5 sai lầm chúng ta đang mắc phải khi sử dụng smartphone





By Tạp Chí Hoa Kỳ – 3 August, 2020
Điện thoại thì ngày càng phổ biến, nhưng đi kèm với đó là thói quen sử dụng không đúng và khiến mọi chuyện trở nên khó khăn hơn.
Smartphone nhìn chung đã trở thành một công cụ cực kỳ phổ biến và có tầm ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của chúng ta ngày nay.
Nhưng ảnh hưởng ở đây bao gồm cả tích cực lẫn tiêu cực. Trong khi điện thoại giúp cuộc sống trở nên tiện lợi hơn, thì hiệu ứng xấu nó gây ra cũng không hề ít một chút nào, nhất là khi bạn hình thành nhiều thói quen xấu liên quan đến nó.
1. Để cạnh gối ngủ
Nhiều người có thói quen để điện thoại cạnh gối khi đi ngủ. Làm như vậy quả thực là rất tiện, nhưng không nên chút nào đâu.
Điện thoại về cơ bản là một thiết bị phát và nhận tín hiệu điện từ – nghĩa là nó phát ra sóng radio. Việc tiếp xúc với sóng từ điện thoại có gây ra hậu quả gì hay không thì vẫn còn gây tranh cãi, nhưng một số chuyên gia đã từng lên tiếng cảnh báo rằng nó mang đến rủi ro tác động đến não và ảnh hưởng đến chu kỳ ngủ của chúng ta.
Nhìn chung thì để an toàn, hãy để điện thoại cách xa chỗ ngủ của mình, và tốt nhất nên ở chế độ máy bay.
2. Sử dụng quá lâu trước khi ngủ
Ánh sáng từ màn hình điện thoại là ánh sáng xanh – tượng trưng cho ánh Mặt trời sau khi xuyên qua khí quyển. Ánh sáng này có khả năng khiến melatonin – hormone gây buồn ngủ – bị ức chế, dẫn đến chuyện bạn trở nên khó an giấc hơn và cuối cùng là thiếu ngủ vào sáng hôm sau.
Ngoài ra, ánh sáng xanh từ điện thoại đã được chứng minh sẽ gây đau đầu và một số vấn đề liên quan đến thị giác khi tiếp xúc lâu. Vậy nên, tốt nhất là không sử dụng điện thoại trước khi ngủ khoảng 1 – 2 tiếng. Trong trường hợp buộc phải dùng, ít nhất hãy để nó ở chế độ ban đêm – màn hình sẽ ám vàng, giúp bạn đỡ bị ảnh hưởng hơn.
3. Dùng điện thoại khi tín hiệu yếu
Theo tiến sĩ Devra Davis – tác giả của cuốn “Sự thật về sóng điện thoại” thì khi sóng yếu, điện thoại sẽ sử dụng nhiều năng lượng hơn, phát ra nhiều sóng điện từ hơn để đảm bảo kết nối được ổn định. Và trong trường hợp thứ sóng ấy gây ảnh hưởng đến sức khỏe của bạn, thì rõ ràng việc dùng nó khi sóng yếu là không nên rồi.
4. Để điện thoại tiếp xúc trực tiếp với da
Các điện thoại ngày nay tuy có độ ổn định cao, nhưng thi thoảng sẽ có lúc bị nóng lên bất chợt. Da của bạn nếu tiếp xúc trực tiếp sẽ hấp thụ nhiệt lượng ấy, cùng với đó là sóng từ trường phát ra.
Hiện tại, chúng ta chưa biết sóng ấy có hại hay không, nhưng có điều chắc chắn là nếu để điện thoại cách xa cơ thể, lượng sóng hấp thụ cũng ít hơn rất nhiều.
Vậy nên tốt nhất là không để điện thoại trong túi quần, túi áo, và nên qua một lớp túi xách thì hơn.
5. Tư thế dùng điện thoại xấu
Sự phổ biến của điện thoại di động đã kéo theo rất nhiều chứng bệnh lạ liên quan: ngón tay nhắn tin (text-thumb), gai hộp sọ, và đặc biệt là hội chứng “cổ nhắn tin” – text neck.
Nguyên nhân của hội chứng này đến từ việc chúng ta thường cúi đầu khi nhìn điện thoại. Càng cúi thấp, áp lực cho chiếc cổ sẽ càng tăng, thậm chí lớn gấp 5 lần so với trọng lượng vốn có của đầu. Lâu dần, cột sống sẽ bị tật, gây ảnh hưởng nghiêm trọng về mặt thẩm mỹ.
Tham khảo: BS, VT.co
Tài liệu giải mã chấn động của FBI: Nhà phát minh thiên tài Tesla là người ngoài hành tinh đến từ sao Kim.





Tài liệu giải mã chấn động của FBI: Nhà phát minh thiên tài Tesla là người ngoài hành tinh đến từ sao Kim.
Tường Hòa
NTD • 01/08/2020
Ảnh 1: FBI đã công bố nhiều tài liệu giải mật, trong đó một tài liệu đã gây chấn động: Nhà phát minh thiên tài Nikola Tesla (1856 – 1943) đến từ sao Kim (Venus). (Tổng hợp)
Gần đây, FBI (Cục Điều tra Liên bang Mỹ) đã công bố nhiều tài liệu được giải mã trên trang web chính thức của mình, trong đó một tài liệu đã gây chấn động trên toàn thế giới: Nhà phát minh thiên tài Nikola Tesla (1856 – 1943) đến từ sao Kim (Venus), ông chính là người ngoài hành tinh!
Ảnh 2: Tài liệu này có tên “Nikola Tesla Phần 03 của 03” là tài liệu thứ ba về Tesla được FBI giải mã, tổng cộng 64 trang, một số nội dung trong đó đã bị bôi đen. (Ảnh chụp màn hình).
Tài liệu này có tên “Nikola Tesla Phần 03 của 03” là tài liệu thứ ba về Tesla được FBI giải mã, tổng cộng 64 trang, một số nội dung trong đó đã bị bôi đen. Có một đoạn trong nội dung không bị bôi đen viết rằng: “Cư dân vũ trụ đã liên lạc với Nikola Tesla nhiều lần, và nói với FBI rằng Tesla đến từ sao Kim. Năm 1856, Tesla được đưa đến trái đất và trao cho một cặp vợ chồng Nam Tư nuôi dưỡng”.
Ảnh 3: “Cư dân vũ trụ đã liên lạc với Nikola Tesla nhiều lần, và nói với FBI rằng Tesla đến từ sao Kim. Năm 1856, Tesla được đưa đến trái đất và trao cho một cặp vợ chồng Nam Tư nuôi dưỡng”. (Ảnh chụp tài liệu).
Thế giới đã chấn động khi tuyên bố này được đưa ra. Tuy nhiên, trước nhiều nghi ngờ và thắc mắc của công chúng, FBI đã không trả lời hoặc giải thích, điều này thậm chí còn khiến mọi người tò mò hơn. Mục đích của Tesla từ sao Kim đến Trái đất là gì? Mục đích của người ngoài hành tinh liên lạc với Tesla nhiều lần là gì? Tại sao người ngoài hành tinh nói với FBI danh tính thực sự của Tesla?
Khi nói đến các nhà khoa học, chúng ta thường nghĩ về Edison, Einstein và Newton, nhưng điều mà nhiều người không biết là thành tựu khoa học của Tesla thậm chí còn khiến người ta kinh ngạc hơn.
Tesla là một nhà phát minh thiên tài vĩ đại, với hơn 1.000 bằng sáng chế được ghi nhận. Sáng tạo khoa học của ông đã vượt 300 năm so với trình độ cùng thời kỳ, thậm chí hơn 1.000 năm. Đóng góp của ông cho nền văn minh nhân loại là không thể xóa nhòa.
Ảnh 4: Tesla là một nhà phát minh thiên tài vĩ đại, với hơn 1.000 bằng sáng chế được ghi nhận. Sáng tạo khoa học của ông đã vượt 300 năm so với trình độ cùng thời kỳ, thậm chí hơn 1.000 năm. (Wikimedia Commons)
Phát minh quan trọng đầu tiên của Tesla là hệ thống điện xoay chiều. Trước đó, con người đã sử dụng hệ thống điện một chiều của công ty Edison. Hệ thống dòng điện một chiều giá thành cao, không an toàn và không thể truyền dẫn điện qua khoảng cách xa. Hệ thống dòng điện xoay chiều do Tesla phát minh đã giải quyết hoàn toàn những vấn đề này. Nguồn điện xoay chiều an toàn, có thể truyền dẫn điện qua khoảng cách xa và rẻ hơn. Do việc sử dụng các hệ thống dòng điện xoay chiều, nhân loại đã đi trước tiến bước vào thời đại điện khí hóa, và tầm quan trọng của năng lượng điện đối với sự tiến bộ của nhân loại là điều hiển nhiên.
Một phát minh quan trọng khác của Tesla là công nghệ vô tuyến điện. Nhiều thiết bị hiện đại cần công nghệ vô tuyến, chẳng hạn như điện thoại thông minh, máy tính, TV, tên lửa, hệ thống dẫn đường, vệ tinh và tàu vũ trụ.
Ngoài ra, ông đã phát minh ra đèn neon, radio, trạm biến áp, hệ thống tự động hóa từ xa, máy biến thế, máy phát khuếch đại, sét nhân tạo, năng lượng chùm hạt, tia X… Điều kinh ngạc hơn là ông cũng thành thạo công nghệ cốt lõi của vũ khí hạt nhân.
Ảnh 5: Một số người nghĩ rằng Tesla có thể không phát minh ra, nhưng mang công nghệ của Sao Kim đến trái đất và truyền thụ cho nhân loại. (orionpozo – CC BY 2.0)
Trung bình, Tesla có hơn 20 phát minh mỗi năm, đó là một con số đáng kinh ngạc. Một số người nghĩ rằng Tesla có thể không phát minh ra, nhưng mang công nghệ của Sao Kim đến trái đất và truyền thụ cho nhân loại.
Ngoài phát minh và sáng tạo, Tesla cũng đã đưa ra nhiều dự đoán chính xác. Ví dụ, năm 1926 ông dự đoán chính xác sự xuất hiện của điện thoại thông minh. Điện thoại thông minh đầu tiên trên thế giới chỉ được sản xuất vào năm 1993 và Tesla đã biết về sự tồn tại của điện thoại thông minh trước 67 năm, điều này thực sự đáng kinh ngạc.
Ảnh 6: Tesla dự đoán sự xuất hiện của điện thoại thông minh trước 67 năm. (Pxfuel).
