cùng, tú tài 2, cùng một số ‘lớp chín hậu phương,’ năm sau sẽ sát nhập thành ‘hệ mười năm.’ Số học sinh ‘lớp chín’ này vào lớp không phải để học, mà là ‘tổ chức hiệu đoàn,’ nhận ‘chỉ thị của thành đoàn’ rồi ‘phát động phong trào chống văn hóa nô dịch!’ Họ truy lùng…đốt sách!
Hai mươi mốt năm sau, tình trạng này lại tái diễn:
- Trần Bích San: “Sau khi dùng bạo lực cưỡng chiếm miền Nam, Cộng Sản thực hiện cấp thời, qui mô chính sách tieu diệt toàn bộ văn hóa phẩm Việt Nam Cộng Hoà. Khoảng hơn 180,000,000 quyển sách đủ loại bị tịch thu, thiêu hủy.” (Trần Bích San. Văn Học Việt Nam. New Orleans, LA: Cảo Thơm, 2018).
- T. Vấn: “Đó là những ngày tháng tủi hổ nhất cho lịch sử Việt nam, khi hàng ngàn thanh niên sinh viên học sinh của bên thua trận bị chính quyền mới ra lệnh vào tận những nhà sách, nhà xuất bản, cả những kệ sách tư nhân, tịch thu tòan bộ sách báo, ấn phẩm, tất cả những gì được in ấn, phát hành ở miền Nam trước tháng 4 năm 1975 đem ra đốt.”
- Nguyễn Ngọc Chính: “Không có con số thống kê chính thức nhưng người ta ước đoán có đến vài trăm ngàn sách báo và băng, đĩa nhạc bị thiêu đốt trong chiến dịch truy quét văn hóa phẩm đồi trụy-phản động tại Sài Gòn. Sách báo trên kệ sách trong nhà của tư nhân bị các thanh niên đeo băng đỏ lôi ra hỏa thiêu không thương tiếc.”
Thời gian, may thay, không đứng về phe những kẻ phần thư. Những tác phẩm bị thiêu hủy đều có thể được tái tạo, dưới hình thức khác (gọn gàng, nhẹ nhàng, và dễ tiếp cận hơn nhiều) trong thời đại mới. Internet là một phát kiến ngoài dự đoán của Geroge Orwell nên nhà tiên tri của thế kỷ XX đã bị thời đại vượt qua. Trong tác phẩm Nineteen Eighty-Four (1984) ông viết: “Who controls the past controls the future: who controls the present controls the past. Ai kiểm soát được hiện tại, kiểm soát được quá khứ. Ai kiểm soát được quá khứ, kiểm soát được tương lai.”
Những phương tiện truyền thông đại chúng hiện nay khiến cho chế độ toàn trị mất ráo mọi thứ quyền “kiểm soát.” Hơn chục năm trước, báo Công An Nhân Dân (số ra ngày 05/10/2007) đã than thở rằng “blog như là một thứ hệ lụy và quản lý blog là … chuyện buộc cẳng chim trời.” Đến nay thì tình hình đã có phần (hơi) đổi khác: buộc chỉ chân voi. Vậy thì đành phải theo thời thôi!
Thế là Đảng và Nhà Nước CSVN cho ra đời hằng trăm trang mạng. Tất cả đều tưng bừng khai trương và âm thầm đóng cửa – theo nhận định của Vnexpress, đọc được vào hôm 18/09/2019: “Rất ít mạng xã hội của Việt Nam tồn tại được quá một năm. 9 năm trước, mạng xã hội Go.vn ra đời kèm theo tuyên bố chắc nịch từ lãnh đạo của dự án này là: Soán ngôi Facebook sau 6 tháng với 5 triệu người dùng. Đơn vị này cũng đặt mục tiêu chiếm 40–50% lưu lượng truy cập mạng xã hội tại Việt Nam vào năm 2015. Nhưng rồi dự án mau chóng thất bại, chuyển thành một trang tin tức tổng hợp. Tương tự Go.vn, còn nhiều cái tên mạng xã hội cũng ra mắt đình đám nhưng sớm ‘chết yểu’ như Zingme, Tamtay.vn, Yume.vn…”
Tất cả mọi người đầu biết những sự kiện này, trừ mỗi ông tân Bộ Trưởng (TT & TT) Nguyễn Mạnh Hùng. Tại lễ ra mắt mạng xã hội Lotus, nhân vật này tuyên bố rằng: “Người Việt có thể làm ra những thứ mà thế giới chưa từng làm.” Nói vậy (chắc) chưa đã miệng nên đương sự còn thêm: “Thành công của Lotus sẽ góp phần để đến 2020, người dùng các mạng xã hội Việt Nam sẽ tương đương người Việt Nam dùng các mạng của nước ngoài.”
Ông Nguyễn Thế Tân, Tổng Giám Đốc Công Ty Cổ Phần VCCorp (đơn vị phát triển mạng xã hội Lotus) cũng hùng hổ, và hùng hồn, không kém: “Kỳ vọng sẽ đạt mốc 4 triệu người dùng mỗi ngày, sau đó sẽ tăng lên 20 triệu, thậm chí 50 triệu người dùng.”
Hai ông Trời con này khiến tôi nhớ đến mấy câu thơ ngụ ngôn của Thái Bá Tân:
Con Ếch ngu ngốc ấy/Nổ đánh bùm thật to/Thế là hết con Ếch/Muốn to bằng con Bò.
Còn công luận thì nhận xét ra sao?
- TS Nguyễn Đức An: Trên thực tế, họ ra mắt rầm rộ nhưng có lẽ là hơi vội vì hiện vẫn chưa có giao diện trên web, chỉ là một ứng dụng trên thiết bị di động … nội dung thì có vẻ rất nhiều thứ vô thưởng vô phạt, với lượng tin bài gái xinh-trai đẹp và những chuyện cướp-giết -hiếp chiếm tỉ trọng lớn.
- Chuyên gia Lê Ngọc Sơn (Đại Học Công Nghệ Ilmenau): Họ nói là mạng xã hội dựa trên nội dung, nhưng nội dung kiểu gì mà khi vào thì toàn nội dung rẻ tiền.
- L.S Nguyễn Văn Đài: Mạng xã hội Việt chỉ lãng phí tiền và người.
- Báo Lao Động: Mạng xã hội 1.200 tỉ: Chỉ toàn hot girl vậy sao?
- BBC: Phát triển mạng xã hội của Việt Nam có đang đi sai hướng?
Câu trả lời xin được nhường cho một nhân vật có thẩm quyền, ông Trần Anh Dũng – CEO & Founder của công ty cổ phần MOG: “Việc phát triển một sản phẩm công nghệ là luôn đổi mới, không dừng lại nên nếu số vốn đầu tư không đủ lớn, mô hình không đủ tốt thì sẽ ‘đốt’ tiền rất nhanh. Và khi đó, trào lưu phát triển mạng xã hội sẽ lại gặp thực trạng như vài năm trước là chết như ngả rạ.”
Hai cựu bộ trưởng TT& TT Nguyễn Bắc Son và Trương Minh Tuấn (trái) khai nhận tổng cộng là 3,2 triệu đôla hối lộ từ ông Phạm Nhật Vũ. Ảnh chú thích: BBC
Cái gì chứ “đốt tiền” thì giới quan chức Việt Nam đều có năng khiếu cả. Hai vị bộ trưởng tiền nhiệmđã thể hiện khả năng thiên phú của họ một cách vô cùng ngoạn mục. Nay thì đến lượt ông Nguyễn Mạnh Hùng. Tiền đến tay ai thì người ấy cất thôi. Good luck, sir!
Việt Nam nguy cấp!
Việt Nam nguy cấp!
2019-10-01

Tình trạng Việt Nam hiện rất nguy nan, đặt trong bối cảnh phức tạp của thế giới, đặc biệt cuộc thương chiến Mỹ – Hoa, cho đến nay đủ căn cứ để khẳng định: Không có một thỏa thuận tốt đẹp nào diễn ra cả. Nhất là tình hình Hong Kong đang “mất dần và mất hẳn” “tài sản Tự Do” vốn dĩ họ thụ hưởng cả trăm năm qua, cho thấy rất cao với sự quyết liệt của nhà cầm quyền Bắc Kinh.
Những “đám mây mù” vẫn bao quanh lịch sử mối bang giao Việt Nam – Trung Quốc
Công Hàm 1958 do ông Phạm Văn Đồng ký công nhận Hoàng Sa – Trường Sa thuộc về Trung Quốc cũng như Hội nghị Thành Đô “thành công” vào năm 1990 do ông Nguyễn Văn Linh đứng đầu phái đoàn Việt Nam cho đến nay vẫn chưa tỏ tường.
Những khoản gọi là “viện trợ” của Trung Quốc dành cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa để cưỡng chiếm miền Nam trước 1975 cũng như những khoản tiền khác mà người dân Việt Nam không tài nào hay biết, khi đôi bên “cho và nhận” có kèm theo những điều kiện gì.
Theo BBC [1] “1964 – 1975: Trung Quốc ‘viện trợ Hà Nội nhưng không thể chỉ huy”, bài báo cho hay, số viện trợ của Trung Quốc dành cho Bắc Việt đạt đỉnh cao năm 1965, 1967, 1972, và 1974.
Bài báo nhận định viện trợ của Trung Quốc chỉ nhằm phục vụ lợi ích riêng của nước này. Đồng thời, cho biết số liệu chính thức của Trung Quốc thống kê từ thập niên 1950 cho đến 1975, Trung Quốc đã viện trợ cho Bắc Việt tổng cộng hơn 20 tỉ nhân dân tệ. Trong đó, 1,4 tỉ là cho vay không lãi suất.
Về “tình hữu nghị Việt – Trung”, ông Dương Danh Dy nói [2]: “Chúng ta có một số điều hứa. Tôi biết rất rõ những điều hứa này của ta. Ta có những điều hứa trong vấn đề Biển Đông. Cái hứa của chúng ta lúc đó thì có những nguyên nhân là do chúng ta bênh Trung Quốc, có những nguyên nhân do chúng ta dốt, chúng ta không hiểu gì cả…”

Trong khi ông Nguyễn Trọng Vĩnh từng cho hay [3]: “Trong đàm phán biên giới trên bộ, Trung Quốc gian xảo lấn của ta một nửa thác Bản Giốc, 100m từ ải Nam Quan xuống đến Tân Thanh vốn là điểm nối đường ray trước đây để tàu Trung Q uốc đưa hàng hóa vào đất ta, cộng với lấn chiếm những nơi khác, họ lấn của ta một diện tích bằng tỉnh Thái Bình”.
Tuy vậy, ông Nguyễn Trọng Vĩnh cho biết thêm [3]: “Dù sao, sự nhường cơn xẻ áo của nhân dân Trung Quốc giúp chúng ta khá lớn trong hai cuộc kháng chiến, nhân dân ta, Nhà nước ta rất biết ơn, coi như mắc một món nợ. Nhưng tháng giêng năm 1974, nhà cầm quyền Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đương thuộc sự quản lý của Việt Nam Cộng hòa; năm 1975, trang bị cho lực lượng vũ trang Pôn-pốt đánh phá phía Tây nam nước ta; tháng 2/1979, Đặng Tiểu Bình huy động 60 vạn quân xâm lăng, tàn phá triệt để các tỉnh biên giới nước ta, giết hại đồng bào ta thì tự họ đã xóa hết nợ nần, ơn nghĩa trước đây. Ngược lại họ lại mắc nợ máu với nhân dân biên giới nước ta”.
Cả thế giới không còn xa lạ với bản chất của người CSVN. Vì vậy, năm xưa Đặng Tiểu Bình “dạy cho Việt Nam một bài học” để gây ra 2 cuộc chiến thảm khốc tại biên giới phía Bắc và Tây Nam, không đáng ngạc nhiên đối với quốc tế.
Vào ngày 14/12/2012, đài BBC đưa tin ông Trương Tấn Sang trong tư cách Chủ tịch Nước khẳng định [4]: “Đảng, Nhà nước ta không bao giờ bán nước cho các thế lực bên ngoài như những kẻ xấu vu cáo. Hành động bán nước hay những việc làm tương tự sẽ chịu sự nguyền rủa, oán hận của các thế hệ sau này, cũng như chúng ta đã từng phê phán nghiêm khắc những nhân vật và những chế độ như thế trong lịch sử”.
