Những Ngã Rẽ,Hồi ký Dương Văn Ba

Phan Thị Hồng
Những Ngã Rẽ

Hồi ký Dương Văn Ba

 Chương 4 (P1)

LÀM BÁO SÀI GÒN

Phần 1

Nghiệp làm báo

Trong đời học sinh và sinh viên của tôi, có 3 lần tập tành nghề làm báo. Lần thứ nhất vào năm 1956, lúc mới 15 tuổi, tôi được thầy dạy Việt Văn là thầy Lâm Ngọc Bình chọn làm bỉnh bút của tờ đặc san Nhành Lúa Mới, tiếng nói của học sinh trường Công giáo Bạc Liêu. Cùng lo tờ báo đầu tay trong đời này có Phạm Văn Tập dân Cà Mau, sau này là nhà văn Hoài Điệp Tử, chuyên viết feuilleton cho một số báo như báo Tia Sáng, Trắng Đen.

Cách thức làm báo học trò như sau:

– Chúng tôi viết bài, đa số là tùy bút, thơ, truyện ngắn.

– Thầy Bình chọn, tôi và anh Tập lo biên tập, sắp xếp, trình bày. Báo dày 42 trang, khổ tập học trò, bìa in hai màu.

Tôi và anh Tập, đại diện cho nhà trường đem báo lên Cần Thơ mướn in. Nơi in báo của chúng tôi là một nhà in nhỏ của Tây Đô, nằm gần cầu Tham Tướng.

Tôi còn nhớ, bài báo đầu tay của tôi được in là một bài tùy bút về “chiếc áo bà ba đen”, nói lên cảm nghĩ về các cô gái lao động, bán buôn. Hồi đó nhà trường chỉ cho chúng tôi 1.800 đồng để in 300 số báo, kể cả tiền ăn xài, tiền xe lên xuống Cần Thơ hai lần để giao bài và nhận báo. Việc sắp chữ, sửa bản vỗ, cho chạy “bon” đều do chủ nhà in làm vì lúc đó chúng tôi không biết sửa morasse vả lại chỉ ở lại nhà in vài tiếng đồng hồ.

Tờ báo được Trưởng ty Thông tin Bạc Liêu lúc đó cho phép xuất bản là một điều hãnh diện cho trường Công giáo, cho thầy Bình và cá nhân tôi .

Nguyễn Văn Năm, Trưởng Ty Thông Tin lúc đó là một thanh niên đi kháng chiến ở Khu về Thành năm 1952, cùng thời với thầy Lâm Ngọc Bình. Điều này cho thấy ngay từ năm 1953-1954, hoạt động văn hoá, giáo dục của các tỉnh thành miền Nam đã có sự xâm nhập và âm thầm lan tỏa của những cán bộ Việt Minh từng theo kháng chiến. Như trường hợp trường trung học Long Đức của bà Bùi Thị Mè thành lập ở Trà Vinh năm 1955 (bà Bùi Thị Mè và chồng là ông Ngô Tấn Nhơn hoạt động Thành đến năm 1960 lại bỏ vào rừng).

Xâm nhập về văn hóa, văn nghệ, giáo dục là xâm nhập vào trái tim, cái đầu của học sinh, thử hỏi làm sao không có các phong trào đấu tranh thành thị về sau này?

Tôi nhớ lại phía những người cộng sản đã chuẩn bị cho cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam ngay trước khi Hiệp định Genève được ký kết. Việc xâm nhập về văn hóa giáo dục được tiến hành ưu tiên. Năm 1953, 1954, các bài thơ kháng chiến yêu nước nổi danh của nhà thơ Tố Hữu dã đựơc truyền tụng và đem giảng dạy trong các trường trung học lớn ở Sài Gòn, ở các tỉnh, trường công cũng như trường tư. Học sinh trung học thời đó không mấy ai mà không biết bài thơ tràn đầy tình yêu nước, tràn đầy khí thế cách mạng tiến công, thắng lợi của Tố Hữu. Bài “Ta Đi Tới :”

Ta đi giữa ban ngày

Trên đường cái thong dong ta bước.

….Đường Bắc Sơn, Đinh Cả, Thái Nguyên

Đường qua Tây Bắc, đường lên Điện Biên

Đường cách mạng dài theo kháng chiến

Đến hôm nay đường xuôi về biển

Mới tinh khôi màu đất đỏ tươi

Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi…

Họ cũng thuộc lòng bài thơ ca ngợi anh bộ đội nổi tiếng của nhà thơ Chính Hữu….

….Em về cấy lúa trồng bông

Cho lúa mau nở cho bông được mùa

Trưa hè rụng lá bàng khô

Tôi đi ra trận….nghe hò bốn phương

Súng ơi súng ở với tôi mùa thu, theo tôi mùa hạ

Theo tôi diệt nốt quân thù

Tôi nhớ thương người bạn cũ
Miệng cười mắt nhắm ngàn thu…

Lần thứ nhì tôi viết báo vào năm 1959 lúc vừa đổ tú tài. Tôi lấy bút danh Dương Trần Thảo, Huỳnh Thành Tâm lấy bút danh Huỳnh Phan Anh. Hai anh em chúng tôi cộng tác với Tuần báo Mã Thượng do anh Trịnh Văn Thanh làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Bài viết của tôi là bài “nhận thức thời gian trong thi ca Hàn Mặc Tử” đăng trên tuần báo Mã Thượng (khổ lớn). Bài thứ nhì là thư ngõ gởi nhóm Sáng Tạo do Huỳnh Phan Anh và tôi cùng ký tên.

Một xu hướng triết lý trong văn chương, một kiểu “ếch nằm đáy giếng” đâu thấy trời bao la. Vừa viết báo vừa đi dạy học ở quận Chợ Mới Long Xuyên (dạy trường bán công ở Chợ Mới của anh Trương Phước Đức – bạn thân của Huỳnh Thành Tâm). Huỳnh Phanh Anh dạy Pháp văn, tôi dạy Việt văn, Nguyễn Tấn Trọng dạy tóan, lý, hóa (Nguyễn Tấn Trọng hiện nay ở Mỹ. Trong chiến tranh, anh là Phi công lái F5, bị bắn rơi ở miền Đông, bị bắt làm tù binh và được trao trả năm 1973, ngay sau khi hiệp định Paris được ký kết).

Đời viết báo và đời dạy học thường gắn bó với nhau. Chúng tôi 3 thanh niên mới lớn đã biết tháo vát dùng chút ít học thức của mình để kiếm thêm tiền sinh sống. Hồi năm 1960, nhật báo rất hiếm chỉ có 4,5 tờ. Báo về văn học càng hiếm hơn. Trường trung học cũng ít. Mỗi tỉnh chỉ có một trường công lập và một, hai trường tư. Còn ở cấp huyện, lớn như huyện Chợ Mới, các nhà tư sản, trí thức hoạ hoằn mới lập ra một trung học tư thục. Giấy phép phải lên tới Sài Gòn xin. Lúc đó, đỗ được tú tài đôi đã có thể tự coi là trí thức. Ở mỗi tỉnh họa hoằn mới có vài chục tú tài. Cái chữ cái nghĩa thời đó sao mà quí giá thế. Không phải như thầy đồ Tú Xương ca cẩm “văn chương hạ giới rẻ như bèo” .

Đến lần thứ ba, tôi lại cùng với Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Ngọc Thạch (Tư Trời Biển trong báo Tin Sáng), Võ Văn Điểm viết báo ở đại học Đà Lạt. Tập san Chiều Hướng Mới, tên báo do Huỳnh Phan Anh đặt.

Sau năm 1963 Tổng thống Kennedy bị bắn chết, chiến tranh ở miền Nam Việt Nam bắt đầu sôi động. Tờ báo của chúng tôi có những suy tư trăn trở thoát ra khỏi tháp ngà văn chương. Con người phải dấn thân nhập cuộc. Không dấn thân bằng cách đi lính, thầy giáo sinh viên cũng phải dấn thân bằng những suy tư phản kháng. Báo Chiều Hướng Mới lúc đó đã nói lên những trăn trở của lớp trẻ về sự vô lý của chiến tranh.

Ba bước tập tành theo nghề báo hình như đó là giáo đầu tuồng của định mệnh.

Chinh thức vào nghề viết lách

Đầu năm 1968, tôi chính thức bước vào nghề làm báo với các bài xã luận thường xuyên đăng trên báo Tin Sáng. Chưa chịu dừng ở đó, tôi xin giấy phép xuất bản Tuần báo Đại Dân Tộc. Tôi làm chủ báo nhưng không có quan hệ với dân buôn giấy, in báo, không biết cách bọc lót với giới phát hành, toàn là những “trùm sò” có ăn chịu với Hội cựu Chiến binh, với Trung ương Tình báo. Cho nên Tuần báo là của tôi, nhưng lại do Ngô Công Đức bỏ tiền ra in, phát hành, thu lợi nhuận.

