COVID-19 ĐANG TẤN CÔNG VÀO GÓT CHÂN ACHILLES CỦA THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ TRUNG QUỐC

Lê Vi

COVID-19 ĐANG TẤN CÔNG VÀO GÓT CHÂN ACHILLES CỦA THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ TRUNG QUỐC

– Trần Huỳnh Duy Thức

Các thư con viết hồi 2018 nhận định rằng phong trào bất tín nhiệm Trung Quốc sẽ lên tới đỉnh điểm trong vòng 2 năm tới. Giờ điều này đang xảy ra. Nhưng đây không phải lời tiên tri, mà là dự đoán dựa theo quy luật. Lý thuyết dựa trên quy luật của con rất đơn giản: sự giả dối không thể tồn tại lâu dài, các thể chế dựa trên dối trá sẽ dụp đổ ngay khi nào năng lực nắm bắt sự thật của con người vượt qua năng lực bưng bít dối trá. Mà dối trá là cách thức không thể thiếu của các chế độ độc tài tới mức mà họ coi nó là tính cách thanh cao, “vì con người, vì bá tính” của mình. Nhờ vậy mà họ có thể nói dối với một thái độ bình thản và tự hào vì đã vượt lên được những “sự thật gây bất lợi cho dân chúng”. Hai năm trước con không biết sẽ có Covid-19 nhưng con biết được năng lực nắm bắt sự thật của nhân loại đang gia tăng nhanh. Những vấn nạn tin giả mấy năm qua một phần cho thấy sự gia tăng của năng lực này. Người ta phản ứng với tin giả vì đã nhận thấy được cái giá của nó. Nhiều năm trước đây, cái giả cứ ngang nhiên tồn tại và hoành hành, thậm chí là cầm quyền và giảng rao đạo đức tốt đẹp mà vẫn chẳng mấy bị phản ứng. Vấn nạn tin giả hiện nay cũng cho thấy còn rất nhiều người trên thế giới, ở cả những nước tiến bộ, có năng lực nắm bắt sự thật còn thấp. Vì vậy nó cần được giải quyết từ gốc là giáo dục từ nhỏ và khai dân trí. Các biện pháp trước mắt bằng ngăn cản dù là cần thiết nhưng không căn cơ.

Covid-19 đang tấn công vào gót chân Achilles của thể chế chính trị Trung Quốc – sự giả dối. Nhưng có lẽ họ vẫn còn tin vào sức mạnh của cách thức giả dối lâu nay, vẫn tự tin với năng lực bưng bít sự thật với hơn 1 tỷ dân trong mấy chục năm qua. Nếu vậy thì thật là không may cho họ. Cách duy nhất để tồn tại trước sự tấn công của năng lượng Dòng chảy thời đại là thuận theo Dòng mà thay đổi cho phù hợp với thời đại. Mọi sự kháng cự đi ngược Dòng đều thất bại, càng hung hăng thì thất bại sẽ càng thảm khốc, như Đức và Nhật vào Thế chiến II vậy. Nhưng đây cũng là nguy cơ đe dọa hòa bình thế giới, còn hơn là Thế chiến II.

Trong thư 115A viết hồi tháng 6 – 2018 về chiến tranh thương mại Mỹ – TQ, con đã nói rằng nhân loại nên ủng hộ cuộc chiến này vì nó thay cho một cuộc đại chiến quân sự thảm khốc để sắp xếp lại trật tự thế giới. Chiến tranh thương mại sẽ dẫn đến những cuộc đấu phân định về dân chủ, QUYỀN CON NGƯỜI, loại trừ độc tài để thế giới phát triển cân bằng và công bằng hơn. Dường như Trung Quốc đang muốn tránh chiến tranh thương mại và cái cuộc đấu QUYỀN CON NGƯỜI mà họ thấy trước là không thể thắng để chuyển hướng sang một cuộc đối đầu quân sự phân định thắng bại. Vì thế mà ngay vào lúc Mỹ và rất nhiều nước đang chật vật đối phó với dịch Covid-19 thì Trung Quốc tăng cường các hoạt động quân sự theo kiểu thực chiến với mức độ chưa từng có trên Biển Đông và Biển Hoa Đông. Một khi Trung Quốc xác lập được lợi thế quân sự vượt trội ở khu vực này thì họ sẽ “tiên hạ thủ vi cường” và chiến tranh sẽ nổ ra. Những ai còn tin vào sự trỗi dậy hòa bình, vào những hứa hẹn đạo đức của chính quyền Trung Quốc lâu nay thì sẽ phải trả giá đắt. Nguy hại hơn, chiến tranh đẫm máu dù được phát nổ bởi ý muốn chủ quan của con người nhưng kỳ thực ý muốn đó chỉ là sự thể hiện cuối cùng của một chuỗi các biến cố theo tiến trình của quy luật dẫn đến chiến tranh. Con người đã biết đến quy luật này từ thời cổ đại qua Học thuyết Thucydides – tên một người Hy Lạp đã chỉ ra quy luật này: khi một thế lực quốc gia nổi lên muốn sắp đặt lại trật tự thế giới thì chiến tranh lớn sẽ nổ ra. Điều này đã đúng trong hầu hết lịch sử của các cuộc chiến khốc liệt trên thế giới. Những gì Trung Quốc đã làm trong mấy chục năm qua với tuyên bố “trỗi dậy hòa bình” là hoàn toàn bị thúc đẩy bởi động lực của quy luật chiến tranh nói trên. Tư duy lãnh đạo của Trung Quốc chưa bao giờ thoát khỏi những tham vọng của động lực đó. Và chính nó sẽ điều khiển họ đến sự thể hiện cuối cùng là phát nổ chiến tranh, họ không thể làm gì khác được cho dù họ có tập quyền được sức mạnh khổng lồ tới đâu. Sức mạnh đó sẽ chỉ phục vụ cho quy luật chiến tranh thôi. Nói một cách hình tượng thì giống như một nhân vật ký giao kèo bán linh hồn cho Quỷ để có được quyền lực thì ý muốn chủ quan của người này chẳng qua chỉ là ý chí của quỷ dữ mà thôi.

Vũ trụ có quy luật chiến tranh thì cũng có quy luật hòa bình. Để hóa giải được ngòi nổ chiến tranh thì cần phải hiểu được quy luật hòa bình nhằm giải quyết những trục trặc của thế giới bằng những cuộc đấu không xài đến dao súng để giúp thế giới tiến triển theo Quy luật phát triển xã hội thuận với Dòng chảy của Thời đại. Sẽ là vô vọng và ảo vọng nếu trông đợi vào sự thay đổi tham vọng của những kẻ độc tài tham vọng, tin vào những cam kết đạo đức của họ. Đừng quên những rao giảng đạo đức của Hitler và Thiên hoàng Nhật thời Thế chiến II.

Song song với sự thể hiện làm “người tốt” trong cuộc chống Covid-19 là sự triển khai lực lượng quân sự ghê gớm nhất đến nay ở Châu Á TBD – một mức leo thang quân sự hóa không thể tránh khỏi. Hãy nhớ lại sự kiện quân sự hóa vùng Rhineland ở Châu Âu bởi Đức Quốc xã trước khi nổ ra Thế chiến II. Anh, Pháp và cả Mỹ đã không làm gì đáng kể nên đã làm cho Hitler bạo gan hơn, viển vông hơn. Cuộc quân sự hóa này đã làm lệch cán cân quân lực về phía Đức. Khi đã thấy chắc thắng thì Hitler “tiên hạ thủ vi cường” tấn công và chiếm lĩnh Ba Lan vào 1939, khởi đầu cuộc đại chiến. Người Mỹ cũng đã phải trả một giá đắt khi đã xem thường sự gia tăng quân lực của Nhật ở Tây Thái Bình dương để rồi nhận lấy thất bại Trân châu cảng 1941 – một cái giá vì đã không can dự từ đầu để ngăn cản những ngòi nổ của cuộc đại chiến.

– Trần Huỳnh Duy Thức

——————————-

Trong điều kiện thông tin cực kỳ hạn chế ở trong tù, phải có một luồng ánh sáng kỳ diệu từ trong tâm thức mới có thể có cái nhìn sáng tỏ về cục diện cũng như tương lai của thế giới, khiến người đọc đọc vào bỗng bừng ngộ ra nhiều điều mới mẻ về con đường tất yếu mà nhân loại đang đi. Cảm ơn và kính phục người bạn chưa một lần hạnh ngộ.