Vào thời điểm đó, Tesla nói rằng khi con người có thể sử dụng công nghệ vô tuyến một cách hoàn hảo, toàn bộ trái đất sẽ trở thành một tổng thể, bất kể mọi người cách nhau bao xa, họ có thể kết nối với nhau ngay lập tức và họ có thể nhìn thấy khuôn mặt của nhau và nghe thấy giọng nói của họ. Thiết bị có chức năng này nhỏ đến mức chúng ta có thể dễ dàng bỏ vào túi.
Tesla bắt đầu nghiên cứu “máy bay chống trọng lực” vào năm 1911. Ông nói rằng loại máy bay này không cần cánh quạt hoặc cánh, và có thể vẫn hoàn toàn đứng yên trong không khí, và có thể bay trơn tru trong môi trường có gió lớn. Do ít thông tin được lưu hành, một số người cho rằng Tesla đã không thành công trong việc phát triển loại máy bay vượt thời đại này, nhưng một số người cho rằng ông đã chế tạo được loại máy bay này, đó chính là UFO thường xuyên xuất hiện ở Hoa Kỳ.
Ảnh 7: Tài liệu tiết lộ một bức thư dự báo sự xuất hiện của UFO trên lãnh thổ nước Mỹ. (Ảnh chụp màn hình)
Tesla qua đời vào năm 1945, và tất cả các phát minh trong những năm cuối đời của ông được FBI liệt kê là tối mật. Các tài liệu như “Tesla từ sao Kim” chỉ là bí mật thông thường và sẽ được giải mã sau 50 năm. Sẽ mất ít nhất 100 năm để các tài liệu tối mật được phép giải mật.
Ảnh 8: Họ là những người ngoài hành tinh sống trên trái đất. Nổi tiếng nhất trong số này là cậu bé tự xưng mình đến từ sao Hỏa Boriska và Onik của sao Kim.
Cho đến nay, không ít người tin rằng có rất nhiều “kẻ lang thang vũ trụ” đã xuất hiện trên trái đất. Họ là những người ngoài hành tinh sống trên trái đất. Nổi tiếng nhất trong số này là cậu bé tự xưng mình đến từ sao Hỏa Boriska và Onik của sao Kim. Thông tin của họ làm dấy lên sự chú ý của công chúng.
Có bao nhiêu người ngoài hành tinh đã đến Trái đất? Mục đích của họ ở đây là gì? Có cuộc sống nào cao hơn đến trái đất? Đây là những chủ đề rất đáng xem xét và khám phá.
Tường Hòa
Theo Secretchina
Ảnh đại diện có sử dụng ảnh từ: Justin Cowart – CC BY 2.0
Nguồn: NTD
https://m.ntdvn.com/…/fbi-cong-bo-tai-lieu-giai-mat-nikola-…
Nghề… (phần 5)
Nghề… (phần 5)
Châu Đình An
Dù sao, cuối cùng, ngày vui cũng tàn phai nhanh chóng, tôi phải trở về trại cải tạo để tiếp tục sống một quãng đời vô định tương lai, thỉnh thoảng tôi phá hư cái chén dầu, hoặc ống dẫn hơi vào dàn chảo, thế là tôi lại được phép lái máy cày về thị xã sửa chữa. Ông quản giáo Hai Thì bực mình ra mặt vì máy hư làm nông xuất bị chậm trễ vụ mùa. Có lẽ chỉ tiêu ông ta hứa với cấp trên cung cấp bao nhiêu khoai, bao nhiêu sắn, bao nhiêu bắp mà không làm kịp.
Khi sửa máy cày chưa kịp xong và tối phải ở lại thị xã Phan Rang, tôi bị đưa vào ty Công An Phan Rang và bị nhốt chung với đám hình sự đang bị tạm giam, phòng giam bẩn thỉu, chật chội không có chỗ ngả lưng qua đêm, và thiếu sự bình an với đám tù xì ke ma tuý đâm chém cướp giật. Một thằng chân cà thọt, da trắng bủng, nó nói giọng Bình Định đặc sệt đến doạ tôi, nó hất hàm bảo mày tên gì, vì sao vào đây. Tôi chẳng thèm trả lời thì nó thụi vào bụng tôi một cái cùi chỏ làm tôi thốn muốn ói. Tôi la lên, sao mày đánh tao, thì nó nhảy lên đá vào ngực tôi. Tôi phải tự vệ chứ, né qua một bên, nó mất đà chúi đầu ngả vào vách một cái rầm.
Cả bọn tù ồ lên một tiếng, nó bị nằm xuống nền xi măng nhơ nhớp, mặt nó tái xanh với hai con mắt ốc nhồi trắng phếu, giận dữ, nó gầm lên, đứng dậy với cái chân cà thọt, và nó chửi thề “Đm mày tới số rồi”. Nó tiến đến định thoi tôi vào mặt, tôi cũng không vừa, định dợm chân đá cho nó một phát, nhưng có hai thằng đồng bọn của nó ôm cứng tay tôi từ phía sau, và nó chơi đòn hèn đánh tôi cú thôi sơn vào mặt, đau quá tôi hét vang và công an chạy vào thổi tu huýt liên hồi. Bọn nó dạt ra, công an đưa tôi đến phòng chấp pháp, là cái phòng điều tra, ở đấy tôi gặp thằng Việt vệ binh, nó nhìn tôi với cái môi đang bị chảy máu không nói gì.
Nó đưa tôi miếng bông gòn thấm máu mồm, và bảo tôi ngủ trên tấm phản cuối phòng tối nay ở đây, sáng mai ra xem máy cày sửa xong sẽ về.
Mỗi khi đi sửa máy, là tôi được ăn cơm trắng với một miếng gà nướng, và vài lát cà chua cũng như dưa leo. Ôi chao! Ngon nhất trần gian là thế. Phần ăn này do ông chủ tiệm sửa xe máy cày mời cho. Ông ta biết tôi là dân miền Nam bị tù cải tạo nên thương cảm, và đã thế ông còn cho tôi đường đen, thịt heo kho ruốc khô để tôi mang vào trại cải tạo ăn. Những thứ này rất xa xỉ phẩm trong giai đoạn cả nước đang đói vì thiếu ăn.
Về lại trại cải tạo tự dưng ý định bỏ trốn trại thoáng trong đầu, nhất là mỗi 5 giờ sáng đang lơ mơ ngủ là nghe cái loa chỉa vào nhà một, nhà hai, nhà ba với giọng phát thanh chua chát của nữ xướng ngôn viên, đã thế còn phải tập họp hát chào cờ “mặt trận giải phóng” mỗi sáng.
Cái bài hát của ông Lưu Hữu Phước, cũng là tác giả của bài quốc ca VNCH (cái này lạ thiệt) với những câu:
“giải phóng miền Nam, chúng ta cùng quyết tiến bước. Diệt đế quốc Mỹ phá tan bè lũ bán nước…”
Trong trại cải tạo, anh em cải biên thành ca khúc mang tựa đề “những món ăn chơi”.
“Hủ tiếu bò kho bánh canh bò tái cháo huyết, một dĩa bánh cuốn, với lại một chén nước mắm.
Ôi nhân tôm, bánh căng, thịt bò xào cháo lòng, cơm tấm hay patê bánh mì.
Măng cụt, sầu riêng, chôm chôm hay chuối già, ăn trái cây xong rồi uống nước trà.
Cà phê, sô đa, trà chanh đá đường (Vùng lên nhân dân miền Nam anh hùng)
Mình uống nước xong rồi, mình kiếm điếu thuốc lào, giờ đây mang thuốc ra hút.
Mình không có thuốc lào, thì vấn điếu thuốc rê, còn sang hơn điếu cáp tăng (capstan), con mèo”
Đói quá nên dân gian tưởng tượng những món ăn chơi, hát lên là thèm nhỏ rãi để nhạo lại cái bài chào cờ. Nhưng, chỉ có môt vài tên thân thiết hát cho nhau nghe rồi cười khúc khích, nhìn ngang dọc kẻo quản giáo, vệ binh nghe được thì chết xác!
Mỗi khi đứng trong hàng chào cờ, ai hát mặc ai, tôi nhấp môi và nghĩ đến mấy món ăn chơi mà không khỏi thầm cười trong bụng. Nhưng cũng có lúc tôi quen mồm nghêu ngao hát khi cày đất, hát trong tiếng máy cày nổ vang nào ai nghe được. Kể cả thằng vệ binh Việt canh giữ tôi, nó chẳng nghe gì, chỉ thấy tôi hát vui và nó hỏi tôi hát bài gì thế? Tôi bảo bài hát Xuân này con không về. Nó nói thích bài này lắm, và xin tôi chép hộ. Tôi hứa.
Những ngày mưa lớn thì tôi lại “thất nghiệp” nghề lái máy cày, quản giáo bắt tôi vào đội văn nghệ do ông Nguyễn Đình Kim làm trưởng ban, ông Kim nguyên là Trưởng Ty Kinh Tế Phan Rang thời VNCH. (Hiện nay ông Kim đang định cư ở Minnesota, Hoa Kỳ). Ông giỏi nhạc lý, biết sư phạm chỉ dẫn, do vậy quản giáo bắt ông tập dợt cho ban văn nghệ của trại tù. Cái ban này được tuyển chọn đàng hoàng, nghĩa là phải biết đàn địch hát xướng thì mới vào được. Ưu tiên khỏi phải làm lao động trong thời gian tập dợt. Mục đích của ban này là phải “biểu diễn” nhân ngày lễ quân đội nhân dân, lễ sinh nhật Hồ Chí Minh, lễ lao động…
Vì công “chùa” nhiều nên quản giáo bắt cả trại dựng một hội trường rộng dài, lợp bằng tranh và chung quanh bao bọc bằng thân cây dầu ghép lại. Sân khấu khá “hoành tráng” thời bấy giờ, cũng có màn kéo màu đỏ, và bạn biết mà, dân miền Nam mình khéo tay nên vẽ đẹp, viết cắt chữ khéo và trang trí hết ý. Vì có cán bộ cấp cao trên tỉnh xuống để thăm và xem anh em “nguỵ quân, nguỵ quyền” học tập đến đâu, do vậy phải có văn nghệ văn gừng với những bài hát cách mạng!