Chủ nhiệm kiêm chủ bút Dương Văn Ba ăn lương một tháng 30 ngàn đồng (lúc đó bằng 3 lạng vàng). Tuần báo Đại Dân Tộc, nhật báo Tin Sáng, nhât báo Tiếng Nói Dân Tộc (do Lý Quí Chung làm chủ nhiệm) là ba diễn đàn đối lập công khai với chính phủ Thiệu – Kỳ.

Cùng tham gia viết báo trên tuần báo Đại Dân Tộc có Nguyễn Hữu Chung, Kiều Mộng Thu, Trần Ngọc Châu, Lý Chánh Trung…. Đại Dân Tộc đi vào chiều sâu của những vấn đề thời sự chính trị, là diễn đàn chống chiến tranh, đôi khi bị coi là thân cộng, phản diện với Tuần báo Con Ong của Minh Vồ, một tiếng nói hậu thuẫn của Nguyễn Cao Kỳ và các chính trị gia chống cộng gốc Miền Bắc. Tuần báo Con Ong coi cộng sản là kẻ thù không đội trời chung, còn tuần báo Đại Dân Tộc chủ trương hoà bình hoà giải dân tộc. Chúng tôi thẳng thắn và công khai chỉ trích Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ. Chúng tôi chủ trương người Mỹ, quân đội Mỹ không nên can thiệp trực tiếp vào Việt Nam.

Báo Đại Dân Tộc vừa có những bài bình luận chính trị nghiêm túc, vừa có những bài châm biếm khó quên. Nhà thơ Cung Văn mỗi tuần có một bài “móc lò” châm biếm chính trị vừa cay vừa chua đối với chính quyền và các nhân vật gia nô thời đó. Ông Đạo Ù Ù (bút danh của ông Hồ Hữu Tường), Hai Mã Tấu (bút danh của Nguyễn Ngọc Thạch) cũng có mặt trên Đại dân Tộc. Tuần báo của tôi cũng thường bị tịch thu và luôn luôn bị nhiều đoạn “TYĐB”.

Tự ý đục bỏ là biện pháp kiểm duyệt của chính quyền đối với báo chí. Báo chí cứ tự do viết, tự do nói, tự do xuất bản. Đồng thời Nha báo chí của Bộ Thông tin cũng tự do tha hồ đục bỏ, tha hồ tịch thu. Để tránh khỏi sự bao vây của kiểm duyệt và của cảnh sát, chúng tôi thường thuê in báo ở nhiều nơi khác nhau. Có nhà in ở Gia Định, có nhà in ở Quận 1, Quận 3, có nhà in ở Chợ Lớn.

Thường thì mỗi ngày cứ vào khoảng 2-3 giờ chiều Nha Báo chí mới kiểm duyệt xong các bản in thử. Họ gạch bỏ các hàng in nguy hiểm, xoá trắng những chỗ cấm đoán và thay thế bằng dòng chữ “TYĐB”.

Các nhà in ở đường Gia Long, nhà in ở đường Võ Tánh đương nhiên phải thi hành nghiêm túc lịnh TYĐB. Chúng tôi nộp lưu chiểu các ấn bản có TYĐB. Nhưng các ấn bản nguyên xi ở Gia Định, Gò Vấp, Chợ Lớn chúng tôi đã cho in từ sớm và in “nguyên con”.

Các chủ nhà in ở Quận 5 rất “chịu chơi” cho chạy máy toàn bộ các ấn bản không thông qua kiểm duyệt. Đội quân hàng mấy trăm người phát hành sẵn sàng xông vào các nơi in báo lậu để lãnh báo đi bán rộng khắp hang cùng ngõ hẻm.

Chúng tôi in báo được nguyên con nhờ các ông chủ nhà in gan dạ. Dĩ nhiên họ có thêm lợi nhuận, còn nhà báo thì liều mạng với chính quyền. Các em bán báo nhờ sự xé rào của chủ báo và chủ nhà in có được báo hấp dẫn để bán đắt như tôm tươi. Các chú cảnh sát, công an chìm làm ngơ cho báo in lậu, phát hành lậu cũng được thêm tiền lương súp do các tay đầu nậu phát hành báo đài thọ. Cả một hệ thống phân phối báo lậu, in lậu nhưng công khai tựa vào nhau mà giành lấy sự sống, và chiến đấu. Vô cùng sôi động và khó quên thời kỳ làm báo vưà công khai vừa chui vừa lậu.

Số phận tuần báo Đại Dân Tộc mặc dù in lậu nhiều số được “nguyên con”, nhưng vẫn không khác số phận của tờ Tiếng Gọi Miền Tây ở Mỹ Tho. Tổng Trưởng Thông tin Ngô Khắc Tỉnh ký án tử cho Đại Dân Tộc sau 9 tháng hoạt động. Có điều lạ là nhật báo Tin Sáng đấu tranh chống chính phủ Thiệu-Kỳ mãnh liệt, nhưng không hề hấn gì. Cùng thời đó, nhật báo Tiếng Nói Dân Tộc của ông Lý Quý Chung đối lập nhẹ nhàng hơn, phản ảnh tiếng nói vừa mức của thành phần thứ ba, đứng giữa cũng bị đóng cửa vĩnh viễn. Nhà báo Lý Quý Chung quá ngứa nghề, có lúc phải nhận làm chủ bút nhật báo Điện Tín trong 6-7 tháng .

Câu hỏi tại sao nhật báo Tin Sáng chỉ bị tịch thu nhiều lần mà không bị ông Nguyễn Văn Thiệu buộc đình bản, có nhiều người thắc mắc. Giải đáp tạm bợ của một số dư luận: Ngô Công Đức gốc công giáo, cha từng bị cộng sản giết, lại có bà con xa gần với Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình, nên Nguyễn Văn Thiệu còn nể vì. Cũng có nhiều người không tin vào ý kiến đó, họ đặt nghi ngờ xa hơn, Ngô Công Đức từ lâu đã có quan hệ với nhiều người Mỹ. Tài sản của Đức có được khi còn làm ăn ở Hậu Nghĩa do thầu cung cấp nước đá cho lính Mỹ và do thầu các quán xông hơi massage phục vụ quân đội Mỹ. Tiếng nói của Đức có thể phản ảnh một nước bài chính trị: đối lập với chế độ Thiệu, theo chủ trương của người Mỹ. Trong cuộc chơi chính trị tư sản, có thân chánh, phải có đối lập. Nếu triệt hạ báo Tin Sáng có nghĩa là huỷ bỏ toàn bộ cuộc chơi. Bàn cờ dân chủ được sắp đặt như thế, không thể đổi khác.

Ở một xứ sở lệ thuộc vào Mỹ quá nhiều, điều gì người ta cũng có thể nghi ngờ. Người ta nghi Ngô Công Đức dính với Mỹ cũng như Ngô Công Đức đã từng dính sâu với Nguyễn Cao Kỳ, với Nguyễn Thiện Nhơn, cánh tay mặt của Kỳ trong mọi cuộc ăn chơi đàng điếm.

Đại Dân Tộc hàng tuần bị đóng cửa, tôi tiếp tục viết xã luận mỗi tuần cho Tin Sáng và Thời Đại Mới do anh hai Nguyễn Kiên Giang phụ trách chủ nhiệm kiêm chủ bút. Một bài xã luận được lãnh 10.000 đồng nhuận bút, một tháng tôi viết cho Tin Sáng 5-6 bài, nhưng đối với báo Thời Đại Mới, tờ báo nghèo của anh Hai Kiên Giang tôi không nhận bút phí. Tình cảm của anh chị Hai Kiên Giang đối với các đàn em trong làng báo Sài Gòn lúc đó rất dễ thương. Đối với tôi, một ngòi bút chính trị trẻ lúc bấy giờ anh Hai Kiên Giang là tấm gương sáng trong nghề làm báo miền Nam.

Báo Thời Đại Mới không có nhiều độc giả như Tin Sáng, nhưng đó là tờ báo của một ký giả nhà nghề. Qua bao đổi thay sóng gió, hoan hô, đả đảo, Thời Đại Mới của anh Hai Kiên Giang vẫn luôn có mặt, luôn tồn tại, góp phần vào sự nghiệp làm báo nhà nghề miền Nam.