Đường Lưỡi Bò – vì đâu nên nỗi?!
Đường Lưỡi Bò do nhà nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đơn phương tuyên bố chủ quyền vào năm 1953, nhưng chưa bao giờ họ đưa ra giải thích đảm bảo tính khoa học về nó.
Năm 1953 cũng là năm khởi sự chính thức “chiến dịch Điện Biên Phủ” sau nhiều năm chuẩn bị để dẫn đến:
Chín năm làm một Điện Biên
Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng
(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu)
Đến nay thật tỏ tường, Điện Biên Phủ không thể “lẫy lừng chiến thắng” nếu không có viện trợ từ Trung Quốc. Và phải chăng “thời điểm 1953” là cột mốc cho thấy, nhà cầm quyền Bắc Kinh đã tận dụng quá tốt cơ hội để đưa ra “Đường Chín Đoạn”, lúc mà nhà cầm quyền Hà Nội không cần phải quan tâm, vì buộc phải tập trung mọi nguồn lực, đặc biệt rất cần “viện trợ quân sự” để đối phó với người Pháp?!
Khi con bạc đang khát dữ dội cho “mộng ước” làm nên “trang sử oai hùng và chói lọi”, quả thật quá dễ để cho nhà cầm quyền Hà Nội nhanh chóng nhận lấy tất cả những gì mà phía Trung Quốc trao cho. Bẫy đã được đặt xong! Từ rất lâu như thế!
Bên cạnh đó, nhà cầm quyền Bắc Kinh luôn nhắc đến thuật ngữ “quyền lịch sử” – để khẳng định gần hết Biển Đông là của họ – dù vô cùng mơ hồ đối với thế giới nhưng họ thật tự tin mà không cần phải lý giải! Tại sao như vậy?
Chính Bắc Kinh biết quá rõ, những “món viện trợ” cho Hà Nội “thật bất nhân và vô cùng bất nghĩa” đối với người mà họ luôn “trìu mến” gọi là “đồng chí“. Ngược lại, Hà Nội cũng thật rành tâm địa của Bắc Kinh, nhưng lại không muốn “bánh ít trao đi bánh quy trao lại”.
“Tình hữu nghị thắm thiết” của đôi bên được tụng ca thật “lãng mạn” và “nghĩa tình” vào ngay năm 1956, khi “men say chiến thắng Điện Biên” vẫn còn… “nồng nặc”:
Bên ni biên giới là mình.
Bên kia biên giới cũng tình quê hương
(Đường sang nước bạn – Tố Hữu)
Bãi Tư Chính và vấn đề kiện
Báo Thanh Niên ra ngày 18/8/2019, có bài [5] “Trung Quốc xâm phạm vùng biển Việt Nam: Hiểm họa cho toàn khu vực”.
Khi người CSVN, đứng đầu là Hồ Chí Minh, phát hành Công hàm 1958 do Phạm Văn Đồng ký, đã công nhận Hoàng Sa – Trường Sa là của Trung Quốc, lúc bấy giờ – người CSVN có hiểu – đó cũng là bước khởi đầu gây đại thảm họa cho toàn khu vực ngày nay không (?).
Nhà cầm quyền Hà Nội kêu gọi quốc tế ủng hộ về tình hình “Bãi Tư Chính”, trong khi người dân trong nước không còn mấy ai tin tưởng vào “hành động thực tế” của họ.
“Kiện” – chữ được bắt gặp rất nhiều, từ khi Bãi Tư Chính bị xâm phạm.
Các nhà chuyên môn về Biển Đông cùng các nhà báo có nhiều đồng thuận về việc “kiện” với bằng chứng “chắc chắn thắng” thông qua thành công của Philippines năm 2016 và nhiều căn cứ pháp luật quốc tế khác, không thể chối bỏ.
Philippines kiện “Đường Lưỡi Bò” mà Trung Quốc khẳng định “tài sản riêng” của họ, trong khi Bãi Tư Chính nằm trong vùng EEZ của Việt Nam. Nói cách khác, Philippines kiện “cái chung”, còn Việt Nam kiện “cái riêng” – Một phạm trù của Triết Học, rất đáng để cho người CSVN bóp trán suy ngẫm. Chính vì vậy, nhà cầm quyền Hà Nội rất cần ủng hộ của toàn dân, khối Asean và quốc tế. Cho đến nay “chiến lược này” hoàn toàn thất bại, bởi ngay cả ông Phạm Bình Minh trong phát biểu ngày 28/9/2019 tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, dù mất tới mười lăm phút đồng hồ, nhưng không dám nhắc tên “khách thể – Trung Quốc”. Điều này có nghĩa, không thể tiến hành khởi kiện “một quốc gia vô danh”. Đó là khác biệt thứ nhất.
Chính phủ Philippines, cho tới nay, chưa hề cho thấy có bất kỳ “ân oán tình thù” nào kèm với những “món nợ bất minh và bất chính” đối với Bắc Kinh. Đó là khác biệt thứ nhì.
Philippines là quốc gia đa đảng. Đó là khác biệt thứ ba.
Ông Lê Mã Lương và ông Trương Giang Long – 2 người Công Sản cấp cao – đã chỉ ra nhiều nhân vật cao cấp khác trong ĐCSVN luôn luôn “toàn tâm toàn ý” với nhà cầm quyền Bắc Kinh. Đó là khác biệt thứ tư.
Kết luận
Một nguyên tắc đối ngoại của thế giới, cho đến nay vẫn sừng sững, không thể chối bỏ: Không một quốc gia nào can thiệp vào một quốc gia khác, một khi quốc gia cần giúp đỡ không lên tiếng.
Chính sách “vừa hợp tác vừa đấu tranh” biến tướng từ chính sách “đi dây” hàng chục năm qua của nhà cầm quyền Hà Nội – Nó cần phải được loại bỏ bởi tính phản khoa học trong tình hình Việt Nam nguy cấp hiện nay.
_______________________
Nguyễn Ngọc Già
[1] https://www.bbc.com/vietnamese/world-48051722
[3] http://trannhuong.net/tin-tuc-17298/lao-tuong-nguyen-trong-vinh-huu-nghi-hay-muu-do-thon-tinh–.vhtm
[4] https://www.bbc.com/vietnamese/mobile/vietnam/2012/12/121214_sang_army.shtml
[5] https://thanhnien.vn/…/trung-quoc-xam-pham-vung-bien-viet-n…
Luật sư nhân quyền bị chặn khi đi gặp phái đoàn Quốc Vụ Khanh của Đức đến TPHCM
Trung Khang Rfa and Đài Á Châu Tự Do shared a link.
-
(RFA) Ông Đặng Đình Mạnh, luật sư thường nhận bào chữa cho các bị cáo trong những vụ án liên quan đến chính trị, nhân quyền bị một số người mặc thường phục cố ý ngăn không cho ra khỏi nhà để gặp phái đoàn của
Quốc Vụ Khanh về Tư pháp Cộng hòa liên bang Đức đang làm việc tại TPHCM vào trưa ngày 30 tháng 9 năm 2019.Luật sư Mạnh xác nhận thông tin này với phóng viên Đài Á Châu Tự Do vào trưa ngày 1 tháng 10 và cho biết đây là lần đầu ông bị như vậy.
“Có một số anh em họ mặc thường phục, họ đến họ nói là muốn được tôi tiếp và tôi mới nói nếu như vậy thì mời lên văn phòng làm việc. Họ nói không, họ muốn được tôi tiếp ở nhà. Họ ngồi đó cho đến quá buổi trưa thì họ về. Nôm na là tôi không ra khỏi nhà được!”
Theo vị luật sư thuộc đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh thì ông có hỏi nguyên do cũng như những người này là ai nhưng không được hồi đáp thỏa đáng.
Luật sư Đặng Đình Mạnh phán đoán rằng, có ai đó không muốn ông dự họp để có thể cung cấp những thông tin, quan điểm, cách nhìn của ông và sẽ không tốt đối với chính quyền.
Luật sư Lê Công Định, một luật sư chuyên về thương mại, nhân quyền từng bị công an Việt Nam bỏ tù vì những việc làm của mình tiết lộ có 5 luật sư được mời để cung cấp cái nhìn bao quát về hệ thống luật pháp của Việt Nam cho phái đoàn.
Duy chỉ có ông Mạnh là bị ngăn chặn mặc dù theo luật sư Định phía Đức đã kịp thời lên tiếng phản đối với Bộ Tư pháp và Bộ Ngoại giao Việt Nam.
Đài Á Châu Tự Do đã liên hệ với Đại sứ quán Đức ở Hà Nội để xác định thông tin này và chưa nhận được phản hồi
Luật sư Đặng Đình Mạnh nhận xét về hệ thống luật pháp Việt Nam trong những năm vừa qua như sau:
“Với tôi có 2 vấn đề cần lưu ý đó là, thứ nhất là về mặt thể chế luật pháp thì những quy định ra sau này dường như là tiến bộ hơn rất nhiều. Nó gần như là tiệm cận với luật pháp của nhiều quốc gia trên thế giới.
Điều này rất là tốt, một phần cũng là do những hiệp ước mà Việt Nam ký với những quốc gia khác. Do ký như vậy nên mình (Việt Nam – PV) buộc phải sửa luật để phù hợp với cách chơi của họ, nên đó là điều tích cực.
Tuy nhiên điều tích cực đó chỉ thể hiện trên mặt thừa hành luật pháp thôi, tuy nhiên thực tế hiện nay việc thừa hành luật pháp không phải do những người soạn thảo mà do những người cũ.
Những người cũ này họ làm nên họ vẫn giữ nếp, quan điểm theo cách cũ. Cách cũ là cái mà mình mong phải được sửa đổi.”
Ngay trong ngày 30-9 và 1-10-2019, nhiều nhà hoạt động nhân quyền ở Hà Nội và Sài Gòn cũng bị lực lượng an ninh ngăn chặn, theo dõi do trùng với kỷ niệm 70 năm Quốc khánh nước CHND Trung Hoa.
Bao nhiêu người bị hại chết trong các chiến dịch của ĐCSTQ 70 năm qua?
Trí thức Việt Nam
M.TRITHUCVN.NET
-
Khi Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) tổ chức bắn pháo hoa mừng ngày giành được chính quyền (1/10), khi những người lính ĐCSTQ hành quân qua Quảng trường Thiên An Môn, thì người dân Trung Quốc không được quên quang cảnh ‘hoành tráng’ mà chính quyền này đạo diễn được lát bằng máu và sự áp bức vô số người dân trong hơn 70 năm qua. Chỉ tính 70 năm xây dựng chính quyền kể từ năm 1949, ĐCSTQ đã gây ra nhiều tội ác ngút trời, không sách nào kể hết.

ADVERTISEMENT
Chiến dịch trấn áp phản cách mạng
Trong những ngày đầu xây dựng chính quyền, để loại bỏ những thế lực đối lập gây nguy hại quyền lực, tháng 3/1950, ĐCSTQ đã phát động “Chỉ thị về Nghiêm trị phần tử phản cách mạng”.
Tháng 12/1950, Lưu Thiếu Kỳ đưa ra chỉ thị: “Những tên thổ phỉ, bao gồm các tên đầu sỏ trong nước, đã quy hàng hối cải thì không nằm trong đối tượng hoạt động chống cách mạng, ngay cả khi trong quá khứ chúng có nợ máu thì cũng tha tội chết”. Nhưng Mao Trạch Đông đã sửa lại thành: “Nếu nợ máu nặng, quần chúng yêu cầu án tử hình, và nếu thấy tử hình tốt hơn là không thì cũng có thể áp dụng án tử hình.” Mao cũng ban hành chỉ đạo tử hình tại một số địa phương. Mao cho biết: “Thượng Hải là một thành phố lớn với 60 triệu người, chiếu theo tình hình Thượng Hải đã bắt hơn 20.000 người nhưng chỉ giết hơn 200 người, tôi nghĩ rằng năm 1951 nên có ít nhất 3.000 tên phản cách mạng bị tử hình. Trong nửa đầu năm, ít nhất nên tử hình 1.500 tên.”
Theo đề nghị của Mao, Trung ương ĐCSTQ đã họp để thảo luận về vấn đề tỷ lệ kẻ phản cách mạng phải tử hình, “Đã đưa ra quyết định dựa trên tỷ lệ dân số 1/1000, trước tiên một nửa con số này sẽ dựa theo tình hình quyết định”. Thời điểm đó tổng dân số Trung Quốc là 550 triệu người, và một nửa của 1/1000 là 275.000 người.
