30/4 – Điều Cần Nói

30/4 – Điều Cần Nói

Tôi sẽ không nói ngày ấy là ngày gì bởi với bên thắng cuộc, ngày ấy là ngày “chiến thắng”, “giải phóng”, “thống nhất”, bên thua cuộc là ngày “mất nước”, “thua cuộc” là ngày bắt đầu một thời kì mà những người dính líu tới quân quyền của VNCH sẽ bắt đầu chịu sự đày đoạ trong những trại “cải tạo” trong nhiều năm và bắt đầu làn sóng vượt biển đầy máu và nước mắt của hàng triệu người để tìm một cuộc sống mới.

Tôi sẽ không nói tới lý tưởng bởi bên nào cũng có lý tưởng của riêng mình, bên nào mà chẳng cho là lý tưởng của mình cao đẹp hơn.

Người ta nên bàn về lịch sử, hiểu lịch sử để định hình hiện tại và tương lai, người ta cũng có quyền phán xét lịch sử nhưng với một con mắt bao dung bởi vào thời điểm ấy nhận thức của những nhân vật lịch sử có sự hạn chế và nếu chúng ta, những kẻ hậu sinh với nhận thức của thời đại nếu được trao lá cờ vào những thời điểm quá khứ, liệu ta có chắc là sẽ không mắc sai lầm?

Điều đáng nói là về quan niệm, phát ngôn và ứng xử của những người cầm quyền hiện thời với ngày 30/4. Sau 46 năm mà quan niệm, phát ngôn và ứng xử vẫn y như trước thì đấy mới là một sự man rợ, cố chấp và u muội.

Máu người Việt đã thấm trên từng mét vuông trên mảnh đất hình chữ S, người phía nào cũng là con của mẹ Việt, cũng đều đau xót. Số phận của dân tộc, của mảnh đất hình chữ S này đã khốc liệt và đau khổ biết bao khi tài chính, vũ khí và lương thực được cấp cho người Việt của hai bên chiến tuyến bắn giết nhau.

Các bạn đứng ở bên nào, tôn thờ lý tưởng của bên nào là quyền của các bạn, với tôi mọi lý tưởng chỉ là phù phiếm khi người Việt chĩa súng vào nhau.

Ở góc nhìn này, tôi thấy rằng những người cực đoan cả hai phía đều không bao giờ có thể làm được một thứ được gọi là “hoà hợp hoà giải dân tộc”.

Tuy nhiên, trách nhiệm để làm được sự nghiệp này đa phần nằm trên vai của bên thắng cuộc. Tất cả sẽ chỉ là câu chữ, là một khẩu hiệu oang oang rỗng tuếch và tình trạng chia ly về nhân tâm vẫn y nguyên sau 46 năm nữa khi bên thắng cuộc sau mấy chục năm không trở nên văn minh hơn, có cái nhìn nhân văn hơn.

Đây chính là mấu chốt của vấn đề. Chỉ khi những người có địa vị cao nhất có tâm, có tầm, có cái nhìn nhân văn, thực sự tha thiết hàn gắn nỗi đau của người Việt thì mới hy vọng cái sự nghiệp hoà hợp hoà giải dân tộc to đùng kia mới được cải thiện.

Hãy nhìn chính quyền Úc đã ứng xử thế nào với những người bản xứ đã bị tàn sát để chiếm đất. Những người đứng đầu đã công khai xin lỗi vì một lỗi lầm của tổ tiên trong quá khứ xa xôi và họ đã có một chính sách ưu đãi như để chuộc lỗi cho tổ tiên của mình.

Ở đây, tôi phải nhấn mạnh để bò đỏ rận rệp không có cớ mà chửi bới, xuyên tạc, tôi không có ý muốn nói là ai phải xin lỗi ai ở Việt Nam mà tôi đề cao một cái nhìn nhân văn, hợp lòng người của những người trong bộ máy chính quyền của Úc.

30.4 nào tôi cũng có bài viết, nhiều đến nỗi mà chỉ sợ lặp lại chính mình và bản thân cũng thấy nhàm chán, nhưng không viết thì thấy như thể có lỗi gì đấy.

Chỉ xin kết bằng một câu rằng, mọi lý tưởng chỉ là tương đối, cái này đúng hôm nay có thể là rất sai của ngày mai, chỉ có tấm lòng yêu thương con người, sự thông cảm và hiểu biết với “phía bên kia” mới khiến con người gần lại nhau mà thôi.

Nghĩ như vậy và nhìn những vấn đề nhỏ hơn trong cuộc sống, tôi cũng thấy nhiều tranh cãi vụn vặt thực ra là vô nghĩa, cuộc sống này chỉ tình yêu con người mới là thứ đáng nói mà thôi.

– Đoàn Bảo Châu

Lần đầu tiên Anh thuê máy bay trục xuất người Việt về nước.

 May be an image of ‎text that says '‎UK Home Office charters its first ever deportation flight to Vietnam Screenshot Migrant rights organisations are concerned that those due to fly have not had full access to legal advice くم 95 Home Office‎'‎

  

*** Lần đầu tiên Anh thuê máy bay trục xuất người Việt về nước.

Chuyến bay trực tiếp đầu tiên do Bộ Nội vụ Vương quốc Anh thuê để đưa những người Việt Nam di cư lậu bị trục xuất về nước cất cánh vào hôm 21/4 từ phi trường Heathrow đến sân bay Nội Bài, truyền thông Anh loan tin.

Hôm 21/4, đại diện Đại sứ quán Anh tại Hà Nội cho VOA biết qua email rằng thông tin cung cấp cho báo chí liên quan đến vấn đề trục xuất này do Bộ Nội vụ Vương quốc Anh (UK Home Office) phụ trách.

Các tổ chức nhân quyền lên tiếng bày tỏ quan ngại về việc trục xuất này, nói rằng nhiều người Việt Nam di cư lậu sang Anh phải chịu nhiều hình thức bóc lột khác nhau, chẳng hạn như cưỡng bức trồng cần sa trong các trang trại bất hợp pháp, hoạt động mại dâm hoặc bị ép làm việc trong các tiệm làm móng.

– Việt Nam là một trong những quốc gia đứng đầu về nạn buôn người sang Vương quốc Anh, cũng theo The Guardian.

Để được di cư lậu kiểu này, một số người Việt phải trả cho những kẻ buôn người khoảng 30.000 bảng Anh cho một chuyến đi lậu đến nơi mà họ tin rằng sẽ là một vùng đất hứa với mong muốn có cuộc sống tốt hơn cho bản thân và gia đình so với hoàn cảnh ở Việt Nam.

Theo tổ chức nhân đạo After Exploitation ở Anh, có đến 108 nạn nhân nghi là người Việt Nam bị giam giữ sau các vụ truy bắt người nhập cư lậu trong thời gian từ Quý 2 đến Quý 4 năm 2020, nhưng không người nào trong số này được hỗ trợ tư vấn pháp lý.

Trong diễn biến liên quan, hôm 15/4, hai người Việt Nam đã bị bỏ tù sau khi cảnh sát phát hiện trang trại ma túy trị giá 800 nghìn bảng Anh ở thành phố Manningham, nơi hai người này đi làm công, theo The Telegraph.

Hai người đàn ông Việt Nam nhận tội sản xuất cần sa, khai rằng mình là nạn nhân của chế độ nô lệ hiện đại, tại một trang trại trồng cần sa trong khu công nghiệp lớn ở Bradford, phía bắc nước Anh.

*** Nhà nước CSVN tuyên truyền VN giàu mạnh, hùng cường v.v.v,

giàu mà sao thanh niên cứ bỏ nước ra đi trồng cỏ ? gái thì di dân lậu hoạt động mại dâm?

TL – VOA.

Hải Quân Indonesia loan báo tàu ngầm mất tích đã chìm, 53 người chết

Hải Quân Indonesia loan báo tàu ngầm mất tích đã chìm, 53 người chết

BANYUWANGI, Indonesia (AP) – Hải Quân Indonesia hôm Thứ Bảy, 24 Tháng Tư, loan báo chiếc tàu ngầm mất tích của họ đã chìm và bị xé toang do áp suất nước ở độ sâu, làm thiệt mạng tất cả 53 người trong thủy thủ đoàn, sau khi tìm thấy những vật dụng và mảnh vụn từ chiếc tàu trong hai ngày qua.

Tướng Hadi Tjahjanto, tham mưu trưởng quân đội Indonesia, nói sự hiện diện của vết dầu loang cùng các mảnh vụn tìm thấy gần nơi chiếc tàu lặn xuống hôm Thứ Tư, ngoài khơi đảo Bali, là chứng cớ rõ ràng cho thấy chiếc tàu ngầm KRI Nanggala 402 đã chìm. Indonesia trước đó chỉ coi là chiếc tàu bị mất tích.

Đô Đốc Yudo Margono, tư lệnh Hải Quân Indonesia, cho hay trong cuộc họp báo ở Bali: “Nếu có vụ nổ thì chiếc tàu đã phải bung ra thành từng mảnh nhỏ. Các vết nứt nhiều phần xảy ra từ từ ở một số nơi khi chiếc tàu chìm từ độ sâu 300 mét tới 400 mét và sau đó tới 500 mét… Nếu có vụ nổ thì các máy sonar đã nghe thấy.”

Hải Quân Indonesia trước đó nói họ tin là chiếc tàu ngầm đã chìm xuống ở nơi có độ sâu từ 600 mét đến 700 mét (2,000 tới 2,300 foot), sâu hơn nhiều so với mức chịu đựng của chiếc tàu là 200 mét (655 foot), khiến vỏ tàu không thể chống chọi với áp suất của nước.

Nguyên do khiến chiếc tàu ngầm bị mất tích hiện chưa được xác định rõ ràng. Hải Quân Indonesia nói có thể đã xảy ra tình trạng mất điện khiến thủy thủ đoàn không thể tiến hành các biện pháp khẩn cấp để trồi lên mặt nước.

Đô Đốc Margono nói rằng trong hai ngày qua, các nhân viên cứu nạn đã tìm thấy một phần của hệ thống phóng ngư lôi, một bình dầu dùng để bôi trơn tiềm vọng kính, thảm để quỳ khi cầu nguyện và một mảnh ống làm mát máy được gắn khi tàu ngầm có cuộc đại tu bổ ở Nam Hàn năm 2012.

Đô Đốc Margono nói với các chứng cớ có được, họ tin rằng chiếc tàu ngầm đã bị chìm. Ông cho biết thêm rằng giới chức cứu nạn của Indonesia và các quốc gia khác sẽ lượng định những dữ kiện có được cho tới nay. Ông cũng cho hay chưa tìm thấy thi thể của người nào trong thủy thủ đoàn.

– Chiếc tàu ngầm của Hải Quân Indonesia KRI Nanggala trong chuyến hải hành ngoài khơi Tuban, East Java, Indonesia, năm 2014. (Hình: AP Photo/Eric Ireng)

– Tướng Hadi Tjahjanto (trái), tham mưu trưởng quân đội Indonesia, và Tướng Prabowo Subianto, bộ trưởng Quốc Phòng Indonesia, trong cuộc họp báo. (Hình: AP Photo/Firdia Lisnawati)

– Các vệt dầu loang được thấy ở nơi chiếc tàu ngầm KRI Nanggala mất tích. (Hình: AP Photo/Eric Ireng)

LẠI CHUYỆN THÁNG TƯ

 
May be an image of 1 person and text

Phải đốt cả dẫy Trường Sơn, phải hy sinh đến cái lai quần, và hàng chục triệu mạng người – thuộc mấy thế hệ kế tiếp nhau – chỉ để đổi lấy sự đểu cáng như thế thì (đ…ị…t… mẹ) không chửi thề sao được chớ.

***

LẠI CHUYỆN THÁNG TƯ

Tưởng Năng Tiến

Tác giả câu thơ thượng dẫn là một chính khách rất tài tử, và vô cùng mờ nhạt. Không mấy ai nhớ rằng ông đã từng giữ những chức vụ như Thủ tướng, Phó Tổng thống, và Tổng thống trong thời Đệ II Cộng Hòa – ở miền Nam Việt Nam.

Dân chúng ở miền đất này thường chỉ nhớ đến Trần Văn Hương như một người lập dị. Ổng hay đi làm bằng xe đạp, trong thời gian là Ðô trưởng Sài Gòn, và thỉnh thoảng lại sáng tác ra những câu thơ (hơi) kỳ cục :

Ngồi buồn gãi háng, dái lăn tăn…

Ở miền Bắc phần lớn quí vị chính khách đều hành nghề cách mạng một cách bền bỉ, liên lỉ và chuyên nghiệp hơn nhiều. Họ cũng sính chuyện thơ văn hơn, và cách họ làm thơ (hoặc viết văn) cũng gây lôi thôi phiền phức nhiều hơn – cho cả đống người !