Khi tôi viết những dòng này, có lẽ anh Hai Kiên Giang đã khuất, xin coi như nén nhang tưởng niệm một đàn anh nhà nghề bất khuất, luôn lạc quan, luôn có mặt để nói lên những gì cần nói và nói được những gì mà nhà cầm quyền không đục bỏ, vẫn cứ nói theo thể cách riêng để tồn tại vì tồn tại là trên hết để làm nhân chứng lịch sử.

Tự do báo chí?

Giai đoạn 1965-1975 báo chí Sài Gòn đầy màu sắc, khá phức tạp. Có thể tạm chia làm 5 loại:

– Báo chống cộng sản: Các tờ Chính Luận, Tự Do, Sóng Thần, Tiền Tuyến.

– Báo thương mại, làm báo để làm giàu, để kiếm sống, không lập trường chính trị rõ rệt: Báo Tia Sáng của ông Nguyễn Trung Thành, Sài Gòn Mới của bà Bút Trà.

– Báo nhà nghề, chuyên đào sâu các vấn đề thời sự, chuyên môn dưới cặp mắt báo chí không phản ảnh rõ rệt đứng bên này hay bên kia: Báo Thần Chung của Nam Đình, Đuốc Nhà Nam của Trần Tấn Quốc.

– Báo đối lập gồm có báo Tiếng Nói Dân Tộc, Tin Sáng, Điện Tín, Đại Dân Tộc

– Báo được CIA Mỹ tài trợ hoặc báo của trung ương tình báo Sài Gòn như báo Trắng Đen, Chính Luận.

Có tự do báo chí hay không dưới thời Nguyễn Văn Thiệu 1965-1975?

Không có và có.

Không có: vì hàng ngày báo nào cũng bị kiểm duyệt. Phóng viên, ký giả có thể bị bắt nếu suy ra viết bài hay tung tin có lợi cho phía cộng sản.

Các ký giả vừa viết báo vừa hoạt động cho cộng sản có thể bị bắt không cần một phán quyết nào của tòa án. Thường một số nhà báo từng tham gia kháng chiến chống Pháp tiếp tục hoạt động cho cách mạng hay các phóng viên cộng sản mới vào nghề, lộ diện dễ dàng bị bắt bởi công an chìm.

Chế độ cũ kiểm duyệt và kìm kẹp báo chí thường chỉ chú trọng tới nội dung chính trị, báo có làm lợi cho cộng sản hay không. Còn về mặt văn hoá văn nghệ, xã hội hầu như họ thả lỏng. Ở những lãnh vực này báo chí được tự do muốn viết gì thì viết. Từ đó, một tiểu thuyết kích dâm hạng nặng như tiểu thuyết Chín Củi được đăng tải trong báo Tia Sáng, một tiểu thuyết khác như tiểu thuyết Cậu Chó có nhiều pha nhơ nhớp, tục tĩu vẫn được đăng trên báo Trắng Đen, vẫn ùn ùn bán chạy.

Có tự do báo chí:

– Hiểu theo nghĩa ai muốn viết gì cứ tha hồ viết. Chẳng có một rào cản nào ngoại trừ rào cản cộng sản.

– Hiểu theo nghĩa chưa có ký giả nào bị bắt bỏ tù vì dám viết bài chống hoặc phỉ báng chế độ. Các mục tiếu lâm, móc lò trên các báo tha hồ xỏ xiên, bôi đen Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ. Ví dụ Thiệu được gọi là Anh Bảy Tê Tê, Kỳ được gọi là Tướng Đá Gà Râu Kẽm. Trên báo Tin Sáng, Tư Trời Biển tha hồ tung tin vịt nghe qua rồi bỏ, nhà thơ Cung Văn tha hồ ví von chính quyền theo sở thích.

– Hình phạt nặng nhất của chế độ cũ: đóng cửa báo.

– Cũng chưa có ai bán các tờ báo lậu mà bị bắt bỏ tù.

Chế độ cũ chỉ bưng bít sự thật trên báo chí được nửa vời. Các báo hàng ngày chống chế độ vẫn tới tay đọc giả thông qua hệ thống phát hành lậu. Biện pháp nửa vời đã là ngòi nổ giựt sập uy tín chế độ cũ trong tâm lý quần chúng. Chế độ cũ có giăng lưới bao vây tự do báo chí chỉ giăng lưới một nửa. Còn một nửa kia, độc giả vẫn thấy được sự thật 100%. Báo chí của chế độ cũ đã góp phần liên tục “đánh mìn chế độ” trong dư luận.

Thời kỳ làm báo Điện Tín

Tuần báo Đại Dân Tộc cáo chung. Đến năm 1971, do yêu cầu của kỹ sư Võ Long Triều, tôi ký giấy đồng ý nhượng tên Đại Dân Tộc để anh Triều đứng tên xin phép xuất bản tờ nhật báo cũng lấy tên Đại Dân Tộc.

Vào khoảng cuối năm 1971, Đại Dân Tộc tái xuất giang hồ với tư cách báo hàng ngày. Ba nhân vật chính điều hành báo này là anh Võ Long Triều (lúc đó đã là dân biểu Quốc hội ) dân biểu Kiều Mộng Thu, dân biểu Hồ Ngọc Nhuận. Đại Dân Tộc trở nên sáng giá, là nhật báo đối lập hàng đầu.

Cuối năm 1971, sau khi thất cử, Ngô Công Đức đã bỏ trốn đi nước ngoài. Báo Tin Sáng tiếp tục xuất bản đến đầu tháng 4-1972 phải tự đình bản vì Bộ Thông tin không cho nộp lưu chiểu nữa dù không có lệnh đóng cửa.

Anh Hồ Ngọc Nhuận và tôi được anh Hồng Sơn Đông mời về làm chủ biên nhật báo Điện Tín kể từ tháng 11-971.

Đầu não của báo Điện Tín được sắp xếp như sau:

– Nghị sĩ Hồng Sơn Đông: Chủ nhiệm

– Dân biểu Hồ Ngọc Nhuận: Chủ bút.

– Dương Văn Ba (đã thất cử): Phó chủ bút kiêm Tổng thư ký Toà soạn

– Giáo Sư Lý Chánh Trung: Giám đốc chính trị

Nhật báo Điện Tín vào giai đoạn này ngấm ngầm trở thành tiếng nói chính thức của nhóm chủ trương hoà bình dân tộc, đứng đầu là Đại Tướng Dương Văn Minh.

Dương Văn Minh và Hồng Sơn Đông trong quân đội có quan hệ thầy trò. Hồng Sơn Đông đóng lon Đại tá (theo đạo Cao Đài) dưới quyền chỉ huy của Tướng Minh. Về chính trị Hồng Sơn Đông ủng hộ đường lối hòa bình của Tướng Minh. Vì lúc đó đang khá giàu có, Hồng Sơn Đông một phần nào đã chia xẻ gánh nặng tài chinh cho Tướng Minh. Trong Quốc hội, Hồng Sơn Đông đứng chung liên danh với luật sư Vũ Văn Mẫu, nhân vật được phật giáo Ấn Quang hậu thuẫn, chủ trương giải pháp hòa bình giữa các bên Việt Nam.

Khoảng thời gian đầu, khi nhận làm phó chủ bút báo Điện Tín, tôi vẫn tiếp tục nghề dạy học tại trường trung học Mạc Đĩnh Chi (sau khi thất cử dân biểu tỉnh Bạc Liêu tôi bị buộc trở về Bộ Giáo dục. Bộ trưởng Bộ Giáo dục Ngô Khắc Tỉnh đã ký quyết định chuyển tôi về dạy học). Trường Mạc Đĩnh Chi lúc đó do anh Lý Di, người Trà Vinh làm hiệu trưởng. Tôi và anh Di là bạn, anh ấy phân cho tôi dạy môn Pháp văn, 16 giờ một tuần. Tôi tiếp tục nghề dạy học thêm 3 tháng, sau đó vì công việc nhà báo tràn ngập, tôi bỏ ngang nghề thầy giáo.

Lúc tôi điều hành tờ Điện Tín hàng ngày, báo này mới chỉ có 8 ngàn độc giả. Đó là vào khoảng tháng 12-1971.

Cùng làm việc với tôi hàng ngày ở toà soạn (địa chỉ số 101 đường Võ Tánh, quận 1 – ngày nay là đường Nguyễn Trãi) – có những người sau đây :

– Anh Trương Lộc – Thư ký toà soạn

– Anh Huỳnh Bá Thành tức hoạ sĩ Ớt – Trưởng ban trình bày – lúc đó chúng tôi gọi là Giám đốc kỹ thuật (sau ngày giải phóng Huỳnh Bá Thành mang lon Trung tá Công an – Tổng biên tập báo Công an TP.HCM), Nguyễn Văn Phúc – Kỹ thuật viên montage, trợ lý trình bày cho Huỳnh Bá Thành (sau giải phóng mới lộ ra Phúc là Trung úy công an).