– Nguyễn Huệ Chi

Đẩy dân đi làm thuê làm mướn…

Image may contain: one or more people, people walking, crowd and outdoor

Hôm qua đi qua đường Trần Duy Hưng thấy quá đông người tụ tập tưởng là có bạo loạn, lại gần mới biết là ngày tổ chức thi chứng chỉ tiếng Hàn.

Nhìn toàn các thanh niên tuổi ăn tuổi lớn, tuổi có thể đóng góp trí tuệ và sức lực để xây dựng đất nước nhưng lại phải rồng rắn ôm khát khao ra đi làm cu li ở xứ người mà thấy xót xa. Thế mới biết sự bế tắc và mất định hướng của thanh niên giờ lớn đến mức nào.

Lần sang Hàn Quốc nghe mấy người Hàn nói “người Việt tuy có chút láu cá nhưng vẫn được thích dùng vì thông minh và chịu khó hơn lao động nước khác” nghe mà đau. Câu nói “thông minh và chịu khó” cứ ám ảnh mãi. Thông minh và chịu khó sao dân tộc này cứ mãi nai lưng đi làm thuê cho ngoại bang???

Nhiều lần nghe bà BT Bộ LĐTB&XH nói việc tìm được thêm thị trường cho dân đi xuất khẩu lao động như một chiến tích với vẻ mặt đầy hí hởn mà thấy cám cảnh. Đẩy dân đi làm thuê làm mướn để cho nước ngoài bóc lột là việc dễ nhất và chả cần tài cán gì cũng làm được. Làm sao giữ được dân ở nhà để sống ổn trên quê hương mình mới là “đỉnh cao trí tuệ”

Chúng ta chỉ nghe thấy việc đẩy mạnh XKLĐ chứ chưa bao giờ nghe thấy lộ trình giảm dần rồi tiến tới chấm dứt hoàn toàn việc xuất khẩu lao động giá rẻ. Những bộ óc thiên tài của Đảng đã bao giờ nghĩ đến việc đó chưa nhỉ?

(Ảnh Trên vnexpress)

ßà çố gần 100 tuổi có 4 người con trai làɱ liηh ɱục, 2 ηữ Ϯu.

 

ßà çố gần 100 tuổi có 4 người con trai làɱ liηh ɱục, 2 ηữ Ϯu.

————

Gia đìпɦ có một пgười coп тậп ɦiếп ᵭσ̛̀ι mìпɦ cɦo Cɦúa đã là quý, đàпg пày… gia đìпɦ có 7 mà lại ɦiếп dâпg đếп 6. Ρɦảι cɦăпg đó là quà tặпg, là âп ɦuệ lớп lao mà Tɦiêп Cɦúa baп cɦo gia đìпɦ ôпg bà çố Liêm – Mẫп.

Tɦiêп Cɦúa vẽ đườпg тɦẳпg bằпg compa để rồi mối тìпɦ giữa cɦàпg líпɦ пɦà qᴜαп gốc ɦuế lại gặp cô tɦôп пữ ɦiềп làпɦ đạo đức ở mảпɦ đất Quảпg пgãi dấu ყêυ.

Ѕιпɦ ra troпg gia đìпɦ qᴜαп Pɦáƿ làm về пgàпɦ đườпg ᵴắt cũпg có vai vế troпg xã ɦội tɦời bấy giờ và vì côпg việc пêп gia đìпɦ của aпɦ cɦàпg Pɦêrô Trươпg Đìпɦ Mẫп (ᵴιпɦ пăm 1920) tiếп vào Quãпg пgãi. Cɦả ɦiểu ᵴao пơi mảпɦ đất Quảпg пgãi lại ᵴe duyêп cɦo cɦị MaƬta пguyễп Tɦị Liêm (ᵴιпɦ пăm 1921). Ơп Cɦúa đã ƙết пối ɦai aпɦ cɦị và rồi ɦoa quả ᵴιпɦ ra cɦo gia đìпɦ ɦai ɦọ Trươпg – пguyễп được tất cả 7 пgười coп.

пɦư đã пói, пgɦèo пɦυ̛пg ᵴạcɦ, rácɦ пɦυ̛пg tɦơm và пɦất là tɦụ ɦưởпg тừ truyềп tɦốпg đạo đức gia đìпɦ để rồi ᵴau kɦi lập gia đìпɦ, cô пàпg Liêm tɦời bấy giờ vẫп cɦu toàп bổп pɦậп của một пgười vợ, một пgười mẹ và tɦêm vào đó trọпg trácɦ của пgười пấu cơm cɦo cɦa ✘ứ ɦọ Trà Câu. Lối ᵴốпg đạo đức cứ ảпɦ ɦưởпg và ăп dầп vào ᵭσ̛̀ι ᵴốпg của пɦữпg đứa coп tự kɦi пào кɦôпg biết để rồi пgười coп cả là пữ тυ MaƬta пguyễп Tɦị Đức тậп ɦiếп ᵭσ̛̀ι mìпɦ troпg ɗòпg Mếп Tɧáղɧ Ꮆiá Quy пɦơп.

“Cɦị mìпɦ đi тυ cɧả lẽ mìпɦ кɦôпg тυ ᵴao ?” Tɦế là Pɧêrô Trươпg Đìпɦ Тυ và Ꮆiuᵴe Trươпg Đìпɦ ɦiềп пgày ấγ là ɦai cậu Lễ ᵴιпɦ của ɦọ đạo Trà Câu – Đức Pɦổ (Quảпg пgãi) đã đi тυ và ᵴốпg tɦật ɦiềп làпɦ với 2 cάι têп mà cɦa mẹ của 2 cậu đặt cɦo. Тυ và ɦiềп đã vào Cɦủпg ʋιệп Quy пɦơп тυ và ᵴốпg tɦật ɦiềп cɦo đếп пgày пay dẫu đảɱ trácɧ cɧức ʋυ̣ cɧáпɦ ✘ứ, quảп ɦạt và пɦư cɦa ɦiềп ɦιệп пay là Tổпg Đại ɗiệп Ꮆiáo pɦậп Quy пɦơп. Ai пào đó tiếp xúc với Cɦa ɦiềп ᵴẽ пɦậп ra đúпg là ɦiềп với cάι têп mà ôпg bà çố đã cɦọп.

пgười em út G.B. Trươпg Đìпɦ ɦà пăm пay cũпg đã пgót пgɦét 57 tuổi đaпg làm cɦíпɦ ✘ứ Tɦủ Lựu của Ꮆiáo pɦậп Bà Rịa tɦâп ᴛʜươɴɡ. Trêп cɦa ɦà là пgười aпɦ ϯɾầм tíпɦ пɦυ̛пg кɦôпg kéɱ pɦầп ɦài ɦước là Tôma Trươпg Đìпɦ ᵴơп.

Ai пào đó đã gặp Cɦa ᵴơп ắt ɦẳп ᵴẽ được пgɦe пɦiềᴜ câu cɦuyệп tục пɦυ̛пg lại tɦaпɦ để góp vui cɦo ᵭσ̛̀ι. Cɦắc có lẽ Cɦa Trươпg Đìпɦ ᵴơп пɦιễm мáᶙ của Cɦa già çố Ꮆiuᵴe Trầп ɦữu Tɦaпɦ (ɗCCT – đã về пɦà Cɦa пăm 2007 tại DCCT Tʜái ɦà) để rồi тɦᴜ tɦập пɦữпg câu cɦuyệп ɦài gửi gấɱ góp cɦút пiềm vui.

Có lẽ, пếu пɦắc đếп Cɦa Toɱa ᵴơп mà кɦôпg пɦắc đếп ɦὰпɦ trìпɦ gầп 10 пăm dấп tɦâп truyềп Ꮆiáo ở mảпɦ đất đầy giaп кɦó ɦaiti.

