MỘT KHÍA CẠNH KHÁC CỦA SỰ KỲ THỊ.

Hoai Linh Ngoc Duong

MỘT KHÍA CẠNH KHÁC CỦA SỰ KỲ THỊ.

Đã có nhiều bài viết về sự kỳ thị của người da trắng với dân châu Á và Dư luận viên của đảng Cộng sản có dịp vỗ tay hoan hô” Không nơi nào bằng tổ quốc Việt Nam” ” Làm thân ăn nhờ ở đậu cũng khổ trăm đường” để từ đó phủ nhận các giá trị dân chủ, tôn vinh độc tài.

Nhưng các bài viết trên chỉ nhìn một phía. Phía khác là để trả lời câu hỏi: “Mình có sao đó người ta mới kỳ thị”. Từ chỗ một số đông với những tập quán tính cách của mình đã làm hoen ố cả cộng đồng và khiến những người tốt, những người hội nhập bị họa lây. Đây không còn là “một con sâu làm rầu nồi canh” mà “cả một bầy sâu làm rầu nồi canh”

Thế giới có 2 loại kỳ thị.

Một loại là kỳ thị ra mặt và một là kỳ thị ngầm. Kỳ thị ra mặt bị cấm bởi pháp luật nhưng kỳ thị ngầm chính là động lực phát triển của xã hội. Kỳ thị ra mặt là sự phân biệt màu da, giới tính, chủng tộc, tôn giáo… để ném đá, chửi bới ,lăng nhục, từ chối phục vụ. Biểu hiện cụ thể cho loại này là những tấm biển đề “Nhà hàng chúng tôi không phục vụ người Nhật,Trung Quốc, da đen, Hồi Giáo…” Những loại kỳ thị này tuyệt đối bị cấm bởi pháp luật tại Hoa Kỳ. Và người Mỹ văn minh không bao giờ làm. Họ không bao giờ dùng cách như Lê Đức Thọ sau khi bắt tay Henry Kissinger ở hội nghị Paris 1973, dùng khăn để lau tay biểu hiện mình cao quý (theo giai thoại). Điều này ở Mỹ sẽ bị xem là kém văn hóa.

Nhưng kỳ thị ngấm ngầm lại là một biểu hiện của văn hóa. Bởi lẻ người ta không khinh vẻ bên ngoài mà là khinh cái tính cách của anh. Đó là khinh cái thói ăn cắp vặt, nói chuyện vô văn hóa, chửi thề, thói quen không xếp hàng, không giữ lịch sự nơi công cộng … cao hơn là thói làm biếng, thích hưởng thụ, trốn thuế, lối sống theo bản năng, nạn cư xử bằng bạo lực, độc hành độc đoán… Tại sao kỳ thị ngấm ngầm là động lực tiến hóa của xã hội. Bởi thói quen về hành vi là cái mà luật pháp không chế tài được. Đó là biểu hiện của văn hóa. Những người ăn không ngồi rồi, trốn trách nhiệm xã hội đôi lúc cũng lợi dụng khe hở của luật pháp để tranh thủ sự nhàn hạ cho mình. Chính sách xã hội đôi lúc vì cái chung cho nên bỏ qua cho những kẻ cơ hội.

Tại sao người Việt nam, Trung Quốc bị thế giới kỳ thị?

Người ta không kỳ thị màu da, quốc tịch của anh mà người ta kỳ thị vì ngón nghề ăn cắp, lừa đảo, văn hóa mất lịch sự của anh nổi tiếng khắp thế giới. Sự kỳ thị này giúp cho dân tộc Việt Nam biết soi lại mình để sống làm sao cho người ta khỏi khinh.

Người ta kỳ thị người châu Á vì những ngón nghề sau đây:

– Trốn thuế.

– Gian lận an sinh xã hội.

– Không tham gia vào bỏ phiếu tạo ra nền dân chủ.

– Sùng bái cá nhân chứ chẳng hiểu về thiết chế.

– Không tham gia biểu tình bày tỏ nguyện vọng của cộng đồng.

– Sống trên xứ người với tâm thế ăn nhờ ở đậu chứ không phải tâm thế làm chủ đất nước.Tìm đủ mọi cách mưu lợi cho mình bất kể lợi ích chung.

– Thể hiện nền văn minh lúa nước.

Từ những kỳ thị ngầm này dẫn đến sự kỳ thị lộ liễu của một số kẻ cực đoan, đánh đồng tất cả người châu Á với nhau. Nhưng kỳ thực trong châu Á cũng có một sắc dân khác đẳng cấp không thua kém họ. Đó là người Nhật.

Tất nhiên từ khi Trump nắm chính quyền các nhóm da trắng cực hữu đã trỗi dậy và công khai bộc lộ sự kỳ thị lộ liễu bởi chủ nghĩa dân tộc. Đó là nền tảng dẫn đến chủ nghĩa phát xít.Nhưng người châu Á trước khi phê phán người cũng phải nhìn lại mình.

Dân da trắng không thể nai lưng đóng thuế để người châu Á lợi dụng các khe hở của chính sách để hưởng lợi.

Tự do không hề miễn phí. Người châu Á đến Hoa Kỳ hưởng tự do mà không hề trả phí xương máu của công cuộc đấu tranh chống độc tài của người Mỹ suốt hơn 200 năm nên rất dễ bị khinh thường. Cách tốt nhất để tránh kỳ thị là họ phải góp sức vào sự thịnh vượng chung. Điều đơn giản là khi thấy lá cờ vàng cắm trên tòa nhà quốc hội Mỹ, biểu tượng của dân chủ tự do thì những người da trắng hiểu biết không kỳ thị người Việt Nam mới là chuyện lạ.

Mình có sao đó người ta mới kỳ thị mình.

Tôi đi tìm một cuốn sách để giúp mình nuôi hy vọng

Tôi đi tìm một cuốn sách để giúp mình nuôi hy vọng

Tương lai lúc nào cũng tối. Thay đổi không phải là đi đến tiệm tạp hóa rồi quay về nhà.

 13/04/2021

By  NGUYÊN SA

Ảnh minh họa: Fanatic Studio/ Getty Studio.

  Nếu bạn là người quan tâm đến chuyện tạo ra thay đổi ở Việt Nam, thời gian vừa rồi hẳn là tăm tối.

Ở Ba Đình, Quốc hội khóa cũ họp để hoàn tất một mục tiêu gọi là kiện toàn bộ máy. Sau tấm màn che, quyền lực thay đổi, một nội các mới hình thành. Chẳng người dân nào biết đấy là đâu. Trong khi đó, người dân được kêu gọi thực hành quyền và nghĩa vụ của mình sau hơn một tháng nữa, để chọn ra những người đại diện cho họ. Những đại diện đó sau khi được bầu ra làm nốt vai trò lịch sử: tán thành phương án kiện toàn của những người tiền nhiệm. Mọi người ai ngồi yên chỗ nấy, chuyện đâu vào đấy.

Trên khắp đất nước, có những người quyết định thực hành quyền chính trị của mình bằng cách tự ứng cử đại biểu Quốc hội. Có người vừa nộp hồ sơ xong thì an ninh đã tìm đến tận nhà. Có những người tự ứng cử khác bị bắt. Phần lớn thì như dự đoán, bị loại ra một cách rất đúng quy trình, thông qua những vòng hiệp thương.

Vài ngày trước, Nguyễn Thúy Hạnh bị bắt. Ba người phụ nữ được cho là can đảm nhất trong phong trào phản kháng tại Việt Nam đều đã phải vào tù. Đáng buồn hơn là, những tiếng phản đối cũng nhỏ dần đi rồi tắt hẳn. Chẳng ai muốn nói gì nữa. Một lời than vãn bây giờ cũng được định giá rõ: 7,5 triệu đồng.

Phạm Đoan Trang, Cấn Thị Thêu, Nguyễn Thúy Hạnh. Ảnh: Luật Khoa/ PhotoMania.

Chính quyền có vẻ là đang thắng trên mọi mặt trận. Vừa làm được việc họ muốn, vừa giữ được tính chính danh.

Tôi phải đi tìm một cuốn sách để giúp mình nuôi hy vọng.

***

“Đối thủ của bạn muốn bạn tin rằng mọi thứ là vô vọng, rằng bạn chẳng có quyền lực gì, rằng chẳng có lý do gì để hành động cả, rằng bạn không thể thắng. Hy vọng là một món quà mà bạn không cần phải từ bỏ, một quyền năng bạn không buộc phải ném đi.”

Rebecca Solnit mở đầu cuốn sách của mình như vậy. “Hope in the Dark“, ra đời năm 2003, được ví như một chiếc đèn pin để các nhà hoạt động (activists) soi vào tương lai tăm tối. Cuốn sách được viết khi bản thân tác giả, một nhà hoạt động, đối diện với nỗi thất vọng vì nước Mỹ quyết định bắt đầu cuộc chiến tại Iraq. Nó mời gọi người đọc thay đổi cách nghĩ về chính sự thay đổi, nhắc lại những thành tựu trong lịch sử mà người ta thường bỏ quên trong sự hỗn loạn của đời sống thường ngày, và bồi đắp thêm nền tảng cho hy vọng đứng vững.

Thú thực là những câu chuyện về thay đổi trong lịch sử không làm tôi ấn tượng. Bức tường Berlin, Cách mạng Hoa Nhài ở Tunisia, Mùa xuân Ả Rập v.v…, những sự kiện ấy tôi đều đã được nghe cả, và chúng diễn ra ở những bối cảnh xa xôi chẳng liên quan đến tôi. Sự tối tăm ở Việt Nam là một kiểu khác, sự thờ ơ với chính trị và sự thoải mái với việc bị cai trị ngấm sâu vào đời sống ở Việt Nam là một mức độ trầm trọng khác – tôi nghĩ vậy.

Chiếc đèn pin của Rebecca Solnit chỉ bắt đầu rọi đến tôi ở chương sách thứ 10, khi bà nói về vấn đề trong sự sốt ruột của những nhà hoạt động. “Changing the Imagination of Change” (Thay đổi những hình dung về sự thay đổi) là tiểu luận khởi đầu của cuốn sách “Hope in the Dark”. Nó nhìn vào nội hàm của sự tham gia chính trị, chạm vào những tình cảm, những mong muốn vừa riêng tư lại vừa phổ quát của những người đòi hỏi thay đổi, và lý do khiến cho họ dễ thất vọng.

