Đồng Tâm là vụ án nhức nhối, đánh trực tiếp vào người nông dân giữ đất!

 

“Đồng Tâm là vụ án nhức nhối, đánh trực tiếp vào người nông dân giữ đất!”

Luật sư Trịnh Vĩnh Phúc, người bào chữa cho những người dân trong phiên phúc thẩm hôm 9-3 nhận xét như thế với phóng viên Đài Á Châu Tự Do.

“Vụ án Đồng Tâm là vụ án khó, vụ án buồn, vụ án nhức nhối, vụ án thách thức lương tri, vụ án làm đau lòng nhiều người, vụ án đánh vào người nông dân giữ đất, vụ án oan của dân oan…

Kết quả phiên toà phúc thẩm bác kháng cáo của sáu bị cáo, không chấp nhận các luận cứ bào chữa của 14 luật sư bào chữa, giữ y bản án sơ thẩm, tuyên hai anh em ruột Lê Đình Công, Lê Đình Chức án tử hình, con trai của ông Công là Lê Đình Doanh chung thân, 16 năm tù với cụ Bùi Viết Hiểu, 13 năm tù cho Nguyễn Quốc Tiến về tội “Giết người” và sáu năm tù cho bà Bùi Thị Nối về tội “Chống người thi hành công vụ”.

Những vi phạm về thủ tục tố tụng một cách rõ ràng và nghiêm trọng cùng những điểm mờ của vụ án vẫn bỏ ngỏ, đáng nói nhất là nghi vấn về nguyên nhân tử vong của ba viên sỹ quan Cảnh sát, cùng hiện trường vụ án vẫn không được làm rõ, Kế hoạch 419A của Công an thành phố Hà Nội vẫn nằm trong vòng bí mật…” – ông Phúc bày tỏ.

Xem toàn bộ bài viết ở đây –> http://bit.ly/2PhucthamDOngtam1

#RFAVietnamese #DongTam #VuanDongTam #Dongtamvillage

May be an image of 6 people, people standing and text that says 'RFA ĐÀIÁ CHÂU DO no " Đồng Tâm là vụ án nhức nhối, thách thức lương tri, đánh vào người nông dân giữ đất!" Luật sư Trịnh Vĩnh Phúc nhận xét sau phiên phúc thẩm'

Con Hoang

Con Hoang

Tôi cầm túi đồ ăn ném mạnh vào giỏ rác, nói như hét: “Đã nói má đừng có lên nữa, sao không chịu nghe vậy? Tiền nè, má về đi”.

Mẹ tôi run rẩy bước tới cạnh thùng rác: “Thôi, con không ăn thì má đem về… Tại má nhớ con quá thì lên thăm chớ má đâu có cần tiền. Mai mốt con về thì hết con nước rồi, má sợ không có cá ngon như vầy nữa…”

Tôi dịu giọng: “Sao má không chịu nhớ? Lâu rồi con đâu có thích ăn cá linh? Cá gì mà xương không…”. Mẹ tôi mở giỏ lấy ra túm bông điên điển: “Vậy má để lại cái này cho con nghen? Nước rút rồi nên bông cũng ít. Hôm qua má phải đi hái cả buổi mới được nhiêu đây”. Tôi thấy chạnh lòng nên gật đầu: “Má cứ để đó cho con. Thôi, má về đi, con phải đi làm đây”.

Tôi đứng nhìn theo mẹ bước thấp, bước cao khuất dần nơi đầu hẻm. Tôi để mẹ đi một mình vì không muốn người trong hẻm biết tôi có một người mẹ tật nguyền…

“Cô Tư què”,“bà Tư què”… là những tiếng mà tôi nghe người ta gọi từ khi tôi nhận biết sự bất thường của đôi chân mẹ.

Lớn lên một chút, tôi biết mẹ tôi bị tật cả hai chân từ lúc mới lọt lòng. Bà ngoại mất khi mẹ tôi mới 16 tuổi. Sống một mình giữa đồng nước mênh mông, một đêm mưa nọ, mẹ đã bị một gã đàn ông cùng xóm cưỡng hiếp. Kết quả là – tôi có mặt trên cõi đời này với bao nhiêu điều tiếng xấu xa.

Thế nhưng với mẹ thì ngược lại. Bà xem đó là món quà vô giá mà tạo hóa đã ban cho mình. “Má nói thật đi,ai là cha con?”. Không phải chỉ một lần, tôi hỏi mẹ câu đó. Nhưng lần nào cũng vậy, mẹ chỉ lặng im. Có lần tôi làm dữ thì mẹ nói: “Con biết thì cũng đâu có lợi ích gì mà còn làm cho gia đình người ta xào xáo. Thật lòng, má phải mang ơn người ta chớ thân má như vầy,ai mà thèm…”.

Tôi lớn lên như một cái cây non thiếu ánh sáng. Sau lưng tôi, người ta xầm xì: “Đồ con hoang”. Rồi đến những đứa bạn học cùng lớp cũng trêu chọc: “Đồ không cha”.

Mấy tiếng “con hoang” như một vết chém sâu hoắm vào tâm hồn non nớt của tôi. Không biết từ bao giờ, trong tôi chỉ còn lại sự căm ghét người mẹ tật nguyền của mình.

Trong mắt tôi – mẹ là một kẻ tội đồ vì đã sinh ra một đứa con mà không cho nó biết cha nó là ai…

Lên lớp 10, tôi ra thị xã học. Suốt những năm học cấp 3, tôi chỉ về nhà dịp hè và Tết dù từ nhà ra thị xã chỉ mất 30 phút đi xe máy.

Thằng Kiên con bác Ba Bảo ở cạnh nhà có nhiệm vụ “tiếp tế” cho tôi mỗi tuần. Có lần nó bảo: “Ê, sao mày không về thăm má mày? Tao thấy tội nghiệp má mày lắm. Hôm trước hình như bả bị bịnh đó”. Tôi có hơi băn khoăn nhưng rồi lại quên ngay. “Mày về nói với má tao là nhớ mua thuốc uống, lúc này tao bận học lắm nên không về được”. Thằng Kiên bĩu môi: “Mày đúng là con bất hiếu”.

Học hết lớp 12, tôi quyết định lên Sài Gòn. “Lên trên đó dễ kiếm tiền lắm”- chị Thu con bác chủ nhà tôi ở trọ bảo. Chị làm đầu bếp trong một nhà hàng lớn ở Sài Gòn, lương mỗi tháng cả chục triệu. Chị hứa sẽ đỡ đầu nếu tôi muốn lên trên ấy.

Mẹ tôi đã khóc cả đêm khi biết ý định này. “Con lên trên đó làm sao má đi thăm?”- mẹ tôi sụt sịt. Tôi nạt: “Ai cần má thăm? Má cứ ở nhà, con làm có tiền sẽ gởi về nuôi má”.

Vậy là tôi đi. 4 năm qua, tôi về thăm nhà đúng 1 lần. Mẹ tôi nhờ thằng Kiên dò la tin tức.

Biết chỗ tôi làm, nó gọi điện thoại trách: “Mày đúng là con bất hiếu. Nếu tao không gọi, chắc mày cũng im luôn. Má mày lo tới bịnh luôn đó”. Tôi bực vì cái tiếng “bất hiếu” của nó nên nạt: “Mày còn nói cái giọng đó nữa thì đừng có gọi điện cho tao nghe chưa”. Nói rồi tôi cúp máy.

Có lẽ – nó tức lắm nên dẫn mẹ tôi lên tận Sài Gòn tìm tôi. Dĩ nhiên là nó bị tôi chửi vuốt mặt không kịp. Mẹ tôi cũng bị vạ lây: “Còn má nữa, ai biểu má lên đây?”.

Thật sự thì đâu có ai biểu mà chỉ có tấm lòng, tình yêu của một người mẹ đã thúc giục mẹ tôi lặn lội đi tìm con. “Tại con không về nên má nhớ…”- mẹ tôi rưng rưng. Thấy vậy, tôi cũng không nỡ rầy la: “Thôi được, má muốn lên thì cứ lên; nhưng con nói trước là con không có về dưới nữa đâu”.

Từ đó, cứ vài tháng, mẹ tôi lại lặn lội từ Châu Đốc lên Sài Gòn thăm con. Thỉnh thoảng thằng Kiên rảnh thì lại đi cùng với mẹ.

Có lần nó đùa: “Ê, má bà đã hứa gả bà cho tui rồi đó nghen. Bà ở trên này đừng có lộn xộn”. Tôi không nhớ nó đã đổi cách xưng hô từ khi nào nhưng vừa nghe vậy đã đổ quạu: “Đừng có mơ. Tui không bao giờ trở về cái xứ đó. Mà ông cũng đừng có ăn nói bậy bạ”. Nó cười hì hì: “Giỡn bà thôi chớ cái thứ con cái không ra gì như bà,có cho tui cũng … không thèm lấy”.

Mọi chuyện sẽ không có gì nếu như tôi không tình cờ quen một người. Anh là trưởng phòng của một công ty lớn. Chân dung của tôi trong mắt anh là một đứa trẻ mồ côi, tự lập, tự bươn chải vào đời…“Anh yêu em vì những điều đó. Em là một cô gái đầy nghị lực”- có lần anh bảo tôi như vậy.

Tôi gọi điện cho Kiên: “Ông đừng có dẫn bà già lên nữa nghe chưa. Tôi nói với người ta là tôi mồ côi…”. Vừa nghe vậy, Kiên đã sừng sộ: “Bà ăn nói gì bất nhơn thất đức vậy? Má bà còn sống sờ sờ đó mà”. “Tui nói rồi, ông mà còn dẫn má tui lên là đừng có trách sao tui cạn tình nghen”- tôi nói dứt khoát.

Kiên còn dẫn mẹ tôi lên một lần nữa. Sau đó, hắn mất biệt. Mẹ tôi lại lặn lội đi một mình. Tôi bực bội ra tối hậu thư: “Má đừng có lên đây nữa, con khó ăn khó nói với người ta. Nếu má không nghe lời, con sẽ đổi chỗ ở, không cho biết số điện thoại luôn”.

Lần đó về, mãi 4 tháng sau mẹ tôi mới dám lên.

Đó chính là cái lần tôi đã vứt giỏ đồ ăn mà mẹ lụm cụm mang từ nhà lên cho tôi. Và vì giận mẹ không nghe lời nên tôi đã đổi chỗ ở và không thèm gọi điện thoại về nhà.

***

Cho đến một hôm, tôi bỗng thấy ruột gan mình bồn chồn. Tôi lục tìm số điện thoại của Kiên. Nhưng tôi tìm mãi mà chẳng thấy.

Bẵng đi một thời gian khá lâu, khi sắp xếp lại đồ đạc, tôi tìm được quyển sổ trong đó có ghi số điện thoại của Kiên. Tôi mừng quýnh vội gọi ngay.

Vừa nghe tiếng Kiên, tôi đã líu lo: “Xin lỗi nghen, tui bỏ mất số điện thoại của ông, giờ mới tìm được. Ông sao rồi? Khỏe không? Cưới vợ chưa hay là còn chờ tui?”.

Không nghe Kiên trả lời, tôi lại ghẹo: “Ê, bộ còn giận hả?”. Bên kia, giọng Kiên thật chậm: “Giận làm gì cái thứ không phải con người như bà”. Tôi chột dạ: “Làm gì mà nặng lời như vậy? Ông thấy má tui khỏe không?”.

Không có tiếng trả lời. Tôi sốt ruột: “Nói đi chớ, tốn tiền điện thoại của người ta…”. Kiên thủng thẳng: “Giỏi lắm thì bà cũng chỉ tốn tiền điện thoại một lần này chớ mai mốt có muốn tốn cũng không được…”. Tôi phát bực nên gắt: “Nói gì thì nói lẹ lẹ lên, không thôi tui cúp máy à”.

Lần này tôi không phải chờ lâu vì Kiên nói ngay: “Má bà mất rồi”. Tôi nghĩ là Kiên nói đùa: “Ê, hết chuyện giỡn rồi sao? Má tui đang mạnh sần, ông trù ẻo hả? Đồ xấu xa”. “Còn bà là đồ bất hiếu. Muốn biết thì về. Tui cúp máy đây”.

Giọng Kiên cụt ngủn. Hắn cúp máy thật. Tôi gọi lại, chuông vẫn đổ nhưng hắn nhất quyết không nghe máy.

Bán tín,bán nghi, hôm sau tôi chạy về…

Kiên không hề nói đùa. Mẹ tôi đã mất cách nay hơn 3 tháng. Trước đó, bà đã bệnh không ăn uống cả tuần…

Kiên kể với tôi, hôm đám tang mẹ tôi, trời mưa tầm tã. Những người đưa đám đều khóc khi thấy người đứng ra lo ma chay cho mẹ tôi lại là Kiên. “Tui có nhờ nhắn tin trên truyền hình, cả đăng báo nữa…”- giọng Kiên buồn buồn.