– Anh Kiên Giang, anh Sơn Nam phụ trách trang văn hóa văn nghệ.

– Anh Nguyễn Vũ, anh Tường Hữu cung cấp các bản dịch tin nước ngoài và tin tổng hợp lấy từ các thông tấn xã AFP, UPI, AP, Reuter

– Anh Trần Trọng Thức bút danh Trần Văn Lê phụ trách mục ký sự nhân vật (lúc đó Trần Trọng Thức đã bị động viên đóng lon trung úy Hải quân)

– Anh Cung Văn tức Nguyễn Vạn Hồng – Phóng viên Việt Tấn Xã – phụ trách mục thơ châm biếm. Anh Nguyễn Ngọc Thạch thường xuyên viết mục Án Thua Đủ ký tên Hai Mã Tấu – trước đây Cung Văn cũng thường viết Tư Trời Biển trên báo Tin Sáng cùng với Nguyễn Ngọc Thạch.

– Đội ngũ phóng viên có nhiều người trẻ. Trong đó có Nguyễn Ninh, Điệp Liên Anh, có Quốc Trang (sau giải phóng mới lộ ra Quốc Trang hoạt động cộng sản, hiện nay giữ vai trò quan trọng trong việc quan hệ với người Hoa Chợ lớn)

– Phụ trách viết xã luận có nhiều người: Nguyễn Hữu Chung, Hồ Ngọc Nhuận, Huỳnh Văn Tòng..( Dương Văn Ba lúc đó ký tên nhiều người như dân biểu Huỳnh Ngọc Diêu, dân biểu Huỳnh Trung Chánh, Nghị Sĩ Hồng Sơn Đông, dân biểu Trần Văn Thung, dân biểu Nguyễn Công Hoan… những người này không có thì giờ viết, khoán cho Dương Văn Ba viết và trả thêm phụ cấp vì ông Ba đã thất cử, không thể công khai ký tên).

– Viết feuilleton có Lý Quý Chung. “Nhựt ký của nàng Kiều Dung” là một truyện dài rất ăn khách mô tả lối sống ăn chơi của giai cấp thượng lưu trong xã hội Sài Gòn, cũng có những pha tình ái du dương lãng mạn, hấp dẫn. Tôi với tư cách phó chủ bút thường trực quyết định cho đăng feuilleton này. Nhiều người phản đối cho rằng tiểu thuyết đó có tính cách khiêu dâm. Tôi nhớ không lầm đó là phản ứng của Lý Chánh Trung và Hồ Ngọc Nhuận. Nhưng càng đăng, tiểu thuyết này càng có đông độc giả vì nó lột tả được một cách sống động nếp sống xa hoa đàng điếm của một giai cấp thượng tầng xã hội.

– Về phóng sự, nổi bật của báo Điện Tín vào thơi kỳ 1972-1973 có phóng sự “Nhật ký của G.I” do Hoàng Minh Phương thực hiện.

– Hoàng Minh Phương, gốc Huế, lúc đó khoảng 30 tuổi, đầu năm 1972 xuất hiện tại toà soạn, giao cho tôi một tập bản thảo và tự giới thiệu anh đang làm thông dịch viên cho Mỹ ở PleiKu, chán cảnh làm tay sai, bỏ về Sài Gòn với một ngòi bút có khả năng sinh ngữ. Sau khi đọc nhanh tập bản thảo, tôi thấy có sắc thái, nhạy bén, hấp dẫn, tôi nhận đăng đồng thời sử dụng Hoàng Minh Phương dịch một vài tài liệu tiếng Anh ngắn hàng ngày.

– Phóng sự của Hoàng Minh Phương khá thành công, mô tả cuộc sống thác loạn của các thanh niên “chích choác”, pha trộn nhiều cảnh làm tình tập thể hỗn tạp. Việc khai thác phóng sự này giúp độc giả ở các địa phương hiểu sâu thêm bộ mặt đen, ma quái của Sài Gòn cũ. Sau này khi giải phóng xong, hình như Hoàng Minh Phương được tuyển dụng làm phóng viên của báo Đảng “Sài Gòn Giải Phóng”. Hoàng Minh Phương ít nói, có cuộc sống thầm lặng đôi khi khó hiểu. Tôi đã mạnh dạn sử dụng anh, dựa vào ngòi bút có màu sắc của anh, bất kể đằng sau lưng anh là màu xanh hay đỏ. Đã hơn 28 năm nay, tôi chưa hề gặp lại Hoàng Minh Phương, dù cả anh và tôi đều biết là đang cùng sống ở Sài Gòn, riêng tôi từng đi tù cộng sản hơn 7 năm.

Toà soạn nhật báo Điện Tín thời kỳ 1971- 1972, không khí làm việc tích cực, sôi nổi quyết liệt. Bộ bốn Dương Văn Ba, Trương Lộc, Minh Đỗ, Huỳnh Bá Thành luôn luôn có mặt tại toà soạn từ 6 giờ 30 phút sáng, vùi đầu vào công việc cho đến 12 giờ trưa mới xong.

Nhiệm vụ của Trương Lộc và Minh Đỗ, hai thư ký toà soạn, là lựa tin lựa bài, Trương Lộc lo về tin Thông Tấn Xã,têlêtype, các bản tin của các hãng thông tấn nước ngoài Reuter, AFP, AP, UPI (do Tường Hữu và Nguyễn Vũ cung cấp). Anh Minh Đỗ chọn lựa các tin quốc nội và chuyên lo về trang 3 trang 4.

Tiện đây, tôi xin nói thêm mấy dòng về anh Minh Đỗ. Anh tên thật là Đặng Văn Nên, từng đi kháng chiến chống Pháp ở khu 8, cùng một thời kỳ với ông Lê Hồng Cẫm. Sau 1954, anh Minh Đỗ về thành, làm báo, nhờ nghề chuyên môn đánh Morse trong kháng chiến chống Pháp nên có thời gian anh được chọn làm ở Trung Tâm Kiểm Soát Không Lưu, sân bay Tân Sơn Nhất. Anh Minh Đỗ khá về tiếng Anh, tiếng Pháp, có hiểu biết về chuyên môn. Là một người làm báo chuyên nghiệp, một phụ tá có năng lực cho chủ bút, vui tính, ít nói, tận tụy, say mê nghề nghiệp. Anh phụ giúp tôi tận tình ở báo Điện Tín suốt mấy năm. Qua đến thời kỳ báo Tin Sáng, hồi II, tôi cũng làm phó chủ bút, Hồ Ngọc Nhuận làm chủ bút, anh Minh Đỗ cũng với tư cách thư ký toà soạn,đã phụ giúp tôi đắc lực.

Viết đến những dòng này sau hơn 30 năm làm báo, thời kỳ cộng tác với tôi ở báo Điện Tín và báo Tin Sáng, kỷ niệm giữa chúng tôi khá đậm đà. Anh Minh Đỗ từng là một cán bộ kháng chiến, yêu nước, yêu nghề làm báo, anh là một trong những cột trụ âm thầm của làng báo Sài Gòn xưa và nay. Bây giờ anh đã khuất, trong âm thầm lặng lẽ, trong sự thương tiếc của bạn bè và đồng nghiệp. Tôi ghi lại những dòng này để tưởng nhớ đến anh, một người cộng tác, đầy đủ những đức tính để các lớp đàn em học hỏi.

Minh Đỗ, Phan Ba, Sơn Tùng, Tô Nguyệt Đình những đàn anh nhà nghề mà ai viết về lịch sử của làng báo Sài Gòn trước ngày giải phóng không thể bỏ sót.

Chương 4: Làm báo Sài Gòn (phần 2)

6-3-15

* * *

Chương 3: DẠY HỌC
https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=1252567748415924&id=100009881313541&notif_t=feedback_reaction_generic&notif_id=1596646809279559&ref=browse_tab

Chương 4 (P1): LÀM BÁO SÀI GÒN – Nghiệp làm báo
https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=1252567958415903&id=100009881313541

Chương 4 (P2): LÀM BÁO SÀI GÒN – Tờ báo, công cụ đấu tranh chính trị.
https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=1252568065082559&id=100009881313541

* * *

Link:
http://www.viet-studies.net/kinhte/DuongVanBa_4a.htm

LÀM SAO KHÔNG PHÁT ĐIÊN khi đọc những tin như này thưa quý vị fber ???

Ngô Thứ
LÀM SAO KHÔNG PHÁT ĐIÊN khi đọc những tin như này thưa quý vị fber ???