Khi ngồi buồn, họ không gãi háng. Lúc rảnh rỗi, họ cũng không chịu viết văn hay làm thơ chỉ để đọc chơi thôi. Văn thơ của họ khiến cho cả nước phải bận lòng, và không ít người phải bỏ mẹ, hay bỏ mạng ! Xin đơn cử một thí dụ, một câu thơ nổi tiếng hơn, của một chính khách tăm tiếng (và tai tiếng) hơn nhiều :

Bỗng nghe vần thắng vút lên cao…

Nói theo ngôn ngữ của binh pháp thì tác giả câu thơ vừa dẫn, ông Hồ Chí Minh, là một người cư an tư nguy. Ông Trần Văn Hương thì ngược lại. Ổng cư nguy tư an. Nói cách khác, và nói theo kiểu miền Nam, là thằng chả lè phè hết biết luôn !

Nghiêm túc, khẩn trương, hiếu chiến và hiếu thắng… không phải là quan niệm sống riêng của ông Hồ. Thi đua lập chiến công dâng Đảng, đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào, một người làm việc bằng hai, nghiêng đồng cho nước chẩy ra ngoài… là chỉ thị của “trên” đưa xuống và nửa nước bắt buộc phải (triệt để) tuân hành.

Lè phè cũng không phải là thái độ sống chỉ có nơi ông Trần Văn Hương. Ðó là cung cách chung của hầu hết người dân miền Nam. Sự khác biệt giữa ông Trần Văn Hương và dân chúng, có chăng, chỉ là mức độ.

Không mấy người dân miền Nam, lúc buồn, chịu ngồi gãi háng (suông) như ông Tổng thống. Họ thường vừa gãi háng vừa nhậu lai rai (vài xị) cho vui – nếu là đàn ông. Họ đánh tứ sắc, đi coi cải luơng, hoặc đi cầm đồ để mua sầu riêng ăn chơi cho đỡ ghiền – nếu là đàn bà, ở đô thị. Và họ đi Hồng Kông hay Nhựt Bổn để mua đồ lót và son phấn, nếu là bà lớn. Họ đi buôn lậu (không chừng) nếu là ông lớn. Và cả đám đều hân hoan chơi tạt lon, thả diều, đá banh, đá bóng, đá dế, đá cầu, đá kiện, đá cá lia thia hay lắc bầu cua cá cọp – nếu là con nít nhỏ, ở thành phố.

Chuyện đánh đấm là “chuyện riêng” của môt giới người, tụi lính. Hứng chịu bom đạn, tai ương của chiến tranh là nỗi bất hạnh riêng của một số người khác nữa – đám nông dân.

Những chiến dịch hay phong trào hoàn thành kế hoạch nhỏ, nhi đồng cứu quốc, thay trời làm mưa, quyết tâm thu hoạch vượt chỉ tiêu vụ này vụ nọ… nếu phát động ở miền Nam (e) sẽ không có người tham gia, và tác giả của chúng – chắc chắn – sẽ bị dân chúng cũng như báo chí chửi cho… tắt bếp !

Chuyện Nam – Bắc đánh nhau kết thúc ra sao, vào ngày 30 tháng tư năm 1975, mọi người đều rõ. Viết thêm nửa chữ cũng thừa.

Cuộc chiến tàn. Theo sự hứa hẹn của quí vị lãnh tụ (của phe thắng trận) thì từ đây ta sẽ xây dựng đất nước gấp muời lần hơn, ta cũng sẽ đi tắt đón đầu nhân loại, và ta sẽ chuyển đổi từ ăn no mặc ấm qua ăn sang mặc đẹp…

Chuyện dân Việt ăn mặc (sang trọng và đẹp đẽ) ra sao để từ từ rồi tính tới nhưng riêng về cách họ dùng lon, thay gáo, uống nước thì ngó bộ quá tốn công và rất… cầu kỳ – theo như ghi nhận của nhà văn Bùi Ngọc Tấn :

“Lần về phép này Bá có thêm một thứ quà đặc biệt văn minh khác : những vỏ đồ hộp nước giải khát các loại. Các mầu xanh, đỏ, hồng, da cam, vàng, lon Heineken, lon Coca Cola, Pepsi Cola, những lon Tiger, San-Miguel, những lon nước ngọt đã uống cạn mà trong những lần xuống tầu đi nước ngoài anh lượm được cho vào túi ni lông mang về…

Anh Vận chọn ra những vỏ đẹp nhất, mỗi loại một chiếc, không móp, không méo, đem ra giếng súc rửa sạch rồi bầy vào tủ. Và nhặt bốn vỏ lon khác, mỗi chiếc một mầu bảo lũ trẻ con mài trên nền xi măng trong nhà. Mấy đứa trẻ lao vào mài theo đúng hướng dẫn của anh. Tiếng sào sạo sạo sạo ghê người. Chẳng mấy chốc, cái nắp hộp rời ra. Anh xếp bốn chiếc vỏ hộp lên bàn, nở nụ cười mãn nguyện :

– Làm cốc uống nước…

Những chiếc vỏ hộp trên bàn, trong tủ, những dấu vết ấy của văn minh làm nhà anh cứ sáng trưng lên, khác hẳn mọi nhà chung quanh. Nhà anh đã có hơi hướm của một thế giới khác, một thời đại khác khi các nhà chung quanh vẫn còn đang triền miên thời làm nương, thời lúa nước.

Và đến khi lũ trẻ được thoải mái chơi nghịch những vỏ lon còn lại mới thật tưng bừng. Đúng là một ngày hội…” (Bùi Ngọc Tấn, Biển Và Chim Bói Cá, Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2008, tr 436 – 437).

Điều kiện sống, cũng như niềm vui “tưng bừng” trong “ngày hội” của dân Việt, như vừa được mô tả – dường như – có làm cho một số người cảm thấy bất an, hoặc không được hài lòng cho lắm. Tác phẩm Biển Và Chim Bói Cá (trong một buổi hội thảo, do công ty Nhã Nam tổ chức, vào ngày 20 tháng 3 năm 2009) đã được “bình” và “phê” như sau :

“…chi tiết rất quan trọng trong tiểu thuyết. Nhưng đưa quá nhiều chi tiết mà chưa được tổ chức một cách chặt chẽ như Bùi Ngọc Tấn, theo anh không hẳn đã là một thành công. Thanh Sơn cũng nhấn mạnh, sự ngồn ngộn của chi tiết khiến độc giả rất khó đọc, rất mệt để đọc đến những dòng cuối cùng”.

Có lẽ, người ta chỉ cảm thấy bớt mệt (và thở phào nhẹ nhõm) khi Hà Linh – người viết bài tường thuật thượng dẫn – cho biết thêm rằng “Biển và chim bói cá lấy bối cảnh thời bao cấp”. Thiệt là mừng hết lớn.

Đó là một thời đã qua rồi !

Lịch sử đã sang trang. Chuyện cầu cạnh, bon chen, cậy cục, vay muợn, chạy chọt cho có cơ hội được bước xuống tầu viễn dương – làm một chuyến viễn du, hay nói một cách lịch sự và lịch sử là Đông Du – đi đến những chân trời xa lạ (để mang về những cái chai và lon.. rỗng) không còn phải là đặc quyền của riêng một giới người nào nữa.

Hai muơi năm sau, kể từ lúc “Đảng dũng cảm và quyết tâm đổi mới”, vào năm 2006, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng còn lớn tiếng hô hào toàn dân “hãy bước ra biển lớn”. Mệnh lệnh của ông đã khiến cho dư luận (hết sức) xôn xao và (vô cùng) phấn khích – trong một thời gian rất dài – qua diễn đàn Vươn Ra Biển Lớn, trên Tuổi Trẻ Online.

Nhiều năm sau nữa, sau khi thuyền (đã) ra cửa biển, cuộc sống – xem chừng – cũng không khác trước là bao. Hãy thử đọc một đoạn văn khác, của một ngòi viết khác, về sinh hoạt của một vùng đất khác – ở Việt Nam – bây giờ :

“Cả bản xôn xao khi thấy người lạ xuất hiện. Đám trẻ con hầu hết không quần áo, hoặc trên mình chỉ mang một trong hai thứ, mặt mày chúng trông bẩn thỉu, lem luốc và chi chít vết ruồi vàng bọ chó cắn.

Tôi hỏi thăm đường đến nhà mấy giáo viên cắm bản, nhưng chẳng có ai biết nói tiếng Kinh cả. Nhìn về phía cuối bản, tôi bỗng thấy một lá cờ đỏ bay phấp phới, đoán rằng đấy chắc là khu vực lớp học, tôi lại nặng nề lê bước về phía đó. Mấy thầy cô giáo thấy tôi xuất hiện, họ không khỏi ngỡ ngàng. Với họ, sự xuất hiện của người Kinh ở bản biên giới này hình như hiếm lắm…

Có lẽ cuộc sống người dân tộc La Hủ ở Pa Ủ cũng đơn giản như chính những ngôi nhà mái tranh vách phên của họ. Đơn giản đến lo ngại như những liếp phên cứ rung lên bần bật bởi gió rừng. Ở những túp lều bé nhỏ đến chật chội vì quá đông người đó, mỗi nơi lại có một câu chuyện về hoàn cảnh và những số phận con người.

Cuộc sống của mỗi gia đình ngày hai bữa sáng, tối phải lót dạ một cách dè dặt với canh sắn, ngô đồ, còn măng và rau sắn thì dường như ngự trị bữa ăn…, để có một nồi cơm độn sắn cũng hết sức khó khăn (“Thương lắm những búp non ở trên cành”, Mạnh Hà, phóng viên TTXVN tại Lai Châu).

Thôi chết mẹ ! Vậy là khi tầu hạ thủy – vì lu bu nhiều chuyện quá – Đảng và Nhà Nuớc đã quên (hú) những người dân ở miền sâu, miền xa, miền rừng núi rồi. Đúng không ?

– Thưa không ! Cả đống còn đang đứng (lóng ngóng) trên bờ, chớ đâu có riêng chi mấy đám dân bản địa.

Trong một cuộc chất vấn dành cho những đại biểu quốc hội, Bộ trưởng Nông nghiệp Cao Đức Phát cho biết ở thôn quê “vẫn còn hàng trăm nghìn đồng bào chỉ được ăn cơm khi ngày lễ, ngày tết, khi bị ốm !”.

Như vậy là đám nông dân, ở miền xuôi, cũng bị bỏ lại luôn sao ?

– Chắc bi họ đông quá nên mang theo (e) quá tải chăng ?

– Thế còn đám công nhân ?

Xin đọc qua đôi dòng tường thuật của ký giả Nguyễn Bay :

“Một ngọn đèn dầu, cái giỏ nhựa đựng đồ nghề đấm bóp, giác hơi, chiếu cói, gối hoa trải sẵn hoặc chỉ là một tấm áo mưa. Thợ giác hơi quanh Khu công nghiệp Tân Tạo đa số là nữ với các ‘chiếu’ trên vỉa hè, ven đường, thậm chí chỉ một mô đất giữa ruộng ; hoạt động từ 18g30 đến 3-4 giờ sáng…

Gần một năm nay, các “chiếu” giác hơi ngày một dài thêm hàng cây số (đường đi Long An, An Sương). Lúp xúp trong bụi cây, bờ cỏ, chúng tôi nhận ra nhiều thợ vốn là công nhân… Những khi tan ca, họ lẫn vào dòng thợ ‘chào hàng’… Tiền công 10.000 – 15.000 đồng/lần, bằng nửa ngày công… làm thợ”.

Dẫy chiếu “ngày một dài thêm” vì vật giá mỗi lúc một tăng mà đồng lương thì không. Lương bổng công nhân Việt Nam không thể nâng cao hơn vì những người lãnh đạo ở xứ sở này đã lựa chọn một… quốc sách thấp – theo lời ông Hồ Xuân Lâm, trưởng phòng quản lý lao động các khu chế xuất – khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh :

“Chúng tôi đã có cuộc họp với Hiệp hội Doanh nghiệp Đài Loan và tư vấn cho họ hãy trả lương cao hơn để tránh đình công. Họ nói là rất muốn trả cao hơn nhưng không thể vì quy định lương của Chính phủ Việt Nam quá thấp, các đối tác nước ngoài dựa vào đó kềm giá đơn hàng nên có muốn cũng không thể tăng hơn được”.