Tôi cúi đầu, không dám nhìn vào ảnh mẹ. Kiên đã nói đúng. Tôi không chỉ là một đứa con bất hiếu mà thậm chí, tôi cũng không đáng làm một con người.

Tôi có mẹ mà như một đứa con hoang…

May be an image of one or more people, people standing and text that says 'eenon w w afamily.vn'

KHÁM TỔNG QUÁT

KHÁM TỔNG QUÁT

Trầm Thiên Thu

 Sách Lê-vi, chương 13, đề cập 22 lần động từ “khám” – trong đó có 1 lần “tái khám.”  Đó là nói tới bệnh phong hủi ở con người.

 Sinh, Lão, Bệnh, Tử là “chuỗi khổ” của kiếp người.  Trong đó, Bệnh là thứ cần được chữa lành.  Điều đó cũng ngầm hiểu rằng sự sống vô cùng quan trọng.  Và dù cho có chữa khỏi bệnh nào đó thì rồi cũng chẳng ai thoát khỏi “cửa tử”, y học có tiến bộ tới đâu thì cũng phải “bó tay”, chịu thua vô điều kiện.

 Mùa Chay không chỉ là lúc thuận tiện để kiểm tra tổng quát về sức khỏe tâm linh, mà còn là Mùa Cứu Thương.  Mùa này không phải cố giành sự sống của thân xác – phần thể lý, mà cố giành sự sống linh hồn – phần tâm linh.  Trước tiên, có lẽ chúng ta cần đến Khoa Tai-Mũi-Họng để kiểm tra.  Trong sách Châm Ngôn 6:12-19, Thiên Chúa cảnh báo về Miệng, Lưỡi, Mắt, Tay, Chân, Tim và Óc (mưu tính).  Các cơ phận đó có vẻ đơn giản mà lại rất phức tạp!

 Khám tổng quát để biết chi tiết.  Biết chi tiết nào trục trặc thì chữa trị ngay bằng biệt dược cầu nguyện, sám hối và đền tội.  Tất nhiên cũng phải “ăn kiêng” để việc điều trị thêm hiệu quả.  Về thể lý, đó là kiêng cữ một số thực phẩm nào đó; về tâm linh, đó là việc ăn chay và hãm mình.  Bỏ cái nhỏ để được cái to, bỏ cái đời thường (hạ cấp) để được cái diễm phúc (cao cấp).

 Bệnh thể lý có thể chữa khỏi hoặc không thể khỏi, nhưng bệnh tâm linh chắc chắn được chữa lành nhờ Thần Y Giêsu.  Đây là một số câu Kinh Thánh cho chúng ta biết về hiệu quả của việc điều trị tại Nhà Thương Thiên Chúa:

 

1. Chúa tha cho ngươi muôn ngàn tội lỗi, thương chữa lành các bệnh tật ngươi.  Cứu ngươi khỏi chôn vùi đáy huyệt, bao bọc ngươi bằng ân nghĩa với lượng hải hà, ban cho đời ngươi chứa chan hạnh phúc, khiến tuổi xuân ngươi mạnh mẽ tựa chim bằng (Tv 103:3-5).

 

2. Người chữa trị bao cõi lòng tan vỡ, những vết thương, băng bó cho lành (Tv 147:3).

 

3. Ta sẽ mang lại cho nó một phương thuốc điều trị, sẽ chữa lành, sẽ tỏ cho chúng thấy một cảnh thái bình và một nền an ninh lâu dài (Gr 33:6).

 

4. Người gây thương tích, cũng chính Người băng bó, đánh bầm dập xong, lại ra tay chữa lành (G 5:18).

 

5. Tất cả những kẻ tiêu diệt ngươi sẽ bị tiêu diệt, mọi kẻ thù ngươi sẽ phải đi đày.  Mọi kẻ bóc lột ngươi sẽ bị bóc lột, và mọi kẻ cướp phá ngươi, Ta sẽ để cho bị cướp phá.  Phải, Ta sẽ phục thuốc cho ngươi, các thương tích của ngươi, Ta sẽ chữa lành vì người ta gọi ngươi là “Thành bị ruồng rẫy”, “Sion đó, kẻ chẳng được ai lo” (Gr 30:16-17).

 

6. Đức Giêsu đi khắp miền Galilê, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân (Mt 4:23).

 

7. Đức Giêsu ngó quanh để nhìn người phụ nữ (bị băng huyết mười hai năm) đã làm điều đó (sờ vào áo Ngài).  Bà này sợ phát run lên, vì biết cái gì đã xảy đến cho mình.  Bà đến phủ phục trước mặt Người, và nói hết sự thật với Người.  Người nói với bà ta: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con.  Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh” (Mc 5:32-34).

 

8. Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính.  Vì Người phải mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành (1 Pr 2:24).

 

9. Ai trong anh em đau yếu ư?  Người ấy hãy mời các kỳ mục của Hội Thánh đến; họ sẽ cầu nguyện cho người ấy, sau khi xức dầu nhân danh Chúa.  Lời cầu nguyện do lòng tin sẽ cứu người bệnh; người ấy được Chúa nâng dậy, và nếu người ấy đã phạm tội, thì sẽ được Chúa thứ tha.  Anh em hãy thú tội với nhau và cầu nguyện cho nhau để được cứu thoát.  Vì lời cầu xin tha thiết của người công chính rất có hiệu lực (Gc 5:14-16).

 

10. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ.  Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất (Kh 21:4).

 Khám tổng quát và biết bệnh rồi thì phải điều trị ngay, càng sớm càng tốt.  Kinh Thánh xác định: “Người công chính phải có lòng nhân ái” (Kn 12:19).  Chính Thiên Chúa kê toa cho mỗi chúng ta: “Hãy trở về với Đức Chúa và từ bỏ tội lỗi, hãy cầu khẩn trước nhan Người và giảm bớt dịp tội.  Hãy đoạn tuyệt với gian ác, trở về cùng Đấng Tối Cao, và cực lực gớm ghét mọi điều ghê tởm” (Hc 17:25-26).

 Với người phụ nữ ngoại tình (Ga 8:2-11), loại “bệnh” mà chúng ta thường coi như chứng nan y, dạng ung thư bất trị, thế mà Thần Y Giêsu chữa khỏi ngay chỉ bằng một liều thuốc đơn giản: “Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!” (Ga 8:11).

 Thần Dược thật tuyệt vời biết bao!  Thần Dược đó là “thương tình tha thứ.”  Loại biệt dược này vừa rẻ vừa hay.  Rẻ vì không tốn phí tức giận, ghen ghét, thù hận.  Hay là có hiệu quả mau chóng.

 Nhà Thương Thiên Chúa là bệnh viện đa khoa, nhưng vẫn chuyên trị bất cứ chứng bệnh nào – kể cả các chứng nan y.  Hãy an tâm đến khám, hoàn toàn miễn phí cho mọi người – dù nghèo hay giàu.  Chỉ cần một chút “chi phí tùy tâm” là lòng thành tín (chân thành và tin tưởng).  Thế thôi!  Bệnh viện đa khoa nhưng có vô số “phòng khám tư” là Bí tích Hòa Giải, sau đó sẽ được bồi bổ bằng Bí tích Thánh Thể.

 Nhà Thương Thiên Chúa tiếp nhận mọi bệnh nhân, dù nặng hay nhẹ.  Thời gian làm việc suốt ngày suốt đêm (24/7).  Hãy đến mau, đặc biệt trong Mùa Cứu Thương này: Mùa Chay.

Đêm Mùa Chay, 10-3-2019

Trầm Thiên Thu

Đêm Mùa Chay, 10-3-2019

Nỗi đau sẽ không dứt nếu không biết tại sao đau

Nỗi đau sẽ không dứt nếu không biết tại sao đau

Bởi  AdminTD

Trần Trung Đạo

9-3-3021

Ảnh tư liệu

Em học sinh Việt Nam nằm gối đầu lên cặp sách, im lìm như đang ngủ trưa trong một bức hình đăng trên một tờ báo Mỹ. Các nhân viên y tế cứu thương chỉ vì quá thương xót mà tưởng như em còn biết đau nên đặt đầu em cao trên chiếc cặp vậy thôi. Không, em không ngủ trưa, em chết rồi. Em là một trong 32 học sinh (báo Hòa Bình đăng con số là 23), trường tiểu học Cai Lậy, Định Tường, bị Việt Cộng pháo kích chết lúc 2:55 trưa ngày 9 tháng 3, 1974.

Em bị giết chỉ hơn một năm trước ngày chấm dứt chiến tranh để từ đó dân tộc Việt Nam chịu đựng 46 năm trong độc tài đảng trị đến hôm nay.

Ai giết 32 em học sinh trường tiểu học Cai Lậy, Định Tường?

Các em chết vì đạn pháo kích của Việt Cộng. Vâng. Nhưng đa số tuổi trẻ VN sinh ra và lớn lên sau 1975 không biết sự thật đó.

Các em chỉ được nhồi sọ về cái chết của “10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc.”

Ngã ba Đồng Lộc thuộc xã Đồng Lộc, Hà Tĩnh, nằm trên con đường chiến lược nối vào dãy Trường Sơn nên trong thời chiến thường bị Mỹ ném bom. Ngã ba Đồng Lộc gắn liền với chuyện 10 nữ thanh niên xung phong bị bom của Không lực Hoa Kỳ ném trúng ngay miệng hầm. Tiểu đội gồm 10 cô gái trẻ. Tất cả đều cùng quê hương Hà Tĩnh và đều chết tức khắc. Người nhỏ nhất là Vũ Thị Hà chỉ mới 17 tuổi.

Ai giết 10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc?

Nếu hỏi 100 em học sinh Việt Nam, thì đúng 100 em sẽ trả lời do bom của “Đế quốc Mỹ.”

Nhưng nếu không có “đế quốc Mỹ” rồi 10 cô gái ở Ngã ba Đồng Lộc và hàng triệu thanh niên miền Bắc vô tội có chết hay không?

Nếu hỏi 100 em học sinh Việt Nam, thì đúng 100 em sẽ trả lời “Không.”

Thật ra, không có Mỹ các cô gái thanh niên xung phong đó cũng có thể chết. Nếu không chết tại Ngã Ba Đồng Lộc rồi cũng một ngã ba khác, một con đường khác, một thôn làng Việt Nam khác.

Số phận Việt Nam vốn đã nằm trong sinh tử lệnh của Mao và các lãnh đạo CS Trung Hoa không chỉ trước Điện Biên Phủ, sau hiệp định Geneve, hiệp định Paris, biến cố Hoàng Sa, Trường Sa mà ngay từ đầu thập niên 1920 khi đảng CSVN còn đang thai nghén trong nhận thức của Hồ Chí Minh.

Đường lối chiến tranh của Mao trong bài phát biểu tại Diên An: “Nhiệm vụ trung tâm và hình thức cao nhất của cách mạng là chiếm lấy quyền lực xuyên qua đấu tranh võ trang và giải quyết xung đột bằng chiến tranh. Đây là nguyên tắc cách mạng của chủ nghĩa Mác Lê-nin, và phải được thực hiện một cách toàn diện tại Trung Quốc và toàn thế thế giới.”

Đường lối đó chi phối toàn bộ chính sách của đảng CSVN. Quan hệ giữa hai đảng CS Việt Nam và Trung Quốc có khi nắng khi mưa, khi ấm khi lạnh nhưng đường lối đó chưa hề thay đổi.

Đáp ứng lời yêu cầu của Hồ Chí Minh trong chuyến thăm viếng Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ từ ngày 22 tháng 6 đến 22 tháng 7 năm 1955, các đảng CS đó đã bắt đầu gởi súng đạn ồ ạt đến miền Bắc Việt Nam. Tổng số viện trợ quân sự Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác giúp cho Hà Nội là 2 triệu 362 ngàn 581 tấn, trong đó bao gồm một danh sách dài của các loại vũ khí, từ 3 triệu 600 ngàn khẩu súng cá nhân cho đến 458 máy bay chiến đấu và hàng vạn đại pháo, hỏa tiễn nhiều loại.

Tài liệu đó không phải được trích dẫn từ các “thế lực thù địch” hay “thành phần phản động” nào mà là tài liệu của Viện Lịch sử Quân sự Hà Nội.

Trong tác phẩm Trung Quốc lâm chiến: Một bộ bách khoa (China at War: An Encyclopedia) tác giả Xiaobing Li liệt kê các đóng góp cụ thể của 320 ngàn quân Trung Cộng trong chiến tranh Việt Nam:

“Mặc dù đang mạnh dần, Trung Quốc vẫn lo ngại sự hiện diện ngày càng mở rộng của Mỹ tại Đông Nam Á. Trong chiến tranh Việt Nam giai đoạn năm 1964 đến năm 1973, quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đã can thiệp một lần nữa. Tháng Bảy năm 1965, Trung Quốc bắt đầu đưa quân vào Bắc Việt, bao gồm các đơn vị hỏa tiễn địa-không (SAM), phòng không, làm đường rầy xe lửa, công binh, vét mìn, hậu cần. Quân đội Trung Quốc điều khiển các giàn hỏa tiễn phòng không, chỉ huy các đơn vị SAM, xây dựng và sửa chữa đường xá, cầu cống, đường xe lửa, nhà máy. Sự tham gia của Trung Quốc giúp cho Việt Nam có điều kiện gởi thêm nhiều đơn vị Bắc Việt vào Nam đánh Mỹ. Giữa năm 1965 và năm 1968, Trung Quốc gởi sang Bắc Việt 23 sư đoàn, gồm 95 trung đoàn, tổng số lên đến 320 ngàn quân. Vào cao điểm năm 1967, có 170 ngàn quân Trung Quốc hiện diện.”