Có chị Thiếu Uý trong ban quản giáo tên là Hường, người Bắc, tóc kết đuôi dài xuống mông, người khá đẹp với nước da trắng là có vẻ cảm tình với tôi sau khi nghe tôi hát bài “gặp em trên cao lộng gió, đường trường sơn ào ào lá đỏ” trên sân khấu trại. Cảm tình thế thôi chứ làm sao được khi một thằng tù “nguỵ” và một cô cán bộ cộng sản. Chị này chắc là cũng lãng mạn, vì là Thiếu Uý lo về kế toán của trại tù nên chị ta có một căn phòng nằm sát bờ sông Cái, bên hông căn phòng là cái cửa sổ nhỏ, mỗi khi tôi lái máy cày lao động trở về phải đậu nơi nhà chứa xe đối diện với cái khung cửa sổ của chị Hường. Tôi vẫn thấy thấp thoáng đôi mắt đen của chị ta nhìn thằng tôi mỗi lần như thế.
Trong khu vực sân của dãy nhà ban quản giáo rất rộng lớn, ông Hai Thì có thả một con heo nọc. Đây là loại heo chuyên đi nhảy mái, do vậy nó to, và mồm nó lúc nào cũng chảy nước dãi trắng, là giống heo sung sức chuyên gầy giống, nên nó phá lắm, vồng khoai nào vừa lên vồng với khoai lang lú đọt là nó “dớt” hết.
Một hôm chị Hường đến nói với tôi là, chị muốn tôi làm giúp cho chị cái giàn mướp, vì con heo nọc của ông Hai Thì dùng mỏ hất tung cái giàn mà chị cất công làm. Tôi ngần ngại bảo là phải xin phép giám thị Hai Thì, nhưng chị ta bảo đây là lệnh của chị, tôi phải thi hành.
Thế là qua hôm sau, không hiểu chị thiếu uý Hường nói gì với giám thị Hai Thì, mà tôi được nghỉ nhà một ngày để làm giàn mướp cho chị ta. Trước khi bắt tay vào việc, chị thiếu uý Hường “bồi dưỡng” tôi bằng một ổ bánh mì kẹp thịt. Chị bảo tặng tôi, ăn xong rồi làm.
Ông bà cha mẹ ơi! ở tù trong rừng sâu nước độc, đói ăn thiếu mặc mà có ổ bánh mì thịt do “người nữ có chút nhan sắc” tặng cho, thì bạn thử nghĩ làm sao mà không lên mây nhỉ? Ngồi bệt xuống đất dựa lưng vào vách nhà và vừa nuốt miếng bánh đầu tiên, chị Hường bỗng xuất hiện, đứng trước mặt tôi nhoẻn miệng cười, và hỏi tôi là ăn có ngon không.
Tôi ngồm ngoàm chưa nói kịp, thì chị bảo, ăn xong vào phòng làm việc của chị, để chị nhờ tí việc…
(Còn tiếp)
Ghi chú: Hình có tính cách minh hoạ

Nhà văn Tiểu Tử, những giọt nước mắt, những tiếng thở dài
Nhà văn Tiểu Tử, những giọt nước mắt, những tiếng thở dài
TỪ THỨC
André Gide nói ‘’C’est avec des beaux sentiments qu’on fait de mauvaise littérature‘’ (Với những tình cảm tốt, người ta làm văn chương dở). Tiểu Tử là một nhà văn đã chứng minh ngược lại, có thể viết hay với những tình cảm tốt. Trong tác phẩm của ông, hầu như chỉ có những tình cảm tốt, chỉ có tình người.
Đọc Tiểu Tử người ta không cầm được nước mắt, nhưng sau đó thấy ấm lòng, vì thấy trong một xã hội đảo lộn, vẫn còn đầy tình người, vẫn còn đầy thương yêu, vẫn còn nghiã đồng bào, vẫn còn những người tử tế. Và thấy đời còn đáng sống. Một nhà văn Pháp nói văn chương, trước hết là xúc động… Trong truyện ngắn của Tiểu Tử, sự xúc động hầu như thường trực.
Tiểu Tử là một nhà văn miền Nam điển hình, con đường nối dài của những Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam. Văn của ông là lối kể chuyện của người miền Nam, bình dị nhưng duyên dáng, duyên dáng bởi vì bình dị, tự nhiên. Tiểu Tử không ‘’làm văn‘’. Ông kể chuyện; không có chữ thật kêu, không có những câu chải chuốt. Với cách viết, với ngôn ngữ chỉ có những tác giả miền Nam mới viết được. Không hề có cường điệu, không hề có làm dáng. Người đọc đôi khi có cảm tưởng tác giả không mấy ưu tư về kỹ thuật viết lách, ông viết với tấm lòng.
Ngay cả tên những nhân vật cũng đặc miền Nam, không có Lan, Cúc, Hồ Điệp, Giáng Hương như trong tiểu thuyết miền Bắc, không có Nga My, Diễm My, Công Tằng Tôn Nữ như Huế, chỉ có những con Huê, con Nhàn, con Lúa, thằng Rớt, thầy Năm Chén, thằng Lượm, bà Năm Chiên, bà Năm Cháo lòng. Các địa danh cũng đặc Nam kỳ, không có Cổ Ngư, Vỹ Dạ, Thăng Long, chỉ có những Nhơn Hoà, Cồn Cỏ, Bò Keo, Bình Quới, những tên, những địa chỉ rất ‘’miệt vườn‘’, chỉ đọc cũng đã thấy dễ thương, lạ tai, ngồ ngộ. Âm thanh như một câu vọng cổ.
Tiểu Tử, 88 tuổi, kỹ sư dầu khí, tác giả nhiều tập truyện ngắn (Những Mảnh Vụn, Bài ca Vọng Cổ, Chuyện Thuở Giao Thời) học ở Marseilles, hiện sống ở ngoại ô Paris, nhưng văn của ông không lai Tây một chút nào. Rất Việt nam, đúng ra rất Nam Việt, với lối viết như người ta kể chuyện bên ly la de, bên tô hủ tíu, với những chữ nghen, chữ héng, chữ nghe…’’Cần gì cứ nói nghe cô Hai, đừng ngại. Mình với nhau mà…’’. Dưới ngòi bút của một tác giả người Bắc, người Trung, gọi người đàn bà là con Huê, con Nhàn có vẻ hỗn, ở Tiểu Tử, nó chỉ có sự thân ái.
Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, Tiểu Tử đã chứng tỏ ngôn ngữ địa phương, cách diễn tả địa phương làm giầu cho văn hoá dân tộc. Cố gắng bắt chước lối diễn tả Hà Nội là một lầm lỗi, nó chỉ làm cái vốn văn hoá của ta nghèo đi.
(Sự thực Hà Nội ngày nay không còn gì là nơi văn vật, cái gì cũng ‘’đéo‘’. Còn báo Nhân Dân không? Đéo còn, chỉ còn Người Hà Lội).
Văn chương là hư cấu, nhưng đọc Tiểu tử, người ta thấy cái chân thực, có cảm tưởng không có chi tiết nào là kết quả của tưởng tượng. Tất cả đều la những chuyện tác giả đã sống, hay đã nghe kể lại. Vả lại, ở Việt Nam, thực tế vượt xa tưởng tượng. Cái đau đớn, cái thảm kịch mỗi người Việt Nam đã, đang sống, không có người viết văn nào, giầu óc tưởng tượng tới đâu, có thể bịa ra. Trong ‘’Thầy Năm Chén‘’, ông thầy thuốc, suốt đời làm việc nghiã, bị cách mạnh hành hạ, chuẩn bị cho con vượt biên. Khi giã từ con, ông đưa cho con, thằng Kiệt, ‘’một cái gói mầu đỏ đã phai màu, cột làm nhiều gút, nói: cho con cái ni (ông là người gốc Huế). Con giữ trong người để hộ thân. ’’Kiệt đến Canada an toàn, một ngày dở cái gói của cha cho ngày vượt biển. Trong đó có ba cái răng vàng. Thầy Năm Chén, nghèo đói quá, đã cạy ba cái răng vàng cho con làm của hộ thân đi tìm đường sống ở xứ người. Độc giả hiểu tại sao từ ngày con đi, ông Năm Chén chỉ ăn cháo.
‘’Chiếc khăn mùi xoa‘’ có thể coi là điển hình cho truyện ngắn Tiểu Tử, trong đó có sự xúc động cao độ, đẫm nước mắt, với những nhân vật nhân hậu, giầu tình nghiã, những chi tiết éo le như một cuốn phim tình lãng mạn, nhưng đơn giản, chân thực.
Một người Việt tị nạn ở Pháp về thăm nhà, gặp những người bạn học cũ, trong đó có nhân vật chính, ‘’con Huê‘’, sự thực là một người đàn bà đã đứng tuổi. Ông ta kể lại: ‘’Con Huê tiễn tao ra cổng, đứng ngập ngừng một lát rồi bỗng nói một mạch, là lạ, như tụi mình trả bài thuộc lòng thuở nhỏ: Anh qua bên Tây, gặp anh Cương nói em gởi lời thăm ảnh. Nó nói rồi bỏ chạy vội vào trong, tao thấy nó đưa tay quệt nước mắt mấy lần. Tao đứng chết trân, nhớ lại lời con Nhàn, em con Huê nói với tao: Anh biết không, chị Huê thương anh Cương từ hồi còn nhỏ lận. Người con gái ở quê mình nó thật thà, trung hậu đến mức độ mà khi trót thương ai thì thương cho đến chết. Họ coi đó là tự nhiên, phải có nước lớn nước ròng‘’.
Tiểu Tử viết chuyện tình âm thầm của người đàn bà từ ngày còn đi học, tới ngày nay đã bạc đầu, với người bạn trai ngày xưa tên là Cương, nhưng sóng gíó 75 đã khiến người đàn ông bỏ nước đi lánh nạn. Người con gái của ông Cương, đang sống ở Bruxelles, đọc truyện, cho tác giả hay bố mẹ đều đã qua đời. Trước khi chết, Cương dặn con gái: ‘’Con ráng tìm cách về Nhơn Hoà, Cầu Cỏ, trao cái này cho cô Hai Huê, nói ba không quên ai hết‘’. ‘’Cái này ‘’ là một bao thư, trong đó có chiếc khăn mùi xoa cô Huê đã tặng Cương thời trẻ. Người con gái thấy thương bố, thương cô Hai Huê không cùng. Cô gái đi Việt Nam, một xứ xa lạ, tìm về Nhơn Hoà, Cầu cỏ, tìm người bà tên Huê để trao lại kỷ vật của người đã qua đời. Cô Hai Huê xỉu đi khi nghe tin người bạn xưa đã chết. Hai người đàn bà, một già, một trẻ ôm nhau khóc. Nếu bạn là người tưởng mình có tâm hồn sỏi đá vì đã sống, đã chứng kiến đủ mọi thảm kịch của đời sống, nhất là đời sống của một người Việt Nam, bạn sẽ ngạc nhiên thấy mình đang lau nước mắt.