Nói tóm lại – và vẫn nói theo kiểu miền Nam – là thuyền đã ra cửa biển… mình ên ! Nhắc đến miền Nam, tôi lại chợt nhớ đến những chuyến tầu (bay) vội vã rời khỏi Sài Gòn – vào tháng Tư, bốn muơi năm trước – năm 1975. Trên một số những con tầu này chỉ có quí ông qúi bà tai to mặt lớn (cùng với của cải, thân nhân và gia nhân của họ) mà thôi.

Bây giờ, sau khi bước ra biển lớn, kiểm điểm lại cũng chỉ thấy duới thuyền không có ai khác – ngoài những kẻ cầm quyền, cùng với hành lý, thân nhân và gia nhân của họ. Thuyền đi càng xa, khoảng cách giàu nghèo (rõ ràng) càng rộng. Ông bạn Lê Diễn Đức gọi đó là sự đểu cáng thời vươn ra biển lớn.

Phải đốt cả dẫy Trường Sơn, phải hy sinh đến cái lai quần, và hàng chục triệu mạng người – thuộc mấy thế hệ kế tiếp nhau – chỉ để đổi lấy sự đểu cáng như thế thì (đ… mẹ) không chửi thề sao được chớ.

Tưởng Năng Tiến

(Sổ tay Thường dân).

https://kontumquetoi.com/2016/04/23/lai-chuyen-thang-tu-tuong-nang-tien/

Nhìn lại cuộc đời đầy bi đát của vũ nữ Cẩm Nhung sau vụ tạt axit ‘rúng động’

Nhìn lại cuộc đời đầy bi đát của vũ nữ Cẩm Nhung sau vụ tạt axit ‘rúng động’

 Sau 54 năm, nhiều thế hệ sau này không còn biết gì về người vũ nữ một thời vàng son lộng lẫy và ca axit định mệnh ngày ấy.

Tuy nhiên, với người dân thời đó, đây là vụ đánh ghen tàn bạo và rùng rợn nhất từng được ghi nhận tại thành phố này, gây chấn động cả Sài Gòn và miền Nam.

Báo chí thời điểm đó đánh giá đây là vụ đánh ghen bằng axit lần đầu tiên xảy ra trong giới thượng lưu Sài Gòn, là tâm điểm quan tâm của nhiều tầng lớp.

Còn cuộc đời của Cẩm Nhung, nhân vật chính trong câu chuyện có thể viết thành tiểu thuyết mà hồi kết của nó đúng là 1 bi kịch. Gọi đây là 1 kiếp hồng nhan bạc mệnh cũng không sai.

Từ gái nghèo lên nữ hoàng vũ trường

Cẩm Nhung sinh năm 1940 tại Hà Nội, năm 15 tuổi, cô gia đình di cư vào Nam. Sau đó không lâu, chacô lâm bệnh rồi mất. Cẩm Nhung phải bỏ học, xin vào làm tiếp viên trong một nhà hàng. Nhờ đó cô đã lân la làm quen với những bản nhạc, những điệu nhảy trong quán bar của nhà hàng.

Với khuôn mặt đẹp và làn da trắng hồng, đôi mắt lẳng lơ, thân hình quyến rũ, khi tuổi chưa đầy 19 tuổi, cô đã trở thành gái nhảy chuyên nghiệp trong giai đoạn phong trào nhảy đầm phát triển rầm rộ ở Sài Gòn.

Cô đi qua nhiều vũ trường, cuối cùng dừng lại với vũ trường Kim Sơn trên đường Tự Do (nay là Đồng Khởi, quận 1). Sự vụt sáng của Cẩm Nhung khi đó đã làm lu mờ ngay vì tinh tú đã sáng mấy năm trước đó chính là Thu, con nhà văn Lê Văn Trương gốc Bắc, một vũ nữ được nhiều tay chơi Sài Gòn mến mộ.

Thu tâm sự rằng: “Con Cẩm Nhung có lợi thế hơn người, bởi nó vừa trẻ lại vừa đẹp và nhảy hay. Mặc dù về Kim Sơn chưa đầy một năm, vậy mà ticket (vé) của con nhỏ đã tăng lên vùn vụt”. Vũ trường Kim Sơn cũng là nơi Cẩm Nhung gặp gỡ mối tình oan khiên với tay trung tá công binh Trần Ngọc Thức lớn hơn cả chục tuổi, khiến đời cô chìm vào tăm tối.

Nói về Cẩm Nhung, tài-pán Marie Sang, người quản lí vũ trường có tiếng hồi đó kể lại: “Tội nghiệp con Cẩm Nhung lắm. Nó là đứa nhỏ nhất trong đám đệ tử của em ngày ấy. Nhưng nó rất biết điều, sống có tình và tha thiết với một mong ước là ngày nào đó sẽ rời ánh đèn mờ vũ trường để kiếm một tấm chồng giản đơn. Tiếp đó, nó sẽ sống như bà mẹ hiền hậu của mình…”. Tuy nhiên, ước mơ giản dị ấy chưa kịp thành hình thì cuộc đời Cẩm Nhung rẽ sang một hướng khác đầy bi kịch sau ngày 17 tháng 7 năm 1963 định mệnh.

Nở một cuộc tình, tan một đời hoa

Nói về mối tình của trung tá Thức và Cẩm Nhung. Thời ấy, “Thức công binh” (biệt danh của trung tá Trần Ngọc Thức) nổi lên như cồn trong giới ăn chơi ở Sài Gòn. Trung tá Thức tuổi ngoài 30, đam mê nhảy đầm. Từ trước đến nay chưa có vũ nữ nào là mối ruột của ông nhưng chỉ gặp Cẩm Nhung lần đầu, ông đã say mê như điếu đổ.

Từ đêm đó, mỗi lần ông đến Kim Sơn là có Cẩm Nhung kề cận. Sau đó họ có những cuộc hẹn hò, những lần đi chơi với nhau. Cách đối xử của ông làm cho Cẩm Nhung cảm phục và mặc dù thừa biết ông đã có gia đình cô vẫn sẵn lòng làm người vợ ngoài giá thú.

Vợ trung tá Trần Ngọc Thức có biệt danh là Năm Rađô đã vài lần đón đường hăm dọa, thậm chí tát tai dằn mặt vũ nữ Cẩm Nhung, nhưng bấy nhiêu đó không đủ làm cho cô gái trẻ rời xa chồng bà. Trong cơn ghen mù quáng, bà đã vạch kế hoạch tỉ mỉ tiêu diệt tình địch. Hai tên giang hồ có cỡ được bà Năm Rađô thuê với giá 2 lượng vàng để làm cái việc hủy diệt nhan sắc của cô vũ nữ.

Khoảng 22 giờ đêm ngày 17.7.1963, vũ nữ Cẩm Nhung rời khỏi nhà để đến vũ trường Kim Sơn. Khi Cẩm Nhung còn cách chiếc taxi khoảng 10 mét, bất ngờ từ bên kia đường một gã đàn ông băng nhanh qua đường, tiến về phía cô. Cẩm Nhung chưa kịp phản ứng thì gã đàn ông đã tạt mạnh ca axít vào mặt cô.

Cẩm Nhung chỉ kịp kêu lên: “Chết tôi rồi, cứu tôi với” rồi ngã gục trên đường. Người đàn ông sau khi tạt axít đã băng qua bên kia đường, leo lên xe taxi mở cửa chờ sẵn, trên ấy có bà Năm Rađô.

Nghe tiếng kêu cứu, một số người đi đường đã chạy đến, họ thấy Cẩm Nhung nằm quằn quại dưới đường, mùi axít xông lên hôi nồng. Một người đàn ông đã ôm nạn nhân lên xe taxi, chở đến Bệnh viện Đô Thành (Bệnh viện Sài Gòn ngày nay). Do Bệnh viện Đô Thành không có khả năng trị bỏng, nhất là bỏng axít, nạn nhân sau đó đã được chuyển đến Bệnh viện Đồn Đất (Bệnh viện Nhi Đồng 2 ngày nay).

Những người bạn vũ nữ của Cẩm Nhung đến thăm, thấy cảnh sát hại dã man, đã hùn tiền lại mời luật sư bảo vệ cho Cẩm Nhung, đưa vụ việc ra pháp luật. Thế nhưng, thời ấy thế lực của “Thức công binh” và bà Năm Rađô rất mạnh ở Sài Gòn, nên tưởng như không ai làm được gì họ. Vụ việc đến tai bà Trần Lệ Xuân, vợ của Ngô Đình Nhu. Đích thân bà Trần Lệ Xuân cũng đã đến thăm và đưa Cẩm Nhung sang nước ngoài chữa trị. Nhưng do vết thương quá nặng nên các bác sĩ ở đây cũng không thể giúp cô.

3 tháng sau ngày xảy ra vụ việc, một phiên tòa được mở công khai để xử nhưng người gây ra thảm cảnh cho vũ nữ Cẩm Nhung. Kẻ chủ mưu là bà Nguyệt và tên tạt axit thuê phải nhận bản án 20 năm tù cho mỗi người. Kẻ đồng lõa nhận án 15 năm.

Tuy nhiên, vụ án sau đó bị đình lại rồi rơi vào quên lãng, bà Trần Lệ Xuân phải lưu vong ở nước ngoài, lời hứa bao bọc Cẩm Nhung đến suốt đời của bà Xuân cũng gác lại. Gia đình trung tá Thức đổ vỡ. Ông tiếp tục sống một cách khép kín. Vợ ông, bà Nguyệt vào chùa để sống hết những ngày còn lại.

Mất chỗ bấu víu, hận đời hận người, Cẩm Nhung chán nản lao vào đập phá, nghiện ngập, hút thuốc, uống rượu… Sau khi tiêu tán hết tài sản và hai người thân nhất qua đời, năm 1969, Cẩm Nhung phóng tấm ảnh có cô và trung tá Thức mang trước ngực lê la khắp các đường phố Sài Gòn để khất thực.

Lần đầu tiên – trước tết năm 1969, cô đến khu vực chợ Bến Thành. Ngồi bên vệ đường Lê Lợi với chiếc lon phía trước và tấm ảnh trên ngực, Cẩm Nhung bắt đầu chuỗi ngày ăn xin. Người Sài Gòn hay tin kéo nhau đến xem và giúp cô được khá nhiều.

Cẩm Nhung lê bước hành nghề khắp nhiều tuyến đường ở Sài Gòn sau đó về bến phà Mỹ Thuận ở miền Tây. Bị đưa vào trung tâm nuôi người tàn tật nhưng cô trốn ra tiếp tục ăn xin và mất tăm một thời gian sau đó.

Người đời bàn luận rằng có lẽ bà đã bệnh chết hoặc đã quyên sinh để chấm dứt kiếp hồng nhan bạc phận của mình. Mãi sau này người ta mới phát hiện bà vẫn còn sống, vừa bán vé số vừa ăn xin quanh các ngôi chùa ở thị xã Hà Tiên, mà thường nhất là ở chùa Tam Bảo.

Đúng 50 năm sau vụ đánh ghen, vào đầu năm 2013, Cẩm Nhung qua đời tại một xóm trọ nghèo ở thị xã Hà Tiên (tỉnh Kiên Giang), nơi những người ăn xin, bán vé số, bốc vác tứ xứ đến thuê ở trọ. Cô được những người đồng cảnh ngộ lo cho một quan tài loại rẻ tiền, rồi đưa ra nghĩa địa… kết thúc cuộc đời đầy hào quang nhưng thấm đẫm nước mắt của cô vũ nữ lừng danh nửa thế kỷ trước.

From: TU-PHUNG

Nước Miến Nhìn Từ Xứ Việt

Nước Miến Nhìn Từ Xứ Việt

Nguyễn Hưng Quốc vừa gửi đến thân hữu và độc giả của ông một stt ngắn:

Elie Wiesel, một giáo sư người Mỹ gốc Do Thái, nói một câu thật hay: “Trái ngược với tình yêu không phải là sự thù ghét mà là sự dửng dưng. Trái ngược với nghệ thuật không phải là cái xấu mà là sự dửng dưng. Trái ngược với đức tin không phải là tà giáo mà là sự dửng dưng. Và trái ngược với sự sống không phải là cái chết mà là sự dửng dưng.”

Ứng dụng vào trường hợp của Việt Nam, chúng ta cũng có thể nói: đối lập với dân chủ không phải là độc tài mà là sự dửng dưng; đối lập với độc lập và chủ quyền trên lãnh thổ không phải là sự xâm lược mà là sự dửng dưng; đối lập với sự phát triển không phải là sự lạc hậu mà là sự dửng dưng.