Từ năm 1955 và nhất là từ 1959, khi giới lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam quyết định mở đường Trường Sơn “giải phóng miền Nam bằng phương tiện võ lực,” số lượng cố vấn Mỹ tại miền Nam cũng chỉ là những nhóm nhỏ và tập trung vào việc bảo vệ và xây dựng căn nhà dân chủ vừa được dựng lên.

Hơn bao giờ hết, các nền dân chủ non trẻ tại Á Châu cần sự giúp đỡ của thế giới tự do. Cũng vào thời điểm đó, các nước Cộng Hòa ở châu Á như Mã Lai, Nam Hàn, Singapore, Đài Loan đang vượt qua quá khứ thực dân hay chiến tranh Quốc Cộng để vươn lên cùng nhân loại. Trên cánh đồng miền Tây nước Việt, trên bến cảng Singapore, trong nhà máy ở thủ đô Seoul, những con người với niềm hy vọng mới đang hăng hái dựng lại căn nhà mới.

Niềm hy vọng của nhân dân miền Nam Việt Nam vừa lóe lên đã vụt tắt vì đảng CSVN quyết định chiếm Việt Nam Cộng Hòa dù phải “đốt cháy cả dãy Trường Sơn” như Hồ Chí Minh đã tuyên bố.

Người bình thường chỉ biết nhìn một biến cố từ hậu quả nhưng người có ý thức phải hiểu tận nguyên nhân, bởi vì mọi việc xảy ra trên đời, mọi sự vật có mặt trên đời đều có nguyên nhân.

Cả 32 em học sinh trường tiểu học Cai Lậy, Định Tường và 10 người chị Việt Nam của các em chết ở Ngã Ba Đồng Lộc chỉ chết vì một nguyên nhân: Tham vọng CS hóa toàn cõi Việt Nam của lãnh đạo CSVN và CS Quốc Tế.

Ảnh tư liệu

Dù có Mỹ hay không có Mỹ, dù bằng phương tiện hòa bình hay khủng bố thì chủ nghĩa cộng sản độc tài chuyên chính vẫn phải được thiết lập trên toàn cõi Việt Nam. Mục tiêu đó đã được đóng khung tô màu từ trong đề cương thành lập đảng CSVN 1930.

Do đó, không ai khác mà chính các lãnh đạo CSVN và CS Quốc Tế đích thực là thủ phạm đã giết 2.5 triệu dân Việt Nam trên hai miền Nam Bắc trong đó có 10 cô gái thanh niên xung phong ở Ngã Ba Đồng Lộc và 32 em học sinh tiểu học Cai Lậy, Định Tường.

Giờ phút này, tôi tin rằng, trong căn phòng nhỏ ở Virginia, trong căn gác hẹp ở Paris, Santa Ana, Sydney, Berlin… bên những ngọn đèn heo hút ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn, hàng ngàn người Việt Nam quan tâm đến tiền đồ dân tộc vẫn còn canh cánh bên lòng một câu hỏi chưa tìm được cách trả lời trọn vẹn “Tại sao sau 46 năm CSVN vẫn còn tồn tại?” Bởi vì dân tộc ta yếu hèn, phân hóa? Bởi vì đảng CSVN còn quá mạnh? Bởi vì cả hai lý do trên?

Thật ra, dân tộc ta không yếu hèn và đảng CS cũng không quá mạnh, nhưng chính vì các thành phần có khả năng thúc đẩy sự chuyển hóa xã hội không có một nhận thức và tầm nhìn đúng về bản chất của cuộc chiến Việt Nam.

Sau 46 năm, một bộ phận không nhỏ người dân Việt Nam vì bị tẩy não nên chưa nhận ra hay chỉ vì bàn tay dính máu đồng bào nên không đủ can đảm thừa nhận nguồn gốc sâu xa của cuộc chiến.

Không hiểu đúng tại sao chủ nghĩa CS đến Việt Nam sẽ không có một cách thích hợp để đẩy chủ nghĩa CS ra khỏi Việt Nam. Và tương tự, không hiểu đúng quá khứ sẽ không có hành động đúng vì tương lai đất nước.

Nỗi đau của dân tộc Việt Nam sẽ không dứt nếu không biết tại sao đau.

Việt Nam: Xử phúc thẩm vụ Đồng Tâm, tòa y án tử hình 2 bị cáo (RFI)

 

Việt Nam: Xử phúc thẩm vụ Đồng Tâm, tòa y án tử hình 2 bị cáo

Hôm nay, tại Hà Nội, trong phiên xử phúc thẩm 6 bị cáo trong vụ án « giết người » xảy ra ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, ngày 09/01/2020, hội đồng thẩm phán đã ra phán quyết y án án tử hình đối với hai bị cáo, và y án tù với những người khác.

Phiên tòa phúc thẩm vụ Đồng Tâm, mở hôm qua 08/03/2021, dự kiến sẽ diễn ra trong ba ngày, nhưng đã chấm dứt ngay chiều hôm nay, 09/03, sớm hơn dự kiến một ngày. Hội đồng thẩm phán ra phán quyết vào lúc 18 giờ, giờ Việt Nam.

Vụ án Đồng Tâm được công luận trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm. Tháng 9/2020, Liên Hiệp Châu Âu đã phản đối Việt Nam về hai bản án tử hình trong phiên xử sơ thẩm, và lưu ý những điều kiện và thủ tục tố tụng của phiên tòa « làm dấy lên quan ngại sâu sắc về tính minh bạch và công bằng của phiên tòa ».

Sau đây là nhận định của luật sư Ngô Anh Tuấn, một người tham gia bào chữa cho các bị cáo trong phiên tòa hôm nay, ngay sau khi phán quyết được đưa ra : …

Người Đi, Linh Hồn Ở Lại -Tuấn Khanh

Người Đi, Linh Hồn Ở Lại –

Tuấn Khanh

Chúng tôi chọn những ngày cuối năm để leo lên ngọn đồi lịch sử Charlie, bởi vào lúc này thời tiết không quá khắc nghiệt để lần mò được đến nơi. Mang theo trong chuyến đi, những thứ quan trọng nhất là rượu, hoa và nhang: quà cho những người mà thế hệ chúng tôi chưa từng biết mặt.

Máu xương người Việt…

Khác với việc thắp nhang ở nghĩa trang quân đội Biên Hòa, nay nằm trong địa phận tỉnh Bình Dương, đường đi nghĩa trang không khó nhưng lại phải chịu sự dòm ngó và hạch hỏi của nhóm gác cổng do công an địa phương cắt đặt, còn đường đi đến đồi Charlie chỉ có núi rừng, vài tấm bảng chỉ đường phủ đầy bụi đỏ. Thi thoảng trên đường có bắt gặp vài người dân tộc Jarai hay Sedang.

Thầy An Trú, đến từ Huế, đang thắp nhang và cầu nguyện cho những linh hồn trên ngọn đồi Charlie

Charlie là một chóp đồi cao nằm giữa ba huyện Sa Thầy, Đắk Tô và Ngọc Hồi, thuộc tỉnh Kon Tum. Đường đi đến đó cheo leo và trắc trở. Chúng tôi đoán là trước năm 1975, hầu hết cuộc chuyển quân đều dựa trên không vận mới có thể nhanh và an toàn. Người Việt trong vùng gọi là Sạc-Li, dựa theo âm tiếng Anh, mà trong chiến tranh Việt Nam, cứ điểm cao 900m so với mặt nước biển được quân đội đặt tên, tạo thành tuyến phòng thủ và quan sát khu vực ngã ba Đông Dương. Nơi đây còn là vùng bảo vệ cho sân bay quân sự Phượng Hoàng và bản doanh bộ Tư lệnh Hành quân Sư đoàn 22 Bộ binh ở Tân Cảng của miền Nam.

Việc đặt tiểu đoàn 11 nhảy dù Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trấn giữ ở đồi Charlie là một sự khó chịu vô cùng đối với quân Bắc Việt, vì mọi cuộc chuyển quân ở ngã ba Đông Dương hay từ Bắc vào, qua ngã này, đều có thể bị phát hiện. Cho nên, trong cuộc tổng tiến công năm 1972 của quân đội Bắc Việt, cùng với một phần của Mặt trận Giải phóng miền Nam, đồi Charlie là mục tiêu cần phải bị xóa sổ. Cái gai cần phải nhổ cho đường tiến quân thuận tiện từ Tây Nguyên xuống đồng bằng miền Nam.

Nhóm đi viếng chụp hình lưu niệm trước ngã ba đường – một bên là đồi Charlie cứ điểm 1015 và một bên là cứ điểm Delta 1049

Mùa hè 1972, người ta gọi đó là mùa hè đỏ lửa. Đỏ lửa là bởi sự nóng bức của thiên nhiên, cộng thêm súng đạn bay khắp nơi trong một cuộc tương tàn nhân danh giải phóng của chủ nghĩa cộng sản. Không có số liệu chính xác nào nói về thương vong của cả hai bên ở đồi Charlie, nhưng dựa trên phần sử liệu được công bố thì phía Việt Nam Cộng Hòa có tiểu đoàn 11 Song kiếm Trấn ải (tạm tính khoảng hơn 600 người) đối đầu với quân của sư đoàn 320 Bắc Việt (tạm tính khoảng gần hơn 7,000 người), chưa kể phía lực lượng Mặt trận Giải Phóng Miền Nam không được công bố, thì con số ít nhất thiệt mạng sau khi máy bay B-52 bỏ bom rải thảm tái chiếm, những thanh niên Việt Nam của cả hai bên thiệt mạng, ít ra cũng phải là 4,000 đến 5,000 người trong trận đó.

Điều đó, có nghĩa rằng chuyến đi mất gần ba tiếng di chuyển lên đến đỉnh đồi của chúng tôi, nơi đâu cũng có máu xương người Việt. Từng viên đá, từng khúc quanh, từng ngọn cây… chắc đều giữ lại phần bí mật nhất chưa bao giờ được kể lại về số phận không chỉ của từng con người, mà của một dân tộc phải chịu điêu linh vì cuộc chiến tranh màu lý tưởng cộng sản.

Ngọn đồi Charlie xanh mướt và lặng lẽ giữa thông xanh, trời mây và gió se sắt lạnh. Đầu ngõ vào cầu treo dẫn đến chân đồi, chính quyền địa phương đến hôm nay cũng chưa dám ghi rõ ràng về cuộc chiến này, mà chỉ đơn giản là “Di tích lịch sử của điểm cao 1015 Charlie và 1049 Delta” – khác với giọng điệu thường đắc thắng và kiêu ngạo sau 1975, khi mà những di tích thường có thêm các tấm bia ngợi ca sự anh dũng của quân đội Bắc Việt. Nhưng ở Charlie, mất mát quá lớn có thể là điều nhà cầm quyền ngại ngùng không muốn nhắc tới. Hàng năm không chỉ có những chuyến xe từ Bắc vào Charlie để viếng người thân sinh Bắc tử Nam, mà chính người miền Nam đứng trên ngọn đồi ấy cũng ngậm ngùi: Ai, điều gì… đã xô đẩy khiến cho máu xương Việt Nam chia lìa và chôn vùi thảm khốc đến vậy?

Đường dẫn vào chân đồi Charlie với tấm bảng do nhà cầm quyền dựng nên nhưng mô tả sơ sài

“Đi thăm ông Trung tá Bảo à?”

Chúng tôi đi xe máy, sáu người chở nhau và tận dụng mọi sức lực tay chân để có thể đến đỉnh đồi, trước khi trời sụp tối. Có đoạn phải vừa nổ máy xe, vừa đẩy, có đoạn vứt bớt đồ lại vì quá mệt, mang vác không nổi. Đoạn đường vừa tạm hết lầy sau mùa mưa, lại khô, trơn và nhiều ổ gà và đá vụn. Mọi người trong đoàn có lúc mệt đến mức hoa mắt, tay chân bủn rủn, thở không được vì không khí ngày càng loãng. Anh B., người khỏe nhất trong nhóm, có lúc đứng lại chắp tay và cầu nguyện “Đã đến được đây, mấy anh phải giúp tụi em đến nơi thắp hương mời rượu cho mấy anh”.