Một cuộc biểu tình đòi quyền lợi cho người da màu tại Washington D.C., Mỹ vào năm 1963. Ảnh: Steve Schapiro/ Corbis/ Getty Images.

“Nhiều nhà hoạt động có một cái nhìn máy móc về thay đổi, hoặc có lẽ họ mong chờ điều mà những viên thuốc giảm cân giả quảng cáo, “bảo đảm hiệu quả nhanh và dễ dàng”. Họ mong chờ kết quả sau cùng, sự xác quyết, những mối quan hệ nguyên nhân – kết quả dễ thấy, những lợi ích ngay lập tức. Để rồi kết quả là họ chỉ thấy sự thất vọng, về sau trở thành những nỗi cay đắng, sự nghi ngờ, thái độ biết-thừa-là-thể-nào-cũng-sẽ-thua. Họ làm mọi thứ trên một giả thuyết rằng với mỗi hành động, đều phải có một hành động đáp trả tương ứng và kịp thời, nếu không thì là thất bại.”

(Sao người ta bị bắt liên tục thế mà chẳng ai nói gì nhỉ, thật là tệ! Tôi bắt đầu thấy nhột khi sự sốt ruột của mình bị nhìn thấu.)

Lịch sử nhắc chúng ta rằng những sự thay đổi không diễn ra giống như một ván cờ có hồi kết. Nó giống như thời tiết, bao gồm nhiều hiện tượng phức tạp với những hiệu ứng trộn lẫn vào nhau, và nó cứ như thế mãi. Một cú đập cánh của một con bướm ở châu lục này có thể tạo ra một cơn bão ở châu lục khác, nhưng quá trình ấy có thể kéo rất dài.

Cần một thế kỷ để chấm dứt chủ nghĩa nô lệ ở Mỹ, nhưng những hậu quả của nó đến giờ vẫn tồn tại. Cần một thế kỷ để phụ nữ được quyền đi bầu, nhưng cuộc chiến với các định kiến giới thì chưa từng kết thúc. Hành trình tạo ra thay đổi không giống như đi bộ đến cửa hàng tạp hóa ở góc phố để mua một món hàng rồi quay về nhà. Trái lại, nó là sự dấn thân vào vùng bất định.

Những người phụ nữ biểu tình tại Washington D.C., Mỹ vào năm 1915, đòi quyền được bỏ phiếu như nam giới. Ảnh: Harris & Ewing/ Buyenlarge/ Getty Images.

“Tương lai lúc nào cũng tối”, Solnit biện luận, nhưng sự tối tăm đó không nhất thiết là tồi tệ, nó chỉ có nghĩa là bí ẩn. Nếu chúng ta tiếp tục lần mò trong bóng tối đó và tìm cách đi tới, nhiều khả năng khác sẽ có cơ hội xảy ra.

Cơ sở mạnh mẽ nhất của hy vọng là sự bất định. Chỉ có một điều chắc chắn thôi, là mọi thứ sẽ thay đổi. Sự bi quan rằng mọi thứ rồi sẽ như cũ về căn bản là không đúng. Sự lạc quan rằng mọi thứ rồi sẽ tốt lên cũng không hề có cơ sở. Và cả hai lời khẳng định chắc nịch này đều là lý do để từ chối hành động. Hy vọng thì khác. Cơ sở của hy vọng là niềm tin rằng những hành động của chúng ta có hiệu ứng. Nhưng hiệu ứng vào lúc nào, tác động đến ai, như thế nào thì ta không biết trước. Quan trọng là ta bắt tay vào làm.

Hy vọng không có nghĩa là ngồi yên trên ghế sofa của mình đeo cặp kính hồng và tin mọi thứ sẽ ổn. Hy vọng kéo chúng ta đứng lên, xô chúng ta ra khỏi cửa, mời gọi chúng ta bắt tay vào hành động. Sai hay đúng, thành hay không thành, là chuyện quá sớm để phán xét. Tuyệt vọng khi chưa làm hết những thứ có thể làm chẳng qua là một lựa chọn dễ dãi hơn.

***

Ở Việt Nam bây giờ cũng tối. Trong mắt tôi, những động lực thay đổi chưa từng yếu như lúc này. Nhưng cuốn sách của Rebecca Solnit gợi ý rằng đó có thể là do tôi lười tìm kiếm thôi. Chuyện có thêm ai đó bị bắt không nên khiến tôi tuyệt vọng, thay vào đó, tôi nên bắt đầu tìm hiểu về những việc họ làm trước khi bị bắt, và kể lại những thay đổi nhỏ mà họ đã góp phần tạo ra. Những ký ức đó sẽ giúp chúng ta không bị hiện tại tối tăm đánh lừa rằng mọi thứ lâu nay vẫn thế.

Nguyễn Thúy Hạnh trong một lần biểu tình vào năm 2016 tại Hà Nội, với biểu ngữ đòi trả tự do cho hai tù nhân lương tâm. Ảnh: Facebook Nguyễn Thúy Hạnh/ RFA.

Đó là một bài tập thể dục tinh thần có thể cần thiết cho cả bạn, nếu bạn cũng đang tìm một lý do để giữ một ngọn lửa nhỏ trong mình. Nếu lửa tắt, hãy nghĩ về những người đang ở trong tù. Tối tăm mà chúng ta nhìn thấy ở đây đâu là gì so với họ.

Nếu tất cả những gì chính quyền muốn là chúng ta bỏ cuộc, buông xuôi, thì hy vọng bản thân nó đã là một hành động phản kháng.

Nghĩ về nỗi sợ hãi và hòa giải dân tộc

Nghĩ về nỗi sợ hãi và hòa giải dân tộc

Bởi  AdminTD

Thái Hạo

14-4-2021

Vài ngày trước, một người bạn vong niên của tôi, người từng tham gia trong cuộc “20 năm nội chiến từng ngày” với tư cách một người lính của Miền Nam VN, kể rằng khi phóng viên hỏi ông: “Làm thế nào để hòa giải dân tộc?”, ông trả lời “Chỉ có thể hàn gắn khi cả hai bên đều hiểu rõ tính chất của cuộc chiến tranh này, một cuộc chiến tranh mà bên nào cũng là nạn nhân của trò chơi chính trị trong tay các siêu cường”.

Cả câu hỏi và câu trả lời đều làm tôi suy nghĩ, nó vừa khơi lên nỗi chua chát cùng tận vừa bất mãn mơ hồ. Và tôi muốn thử tìm một lý giải cho mình bên ngoài câu chuyện chính trị.

Người Việt phải chăng đã bất hòa với nhau từ lâu xa trong quá khứ chứ không phải từ 1954 hay 1975? Chúng ta bất hòa từ trong gia đình đến họ tộc, làng xóm; Bất hòa từ trong nhà ra đồng lúa, từ tông tộc đến xã hội. Con cái và cha mẹ không phải là “gia hòa vạn sự hưng” mà là áp đặt và nghe lời; Vợ chồng không phải “tương kính như tân” mà là trên dưới một chiều, anh em không phải “như thể chân tay” mà là “quyền huynh thế phụ”…

Người trong nhà rất ít nói chuyện với nhau. Khi nhỏ thì thường là cha nói con nghe, khi lớn lên thì im lặng xâm chiếm, mà hễ mỗi khi có chuyện cần bàn thì ngồi lại là liền xung đột. Vợ chồng mới cưới thì ríu rít được vài hôm, ngày qua tháng lại chưa lâu thì “mở miệng là cãi nhau”. “Đi họ bênh anh em nhà, đi chợ bênh anh em họ”.

Hãy nhìn nông thôn Bắc và Trung bộ, khó tìm thấy một đám hiếu hỉ ma chay nào mà không lời qua tiếng lại, anh em cự cãi, chửi bới, từ mặt. Nhà càng đông người, nguy cơ “mất đoàn kết” càng lớn. Hễ chung bờ rào là chửi chó mắng gà, rào đường cách lối, nói xấu sau lưng. Hễ chung bờ ruộng là mắng cỏ bới lúa, là xách đòn gánh rượt nhau. Cái cách nói “dân Thanh Hóa, dân Nghệ An, dân xyz” thường mang hàm nghĩa phân biệt vùng miền với ý kỳ thị hoặc tự tôn…

Tại sao thế? Những tín điều như “tình làng nghĩa xóm”, như “tối lửa tắt đèn”, như bầu bí nhiễu điều… phần nhiều là để an ủi và phỉnh phờ hơn là một thực tế. Sự ganh ghét đố kỵ, thói ngồi lê đôi mách và nạn “tin giả” (fake news) đã có từ nhiều trăm năm trước.

Có một cái gì rất dễ đổ vỡ trong các mối quan hệ Việt. Người ta hoặc gắng gượng, hoặc màu mè, hoặc chịu đựng, hoặc miễn cưỡng… để “che mắt thiên hạ”. Người Việt rất sợ bị “cười” nên họ sẵn sàng “đóng cử bảo nhau”, “tốt đẹp khoe ra xấu xa đậy lại”. Cả khen và chê đều không mấy khi thật lòng mà thường cốt để làm đẹp lòng nhau. Khen thì khen hết lời, lúc chê thì thành mạt sát hủy nhục. Những sự nối kết giữa người với người rất mong manh, nhưng kỳ lạ thay dù “cơm không lành, canh chẳng ngọt” nhưng người ta lại có thể sống suốt đời cùng nhau; chê nhưng không bỏ, khinh nhưng không từ, oán mà không than. Đó là một trạng thái quái gở của quan hệ người – người trong cộng đồng Việt.

Ngay cả những người được cho/tự nhận là “đấu tranh dân chủ” ngày nay cũng khó mà ngồi lại cùng nhau. Cùng với việc chửi chính quyền là chửi nhau. Cái “cộng đồng” ấy chia rẽ một cách đáng kinh ngạc. Chính quyền, dân và “giới bất đồng” dường như chẳng bao giờ gặp nhau. Cứ mỗi người một ốc đảo mà hễ lại gần là nghi ngờ, là bất hòa, là tranh cãi.