_________
Trương Châu Hữu Danh
NGẮM TƯỢNG ĐÀI CHO ĐỠ ĐÓI

Chiều 28/7, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đăk Nông Tôn Thị Ngọc Hạnh dẫn đầu Đoàn công tác của tỉnh đi kiểm tra tiến độ thi công công trình Tượng đài N’Trang Lơng và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc 1912-1936 (giai đoạn 1), do Ban Quản lý dự án giao thông, dân dụng, công nghiệp tỉnh Đắk Nông làm chủ đầu tư.

Công trình Tượng đài N’Trang Lơng có tổng mức đầu tư 167 tỷ đồng. Tượng N’Trang Lơng và phù điêu được chế tác bằng đá xanh ở tỉnh Thanh Hóa, phần tượng cao 13m, phù điêu 5,5m, chiều dài đế của cụm tượng đài là 27m.

Trước đó, tháng 5/2015, UBND tỉnh Đắk Nông tổ chức khởi công công trình này tại đồi Đắk Nur, phường Nghĩa Đức, thị xã Gia Nghĩa và có tổng vốn đầu tư gần 68 tỷ đồng và dự kiến hoàn thành trong năm 2018.

Số tiền 68 tỷ đồng so với tỉnh nghèo Đăk Nông là rất lớn.
Tuy nhiên, tỉnh này làm hoài không xong và bây giờ đẩy một nhát lên 167 tỷ đồng.

Chưa biết đó có phải là con số cuối cùng hay chưa!

Đăk Nông là tỉnh nghèo nhất nhì cả nước. Trong đó, tỷ lệ hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số là 40,38%, tỷ lệ hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ là 53,79% thì tính đến cuối năm 2019 (UBND chưa công bố chính thức), tỷ lệ hộ nghèo chung của tỉnh là 10,52%. Trong đó, tỷ lệ hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số là 24,15%, tỷ lệ hộ nghèo đồng bào DTTS tại chỗ là 31,60%.

Tiền làm tượng đài đủ làm 1.500 căn nhà cho hộ nghèo.
Ảnh: Báo Đăk Nông

https://www.facebook.com/100002712488476/posts/2866410590125996/

Image may contain: one or more people, cloud, sky and outdoor

Tỉnh nghèo Đắk Nông muốn ‘làm ngày, làm đêm’ để xong tượng đài gần 50 tỷ đồng – Trí Thức VN

To Thu Thu

Tỉnh nghèo cần đạt chỉ tiêu!

Dù bị dư luận phản đối, nhưng giới chức tỉnh Đắk Nông vẫn yêu cầu làm ngày làm đêm để đẩy nhanh việc xây dựng tượng đài N’Trang Lơng gần 50 tỷ đồng.

MẸ CHỒNG

Image may contain: 3 people, eyeglasses and selfie
Kimtrong Lam

MẸ CHỒNG

“Tao đi từ Nam ra Bắc tao không thấy có đứa con dâu nào như mày.”

“Con đi khắp cái gầm trời này cũng không có người mẹ chồng nào như mẹ.”

“Tao thì làm sao?”

“Thế con thì làm sao?”

“Mày chả làm sao, mày là nhất. Đi ra ruộng thì đi luôn đi. Ban ngày thì mải đi chơi, tối tắt mặt trời đổ lúa vào xay. Làm việc không khoa học chỉ có nghèo suốt đời con ạ.”

“Con nghèo thì mẹ cũng nghèo theo, nên đừng có mà trù ẻo.”

Ngày nào bọn tôi cũng được nghe “dân ca và nhạc cổ truyền” miễn phí từ hai mẹ con nhà bà cụ Thao.

Cụ năm nay tám mươi tuổi rồi, con dâu cụ thì hơn bốn mươi tuổi. Nghe đâu bảo ngày xưa cụ sức yếu, sảy mấy lần mới sinh được chú Tự. Vì là con cầu tự nên bà chiều chú lắm, từ nhỏ tới lớn muốn gì được nấy. Ngày chú Tự cưới cô Tin bà cụ cũng chẳng thích lắm, vì cô Tin học hết cấp một là nghỉ rồi. Nhưng chú Tự kiên quyết nên cụ phải cắn răng tổ chức lễ cưới. Cưới xong cô Tin sinh liền tù tì ba đứa con gái, cụ cứ bĩu môi mãi là đồ không biết đẻ.

Cụ bảo cô Tin, liệu mà sinh thêm thằng cu nối dõi, kẻo lúc bố chúng nó đi gái lại ngồi mà khóc. Con gái là con người ta. Cô Tin nghe thế bực mình bảo, “con gái là con người ta, con dâu đích thực mẹ cha mua về, thế sao mẹ không đối xử tốt với con đi, con nào chả là con, con trai mẹ có ở nhà chăm mẹ đâu, toàn thân con hầu hạ.” Bà cụ hừ một cái rõ dài rồi quay mặt vào tường, chẳng nói gì thêm.

Mỗi ngày đều nghe thấy mẹ chồng con dâu nhà cụ kẻ xướng người tùy, hay hơn cả xem kịch nói trên VTV1 mỗi tối thứ bảy. Hôm nào không thấy hai mẹ con cụ cãi nhau, là thấy xóm hiu hắt hẳn.

Có một sớm, tôi vừa cho kem đánh răng vào miệng, thấy bà cụ nhà bên hậm hực gào toáng lên:

“Tay tao bưng trầu, đầu tao đội lễ, tao rước mày về cái nhà này, chứ không phải con giun cái kiến nó tha mày về mà mày không biết lớn biết bé, đi không thưa về không gửi.”

“Mẹ ngủ ngáy o o, đấm bảy ngày chả hự, con thưa gửi kiểu gì? Mà con đi bừa chứ đi đâu mà thưa với gửi, mẹ bớt bớt cái tính cổ hủ đi.”

“A, tao cổ hủ, mày chê bà già này cổ hủ, để tao gọi chồng mày về xem nó có cho mày một trận không, mày dám chê mẹ nó à?!”

“Mẹ đi mà gọi, con chả ngán. Mẹ chửi xong rồi thì ra ăn bánh quấn đi không nguội.”

“Tao không ăn.”

“Không ăn tận trưa mới có cơm đấy, lát bọn trẻ về nó ăn hết lại chả kêu. Bà Tư bún làm riêng cho mẹ đấy.”

“Hừ, cái con mụ Tư bún chỉ khéo mồm, bán thì đắt, mày chỉ khéo vẽ vời tốn tiền.”

“Thế mẹ có ăn không?”

“Chả ăn thì sao?”

“…”

Tôi cười nuốt cả kem đánh răng.

Cả làng tôi đều biết bà cụ Thao là địa chủ hết thời, ai cũng sợ cụ. Ngày cụ còn trẻ còn khỏe, đanh đá nhất làng, chẳng ai dám động đến cụ. Thế mà không hiểu sao cô Tin chịu được những gần hai mươi năm. Nghe đâu ngày cô Tin mới về làm dâu, làm bà cụ tăng huyết áp mấy lần, cụ còn dọa thắt cổ tự tử. Thế là cô cắt ngay cái màn tuyn, nối thành cái dây dài treo thòng lòng từ nóc nhà xuống, rồi bảo cụ leo lên. Cụ tức quá chửi ầm lên, nói cô muốn giết cụ. Cô phì cười bảo là cụ tự muốn chết, nếu không muốn chết thì xuống bếp ăn cháo cá đi không nguội nó tanh. Cụ chọn cháo cá. Vừa ăn vừa hừ, hừ, hừ.

Chú Tự đi làm xây dựng mãi dưới Quảng Ninh, một năm chẳng về được mấy lần. Bà cụ tuổi già hay ốm, hay nũng, hay giận. Chỉ có cô Tin mới trị được cụ. Mỗi lần hàng xóm nói cô khổ, vớ được mẹ chồng ghê gớm, cô cười hi ha, “người già với trẻ con là một, dỗ dành một tí là ngoan như bống ấy mà.” Ban đầu mọi người nghĩ cô khôn khéo ý tứ, cho là cô ba phải, sau rồi phát hiện ra cô chẳng bao giờ đi nói xấu mẹ chồng ở bất cứ đâu. Thành ra mỗi ngày thấy mẹ con cô “hát tuồng”, ai cũng dỏng tai lên nghe rồi đem đi buôn bán trong những vụ dưa lê ngoài ruộng. Mà bà cụ gắt gỏng là thế, nhưng đi đâu cũng một câu con Tin nhà tôi, hai câu con Tin nhà tôi. Sau hàng xóm cũng quen, lại nghĩ chắc cô Tin và bà cụ kiếp trước là nghiệt duyên, kiếp này phải trả nợ, cả đời dính vào nhau.