Cuối cùng bao nhiêu người thiệt mạng vì chiến dịch này? Trong một báo cáo năm 1954 của Thứ trưởng Bộ Công an ĐCSTQ Từ Tử Vinh cho biết: Trong chiến dịch chống phản cách mạng đã bắt giữ 2,62 triệu người, trong đó tử hình 712.000 người, chiếm 1,31/1000 dân số toàn quốc; 1,29 triệu người bị kết án lao động cải tạo; 1,2 triệu người bị quản chế; 380.000 người được thả sau khi được giáo dục cải tạo. Ông Dương Khuê Tùng (Yang Kuisong), chuyên gia nghiên cứu lịch sử ĐCSTQ là Giáo sư Đại học Bắc Kinh cho biết, “Nếu chú ý đến nửa sau tháng 4/1951 khi Mao Trạch Đông ‘khẽ nhắc nhở’ vấn đề ở ban chỉ đạo tại một số khu vực đã quá lạm dụng tử hình, thậm chí một số nơi dường như che giấu tình hình, thì trong thực tế số vụ hành quyết trên toàn quốc có khả năng vượt quá con số 712.000 người.”
Ít nhất hai triệu địa chủ bị giết hại trong phong trào cải cách
Để củng cố quyền lực chính trị, về mặt kinh tế chính trị, ĐCSTQ đã thực hiện chính sách “loại bỏ” và cải tạo, gọi đó là “Phong trào cải cách xã hội chủ nghĩa”. Phong trào này là để tiến hành cải cách ruộng đất ở nông thôn, với mục đích tiêu diệt địa chủ, chiếm đoạt tài sản của địa chủ và phú nông, đồng thời thiết lập quyền lực kiểm soát của ĐCSTQ đối với nông dân.
Ngày 24/2/1950, Viện Quản lý Nhà nước (Chính vụ viện) của ĐCSTQ đã thông qua “Chỉ thị về cải cách ruộng đất và trưng thu thuế lương thực tại các khu vực mới giải phóng”. Ngày 28/6 cùng năm, ĐCSTQ đã thông qua “Luật cải cách ruộng đất” để bắt đầu cải cách ruộng đất. Mao cũng cho biết khó có thể thực hiện được chính sách này trong hòa bình, phải tổ chức nông dân đấu tranh để chiếm lại ruộng đất, phải đấu tranh trực diện với giai cấp địa chủ.
Theo chỉ đạo của ban lãnh đạo tối cao của ĐCSTQ, các cán bộ của ĐCSTQ được chia thành nhiều nhóm thâm nhập sâu vào các vùng nông thôn trên cả nước. Sau khi họ đến nông thôn đã kích động những người nông dân không có ruộng đất, đặc biệt là nông dân thất thế ở nông thôn, đấu tranh với nông dân có ruộng đất. Ngoài ra, ĐCSTQ còn thực hiện phân chia giai cấp và thành phần ở các vùng nông thôn, cả nước có ít nhất 20 triệu người bị chụp mũ “Địa chủ, phú nông, chống cách mạng, thành phần xấu”, khiến họ trở thành “dân đen” mất quyền công dân. Hơn nữa, mỗi khu vực đều có một số địa chủ có thanh thế bị quy kết là “bá”, địa chủ bị xác định là “bá” sẽ bị xử tử.
Như vậy cuối cùng có bao nhiêu địa chủ đã bị giết hại và trấn áp? Trong tác phẩm “Lịch sử nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” do nhà sử học người Mỹ John King Fairbank biên soạn được Nhà xuất bản Nhân dân Thượng Hải công bố năm 1990 chỉ ra, trong thời kỳ đầu ĐCSTQ lên nắm quyền đã trấn áp khoảng một triệu đến hai triệu địa chủ và phú nông.
Theo nghiên cứu của nhà sử học đương đại Mỹ Erpin Gao, theo tinh thần chỉ đạo trong cải cách ruộng đất “8% số hộ nông dân và 10% của tổng số nông dân tại khu mới giải phóng bị xử lý” cho thấy ít nhất 30 triệu nông dân đã bị thanh trừng với những mức độ khác nhau, ít nhất hai triệu địa chủ trở lên đã bị đàn áp và tước đoạt tất cả tài sản, họ không chỉ bị mất đất mà phần nhiều rơi vào cảnh gia đình tan vỡ và thiệt mạng. Đặc biệt khi chiến dịch đàn áp phản cách mạng “nối bước theo sau” được triển khai thì kế hoạch của ĐCSTQ nhằm tiêu diệt địa chủ trên quy mô rộng khắp và xây dựng trật tự mới được đẩy mạnh thực hiện. Chẳng hạn như một vụ án xảy ra sau cải cách ruộng đất tại tỉnh Cam Túc, một số nông dân vì đánh một cán bộ thôn mà tất cả đã bị kết tội phản cách mạng, trong đó có 4 người bị tử hình và 3 người bị kết án tù nặng nề.
Điều đáng sợ hơn là việc giết địa chủ trong cải cách ruộng đất được thực hiện dựa theo tỷ lệ, theo định mức số người để tính hoàn thành nhiệm vụ, mà không dựa theo lý lẽ phải trái. Từ ước tính bảo thủ của giới chuyên gia thì có khoảng hai triệu “thành phần địa chủ” bị sát hại trong cải cách ruộng đất. Thậm chí có học giả người Mỹ còn ước tính đến 4,5 triệu người bị chết trong chiến dịch cải cách ruộng đất.
>>Nhìn lại hậu quả tai hại của cuộc “Cải cách ruộng đất” tại Trung Quốc
Gần một triệu lính Trung Quốc đã mất mạng trong chiến tranh Triều Tiên
Tài liệu được giải mật cho thấy thực tế cái gọi là “hỗ trợ Triều Tiên chống Mỹ” mà ĐCSTQ thường khoe khoang chính là ủng hộ cuộc chiến xâm lược tàn ác của Triều Tiên đối với Hàn Quốc. Ngày 30/1/1951, Ủy ban thứ nhất của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua một nghị quyết lên án Trung Quốc là kẻ xâm lược với số phiếu là 44 phiếu ủng hộ và 7 phiếu trắng. Ngày 18/5, cùng năm, Liên Hiệp Quốc cũng đã thông qua một đề xuất yêu cầu các quốc gia thành viên áp đặt lệnh cấm vận đối với Trung Quốc.
Dưới lãnh đạo của Mỹ, quân của Liên Hiệp Quốc đã đẩy lùi quân của ĐCSTQ vượt qua “giới tuyến 38”. Sau cái chết của Stalin, trong hoàn cảnh khốn khó cả trong đối nội lẫn đối ngoại, ĐCSTQ đã đồng ý ký hiệp định đình chiến. Trong Lễ kỷ niệm 50 năm nổ ra Chiến tranh Triều Tiên, khi đó Tổng thống Mỹ Bill Clinton dưới ủy quyền của Quốc hội Mỹ đã phát biểu tuyên bố kỷ niệm, trong đó cho biết: “Quân đội Mỹ và các đồng minh của chúng tôi đã chiến đấu gian khổ vài tháng, có công có thủ, có được có mất, nhưng không bao giờ khuất phục kẻ địch… Cuối cùng vào ngày 27/7/1953, đã ký một hiệp định đình chiến tại Bàn Môn Điếm. Triều Tiên trở lại phía bắc của giới tuyến 38, Hàn Quốc giữ chế độ tự do dân chủ. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử một tổ chức liên minh quốc tế xuất quân để chiến đấu chống lại xâm lược, và đã thành công, dĩ nhiên trong thành công này phải cảm tạ lòng dũng cảm của gần hai triệu người lính Mỹ.”
Đến nay chưa thể biết rõ số binh lính của ĐCSTQ tử nạn trong cuộc chiến tranh xâm lược này. Ngày 2/10/2010, trong bài viết “70% số 180.000 liệt sĩ hy sinh khi chưa đầy 30 tuổi trong cuộc chiến viện trợ Triều Tiên chống Mỹ” đăng trên Tuần san Liễu Vọng của Tân Hoa xã Trung Quốc, trong công bố số người thiệt mạng (bao gồm chết do bệnh tật) của “quân tình nguyện”, ĐCSTQ đã phải qua ba lần điều chỉnh con số: Ban đầu là 156.600 người, sau đó do nhiều chất vấn chỉ ra con số không hợp lý đã sửa lại thành 171.700 người, nhưng những áp lực chỉ trích sau đó lại buộc sửa đổi số liệu thành 183.000 người.
Theo số liệu từ “Tổng kết kinh nghiệm công tác y tế trong chiến tranh hỗ trợ Triều Tiên chống Mỹ” mà ĐCSTQ công bố vài năm trước cho thấy, tổng số “quân tình nguyện” vào Triều Tiên bị giảm tới 978.122 người. Nếu con số này chính xác, vậy thì trong số 1,35 triệu “quân tình nguyện” vào Triều Tiên chỉ có 372.000 sống sót người trở về.
Nhưng theo hồ sơ được Liên Xô giải mật thì cho biết số “quân tình nguyện” của ĐCSTQ thiệt mạng là một triệu. Còn số liệu thống kê của Mỹ hồi giữa những năm 1970 là thiệt mạng 908.447 người, còn mất tích là 4.471 người.
Để ủng hộ kẻ xâm lược, gần một triệu binh sĩ ĐCSTQ đã mất mạng ở Triều Tiên, trong số đó có một bộ phận là quân Quốc dân đảng đã đầu hàng ĐCSTQ, còn mục đích chính của Mao Trạch Đông đưa những người lính này đến chiến trường Triều Tiên làm bia đỡ đạn là “làm sạch” quân đội, để không còn tàn dư Quốc dân đảng trong quân đội ĐCSTQ.
Bao nhiêu nhà tư bản đã nhảy lầu trong chiến dịch cải cách công thương nghiệp?
Sau khi ĐCSTQ xây dựng chính quyền, cùng với tiến hành cải cách ruộng đất và diệt trừ địa chủ ở nông thôn, tại vùng đô thị ĐCSTQ cũng bắt đầu tổ chức phong trào cải cách công thương nghiệp để tiêu diệt giai cấp tư sản dân tộc. Ngày 26/5/1952, ĐCSTQ đã phát động “chiến dịch ngũ phản” đối với giới tư bản, có nghĩa là “chống hối lộ, chống trốn thuế, chống đánh cắp tài sản nhà nước, chống gian lận làm sản phẩm kém chất lượng, chống hành vi trộm cắp của tình báo kinh tế”. Đầu tháng Hai cùng năm, chiến dịch này đã được triển khai tại các thành phố lớn, sau đó nhanh chóng lên đỉnh cao nhắm vào cải tạo giai cấp tư sản, trong đó Thượng Hải là mục tiêu đầu tiên vì Thượng Hải là một trung tâm của nền kinh tế Trung Quốc, là nơi quy tụ đông đảo nhà tư bản.
Trong màn tắm máu này, các nhà tư bản thường xuyên bị buộc phải “khai báo tội trạng”, họ đã buộc phải bàn giao tài sản của họ, rất nhiều người không khuất phục chịu nhục đã tự tử bằng cách nhảy lầu hoặc uống thuốc độc. Người ta kể rằng thời gian đó không ai dám đi lại trên vỉa hè đường phố ở Thượng Hải vì lo ngại bất ngờ có người trên cao rơi trúng mình. Lý giải nguyên nhân người ta thường nhảy lầu chứ không nhảy sông, vì nếu nhảy sông ĐCSTQ sẽ không thấy thi thể lại cho rằng trốn đi Hồng Kông, như vậy người thân của người tự tử sẽ tiếp tục bị liên lụy.
Với thủ đoạn đàn áp này, chỉ trong vài năm ĐCSTQ đã xóa bỏ hoàn toàn giai cấp tư sản và sở hữu tư nhân trong cả nước, đưa doanh nghiệp vào quản lý của ĐCSTQ. Có thể nói, thực tế cái gọi là “ngũ phản” là cướp của cải của các nhà tư bản.
