Tâm tình của một người Úc gốc Việt Lưu Vong gời đến các cháu Du Học Sinh tại Úc và khắp nơi trên thế giới.

Nói với các cháu, các em du học sinh và thế hệ trẻ người Việt qua Úc sinh sống chỉ hơn 10 năm vừa qua – những ai vẫn còn ôm lòng thù hận người Việt Cộng Hoà

Tôi không đại diện cho tiếng nói của ai cả và tôi hy vọng sẽ có những người Việt từng sống trên quê hương thứ hai, hơn 30 năm như tôi sẽ chia sẻ quan điểm này.

Trước hết tôi muốn các bạn hiểu tôi không thù ghét hay kỳ thị người Việt dù các bạn từ đâu tới, được giáo dục dưới chế độ nào, miễn các bạn biết tôn trọng cái khác biệt giữa những người khác biệt với các bạn.

Và kế nữa, nếu các bạn chọn sống nơi cộng đồng người Việt chúng tôi cùng quây quần chung sống mấy mươi năm nay thì các bạn hãy nhớ cho một điều; thế hệ cha, chú, bác, ông, cô, bà của chúng tôi đã từng liều mình vượt biên, đánh cược với cái chết để tìm đường TỰ DO sau năm 1975 – sau khi cộng sản cưỡng chiếm miền Nam VN. Họ là những người thiết lập nên cộng đồng mà các bạn đang sống giữa nơi ấy.

Họ, những người vượt biển lánh nạn cộng sản không khác gì người Việt cổ khi hai Bà Trưng thua trận với Mã Viện, khi Lĩnh Nam rơi vào tay nhà Hán đã lánh nạn Hán nô. Các tướng lĩnh của hai Bà Trưng không chấp nhận bị đô hộ, họ đã chạy ra biển tìm đường TỰ DO… Những người Việt cổ này đã trở thành người Minang Kabau – một phần của dân tộc Indonesia bây giờ. Tôi muốn kể cho bạn biết, để bạn hiểu rằng muốn một cuộc sống TỰ DO là phải ĐÁNH ĐỔI hoặc phải TRÂN TRỌNG người đi trước.

Cộng đồng người Việt lánh nạn cộng sản đã bỏ đi, người CS đã cầm quyền đất nước mấy chục năm nay. Chúng tôi không đòi hỏi gì từ nhà cầm quyền ngoài đòi quyền TỰ DO/ NHÂN QUYỀN cho người trong nước. Chúng tôi không đòi điều gì từ những người lãnh đạo nước VN ngoài công việc giữ cho TOÀN VẸN LÃNH THỔ VÀ LÃNH HẢI.

Chúng tôi đi chỉ mang theo cờ vàng ba sọc đỏ.

Cớ sao dưới sự lãnh đạo đại tài của chế độ cộng sản – một chế độ luôn miệng bôi xấu chế độ tư bản, các bạn phải qua các đất nước TƯ BẢN để du học hoặc tìm đường ở lại?

Chúng tôi đã trải qua những năm tháng dài không có nước mắm, không có rau muống, nói chi đến phở, bánh mì như bây giờ… Cộng đồng người Việt lánh nạn cộng sản dần dần lớn mạnh và hình thành những mảng Việt Nam khắp nơi trong các đất nước TƯ BẢN thì các bạn lại lục đục kéo qua đây sinh sống trong các khu vực của người Việt lánh nạn cộng sản.

Thử hỏi nếu không có chúng tôi đi trước thì cuộc sống của các bạn ở đây sẽ vất vả ra sao? Đương nhiên bạn sẽ không bao giờ nếm trải qua, vì có lẽ bạn sinh ra trong những gia đình cán bộ cộng sản khá giả, lớn lên trong quyền lực và khi qua đến chỗ của chúng tôi ở, thì cũng giống như các bạn ở trong một đất nước VN ngoài tổ quốc VN, với đầy đủ tiện nghi của kẻ đi sau.

Các bạn ôm lòng tôn thờ Hồ Chủ Tịch của các bạn và đã được dạy để căm thù chúng tôi – những người Việt Nam Cộng Hoà (không còn quê hương, chỉ còn lá cờ vàng ba sọc đỏ). Vậy tại sao các bạn còn chạy theo và biến thành nỗi ám ảnh cho chúng tôi? Nếu còn chọn sống trong cộng đồng của chúng tôi thì điều tối thiểu nhất các bạn cần phải hiểu rằng “họ là những người lánh nạn cộng sản, lánh loài quỷ đỏ, họ đã lánh xa được rồi! Đừng quấy rầy họ!”

Các bạn ạ! Ở VN các bạn có thể dùng quyền lực của cha ông để áp đảo, để chà đạp lên những gì bạn không thích, nhưng ở các nước TƯ BẢN, nơi có pháp luật đứng ngoài quyền lực chính trị, không ai ngồi xổm trên pháp luật được đâu!

Hãy học tôn trọng cái khác biệt của những người khác biệt với bạn. Bài học này khó khi bạn đã bị nhồi nhét quá lâu với lòng căm thù và lối suy nghĩ một chiều. Thôi thì hãy học tự chủ và học rằng ở ngoài này không cư xử kiểu rừng rú được đâu! Pháp luật ngoài này cũng không dễ mua bằng tiền. Ráng mà sống tốt để còn xin được ở lại nếu muốn.

* Tôi không thể nghĩ ra tại sao cháu trai trẻ này lại có lòng thù hận quá đáng sợ như vậy đối với lá cờ vàng ba sọc đỏ?

It’s really disturbing!

Dominion yêu cầu tòa xử Syned Powell vì ‘luật sư không được cấp bằng nói dối’

Dominion yêu cầu tòa xử Syned Powell vì ‘luật sư không được cấp bằng nói dối’

May 3, 2021

WASHINGTON, DC (NV) – Đại diện pháp lý cho công ty Dominion Voting System yêu cầu tòa buộc bà Sydney Powell, luật sư bảo thủ từng đại diện cho cựu Tổng Thống Donald Trump, phải chịu trách nhiệm cho những lời nói dối trước dân chúng khi vu khống công ty này gian lận bầu cử.

Trong văn bản trả lời yêu cầu xin tòa bác đơn kiện của Dominion, bà Sydney Powell nại cớ việc đưa ra những thuyết âm mưu sai lạc trước công chúng khi đại diện cho “ứng cử viên mà mình ưa thích” nằm trong quyền đặc miễn của luật sư biện hộ, theo trang phân tích luật Law & Crime.

Luật Sư Sydney Powell bị công ty Dominion Voting System kiện đòi bồi thường $1.3 tỷ tội vu khống huỷ hoại thanh danh. (Hình: MANDEL NGAN/AFP via Getty Images)

Đáp lại, Dominion lập luận “làm luật sư biện hộ không có nghĩa được tấm bằng để nói dối,” và nếu chấp thuận yêu cầu bác đơn kiên của bà Powell thì toà tạo ra một tiền lệ miễn trừ trách nhiệm cho các luật sư khi tiến hành các chiến dịch tung thông tin sai lạc trên hệ thống truyền hình quốc gia nhằm gây ảnh hưởng trước những vụ án nghiêm trọng.

Nguyên ủy vụ Dominion kiện bà Sydney Powell

Ngày 8 Tháng Giêng, công ty Dominion Voting Systems Inc. nộp đơn kiện đòi Luật Sư Sidney Powell phải bồi thường $1.3 tỷ, do các thiệt hại gây ra khi bà này nộp các đơn kiện, theo đó tìm cách hủy bỏ kết quả bầu cử, và đều bị tòa án mọi nơi bác bỏ do các cáo buộc không bằng cớ và dựa trên các thuyết âm mưu từng bị chứng minh là bịa đặt, có liên quan đến công ty.

Trong các cuộc họp báo và trả lời phỏng vấn trên truyền thông, bà Powell luôn tuyên bố rằng “nhân viên tình báo Venezuela, Cuba, và có thể là Trung Quốc, đã xâm nhập vào các máy của Dominion để giúp ứng cử viên Joe Biden, nghĩa là lấy phiếu của ông Trump đưa qua cho ông Biden, và nhu liệu điều hành các máy này do nhà độc tài Hugo Chavez chỉ huy.”

Ông Chavez là tổng thống Venezuela, và qua đời năm 2013.

Công ty Dominion, có văn phòng tại Toronto ở Canada, và Denver ở Mỹ, nói trong đơn kiện rằng các cáo buộc của bà Powell là hoàn toàn bịa đặt. Công ty nói bà này hợp cùng với các đồng minh và một số cơ quan truyền thông, có cùng một ý định là đưa ra hình ảnh sai lạc về cuộc bầu cử 2020. Đơn kiện nói thêm: “Bà Powell mở chiến dịch tung tin thất thiệt về công ty Dominion tới nhiều triệu người, gây thiệt hại lớn lao cho công ty.”

Powell xin toà bác đơn kiện vì “chỉ những người thiếu lý trí mới tin” những gì bà nói

Đáp lại vụ kiện của Dominion, hôm Thứ Hai, 22 Tháng Ba, Luật Sư Powell xin toà bác đơn kiện với lập luận rằng chỉ những người “mất lý trí” mới tin những cáo buộc trong các vụ kiện “gian lận bầu cử” do bà tuyên bố và nộp đơn kiện trước đây.

“Những người có lý trí đều nhận ra” các tuyên bố được đưa ra là ý kiến riêng và lập luận của bà Powell chứ không phải là “bằng chứng,” công chúng “được tự do” đưa ra kết luận liệu công ty Dominion có “gian lận” hay không, luật sư đại diện bà Powell lập luận trong hồ sơ gửi tòa.

“Trước một tuyên bố, người nghe cần phải tự xét xem những gì được nói có được xác minh là đúng hay sai,” phía bà Powell biện hộ. “Sau khi phân tích các bằng chứng, và ngay cả, giả định, người ‘có lý trí’ sẽ không kết luận những tuyên bố đó là sự thật.”

Đi xa hơn, phía bà Powell còn lập luận cuộc bầu cử năm 2020 rất cay đắng và gây tranh cãi nên bà có quyền đưa ra những tuyên bố (sai lạc) để ủng hộ cho ứng cử viên mà bà ưa thích và dùng trong lập luận pháp lý cũng như quan điểm chính trị ở vị thế luật sư của bà. (MPL)

Cặp Bill và Melinda Gates quyết định chia tay sau 27 năm hôn nhân

Cặp Bill và Melinda Gates quyết định chia tay sau 27 năm hôn nhân

SEATTLE, Washington (NV) – Ông Bill Gates, đồng sáng lập và cựu CEO của công ty Microsoft, và bà Melinda French Gates, cho biết trên Twitter hôm Thứ Hai, 3 Tháng Năm, rằng họ sẽ chia tay sau 27 năm chung sống.

Cả hai người cho biết sẽ tiếp tục làm việc cùng nhau trong các nỗ lực hoạt động từ thiện, bao gồm giáo dục, bình đẳng giới tính và chăm sóc sức khỏe.

“Sau rất nhiều suy nghĩ và cân nhắc rất kỹ lưỡng, chúng tôi đã đưa ra quyết định kết thúc cuộc hôn nhân,” ông bà Gates tuyên bố qua tin nhắn Twitter.

“Trong 27 năm qua, chúng tôi đã nuôi dạy ba người con tuyệt vời và xây dựng một tổ chức hoạt động trên toàn thế giới để giúp tất cả mọi người có được cuộc sống lành mạnh và hiệu quả. Chúng tôi tiếp tục tin tưởng vào sứ mệnh đó và sẽ tiếp tục công việc cùng nhau trong hoạt động của Quỹ từ thiện, nhưng chúng tôi không còn tin rằng cả hai có thể phát triển cùng nhau trong cuộc sống vợ chồng.”

Kết thúc ông bà Gates kêu gọi: “Chúng tôi yêu cầu mọi người tôn trọng về không gian và sự riêng tư cho gia đình để chúng tôi bắt đầu thích nghi và chuẩn bị cho cuộc sống mới.”

Ông Bill Gates đã lãnh đạo Microsoft trong vai trò tổng giám đốc kể từ khi thành lập công ty cùng với ông Paul Allen vào năm 1975 cho đến năm 2000, nhường lại cho ông Steve Ballmer điều hành công ty, trở thành chủ tịch hội đồng quản trị và kiến ​​trúc sư phần mềm chính.

Năm 2008, ông Gates từ bỏ vai trò hàng ngày của mình tại Microsoft để dành nhiều thời gian hơn cho tổ chức phi lợi nhuận Bill and Melinda Gates Foundation.

Năm ngoái, Bill Gates đã từ chức hội đồng quản trị của Microsoft khi dịch bùng phát trên toàn thế giới.