Đã 45 năm rồi. Những ngôi mộ, nếu có, thì giờ cũng đã um tùm cỏ lau. Thịt xương cũng đã là rêu bụi. Chiến địa đã trở thành rừng xanh bao phủ trên núi, ôm kín mọi nỗi lòng. Đó là chưa nói nhiều thế hệ đã đi qua, không biết, hoặc bị tuyên truyền bóp méo tin tức về những người lính Việt Nam Cộng Hòa ở đây. Vậy mà mấy lần, gặp một người Jarai hay Sedang, thấy chúng tôi hồng hộc thở trên đường, họ cười thân thiện và hỏi “đi thăm ông Trung tá Bảo à?”.

Lạ lùng. Sao họ lại biết Trung tá Bảo nhỉ? Thậm chí bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có tên Người ở lại Charlie cũng không nhắc gì về tên của người chỉ huy tiểu đoàn Song kiếm Trấn ải này. Dù sau khi tử trận ở Charlie, Trung tá Nguyễn Đình Bảo (1936-1972) được truy phong đại tá, nhưng dân trong vùng vẫn nhớ về một vị Trung tá, giữa hàng ngàn người đã gửi lại hình hài ở nơi này.

Người ở lại Charlie

Trận chiến Charlie diễn ra trong một tuần, dữ dội. Quân đội Bắc Việt được điều động tiến vào Nam, số trang bị và nhân lực được kể là gấp sáu lần quân Việt Nam Cộng Hòa trấn giữ. Một người lính miền Nam phải chống cự với 6-7 người lính miền Bắc. Pháo kích và tiến công biển người diễn ra cấp tập trong ba ngày đầu. Đạn pháo kích đã khiến Trung tá Nguyễn Đình Bảo tử trận vào ngày thứ hai (12-4-1972), các chỉ huy nối nhau thay quyền kiểm soát cũng tử trận liên tục.

Không chỉ tấn công mà mục tiêu của sư đoàn 320 còn là tiêu diệt cho được tiểu đoàn Song Kiếm Trấn Ải (theo nhà văn Phan Nhật Nam thì sau trận đồi Charlie, tiểu đoàn này mất 400 quân nhân) nên quân Bắc Việt bao vây và chặn đường mọi ngã. Thậm chí súng phòng không Bắc Việt còn được chuẩn bị để ngăn không cho trực thăng tiếp viện. Sau khi không còn đạn dược và lương thực, những quân nhân Việt Nam Cộng Hòa còn lại đã rút lui, nhường đường cho tốp máy bay B-52 bỏ bom hủy diệt toàn bộ phần Sư đoàn 320 đang tràn lên ở đây. Charlie phút chốc thành bình địa, kể cả những bộ đội từ Bắc vào, cho đến những thân xác còn nằm lại của những quân nhân Việt Nam Cộng Hòa.

Mọi nỗ lực tấn công hao tổn về con người và súng đạn của phía quân chính quy Bắc Việt hoàn toàn thất bại. Có lẽ vì vậy mà trong wikipedia Việt ngữ nói về Sư đoàn 320, chiến sử Charlie đã không được ghi lại cũng như cũng cố ý không nhắc tới, trong các mục viết ca ngợi danh tiếng của Sư đoàn này.

Nói về trận đánh đó, vùng đất đó, nhà văn Phan Nhật Nam có viết trong bài Người ở lại Charlie: “Bi kịch không riêng đối với những người lính Tiểu Đoàn 11 Dù, qua lần đi khuất của Cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo – Nhưng cũng là bi kịch của mỗi thân phận Người Miền Nam hiện thực qua hy sinh xả kỷ của Người Lính, sự chịu đựng âm thầm của Người Vợ-Đứa Con Người Lính. Nỗi Đau kia hằng mới vì Nỗi Đau Luôn Là Nỗi Đau Chung, cùng với những dấu tích kỳ diệu miên viễn của Tình Yêu trong đời sống trần thế giới hạn của nhân sinh”. (trích)

Cuối năm 1972, quân đội Việt Nam Cộng Hòa có tổ chức dựng bia tưởng niệm trên đỉnh đồi để tưởng các quân nhân đã hy sinh trong cuộc chiến, và ghi nhớ nơi tử trận của Đại tá Nguyễn Đình Bảo. Nhưng rồi sau 1975, chính quyền địa phương theo lệnh từ Hà Nội đã cho đập phá tất cả. San bằng mọi thứ. Nhưng đáng ngạc nhiên, là chính nhà cầm quyền Bắc Việt cũng không hề dựng bất kỳ bia tưởng niệm nào cho hàng ngàn người lính của họ đã thiệt mạng ở nơi này.

Mãi cho đến giữa thập niên 1990, những đoàn thân nhân từ miền Bắc vào để viếng, nơi con em của họ đã để lại tuổi xuân trên ngọn đồi Charlie mới góp tiền cùng nhau dựng một bàn thờ, hương khói. Còn về những người miền Nam, không biết ai đó đã ùn một đống đất, tựa như một gò nhỏ, hay có thể là một nấm mộ tượng trưng cho những ai lên thắp hương cho Đại tá Nguyễn Đình Bảo và những quân nhân Việt Nam Cộng Hòa. Và dù rất khiêm tốn, không có bia hay chữ ghi chú nào, nhưng mọi người đều biết nếu thắp nhang cho những người miền Nam, thì đến đó.

Từ đỉnh đồi Charlie nhìn bao quát xuống phía dưới. Tháng Tư năm 1972, hàng ngàn quân Bắc Việt giấu mình để từ đó tấn công lên đỉnh đồi

Giải oan cho cuộc biển dâu này

Khi cả nhóm loay hoay trên ngọn đồi, lúc chiều xuống đậm rồi, vẫn không biết là nơi nào để hướng đến, thì chính một người trẻ tuổi địa phương bất ngờ có mặt xuất hiện trên đó chỉ giúp, “nơi của ông Bảo”, hay nơi để viếng những người cùng ông ngã xuống, cũng vậy.

Hương bay theo gió, những cánh hoa vàng phất phơ trên cỏ. Tôi chợt nhớ đến phần cuối trong Đồi gió hú của Emily Bronte, rằng “dưới những cành hoa phất ấy, những người nằm dưới nấm mộ ấy có thật sư yên nghỉ không?”. Không có ai trả lời tôi suy nghĩ đó, chỉ có tiếng gió rít qua từng hồi như tiếng thở than.

Con đường xuống núi nguy hiểm và khó khăn hơn cả lúc đi lên, vì chung quanh là bóng tối, đường lầy với cát khô và đầy khúc quanh dốc xuống thẳng đứng. Nhưng bên cạnh chuyện việc lo lắng đi ra, ai cũng mang theo một cảm giác kỳ lạ. Trận chiến Charlie lại sống động như mới hôm qua, những người Việt Nam nổ súng vào nhau như vẫn còn nghe tiếng đạn bay. Rừng núi âm u như vẫn chực chờ những cái chết vô định. Chúng tôi cảm nhận được hết mọi thứ và ngồi lại, kể với nhau khi ra đến bên ngoài.

Ký ức thường rồi dần sẽ phai mờ, sự khốc liệt của chiến tranh, máu và nước mắt rồi cũng khô cạn. Nhưng anh hùng tử, khí hùng bất tử, cái chết vì chính nghĩa bảo vệ miền đất tự do của những thanh niên miền Nam Việt Nam quyết bảo vệ vùng đất của mình vẫn được nhớ đến, vẫn phảng phất trong hương gió núi vùng Dakto, trong lời hát, bất ngờ hiện ra vào chiều sẩm tối ở đồi Charlie, khiến chúng tôi gai người – sự linh thiêng của núi sông là đây, của cha anh là đây, của nghịch cảnh tương tàn vì tham vọng cơ đồ là đây.

V., một người trong nhóm thắp hương trên đỉnh đồi vào lúc chiều tà, từng người trong nhóm đi viếng đều có lời cầu nguyện riêng của mình trong phút giây thiêng liêng đó

Đi trong đoàn có hai sư thầy trẻ, vừa là bạn tín ngưỡng, vừa là người đồng chí hướng. Nhang được đốt lên, hoa được đặt xuống mặt đất bằng. Chai rượu trắng được rót xuống cùng những lời cầu nguyện khác nhau. Anh V., đứng thẳng dáng gầy, tay chắp nhang ngang mày im lặng. Sự tôn nghiêm của anh làm hơi rượu như nồng hơn, sẻ chia như những vần thơ của Tô Thùy Yên:

Ta về như lá rơi về cội

Bếp lửa nhân quần ấm tối nay

Chén rượu hồng đây xin rót xuống

Giải oan cho cuộc biển dâu này

Giờ thì không có ai là kẻ thù, cần diệt trừ và không có nơi chốn nào, cần phải bị giải phóng. Chỉ có những con người nằm lại với nhau, xương thịt nằm lại trên cùng một mảnh đất, cùng ngửa mặt lên bầu trời đêm của ngọn đồi Charlie để thấy thương đau là tên gọi chung của tất cả. Tất cả thịt xương Việt Nam đã đến, đã hư không, chỉ còn linh hồn ở lại.

Chắc chắn rồi chúng tôi sẽ trở lại, rót rượu cho mọi người, không phân biệt là ai. Vì như có một lời hứa âm vang trong tim với những con người đã đến, thân xác ra đi nhưng linh hồn mãi mãi ở lại Charlie. Những người anh em Việt Nam đã chết trên đất nước, đem lại những điều quý giá. Có những người dạy cho thế hệ sau biết chính nghĩa quốc gia là gì, và có những người lại dạy cho chúng tôi biết cuộc tương tàn ấy đau đớn thế nào trong tham vọng chủ nghĩa.

Tháng 12-2020

Tuấn Khanh.

TRUYỆN NGẮN – Tiểu Tử…XÍU…

 

TRUYỆN NGẮN – Tiểu Tử…

XÍU….

Nàng là người Việt gốc Hoa. Tên nàng là Trịnh Tiểu Mi, một cái tên rất… “tài tử Hồng Kông”. Mà thật sự, nàng cũng có nét tài tử Hồng Kông, bởi vì nàng đẹp. Ở nhà gọi nàng là “A Xíu”, một cái tên có âm thanh thật dễ thương. Và cũng hạp với con người của nàng: nhỏ nhỏ thon thon, cân đối gọn gàng như con búp-bế.

Gia đình nàng có nhà ở Chợ Cũ Sàigòn.Tầng dưới là cửa hàng bán cà phê đã rang rồi, cà phê hột và cà phê xay đủ loại. Hai tầng trên để ở và sân thượng là nơi rang cà phê.

Nàng là con gái duy nhứt của gia đình, lại là đứa con út nên được cưng như trứng mỏng. Hai người anh đã có gia đình, đã “ra riêng”, cũng bán cà phê nhưng ở tuốt trong Chợ Lớn.

Ngày ngày, nàng phụ “mà má” đứng bán cà phê. Khách hàng tới mua nườm nượp, nhất là giới trai trẻ. Cà phê được pha trộn và rang theo lối thủ công gia truyền, ngon có tiếng. Bán đắt đã đành nhưng cửa hàng đông khách, có lẽ phần lớn tại vì nàng duyên dáng dễ thương ! Bằng cớ là thiên hạ nói “Cà phê A Xíu” chớ không ai nói “Cà phê Hối Ký” là bản hiệu của cửa hàng !

…Chàng là người Việt “chánh cống”, quê ở Cần Thơ. Chàng thuộc gia đình nông dân, ba đời làm ruộng. Chàng tên là Bảy vì là thứ bảy. Dáng vóc chàng cao ráo, “đô” con, nhưng tánh tình thì trầm lặng ít nói, còn có vẻ… lù đù nữa ! Vì vậy nên hồi đi lính quốc gia, bạn đồng đội “gắn” cho hỗn danh “thằng Bảy Lù”.

Hồi thời trước, nhờ bà con quen lớn sao đó mà chàng được về làm việc văn phòng ở tổng tham mưu. Chàng mướn một căn gác nhỏ ở khu cổng xe lửa số 6 để ở, rồi ngày ngày đi làm bằng xe đạp. Chàng không đủ sức mua Honda nên lúc nào cũng thấy đi xe đạp, cho dầu phải đạp xa cách mấy…

Chàng và nàng gặp nhau lần đầu trong bữa tiệc cưới của một người bạn chung. Chú rễ này cố tình sắp cho họ ngồi cạnh nhau, cùng bàn. Bởi vì khi giới thiệu, anh ta nói : “Đây là Tiểu Mi, người đẹp Chợ Cũ. Chưa có kép nào được lọt mắt xanh của nàng hết. Mày liệu thử thời vận coi ra sao.

Còn đây là thằng Bảy, bạn cùng đơn vị. Nó hơi cù lần nhưng dễ thương như một tờ giấy trắng. Anh sắp nó ngồi cạnh Tiểu Mi để nó… hầu Tiểu Mi đó nghen !” Nàng nhìn chàng, mỉm cười mà hai vành tai đỏ ửng. Chàng gật đầu, nói lí nhí : “Hân hạnh…”. Vậy rồi họ quen nhau…

Về đơn vị chàng giới thiệu “cà phê A Xíu”. Mấy xếp lớn xếp nhỏ uống thử, khen ngon. Sau đó, cứ vài hôm là chàng đạp xe xuống Chợ Cũ mua cà phê giùm mấy xếp. Nhờ vậy, họ thân nhau. “Pà-pá , mà-má” của Xíu cũng mến “thằng Bảy”, nên thường nói : “Tội nghiệp thằng nhỏ ! Đạp xe lên xuống mua cà phê hoài mà không nghe than một tiếng”.

