Người lính Nhật cuối cùng đầu hàng

Kimtrong Lam  Lương Văn Can 75.

  Người lính Nhật cuối cùng đầu hàng

Tác giả: Nguyễn Hải Hoành

Đầu tháng 2 năm 1974, một du khách Nhật Bản khi đang thám hiểm trên đảo Lubang ở Philippines bất ngờ phát hiện ra một người lính Nhật còn sống sót từ Đại chiến Thế giới lần thứ hai – trung úy Hiroo Onoda.

Sáng hôm ấy, khi du khách trẻ người Nhật Norio Suzuki đi sâu vào rừng rậm nhiệt đới để thám hiểm, anh chợt nhìn thấy một quái vật hình dạng người, râu tóc xồm xoàm, mình đầy vỏ cây đang ngồi ngấu nghiến ăn quả dại trên cành cây. Suzuki sợ quá nhảy thót lên. Quái vật nhìn thấy anh cũng vội trèo lên cao. Nhìn thấy động tác trèo cây của nó không giống động tác của loài khỉ, Suzuki đoán ra đây là người. Anh vội lại gần và hét to bằng tiếng Nhật: “Ai thế? Đừng sợ, tôi không làm hại ai đâu!” Suzuki bỗng nghe thấy quái vật kia hỏi lại cũng bằng tiếng Nhật: “Anh là người Nhật Bản hả?” Mừng quá, Suzuki thét to: “Tôi là người Nhật sang đây du lịch. Tại sao anh cũng biết tiếng Nhật? Anh là người nước nào?”

Một lát sau, quái vật kia nhảy từ trên cây xuống, miệng lắp bắp: “Người Nhật, người Nhật … thế là cuối cùng tôi đã nhìn thấy người Nhật rồi!”

Qua câu chuyện người ấy kể lại, Suzuki được biết đây là Hiroo Onoda, trung úy quân đội Nhật, sinh năm 1922, cách đây 29 năm từng phục vụ trong đội đặc nhiệm thuộc Bộ Tư lệnh Tập đoàn quân vùng 14 đóng trên đất Philippines; trong chiến đấu với quân Mỹ, đơn vị của anh bị tiêu diệt gần hết, anh cùng 3 người sống sót chạy vào rừng ẩn náu. Lính Mỹ đã lùng sục khắp vùng rừng núi này, sau đấy nhiều đợt quân đội và cảnh sát Philippines cũng vào rừng tìm kiếm và gọi hàng. Các bạn anh về sau một người đầu hàng, hai người bị bắn chết, riêng Onoda lẩn sâu hơn nên thoát được. Suốt từ năm 1945 tới nay, Onoda sống một mình trong rừng không hề ra ngoài gặp ai. Anh đoán đơn vị mình đã bị tiêu diệt, nhưng nước Nhật vẫn tồn tại và anh quyết sống đến ngày trở về.

Onoda sống nhờ ăn trái cây và các loại côn trùng, động vật nhỏ như chuột, sóc, chim, thỏ rừng bẫy được. Vì không có lửa nên anh phải ăn sống nuốt tươi mọi thứ. Bộ quân phục duy nhất đã rách hỏng từ lâu, mùa hè anh trần truồng như nhộng, mùa rét anh lấy vỏ và lá cây đan lại làm áo che thân. Tuy không có phương tiện xem ngày giờ, nhưng qua nhìn trăng tròn trăng khuyết, Onoda cũng đại khái biết được mình đã sống ở đây được 29 năm.

Đã nhiều lần Onoda gặp tai họa, như bị dã thú tấn công và bị ốm đau. Lòng dũng cảm và khôn ngoan đã giúp anh thắng được dã thú. Anh cũng dùng khẩu súng của mình bắn lại các binh sĩ Mỹ và Philippines vào rừng săn lùng lính Nhật lẩn trốn không đầu hàng. Trong ngót ba chục năm qua, Onoda đã bắn chết hơn ba chục và làm bị thương hơn 100 binh sĩ đối phương hoặc dân thường vào rừng sâu. Khẩu súng của anh hiện giờ vẫn tốt nguyên, luôn được lau chùi bóng loáng kèm túi đạn ngót 200 viên. Anh phải tự tìm các loại lá cây và rễ cây để chữa bệnh. Nhờ tinh thần kiên cường bất khuất, anh vượt qua mọi khó khăn, sống được đến ngày nay. Điều duy nhất Onoda khó chiến thắng nổi là cảm giác cô đơn u tịch.

Suzuki kể cho Onoda biết là nước Nhật đã thua trận và đầu hàng từ tháng 8 năm 1945, nhưng Onoda nhất định không tin. Mấy chục năm qua lính Mỹ và Philippines nhiều lần bắc loa gọi hàng cũng nói như vậy, nhưng anh đều cho đây là kẻ địch giăng bẫy. Anh nói: “Không thể được. Đại Nhật Bản không bao giờ thua ai cả!” Mặc cho Suzuki thuyết phục nên về Nhật sinh sống với đồng bào mình, Onoda kiên quyết ở lại trong rừng như cũ, tiếp tục cuộc chiến đấu vì niềm tin của mình. Thuyết phục mãi không có kết quả, Suzuki bèn chia tay ra về.

Trở về nước, Suzuki kể lại chuyện trên cho báo chí biết. Chính quyền Nhật bèn cử một viên chức tên là Isuzu sang tận cánh rừng Onoda ở để thuyết phục người lính già này từ bỏ ảo tưởng, trở về cuộc sống bình thường. Nhưng dù Isuzu trổ hết tài ăn nói, Onoda vẫn lắc đầu quầy quậy: “Tôi không bao giờ tin như vậy. Tôi khước từ mọi lời khuyến hàng và dụ hàng của bất cứ ai, trừ phi cấp trên cũ của tôi đến đây ra lệnh thì tôi mới tin đó là sự thật; nếu không tôi phải hết sức nêu cao cảnh giác và đấu tranh hết sức mình theo cách của tôi!”

Isuzu vô cùng thất vọng, chỉ còn biết hẹn với Onoda cách liên lạc lần sau, rồi ra về. Sau khi gọi điện về nước xin ý kiến, Isuzu viết thư báo cho Onoda biết Chính phủ Nhật sẽ cử cấp trên cũ của Onoda là thiếu tá Taniguchi thân chinh đến gặp Onoda để ra lệnh cho anh. Isuzu đặt lá thư này vào chỗ đã hẹn trước với Onoda. Và thế là đã diễn ra một nghi thức chấp nhận đầu hàng chưa từng có trong lịch sử loài người.

Quá trưa ngày 9 tháng 3 năm 1974, theo thư Isuzu báo trước, Hiroo Onoda đi đến chỗ hẹn thì trông thấy một chiếc lều vải có cắm cột cờ, trên đó lá quốc kỳ Nhật Bản bay phấp phới. Anh vô cùng xúc động vì đây chính là lá cờ đã cổ vũ anh kiên cường sống suốt 29 năm qua.

Isuzu ra đón. Onoda biết đã tới giờ phút gặp lại thủ trưởng năm xưa của mình. Anh vội bước đến, hướng về phía chiếc lều và hét to: “Báo cáo thiếu tá Taniguchi, trung úy Onoda có mặt!” Từ trong lều vang lên giọng nói quen thuộc: “Onoda hả, đúng là anh đấy chứ? Chờ một chút nhé, tôi đang mặc quân phục. Đây là lần cuối cùng tôi ra lệnh cho anh, cho nên phải làm đúng điều lệnh.”

Isuzu lấy máy ảnh chuẩn bị chụp lễ tiếp nhận đầu hàng cuối cùng của Đại chiến thế giới lần thứ hai. Taniguchi quân phục chỉnh tề bước ra. Onoda giơ tay chào theo kiểu chào của quân đội, dõng dạc nói: “Báo cáo trưởng quan Taniguchi, trung úy Onoda có mặt nghe lệnh ngài!”

Taniguchi chào lại và nói: “Onoda, anh giỏi lắm. Tôi rất mừng có một cấp dưới như anh.” Sau khi bắt tay Onoda, thiếu tá nghiêm giọng: “Lễ thụ hàng chính thức bắt đầu. Trung úy Onoda nghe đây! Lấy danh nghĩa là cấp trên của anh, tôi đọc mệnh lệnh như sau cho anh nghe.”

“Theo mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Tập đoàn quân vùng 14 thuộc quân đội Hoàng gia Nhật Bản, 19 giờ ngày 10 tháng 9 năm 1945, đội đặc nhiệm Bộ Tư lệnh Tập đoàn quân ra lệnh: ‘- Điều Một. Theo lệnh của Thiên Hoàng, Tập đoàn quân vùng 14 đình chỉ mọi hành động chiến đấu; – Điều Hai. Theo mệnh lệnh số A-2003 của Bộ Tư lệnh Tập đoàn quân vùng 14, đội đặc nhiệm của Bộ Tư lệnh Tập đoàn quân vùng 14 đình chỉ mọi hành động quân sự; – Điều Ba. Tất cả các đơn vị và cá nhân thuộc đội đặc nhiệm phải lập tức đình chỉ mọi hành động quân sự và quy tập theo sự chỉ huy của sĩ quan cấp trên nơi gần nhất. Trường hợp không tìm thấy sĩ quan cấp cao hơn thì phải đầu hàng quân đội Mỹ hoặc Philippines và nghe theo sự chỉ huy của họ.’ Mệnh lệnh đến đây là hết. Thiếu tá Taniguchi, đội đặc nhiệm Bộ tư lệnh Tập đoàn quân vùng 14.”

Đọc xong lệnh, Taniguchi nhìn Onoda nói: “Mệnh lệnh chỉ có thế. Mọi chuyện khác chúng ta sẽ nói sau.”

Onoda hỏi: “Đầu hàng thật ạ?”

Taniguchi trả lời: “Phải chấp nhận thực tế thôi. Toàn bộ Hoàng quân Nhật Bản 29 năm trước đã chấp nhận đầu hàng, cả tôi cũng thế.”

Onoda lặng người đi một lúc lâu, rồi quỳ xuống “Oà” một tiếng khóc váng lên: “Chúng ta thật sự thua trận ư? Quân địch đã làm gì thế ạ? Bao năm nay tôi chiến đấu như một chiến sĩ du kích của Hoàng quân là để làm gì hả trời? 29 năm nay tôi ôm ấp một niềm tin Nhật Bản không bao giờ thua trận, lẽ nào bây giờ lại phải nghe một mệnh lệnh như vậy chăng? Lẽ ra tôi không nên đến gặp các vị. Chấp nhận đầu hàng như vậy thì sao còn có thể chiến đấu đến cùng vì vinh dự của nước Nhật, vì vinh dự của Thiên Hoàng, vì vinh dự của một quân nhân Đế quốc Nhật Bản được nữa?”

Taniguchi thân mật vỗ vai Onoda: “Trung úy Onoda, mọi việc đã kết thúc. Chiến tranh, ngót 30 năm cuộc sống hoang dã của anh, và cả huyền thoại ‘Nhật Bản bất bại’, tất cả đều đã chấm dứt rồi!”

Sau nhiều lần cố gắng, cuối cùng Taniguchi và Isuzu thuyết phục được Onoda theo họ trở về nước Nhật. Dân chúng Philippines có người đòi trị tội Onoda vì đã vô lý chống lại lệnh đầu hàng và gây thiệt hại lớn cho binh sĩ và dân thường Philippines. Nhưng Tổng thống nước này đã ân xá cho anh và tiếp kiến anh. Khi Onoda về nước, dân Nhật đón anh như một anh hùng tượng trưng cho tinh thần yêu nước.

Phải nhiều năm sau, Hiroo Onoda mới quen dần với cuộc sống ở quê nhà. Ông viết và xuất bản cuốn tự truyện “Cuộc chiến 29 năm không đầu hàng của tôi”. Ông từ chối gặp Thiên Hoàng rồi sang Brazil (nơi có nhiều người Nhật di cư từ xưa) làm nghề chăn nuôi. Sau khi lấy vợ, ông lại về quê cũ và mở một vườn trẻ. Hiroo Onoda qua đời năm 2014, thọ 92 tuổi./.

Nguyễn Hải Hoành biên tập dựa trên tài liệu nước ngoài.

Hình: Hiroo Onoda trong lễ đầu hàng ngày 10/03/1974 in Lubang, Philippines. Nguồn: Asahi Shimbun/Getty Images.

 Lời trăng trối quặn lòng của bà mẹ bài trừ vaccine Covid: “Làm ơn hãy đảm bảo con tôi được tiêm chủng”

 Lời trăng trối quặn lòng của bà mẹ bài trừ vaccine Covid: “Làm ơn hãy đảm bảo con tôi được tiêm chủng”

08:00 | 22/08/2021

Vợ chồng nhà Lydia và Lawrence Rodriguez đều là những người không tin vào vaccine. Họ nghĩ mình có thể làm được mọi thứ mà chẳng cần sự can thiệp của y học. Đến khi nhiễm bệnh họ mới cầu xin được tiêm chủng, nhưng mọi thứ đã quá muộn.

Cách đây vài tuần, bà mẹ 4 con Lydia Rodriguez (42 tuổi) tại Texas đã nghĩ bản thân mình đủ khỏe để chống chọi lại Covid-19 mà chẳng cần đến vaccine. Cô tự tin làm mọi thứ, kể cả tham gia vào một chuyến cắm trại của nhà thờ kéo dài 1 tuần.