Ông bắt đầu dành nhiều thời gian hơn cho quỹ này cùng với Melinda Gates. Hai người là đồng chủ tịch và là người tín thác của quỹ, được thành lập vào năm 2000.

Bill và Melinda Gates đều làm việc tại Microsoft. Theo hồ sơ trên LinkedIn, bà từng là giám đốc tổng quát của công ty.

Hai người gặp nhau tại một bữa ăn tối dành cho nhân viên của Microsoft vào năm 1987. “Phải mất vài tháng sau đó, anh ấy mới hẹn hò với tôi”, Melinda Gates cho biết.

Họ kết hôn ở Hawaii năm 1994.

– Cặp Bill và Melinda Gates tham dự hội nghị Allen & Company Sun Valley Conference hồi năm 2015. (Hình: Scott Olson/Getty Images)

https://www.cbsnews.com/news/bill-melinda-gates-divorce/

https://www.usatoday.com/…/bill-and-melinda…/4930061001/

Cộng đồng gốc Việt nhìn lại 46 năm ở Mỹ và chia sẻ suy nghĩ của hai thế hệ

Cộng đồng gốc Việt nhìn lại 46 năm ở Mỹ và chia sẻ suy nghĩ của hai thế hệ

May 2, 2021 

Thiện Lê/Người Việt

ORANGE COUNTY, California (NV) – Cộng đồng người Mỹ gốc Việt khắp Hoa Kỳ phải trải qua 46 năm đầy khó khăn để gầy dựng cuộc sống tại một đất nước mới, và đạt được nhiều thành tựu. Để nhìn lại hành trình của cộng đồng gốc Việt, tổ chức Tiếng Nói Người Mỹ Gốc Việt (VVA) mời nhiều đại diện của cộng đồng phát biểu dự cuộc hội thảo trực tuyến qua Zoom hôm Chủ Nhật, 2 Tháng Năm.

Poster của buổi hội thảo. (Hình: Voice of Vietnamese Americans)

Nhờ nghị quyết của Thượng Nghị Sĩ Jim Webb (Dân Chủ-Virginia) và Dân Biểu Joseph Cao Quang Ánh (Cộng Hòa-Louisiana), Quốc Hội Hoa Kỳ công nhận ngày 2 Tháng Năm là “Ngày Người Việt Tị Nạn.” Chính vì vậy, VVA tổ chức buổi hội thảo vào ngày đầy ý nghĩa với cộng đồng gốc Việt.

Buổi hội thảo có sự tham dự của nhiều diễn giả gốc Việt thuộc thế hệ trẻ, và những người thuộc thế hệ đi trước, để chia sẻ suy nghĩ của họ sau khi nhìn lại lịch sử 46 năm của người Việt ở Hoa Kỳ.

Cả hai thế hệ sau đó sẽ cùng nhau đưa ra những giải pháp để giúp cộng đồng dùng những kinh nghiệm trong quá khứ để thăng tiến trong tương lai, và tìm cách hỗ trợ thế hệ trẻ trong giai đoạn kế tiếp của cuộc hành trình.

Mở đầu cuộc hội thảo là Thượng Nghị Sĩ Tim Kaine (Dân Chủ-Virginia) với đôi lời về cộng đồng gốc Việt ở Virginia và khắp Hoa Kỳ.

TNS Tim Kaine phát biểu tại buổi hội thảo. (Hình: Chụp từ màn hình Zoom)

“Người Mỹ gốc Việt là một phần vô giá của tiểu bang Virginia và Hoa Kỳ. Quý vị là chủ doanh nghiệp, là nhân viên ‘tuyến đầu’ ở Arlington, là nhân viên xã hội và lãnh đạo cộng đồng ở Richmond, là cựu quân nhân và giáo viên ở Hampton Roads. Quý vị làm mọi nơi của tiểu bang Virginia tốt đẹp hơn,” Thượng Nghị Sĩ Kaine nói.

Ông còn cho biết sẽ luôn ủng hộ các cộng đồng gốc Á trong thời gian đầy nguy hiểm này vì tình trạng thù ghét người gốc Á đang gia tăng.

Cuối cùng, ông cám ơn cộng đồng gốc Việt đã góp phần lớn cho sự đa văn hóa của tiểu bang Virginia sau 240 năm, và cho rằng đó là một trong những ưu điểm của tiểu bang này.

“Tôi thành thật cám ơn những việc làm của quý vị, và đã cho tôi cơ hội được trò chuyện với mọi người hôm nay. Tôi chúc quý vị nhiều năm thành đạt, có nhiều tiềm năng để cùng nhau xây dựng một đất nước tốt đẹp hơn,” ông nói.

Diễn giả đầu tiên của buổi hội thảo Dân Biểu Liên Bang Stephanie Murphy (Dân Chủ-Florida). Bà là phụ nữ gốc Việt đầu tiên đắc cử dân biểu liên bang vào năm 2016.

Bà Genie Giao Nguyễn, tổng giám đốc của Voice of Vietnamese Americans. (Hình: Chụp từ màn hình Zoom)

Dân Biểu Murphy phát biểu: “Tôi rất cảm kích vì hôm nay có nhiều người tham dự buổi hội thảo để nhìn lại lịch sử của cộng đồng gốc Việt hôm nay. Gia đình tôi chạy khỏi Việt Nam khi tôi còn rất nhỏ, và chiếc thuyền lênh đênh giữa biển. Chúng tôi may mắn được Hải Quân Hoa Kỳ giải cứu và được tị nạn ở Mỹ.”

Bà cho hay cha mẹ mình và nhiều người tị nạn cùng thế hệ không biết tiếng Anh, nhưng bà may mắn học Anh ngữ trong trường. Nhờ sự nuôi nấng của cha mẹ và các cơ hội của xứ sở tự do Hoa Kỳ, bà trở thành phụ nữ gốc Việt đầu tiên đắc cử dân biểu liên bang.

Tuy cộng đồng gốc Việt tìm được may mắn ở Hoa Kỳ, họ phải vượt qua nhiều khó khăn, trong đó có tình trạng kỳ thị người gốc Á gia tăng trong năm 2020 và năm 2021. Vì vậy, bà cho rằng các dân cử phải có biện pháp bảo vệ cộng đồng gốc Á.

Một trong những biện pháp đó là dự luật chống thù ghét người gốc Á, mới được Thượng Viện Hoa Kỳ thông qua. Dân Biểu Stephanie Murphy cho biết bà sẽ ủng hộ dự luật này, và sẽ tìm cách kêu gọi Hạ Viện thông qua.

Sau Dân Biểu Murphy là nhóm dân cử gốc Việt ở nhiều tiểu bang trình bày suy nghĩ và những nỗ lực của họ để giúp đỡ đồng hương khắp nước Mỹ.

Người đầu tiên là ông Dean Trần, cựu thượng nghị sĩ tiểu bang Massachusetts. Ông cho biết chính phủ Hoa Kỳ đang đưa ra nhiều đạo luật có ảnh hưởng không hay đối với cộng đồng gốc Á và người gốc Việt.

Từ trái, Dân Biểu Stephanie Murphy, Dân Biểu Trâm Nguyễn, Dân Biểu Bee Nguyễn, và Dân Biểu Kathy Trần. (Hình: Chụp từ màn hình Zoom)

Một trong những đạo luật đó có “hệ thống chỉ tiêu” của các đại học, giới hạn số sinh viên gốc Á được nhận vào, làm nhiều người mất cơ hội, và gây nhiều trở ngại cho người gốc Việt.

Theo ông, người Việt Nam bỏ quê nhà để tìm đến Hoa Kỳ, để có được tự do, bình đẳng và cơ hội, nên phải đấu tranh để bảo vệ các quyền lợi đó tại quê nhà thứ hai là nước Mỹ.

Một dân cử khác của tiểu bang Massachusetts là Dân Biểu Trâm Nguyễn, đắc cử vào Tháng Mười Một, 2018.

Bà cho biết mục đích theo đuổi chính trị là để kêu gọi cải tiến giáo dục cùng nhiều chính sách giúp đỡ cộng đồng gốc Việt.

Không chỉ vậy, bà còn nói bà muốn thành một tấm gương cho nhiều người trẻ tuổi gốc Á để họ có dũng khí vào chính trường.

Một nữ dân cử gốc Việt khác tham dự buổi hội thảo là Dân Biểu Bee Nguyễn của tiểu bang Georgia, đắc cử năm 2017.

Bà kể lại nhiều khó khăn trong lần đầu tranh cử, ví dụ như tiểu bang Georgia không có nhiều người gốc Á, nên không có nhiều người ủng hộ bà. Sau đó, nhóm vận động của bà phải đi gõ cửa 35,700 căn nhà để trò chuyện với cử tri, và đó là một nỗ lực giúp bà đắc cử.

Theo bà, tiểu bang Georgia chưa có những đạo luật để người gốc Việt và gốc Á có thể dễ dàng bỏ phiếu, nên bà muốn tìm cách giúp đỡ các cộng đồng đó.

Tuy đang lái xe, nhưng Dân Biểu Kathy Trần của tiểu bang Virginia rất sốt sắng tham dự buổi hội thảo của VVA để chia sẻ những thành tựu đã đạt được.

Từ trái, cô Cookie Dương, anh Long Nguyễn, và cô Crysta Trần. (Hình: Chụp từ màn hình Zoom)

Bà cho biết rất vui mừng vì đã giúp tiểu bang mở rộng các dịch vụ bảo hiểm y tế, nhất là trong đại dịch COVID-19 này.

Ngoài ra, bà còn chia sẻ một mục tiêu là có tiếng Việt trong các dịch vụ của tiểu bang.

“Nhiều người gọi điện thoại sẽ nghe ‘Bấm số 1 cho tiếng Anh, số 2 cho tiếng Tây Ban Nha, và số 3 cho ngôn ngữ khác,’ nhưng khi bấm số 3 thì bị cúp máy. Tôi muốn các dịch vụ của tiểu bang có thêm tiếng Việt,” vị dân biểu nói.

Nhiều người gốc Việt trẻ tuổi cũng tham gia buổi hội thảo của VVA để chia sẻ cảm nghĩ về lịch sử của cộng đồng trong 46 năm vừa qua, và nói lên những nỗ lực để hàn gắn cộng đồng, cũng như giúp thế hệ sau thăng tiến.

Những người đó gồm có cô Cookie Dương, sáng lập viên của trang web Người Thông Dịch (The Interpreter), chuyên dịch tin tức tiếng Anh từ các nguồn đáng tin cậy qua tiếng Việt; anh Long Nguyễn, cựu chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam Trung Đại Tây Dương (MAUVSA) năm 2006 đến 2007; và cô Crysta Trần, cựu chủ tịch MAUVSA năm 2016 đến 2017.

Anh Long và cô Crysta chia sẻ nhiều khó khăn để gầy dựng được MAUVSA trong nhiều năm, và cho biết sẽ cố gắng nhiều hơn nữa để giúp đỡ các sinh viên gốc Việt.

Cô Cookie cho biết trang web Người Thông Dịch có mục đích giúp đồng hương vượt qua rào cản ngôn ngữ, và điều đó sẽ giúp thế hệ lớn tuổi với thế hệ trẻ có những cuộc đối thoại tích cực.

Từ trái, cựu Thượng Nghị Sĩ Dean Trần, Luật Sư Steven Điểu, ông Công Xuân Tùng, và ông Vinh Nguyễn. (Hình: Chụp từ màn hình Zoom)

Theo cô, trang web này được thành lập vào Tháng Sáu, 2020, trong lúc cao trào nhất của phong trào biểu tình “Black Lives Matter.” Lúc đó, cô nói chuyện với cha mình về các cuộc biểu tình đó, nhưng gặp trở ngại về ngôn ngữ nên không thể trình bày rõ các suy nghĩ cho ông nghe.

Vì vậy, cô nghĩ “nếu không thuyết phục được cha mình, tôi sẽ thuyết phục người khác,” và cô sáng lập trang web Người Thông Dịch với nhóm thông dịch viên hoàn toàn tự nguyện để đưa tiếng nói của người trẻ tuổi đến với thế hệ cha chú.

Các diễn giả trẻ tuổi đều cho rằng chính trị gây chia rẽ trong các gia đình gốc Việt, và thế hệ trẻ không được phản bác quan điểm của cha mẹ vì truyền thống “cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư.”

Sau đó, các diễn giả thuộc thế hệ trước chia sẻ cảm nghĩ của mình về tình hình chính trị trong cộng đồng gốc Việt, và các nỗ lực của thế hệ trẻ.