Cuối cùng có bao nhiêu nhà tư bản ở Thượng Hải đã trở thành “lính nhảy dù” trong chiến dịch này, đến nay vẫn chưa thể biết được câu trả lời cụ thể. Theo số liệu trong “Sự thực Phong trào chính trị trong lịch sử ĐCSTQ từ khi xây dựng chính quyền” do Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử Trung ương ĐCSTQ công bố năm 1996, chiến dịch này đã bắt giữ hơn 323.000 người, hơn 280 người đã tự sát hoặc mất tích. Có lẽ con số này cũng chỉ để tham khảo, vì khó biết được con số thực sự.
Hậu quả của chiến dịch tiêu diệt phản động
Từ năm 1955-1957, ĐCSTQ đã phát động “chiến dịch tiêu diệt phản động”, mục đích chính là để loại bỏ phe chống đối trong nội bộ ủng hộ dân chủ và gián điệp Đài Loan.
Ngày 1/7/1955, Trung ương ĐCSTQ đã ban hành “Chỉ thị về Triển khai đấu tranh loại bỏ phần tử phản động ẩn núp”, sau đó đẩy mạnh thực hiện chỉ thị này trên toàn quốc. Theo tỷ lệ người tốt và người xấu mà Mao Trạch Đông hoạch định, “phải bắt giữ được phần tử phản động và phần tử xấu ẩn núp trong số người khoảng 5% của mỗi tổ chức”.
Sau khi kết thúc chiến dịch này, trong báo cáo công việc của Bộ trưởng Bộ Công an La Thụy Khanh cho biết: Việc quét “phản động” quốc nội trong hơn 18 triệu viên chức cả nước phát hiện hơn 10.000 phần tử phản động và phần tử xấu, trong đó hơn 5.000 đối tượng trong Đảng, cán bộ lãnh đạo cấp huyện trở lên là 260 đối tượng, hơn 3.000 đối tượng trà trộn vào Đoàn Thanh niên Cộng sản. Theo tài liệu giải mật: chiến dịch này đã xử lý hơn 1,4 triệu trí thức và cán bộ trong cả nước, trong đó bắt giữ 214.000 người, xử bắn 22.000 người, bị chết bất thường 53.000 người.
Hai triệu trí thức biến mất trong phong trào chống cánh hữu
Năm 1957, ĐCSTQ đã phát động “chiến dịch chỉnh đốn chống hữu khuynh”. Đây là chiến dịch chỉnh đốn của ĐCSTQ, xem xét những đối tượng khuynh hướng cánh hữu cả trong và ngoài Đảng để trấn áp. Mao đã áp dụng phương pháp “dẫn rắn ra khỏi hang” để xúi giục người ngoài Đảng nêu ý kiến góp cho ĐCSTQ. Sau khi những trí thức chân thành lên tiếng phê bình ĐCSTQ thì lúc này Mao mới lộ ra bộ mặt thật ma quỷ.
Theo các số liệu được công bố tại cuộc họp mở rộng vào ngày 3/5/1958 của Bộ Chính trị Trung ương ĐCSTQ, trong “chiến dịch chống cánh hữu” này có 31,78 triệu người bị xếp vào cá nhân cánh hữu; 22.071 người bị xếp vào cánh hữu có tổ chức; 4.127 người bị liệt vào chống Đảng có tổ chức. Sau Cách mạng Văn hóa, Trung ương ĐCSTQ dựa theo hồ sơ số 55 năm 1978 để “minh oan” cho cánh hữu, chỉ có 96 người không cho thay đổi bản án “cánh hữu”, như vậy tỷ lệ sai lầm là 99,998%. Đến năm 1986, trong cả nước còn lại khoảng 5.000 người cánh hữu. Theo nguồn tin, đến giữa những năm 1990 thì cả nước chỉ còn chưa đến 1.000 người “cánh hữu”. Trong số đó “cánh hữu” ở cấp trung ương chỉ còn 5 người.
Dữ liệu cũng cho thấy, số trí thức “cánh hữu” bị bức hại trên toàn Trung Quốc vào năm 1957 là 3,17 triệu người, đến năm 1978 có 550.000 người được cởi mũ cánh hữu. Như vậy nghĩa là trong quá trình chống cánh hữu này, cả nước có 2,62 triệu trí thức “cánh hữu” âm thầm mất tích. Số phận của họ như thế nào?
Đại nạn mất mùa 3 năm làm ít nhất 40 triệu người chết đói
Từ năm 1959 đến 1961, Trung Quốc Đại Lục xảy ra đại nạn mất mùa hiếm gặp. Ở thành phố, người ta phải mua lương thực bằng tem phiếu, mọi người ngày ngày thiếu ăn; còn ở nông thôn, các nông dân sau khi ăn hết khẩu phần hạn chế thì không chỉ phải ăn thêm rễ cỏ, vỏ cây, mà thậm chí ăn cả thịt người. Bao nhiêu người đã chết đói trong đại nạn mất mùa này?
Các tài liệu giải mật nội bộ của ĐCSTQ tiết lộ, sau khi giải mật hồ sơ lưu trữ từ năm 1959 đến 1962, tổng cộng toàn Trung Quốc Đại Lục có hơn 37,558 triệu người đã chết vì đói! Hơn nữa, tỷ lệ tăng dân số Trung Quốc năm 1959 là âm 2,4%, năm 1960 là âm 4,7%, năm 1961 là âm 5,2%, năm 1962 là âm 3,8%. Vấn đề cần lưu ý là các số liệu trên chỉ là số liệu thống kê của một số khu vực nhất định!
Năm 2007, trong cuốn sách “Âm mưu” của học giả Đinh Trứ (Ding Shu) người Mỹ gốc Hoa, đã cho biết hậu quả nghiêm trọng của Đại nhảy vọt là đã khiến tổng cộng 35 – 40 triệu người bị chết đói. Cuối năm 2009, trong một lần trả lời phỏng vấn, chuyên gia nổi tiếng về lúa nước Viên Long Bình (Yuan Longping), lần đầu tiên đề cập đại nạn mất mùa làm 40 – 50 triệu người chết đói. Năm 2010, Tiến sĩ Frank Kikotter, một học giả về nghiên cứu lịch sử Trung Quốc cận hiện đại của Hà Lan, đã cho biết trong cuốn sách “Đại nạn mất mùa do Mao gây ra: Câu chuyện về thảm họa lớn nhất Trung Quốc”, chỉ ra rằng 45 triệu người đã chết đói vì đại nạn mất mùa. Rõ ràng, theo nghiên cứu của tất cả các bên, số người chết đói trong đại nạn mất mùa 3 năm không dưới 40 triệu người.
Ông Dương Kế Thằng (Yang Jisheng), cựu ký giả Tân Hoa xã Trung Quốc, qua nhiều năm điều tra nghiên cứu đã viết thành sách «Bia mộ: Nhìn lại đại mất mùa thập niên 60 tại Trung Quốc». Sách lần đầu được xuất bản tại Hồng Kông tháng 5/2008 và đã được đánh giá cao về tính chân thực. Theo sách «Mộ bia», trong thời gian ba năm này mưa thuận gió hòa, vì thế nguyên nhân gây ra nạn đói là vì con người chứ không vì thiên tai. Chính sách “Đại nhảy vọt” đưa ra chỉ tiêu thu hoạch cao cho các địa phương, trưng thu cao… dẫn đến phải giảm tối đa khẩu phần lương thực của người nông dân. Khi số lương thực nộp lên không đủ để báo cáo chính phủ, người nông dân bị ép phải bớt khẩu phần của mình, phải nộp cả phần hạt giống, vì thế mà gây ra thảm họa mất mùa khủng khiếp này. Theo ghi chép lịch sử về các cuộc họp của lãnh đạo ĐCSTQ, Mao hoàn toàn biết về những gì đang xảy ra, nhưng vẫn ra lệnh thu vét nhiều lúa gạo hơn.
Nhà sử học Frank Dikötter, tác giả cuốn “Nạn đói lớn của Mao” đã tóm tắt Đại nhảy vọt của Mao như sau:
Mao đã nghĩ rằng ông ta có thể giúp đất nước của mình vượt qua đối thủ cạnh tranh bằng cách tập hợp dân làng trên khắp đất nước thành những công xã khổng lồ. Nhằm theo đuổi một thiên đường không tưởng, tất cả mọi thứ phải là sở hữu tập thể. Người ta bị lấy đi công việc, nhà cửa, đất đai, đồ đạc và sinh kế. Trong bếp ăn tập thể, thức ăn, được phân phối theo thìa dựa theo công tội, đã trở thành một vũ khí để buộc người dân phải theo sát từng mệnh lệnh của Đảng. Động lực làm việc bị tiêu tan, thay vào đó cưỡng chế và bạo lực đã được sử dụng để bắt những nông dân đói khát phải lao động trên những công trình thủy lợi quy hoạch kém, còn những cánh đồng lúa thì rơi vào quên lãng.
Như vậy, thảm kịch khủng khiếp này không phải vì thảm họa thiên nhiên hiếm gặp như sách sử ĐCSTQ viết, cũng không phải vì Liên Xô ép trả nợ, lý do cơ bản là vì vấn đề về thể chế: “Chế độ độc đảng của Trung Quốc đã triệt tiêu mọi quyền tự do của xã hội và người dân, không có tự do ngôn luận, di cư, du lịch, thông tin… thì người dân chỉ biết nghe lệnh và làm theo chỉ dẫn của Đảng, như vậy cơ hội để phát hiện cũng như sửa chữa sai lầm là rất nhỏ nhoi.”
Đại nạn Cách mạng Văn hóa đã giết chết 20 triệu người?
Không còn gì nghi ngờ, Đại Cách mạng Văn hóa kéo dài từ tháng 5/1966 đến tháng 10/1976 do “Tổ Cách mạng Văn hóa Trung ương” được Mao Trạch Đông khởi xướng và chỉ đạo, chắc chắn là một thảm họa. Chiến dịch này không chỉ phá hủy hoàn toàn nền văn hóa truyền thống Trung Hoa, mà còn phá hủy một số lượng lớn các di tích văn hóa, cũng giết hại vô số người dân Trung Quốc.
Trong “Trung Quốc: Lịch sử mới” (China: A New History), giáo sư John King Fairbank của Đại học Harvard đã ước tính có hơn một triệu người đã bị bức hại thiệt mạng. Giáo sư Đinh Trữ, một học giả người Mỹ gốc Hoa đã thông qua phương pháp phân tích dữ liệu lịch sử và kết luận số người chết bất thường trong Cách mạng Văn hóa là khoảng 2 triệu người.
Giáo sư Tô Dương (Su Yang) thuộc Phân hiệu Irvine Đại học California, đã bỏ công cả chục năm để tìm số liệu người thiệt mạng từ các cuốn Huyện chí được ĐCSTQ xuất bản cũng như các tài liệu lưu trữ nội bộ khác, đã ước tính Cách mạng Văn hóa Trung Quốc làm ít nhất 750.000 đến 1,5 triệu người ở các vùng nông thôn đã bị bức hại đến chết; một số lượng người tương tự trở thành người tàn phế vì bị tra tấn đánh đập; ít nhất 36 triệu người trải qua bức hại chính trị ở các mức độ khác nhau. Số nạn nhân này là chưa tính tại các thành phố chủ chốt.
Trong cuốn sách “Thế kỷ đẫm máu tại Trung Quốc”, giáo sư R. J. Rummel đầy uy tín của Mỹ nghiên cứu về các vụ thảm sát trên thế giới, đã cho biết số người thiệt mạng trong Cách mạng Văn hóa là khoảng 7,73 triệu người.