Nói một cách tóm tắt, hiểm hoạ lớn nhất của Việt Nam không phải là chế độ độc tài trong nước hay âm mưu xâm lấn biển đảo của Trung Quốc mà là sự dửng dưng của mọi người. Chính sự dửng dưng đến vô cảm của phần lớn dân chúng là điều đáng lo nhất hiện nay.

Kiểu “ứng dụng” và cách “nói tóm tắt” như trên rất có thể khiến nhiều người hiểu lầm rằng dân Việt vốn tính thờ ơ, lạnh lùng, và ăn ở không có (hoặc thiếu) cảm tình.

Hổng dám “thiếu” đâu. Sợ còn dư nữa là khác, theo tin tức của báo chí nhà nước:

Fan bóng đá còn đông đảo và cuồng nhiệt hơn gấp bội :    

Ở California hay Washington, DC năm rồi cũng thế. Người Việt tị nạn cũng tụ tập đông đảo hay biểu tình rầm rộ để ủng hộ hai ứng viên tổng thống (Dân Chủ hoặc Cộng Hoà) cùng biểu ngữ, cờ xí, và “hào khí” ngất trời luôn!

Dân Việt – rõ ràng – hoàn toàn không dửng dưng, cũng không vô cảm. Họ chỉ hờ hững và lạnh nhạt trước chuyện sống còn của quê hương đất nước thôi.

Sao kỳ vậy cà?

Trước những sự kiện đang diễn ra ở Miến Điện, bỉnh bút Du Uyên (Tuần Báo Trẻ, số 1237, phát hành từ Texas, ngày 2 tháng 4 năm 2021) có vài nhận xét cùng đôi ba câu hỏi nhỏ :

Họ bất chấp hy sinh tất cả, ngay cả kinh tế của từng gia đình, từng người để đổi lấy một nền dân chủ thực sự trên đất nước mình. Tuyên bố sẵn sàng chia sẻ thức ăn, nước uống và các đồ dùng sinh hoạt hàng ngày cho nhau, giúp đỡ nhau đến khi kinh tế do quân đội độc tài điều hành sụp đổ…

Người dân Miến Điện không chỉ tin vào tự do, dân chủ, mà họ còn tin nhau. Bởi vậy mới có sự đoàn kết như thế! Thường thì có sự gì trên thế giới, dân tình đều sẽ nhìn lại bản thân mình. Nhiều người Việt cũng vậy, không ít người đã hỏi: liệu chúng ta có đủ niềm tin cho nhau khi “loạn lạc” hay không? Và nếu xảy ra những cuộc nội chiến tương tự, thì dân Việt có đủ tin vào tự do, dân chủ để làm nên những điều trên hay không?

Không … là cái chắc!

Người Việt cũng sở hữu rất nhiều thuộc tính như đa phần nhân loại, chỉ thiếu mỗi … niềm tin thôi. Họ hoàn toàn không tin tưởng gì vào vận mệnh và tương lai của đất nước nên hết thế hệ này, sang thế hệ khác đều sẵn sàng (và lũ lượt) rời bỏ quê hương, không chút luyến thương. T.S  Phương Mai gọi đây là “cuộc tị nạn niềm tin”!

Dân Việt cũng chả có chút kỳ vọng hay tin tưởng gì vào nhau cả, theo như lời than thân của nhà hoạt động xã hội Đỗ Cao Cường:

“Khi một người Hồng Kông đứng lên, cả triệu người Hồng Kông che chắn, nhưng khi một người Việt Nam đứng lên, họ phải xác định không gia đình, không sự nghiệp, không bạn bè. Đôi khi, một mình họ chống lại cả thế giới này.”

Sao đến nông nỗi thế?

Dù cũng bao gồm hằng trăm sắc dân (và sống hơn nửa thế kỷ dưới chế độ độc tài) nhưng người Miến chưa bao giờ bị ép buộc phải đấu tố, canh chừng, rình rập, và tố giác lẫn nhau. Nhờ vậy nên dù thường trực phải chịu đựng áp lực của một thể chế cường bạo, họ vẫn còn niềm tin vào tha nhân. Ngoài ra, dân Miến cũng còn giữ được niềm tin vào tôn giáo vì không gian tâm linh của họ không bị vấy bẩn (hay lũng đoạn) bởi đám tu sĩ quốc doanh – như ở Việt Nam.

Từ Yangon, nhà báo Từ Khanh tường thuật: “Nhà chùa, dưới chế độ quân phiệt, đóng vai trò hướng dẫn cuộc sống đời và đạo… Các lớp học trong chùa suốt năm thập niên qua tiếp tục dạy con người trở thành kẻ hiền lương trong mọi hoàn cảnh.”

Cũng như người Lào, người Miến hiền thật (và hiền lắm) hiền tới cỡ khiến du khách phải lấy làm … ái ngại. Những ông phu xe đều xua tay và lắc đầu quầy quậy, nếu hành khách có nhã ý trả cho họ một số tiền nhiều hơn giá cả thông thường. Các ông tài xế taxi ở Myanmar cũng thế. Dù xe không có máy tính tiền nhưng chả ai phải mặc cả hay trả giá cò kè gì sất.

Những ngày ở Burma, tôi hay la cà nơi quán xá vỉa hè nên thỉnh thoảng vẫn bị chủ quán vội vã rượt theo, la ơi ới, vì tưởng thực khách bỏ quên tiền – số tiền trà nước (pour boire) kín đáo để lại cho những đứa bé chạy bàn. Thực là một dân tộc hiền lương, chất phát, và chắc là rất cả tin.

Điều may mắn là đất nước của họ vẫn còn nhiều điều khả tín. Miến Điện có đảng đối lập (Liên Đoàn Quốc Gia Vì Dân Chủ Đảng – National League for Democracy) với thực lực, cùng lãnh đạo tầm vóc và được người dân tin tưởng.

Dân Việt thì hoàn toàn tay trắng, chả có gì làm vốn để chuẩn bị cho một cuộc nổi dậy, một cắc cũng không luôn.

Nếu tính từ tháng tư năm 1975 đến nay thì chế độ hiện hành ở Việt Nam chưa gặp phải một đối lực nào đáng kể. Đảng đối lập không, lãnh đạo phản kháng cũng không – nếu “quên” kể hai khuôn mặt bệnh hoạn thấy rõ là Tổng Thống Đào Minh Quân và Thủ Tướng Nguyễn Hữu Chánh. Cả hai đều là tuyệt phẩm của Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại.

Tôi bị bạn bè trách móc vì đã đôi lần đặt đôi câu hỏi nhỏ (Nó Rớt Rồi Sao hay Nó Sập Rồi Sao) với không ít bi quan. Lắm người chỉ muốn nó đổ ngay đi cho khuất mắt, rồi hậu xét.

Nếu ngày mai chế độ quân phiệt Miến Điện cáo chung thì Liên Đoàn Quốc Gia Vì Dân Chủ ở xứ sở này sẵn sàng nhận lấy trách nhiệm và quyền bính. Còn nếu ngày mốt mà bọn cộng sản (bỗng) lăn đùng ra chết hết thì không biết dân Việt sẽ loay hoay và và xoay trở ra sao, với những cái xác thối tha trên khắp mọi nẻo đường đất nước.

Không có niềm tin vào nhau, và vào tương lai của đất nước thì ai cũng đều giữ cái thái độ dửng dưng và vô cảm cả (cho nó an toàn) là chuyện tất nhiên. Thiên hạ nơi đâu và thời nào cũng thế, chứ chả riêng chi dân Việt.

Tưởng Năng Tiến
4/2021

Câu chuyện về Jacky Ly

Câu chuyện về Jacky Ly

Khó có thể biết Lý Vĩnh Thắng – tên tiếng Việt của Jacky Ly – sẽ trở thành người như thế nào nếu Thắng và gia đình vẫn còn ở một ngôi làng nghèo miền núi ở Phó Bảng, Hà Giang. Có thể Thắng là một “học sinh nghèo vượt khó” xuất sắc nhưng cũng có thể Thắng chỉ là một anh nông dân chăn bò, làm nương rẫy, như thời niên thiếu, và chôn cuộc đời ở một ngôi làng nhỏ đến mức thậm chí gần như “không có tên” trên bản đồ các tỉnh vùng núi phía Bắc Việt Nam. Câu chuyện về Jacky Ly là trường hợp điển hình của vô số gia đình Việt Nam trong đó việc quyết định tìm kiếm tự do bằng con đường vượt biên là chọn lựa duy nhất và quyết định đó đã mang lại những bước ngoặt thay đổi khó có thể ngờ…

Băng rừng vượt biên

Việc chuẩn bị được thực hiện chu đáo và cẩn thận. Trước khi đưa cả nhà đi, ông Lý Hội Quyền – cha của anh Lý Vĩnh Thắng – đã một mình lẻn sang Vân Nam-Trung Quốc để dò xét và tìm chỗ ở tạm. Một đêm năm 1987, Thắng – lúc đó 10 tuổi – cùng hai chị và đứa em gái được bố mẹ chở trên xe đạp. Hành lý mang theo chỉ là vài bộ đồ và ít thức ăn. Họ bắt đầu cuộc hành trình bí mật. Phải kín đáo và thận trọng tuyệt đối. Chỉ một dấu hiệu đáng ngờ, họ cũng có thể bị hàng xóm trình báo và bị công an bắt. Đây là lần thứ hai họ vượt biên. Lần thứ nhất, đi từ Hải Phòng, trước đó vài năm (1979), đã thất bại. Sau chuyến đi không thành đó, gia đình ông Lý đến sống ở Tân Mỹ, Chiêm Hóa, Tuyên Quang. Họ lầm lũi sinh nhai bằng nghề nông. Tuy nhiên, ông Lý vẫn âm thầm tìm cách thoát. Hành trình vượt biên lần thứ hai khởi hành từ đây, cách biên giới Việt-Trung đến 400 km.

Băng qua biên giới một cách an toàn là điều không đơn giản. Vết tích cuộc chiến Việt-Trung 1979 vẫn còn in đậm. Cả hai bên biên giới đều đầy mìn và bẫy chông. Để tránh bị phát hiện bởi lính biên phòng của cả hai bên, gia đình ông Lý phải len lỏi đi trên những con đường mòn nhỏ, xuyên rừng. Có những đoạn ông Lý phải cõng đứa con gái sáu tuổi gần như suốt ngày lẫn đêm (sau này khi kể lại, ông nói rằng nếu không phải là cô con gái của ông mà là khối vàng thì ông cũng sẵn sàng vất bỏ vì quá cực nhọc).

Sau 14 ngày, gia đình ông Lý vào đất Vân Nam-Trung Quốc. Thở phào. Nhưng chưa nhẹ nhõm. Không giấy tờ tùy thân, họ có thể bị nghi ngờ, tố giác và bị công an Trung Quốc bắt đuổi trở về Việt Nam. Cả nhà ông Lý phải di chuyển liên tục và có khi phải chia ra ở rải rác. Họ chỉ tá túc một chỗ trong vài tuần rồi lại tìm nơi khác. Cuối cùng, họ đến Phòng Thành, Quảng Tây. Tại đây, ông Lý cùng một số người Việt khác, cũng vượt biên trốn khỏi Việt Nam, tìm cách đi khỏi Trung Quốc. Họ tìm được một đầu mối giới thiệu mua thuyền và thuê tài công. Họ dự tính thoát đến Macau. Nếu Macau từ chối nhận tỵ nạn, họ sẽ đi Hong Kong. Nếu Hong Kong khước từ, họ sẽ đi Nam Triều Tiên. Nếu lại bị từ chối, họ sẽ đi Nhật Bản!

Ngày 18-6-1988, 72 người tỵ nạn, trong đó có sáu thành viên gia đình ông Lý, lục tục xuống chiếc thuyền đánh cá cũ nát. Con thuyền dài 12m-rộng 3m chỉ có mái che sơ sài cho khoang động cơ. Mọi người mang theo lương thực cho khoảng 30 ngày và phó mặc số phận cho hai tài công. Sau vài ngày lênh đênh, giữa cái nắng lột da và những cơn đói dữ dội, họ bị một trận bão dập tơi bời, những tưởng thuyền bị lật úp và tất cả chết đuối giữa biển. Khi đến Bắc Hải, thành phố phía Tây Nam Trung Quốc, họ lại bị một “cú sét đánh” thậm chí choáng váng hơn: qua radio, họ biết tin Macau lẫn Hong Kong vừa tuyên bố ngưng nhận người tỵ nạn Việt Nam. Bất kỳ người tỵ nạn Việt Nam nào đến Hong Kong sau ngày 16-6-1988 đều bị đưa vào trại tập trung để trả lại quê nhà. Không lẽ quay về? Họ liều mạng đi tiếp.