Nhóm diễn giả này gồm có ông Vũ Bão Kỳ, đại cử tri của tiểu bang Georgia; Luật Sư Steven Điểu, chủ tịch Cộng Đồng Người Mỹ Gốc Việt Houston và Vùng Phụ Cận; ông Công Xuân Tùng, tổng giám đốc Congero Technology Group; ông Thọ Võ, kỹ sư âm thanh; ông Vinh Nguyễn, chủ tịch West Gate Realty Group; ông Trần Quốc Sĩ; và Tiến Sĩ Nguyễn Quỳnh Tài.

Từ trái, ông Trần Quốc Sĩ, ông Vũ Bão Kỳ, và Tiến Sĩ Nguyễn Quỳnh Tài. (Hình: Chụp từ màn hình Zoom)

Ai trong nhóm diễn giả này cũng công nhận cộng đồng Việt ở Hoa Kỳ có sự chia rẽ vì quan điểm chính trị, và còn cho rằng nhiều người quá mù quáng trong quan điểm của họ vì chỉ bỏ phiếu theo đảng, không cần biết đảng đó có các dự luật và các chính sách mới ra sao.

Không chỉ vậy, họ còn nhấn mạnh đây là Hoa Kỳ, nên thế hệ trẻ có quyền mạnh dạn nói lên quan điểm với cha mẹ, và suy nghĩ “cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư” đã lỗi thời.

Cuối cùng, bà Genie Giao Nguyễn, tổng giám đốc VVA và điều hợp viên buổi hội thảo, cho biết bà rất cảm kích vì có nhiều diễn giả thuộc hai thế hệ tham dự, và hy vọng cả hai thế hệ sẽ tiếp tục cố gắng để hàn gắn cộng đồng, cũng như giúp đỡ nhau trong nhiều năm tới.

Bà Genie cũng hy vọng lịch sử của cộng đồng trong 46 năm vừa qua là một bài học bổ ích cho những thế hệ mai sau. [đ.d.]

***

Liên lạc tác giả: le.thien@nguoi-viet.com

Ranh con VC Dương Đức Thịnh đã giật xé lá Hoàng Kỳ tại Úc

 Hoa Lys  is with Võ HongLy

  03.05.2021

Hôm qua, sau khi đăng clip của tên ranh con VC Dương Đức Thịnh đã giật xé lá Hoàng Kỳ tại Úc thì status này của HL đã bị report. FB đã ngay lập tức xoá clip và bịt miệng ngăn không cho HL đăng bài trong 24h. Dám chơi thì dám chịu thôi và hy vọng tên nhãi con VC vô giáo dục này cũng sẽ dám chơi, dám chịu về hành động phá hoại bỉ ổi này của mình.

Ngày 02/05/2021, chú Paul Huy Nguyen, chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do đã gửi thư đến Hiệu Trưởng trường Trung Học Marrickville yêu cầu Trường có biện pháp với những học sinh nhục mạ Hoàng Kỳ.

Theo tường trình của FB Vi Manh Tran

từ Sydney sáng nay, tên Dương Đức Thịnh, học sinh lớp 3PD English Intensive, tại trường Marrickville, đã chính thức bị 9 cảnh sát đưa về đồn cảnh sát Marrickville để thẩm tra. Hiệu Trưởng Trường Trung Học Marrickville cũng ra quyết định cấm tên Dương Đức Thịnh và một số tên đồng phạm trong nhóm của hắn có mặt tại vụ việc giật xé Hoàng Kỳ không được đến trường.

Sáng 03/05/2021, Trường Trung Học Marrickville cho biết đã nhận được lá thư khiếu nại của Ban Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Tiểu Bang NSW. Bà Bridget là thư ký chánh của Văn Phòng đã xác nhận rằng sự việc trên đã được chuyển giao lên Bộ Giáo Dục thụ lý. Khi được yêu cầu xác nhận việc tên Dương Đức Thịnh đang học trong trường hay không, thì bà đã trả lời rằng: Nếu muốn thâu thập những nguồn tin nào thêm, thì xin hãy liên lạc với Phát Ngôn Nhân Bộ Giáo Dục Tiểu Bang. Theo các nguồn tin ghi nhận được thì Bà Sarah Mitchell Bộ Trường Bộ Giáo Dục tiểu bang NSW cũng đã được báo cáo về sự việc này vào sáng hôm nay.

Vào khoảng giữa trưa ngày 03/05/2021, Chủ Tịch Cộng Người Việt Tự Do tiểu bang NSW là ông Paul Huy Nguyễn cũng đã xác nhận rằng nhân viên cao cấp của Bộ Giáo Dục đang làm việc với ông, và cũng chính viên chức này cho ông Paul Huy biết là Bà Bộ Trưởng Giao Dục sẽ luôn luôn sát cánh với Cộng Đồng Việt Nam trong sự việc này. Viên chức cao cấp này còn hứa sẽ tìm hiểu thêm sự việc với Chánh Hiệu Trưởng Trung Học Marrickville. Không bao lâu sau, Ông Hiệu Trưởng Trường Marrickville đã chính thức liên lạc với ông Paul Huy Nguyễn chủ tịch Công Đồng và xác nhận rằng ông đã am tường sự việc trên, và cho đây là một hành động hình sự, vì thế ông sẽ thông báo cho phía cánh sát Marrickville thụ lý sự việc.

Sau khi bị đưa về đồn cảnh sát để thẩm vấn, tên Dương Đức Thịnh đã xác nhận mình là người đã cướp lá cờ trên cột điện, và cũng chính là người có những từ ngữ khiếm nhã trong đoạn Video được đăng tải trên mạng xã hội. Ngoài ra, Thịnh cũng khai hết những đồng phạm cùng với Thịnh làm điều này. Song song với sự việc trên, trưa nay Hội Đồng Thành Phố sau khi đã thu thập được vật chứng là lá cờ vàng, họ đã liên lạc với Ban Chấp Hành để xác nhận, đây là tài sản trực thuộc của Cộng Đồng, vốn dĩ bị tên Dương Đức Thịnh cướp trên cột điện và đập trên mặt đất.

Theo trình tự, một khi tang chứng và vật chứng đã được cảnh sát thu thập đầy đủ, thì việc khởi tố với tên Dương Đức Thịnh hay không, đó là việc của Ban Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Tiểu Bang NSW. Cách đây vài phút Hiệu Trưởng Trường Trung Học Marrickville đã ra quyết định, cấm tên Dương Đức Thịnh và một số tên đồng phạm không được đến trường trong một thời gian nhất định, thân nhân của các tên này bên Việt Nam sẽ được nhà trường thông báo về lý do cấm không được đến trường. Trong thư, viết cho chúng tôi ông hiệu trưởng cho biết: Đây là một hành động không thể tha thứ được. Một lần nữa, Ban Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Tiểu Bang NSW, đã ghi thêm một điểm son, trong việc bảo vệ danh dự Lá Cờ Vàng.

Trong email phúc đáp cho những cá nhân, tổ chức viết thư cho Trung Học Marickville, nhà trường khẳng định những phát ngôn ghi trong đoạn Video Clip không thể hiện quan điểm của Trường Trung học Marrickville. Việc thúc đẩy sự hiểu biết văn hóa, sự hòa hợp và thiện chí trên tất cả các quốc gia là một phần quan trọng trong tiêu chí giảng dạy của nhà trường. Cảnh sát đã được thông báo về vụ việc và tất cả học sinh liên quan đã bị đình chỉ như một phần của quy trình kỷ luật nghiêm ngặt.

Dù đang sinh sống ở xứ Tự Do, được học ở một ngôi trường khá danh tiếng nhưng những thuận lợi này đã không thể làm thay đổi bản chất vô giáo dục của tên ranh con VC. Điều này càng khẳng định được sự đáng sợ cho một thế hệ lớn lên bị nhồi sọ từ gia đình đến giáo dục trong môi trường XHCN.

Sau mỗi một sự kiện, cộng đồng mạng vẫn luôn là những thám tử tư tài ba nhất. Các cô chú, anh chị em cũng đã tìm ra mẩu tin tìm việc làm của Dương Đức Thịnh đăng tải ngày 06/10/2020, lúc đó Thịnh 17 tuổi. Không biết bây giờ đã đủ 18 tuổi để sẵn sàng bị truy cứu trách nhiệm trước pháp luật chưa ?!

Thích gieo bão thì sẽ gặt bão thôi ! Bài học tuổi trẻ nông nổi, vừa ngu dốt nhưng lại thích tỏ ra nguy hiểm có lẽ sẽ là bài học đáng nhớ nhất trong cuộc đời du học của tên trẻ ranh Thịnh cùng những kẻ đồng phạm và giúp mở mắt những con người chấp nhận bán linh hồn cho quỷ dữ bằng cách tự biến mình thành công cụ giật dây chính trị kiểu này.

Xem lại clip tại đây :

https://youtu.be/G09C9vE0hZE

Một số trang cá nhân của Dương Đức Thịnh :

https://instagram.com/thinhshyn_shyn?igshid=1nwnopxpmr7l

(đã tạm khoá)

https://www.tiktok.com/@thinhshyn_shyn

Trở Về Trên Chuyến Tàu Việt Nam Thương Tín.

*TRUYỆN NGẮN CÓ THẬT … – Nguyễn Ngọc Dung,

Trở Về Trên Chuyến Tàu Việt Nam Thương Tín.

Mùa Xuân đang về, thời tiết lý tưởng, với chồi non, nụ thắm… dễ làm người ta yêu đời hơn.

Ngày dài hơn, nắng vàng của những ngày đầu mùa Xuân làm cho tôi ngồi vào bàn, viết lại một quãng thời gian đầy biến động và thay đổi cho cả gia đình mình. Một công việc đã âm ỉ trong lòng, chưa được viết ra, như một gửi gấm đến các con cháu mình những gì đến với cuộc đời của tôi, và phần nào muốn chia sẻ với các bạn, như một lời tâm tình của một thành viên bé nhỏ trong cái tập thể “vợ những người tù cải tạo” quanh đây.

30 Tháng Tư, 1975, lịch sử Việt Nam sang một trang mới. Tôi lấy chồng trong những ngày cuộc chiến cao độ (1970), chàng là một người lính Hải Quân, nay đây mai đó, lúc ở căn cứ hải quân mãi tận Phú Quốc, lúc đi tàu biển, rồi có khi về ngay bộ tư lệnh Hải Quân Sài Gòn và đơn vị cuối cùng, là giang đoàn ở Đồng Tâm, Mỹ Tho.

Tôi đi học, đi làm và không theo chân anh đi các vùng xa xôi như thế. Ngày 27 Tháng Tư, 1975, anh về thăm tôi 1 chút rồi trở về Long An, lúc đó là nơi anh được huy động về tiếp tay với các bạn giữ vùng 4 sông ngòi. Anh và tôi xa nhau, gặp nhau như chuyện thường ngày của các gia đình quân đội – nhất là hải quân – trong thời chiến, nào có biết rằng cũng là lần cuối gặp nhau mang hình ảnh anh trong bộ quần áo tác chiến hải quân.

Chúng tôi mất liên lạc từ đó, vài ngày sau, với lời tuyên bố đầu hàng sáng 30 Tháng Tư, 1975, tôi biết cuộc đời mình sẽ có những thay đổi rất lớn, mà chẳng biết nó sẽ như thế nào. Tôi chờ anh trở về Sài Gòn, chờ anh về nhà, tuy biết là không thể trở về với chiếc tàu, để đón gia đình hai bên và tôi.

Về sau này, tôi mới biết, giang đoàn của anh được biệt phái từ Đồng Tâm, tới Nhà Bè, rồi về Long An, nằm trong Lực Lượng Đặc Nhiệm 99, gồm rất nhiều tàu bè, một mũi nhọn xung kích mạnh mẽ nhất của Hải Quân miền Nam lúc bấy giờ.

Lực Lượng Đặc Nhiệm 99 được thành lập để bảo vệ an ninh thủy trình sông Soài Rạp và sông Lòng Tào, và bảo vệ chính phủ rút về miền Tây, khi tình thế xấu.

Bến Bạch Đằng quen thuộc, gần nhà bố mẹ tôi, nay đã chẳng còn một chiếc tàu nào mang lá cờ xưa.

Chiều tối hôm 29 Tháng Tư, 1975, tôi cùng đoàn người gần nhà ra bến Bạch Đằng, mong có một cơ may nào lên được sà lan, tàu buôn hay cả ghe nhỏ để cứ đi vào một bến bờ vô định. Đi như trong giấc ngủ vật vờ, đêm xuống, bờ sông hỗn loạn, hàng kẽm gai kéo ngang, họng súng gờm sẵn sàng nhả đạn. Tên anh cũng chẳng ích gì trong việc xin 1 chỗ cho mình tôi lên tàu hải quân, ai thoát được, cứ lạnh lùng bỏ đi.

Thôi rồi, số phận mình ra sao, anh ở đâu và có an toàn?