Trong bài viết tựa đề “Tôi nghĩ về Cách mạng Văn hóa: Con đường, Lý luận và Thể chế”, ông Dương Kế Thằng (Yang Jisheng), người từng là phóng viên cấp cao của Tân Hoa xã Trung Quốc và là cựu Tổng biên tập tờ “Viêm Hoàng Xuân Thu” đã chỉ ra, tại cuộc họp mở rộng của Bộ Chính trị Trung ương ĐCSTQ diễn ra sau Hội nghị Toàn thể Trung ương lần 1 Khóa 12, ông Phó Chủ tịch ĐCSTQ khi đó là Diệp Kiếm Anh đã tiết lộ số người thiệt mạng trong Cách mạng Văn hóa: (1) Hơn 4.300 vụ đấu tố vũ lực quy mô lớn, hơn 123.700 người chết; (2) 2,5 triệu cán bộ bị đấu tố, hơn 302.700 cán bộ bị giam giữ bất hợp pháp, và hơn 115.500 cán bộ bị chết bất thường; (3) Tại khu vực các đô thị, 4,81 triệu người thuộc nhiều tầng lớp bị xem là phản cách mạng, bất đồng chính kiến, theo chủ nghĩa tu chính, học thuật phản động, trong đó hơn 683.000 người chết bất thường; (4) Tại nông thôn, hơn 5,2 triệu địa chủ và phú nông (bao gồm cả một phần trung và thượng nông) bị đàn áp, trong đó 1,2 triệu trường hợp chết bất thường; (5) Có hơn 100 triệu người đã bị áp bức chính trị, 557.000 người mất tích. Nói cách khác, ĐCSTQ thừa nhận có hơn 2 triệu người đã chết bất thường trong Đại Cách mạng Văn hóa.
>>Giết người như giết lợn trong thời Cách mạng Văn hóa ở Quảng Tây
Tuy nhiên, trong sách “Rửa oan: Sửa lại án oan sai” do đồng tác giả là phó giáo sư của Đại học Sơn Đông, ông Đổng Bảo Huấn (Dong Baoxun) và phó chủ nhiệm Lịch sử Đảng của tỉnh Sơn Đông, ông Đinh Long Gia (Ding Longjia), đã trích dẫn phát biểu tại lễ bế mạc Hội nghị Công tác Trung ương vào ngày 13/12/1978 của Phó chủ tịch ĐCSTQ Diệp Kiếm Anh: “Sau hai năm và bảy tháng điều tra toàn diện của Trung ương ĐCSTQ phát hiện, Cách mạng Văn hóa hại chết khoảng 20 triệu người, hơn 100 triệu người từng chịu đàn áp chính trị, chiếm 1/9 dân số toàn quốc, gây lãng phí 800 tỷ nhân dân tệ.”
Điều kỳ lạ là bài phát biểu này không được đưa vào tài liệu của Trung ương ĐCSTQ, nhưng đã xuất hiện trong tác phẩm “Tuyển tập Diệp Kiếm Anh” do Nhà xuất bản Nhân dân xuất bản vào tháng 3/1996.
Theo “Tuyển tập Đặng Tiểu Bình”, trong cuộc trả lời phỏng vấn của nữ nhà báo người Ý Oriana Fallaci vào tháng 8/1980, ông Đặng Tiểu Bình cho biết “Cách mạng Văn hóa đã làm chết bao nhiêu người, đây là con số thiên văn, một con số không bao giờ có thể tính được”. Như vậy, theo mô tả của Đặng thì số người chết vì bị bức hại trong Cách mạng Văn hóa không đơn giản là con số 20 triệu?
Ít nhất 10.000 người thiệt mạng trong thảm sát Thiên An Môn 1989
Ngày 4/6/1989, ĐCSTQ cho quân đội vào quảng trường Thiên An Môn tại Bắc Kinh thảm sát người dân và sinh viên tay không tấc sắt “chống hủ bại, đòi dân chủ”. Dù ĐCSTQ chưa từng công bố chính thức về số người bị hại chết, nhưng theo một số tài liệu lưu trữ nội bộ được công bố tại hội thảo “Tình trạng Xã hội hiện nay” do Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc tổ chức vào đầu tháng 3/1996 cho biết, tổng số người thiệt mạng là 931 người, hơn 22.000 người bị thương.
Ông Bào Đồng, người mà trước ngày 4/6/1989 là thư ký của Tổng Bí thư ĐCSTQ Triệu Tử Dương, vào năm 2013 đã chia sẻ về sự kiện này thông qua một video được chuyển ra ngoài Đại Lục, qua đó lần đầu tiết lộ rằng khi đó Hội chữ thập Đỏ từng cho biết số người thiệt mạng trong sự kiện đàn áp này lên đến hơn 2.000 người. Ngoài ra, trong năm 2013, các tài liệu lưu trữ của Liên Xô cũ được Nga cho giải mật đã chỉ ra số người chết và bị thương trong vụ thảm sát Thiên An Môn là 3.000 người.
Theo một bài viết trên Tuần san Next Magazine (Hồng Kông) vào năm 2014 trong kỷ niệm tròn 25 năm vụ bức hại Thiên An Môn cho biết, hồ sơ giải mật của Nhà Trắng Mỹ cho thấy có tới 40.000 người bị chết và trọng thương trong vụ Thiên An Môn, trong đó số người chết là 10.454 người. Tài liệu giải mật này được lưu giữ trong kho lưu trữ hồ sơ của cựu Tổng thống Mỹ George W. Bush, hầu hết các tài liệu liên quan đến sự kiện Thiên An Môn được Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc là James R. Lilley viết khi ở Bắc Kinh, còn một số do Donald M. Anderson khi đó trú tại Tổng lãnh sự Hồng Kông viết.
Tài liệu giải mật mới nhất của Anh năm 2017 chỉ ra, trong vụ Thiên An Môn, quân đội ĐCSTQ giết chết ít nhất 10.000 người. Con số này được Đại sứ Anh ở Trung Quốc lúc đó là Alan Donald biết thông qua một người bạn trong Chính phủ Trung Quốc, sau đó được truyền về Chính phủ Anh thông qua một bức điện tín ngoại giao bí mật.
Tuy nhiên, trò giết người của ĐCSTQ vẫn chưa kết thúc.
>> Hồ sơ giải mật Anh: Thảm sát Thiên An Môn giết chết hơn 10.000 người
Bao nhiêu người tập Pháp Luân Công đã bị giết hại?
Vào tháng 7/1999, lãnh đạo ĐCSTQ khi đó là ông Giang Trạch Dân đã phát động chiến dịch đàn áp Pháp Luân Công. Qua thời gian 20 năm, chiến dịch đàn áp này hiện vẫn chưa dừng lại. Trong 20 năm này, không biết bao nhiêu người tập Pháp Luân Công đã bị bắt giam trái phép, bị tra tấn, hành hạ đến chết và thậm chí bị mổ cướp nội tạng bán. Do ĐCSTQ che giấu nên đến nay số lượng học viên Pháp Luân Công bị giết vẫn là một ẩn số.
Tuy nhiên, theo số liệu thống kê của trang mạng Pháp Luân Công Minghui.org ngoài Đại Lục, tổng số học viên Pháp Luân Công thiệt mạng vì bị ĐCSTQ bức hại đã được xác thực danh tính là hơn 4.000 người. Như vậy tính cả những trường hợp chưa được tiết lộ thì là bao nhiêu người?
Ngoài ra, những người bị ĐCSTQ đàn áp còn có người Duy Ngô Nhĩ, người Tây Tạng, Cơ đốc giáo, Thiên chúa giáo, số người thiệt mạng vì ĐCSTQ bức hại thuộc những nhóm người này là bao nhiêu?
>>Đàn áp tôn giáo của Trung Quốc có thể sánh ngang với thời Đức Quốc Xã
“Xuất khẩu cách mạng” đã giết chết bao nhiêu người?
Sau khi ĐCSTQ gia cố được quyền lực đã học theo mô hình Liên Xô áp dụng “hỗ trợ cách mạng thế giới”, đã “xuất khẩu” ra thế giới mô hình chủ nghĩa Mao và cách mạng Trung Quốc, tư tưởng này đã luôn là một phần quan trọng trong chính sách đối ngoại của ĐCSTQ, đối tượng được chú trọng là các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latin, đặc biệt là các nước Đông Nam Á có số lượng lớn người Hoa. Giai đoạn dữ dội nhất mà ĐCSTQ thực hiện chính sách này là sau khi Cách mạng Văn hóa nổ ra.
Tại Campuchia, trò “xuất khẩu cách mạng” này của ĐCSTQ đã dựng lên tên bạo chúa khét tiếng là thủ lĩnh Pol Pot của Khmer Đỏ tại. Mặc dù Khmer Đỏ chỉ tồn tại được 4 năm ở Campuchia, từ năm 1975 đến 1978, nhưng đã tàn sát 2 triệu dân tại một nước nhỏ chưa đầy 8 triệu dân khi đó, trong đó gồm cả hơn 200.000 người Hoa. Chắc chắn Pol Pot là người tuyệt đối sùng bái Mao, bắt đầu từ năm 1965, hắn đã 4 lần đến Trung Quốc để lắng nghe lời dạy của Mao. Những lý luận và thực tiễn như “chính quyền từ báng súng”, đấu tranh giai cấp và chuyên chính giai cấp vô sản đều đã trở thành điểm tựa trong quá trình xây dựng quyền lực của hắn. Sau khi từ Trung Quốc trở về, Pol Pot đổi tên đảng ban đầu thành Đảng Cộng sản Campuchia, và theo mô hình nông thôn bao quanh đô thị của ĐCSTQ để xây dựng căn cứ cách mạng.
Ngoài ra còn có Đảng Cộng sản Ấn Độ của Ấn Độ tôn thờ Mao, những năm 1970, đã noi theo bạo lực cách mạng của Mao và bắt chước phong trào nông dân Hồ Nam mà Mao phát động, tổ chức cho nông dân thành lập các hiệp hội nông dân tại một số vùng ở Ấn Độ, hủy bỏ nợ nần, đốt giấy tờ khế đất, phân phối lại ruộng đất cho nông dân, chiến dịch này cũng có mục tiêu là tiêu diệt giới tinh hoa nông thôn, bao gồm địa chủ và giới cho vay nợ, quan chức cơ sở và giáo viên nông thôn. Trong chiến dịch này khuyến khích các thành viên không dùng súng, mà dùng các vũ khí kiểu thời nguyên thủy, thậm chí dùng tay để giết nạn nhân, thậm chí còn chặt tay và đầu của nạn nhân, phanh thây.
Phong trào cũng nhanh chóng lan ra thành phố. Mùa xuân năm 1970, tại một số trường đại học nổi tiếng ở Kolkata Ấn Độ, các sinh viên cấp tiến bắt chước Hồng vệ binh Trung Quốc và bắt đầu tổ chức phong trào sinh viên nổi loạn.
Theo thống kê của Bộ Nội vụ Ấn Độ, 91% các vụ bạo lực ở Ấn Độ và 89% các trường hợp tử vong do các sự cố bạo lực là do Đảng Cộng sản Ấn Độ (học theo Mao) gây ra. Đến tháng 7/2009, Đảng Cộng sản Ấn Độ (Mao) đã tạo ra hơn 6.000 vụ bạo lực, hại chết ít nhất 3.000 người.
Ngoài ra còn có thủ lĩnh cánh tả của Đảng Cộng sản Peru là Abimael Guzmán, được ĐCSTQ đào tạo từ năm 1967 – 1968. Ngoài việc học cách đánh bom và sử dụng vũ khí, điều quan trọng hơn là phải hiểu tư tưởng Mao Trạch Đông. Sau khi trở về nước Guzmán đã thành lập một tổ chức bạo lực mang tên “Con đường vinh quang”. Tổ chức này đã dùng mọi thủ đoạn phá hoại xã hội Peru trong gần 20 năm, đã giết chết vô số người. Những người bị sát hại không chỉ có cảnh sát và nhân viên chính phủ, mà ngay cả giới dạy học ở nông thôn.
Sau khi kết thúc Cách mạng Văn hóa năm 1976, xuất khẩu Cách mạng Đỏ của ĐCSTQ cũng thoái trào, nhưng di họa thì vẫn chưa dễ chấm dứt.
Một thứ đảng chính trị đã nhuốm đầy máu, đã gieo rắc tai họa từ trong ra ngoài nước, và hiện vẫn đang là hiểm họa của nhân dân yêu chuộc hòa bình và dân chủ tiến bộ trên thế giới, sự tồn tại của nó có còn cần thiết nữa không?
Tuyết Mai (Theo Epoch Times)
Thời đại những người anh hùng vô danh tại Hồng Kông
- Thiên Cầm
- •

Vì tự do của 7 triệu người Hồng Kông, vì tình yêu vô tư dành cho những con người trên mảnh đất này, vì những thế hệ hôm nay và mai sau, người biểu tình Hồng Kông đã đeo khẩu trang và mặt nạ chống độc xuống đường biểu tình. Họ đã đánh cược cả tuổi thanh xuân, tiền đồ và tương lai của mình, nguyện trở thành những người anh hùng vô danh.