Hàng ngày hai người tranh chấp toàn chuyện lông gà vỏ tỏi. Từ việc hát ru con tới việc tắm cho lợn, mà cuối cùng toàn bà cụ thua. Vừa ăn vừa thua, vừa phơi lưng cho con dâu bóp thuốc vừa lầm bầm chửi biết thế ngày xưa tao ép thằng Tự lấy đứa nhiều chữ hơn. Học nhiều nó mới ngoan. Cô Tin cười ha hả, làm gì có ai nhiều chữ bằng mẹ, văn thơ mẹ cả cái chuồng trâu nhà mình chứa không hết.

“Cha tiên sư bố mày…”

Một hôm, cô Tin cuống lên đi tìm bà cụ. Chả là không biết bà cụ nghe ai nói chú Tự có bồ. Thế là cụ bỏ ăn, nằm liệt hai ngày. Cô Tin gọi chú Tự về gấp, chú bảo bận chưa về được. Sáng hôm sau cô đi chợ, về thì không thấy cụ đâu. Cô tìm nhà trên xóm dưới, rồi hoảng hốt chạy ra ao, ra giếng, không thấy bóng người. Cô cuống lên gọi điện thoại, “mẹ anh chết rồi anh có về không hả? Không thấy mẹ anh đâu, anh về ngay còn kịp tìm xác.”

Chú Tự về nhanh như một cơn gió, bốn giờ chiều đã có mặt ở nhà, hàng xóm hỗ trợ tìm cụ từ trưa không nghỉ. Thấy chú về cô khóc toáng lên, đánh chú thùm thụp, miệng liên tục sao giờ anh mới về, không thấy mẹ đâu cả, không thấy mẹ đâu cả. Thiu hết cả bánh giò rồi.

“Mới có từ trưa thiu thế nào được?”

Cả nhà: “…”

Không biết cụ chui từ đâu ra, cả người lấm lem. Cô Tin nín bặt cả khóc. Cả xóm trắng mắt. Ai nấy đều thở phào. Chưa kịp phào xong thì cụ ngã lăn quay ra đất, mọi người lại tán loạn đưa cụ đi trạm xá cấp cứu. Bác sĩ bảo cụ bị tụt huyết áp do quá đói. Rồi bác sĩ nguýt cô Tin một cái rõ dài, “đúng là một mẹ nuôi được mười con chứ mười con không nuôi nổi một mẹ.”

Cô Tin: “…”

Truyền được nửa chai đường thì bà cụ tỉnh lại, thấy con dâu khóc thút thít cụ xì mặt ra: “mày định khóc bây giờ cho đủ để lúc tao chết mày không khóc nữa phải không?”

Cô Tin: “…”

“Bánh giò có mang theo không?”

Cô Tin: “…”

“Biết ngay mà, chỉ có giả bộ thảo hiền là giỏi.”

Chú Tự, cô Tin: “…”

Có mẹ chồng giỏi ăn nói nó khổ thế đấy.

Cô hỏi cụ, mẹ trốn ở đâu cả ngày mà tìm mãi không thấy. Bà cụ hừ một cái, trốn trên cái hố mối bãi chè sau nhà chứ đâu. Mày cứ động tí là đầu óc lú lẫn, bã đậu.

“…”

Trưa hôm sau bà cụ được về nhà. Sau khi ăn xong bát cháo gà tần thuốc bắc, cụ gõ cái gậy xuống đất, bắt chú Tự quỳ xuống trước bàn thờ ông cụ Thao. Chưa kịp nói gì cụ đã phang túi bụi.

“Con chó có đuôi, con người có ý thức. Vợ anh ở nhà bán mặt cho đất, bán lưng cho giời, để anh ra ngoài ăn chơi đàng điếm hả?”

“Con không có.”

“Tôi quản anh có hay không hả? Tôi là tôi biết hết, anh chê tôi già mắt kém anh định qua mặt tôi phỏng? Đường đường là thằng đàn ông, văn chương chữ nghĩa bề bề, thần l… nó ám thì mê mặc lòng. Tôi nói anh biết, nhà tôi chỉ có mình con Tin được có tên trong gia phả. Mấy con yêu tinh quạ cái kia đừng hòng bước chân vào. Anh khôn hồn thì biết đường mà về nhà hối lỗi với vợ con. Tôi chỉ có ba đứa cháu, tôi không cần cháu trai, anh thích đi kiếm con hoang con ở thì cút khỏi cái nhà này. Hừ, hừ, hừ.”

Sợ bà cụ tăng huyết áp, cô Tin đuổi chú ra nhà ngoài, tối đó cô ngủ cùng bà. Sáng hôm sau cô bảo chú: “mẹ bảo tay mẹ bưng trầu đầu mẹ đội lễ mẹ rước tôi về, nên nhà này của tôi. Anh cứ chọn đi, bà cụ chả sống được mấy nữa, bà chỉ có mình anh, anh sống sao thì sống.”

Nửa tháng sau người ta thấy chú Tự xách ba lô về, sau đó đi theo mấy ông thợ cả ở làng nhận mấy công trình nhà văn hoa thôn bản.

Còn bà cụ và cô Tin ở nhà vẫn cất bài ca đi cùng năm tháng.

“Thế gian được vợ hỏng chồng. Nhà mày thì hỏng cả ông lẫn bà.”

“Không phải đều là con mẹ à?”

“Tao mà đẻ ra cái loại chúng bay à?”

“Thế chồng con chui ra từ cái lỗ nẻ nào?”

“Cái loại rạch giời rơi xuống chứ sao.”

“Rồi rồi, con thần con thánh, sét đánh không chết. Mẹ ngồi im con kỳ lưng, trơn là ngã gẫy cổ bây giờ.”

“Hừ. Hừ. Hừ.”

Hồng Nhung

“Lúc cha mẹ cho con thứ gì, con đềᴜ nở nụ cười, lúc con cái cho cha mẹ thứ gì thì cha mẹ khóc”

“Lúc cha mẹ cho con thứ gì, con đềᴜ nở nụ cười, lúc con cái cho cha mẹ thứ gì thì cha mẹ khóc”

By Tạp Chí Nước Úc – 5 Tháng Tám, 2020

Cả đời này, người có thể làm cho chᴜ́ng ta mọi thứ mà không cầᴜ báo đáp chỉ có cha mẹ, vậy nên, dᴜ̀ thế nào cᴜ̃ng đừng phàn nàn họ, hãy thông cảm cho họ, qᴜan tâm tới họ.

Đi khắp thế gian này, ɾốt cᴜộc cũng chỉ có cha mẹ mới yêᴜ thương ta mà không đòi hỏi gì. Vì con, họ có thể làm tất cả mà không cần báo đáp. Nhưng liệᴜ chᴜ́ng ta mấy ai ý thức được điềᴜ đó, hay chỉ nhận ɾa khi mọi chᴜyện đã qᴜá mᴜộn màng.

Tôi lên giường ngᴜ̉ lᴜ́c 11 giờ khᴜya, bên ngoài tɾời đang có tᴜyết ɾơi. Tôi co ɾo ɾᴜ́c vào tɾong chăn, cầm chiếc đồng hồ báo thức lên xem thì phát hiện nó đã ngừng hoạt động từ lᴜ́c nào, tôi đã qᴜên không mᴜa pin cho nó. Bên ngoài tɾời lạnh như thế, tôi qᴜả thực không mᴜốn phải ngồi dậy, liền gọi điện thoại cho mẹ: “Mẹ ơi, đồng hồ báo thức cᴜ̉a con hết pin ɾồi, ngày mai con có cᴜộc họp ᴄôпg ty, khoảng 6 giờ mẹ gọi điện đánh thức con dậy nhé!”.

“Được ɾồi, mẹ biết ɾồi!” Mẹ ở đầᴜ dây bên kia giọng như đang ngái ngᴜ̉, nói.

Sáng hôm saᴜ, điện thoại báo thức vang lên tɾong lᴜ́c tôi còn đang mộng đẹp. Ở đầᴜ dây bên kia, mẹ nói: “Con gái maᴜ dậy đi, hôm nay con còn có cᴜộc họp đấy”. Tôi mở mắt nhìn đồng hồ, mới có 5h40, liền cảm thấy khó chịᴜ mà cằn nhằn mẹ: “Chẳng phải con nói 6 giờ mới gọi con dậy sao? Con còn mᴜốn ngᴜ̉ thêm một lát nữa, lại bị mẹ làm phiền ɾồi”.