Một đêm không ngủ nghe tiếng trực thăng bay liên tục, nhìn những chiến hạm không đèn trên sông Sài Gòn, tôi biết mọi hi vọng ra đi đã bị cắt đứt. Đi qua bộ tư lệnh Hải Quân, qua cầu tàu nơi có khi anh chỉ cho tôi, kia là con tàu anh đang làm việc trên đó, nay chỉ là một quãng sông đen ngòm, đe dọa và nhận chìm mọi hi vọng của chúng tôi.

Ngày qua ngày, qua lời 1 anh lính cận kề với anh ở giang đoàn, anh ta về nhà nhưng không muốn gặp mặt tôi, tôi biết anh đã dẫn đoàn ghe ra cửa biển, đón tàu khác để di tản.

Tôi vẫn phải đi làm, sáng ra phải dự các buổi gọi là “giao ban,” gặp tất cả các bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ và ban quân quản bệnh viện. Không khí căm thù bàng bạc suốt buổi, nhiều đe dọa, chúng tôi chỉ biết nhìn nhau, im lặng, vì quanh mình chẳng biết ai là bạn ai là thù.

Bên cạnh đó, những buổi học tập tại chỗ, những bài tự khai thật nặng nề, những câu hỏi mơ hồ khiến câu trả lời nào của chúng tôi cũng không thỏa mãn được họ. Nhất là với tôi, khi tôi khai ông chồng tôi…mất tích… Thì đúng là mất tích chứ sao bây giờ, khi Tháng Năm, Sáu, Bảy, Tám 1975 không biết anh ở đâu. Họ đâu có chịu cho tôi yên với hai chữ mất tích kia, cái mất tích hàm nhiều ý nghĩa…có thể là đã chết, di tản, vô bưng hoạt động chống lại họ, hay trốn ở đâu. Họ bắt tôi lên họp, chỉ một với một, họ hạch hỏi quanh chữ “mất tích.” Tôi cũng hoang mang lắm, không biết anh sống chết thế nào.

Bức màn sắt đã trùm xuống toàn miền Nam, toàn vùng chỉ là đêm đen giữa ban ngày. Chỉ có một đường radio VOA, BBC để biết tin nước ngoài, được nghe trong sự trốn tránh che giấu. Sáng đi làm, nhìn những lá cờ đỏ trên đường, rùng mình như màu máu đang rút dần ra khỏi cơ thể tôi, ngủ dậy mới thấy đã qua được 1 ngày yên ấm, chưa bị bắt như các người lớn trong bệnh viện, nay ông bác sĩ bệnh viện trưởng, mai ông phụ tá hành chánh, mốt ông điều dưỡng trưởng.

Không khí trong bệnh viện đầy đe dọa, dò xét, ngay cả hộp đồ ăn trưa cũng được bà trưởng phòng về tiếp quản, đổ ra ngoài xem có dấu gì trong đó, hay xem bọn “ngụy” ăn uống cao lương mỹ vị gì.

Đến khoảng Tháng Tám 1975, tôi nhận được 1 điện tín gửi từ Pháp, như sau: sẽ hồi hương, cho biết ý kiến.

Bức điện tín ngắn gọn, mà thật là khó giải quyết. Tôi xin ý hai bên cha mẹ. Bố mẹ anh không biết nên bảo anh về lại Việt Nam hay bảo anh qua Mỹ, được sung sướng cho anh, thì lại khổ cho con dâu mà ông bà rất yêu quý. Bố mẹ tôi bảo anh trở về, thì thương anh bị ở tù khổ cực lắm. Ngay bản thân tôi, cũng chẳng biết sao là đúng.

Biết là anh đang rất cần câu trả lời để có quyết định, về hay ở?

Sau cùng, chúng tôi đành đánh điện tín qua: “Tùy ý quyết định.” Những ngày tháng sau đó, tôi sống như một người có tội, tội đẩy anh vào nơi lao lý, biết có ngày về ?

Sau đó các đài phát thanh, VOA, BBC báo tin cho biết sẽ có một chuyến tàu mang tên Việt Nam Thương Tín sẽ đưa một số người muốn hồi hương, khoảng Tháng Mười sẽ trở về. Thuở ấy, sau bức màn sắt là một thế giới khác, bít bùng, mọi tin tức đều không thể đến với người dân. Tôi đi làm, lòng đầy hoang mang, anh có về, nếu anh về, thì có phải ở tù không? Người ở đây, còn vào tù, huống gì người đã đi, nay trở lại, mang theo những câu nghi ngờ về các anh, có phải đã mang về những công việc dọ thám, đánh phá chế độ…

Rồi được tin nghe lén, chiếc tàu mang tên Việt Nam Thương Tín (VNTT) đã chở người di tản dạo 30 Tháng Tư, 1975, nay được dùng để đưa đoàn người hồi hương. Tôi tự hỏi, liệu có anh trong đó, nếu có thì anh sẽ ra sao. Ngay bản thân tôi ở Sài Gòn, còn bị đe dọa đi kinh tế mới, vì đã được đặt tên là vợ của ngụy quân, tội ác đầy mình, cần phải cải tạo cái đầu tư sản bằng con đường lao động.

Hai bàn tay một Nha Sĩ như tôi, thay vì điêu khắc lên miếng trám cho thật đẹp, thật giống những hình dáng thật của răng, nay có lúc phải cầm cuốc đi trồng dứa (thơm) ở nông trường, cầm cuốc trồng khoai mì sau khi đã cuốc hết sân cỏ xanh mướt tốn công biết bao, ở sân trước bệnh viện Chợ Rẫy nổi tiếng ở Sài Gòn.

Có lần chúng tôi phải đi đào kinh, giẫm chân trên dòng kinh lúp xúp nước, chuyền những miếng đất được các vị bác sĩ, các giáo sư đại học Y Khoa Sài Gòn trao cho, để tạo con kênh dẫn nước phèn vào ruộng. Dòng nước váng lên những phèn, cây nào sống nổi. Sau những lần khổ cực như thế, số bác sĩ quyết chí rời bỏ nước lại càng tăng lên. Họ đã không trọng vọng nhân tài, yêu quí những vị “cứu nhân, độ thế.”

Qua những sự việc hàng ngày như thế, tôi đã có thể hình dung cuộc sống trong tù “cải tạo” của các quân nhân chế độ cũ, và nhất là các anh đã về theo chuyến tàu VNTT sẽ khổ như thế nào.

Lá thư anh gửi từ trại tù Tuy Hòa đã xác định, anh đã trở về.

***

Tôi lên phòng nhân viên của bệnh viện tôi làm việc, xin điều chỉnh tình trạng chồng mình. Chữ “mất tích” nay đổi thành một địa chỉ lạ hoắc, ở một nơi rừng sâu núi thẳm nào đó miền Trung. Tưởng rằng đã yên cho mình, tưởng rằng không còn cái cảnh gọi lên làm lại lý lịch tôi đã thuộc lòng, với lời nghi ngờ là ông chồng tôi đang ở một nơi nào, đe dọa đến an ninh của chế độ mới.

Bây giờ họ đem chồng tôi để “dụ” tôi vào một công tác mới. Họ hỏi, tôi có muốn đi thăm nuôi anh, có muốn gặp anh? Dĩ nhiên là tôi muốn lắm chứ, nhưng tôi cũng biết dè chừng cái thâm ý của họ.

Đằng sau cái đề nghị ngọt ngào đó, hẳn là sẽ có điều kiện gì đây?

Thì ra, họ muốn tôi làm một thứ “ăng ten” để tìm hiểu về một nhân vật trong bệnh viện mà họ muốn bắt. Tôi tuy còn non trẻ, nhưng cũng đã biết lưu ý kịp thời, để không mắc mưu họ, giữ an toàn cho người ấy và cả cho mình. Cuộc sống bấy giờ, là một sự đối phó, là những cẩn thận và căng thẳng. Rồi cũng qua ngày, tôi tìm quên trong công việc. Trong bệnh viện, ngày ngày có tin người này đi thoát, bạn khác bị bắt. Tôi đã tìm cho mình một hướng đi, dứt khoát ở lại với anh. Chúng tôi chưa có con, tưởng như không có điều chi ràng buộc, nhưng tình nghĩa vợ chồng sâu nặng, nhất là sự trở về của anh, thì sự dứt khoát kia trở thành một điều không lay chuyển.

Chuyến tàu VNTT về đến hải phận Vũng Tàu từ Tháng Mười, 1975, thế mà chúng tôi chỉ biết đến tin nhau qua vài lá thư, thư đầu tiên từ Tuy Hòa, ngày gửi là Tháng Hai, 1976, thư thứ hai từ Nghệ Tĩnh.

Anh đã bị còng tay, giải đi thật xa, đến một nơi nghèo nhất nước, để đói khát, bệnh tật sẽ giết lần mòn nhóm sĩ quan ưu tú của quân đội. Những lá thư được rập khuôn, vài ba chữ hỏi thăm là đã hết, anh chẳng đả động gì đến chuyện đi thăm, sự cô lập trong rừng sâu, sự cô lập với dân quanh vùng và ghê sợ hơn cả là sự cách chia với gia đình.

Anh sống thế nào nhỉ?

Sự chờ đợi mỏi mòn cho đến cuối năm 1978, anh mới báo tin cho tôi đi thăm nuôi. Hai chữ “thăm nuôi” thật giản dị mà đầy ý nghĩa.

Nghĩa là có hai việc trong lần được gặp này: thăm và nuôi. Anh viết thư về, danh sách các thứ “nuôi” dài thậm thượt, với một người gọi là “khảnh ăn” như anh, mà phải liệt kê bao nhiêu món như thế, chắc chắn anh thiếu thốn ghê gớm.

Quãng đường Hà Nội vào Vinh bằng tàu chợ đã là một ám ảnh tôi cho đến bây giờ, xe lửa cho những con buôn đanh đá, cảnh hỗn loạn cho những tay cướp hoạt động, nơi những tay anh chị và đồng bọn hoành hành với những luật chơi riêng của họ. Những chị đi thăm nuôi cứ chết dí, né tránh và chịu đựng. Nói sao cho hết những nhục nhằn chịu đựng trên đường thăm nuôi.

Lần đầu tiên gặp lại sau 3 năm xa cách, anh đã trở thành một người khác, cả người sưng phù, khuôn mặt giữ nước trông như mập ra, anh như một người khác trong bộ bà ba đen có lần tôi gửi vào theo đường bưu điện.

Vợ chồng nhìn nhau qua 1 chiếc bàn lớn, xa cách như tội nhân. Chúng tôi tội tình gì nhỉ, muốn nói bao điều, mà chỉ nói bằng ánh mắt. Giờ được thăm loáng cái đã hết, chúng tôi bịn rịn, anh ngay đây mà như một người xa lạ, gặp nhau và chia tay, chỉ yên tâm là chúng tôi vẫn còn sống, ngày mai sẽ ra sao, chẳng ai biết.

Anh quay vào trại, sống kiếp tù đày, tôi trở về lại Hà Nội đợi máy bay vào Sài Gòn. Ra đến Hà Nội mới biết các chuyến bay tạm ngưng vì chiến tranh Tháng Mười Hai, 1978 giữa Việt Nam và Cambodia, tôi kẹt ở lại, tôi đánh điện tín về bệnh viện xin nghỉ, họ không tin, cứ nghĩ tôi đã vượt biên. Sau khi có máy bay trở lại, tôi đi làm và đã bị làm khó dễ không ít với sự việc này. Đất nước đã được rêu rao là “thống nhất,” là hạnh phúc, mà sao vẫn sợ dân mình bỏ nước ra đi?

Cuộc sống ngay cả ngoài tù còn đầy rẫy khó khăn, đói ăn, thiếu mặc, thiếu tự do. Thử hỏi trong tù, nhất là người tù luôn kèm theo bốn chữ Việt Nam Thương Tín, thì khổ thế nào. Bốn chữ ấy có nghĩa là luôn nằm trong sự nghi ngờ của chính quyền, sự thương cảm của bạn bè, sự tiếc nuối có khi tức giận của những người đang tìm đường vượt biên. Riêng tôi, bị nhìn như nguyên nhân chính của sự trở về của anh.

Tôi tự giận mình, quyết định để anh trở về, như đang ở thiên đường mà lại xuống địa ngục. Nhiều khi tôi phải tự tìm ra câu trả lời, là, quyết định lúc nào, là đúng nhất vào lúc ấy, không ân hận và không tiếc gì. Hỏi rằng có ai can đảm như anh, biết trở về là tù đày mà chỉ nghĩ đến một ngày sẽ trở về với gia đình và tôi.