Hành trang của mỗi người chỉ là một chiếc ba lô gọn trên lưng. Bên trong chỉ có chai nước, mặt nạ phòng độc, đèn pin, pin sạc, băng cứu thương, thuốc sơ cứu, cùng vài chiếc khẩu trang để thay đổi và dành cho những người bên cạnh.
Đối với những sinh viên và người biểu tình Hồng Kông, chiếc khẩu trang là vật rất quan trọng giúp họ che danh tính nhân dạng, tránh máy quay cảnh sát và camera với công nghệ nhận mặt trên khắp các đường phố. Một khi bị cảnh sát giật khẩu trang và nhận diện thì khả năng bị quấy nhiễu sau này là rất lớn.
Họ âm thầm cống hiến thời gian, tinh lực, tiền bạc. Họ gánh chịu những trận đòn bằng dùi cui, những cú bắn đạn hơi cay của cảnh sát, bạo lực đột kích của dân xã hội đen. Thậm chí họ còn bị cảnh sát bắt giữ, tra khảo, bị đánh vỡ xương sọ. Dẫu phải đối mặt với phong ba bão táp, tấm lòng ấy vẫn sắt son, không sợ hãi, không thoả hiệp.
Trong số họ, một cô gái mặc áo đen đã bị cảnh sát bắn đạn túi vải và ném hơi cay, khiến cô bị mù một bên mắt. Nhưng truyền thông Đại Lục lại đưa tin rằng cô gái biểu tình đã bị trúng viên bi sắt của “chiến hữu”, nhằm phủi sạch tội lỗi cho cảnh sát Hồng Kông, còn giới chức không hề quan tâm đến thương tích của người bị hại.
Trong video đầu tiên xuất hiện sau khi hồi phục, cô gái phát biểu: “Tôi hứa rằng chúng ta sẽ ở bên nhau nhiều hơn một khi tôi hồi phục… Trong thần thoại Hy Lạp, con mắt của Thần Horus là biểu tượng cho sự bảo hộ, nguồn sức mạnh để chống lại tà ác. Tôi cũng hy vọng rằng, con mắt của tôi có thể trở thành biểu tượng hy vọng ủng hộ cho người Hồng Kông xoá sổ tà ác.”
Trong một tháng qua, cảnh sát còn bắt đầu sử dụng các phương tiện tương tự như các tổ chức khủng bố. Họ đóng giả làm người dân phản kháng, dùng các thủ đoạn bạo lực nghiêm trọng để tấn công người dân và cảnh sát, sau đó vu oan cho người biểu tình. Họ cũng bắt giữ các phóng viên và nhân viên y tế, thậm chí thoải mái bắt giữ trẻ nhỏ hô khẩu hiệu phản đối chính quyền độc tài, ủng hộ người Hồng Kông.
Cảnh sát Hồng Kông không những sử dụng bạo lực vô lý đối với những người bị chế phục; mà còn bắt giữ và ngược đãi họ trong xe cảnh sát hoặc đồn cảnh sát, thậm chí lục soát loã thể vô lý đối với người biểu tình, trì hoãn đưa người biểu tình đến bệnh viện hoặc ngăn cản người biểu tình tìm sự trợ giúp từ pháp luật, bắt bớ tràn lan không phân biệt đúng sai.
Cảnh sát còn trả thù những người bị bắt, dùng bút laser chiếu vào mắt họ ở cự ly gần, thậm chí còn cố ý gây tổn thương nghiêm trọng hay thương tật vĩnh viễn. Báo chí gần đây tiết lộ những tội ác man rợ như hãm hiếp trong trại giam San Uk Ling, đánh gãy tay và chân hàng chục người biểu tình bị bắt giữ.
Hàng chục người biểu tình bị đánh đến chết, thậm chí họ còn bị mang đi nguỵ tạo hiện trường tai nạn khác. Ít ai biết được sau song sắt nhà tù, số phận của hơn 1.500 sinh viên và người biểu tình bị bắt giam trong 3 tháng qua sẽ đi đâu về đâu. Nhiều người trong số họ sẽ bị kết án 10 năm tù giam.
Thời kỳ đầu trong chuỗi ngày biểu tình đòi “Tự do – Dân chủ – Pháp trị”, những quyền cơ bản mà tạo hoá ban cho con người, đã có người biểu tình buộc phải tự vẫn vì không thể chịu đựng nổi áp lực từ gia đình.
Jimmy Lai, một tỷ phú Hồng Kông 71 tuổi, khi công khai lên tiếng ủng hộ người biểu tình, đã bị truyền thông của nhà nước Trung Quốc bôi nhọ là một gã béo, một đặc vụ của CIA, một “bàn tay hắc ám” và thành viên của “Bè lũ bốn tên” do Mỹ chỉ đạo đang dàn dựng phong trào biểu tình ở Hồng Kông kéo dài suốt 12 tuần qua.
Họ hàng của ông tại Trung Quốc đã buộc phải xóa tên ông khỏi gia phả 28 đời của gia đình, tuyên bố ông là một “kẻ phản bội” tổ tiên và đất nước, từ nay trở đi ông không còn là một thành viên của dòng họ này nữa. Doanh thu của Jimmy Lai giảm 44 triệu đôla Mỹ một năm. Hàng loạt các cửa hàng thời trang hiệu Giordano của ông tại Đại lục buộc phải đóng cửa.
Hoàng Chi Phong cùng những người bạn của mình tới châu Âu, điều trần trước Quốc hội Mỹ về nhân quyền và hiện thực đàn áp ở Hồng Kông, kêu gọi những nhân sĩ yêu tự do và tôn trọng nhân quyền trên thế giới ủng hộ Hồng Kông. Liệu sau khi trở về, đặt chân xuống phi trường nơi mảnh đất chôn rau cắt rốn của mình, họ có được bình yên?
Người trẻ Hồng Kông không cho rằng trời sụp thì đã có bậc anh hùng đầu đội trời, chân đạp đất nào đó chống đỡ. Đối với họ bảo vệ “Tự do – Tình yêu” là trách nhiệm và sứ mệnh cao đẹp của mỗi sinh mệnh.
“Nước nâng thuyền, nước cũng có thể lật thuyền”, muốn con người và quốc gia cùng hưng vượng, thì điều sợ nhất là mọi người không dám nói, không hiến kế sách. Những người và quốc gia không cho phép người khác nghị luận, không cho phép người khác tranh luận, ắt sẽ khó tránh khỏi con đường hướng tới diệt vong.
“Quốc Ngữ” viết rằng: “Phòng dân chi khẩu, thậm ư phòng xuyên”, nghĩa là ngăn cản ngôn luận của dân chúng còn nghiêm trọng hơn ngăn con nước dữ. Không cho người dân nói, cuối cùng ắt sẽ ủ thành đại hoạ. Câu nói này xuất hiện vào thời Tây Chu.
Thời Tây Chu, Chu Lệ Vương tàn bạo vô đạo, tham tài háo lợi, lũng đoạn việc kinh doanh núi rừng sông hồ, khiến người dân trong thành oán thán ngút trời. Nhưng Chu Lệ Vương ngăn không cho phép bách tính được phép lên tiếng.
Nhằm khống chế ngôn luận trong xã hội, Chu Lệ Vương ngấm ngầm giám sát dân chúng, khuyến khích tố cáo những người đàm luận về triều chính. Những người này nhất loạt đều bị xử tử. Vậy nên, người dân trong nước đều vô cùng hoang mang, ai nấy đều phẫn nộ nhưng không dám nói. Bách tính đi trên đường gặp mặt nhau cũng chỉ dám giao tiếp bằng ánh mắt. Toàn bộ thành trì bị bao trùm bởi một bầu không khí khủng bố, chư hầu cũng không dám tới thiết triều.
Chu Lệ Vương ngày càng hà khắc, người dân không ai dám hé răng. Lệ Vương thấy vậy vô cùng cao hứng, nói với đại thần Triệu Công rằng: “Ta có thể tiêu diệt mọi ngôn luận về mình, họ đều không dám nói nữa.”
Triêu Công nói: “Phòng miệng dân, hơn cả ngăn sông. Nước tích tụ nhiều, hễ vỡ đập, chắc chắn sẽ làm tổn hại đến rất nhiều người. Không cho dân được quyền nói, cũng cùng một đạo lý như vậy. Cho nên, người trị thuỷ phải hiểu được cách khơi thông dòng nước, kẻ trị quốc cũng phải mở mang con đường ngôn luận, mới có thể biết được việc chấp chính được mất, mà thúc đẩy việc thiện, áp chế việc ác. Nếu không thì ai sẽ trung thành với thiên tử? Điều tốt thì thực thi, điều xấu thì phòng bị, đạo lý này cũng giống như đại địa sinh ra vật báu, như cơm ăn áo mặc vậy. Dân chúng trong tâm thường nghĩ gì, miệng sẽ nói nấy. Nếu bịt miệng họ, vậy có thể giữ được bao lâu! Chi bằng ngài thử thay đổi cách làm một chút xem sao.”
Nhưng Lệ Vương căn bản không nghe theo những lời khuyên ngăn, vẫn tiếp tục làm theo ý mình. Cuối cùng chính binh sĩ của ông ta phẫn nộ, không chịu phục tùng mệnh lệnh, khiến ông ta phải chạy trốn và chết ở phương xa.
Có thể thấy rằng, nếu một quốc gia không còn muốn lắng nghe ngôn luận của dân chúng thì ngày suy vong của chế độ đó chẳng còn xa nữa. Ngôn luận và hành vi của con người dẫu có thể nhất thời bị bộ máy của chính quyền bạo ngược khống chế, nhưng ý chí tự do sẽ vĩnh viễn không thể bị tước đoạt. Đó cũng là lý do tại sao những người trẻ tuổi Hồng Kông ngày nay sẵn sàng hiến dâng tuổi thanh xuân và sinh mệnh của mình để bảo vệ chính nghĩa.
Thiên Cầm
6 thời điểm khiến con người tỉnh ngộ nhất: Là ai cũng nên lưu ý, tránh họa hại thân
6 thời điểm khiến con người tỉnh ngộ nhất: Là ai cũng nên lưu ý, tránh họa hại thân
Trong 6 thời điểm này, có 1 thời điểm mà bất kể là ai cũng phải trải qua.
Có rất nhiều người trong cuộc sống này luôn tự cho mình là nhất, ngông cuồng không biết trời cao đất dày, sống một cuộc đời vô cùng hồ đồ. Thế nhưng, con người đều có những lúc tỉnh ngộ, hiểu ra. Vậy thì, vào những lúc nào, con người tỉnh ngộ nhất?
1. Lúc gặp đen đủi
Những lúc bình thường, trời yên bể lặng thì anh ổn, tôi ổn, mọi người cùng ổn, thoải mái ăn uống, nhậu nhẹt, thân như ruột thịt. Thế nhưng một khi bạn gặp chuyện đen đủi, sẽ có người ngồi nhìn mà không giúp, thậm chí còn mỉa mai chế giễu, đáng sợ hơn còn tranh thủ giậu đổ bìm leo.
Đây chính là lúc người gặp hoạn nạn nhìn thấy rõ nhất ai thực sự là bạn, ai là kẻ tiểu nhân vô sỉ. Tỉnh ngội rồi, sẽ biết cách chọn bạn, ai là người nên chơi và ai là người không thể chơi.
2. Sau cơn bạo bệnh
Sau một đợt ốm nặng, con người sẽ hiểu ra rằng, chỉ có sức khỏe mới là quan trọng nhất, những thứ khác đều xếp sau, sức khỏe là số 1, những thứ khác là số 0, số 1 không còn, số 0 có nhiều thế nào cũng trở nên vô nghĩa.
Vì thế mà có những việc, bình thường ta xem trọng như núi, nhưng sau cơn bạo bệnh, tất cả sẽ được xem nhẹ và nhìn thấu.
3. Sau khi mất chức
Một người nào đó có quyền thế, bỗng một ngày đẹp trời tự nhiên mất chức chuyện gì sẽ xảy ra? Cây đổ khỉ sơ tán, trước đây nhà lúc nào cũng nườm nượp người vào ra, giờ đây vắng tanh vắng ngắt, trước đây người người vây quanh, giờ đây có gặp mặt cũng trở thành người dưng không quen biết.