Nói rất nhiều mà dường như chẳng có người nghe. Cãi rất to mà chỉ như tiếng ồn. Giữa người với người dường chỉ có những âm thanh hỗn tạp. Không ai thấy cần thiết phải nghe ai. Tất cả những cái tôi đều to đùng. Một điều tệ hại mà chúng ta ít thấy trong lịch sử: Người trí thức ngày càng trở nên vô hình trong mắt dân cày. Người ta không còn trọng tri thức và trí thức nữa. Đây là tiếng chuông báo điểm sự suy tàn tột độ của một xã hội.

Phải chăng, chúng ta là một dân tộc “dũng cảm” như lời tụng ca? Điều ấy đáng ngờ. Hình như NỖI SỢ HÃI mới chính là “bản sắc” của nòi giống? Mặc cảm nghèo hèn, mặc cảm nhược tiểu, mặc cảm dốt nát… đè nặng lên dân tộc suốt trường kỳ lịch sử. Càng mặc cảm thì biểu hiện ra càng trái ngược. Kẻ yếu nhược thường hung hăng, người nghèo hèn thường khoe mẽ, dốt thì hay nói chữ… Cái cơ chế phòng vệ này là một sự tinh quái của bản ngã; sự tinh quái đánh lừa chủ nhân của nó có thể suốt cuộc đời; và như thế là suốt chiều dài lịch sử của một cộng đồng.

Chúng ta đã bị kẻ láng giềng to con và thâm hiểm bắt nạt suốt cả ngàn năm. Rồi chính chúng ta cũng đã du nhập một chế độ đẳng cấp bất công vào mỗi ngôi nhà, mỗi xóm làng; chúng ta cai trị kẻ khác bằng con đường của chuyên chế. Chồng độc đoán với vợ, cha độc đoán với con, anh độc đoán với em, quan độc đoán với dân, giàu độc đoán với nghèo, lớn độc đoán với nhỏ. Đó là một loại khế ước của “mạnh vì gạo, bạo vì tiền”. Nó thâm nhiễm vào tất cả mọi cá thể, và từ nạn nhân của sự cai trị độc đoán, người ta sẽ trở thành những bàn tay độc đoán ngay khi có cơ hội. Đáng sợ hơn, ngày nay cái thiết chế ấy còn phủ trùm trên thân thể xã hội bằng cách nhân danh những thứ thật mỹ miều.

Sự coi thường, khinh bỉ hay nỗi sợ hãi và tính hèn hạ được sinh ra từ cái thiết chế “gạo tiền” này. Chúng ta giàu tự ái hơn là lòng tự trọng; chúng ta tự cao hơn là tự tôn; tự phụ hơn tự chủ, tự huyễn hơn tự học… Chúng ta theo đuổi mảnh bằng hơn là truy tầm chân lý; chúng ta theo đuổi tiền bạc mà bỏ quên mục đích của đời sống; theo đuổi địa vị mà quên đi trách nhiệm. Chúng ta nổi nóng với vợ con nhưng dạ vâng trước cường quyền; chúng ta làm từ thiện khắp nơi nhưng bỏ bê họ hàng; chúng ta ngọt ngào với thiên hạ nhưng cộc cằn với người nhà…

Một đằng là “tạo dựng hình ảnh”, đằng kia là thể hiện quyền lực. Cả hai đều là biểu hiện sự yếu nhược của một cái tôi nhiều tổn thương và đổ vỡ. Chúng ta cố chống chọi với sự khiếm khuyết của nhân cách mình bằng những lối tiêu cực nhất như thế.

Nỗi sợ hãi là căn nguyên của tất cả? Càng sợ hãi, người ta càng hung dữ, càng sợ hãi người ta càng làm màu. Người Việt sợ nhất là bị “cười”, không được để người khác cười, phải mạnh mẽ lên, phải sang trọng lên, phải giàu lên, phải đẹp lên… Phải chứng tỏ rằng “ta đây chẳng kém ai”. Cuộc đời đã bị đánh mất bằng những cách như thế. Người ta bỏ lại phía sau tất cả để trưng ra một hình ảnh “đẹp” nhất – vì cái mặc cảm ấy nên suốt đời họ phải “sống cho người khác xem”.

Người ta nhìn nhau để sống, đua nhau để làm: Xây nhà to, sắm đồ sang, mua điện thoại xịn, tậu túi xách và đồng hồ hàng hiệu… ngay cả khi không có tiền. “Giải quyết khâu oai” là mục tiêu của mỗi cuộc đời. Oai vì đồ đạc, oai vì áo quần, và đau khổ nhất là oai vì con cái. Để thỏa mãn sự đói khát truyền kiếp, người ta bấp chấp ước mơ của con cái để sẵn sàng đẩy chúng vào những cuộc chiến khốc liệt của trường chuyên lớp chọn, đẩy chúng vào những lớp học thêm bất kể ngày đêm. Họ sẵn sàng “hi sinh đời bố, củng cố đời con”, nhưng thực ra đó là hi sinh đời con cho đời bố nở mặt. Cái sự “hiếu học” của người Việt có lẽ nên nhìn từ một góc độ khác: Mặc cảm, mặc cảm của nhiều thế hệ. Người ta quên đi những chân giá trị của sự hiểu biết để tìm những chỗ dựa tiêu cực cho cái bản ngã thất bại của mình.

Chúng ta đổ vỡ từ bên trong bởi thân phận nô lệ và yếu nhược, nó làm thành một cuộc chiến tranh triền miên qua các thế hệ trong mỗi cá nhân. Từ sự bất hòa bên trong tinh thần dẫn tới những xung đột bên ngoài xã hội; từ những động loạn của thế giới vô thức biến hiện thành những cuộc chiến của những cái tôi. Ở thế kỷ 21 này, có lẽ tư duy nhị nguyên bị phát tướng nặng nề bậc nhất là trên xứ sở của chúng ta. Đẹp xấu, giàu nghèo, sang hèn, cao thấp… luôn sẵn sàng lao vào nhau để nổ tung thành các mảnh vỡ của xã hội.

Cuộc chiến tranh Nam – Bắc đã đi qua gần nửa kỷ mà mặc cảm còn đè nặng thành những lễ kỷ niệm, thành những khúc hoan ca, thành “ngày quốc hận”, thành những trận chiến bất tận trên mạng xã hội.

Mọi thứ chỉ có thể được hàn gắn khi mặc cảm được xua tan bởi sự lớn dậy của tư thế con người vượt lên trên thắng bại để sống với những giá trị tự thân mà không cần đến những thứ trang sức “anh hùng”, “thắng cuộc”, “văn minh”… Chừng nào người ta còn phải viện đến những món đồ ấy để làm sang, chừng ấy cuộc chiến còn chưa thể kết thúc. “Không ai có thể làm ta ô uế, cũng không ai có thể làm ta trong sạch”, “như người uống nước, nóng lạnh tự biết” – đó chính là sự trung thực tự thức về giá trị của bản thân. Và ở đây, liêm sỉ và sự tự tôn luôn phải song hành.

Những giá-trị-người, mà căn bản nhất và cũng sâu xa nhất là NHÂN PHẨM, phải được đánh thức và nuôi lớn. Nếu không “phổ cập” cái nền móng này trong tất cả cá nhân để mỗi người tự vượt lên trên những cơm áo gạo tiền danh vị mà sống đàng hoàng với sự tôn nghiêm thẳm sâu thì sẽ không cách gì hòa giải được.

Bài học của nội chiến Mỹ còn nguyên ở đó, khi cả 2 cùng tôn trọng nhau và tự trọng chính mình. Muốn hàn gắn dân tộc, trước hết cần tự hàn gắn những vết thương do mặc cảm gây nên. Và bên cạnh tất cả những điều ấy, có lẽ chúng ta cần một nỗi đau chung thay cho niềm tự hào? Trên tinh thần đó, sự hòa giải không phải chỉ là câu chuyện Nam – Bắc, mà căn bản hơn là câu chuyện của con người với con người, nhìn như lịch sử của cả một cộng đồng trong suốt chiều dài văn hóa của nó.

Tình ruột thịt

Tình ruột thịt

 Nguyễn Đan Tâm 

Bà Hai giựt mình, chới với khi chạm mặt gần 50 người đang chờ đón bà và con gái. (Hình minh họa: Tomohiro Ohsumi/Getty Images)

Qua nhiều đêm trằn trọc, mất ngủ, bà Hai quyết định trở về Việt Nam thăm họ hàng sau nhiều năm xa cách. Bà sang Mỹ theo diện con lai dù con của bà lai Tây. Chuyện bắt đầu từ thời má của bà lấy chồng Tây và bây giờ con của bà chỉ lai Tây có 25 phần trăm thôi. Nhưng mấy ông cách mạng đâu cần biết chuyện nầy. Cứ thấy có nét lai (Mỹ hay Tây như nhau mà) là lên danh sách cho đi Mỹ. Càng đi nhiều, cán bộ càng có lợi. Ở đây, ta mới thấy cái tầm nhìn xa của các đỉnh cao trí tuệ, khi khúc ruột ngàn dặm biến thành con bò sữa. Trước ngày lên đường, làng xóm tấp nập đến chúc mừng, ca tụng gia đình thế mà có phước, được sang Mỹ như trúng số lớn.

Rồi bà Hai cùng cô con gái sang Mỹ. Đất lạ, quê người, bà lại không biết chữ (Việt và Mỹ), nên suốt ngày chỉ quanh quẩn với công việc nhà, chăm sóc vườn rau xanh, và ngồi chờ con đi làm về để nói chuyện. Chuông điện thoại có reo vang cũng chẳng dám giở máy vì tiếng nói lạ hoắc, nghe mà không hiểu gì. Từ ngày sống ở Mỹ, bà Hai được hưởng tiền già (thời tổng thống Reagan, người ta hay nói đùa là “tiền của ông già”), mặc dù tuổi bà chưa tới 60, lại khỏe mạnh. Một người không tay nghề, lại câm và điếc (dù tai, miệng bình thường) nên lẽ tự nhiên chẳng hng nào dám nhận. Như vậy dư luận trong làng đúng phong phóc: bà cứ qua Mỹ đi, người già bên đó không cần làm gì, có chính phủ nuôi. Người khác lại kể chuyện con Mén con của bà Tư ở xóm trên mới về thăm nhà năm rồi. Ôi thôi! Quần áo lượt là, vàng đeo đầy người, trái ngược với cái nghèo lúc còn ở Việt Nam. Nghe nói làm gì đó bên Mỹ, chắc là làm lớn lắm vì muốn đi đâu đều có xe và tài xế, con cái đi học cũng có xe đưa rước miễn phí, hàng tháng có tiền chính phủ gởi đến tận nhà. Xứ Mỹ thật là thần tiên, vì một con nhỏ nghèo, thất học, con cái đùm đề, bỗng đổi đời trở nên giàu có, sang trọng! Đúng là chuyện “cô bé lọ lem trên đất Mỹ.”