Nhưng sau chuyến đi, Lydia nhiễm bệnh. Các thành viên trong gia đình cô cũng dương tính với virus. Đến lúc này cô mới vội vã cầu xin được tiêm chủng, nhưng mọi chuyện đã muộn. Thứ chờ đón cô sau đó chỉ là chiếc máy thở mà thôi, theo lời Dottie Jones, chị họ của cô.

Lydia và Lawrence Rodriguez

Mọi thứ biến chuyển thật tồi tệ, tình trạng của Lydia xấu dần đi. Trong cuộc gọi cuối cùng với Dottie, cô khẩn khoản: “Làm ơn hãy đảm bảo các con của em được tiêm.”

Ngày 16/8, Lydia ra đi mãi mãi.

Cái chết của Lydia đến chỉ 2 tuần sau khi chồng cô – Lawrence Rodriguez (49 tuổi) lìa đời vì biến chứng từ Covid-19. 2 vợ chồng được điều trị trong cùng khu chăm sóc tích cực của một bệnh viện tại Texas.

Gia đình viên mãn kết thúc trong ác mộng

Lydia và Lawrence đã kết hôn được 21 năm. Họ nằm trong số hàng chục triệu người Mỹ không tiêm chủng vaccine Covid-19 – những mũi tiêm hiện đã được áp dụng cho bất kỳ ai trên 12 tuổi, dù các chuyên gia y tế luôn nhấn mạnh rằng vaccine sẽ giúp làm giảm nguy cơ tử vong hoặc mắc triệu chứng nặng. Và giờ, những đứa trẻ nhà Rodriguez đã rơi vào thảm kịch như hàng triệu trẻ nhỏ khác – những đứa trẻ trở thành mồ côi vì virus cướp đi cha mẹ của chúng.

Câu chuyện của gia đình họ cũng chẳng phải hiếm gặp, khi đã có vô số bệnh nhân chưa tiêm vaccine đã phải cầu xin bác sĩ cho mình tiêm chủng trước khi phải vào máy thở, dù mọi thứ đã quá trễ.

“Lydia chưa từng tin vào vaccine,” – Jones, chị gái của Lydia cho biết. “Con bé tin rằng nó có thể làm được mọi thứ mà chẳng cần đến y học.”

Là một y tá cho trẻ sơ sinh, Jones đã quá quen với các ca nhiễm Covid thể nặng trên các bà mẹ và con của họ. Cô từng chia sẻ với Lydia về những cảnh tượng thương tâm, bệnh nhân nối nhau đưa vào máy thở suốt hàng tuần liền mà chẳng có gì tiến triển. Jones ra sức thuyết phục, nhưng em gái cô đáp lại bằng sự im lặng.

“Tôi biết con bé sẽ không bao giờ tiêm vaccine cả,” – Jones cho biết. “Tôi đã rất lo lắng.”

Chồng của Lydia cũng thuộc cộng đồng antivax, và hiển nhiên anh từ chối tiêm chủng. 3 trên 4 đứa trẻ nhà Rodriguez cũng đã đủ tuổi nhận vaccine, nhưng không ai tiêm chủng cả.

Đầu tháng 7, vài ngày sau khi nhà Rodriguez tham gia một chuyến cắm trại cùng nhà thờ, nỗi sợ của Jones đã thành sự thật. Từng thành viên một trong gia đình – bao gồm cả Lawrence dù anh không tham gia – đều dương tính với virus corona.

Gia đình họ chẳng nói với ai về chuyện này cho đến khi Lawrence chủ động đưa vợ vào viện hôm 12/7, vì cô bắt đầu khó thở. Lydia phải vào thẳng khoa chăm sóc tích cực, trong khi chồng cô được điều trị ở khu khác.

Lúc này, toàn bộ người thân phải vào cuộc trợ giúp nhà Rodriguez, từ việc mang nhu yếu phẩm cho đến thuốc men dành cho những đứa trẻ phải cách ly tại nhà. Bé nhỏ tuổi nhất có triệu chứng nhẹ, những đứa trẻ còn lại không có triệu chứng – theo lời Jones.

Đã có thời điểm, tình trạng của Lawrence chuyển biến tích cực hơn. Nhưng chỉ vài ngày sau khi nhập viện, anh được chuyển thẳng tới khu ICU – nơi vợ đang nằm điều trị. Ngay trước khi được đưa vào máy thở, anh cầu xin để được tiêm vaccine, nhưng thời điểm ấy đã quá muộn rồi. Lawrence qua đời vào ngày 2/8.

Lydia lúc này đã hoàn toàn phụ thuộc vào máy thở oxy – thứ khiến cô chẳng thể nói chuyện được nữa. Những đứa trẻ nhà cô ngày ngày gọi điện hỏi thăm động viên, nhưng đáp lại chỉ là sự im lặng trong bất lực.

“Gia đình sẽ cầu nguyện cho em và chăm sóc các con,” – Jones nhớ lại những gì mình đã nói vào ngày cuối cùng với em gái mình. Ngày 16/8, Lydia cũng qua đời.

Đáp ứng lời trăng trối của Lydia, các con cô – bao gồm 1 cặp sinh đôi 18 tuổi, 1 cô con gái 11 tuổi, và cậu con trai 16 tuổi – được sắp xếp tiêm chủng. Cặp sinh đôi đã được tiêm, cậu con trai đang lên lịch, và con gái út cũng sẽ được sắp xếp tiêm chủng ngay khi đủ tuổi.

Nguồn: Washington Post

Link nguồn: https://kenh14.vn/loi-trang-troi-quan-long-cua-ba-me-bai…

Trọn bộ 5 tập “biển đảo VN”

Trọn bộ 5 tập “biển đảo VN”

 Thân gừi tới các bạn tài liệu rất hay, rất qúy về Hoàng Sa và Trường Sa.

https://baotiengdan.com/2020/05/04/bien-dong-va-cach-no-bien-thanh-lanh-tho-cua-trung-quoc-theo-lich-su-vao-nam-1975-phan-1/

TRỌN BỘ 5 TẬP “BIỂN ĐẢO VIỆT NAM – NGUỒN CỘI TỰ BAO ĐỜI”

ĐÂY LÀ LINK 5 TẬP PHIM

“BIỂN ĐẢO VIỆT NAM – NGUỒN CỘI TỰ BAO ĐỜI”

Trần Đức Anh Sơn

  1. Sáng nay, tôi có đăng bài lại viết của RFA “HAI NHÀ NGHIÊN CỨU BỊ CẮT TÊN KHỎI PHIM “BIỂN ĐẢO VIỆT NAM. NGUỒN CỘI TỰ BAO ĐỜI”!, phản ánh việc Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) khi phát lại bộ phim “Biển đảo Việt Nam. Nguồn cội tự bao đời” (do HTV sản xuất năm 2015) trên kênh VTV1 hồi tháng 8 năm 2019 và trên kênh VTV9 vào trung tuần tháng 4 năm 2020, đã xóa bỏ hình ảnh và tên của tôi và anh Đinh Kim Phúc trong cả 5 tập phim.

Chúng tôi là những cố vấn khoa học, kiêm cố vấn biên tập của bộ phim, đã tham gia nhóm làm phim này trong gần 2 năm: từ khâu chuẩn bị kịch bản, tìm kiếm tư liệu ở trong và ngoài nước, tiến hành phỏng vấn các nhà nghiên cứu và quay phim ở nhiều nước khác nhau, cho đến khâu hậu trường như tham gia chỉnh sửa phim, biên tập lời bình…., cho đến khi bộ phim được duyệt và cấp phép công chiếu.

Sau khi đọc bài viết của RFA về việc làm xấu xí, ti tiện và trái với pháp luật của VTV, nhiều bạn bè trên FB đã hỏi tôi về link gốc của bộ phim này để xem, tôi xin thưa như sau:

– Link 5 tập phim gốc (bản tiếng Việt) trên website chính thức của HTV và link của 5 tập phim (bản tiếng Anh) trên YouTube đều đã bị xóa vào tháng 8/2019. Tuy nhiên, trên website của Thành ủy TPHCM hiện vẫn còn lưu đủ 5 tập phim tiếng Việt và một số website khác vẫn còn link gốc của phim này.

– Bạn tôi là Ngô Thế Bách (ở Hà Nội) đã cung cấp link của 5 tập phim gốc (bản tiếng Việt do bạn ấy phát hành), mọi người có thể click vào các link sau để xem:

Tập 1:

https://www.facebook.com/bach.ngothe/videos/pcb.2973331266017210/2973302186020118/?type=3&theater

Tập 2:

https://www.facebook.com/bach.ngothe/videos/pcb.2973331266017210/2973305886019748/?type=3&theater

Tập 3:

https://www.facebook.com/bach.ngothe/videos/pcb.2973331266017210/2973308946019442/?type=3&theater

Tập 4:

https://www.facebook.com/bach.ngothe/videos/pcb.2973331266017210/2973313499352320/?type=3&theater

Tập 5:

https://www.facebook.com/bach.ngothe/videos/pcb.2973331266017210/2973317196018617/?type=3&theater

– Bạn Mai Phan Lợi (ở Hà Nội), cũng cung cấp cho tôi link sau có đủ cả 5 tập phim gốc (bản tiếng Việt): https://www.facebook..com/thongtinGTV/videos/2467424086823573/

Ngoài ra, trên internet có lưu link của 5 tập phim (bản tiếng Trung), ai thích xem tiếng Trung thì có thể click vào các link này để xem:

Tập 1: http://youtu.be/ox_vJn_itYk

Tập 2: http://youtu.be/JDQr_ODgd7o

Tập 3: http://youtu.be/_AyrCih9KIU

Tập 4: http://youtu.be/_SR6yCOEWTk

Tập 5: http://youtu.be/moNKQy1t6gM

  1. Ngoài phim BIỂN ĐẢO VIỆT NAM: NGUỒN CỘI TỰ BAO ĐỜI do HTV sản xuất năm 2014, còn có một bộ phim khác có tên là BỌT BIỂN VÀ SÓNG NGẦM do Cty truyền thông VTL của chị Nông Thanh Vân sản xuất theo đặt hàng của VTV, là một bộ phim về chủ đề lịch sử chủ quyền biển đảo Việt Nam rất đáng xem.

Khi làm phim này, VTL có mời tôi tham gia, nhưng lãnh đạo Đà Nẵng khi đó không cấp phép cho tôi ra nước ngoài theo đoàn làm phim này. Vì thế, tôi chỉ tư vấn cho họ những chỗ cần đến khai thác tài liệu và quay phim, cung cấp cho họ danh sách những người cần phỏng vấn ở trong và ngoài nước (cho họ tên, địa chỉ, số điện thoại và e-mail). Tôi cũng nhận trả lời phỏng vấn cho chị Vân một lần vào tháng 7 năm 2014 ở đảo Lý Sơn.

Sau khi phim BỌT BIỂN VÀ SÓNG NGẦM làm xong, chị Nông Thanh Vân có gửi lời cám ơn tôi và tặng tôi một bộ DVD về bộ phim này. Tôi có xem thì thấy cuối mỗi tập phim, trên generique đều có ghi lời cám ơn đến TS. Trần Đức Anh Sơn với vai trò là người đã tư vấn chuyên môn cho phim.

Theo giới thiệu của chị Vân, thì phim sẽ có 2 phần, mỗi phần 4 tập, nhưng tôi xem trên mạng thì thấy Cty truyền thông VTL chỉ post các tập từ 1 đến 4 của phần I và tập 3 của phần II. Lý do vì sao thì tôi không rõ, hoặc do không có nghiệp vụ để tìm các tập kia.

Các link của phim BỌT BIỂN VÀ SÓNG NGẦM ở đây:

Phần 1: 4 tập

Tập 1: https://m.youtube.com/watch?feature=youtu.be&v=jQ9SjFP5IWg

Tập 2: https://m.youtube.com/watch?v=Yu3kC-dhu0s

Tập 3: Phần 1. https://m.youtube.com/watch?v=QeKR42kc9HQ&sns=fb

Tập 4: https://m.youtube.com/watch?feature=youtu.be&v=GXpjSU1gsv8

Phần 2: Tập 3: https://m.youtube.com/watch?v=Dh_iLcvbHLU&sns=fb

  1. Trong những lần đi Mỹ nghiên cứu và tìm kiếm tư liệu về Biển Đông – Hoàng Sa – Trường Sa vào các năm 2014, 2015 và 2016, tôi có mang theo các bộ DVD của bộ phim “BIỂN ĐẢO VIỆT NAM. NGUỒN CỘI TỰ BAO ĐỜI”, đủ cả 3 thứ tiếng Việt – Anh – Trung để trao tặng cho các tổ chức và cá nhân ở Mỹ. Tôi đã tặng cho Thư viện Sterling của Đại học Yale bộ phim trên đủ các bản tiếng Việt – Anh – Trung; tặng cho Thư viện Quốc hội Mỹ và Thư viện Harvard-Yenching của Đại học Harvard mỗi nơi 2 bản phim tiếng Việt và tiếng Anh.

Ngoài ra, tôi cũng tặng cho 3 thư viện này mỗi nơi khoảng 20 đầu sách có liên quan vấn đề chủ quyền biển đảo Việt Nam và tranh chấp trên Biển Đông hiện nay (trong đó có 2 cuốn sách do tôi chủ biên).