Rồi họ được phép đi chơi với nhau. Đi xe đạp, mỗi đứa một chiếc, chạy song song. Những lúc đi như vậy, chỉ có mình nàng nói, còn chàng thì mỉm cười lắng tai nghe, lâu lâu góp vào vài câu, nhưng góp đúng lúc. Nàng thích chàng ở chỗ tế nhị đó. Còn chàng thì thích nghe nàng nói, nói bất cứ chuyện gì. Bởi vì giọng nói của nàng đã dễ thương mà cách nàng nói càng dễ thương gấp bội.

Vậy rồi họ yêu nhau lúc nào không biết ! Họ chưa từng nói “yêu nhau” nhưng họ biết họ yêu nhau. Bởi vì họ nói tình yêu bằng đôi mắt và họ nghe lời yêu bằng tất cả con tim…

Một hôm -chàng nhớ hoài cái hôm đó, đến bây giờ vẫn còn nhớ rõ, và có lẽ mãi mãi về sau … ờ… mãi mãi về sau … chắc chẳng bao giờ quên- hai đứa hẹn nhau đi chơi, Xíu nói : “Em để xe đạp ở nhà. Đi chơi mà đạp xe song song cứ phải nhìn qua ngó lại, sợ té sợ đụng, có khi quên bẵng đi mình đang nói cái gì … thành ra mất đi cái thú đi chung với nhau”.

Rồi nàng nghiêng nghiêng đầu nhìn chàng, cười cười : “Em muốn anh chở em đi, được không ?”. Chàng sung sướng, gật đầu. Nàng ngồi lên pọt-ba-ga, hai chân buôn thõng một bên, một tay nắm lấy phía sau yên xe. Dáng nàng ngồi thong dong thoải mái. Chàng đạp xe, nghe nhẹ phiêu phiêu. Một lúc, chàng hỏi

– “Xíu ngồi có được không ?”.

Nàng trả lời:

– “Được chớ anh”. Rồi tiếp: “Anh thấy không? Mình đi chung một xe như vầy, nói chuyện với nhau có phải thích hơn không ?

Dĩ nhiên, anh ngồi phía trước, em phía sau, mình không nhìn nhau được trong khi nói chuyện. Nhưng mình đâu cần nhìn nhau mà mình vẫn thấy nhau phải không anh ?”.Chàng nghe mát cả lòng.

Chàng gật đầu rồi nhấn mạnh lên bàn đạp cho xe đi nhanh nhanh như để nói lên niềm phấn khởi ! Rồi đột nhiên chàng nói, lời lẽ không biết từ đâu tuôn ra :

– “Xíu à ! Chở Xíu đi như vầy, có phải đạp suốt ngày, suốt tháng, suốt năm… anh cũng đạp nổi.”

Nàng cười sung sướng, đưa tay véo hông chàng một cái. Sao nàng thèm cắn người yêu thật đau cho hả “cái gì đó” đang căng đầy lồng ngực…

Từ đó, có đi chung thì luôn luôn chàng đèo nàng sau xe…Dễ thương quá là tình yêu của Bảy và Xíu !

Vậy rồi có ngày 30 tháng tư 1975… Phải có ngày đó, để đổ nát được cách mạng đề cao. Phải có ngày đó, để hoang tàn được cách mạng xem là thành tích. Miền Nam giống như nùi giẻ rách, nhờ đã được giải phóng hoàn toàn !

Hai người anh của Xíu đã đưa vợ con di-tản. Pà-pá, mà-má và Xíu ở lại buôn bán lai rai, chờ coi có “làm ăn gì được không”. Cửa hàng bây giờ thâu gọn lại chỉ còn có hai thùng kiếng nhỏ đặt phía trước. Bảng hiệu đã được gỡ xuống cất trên sân thượng. Mấy dụng cụ rang cà phê được chất ngổn ngang trong một góc, giống như đồ phế thải. Làm như vậy để thấy cái vẻ nghèo nàn, làm ăn khó khăn…

Bảy học tập ba hôm rồi về làm thợ phụ cho bác Năm thợ hồ ở cùng xóm. Chàng có “xẹt” qua Chợ Cũ thăm người yêu mấy lần. Bây giờ họ không còn thì giờ để đi chơi với nhau bởi vì ai cũng bận rộn bởi các buổi hội họp, học tập, khai báo, đi mết tinh v.v… là những thứ sanh hoạt rất cần thiết để đưa nhân dân lên làm chủ (Nhà Nước nói như vậy). Thành ra mỗi lần họ gặp nhau, họ coi thời gian quý như vàng ! Có lẽ vì vậy mà bây giờ họ nhìn nhau nhiều hơn là họ nói chuyện với nhau…

Thời gian sau, chánh quyền “đánh tư sản mại bản”.Gia đình Xíu không tránh khỏi “đại nạn” này. Những người “cách mạng” xong vào nhà ngang nhiên và hùng hổ như một bọn cướp. Họ “bươi” từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới, từ trước ra sau, từ sau ra trước… giống như gà bươi đống rác. Gặp gì kiểm kê nấy. Vậy rồi… hốt hết ! Mà-má và Xíu chỉ biết ôm nhau mà khóc, còn Pà-pá thì ngồi trên ghế xích-đu, xích tới xích lui hút thuốc, nín thinh.

Sau “trận” đó, nhiều người nhảy lầu tự tử. Nghe thấy như vậy, Pà-pá nói: “Làm như vậy đâu có giải quyết cái gì ? Tụi nó còn cười, nói mình ngu ! Từ từ rồi tính nữa.” Trong khi chờ đợi pà-pá “tính nữa”, mẹ con Xíu ngồi xổm trên vỉa hè bán giò-cháo-quẩy bánh tiêu…

Bây giờ, Bảy vẫn đạp xe xuống thăm Xíu. Lần nào cũng được nàng cho một cái bánh. Chàng ngồi xổm một bên, ăn. Không đói, nhưng vẩn ăn. Và ăn thấy ngon !

Cách mạng không…”quản lý” được thời gian nên thời gian vẫn đi qua, ngạo nghễ. Thiên hạ lần lượt đi chui-cũng gọi là “vượt biên” -Phần đông đi bằng đường biển. Có người đi thoát, có người bị bắt. Những người đi thoát, có khi mất tích, có khi bị cướp. Dầu vậy, đi chui cũng đã trở thành gần như là một phong trào !

Thấy mỗi người vượt biên phải đóng nhiều cây vàng cho người tổ chức, cán bộ cách mạng “nhào ra làm ăn”. Họ cũng tổ chức đi chui, nhưng là một loại đi chui không sợ bị bắt vì có chánh quyền … hộ tống. Vì vậy, thiên hạ gọi là “đi chui bán chánh thức” ! Người Tàu được ưu tiên đi bằng cách này. Cho nên họ đi ồ ạt…

Một hôm, được thơ hẹn của Xíu, Bảy xin nghỉ việc buổi chiều, đạp xe xuống “Con Rùa” đường Duy Tân, đợi. Một cô gái chở Xíu tới bằng Honda, gật đầu chào Bảy, đợi Xíu bước xuống rồi quay xe đi vội vã. Xíu mặc áo dài trắng, tóc được cột túm lại sau ót. Nhìn đôi mắt mọng đỏ của người yêu, Bảy linh cảm có một cái gì không ổn. Bảy hỏi: “Có chuyện gì vậy, Xíu ?”. Nàng không trả lời, nhưng nói giọng trống rỗng: “Anh chở em đi. Đi đâu cũng được”.

Đợi nàng vén vạt áo ngồi vững vàng lên pọt-pa-ga, chàng mới đạp xe đi. Đi chầm chậm, đi thẳng. Lần này, Xíu không nắm phía sau yên xe. Xíu vòng một tay ôm lấy nửa người của Bảy. Lần đầu tiên được bàn tay thon nhỏ của người yêu đặt lên bụng mình, Bảy thật xúc động. Chàng đạp xe mà tưởng chừng như trên đường phố chỉ còn lại có hai đứa…

Một lúc sau, Xíu mới nói: “Pàpá cho phép em đi chơi với anh từ giờ tới năm giờ chiều”. Rồi nàng nghẹn ngào: “Đi với nhau lần cuối”. Bỗng nàng chồm tới, vòng cả hai tay ôm chặt lấy người yêu, úp mặt lên lưng chàng, khóc ngất. Chàng nghe rớt ra từng tiếng rời rã trên lưng:

– “Tối … nay … em … đi …”.

Mồ hôi bỗng vã ra như tắm, nhưng Bảy vẫn còn tỉnh táo để đặt một bàn tay lên bàn tay người yêu bóp nhẹ. Cử chỉ đó làm Xíu không kềm được nữa. Nàng vừa khóc lớn vừa giúi giúi mặt lên lưng người yêu, mạnh thật mạnh- Làm như nàng muốn chui hẳn vào người của chàng để hai đứa chỉ còn là một, để nước mắt và mồ hôi của hai đứa hòa quyện với nhau cùng chung niềm thống khổ, để đừng thấy đừng nghe đừng biết gì gì nữa, chết lịm đi cho cuộc tình khép lại, vĩnh viễn khép lại… Tội nghiệp ! Rồi ngày mai, rồi mãi mãi, cuộc đời này còn ý nghĩa gì nữa đâu ?

Hai người vẫn đèo nhau đi… Đầu óc trống rỗng. Chẳng còn nói được với nhau chuyện gì hết. Và chắc cũng chẳng còn biết phát âm là gì nữa ! Niềm đau quá lớn đã làm cho họ như người câm. Hai người câm…

Xíu vẫn ôm lấy người yêu, áp một bên má lên cái lưng chắc nịch của người yêu, quên mất rằng đây là lần đầu tiên Xíu chạm vào người của Bảy ! Lâu nay, mặc dầu yêu nhau tha thiết, họ chỉ dám nắm tay nhau thôi, và nắm tay nhau chỉ có mấy lần. Xíu nhắm mắt, tưởng chừng như thời gian đang ngừng lại. Nàng bỗng nghe rõ hơi thở, nghe rỏ nhịp tim của Bảy, những thứ mà lâu nay nàng chưa từng nghe. Mũi nàng bỗng hửi được mùi mồ hôi, hửi được mùi da thịt của Bảy, những thứ mà lâu nay nàng chưa từng dám nghĩ tới. Nàng bỗng nghe hơi ấm từ người của Bảy chuyền sang người nàng âm thầm nhưng rõ rệt, thứ cảm giác dìu dịu lân lân mà lâu nay nàng chưa từng được biết. Nàng bỗng nhận thức rằng người yêu nàng là đây, còn hiển hiện trong vòng tay. Rồi sẽ không bao giờ được như vầy nữa. Bởi vì đây là lần đầu và cũng là lần cuối, lần cuối… Thương xót quá ! Nàng siết chặt người yêu với tất cả sức mình mà nước mắt trào ra không dứt…

…Rồi Bảy cũng phải đưa Xíu về. Chàng vừa thắng xe, chống chân xuống đất, nàng đã đứng xuống chạy ù vào nhà. Tà áo dài trắng của nàng lất phất vài cái như vẫy chào lần cuối trước khi khuất sau cánh cửa. Bảy chống tay lên ghi-đông, đầu gục xuống giữa hai vai. Chàng có cảm giác như mình đã kiệt sức…

…Xíu đi rồi, ngày nào Bảy cũng đạp xe đi long bong. Không biết đi đâu, cứ đạp chầm chậm, đạp hoài. Khát, thì tấp vô uống cái gì đó. Đói, thì tấp vô ăn đại cái gì đó. Ăn gì uống gì, không cần để ý tới nữa.

Vậy mà Bảy cũng đạp tới cái công viên nhỏ mà hai đứa thường hẹn nhau. Chàng dựng xe cạnh chiếc băng xi măng mà hai đứa thường ngồi, rồi bước lại ngồi giống như ngày xưa chàng vẫn ngồi để đợi nàng tới. Nhưng bây giờ thì chàng ngồi một mình, ngồi thật lâu. Và không biết tại sao lại phải ngồi như vậy !