Nhờ sống chung với con nên mỗi tháng bà Hai dành dụm được ít tiền phòng khi hữu sự. Trong khi đó, thư từ của bà con ở Việt Nam tiếp tục đổ sang Mỹ. Thư nào cũng chan chứa tình cảm họ hàng với nhiều nước mắt nhớ thương, mong bà Hai sớm trở về thăm quê hương, làng xóm và kết thúc với một điệp khúc: Xin giúp đỡ tiền bạc vì ai cũng nghèo. Có người còn bảo bà ra máy tự động lấy tiền gởi về cho họ vì ở Mỹ chính phủ in tiền để sẵn trong máy cho dân lấy xài thoải mái. Lương tháng một người lao động ở Việt Nam lúc đó chỉ 30 đô. Mỗi tháng bà gởi hai trăm đô nhưng dường như chẳng thấm vào đâu vì gần đây thư kêu cứu càng thêm gấp rút và nhấn mạnh gia đình cần một ngàn đô mỗi tháng. Bà Hai đọc thư mà tay chân lạnh ngắt vì số tiền to lớn nầy. Tất nhiên, lớn đối với bà, còn quá nhỏ với người Việt Nam có thân nhân ở Mỹ. Con gái bà đi làm hãng, mỗi tháng được ngàn rưỡi đô trừ tiền nhà, xe, điện, nước, ăn uống… còn dư chút đỉnh.  (Phải nói rõ là con nhỏ làm mỗi ngày từ 6 giờ sáng đến 8 giờ tối mới được đồng lương như vậy.) Nay bên Việt Nam đòi số tiền lớn hàng tháng thì lấy tiền đâu mà gởi nên bà run là phải.

Bà Hai và con gái về đến phi trường Tân Sân Nhứt vào một ngày nắng đẹp nhưng trong lòng bà thì lắm mối u sầu. Bà hận mình không giúp được họ hàng như bao Việt kiều khác. Sau khi xong thủ tục nhập cảnh, tiến ra ngoài, bà Hai giựt mình, chới với khi chạm mặt gần 50 người đang chờ đón bà và con gái. Tiếng gọi chị, bà, cô… vang lên ơi ới: Nhứt là đám con nít tranh nhau đến mừng bà về. Bà Hai thật ngạc nhiên hôm nay sao có nhiều bà con như vậy. Nhiều người bà  chưa gặp bao giờ. Rồi mọi người lên xe được mướn sẵn trực chỉ về Hậu Giang. Đứa nhỏ nào cũng đòi ngồi kế bà của tao. Xe chưa ra khỏi thành phố thì mọi người nhao nhao và nhứt là lũ trẻ đồng loạt kêu đói bụng vì từ sáng sớm chưa ăn gì. Tài xế không biết tình cờ hay cố ý cho xe chạy trên con đường với nhiều quán ăn, rồi đột ngột ngừng xe trước một tiệm khá khang trang. Chủ tiệm và nhân viên biết hôm nay trúng mối Việt Kiều miệng cười toe toét, vồn vã chào mời. Một giờ sau, mọi người no bụng, vui vẻ. Lẽ cố nhiên khổ chủ của bữa tiệc bất đắc dĩ là mẹ con bà Hai. Điều oái ăm là mẹ con bà Hai chưa bao giờ đi ăn tiệm trong 5 năm ở Mỹ. Nhiều người còn nói lâu lắm rồi mới được ăn ngon như thế nầy, ước gì bà Hai về đều đều thì hay biết mấy. (Như vậy đi ăn chớ đâu phải đi đón Việt kiều.)

Xe về quê bà Hai, một làng nhỏ ở miền Tây. Cảnh cũ, người xưa không thay đổi. Đêm đầu tiên chị em thức khuya kể chuyện gia đình. Ai cũng than công việc làm ăn khó khăn, con cái nheo nhóc, đời sống quá nghèo dù có tiền viện trợ hàng tháng của bà Hai. Mới hừng đông, ngoài ngõ đã nghe xôn xao tiếng người đến mừng bà Hai về thăm quê nhà. Nhà thì nhỏ, khách lại đông, không đủ chỗ ngồi, đứng cả ngoài sân. Khách cứ rề rà, không ai chịu ra về dù trời đã đứng bóng. Cuối cùng, một người đại diện đám đông chúc mừng bà Hai và con gái rồi chấm dứt với điệp khúc xin chút ít quà  từ Mỹ. Bà Hai cũng thông cảm tình cảnh của đồng hương nên cầm một xấp tiền, định cho mỗi nhà 20 đô làm phước. Thật là bất ngờ khi có một người vọt nói: ở đây không ai xài số tiền nầy, phải 50 trở lên mới được. Bà Hai thiếu điều muốn xỉu. Bà nhớ có lần ở Mỹ bà đang đứng trước chợ thì có một người Mỹ đến xin “quarter,” bà cho 1 đô. Người Mỹ được tiền chắp tay cám ơn bà rối rít. Còn ở đây xứ nghèo sao lại chê tờ 20 đô. Nhưng bà cũng phải bấm bụng phát cho mỗi gia đình 50 đô. Xong đám đòi nợ lại đến cô em dâu xin tiền đi chợ vì không lẽ để bà và con gái ăn cơm với nước mắm. Bà Hai ngạc nhiên thấy mấy người trong nhà không đi làm. Sáng 11 giờ mới thấy mọi người thức dậy.  Đàn ông thì ra quán cà phê ngồi, tới trưa về nhà ăn cơm, ngủ một giấc đến 4, 5 chiều rồi ra quán nhậu. Đàn bà thì gầy sòng tứ sắc. Nếu có hỏi tại sao thì câu trả lời như một điệp khúc: Có việc gì đâu mà làm. Con nít ăn no chỉ chạy rong chơi, chẳng thấy đi học. Cơm nước, việc nhà, kể cả việc chia bài đã có mấy đứa  nhỏ hàng xóm sang phụ giúp. Như vậy nguyên nhân cái nghèo thấy rõ ràng trước mắt.

Ngày hôm sau, mới vừa tảng sáng đã thấy một đám người gồm hai công an xã và hai người lạ đến đòi gặp anh Tư (em ruột bà Hai.) Hai người lạ cho biết, từ 5 năm nay, anh Tư có mượn của họ một số tiền Việt Nam tính ra là năm ngàn đô. Họ đưa cho xem giấy ký nợ. Lâu nay hẹn lần không chịu trả, chỉ trả tiền lời thôi. Nay họ phải nhờ công an giải quyết. Phía công an cho biết nếu hôm nay không trả họ phải giải anh Tư về xã chờ đưa lên huyện ra tòa. Cô em dâu khóc lóc, kể lể vì nhà nghèo phải mượn tiền để sống, may mà có thân  nhân là Việt kiều nên có người cho mượn. Nay xin chị cứu giúp em ruột, vì nếu bị giải lên huyện sẽ bị kêu án tù. Bà Hai trông thật khổ sở, nói không ra lời. Tiền thì bà không có đủ. Mới về có một ngày đã tốn hết mấy ngàn. Nay lấy đâu ra năm ngàn trả nợ cho em. Bà đưa mắt cầu cứu con gái. Cô nầy không nói gì. Sau một hồi chờ đợi, đám công an giải anh Tư đi mất. Vợ anh Tư rống lên thảm thiết như chồng chết. Bà Hai chịu không nổi nên năn nỉ con gái cho bà mượn bốn ngàn, cộng với một ngàn còn trong túi của bà đưa cho cô em dâu đi chuộc người. Bà phải hứa với con gái khi qua Mỹ sẽ lấy tiền già trả lần.Và anh Tư về nhà vui vẻ như chưa có chuyện gì xảy ra.

Bà Hai dự định về thăm quê một tháng. Nhưng được một tuần thì cô con gái đòi trở lại Mỹ với lý do: Không đủ tiền chợ cho vợ anh Tư. Mỗi ngày phải chi 200 đô thì sạch túi trước thời hạn. Hai mẹ con lên Saigon đổi vé máy bay qua Mỹ. Khi từ giã không thấy vợ chồng anh Tư cản trở, cũng không thấy người trong xóm đến tiễn đưa.

Máy bay chuẩn bị cất cánh. Qua khung cửa kiếng, bà Hai nhìn mảnh trời quê hương bỏ lại mà thấy lòng se thắt vì bà biết rằng đây là lần cuối cùng.

Mấy tháng sau, bà Hai nhận được thư từ Việt Nam của một đứa cháu kêu bà bằng cô. Nó nói rằng vụ công an đòi nợ là việc sắp đặt giữa vợ chồng bác Tư của nó và đám công an để moi tiền bà Hai. Công an lấy hai ngàn. Bác Tư gái thì lấy ba ngàn đi sắm vàng. Chuyện xì ra vì bác Tư trai muốn lấy tiền đi nhậu, bác gái không cho. Hai vợ chồng cãi nhau dữ quá. Cả xóm đều biết chuyện nầy.

Trời ơi! Khốn nạn quá! Là những tiếng kêu của bà Hai trước khi bà ngất xỉu…

Nguyễn Đan Tâm 

From: TU-PHUNG

Vì sao bạn không hạnh phúc?

Vì sao bạn không hạnh phúc?

 Hãy áp dụng ngay “Định luật Festinger”.

   10% của cuộc sống được hình thành từ những việc xảy ra với bạn, và 90% của cuộc sống được quyết định bởi thái độ, phản ứng của bạn đối với những việc xảy ra với mình. Đó chính là nội dung của “Định luật Festinger” được đưa ra bởi một nhà tâm lý học xã hội nổi tiếng người Mỹ Festinger.