Vì thế, dù cho VTV chơi bẩn, xóa hình ảnh và tên của tôi cùng anh Đinh Kim Phúc trên những tập phim họ vừa phát lại; cho dù có cấp nào đó cao hơn chỉ đạo xóa luôn các tập phim gốc bằng tiếng Việt và tiếng Anh trên website của HTV và trên YouTube, thì trong 3 thư viện nói trên ở Mỹ và trong thư viện tư nhân của nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam, Úc, châu Âu, Nhật Bản, Đông Nam Á, cũng như ở trong thư viện gia đình tôi, vẫn còn đủ các bản DVD bộ phim này bằng các thứ tiếng Việt – Anh – Trung của bộ phim “BIỂN ĐẢO VIỆT NAM. NGUỒN CỘI TỰ BAO ĐỜI”. Ai cần xem thì sẽ được đáp ứng ngay thôi.

Xóa phim trên mạng thì được; xóa hình ảnh và tên tuổi của chúng tôi để giữ lại những bản phim què quặt phục vụ cho một mưu đồ đen tối nào đó thì được; nhưng làm sao xóa được lòng yêu nước trong tim chúng tôi, cũng như trong tim của những người Việt chân chính.

TRẦN ĐỨC ANH SƠN

From: TU-PHUNG

Những Nén Hương Thắp Muộn Trên Đỉnh Tiền Đồn 5 – Phạm Tín An Ninh

Những Nén Hương Thắp Muộn Trên Đỉnh Tiền Đồn 5 – Phạm Tín An Ninh

Kỳ 2

Tháng 7/ 2019 trong dịp đến Úc Châu, Vinh cũng trình bày về cái chết của cha và ước mong được liên lạc với những người đồng đội cũ cùng đơn vị của ông ngày trước để được biết tường tận hơn về cái chết và địa điểm nằm xuống của cha mình. “Tờ trình ủy khúc” cũng đã thất lạc sau ngày mẹ Vinh qua đời.

Vinh được Luật sư Nguyễn Văn Thuần giới thiệu đến tôi, vì Thuần là người bạn đồng hương khá thân, biết tôi từng phục vụ gần mười năm ở Trung Đoàn 44 BB, đơn vị cuối cùng mà cha của Vinh, Thiếu úy Nguyễn Xuân Quang đã hy sinh. Vợ chồng LS Nguyễn Văn Thuần cũng là những người có nặng tấm lòng, tích cực hỗ trợ tổ chức “Ngọc Trong Tim”, gom góp yêu thương mang đến cho những người khuyết tật cùng các anh Thương Binh VNCH còn đang sống khốn khổ ở quê nhà.

Tôi liên lạc với Vinh qua điện thư, rồi qua điện thoại. Ngay sau khi biết rõ cấp bậc, tên họ và đơn vị cuối cùng của người đồng đội Nguyễn Xuân Quang, tôi liên lạc hỏi thăm một số bạn bè cùng Tiểu Đoàn 1/44 với anh Quang lúc xưa, được biết chắc chắn là anh Quang đã hy sinh tại Tiền Đồn 5 ở Kontum. Tôi nhớ ngay đến trận đánh tại địa danh này qua lời kể của Trung Tá Phạm Văn Như, lúc chúng tôi bất ngờ gặp nhau tại trại tù số 6 ở Nghĩa Lộ. Trung Tá Như là người may mắn sống sót nhưng bị thương và bị bắt làm tù binh trong trận này.

Tôi còn nhớ mang máng Tiền Đồn 5 nằm không xa, nhìn xuống con đường đất nối liền Kontum – Quảng Ngãi, lúc ấy bỏ hoang vì chiến tranh, nhưng không biết ở quãng nào, thuộc địa danh nào, hơn nữa thời gian đã quá lâu, hơn 45 năm rồi, có biết bao biến đổi. Tôi tìm cách liên lạc với một số sĩ quan thâm niên ở Tiểu Khu Kontum, may mắn gặp một anh đồng hương với vợ tôi, trước kia anh là Đại úy Chi Đoàn Trưởng Chiến Xa M-48, vì phản đối một khẩu lệnh hành quân của cấp chỉ huy mà anh cho là vô lý, chắc chắn sẽ đưa Chi đoàn của mình vào sa lầy, thảm bại, như trường hợp một chi đoàn bạn, anh bị kỷ luật, cho ra khỏi binh chủng, chuyển về Tiểu Khu Kontum giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn ĐPQ.

Anh đã từng đóng quân tại Tiền Đồn 4, Tiền Đồn 5, và giữa tháng 10/1974, đơn vị anh bị địch quân tràn ngập ở Chương Nghĩa, anh bị bắt làm tù binh, khi ấy anh vừa được thăng cấp Thiếu Tá hơn một tháng. Anh ngồi vẽ lại vị trí Tiền Đồn 5 cho tôi, và để bảo đảm chính xác hơn, anh gọi cho một anh trung úy, đại đội trưởng dưới quyền của anh lúc xưa, là người Kontum và cũng đã từng đóng quân một thời gian dài tại Tiền Đồn 5. Trí nhớ anh bạn này rất chính xác.

Tôi liền viết một điện thư khá dài cho Vinh :

“Hai hôm nay, chú đã liên lạc với chú Sơn, chú Khanh (ở cùng Tiểu Đoàn 1/44 với ba cháu) và vài người khác, đã tham dự các trận chiến trong cùng thời gian, cùng và chung quanh địa điểm mà ba cháu đã hy sinh, đặc biệt trong số này có người từng sinh ra, lớn lên và đi lính tại Tiểu Khu Kontum.

Đến hôm nay chú và chú Sơn, chú Khanh đã có được một số chi tiết tương đối chính xác về trường hợp hy sinh của ba cháu.

Ba cháu hy sinh tại Tiền Đồn 5 (khác với Căn Cứ 5 ở Tân Cảnh). Tiền đồn này nằm bên con đường từ Kontum đi Quảng Ngãi (lúc ấy bỏ hoang, không sử dụng từ lâu vì chiến tranh), bây giờ là Quốc Lộ 24.

Tiền Đồn 5 này nằm cách Thị Xã Kontum khoảng 15 km, gần khu vực Kon Xom Luh, giữa 2 địa danh có tên Kon Cha Re và Kon Se Tieu (không tìm thấy tên trên Google Map, có lẽ vì hai địa danh quá nhỏ).

Đặc biệt, tại Kon Xom Luh hiện có nhà thờ Kon Xom Luh.Nếu có dịp đến Kontum, cháu tìm đến nhà thờ này hỏi thăm các vị linh mục, nhờ quí ngài chỉ giúp, hay hỏi thăm người dân địa phương (lớn tuổi) Kon Cha Re và Kon Se Tieu nằm ở đâu.

Riêng ngày mất của ba cháu, chú nghĩ trong khoảng 15 đến 30 Tháng Sáu, 1974, nhưng chú Sơn và chú Khanh đang tìm hiểu từ những bạn bè có tham dự trận đánh ấy, để cho cháu một ngày chính xác hơn.

Tiếc quá, nếu cháu còn giữ ‘giấy báo tử’,lúc ấy được gọi là “Tờ Trình Ủy Khúc”, dành cho người mất tích (Lính hy sinh nhưng không tìm thấy xác đều gọi là mất tích), trong đó có ghi rõ ngày giờ và đặc biệt là tọa độ (địa điểm chính xác nhất) nơi ba cháu hy sinh.

Thời gian đã quá lâu, mọi sự đã thay đổi, các dấu tích chiến tranh và cả xương thịt những người lính hy sinh, chắc cũng không còn. Tuy nhiên tất cả đều để lại trong lòng những người còn sống như các chú và nhất là cháu, những vết thương khó lành cùng với một nỗi hoài niệm khó nguôi.

Các chú xin được thành tâm chia sẻ về sự mất mát và nỗi buồn lớn lao này của cháu và cầu nguyện ơn Trên che chở và giúp cháu tìm lại được những điều mà cháu từng mong ước…”

Vinh nhận được email này của tôi lúc đang trên đường ra phi trường Sydney để rời Úc trở về lại Việt nam. Vinh chỉ kịp gởi cho tôi vài hàng tin nhắn qua Viber:

-Cháu sẽ lên Kontum ngay sau khi về lại Việt nam, cháu sẽ làm theo lời hướng dẫn của chú. Có gì cháu sẽ gọi chú qua Viber.

Trời đã không phụ lòng những con người hiếu thảo, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào vẫn giữ được trái tim, đặc biệt đối với một tâm hồn không hề vướng chút bụi bẩn của một xã hội kim tiền, vô cảm, Vinh đã được tất cả mọi người giúp đỡ tận tình, từ các vị nữ tu, đến người lính Thượng miền Nam thuở trước và cả những người lái xe ôm nghèo khổ, tận tình hướng dẫn và giúp Vinh đến Tiền Đồn 5.

Vinh kể:

“Cháu đến chân núi của Tiền Đồn 5 là 11 giờ trưa ngày 28 Tháng Bảy, 2019. Lúc đó trời muốn mưa và mây phủ kín hết ngọn đồi của Tiền Đồn 5. Những ngọn đồi thấp hơn nằm chung quanh thì còn thấy thấp thoáng. Nhiều người dân nơi đó lo lắng cho cháu, khuyên không nên lên vì đường khó đi, nhưng lòng cháu lại cảm thấy rất nôn nóng, muốn đi liền ngay tức khắc.

Với sự giúp đỡ của người dân, hai thanh niên địa phương dùng hai chiếc xe gắn máy mà bánh xe phải ràng dây xích, một chiếc chở cháu, một chiếc chở đồ ăn, thức uống, hoa quả, bắt đầu leo núi.

Sau một tiếng leo núi bằng xe Honda qua nhiều đồi khác nhau, khi đến chân đồi của Tiền Đồn 5 thì không còn đường để xe gắn máy chạy nữa, nên cháu bắt đầu đi bộ, vừa đi vừa phải dùng rựa chặt cây mở đường. Sau 30 phút, cháu đến được đỉnh đồi của Tiền Đồn 5.

Những bao cát dùng làm chiến hào bị rách nát, vài đế giày bốt-đờ-sô vương vãi, những cục pin dẹp nằm chỏng chơ, những cọng kẽm gai phần chôn dưới đất, phần ló lên trên… là những gì cháu nhìn thấy trên khoảng đồi trống của Tiền Đồn 5. Cháu có cảm giác dấu tích trận đánh và âm thanh súng đạn năm nào vẫn còn hiển hiện, phảng phất nơi đây.

Nhìn những gì còn sót lại đó, cháu cảm thấy rất xúc động. Và thật lạ, là từ lúc lên đây sương mù đã phủ kín hết bầu trời, nhưng khi cháu lấy hoa quả bày ra và thắp bó nhang cho ba cùng các chú, các bác đã nằm lại nơi này, thì trời lại bỗng dưng ló nắng”.

Cuối cùng thì Vinh cũng đã đến được đỉnh Tiền Đồn 5, nơi mà xác thân Thiếu úy Quang, người cha thân yêu của Vinh đã nằm lại đó từ 45 năm trước, giờ chắc cũng đã tan cùng tro bụi.

Quỳ giữa đỉnh đồi vắng lặng, bàn tay trái duy nhất cầm chặt bó nhang, Vinh cúi đầu khấn vái hồn thiêng của cha và những người lính miền Nam đã chết cho quê hương và lý tưởng cao đẹp của mình. Bốn mươi lăm năm, đã trải qua biết bao chia lìa, khốn cùng, bi thảm, nhưng Vinh đã vươn lên, vượt qua những thử thách cay nghiệt nhất, để ngẩng cao đầu trong một xã hội mà cả gia đình mình từng là nạn nhân, luôn bị bên thắng cuộc cố tình xô đẩy ra bên lề xã hội, đến bước đường cùng, bởi một thứ hận thù không còn nhân tính.

Nhưng cuối cùng, nhờ dòng máu của người cha còn luân lưu trong huyết quản, Vinh đã chiến thắng. Không chỉ thắng được số phận của chính mình, mà cao cả hơn, cũng giống như cha mình và những đồng đội của ông, Vinh đã thắng được lòng người. Cái thắng xem chừng vinh quang và bất diệt nhất.

Vinh đã được mời lên nói chuyện ở các đài truyền hình, tọa đàm trong các buổi tu học tại các cơ sở Phật giáo trước hàng vài ngàn Phật tử, được ví như “Cây Xương Rồng Trên Cát”, nói chuyện trong các hội văn nghệ, văn học. Cuốn tự truyện “Ông Giáo Làng Trên Tầng Gác Mái” của Vinh được độc giả cả nước bình chọn là “Tác phẩm Xuất Sắc Nhất của năm 2018, với nội dung truyền cảm hứng và động lực nhất để sống và để cống hiến”. Vinh nhận được giải thưởng lớn,100 triệu đồng, và đã góp hết vào ngân quỹ của gia đình Hướng Dương.

Trong cuốn tự truyện của mình, Nguyễn Thế Vinh cho biết: “Chính những ngày tháng dạy học cho các trẻ em nghèo, mồ côi, khuyết tật… đã làm nảy nở trong tôi ước mơ về một ngôi trường, cũng là mái nhà cho mấy đứa trẻ thiệt thòi ấy chui ra chui vào, vừa học chữ, vừa học làm người. Lũ trẻ và tôi sẽ dũng cảm bước đi trên con đường hướng tới tương lai bằng tinh thần tích cực và độc lập nhất”.