Rồi lại đạp xe đi loanh quanh. Không cần biết đi đâu… Vậy mà Bảy cũng đi đến “Con Rùa” đường Duy Tân, chỗ hai đứa thường đến ăn kem, uống nước dừa. Chàng dựng xe rồi lại ngồi lên bệ gạch, chỗ quen ngồi để đợi nàng đến. Chỗ đó nhìn thẳng xuống sau lưng nhà thờ Đức Bà, nàng luôn luôn đi từ hướng đó đi lên, hướng mà bây giờ chàng nhìn đâm đâm, nhìn mãi…

Vậy mà Bảy cũng đi đến con đường Đinh Tiên Hoàng, khúc rộng thênh thang dẫn dài xuống bờ sông. Hai đứa thường đi bộ ở đó vì đường vắng và mát. Đường đó bây giờ vẫn vắng và mát, Bảy dẫn xe đi bộ chầm chậm như ngày xưa…

Rồi Bảy còn đến nhiều nơi nữa : sở thú, vườn Tao Đàn, con đò Thủ Thiêm, chùa Vĩnh Nghiêm, quán thạch chè Hiển Khánh… Những nơi những chốn mà hai đứa, ngày xưa, đã từng đến một lần, hai lần, nhiều lần. Không biết cái gì đã đưa đẩy chàng đi như vậy ?

Bảy không biết rằng mình đang đi lượm những mảnh vụn của cuộc tình. Nếu không có cái “ngày cách mạng thành công”, thì cuộc tình đó đã không bị đập tan thành mảnh vụn… Để thấy cái gọi là “cách mạng thành công” đã thật sự thành công trong nhiệm vụ phá tan đập nát tất cả những gì của miền Nam, kể cả những gì nhỏ bé nhứt tầm thường nhứt như tình yêu của chàng trai và cô gái đó !

Chuyện không nói Xíu có đi được đến bờ đến bến nào không. Điều mà người ta biết là có vài chiếc tàu “đi chui bán chánh thức” bị chìm vì gặp sóng to gió lớn. Việt cộng đã cho đi bằng loại tàu gần như phế thải, không còn đủ tiêu chuẩn vượt đại dương.

Nhưng chuyện nói rằng Bảy vẫn đạp xe đi loanh quanh, hết ngày này qua tháng khác. Và bây giờ Bảy hay đứng ở bờ sông Sàigòn, nhìn xa xâm rất lâu để chỉ gọi thầm có hai tiếng : “Xíu ơi…”.

May be an anime-style image of text

Khi Tổng Thống Trump Cố Tình Giảm Nhẹ Tác Hại của Dịch COVID-19…

Van Pham

Chính phủ không có quyền dấu, cũng không có quyền lèo lái tin tức, dân chúng có trình độ bằng với tổng thống, nhiều người có học hơn tổng thống thì tổng thống vin vào điều gì mà quyết định thay cho họ?

***

Khi Tổng Thống Trump Cố Tình Giảm Nhẹ Tác Hại của Dịch COVID-19…

Nguyễn Đạt Thịnh

Hôm Thứ Sáu, 6 Tháng Ba, 2020, Tổng Thống Trump đến thăm Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Bệnh Dịch (Centers for Disease Control and Prevention), thường được gọi tắt là CDC.

Phóng viên truyền thông mô tả thái độ của ông Trump là tìm cách giảm thiểu mức độ nguy hại kinh tế của dịch COVID-19 bằng cách không chủ trương hủy bỏ các dịch vụ cần làm, cũng không hủy bỏ thú vui đi du lịch, miễn là không đến các khu vực bị nhiễm bệnh.

Ông Trump bận tâm đến một góc khác của dịch COVID-19, đó là Virus Corona không chỉ giết người, mà nó còn đang tạo ra tình trạng suy thoái kinh tế trầm trọng đến mức đáng ngại. Giá dầu thô xuống đến mức $40 một thùng.

Việc tổng thống kêu gọi người dân Mỹ đừng hốt hoảng trước cơn dịch COVID-19 đang giết hàng ngàn người cũng là một hiện tượng lạ; tối thiểu ông cũng đã chứng kiến cảnh người Mỹ không hốt hoảng trước việc khủng bố đánh sập Trung Tâm Thương Mại New York, giết hơn 3 ngàn người; hoặc việc không quân Nhật đột kích Trân Châu Cảng, đánh chìm hoặc gây nguy hại trầm trọng cho 19 chiến hạm, tàn sát 2,335 thủy thủ, và gây thương tích cho 1,143 thủy thủ khác. Sau cuộc đột kích đó hải lực của Mỹ trên Thái Bình Dương như tê liệt hẳn.

Tuy nhiên, phản ứng của người Mỹ không phải là thái độ hốt hoảng, họ tái thiết một Trung Tâm Thương Mại khác, lớn hơn, đẹp hơn, trong lúc quân đội Mỹ đánh tan tổ chức khủng bố, hạ sát thủ lãnh Bin Laden, tấn công quân lực Nhật, bắt Nhật Hoàng ra tận chiến hạm Mỹ để ký hàng ước.

Người Mỹ không chết nhát, họ đã từng đối phó với những nguy hiểm to lớn hơn, nhưng họ không đi du lịch vào thời điểm này; họ sẽ giải quyết được chuyện học vấn cho con cái họ, mà không cần bắt đám trẻ gặp nhau hàng ngày, chịu đựng cái nguy cơ lây lan đã được chứng minh là rất cao.

Hãng điện tử Microsoft, và nhiều công ty khác, đang cho toàn bộ thầy, thợ, nhân viên của họ hưởng quy chế làm việc tại gia để giúp tránh bớt nguy cơ lây lan.

Một nhân vật khác, đi ngược ý của tổng thống, và tuyên bố quan điểm của mình là nữ Bác Sĩ Nancy Messonnier, giám đốc Trung Tâm Quốc Gia về Chủng Ngừa và Bệnh Hô Hấp, cơ quan này nằm trong CDC Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Dịch Bệnh.

Trưa 25 Tháng Hai, 2020, vào lúc ông Trump đang ngồi trong chiếc Air Force One từ New Delhi bay trở về Hoa Kỳ, thì bà Messonnier nói với các phóng viên truyền thông là cuộc sống của người Mỹ đang thay đổi một cách quan trọng.

Nguyên văn lời bà, “Tôi bảo các con tôi là phải chuẩn bị để đón nhận nhiều thay đổi quan trọng, trường học có thể sẽ phải đóng cửa, nhiều cuộc họp quan trọng sẽ bị hủy bỏ, nhiều công ty có thể sẽ cho nhân viên làm việc tại nhà.”

Bà tiên đoán những điều quan trọng đó từ hai tuần trước, nên quần chúng coi bà như một viên chức thức thời và đặt nặng việc thông báo đầy đủ, kịp thời và tuyệt đối không giấu giếm.

Bác Sĩ Messonnier quan niệm, “Tôi có bổn phận thông báo cho quần chúng biết, những điều tôi đã thông báo cho gia đình tôi biết. Vấn đề không phải là tiên đoán xem dịch COVID-19 có lây lan tới Hoa Kỳ hay không, mà vấn đề là tiên liệu xem dịch COVID-19 tác hại tới mức nào.”

Chuyện bà Bác Sĩ Messonnier họp báo và cảnh cáo người Mỹ về nguy cơ COVID-19 xảy ra cùng ngày khi ông Trump từ Ấn trở về nước. Ông không hài lòng về những điều bà nói, mà hậu quả khiến ông bị khiển trách là thiếu tinh thần trách nhiệm.

Thị trường chứng khoán xuống giá, các đài truyền hình, các tờ báo lớn phổ biến, phân tích quan niệm của Bác Sĩ Messonnier. Vừa đáp xuống phi trường quân sự Joint Base Andrews, ông Trump đã gọi ông Alex M. Azar II, Bộ trưởng Y Tế, Xã Hội.

Ông Trump quát tháo trong máy điện thoại, hỏi hỏi ông Azar II là tình hình nguy ngập đến đâu mà bà Messonnier đã nói đến chuyện đóng cửa trường học. Azar II còn lúng túng với tổng thống thì nữ bác sĩ thứ nhì, bà Anne Schuchat, phụ tá bộ trưởng Y Tế, đã lên tiếng.

Bà Schuchat nói, “Trung tâm tàn phá của dịch COVID-19 đang chuyển ra ngoài lãnh thổ Trung Quốc, số người đang nhuốm bệnh bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc nhiều hơn bệnh nhân người Hoa trong nước họ. Do đó vấn đề COVID-19 trở thành quan trọng hơn.”

Tình trạng bất đồng quan điểm giữa tổng thống và những viên chức y tế không phải là chuyện mới xảy ra; trong thời gian tổng thống công du bên Ấn Độ, giới y tế đã thảo luận và thỏa thuận với nhau, là ngày ông ta trở về họ sẽ đặt vấn đề là cần nói thật với quần chúng về tình trạng nguy kịch mà con vi khuẩn COVID-19 có thể gây ra cho người Mỹ.

Bác Sĩ Messonnier là một trong những người chủ trương không che giấu; bà thường bênh vực quan điểm của mình bằng câu “không có giá trị nào, quyền lợi nào quan trọng hơn sinh mạng của bệnh nhân.” Việc bà công bố 12 ngày trước là việc “trường học có thể sẽ phải đóng cửa” là việc hiện đang xảy ra; thì còn trách cứ gì bà nữa.

Một tình trạng thông tin ngay thẳng, không giấu giếm, và rành mạch, rõ rệt là bổn phận của chính phủ đối với quần chúng. Tháng trước truyền thông Mỹ đã chỉ trích Bắc Kinh thiếu bổn phận thông tin đầy đủ đối với dân Trung Quốc.

Chính phủ không có quyền dấu, cũng không có quyền lèo lái tin tức, dân chúng có trình độ bằng với tổng thống, nhiều người có học hơn tổng thống thì tổng thống vin vào điều gì mà quyết định thay cho họ?

HÌNH:

– Tổng Thống Trump hôm 6 Tháng Ba ký thông qua ngân sách $8 tỷ để nước Mỹ đối phó với dịch COVID-19. (Hình: MANDEL NGAN/AFP/Getty Images)

May be an image of 1 person

Những người đàn bà Việt Nam không chấp nhận im tiếng

Van Pham  is with Grace Bui 

Những người đàn bà Việt Nam không chấp nhận im tiếng

(Grace Bùi viết cho ngày Phụ Nữ Thế Giới, March 8, 2021)

Lê Tuấn dịch….

Ngay trước nửa đêm ngày 6 tháng 10, 2020, cảnh sát ập đến

chỗ ở trọ của cô Phạm Thị ĐoanTrang, một nhà văn, nhà báo, và tranh đấu nhân quyền nổi tiếng tại Việt Nam. Chính quyền bắt giữ cô dựa theo điều 88 của bộ luật Hình Sự 1999 về tội “tạo ra, tàng trữ, tung ra, hay loan truyền những tin tức, tài liệu tuyên truyền và những bài viết chống lại Nước Cộng Hòa Xã hội Việt Nam.” Cô có thể bị phạt tù tới 20 năm.

Điều đáng chú ý là Phạm Đoan Trang bị bắt chỉ một vài giờ sau khi Hoa Kỳ và Việt Nam chấm dứt cuộc đối thoại hàng năm lần thứ 24 về Nhân Quyền. Trang hiện đang bị biệt giam chờ ngày ra tòa. Từ hôm đó, không ai trông thấy Trang hay nghe thấy tin tức gì về Trang, kể cả luật sư của cô.

Đáng tiếc là trường hợp của Trang không phải là trường hợp duy nhất. Mặc dù đã tạo được những thành công trên bình diện quốc tế về những đóng góp cho nhân quyền, tự do báo chí, phong trào ủng hộ dân chủ, Trang và các phụ nữ tranh đấu trong nước thường bị sách nhiễu, bắt giam và xử án tù dài hạn.

Vào ngày 24 tháng 6, 2020 cảnh sát tông cửa vào nhà bắt bà Cấn Thị Thêu dù không có lệnh truy nã. Thêu đã từng là nạn nhân của việc lấn chiếm đất và là nhà tranh đấu về chủ quyền đất đai. Bà đã bị sách nhiễu nhiều lần trước khi bị bắt, lần này là lần thứ ba. Hiện nay bà đang bị giam biệt lập. Hai người con trai của bà, Trịnh Bá Tư và Trịnh Bá Phương cũng đã bị bắt. Chỉ có chồng bà, ông Trịnh Bá Khiêm, không bị cầm tù.

Cùng sáng sớm hôm đó, Nguyễn Thi Tâm, một người đã đệ đơn thỉnh cầu về đất đai và tranh đấu nhân quyền, cũng bị cơ quan an ninh bắt cóc lúc đi chợ ở gần nhà. Cả 4 người này đều bị kết tội dưới điều luật số 117.

Theo hồ sơ của Dự Án 88, cho đến ngày 2 tháng 3, 2021, đã có 83 phụ nữ tranh đấu ở trong tình trạng nguy nan, kể cả 28 người đang bị giam giữ về tội phát biểu về các vấn đề nhân quyền và dân chủ. Đã có 9 phụ nữ bị bắt trong năm 2020, 4 trong năm 2019. Số người bị bắt tăng gấp đôi trong năm 2020, và hầu hết những phụ nữ này bị kết tội đã phát biểu ý kiến của của mình trên mạng xã hội.

Việt Nam trấn áp những sự chống đối một cách rộng lớn, thường xuyên cấm đoán các tù nhân chính trị liên lạc với gia đình hay luật sư, không được xử trên tòa một cách công bằng và không được săn sóc sức khỏe đầy đủ khi bị giam.