Hay nói cách khác, 10% sự việc xảy ra trong đời là bạn không cách nào kiểm soát được, nhưng 90% còn lại đều phụ thuộc vào chính bạn.

Những cảm xúc tồi tệ, tâm trạng phẫn nộ sẽ không ngừng luân chuyển qua lại.

Trong cuốn sách của mình, Festinger đã đưa ra một ví dụ như sau:

Một buổi sáng, sau khi thức dậy, Festinger đi rửa mặt và tiện tay tháo chiếc đồng hồ đắt tiền của mình để cạnh bồn rửa mặt, vợ anh sợ đồng hồ bị nước làm ướt nên đem đặt nó lên bàn ăn. Con trai anh tỉnh dậy, lúc tới bàn ăn lấy bánh mì, không cẩn thận đã làm chiếc đồng hồ rơi xuống đất và hỏng mất.

Festinger vô cùng yêu thích chiếc đồng hồ, liền đánh con trai một trận thật đau, sau đó tức giận hằm hằm mắng vợ một hồi. Vợ anh cảm thấy vô lý, nói với anh rằng vì sợ nước làm ướt đồng hồ nên mới làm như vậy, Festinger nói đó là chiếc đồng hồ không thấm nước.

Thế là hai người cãi nhau kịch liệt. Vì quá tức giận Festinger đã không thèm ăn bữa sáng, lái xe tới công ty luôn, nhưng lúc sắp tới công ty thì đột nhiên nhớ ra mình quên mang cặp, lại lập tức trở về nhà.

Nhưng trong nhà lại chẳng có ai, vợ thì đi làm, con thì đi học, Festinger lại để chìa khóa ở trong cặp, không có cách nào vào nhà, anh đành phải gọi điện cho vợ để lấy chìa khóa.

Trong lúc người vợ vội vã chạy về nhà đã đâm vào một sạp hoa quả ven đường, chủ sạp không cho cô đi, bắt cô phải bồi thường, cô buộc lòng phải bồi thường một khoản tiền mới được đi.

Sau khi lấy được cặp, Festinger đã đi trễ 15 phút, bị cấp trên gay gắt phê bình, tâm trạng lúc này đã vô cùng tồi tệ. Trước khi tan làm, vì một việc nhỏ mà anh lại cãi nhau với đồng nghiệp một trận nữa.

Người vợ cũng bởi vì phải về nhà đưa chìa khóa cho chồng mà mất giải thưởng chuyên cần cả tháng. Hôm nay con trai tham gia thi đấu bóng chày, vốn dĩ cậu bé hy vọng sẽ đoạt giải quán quân, không ngờ vì tâm trạng không tốt, không phát huy được khả năng, bị loại ngay từ vòng một.

Trong câu chuyện được lấy làm ví dụ này, chiếc đồng hồ bị vỡ là 10% chúng ta không thể kiểm soát trong cuộc sống, còn một loạt những việc xảy ra sau đó chính 90% còn lại. Chính là bởi vì mọi người trong câu chuyện đều không kiểm soát được 90% đó, mới dẫn tới việc biến ngày hôm đó trở thành “ngày rắc rối”.

Hãy thử nghĩ, sau khi 10% kia xảy ra, giả sử Festinger không làm như những gì mình đã làm, đổi một thái độ khác. Ví dụ, anh tới an ủi con trai: “Đừng quá lo lắng con trai, đồng hồ vỡ rồi cũng không sao, bố mang đi sửa là được”. Nếu làm như vậy con trai sẽ vui vẻ, vợ cũng thoải mái, chính bản thân anh ấy cũng không phiền muộn, vậy thì tất cả những vấn đề sau đó sẽ không xảy ra rồi.

Có thể thấy, bạn không thể khống chế được 10% trước đó, nhưng hoàn toàn có thể dùng thái độ và hành vi của mình để quyết định 90% sự việc phía sau.

Trong thực tế cuộc sống, chúng ta thường nghe những lời ca thán như: Tại sao tôi lại kém may mắn như vậy, ngày nào cũng gặp phải những chuyện đen đủi, làm thế nào để tâm trạng tôi tốt hơn một chút, ai có thể giúp tôi đây?

Đây chính là vấn đề về tâm lý của mỗi cá nhân. Thực ra không ai có thể giúp bạn ngoài chính bản thân bạn. Nếu như mọi người có thể hiểu và vận dụng thuần thục “Định luật Festinger” trong cách giải quyết, mọi chuyện sẽ được xử lý một cách thỏa đáng.

10% sự việc xảy ra trong đời là bạn không cách nào kiểm soát được nhưng 90% còn lại đều phụ thuộc vào chính bạn.

Hãy đồng cảm, ngưng phàn nàn sẽ giúp bạn tìm thấy hạnh phúc

Một nhà văn trong chuyến công tác của mình, tình cờ đã nhìn thấy một chiếc taxi rất đặc biệt. Người tài xế taxi ăn mặc rất lịch thiệp, xe cũng rất sạch sẽ.

Nhà văn vừa mới ngồi xuống, liền nhận được một tấm thẻ vô cùng tinh xảo từ người tài xế, trên tấm thiệp viết: “Hành khách của tôi sẽ được đưa tới địa điểm một cách nhanh nhất, an toàn nhất, tiết kiệm nhất bằng một sự thân thiện nhất”.

Đọc xong tấm thiệp, nhà văn liền cảm thấy thú vị, bèn bắt chuyện với người tài xế.

Người tài xế nói: “Xin hỏi, ngài có muốn uống gì không?” Nhà văn ngạc nhiên: “Không lẽ đi xe khách hàng còn được phục vụ đồ uống sao?”

Người tài xế cười nói: “Đúng vậy, tôi không chỉ có cà phê, còn có nhiều loại đồ uống khác, hơn nữa còn có nhiều loại báo khác nhau”. Nhà văn nói: “Vậy tôi có thể uống một ly cà phê nóng được không?”  Người tài xế ung dung rót cho nhà văn một tách cà phê nóng từ chiếc ly giữ nhiệt bên cạnh. Sau đó lại đưa cho nhà văn một tấm thẻ, trên thẻ là tên của các loại báo khác nhau và các danh sách chương trình của các đài phát thanh khác nhau, “Times”, “Sports News”, “Today USA”…. thực sự rất đầy đủ.

Nhà văn không xem báo, cũng không nghe nhạc. Mà ngồi nói chuyện cùng với người tài xế. Trong khoảng thời gian đó, người tài xế quan tâm hỏi han nhà văn, nhiệt độ trong xe đã thích hợp hay chưa, có một con đường gần điểm đến hơn, nhà văn có muốn đi hay không. Nhà văn cảm thấy vô cùng ấm áp, thoải mái.

Người tài xế nọ nói với nhà văn: “Thực ra, lúc mới bắt đầu công việc này, xe của tôi không có sự phục vụ toàn diện như vậy. Tôi giống những người khác, thích phàn nàn, thời tiết xấu, thu nhập ít ỏi, ùn tắc giao thông và đường phố lộn xộn, mỗi ngày đều trôi qua rất tồi tệ. Cho tới một ngày, tôi ngẫu nhiên nghe được một câu chuyện trên đài phát thanh, làm thay đổi suy nghĩ của tôi. Chương trình radio đó đã mời tới tiến sĩ Wayne Dyer – bậc thầy truyền cảm hứng, để ông giới thiệu về cuốn sách mới của mình.

Cuốn sách tập trung giải thích một quan điểm: Ngừng phàn nàn và ngừng ca thán mỗi ngày, làm như vậy sẽ khiến cho bất kỳ ai cũng đều có thể đạt được thành công. Ông ấy đã thức tỉnh tôi, cuộc sống tồi tệ trước đây của tôi thực chất chính do sự phàn nàn không ngừng của tôi tạo thành. Chính vì vậy tôi đã quyết định thay đổi.

Năm đầu tiên, tôi chỉ đơn giản mỉm cười với tất cả những hành khách tới với mình, thu nhập của tôi liền tăng gấp đôi.

Năm thứ hai, tôi dùng sự chân thành bày tỏ quan tâm tới vui, buồn, giận dữ của mỗi một hành khách, đồng thời an ủi họ, thu nhập của tôi lại tăng lên gấp đôi.

Năm thứ ba, cũng chính là năm nay, tôi đã biến chiếc taxi của tôi trở thành chiếc taxi năm sao hiếm có ở Mỹ. Ngoài thu nhập được nâng cao, tôi còn trở nên nổi tiếng, bây giờ nếu muốn đi xe của tôi, khách đều phải gọi điện đặt trước. Còn ngài là một khách hàng tôi thuận đường chở”.

Những điều người tài xế nói khiến cho nhà văn cảm thấy vô cùng kinh ngạc. Nhà văn không ngừng tự suy ngẫm về bản thân mình, thực ra trong cuộc sống thường ngày, chúng ta vẫn thường xuyên ca thán, phàn nàn. Ông quyết định sẽ thay đổi chính mình, ông dựa trên câu chuyện của người tài xế viết thành một cuốn sách. Sau đó có độc giả sau khi đọc xong đã thử làm theo, cuộc sống thực sự đã thay đổi. Sự thay đổi này khiến cho nhà văn hiểu được việc ngừng phàn nàn, ca thán có sức mạnh lớn như thế nào.

Ngưng ca thán, phàn nàn sẽ giúp bạn tìm thấy hạnh phúc.

Chỉ cần mong muốn vượt qua khốn cảnh, thay đổi thái độ than thở, phàn nàn mà tích cực, chủ động làm những việc bạn nên làm bây giờ, như vậy nhất định sẽ gạt bỏ được khó khăn, tiếp tục theo đuổi những mục tiêu tiếp theo.

Hãy cùng nhau hạ quyết tâm, vứt bỏ thói quen phàn nàn không tốt này!

From: Cam Tuyet & KimBang Nguyen

CƠM CANH NÓNG SỐT

CƠM CANH NÓNG SỐT

Nguyễn Thị Thanh Dương

 Buổi chiều hai “vợ chồng son” ngồi vào bàn ăn. Bà Lệ mở nồi cơm điện xúc ra hai bát cơm thì ông Kính lên tiếng hỏi ngay:

– Vẫn cơm buổi sáng hả?

– Cơm còn nhiều đủ cho buổi chiều anh ạ.