Thế giới truyện ngắn của Tiểu Tử xoay quanh hai đề tài chính: những kỷ niệm về một Miền Nam hiền hoà, chất phác, nhân hậu ngày xưa, với những trò vui đưà nghịch ngợm của đám bạn bè trẻ, những mối tình mộc mạc của những người dân quê và, sau đó, những đảo lộn sau 75, khi tai họa trên trời giáng xuống. ‘’Tất cả đều bị xáo trộn, bị nghịch lý đến nỗi tao sống trong đó mà lắm khi phải tự hỏi: làm sao có thể như vậy được‘’. Một xã hội vô tư, kể cả vùng quê, trở thành địa ngục. Chỉ còn hận thù, phản trắc, gian sảo, cướp đoạt, dối trá.
Những nhân vật của Tiểu Tử không còn cười đuà, vui chơi, dễ dãi nưã. Đó là những nhân vật đầy ưu phiền như ông Tư, như bà Hai, như thầy Năm Chén, như anh Bẩy, như bà Năm cháo lòng. Một xã hội đổ nát, rách bươm… ‘’Những người ‘’cách mạng’’ xông vào nhà, ngang nhiên hùng hổ, như một bọn cướp. Họ ‘’bươi‘’ từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới, từ trước ra sau, từ sau ra trước… giống như gà bươi đống rác. Gặp gì kiểm tra nấy. Vậy rồi… hốt hết. ‘’
Sau 75, người ta truyền nhau một câu ca dao mới: “Thằng khôn thì đã vượt biên. Những thằng ở lại không điên cũng khùng”. Các nhân vật của Tiểu Tử, vốn là những người miền Nam hiền lành, dễ tin, yêu đời, nhiều người đã hết lòng với ‘’kháng chiến‘’, sau ‘’cách mạng’’, đều bị đàn áp, gia sản bị cướp đoạt trắng trợn trong những chiến dịch ‘’đánh tư sản mại bản‘’ trở thành không điên cũng khùng
Ông Tư (trong IM LẶNG) là người có gia sản ở Saìgòn, đã bí mật đóng góp tài chánh cho ‘’Giải Phóng’’. Khi Cộng Sản chiếm miền Nam, không những không được trả ơn, mà bị hành hạ, gia sản bị cướp sạch. ‘’Bỗng nhiên ông Tư nhận thức rằng tất cả những gì thuộc về ông bây giờ chỉ còn lại người vợ cuả ông đang chờ đợi ông ở nhà‘’… Nhưng bà vợ tiếc cuả, uất hận vì bị cách mạng lưà gạt, suốt ngày đay nghiến trách móc chồng. Rốt cuộc hai vợ chồng tìm được cách chạy sang Pháp, nơi con trai ông đã được bố mẹ gởi đi du học, đã thành đạt, có nhà cưả sang trọng. Ông con hỏi bố ở chơi bao nhiêu ngày. Ông Tư nói ở lại luôn. Ông con nói, giọng đặc ‘’Việt kiều yêu nước’’: ‘’Ủa, sao lại ở luôn. Bây giờ nước nhà độc lập rồi, không còn thằng nào ngồi trên cổ mình hết; vậy mà ba má bỏ qua đây luôn. Thiệt là vô lý‘’. Ông Tư trở thành một người câm, không nói gì với ai nưã. Cho đến một hôm lầm lũi lội chết dưới biển.
Bà Hai (trong Thằng Đi Mất Biệt), con cái chết, gia tình tan nát, suốt ngày ngồi chờ đưá con trai còn lại bị đưa đi cải tạo. ‘’Khi trời nắng ráo, bà đi tuốt ra ngoài vàm rạch, lên ngồi trên môi đất có thể nhìn thẳng qua bên kia sông. Như vậy, “khi nào thằng nhỏ nó về, mình thấy nó từ đằng xa, nó có đi đò, trong đám đông, mình cũng nhìn ra đươc nó liền hà‘’.
Thầy Năm Chén (trong truyện cùng tên) phòng mạch bị chiếm, con trai phải bỏ đi kiếm ăn. ‘’Chia tay nhau mà hai cha con không dám ôm nhau. Sợ người ta để ý. Thầy không đưa con ra cổng nghiã trang. Sợ người ta để ý. Thầy không dám để rơi một giọt nước mắt. Sợ người ta để ý. Thầy chỉ thở dài. Thời buổi bây giờ chỉ thở dài là không ai để ý. Bởi vì ai cũng thở dài hết”.
Ông già bới rác (truyện cùng tên) là một ông già có công với ‘’cách mạng’’, bi cách mạng cướp hết không còn manh giáp, trở thành khùng, suốt ngày lang thang ngoài đường bới rác, ‘’tao bới rác để kiếm mấy thằng Việt Cộng tao đã nuôi trong nhà‘’
Trong Những Mảnh Vụn, người yêu ‘’đi chui bán chánh thức‘’, nghiã là đi vượt biển do cán bộ tổ chức, biệt tăm, chắc mất xác vì tầu quá cũ bị chìm, anh Bâỷ suốt ngày, như một người mất hồn, đi qua lại tất cả những nơi ngày xưa hai người vẫn hẹn hò. ‘’Bẩy không biết mình đang đi lượm những mảnh vụn của cuộc tình. Nếu không có cái ‘’ngày cách mạng thành công‘’ đã thật sự thành công trong nhiệm vụ đập nát tất cả những gì của miền Nam, kể cả những gì nhỏ bé nhứt, tầm thường nhứt như tình yêu của chàng trai và cô gái đó‘’.
Bà Năm cháo lòng ‘’vẫn bán cháo lòng, lâu lâu vẫn chửi thằng con mà giống như bà chửi cả nước‘’
Đọc Tiểu Tử, người ta không thể không xúc động… Nhưng văn Tiểu Tử cũng đầy nét khôi hài, những nhận xét ngộ nghĩnh. Phòng mạch của Thầy Năm Chén ‘’bịnh nhơn cũng vắng. Làm như người ta sợ quá rồi… quên bịnh. Trái lại, bên phía chuà thì lại đông người lui tới và ngày nào cũng có người. Làm như người ta chỉ còn biết… dựa vào Phật‘’. Qua vài nét chấm phá, ông ghi lại những cảnh trái tai gai mắt, những cảnh lố bịch của những người thắng trận. Những cảnh không biết nên cười hay nên khóc diễn ra trước mắt, mỗi ngày, chỉ cần ghi lại, không thêm thắt, bình luận. André Gide: Plus un humouriste est intelligent, moins il a besoin de déformer la réalité pour le rendre significative (Một nhà khôi hài càng thông minh, càng không cần bóp méo sự thực để làm cho nó có ý nghiã). Tiểu Tử không cần bóp méo sự thực, chỉ việc cúi xuống lượm, ghi lại những cái lố lăng, đảo lộn luân thường diễn ra mỗi ngày, trước mắt.
Muốn hiểu lịch sử, hay xã hội trong một giai đoạn lịch sử, không gì hơn là đọc các nhà văn. Hơn là những sử gia, những nhà biên khảo, nhà văn, trong vài chữ, vài nét, cho thấy mặt thực của xã hội. Văn chương đi vào trái tim, trong khi biên khảo chỉ đi vào trí óc. Không có xúc động, rất khó có cảm thông, không có cảm thông, không sống với người trong cuôc, làm sao hiểu được? Một câu danh ngôn: ‘’một người chết là một bi kịch, một triệu người chết chỉ là một con số thống kê‘’. Tiểu Tử không làm thống kê, ông ghi lại bi kịch của một nhân vật, của tôi, của anh, của mỗi người. Mỗi câu chuyện cuả ông là một bi hài kịch (farces tragiques) của một thời đảo điên.
Truyện ngắn Tiểu Tử, với lối hành văn bình dị, linh động là một cuốn tự điển sống của ngôn ngữ miền Nam thời chưa loạn. Đó là kho tàng quý, trong khi ở hải ngoại, chữ Việt càng ngày càng lai Tây, lai Mỹ; trong nước càng ngày càng lai Tầu, với những chữ, những lối nói ngớ ngẩn, đôi khi kỳ quái, khiến tiếng Việt không còn là tiếng Việt, báo hiệu một ngày người Việt không còn là người Việt. Truyện ngắn Tiểu Tử là những giọt nước mắt, những tiếng thở dài, nụ cười trong những ngày bình an và ngay cả trong cơn đớn đau cùng cực. Ông là một nhân chứng quý báu của một giai đoạn bi thảm, một cuộc đổi đời ghê rợn nhất trong lịch sử Việt./-
TỪ THỨC
TÔI NHIỄM “CÔVÍT” LÀ ĐÚNG, NẾU KHÔNG THÌ ĐÚNG LÀ…
Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Đình
Tôi bị lạc hơn ba tiếng đồng hồ, lái xe tứ tung trên nhiều phố, vào nhiều tiệm. Gặp đủ loại người, vào đủ nơi chốn, tay chạm vào các điểm dễ bị nhiễm, như các nắm cửa, các nút mở đóng nước, vào văn phòng, cầu tiêu, chỗ đông người, quên khuấy có bị “côvít” nhiễm hay không; lang thang vô định 3 giờ, từ 10:30 sáng tới 1:30 chiều ngày 23 tháng 7, 2020. Mắt mờ, bụng đói, nhất là không biết làm sao để về lại Nhà Dòng. Đành phải điện thoại cho cháu ruột là anh chị Chàng & Vân-Điền tới dẫn đường…
Đã nửa năm, từ tháng Hai tới nay, tôi chỉ ở trong Nhà Dòng, vừa không có việc phải ra ngoài, vừa ngại “côvít” nhẩy từ trẻ sang già, rồi trẻ còn sống, mà già dễ bị nhiễm, chết nếu không vào bệnh viện kịp thời.
Viết những hàng này khi đợi một tuần nữa để xem “côvít” có quên nhiễm vào tôi hay không. Nếu đọc tới đây, thì xin CẦU NGUYỆN cho tôi An Vui, Vững Tin “Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như Trên Trời.”
Tôi Lắng Nghe Tiếng Chúa thế nào qua biến cố hy hữu này? Rút được bài học gì? Bài học “trách mình, không trách người”? Bài học “trở lại ban đầu”; bài học “sai một li, đi một dặm”; bài học “trong hoạn nạn thấy nhiều người tốt”; v.v.