Mẹ ở đầᴜ dây bên kia lặng im không nói gì, tôi cᴜ̃ng cᴜ́p điện thoại…

Dậy ɾửa mặt, chải đầᴜ ɾồi tôi ɾa khỏi nhà. Thời tiết thật lạnh, khắp nơi toàn là tᴜyết, tɾời đất chỉ một màᴜ. Tại ga xe bᴜs tôi không ngừng dậm chân cho đỡ lạnh, tɾời vẫn còn tối đen như mực, đứng bên cạnh tôi là hai ông bà lão tóc bạc tɾắng. Tôi nghe ông lão nói với bà: “Bà xem xem, cả đêm ngᴜ̉ không yên giấc, mới sáng sớm đã thᴜ́c tôi dậy ɾồi, nên giờ mới phải chờ lâᴜ như thế”.

Năm phᴜ́t saᴜ, cᴜối cᴜ̀ng xe bᴜs cᴜ̃ng đã tới. Tôi vội bước lên xe, tài xế là một người thanh niên còn ɾất tɾẻ, anh ta chờ tôi lên xe ɾồi vội vã lái xe đi. “Khoan đã! Anh tài xế, phía dưới còn có hai ông bà lão nữa, thời tiết lạnh như thế mà họ đã đợi từ ɾất lâᴜ ɾồi, sao anh không chờ họ lên xe mà đã đi ɾồi?” Tôi nói.

Anh ta ngoảnh đầᴜ lại, cười nói: “Không sao đâᴜ, đó là cha mẹ cᴜ̉a tôi đó. Hôm nay là ngày đầᴜ tiên tôi lái xe bᴜs, nên họ đến xem tôi đấy”. Tôi đột nhiên ɾơi lệ, nhìn lại dòng tin nhắn cᴜ̉a cha tôi: “Con gái, mẹ cᴜ̉a con cả đêm ngᴜ̉ không được, mới sáng sớm đã tỉnh dậy, bà ấy lo con sẽ mᴜộn giờ”…

Người Do Thái có một câᴜ ngạn ngữ ɾất ý nghĩa: “Lᴜ́c cha mẹ cho con thứ gì, con đềᴜ nở nᴜ̣ cười; lᴜ́c con cái cho cha mẹ thứ gì, cha mẹ khóc”. Cả đời này, người có thể làm cho chᴜ́ng ta mọi thứ mà không cầᴜ báo đáp chỉ có cha mẹ, vậy nên, dᴜ̀ thế nào cᴜ̃ng đừng phàn nàn họ, hãy thông cảm cho họ, qᴜan tâm tới họ.

Vậy nên, hãy tɾân tɾọng từng phᴜ́t giây bên cha mẹ, bởi không ai biết được khi nào họ sẽ ɾời xa ta mãi mãi. Khi cha mẹ còn hãy lᴜôn nở nụ cười, hãy lᴜôn qᴜan tâm chăm sóc tới họ, đừng để cha mẹ mỏi mắt ngóng tɾông mà không nhìn thấy hình bóng của bạn.

Nhưng nếᴜ một ngày cha mẹ bᴜộc phải ɾa đi, họ sẽ không thể báo tɾước cho bạn một lời nào, không thể tiếp tục gọi tên bạn, cũng không thể cùng bạn ăn cơm và qᴜan tâm tới bạn được nữa… Cây mᴜốn lặng mà gió chẳng ngừng, con mᴜốn báo hiếᴜ mà cha mẹ đâᴜ còn? Giá như ta đã có thể bớt xem một bộ phim, bớt chơi một ván cờ, bớt đi dạo cùng bạn bè, để dành thời gian ở bên cha mẹ, ta sẽ cảm thấy bản thân đỡ ân hận phần nào!

Do đó, lúc cha mẹ còn đang khỏe mạnh, hãy an ủi tinh thần cho họ, hãy dành nhiềᴜ thời gian hơn để bên cạnh họ, cố gắng đáp ứng hết ngᴜyện vọng của họ, đừng khiến cho bản thân saᴜ này phải hối hận.

Hãy yêᴜ thương cha mẹ như yêᴜ thương chính bản thân mình, bởi vì họ cũng cần được yêᴜ thương… Và nếᴜ có một ngày thực sự họ ɾời đi, chúng ta sẽ không phải ngậm ngùi về những tháng ngày đã qᴜa…

Image may contain: 1 person, closeup
Image may contain: 2 people, people sitting
Image may contain: 1 person, grass, outdoor and nature

PHÓ CHÁNH VĂN PHÒNG BỘ GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO ĐỘT TỬ

PHÓ CHÁNH VĂN PHÒNG BỘ GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO ĐỘT TỬ

Ông Nguyễn Việt Hùng, Phó chánh văn phòng phụ trách truyền thông của Bộ GD-ĐT vừa bị đột tử trong lúc đi công tác ở Bắc Kạn.

Ông Hùng đang cùng đoàn của Bộ GD-ĐT kiểm tra một điểm thi tốt nghiệp THPT. Sau khi dùng bữa trưa tại TP. Bắc Kạn, cảm thấy mệt, ông Hùng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Tỉnh nhưng đã tử vong.

Chỉ trong một thời gian ngắn, ngành giáo dục xảy ra 3 cái chết bất ngờ khiến dư luận không khỏi đặt nghi vấn.

Tháng 10/2019, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Lê Hải An “bị rơi” từ tầng 8 trụ sở Bộ Giáo dục.

Ngày 5/4/2020, tiến sĩ Bùi Quang Tín tử vong ở chung cư New Sài Gòn cũng “bị rơi” từ nhà cao tầng.

Và hôm nay là ông Hùng.

Image may contain: 1 person, eyeglasses, suit and closeup

TỎI ĐỘC từ Tàu Cọng đang tràn lan trên thị trường

Bang Uong
TỎI ĐỘC từ Tàu Cọng đang tràn lan trên thị trường

Những chất độc có trong tỏi sẽ tích tụ dần trong cơ thể và dẫn đến những căn bệnh nguy hiểm, đặc biệt là bệnh ung thư.

Mỹ vừa đưa ra khuyến cáo, tỏi Trung Quốc chứa nhiều chất độc hại đang được bày bán tràn lan trên thị trường.

Theo số liệu thống kê xuất nhập khẩu của Mỹ, hiện nay có trên 80% lượng tỏi bày bán trên toàn cầu có xuất xứ từ Trung Quốc.

Hầu hết chúng đều đã bị tẩy trắng và phun thuốc để ngưng mọc mầm. Tỏi Trung Quốc có thể được tưới bằng nước cống và khử trùng bằng methyl bromide trước khi xuất khẩu.

Đây là chất diệt sâu bọ rất độc hại đối với con người, có thể hủy hoại hệ hô hấp và cơ quan thần kinh trung ương, thậm chí gây tử vong.

Tỏi Trung Quốc thường to tròn, kích thước củ khá đồng đều, vỏ ngoài màu trắng hơi ngả vàng, láng bóng, để lâu không bị nảy mầm.

Các đội thanh tra thực phẩm Mỹ liên tục phát hiện ra tỏi có nguồn gốc từ Trung Quốc có chứa chất hóa học độc hại.

Tỏi Trung Quốc được trồng với hàm lượng chất tăng trưởng cao, sau đó được tẩy trắng và ướp các hóa chất bảo quản dài ngày.

Vị của tỏi Trung Quốc thay đổi cũng là một trong những dấu hiệu của hóa chất độc hại chứa sâu bên trong tép tỏi.

Hiện môi trường, đất trồng ô nhiễm của Trung Quốc cũng là nguyên nhân làm cho tỏi nhiễm độc trầm trọng hơn.

Một báo cáo chính thức của chính phủ Mỹ vào năm 2014 cho biết gần 1/5 diện tích đất của Trung Quốc bị nhiễm độc kim loại nặng như cadmium, asen cũng như thuốc trừ sâu và phân bón có hại khác.

Tỏi Trung Quốc: để thoải mái không lo nảy mầm

Trước thông tin này, người dân Việt Nam không khỏi hoang mang, lo lắng.

Dọc các tuyến phố hay các khu chợ, có rất nhiều hàng bán tỏi không rõ xuất xứ, không phân biệt được đâu là tỏi Việt Nam, đâu là tỏi Trung Quốc.

Trong vai người mua hàng, PV báo Phụ Nữ TP.HCM được chị N.T.V một người bán hành, tỏi lâu năm ở chợ Vĩnh Hồ (Phố Vĩnh Hồ, Tây Sơn, Đống Đa, Hà Nội) cho biết: “Tôi thường nhập tỏi ở các chợ đầu mối.

Có nhiều loại tỏi trong đó có tỏi ta và tỏi Tàu. Tỏi Tàu bây giờ cũng đắt lắm, nhập buôn đã 55 ngàn đồng/1kg.