Nét mặt ông không vui:

– Em biết là anh chỉ thích ăn cơm nóng mới nấu thôi mà.

– Vâng, em biết, nhưng cơm còn nhiều, nấu thêm cơm mới ngày mai chúng ta lại có cơm cũ.

Ông lại nhìn vài con tôm bày trong chiếc đĩa nhỏ xinh xinh bên cạnh bát canh rau cải xanh nấu thịt bò cũng nho nhỏ xinh xinh và…phát giác thêm:

– Tôm rim của ngày hôm qua, còn bát canh của buổi sáng nay. Anh nhắc lại anh chỉ muốn cơm canh nóng sốt, bữa nào ra bữa ấy.

Giọng bà dỗ dành:

– Ngoan đi, nghe lời em. Hôm nay em hơi mệt, anh chịu khó ăn đồ còn dư đỡ mất công em nấu, đỡ tốn tiền và đỡ chật tủ lạnh.

Bà đã nhẫn nhịn, đã dịu ngọt mà ông Kính vẫn sưng xỉa bưng bát cơm ăn như kẻ bị lưu đày, bị đối xử tàn tệ.

Ông ăn lưng bát cơm thì buông đũa suồng sã thô lỗ và đứng dậy xong bữa.

Bà Lệ cảm thấy bị tổn thương và ngán ngẩm. Nỗi buồn bã và ân hận dâng lên tận cổ . Bà nghẹn lời không muốn nói gì nữa.

Mới ở với nhau hơn một năm mà ông Kính đã thay đổi và lộ hẳn con người thật của ông. “Chàng” của…năm ngoái, thuở mới quen không còn nữa.

Hai ông bà gặp nhau trong một buổi sinh hoạt cộng đồng ở Nam Cali. Họ ngồi cạnh nhau. Ông Kính bắt chuyện làm quen trước, qua vài câu thăm hỏi khéo léo, cả hai cùng biết chút đời tư của nhau, cùng độ tuổi và cùng góa bụa đơn lẻ như nhau.

Bà Lệ về hưu tiền ít ỏi nên xin hưởng welfare, bà ở căn apartment dành cho người cao niên lợi tức thấp. Đứa con trai duy nhất của bà đã lập gia đình, vợ nó người Mỹ. Một hai năm vợ chồng nó mới từ tiểu bang khác về Cali thăm bà.

Bà Lệ quen với cảnh sống một mình kể từ khi chồng bà qua đời và con ở xa.

Căn phòng bà ở tầng lầu hai, có lan can cửa sau ngập bóng mát cây cao, bà kê chiếc ghế dựa dài ở đây, những lúc rảnh nằm thảnh thơi đón gió và đọc sách báo. Thỉnh thoảng bà gấp sách báo ngừng đọc cho đỡ mỏi mắt và phóng tầm nhìn xa mây trời lênh đênh hay nhìn xuống dưới đất người ta qua lại trong khu apartment mà vui.

Từ khi ông Kính làm quen, niềm vui của bà nhiều hơn. Đã mấy lần bà ngồi ở lan can hiên sau nhìn thấy ông Kính đang đậu xe và đi bộ vào nhà bà, ông ngước lên, bà nhìn xuống, bốn mắt ở xa nhau mà cùng giao cảm, cùng rộn ràng. Họ như mới ở tuổi đôi mươi hẹn hò.

Mỗi lần ông đến thăm luôn mang theo một món quà, khi thì bó hoa đẹp nên thơ lãng mạn, khi thì thực tế đời thường một hộp heo quay và hai ổ bánh mì còn nóng để hai người cùng ăn.

Bà đáp lễ, có lúc mời ông dùng chung bữa cơm trưa, cơm chiều, ông đều vui vẻ ăn và khen ngon, dù đó là nồi cơm bà nấu hai ngày ăn chưa hết, là nồi cá kho ba ngày vẫn còn, hay nồi thịt kho trứng ít nhất cũng vài ngày cứ kho đi kho lại. Bà cảm động vì đã gặp người cùng sở thích, cảm thông.

Bà tính đơn giản và tiết kiệm vì đồng tiền ít ỏi. Một mình nấu một cup gạo chỉ dính nồi thì bà nấu hẳn vài cup gạo để ăn vài lần, các món kho món mặn cũng thế.

Bà có nhiều thời giờ thảnh thơi xem phim truyện trên you tube và đọc sách bạn bè gởi tặng hay báo miễn phí tha về một đống ngoài chợ búa.

Khi ông Kính ngỏ lời muốn kết hôn với bà, muốn cùng bà “dìu nhau” đi nốt quãng đường đời còn lại bà đắn đo nhiều lắm. Đánh đổi cuộc sống độc thân tự do và nhàn hạ lấy cuộc sống chung hai người trên danh nghĩa vợ chồng rất nhiều khác biệt. Ít nhiều bà sẽ lệ thuộc vào ông.

Về với ông nhà cao cửa rộng, tiền bạc không thiếu. Nhưng trái tim đa cảm của bà đã chọn ông, chọn cuộc sống lứa đôi cuối đời với người mà bà tin là tri kỷ tri âm chứ không vì những thứ vật chất ấy.

Nhà bà cách nhà ông chỉ 30 phút lái xe mà hai khung trời khác biệt.

Ông ở trong khu hàng xóm sang trọng, căn nhà to đẹp, cuộc sống trung lưu. Các con ông đứa nào cũng thành danh trong ăn học, trong kinh doanh.

Khi bà dọn về với ông, ba đứa con ông giỏi xã giao lịch sự với bà, nhưng bà vẫn đọc thấy chúng nhìn bà với vẻ ái ngại và nghi ngờ. Chắc chúng tưởng bà ăn welfare này lấy ông vì tài sản và danh giá của gia đình ông? Chúng đâu biết ông đã phải năn nỉ cầu mong bà nhận lời và bà đã đắn đo suy nghĩ mãi mới đi đến quyết định sống chung.

Những ngày đầu sống chung đã là những tuần trăng mật, họ như đôi vợ chồng son luôn cho nhau những ánh mắt thắm tình và nụ cười trìu mến bao dung. Họ xưng hô “anh, em” ngọt ngào và trân trọng.

Nhưng ông Kính không đơn giản như bà nghĩ. Chắc ông quen sống trong giàu sang, quen được chiều chuộng và quen ra lệnh sai bảo người khác, ông khó tính khó nết đến khác người. Nhà chỉ hai người nhưng ông muốn cơm phải nấu hai bữa sáng chiều, món trưa khác, món chiều khác. Bữa ăn luôn là cơm canh nóng sốt.

Ban đầu bà hào hứng chiều ý ông, nghĩ ra những món ăn ngon để thay đổi và không trùng lập. Bà đã lên danh sách những món cho mỗi tuần. Chưa bao giờ bà phải trổ tài gia chánh chăm chỉ đến thế, chồng con bà trước kia chưa được bà tận tình chăm sóc đến thế.

Dần dần bà cảm thấy mệt mỏi với công việc bếp núc ngày hai bữa này, vì cả khi bà cảm thấy nhức đầu sổ mũi muốn được nghỉ ngơi vẫn phải lăn vào bếp.

Khi xưa ở một mình, nếu không thể vào bếp bà chỉ ăn một tô mì gói cũng xong bữa.

Hôm nào bà ước lượng sai, còn dư cơm dư canh là bị ông cằn nhằn hao tiền tốn bạc vì ông không thích ăn lại món cũ dù cùng một ngày. Ông đưa ra thí dụ cho bà học hỏi:

– Tách trà ngon chỉ nhỏ bằng hạt mít, nhấp từng chút một mới thú vị, cũng trà ấy mà cho vào ly cối tổ bố và uống ào ào thì chẳng ra gì. Cơm canh em cứ nấu ngày hai buổi, mỗi thứ một ít vừa đủ thôi, trông thanh cảnh và ngon.

Bà chán kiểu ăn uống “quý phái” của ông quá rồi. Bàn ăn mỗi thứ một chút, bày trong bát đĩa sạch đẹp sẵn sàng để mời ông ngồi vào bàn như một khách quý.

Lúc còn ở apartment bà từng vừa ăn ổ bánh mì vừa nằm ghế dựa và nhìn mây nhìn gió ngoài hiên sau nhà cũng là hạnh phúc.

Có lần bà làm bếp, đang đứng chặt miếng sườn heo non trên kitchen island thì ông hơ hãi từ trong phòng chạy ra và……. chỉ thị:

– Em làm gì ầm ầm thế? mang xuống nền nhà, tha hồ mà băm mà chặt cho …đỡ hư hại cái quầy này.

– Ngồi đau lưng lắm, mà em chặt vài nhát sườn non thôi mà.

Tuy nói thế bà vẫn phải mang thớt xuống đất để chặt miếng sườn cho xong còn hơn là đứng lý luận với ông và biết là sẽ không có sự thông cảm.

Hay khi bà vào rửa mặt trong restroom thì ông đã vài lần theo bén gót chỉ để ân cần nhắc nhở:

– Em đừng làm nước văng tung tóe lên trên kẻo sinh ra nấm mốc khó sửa chữa lắm.

– Em biết rồi, dù ở apartment em vẫn cẩn thận giữ gìn thế mà. Anh cứ làm như em mới đến Mỹ ngày hôm qua.

Ông Kính rất quý hóa căn nhà của ông, sợ bẩn tường, trầy sơn hư hỏng đủ thứ. Có lần ông nói hớ, bà Lệ hiểu rằng căn nhà này ông đã sang tên cho con gái út và nó muốn ông phải giữ gìn nhà cho tốt để sau này bán sẽ được giá.

Thì ra cha con nhà ông tính toán quá. Biết đâu ông cũng đã chia tiền của, sang tên tài sản cho các con rồi mới…..được quyền bước thêm bước nữa.

Cũng may bà chưa làm hôn thú giấy tờ gì với ông cả, chỉ dọn đến sống chung trước nên đỡ mang tiếng.

Bà Lệ bỗng nhận ra mình như kẻ ở nhờ, hầu hạ cơm nước cho “chủ”, chăm sóc dọn dẹp căn nhà cho “chủ” và mất quyền tự do của chính mình.