Ѕιпɦ пăm 1959, ɦọc đếп lớp 6 trườпg làпg, cɦú Tôɱa kɦăп gói quả ɱướp tìm ɦiểu ơп gọi tại ɗCCT ɦuế пɦữпg пăm 1970. Mùa ɦè đổ ℓửα 1972 đã đưa cɦú ᵴơп vào DCCT Tɦủ Đức cɦo đếп пgày ⱮấƬ пɦà ⱮấƬ đất.

Đườпg тυ dù dài dù кɦó пɦυ̛пg cɦú ᵴơп vẫп tiếp tục tɦeo ɦọc Đại ɦọc ᵴư Ρɦα̣м пgàпɦ Pɦáƿ văп và vẫп gιữ vữпg đườпg тυ. ᵴau пɦữпg пăm tɦáпg кɦó kɦăп, cɦú ᵴơп về giúp Ꮆiáo ✘ứ Xuâп Tɦịпɦ (Vườп пgô) пɦữпg 5 пăm. Tɦời điểm пày, Cɦa ᵴơп cũпg đã ɦướпg dẫп, đào tạo пɦiềᴜ ơп gọi và пay có một mầm ơп gọi đã trổ ɦoa là Cɦa Ꮆiêrôпimô пguyễп Đìпɦ Tɦuật đaпg pɦục ʋυ̣ cɦo aпɦ cɦị em tɦiểu ᵴố ở ɦà Bầu – Gia Lαι.

10 пăm âɱ tɦầɱ ᵴốпg ở Pɦú ɗòпg, ᵴau đó lãηɦ ᵴứ ʋυ̣ liпɦ ɱục và lêп đườпg truyềп Ꮆiáo. ᵴau пɦữпg пgày tɦáпg bôп ba giữa пɦữпg кɦó kɦăп của ƈᴜộƈ ᵴốпg, ɦιệп tại Cɦa Tôɱa ᵴốпg ᵭσ̛̀ι ɱục тυ̛̉ пɦỏ bé âm tɦầm bằпg cácɦ giúp cάƈ xóm Ꮆiáo mà пɦà ɗòпg coi ᵴóc ở Kỳ Đồпg.

Pɦầп ôпg bà çố, ᵴau пɦữпg пăm tɦáпg cɦiếп trɑɴҺ kɦốc lιệт, ôпg bà ɗắt ɗíu пɦɑᴜ tạɱ cư ở vùпg Bàu Cá Trảпg Bom.

5 пgười dấп tɦâп vào ᵭσ̛̀ι ᵴốпg ơп gọi, có một пgười coп gάι là cɦị Mađalêпa Trươпg Tɦị пɦư lập gia đìпɦ và cɦị có 7 пgười coп.

пếu пɦư kể về gia đìпɦ đặc biệt пày пgoài пgười đặc biệt là ôпg bà çố và 5 пgười coп đi тυ và cɦị пɦư mà кɦôпg kể đếп cɦị Trươпg Tɦị Triпɦ quả là điều tɦiếu ᵴót tɦật lớп. Giảп đơп là cɦị Triпɦ vì cɦữ ɦiếu, vì cɦa mẹ và vì cάƈ cɦị và em пêп cɦị ᵴốпg пɦư vậy cɦo đếп bây giờ để tɦay мặт пɦữпg пgười đi тυ lo cɦo cɦa mẹ già.

Ai ai cũпg biết rằпg пuôi пgười già cɦả kɦάƈ gì пuôi một đứa trẻ lêп 5 lêп 3. Cάι tuổi già là cάι tuổi ƈựƈ cɦướпg của ƈᴜộƈ ᵭσ̛̀ι. Có kɦi cɦo ăп rồi lại đi rêu rao rằпg вị ɓỏ đói, có kɦi тɦυốc uốпg mấy cử пɦυ̛пg cứ bảo “cɦúпg пó quêп tui rồi”. Và пɦư vậy, để cɦăɱ bẵɱ cɦo пɦữпg “em bé có quyềп đòi ɦỏi” quả tɦật là điều пaп giải.

Ƙiղɧ пgɦiệɱ troпg gia đìпɦ ai ai cũпg biết пɦữпg “em bé có quyềп đòi ɦỏi” пày кɦó tíпɦ пɦư tɦế пào. Tɦà cɦăm trẻ coп tɦì mìпɦ còп có quyềп trêп пó пɦυ̛пg cɦăm cɦa mẹ già tɦì mìпɦ vừa cɦăm, vừa ƈựƈ пɦυ̛пg lại ɦoàп toàп вị tước quyềп côпg dâп trước пɦữпg vị пày. Cɦíпɦ vì tɦế, cɦị Triпɦ, có lẽ là пgười được Ꮆiáo ɦội gɦi côпg và пɦắc đếп vì ѕυ̛̣ ɦy ᵴιпɦ rất lớп của cɦị.

Trước áпɦ ᵴáпg lấp lá пɦ của một cɦị pɦụ trácɦ cộηg đoàп пɦư cɦị пữ тυ MaƬta пguyễп Tɦị Đức ɦay rực rỡ troпg пɦữпg пgày kỷ пiệm пgâп Kɦá пɦ – Kiɱ Kɦáпɦ tɦì lại lóe lêп ɦὶпɦ ảпɦ của пgười em têп Triпɦ tɦay cɦị lo cɦo cɦa mẹ già.

Trước vẻ đẹp lυ̛пg liпɦ của 4 aпɦ em làm liпɦ ɱục và có cɦa ɦiềп làm Tổпg Đại ɗiệп của một Ꮆiáo pɦậп tɦì đàпg ᵴau đó lại lóe lêп ɦὶпɦ ảпɦ của пgười cɦị gάι tầп tảo lo cɦo cɦa mẹ già.

Cɦúa gọi ôпg çố về với Cɦúa пăm 1998 kɦi ôпg çố tɦọ 78 tuổi. Và, bà çố could mắп ɦơп ôпg, pɦầп pɦúc ɦơп ôпg là ɦιệп giờ Bà còп miпɦ mẫп ở cάι tuổi mà kɦối ĸẻ moпg, vạп пgười muốп là gầп 100 tuổi mà vẫп пɦìп tɦấy coп mìпɦ ᵴốпg trọп vẹп troпg ᵭσ̛̀ι тậп ɦiếп.

Ta ɦãy cùпg tạ ơп Cɦúa với gia đìпɦ ôпg bà çố Mẫп – Liêm, với 5 aпɦ cɦị em của gia đìпɦ пày và với пɦiềᴜ gia đìпɦ kɦάƈ пữa đã тậп тìпɦ và ɦết lòпg ɗâпg ɦiếп cɦo Cɦúa 4, 3, 2 пgười coп. Và đặc biệt, có cả gia đìпɦ ɦιệп ở Ꮆiáo ✘ứ Dốc Mơ ɗâпg cɦo Cɦúa 2 пgười coп trαi troпg một ɦội ɗòпg và coi пɦư cɦả có ĸẻ пối dõi tôпg đườпg. пɦữпg tấm lòпg тậп ɦiếп пɦư vậy quả là ɦoa quả tuyệt vời dâпg lêп cùпg Cɦúa.

Χιп Cɦúa gìп gιữ bà çố Liêm, quý ôпg bà çố, quý gia đìпɦ đã quảпg đại ɗâпg cɦo Cɦúa пɦữпg пgười coп để pɦục ʋυ̣ troпg cáпɦ đồпg truyềп Ꮆiáo. Χιп Cɦúa cɦo ɦội Tɧáղɧ пgày càпg có tɦêm пɦiềᴜ tɦợ gặt để gặt lúa về пɦư lòпg Cɦúa moпg muốп

  GIÁO DỤC XHCN, VÌ SAO CÀNG THAY ĐỔI CÀNG NÁT?

 

GIÁO DỤC XHCN, VÌ SAO CÀNG THAY ĐỔI CÀNG NÁT?

Đỗ Ngà

Đã là chim trong lồng hay cá trong chậu thì không thể tìm hướng đi riêng cho mình mà chỉ có thể lòng vòng trong không gian hẹp. Tương tự vậy, hệ thống giáo dục CS cũng chỉ là chim lồng cá chậu. Nó được nhốt trong cái khung chính trị độc tài CS thì dù có xoay hướng nào, nó cũng bị đụng tường và không thể nào thoát ra được.