Việc quy vào những phụ nữ tranh đấu này như chủ đích còn nêu lên những lo ngại về cách đối xử với các phụ nữ, gia đình và con cái của họ, nhất là những đứa trẻ. Việc bắt bớ và sách nhiễu những phụ nữ có con nhỏ còn có những ảnh hưởng lớn đến vấn đề tâm thầm của cả mẹ lẫn con, như lời nhà nhân quyền Trần Thi Nga đã phát biểu trong cuộc phỏng vấn với Dự Án 88 sau khi được tha.

Dựa theo khoản 1(b) của điều luật 67 của bộ luật Hình Sự 2015, “Một phạm nhân đang có thai hay có con nhỏ dưới 36 tháng có thể được hoãn thi hành bản án cho tới khi đứa bé đủ 36 tháng.” Tuy nhiên chính quyền Việt Nam không tuân theo luật lệ của chính họ một cách thường xuyên.

Đoàn Thị Hồng bị bắt vào ngày 2-9-2018, dù không bị khép tội hay có lệnh truy nã và gia đình cô không biết cô ở đâu trong một thời gian rất lâu. Hồng chỉ có hai mẹ con, đứa bé mới 30 tháng vào lúc cô bị bắt và giam biệt lập một năm. Trong thời gian đó, gia đình cô, kể cả đứa bé gái, đều không được phép vào thăm.

Huỳnh Thị Tố Nga, một chuyên viên phòng thí nghiệm, cũng là một bà mẹ không chồng với 2 đứa con, trong đó có một bé dưới 30 tháng tuổi lúc cô bị mật vụ bắt cóc. Cô bị bắt đi ngày 29-1-2019 tại ngay nhà thương chỗ cô làm việc. Gia đình không có tin tức gì về cô trong vòng mấy tuần lễ. Sau khi Nga bị bắt, gia đình cô quyết định không lên tiếng nữa và cũng không ủng hộ cô vì sự hăm dọa của nhà cầm quyền.

Đinh Thị Thu Thủy, một phụ nữ độc thân, có con, là người bị bắt sau cùng. Thủy bị bắt vào ngày 18-4-2020, dưới khoản 117 vì tội “tạo ra, tàng trữ, tung ra hay loan truyền những tin tức, tài liệu và những bài viết chống lại Nước Cộng Hòa Xã hội Việt Nam.”

Theo lời kết tội, Thủy bị cho là đã tạo ra một số chương mục trên Facebook để loan ra nhiều bài viết đánh sai lạc đường lối của chính quyền và nhục mạ các giới chức lãnh đạo. Cô cũng còn bị kết án là chỉ trích các biện pháp của đảng Cộng Sản trong việc đối phó với dịch Covid-19.

Thủy là nhà tranh đấu cho nhân quyền và môi trường. Cô cũng độc thân với đứa con 9 tuổi. Thủy bị biệt giam trước khi ra tòa và không được gặp đứa con trai cho tới tháng 12 năm 2020. Cô bị xử án 7 năm tù vào tháng 20-1-2021 và bị đau nặng trong lúc bị giam hãm.

Chính quyền Việt Nam thường dùng các trẻ em làm áp lực để các bà mẹ ký bản thú tội. Nhà cầm quyền kết án các người đàn bà này đã không làm tròn bổn phận của người mẹ. Những phụ nữ này thường được chuyển sang các trại giam xa khu vực họ cư trú, có khi đến cả ngàn cây số. Giam giữ họ ở xa như vậy, việc các con nhỏ đi thăm viếng cực kỳ khó khăn. Gia đình chỉ được thăm mỗi tháng một lần dưới 30 phút. Nhiều khi gia đình lặn lội từ xa đến nơi thì mới biết là không được phép vào thăm.

Tình trạng nhân quyền ở Việt Nam đã trở nên tệ hại hơn trong 5 năm qua. Nhà cầm quyền thường áp dụng những luật lệ rất khắt khe để đe dọa quyền tự do phát biểu ý kiến và kết án tù những người chống đối lâu hơn.

Nhà cầm quyền tiếp tục lạm dụng quyền hành đối với những quyền lợi căn bản của nhân dân. Họ tự ý bắt bớ và giam giữ, phạt tù rất lâu, cấm cản quyền được phát biểu ý kiến, hệ thống Internet, những cuộc hội họp ôn hòa, và quyền tự do đi lại, chẳng hạn như bằng cách ra lệnh cấm di chuyển.

Sự hành hạ và đối xử tệ hại với những tù nhân chính trị cũng là một chuyện đáng lo ngại, nhất là đối với những phụ nữ bị cầm tù trong các điều kiện đó. Những cựu tù nhân đã cho biết về các kinh nghiệm trong tù của họ, chẳng hạn như phải giành giật nhau vì một miếng băng vệ sinh hay các cai tù đứng nhìn họ lúc họ thay quần áo.

Dự Án 88 đã phỏng vấn Phạm Đoan Trang trước khi cô bị bắt. Cô nói tới những phấn đấu và thử thách của phụ nữ bảo vệ nhân quyền ở Việt Nam. Cô Trang phát biểu: “Nói chung, đàn bà Việt Nam không được tôn trọng. Không phải chỉ trong công cuộc phấn đấu cho nền dân chủ mà thôi, những phụ nữ tranh đấu chịu thiệt thòi vì họ bị tấn công không kém gì phái nam. Họ bị đánh đập, hành hạ.”

“Việc của họ làm không thua gì những gì phái nam làm nhưng họ thường chỉ nhận được sự thương hại. Tôi không cho đó là tôn trọng…”

“Trong một chế độ độc tài, không ai có tự do, nhất là phụ nữ. Sự thiếu tự do của họ gấp nhiều lần so với phái nam. Bởi vì phụ nữ không chỉ là nạn nhân của chế độ về các vấn đề chính trị mà thôi, họ còn là nạn nhân của sự bất bình đẳng giới tính và sự tự chế”.

Ngày Phụ Nữ Quốc Tế được cử hành vào ngày 8 tháng Ba mỗi năm. Dự Án 88 dành trọn tháng Ba để vinh danh các phụ nữ tranh đấu Việt Nam và đặc biệt là 28 người đang bị tù đầy.

Xin cùng chúng tôi cất lên tiếng nói của những phụ nữ Việt Nam tranh đấu trong dịp Ngày Phụ Nữ Quốc Tế. Chúng tôi khuyến khích các chính quyền nước ngoài và những hội đoàn làm áp lực với chính quyền Việt Nam, bắt buộc họ đối xử tử tế hơn với các nữ tù nhân, chẳng hạn như bảo đảm giờ giấc thăm viếng và tôn trọng chính luật lệ của họ về sự bắt bớ những người đàn bà có con nhỏ, và trao trả tự do cho tất cả các nữ tù nhân vô điều kiện.

(Cô Grace Bùi là thành viên vận động sách lược của “Dự Án 88”, một tổ chức phi lợi nhuận hoạt động nhằm thúc đẩy quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam.)

– Nhà hoạt động Phạm Đoan Trang (Fb)

Miến Điện: Làm thế nào phong trào ‘‘Bất Tuân Dân Sự’’ có thể thành công ? (RFI)

Đăng ngày: 07/03/2021 – 19:57

Phong trào Bất Tuân Dân Sự chống chế độ độc tài Miến Điện: Cuộc chiến của trứng chọi đá có cơ hội thành công ? Biếm họa của RFI. © rfi Hausa/Dr Meddy

Trọng Thành

Đảo chính quân sự đầu tháng 2/2021 chặn đứng tiến trình quá độ sang xã hội dân chủ tại Miến Điện. Đông đảo dân chúng Miến Điện không chấp nhận. Từ hơn một tháng nay, trong lúc biểu tình chống đảo chính tiếp diễn gần như hàng ngày, tập đoàn quân sự gia tăng đàn áp. Liệu phong trào « Bất Tuân Dân Sự » chống lại sức mạnh áp đảo của súng đạn có cơ may thành công ? 

Trang mạng Anh ngữ Frontier Myanmar (1), ngày 04/03/2021, có bài viết đáng chú ý mang tựa đề : « Phong trào Bất Tuân Dân Sự có thể thành công như thế nào ? ». Sau đây là phần lược thuật của RFI.

Thành công ban đầu

Bài viết của nhà báo Aye Min Thant (2) và nhà hoạt động Yan Aung trên Frontier Myanmar ghi nhận trước hết, bản thân sự hình thành của phong trào Bất Tuân Dân Sự (Civil Disobedience Movement, gọi tắt là CDM) trong tháng tranh đấu vừa qua đã là một thành công. Xuất phát từ phong trào đình công của giới y tế, phong trào CDM lan rộng ra khắp xã hội. Phong trào lôi cuốn hàng triệu người tham gia, với các cuộc biểu tình trên đường phố, khuyến khích tẩy chay các doanh nghiệp của quân đội hay có vốn của quân đội, và đặc biệt là kêu gọi nhân dân từ chối tuân thủ các mệnh lệnh của quân đội.

Một tháng sau cuộc đảo chính, tác động của phong trào CDM đến xã hội Miến Điện là rất rõ. Các cuộc đình công của công chức khiến trao đổi thương mại quốc tế của Miến Điện đình trệ, các bệnh viện của nhà nước không còn khả năng tiếp nhận bệnh nhân, ngân hàng không còn khả năng hoạt động, khiến đất nước lâm vào tình trạng thiếu tiền mặt. Bất chấp các tác động này, chính quyền quân sự không hề có dấu hiệu nhân nhượng.

Cuộc chiến lâu dài

Bài viết đưa ra 5 thách thức chính đối với phong trào Bất Tuân Dân Sự Miến Điện. Thách thức về mục tiêu tranh đấu, về lực lượng lãnh đạo, về khả năng duy trì phong trào trong thời gian dài, về việc bảo vệ các nguồn lực của phong trào và về việc xác định đúng mối quan hệ giữa phong trào trong nước với sự hỗ trợ từ quốc tế.

Bài phân tích của Frontier Myanmar nhấn mạnh, những người tranh đấu chống chế độ độc tài quân sự cần hiểu rằng đây không phải là cuộc chiến sớm gặt hái kết quả, mà là một cuộc chiến kéo dài thậm chí nhiều năm, và để thắng lợi, CDM cần tự khẳng định như là « một phong trào tranh đấu chủ động, chứ không phải là nạn nhân đang tranh đấu ngoan cường, trong khi chờ đợi can thiệp quốc tế ». Chính vì vậy, việc huy động các nguồn lực bên trong – đoàn kết rộng rãi mọi thành phần không phân biệt xuất thân xã hội, tôn giáo, sắc tộc, giới tính – là yếu tố có ý nghĩa quyết định. Để « phong trào Cách mạng Mùa Xuân thành công, một cuộc tranh luận thẳng thắn về chiến lược là điều cơ bản ». Các tác giả tin tưởng « hiện tại, hơn bao giờ hết, chính trong không khí hỗn loạn do đảo chính tạo ra, nhân dân Miến Điện có cơ hội thiết lập một nền dân chủ thực sự ».

***

Thách thức đầu tiên : Làm rõ mục tiêu tranh đấu

Mặc dù đã có sự nhất trí chung là lên án cuộc đảo chính quân sự, nhưng cho đến nay, phong trào CDM chưa có được đồng thuận về việc phong trào hy vọng đạt được cụ thể điều gì, một khi buộc quân đội ngồi vào bàn đàm phán. Trong lúc nhiều người kêu gọi chính quyền quân sự tôn trọng kết quả bỏ phiếu, thì nhiều nhà hoạt động xuất thân từ các sắc tộc và các tôn giáo thiểu số không tranh đấu để ủng hộ sự trở lại của chính phủ dân sự, mà muốn xây dựng một Nhà nước Liên bang dân chủ ở Miến Điện, dựa trên Hiến pháp mới hoặc Hiến pháp sửa đổi.

Nếu không xác định được mục tiêu hướng đến công lý, tập hợp được những lực lượng thuộc các nhóm thiểu số thì trong tương lai có nguy cơ, hoặc lợi ích của các nhóm thiểu số bị hy sinh, hoặc phong trào bị rơi vào các cuộc đấu tranh nội bộ, rồi phá sản.

Thách thức thứ 2 : Làm rõ lực lượng lãnh đạo 

Hiện tại, tất cả mọi người tham gia phong trào Bất Tuân Dân Sự dường như hành động theo sáng kiến riêng, không có ý thức rõ ràng về vai trò của mỗi cá nhân, mỗi nhóm. Về lâu dài, lối tranh đấu như vậy là « cực kỳ nguy hiểm », khi đối thủ là quân đội, một thế lực « được tổ chức rất tốt và có nhiều nguồn lực ». 

Hiện tại có ba nhóm có khả năng trở thành lãnh đạo phong trào, bao gồm Ủy Ban Đại Diện cho Hạ Viện Miến Điện (Committee Representing the Pyidaungsu Hluttaw – CRPH), Ủy Ban Tổng Đình Công (General Strike Committee) và Ủy Ban Tổng Đình Công Quốc Gia (General Strike Committee of Nationalities) (3).