Tôi bị lạc không vì lái xe trên đường xa lạ, mà trên đường tôi đi thường xuyên, chỉ cần vượt hai đèn xanh, rồi quẹo trái là tới phòng bác sỹ gia đình. Lần này bị lạc vì mới đến đèn xanh thứ I tôi đã quẹo trái, vào đường nhỏ xa lạ, mà cứ đi liều.
Vòng vèo thế nào mà đã lạc 1 giờ rưỡi! Sa vào “rừng rậm – labyrinth”, nên càng lái càng lạc. Tôi quẹo vào các dẫy phố để hỏi; nhưng gõ mà cửa không mở. Đến nơi rộng mênh mông, cả một hãng sửa chữa xe lớn. Hỏi ra mới biết đã lạc mấy chục dặm, lạc hơn 2 giờ! Từ “ông trưởng – manager” đến các chuyên viên, tất cả đều đeo khẩu trang, giữ cách ly. Ông trưởng chỉ nơi tiêu tiểu, nơi ngồi đợi, mở nước uống, nói truyện với cháu ruột để anh lái xe đến, rồi tôi lái theo lên xa lộ, về lại Nhà Dòng.
Không dại nào giống dại nào. Nếu lúc đầu, vừa biết quẹo trước một “block”, mà quẹo chữ “U” ngược lại, thì chỉ mất 5 phút, mà cuối cùng mất ít là 3 giờ! Thôi, cầu xin không bị nhiễm côvít vì xâm phạm “cách ly”, đụng chạm, gần gũi ngoài mức tưởng tượng.
Riêng điều “nếu lúc đầu” biết quẹo chữ “U”, thì tôi không nhớ làm như mình đưa ra “Trở Về CÁI HAY BAN ĐẦU” trong Khóa Căn Bản của Chương Trình. Đó là khóa viên cần “trách mình không trách bạn đời”, cần nhận trước Thánh Gia là xưa mình Có Điều Hay, nên bạn đời cưới mình. Sau mình bỏ Cảm Ơn, bỏ cái vuốt vai, cái nhìn thương yêu, bỏ làm điều bạn ưu thích… Nên hứa quẹo chữ “U”, thành tâm xin lỗi, làm lại như Ban Đầu mới cưới.
Bài học “trong hoạn nạn mới thấy nhiều người tốt”, vì tôi được giúp đỡ chân thật, tới quên cả “côvít” lây lan, quên bị lạc quá lâu. Về Chương Trình, thì nhiều khóa sinh khi vừa nhập Khóa, cũng dửng dưng, chỉ muốn bỏ nhau. Nay thấy các cặp diễn giải, mời tự nói, các trợ nguyền, tất cả đều cởi mở, tận tâm phục vụ mình; thấy họ xin lỗi, cảm ơn, hứa sửa đổi để Làm Gương Lành cho Con, cùng “phục vụ người thứ ba, là ruột thịt trong nhà và cả nhân loại.”
Dịp bị lạc đường này, nếu tôi bị NHIỄM “CÔVÍT’ LÀ ĐÚNG, NẾU KHÔNG THÌ ĐÚNG LÀ… CHÚA CỨU! Đọc tới đây, lần nữa xin TẠ ƠN và CẦU cho tôi được “Vâng Ý Cha dưới đất cũng như trên trời.”




Khi Con Nhận Quá Nhiều Đau Khổ Như Vậy CHÚA Ở ĐÂU
httpv://www.youtube.com/watch?v=g3W0CvzVnTU
Khi Con Nhận Quá Nhiều Đau Khổ Như Vậy CHÚA Ở ĐÂU – Bài Giảng Hay Của LM Nguyễn Thiết Thắng
LINH HỒN CÓ ĂN UỐNG, NGỦ NGHỈ GÌ KHÔNG?
Lm Trần Chính Trực was live.
Covid tái xuất giang hồ, và dường như nó lợi hại hơn xưa. Nhiều vùng, nhiều miền Covid đã ngự trị, làm cho người dân hoang mang, lo sợ.
Thời điểm này, nếu bạn không sợ thần chết này mà cứ đi du lịch, đến chỗ đông người, đặc biệt các vùng dịch thì có nguy cơ rất cao trở thành nạn nhân cho con Covid và là tác nhân lây nhiễm virus trong cộng đồng.
Tốt nhất, thời điểm này, nếu không cần thiết, nên ở nhà và học hỏi những điều bổ ích trong đạo cũng như ngoài đời, trên các truyền thông đại chúng.
Hôm nay ngày Chúa Nhật, xin phép chiếu lại bài chia sẻ của cha Phạm Tĩnh.
Chủ đề: LINH HỒN CÓ ĂN UỐNG, NGỦ NGHỈ GÌ KHÔNG?
Những gói hạt giống bí ẩn được gửi từ China…

Những gói hạt giống bí ẩn được gửi từ China đến các bang của Mỹ gần đây, là một dạng bom sinh học -Bioterrorism. Chúng có thể gây phỏng da khi chạm vào và chứa nhiều chất độc. Chính phủ lưu ý người dân khi nhận được gói hạt giống không được mở bao bì, không được bỏ thùng rác mà phải báo cho cảnh sát để thu hồi.
Từ fb Le Van Quy
Nhà nghiên cứu Trung Quốc nhận tội đánh cắp bí mật từ bệnh viện nhi đồng Mỹ
Nguyễn Hữu Vinh
“Trong 10 năm làm việc tại bệnh viện, Chen đã đánh cắp bí mật thương mại từ đơn vị này và chuyển chúng sang Trung Quốc sau khi nhận được các khoản thanh toán từ chính phủ Trung Quốc” – ông David M. DeVillers, lãnh đạo Cơ quan Tư pháp Mỹ tại TP Columbus, cho biết.
Chồng bị cáo Chen là Yu Zhou cũng bị xem là đồng phạm. Ông ta đã làm việc 10 năm trong các phòng thí nghiệm nghiên cứu y tế chuyên biệt tại viện nghiên cứu thuộc Bệnh viện Nhi đồng Nationwide. Bị cáo Zhou làm việc ở đó từ năm 2007 đến 2017, trong khi Chen được tuyển dụng từ 2008 đến 2018.”

CÔ GÁI BÁN (DON)
Chau Nguyen Thi
Đến định cư tại miền Bắc California Hoa Kỳ hơn nửa năm, bỗng một hôm, tôi nhận được cú điện thoại của Thung từ Texas gọi qua. Thung là bạn học, cũng là chiến hữu của tôi ngày xưa. Hắn đề nghị gởi vé máy bay mời tôi qua Houston chơi. Nhân tiện thăm viếng khu vực dễ làm ăn và giá nhà cửa cũng dễ thở hơn nhiều so với San Jose. Tôi đồng ý. Một tuần lễ sau, một vé máy bay và một cái check 300 Mỹ kim trong bì thư gởi đến. Đây là một món quà khá hậu hỉ ở đất lạ quê người. Ba ngày sau, tôi lên máy bay của hãng Continental Airlines đi Texas. Bay suốt bốn tiếng đồng hồ, chiếc Boeing mới hạ cánh xuống phi trường Houston. Thung đón tôi tại lối ra của khu hành khách. Lần gặp nhau cuối cùng ở quê nhà vào năm 1973, tại Đại Học CTCT Đà Lạt. Ngày ấy, trông hắn rắn rỏi, khuôn mặt sạm nắng mà hôm nay, sau mười sáu năm định cư tại Mỹ, hắn hoàn toàn lột xác. Nước da trắng hồng đỏ au, cái bụng căng tròn, dáng người bệ vệ trông “rất ông chủ”. Mà chủ thực. Thung làm chủ cái chợ bán đồ biển. Vợ và con quản lý còn Thung lo chạy vòng ngoài.
Ngày hôm sau Thung đưa tôi đến thăm cơ sở làm ăn của gia đình. Nào phòng mạch nha sĩ của đứa con trai đầu lòng, phòng dịch vụ về bảo hiểm của đứa con gái. Sau đó Thung mời tôi đi ăn trưa.
Nhà hàng có tên Cổ Lũy Restaurant tọa lạc tại khu sầm uất nhất của người Việt và Hoa tại thành phố Houston. Vào giờ xế trưa, nhà hàng vắng khách nên chúng tôi chọn chiếc bàn đặt gần quầy thu tiền. Người bồi bàn trao cho chúng tôi bản thực đơn. Cái tên Cổ Lũy nghe quen thân quá. Tôi nghĩ, có lẽ chủ nhà hàng là người Quảng Ngãi. Bởi Cổ Lũy là tên một cửa biển từ hai dòng sông Trà Khúc và Sông Vệ nhập vào. Nơi đây thuyền bè tấp nập ra vào bến tàu Phú Thọ. Trong tờ thực đơn có món “Hến xúc bánh tráng”. Nhìn thấy hến mình lại nhớ đến món don. Chẳng cần xem tiếp tờ thực đơn, tôi gọi ngay một tô don. Cô bồi bàn giọng miền Nam nhìn tôi ngạc nhiên hỏi:
– Don là món gì vậy, nghe lạ quá hỡ ông? Thực đơn nhà hàng này không có món đó.
– Cái món “Hến xúc bánh tráng” trong thực đơn có ghi, tại sao lại không có món don ?
Tôi vừa cự nự (kiểu Quảng Ngãi hay co) vừa chỉ cho cô chạy bàn cái món ruột hến, rồi tiếp:
– Nếu không có don thì cho tôi cái món số 15 này.
Cô gái bồi bàn đi vào bếp. Ngay sau đó, một phụ nữ đứng tuổi ăn mặc sang trọng từ quầy thu tiền đi thẳng đến bàn chúng tôi. Bà có mái tóc ngắn làm nổi bật khuôn mặt trái soan đầy đặn với làn da trắng mịn. Thung khều chân tôi nói nhỏ : “Bà chủ”
– Chào hai anh. Người đàn bà nở nụ cười thân thiện.
– Chào bà chủ, Thung đáp lễ.
– Vị nào thích món don ? bà chủ tươi cười hỏi.
– Thưa bà, tôi ạ.
– Xin lỗi, anh người quê Quảng Ngãi ?
– Tại sao bà biết ?
– Tôi chỉ đoán thôi, bởi vì chỉ có dân sống tại Quảng Ngãi mới thấy thích thú món don. Thế bà cũng là người Quảng Ngãi, đúng không?
– Anh nghĩ sao mà đoán ra thế?
– Chỉ nhìn cái tên hiệu Cổ Lũy của nhà hàng là biết ngay.