Một nhà phê bình đã viết về cuốn tự truyện của Vinh:

“Cuốn sách này kể cho bạn nghe chuyện đời của một “hạt bụi” ngát hương, hết sức hồn nhiên trong cõi trăm năm đi về. Sức sống của “hạt bụi” ấy có thể khiến những ai đang bị cuộc đời dồn ép hoặc thấy mình sắp bị đời xô ngã sẽ kiên cường đứng vững và chân thật mến yêu cuộc đời”

Một nhạc sĩ tên tuổi đã từng thổ lộ: “Một lời tử tế chưa đủ để nói về Vinh”.

Hầu hết học trò của Vinh đều bảo “Thầy Vinh là cha, là bạn và cũng là vĩ nhân”

Vinh dự trù sẽ tổ chức một buổi tưởng niệm và cầu siêu cho cha và những đồng đội của ông đã hy sinh trên ngọn đồi Tiền Đồn 5, vào dịp cuối năm hay Tết Nguyên Đán với sự đồng tế của các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo. Tất cả sẽ cùng thắp sáng lại trong tâm hồn một mùa Xuân, mùa của lòng biết ơn và hy vọng.

Vinh cũng nhờ các cơ quan truyền thông, báo chí và đồng đội của cha, giúp tìm cách thông báo đến thân nhân của những chú, bác đã cùng hy sinh với cha Vinh. Xin hãy liên lạc với Vinh để cùng tham dự buổi lễ tưởng niệm đặc biệt này. Người đầu tiên đã nghe được tiếng gọi của Vinh, một thanh niên hiện định cư ở bên Úc , chính là trưởng nam của cố Thiếu Tá Nguyễn Đức Vinh, sĩ quan liên lạc Pháo Binh của Tiểu Đoàn 233/PB cũng đã nằm lại trên Tiền Đồn 5 ngày ấy.

Điều may mắn là cậu ta còn giữ được “Tờ Trình Ủy Khúc” trong đó có ghi rõ ngày giờ và địa điểm chính xác nơi cha anh đã hy sinh: ngày 16 tháng 7 năm 1974, tại Tiền Đồn 5, Tọa độ AR 863-994. Những chi tiết mà cháu Nguyễn Thế Vinh cũng đang cần muốn biết. Sau đó Vinh cũng đã liên lạc được với con của Cố Thiếu Tá Dương Đình Chính ở Sài Gòn, và sẽ gặp một thuôc cấp cũ của ba Vinh ở Sông Mao, để có thể liên lạc với gia đình những tử sĩ khác.

Cuộc chiến đã kết thúc – dù trong tột cùng bất công và tức tưởi – nhưng mãi đến 45 năm sau, hơn nửa đời người, những người con mới tìm đến được nơi cha mình đã hy sinh, xác thân vùi chôn ở đó. Nhìn hình ảnh người con trai chỉ còn một cánh tay với những nén nhang thắp muộn trên ngọn đồi hoang vắng, điêu tàn, từng xảy ra bao trận chiến đẫm máu đồng đội, lòng tôi lắng xuống.

Hồi tưởng lại thời gian cuối cùng của cuộc chiến, tôi bỗng thấy đồng cảm, thấm thía với tâm trạng của người lính trẻ Paul Bäumer, nhân vật chính trong “Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh” (All Quiet On The Western Front), tác phẩm viết về chiến tranh nổi tiếng của nhà văn Erich Maria Remarque, mặc dù câu chuyện đã xảy ra từ thời Đê Nhất Thế Chiến:

“Ngày tháng trôi qua. Mùa hè 1918 này là mùa hè đẫm máu và kinh hoàng nhất. Thời gian giống như những thiên thần đang bay lượn trên vùng hủy diệt một cách không thể hiểu nổi. Dường như ai cũng biết rằng chúng tôi sẽ phải thua trong cuộc chiến này. Nhưng rất ít ai nói ra điều ấy. Chúng tôi đang bị đẩy lui. Chúng tôi không còn đủ quân số, không đủ tiếp liệu, đạn dược để có khả năng phản kích sau cuộc tổng công kích này. Duy chỉ có các chiến dịch hành quân là còn đang tiếp diễn – và những cái chết sẽ vẫn còn tiếp tục…”

Chỉ có một điều khác biệt. Anh Paul Bäumer may mắn hơn chúng tôi, đối phương của anh dù là người không cùng một nước, nhưng chắc chắn không tàn ác và man rợ như kẻ thù đã chiến thắng chúng tôi, những người có cùng dòng giống nhưng không hề có trái tim người.

PHẠM TÍN AN NINH

Kỳ trước

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=1058780504899609&id=335287627248904

==========

LỄ CẦU SIÊU VÀ CHIÊU LINH ĐÃ DIỄN RA TẠI TIỀN ĐỒN 5 VÀO NGÀY 26.12.2019

Trong hình, từ phải sang trái:

Chị Việt Ly (ân nhân về từ Mỹ)** – cháu Nguyễn Quang Minh (con của cố Th.tá Nguyễn Thạnh TĐT 280 ĐPQ) -Cháu Nguyễn Đức Hợp (con của cố Th. tá PB Nguyễn Đức Vinh) – cháu Nguyễn Thế Vinh – cháu Dương Đình Chinh ( con của cố Th.tá Dương Đình Chính)- anh Vũ Phương Điền + anh Yên (em của TS1 Vũ Phương Lâm – (Riêng con gái của cố Đại úy Nguyễn Văn Hiệp (ĐĐT/ ĐĐCH) thì không leo núi nổi, nên nhờ cháu Chinh cầm bài vị luôn.)

May be an image of 9 people, people standing and outdoors

ĐÊM TỐI LINH HỒN

ĐÊM TỐI LINH HỒN

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Chủ nghĩa vô thần là ký sinh trên một tôn giáo xấu.  Đó là lý do vì sao, xét cho cùng, những phê phán của chủ nghĩa vô thần lại là bạn của chúng ta.  Những lời đó giữ chúng ta cảnh giác.

Chẳng hạn như, Friedrich Nietzsche, Ludwig Feuerbach, và Karl Marx, họ cho rằng mọi cảm nghiệm tôn giáo xét cho cùng chỉ là phóng chiếu tâm lý.  Với họ, Thiên Chúa chúng ta tin và nền tảng cho Giáo hội của chúng ta, xét cho cùng, chỉ đơn thuần là một tưởng tượng mà chúng ta tạo ra để phục vụ nhu cầu của mình.  Họ nói rằng chúng ta tạo ra Thiên Chúa như thuốc phiện êm dịu và cho mình sự phê chuẩn thần thánh để làm điều mình muốn.

Họ đúng, nhưng lại sai, và điểm sai của họ là về nền tảng của tôn giáo đích thực.  Phải thừa nhận, họ đúng khi nói rằng nhiều cảm nghiệm tôn giáo và đời sống trong đời sống chúng ta rõ ràng là không, rất không nguyên tuyền.  Thật khó để thừa nhận rằng chúng ta luôn mãi đem những tham vọng và khí lực của mình trộn lẫn với điều mà chúng ta gọi là cảm nghiệm tôn giáo.  Đó là lý do vì sao chúng ta quá thường xuyên là những con người mộ đạo, nhưng lại hoàn toàn chẳng hướng về Thiên Chúa.  Chúng ta ngông cuồng khi đáng ra phải khiêm nhượng, phán xét khi phải tha thứ, thù hận khi phải yêu thương, ích kỷ khi phải vị tha, và hằn học xấu xa khi phải thông hiểu cùng thương xót.  Cuộc sống và giáo hội của chúng ta thường không chiếu tỏa Chúa Giêsu.  Chủ nghĩa vô thần là một thách thức cần thiết, bởi chúng ta quá thường xuyên trộn lẫn xung lực đời mình với Thiên Chúa, đem những hệ tư tưởng của mình xáo lẫn với Phúc âm.

May thay, Thiên Chúa không để chúng ta yên ổn với việc đó quá lâu.  Thiên Chúa cho chúng ta một ơn hoang mang và đau đớn, là đêm tối linh hồn.  Trong đêm tối linh hồn, chúng ta kiệt quệ lòng đạo, cảm nghiệm tôn giáo một thời nâng đỡ cho chúng nhiệt thành giờ khô cạn khiến chúng ta không còn tưởng tượng, xúc động, hay ý thức cảm xúc về tình yêu hay sự hiện hữu của Thiên Chúa.  Dù chúng ta có cố gắng thế nào cũng không thể gợi lên lại những cảm giác và hình tượng từng có về Thiên Chúa cũng như sự bảo đảm mà chúng ta từng cảm thấy về đức tin và niềm tin tôn giáo của mình.  Thiên đàng như trống rỗng, và trong lòng chúng ta cảm thấy không thể nhận thức được gì, như thể Thiên Chúa không hiện hữu, và ta cũng không thể tạo ra một hình ảnh Thiên Chúa từng một thời rất thật với ta.  Chúng ta trở nên tuyệt vọng khi cố khơi lên một ý thức về Thiên Chúa.

Nhưng đấy chính là khởi đầu của đức tin đích thực.  Trong đêm tối đó, khi chẳng còn gì nữa, khi cảm thấy như không có Chúa, thì Thiên Chúa bắt đầu đi vào chúng ta một cách nguyên tuyền.  Bởi các chức năng tôn giáo trong chúng ta bị tê liệt, nên chúng ta không còn có thể lạm dụng cảm nghiệm của mình về Thiên Chúa, không còn lạm dụng phóng chiếu bản thân vào hình ảnh Thiên Chúa, hay dùng lòng đạo để lập luận sự phê chuẩn thần thánh cho hành động của mình.  Đức tin đích thật bắt đầu từ chính lúc những phê phán vô thần nghĩ rằng mình đã thành công, là chính sự tối tăm và trống rỗng, trong sự bất lực của lòng đạo, trong sự vô lực để tác động lên cách Thiên Chúa đi vào chúng ta.

Chúng ta thấy rõ điều này trong đời sống của Mẹ Têrêxa.  Trong nhật ký của Mẹ, trong 27 năm đầu đời, mẹ có một nhận thức sâu sắc đầy hình tượng, và sốt mến về Thiên Chúa trong đời mình.  Mẹ sống với một niềm xác tín sắt đá về sự hiện hữu và tình yêu của Thiên Chúa.  Nhưng đến tuổi 27, khi đang cầu nguyện trên tàu hỏa, như thể có ai đó đã gạt công tắc đường dây kết nối với Chúa của Mẹ.  Trong tưởng tượng và cảm giác của Mẹ, thiên đàng trống rỗng.  Thiên Chúa mà Mẹ biết trong nhận thức và cảm giác, đã biến mất.

Nhưng chúng ta biết câu chuyện theo như thế nào.  Mẹ sống tiếp 60 năm còn lại với một đức tin xây trên đá, và đã sống dấn thân quên mình khiến không một lời chỉ trích vô thần nào có thể cáo buộc cảm nghiệm tôn giáo của Mẹ là nảy sinh từ sự phóng chiếu bản thân ích kỷ, hoặc nói việc hành đạo của Mẹ không nguyên tuyền.  Trong đêm tối lòng đạo của Mẹ, Thiên Chúa có thể đổ tràn vào Mẹ một cách nguyên tuyền, chứ không như nhiều người chúng ta với đời sống đức tin rõ ràng nằm ở một niềm tin ích kỷ.

Ngay cả Chúa Giêsu khi làm người, cũng phải trải qua đêm tối này, như lúc Ngài ở trong Vườn Cây Dầu, và than khóc vì bị bỏ rơi và sợ thập giá.  Sau cơn thống khổ trong Vườn Cây Dầu, một thiên thần đến và tăng sức cho Ngài.  Chúng ta sẽ hỏi, tại sao thiên thần không đến sớm hơn, lúc Ngài đang cần giúp đỡ nhất?  Sự giúp đỡ của Thiên Chúa không thể đến nếu Chúa Giêsu không vắt kiệt sức lực của mình, nhân tính của Chúa Giêsu không để cho sinh lực thiêng liêng đổ vào một cách nguyên tuyền nhưng lại chăm chăm vào cảm nghiệm.  Chúa Giêsu phải dùng hết sức lực của mình, rồi sinh lực thiêng liêng mới có thể đổ vào cách thật sự và nguyên tuyền.  Và chúng ta cũng vậy.

Những đêm tối đức tin cần thiết để tẩy sạch chúng ta, bởi chỉ như thế thiên thần Chúa mới đến để giúp chúng ta.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

NGƯỜI VỢ CỦA BÙI GIÁNG 

NGƯỜI VỢ CỦA BÙI GIÁNG 

Vũ Đức Sao Biển

                                          Bùi Giáng và dê tím hoa cà

Tranh Dinh Cuong

Đọc thơ Bùi Giáng, người ta nghĩ ông chỉ có những tình yêu viễn mộng. Ít ai biết ông đã có  một người vợ đẹp và những bài thơ tình hay nhất của ông là dành cho vợ. Người phụ nữ ấy chỉ sống với ông trên đời có 3 năm.

Tháng 7.2012, tôi trở lại thăm quê nhà ông – làng Thanh Châu (xã Duy Châu, Duy Xuyên, Quảng Nam). Ghé thăm nhà thờ tộc Bùi, được người phụ nữ chăm lo hương khói nơi đây cho xem gia phả của tộc. Qua câu chuyện, tôi khẳng định một điều mới mẻ: Nhà thơ Bùi Giáng đã có vợ. Hình tượng của bà và tình thương yêu, tiếc nuối ông dành cho bà là nội dung chủ đạo trong 4 tập thơ của ông: Mưa nguồn, Lá hoa cồn, Ngàn thu rớt hột và Màu hoa trên ngàn (in tại Sài Gòn từ năm 1962 – 1964).