Nhiều bạn anh lúc còn ở Guam, đã ngăn anh trở về, nhưng các bạn mạnh miệng vì họ đang ở trong sự đầy đủ của vợ, con, cha mẹ. Anh tâm sự, có những buổi chiều ở Guam, ngồi ở bãi biển, nhìn đôi chim bay cùng nhau trong nắng xế, nhìn người ta bên cạnh vợ con, tuy chưa biết ngày mai nhưng vẫn ánh lên hạnh phúc vui vầy. Anh đã về vì chẳng có ai trong gia đình anh, gia đình tôi di tản được.

Anh ra khỏi tù Tháng Mười, 1982, từ xứ Nghệ Tĩnh rất xa, vào đến miền Nam là cả một lòng thương yêu của dân chúng, họ giúp đỡ, trên đường di chuyển về Sài Gòn. Hai năm sau, chúng tôi có đứa con trai đầu tiên và 3 năm sau, một đứa con trai thứ ra đời khi tôi đã ở tuổi 40. Bạn bè của anh thường lui tới thăm hỏi, nựng nịu hai cháu nhỏ nhất khóa. Chúng tôi muốn sống yên bình, nhưng thấy luôn luôn có những phân biệt, ngăn cản bước tiến của con mình từ phía chính quyền mới. Và năm 1991 bốn người chúng tôi ra đi định cư ở Mỹ trong chương trình H.O., chúng tôi phải làm lại từ đầu, bắt đầu một cuộc đời mới ở một xứ sở mới đã dang tay đón nhận chúng tôi.

Chúng tôi với tuổi thanh xuân, với thời điểm đẹp nhất cho việc tạo dựng một cuộc đời tốt đẹp, lúc ấy, đã bị cướp đi, phải bắt đầu một cuộc đời mới bằng hai bàn tay trắng. Những mất mát ấy, chẳng cách gì lấy lại được. Thật là nhiều thua thiệt, chỉ còn những an ủi là những ngày tháng cuối đời được sống bình an nơi xứ sở này, nơi chúng tôi xin nhận làm quê hương.

Anh đã từ Mỹ, trở về Việt Nam, trải qua 7 năm gian khổ, và 9 năm sau gia đình chúng tôi đã cùng nhau trở lại “thiên đường” tưởng đã đánh mất, sau 19 năm tuổi trẻ, đã qua đi vô ích, tuổi đẹp nhất của một đời người.

Qua những gian khó ban đầu ai cũng phải sống như thế, chúng tôi đã hội nhập được với “dòng chính,” các cháu học hành nên người, cuộc sống không đến nỗi kham khổ.

Để đến bây giờ, chúng tôi vẫn hãnh diện trả lời, “Vâng, chúng tôi là người của chuyến tàu VNTT, con tàu mang tên Định Mệnh, từ Guam trở về Việt Nam Tháng Mười, 1975.”

HÌNH:

– Những ngày tháng yêu nhau…. gặp gỡ nhau trên chiến hạm trước 30-4-1975…

– Phi trường Tân Sơn Nhất, 4 Tháng Bảy, 1991. (Hình: Tác giả cung cấp)

– Tết đầu tiên ở Hoa Kỳ, 1992. (Hình: Tác giả cung cấp)

– Gia đình, năm 2015. (Hình: Tác giả cung cấp)*

NHỮNG NGÀY VUI

Chuong BK  is with Thuy Nguyen

 NHỮNG NGÀY VUI

luật sư Nguyễn Hữu Thụy

(Hình chân dung Pre.75)

Lại sắp đến 30/4 thôi lại nói đến chuyện tù cho hợp thời vụ. Sống trong tù cộng sản , sự tàn bạo kể sao cho xiết, nhưng muốn sống sót nên quên đi những điều mà Việt cộng đặt ra để hành tù mà chỉ nghĩ đến những điều vui tươi cho ngày tù ngắn lại. Những nhân vật tôi nhắc đến ở đây tôi thường kèm chức vụ của những vị này cho khỏi lẫn lộn với người khác, và phần lớn đã ra người thiên cổ nên không đối chứng được, nhưng tôi thề chỉ nói sự thật chỉ sự thật mà thôi, và…như thế là công lý.

Sau ngày 30/4 cộng sản ra thông cáo đi “học tập “ đem tiền ăn trong một tháng. Nhiều người cả tin là sẽ bị giữ trong một tháng rồi ra về. Tôi không tin như vậy vì đây không phải là lần đầu tôi gặp người bạn khó ưa này, cộng sản. Trước đây năm 1953, tôi cũng đã nếm mùi trại tù cải tạo một lần, trong một năm, vì là con điạ chủ. Tại đây tôi đã bị giam chung với một người tù mà sau này lại được ngộ cố tri trong trại tù Long Thành là luật sư Nguyễn Hữu Hiệu.

Ngày đi tù tuy là luật sư, nhưng đã đi lính và mang cấp bậc thiếu tá, thẩm phán quân sự. Tôi có thể nạp mạng với tư cách quân nhân với chức vụ thiếu tá. Tôi cũng có thể trà trộn vào đám tù dân sự với tư cách thẩm phán . Tôi chọn đi tù dân sự để tránh việc có thể những quân nhân trước đây đã chẳng may có dịp đáo tụng đình và đã gặp tôi với tư cách thẩm phán công tố, điều đó sẽ kém vui đi. Do đó tôi trình diện ở trường Gia Long, nơi gặp gỡ của người tù dân sự.

Vào trường Gia Long chúng tôi bị giải đến trại tù Long Thành. Trại tù Long Thành, trước đây là làng cô nhi Long Thành của sư trụ trì tên là Tư Sự. Trước ngày l30/4 không lâu, với tư cách thẩm phán công tố, tôi đã có dịp gặp Tư Sự vì tội hoạt động cho việt cộng và bị tòa án Quân Dự Mặt Trận vùng 3 bắt giữ. Sau này lên Long Thành tôi mới biết Tư Sự là đại tá việt cộng. Tôi muốn tránh gặp lại người cũ nhưng rốt cuộc lại ở nhà người bạn cũ là TS chủ làng cô nhi Long Thành. Cũng may, chắc Tư sự lúc này làm lớn lắm nên chẳng gặp tôi làm gì.

Tại nhà tù Long Thành, đời tôi chưa đến nỗi khắt khe lắm, vẫn còn mang một tên thơ mộng là trường cải tạo 15 NV. Tôi đã gặp cụ Lê Tài Triển , ngày tôi tuyên thệ luật sư thì cụ là Chánh nhất tòa thượng thẩm Sài Gòn, sau này giữ chức vụ gì bên bộ ngoại giao thì tôi không nhớ. Cụ Triển đi lao động vai vác cuốc nhưng vẫn giữ phong thái của một người trí thức chân mang giầy tây và áo bỏ trong quần. Cụ Lưu Đình Việp, Chửơng lý tòa Thượng thẩm Sài Gòn đi tù còn cố mang theo một cái đệm hơi để tối nằm cho êm.

Ngày đi tù, theo sắp xếp, tôi ở đội các thẩm phán. Lúc đó tôi chưa đến tuổi 40, còn trẻ chán, nhưng lại ở tổ toàn những vị cao niên, phần lớn là các vị thẩm phán tối cao. Ngày ngày đi làm vườn cụ Vũ Tiến Tuân chưởng lý tối cao pháp viện, vì đau chân không ngồi xổm để nhổ cỏ được cụ kiếm được một mảnh gỗ làm ghế ngồi. Vì mảnh gỗ này cụ Tuân bị bọn cán bộ quấy rầy hoài , “ đi lao động mà còn ngồi ghế kiểu phong kiến”. Cụ Nguyễn Mạnh Nhu chưởng lý được giao một đàn dê . Lúc nào trong túi cụ cũng chứa đầy đá. Dê chạy nhanh cụ đuổi không kịp nên phải dùng đá ném để gom chúng nó về.

Cụ Phạm Văn Hiền, chánh nhất tòa thượng thẩm Huế, người hiền lành nhưng cũng không kém phần dí dỏm. Một lần tôi đi đổ rác với cụ Rác đựng trên một cái cáng, cụ đi phía trước tôi khiêng phía sau. Tới chỗ rẽ, tôi nhắc, cụ nghiêm nghị quay lại bảo tôi: “ Con đường chính trị tôi có thể lầm, nhưng con đường đổ rác thì tôi biết ông ạ “

Cụ Trịnh Xuân Ngạn người có thể biết thiên kinh vạn quyển, nhưng những chuyện đời thường, rất đời thường thì có khi lại không biết. Một lần cụ hớn hở tìm tôi như Archimede tìm ra sức đẩy của nước và khoe rằng :” Cái dây thép bẻ đi bẻ lại một lúc thì nó gẫy ông ạ .”

Ở tù hơn một năm thì đến tết, tù được thăm nuôi, anh Vũ Mạnh dự thẩm, nhân vật này tôi biết là còn sống vì thấy tên trong hội ái hữu Luật khoa San Jose, có người chú làm tướng việt cộng đến thăm. Tôi thấy anh Mạnh có vẻ chuẩn bị tư tưởng dữ lắm, vì đây là cuộc gặp gỡ của những người từ hai bên chiến tuyến. Từ nhà thăm nuôi trở về, anh Mạnh báo cáo là sau khi hỏi thăm chuyện gia đình, ông chú anh đã nghiêm nghị trách:” Sao nhà cháu đi hết rồi mà cháu còn ở lại đây”

Ở tù thì phải hát những bài của việt cộng. Anh Trần Tấn Toan, Thựơng nghị sĩ, người phụ trách văn nghệ của đội, sáng tác bài “ Giữ vững niềm tin “ và đưa lên ban giám thị trại để kiểm duyệt. Bài hát được chấp nhận, nhưng đội tập tành hát chưa được bao lâu thì có lệnh xuống là cấm hát. Không biết chúng nó giữ vững niềm tin nhưng là tin cái gì tình ai?

Những năm còn đi học, tôi được moị người biết đến với cái tên ông táo trường luật. Năm học sau, mọi người bắt tôi làm ông táo nữa, tôi từ chối, làm mãi cũng nhàm. Tuy nhiên khi đi tù, để giúp vui mọi người đang độ buồn phiền, tôi đành làm Táo hai lần nữa, nhưng những lần sau này, tôi không tự viết sớ táo nữa mà để người khác viết. Tôi chỉ sửa lại cho hợp ý táo thôi. Lần đầu ở trại long Thành do dự thẩm Nguyễn Ý Nhạc viết và lần thứ hai ở trại Quảng Ninh do đại sứ Phạm Trọng Nhân viết. “Những màn trình diễn cũng “ Mua vui cũng được một vài trống canh” ( Nguyễn Du).

Bây giờ đi tù, không phải chỉnh trang sắc đẹp như hồi đi làm nữa, nên tôi để râu dài như ông đạo dừa và lại được anh em đặt cho một tên mới là ông đạo. Một ngày không biết là có đẹp trời hay không, tôi gặp một tên cán bộ có vẻ để ý đến tôi, tôi tránh lối khác, chẳng nên dây với hủi, nhưng y cũng chẳng tha. Y đi nhanh vòng lối khác và chặn lối tôi: “ Để râu chống cộng hả?” thế là y lôi tôi đi cạo bén hàm râu. Râu đi rồi nhưng cái tên ông đạo thì còn, cho đến bây giờ thỉnh thoảng vẫn có người gọi

Sau những buổi học tập chính trị trên hội trường, chúng tôi phải về họp tổ để kiểm điểm và viết bản thu hoạch xem tù học hành như thế nào. Trong chiếu ngồi họp tổ, tôi với Hội thẩm. Dương Thiệu được phân công mỗi người nhìn về một phía làm lính gác bọn cán bộ trại. Chúng tôi ngồi nói chuyện tầm phào nhưng bỗng nhiên thấy hội thẩm Sinh hoặc tôi đổi giọng thì mọi người lập tức chuyển sang chuyện thảo luận chính trị có vẻ hăng say, tạm gác sang bên chuyện trời, trăng , mây , gió.