Hiếm hoi lắm gia đình thằng con trai mới về thăm bà. Bà không muốn tiếp đón chúng trong căn nhà không phải của bà. Mẹ con bà cháu đã hẹn nhau ở nhà hàng, xong con cháu về khách sạn, bà về…nhà chồng.

Hôm ấy bà tủi thân, nghĩ đến con cháu mà rơi nước mắt . Đáng lẽ con cháu sẽ ùa vào căn phòng apartment như mọi lần, bà sẽ nấu bữa ăn ngon đãi con trai và con dâu, bà mua món bánh kẹo mà hai đứa cháu nội yêu thích, chúng sẽ tha hồ cười nói, đùa nghịch và làm xáo trộn căn phòng hẹp. Gia đình bà sẽ trò chuyện hỏi han nhau nhiều hơn, vui vẻ hơn, ấm cúng biết bao nhiêu.

Ông Kính đã không hiểu được nỗi lòng bà, không an ủi mà còn cau có:

– Gặp con cháu thế đủ rồi, gặp nhiều thêm phiền phức chứ ích lợi gì.

Bà Lệ đã âm thầm xin thuê lại một căn phòng trong khu chung cư cũ, căn phòng trước kia có bóng cây cao râm mát nơi lan can sau nhà đã có người khác ở.

Nhưng căn phòng nào cũng là căn phòng độc thân, căn phòng vui vẻ cho bà trở về.

Khi nhà cửa đã thuê xong xuôi bà Lệ mới lên tiếng chia tay ông Kính. Ông tức giận và ngạc nhiên, ông đơn giản tưởng bà …thoát khỏi cảnh nhà nghèo, rời xa khu chung cư rẻ tiền về với ông ở nhà đẹp, đi xe sang sẽ là may mắn và hãnh diện cho bà.

Thấy bà cương quyết đòi chia tay, ông đành xuống nước năn nỉ. Dù ông thương yêu bà bao nhiêu không làm bà Lệ xúc động nữa. Bản chất vẫn là ông Kính dở hơi khó tính, là người chồng gia trưởng, không thích hợp với bà.

Xách valy ra khỏi cửa nhà ông, bà Lệ đổi cách xưng hô và cay đắng nói:

– Mỗi ngày ông chịu khó hai lần ra khu chợ Việt Nam, vào hàng …cơm chỉ nhé. Sáng chỉ một vài món, chiều chỉ một vài món là luôn có cơm canh nóng sốt, thức ăn đổi mới cho ông vừa lòng.

Nguyễn Thị Thanh Dương

From: TU-PHUNG

 CHUYỆN LẠ QUANH TA

May be an image of 1 person

 CHUYỆN LẠ QUANH TA

Có lần, Charlie Chaplin kể, “Tôi đi tàu điện ngầm ở New York. Về đến nhà, tôi thấy trong túi có một chiếc đồng hồ vàng. Nghĩ mãi, tôi cũng không thể biết bằng cách nào chiếc đồng hồ chui vô túi tôi. Tôi quyết định nộp cảnh sát. Ngày hôm sau, tôi nhận được một lá thư: “Ông Chaplin thân mến! Tôi hành nghề móc túi . Hôm qua trong tàu điện ngầm, tôi đã lấy trộm một chiếc đồng hồ vàng của một quý ông, nhưng khi nhìn thấy ông, tôi quyết định tặng ông một món quà và bỏ nó vào túi của ông.”

Một năm đã trôi qua. Cảnh sát đã không tìm ra kẻ trộm, cũng như không tìm thấy chủ nhân của chiếc đồng hồ, và do đó đã gửi lại chiếc đồng hồ cho tôi. Các tờ báo đã viết về việc này. Và ngày hôm sau,tôi nhận được bức thư thứ hai: “Ông Chaplin thân mến! Một năm trước, tôi đang đi tàu điện ngầm và bị mất cắp đồng hồ vàng đó. Tôi đọc tờ báo và biết rằng,rằng kẻ móc túi đã đưa tặng đồng hồ cho ông. Thưa ông Chaplin, xin Ông hãy giữ lại đồng hồ của tôi. Và vì tôi ngưỡng mộ tài năng phi thường của ông hơn một tên móc túi, nên tôi gửi tặng ông thêm chiếc dây chuyền vàng của chiếc đồng hồ đó”.

NHP sưu tầm-

Thực hư chuyện ‘có 3 bằng đại học nhưng vẫn thất nghiệp…’

Đài Á Châu Tự Do

“Có những 3 bằng đại học nhưng vẫn thất nghiệp là một hiện thực của Việt Nam”… Đó là phát biểu của Đại biểu Quốc hội Bùi Sỹ Lợi nêu lên tại buổi tọa đàm khoa học: ‘Chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045’ hôm 11/4/2021.

Tuy nhiên, Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh, nguyên Vụ trưởng, Vụ Giáo dục chuyên nghiệp cũng có mặt tại buổi Tọa đàm cho rằng, đây là nhận định không cẩn trọng. Ông Vinh còn cho rằng phát biểu như ông Lợi là làm méo mó chính sách về phát triển nhân lực chất lượng cao của quốc gia trong thập kỷ tới.

Cụ thể theo ông Vinh, người có ba bằng đại học thất nghiệp có phải số đông hay không? Hay chỉ một hai trường hợp cá biệt? Ông Vinh còn đòi ông Lợi cho biết người ấy tốt nghiệp ngành gì, trường nào, ở đâu… (!?)

Hôm 14/4, chúng tôi cũng nêu vấn đề với chuyên gia giáo dục Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, nguyên giảng viên trường đại học Liège – Bỉ, hiện sống và làm việc ở Việt Nam, và được ông nhận định:

“Tôi cũng có cảm giác không phải tin đồn đâu, trong những năm gần đây sinh viên ra trường khó kiếm chỗ làm, nhất là chỗ làm phù hợp với kết quả tốt nghiệp của mình. Cái này là sự thật nhưng không có một thống kê chính thức rõ ràng, vì nhà nước cũng không muốn công bố một cách tỏ rõ. Nhưng mà chỉ nhìn những sinh viên mà tôi quen biết ra trường thì phần lớn họ bị khó khăn. Chỉ cần đi xe ôm Grab ở Sài Gòn thì có thể bắt gặp rất đông đảo những em phải chạy Grab để kiếm sống thêm là những em vừa tốt nghiệp đại học. Họ là cử nhân nhưng không có được chỗ làm ưng ý và họ bắt buộc phải kiếm ăn bằng cách khác.”

Cũng tại buổi Tọa đàm, Đại biểu Quốc hội Bùi Sỹ Lợi cho rằng nên phân luồng giáo dục theo hướng ở giai đoạn đầu tiên là Trung học Cơ sở (cấp hai) sẽ có ít nhất 30% học sinh đi học nghề còn 70% học tiếp lên bậc Trung học Phổ thông (cấp ba). Theo ông Lợi, không thể nói trường nghề không được dạy văn hóa, như vậy là sai tinh thần của Nghị quyết Trung ương về phân luồng giáo dục. Sau khi học nghề, học sinh vừa có bằng nghề vừa có bằng văn hóa. Tại sao lại ngăn cấm?

Ông Lợi còn cho rằng, hết Trung học Phổ thông thì 70% đi học nghề và chỉ 30% đại học thôi… vì học đại học nhiều để làm gì… có những 3 bằng đại học nhưng vẫn thất nghiệp.

Tuy nhiên Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh, cho rằng nói vậy là tô hồng cho hệ thống khác và tô xám giáo dục đại học Việt Nam. (!?)

Một người đã tốt nghiệp đại học, hiện sống tại Hà Nội, không muốn nêu tên cho RFA biết do không xin được việc làm đúng ngành học, nên chỉ làm kinh doanh nhỏ:

“Tôi học để sau này xin việc mức lương cao hơn. Nhưng khi tốt nghiệp thì chạy chọt mãi không tìm được việc làm phù hợp với tấm bằng mà mình học. Nên tôi lựa chọn một nghề phổ thông khác phù hợp với khả năng.”

Khi trả lời RFA từ thành phố Hồ Chí Minh, một cựu sinh viên đã tốt nghiêp, cho biết hoàn cảnh của mình:

“Sau khi ra trường thì em cũng cố gắng tìm công việc phù hợp với mình. Nhưng vì khả năng, cũng vì số lượng, với vì nền kinh tế nên cũng chưa tìm được việc làm đúng với ngành nghề của mình.”

Trong một diễn biến liên quan, tại chương trình ‘Đưa trường học đến thí sinh năm 2021’, tổ chức ngày 11/4 tại trường Trung học Phổ thông chuyên Lương Văn Chánh, tỉnh Phú Yên… PGS.TS. Trương Nguyễn Luân Vũ – Phó trưởng Khoa Cơ khí chế tạo máy, ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM cam kết nếu sinh viên học ngành Cơ khí kỹ thuật tại trường mà không có việc sau khi tốt nghiệp, trường sẽ trả lại 100% học phí.

Tuy nhiên khi trao đổi với RFA tối 14/4 từ Sài Gòn, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Dũng, hiện đang giảng dạy ngôn ngữ học tại trường Đại học Sư phạm TP.HCM (ĐHSP), cho rằng không phải cứ học sư phạm là có việc làm:

“Trước đây một số trường đại học như ĐHSP là cứ ngồi chờ đấy, nhà nước sẽ phân công công tác ở một nơi nào đó. Do đó vào ngành sư phạm dù lương thấp nhưng nhiều người cũng muốn vào vì chỗ làm việc chắc chắn. Dần dần người ta không còn làm theo cách đó nữa, tốt nghiệp ĐHSP cũng phải nộp đơn vào một sở giáo dục nào đó. Và sở giáo dục họ tổ chức một kỳ thi, tôi chưa nói họ tổ chức kỳ thi đó tốt hay không, có chạy chọt hay không… nếu đậu thì tùy nhu cầu của trường, sở sẽ phân công về trường đó. Như thế cũng có nghĩa là không phải cứ tốt nghiệp trường ĐHSP là có việc làm.”

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Dũng, Tốt nghiệp ĐHSP không có ưu thế gì cả, cũng giống các trường khác, cũng phải xin việc, người ta thấy được thì người ta chọn. Thành ra cách tiếp nhận thầy cô giáo để đi dạy như hiện nay là khác xa so với ngày xưa. Và dĩ nhiên nếu ngày xưa tốt nghiệp ĐHSP là không thể thất nghiệp, thì ngày nay có một tỷ lệ thất nghiệp nhất định.