Bà nhớ lại Bùi Giáng được cha mẹ cưới vợ cho năm 1945, khi ông vừa 19 tuổi. Hôn nhân ngày trước thường do cha mẹ đôi bên sắp đặt. Có lẽ, cuộc hôn nhân của Bùi Giáng cũng không đi ra ngoài quy ước đó. Người phụ nữ giữ nhà thờ tộc Bùi xác nhận: “Chị Bùi Giáng về làm dâu nhà ông bà bác tôi (cụ Bùi Thuyên và bà Huỳnh Thị Kiền – cha mẹ ông Bùi Giáng) năm 18 tuổi. Chị là người Duy Xuyên, đẹp lắm, tóc dài da trắng cái chi c ũng đẹp. Tên thật của chị là Vạn Ninh”.

Tất cả thành viên trong gia đình đều quý yêu bà chị dâu trẻ. Ông Bùi Luân – em ruột Bùi Giáng – tỏ lòng quý mến của mình với người chị dâu trong tập thơ Chớp biển của Bùi Giáng in tại Canada năm 1996: “Phải nhận là chị xinh đẹp, cởi mở, vui tính, hồn nhiên… Gương mặt chị, hình ảnh chị đã nổi bật, sáng ngời mãi trong ký ức tôi. Duy có điều bất cứ ai, dù không biết gì nhiều về tướng số, gặp chị là cũng nhận ra ngay: Chị không thể ở lâu với chúng ta trên cõi đời này, dù cõi đời vốn đã ngắn ngủi. Lấy chồng được ba năm, chị đã đột ngột lìa đời lúc mới ngoài hai mươi tuổi… Chị trút hơi thở một cách bình thản”.

Vợ chồng Bùi Giáng được cha mẹ cho một khu vườn đẹp ở làng Trung Phước để lập nghiệp. Trung Phước là thung lũng trù phú ven sông Thu, kế cận mỏ than huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam ngày nay. Làng Trung Phước cách Thanh Châu trên dưới ba chục cây số. Có lẽ cuộc hôn nhân của lứa đôi trẻ trung này giữa miền đất Trung Phước không được êm ấm cho lắm. Ông Bùi Luân viết tiếp: “Chỉ một thời gian ngắn sau ngày cưới, người vợ trẻ đã phải lặn lội từ cái thung lũng ngoạn mục nhất đó, xuôi sông Thu Bồn êm đềm với ngàn dâu xanh ngát, về nhà bố mẹ chồng ở Thanh Châu cách hàng mấy chục cây số. Trên chiếc đò bé nhỏ, chàng trai nói với người vợ trẻ: Nếu em không đổi ý quay về, không bỏ qua chuyện cũ thì tôi sẽ nhảy ra khỏi đò!

Khách xuôi đò tưởng người con trai đùa dọa người vợ mảnh dẻ. Để nguyên quần áo, ngay lập tức anh mình gieo xuống giữa dòng sông Thu. Và bơi theo đò. Để rồi thả trôi theo dòng nước hết chỗ mấy chục cây số đó, tới tận bến nhà”.

“Bỏ qua chuyện cũ” là chuyện gì? Đó là một chuyện hết sức tức cười và trẻ con. Ông Bùi Luân tiết lộ: “Cô con dâu đứng bên bà mẹ chồng sụt sùi: Anh cho con ăn toàn khoai lang và rau luộc. Anh không cho con mua cá mua thịt…”. Thì ra, Bùi Giáng đã… đi trước thời đại chúng ta về chủ trương… ăn chay. Ông hiểu một cách tuyệt đối thế nào đó về ẩm thực dưỡng sinh, nên chỉ thuận cho cô vợ ăn rau cải, củ quả mà không cho phép bà ăn gà, bò – hai món thịt ngon nhất của vùng Trung Phước.

Người vợ qua đời năm 1948 khi Bùi Giáng vắng nhà. Ông Bùi Luân viết tiếp: “Phút lâm chung, chị không thấy mặt chồng… Tôi chỉ biết là anh có mặt vào phút chót của buổi tiễn đưa chị về nơi an nghỉ cuối cùng – anh đứng bên cạnh chiếc quan tài với vành khăn trắng trên đầu”.

Bùi Giáng yêu vợ nhưng vẫn muốn… bỏ nhà đi chơi. Cũng bình thường như bao nhiêu người đàn ông Quảng Nam lãng mạn khi xa vợ, Bùi Giáng có thể gặp gỡ, giao lưu với những người phụ nữ khác và nhận ra họ vượt trội vợ ông về một vài phương diện nào đó. Thế nhưng, tình yêu và nỗi xót xa dành cho người vợ ở quê nhà thì rất đỗi mặn mà, vô cùng tha thiết: “Mình ơi, tôi gọi bằng nhà/Nhà ơi, tôi gọi mình là nhà tôi”.

Hai năm sau cái chết của người vợ trẻ, ông dẫn một bầy dê lên Nông Sơn chăn thả, ngao du qua những đồi núi, suối khe mơ màng để nhớ thương vợ. Hai năm sau đó nữa, ông gửi bầy dê lại cho… chuồn chuồn và châu chấu, bỏ quê nhà đi chơi tiếp. Ở đâu, ông cũng phục hiện những hình ảnh yêu dấu xưa. Bài thơ nhớ vợ có một không khí rất đỗi bi ai, tràn đầy hoài cảm:

Em chết bên bờ lúa
Để lại trên lối mòn
Một dấu chân bước của
Một bàn chân bé con!

Anh qua trời cao nguyên
Nhìn mây buồn bữa nọ
Gió cuồng mưa khóc điên
Trăng cuồng khuya trốn gió.

Mười năm sau xuống ruộng
Đếm lại lúa bờ liền
Máu trong mình mòn ruỗng
Xương trong mình rả riêng.

Anh đi về đô hội
Ngắm phố thị mơ màng
Anh vùi thân trong tội lỗi
Chợt đêm nào, gió bờ nọ bay sang.

Bùi Giáng bỏ cố quận ra đi biền biệt. Ra đi nhưng ông vẫn nhớ, đến tha thiết não nùng. Nhớ nhưng ông không dám trở về bởi nơi nào ở cố quận cũng nhắc ông nghĩ đến tình yêu của người vợ khổ.

Ông gọi bà với nhiều tên gọi khác nhau. Đầu tiên, bà được gọi là “gái trần gian”. Ông có thể gặp gỡ, cười đùa, tán tỉnh cả trăm người phụ nữ khác nhưng lòng ông chỉ yêu và chỉ nhớ mỗi mình bà, đặc biệt những khi ông còn lại một mình, đối mặt với chính tâm thức cô đơn của mình: “Đùa với Tuyết, giỡn với Vân. Một mình nhớ mãi gái trần gian xa. Sương buổi sớm, nắng chiều tà. Trăm năm hồng lệ có là bao nhiêu?”.

Thứ hai, ông gọi bà là “con mọi nhỏ”. Người Duy Xuyên có lệ thương yêu ai thì gọi người ấy là “con mọi”, “thằng mọi”. Tôi lấy làm tiếc khi có vài người nghiên cứu văn học hiểu nhầm chữ “mọi” trong thơ Bùi Giáng: “Mọi em là mọi sương xuân. Ban sơ núi đỏ chào mừng non xanh”. Thơ ông viết cho “con mọi nhỏ” của mình tràn đầy nỗi thương xót và tình yêu dấu: “Giờ ly biệt, ta xin em đừng khóc. Nào phải không? Lệ chảy có vui gì? Trang phượng mở giữa nguồn em hãy đọc. Nước xuôi dòng, ngàn thu hận ra đi”.

Ông phong tặng người vợ của mình – con mọi nhỏ, lên thành mẹ của giang san: “Em thành Mẹ của giang san. Em là thần nữ đoạn trường chở che”. Thơ ông viết cho vợ càng lúc càng trang trọng. Tất cả cái mẫu tính dịu dàng, hồn nhiên, tươi đẹp, đôn hậu toát lên từ con người của bà Bùi Giáng khiến ông cảm phục vợ. Từ một con người cụ thể, mảnh mai, bà vụt trở thành hình tượng cao quý nhất trong lòng ông, trong thơ ông: “Em thuyền quyên ban mưa móc xum xuê. Em rắc gieo khắp xứ sở bốn bề. Suốt địa hạt tình quê hương ba ngõ. Anh quỳ xuống gọi em: Em mọi nhỏ”.

Lắm khi ở phương xa, ông nhớ cố quận. Qua mấy mươi năm, hình ảnh người vợ trẻ, hiền ngoan ấy vẫn sống trong lòng ông. Ông uống trà giữa Sài Gòn mà hình ảnh của bà ngày xưa ở Quảng Nam như hiển hiện trước mắt: “Trung niên thi sĩ uống trà. Thưa em mọi nhỏ, em đà uống chưa?”. Một nửa cuộc đời ông, một nửa trái tim ông dành để nhớ bà.

Vũ Đức Sao Biển

From: Do Tan Hung & KimBằng Nguyễn

HÃY THONG THẢ SỐNG

 

HÃY THONG THẢ SỐNG

TRẦN MỘNG TÚ

Nhiều khi chúng ta sống mà quên bẵng đi là mình có thể chết bất cứ lúc nào. Ta hối hả sống, vui, buồn, khỏe, yếu, ta cứ lướt qua rồi không ngoái đầu lại nhìn chuỗi ngày tháng ta đã tiêu hao của một đời người.

Cho đến khi có một người bạn vừa ngã bệnh, bệnh nặng, không biết sẽ mất đi lúc nào, lúc đó ta mới xa, gần, hốt hoảng gọi nhau. Tưởng như chưa từng có người bạn nào “Chết” bao giờ. Hay ta có một người thân trong gia đình, đang rất khỏe vừa báo tin bị bệnh hiểm nghèo. Gia đình, họ hàng cuống lên, sợ hãi như chưa nghe đến ai nói về cái chết bao giờ, chưa chứng kiến cảnh vào bệnh viện, cảnh tang ma bao giờ.

Cả hai người trên có thể đã ngoài 70 tuổi. Lạ thật! Cái tuổi nếu có chết thì cũng đã sống khá lâu trên đời rồi, sao những người chung quanh còn hoảng hốt thế. Hóa ra người ta, không ai muốn nghe đến chữ “Chết” dù chữ đó đến với mình hay với người thân của mình.

Hình như không ai để ý đến mỗi sáng chúng ta thức dậy, nhìn thấy mặt trời mọc (nếu còn để ý đến mặt trời mọc) là chúng ta đã tiêu dùng cái ngày hôm qua của đời sống mình. Có người vì công việc làm ăn, cả tuần mới có thời giờ ngửng mặt nhìn lên mặt trời. Buổi sáng còn tối đất đã hấp tấp ra đi, buổi chiều vội vã trở về lúc thành phố đã lên đèn, làm gì nhìn thấy mặt trời. Nhưng mặt trời vẫn nhìn thấy họ, vẫn đếm mỗi ngày trong đời họ. Họ tiêu mất cái vốn thời gian của mình lúc nào không biết.

Tiêu dần dần vào cái vốn Trời cho mà đâu có hay. Rồi một hôm nào đó bỗng nhìn kỹ trong gương, thấy mình trắng tóc. Hốt hoảng, tiếc thời gian quá! Khi nghe tin những người bạn bằng tuổi mình, bệnh tật đến, từ từ theo nhau rơi xuống nhanh như mặt trời rơi xuống nước, họ vừa thương tiếc bạn vừa nghĩ đến phiên mình.

Thật ra, nếu chúng ta bình tâm nghĩ lại một chút, sẽ thấy “Cái chết” nó cũng đến tự nhiên như “Cái sống”. Đơn giản, mình phải hiểu giữa sống và chết là một sự liên hệ mật thiết, vì lúc nào cái chết cũng đi song song từng ngày với cái sống.

Dẫu biết rằng, đôi khi có những cái chết đến quá sớm, nhưng ta cũng đâu có quyền từ khước chết.

Tôi biết có người mẹ trẻ, con của bạn thân tôi. Chị bị ung thư, chị cầu xin Thượng Đế cho sống đến khi đứa con duy nhất của mình vào Đại Học. Chị không cưỡng lại cái chết, chị chỉ mặc cả với Thượng Đế về thời gian vì con chị lúc đó mới lên 3 tuổi. Thượng Đế đã nhận lời chị. Ngày con chị tốt nghiệp Trung Học, chị ngồi xe lăn đi dự lễ ra trường của con và tuần lễ sau chị qua đời. Trong suốt mười mấy năm trị bệnh, chị vẫn làm đủ mọi việc: chị đội tóc giả đi làm, đến sở đều đặn, lấy ngày nghỉ hè và ngày nghỉ bệnh đi trị liệu.

Những bạn làm chung không ai biết chị bị ung thư, ngay cả xếp của chị. Khi họ biết ra, thì là lúc chị không đứng được trên đôi chân mình nữa. Chị sửa soạn từng ngày cho cái chết với nụ cười trên môi. Vẫn vừa đi làm, vừa cơm nước cho chồng con, ân cần săn sóc cha mẹ, hiền hòa giúp đỡ anh em trong nhà, chị mang niềm tin đến cho tất cả những người thân yêu của mình.