Sau 13 ngày “nướng” mình dưới nắng biển, họ đến gần Macau. Hai tài công rời thuyền. Họ được thuê chỉ để đưa mọi người đến đây, như thỏa thuận. Một người Việt, tên Thái, bất đắc dĩ trở thành người lái thuyền. Sự thiếu kinh nghiệm đi biển lập tức được “trả giá” sau đó khi thuyền va vào đá ngầm. Hỗn loạn và sợ hãi. Thật may là họ được cảnh sát biển Macau phát hiện và cứu. Sau khi giúp sửa thuyền, cảnh sát Macau yêu cầu tất cả rời đi. Mọi người lại ra khơi, gần như trong vô vọng. Cuối cùng, ngày 1-7-1988, thuyền đến Hong Kong. Đây là con thuyền thứ 47 của người tỵ nạn Việt Nam đến sau khi Hong Kong ban bố chính sách mới dành cho người tỵ nạn kể từ ngày 16-6-1988.

Những năm tháng ở trại tỵ nạn Hong Kong in sâu ký ức Thắng. Nếu không được bố mẹ và hai chị dạy bảo và che chở, Thắng rất có thể đã trở thành đứa bé hư hỏng đi theo đám băng nhóm giang hồ thuộc thành phần tỵ nạn đến từ các tỉnh khác của Việt Nam. Trại tỵ nạn chật chội, đông đúc, với đủ thành phần phức tạp, đã tạo thành một xã hội Việt Nam thu nhỏ nơi người ta không chỉ giành giật miếng ăn mà còn gây ra những hành vi tội phạm. Hãm hiếp và đâm chém xảy ra như cơm bữa. Sau hơn hai năm sống trong cảnh nhốn nháo, gia đình ông Lý cuối cùng được Chính phủ Mỹ đồng ý cho tỵ nạn. Họ được đưa qua Philippines sáu tháng để học tiếng Anh trước khi đến Mỹ…

Bắt đầu từ tay trắng

Nước Mỹ. North Carolina. Cuộc hành trình dài đã đến đích. Tuy nhiên, một chặng mới lại bắt đầu. Tất cả đều chỉ có hai bàn tay trắng. Họ đã rời con thuyền rách nát số 47. Họ đã rời khu ổ chuột tỵ nạn Hong Kong. Họ đang đặt chân đến một vùng đất xa lạ và tiếp tục đi trên những con đường thậm chí khó khăn và khó lường hơn cả những con đường mòn vượt rừng xuyên bóng đêm băng qua Vân Nam ngày nào. Phần tiếp theo của câu chuyện là chuỗi nỗ lực điển hình của gần như mọi người Việt tỵ nạn giai đoạn đó. Chen chúc trong căn nhà nhỏ được cấp tạm cho người tỵ nạn, gia đình ông Lý lao vào xã hội Mỹ với vốn liếng tiếng Anh gần như bằng không. Ông Lý phải làm ba “job” để giúp gia đình. Ban ngày ông làm thợ hàn. Ban đêm ông làm công nhân xưởng lắp ráp. Và cuối tuần ông làm nhân viên phục vụ nhà hàng. Trong khi đó, vợ ông lãnh quần áo gia công về nhà may; và hai chị của Thắng-Jacky đi làm nail sau khi học xong trung học. Jacky cũng phải đi làm thêm vào cuối tuần, từ chạy bàn đến rửa chén, cho đến khi vào đại học và vào quân đội…

Khó có thể biết ông Lý Hội Quyền nghĩ gì về tính mạng của mình cũng như vợ con vào thời điểm ông quyết định đưa cả nhà đi vượt biên. Nhưng có điều chắc chắn rằng ông không thể tưởng tượng có ngày mà cậu con trai duy nhất của ông, Vĩnh Thắng – Jacky, lại thành đạt hơn cả sự mong đợi, với không chỉ hai bằng master (từ National War College và Đại học Johns Hopkins), mà còn trở thành một sĩ quan cấp cao quân đội Hoa Kỳ. Ông Lý Hội Quyền (từ trần năm 2012) – người mà Jacky luôn xem như là tấm gương vĩ đại đối với mình – cũng khó có thể tưởng tượng một ngày mà con trai ông trở về lại Phó Bảng với tư cách một sĩ quan quân đội Mỹ, ở cương vị Chánh Văn phòng hợp tác quốc phòng Mỹ-Việt, thực hiện các dự án hợp tác và tìm kiếm cơ hội hỗ trợ những gia đình nghèo miền núi Việt Nam, nơi có bóng dáng những đứa trẻ lếch thếch hệt Vĩnh Thắng ngày nào…

Tôi phải cố gắng, luôn cố gắng, phải “work extra hard” – Jacky nói. Ngày 1-1-2021, Jacky Ly trở thành đại tá quân đội Hoa Kỳ (lễ gắn lon chính thức được tổ chức chiều ngày 23-4-2021). Sau hơn 20 năm phục vụ quân đội Mỹ, Jacky Ly vẫn muốn tại ngũ. 42 tuổi, Jacky sẽ còn đi xa, thậm chí có thể xa hơn cả những điểm đến mà người cha không bao giờ có thể nghĩ tới, khi ông cõng cô em gái của Jacky lên đường trong đêm tối cùng gia đình ra đi chỉ với một thôi thúc: tìm kiếm tự do và một tương lai sáng sủa hơn cho các con của mình.

***************

Đại tá Jacky Ly

Từng chỉ huy đại đội lính nhảy dù mũ đỏ (thuộc 82nd Airborne Division) và tham gia chiến trường Afghanistan, Iraq, cũng như công tác tại Hàn Quốc, Hawaii…, cuộc đời Jacky Ly gắn liền với binh nghiệp. Nhập ngũ năm 18 tuổi khi vào Vệ binh North Carolina với dự tính ban đầu chỉ phục vụ quân đội ba năm nhưng sau đó Jacky không rời bộ quân phục. Jacky tốt nghiệp bằng cử nhân quản trị doanh nghiệp về hệ thống thông tin máy tính từ Đại học Appalachian State. Trong thời gian quân ngũ, ngoài những khóa đào tạo chuyên biệt trong quân đội, Jacky còn học National War College, Đại học Johns Hopkins, và Trường tham mưu quân sự Malaysia. Từng là Chánh Văn phòng hợp tác quốc phòng (Chief of the Office of Defense Cooperation) trực thuộc Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội, Jacky còn là cố vấn quân sự cấp cao và chánh Văn phòng Hợp tác An ninh trực thuộc Phái bộ Hoa Kỳ tại Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ở Jakarta, Indonesia. Đại tá Jacky Ly sắp nhận nhiệm vụ mới tại Đông Nam Á với tư cách tùy viên quốc phòng.

Ảnh Jacky Ly cùng ba và em gái

– Nhà báo Mạnh Kim

Cựu Đại Sứ Pháp tại Việt Nam, Jean-Marie MÉRILLON nói gì?

 May be an image of 1 person

 Lúc phi cơ xoay qua một độ nghiêng, lấy hướng qua Bangkok, tôi nhìn xuống Sài Gòn lần chót. Tự nhiên trong lòng tôi dâng lên một niềm ngậm ngùi thương tiếc tất cả những gì đang xảy ra dưới đất. Tôi như người bại trận, hay nói cách khác, tôi xin được làm bạn với người bại trận, một người bạn đã không chia xẽ mà còn bắt buộc Việt Nam Cộng Hòa phải gánh chịu hết tất cả… trong những ngày sắp tới.

Việt Nam và tôi có rất nhiều kỷ niệm, có quá nhiều quan hệ mật thiết suốt đời không phai lạt. Sống ở Việt Nam lâu năm, tôi cảm thấy thương xứ sở này. Tội nghiệp cho họ, họ có thừa khả năng dựng nước, nhưng cái quyền làm chủ quê hương đã bị các cường quốc chuyền tay nhau định đoạt. Tôi xin lỗi người Việt Nam. Tôi đã làm hết sức mình nhưng không cứu vãn được nền hòa bình cho dân tộc Việt. Vĩnh biệt Sài Gòn, Sài Gòn vẫn hồn nhiên với những mạch sống dạt dào ơn nghĩa, một khi đã chọn bạn hữu thâm giao.

Năm 1979, Đại sứ Võ văn Sung có thư mời tôi trở lại thăm Sài Gòn. Tôi từ chối với lý do không quen với cái tên Hồ chí Minh. Sài Gòn đã mất, tôi trở lại đó thăm ai? Ở đời có khéo lắm cũng chỉ gạt được người ta lần thứ hai, làm sao lừa dối được người ta lần thứ ba?

Người cộng sản giả bộ ngây thơ (ở một khía cạnh nào đó) nên tưởng nhân loại cũng đều ngây thơ như họ. Liên tục nói dối hàng bao nhiêu năm, tưởng như vậy quần chúng sẽ nhập tâm tin là thật. Họ lầm. Nói láo để tuyên truyền chỉ có lợi trong chốc lát, nhưng về lâu về dài thì chân lý của loài người sẽ đè bẹp họ. Ngày xưa Liên Xô đã xiết chặt sai khiến họ, dùng Việt Nam làm phương tiện đóng góp cho Nga. Họ có muốn thoát ly, có muốn nhờ Tây Phương tháo gở cho họ cũng không được nữa, vì đã từng phạm lỗi lớn là đã lường gạt Tây Phương…

Sau hết, chế độ Việt Nam Cộng Hòa thua, nhưng thật ra người Việt Nam chưa thua cộng sản. Trận chiến chưa chấm dứt vào ngày 30 tháng 4 năm 1975..

Mỗi năm, vợ chồng chúng tôi đều đi xuống Lourdes để kính lễ Đức Mẹ Lộ Đức. Luôn luôn tôi nhắc nhở nhà tôi.

Chúng tôi cùng cầu nguyện cho người Việt Nam đạt được nền hòa bình theo sở nguyện của họ.

Tôi tin rằng Đức Chúa Trời và Đức Mẹ không bỏ rơi dân tộc Việt Nam.

Jean-Marie MÉRILLON

Cựu Đại Sứ Pháp tại Việt Nam

Hình ảnh của PV Reuters cho thấy thảm họa kinh hoàng của Virus Tàu cộng tại Ấn Độ

 

 24.04.2021

Hình ảnh của PV Reuters cho thấy thảm họa kinh hoàng của Virus Tàu cộng tại Ấn Độ.

Hình này được chụp tại 1 điểm thiêu xác những ca tử vong tại thủ đô xứ này ngày hôm qua, 23/04/2021. Tuy nhiên đây chỉ là 1 trong số các nơi đang đỏ lửa để làm hỏa táng mà thôi.

Hiện tại tình hình của Ấn Độ đang căng thẳng vô cùng. Chỉ riêng ngày 21/03/2021, nước này đã có gần 300.000 ca mới. Con số được thông báo vào ngày hôm sau là 314.000. Bước sang ngày 23/4, số ca nhiễm mới trong vòng 24h đã hơn 332.000 người. Với hơn 2000 ca tử vong một ngày, hiện tại các bệnh viện ở Ấn Độ đã không còn chỗ, thiếu máy thở và không đủ bình oxy để cấp cứu cho dân.

Nhiều hãng tin trên thế giới đồng loạt miêu tả cảnh những người Ấn Độ có điều kiện lo bỏ xứ ra đi trốn bệnh dịch. Vé máy bay 1 chiều từ Ấn đi Dubai, xuất phát ngày 23 và 24-4 đã tăng gấp 10 lần bình thường, từ khoảng 100 lên hơn 1.000 USD. Tất cả các trang đặt vé máy bay đều báo lỗi khi yêu cầu vé xuất phát ngày 25-4. Trong khi đó, các tỷ phú thì thuê chuyên cơ đưa cả nhà tháo chạy. Hãng Enthrall Aviation chuyên cho thuê chuyên cơ cho biết công ty nhận được hơn 80 yêu cầu thuê máy bay trong ngày 23-4. Giá mỗi chuyến bay này là 38 ngàn USD với 13 chỗ bay từ Ấn đi Dubai theo báo Tuoitre. Trong khi hàng loạt quốc gia lại đang chặn đường bay từ Ấn Độ đến nước họ.

Tình cảnh này thật thê thảm vì dân Ấn Độ vốn dĩ đã đông, phần lớn lại nghèo khó thì sẽ rất khó khăn và sẽ bị chết nhiều trong vụ vỡ trận lần này.

Cầu nguyện cho Ấn Độ.