Nhưng tôi vẫn thích lấy tỏi Tàu bán vì tỏi lâu hỏng, ít khi bị nảy mầm, để bán lâu dài vẫn không sợ, chứ tỏi mình để dăm bữa nửa tháng đã bị thối, móp, nảy mầm, nhất là trong thời tiết trời hay nồm và ẩm ướt thế này, hỏng cân tỏi là đã mất lãi rồi.”

Tại các phố, các chợ, tỏi không rõ xuất xứ được bán tràn lan.

Chị Đ., một người bán tỏi khác chia sẻ: “Tỏi Tàu thường mẫu mã đẹp, củ to chắc, tép tỏi cũng to và đều, bóc nhanh nên người dùng khá thích, đặc biệt là các nhà hàng.

Bán tỏi mấy năm nay, bao giờ tôi cũng nhập nửa tỏi Tàu, nửa tỏi ta. Thường thì giá tỏi Tàu sẽ mềm hơn tỏi ta mà lại dễ bảo quản, để thoải mái, không lo bị thối và nảy mầm.”

Tuy nhiên, khi được hỏi về việc gia đình nhà mình có dùng loại tỏi Tàu hay không thì chị T lại tỏ ra ngập ngừng: “Thì mình là người bán, mình biết tỏi nào đảm bảo hơn thì mình dùng.

Dù sao thì kia cũng là hàng Trung Quốc nên cũng không biết thế nào nên tốt nhất là cứ dùng tỏi ta cho chắc.”

>>> Trao đổi với PV báo Phụ Nữ TP.HCM, PGS.TS Nguyễn Văn Viên Chuyên gia về Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật của Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho biết: “Trong quá trình, xử lý và bảo quản thực phẩm, người ta vẫn phải dùng đến một số chất bảo quản.
>>>
>>> Nếu dùng đúng liều lượng và nồng độ thì sẽ không có ảnh hưởng gì nhưng nếu người sản xuất vì mục đích lợi nhuận mà sử dụng với hàm lượng cao thì sẽ gây nguy hại cho sức khỏe người tiêu dùng.
>>>
>>> Hơn thế, nếu đúng như báo cáo của Mỹ, tỏi Trung Quốc được trồng với hàm lượng chất tăng trưởng cao, tưới bằng nước cống, sau đó qua xử lý bằng chất tẩy trắng, phun thuốc ngưng mọc mầm và khử trùng bằng methyl bromide trước khi xuất khẩu thì hậu họa mang đến cho người tiêu dùng là rất nghiêm trọng.
>>>
>>> Những chất độc này sẽ tích tụ dần trong cơ thể và dẫn đến những căn bệnh nguy hiểm, đặc biệt là bệnh ung thư.
>>>
>>> Thậm chí, nếu hàm lượng chất độc trong tỏi quá cao thì có thể gây ngộ độc cho người dùng ngay sau khi sử dụng.”
>>>
>>> Theo vị chuyên gia này: “Tốt nhất là những sản phẩm không rõ nguồn gốc xuất xứ, không rõ đã qua xử lý, bảo quản như thế nào thì người tiêu dùng không nên ăn. Đặc biệt là với những sản phẩm đã đưa ra nghi ngại về mức an toàn thì người tiêu dùng càng phải cẩn thận.”

Em Olga Misik, 17 tuổi, ngồi phản đối chính quyền Putin ngay tại Moscow

Thuc Tran
Vu Ho

Tên cô bé trong hình này là Olga Misik, em 17 tuổi. Hình ảnh cô bé này ngồi phản đối chính quyền Putin ngay tại Moscow đã lan truyền rất nhanh chóng trên toàn thế giới. Cô ngồi đó chỉ với quyển hiến pháp Nga và đọc trong khi đó 1 số đông cảnh sát đã không biết đối phó với cô ra sao và chỉ biết bao vây cô lại và đứng nhìn cô.

Cô nói rằng:

“Tôi chỉ muốn nhắc nhở họ [cảnh sát] rằng chúng tôi ở đây với mục đích hòa bình và không có vũ khí, nhưng họ thì lại có !

Tôi thậm chí không bao giờ nghĩ rằng ai đó ngoài họ sẽ nghe thấy những gì tôi đọc. Tôi ngồi trên mặt đất và bắt đầu đọc các quyền theo hiến pháp của chúng tôi, xác định rằng những gì đang xảy ra ở đây [cảnh sát bắt giữ người biểu tình] là bất hợp pháp.”

VŨ CA

Image may contain: 9 people, outdoor

Trần Phong Vũ

01.08.2019

Tên cô bé trong hình này là Olga Misik, em 17 tuổi. Hình ảnh cô bé này ngồi phản đối chính quyền Putin ngay tại Moscow đã lan truyền rất nhanh chóng trên toàn thế giới. Cô ngồi đó chỉ với quyển hiến pháp Nga và đọc trong khi đó 1 số đông cảnh sát đã không biết đối phó với cô ra sao và chỉ biết bao vây cô lại và đứng nhìn cô.

Cô nói rằng:

“Tôi chỉ muốn nhắc nhở họ [cảnh sát] rằng chúng tôi ở đây với mục đích hòa bình và không có vũ khí, nhưng họ thì lại có !

Tôi thậm chí không bao giờ nghĩ rằng ai đó ngoài họ sẽ nghe thấy những gì tôi đọc. Tôi ngồi trên mặt đất và bắt đầu đọc các quyền theo hiến pháp của chúng tôi, xác định rằng những gì đang xảy ra ở đây [cảnh sát bắt giữ người biểu tình] là bất hợp pháp.”

VŨ CA

Nắng Chiều Rực Rỡ – Phạm Duy – Duy Quang – Dau Nguyen

httpv://www.youtube.com/watch?v=s-04FpOY0z0&feature=share&fbclid=IwAR3aoYJ_uxjYxpGo-UDmFWr5uC31kMArazmH_Zogo9SH8mBaME01ZrwG5tc

Nắng Chiều Rực Rỡ – [Phạm Duy – Duy Quang] – Dau Nguyen (4K UHD)

Latran03

373 subscribers

SUBSCRIBED

“Nắng chiều rực rỡ” là bài thứ 6 trong 10 bài Rong Ca của Phạm Duy, nói về thân phận con người. Trong hoàng hôn của cuộc sống cần bình tĩnh chấp nhận “quy luật sinh tử” tự nhiên của muôn vật, mở rộng tình thương yêu người thân và cảnh vật quanh ta thì tâm hồn mới mong được thanh thản an vui. Mời quý vị thưởng thức nhạc cảnh “Nắng chiều rực rỡ”. Nhạc và lời: Phạm Duy. Tiếng hát: Duy Quang. Hình ảnh và video clips: Internet. Thực hiện nhạc cảnh: Dậu Nguyễn.

DÂN ƠI! ĐỪNG KHÓC!

Image may contain: one or more people
Image may contain: 1 person, walking, standing and outdoor
Image may contain: one or more people, motorcycle and outdoor, text that says '59 S2 870.40'
Image may contain: 2 people, people sitting
+10
8 SÀI GÒN

DÂN ƠI! ĐỪNG KHÓC!

Bây giờ thì quý vị đã thấy công dụng của tượng đài ngàn tỷ chưa? Thấy an ủi vì nước nào cũng có tham nhũng chưa? Mỹ chết dịch vì chủ quan nhưng chắc chắn không lo chết đói, còn ở VN bây giờ người ta sợ chết đói hơn cả chết dịch! Sẽ bao nhiêu người quẫn trí khi lâm vào đường cùng? Bao gia đình phải ly tán vì nợ nần chồng chất??

Hãy thôi bớt ngạo nghễ đi các ông ơi! 62.000 tỷ đã đến đúng và đủ cho dân chưa? Tại sao lúc cần so sánh với Mỹ khi phát tiền cứu trợ cho dân theo nhân khẩu, không phân biệt giàu nghèo thì lại không so còn những lúc điện đóm, thuế má thì lại so?

Mặt trời đâu rồi? Hãy tỏa sáng rực rỡ đi! Hãy là lá cờ đầu như những tuyên bố hùng hồn ở mỗi lần tổng kết đại hội đi nào! Người ta sẽ tổ chức ĐH với những băng rôn khẩu hiệu trăm, nghìn tỷ đồng, với những lời chúc tụng, ca ngợi những thành quả vẻ vang và biết đâu, “giặc Covid” cũng là thành tựu để người ta liệt kê cho “năm qua thắng lợi vẻ vang”?

Tôi chỉ biết, ngoài kia, hàng triệu người đang rên xiết nhưng lần này không phải dưới xiềng xích hay gót giày của ngoại bang nữa.

Liệu một lần, các người vì dân, đừng tổ chức Đại hội linh đình, đừng khoe khoang ca ngợi trên những giọt nước mắt của dân nghèo nữa, có được không?

NHẬT HUỲNH