Sau ba năm chị mất, cậu con trai mỗi năm vẫn nhận được một tấm thiệp sinh nhật mẹ viết cho mình (Mẹ đã nhờ qua người dì gửi hộ). Hôm sinh nhật 21 tuổi của cậu cũng vào ngày giỗ năm thứ ba của Mẹ, cậu nhận được tấm thiệp mừng sinh nhật mình, với dòng chữ nguệch ngoạc, chị viết cho con: Mừng sinh nhật thứ 21 của con. Hãy bước vui trong đời sống và nhớ rằng mẹ luôn luôn bên cạnh con. Tôi đọc những dòng chữ mà ứa nước mắt.

Tôi nghĩ đến chị với tất cả lòng cảm phục. Chị là người biết sống trong nỗi chết. Khi không thắng được bệnh tật, chị biết hòa giải với nó để sống chậm lại với nó từng ngày cho con mình. Chắc “Cái chết” cũng nhân nhượng với chị, thông cảm với chị như một người bạn.

Một chị bạn kể cho nghe về một bà bạn khác. Bà này mới ngoài sáu mươi, nhanh nhẹn, khỏe mạnh và tính nết vui vẻ, yêu đời. Nhưng khi nào đi ra khỏi nhà bà cũng mang theo một bộ quần áo đặc biệt, đủ cả giầy vớ bỏ vào một cái túi nhỏ riêng trong va-li. Hỏi bà, sao lại để bộ này ra riêng một gói vậy, bà thản nhiên nói:“Nếu tôi chết bất thình lình ở đâu, tôi có sẵn quần áo liệm, không phiền đến ai phải lo cho mình.” Bà mang theo như thế lâu lắm rồi, tôi không biết có khi nào bà ngắm nghía mãi, thấy chưa dùng tới, bà lại đổi một bộ mới khác cho ưng ý không? Giống như người phụ nữ sắp đi dự tiệc hay cầm lên, để xuống, thay đổi áo quần sao cho đẹp. Đi vào cái chết cũng có thể coi như đi dự một đám tiệc.

Tôi nghĩ đây là một người khôn ngoan, sẵn sàng cho cái chết mà bà biết nó sẽ đến bất cứ lúc nào. Bà đón nhận cái chết tự nhiên, giản dị như đi dự tiệc, hay một chuyến đi xa, đi gần, nào đó của mình.

Nhưng không phải ai cũng nghĩ về cái chết giản dị như vậy. Phần đông muốn được sống lâu, nên bao giờ gặp nhau cũng thích chúc cho nhau tuổi thọ. Thích hỏi nhau ăn gì, uống gì cho trẻ trung mãi. Loài người nói chung, càng ngày càng thích sống hơn chết. Họ tìm kiếm đủ mọi phương thuốc để kéo dài tuổi thọ. Người ta ức đoán, trong một tương lai rất gần, loài người có thể sống đến 120 tuổi dễ dàng với những môn thuốc ngăn ngừa bệnh tật và bồi dưỡng sức khỏe.

Rồi người ta sẽ còn tạo ra những bộ phận mới của nội tạng để thay thế cho những bộ phận gốc bị nhiễm bệnh. Gan, ruột, bao tử v.v… sẽ được thay như ta thay những phần máy móc của một cái xe cũ. Chúng ta, rồi sẽ sống chen chúc nhau trên mặt đất này.

Chỉ tiếc một điều là song song với việc khám phá ra thuốc trường thọ người ta cũng phải phát minh ra những người máy (robot) để chăm sóc những người già này, vì con cháu quá bận (chắc đang chúi đầu tìm thuốc trường sinh) không ai có thời giờ chăm sóc cha mẹ già. Theo tôi, ngắm nhìn hình ảnh một cụ ông hay một cụ bà lưng còng, tóc bạc, đang cô đơn ngồi trong một căn buồng trống vắng, được một người máy đút cơm vào miệng, thật khó mà cảm động, đôi khi còn cho ta cái cảm giác tủi thân nữa.

Nhưng sống như vậy mà có người vẫn thích sống. Một người đàn ông ngoài bẩy mươi, bị bệnh tim nặng, đang nằm trong phòng đặc biệt (ICU) lúc mơ màng tỉnh dậy, nhắn với các con cháu là khi nào vào thăm không ai được mặc áo mầu đen. Ông kiêng cữ mầu của thần chết. Ông quên rằng thần chết, đôi khi, có thể đến với chiếc áo mầu hồng.

Thật ra, chính nhờ “cái chết” cho ta nhận biết là “cái sống” đẹp hơn và có giá trị hơn, dù có người sống rất cơ cực vẫn thấy cuộc đời là đẹp.

Những bậc thiên tài, những nhà văn lớn đã tự tìm về cái chết khi họ bắt đầu nhìn thấy cái vô vị trong đời sống như nhà văn Ernest Hemingway, Yasunari Kawabata và họa sĩ Vincent van Gogh, v.v… Chắc họ không muốn sống vì thấy mình không còn khả năng hưởng hết vẻ đẹp của “cái sống” nữa. Họ là một vài người trong số nhỏ trên mặt đất này sau khi chết để lại tên tuổi trên những trang sử, lưu lại hậu thế, còn phần đông nhân loại, sau khi chết một thời gian, không để lại một di tích nào. Con cháu có thờ cúng được một hai thế hệ, sau đó tên tuổi mờ dần, mất hẳn theo ngày tháng, vì chính những kẻ thờ phụng đó lại tiếp theo nằm xuống cùng cát bụi.

Ðời sống con người chóng qua như cỏ, như bông hoa nở trong cánh đồng, một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc cũng không còn mang vết tích.(Thánh Vịnh)

Thượng Đế khi đem mình vào đời, có hỏi ý kiến mình đâu. Nên chắc chắn là khi Ngài gọi mình đi cũng chẳng cần thông báo trước.

Chúng ta cứ thong thả sống từng ngày, khi nào chết thì chết, mặt trời mọc rồi mặt trời lặn, bông hoa nở rồi bông hoa tàn, thế thôi.

Tại sao ta phải cay cú với cái chết? Hãy dùng trí tưởng tượng của mình, thử hình dung ra một thế giới không có cái chết(*)

Chắc lúc đó chúng ta sẽ không còn không khí mà thở chứ đừng nghĩ đến có một phiến đất cho bàn chân đứng.

TRẦN MỘNG TÚ

Têrêsa Ngọc Nga (st)

From: Do Tan Hung & KimBằng Nguyễn

Các vị Thánh đời thường đã quay trở lại xã hội

Các vị Thánh đời thường đã quay trở lại xã hội

Phải gần nửa thế kỷ trôi qua, hình ảnh các vị Sơ, Sư cô mới có mặt đúng nghĩa trên bản tin hệ thống báo chí chế độ khi họ tình nguyện đi vào tâm bão đại dịch ở Sài Gòn và các tỉnh miền Nam.

Hình ảnh các vị Thánh đời thường ấy chỉ được báo chí nhà nước đưa tin thoáng qua, để rồi sau đó các phục trang tôn giáo vốn là biểu tượng đức tin mà họ phát nguyện suốt cõi trần ai này, trong phút chốc đã mất hút dưới những bộ đồ bảo hộ phòng chống dịch bệnh. Họ chọn nhập thế cùng sống, cùng chết với các nạn nhân đang suy kiệt và cô độc giữa ranh giới tử sinh.

Không ai còn lạ khi trong cơn khủng hoảng cực đỉnh, chế độ trong thế bí mới chấp nhận sự hiện hữu của các vị Thánh đời thường ấy – cũng như các đoàn thiện nguyện xã hội dân sự khác – vốn là ánh sáng của hiển nhiên của giá trị đức tin nhân văn cao cả của dân tộc, trong một xã hội bình thường vẫn phải có.

Những người có tuổi ở miền Nam Việt Nam hẳn không bao giờ quên hình cảnh các nữ tu, của các tôn giáo, bước vào vùng bom đạn chiến tranh để chăm sóc, điều trị binh sĩ, nạn nhân chiến tranh mà không hề có một chút phân biệt. Bởi hơn hết những nạn nhân trong cảnh hiểm nghèo cần họ đều là con người, và những người họ tìm đến đang cần ánh sáng tình nhân loại.

Có người kể rằng: Hầu hết các nhà thương Sài Gòn và miền Nam trước 1975 đều có các bà Sơ kề cận bên giường các bệnh nhân nặng. Bà N. kể, “năm 1965, mẹ tôi bị bịnh nặng. Mình là con nhưng có ngày không vô thăm mẹ được nhưng các Sơ thì luôn ở bên săn sóc cho mẹ. Lúc mẹ hấp hối, các Sơ đọc kinh, mình không hiểu trước khi lìa trần mẹ mình có tin vào nước Chúa hay không, nhưng mình tin chắc là vị Sơ mà mẹ nắm chặt tay, là niềm tin vĩnh hằng là người thật sự giúp mẹ mình được an tâm nương tựa.”

Sài Gòn vào những ngày phong thành ác hiểm này, cộng đồng mạng được đọc bài ghi chép của một vị Sơ tình nguyện vào tâm dịch, trong đó có đoạn Sơ viết:

“Đã quá nửa đêm, chị em chúng tôi đang lau dọn sàn nhà, một chị điều dưỡng chạy tới giọng hối hả: “Các Sơ ơi, có người mới qua đời. Các Sơ vào cầu nguyện cho ông đi!”. “Hai chị em bỏ dở công việc, chạy vội vào góc phòng. Các điều dưỡng đang gỡ máy móc, dây ống ra khỏi cơ thể đã bất động. Tôi nhìn gương mặt ông tím tái rồi nhạt dần. Vị bác sĩ trẻ vẫn chưa rời khỏi, cô lộ rõ nét buồn vì không giữ được sự sống cho ông sau một hồi cấp cứu. Cô đưa tay vuốt mắt cho ông rồi lặng lẽ quay đi. Các điều dưỡng nhanh chóng bọc ông cụ vào bao đựng tử thi rồi điện thoại cho nhân viên nhà xác mang xác đi. Tất cả diễn ra trong tích tắc khi chị em chúng tôi còn chưa đọc xong những lời kinh phó linh hồn.”

Các vị Sơ “chưa đọc xong nhưng lời kinh phó linh hồn”. Ánh mắt cuối cùng của nạn nhân cũng không tìm thấy hình ảnh các vị Sơ trong phục trang đức tin tôn giáo, nhưng ắt hẳn nạn nhân đã nghe thấy được chút tình yêu thương nhân loại qua những lời kinh dẫu không trọn vẹn: Một điều mà suốt gần nửa thế kỷ hầu như bị cấm ở tất cả cách bệnh viện của chế độ. Sao lại cấm một điều chỉ để bừng thức sự hồi hướng niềm tin cuối cùng vào tình yêu giữa người và người trước lúc vĩnh biệt?

Đã gần nửa thế kỷ, người ta mới đọc được trên báo Tuổi Trẻ (21 Tháng Bảy 2021), rằng chính quyền thành phố đã chấp thuận cho các linh mục đến cử hành nghi thức cuối cùng cho bệnh nhân là tín hữu Công giáo qua đời do Covid-19 trước khi hỏa táng. Tòa Tổng Giám mục sẽ tổ chức một nhóm linh mục luân phiên nhau làm nhiệm vụ này.

Trong hàng chục trung tâm điều trị Covid-19 cho các bệnh nhân nặng ở Sài Gòn, trong hàng ngàn nạn nhân không may đang hấp hối hay vừa lìa trần những ngày qua, thì thật ân phúc thay cho những ai được sự kề cận bên tình yêu tận hiến của các vị ma-sơ, sư cô.

Tất nhiên sự tận tâm hết lòng của đội ngũ bác sĩ, y tá vẫn là điều kính phục hiển nhiên. Nhưng nếu thấu hiểu hơn thì chia sẻ: Các nạn nhân nhiễm Covid-19 biến thể Delta đang trở nặng, sự sống họ từ nỗi sợ virus lại bị xô đẩy vào nỗi sợ chết, trước và sau chỉ toàn nỗi sợ hãi kinh khiếp, nỗi sợ hãi mà chỉ mỗi mình họ cô độc cưu mang thì ánh sáng tình yêu con người mà các Ma Sơ, các Ni Cô mang đến là sự cứu rỗi duy nhất.

Rõ là chế độ vẫn không chấp nhận các tôn giáo, các đoàn thể xã hội dân sự khác chính kiến, vốn vẫn bị chế độ cho là “thù địch”.  Nhưng dẫu vậy, điều mặc nhiên là giá trị cao thượng, tình yêu chân thật dành cho con người, cho đồng bào luôn như một loại “thế lực thù địch ấy”, vẫn luôn hiện hữu, sâu sắc, và lớn rộng hơn mọi thể chế cầm quyền chuyên chế ấu trĩ.

Các bản tin hôm qua 12 Tháng Tám cho biết có đến 61 Sơ dòng Đa Minh, địa phận Phú Cường nhiễm coronavirus. Tu sĩ-bác sĩ Gioan Baotixita Nguyễn Trường Thế ở bệnh viện Thánh Tâm (Biên Hoà), đã chết vì Covid ở tuổi 39. Chương trình xét duyệt của Nhà nước, được biết cho phép phía Phật giáo, tổng cộng có gần 310 tăng ni tình nguyện, còn Công giáo có 430 dì phước và linh mục tham gia trong những ngày qua.