Khai phóng là từ ghép, nó được ghép từ 2 từ, khai minh và giải phóng. Nói đơn giản là phải mở lồng để tư duy được tung bay. Đã là giáo dục khai phóng thì không thể nhốt nền giáo dục đó trong một khuôn khổ định sẵn được, vì vậy tuyệt đối không được chính trị hóa nền giáo dục quốc gia. Nếu phân tích kỹ cụm từ “Nền giáo dục XHCN” thì chúng ta thấy một hình ảnh chim lồng khá rõ nét, “giáo dục” chính là con chim và “XHCN” chính là cái lồng đã nhốt con chim ấy lại. Vậy nên, đã là “giáo dục XHCN” thì nó là một kiểu giáo dục ngục tù, nó không thể là “giáo dục khai phóng” được. Hai nền giáo dục này như lửa với nước không thể nào lồng ghép vào nhau được, không bao giờ.

Nếu là nền giáo dục khai phóng đúng nghĩa thì nó phải hướng đến hai mục đích sau: mục đích thứ nhất, nó tạo con người biết hướng đến lối sống có đạo đức; mục đích thứ nhì, nó tạo ra con người biết tự tìm đường đến với tri thức. Mà như ta biết con người là tế bào của xã hội, vì vậy nền giáo dục khai phóng nó chính là nguồn gốc tạo nên một xã hội có đạo đức và nền kinh tế dựa vào sức mạnh tri thức. Hầu hết, xã hội nào mà người dân sống có đạo đức thì nền kinh tế quốc gia ấy là nền kinh tế tri thức. Nhìn xã hội biết giáo dục, giáo dục khai phóng nó tạo ra một xã hội như thế.

Nền giáo dục XHCN về cơ bản nó không hướng con người đến với đạo đức mà hướng con người vào sự phục tùng đảng cầm quyền vô điều kiện. Trong đảng cầm quyền ấy, lãnh tụ là hạt nhân nên bằng mọi giá giáo dục này phải hướng mọi thế hệ học sinh – sinh viên vào mục tiêu xây dựng nên những thế hệ sùng bái lãnh tụ. Tấm gương lãnh tụ như là một bức tường xà lim, nó nhốt tư duy của lớp lớp thế hệ nằm co quắp trong đó để phục vụ mục đích cai trị của đảng. Với những thế hệ ngu trung, thì chính quyền vô đạo mới nhởn nhơ hưởng thụ được. Vậy nên, nếu xây dựng một nền giáo dục khai phóng thì chẳng khác nào ĐCS tự đào mồ chôn mình cả. Giáo dục khai phóng không bao giờ tạo ra kẻ phục tùng, lại càng không tạo ra những kẻ ngu trung.

Hiện nay tìm một quan chức có đạo đức còn khó hơn lên trời hái sao. Mà ai cũng biết, đảng viên là tế bào của ĐCS. Vậy thì tập hợp của những con người vô đạo đức thì làm sao đảng đó có đạo đức được? Một nền giáo dục bị nhốt trong một cái lồng chính trị của một đảng vô đạo, thì làm sao nền giáo dục ấy tạo ra một xã hội có đạo đức được đây? Phải nói sống ở Việt nam thì ai cũng thấy vấn nạn cướp giật, lừa đảo, gian xảo, đố kỵ, nịnh hót, hại người được ta vv… xảy ra tràn lan. Những vấn nạn ấy nó dệt nên một bức tranh toàn cảnh của xã hội Việt Nam, phải nói bức tranh ấy vô cùng xấu xí. Nhìn xã hội biết giáo dục, giáo dục XHCN nó tạo ra xã hội như thế.

Sống lâu trong cái lồng hẹp thì ắt chim xả đầy phân xuống nền cái lồng ấy. Phân nhiều, lồng chật thì dù cho nền giáo dục này có xoay hướng nào thì nó cũng sẽ dẫm lên chính đống phân nó đã thải ra mà thôi. Đó chính là thực trạng của nền giáo dục Việt Nam hiện nay. Chỉ có phá lồng XHCN thì may ra nền giáo dục nước nhà mới có thể bay cao được. Đó là cách duy nhất.

Hôm nay, mạng xã hội lộ lên bộ sách giáo khoa lớp 1 do ông Nguyễn Minh Thuyết chủ biên cùng với nhóm cộng sự. Về nội dung thì cả xã hội ai cũng biết hết rồi. Sách giáo khoa mới này dạy cho trẻ con tính gian manh lọc lừa ngay trong những bài học. Nó chính là một liều thuốc độc tiêm vào những thế hệ tương lai đất nước này, rất nguy hiểm. Thử hỏi lớp lớp trẻ em nhiễm lối giáo dục này thì tương lai đất nước đi về đâu? Xã hội Việt Nam nay đã quá thối nát, vậy mà những “nhà cải cách giáo dục” này muốn tương lai nó sẽ nát hơn, thật vô đạo. Bán rẻ tương lai đất nước để tư lợi cho bản thân là mẫu số chung cho quan chức CS chứ không riêng gì ông Nguyễn Minh Thuyết. ĐCS đã quá nát thì làm giáo dục tốt được không? Mỗi khi giáo dục rục rịch thay đổi thì y rằng, cái mới nó còn tệ hại hơn cả cái cũ. Nếu so sánh với sách giáo khoa lớp 1 mà tôi từng học từ 36 năm trước thì rõ ràng, sách giáo khoa hôm nay nó còn tệ hơn trước đây rất nhiều. Và như đã thấy, thế hệ của tôi cũng là một thế hệ đầy kẻ mang tư tưởng phục tùng và ngu trung, vậy thế hệ sau sẽ thế nào? Thật đáng buồn.

Như đã nói, giáo dục XHCN là loại giáo dục bị nhốt trong cái lồng hẹp, thà rằng nó đứng một chỗ suốt 45 năm thì vẫn còn tốt hơn là phải xoay sở để cố tìm cách “đổi mới” trong phạm vi cái lồng XHCN. Vì sao? Vì nói cho cùng, trong cái lồng quá chật, chim có xoay cỡ nào thì cũng sẽ giẫm lên chính đống phân mới ị của nó mà thôi, thà đứng tại chỗ chấp nhận dẫm lên đống phân khô thì vẫn còn sạch hơn. Hãy ngừng ngay cái trò “đổi mới”, vì đổi mới thì cũng chỉ đốt tiền dân nuôi nhóm lợi ích mà thôi. Giáo dục Việt Nam không thể tiến nếu cứ nằm mãi trong cái lồng XHCN.

-Đỗ Ngà-

Image may contain: 1 person, standing and suit

SỰ THẬT NẰM SAU SỰ THẬT

SỰ THẬT NẰM SAU SỰ THẬT

Như bức màn bị xé toang, một Trung Quốc nghèo đói cách đây hơn 20 năm, đã từng được nước Mỹ cứu vớt qua những chính sách không thuế từ thời cựu TT Bill Clinton, nay đã trỗi dậy và hung hãn bất chấp lương tri.

Thay vì mang ơn Mỹ và Châu Âu đã mang công ăn việc làm đến nuôi dân đói nghèo của mình thì TQ ngày nay đã làm người ta khiếp sợ vì tham vọng làm chủ bá quyền thế giới qua Covid 19.

Triệt hạ đối thủ Mỹ và các nước giàu mạnh Châu Âu là mục tiêu lớn của TQ. Vừa là đạo diễn kịch bản, vừa là diễn viên, TQ nghĩ ra mưu kế tạo ra coronavirus – vũ khí sinh học giết nhân loại. Đây là một giả thuyết mà hiện nay rất nhiều người đưa ra nhưng xem chừng rất phù hợp với tính cách của một nước Trung Hoa cộng sản đang lớn mạnh. Chủ nghĩa cộng sản muốn “giải phóng” cả thế giới. Chủ nghĩa Đại hán muốn bành trướng nuốt gọn nước khác. Hai thứ cộng lại thì chiếm nước Mỹ và mua rẻ Châu Âu là điều không có gì ngạc nhiên.

Như trong một bài phát biểu bí mật dành cho các cán bộ Đảng Cộng sản cấp cao gần hai thập kỷ trước, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, Tướng Trì Hạo Điền (Chi Haotian) đã nói : “Chỉ bằng cách sử dụng vũ khí không phá hủy mà có thể giết chết nhiều người, thì chúng ta mới có thể giành nước Mỹ cho chính mình.”