Ở trại giam Long Thành hơn một năm thì tôi cùng một số lớn tù nhân khác chuyển về Thủ Đức giam trong một trại dành cho các nữ ngày trước. Những nữ phạm nhân ngày trước không còn, nhưng cảnh thì vẫn là cảnh cũ để nhớ lại những ngày còn làm luật sư đi thăm thân chủ ở đây. Tại trại trại Thủ Đức tôi nằm cạnh và ăn chung với hai vị là giáo sư Bùi Từơng Huân tổng trưởng quốc phòng của chính phủ Dương văn Minh và đại sứ Phạm Trọng Nhân, cuối cùng làm giám đốc nghi lễ phủ tổng thống. Những ngày ở Thủ Đức, thức ăn của chúng tôi còn nhiều vì nhà mới thăm nuôi . Hai người ăn chung với tôi đều đã du học ở Pháp nên thời sinh viên đã nấu nướng giỏi lắm, còn tôi ở Việt Nam, cả đời cơm bưng nước rót nên chẳng biết gì. Để người ta nấu ăn cho mình mãi cũng khó coi nên một ngày nọ tôi tình nguyện làm đầu bếp. Các tù nhân nấu ăn trong lon sữa Guigoz. Trại cung cấp một bếp than đá cho tù nhân. Tôi lóng ngóng đặt lon trên bếp. Đồ ăn sôi, nắp lon bật ra, tôi bị phỏng. Thế là từ đó hai vị kia tiếp tục nấu nướng, tôi chỉ có việc ăn thôi. Tôi lẩm bẩm tuyên bố:” Đời tôi chưa bao giờ huy hoàng đến thế, bồi tổng trưởng mà bếp đại sứ.”

Giáo sư Huân đánh cờ tướng cao hơn tôi nhiều. Tôi thuộc loại cờ thấp nhưng không gọi là cờ thấp mà là “ cờ lùn” Tôi vừa đánh cờ vừa lẩm bẩn chọc ghẹo nên giáo sư Huân thua tôi hoài.

Ở trại giam Thủ Đức một thời gian ngắn thì chúng tôi bị lùa xuống hầm tàu Hồng Hà đem ra ngoài Bắc lưu đày. Nơi ở mới là trại giam Quảng Ninh.

Đêm đầu tiên ở trại Quảng Ninh, trại đón tiếp những người tù chính trị mới tới bằng một đêm do đội văn nghệ hình sự, những người tù phụ trách. Chúng tôi mệt mỏi ngồi xem. Một nữ ca sĩ phấn son lên trình bầy bản :” Người ơi xin ở đừng về.” Tù khổ sai biệt xứ mà năn nỉ người ơi xin ở đừng về thì kẹt nhau quá.

Thời gian này là gần tết nên giám thị trại yêu cầu tù làm văn nghệ mừng xuân. Đêm văn nghệ nghe anh Trần Huỳnh Châu tổng thư ký nội bộ nội vụ, chơi mandolin bản The Blue Danube, bọn cán bộ xem ra đã không bằng lòng vì cho là nhạc ngụy, nhưng đến khi nghe trung tá cảnh sát Kiều Đắc Thời, nặng 150 ký trình bày bản “ Bé yêu bác Hồ” tay chấp lên má, đầu nghiêng nghiêng rất là ngây thơ, thì bọn cán bộ không chịu nổi, đuổi tất cả về phòng giam. Vẫn chưa hết, vào phòng giam thấy một bàn bầy biện đàng hoàng, cán bộ lại hét lên :” Ai cho các anh làm bàn thờ tổ quốc trong phòng giam mà lại cắm hoa cứt lợn!” Thế là văn nghệ cũng dẹp mà bàn thờ cũng dẹp luôn.

Hết văn nghệ lại học tập chính trị rồi yêu cầu tù xung phong viết chuyên đề. Trong chuyên đề, việt cộng muốn khai thác và thu lượm những kiến thức của người tù. Tôi tình nguyện viết với đề tài là: Địch muốn gì qua luật người cày có ruộng. Nghe tựa có vẻ kêu nên việt cộng chấp nhận. Tôi chưa bao giờ đọc luật người cày có ruộng, nhưng biết việt cộng dốt nên cứ viết lung tung. Bao nhiêu chữ hóc hiểm nhớ được là tuôn ra hết. Tên cán bộ quản giáo thỉnh thoảng vào đọc và bình phẩm :” sao tôi thấy anh viết văn chương thì rất chải chuốt mà tôi đọc chẳng hiểu gì cả. “ Tôi an ủi:” Đây Là những tài liệu chuyên môn nên cán bộ xem không hiểu, nhưng cán bộ trên bộ nội vụ xuống nghiên cứu thì họ sẽ biết. Tôi nghĩ thầm : tao viết mà còn chẳng biết là tao viết cái gì thì làm sao mày hiểu. Mỗi ngày tôi chỉ viết năm trang chữ to bằng con bò còn dành thì giờ để nghỉ ngơi chứ. Những ngày sau thấy tên cán bộ quản giáo thập thò, tôi dơ tay xin ngòi bút, xin giấy viết. Bị quấy rầy những lần sao y chỉ đứng ở cửa nhìn vào chẳng bao giờ đến tận nơi xem tôi viết lách nữa.

Trốn việc quan đi ở chùa trong việc viết chuyên đề được gần một năm rồi cũng đến lúc bị chúng nó lùa ra ngoài đi làm lao động khổ sai. Ở tù muốn sống sót phải tìm cách làm càng ít càng tốt. Nứơc sông công tù mà. Trồng ngô thì một người đi trước, cầm cọc nhọn chọc một lỗ, người đi sau bỏ một hạt ngô xuống và lấp đất lại. Mỗi lỗ như thế tôi bỏ một nắm ngô cho chống hết. Cuốc đất thì phải cuốc từng lát mỏng mới có thể làm đất mịn để trồng trọt. Mỗi nhát cuốc của tôi chừng hai gang tay cho chóng đạt chỉ tiêu.

Thời gian này tù bắt đầu đói thê thảm. Đói ăn và đói cả thuốc hút nữa. Bây giờ ở đây no đủ rồi, việc bỏ thuốc có vẻ dễ dàng nhưng trong tù thì khó lắm. Đói ăn mà lại đói cả thuốc hút nữa thì chịu không nổi. Riêng tôi đã có lần nhịn cả phần ăn ít ỏi để đổi lấy thuốc hút. Đến giai đoạn này thuốc điếu đã thành xa xỉ phẩm vì thuốc đắt và hút chóng hết nên mọi người chuyển sang hút thuốc lào.

Giường tủ có hai từng, sàn trên và sàn dưới. Tôi nằm ở sàn trên bên dưới là anh Nguyễn Cao Quyền. Anh Quyền góc đại tá quân Pháp nhưng đã sang ngoại giao và nhiệm sở là tòa đại sứ ở anh nhưng tham bằng tiến sĩ nên mò về Việt Nam trình luận án. Kẹt lại đành đi tù với mọi người cho có anh có em. Một đêm thèm thuốc quá mà chẳng còn tí thuốc nào tôi lấy cái điếu cày ra kéo khan một hơi cho đỡ nhớ thuốc. Nghe tiếng điếu kêu lọc sọc anh Quyền ngốc đầu lên :” Có gì vui không toa (toi)”. thấy chẳng có khói và mặt tôi cũng chẳng hấp dẫn gì nên đành buồn rầu nằm xuống.

Mỗi lần có thuốc lào hút , sợ say ngã từ sàn

trên xuống đất có thể vỡ đầu , tôi đều leo xuống ngồi giữa nhà hút. Bao giờ tôi hút cũng có đại sứ Phạm Trọng Nhân đứng canh chừng. Thấy tôi say nằm giữa sàn nhà , có người thương hại chạy lại đỡ dậy vì sợ tôi trúng gió, thì người canh cho tôi cản lại và dõng dạc tuyên bố rằng: “ Hắn đang sướng đừng có đụng vào”

Kỹ sư Dương Kích Nhữơng, tổng trưởng giao thông công chính, cũng đói lắm, đi làm gặp con gì cũng bắt bỏ vào túi áo chờ khi về phòng giam sẽ hóa kiếp cho chúng để thêm thắt vào bữa ăn. Tuy nhiên ngày tổng trưởng rất ham đọc sách về đến phòng giam là chúi mũi vào đọc và đọc. Lũ cóc nhái tự do bò ra khỏi miệng túi áo và nhảy nhót tung tăng.

Tàu cộng và việt cộng chuẩn bị chỏang nhau nên chúng tôi lại được ưu ái chuyển về trại 5 Thanh hóa. Tại Thanh hóa điều kiện sinh hoạt còn tồi tệ hơn nữa nên đã nổ ra một cuộc tuyệt thực toàn trại mà anh bạn đồng nghiệp luật sư Ngô Văn Tiệp đã tường trình. Tôi không được cái hân hạnh ở bộ ba biệt giam “ Lạc, Chí, Tiệp” nhưng cũng được ưu ái xếp vào đội trừng giới.

Chế độ ăn uống của tù chia ra làm ba giai cấp: những người làm vựơt hơn tiêu chuẩn mà việt cộng quy định thì ăn 18kg thực phẩm, người làm mức trung bình 15 ký, còn ở mức kỷ luật là 13 kg. Một lần bị kỷ luật là ăn 13kg trong ba tháng. Tôi là khách hàng hầu như là thường xuyên của cơm kỷ luật. Chẳng phải tôi chống đối gì ghê gớm mà chẳng qua vì chỉ vì vạ miệng. Bọn chỉ điểm thì đội nào cũng có, do cán bộ trại chọn trong số những anh em tù tinh thần bị chao đảo để làm việc cho chúng rồi cài vào mỗi đội để theo dõi và báo cho cán bộ trại. Tôi rất ưu ái được bọn này chiếu cố.

Một lần tôi có lon Guigoz đường bị kiến vào vừa ngồi lắc lon cho kiến đi vừa lẩm bẩm một mình:” bác đang cùng chúng cháu hành quân” thế là đến tai cán bộ trại và lãnh 13kg kỷ lụât.

Một lần khác, tôi làm mấy cái khoen để đêm về có thể mắc mùng ngủ nhanh chóng, khỏi phải buộc dây lôi thôi. Vừa làm vừa nhắc lời “đồng chí “!Lê Duẫn để tự khen mình:” khoa học kĩ thuật là then chốt.” lại đến tai cán bộ trại và lại ăn 13kg

Những chuyện lẩm cẩm như thế xảy ra cho tôi không biết bao nhiêu lần.

Sau bao năm lưu đầy, chuyến xe lửa chở tù xuôi Nam rồi cũng xảy ra. Bọn Việt cộng muốn đưa những bộ xương cách trí từ những nhà tù miền Bắc về Nam cho gần để gia đình tù vỗ béo cho thân nhân tù trước khi thả ra trông cho được một chút. Trong chuyến xe lửa xuôi Nam, những nhân viên hoả xa vẫn phải giữ nét mặt lạnh lùng cho phải phép, nhưng những gói xôi, những trái chuối, những gói thuốc lá đã được kín đáo ném ra cho tù.

Về nam ở trại Long Khánh đời sống dễ chịu hẳn. Gần gia đình nên phần lớn tù được nhà thăm nuôi. Thái độ của bọn cán bộ trại cũng thay đổi hẳn. Chúng nịnh tù để được cho quà. Tên cán bộ trực trại anh em tù gọi đùa là đại tá. Một hôm trời đã khuya mà anh em trong phòng giam còn tụ tập. Tên cán bộ trực trại đứng lại hỏi:” Giờ này mà mấy ông tướng còn thức làm gì đây. “. Trả lời:” đại tá đi chỗ khác chơi, để các tướng làm việc.” Tên cán bộ trực trại bỏ đi, không nói một lời.

Nhốt mãi rồi cũng phải thả. Tôi đã nhận lệnh tha nhưng ngày hôm đó còn chờ cho các đội xuất trại đi lao động rồi mới đến được thả tù. Trong lúc ngồi đợi, tôi lấy đàn ra gẩy từng tưng. Biện lý Nguyễn Hồng Nhuận Tâm đi qua cằn nhằn :” về không lo chuẩn bị về còn ngồi đó mà đàn với địch.

Rồi nhà tù cũng mở cổng cho tôi ra. Tôi lóng ngóng không biết đường về nhà. Gặp được một bà cũng có vẻ đứng tuổi rồi, bụng mang bầu, để hỏi thăm bến xe đò về Sài Gòn. Người chỉ đường cho tôi, gọi tôi bằng bác và xưng con. Mình đã khám phá ra một điều là những năm tù đã biến mình từ một ngừơi trai trẻ thành một ông già.

Từ nhà tù nhỏ sang nhà tù lớn, chuyện quản chế, chuyện công an khu vực, và còn nhiều chuyện vui khác, nhưng đây chỉ nói chuyện tù, nói nữa là lạc đề nên đành chấm dứt.

luật sư Nguyễn Hữu Thụy

From: Truong Le

TIẾNG VIỆT KHÔNG DẤU

  VUI CƯỜI

TIẾNG VIỆT KHÔNG DẤU

Chồng đi công tác, bảo khi nào xong việc sẽ về. Nhưng đã quá 2 ngày như lịch công tác mà anh chàng vẫn mải mê công việc, cô vợ nhắn tin hỏi:

– “Chung nao ve?”.

Anh chồng đang bận, trả lời vội rằng:

– Anh ban lam tinh chieu mai ve.