Một sinh viên vừa tốt nghiêp ngành sư phạm, hiện đang làm thêm tại Sài Gòn, khi trả lời RFA cho biết dự định của mình:

“Em sẽ đi làm ở ngoài khoảng một năm, rồi sau đó nếu được về trường thì em sẽ về dưới quê. Nếu được nhận vào một trường cấp hai thì em sẽ làm. Bây giờ trong xã hội phải có người quen, mới được vào trong các trường đó, đó cũng là một cản trở lớn đối với em.”

Theo Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, có nhiều lý do dẫn đến tình trạng sinh viên tốt nghiệp đại học mà không có việc làm. Thứ nhất theo ông là nguyên nhân khách quan, do không có sự phát triển kinh tế chuyên biệt để có công ăn việc làm phong phú cho kỹ sư ra trường. Trừ một vài ngành như tin học thì sẽ dễ kiếm viêc làm. Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng nói về nguyên nhân chủ quan:

“Thứ hai là lý do về chủ quan, ở Việt Nam hiện nay muốn có công việc làm ổn định làm cho nhà nước như giảng dạy, thì tôi nghe các bạn nói muốn kiếm một chân giảng dạy trong một trường trung học là rất khó bởi vì có chính sách có thể nói là con ông cháu cha. Tức những người không có trình độ cao thì lại dễ dàng có công việc, trong khi những người có trình độ cao lại rất khó khăn để có công ăn việc làm. Muốn có việc làm ổn định thì phải bỏ ra một số tiền không nhỏ. Cho nên là vấn đề tham nhũng trong phân bổ chức năng công việc đã có những tha hóa trầm trọng.”

Theo Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, do các trường đại học ở Việt Nam trong những năm gần đây lại được mở ra khá thoải mái. Gần như tỉnh nào cũng có một trường đại học, trong khi đó thì chương trình giảng dạy và đội ngũ giảng viên không được chỉn chu và không có chất lượng. Cho nên những sinh viên ra trường sau 4 năm đại học rất đông đảo nhưng lại không đáp ứng được chất lượng.

“Dân chủ cuội”, “Đảng cử Đảng bầu”.

“Dân chủ cuội”, “Đảng cử Đảng bầu”.

* Người dân hỏi: Bầu hết rồi, tháng 5 lại còn đi bầu Quốc Hội làm gì nữa?

– Nhiều người Việt Nam cũng như ngoại quốc đặt vấn đề rằng ĐCSVN đã bầu và sắp xếp xong hết các chức danh, nhân sự nhà nước cấp cao rồi, vậy vì sao còn bắt người dân đi bầu Đại biểu Quốc hội tới đây nữa ???.

“Trong dân chúng ở Việt Nam hiện nay, rất nhiều người thấy việc này rất vô lý,”.

Rõ ràng người dân đã nhận thấy đi bầu là việc của đảng với nhà nước, còn làm gì cứ bắt người dân phải đi bầu nhiều lần cho tốn tiền, tốn công sức ra.

Thật ra thì ai cũng biết, đây chỉ là 1 cái trò “dân chủ mị dân” của Đảng CSVN, sau khi đã có danh mục nhân sự của đảng rồi, thì cần Quốc Hội hợp thức hóa để cho nó có vẻ danh ngôn chính thuận.

Không những thế, Đảng CSVN lại làm trước cả khi có Quốc hội mới, đúng là 1 trò hề tréo cẳng ngỗng, đầy kịch tính. Trên thế giời nầy, chỉ có ở xứ CHXH CN VN mới có chuyện như vậy:

– Nhà nước giữ bí mật nhưng 3 tháng trước ai cũng biết ai sẽ được chỉ định các chức vụ “Chủ Tịch nước, Thủ Tướng và Chủ Tịch QH “.

– Dân không bầu, và QH khóa mới chưa có nhưng “bộ tam sên” nầy vẩn đắc cử gần như 100%.

* Có lẽ mấy bác lãnh đạo cho rằng đúng quy trình “Dân chủ cuội” thì phải như vậy.

– Giờ thì ai cũng biết bầu cử chỉ là màn kịch dân chủ do CSVN đạo diễn!

TL – BBC

H1: Bộ tam sên Lãnh đạo vừa được đảng cử đảng bầu.

H2: Đảng cử Đảng bầu.

112 NƯỚC TỪ ĐỘC TÀI CHUYỂN SANG DÂN CHỦ VÀ 2 VÙNG LÃNH THỔ TỪ DÂN CHỦ BIẾN THÀNH ĐỘC TÀI.

 

112 NƯỚC TỪ ĐỘC TÀI CHUYỂN SANG DÂN CHỦ VÀ 2 VÙNG LÃNH THỔ TỪ DÂN CHỦ BIẾN THÀNH ĐỘC TÀI.

Trên thế giới đã có 112 nước biến độc tài thành dân chủ Nhưng chỉ có 2 vùng lãnh thổ từ dân chủ biến thành độc tài. Đó là Nam Việt Nam và Hồng Kông.

Hồng Kông là do Hiệp ước nhượng địa đáo hạn chứ không phải do họ. Nam Việt Nam thì do sự chuyển hóa từ chỗ nhân dân làm chủ sang làm nô lệ cho một đảng phái bằng cái tên nghe có vẻ mỹ miều : giải phóng.

Quá trình chuyển từ làm ông chủ sang làm culi này có không ít công lao đóng góp của dân cả hai miền Nam Bắc. Và sau khi bị biến thành nô lệ họ cùng có số phận như nhau, cùng bị biến thành dân oan như nhau.

Nhưng nếu như dân Hồng Kông cảm nhận rất nhanh thân phận nô lệ thì người Việt vẫn chẳng hiểu lắm vì sao họ đấu tranh. Tại sao các cậu bé như Joshua Wong sinh năm 1996 trước khi Hồng Kông trao trả cho Trung Quốc có một năm (1997) ,chỉ sống trong nền dân chủ một năm lúc nằm nôi và quãng thời gian sau này khi cắp sách đến trường đều chịu tác động của nền giáo dục nhồi sọ của Bắc Kinh vào nền giáo dục Hồng Kông lại có thể tuyên bố “Không thể để lại sự nghiệp đấu tranh dân chủ cho đời sau?”

Tại sao phong trào “Dù vàng” 2014 và phong trào đấu tranh năm 2019 người tham gia đều là thế hệ trẻ sinh sau năm 1997? Tại sao trong các cuộc xuống đường hiện nay ở Myanmar cũng đều là người trẻ, ngay cả hoa hậu Ha Lay hay các các chàng trai siêu mẫu, người của công chúng.

Ai đã truyền tri thức và cảm hứng cho họ?

Chính là cha mẹ họ, những thế hệ đi trước.

Nhìn lại thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay thì sao? Có bao nhiêu người được như Joshua Wong hay Ha Lay?

Đó là bởi vì cha mẹ họ là những thế hệ đổ thừa, thiếu tầm nhìn và chẳng hiểu gì về những thảm họa khi sống trong một chế độ độc tài, vô pháp.

Sự khác nhau là dân Hồng Kông nhìn thảm họa là của dân tộc, dân Việt cho rằng đó chỉ là cá` biệt. Và khi tai họa đến với họ thì họ lại đổ lỗi cho số phận chứ không phải do thể chế.

Vì vậy dân Việt đang trốn vào tôn giáo trong khi dân Hồng Kông, Myanmar chấp nhận đối diện với thực tại để dấn thân.

Ai sẽ có dân chủ và ai sẽ sinh tồn? Lịch sử từng ghi nhận nhiều dân tộc bị đồng hóa và diệt chủng. Nhưng chắc chắn đó không thể là Hồng Kông hay Myanmar.

Công an Bình Thuận thả ông Nguyễn Văn Sơn Trung sau 5 ngày tạm giữ để hỏi chuyện “tự ứng cử”

 

Ông Nguyễn Văn Sơn Trung, một Facebooker có nhiều bài viết bất đồng chính kiến với chính quyền vừa được cơ quan an ninh tỉnh Bình Thuận trả tự do vào chiều 13-4-2021 sau 5 ngày tạm giữ để thẩm vấn về các bài viết trên mạng xã hội về “tự ứng cử Đại biểu Quốc hội” của hai người bạn.

Ông Trung cho hay, mình bị bắt vào chiều ngày 9-4 y như một vụ bắt cóc, sau khi lên tiếng về việc nhà thơ Đồng Chuông Tử bị bắt. Không có lệnh bắt giữ nào được đọc và ông còn bị còng tay. Ông kể lại 5 ngày làm việc với cơ quan an ninh như sau:

“Trong 5 ngày làm việc, họ chỉ yêu cầu tôi ký xác nhận những cái bài viết mà tôi đã đăng tải trên trang Facebook cá nhân của tôi.

Rồi cái vấn đề trong group bạn bè liên lạc với nhau, họ bảo là nói gì với nhau thì khai. Họ cũng bảo nói về vấn đề ứng cử Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp mà trong nhóm có anh Huy và Tín đã từng nói và đăng lên Facebook cá nhân của họ.

Những người bạn đều biết luật bầu cử Việt Nam là người đủ 21 tuổi trở lên, đủ quyền công dân là có thể ứng cử. Thì họ có nói về chuyện ứng cử trong thời điểm Việt Nam có bầu cử thôi.

Họ cũng hỏi tôi về các nhóm xã hội trên Facebook, về mối quan hệ của tôi với Việt Tân, anh Nguyễn Văn Đài và anh Hải.

Hỏi tôi có tham gia vào các nhóm nước ngoài để chống phá Đảng và Nhà nước hay không.”

Theo ông Trung thì những người thẩm vấn ông tự xưng là đến từ phòng PA02 – An ninh Đối nội, Phòng PA83 – An ninh Chính trị nội bộ và An ninh của thành phố Phan Thiết.

Trong đó, ông cáo buộc một viên công an đã tát tai ông 3 cái và một người khác thì vỗ vào đầu ông khi vừa mới về đồn.

Công an Bình Thuận thả ông Nguyễn Văn Sơn Trung sau 5 ngày tạm giữ để hỏi chuyện "tự ứng cử"