– Nầy ông anh, trước kia ở Quảng Ngãi, anh sống ở huyện nào vậy?
– Tôi ở thị xã, trên đường Quang Trung.
Ngã Tư Chính Quảng Ngãi
Người đàn bà nhìn tôi một chặp lâu rồi quay vào bên trong nhà hàng. Lát sau, món ăn được bưng ra. Một tô bún chả cá cho Thung và một dĩa ruột hến xúc bánh tráng cho tôi. Lâu lắm rồi tôi mới nghe lại mùi hến. Hến ở quê nhà ruột nhỏ, dai và thơm. Còn hến đóng hộp nhập cảng con lớn, mềm lại mất hết mùi vị. Ngày xưa, mỗi lần đi Huế, tôi nhất định phải ăn cho được một lần cơm hến. Đi đâu xa trở về Quảng Ngãi, tôi không thể nào quên ăn một bữa don cho đã cơn ghiền.
Cô bồi bàn bưng hai ly nước cam vắt đến bàn chúng tôi nói của bà chủ mời, có kèm theo một tấm danh thiếp trao cho tôi. Mặt sau danh thiếp là chữ viết của bà chủ nhà hàng mời riêng tôi đến nhà vào chiều Thứ Bảy. Đặc biệt, bà khoản đãi món don do bà nấu. Phần dưới là số phone và địa chỉ nhà riêng. Trên đường về, tôi hỏi Thung:
– Cậu nghĩ sao cái trường hợp lạ lùng này ?
– Ở quê người, nhớ cố hương, gặp người Việt đã mừng rồi huống chi lại là đồng hương Quảng Ngãi. Bà ấy mời cậu đến nhà có lẽ để hỏi thăm tin tức bà con ở quê nhà. Cứ nhìn dáng dấp bà ấy với cái cơ ngơi nầy là cậu hiểu ngay bà ta là dân trụ ở đây khá lâu. Biết đâu cơ may đem đến cho cậu công ăn việc làm ở thành phố này. Bạn tôi suy luận như thế. Riêng tôi, vì lạ đất lạ người nên có phần bồn chồn, áy náy.
hến xúc bánh tráng
Hương vị của món hến xúc bánh tráng làm tôi nhớ đến kỷ niệm ngày mới lớn nơi quê nhà. Tôi từ trên quê xuống tỉnh học, ở trọ nhà người chị thứ Tư trên đường Quang Trung Thị xã Quảng Ngãi. Anh chị dành cho tôi căn phòng trên căn gác lửng. Có ban-công nhô ra làm mái hiên cho tầng dưới. Thông thường mỗi sáng, tôi thức dậy học bài rất sớm. Đường phố vẫn còn sương mù vướng mắc đó đây. Hàng cây bên đường trĩu nặng những hạt sương khuya, dấu kín bóng đêm trong vòm lá sum sê. Khi chân trời vừa rựng đỏ khuất sau hàng tre hướng Đông, là tiếng rao hàng ăn buổi sáng bắt đầu râm ran trước đường nhựa. Nào xôi, bánh bột lọc, cháo gà, bánh canh, bánh mì… đủ các loại hàng ăn vặt, và cũng đủ các loại âm thanh. Tiếng trầm, tiếng bổng, tiếng hơi khàn, giọng Huế, giọng Bắc, giọng Nam… Duy có tiếng rao: “Ai ăn don ho..o..o.. ông” là khiến tôi để ý. Tiếng “ho..o..o..ông” sau cùng kéo dài không đủ hơi chứng tỏ người rao hàng không phải giọng của người đứng tuổi. Tiếng rao nghe lánh lót như chim non mới tập hót, âm điệu ngây thơ rời rạc. Tôi ngồi học mà vẫn để ý đến tiếng rao bán don vang lên trước nhà. Tiếng rao như bị sương lạnh buổi sáng sớm làm đông lại không thoát ra được, nó nhỏ dần, nhỏ dần rồi hút mất ngoài xa.
Một hôm, tôi đang đứng tập mấy động tác hít thở trên ban-công, chợt tiếng rao “Ai ăn don ho..o..ông” quen thuộc vang lên phía dưới đường. Tôi vạch bức mành nhìn xuống thấy một người con gái mặc chiếc áo bà ba trắng thân hình mỏng mảnh với gánh don trên vai.
“Ê don”, tôi gọi cô nàng đứng lại rồi vộï vàng xuống thang gác.
Gánh don đã được đặt trước hiên nhà, nàng đứng đó chờ tôi mở cửa.
– Anh ăn don? Nàng hỏi khi tôi nhẹ nhàng lách mình qua cánh cửa sắt. Là một cô bé ước chừng mười mười bốn, mười lăm. Mái tóc vừa chấm vai che một bên khuôn mặt trái soan còn măng tơ. Tôi nhìn vào ngực cô bé, đôi nhũ hoa hồng hồng như hai núm quả cau nhú bên trong làn vải mỏng không áo lót, khiến cô bé cúi mặt thẹn thùng. Bạn học của tôi, những cô nữ sinh cùng cỡ tuổi đã bắt đầu chưng diện se sua, áo ngoài áo trong, phần trên phần dưới đủ cả, không khác chi người lớn. Còn cô bé, với chiếc quần đen, áo bà ba trắng mộc mạc nổi bật nét đẹp của người con gái chân quê.
– Anh ăn don?
Cô bé nhắc lại lần nữa, tôi sực tỉnh trả lời :
– Không ăn don, kêu cô lại làm gì?
Cô bé chợt hiểu nở miệng cười chữa thẹn khoe hàm răng trắng đều như những hạt bắp nếp. Nụ cười hồn nhiên khiến người đối diện cũng thấy lòng dạt dào, xao xuyến. Cô bé hai tay thoăn thoắt múc don. Mùi don thơm nồng pha chút hương biển từ ui don bay lên ngào ngạt. Cô bé trao cho tôi tô don còn bốc hơi cùng với chiếc bánh tráng nướng và hai trái ớt xiêm tươi xanh. Ăn don đâu cần phải bàn ghế. Tôi đặt bát don xuống nền xi măng, bẻ bánh tráng bỏ vào tô giằm luôn hai trái ớt. Nước don ngọt và béo. Cái ngọt độc đáo không phải vị ngọt của thịt, cá mà vị ngọt rất đậm đà hương vị quê hương. Lại thêm vị nồng cay của ớt, mùi thơm của bánh tráng nướng nó quyện vào lưỡi, ngấm vào chân răng, kích thích tận cùng tế bào vị giác. Nước don nuốt tới đâu ấm tới đó. Trời lạnh mà ta ăn don vào buổi sáng thì mới thưởng thức được hết cái thú ăn don ở quê nhà. Miếng don cuối cùng để lại trong miệng, trong cổ của ta vị ngọt ngọt, cay cay, nồng nồng, béo béo quyến rũ lạ kỳ. Nó khiến người ăn don không muốn dừng ở tô thứ nhất.
Tôi ăn ngon lành. Miệng hít hà vì ớt cay. Cái lưỡi tê tê mùi cay nồng của loại ớt xiêm vô cùng hấp dẫn làm cho nước mắt nước mũi tuôn ra. Nhìn cách ăn rất thật tình của tôi, cô bé cứ che miệng cười. Một tô, hai tô rồi ba tô. Cô bé trợn trừng đôi mắt, đôi mắt bồ câu đen lay láy. Cô kêu lên :
– Coi chừng bể bụng đó, anh Hai !
Ô, lần đầu tiên tôi được một người con gái gọi bằng anh. Anh Hai. Mười sáu tuổi, học lớp đệ Tứ rồi đấy nhé. Thế mà cha mẹ, anh chị cứ gọi tôi là Út Đẹt. Mẹ tôi thường nhắc chuyện hồi tôi còn nhỏ. Đã bốn, năm tuổi rồi mà vẫn còn bú và ăn cháo. Các bà chị tôi chế nhạo hoài mỗi lần tôi ôm vú mẹ. Chị Hai tôi hay trách mẹ tôi nhiều nhất :
– Mẹ ơi, mẹ cưng chiều nó quá làm sao nó thành người lớn. Mẹ tôi cười, nhỏ nhẹ bảo :
– Các chị lớn cả rồi còn em nó út ít mà”. Chị tôi bực mình bảo:
– Chừng đó tuổi mà chưa chịu dứt sữa. Chẳng lẽ đến khi đi học, mẹ phải mang vú đến trường cho Út sao?
Chị Hai nói xong bỏ đi. Mẹ vò đầu tôi, tóc còn ướt nhẹp mồ hôi, âu yếm :
– Giàu út ăn, khó út chịu, Mẹ có sữa con nhờ.
Cái hòn đá bàn dưới bến sông, nơi để giặt áo quần là chỗ ngủ của tôi trong những buổi trưa hè. Nền nhà lót gạch trước bàn thờ là giường ngủ của tôi trong những đêm nóng bức. Các chị tôi thường hay đùa cợt:
– Thằng Út cứ ăn chay nằm đất kiểu nầy, lớn lên nó trở thành thầy chùa là cái chắc.
học sinh
Tôi là đứa con thứ bảy trong gia đình. Những tá điền, người làm cho cha mẹ tôi đều gọi tôi là cậu Bảy Út. Thế mà bác Tám Đang ở xóm dưới dám đặt cho tôi biệt danh “Bảy Thưa” chỉ vì mấy cái răng cửa của tôi mọc hơi sưa một chút. Cái thân hình của tôi hồi đó mỏng như thân con nhái bén. Da dẻ sần sùi khô khốc bởi suốt ngày cứ để lưng trần chạy ngoài nắng. Mỗi lần bạn bè rủ tôi đá banh trên ruộng lúa mới cắt, chúng nó cứ la oang oang cái tên “Bảy Thưa” nghe chẳng đẹp tý nào ấy:
– Ê, Bảy Thưa đưa banh qua cho tao. Nào, Bảy Thưa banh đây sút vào…
Tức lắm, tôi bèn ra một điều kiện:
– Nếu bọn bay còn gọi cái tên “Bảy Thưa” nữa là tao bỏ chơi. Nhóm thằng Thới xóm Thọ Đông đang chiêu dụ tao đó. Liệu hồn!…
– Nầy cô bé, sao không múc tiếp một tô nữa?