Đọc xong, cô vợ quáng quàng gọi điện lại bù lu bù loa:

– Anh đi luôn đi, sao số tôi khổ thế này …

Lúc này, anh chàng kia mới biết mình nhầm, hoảng hồn phân bua:

– Anh bận lắm, tính chiều mai về. Thôi, để anh thu xếp, chiều nay về luôn vậy.

********

Ngày lễ 20-11, con trai được nghỉ học về xum họp gia đình. Bố mẹ chờ, chờ mãi chưa thấy nó về, mới sai đứa em gái nhắn tin hỏi:

– “Ve toi dau roi?”.

Thằng con nhắn tin trả lời:

– “Dang mua qua chua ve duoc”.

Đứa em gái nhanh nhảu bảo với bố mẹ:

– Mẹ ơi, anh nói đang mua quà chưa về được.

Chờ mãi tới lúc thằng anh trai về, em gái đon đả:

– Quà em đâu?

– Quà gì? Ai bảo có quà đâu?

– Sao hồi nãy anh nói đang mua quà?

– Tao nói là đang mưa quá, chưa về được.

May be an image of one or more people and text

CẢM NGHĨ TUỔI GÌA

Van Pham

*CẢM NGHĨ TUỔI GÌA…**

*Phỏng dịch từ “How a Man Ages” – Curtis Pesman*

Tất cả chúng ta người trước kẻ sau ai rồi cũng phải già. Làm sao tránh được! Ðã có “sinh” là có “lão”. Một giai đoạn tất yếu của cuộc sống.

Nếu ngày đầu tiên mình sinh ra mà đã biết nghe, biết nói, nếu có ai bảo rằng mỗi ngày mình lớn lên là một ngày mình sẽ già đi, và tiến dần về cõi chết, chắc chắn là mình đã không tin…

Nếu bỏ qua các giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi 20 đến tuổi 60 mà chỉ so sánh một người đã quá 60 với thời anh mới 20 tuổi, thì theo Curtis Pesman, tác giả cuốn  “How a Man Ages” ta có thể ghi nhận những thay đổi như sau:

  • Da mỏng hơn và chùng xuống, độ co giản của da càng ngày càng giảm sút, và qua nhiều năm tháng biểu lộ vui, buồn, sướng, khổ, những nét nhãn trên mặt đã hằn sâu và lớn.
  • Tóc bạc, thưa, và nhẹ hơn, đường kính của tóc chỉ còn 86 microns (1 phần triệu của 1m) so với 101 microns hồi 20 tuổi.
  • Hai tròng mắt bị co lại, mức độ ánh sáng vào đến võng mạc giảm đi, khó phân biệt được sự vật trong tối, do đó mà khi đọc cần phải có ánh sáng đủ.
  • Tai không còn nghe được tiếng động trên tầm 10,000 hertz, như tiếng hót của chim, vì chức năng chuyển thể độ rung từ tai ngoài vào tai trong đã suy thoái.
  • Men răng càng ngày càng mòn dần vì quá trình nhai, nghiến, trong khi đó lợi răng co rút lại làm lộ rõ khoảng trống giữa các chân răng.
  • Xương mất dần calcium, trở nên xốp, dòn, dễ gãy, lớp sụn ở các đầu khớp không còn nguyên vẹn, chất nhờn giữa các khớp khô đi, sinh ra di chuyển chậm, khó khăn.
  • Tim không còn bơm đủ máu ra khắp châu thân, một phần do cholesterol đóng dày trên thành động mạch nên tim phải hoạt động nhiều hơn mới bơm được máu đi.
  • Các cơ bắp làm cho phổi hoạt ðộng bình thường suy yếu dần, độ co giản của lồng ngực yếu đi, làm cho lượng dưỡng khí hít vào chỉ còn bằng một nửa thời 20 tuổi.
  • Trọng lượng của thận giảm từ 20% ðến 30%, sức lọc chất thải của thận chỉ bằng nửa hồi trẻ, và sức chứa của bọng đái cũng chỉ còn chừng một nửa (8 fluid ounces, khoảng non 230cl).
  • Với năm tháng qua đi, khối não cũng rút nhỏ lại và giảm trọng luợng, hàng tỷ tế bào não bị mất đi, trí nhớ bị giảm sút…

Hiểu được lẽ vô thường của cuộc đời, sẽ thấy quyền lực, danh xưng cũng chỉ là những ảo vọng mà thôi, chỉ lôi cuốn con người vào vòng tục lụy không lối thoát.

Cuộc đời ngắn ngủi quá, sự sống và cái chết chỉ cách nhau bằng một hơi thở. Cái lằn ranh vô hình đó ai cũng biết nhưng được bao nhiêu người tỉnh thức?

Hôm nay ta còn sống, còn nói cười, còn nghĩ mình cứ sống mãi, sống hoài để tận hưởng những lạc thú của trần gian, để hơn thua, vênh váo, được mất với đời. Nhưng khi nhắm mắt rồi, cát bụi lại trở về với cát bụi hư vô:

*Khi đôi mắt nhắm nghiền và đôi tay lạnh ngắt

Quả tim không chuyển nổi máu tươi hồng

Thì danh vọng phải trả về cho sắc sắc

Thì bạc tiền đành hoãn lại chốn không không…

Những ân ái, hận thù và mưu chước

Những thăng trầm vinh nhục cũng luôn trôi.*

THÁNG 5 LÀ THÁNG HOA DÂNG KÍNH MẸ MARIA

 THÁNG 5 LÀ THÁNG HOA DÂNG KÍNH MẸ MARIA

Trong số vô vàn cách tỏ bày lòng tôn kính đối với Đức Mẹ nơi con dân Nước Việt, thì lòng đạo đức bình dân như: dâng hoa kính mẹ; rước kiệu Mẹ; lần chuỗi Mân Côi; rồi những bài thánh ca hết sức dễ thương được cất lên để tôn vinh Mẹ là Nữ Vương Thiên Quốc.

Những lúc gian nan nguy khốn cũng như khi được an bình hạnh phúc, chúng ta luôn biết chạy đến cùng Mẹ để được an ủi, vỗ về, che chở và dâng lời cảm tạ.

Hơn 90 người nhồi nhét trong căn nhà ở Houston, nghi di dân lậu

Hơn 90 người nhồi nhét trong căn nhà ở Houston, nghi di dân lậu

HOUSTON, Texas (NV) – Cảnh sát Houston trong lúc điều tra vụ bắt cóc tìm thấy hơn 90 người nhồi nhét trong căn nhà hai tầng, và các giới chức cho hay đây có thể là đường dây di cư lậu, theo CNN hôm Thứ Sáu, 30 Tháng Tư.

Được lệnh lục soát, cảnh sát đến căn nhà này sau khi nhận được tin báo có người bị bắt cóc tối Thứ Năm, ông Daryn Edwards, phụ tá cảnh sát trưởng Houston, cho hay trong buổi họp báo hôm Thứ Sáu.

Nhân viên cấp cứu đưa một người lên xe cứu thương hôm Thứ Sáu, 30 Tháng Tư, từ căn nhà nghi chứa hơn 90 di dân lậu ở Houston, Texas. (Hình: Godofredo A. Vásquez/Houston Chronicle via AP)

Lúc đó, trong nhà có hơn 90 người không có giấy tờ tùy thân.

“Chắc chắn là di dân lậu chứ không phải buôn người,” ông cho biết thêm.

Người trẻ nhất trong căn nhà ở độ tuổi 20, theo ông Edwards. Chỉ có năm người là nam, ông cho hay.

Vì vài người có triệu chứng giống COVID-19, như mất vị giác và khứu giác, nên nhóm này đang bị giữ yên trong nhà để chờ thử COVID-19.

Cảnh sát đem thức ăn, nước uống cho họ, vì họ cho hay lâu rồi chưa được ăn uống.

Cơ Quan Điều Tra Nội An (HIS) thuộc Bộ Nội An sẽ phụ trách điều tra vụ này.

Hiện không có thông tin gì về chủ nhân căn nhà, cũng như ai đã đưa nhóm này tới đây, theo ông Edwards.

Hàng xóm không báo cáo bất kỳ hoạt động khả nghi nào, và cảnh sát không công bố chi tiết vụ báo cáo bắt cóc giúp tìm thấy nhóm này.

“Chúng tôi luôn kêu gọi cộng đồng báo cáo nếu thấy điều gì khả nghi… Tất cả chúng ta cần hợp tác với nhau,” ông Edwards nói. “Đây không phải chuyện xảy ra thường xuyên nhưng đáng lo ngại.” (Th.Long) [qd]

Dân tộc Việt Nam ‘còn đang ở tuổi trẻ con chờ lớn & trưởng thành’

May be an image of 6 people and people standing

Dân tộc Việt Nam ‘còn đang ở tuổi trẻ con chờ lớn & trưởng thành’

“Dân hai lăm triệu ai người lớn.

Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con”

Năm 1916 Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu viết bài thơ ngắn “Bính Thìn Xuân Cảm,” trong đó có hai câu lừng danh nêu trên.

Hơn 100 năm sau, cho đến ngày hôm nay, 2021, nhìn vào con người, chính thể và văn hóa Việt Nam tổng quan, chúng ta nên tự vấn, Nước và Dân ta đã hết trẻ con chưa?

Theo tôi, câu trả lời là Chưa.

Dân ta, như là một khối nhân loại trên trường tiến hóa tâm thức, vẫn còn mang nặng bản chất trẻ con. Dù có lớn lên chút ít, nhưng tựu chung thì Việt Nam vẫn còn đang ở trong giai thời thiếu niên, và chưa thực sự trưởng thành.

Từ bản sắc Sử tính sợ hãi ‘the unknown’

Từ trong chiều dài Sử tính Việt, mặc cảm tự ty của một tâm thức nô lệ của dân tộc nầy đã biến hóa ra thành nhiều dạng thức mà bản chất vẫn là phủ định, tiêu cực. Lòng hận thù và sợ hãi ngoại bang là động cơ chính cho lòng yêu nước, rồi thành chủ nghĩa yêu nước, thứ dừng lại ở ý thức hệ quốc gia – rồi trở thành một tôn giáo, một giáo điều. Những lễ lạt ‘về cội nguồn’ ngày càng rầm rộ gần đây là một bằng chứng.

Tổ quốc trở thành thần linh – một sự hình thành ý thức dân tộc gần giống như là của dân Do Thái khi họ tự coi nòi giống họ, đất nước họ là con và của riêng Chúa Trời.

Có hai hình thái chủ nhân, masters, của dân Việt vốn phát xuất từ tâm thức nô lệ. Về địa lý chính trị thì ông chủ là Trung Hoa; về sinh mệnh và biến cố thì chủ thể là số Trời. Tinh hoa Sử tính Việt là của một năng ý phủ định và vươn thoát hai ông chủ khắc nghiệt đó nhằm kiến tạo cho chính mình một Sử Mệnh mới.

Qua chiều dài Sử tính khắc nghiệt đó, và vì mang tâm thức thuần phủ định trong lòng yêu nước – đối với ngoại bang – Sử tính Việt thiếu hẳn đi một năng ý tích cực và tự tin cần thiết.

Tính tích cực nội tại vốn đòi hỏi mỗi con dân Việt phải tự mình chuyển hóa chính mình, đứng dậy mà trưởng thành và lớn lao lên trên cơ bản cá nhân – để từ đó xây dựng quốc gia trên nền tảng định chế đại thể và giá trị nội tại cho nhu cầu bảo vệ tổ quốc đồng thời đưa đất nước lên đến một tầm mức tiến hoá cao hơn theo nhịp trống thời đại.

Sự khiếm khuyết của một bản sắc tích cực trong năng thức Việt đã tạo ra một lịch sử hiện thân cho khuyết điểm này. Điều nặng nề là tâm ý Việt vừa sợ và vừa thần phục Trung Hoa – và sau này cũng như thế đối với Pháp và các cường quốc Âu Mỹ. Ta luôn đối đãi với Trung Quốc và Âu Mỹ với một tâm thức nô lệ – vừa tự ty mặc cảm đồng thời hãnh diện bất khuất, vừa thần phục nhưng ghét bỏ.

Từ mặc cảm tự ty và bất an, cái Ta của người Việt, khi đặt trước Văn minh Trung Hoa, nhìn ra đại dương ta thấy nó là một giới hạn. Trong khi đó, người Tây Âu cũng nhìn ra đại dương và đã thấy nó là cơ hội. Vì cái Ta dân tộc nầy, nước nhược tiểu, chưa bao giờ có khả năng lớn mạnh đủ để thử thách cơn sóng lớn của biển khơi, để đứng ngang hàng với các cường quốc khác.