_____

Theo Bích Hậu/The Reuters/ Gettyimages./.

ĐIỀU GÌ LÀM NÊN SỰ KHÁC BIỆT GIỮA MỸ & ẤN ĐỘ TRONG CÙNG MỘT THẢM HỌA COVID-19?



– Hình ảnh đáng sợ về một bãi hỏa táng lộ thiên tại Ấn Độ (Ảnh: Reuters).

– Hình ảnh chôn người xếp lớp trong các dãy mộ tập thể trên đảo Hart, New York, USA…

ĐIỀU GÌ KHIẾN NƯỚC MỸ – ẤN ĐỘ GIỐNG NHAU & ĐIỀU GÌ LÀM NÊN SỰ KHÁC BIỆT GIỮA MỸ & ẤN ĐỘ TRONG CÙNG MỘT THẢM HỌA COVID-19? 

Ai giết nghệ sĩ Thanh Nga

Ai giết nghệ sĩ Thanh Nga

Trúc Giang  

1*. Ai giết nghệ sĩ Thanh Nga?

altNSƯT Thanh Nga sống và chết trọn vẹn từng giây phút''

Thanh Nga là một trong những nữ nghệ sĩ nổi tiếng trên sân khấu cải lương miền Nam Việt Nam trước năm 1975.

Ngày 26-11-1978, cái tin Thanh Nga bị bắn chết đã nhanh chóng lan truyền trong người dân Sài Gòn. Cái chết đột ngột của Thanh Nga gây xôn xao trong dư luận. Giới mộ điệu cải lương vô cùng xúc động trước cái chết của thần tượng của họ. Mọi người bàn tán xôn xao. Câu hỏi đầu tiên là “Ai đã giết Thanh Nga?”

Nhiều người suy đoán, gián điệp Trung Cộng giết Thanh Nga vì chửi bới Trung Cộng. Cũng có ý kiến cho rằng, Tổng Bí Thư Lê Duẩn rất mê Thanh Nga, nên TN ăn đạn do ghen tuông.

Bộ Công An cho báo chí biết, chính bọn “tàn dư Mỹ Ngụy” giết Thanh Nga.

Tất cả không thuyết phục, không đúng. Và câu hỏi “Ai giết Thanh Nga” chưa có câu trả lời chính xác trong một thời gian dài sau đó.

2*. Tóm tắt vụ án Thanh Nga

Khoảng 23 giờ ngày 26-11-1978, sau khi diễn xong vở Thái Hậu Dương Vân Nga ở rạp Cao Đồng Hưng, Bà Chiểu, nữ nghệ sĩ Thanh Nga (TN) lên chiếc xe Wolkswagen màu xám nhạt, do chồng là ông Phạm Duy Lân cầm lái. Thanh Nga ngồi ở băng ghế sau với con trai là Cúc Cu, 5 tuổi. Võ sư Nguyễn Văn Các, cận vệ của TN ngồi phía trước bên cạnh tài xế.

Chiếc xe theo đường Đinh Tiên Hoàng hướng về Ngã Sáu Sài Gòn, chỗ có bức tượng Phù Đổng Thiên Vương cởi ngựa sắt. Xe từ từ ngừng trước cửa nhà Thanh Nga, số 114 đường Ngô Tùng Châu.

Bỗng nhiên, một chiếc Honda phóng tới, thắng gấp, một người nhảy xuống chỉa súng vào gáy của võ sư Nguyễn Văn Các, 34 tuổi, cận vệ của TN, hắn quát “Đứng yên, mày la tao bắn chết”. Hắn đạp mạnh làm cận vệ Các ngã chúi vào trong xe, sau đó có tiếng súng nổ và trẻ con khóc.

Thanh Nga và chồng bị bắn chết tại chỗ vào khoảng 23 giờ 30. Thi hài được đưa vào bịnh viện Sài Gòn.

Cái chết của Thanh Nga gây chấn động trong nước.

3*. Việt Cộng cho rằng đây là vụ bắt cóc tống tiền.

Công An cho rằng việc bắt cóc tống tiền không thành công, mới gây ra án mạng.

Đồng thời liên kết vụ ám sát Thanh Nga với 2 vụ bắt cóc con của nghệ sĩ Kim Cương và con của bác sĩ Nguyễn Lã Hỹ, và cho biết thủ phạm đã nhận tội giết Thanh Nga là Nguyễn Thanh Tân, trung sĩ “biệt động dù ngụy” và Nguyễn Văn Đức là “lính Hải quân ngụy”.

Cả hai nhận tội và bị xử tử hình ngày 23-8-1980.

Cơ quan điều tra Công An cho biết, trong quá trình điều tra thẩm vấn kẻ chủ mưu 2 vụ bắt cóc, mới lòi ra thủ phạm đã giết chết Thanh Nga.

3.1. Vụ bắt cóc con của nghệ sĩ Kim Cương

       altNghệ sĩ Kim Cương

   Nghệ sĩ Kim Cương

Năm 1977.

Ngày 26-6-1977, Công An Sài Gòn nhận được tin báo, cháu Toro 5 tuổi, con của nghệ sĩ Kim Cương bổng nhiên bị mất tích ở nhà trẻ Vườn Hồng. Một người đàn ông giọng Nam bộ, tự xưng là Hải Phong, điện thoại báo cho biết là họ đang giữ đứa trẻ và đòi 100 cây vàng để chuộc mạng. Qua nhiều lần thương lượng hai bên đồng ý 20 cây.

Sau đó, cha của Toro mang vàng đến điểm hẹn, nhận ra chiếc áo của con đang mặc, ông đưa vàng cho kẻ bắt cóc, và không lâu sau đó, Toro được thả tại một bãi cỏ trước nhà thờ Đức Bà Quận 1. Sài Gòn.

Công An không tìm ra thủ phạm.

3.2. Vụ bắt cóc con của bác sĩ Nguyễn Lã Hỷ

ky-3-lo-dien-bang-cuop-khet-tieng-tu-vu-bat-coc-con-bac-si-la-hy_ 1sbc xoa so bang sat thu ban chet vo chong nghe si thanh nga hinh anh 6

        Nguyễn Thanh Tân cùng đồng bọn bắt có con bác sĩ Lã Hỷ tại trường cấp 1, cấp 2 Văn Tây Nhì

Năm 1979.

Ngày 2-3-1979, con trai của bác sĩ Nguyễn Lã Hỷ là bé Nguyễn Phương, bị bắt cóc ở trường phổ thông Tây Nhì, Phú Nhuận. Hung thủ ném chiếc áo bé Phương đang mặc ở trụ điện gần nhà và gọi báo cho bà Bích, là mẹ bé Phương, đòi 100 cây vàng chuộc con. Người gọi tự xưng là Hải Phong, nói giọng Nam bộ.

Bà Bích không hợp tác với Công An vì sợ con bị hại, nhưng CA đã bố trí theo dõi.

Sau 5 lần thương lượng, kẻ bắt cóc chấp nhận 20 cây vàng.

Năm giờ chiều ngày 21-3-1979 , theo yêu cầu của bọn bắt cóc, bà Bích mặc áo bà ba, đội nón lá, đi xe đạp, mang 20 cây vàng đến trước số nhà 95 đường Phan Đăng Lưu, Phú Nhuận.

Khi nhận ra bà Bích, một thanh niên nhảy ra chụp lấy gói vàng và tức thì, một chiếc Honda chạy tới, cả hai vọt đi.

Viên đội trưởng CA bắn theo 5 phát súng. Một viên đạn trúng chân tên lái xe, một viên trúng vào người của tên ngồi sau ôm gói vàng.

Công an mai phục ở các bịnh viện, và bắt tên Hoá ở bịnh viện Chợ Rẫy. Tên Hoá khai, chủ mưu là Nguyễn Thanh Tân, trung sĩ “Biệt động dù” chế độ cũ.

Sau đó, Nguyễn Thanh Tân bị bắt. Bé Phương được tìm thấy ở nhà người em của Thanh Tân ở Sóc Trăng.

Tân khai ra đồng bọn là Nguyễn Văn Đức, lính “hải quân ngụy”.

Đồng thời, Nguyễn Thanh Tân và Nguyễn Văn Đức cũng nhận tội đã giết Thanh Nga và chồng, vì bị thất bại trong vụ bắt cóc vào ngày 26-11-1978.

Trên đây là tài liệu do CA cung cấp cho báo chí.

altalt

             Nguyễn Thanh Tân     Tên Hoá được cáng đến Chợ Rẫy

4*. Khám nghiệm tử thi của Thanh Nga và chồng

Vụ hạ sát Thanh Nga ngày 26-11-1978.

Sáng hôm sau, ngày 27-11-1978, đoàn khám nghiệm đến bịnh viện Sài Gòn, thì thi hài của 2 người đã được đưa vào nhà xác.

Bản báo cáo chuyên án Thanh Nga của ông Võ Tấn Thành, Đội trưởng Đội trọng án Phòng Cảnh sát Hình sự TP/HCM như sau.

“Tử thi Thanh Nga vẫn còn mềm dịu bình thường, tử thi ông Lân (hơn bà 20 tuổi) tay chân đã cứng.

“Thanh Nga thân hình đẹp, hoàn mỹ, giống như hoa hậu thời nay. Vú trái gần vết thương đã trúng đạn, nằm như người ngủ, sắc mặc vẫn tươi đẹp. Ông Lân, người cứng cáp, to bự gấp đôi Thanh Nga, bị một vết thương (đạn bắn) ở ngực trái, xuyên thẳng hướng tim ra lưng” (Báo cáo chuyên án Thanh Nga của ông Võ Tấn Thành, Đội trưởng Đội trọng án Phòng CS Hình sự TP/HCM)

5*. Lời khai của cận vệ Nguyễn Văn Các

Do những bức thơ hăm dọa, bà bầu Thơ, mẹ của Thanh Nga, cử võ sĩ Nguyễn Văn Các bảo vệ Thanh Nga.

Nguyễn Văn Các, 34 tuổi, là nhân viên của đoàn Thanh Minh Thanh Nga, được cử theo bảo vệ Thanh Nga.

Nguyễn Văn Các khai.

“Tối hôm ấy, chính chồng của chị Thanh Nga, tức đạo diễn Phạm Duy Lân cầm lái, Thanh Nga ngồi ở băng ghế sau với cháu Phạm Duy Hà Linh, (Cúc Cu) 5 tuổi. Xe nổ máy, tôi ngồi cạnh anh Lân, chạy từ quận Bình Thạnh, theo đường Đinh Tiên Hoàng hướng về Ngã Sáu Saigòn, chỗ có tượng Phù Đổng Thiên Vương. Xe từ từ ngừng trước cửa nhà TN số 114 đường Ngô Tùng Châu.

Tôi xuống trước, định mở cửa cho TN xuống, nhưng khựng lại vì có một chiếc Honda từ đâu phóng tới, dừng gấp trước cổng nhà nghe cái “xẹt”. Một bóng người vội vã nhảy xuống chìa súng vào gáy tôi, quát: “Đứng yên, mầy la tao bắn chết”.

Hắn đạp mạnh khiến Các ngã chúi xuống, úp mặt vào trong xe phía trước, hắn buộc anh nằm yên.

Chưa kịp hoàn hồn, Các nghe tiếng ông Lân kêu lên “Đừng bắt con tôi, các anh muốn gì thì vợ chồng tôi cũng chịu hết.”

Dường như hai bên có dằn co với nhau rồi một tiếng súng nổ.

Giọng ông Lân thều thào nói với Các: “Các ơi, cậu Ba bị bắn chết rồi”.

Tiếp đó là giọng Thanh Nga hoảng hốt “Bắn thì bắn chết tôi đi chớ đừng bắt con tôi.” Lại có tiếng động như giằng qua giằng lại. Mấy giây sau, Các nghe tiếng nổ thứ hai, và tiếng cháu Cúc Cu gọi thất thanh “Ba ơi, má ơi”.

Một giọng nói lạ vang lên “Thôi, đi”.

Khi ấy, Các có cảm giác không còn bị đè bởi chiếc đệm gối, nên đứng dậy thì thấy 2 bóng người đang rời khỏi chiếc xe hơi. Một tên ngồi lên xe Honda, do ánh đèn lờ mờ nên Các không thấy rõ mặt, chỉ nhận hắn mặc áo màu lam nhạt. Tên kia cầm súng, nước da ngâm ngâm, tóc dài, khoảng 30 tuổi, cao chừng thước sáu, thước bảy, bận quần đen, áo màu gạch đậm.