Vũ khí không phá hủy nói đây là vũ khí sinh học, là covid 19!

Nay các cơ quan tình báo một số quốc gia đã thu thập bằng chứng để đưa TQ ra tòa án quốc tế trong tương lai, dựa trên tội làm cho thế giới khủng hoãng vì đại dịch.

Trong thảm họa nhân tai, Trung Quốc đương nhiên cũng là nguồn cung cấp thiết bị y tế của một số quốc gia. Và, Trung quốc bán, chứ không phải viện trợ, với giá cắt cổ.

Nước Mỹ mênh mông kho hàng, vậy mà mới chớm dịch, các chợ WalMart, các tiệm CVS, Walgreens… ở khắp nước Mỹ đã không còn khẩu trang; trong khi tới nay, người Mỹ vẫn chưa quen đeo khẩu trang, vậy ai là người đã đi gom lượng hàng không bao giờ thiếu này của Mỹ?

Có ai nghĩ rằng đó là một kế hoạch không?

Từ Mỹ, nhìn những lô hàng Made in China phải gọi là buồn tái tê! Lòng tin không đủ tin tưởng về phẩm chất, cảm thấy lo sợ cho những lô hàng sẽ gây ảnh hưởng sức khỏe người Mỹ trong thời điểm này.

Toàn cầu, mỗi ngày con số thiệt mạng khủng khiếp tăng vùn vụt vì con virus Vũ Hán. Tính đến ngày 3/4 ( giờ Hoa Kỳ) theo thống kê, Mỹ có 274. 000 ca nhiễm, 7 000 người thiệt mạng. Sự tê liệt hoạt động, khủng hoảng kinh tế kéo theo trên 6.6 triệu người nộp đơn thất nghiệp, đó là con số kỷ lục cao nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.

Coronavirus làm biết bao gia đình rơi nước mắt trước những số phận mất mát chồng vợ, anh em, con cái… Những trẻ thơ mất cha mất mẹ trong cuộc chiến Covid làm cho thế giới rúng động.

Trung Quốc với tham vọng bá quyền dường như vô cảm trước những đôi mắt tuyệt vọng nhìn lên trời xin Chúa , Phật …cứu giúp. Tiếng vọng công lý bên trong sâu thẳm từ những người lãnh đạo Trung Cộng hoàn toàn không có, và họ cũng không biết mình đã trở thành thứ tồi tệ nhất trên quả đất này.

Một nước Mỹ giàu có sắm 1 triệu máy thở không có gì khó, nhưng thật phi lý khi sắm chất đầy kho mà không biết chừng nào xảy ra đại dịch. Và chính người chỉ trích tổng thống, chỉ trích nước Mỹ để thiếu dụng cụ y tế trầm trọng, thì bạn đã bao giờ luôn có sẵn 10 bao gạo 50 lbs chất trong nhà chờ đại dịch hay là cũng quýnh quáng giành giựt mua như vừa rồi?

Không một quốc gia nào nghĩ rằng mình phải dự trữ nguồn y tế quốc gia trong kho cả nên khi cơn sóng thần viêm phổi Vũ Hán chết tiệt ấy ào tới Mỹ, Pháp, Italy, Canada, Úc, Nhật, Tây Ban Nha … gần như toàn thế giới bị tê liệt. Các lãnh đạo tài ba trên thế giới rồi cũng phải chịu giá đơn đặt hàng cao ngất từ Trung Quốc bởi không còn sự lựa chọn nào khác! Trước mắt phải cứu sống dân mình, các nhà lãnh đạo phải mua hàng Made in China dù mắc hay rẻ.

Không ai tưởng nổi Trung Quốc ra giá mỗi máy trợ hô hấp 25.000.00 USD và New York phải mua 17.000 cái vì sự thiếu hụt trầm trọng. Hãy nhân lên số tiền ấy lên sẽ cảm thấy sốc, sốc cho sự bất nhân của Trung Cộng khi làm giàu trên cả mạng sống, trên xác người.

Chưa kể hàng tấn kiện hàng thiết bị y tế, thuốc, khẩu trang pha trộn kém phẩm chất, có gài virus gây bệnh đổ vào một số quốc gia đã bị phát hiện qua sự lên tiếng của giới truyền thông. Cả thế giới phụ thuộc vào Trung quốc trong tình trạng khủng hoảng, một bài học đắt giá, nhìn ra thì đã muộn màng!

TQ dùng chiến lược kinh tế, “một vành đai một con đường” làm nhiều nước dính bẫy nợ, không thể trả nổi. Cuối cùng phải bán đất đai, tài sản quốc gia (là giải pháp cuối cùng ) mà một số nước phải chịu.

Nay TQ dùng coronavirus thực hiện âm mưu thôn tính thế giới cũng không lấy làm lạ. Chỉ có người u mê mới không nhận ra sự thâm độc ấy qua thuyết Chủ nghĩa xã hội mà TC đang thành công gài vào nước Mỹ, tẩy não giới trẻ từ lâu trong giáo dục học đường. Họ đã cấy gián điệp trong nhiều lĩnh vực quan trọng đều có mục đích.

Nhưng, TQ dù ra tay thế nào thì Mỹ cùng các nước khác sau trận Covid sẽ có những sản phẩm chuỗi cung ứng từ chính quốc gia mình, đặc biệt là Made in USA. Những đơn hàng sẽ từ các nước khác như Việt Nam, Ấn Độ, Thái Lan… tạo công việc, giúp kinh tế phát triển nước ấy. Các quốc gia sẽ có biện pháp mạnh mẽ chấm dứt sự lệ thuộc kinh tế Tàu.

Trung quốc có thế nào thì Mỹ quốc vẫn không thể bị đắm chìm như chiếc tàu trong phim Titanic; hình ảnh nhạc công vẫn bình tĩnh khúc đàn violon thiết tha cuộc sống vẫn còn đó. Đánh gục tinh thần Mỹ trong một nước Mỹ tự do nhân bản không phải dễ dàng.

Trong thảm họa mới biết gian thương là ai. Đó cũng là câu trả lời vì sao Tổng Thống Donald Trump phải chịu đựng kẻ thù trong và ngoài nước vây quanh muốn đánh gục.

Ông không sai khi đã lên tiếng chuyển các nhà máy sản xuất về Mỹ, không phụ thuộc Tàu. TT Trump cũng đã cảnh báo về sự nguy hiểm và đánh TC thông qua cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung.

Vì tương lai nước Mỹ, TT Trump chịu đựng cay đắng trên mọi bước đường mình đi. Nhìn gương mặt buồn xuống sắc kiệt sức của TT Hoa Kỳ đương nhiệm hôm nay mới thấy rằng: hóa ra làm người yêu nước phải trả giá, cái giá quá đắt. Có lẽ hàng triệu người trên thế giới lại rơi nước mắt vì ông.

Image may contain: 1 person, sitting and suit

Làng Sher & thôn Bàn Thạch

Làng Sher & thôn Bàn Thạch

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến (Danlambao) – Tất cả đều “tuồn” ra sông, rõ ràng, không phải là một cung cách sống. Đó là một kiểu tự sát tuy không chết ngay nhưng chắc chết, chết chắc, và chết hết. Không dân tộc nào có thể sống mãi bên những dòng sông chết chậm, và trong tay của bọn thực dân nội địa – những kẻ sẵn sàng tháo cạn nước của một dòng sông hay đốt cháy nguyên một khu rừng, chỉ vì cần thêm vài con cá nướng trui (để nhậu chơi) trước bữa cơm chiều.

*

“Trải qua hàng ngàn năm, làng Sher, một cái làng nhỏ tí ở Tây Tạng, vẫn bám lấy cái sống dù ở một vị thế sinh tồn khắc nghiệt, một thềm đất hẹp nằm chênh vênh trên một sườn núi dựng đứng. Ở vị thế khô cằn này của cao nguyên Tây Tạng, lượng nước mưa hàng năm chỉ được khoảng dưới 10cm. 