Gặp cơn bĩ cực, mới hiểu ra rằng những người trước đây cung kính mình thực ra họ chỉ quan tâm đến cái chức sắc mà mình có mà thôi; họ xu nịnh mình, cũng là bởi mình nắm quyền thế trong tay mà thôi.
4. Sau khi nghỉ hưu
Sau khi về hưu, nhớ lại những ngày còn đi làm, giữa đồng nghiệp với nhau vì danh lợi địa vị, vì thăng tiến, vì một danh xưng mà tranh giành đến mặt mũi tía tai, ngẫm lại mới thấy thật vô nghĩa.
Nghỉ hưu rồi mới ngộ ra, những thứ đó đều là vật ngoài thân, chết cũng chẳng đem theo được. Chức vụ cao hay thấp, nghỉ hưu rồi cũng chẳng khác gì nhau, mọi người sẽ đều trở thành những người bạn già về hưu, sớm biết vậy, hà tất lúc trước phải tranh giành?
5. Sau khi đánh mất…
Rất nhiều người thường không biết đủ, luôn đợi đến khi mất đi rồi, mới hiểu ra những thứ mất đi đáng quý thế nào.
Từng có một người thật lòng yêu thương, quý mến xuất hiện ngay trước mặt bạn nhưng bạn không trân trọng, đợi đến khi mất đi rồi mới hối hận không kịp. Việc khổ sở nhất trên đời này, có lẽ không gì có thể vượt qua việc này…
Cuối cùng, trong cuộc đời, chỉ có trải qua rồi mới hiểu ra, chỉ có hiểu rồi mới biết trân trọng nâng niu. Trong đời, luôn có một người khiến bạn cười tươi nhất, cũng sẽ có người khiến bạn khổ đến cùng cực. Với người khiến mình khổ, hãy chọn cách quên đi, đó chính là cách bạn đối đãi tử tế với bản thân mình.
Có rất nhiều việc trên đời cần chúng ta nhìn một cách nhẹ nhàng, đơn giản. Quá trình của nhân sinh thực ra chỉ là được và mất, sau khi xem mọi chuyện bằng cách nhìn đơn giản, chúng ta sẽ biết chúng ta nên xem trọng cái gì, cái gì mới là quan trọng với mình, cái gì cần loại bỏ.
6. Lúc lâm chung
Con người, đến lúc lâm chung mới hiểu ra rằng: Tất cả đã không thể cứu vãn, tất cả đều là mây khói hư vô.
Chết đi rồi, sẽ chẳng mang theo được bất cứ thứ gì, thời gian, của cải, tiền bạc… tất cả đều trở thành di sản.
Chính bởi thế, lời khuyên dành cho tất cả chúng ta là, khi còn được sống, hãy tận hưởng cuộc sống theo cách khiến bạn thấy vui, ý nghĩa nhất. Sống trọn vẹn từng giây từng phút ở hiện tại, lúc nhắm mắt xuôi tay sẽ không còn điều gì phải hối tiếc.
Sau 70 Năm, Trung Quốc Đã Trở Thành Một Quái Vật – Mạnh Kim
Sau 70 Năm, Trung Quốc Đã Trở Thành Một Quái Vật – Mạnh Kim
Không thể bác bỏ tất cả thành tích kinh tế đưa quốc gia trở thành cường quốc, nhưng sau 70 năm, Trung Quốc cũng đã trở thành một quái vật giẫm đạp tàn bạo chữ “Nhân”. Trong lịch sử phát triển các quốc gia thế giới thời hiện đại, gần như không nước nào xây dựng sự thịnh vượng khi cùng lúc nghiền nát tuyệt đối những giá trị nhân bản như Trung Quốc…
Để chào mừng 70 năm ngày quốc khánh (1-10), ngày 22-9-2019, Cơ quan thông tin Quốc vụ viện Trung Quốc công bố “bạch thư” mang tựa “Mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân: 70 năm tiến bộ nhân quyền ở Trung Quốc” (“Vi nhân dân mưu hạnh phúc: Tân Trung Quốc nhân quyền sự nghiệp phát triển 70 niên”). Tuy nhiên, thế giới đã và tiếp tục thu thập những hồ sơ dày cộm về “thành tích bất hảo” của Trung Quốc về vi phạm nhân quyền. Tổ chức Phóng viên không biên giới “chấm” Trung Quốc hạng 177/180 quốc gia về tự do báo chí trong bảng xếp hạng 2019. Luật sư bị bỏ tù, internet bị kiểm soát, xã hội bị theo dõi, giáo dục bị nhồi sọ, tôn giáo bị “đảng hóa”, chính trị bị tham nhũng…, tất cả đều tồn tại cùng lúc với những thành phố bóng lộn ngạo mạn đắc ý. Không chỉ nhân quyền hiểu theo nghĩa liên quan những quyền căn bản con người, mọi chữ “nhân” khác, từ nhân đạo, nhân bản, đến nhân tính, đều bị phá hủy dưới bàn tay cộng sản Trung Quốc.
Cùng với cơn lốc “trí phú quang vinh” (làm giàu là vinh quang) – theo chủ trương Đặng Tiểu Bình – là sự đổ nát giá trị đạo đức. Cái xấu được nhân rộng. Cái ác tràn lan. Người ta sẵn sàng giết nhau không gươm giáo bằng mọi thủ đoạn gian trá trên con đường làm giàu. Không lĩnh vực nào có thể thấy rõ điều đó bằng vệ sinh thực phẩm. Không có gì mà không bị đầu độc. Bà bán thịt đầu độc ông bán trái cây và ngược lại. Mọi thứ đều bị nhiễm độc: từ bột sữa chứa melamine; thịt heo “phát sáng” (phát… dạ quang trong bóng tối); mì sợi “ướp” mực in; bánh bao chỉ nhồi nhân thịt thối; giá đỗ nhiễm sodium nitrite, urea, thuốc kháng sinh và hormone 6-benzyladenine (giúp tăng trưởng cấp tốc); bánh bao nhiễm… nhôm; gạo cao su; trái cây “ướp” phócmon; đến “dầu ăn” vớt từ cống thải… Đó là chưa kể nạn thuốc giả.
Song hành với nạn đầu độc thực phẩm là tình trạng ô nhiễm môi trường. Hơn ½ nguồn nước ngọt nước này (khảo sát tại 198 điểm ở 4.229 thành phố) đã bị ô nhiễm trầm trọng trong đó có 5 trong 10 lưu vực sông lớn nhất và 25 trong 60 con hồ. Và trong 20 thành phố ô nhiễm nhất thế giới, Trung Quốc chiếm đến 16 thành phố! Ô nhiễm không khí đang nằm vị trí thứ tư các nguyên nhân gây chết người (với trung bình 1,2 triệu ca tử vong mỗi năm). Theo Ngân hàng Thế giới (WB), chỉ vỏn vẹn 1% trong 560 triệu cư dân đô thị Trung Quốc là được hít thở không khí trong lành theo chuẩn EU. Ngay ở thời điểm này, ô nhiễm vẫn bao phủ toàn bộ thành phố Bắc Kinh.
Câu chuyện sau đây là một phiên bản làm giàu đặc sệt “phong cách Trung Quốc”. Khi tập đoàn khoáng sản Tử Kim (Zijin Mining Group) dọa dời trụ sở khỏi Thượng Hàng để đến Hạ Môn cách đó 270 km, tay bí thư địa phương đã lập tức đến gặp chủ tịch tập đoàn Trần Cảnh Hà và nói rằng: “Nếu muốn đi, ông cũng phải dời cả ngọn núi ở đây đến Hạ Môn!”. Với giới chức địa phương, tập đoàn Tử Kim – nhà sản xuất vàng lớn nhất Trung Quốc và là nhà khai thác đồng lớn thứ hai nước này – là nguồn doanh lợi không thể mất được. Là một trong những tập đoàn nhà nước lớn nhất Trung Quốc, với các dự án khai thác khoáng sản tại 20 tỉnh nước này và 7 quốc gia, tập đoàn Tử Kim cũng là nơi mang nhiều tai tiếng liên quan tàn phá môi trường.
Chỉ riêng tại Thượng Hàng, một dòng chất thải khổng lồ 9.100 m3 từ mỏ vàng của Tử Kim đã chảy vào một con đập và tràn vào con sông địa phương, làm chết khoảng 4 triệu con cá. Tuy nhiên, Tử Kim cũng là công ty chiếm đến 70% nguồn thu của Thượng Hàng, mang lại công ăn việc làm cho dân địa phương. Nhờ Tử Kim, chính quyền Thượng Hàng mới có tiền xây xa lộ nối với phần còn lại của tỉnh Phúc Kiến. Mất Tử Kim, Thượng Hàng không chỉ thất thu ngân sách mà còn thiệt hại về “chỉ tiêu phát triển”!
Một phần của câu chuyện cho thấy, Trung Quốc không thể trở thành một quốc gia giàu có tử tế khi cơ chế phát triển của nó dựa vào mô hình thành tích. Đảng Cộng sản Trung Quốc tạo ra một mô hình phát triển chụp giật bất chấp hậu quả. Họ khai sinh một mô hình bị lỗi ngay từ căn bản. Họ “phát triển” cái sai đến mức nó đã trở thành hệ thống của những cái sai. Họ đẻ ra và nuôi những con quái vật tàn phá chính họ. Một đảng cai trị lưu manh đã tạo ra một xã hội lấy lưu manh làm tôn chỉ sống. “Xã hội hóa” lưu manh xảy ra ngay cả trong giáo dục, trong sinh hoạt tôn giáo… và nó còn phát triển đến mức trở thành “quốc tế hóa” sự lưu manh trong đường lối ngoại giao.
Ngày 17-9-2019, một video lọt lên YouTube đã gây chấn động thế giới như một bằng chứng về điều mà giới chính trị gia Mỹ cáo buộc Trung Quốc rằng Bắc Kinh đang cố xóa sạch văn hóa Hồi giáo ở Tân Cương. Video cho thấy hàng trăm tù nhân Duy Ngô Nhĩ bị còng và bịt mắt một cách man rợ. Sự đối xử của Trung Quốc đối với người Hồi giáo Duy Ngô Nhĩ là dã man ngoài sức tưởng tượng. Không chỉ bị theo dõi bởi hàng triệu camera, tất cả người Duy Ngô Nhĩ còn bị lấy mã di truyền (ADN). Ngày 23-8-2019, Ủy ban điều hành Quốc hội Hoa Kỳ đặc trách Trung Quốc đã gửi thư cho Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB) David Malpass bày tỏ lo ngại về khoản cho vay 50 triệu USD mà WB dành cho chương trình huấn nghệ Tân Cương mà thật ra được dùng để mua thiết bị và vũ khí đàn áp người Duy Ngô Nhĩ.
Tân Cương chỉ chiếm khoảng 1,5% dân số toàn quốc nhưng khu vực này chiếm hơn 20% các vụ bắt bớ toàn quốc trong năm 2017 (New York Times 8-9-2018). Hai năm qua, Trung Quốc đã giam từ 1-2 triệu người Duy Ngô Nhĩ, tức 11,5% dân số sắc dân này từ 20 đến 79 tuổi, trong những nhà tù bí mật khổng lồ khắp Tân Cương, nơi ngày càng nghẹt thở từ khi Bắc Kinh đưa Trần Toàn Quốc (cựu bí thư Tây Tạng) về cai trị từ tháng 8-2016. Tù nhân Duy Ngô Nhĩ buộc phải từ bỏ đạo Hồi và ngôn ngữ mình cùng lúc phải học tiếng Hán và thuộc lòng các ca khúc tuyên truyền. Cuối năm 2018, theo AP, Trung Quốc đã đưa 1,1 triệu cán bộ đảng viên đến sống chung trong các ngôi nhà người dân địa phương để giám sát họ ngày đêm. Và để tiêu diệt tận gốc văn hóa Duy Ngô Nhĩ, Bắc Kinh cũng khuyến khích các giải pháp đồng hóa toàn diện. Từ năm 2014, các cặp vợ chồng Hán-Duy Ngô Nhĩ được tặng 10.000 tệ (1.442 USD)/năm, trong 5 năm, kể từ khi đăng ký kết hôn.