Bấy giờ đã khuya, ở bên kia đường đối diện với nhà TN, có 2 chị em đang học bài trên lầu, khi nghe súng nổ và tiếng con nít khóc, đã nhìn xuống, thấy hai tên phóng Honda từ nhà TN chạy về phía Ngã Sáu mất dạng. Lúc đó khoảng 23 giờ 30. Thanh Nga được đưa vào Bịnh Viện Sài Gòn.

6*. Đối chiếu lời khai của cận vệ Các với khám nghiệm tử thi

Thanh Nga và ông Lân đều bị bắn vào phần ngực bên trái, vùng trái tim. (Thanh Nga. “Vú trái gần vết thương”. Ông Lân. “Một vết thương (đạn bắn) ở ngực trái, xuyên thẳng hướng tim ra lưng”).

Chứng tỏ sát thủ là một tay chuyên nghiệp, được huấn luyện. Chỉ một viên đạn vào tim là chết liền tại chỗ, khi đến bịnh viện thì hết cứu chữa được.

Nhưng làm thế nào để cả hai đều bị bắn vào vùng ngực trái, vị trí của quả tim?

Ông Lân thì đang ngồi sau tay lái, mà sát thủ thì đứng ngoài xe tức là bên hông của ông Lân. Thanh Nga thì đang ôm bé Cúc Cu trước ngực.

Trong lời khai của cận vệ Các “Dường như hai bên có giằng co với nhau rồi một tiếng nổ”. Giằng co ở đây là tên sát thủ kéo ông Lân quay ngực về phía họng súng để bóp cò.

Trường hợp của TN cũng thế. Sát thủ kéo Cúc Cu ra khỏi vòng tay của TN, cho lòng ngực của TN không còn gì che chắn, để bóp cò cho chết ngay tại chỗ.

Thanh Nga thấy tên sát thủ kéo Cúc Cu ra, thì tưởng rằng hắn muốn bắt Cúc Cu, cho nên mới nói là “Bắn thì bắn đi chớ đừng bắt con tôi”.

7*. Không phải bắt cóc tống tiền

7.1. Ném lựu đạn và những bức thơ cảnh cáo

Trước khi bị ám sát, Thanh Nga đã nhận được nhiều thơ nặc danh cảnh cáo, yêu cầu ngừng đóng vai Trưng Trắc và Thái hậu Dương Vân Nga, nếu không thì sẽ bị thanh toán.

Sau đó, vào tháng 3 năm 1978, khi đang diễn vai Trưng Trắc với Thanh Sang trong vở Tiếng Trống Mê Linh ở rạp Lux B, đường Trần Văn Cừ, thì bị ném lựu đạn lên sân khấu, làm chết tại chỗ hai nhạc công và Thanh Nga bị thương nhẹ, thoát chết trong đường tơ kẽ tóc.

Vụ việc nầy chứng tỏ không phải là bắt cóc tống tiền. 

– Đây không phải là một vụ tống tiền

– Không phải là một vụ bắt cóc

– Mà là một vụ ám sát vì lý do chính trị mà chính Công An VC thực hiện

7.2. Những cái vô lý của Công An Sài Gòn

1). Tàn dư Mỹ Ngụy giết Thanh Nga

  1. Ngay sau vụ án, ông Trần Quyết, thứ trưởng Bộ Nội vụ, phân tích:

“Vụ án Thanh Nga xảy ra trong lúc một số tàn quân của quân đội Saigòn còn lẫn trốn ở các vùng rừng núi, bưng biền, hoạt động chống lại ta. Trước đó, có một số hành vi đe doạ là gởi thơ yêu cầu TN không được đóng vai Trưng Trắc hoặc Thái hậu Dương Vân Nga nữa. Giữa lúc đó, có tin mật báo” Một tổ chức tự xưng là “Lực lượng thống hợp Liên Bang Đông Dương” do sự đở đầu của CIA Mỹ, vừa mở tiệc ăn mừng ở một quán rượu vùng ven Saigòn, do đã bắn chết Thanh Nga theo lịnh cấp trên đưa xuống”.(Hết trích)

  1. Nhận xét về lời tuyên bố trên.

Rõ ràng là câu chuyện bịa đặt

Tổ chức chống Cộng thời đó làm gì mà dám ra quán nhậu để tổ chức ăn mừng đã giết Thanh Nga, vì TN chống quân Tàu.

Thời đó, những gánh hát phải diễn những tuồng “cách mạng” có nội dung chửi bới VNCH như là:

“Người Ven Đô”, do Út Trà Ôn đóng vai Tám Khoẻ, vở Khách Sạn Hào Hoa, vở Cây sầu riêng trổ bông…thế mà có ai lên tiếng chống đối đâu?

2). Thanh Nga chết do việc bắt cóc không thành công

Ban đầu CA cho rằng tàn dư “quân đội ngụy” đã giết chết Thanh Nga, nhưng sau đó thấy không ổn vì không có ai tin chuyện hoang đường như thế.

Kế đó, CA cho rằng vụ án là do việc bắt cóc không thành, nên sinh ra án mạng, và thủ phạm chính là Nguyễn Thanh Tân và Nguyễn Văn Đức, đã từng tổ chức 2 vụ bắt cóc con của Kim Cương và con của bác sĩ Nguyễn Lã Hỷ.

  1. Những điểm vô lý cho rằng bắt cóc không thành

Theo như kế hoạch đã vạch ra, địa điểm, thời gian và tình huống đã nắm vững, đã không có một phản ứng nào, thì tại sao gọi là bắt cóc bất thành? Mục đích của bắt cóc là đòi tiền chuộc, thế thì 

tại sao ông Lân đã chịu nạp tiền mà vẫn bắn chết trong lúc ông tuân lịnh và hợp tác?

  1. Không phải kế hoạch bắt cóc, mà là kế hoạch ám sát.

Điều quan trọng nhất của việc bắt cóc tống tiền là yếu tố bí mật. Yếu tố nầy đã được hai tên thật sự bắt cóc là Tân và Đức thực hiện. Trái lại hai tên công an trong đội Săn Bắt Cướp Sài Gòn, đã công khai thi hành ngay ngoài công lộ, đã không bịt mặt, không đội mủ, không mang kiếng đen, vì tin chắc rằng nạn nhân không còn sống để nhận diện trong trường hợp bị bắt. 

Sau khi giết người, đáng lẻ phải chạy về phía đường vắng người, hướng nhà Thờ Huyện Sĩ gần đó, nhưng không, chúng chạy ra Ngã Sáu, là tụ điểm ăn uống tấp nập ban đêm với hàng chục chiếc xe từ phở, hủ tiếu mì, bánh cuốn, các món nhậu.

Đó không phải là tác phong của kẻ bắt cóc, mà là của kẻ sát nhân. 

8* Những lời lẽ trong tuồng hát gây chết người.

8.1. Lời của Trưng Trắc trong vở Tiếng Trống Mê Linh.

alt

   * “Tổ tiên ta không chịu lùi bước trước quân thù, không nhân nhượng một tấc đất nào cả. Phải chém đầu những kẻ có ý lùi bước trước quân thù.”

“Đói rét chịu được, nhưng nhục mất nước không bao giờ chịu được! Đó là đạo lý của dân tộc ta đời đời truyền lại”

* Nước đã mất thì tránh sao cho được nhục! Phu tướng, giờ đây ta hãy tế cáo với tổ tiên, thề lấy máu mà rửa nhục!”

* Hỡi đồng bào trăm họ! Giặc Đông Hán đang xéo dày đất nước, nhục nào hơn nhục nô lệ ngoại bang! Thà chết mà đứng thẳng, không cam chịu sống quỳ. Đất nước Nam cẩm tú, người dân Nam anh hùng, trước đền thờ quốc tổ, thề hy sinh giết giặc cứu non sông!”

8.2. Lời của Thái hậu Dương Vân Nga.

1547439879-1-49756058_2279978002260902_983795304627175424_n-1547438654-width960height640https://images.hcmcpv.org.vn/res/news/2019/02/02-02-2019-dau-an-100-nam-san-khau-cai-luong-8F9035C8-details.JPG?vs=06022019103111

                            Hai cảnh trong vở Thái Hậu Dương Vân Nga

Vở tuồng chống Nhà Tống

* Không! không! ta không nhượng quân thù một tấc đất nào cả!

* Đây là thanh gươm của tiên vương đã từng dẹp loạn sứ quân để sơn hà bền vững đến hôm nay, Tướng quân hãy nhận lấy để chém đầu kẻ nào có ý lùi bước trước quân thù, cho dù lùi nửa bước để toan liệu về sau”

* “Dù nước nhỏ, đây là tấm áo đầu tiên dân ta dám may, người Đại Cồ Việt dám mặc để lên ngôi hoàng đế. Tấm Long bào nầy là niềm kiêu hảnh của dân ta, một dân tộc dám tự xưng là Đại Cồ Việt. Tôi tin rằng trăm họ sẽ tay nối vòng tay, quyết chống lại sức mạnh bạo tàn của giặc. Đây, bức thơ của nước Đại Cồ Việt phúc đáp với sứ thần. Tấm Long bào nầy, tấm áo thiên tử đầu tiên nầy, ta quyết không bao giờ dâng nạp.”

Hãy cùng nhau sống lại hào khí của Tiếng trống Mê Linh!”

Vài nét về Thái hậu Dương Vân Nga.

Tên thật là Dương Ngọc Vân. Được gọi là hoàng hậu hai triều, triều nhà Đinh và triều Tiền Lê.

Khi Đinh Tiên Hoàng (Đinh Bộ Lĩnh) và thái tử Đinh Liễn bị ám sát, con trai 5 tuổi là Đinh Toàn lên nối ngôi, và bà làm nhiếp chính. Nhà Đinh suy yếu, trước sự đe dọa của quân nhà Tống, bà tự ý nhường ngôi lại cho tướng quân Lê Hoàn, lập ra nhà Tiền Lê. Lê Đại Hành. (Nhà Hậu Lê là Lê Lợi). Lê Đại Hành phong bà làm hoàng hậu. Hoàng hậu hai triều là vợ của hai ông vua, Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành.

Trong vở tuồng, Dương Vân Nga đôn đốc tướng quân Lê Hoàn lãnh nhiệm vụ đánh nhà Tống. Lê Đại Hành đánh tan quân Tàu năm 981, bảo vệ nước Đại Cồ Việt.

9*. Chính Việt Cộng đã giết Thanh Nga

9.1. Hoàn cảnh chính trị thời Hồ Chí Minh.

Thời Hồ Chí Minh, Việt Nam đi hàng hai, một chân bên Liên Xô, một chân bên Trung Cộng. Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai là hai người đồng tính luyến ái, nên hai nước Việt-Trung gắn bó chặt chẽ với nhau.

Sau khi Hồ Chí Minh chết, lãnh đạo đảng CSVN ngã hẳn về phía Liên Xô.

Dựa hơi Liên Xô, Việt Cộng công khai ra mặt chống Trung Cộng. Cơ quan truyền thông nhà nước, suốt ngày ra rả chống “Bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh”.

Ủy viên Bộ Chính trị, Hoàng Văn Hoan, thân Trung Cộng, phải đào thoát qua Trung Quốc theo ngã Pakistan.

Ở miền Bắc, người Tàu bị đuổi về Trung Quốc, gây ra tình trạng gọi là “nạn kiều”. Ở miền Nam, người Tàu bị đuổi ra khỏi nước bằng tàu, gọi là xuất cảnh bán chính thức.

Đoàn cải lương Thanh Minh-Thanh Nga (TM/TN) được Sở Văn Hóa Sài Gòn xử dụng làm cái loa tuyên truyền chống “Bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh” qua hai vở tuồng Tiếng Trống Mê Linh và Thái Hậu Dương Vân Nga. Hai vở tuồng do nữ cán bộ Sở Văn Hóa Sài Gòn, thuộc gia đình cách mạng họ “Ca Lê”, là bà Ca Lê Hồng làm đạo diễn.

Trong vở Tiếng Trống Mê Linh, Thanh Nga trong vai Trưng Trắc đánh đuổi thái thú Tô Định về Tàu. Trong vở Thái Hậu Dương Vân Nga, Thanh Nga thủ vai thái hậu, cổ vỏ tướng công Lê Hoàn đánh tan quân Nhà Tống năm 981.

9.2. Tình hình thay đổi. Việt Cộng bị Liên Xô bỏ rơi.

Dựa hơi Liên Xô, trong Hiệp ước quốc phòng có điều 6 ghi như sau: “Trong trường hợp một trong hai bên bị tấn công, hoặc bị đe doạ tấn công, thì hai bên ký hiệp ước sẽ lập tức trao đổi ý kiến với nhau, nhằm loại trừ mối đe doạ đó và áp dụng các biện pháp thích đáng có hiệu lực, để bảo đảm hòa bình và an ninh của hai nước”.