Nhưng từng giọt nước đều được thu giữ trong một hệ thống tưới tiêu có từ thời thượng cổ. Nhiệt độ trung bình hàng năm luôn gần ở mức đóng băng (Zero độ Celsius) còn từ tháng Chạp đến tháng Hai thì hàn thử biểu bao giờ cũng lơ lửng trong khoảng – 6 đến 10 °C. 

Loài cừu ở đây có bộ lông cực dầy, giữ ấm rất tốt; lông cừu được quay và dệt thành áo quần và chăn đắp giúp dân làng chịu cái lạnh khắc nghiệt của mùa đông vì họ không có gì khác hơn ngoài chút hơi ấm của bếp lò. Nhà tranh vách đất cứ mười năm thì phải lợp lại, và những cây liễu trồng dọc theo bờ kinh được dùng vào việc này. 

Khi một cành bị cắt đi để làm mái, một nhánh khác sẽ được ghép vào. Cây liễu có thể sống tới bốn trăm năm, và khi cây chết thì người ta sẽ trồng một cây mới. Chất thải được tái chế thành phân bón để trồng cỏ, rau và lúa mạch – nguồn thực phẩm chính ở nơi đây, gọi là tsampa – và những loại rau có củ dành cho mùa đông.

Trải qua nhiều thế kỷ dân số của làng Sher vẫn giữ nguyên, chừng ba trăm nhân khẩu. Ông Jonathan Rose, một người làm nghề xây cất và cũng là người sáng lập ra phong trào nhà xanh và hợp túi tiền, đã học hỏi được nhiều điều qua cách sinh tồn khôn ngoan mà dân làng Sher đã tìm ra trong cái hốc nhỏ bất an của họ. Rose nói: Một ngôi làng có thể sống hàng ngàn năm trong một hệ thống sinh thái như thế thì đúng là bền vững thật sự.”

Đoạn văn dẫn thượng được chuyển ngữ bởi dịch giả Nguyên Trường, và được trích dẫn từ tác phẩm Ecological Intelligence của Daniel Goleman (Broadway Business xuất bản năm 2009). Ngôi làng nhỏ được nhắc đến trong cuốn sách này khiến tôi lên tưởng đến con sông Bàn Thạch, ở Tam Kỳ.

Tôi chưa bao giờ có cái may mắn được bước chân ra đến miền Trung của đất nước mình nên chỉ biết con sông nhỏ bé, và thơ mộng này, qua ngòi bút của tác giả Huỳnh Thục Vy

“Sông Bàn Thạch là một con sông rất đẹp. Sông chia làm hai nhánh, giữa hai nhánh sông là một cồn đá, chiều dài hơn 1km, khoảng giữa rộng nhất khoảng 200m, hai đầu hẹp dần. Người ta gọi cồn này là: ‘Cồn Thị’ vì ở đó có những cây thị rất lớn, cao 20m, vòng gốc 10 người ôm.

Theo lời ba tôi kể lại, cồn thị là một cồn đá, hai đầu cồn đá này là hai bãi sình, ở đó là một rừng cây ‘rán’, một loại dương xỉ lớn. Trong rừng dương xỉ có rất nhiều chim, chim Áo đà (vì nó có bộ lông màu đà giống áo nhà sư – mõ trắng rất đẹp) chim vành khuyên, chim mía, và rất nhiều cò, những con cò đậu vắt vẻo trên lùm cây bần, cây đước, chúng sống và làm tổ ở đó.

Những buổi chiều, khi đèn đường bật lên, những con cò về đậu đầy trên những lùm cây đó. Tiếng kêu trầm đục buồn buồn. Sông Bàn Thạch sâu và thơ mộng lắm. Dưới sông đầy cá, cá bơi lội tung tăng đùa giỡn trong làng nước trong xanh. Cá nhiều đến nỗi từ trên cầu nhìn xuống chân cầu, cá tập trung thành từng bầy nhung nhúc, cá Hồng, cá Hanh, cá Tràng, cá Nâu, cá Dìa, cá Gáy, cá Thác lác, cá Căn… 

Nhưng đó là ký ức của ba tôi. Giờ đây trước mặt tôi là một dòng sông chết, nước sông đen ngòm, hôi thối và đặc quánh. Dòng sông cạn vì rác mà người dân chung quanh đó đổ xuống, rác nhiều đến nỗi làm nghẽn cả dòng, còn đôi bờ thì dần thu hẹp lại. 

Trên dòng sông đó lềnh bềnh những xác chết súc vật, ngập ngụa phân người trong những túi nilon, đủ thứ rác. Từ giường chiếu, mùng mền cũ, bao ximăng, bao đựng gạo, vỏ trái cây, rau sống, áo quần cũ và cả băng vệ sinh phụ nữ ‘siêu mỏng.’ Mặt nước sông phủ một lớp rêu xanh, dập dềnh xác súc vật trong làn nước đặc quánh dầu mỡ người ta xả ra từ những chiếc ghe cá và từ khắp nơi gần đó. Bây giờ cá đã chết, chim đã bay xa. Cồn Thị bây giờ không còn cây Thị nào, người ta đã đốn đi rồi.”

Dân làng Sher đã trải qua hàng ngàn năm trong một môi trường sống hết sức khó khăn. Họ canh tác trên những thềm đất cheo leo bên sườn núi dựng, với lượng nước mưa rất hạn chế, và trong điều kiện khí hậu vô cùng khắc nghiệt. 

Tuy thế, họ có rất nhiều hy vọng sẽ có thể tiếp tục sinh tồn hàng ngàn năm nữa vì vẫn giữ nếp sinh hoạt theo những thói quen “chịu thương chịu khó” của truyền thống cũ: chắt chiu từng giọt nước mưa, trân trọng tháp từng cành liễu, và không bỏ phí bất cứ thứ gì – kể cả phân người.

Chỉ có vài ba trăm nhân khẩu, sống chênh vênh trên một sườn núi dựng giữa rặng Hy Mã Lạp Sơn, dân làng Sher khó có cơ may được cắp sách đến trường. Tỷ số thông minh (IQ) của họ, vì vậy, e khó được cao nhưng EQ (ecological quotient) của những con người rất mẫn tuệ về khía cạnh thông minh sinh thái (ecological intelligence) này chắc chắn là không thể thấp.

Dân ở Bàn Thạch Thôn (Quảng Nam) thì ở vào một hoàn cảnh và môi trường khác hẳn. Họ được thiên nhiên ưu đãi hơn nhiều. Việt Nam không có những mùa Đông băng tuyết. Vũ độ ở xứ sở này lại được tính (hào phóng) theo đơn vị mètre, nghĩa là cả trăm inche. Riêng Bàn Thạch Thôn vừa gần biển lại gần sông, một dòng sông vốn “nhung nhúc cá.”

IQ của người dân ở vùng đất Ngũ Phụng Tề Phi, tất nhiên, cao ngất nhưng EQ của họ thì e hơi dưới trung bình. Cứ nhìn “xác chết súc vật, phân người, mùng mền chiếu gối, vỏ trái cây, rau sống, áo quần cũ, băng vệ sinh phụ nữ… lềnh bềnh… trong làn nước đặc quánh dầu mỡ” trên sông Bàn Thạch là đoán được thôi. 

FB Huỳnh Ngọc Chênh mới vừa cất tiếng kêu Trời: “Sông Cổ Cò đã thành dĩ vãng rồi.” 

Ôi, nào có riêng chi Cổ Cò và Bàn Thạch ở Quảng Nam. Khắp đất nước mình có con sông nào mà không đang ngắc ngoải: 

– Đồng Tháp: Tình trạng san lấp đất nông nghiệp diễn ra phức tạp

– Thái Bình: Nước thải công nghiệp bức tử sông Đoan Túc

– Thanh Hóa: Những dòng sông đang bị bức tử

– Bạc Liêu: Nhiều tuyến sông bị lấn chiếm 

– Hà Nam: Ô nhiễm trầm trọng khiến cá chết nổi trắng sông

Nhà báo Tạ Phong Tần cũng có bài tường thuật (“Việt Nam: Tất Cả Đều Đổ Ra Sông”) với rất nhiều dữ kiện rất đáng quan ngại: “Hiện nay, nhiều con sông ở Hà Nội đã bị biến thành sông rác. Rất nhiều loại phế thải từ dịp tết, từ những cành đào, quất chưng xong sau tết bỏ đi đến lá gói bánh chưng, vỏ hộp mứt kẹo, chiếu rách, bàn thờ cũ… được tập trung vứt xuống sông.”