Đàn áp tôn giáo là hành động bất nhân nữa của chế độ phi nhân Trung Quốc. Báo cáo Tự do Tôn giáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ 2019 cho biết, chỉ trong năm 2018, Trung Quốc đã giam 310 tín đồ Tin Lành, 205 tín đồ Chúa Toàn Năng (Giáo hội “Đông Phương Thiểm Điện”), 136 tín đồ Hồi giáo (không kể người Hồi giáo Tân Cương), 22 tín đồ Phật giáo, và 9 tín đồ Cơ Đốc giáo. Từ tháng 4, các trang mua sắm trên mạng như Taobao, JD.com và Dangdang đã cấm bán Kinh Thánh Cơ Đốc giáo. Tồi tệ hơn nữa, Kinh Thánh cũng bị “biên tập” lại! Tại Liêu Ninh, công an văn hóa đã đưa ra mức phạt 400.000 tệ (58.200 USD) cho bất kỳ nhà thờ nào dùng bản Kinh Thánh “không chính thức”. Bỏ tù, bắt cóc giám mục, phá sập nhà thờ…, không gì mà Bắc Kinh không làm.
Mức độ tàn độc và phi nhân của chế độ cộng sản Trung Quốc càng khủng khiếp dưới thời Tập Cận Bình. Một cách tổng quát, sự phát triển Trung Quốc đã không mang lại những giá trị mới nào cho đất nước họ lẫn thế giới mà còn thảm sát tất cả giá trị nhân bản cũ từng tồn tại hàng trăm hoặc thậm chí hàng ngàn năm. Trung Quốc càng tiến lên cao trên bậc thang phát triển kinh tế thì họ càng xuống dốc không phanh về mặt đạo đức. Chẳng có sự phát triển nào có ý nghĩa nếu nó không được đặt trên căn bản lợi ích nhân loại. Thế giới đáng lý cần phải nhận thức sớm hơn điều này nhưng tất cả đã bị cuốn vào ma lực hấp dẫn làm giàu từ tư duy làm giàu bất nhân của Trung Quốc. Nếu thế giới bất lực trước sự tàn phá vô nhân của Trung Quốc, tương lai thế giới sẽ là một ngày tận thế. Khi những dòng này được viết ra, người ta đã có thể thấy ngày hủy diệt đang đến rất gần với những quốc gia hạ lưu Mekong, bởi vô số con đập thủy điện mà Trung Quốc đầu tư. Và đó mới chỉ là một vết rách rất nhỏ trên tấm lụa nhân loại mà con quái vật 70 tuổi Trung Quốc đang cào cấu rách bươm từng giờ từng ngày.
Mạnh Kim
(FB Mạnh Kim)
TUỔI NHỎ TRÍ LỚN & ĐẦU TO ÓC BẰNG QUẢ NHO…?



TUỔI NHỎ TRÍ LỚN & ĐẦU TO ÓC BẰNG QUẢ NHO…?
Thằng “Tai dơi mỏ chuột” này, nó ra chính trường quốc tế, nó kêu tên cúng cơm từ Tập Cận Bình, Carrie Lam, đảng CS Trung Quốc ra mà tố cáo. Và nó cũng khẳng định sắt thép rằng công cuộc đòi tự do cho Hong Kong là trách nhiệm của thế hệ nó.
Chứ không như PTT Phạm Bình Minh, báo cáo xung đột tại biển Đông tại Liên Hiệp Quốc, mà phải mặc tả, run cầm cập và không dám kêu đích xác TQ xâm lược.
Và PTT Vũ Đức Đam thì tuyên bố rằng “Nếu đời ta không đòi được HS-TS thì giao cho con cháu chúng ta đòi.” thật là khỏe re!
Thiết nghĩ, Phạm Bình Minh và Vũ Đức Đam nên xin thằng “Tai dơi mỏ chuột” ị ra một ít làm thuốc uống mà có thêm can đảm để đảm trách vai trò một phó thủ tướng lãnh đạo đất nước…
(Ảnh trên Internet)
Hôm nay, thứ Hai 30/09, nước Pháp đưa tang Jacques Chirac.




Hôm nay, thứ Hai 30/09, nước Pháp đưa tang Jacques Chirac.
Trên 80 nguyên thủ quốc gia sẽ tới dự buổi lễ tiễn đưa cựu tổng thống Pháp vừa từ trần, tại nhà thờ St Sulpice, Paris, nhưng hình ảnh nói nhiều về tình cảm của dân Pháp là trên 7 ngàn người, ngày Chủ Nhật, đã đội mưa, xếp hàng trên 1 cây số dưới trời mưa tới điện Invalides chào ông tổng thống lần cuối cùng
Hình ảnh Chirac tràn ngập trên báo chí, nhưng diễn tả cá tính Jacques Chirac ( năng động, nóng nẩy, bất chấp lễ nghi…) hơn cả, là tấm hình Chirac nhẩy qua hàng rào métro. Năm 1980, thị trưởng Paris Jacques Chirac tới khánh thành trạm xe điện ngầm tốc hành RER Auber. Không biết sau khi đút vé vào máy kiểm soát, phải rút vé ra, cửa mới mở, ông thị trưởng không ngần ngại nhẩy qua rào cản.
Pháp thích Chirac, kể cả những người đối lập, và tiếc thương Chirac ( mặc dù 12 năm tổng thống của Chirac, thất bại nhiều hơn thành công, với những dự án cải tổ bị bỏ giữa chừng vì những cuộc biểu tình chống đối ), chính vì thấy ông ta giống như mình, không phải một chính khách ngồi trong tháp ngà
Mỗi người có một giai thoại về Chirac. Chirac bắt khách ngồi chờ vì phải điện thoại kiếm nhà cho một bà thư ký về hưu. Thăm viếng một bảo tàng viện, tổng thống Chirac đứng nói chuyện với nhân viên, ông thủ tướng nhắc là có báo chí và quan khách đang chờ. Chirac để thủ tướng đi trước, ở lại hỏi han nhân viên… hơn một giờ. Khi thăm viếng Hội chợ Nông Nghiệp, Chirac la cà suốt ngày, không bỏ sót một gian hàng nào, uống bia, rượu đỏ, rượu trắng, nếm tất cả các món ăn một cách ngon lành, đùa dỡn với nông dân như bạn nối khố.
Thăm viếng chính thức Do Thái, khi thấy an ninh Do Thái ngăn cản dân Palestine lại gần, ông tổng thống Pháp nổi giận, la hét : Hãy để cho người ta đến. Các anh có muốn tôi trèo lên máy bay về Paris ngay không ?
Khi cô con gái út, Claude, đi nghỉ hè ở nhà nữ danh ca Line Renaud, Chirac gọi điện thoại mỗi ngày 5 lần, khiến cô con gái phải than : nếu papa gọi suốt ngày, còn gì là vacances nữa !
Chirac sẽ được an táng ở nghĩa trang Montparnasse, Paris, trong một ngôi mộ bình dị như bất cứ ngôi mộ nào của những người vô danh tiểu tốt chung quanh. Không bằng một góc lăng của các đỉnh cao trí tuệ loài người, của những đầy tớ ‘’chỉ biết phục vụ dân, không biết gì khác ‘’
Bia mộ cũng chỉ ghi đơn giản, theo ý người quá cố : ”Jacques Chirac 1932-2019”. Không bằng cấp, chức tước tùm lum.
Chirac yên nghỉ bên cạnh mộ cô con gái lớn, Laurence. Laurence là bi kịch của cuộc đời Jacques Chirac. Laurence bị trầm cảm nặng, mắc bệnh từ chối ăn uống ( anorexie mentale ), từ năm 15 tuổi, hậu quả một cơn bệnh hiểm nghèo, méningite ( viêm màng não ). Chirac từ trần cách đây vài ngày, nhưng một người bạn thân nói ông đã chết từ 3 năm nay, khi Laurence lìa đời ở tuổi 58.
NẾU SỐNG TRONG CẢNH NÀY LÂU DÀI, KHÔNG BỆNH TẬT MỚI LÀ CHUYỆN LẠ!!!
Lm Trần Chính Trực is with Trần Huy and Trần Chính Trực.
Giống như nước thải thành phố đang dâng lên? Dân chạy đi đâu ?
Kinh !!!!!!
Nếu bức ảnh này triển lãm, mọi người sẽ thấy rõ nhiều vần đề nghiêm trọng liên quan đến môi trường, sức khoẻ của con con người. Bên cạnh đó người ta cũng sẽ đề cập đến trình độ quy hoạch thành phố, ý thức giữ vệ sinh môi trường của người dân và chất thải của các khu công nghiệp !!!!
– NẾU SỐNG TRONG CẢNH NÀY LÂU DÀI, KHÔNG BỆNH TẬT MỚI LÀ CHUYỆN LẠ!!!
– Cuối cùng, ai đứng ra chịu trách nhiệm vấn đề này. Đó là nan đề mà người dân sẽ đặt ra.

DEMAIN EST À NOUS
DEMAIN EST À NOUS
Aïssatou, 13 tuổi, là sáng lập viên và chủ tịch một hội chống hôn nhân vị thành niên ở Guinée. Can đảm phi thường, Aissatou tới các đám cưới có cô dâu còn là trẻ em, phản đối và gây rối loạn để cảnh sát phải can thiệp. Và bắt buộc phải hủy bỏ đám cưới, vì luật Guinée ngày nay cấm trẻ em kết hôn, trong khi, trên thực tế, 52% thiếu nữ vẫn bị gả bán trước tuổi trưởng thành.
Aïssatou bắt đầu hoạt động từ năm 12 tuổi, khi một cô bạn cùng lớp bị ép nghỉ học để lấy chồng.
Tới nay, Aissatou đã cứu được 30 thiếu nữ, và mơ có phương tiện mở một trường học giúp các nữ sinh phải bỏ học, chờ ngày lấy chồng. Aissatou và nhóm bạn cùng tuổi không được chính phủ giúp đỡ, hoạt động bằng tiền túi kiếm được ngoài giờ học
Aissatou là một trong những nhân vật chính, trên dưới 12 tuổi, trong cuốn phim ‘’ DEMAIN, EST À NOUS ‘’ ( Tương lai trong tay chúng ta ), của Gilles de Maistre, hiện đang chiếu tại các màn ảnh Pháp.
Gilles de Maistre đã bỏ ra 2 năm, đi khắp thế giới, gặp những trẻ em phi thường đã ra tay hoạt động để cải thiện xã hội, thay đổi thế giới. Những người trẻ đã thực hiện những kỳ công, với hai bàn tay trắng. ‘’ Họ đã làm được, bởi vì không biết đó là chuyện không thể thực hiện nổi ‘’.
Trong từ điển của họ, không có chữ ‘’ quá trẻ, qúa yếu, quá cô đơn ‘’. Chỉ có một thắc mắc : có đủ nghị lực không, có đủ yêu đời, yêu đồng loại hay không.
Ngoài Aisssatou, có Heena ở New Delhi, Ấn Độ, 11 tuổi, chủ biên một tờ báo cho trẻ em bụi đời, viết về đời sống của trẻ em bụi đời, đòi xã hội phải cho họ đi học.
Arthur, 10 tuổi, ở Pháp, vẽ tranh bán lấy tiền mua thức ăn, quần áo cho những người SDF ( homeless, vô gia cư nằm đường ). Người nhận, không phải chỉ xúc động vì món quà, nhưng vì cái tình người rất tự nhiên của cậu bé.
José Adolfo, 13 tuổi, đã lập một ‘’ngân hàng ‘’ từ năm 7 tuổi, bằng cách lượm bán những đồ phế thải, lấy tiền cho vay hay giúp học sinh nghèo ở Perou mua sách vở hay ăn sáng..
Và nhiều trẻ em khác, những Cris, Paola, Amine, Zack, Anwarki..Tất cả, còn ngồi ghế nhà trường, nhưng nghĩ phải, và có thể, thay đổi thế giới.
Trong một thế giới càng ngày càng vô cảm, ích kỷ, nhỏ nhen của người lớn, những khuôn mặt trẻ yêu đời, đầy nghị lực, lạc quan trong cuốn phim của Gilles de Maistre là một luồng gió mát. Tương lai không đen tối như chúng ta nghĩ. Bởi vì còn Aissatou, José, Arthur…
http://www.allocine.fr/…/player_gen_cmedia=19584865&cfilm=2…
Photo, bên trái, từ trên xuống dướii : Gilles de Maistre với các trẻ em trong phim, Aissatou. Bên phải, từ trên xuống dưới : José, Henna, Arthur.