Giữa những ngày đỉnh điểm đầy chết chóc này, không ai có thể biết đầy đủ sự tận hiến sức khoẻ và sinh mệnh của những nhân cách cao cả ấy. Nhưng các dòng tin, con số lạnh lùng nói trên mà người ta biết đến, dù chỉ như lá rừng rơi trong im lắng nhưng luôn là tin lành, ân phúc từ chân lý bất biến: Họ đã chọn sống và chết với tình yêu nhân loại thuần khiết từ các nhân cách cao cả là ánh sáng phục sinh.

Thấy hình ảnh xếp xe ngay ngắn đẹp quá

Chibi Lipton  Thắc Mắc Công Giáo

Mình nói rất thật lòng, luôn thích đạo Công Giáo. Mà thích là đúng thôi. Ở Nhà Thờ vốn dĩ được trang trí trang nhã lại chả thấy ai chen chúc, không thấy ai xì xụp khấn vái inh ỏi, hương khói ngút ngàn phải sinh ra người đi rút và dập bớt hương cho đỡ khói. Đồ lễ ngập ngụa, hoa lễ ú ụ, vàng mã, tiền bạc dắt lung tung. Ở bãi xe không thấy ai tranh thủ chặt chém. Đã thế xe lại được xếp ngay ngắn đẹp như vẽ tranh. Nhà thờ, cả mấy chục năm sau khuôn viên vẫn gọn gàng hoặc được chăm chút cho đẹp hơn, không hề thấy cảnh ngày càng chật chội bừa bộn bởi những kiot mái tôn xanh, đỏ được dựng lên để làm hàng quán kinh doanh hoặc vì các mục đích khác…

Mình luôn ước giá mình cũng là người Công Giáo. Và chắc chắn không phải ngẫu nhiễn mà cả loài người nô nức mừng vui đón Giáng sinh.

Trong ảnh là cảnh người dân đi lễ Đức Mẹ Măng-đen tít tận Kom Tum xa xôi sắp xếp xe thật gọn gàng, cả con đường dài sạch sẽ, tinh tươm. Nhìn bức ảnh liên tưởng đến Bờ Hồ Hoàn Kiếm giữa trung tâm Thủ Đô ngập rác sau đêm Countdown tưng bừng pháo hoa đầu năm vừa rồi,…..

P/s: Quan sát, ngẫm nghĩ, so sánh & đưa ra quan điểm của mình là cách để mọi người cùng tranh luận để cùng tốt hơn lên dù là bên đời hay bên Đạo. Né tránh, mặc kệ thì không mong có sự thay đổi. Vì vậy mong anh chị và các bạn tranh luận văn minh, đừng văng tục hay xúc phạm các tôn giáo. Tôn giáo nào cũng có mạnh, yếu…và đều cần lắng nghe để hướng đến thiện lành và văn minh. Tại sao Công Giáo làm được mà chúng ta không làm được???

======

Sau khi đăng tút có một bạn inbox thế này. Mọi người cùng đọc để ngẫm nhé. Quá sâu xa…

Em cũng theo đạo Công giáo

Và thấy hình ảnh xếp xe ngay ngắn đẹp quá

Chúng em theo đạo thì thấy những điều này là bình thường, không có chút gì là ấn tượng. Có lẽ chúng em được dạy dỗ từ bé như thế. Nhưng qua lăng kính, cách nhận xét của chị thì em hiểu rõ hơn về cách nhìn đa chiều Đạo Công Giáo.

Còn rất nhiều điều hay mà có lẽ chúng em coi là hiển nhiên với người trong đạo và người ngoài đạo sẽ cảm thấy khó hiểu. Như xếp hàng rước mình thánh, trẻ con từ 3 tuổi đến nhà thờ để dạy dỗ như trường học, trước khi ăn cơm làm dấu, đọc kinh, mời cơm đều được dạy từ nhỏ. Và hay nhất là lễ dành cho tổ tiên vào 2.11 hàng năm, tại ngay các phần mộ mới thật đẹp và ý nghĩa ạ…

+++++++

Một bạn khác còm rất hay: Bổ sung thêm một chút giá trị thực tế nhất của đạo Công Giáo.

Khi mà niềm tin của thế giới bị mất đi với người Việt Nam, nhất là các nước Mỹ-Úc mỗi khi phỏng vấn những cặp đôi bảo lãnh nhau đi định cư thời gian sau này rất khó khăn trong xét duyệt hồ sơ định cư… Nhưng nếu bạn là người Công Giáo thì khi bạn về nước cưới vợ/chồng và theo luật Công Giáo bắt buộc bạn phải làm lễ cưới trong nhà thờ, có linh mục và hai bên gia đình chứng kiến. Lãnh sự quán họ chỉ yêu cầu bạn đưa ra được hình ảnh 2 bạn đón nhận bí tích hôn phối trong nhà thờ có hình linh mục chủ tế ban phép bí tích hôn phối cho bạn là hồ sơ được thông qua ngay mà không cần tra xét thật giả nữa.

Vì sao lại đơn giản vậy? Vì hình ảnh đó là SỰ THẬT, nó không thể mua bằng tiền hoặc thật nhiều tiền.

Đấy là giá trị đích thật của đạo Công Giáo được xác tín trên toàn thế giới.

Cre: Phan Ngọc Minh

Từ tháng 9, Mỹ cho dân tiêm tăng cường liều vaccine thứ ba

VOA Tiếng Việt 

Chính phủ Mỹ ngày 18/8 loan báo kế hoạch tiêm rộng rãi liều vaccine tăng cường thứ ba bắt đầu từ ngày 20/9 tới đây trong lúc lây nhiễm tăng cao vì biến thể Delta, viện dẫn dữ liệu cho thấy sự bảo vệ của vaccine giảm bớt theo thời gian.

Các giới chức Mỹ đang chuẩn bị tiêm chủng liều vaccine thứ ba cho những ai đã tiêm hai liều vaccine của Moderna và Pfizer ít nhất cách đây 8 tháng, Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh thông báo.

Quan chức y tế Mỹ cho hay họ dự kiến những ai đã tiêm vaccine Johnson & Johnson duy nhất một liều cũng sẽ cần tiêm tăng cường thêm một liều nữa.

Thoạt đầu sẽ tiêm tăng cường cho các nhân viên y tế, những người trong viện dưỡng lão và người cao niên, trong số những nhóm đầu tiên được tiêm chủng vào cuối năm ngoái-đầu năm nay, các quan chức y tế hàng đầu của Mỹ cho biết trong một tuyên bố chung.

Ngày càng có bằng chứng cho thấy sự bảo vệ của vaccine phai dần sau nửa năm, đặc biệt nơi người lớn tuổi có bệnh nền. Các giới chức viện dẫn lý do này trong quyết định cho tiêm liều vaccine tăng cường, nhưng nhấn mạnh các liều vaccine được Mỹ chấp thuận cho sử dụng khẩn cấp chứng tỏ “hiệu nghiệm đáng kể” trong việc giảm nguy cơ bệnh nặng, nhập viện và tử vong vì COVID.

Từ tháng 9, Mỹ cho dân tiêm tăng cường liều vaccine thứ ba

VOATIENGVIET.COM

Từ tháng 9, Mỹ cho dân tiêm tăng cường liều vaccine thứ ba

Chính phủ Mỹ ngày 18/8 loan báo kế hoạch tiêm rộng rãi liều vaccine tăng cường thứ ba bắt đầu từ ngày 20/9 tới đây trong lúc lây nhiễm tăng cao vì biến thể Delta, viện dẫn dữ liệu cho thấy sự bảo vệ của vaccine giảm bớt theo thời g… 

SÀI GÒN

SÀI GÒN

Mười ba tuổi, tui xách túi ni lông đựng bốn bộ quần áo rách, nhảy lên xe đò, trốn mẹ, đi Sài Gòn. Trong túi quần chỉ đủ tiền vé một chiều và miếng giấy ghi địa chỉ nhà cô ruột ở quận tám. Anh em giang hồ gọi là bỏ nhà đi bụi.

Trời vừa đứng bóng thì xe lên tới bến xe miền Tây. Không biết móc ra móc vô kiểu gì mà tui kiếm hết túi này tới túi nọ hổng thấy miếng giấy ghi địa chỉ đâu. Nhớ mang máng trong đầu, tui hỏi thăm đường rồi lếch thếch đi bộ qua quận tám.

Sài Gòn mênh mông và quá đỗi ồn ào nhộn nhịp đối với một đứa nhỏ mười ba tuổi quê kiểng chưa biết hết đường xá của cái thị xã nhỏ quê nhà. Tui vừa đi vừa sợ. Ở quê, người lớn hay kể những câu chuyện về Sài Gòn, thường là những câu chuyện cảnh báo về sự lừa gạt. Rằng ở Sài Gòn người ta ít có qua lại với nhau, nhà nào biết nhà nấy. Trong trí tưởng tượng của tui Sài Gòn là một nơi khá đáng sợ và phải hết sức cảnh giác. Sài Gòn cũng hấp dẫn tui bởi những ổ bánh mì thiệt bự thiệt dài thơm nức mùi bơ mà thỉnh thoảng trong xóm có người đi Sài Gòn mua về làm quà đem cho nhà tui một ổ ăn lấy thảo.

Chiều xuống, xe cộ nườm nượp và mỗi lúc lại đông hơn, tui cứ đi một bên lề vì không dám băng qua đường. Cứ vừa đi vừa chút chút lại ngó các biển hiệu coi mình tới đâu rồi chứ cũng không dám hỏi thăm nhiều. Tui không nhớ chính xác được tên đường và số nhà, phường tổ, chỉ mang máng nhớ nhà cô ở gần chợ Xóm Củi, cạnh cầu Chà Và. Cả ngày không ăn không uống gì, đói khát và mỏi rả rời nên càng lúc tui đi càng chậm hơn. Thành phố lên đèn, tui tới được chợ Xóm Củi. Đứng trước cái nhà bự chảng có cái biển tên chợ trên nóc tui mừng lắm vì biết mình gần lắm rồi. Rồi ngay sau đó tui hoảng hốt vì không còn biết đi lối nào nữa. Từ trưa đến giờ ít ra tui còn có một cái tên chợ Xóm Củi để hỏi thăm, giờ không còn biết phải hỏi thăm như thế nào nữa. Tui ngồi ở dạ cầu Chà Và, hoang mang, sợ hãi tăng lên khi trời mỗi lúc mỗi tối hơn. Vài người chạy xe ngang ngó nghiêng tui càng làm tui thêm sợ. Tui ngồi co rút người lại nhỏ nhất có thể, lấy cái bọc ni lông che phía trước để mong người ta đừng để ý đến mình.

“Đụ mẹ mày, chơi xong hổng trả tiền hả? Tao uýnh chết cha mày, thằng chó đẻ, thằng chó đẻ, mày đứng lại..”

Tui giựt mình vì tiếng la hét. Ngó sang bên thì thấy người đàn ông cởi trần chạy ra từ cái hốc nhỏ khuyết sâu vào trong lòng của dạ cầu, theo sau là một chị lớn tuổi áo không cài nút rượt theo, la hét chói lói. Tui mất hồn mất vía vội xách cái bọc lên bỏ chạy.

Chừng ngừng lại, tui không còn biết mình đang ở chỗ nào. Không dám hỏi đường để quay lại dạ cầu vì tui cảm thấy nó không còn an toàn nữa, cũng không biết phải đi đâu, cũng không dám ngồi vỉa hè để nghỉ chân. Tui bước lang thang, vô định. Tui cứ đi như vậy và không còn để ý đến biển hiệu tên đường coi mình đang ở đâu nữa. Nỗi sợ hình như đã biến mất, tui trống rỗng. Khuya dần. Đường phố ít người hơn. Tui chọn đi những con đường nhỏ nhỏ vì sợ chỗ đông người. Lang thang mãi đến lúc gặp một cái chợ ngay cạnh đường. Các sạp đã dẹp hết, trống trơn, không một bóng người. Tui an tâm rẽ vô, leo lên một cái sạp, chắc ban ngày người ta dùng để bán thịt vì mùi thịt sống bốc lên nồng nặc, tui dựa lưng vô cái cột ở góc sạp ngồi nghỉ rồi ngủ thiếp đi.

“Em ơi, ê, nhỏ ơi, nhỏ ơi!”

Tui thấy bàn chân mình có ai đó nắm lấy và tai mơ hồ nghe giọng của một người đàn ông văng vẳng, lấy hết sức lực tui đạp mạnh.

“Á.”

Tui lồm cồm bò dậy, tay quơ tìm cái bọc, dụi mắt rồi nhảy phắt dậy đứng trên cái sạp thủ thế để sẳn sàng bỏ chạy hoặc chiến đấu.

Người đàn ông bị tui đạp té ngồi bệt dưới đất đang lồm cồm đứng dậy.

“Ây ây, hổng có gì đâu, hổng có gì đâu, đừng sợ, đừng sợ. Tui thấy em nằm ngủ ở đây nên tui kêu tui hỏi thăm thôi.”