– Anh à, em chưa hề thấy người nào ăn đến ba tô don mà còn kêu thêm nữa, ăn no quá mất ngon, thôi để ngày mai nghe anh,
Tiếng “nghe anh” của cô bé sao mà êm đềm quá, ngọt ngào quá. Bỗng nhiên tim tôi đập rộn ràng. Tôi muốn hỏi tên cô bé nhưng cứ ngại ngùng, đành phải móc tiền ra trả. Cô bé đi rồi, tiếng rao “Ai ăn don ho..o..ông” đã văng vẳng ngoài xa mà tôi vẫn còn đứng nhìn theo thẫn thờ. Sáng hôm sau, cô bé cất tiếng rao hàng rồi đặt gánh don trước hiên nhà chờ đợi. Tôi lại vội vàng mở cửa :
– Nầy, đằng ấy tên gì vậy ?
– Em tên Thuyền
Cô bé trả rồi dạn dĩ nhìn tôi hỏi:
-Thế còn tên anh ?”
– Hạo. Hạo, cái tên lạ quá ! Cô bé nhắc lại tên tôi rồi cười bẽn lẽn. Đôi tay Thuyền múc don lẹ làng, vén khéo không hề rơi rớt. Tôi để ý lần này, cô bé đem theo một cái tô cỡ lớn hơn, khác hẳn với những cái tô khác chồng trên miệng ui. Cô tự ý bẻ bánh tráng cho vào tô trước khi đổ don vào. Vừa làm cô bé vừa giải thích :
– Làm thế nầy don còn giữ được độ nóng, và hương don không bị loãng.
Cô bé trao tô don cho tôi, vô tình tôi đặt bàn tay chạm phải tay nàng. Bé cúi mặt thẹn thùng khiến hai tai nàng rựng đỏ, Thuyền bảo :
– Mỗi sáng anh ăn hai tô nầy là đủ rồi.
Từ đó, sáng nào tôi cũng ăn don của cô bé Thuyền. Thỉnh thoảng chị tôi mua ốc don tươi về nấu. Thông thường chị thêm vào nồi don cả thịt bằm, tóp mỡ, nhưng tôi ăn một cách lơ đãng chẳng thấy hấp dẫn tý nào. Chị tôi chế giễu :
– Thằng Út nó đâu có mê don, chỉ mê con nhỏ bán don.
Có lần tôi cố tình giữ bàn tay Thuyền bên dưới tô don, cô bé cứ để nguyên nhìn tôi với ánh mắt long lanh tình tứ.
Chặp lâu sau, nàng rút tay về hối thúc:
– Người ta thấy kìa, ăn đi kẻo nguội.
Thế là suốt mùa don, cô bé Thuyền ít có buổi sáng nào vắng mặt. Ăn hoài tôi đâm ghiền. Ngày nào Thuyền không đến là suốt ngày đó tôi thấy trống vắng lạ thường. Tôi nhớ hương vị của don, tôi nhớ khuôn mặt của Thuyền. Suốt ba tháng hè tôi không về quê lấy cớ học bài thi. Có lẽ nhờ ăn don mà thân thể tôi đẫy đà. Da dẻ tôi thêm hồng hào trắng mịn. Bà chị tôi phát giác sự “thay da đổi thịt” của thằng em út. Chị chế nhạo: “Nghèo nghèo, nợ nợ kiếm cô vợ bán don. Mai sau có chết cũng còn cặp ui”.
Năm đó tôi đậu bằng Trung Hoc Đệ Nhất Cấp, cha mẹ tôi cho tôi theo người anh họ vào Sài Gòn tiếp tục học. Tôi từ biệt Quảng Ngãi mà nghe lòng mình buồn tê tái. Tôi ra đi lúc trời chớm Thu, những cơn mưa đầu mùa đã làm cho nước sông dâng cao. Tôi còn nhớ lời Thuyền dặn: “Khi nào nước sông dâng cao thì don không còn nữa. Chừng ấy em sẽ không còn dịp gặp anh, chỉ còn biết hẹn anh vào mùa don tới đầu tháng Hai âm lịch”.
Biết như thế nhưng sáng nào tôi cũng trông tiếng rao của Thuyền. Tôi mong gặp nàng để nói lời từ biệt. Giờ phút chót ngồi trên xe đò mà tôi vẫn dõi mắt đợi chờ, hy vọng Thuyền xuất hiện. Khi xe chuyển bánh, mẹ và chị tôi mắt rưng rưng lệ nắm tay tôi từ giã. Tôi không cầm được xúc động đã òa khóc. Lần đầu tiên tôi xa mẹ xa chị, xa gia đình cách gần ngàn cây số. Tôi cảm thấy nỗi cô đơn như đè nặng lên lồng ngực mình. Tôi thương mẹ, thương chị. Nhưng tình của tôi đối với Thuyền vừa nồng nàn vừa xót xa. Tôi xót thương vì cuộc sống của nàng quá lam lũ. Tuổi vừa lên ba, cha Thuyền đã tử nạn theo tàu đánh cá ngoài khơi khi bị cơn bão bất ngờ ập tới. Mồ côi cha, mẹ ở vậy nuôi Thuyền ăn học hết bậc Tiểu học. Mới chừng ấy tuổi mà phải từ giã ghế nhà trường, lăn lộn vào trường đời. Mẹ nấu don, Thuyền gánh bán dạo hàng ngày đi về trên mười cây số.
* * *
Những đêm đầu tiên ở Sài Gòn, tôi nhớ day dứt nụ cười rạng rỡ của Thuyền. Nhớ đôi bàn tay nhỏ nhắn của nàng run run trong bàn tay tôi. Nhớ đến hương vị thơm lừng của tô don với chất béo của ruột don trộn mùi cay nồng của ớt, mùi bánh tráng nướng, mùi hành lá tươi. Nó tổng hợp thành hương vị không có món ăn nào so sánh được. Don Quảng Ngãi chiếm lĩnh cương vị độc tôn đối với người dân Quảng Ngãi bởi nó là món ăn quê hương. Và đối với riêng tôi có pha cả mùi hương con gái của Thuyền.
mỏ than lộ thiên
Xa nơi chôn nhau cắt rún lần đầu, tôi nhớ nhất là những chuyến đi chơi với bạn bè trên núi Thiên Ấn. Sau một hồi leo giốc mệt bở hơi tai, khát nước khô cả cổ chỉ cần uống mấy ngụm nước giếng của nhà chùa là cơn mệt cùng mồ hôi tan đi hết. Có người bảo đó là nước của Tiên Phật độ trì. Một truyền thuyết kể rằng có một vị sư đến đào giếng này suốt cả năm trời, khi giếng có nước thì vị sư ấy biến mất. Ngôi chùa Thiên Ấn tọa lạc trên đỉnh núi có mặt bằng vuông vức, cao hơn mặt nước biển trên trăm mét, nhưng nước giếng trong và ngọt cung cấp cho chùa không bao giờ cạn. Quả là điều rất hiếm. Đây là “Đệ nhất thắng cảnh” của quê nhà có tên là “Thiên Ấn Niêm Hà” do quan Tuần Vũ Nguyễn Cư Trinh đặt tên trong mười hai bài thơ Đường Luật. Mỗi bài ca ngợi một thắng cảnh của tỉnh Quảng Ngãi. Đứng trên đỉnh núi nhìn bao quát ta thấy dòng sông Trà Khúc óng ánh bạc uốn mình theo những lũy tre xanh đến tận cùng cửa Cổ Lũy trước khi nhập vào biển Đông. Nơi đây ta có thể thưởng ngoạn thêm “Đệ nhị Thắng cảnh” của quê hương, đó là “Cổ Lũy Cô Thôn” nằm im lìm nơi cửa biển, nước bủa mênh mông. Nhìn chệch qua bên trái là mũi Ba-Tâng-Gâng phơi mình với sóng bão đại dương. Để hồn trải rộng đến cuối chân trời, ta có cảm tưởng như người được thoát tục về nơi tiên cảnh. Kẻ nào có tham vọng, mang ý đồ đen tối mà đối diện với cảnh sắc nầy, trong thoáng chốc cũng tạm thời quên đi.
Vào những ngày sắp nghỉ Hè, tôi nhận được thư của chị tôi : “…Đầu mùa don năm nầy, con bé bán don trở lại. Sáng nào nó cũng đặt gánh don trước cửa nhà chị. Lâu lâu nó rao lên “Ai ăn don hông” rồi đứng đó đợi chờ. Người ta không biết nó đợi chờ ai, nhưng chị, thì chị đoán biết. Thời gian kéo dài cả tháng trời, chị thấy tội nghiệp nên thỉnh thoảng kêu don của nó cho cả nhà ăn buổi sáng. Đôi mắt nó thật buồn, cứ lén nhìn sâu vào trong nhà mà không dám hỏi. Một hôm, cầm lòng không được, chị cho nó biết là em vào Sài Gòn học đã gần một năm. Sau đó chị không còn thấy con bé bán don trên con đường nầy nữa…”
Đêm đó tôi nằm mơ nghe thấy tiếng rao: “Ai ăn don ho..o..ông” như tiếng chim cuốc lẻ đôi khắc khoải gào khan suốt mùa Hè thương nhớ rồi cuối cùng chết khô theo con trống, chung tình. Thuyền ơi, hãy tha thứ cho tôi. Những rạo rực tình yêu đầu đời đã làm cho con tim em phải se thắt vì phân ly.
Rồi thời gian trôi qua, ba năm miệt mài đèn sách đã giúp tôi quên hình ảnh cô gái bán don ngày nào. Sau khi lấy xong bằng Tú Tài toàn phần, tôi về thăm Quảng Ngãi. Vào buổị sáng, tôi dậy sớm cùng chị tôi chuẩn bị về quê thăm cha mẹ. Đang xếp áo quần vào va-li chợt tôi nghe tiếng rao “Ai ăn don ho..o..ông”. Tôi vội vàng chạy ra ban-công gọi :
– Ê ! Cô bán don.
Tôi nhanh chân xuống thang gác mở cửa. Cô bán don đứng đợi dưới mái hiên nhà. Thoáng nhìn, tôi tưởng một thiếu phụ nào khác không phải Thuyền. Nhưng không, làm sao tôi nhầm lẫn được. Âm thanh tiếng rao của Thuyền như mọc rễ trong ký ức của tôi. Cũng thân hình mảnh khảnh đó nhưng cao hơn và già dặn hơn. Chính là Thuyền của ba năm về trước.Tôi hỏi:
Thuyền phải không? Nàng nhìn tôi đăm đăm, rồi những giọt nước mắt lăn tròn trên má. Tôi thấy loáng thoáng trên ngực áo nàng vết ố của những giọt sữa đã khô. Đứng sát vào Thuyền, tôi đặt tay lên vai nàng bảo:
– Em để gánh xuống đây, múc don cho anh ăn nhé.