Nhưng khi Trung Cộng bắt đầu đánh chiếm các đảo Trường Sa, Việt Cộng cầu cứu, nhưng quân đội Liên Xô đang đóng ở Cam Ranh, ngoảnh mặt làm ngơ, bình chân như vại. Chính thức bỏ rơi Việt Nam, mặc dù đã có hiệp ước.

Bị Liên Xô bỏ rơi, Việt Cộng lâm vào thế yếu, lực yếu thế cô, vì không có đồng minh nào.

Trong khi đó, Đặng Tiểu Bình thường xuyên tuyên bố “Cho Việt Nam một bài học”. Bài học lừa thầy phản bạn.

Trước tình trạng đó, Việt Nam muốn chấm dứt những tuyên truyền chống Trung Cộng. Cụ thể là buộc Trưng Trắc và Dương Vân Nga phải chấm dứt việc chửi bới bọn Tàu Cộng, bành trướng bá quyền Bắc Kinh.

Nhiều bức thơ nặc danh cảnh cáo đoàn TM/TN, buộc Thanh Nga phải chấm dứt việc tuyên truyền theo chủ trương trước kia của nhà nước. Ỷ lại vào việc Sở Văn Hóa chống lưng, Thanh Nga tiếp tục chửi bới bọn Tàu, nên bị ném lựu đạn ở rạp Lux B, suýt chết trong đường tơ kẽ tóc mà vẫn không chừa. Cuối cùng là cái chết của Thanh Nga và chồng là ông Phạm Duy Lân.

Chính Việt Cộng đã giết Thanh Nga.

Thanh Nga bị bắn chết ngày 26-11-1978, chỉ 3 tháng sau, ngày 17-2-1979, Đặng Tiểu Bình “Dạy cho Việt Nam một bài học” bằng cách đồng loạt tấn công 7 tỉnh miền Bắc: Lào Cai, Điện Biên, Lai Châu, Cao Bằng, Lạng Sơn, Sơn La, Hà Giang.

Thời gian đó, lực lượng quân sự Trung Cộng còn yếu nên không khống chế được 7 tỉnh. Một số quân Trung Cộng vào nội địa chiếm một số thị xã. Trước khi rút lui, binh lính Trung Cộng đập phá toàn bộ những phương tiện, vật liệu và dụng cụ phục vụ kinh tế và đời sống. Từ cái chén, đôi đũa, cái bàn, cái ghế…tất cả mọi thứ không còn xử dụng được. Việt Nam thiệt hại nặng về kinh tế.

Sau đó, Việt Cộng đầu hàng. TBT Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng đến Thành Đô, Tứ Xuyên, họp mật trong hai ngày 3&4 tháng 9 năm 1990. 

“Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây….

Phía Trung Quốc đồng ý, và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.…”

Từ đó, các lãnh đạo đảng CSVN phải qua Trung Quốc trình diện, xin phép trước khi đi Mỹ. Tất cả. Không có ngoại lệ nào cả. Nguyễn Minh Triết, Trương Tấn Sang, Phạm Quang Nghị, Phạm Bình Minh (Qua Tàu 2 lần trước khi đi Mỹ) Nguyễn Phú Trọng, Đinh Thế Huynh, Nguyễn Xuân Phúc.

10*. Tiểu sử và con đường sự nghiệp của Thanh Nga

10.1. Tiểu sử Thanh Nga

Thanh Nga | nhac Thanh Nga2

           Theo nhận xét của giới nghiên cứu kịch trường, thì trong 36 năm sống, Thanh Nga đã đứng hết mình dưới ánh đèn màu suốt 28 năm.

Thanh Nga tên thật là Juliette Nguyễn Thị Nga, sinh ngày 31-7-1942 tại Tây Ninh. Cha là ông Nguyễn Văn Lợi. Mẹ là Nguyễn Thị Thơ, bà Bầu Thơ, trưởng đoàn Thanh Minh Thanh Nga nổi tiếng một thời ở VN.

alt      alt

            Thanh Nga và mẹ là bà bầu Thơ và em là Bảo Quốc

Thanh Nga kết hôn 2 lần.

Lần đầu với thiếu tá Nguyễn Minh Mẫn, lần sau với Luật sư Phạm Duy Lân. Có một con trai với ông Lân, tên là Phạm Duy Hà Linh, sinh năm 1973, nay là một nghệ sĩ hài.

Gia đình Thanh Nga có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng:

– Năm Nghĩa (Cha dượng)

– Bảo Quốc (Em cùng mẹ khác cha)

– Hữu Châu (Con của nghệ sĩ Hữu Thình, anh ruột của TN.)

Bị ám sát cùng chồng ngày 26-11-1978 tại Sài Gòn, an táng tại Nghĩa trang “Chùa Nghệ Sĩ”, Gò Vấp.

Thanh Nga được nhà nước truy tặng danh hiệu Nghệ Sĩ Ưu Tú năm 1984.

10.2. Con đường sự nghiệp của Thanh Nga

Với hơn 230 vở diễn trong 28 năm, kể từ lúc 8 tuổi, TN đã cống hiến cho khán giả biết bao vui buồn với cái tên “Cô Đào Thương nhạy khóc”. Năm 8 tuổi đã có biệt hiệu là “Thần Đồng Thanh Nga” trong những vở Phạm Công Cúc Hoa, Đồ Bàn Di Hận, Lửa Hờn.

Năm 16 tuổi, xuất sắc trong vai Sơn nữ Phà Ca trong vở Mưa Rừng (Người Vợ không bao giờ cưới)

Gây ấn tượng sâu đậm trong lòng khán giả mộ điệu qua những tuồng: Áo cưới trước cổng chùa, Sân khấu về khuya, Đôi mắt người xưa, Ngã rẻ tâm tình, Con gái Chị Hằng.

Đoạt Huy Chương Vàng đầu tiên của Giải Thanh Tâm năm 16 tuổi.

10NSND Ngọc Giàu: Trò câu khách không vực dậy cải lương - Báo Người lao động

       Thanh Nga nhận HCV giải Thanh Tâm năm 1958 Từ trái qua: Thanh Nga – Ngọc Giàu – Lan Chi – Bích Sơn

Tham gia đóng phim và là diễn viên xuất sắc trong Đại Hội Điện Ảnh Á Châu năm 1973 tại Đài Bắc (Đài Loan). Là đại diện nữ duy nhất trong Đại Hội Điện Ảnh Ấn Độ năm 1969, được Thủ tướng Indira Gandhi tiếp đón. TN còn in đậm trong lòng khán giả qua phim Loan Mắt Nhung của Đạo diễn Lê Dân.

11*. Những người tình cũ của Thanh Nga

11.1. Thanh Nga là vợ của Thành Được

Tài liệu của công an.

“Theo tài liệu của Tổng Cục Cảnh Sát Nhân Dân, thì Thành Được có một thời yêu say đắm Thanh Nga nhưng không được yêu lại, vì bà Bầu Thơ ngăn cản. Nhưng ông vẫn theo đuổi và dùng thế lực bên ngoài để kéo người đẹp trên sân khấu về với mình, nên Thanh Nga phải ưng chịu. Dẫu cho đã nên vợ nên chồng, nhưng cá tính hai người xung khắc với nhau và cuối cùng phải chia tay”. (Hết trích)

11.2. Thiếu tá Nguyễn Minh Mẫn là chồng cũ của Thanh Nga

Ông Mẫn thương Thanh Nga khi cô đang sáng chói trên sân khấu cải lương. Người cao lớn, đẹp trai, có tâm hồn nghệ sĩ, là sĩ quan huấn luyện viên môn chiến thuật của trường Bộ Binh Thủ Đức, rồi Chỉ huy phó Yếu Khu Bình Phú (Thủ Đức).

Thanh Nga trong chiếc áo cưới, bước lên xe hoa chính thức cùng người chồng là ông Nguyễn Minh Mẫn. Tiệc cưới được tổ chức linh đình tại nhà hàng Đại La Thiên (Chợ Lớn), báo chí và nghệ sĩ tham dự rất đông.

Rượu Champagne nổ dòn tan, cuộc vui tưởng chừng như bất tận. Nhưng chưa được bao lâu, thì ông Mẫn phải ra toà lảnh án về tội buôn lậu đồ Mỹ.

Nói thêm về vụ buôn lậu của Thiếu tá Nguyễn Minh Mẫn.

Trong khu vực huấn luyện của Trường Bộ Binh Thủ Đức, có một địa điểm kín đáo tên là Hầm Sạn, là nơi mà các tài xế chở hàng PX của Mỹ từ Tân Cảng (New Port-Cầu Sài Gòn) lên kho Long Bình của Mỹ. PX là Post Exchange, hàng hóa miễn thuế bán cho quân đội Mỹ. Quân nhân Mỹ được cho đổi từ đô la xanh sang đô la đỏ để mua hàng ở các hợp tác xã Mỹ. 100 đô la xanh được đổi thành 180 đô la đỏ.

Trong thời gian đầu, không có việc kiểm soát lộ trình từ Tân Cảng đến Long Bình. Những xe tải hạng nặng ở Tân Cảng được đưa hàng lên đầy xe. Đến giờ cho phép vào, chỉ có một tài xế nhận được một phiếu ký tên nơi gởi và khi đến Long Bình, ký nhận, mang xe và phiếu ký nhận về trình Tân Cảng là xong.

Các tay buôn lậu móc nối với tài xế, đổ vài ba thùng hàng xuống Hầm Sạn, nhận 50,000 VNĐ. Không biết những gì trong đó, có khi nhận cả một thùng súng Colt của quân đội.

Tài xế nhận 50,000VNĐ, con buôn bán ra cả trăm ngàn đồng, tùy theo món hàng nhận được. Làm giàu nhanh chóng.

Về phía mấy ông lính Mỹ, thì mấy bà lấy Mỹ, lập danh sách cho các ông, những mặt hàng khan hiếm hoặc bán chạy trên chợ trời. Thế là hàng PX của Mỹ tràn ngập các chợ trời và các sạp bán đồ Mỹ ở các nơi khác.

Sau những vụ mất mát lộ liễu, Mỹ dùng trực thăng kiểm soát các xe hàng. Và Thiếu tá Mẫn bị bắt trong trường hợp đó.

Thiếu tá Mẫn ngồi tù, Thanh Nga phải sống trong những ngày đoạn trường và phải đối mặt với dư luận, những việc không đâu cứ ùa đến, cả những vu oan, tố cáo của người đàn bà trước kia của ông Mẫn. Hôn nhân tan vở.

  1. Thanh Nga là vợ của ông Phạm Duy Lân

Lật lại vụ ám sát vợ chồng NSƯT Thanh Ngaalt

       Ông Lân là luật sư, đạo diễn và có thời làm Đổng Lý Văn phòng của một Bộ trong chính quyền Saigòn, cho nên thường gọi là Ông Đổng Lân. Người to cao, đẹp trai, hơn Thanh Nga 20 tuổi. Ông Lân và TN tuy không sanh cùng ngày, cùng tháng, nhưng đã chết cùng ngày cùng giờ. Con trai duy nhất của 2 người là nghệ sĩ hài Phạm Duy Hà Linh, (Cúc Cu) sinh năm 1973. Có vợ và con gái. Hà Linh là trưởng Nhóm Hài Hà Linh.

altalt

           Phần mộ vợ chồng nghệ sĩ Thanh Nga trong Chùa Nghệ sĩ

13*. Kết luận

Sự thật rõ ràng là vụ án Thanh Nga không phải là vụ bắt cóc tống tiền, như công an đã nói, mà là một vụ ám sát do công an Việt Cộng thực hiện.

Bản chất của mật vụ Việt Cộng là từng bước ngăn cản Thanh Nga và đoàn Thanh Minh-Thanh Nga, ngưng hai vở Tiếng Trống Mê Linh và vở Thái Hậu Dương Vân Nga. Bắt đầu là những bức thơ nặc danh cảnh cáo. Không xong. Ném lựu đạn mà Thanh Nga không chết, thì chính tay mật vụ công an hạ sát bằng súng.

Một nhà nước trung thực, một chính quyền lương thiện thì không hành xử tàn bạo dã man như thế. Đó là bản chất của các chế độ Cộng Sản, kể cả Việt Cộng.

Tóm lại, Việt Cộng đã giết Thanh Nga và chồng là ông Phạm Duy Lân.

Trúc Giang

Minnesota ngày 22-4-2021