Tui dáo dác nhìn quanh, không thấy ai ngoài tôi và người đàn ông. Tui trừng trừng mắt nhìn người đàn ông, rồi lại đảo mắt nhìn quanh để tìm đường bỏ chạy vì nhắm thấy mình nhỏ xíu, không thể chống cự nếu anh ta túm được tui lần nữa. Tui nhận ra mình mắc một sai lầm nghiêm trọng khi chọn cái sạp quá gần mặt đường. Chắc lúc nãy tui mệt quá, thấy cái sạp thì leo lên ngồi nghỉ mà không tính đến việc ngủ quên và bị phát hiện. Nhìn ra đường, tui mong có người qua lại để có gì còn kêu cứu nhưng không có ai, không một chiếc xe nào chạy qua, chỉ thấy một chiếc xe đạp cũ dựng gần lề, tôi đoán của người đàn ông.

“Tui đi ngang qua thấy em nằm ở đây, tui ghé vô coi em có làm sao không sao lại nằm ngủ ở đây.”

Người đàn ông phủi phủi đít quần, dưới ánh đèn đường hắt vào, gương mặt người đàn ông gày gò, tầm ba mươi tuổi, giãn ra với nụ cười rộng, như thể để trấn an tui. Bớt sợ hơn, nhưng tui vẫn cảnh giác không trả lời, tui nhảy xuống khỏi cái sạp định bỏ đi.

” Nhỏ đói không? Anh có ổ bánh mì.”

Người đàn ông chỉ tay ra cái xe đạp. Rồi không đợi tui trả lời, anh nhanh chân bước ra dắt luôn cái xe vô dựng gần cái sạp, gỡ bọc bánh mì và bọc nước sâm treo trên ghi đông xe xuống, đoạn anh thót lên ngồi trên mặt sạp, đưa bọc bánh cho tui. Anh vỗ vỗ xuống mặt sạp thịt, gọi.

“Ngồi đây nè. Nhỏ ăn đi.”

Lúc này cái bụng tui bắt đầu kêu lên ro ro. Tui nửa muốn leo lên sạp ngồi và ăn bánh, nửa muốn bỏ đi. Nỗi sợ quay lại. Mấy bà mấy chị ở quê hay kể trên Sài Gòn này người ta hay dụ người bằng cách bỏ thuốc mê vô trong thức ăn nước uống. Như đọc được suy nghĩ của tui. Anh lấy cái bánh mì ra, bẻ đôi, cắn một miếng rồi đưa tui nửa còn lại. Anh uống một ngụm nước trong cái bọc rồi cũng đưa luôn cho tui. An tâm hơn nhiều và cũng quá đói khát, tui nhận nửa cái bánh và bọc nước, leo lên góc kia của cái sạp, ngồi xa anh ra để đề phòng, miệng lí nhí cảm ơn, rồi rón rén đưa miếng bánh lên miệng cắn. Người tui tan ra theo miếng bánh và ngụm nước sâm thơm thơm, ngọt lịm. Ở quê, nhà nghèo, hổng có mấy dịp tui được ăn những thứ này. Đói khát lắm nhưng tui không dám ăn nhanh, cứ cắn từng miếng nhỏ và cũng không dám nhai nuốt vội. Anh ngồi cười cười nhìn tui ăn rồi đưa luôn nửa cái bánh mì còn lại cho tui. Tui làm bộ lắc đầu như thể mình ăn chừng này là đủ. Tui vẫn không mở miệng nói gì, cặm cụi ăn.

“Nay anh đi làm về khuya, bữa nào anh cũng đi ngang qua đây.”

Tui gật đầu dạ lí nhí, chắc chỉ mình tui nghe thấy. Từ nhỏ, tui đã hầu như không nói chuyện, suốt ngày chỉ loanh quanh làm việc nhà xong thì rúc vào một góc đọc sách. Tui không biết nói chuyện. Con nít trong xóm không chơi với tui. Trong nhà tui cũng không chơi với các anh chị nhiều. Tui không thích nói vì cứ mỗi lần tui mở miệng ra thì bị người lớn đánh, quát mắng hoặc với bạn thì bị chúng giận. Thế giới của tui là sách, sách và chỉ có sách. Văn học, tiểu thuyết, triết học, tâm lý học, khoa học, chính trị…đống sách của ba, tui đọc láng không sót một chữ kể cả phụ lục, đọc đi đọc lại. Tui thích đắm chìm trong đó với những suy nghĩ của riêng mình hơn là phải giao tiếp với thế giới bên ngoài. Tui luôn bối rối không thể hiểu nổi người khác nghĩ gì, tại sao họ lại nói dối, tại sao họ lại cãi nhau, tại sao họ lại cử xử kỳ lạ, tại sao tui lại bị đánh bị ghét vì nói thật trong khi ai cũng dạy tui phải nói thật, tại sao những người quanh tui luôn nói dối và được tin, tại sao người ta nói một đàng làm một nẻo… Tui sợ chỗ đông người. Tui sợ luôn việc bị đụng chạm, sợ bị nhìn thấy. Tui chỉ muốn ở một mình và mơ ước lớn nhất là đừng ai nói gì hay đụng vô người tui.

“Nè, nhỏ ăn luôn đi.”

“Anh ăn đi. Em…no rồi.”

Mãi tui mới cất được một câu và đó là là lần đầu tiên tui nói dối. Cái bụng tui làm phản, nó lập tức sôi lên ót ót rất to, không giấu vào đâu được.

“Anh cũng chưa ăn tối, nhưng mà chắc là em đói hơn, nè ăn đi nhỏ.”

Tui xấu hổ, cầm nửa cái bánh mì, người giãn ra vì đã bớt sợ nhiều, nửa cái bánh mì thịt đã làm tui hồi sức.

Đợi tui ăn xong anh mới tiếp tục hỏi thăm tại sao lại ngủ ở thớt thịt, đi đâu, ở đâu để anh đưa về. Ngắc ngứ một hồi tui cũng nói được cho anh biết tui làm mất tờ giấy ghi địa chỉ và giờ thì không tìm được nhà cô mà cũng không biết đi đâu.

Anh nghe xong bèn lên kế hoạch.

“Giờ vầy, khuya lắm luôn rồi, em cứ ngồi đây nghỉ đi, anh ngồi đây với em. Chờ chút nữa trời sáng anh chở em về chợ Xóm Củi rồi đưa em đi mấy đường loanh quanh tìm thử coi có gặp nhà cô em không, hén?! Em có biết nhà cô em làm gì không? Có buôn bán gì không?”

Tui sực nhớ nhà cô có xưởng sản xuất bạc cây. Tui định lên nhà cô với hi vọng xin cô cho tui được làm việc ở xưởng. Có một người anh họ con chú bác ở gần nhà tui đã lên đây làm cho cô, thỉnh thoảng anh về mọi người nói chuyện tui nghe lỏm được.

“Sáng anh chở em đi vòng vòng khu đó hỏi thăm thì chắc là tìm được thôi. Nếu không tìm được anh sẽ chở em ra bến xe mua vé cho em về quê, nghen.”

Tui rụt người lại như bị điện giựt, lắc đầu, tự nhiên mắt ầng ậc nước. Tui ráng kềm để đừng sụt sịt đặng giấu đi không cho anh thấy mình sắp khóc.

“Nhỏ không cho anh lựa chọn. Nhiệm vụ của anh nặng hơn rồi. Anh sẽ kiếm được nhà cô cho em.”

Tui thở ra một hơi dài, nhẹ nhỏm. Hai anh em ngồi hai góc trên cái thớt thịt, thỉnh thoảng anh hỏi gì tui trả lời câu đó rồi lại im lặng cúi gằm mặt không dám nhìn.

Sáng, anh chở tui đi. Anh đưa tui đi ăn sáng ở một hẻm nhỏ. Tui ăn hết tô bún xào, uống một ly nước sâm mát lạnh, người tỉnh hẳn. Lúc này tui mới thấy đường xa vì chạy rất lâu mới tới được chợ Xóm Củi. Hết một buổi sáng thì anh chở tui tới một căn nhà trên một con đường nhỏ, phía trước nhà chất nhiều cây gỗ cao su đã được xẻ nhỏ, phía hè đối diện có phơi nhiều bạc cây. Anh và tui đều ngầm hiểu chắc là đúng chỗ rồi.

“Anh chờ ở đây. Em vô coi phải nhà cô em không.”

Tui ngần ngừ rồi bước vô nhà, cô tui và các anh chị em họ của tui đang cưa xẻ tiện bào gỗ giữa mịt mù bụi mạt cưa và tiếng máy ầm ĩ. Cô thấy tui thì giật mình xong hỏi thăm mấy câu rồi dắt tui lên căn gác xép bằng gỗ nhỏ xíu biểu tui nghỉ ngơi rồi nói chuyện sau. Tui cất bọc quần áo rồi xin phép cô chạy ra ngòai đường báo tin anh biết đã tìm đúng nhà rồi.

“Anh an tâm rồi, em ở đây hén, ít bữa anh ghé qua thăm.”

Quay vô nhà, cô tui đứng ở cửa nhìn ra, cau mày hỏi.

“Con nói chuyện với thằng nào vậy?”

“Dạ. Con lạc đường, ảnh chở con đi tìm về được tới đây.”

Cô không nói gì thêm. Trưa đó cô cho tui gọi điện thoại bàn về cho một nhà giàu trong xóm mà cô có số để nhờ báo tin cho nhà tui yên tâm. Tui ở lại làm việc ở xưởng, phụ xỏ bạc cây, học cưa, bào, tiện..

Sau một tuần, tui ngồi xỏ bạc cây ở hiên mà bụng cứ thắc thỏm trông anh ghé lại thăm tui như đã hẹn. Một buổi chiều muộn, tui đang loay hoay hốt mạt cưa, dăm bào vô bao tải thì cô vô kêu.

“Ngà, thằng hôm bữa nó qua kiếm.”

Tui mừng rỡ chạy ra. Anh ngồi trên cái xe đạp cũ ở lề đường, toe miệng cười khi thấy tui. Anh phủi phủi mớ mạt cưa dính trên đầu tui, hỏi thăm tình hình, luôn miệng cười biểu vậy tốt rồi tốt rồi. Nói chuyện chưa được mấy câu, cô tui nãy giờ vẫn đứng ở cửa ngó ra, kêu giật giọng.

“Ngà. Vô làm cho xong đi.”

Tui chào anh. Trước khi quay đi, tui khoe nhỏ với anh tui làm có lương, bữa sau anh ghé chắc tui có tiền mời anh ăn bún xào. Anh gật gật, hẹn tuần sau ghé qua thăm tui nữa. Tui chạy vô nhà thì cô tui nạt.

“Biết người ta là ai mà nói chuyện lâu vậy? Biết ở Sài Gòn này lừa gạt nhiều lắm không? Từ nay không có nói chuyện với người lạ nữa nghe hông.”

Tui quay đầu ra nhìn anh, biết chắc rằng anh đã nghe thấy, anh quay xe vội vã đạp đi. Tui muốn hét lên với cô rằng anh không phải người lạ. Anh không phải người lạ. Anh không như cô nghĩ. Nhưng một cái gì đó chặn ngang ngực tui, y hệt như những khi tui bị ông anh kế và đám trẻ con ở quê vu oan, làm tui không thể nói được thành câu. Tui ú ớ rồi cúi đầu. Tui muốn chạy theo anh nhưng anh đã chạy xa một đoạn. Lủi thủi quay vô nhà, tui thấy nước mắt mình rớt xuống đống mạt cưa hốt dở.

Anh không bao giờ quay lại thăm tui thêm lần nào nữa. Tui không biết tên anh.

….

Mình trích đăng một đoạn hồi ức trong cuốn sách đang viết dở. Như một lời tri ân những con người bình dị, nghèo khó mà đầy tình người ở Sài Gòn. Những con người dưới đáy xã hội thường xuyên bị những người khác luôn nhân danh một điều gì đó để xúc phạm, sỉ nhục và coi thường. Những ngày tháng này họ càng đang phải lắt lay, chịu đựng hơn bao giờ hết.

Mảnh đất này đã nuôi sống bao người và họ, chính những người ở tầng đáy xã hội lại là những người luôn xòe bàn tay mình ra khi gặp kẻ khó. Ai cũng dễ dàng bắt gặp cảnh một chị bán cà phê vỉa hè móc túi cho thằng nghiện hai chục ngàn mà không hề băn khoăn cân nhắc tiền mình cho nó sẽ đi về đâu. Họ bị coi là ít học, nhưng họ sống bằng đạo lý của đất trời chứ không phải bằng thứ đạo đức đầy khôn ngoan đã và đang được rao giảng khắp nơi. Phải hiểu đạo lý thì mới có thể hiểu được người Sài Gòn. Cái gì không hợp đạo lý thì chẳng tồn tại được mãi mãi. Đời người dài thăm thẳm chẳng phải mỗi một kiếp này.

Đêm qua ngồi thiền theo lời kêu rủ của đứa bạn qua Facebook, tui nguyện hồi hướng mọi công đức mà mình có cho tất cả, mặc dù tui không biết trong đời mình tui có mần được gì xứng đáng để gọi là công đức hay chưa. Đứa bạn đổ bệnh sau nhiều ngày chạy tới chạy lui chăm lo cho bá tánh. Nó bệnh vì nhiễm virus hay vì mệt hay vì mớ kẽm gai làm nó không còn đi được nữa? Có thể là vì tất cả. Nó vẫn ngồi thiền lúc chín giờ tối hằng ngày cho đến hết tháng để cầu nguyện bình an cho tất cả.

Nguyện cầu bình an và tỉnh thức cho tất cả.