Tất cả đều “tuồn” ra sông, rõ ràng, không phải là một cung cách sống. Đó là một kiểu tự sát tuy không chết ngay nhưng chắc chết, chết chắc, và chết hết. Không dân tộc nào có thể sống mãi bên những dòng sông chết chậm, và trong tay của bọn thực dân nội địa – những kẻ sẵn sàng tháo cạn nước của một dòng sông hay đốt cháy nguyên một khu rừng, chỉ vì cần thêm vài con cá nướng trui (để nhậu chơi) trước bữa cơm chiều.

 S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

danlambaovn.blogspot.com

Nhìn lại lịch sử: Vì sao giới doanh nhân Trung Quốc muốn trốn chạy?

Ngày nay, vì ĐCSTQ kiểm soát các nguồn tài nguyên của quốc gia, nên khu vực kinh tế tư nhân ở Trung Quốc luôn hoạt động dưới ân huệ của Đảng. Bởi vậy trong thương trường, doanh nhân Trung Quốc tích cực đấu tranh giành giật, nhưng sâu trong nội tâm, họ thừa hiểu rằng: bản tính lưu manh của Đảng đã buộc họ phải trở thành những tay mafia giàu có. #Trithucvn

Nhìn lại lịch sử: Vì sao giới doanh nhân Trung Quốc muốn trốn chạy?

M.TRITHUCVN.ORG

Nhìn lại lịch sử: Vì sao giới doanh nhân Trung Quốc muốn trốn chạy?

Không có gì lạ khi giới doanh nhân Trung Quốc luôn mang tâm lý làm g

LŨ DÂNG CAO Ở QUẢNG BÌNH, CẢ MỘT VÙNG CHỈ CÒN THẤY MÁI NHÀ

LŨ DÂNG CAO Ở QUẢNG BÌNH, CẢ MỘT VÙNG CHỈ CÒN THẤY MÁI NHÀ

Tính đến sáng nay (9/10), hàng trăm nhà dân ở vùng “rốn lũ” Tân Hóa (Minh Hóa, Quảng Bình) ngập sâu. Tại thôn 3 của xã này, nhiều căn nhà bị ngập tới nóc.

Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh Quảng Bình, đến 9 giờ ngày 9/10, tỉnh Quảng Bình có 12.600 ngôi nhà bị ngập. Trong đó, huyện Lệ Thủy có trên 7.600 nhà, huyện Quảng Ninh có trên 4.300 nhà. Tại “rốn lũ” Tân Hóa, huyện Minh Hóa, có 550 ngôi nhà bị ngập sâu tới 2,5 m, người dân phải chuyển sang tránh lũ trên những nhà phao.

Xem chi tiết tại: https://soha.vn/canh-lu-dang-tan-noc-nha-ca-khu-vuc-chi…

#SohaPhotos

 

THÁNH GIOAN 23, GIÁO HOÀNG

THÁNH GIOAN 23, GIÁO HOÀNG

Đức Thánh Cha Gioan XXIII là người đã triệu tập Công Đồng Vatican II, mở cánh cửa Giáo Hội ra với thế giới bên ngoài, và đem một sinh khí mới vào đời sống của Giáo Hội.

Triệu tập Công đồng là một công việc vĩ đại, phát xuất từ nhiều lo lắng cho tương lai Giáo Hội với quá nhiều vấn đề khó khăn, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII lại vẫn thường cầu nguyện rất đơn sơ nhẹ nhàng trước giờ đi ngủ: “Lạy Chúa, Giáo Hội là của Chúa, con chỉ là tôi tớ.  Giáo Hội mạnh yếu thành đạt là trách nhiệm của Chúa.  Con đã làm bổn phận của con, giờ này đến giờ con đi ngủ, xin Chúa ban phúc lành cho con.”  Nói thế rồi, Ngài đi vào giấc ngủ ngon.  Như vậy, dù thường xuyên suy tư trăn trở cho Giáo Hội, ngài lại rất thực tế sống tinh thần phó thác – giống như chỉ chuyên chăm hoàn tất bổn phận hằng ngày của mình với “Mười Điều Tâm Niệm” mà ngài đã đề ra cho mình:

  1. Ngày hôm nay, tôi sẽ sống tích cực trọn vẹn, chứ không tìm cách giải quyết mọi vấn đề của đời mình.
    2. Ngày hôm nay, tôi sẽ chú ý đặc biệt đến dáng vẻ của mình: ăn mặc đơn sơ, không lớn tiếng, lịch sự trong cách ứng xử; tôi sẽ không phê phán ai; tôi cũng sẽ không đòi ai phải ứng xử hoặc kỷ luật ai, trừ ra chính con người của mình.
    3. Ngày hôm nay, tôi vui sướng tin chắc rằng tôi được tạo dựng để sống hạnh phúc, không chỉ cho đời sau mà ngay cả từ đời này.
    4. Ngày hôm nay, tôi sẽ sống theo hoàn cảnh của mình, mà không đòi hỏi hoàn cảnh phải phù hợp với những ước muốn của tôi.
    5. Ngày hôm nay, tôi sẽ dành 10 phút để đọc điều gì thật hữu ích, và luôn nhớ rằng lương thực cần cho cuộc sống như thế nào thì đọc điều hữu ích cũng cần thiết để nuôi dưỡng cho linh hồn mình như vậy.
    6. Ngày hôm nay, tôi sẽ làm một điều tốt mà không kể cho ai nghe.
    7. Ngày hôm nay, tôi sẽ làm ít nhất một điều tôi không thích: và nếu tôi bị tổn thương, thì tôi cũng không cho ai biết điều này.
    8. Ngày hôm nay, tôi sẽ hoạch định một chương trình cho riêng tôi: tôi có thể không theo sát được từng chữ, nhưng tôi sẽ có một chương trình như thế.  Và tôi sẽ đề phòng hai điều tai hại: cẩu thả và lừng khừng, không dám quyết tâm.
    9. Ngày hôm nay, tôi tin chắc rằng, dù thế nào đi nữa, thì Thiên Chúa vẫn yêu thưong tôi như chỉ có mình tôi trên thế gian này.
    10. Ngày hôm nay, tôi sẽ không sợ hãi gì.  Tôi sẽ không ngần ngại thưởng ngoạn vẻ đẹp thiên nhiên và tin tưởng vào lòng nhân ái của con người và cuộc đời.

Thực thế, trong vòng 12 tiếng đồng hồ, tôi chắc chắn có thể làm tốt điều mà tôi nghĩ rằng sẽ thật kinh hoàng nếu phải làm nó suốt cả đời.

Đức Gioan XXIII cũng thường được gọi là “Giáo hoàng Gioan nhân hậu.”  Ngài coi mình là “con cái của Thánh Phanxicô” khi gia nhập Dòng Ba Phanxicô lúc còn là một chủng sinh.  Vị Giáo hoàng khiêm tốn này thường bắt chước lời của ông Giuse ở Ai Cập (Cựu Ước) chào hỏi các thành viên của Dòng Ba Phanxicô: “Tôi là Giuse, người anh em của quý vị.”

Vị Giáo hoàng thứ 261 này có tên khai sinh là Angelo Giuseppe Roncalli, sinh tại làng Sotto il Monte, thuộc tỉnh Bergamo, vào ngày 25.11.1881, con trai đầu của ông Giovanni Battista Roncalli và bà Marianna Mazzola.  Ngay buổi chiều hôm đó, trẻ sơ sinh Angelo được rửa tội.  Người đỡ đầu là ông Zaverio Roncalli, một trong những người bác của ông bố Battista, rất đạo đức, ở độc thân, tự nhận lấy bổn phận dạy giáo lý cho nhiều đứa cháu.  Sau này, Đức Gioan XXIII đã cảm động nhớ lại nhiều kỷ niệm và biết ơn về những lo lắng chăm sóc của ông.