– Không. Don em đã cuối mùa, gặp luồng nước bạc (nước lụt), em không bán cho anh đâu.
Nói xong, nàng đưa tay áo quệt nước mắt, trở gánh quay lại con đường cũ. Tôi đứng nhìn theo nàng mà nghe hồn trĩu nặng. Tôi cố lắng nghe tiếng rao “ai ăn don ho..o..ông” lần cuối cùng của Thuyền lẫn lộn với tiếng rao hàng khác nhưng tuyệt nhiên im lặng, chỉ còn sót lại hương don thoảng bay trong gió.
* * *
Chiều Thứ Bảy, Thung bỏ tôi trước căn nhà số 28… trên đường White Forge thành phố Sugarland. Căn nhà lầu ở khu mới xây khá đồ sộ. Vách tường áp gạch màu nâu đỏ trông thật mát mắt. Tôi đứng tần ngần một hồi lâu mới bấm chuông. Người phụ nữ ở quán Cổ Lũy hôm trước mở cửa, gục đầu chào rồi mời tôi vào khu phòng khách trang hoàng lộng lẫy. Bộ sô-pha da màu vàng nhạt choán cả một góc phòng. Chiếc TV cỡ lớn cùng dàn karaoke với hệ thống âm thanh chiếm trọn góc phòng đối diện. Bà chủ rót trà :
– Mời anh dùng nước, nàng trao tôi tách nước rồi tự giới thiệu:
– Tôi tên là Mary, chồng tôi là người Mỹ đưa tôi sang đây từ năm 1972. Xa quê mình lâu quá, nay gặp người đồng hương tôi mừng lắm. Và đặc biệt là dân ở Quảng Ngãi mà lại thích ăn don như anh.
– Bà ở huyện nào ? tôi tò mò hỏi :
– Huyện Tư Nghĩa xã Tư Nguyên.
Bà Mary nhìn tôi định hỏi tiếp điều gì, nhưng bà lại đổi thế ngồi, xoay người sang hướng khác bưng bình trà rót thêm nước vào tách cho tôi. Bà nói :
– Thôi, để lát sau mình nói chuyện tiếp, giờ mời anh dùng món ăn quê nhà kẻo nguội mất.
Tôi theo nàng đến phòng ăn. Mùi don từ trên bếp bốc hơi thơm lừng. Bà chủ nhà bưng hai tô don hơi lên nghi ngút đặt trên bàn có cả bánh tráng nướng, đĩa ớt xiêm và lá hành xắt nhỏ.
Bà tươi cười bảo :
– Đây là don chính hiệu từ Quảng Ngãi đấy nhé. Người ở ngoài tỉnh cứ hiểu lầm don là hến. Thực ra don và hến là hai loại ốc khác nhau. Ốc don dài, vỏ mỏng, ruột don có tua màu hồng thoạt trông như cái đuôi. Nước don ngọt và ít nồng hơn hến vì don chỉ sống nơi vùng sông nước lợ gần cửa biển. Tôi bưng tô don ăn ngon lành, ăn thật tình. Ớt cay, don nóng, tôi hít hà, nước mắt nước mũi chảy ra. Bà chủ nhà đưa tissues cho tôi với ánh mắt đầy xúc động. Một tô rồi hai tô, bà ngồi nhìn tôi ăn và khuyến khích thêm tô nữa nhưng tôi vỗ bụng lắc đầu từ chối. Nàng bảo :
– Anh sợ vỡ bụng đấy à?
Quảng Ngãi
Câu nói của bà chủ khiến tôi sực nhớ đến Thuyền, cô gái bán don thời tôi còn trung học ở Quảng Ngãi. Cô bé đã từ chối bán cho tôi tô thứ tư với câu : “Coi chừng bể bụng”. Tôi ngước nhìn bà Mary, tâm sự:
– Ăn don hôm nay khiến tôi nhớ đến kỷ niệm thời niên thiếu ở quê nhà. Tôi là khách ăn thường xuyên của cô gái bán don tên Thuyền. Tôi thương nàng và tội nghiệp hoàn cảnh cô ấy. Mới mười mấy tuổi đầu đã phải bỏ học thay Mẹ đi bán don dạo. Buổi sáng nào Thuyền cũng gánh don đến trước nhà tôi trọ học và chăm sóc tô don cho tôi như người chị lo cho em. Sau nầy tôi vào Sài Gòn học đã quên bẵng cô bé bán don. Ba năm sau trở về Quảng Ngãi, tôi tình cờ gặp lại nàng cũng với gánh don trên vai, nhưng cô bé đã trở thành thiếu phụ. Thuyền đã từ chối không bán don cho tôi còn bảo… Vừa nói đến đây, chợt bà Mary cướp lời tôi, lên tiếng :
– Em không bán cho anh đâu, don em cuối mùa lại gặp luồng nước bạc!
Bà chủ nhà đã nói lên nguyên văn câu nói của Thuyền ngày xưa, ẩn chứa sự trách móc giận hờn, khiến tôi giật mình sửng sốt. Tôi nhìn vào mắt bà Mary, hình như long lanh ánh nước. Tôi kêu lên:
– Thuyền phải không?
Thuyền ngày xưa không trả lời câu hỏi của tôi chỉ đưa tay áo lau dòng lệ. Mary bây giờ với giọng ngậm ngùi:
– Vâng, em là Thuyền của 37 năm về trước. Em đã nhận ra anh ngay khi anh cho biết chỗ ở trước kia là đường Quang Trung. Đó là con đường dạt dào hạnh phúc trên mỗi bước đi của em hồi đó, mà cũng là con đường mang đầy xót xa thương nhớ ngày anh rời xa. Thuyền đứng dậy đến ôm vai tôi :
– Cảm ơn anh đã cho em một tình cảm trân quý, dù là đối với một cô gái bán don nghèo hèn. Suốt quảng đời đen tối về sau này, tình anh là ngọn đèn thắp sáng cho em trong những đêm mịt mù sương tuyết. Hạo ơi – cái tên nghe lạ quá – ngày đó em đã nói với anh như thế. Nhưng sau nầy mỗi khi gặp những đau khổ chất chồng, chính cái tên Hạo trở nên thân thương sưởi ấm lòng em.
Tôi nắm lấy tay nàng, nói như một triết gia:
– Đời như một dòng sông, chuyển đổi không ngừng. Xưa kia Thuyền là cô gái bán don, ngày nay Mary là chủ một nhà hàng lớn nhất nhì ở đây. Chúc mừng em. Chúc mừng người đồng hương Quảng Ngãi đã nắm bắt được cơ hội vươn lên trên xứ người.
Sau buổi hàn huyên, Thuyền đưa tôi ra tận xe khi bạn tôi đến đón. Lên xe rồi, tôi thấy nàng còn quyến luyến nhìn theo, đưa mấy đầu ngón tay áp vào môi hôn. Tôi hít một hơi thật sâu vào lồng ngực, chợt nghe hương don còn nồng trong hơi thở.
Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích
Ảnh: Tác giả Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích


“ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XXI VIỆT NAM TRỞ THÀNH NƯỚC PHÁT TRIỂN THEO ĐỊNH HƯỚNG XHCN”
Giang Thanh
Lại cho dân ăn bánh vẽ nữa hã..?
Cái bánh của thế kỷ trước là, nước ta đang xây dựng CNXH, giai đọan đầu của Chủ nghĩa Cộng sản. Chủ nghĩa xã hội là sung sướng gấp vạn lần, dân chủ, tự do gấp vạn lần chủ nghĩa tư bản….
Cái bánh 20 năm của đầu thế kỷ 21 là “đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp phát triển”…
Rồi cái bánh mới hôm qua là gì chắc ai cũng biết..!
Họ đâu biết rằng nền tảng để cho một quốc gia phát triển đâu phải cứ hô khẩu hiệu, rồi kiên định với đường lối chính trị Mác- lê. Rồi cho nhân dân ăn bánh vẽ mấy chục năm qua không biết ngán, mà mới đây còn vẽ cho dân mình ăn thêm cái bánh đến năm 1945 là thành nước công nghiệp phát triển. Rồi nước phát triển theo hướng XHCN… là sao..?
Đến nay thu nhập GDP theo đầu người của Việt Nam năm 2018 chỉ đứng thứ 136/168 so với các nước tham gia xếp hạng của thế giới.
Theo Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng, GDP bình quân đầu người của thế giới ngày một doãng xa so với Việt Nam.
Cách đây 30 năm, GDP bình quân đầu người của thế giới hơn của Việt Nam 3.900 USD, nhưng nay đã vọt lên hơn 7.500 USD, gần gấp đôi, theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Quang Thái.
Nhưng thực tế ở nước ta và nhiều nước CNXH “anh em” khác như Trung Quốc, Triều Tiên, Cu Ba, các nước Đông Âu , Liên Xô ( cũ) 80 năm qua, càng xây dựng CNXH thì cuộc sống càng đi xuống, bị kềm nén không có tự do báo chí, không có tự do lập hội, thiếu dân chủ .v.v..
Chỉ đi xe chục tiếng sang Thái Lan, thấy đời sống nước họ, tự do dân chủ nước họ mà thèm. Đó là chưa nối đến Hà Lan, Thụy Sĩ, Thủy Điển, Đan Mạch… cuộc sống của họ là thiên đường thực sự .
Đấy, CNXH là rứa đó, nhân dân ta đã bao nhiêu năm điêu đứng , lầm than vì nó, đã có lần vùng lên “phá CNXH”, cố thoát ra khỏi cái ách đó , mà không thể thoát được. CNXH lại biến thành cái đuôi đằng sau cái khái niệm : Kinh tế thị trường định hướng XHCN, pháp chế XHCN .v.v..
Với kinh tế nhà nước là chủ đạo. Thế là tha hồ cho bọn tham lam hốt tiền ngân sách. Các tập đoàn nhà nước đã thất thoát hơn triệu tỷ đồng, bọn bán biệt thự Hà Nội trốn thuế 1.400 tỷ đồng, những Vinashine, Vinaline… mọc lên như nấm.
Bây giờ thì CNXH đã lộ nguyên hình là một hình thái xã hội tham nhũng, ăn cắp. Ăn đất, ăn biển, ăn rừng, ăn dự án, ăn chức, ăn quyền … ăn cả học vị và học hàm giáo sư, tiến sĩ.
Đau đớn thay ! Nhưng nhân dân Việt Nam đến lúc nhận ra nhất định sẽ tìm cách để vứt bỏ chiếc vòng kim cô CNXN vô lý đang thít chặt quanh đầu mình …”