Cũng đã có vài lần trong chiến sử, các hạm đội của hải quân Việt Nam đã chứng tỏ một sức mạnh ấn tượng – như thời Nguyễn Ánh – nhưng tất cả cũng chỉ vừa đủ cho nhu cầu chiến tranh ngắn hạn, chứ chưa hề là hiện thân cho một ý chí thử thách đại dương và làm chủ lãnh hải.

Cho đến sau 1975, từ cao trào vượt biển tỵ nạn thì lần đầu dân Việt mới ít nhiều vượt qua tâm lý sợ hãi và tiêu cực đối với đại dương. Nhưng nên nhớ rằng, phần lớn người Việt vượt biển lúc đó đã biết hành trình sẽ đến nơi nào – chứ không như người Tây Âu nhiều thế kỷ trước, khi lên tàu bước ra khơi họ – dân TâyBan Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Hà Lan… đã không biết là đại dương như thế nào và sẽ đi về đâu. Thử thách cái không biết đến, the unknown, vẫn là sức mạnh của người Tây Âu. Cho ý chí và tinh thần thử thách tương lai thì dân Việt vẫn còn yếu kém.

Thiếu sáng tạo và lười biếng về tư duy

Tiếp theo, từ trong tâm thức tiêu cực và chấp nhận, văn hóa Việt gần như hoàn toàn là một văn hóa trích mượn – a derivative culture. Nó thể hiện tâm chất bất an và thiếu tự tin. Do đó, họ vừa cực đoan và vừa nhu nhược. Như tôi thấy trong cộng đồng người Việt ở Mỹ rất nhiều vụ việc hễ người khác xúc phạm người Việt thì chúng ta phản ứng mạnh mẽ cao độ. Nhưng chỉ cần một thế hệ, hầu hết con cháu ta đã từ bỏ, hoặc không màng gì đến những bản sắc văn hóa Việt.

Dân Việt nói chung rất thiếu tự tin về nguồn gốc dân tộc mình. Không như dân Ấn Độ hay gốc Hoa ở Mỹ đến mấy thế hệ vẫn còn sử dụng một cách tốt và hãnh diện ngôn ngữ, y phục, phong hóa tập thể trong cộng đồng họ. Trong khi đó, chỉ cần hai thập niên thì người Việt gần như từ bỏ bản sắc gốc gác của họ. Từ ngôn ngữ, cách đặt tên cho con, từ cách nhuộm tóc hoe vàng cho đến cung cách văn hóa tập thể, cái Ta của người Việt ở hải ngoại là hiện thân của hai mặt tiêu cực từ một tâm thức bất an và nô lệ đó. Tất cả đều có nguồn gốc từ Sử tính Việt như đã trình bày ở trên.

Hãy nhìn vào thế giới tri thức. Người cầm bút Việt Nam hầu như chỉ có làm được ba chuyện: làm thơ, viết truyện ngắn, và dịch thuật sách ngoại ngữ. Ngay cả về văn chương, văn sĩ Việt vẫn không có khả năng viết chuyện dài, hay trường thiên tiểu thuyết. Trí thức Việt không có ý chí đại thể lớn lao về năng lực tri thức. Họ không có đủ tự tin – dù rất có thể là về khả năng thì họ có đủ – để sáng tạo lý thuyết, triết học cho mình.

Giáo dục Việt Nam

Bệnh bằng cấp dẫn tới nạn thi cử và gian lận thi: Họp báo về ‘kết quả thi bất thường’ tại tỉnh Hà Giang hồi năm 2018

Hơn nữa, trí thức Việt mang bệnh lười biếng suy nghĩ sáng tạo. Họ nỗ lực cao độ – nhưng phải dựa vào một nội dung có sẵn. Vì vậy, họ chỉ thích dịch sách mà thôi. Vì công việc phiên dịch, chuyển ngữ, họ không cần suy nghĩ về khái niệm, về ý tưởng, về cấu trúc bố cục cho sách. Họ ưa tranh luận về câu văn, cụm từ nào đó có dịch cho đúng với ý nghĩa theo văn bản tiếng ngoại quốc hay không. Họ không bàn đến ý nghĩa của khái niệm hay lý thuyết. Họ chỉ muốn tranh cãi về những tiểu tiết – the trivial facts – vốn chỉ là vay mượn.

Hoang tưởng văn hóa và giấc mơ cường quốc… buôn đất

Tâm ý Việt mang nội dung bất an của một dân tộc, vừa hãnh tiến nhưng đồng thời cũng không đủ tự tin về văn hóa của mình. Từ đó, vì thiếu chiều dày tích lũy giá trị của một nền văn minh có chiều sâu, trí thức Việt mang ý chí huyền thoại hóa lịch sử dân tộc và sáng tác ra những câu chuyện văn hóa Việt cổ đại huyễn hoặc để tự phong cho dân Việt là tác giả của những nguồn mạch văn hóa lớn – chứ không phải của Trung quốc.

Hai vị trí thức đáng kính gần đây, Kim Định và Lê Mạnh Thát, là biểu trưng cho năng ý huyền thoại hóa văn hóa Việt nầy.

Về chính trị địa lý thì giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay, than ôi, vẫn mang điều hoang tưởng về khả thể cường quốc – một “tiểu Trung Hoa” theo mô hình xã hội chủ nghĩa mơ hồ, ‘vì lý tưởng XHCN’ bền hơn ở quê hương của nó. Họ thực ra bị chi phối bởi tầm nhìn ngắn hạn và thực dụng.

Sự loay hoay giữ hoang tưởng vĩ cuồng cho quốc gia trung thành với ý thức hệ Marx-Lenin đã bị châu Âu đào thải đang gây mâu thuẫn trầm trọng với khả năng kinh tế và chính trị của thể chế cũng như của giới doanh nhân Việt.

Hãy nhìn đến nguồn gốc của sự giàu có của giới đại gia Việt – hầu hết, gần như tuyệt đối, là nhờ kinh doanh bất động sản.

Hãy thử đi ngang qua những khu chung cư cao tầng ở Hà Nội hay Sài Gòn, ta sẽ thấy một quang cảnh phát triển phố thị vô lý – và nhất là phản cảm, thiếu thẩm mỹ. Từ đường Nguyễn Hữu Cảnh ở Sài Gòn, khi nhìn vào khu chung cư cao tầng Central Park, ta sẽ rùng mình bởi một cảnh tượng xây cất mang sắc thái hiếp đáp hồn người. Quang cảnh phố thị với những nhà cao tầng thiếu thẩm mỹ đã triệt tiêu cái đẹp của tâm hồn người phố thị.

Ở Sài Gòn hiện nay, hầu hết các dự án căn hộ cao cấp đều dành cho giới siêu giàu để họ đầu cơ với chính sách thuế khóa vô lý, phản tiến bộ – trong khi giới trung lưu (tương lai của dân chủ) và nghèo khó đang đối mặt với khủng hoảng gia cư trầm trọng.

Mặc cảm quốc tế và nhu cầu trưởng thành

Vậy hôm nay chúng ta đang ở đâu trên Trái Đất này?

Nhìn lại, ý chí Sử tính quốc gia trước Trung Hoa, và sau là đứng trước Âu Mỹ, hệ thống chính trị Việt Nam muốn được coi trọng và công nhận một cách chính thức, nhưng thiếu dũng cảm để tạo vị thế mà không cầu xin.

Sau khi đánh đuổi được quân xâm lăng Hán, Nguyên, Minh, Thanh các vua chúa Việt Nam phải cử sứ thần sang Trung Hoa để triều cống và xin được phong vương vị.

Về chiến thuật, dĩ nhiên, đó là công việc ngoại giao mềm mỏng, ổn định quan hệ quốc tế với đại cường để phục hồi và xây dựng sau chiến tranh.

Nguyễn Trãi là một trường hợp điển hình. Dù là tác giả của Bình Ngô Đại Cáo oai phong, tuyệt vời cả về văn ngữ lẫn tinh thần nội dung, nhưng khi đọc Trung Quân Từ Mệnh Tập mà Nguyễn Trãi đã viết thay mặt Lê Lợi gởi cho nhà Minh, chúng ta cũng không khỏi ngậm ngùi cảm nhận được cái nhục nhã, cái thái độ khom mình cúi đầu thần phục đối với phương Bắc. Thế nhưng dần dần chiến thuật nhún nhường cần thiết với nghi thức phong kiến và ngôn ngữ của kẻ yếu đã trở nên một bản chất cá tính của tầng lớp chính trị Việt.

Bản sắc cá tánh muốn được công nhận ảo này còn thành ‘yếu tố di truyền’ trong văn hóa bằng cấp, học hàm, học vị của người Việt. Với truyền thống thi đỗ thì được làm quan để cho cả họ được nhờ, học vị khoa bảng đã trở thành chìa khóa cho thực tại tiến thân trong xã hội – cũng như cho tâm ý được coi trọng và công nhận giá trị nhân bản bởi tha nhân và đại thể khách quan.

Ta chỉ là một công dân khi được có bằng cấp, hay chức vị trong triều đình. Ta chỉ hiện hữu khi Ta được công nhận bởi tha nhân. Từ đó, cái Ta được định hình bằng cái không-Ta, mà bản chất là một biện chứng tiêu cực có gốc rễ từ một tâm ý nô lệ. Bệnh cầu cạnh khoa bảng danh vọng còn đang rất thịnh hành trong xã hội Việt Nam hiện nay.

Vì sao cần được công nhận? Vì mang tâm thức học trò, muốn được khen.

Bạn hãy suy ngẫm về kinh nghiệm bản thân khi tiếp xúc, giao tiếp, làm ăn, sinh hoạt với người Việt ta. Không ít người lớn tuổi, bằng cấp học vị, học hàm, chức vụ, nghề nghiệp, kể cả giới tu sĩ các tôn giáo hay lãnh đạo chính trị, nhà nước, trong hay ngoài nước, vẫn mang tính tình niên thiếu.

Nếu có dịp giao tiếp, làm việc với người Âu Mỹ bạn sẽ thấy rằng họ – người phương Tây – chững chạc, trưởng thành, có chính kiến hơn chúng ta nhiều, kể cả khi họ không có bằng cấp cao, hay khi còn rất trẻ tuổi. Dĩ nhiên là cũng có những thành phần quần chúng lao động Mỹ chẳng hạn vẫn còn mang nặng tính tình trẻ con. Thế nhưng tôi dám nói rằng nhìn tổng thể, đại đa số dân Việt khắp thế giới, vẫn là một tập thể chưa chín chắn, rất bồng bột, hơi ngây thơ và nhiều hoang tưởng.

Nhìn vào các cộng đồng mạng xã hội mấy năm nay ta thấy cái tệ hại của sự thiếu trưởng thành và tính trẻ con thích cãi lộn. Có người đã nhận xét rằng hãy lên Facebook để thấy cái bản mặt xấu xí của dân Việt – the truly ugly side of Vietnameseness – với tính tình nặng chất trẻ con của họ là như thế nào.

Từ đó, người Việt, tuy là trẻ con – và cũng vì thế – không thể ngồi chung, làm việc với nhau trên bình diện dân sự. Nguyên do chính là vì dân ta thiếu vắng văn hóa cộng đồng. Người Việt không thể thành lập hội đoàn dân sự vững mạnh, lâu dài, uy tín. Hầu hết các tổ chức tự nguyện người Việt khắp thế giới đều tự tan rã vì không ai chịu ai.

tranh cổ động

Tranh cổ động cố tạo ra hình ảnh toàn XH VN đi theo Đảng CS theo vă hóa tập thể một cách vui mừng, hớn hở nên phi thực

Hệ quả là đến nay, nền văn hóa tập thể của Đảng Cộng Sản Việt Nam – ít nhất là trong nước – hình như là câu trả lời đương nhiên cho sự khiếm khuyết của chất keo văn hóa dân sự và công dân Việt.

Điều cần thiết, theo thiển ý của tôi, là dân Việt ta, nhất là giới trí thức, nay nên tự vấn, nhìn lại chính mình, để can đảm nhận ra những khiếm khuyết – cả về tri thức lẫn tính tình – nhằm tu sửa trên cả bình diện cá nhân lẫn văn hóa, lề lối giao tiếp xã hội.

Nếu không, chẳng lẽ hơn trăm năm sau, nay ta lại phải ngâm tiếp bài thơ đó của Tản Đà, “Cám cảnh khói cây mờ mịt biển. Lo đời sương tuyết bạc đầu non”?

– Học sinh lớp sáu tại lễ khai giảng ở Hà Nội

– Bệnh bằng cấp dẫn tới nạn thi cử và gian lận thi: Họp báo về ‘kết quả thi bất thường’ tại tỉnh Hà Giang hồi năm 2018

– Tranh cổ động cố tạo ra hình ảnh toàn XH VN đi theo Đảng CS theo vă hóa tập thể một cách vui mừng, hớn hở nên phi thực