Ngay từ thời thơ ấu, đã có một khuynh hướng nghiêm chỉnh về đời sống Giáo hội, nên sau xong bậc tiểu học, cậu chuẩn bị vào chủng viện giáo phận nhờ sự trợ giúp học thêm tiếng Ý và tiếng Latinh của một số linh mục trong khi theo học tại một trường có uy tín của Celana.  Ngày 07-11-1892, cậu gia nhập chủng viện Bergamo.  Sau khi hoàn tất tốt đẹp năm thứ hai của thần học vào tháng Bảy năm 1900, thầy được gửi về Roma vào tháng Giêng năm sau để vào chủng viện Apollinare, nơi có một số học bổng cho hàng giáo sĩ thuộc giáo phận Bergamo.

Ngày 13 tháng 7 năm 1904, mới hai mươi tuổi rưỡi, thầy đậu tiến sĩ thần học.  Ngày 10 tháng 8 năm 1904, thầy được thụ phong linh mục trong nhà thờ Đức Maria di Monte Santo; ngài cử hành Thánh Lễ đầu tiên vào ngày hôm sau trong Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô.  Dịp này, ngài quyết tâm tận hiến hoàn toàn cho Chúa Kitô và hết lòng trung thành với Giáo hội.

Sau một thời gian ngắn về nghỉ tại quê nhà, vào tháng Mười, ngài bắt đầu theo học giáo luật tại Rôma, và rồi phải nghỉ học vào tháng Hai năm 1905, khi ngài được chọn làm thư ký của Giám mục mới của giáo phận Bergamo, Đức cha Giacomo Radini Tedeschi.

Ngoài nhiệm vụ thư ký, ngài còn kiêm nhiệm nhiều công việc khác.  Từ năm 1906, ngài đảm nhiệm giảng dạy nhiều môn học trong chủng viện: Lịch sử giáo hội, Giáo phụ và Hộ giáo.  Từ năm 1910, ngài cũng phụ trách môn Thần học cơ bản.  Ngài nghiên cứu lịch sử địa phương, xuất bản tác phẩm viết về những chuyến viếng thăm mục vụ của thánh Carlo Bergamo (1575), một nỗ lực trong nhiều thập kỷ dài và tiếp tục cho đến những ngày trước cuộc bầu cử Giáo hoàng.  Ngài cũng là chủ nhiệm tờ báo định kỳ của giáo phận “La Vita Diocesana” và kể từ năm 1910, ngài làm trợ úy cho Liên hiệp những Phụ nữ Công giáo.

Khi Thế chiến thứ I bùng nổ, vào năm 1915 ngài làm tuyên úy hơn ba năm với cấp bậc trung sĩ, chăm sóc thương binh trong các bệnh viện ở Bergamo.  Vào tháng Bảy năm 1918, ngài dấn thân phục vụ cho những người lính bị bệnh lao.

Tiếp theo, ngài được giao phụ trách công việc của Bộ Truyền giáo tại Ý, đồng thời cũng làm linh hướng trong chủng viện.  Ngài đã thực hiện một chuyến đi lâu dài ra ngoại quốc để thi hành kế hoạch của Tòa Thánh nhằm mang về Roma những tổ chức khác nhau để hỗ trợ cho công cuộc truyền giáo và viếng thăm một số giáo phận Ý để quyên góp nguồn tài trợ và giải thích về công việc mà ngài đang phụ trách.

Vào năm 1925, với sự bổ nhiệm làm Visitatore Apostolico tại Bulgaria, ngài đã bắt đầu giai đoạn phục vụ cho ngành ngoại giao của Tòa Thánh cho đến năm 1952.  Sau lễ phong chức giám mục diễn ra tại Roma vào ngày 19 tháng 3 năm 1925, ngài khởi hành đi Bulgaria để giúp đỡ cho cộng đoàn Công giáo nhỏ bé và đang gặp nhiều khó khăn tại đó.  Trong hàng chục năm, Đức cha Roncalli đã đặt nền móng cho việc thiết lập một Tông tòa mà ngài đã được bổ nhiệm làm vị đại diện đầu tiên vào năm 1931.  Ngài phục hồi được mối quan hệ thân thiện với Chính phủ và Hoàng gia Bulgaria, mặc dù có đôi chút trở ngại vì đám cưới theo nghi lễ chính thống của vua Boris với công chúa Giovanna của hoàng gia Savoia, và đó cũng là dịp để khởi động những mối quan hệ đại kết đầu tiên với Giáo hội Chính thống Bulgaria.

Vào ngày 27-11-1934, ngài được bổ nhiệm làm Khâm sứ Tòa Thánh tại Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp.  Các nước này chưa có quan hệ ngoại giao với Vatican.  Với tính nhạy bén và năng động của mình, ngài đã tổ chức được một số lần gặp gỡ chính thức với Đức Thượng phụ Constantinople sau nhiều thế kỷ tách biệt với Giáo hội Công giáo.

Trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai, ngài đã thận trọng giữ được tính trung lập, giúp cho cả hàng ngàn người Do Thái khỏi thành nạn nhân diệt chủng, và giúp cho người Hy Lạp thoát khỏi nạn đói.

Ngài được bổ nhiệm về làm Khâm sứ tại Paris vào ngày 30 tháng 12 năm 1944.  Một hoàn cảnh khá phức tạp đang chờ đợi.  Chính phủ lâm thời buộc tội Giáo hội hợp tác với chính phủ Vichy và đòi Giáo hội phải thoái vị ba mươi giám mục.  Nhờ sự bình tĩnh và linh động của vị tân sứ thần, chỉ có ba vị bị bãi nhiệm.  Phẩm chất con người của ngài đã mang lại sự kính nể trong bối cảnh ngoại giao và chính trị tại Paris.

Sau khi lãnh tước vị hồng y, ngài được chuyển về Venice vào ngày 5 tháng 3 năm 1953 và hoàn thành nhiệm vụ giám mục tại đây cách tốt đẹp với những chuyến thăm viếng mục vụ, cử hành Công nghị giáo phận, thực hiện kế hoạch làm cho các tín hữu gần gũi với Kinh Thánh…

Ngày 28 tháng 10 năm1958, ngài được bầu chọn làm giáo hoàng.  Một vị Giáo hoàng nhận chức khi đã bảy mươi bảy tuổi khiến nhiều người nghĩ rằng đây chỉ là một triều đại chuyển tiếp.  Nhưng ngay từ đầu, Đức Gioan XXIII đã tỏ ra là một giáo hoàng của thời đại: khôi phục lại các hoạt động đúng đắn trong các cơ quan của giáo triều, viếng thăm các giáo xứ, bệnh viện và nhà tù của giáo phận Rôma, triệu tập Công nghị giáo phận…

Sự đóng góp lớn nhất của Đức Gioan XXIII là việc triệu tập Công đồng Vatican II, được loan báo trong Vương cung Thánh đường Thánh Phaolô vào ngày 25 tháng 01 năm 1959.  Các mục tiêu ban đầu của Công đồng được nêu rõ trong bài phát biểu vào lễ khai mạc ngày 11 tháng 10 năm 1962: không phải là để đưa ra những chân lý mới, nhưng để xác định lại các học thuyết truyền thống phù hợp hơn với sự nhạy cảm đương đại.  Đức Giáo hoàng Gioan XXIII mời gọi Giáo hội, thay vì lên án và công kích, hãy hướng về lòng thương xót và ủng hộ việc đối thoại với thế giới, trong một nhận thức mới về sứ mệnh của Giáo Hội là đón nhận tất cả mọi người.  Trong tinh thần cởi mở phổ quát ấy, các giáo hội Kitô khác cũng được mời tham dự vào Công đồng để khởi đầu một tiến trình xích lại gần nhau hơn.

Vào mùa xuân năm 1963, Đức Gioan XXIII được trao giải thưởng Balzan về hòa bình, xác nhận những nỗ lực của ngài đối với hòa bình qua việc ban hành Thông điệp Mater et Magistra (1961) và Pacem in Terris (1963), cũng như vai trò của ngài trong cuộc khủng hoảng tại Cuba vào mùa thu năm 1962. 

Ngài qua đời vào tối ngày 3 tháng 6 năm 1963 và được phong thánh vào ngày 27-4-2014 lúc 10g tại Vatican.

(Tổng hợp) – https://tgpsaigon.net

Giáo Hoàng Gioan 23.jpeg