Bài viết của Frontier Myanmar nhấn mạnh là, ưu điểm của một phong trào không có tổ chức lãnh đạo là sẽ không bị ảnh hưởng nhiều do việc chính quyền bắt giữ hay ám sát các thành viên chủ chốt. Tuy nhiên, bước sang giai đoạn tiếp theo, khi phong trào được coi là đã đạt được một vị thế nhất định, thì sẽ cần phải có các cuộc thảo luận nhiều bên, phong trào cần phải có tổ chức đại diện, và cơ chế chọn ra những người đại diện, để hoạch định hướng đi cho dân tộc.

Thách thức thứ 3: Bảo tồn nguồn lực

Đối mặt tới Tatmadaw – với dự trữ hàng tỉ đô la và cả một kho vũ khí khổng lồ -, CDM cần chuẩn bị kháng cự có tổ chức trong nhiều tháng, thậm chí nhiều năm, mới hy vọng chiến thắng. Điều chỉnh cách thức hoạt động của phong trào trong những tuần tới « cho phù hợp », là điều rất quan trọng. Mục tiêu chủ yếu là làm sao để « gây tổn hại tối đa cho khả năng hoạt động của chính quyền quân sự, trong lúc vẫn bảo đảm được đông đảo dân chúng vẫn tiếp cận được với các nhu yếu phẩm và dịch vụ cơ bản nhất ». Bởi, « nếu người dân bắt đầu mất đi không chỉ thu nhập, mà còn cả điện, nước, hay dịch vụ thu gom rác thải, thì lúc đó nhiều người sẽ mơ đến sự ổn định dưới thời độc tài quân sự ».

Một cuộc tổng đình công làm kiệt quệ cả một nền kinh tế, nếu không được tiến hành một cách phù hợp, có thể phản tác dụng, khiến phong trào tranh đấu Bất Tuân Dân Sự ít có người theo hơn, hủy diệt chính các nguồn lực tài chính cần thiết để duy trì phong trào.

Thách thức thứ 4 : Bảo đảm các mạng lưới phân phối nguồn lực

Bảo tồn được nguồn lực, nhưng cùng lúc phải bảo đảm phân phối được nguồn lực. Hiện tại, đang hình thành một phong trào trợ giúp những người tranh đấu (công nhân bãi công, người biểu tình, che chở các nhà hoạt động, các nhà báo lẩn trốn), với hạt nhân là các quỹ do một số nhân vật nổi tiếng thiết lập. Theo các tác giả của bài viết, về lâu dài, điều quan trọng nhất là phải bảo đảm được niềm tin, tạo lập được các kết nối an toàn giữa người cần hỗ trợ tài chính và những người cung cấp tài chính. Bởi, kinh nghiệm cho thấy tập đoàn quân sự đã có nhiều kinh nghiệm trong việc đưa người xâm nhập vào phong trào, gây mất lòng tin. Cuộc tranh đấu bất tuân dân sự là « cuộc chiến giằng co » giữa quân đội và người dân, cuộc cạnh tranh « sức mạnh, khả năng chịu đựng và khả năng thống nhất hành động ».

Thách thức thứ 5 : Đầu tư nội lực, đặt đúng mức niềm tin vào quốc tế

Bài viết trực diện chỉ trích việc rất nhiều người trong phong trào đặt quá nhiều niềm tin vào cộng đồng quốc tế, với khẳng định : « Tương lai của Miến Điện không thể và không nên nằm trong tay cộng đồng quốc tế ». Đây là một thực tế nổi bật.

Tin tưởng phương Tây có thể và sẽ cứu Miến Điện là điều phổ biến. Nhiều người tham gia tranh đấu tin tưởng các nước phương Tây có thể tiến hành các can thiệp quân sự chống lại chế độ độc tài quân sự. Hiện tại, không hề có dự án can thiệp nào như vậy. Riêng việc đưa ra các trừng phạt đối với một số lãnh đạo quân đội Miến Điện, các nước phương Tây cũng phải mất nhiều ngày bàn bạc. Cấm vận vũ khí thì có thể có, nhưng sẽ không có việc lãnh đạo đảo chính bị khởi tố, điều tra. Các can thiệp quyết liệt để hỗ trợ người dân Miến Điện sẽ không đến.

Theo các tác giả, nỗ lực của phong trào trong nước là quyết định. Phong trào Bất Tuân Dân Sự cần khẳng định là « lực lượng dẫn dắt » cuộc tranh đấu chống chế độ độc tài quân sự, chứ không phải là « nạn nhân đang tranh đấu ngoan cường trong khi chờ bên ngoài cứu viện ».

Tuy nhiên, bài viết cũng lưu ý rõ là phong trào Bất Tuân Dân Sự cũng cần tranh thủ các hỗ trợ quốc tế. Ví dụ như gây áp lực với các chính phủ nước ngoài, với Liên Hiệp Quốc, không công nhận chính quyền quân sự, thúc đẩy các đàm phán đa phương hướng đến việc trả lại quyền lực cho người dân Miến Điện. Phong trào Bất Tuân Dân Sự cần thúc giục chính phủ các nước ngăn chặn các công ty nước mình hợp tác với tập đoàn quân sự, gây áp lực với các công ty đang hoạt động tại Miến Điện tôn trọng quyền của công nhân tham gia các biểu tình phản kháng.

Ghi chú

(1) – Tạp chí song ngữ Frontier Myanmar, bằng tiếng Anh và tiếng Miến Điện, được lập ra năm 2015, là một trong những báo đầu tiên của Miến Điện ra đời sau khi tổng thống Thein Sein hủy bỏ chế độ đàn áp báo chí. Sáng lập Frontier Myanmar là nhà báo Sonny Swe, từng bị tù 10 năm (2004 – 2013) vì các hoạt động báo chí.

(2) – Nhà báo Aye Min Thant, sống tại Miến Điện, từng đoạt thưởng báo chí Pulitzer trong chuyên mục Tin tức Quốc tế, năm 2019, cùng với một số phóng viên Reuters.

(3) – CRPH là nhóm nghị sĩ được bầu lên sau cuộc bầu cử 2020, hầu hết thuộc đảng Liên Đoàn Quốc Gia vì Dân Chủ, do bà Aung San Suu Kyi lãnh đạo. Ủy Ban Đại Diện cho Hạ Viện Miến Điện nhận được sự ủng hộ rộng rãi và ngày càng nhiều từ các thị trấn, phường xã. Tại các địa phương ủng hộ CRPH, một bộ máy chính quyền song song được lập ra. Ngày 26/02/2021, đại diện thường trực của chính quyền Miến Điện tại Liên Hiệp Quốc, ông U Kyaw Moe Tun, tuyên bố trung thành với nhân dân, và kêu gọi Liên Hiệp Quốc công nhận CRPH là « chính phủ hợp pháp » của Miến Điện. Hai tổ chức Ủy Ban Tổng Đình Công và Ủy Ban Tổng Đình Công Quốc Gia không được sự ủng hộ rộng rãi như CRPH, nhưng gần đây Ủy Ban Tổng Đình Công Quốc Gia đã thu hút sự chú ý quốc tế, với thư gửi đến đại sứ Trung Quốc tại Miến Điện, và Hội Đồng Bảo An, nêu rõ mục tiêu của tổ chức này là thành lập Nhà nước Dân chủ Liên bang tại Miến Điện, trong đó các sắc tộc thiểu số được tham gia vào chính phủ một cách bình đẳng. Thành phần của Ủy Ban Tổng Đình Công Quốc Gia so với Ủy Ban Đại Diện cho Hạ Viện Miến Điện trẻ hơn, và đa dạng về sắc tộc hơn.

Miến Điện: Làm thế nào phong trào ‘‘Bất Tuân Dân Sự’’ có thể thành công ?

RFI.FR | BY RFI TIẾNG VIỆT

Miến Điện: Làm thế nào phong trào ‘‘Bất Tuân Dân Sự’’ có thể thành công ?

Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân

Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân

(Phỏng theo lời kể của một người vợ lính BĐQ)

 Phạm Tín An Ninh 

Hơn hai mươi năm nay, từ ngày đến định cư tại Na-Uy, một nước Bắc Âu nổi tiếng với những mùa đông dài băng giá, nhưng lại rất đẹp vào ngày hè và lãng mạn vào thu, tôi vẫn giữ thói quen đi len lỏi trong rừng, không chỉ vào những ngày nghỉ cuối tuần mà bất cứ lúc nào thấy lòng mình trăn trở. Không phải tò mò vì những cuộc tình cháy bỏng trong “Rừng Na-Uy”, cuốn tiểu thuyết nổi tiếng mới đây của một ông nhà văn Nhật Bản, nhưng để được lắng nghe những tiếng khóc. Tiếng khóc của cây lá, của gỗ đá trong rừng. Tiếng khóc có mãnh lực quyến dụ tôi, thúc bách tôi, cho dù nó đã làm tôi đau đớn, khốn khổ gần cả một đời.

Tôi sinh ra ở Huế, nhưng lớn lên ở thành phố Nha Trang, sau khi cùng cả nhà theo cha tôi vào đây nhận nhiệm sở mới. Có lẽ ngày ấy tôi là một cô gái khá xinh. Ngay từ năm tôi học lớp đệ lục trường Nữ Trung Học, cũng đã có vài chàng học trò khờ khạo si tình, đạp xe theo sau tôi những buổi học tan trường. Lên năm đệ tam, cũng có vài chàng SVSQ Hải Quân, Không Quân chờ trước cổng trường tán tỉnh. Nhưng như là số trời, trái tim tôi chỉ rung động trước một người. Anh là bạn chí thân với ông anh cả của tôi, hai người học cùng lớp thời còn ở trường Võ Tánh. Tháng tư năm 68, chúng tôi làm đám cưới, kết thúc một cuộc tình đầu thật dễ thương, không có nhiều lãng mạn, cũng chẳng có điều gì trắc trở. Ông xã tôi là lính Biệt Động Quân. Hậu cứ đóng ở Pleiku. Ngày về làm đám cưới, đôi giày saut của anh còn bám đầy đất đỏ hành quân. Đám cưới của chúng tôi được tổ chức tại một nhà hàng nằm gần bờ biển, không xa tòa tỉnh, nơi vừa trải qua khói lửa Mậu Thân.

Sau đám cưới, cha mẹ chồng cho tôi theo anh lên Pleiku một tháng, rồi phải trở về sống ở nhà chồng, bởi anh đi hành quân liên miên, không an toàn khi tôi phải sống một mình. Chỉ khi nào tiểu đoàn về hậu cứ dưỡng quân, anh đánh điện tín để tôi lên với anh.
Mãi đến ba năm sau, tôi mới sinh cho anh đứa con đầu lòng. Một đứa con trai bụ bẫm. Có lẽ vì nặng nợ với núi rừng, anh đề nghị tôi đặt tên cho con là Cao Nguyên. Lê Cao Nguyên. Anh về thăm con khi cháu vừa đầy tháng. Càng lớn Cao Nguyên càng giống cha. Đôi mắt to, sống mũi cao, đặc biệt là trên đầu mỗi vành tai đều có một “lỗ tai nhỏ” như ba nó.

Chỉ đúng một tuần sau khi chia tay vợ con về với đơn vị, anh bị thương nặng trong lúc đơn vị hành quân giải vây căn cứ Pleime. Tôi bồng con lên Pleiku. Hậu cứ lo cho mẹ con tôi nơi ăn chốn ở và có xe đưa đón mỗi ngày để tôi thăm và săn sóc anh mỗi ngày trong quân y viện. Sau khi xuất viện, đôi chân còn đi khập khiễng, nên anh được chuyển về Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn đảm trách một công tác tham mưu ở hậu cứ. Mẹ con tôi ở lại Biển Hồ với Anh kể từ ngày ấy. Mẹ chồng tôi rất nhân từ, thường xuyên lên thăm chúng tôi và thuê cho tôi một người giúp việc. Cuối năm 1973, trong một lần pháo kích vào trại gia binh làm một số đàn bà con nít bị thương, trong đó có cháu Cao Nguyên. Rất may, mảnh đạn gây một vết thương khá lớn ở cánh tay, nhưng không vào xương. Sau hôm ấy, chúng tôi ra thuê một căn nhà bên ngoài doanh trại để ở. Năm sau khi Cao Nguyên vừa tròn hai tuổi, tôi sinh đứa con thứ nhì. Lần này là con gái. Con bé giống mẹ, được chúng tôi đặt tên Thùy Dương để nhớ thành phố biển Nha Trang, nơi hai chúng tôi lớn lên và yêu nhau. 

Mấy năm sống ở Pleiku, cái thành phố “đi dăm phút trở về chốn cũ” ấy, những ngày nắng chỉ thấy toàn bụi đỏ, còn những ngày mưa bùn bám dính gót chân. Pleiku đúng là một thành phố lính. Những người vợ lính sống ở đây dường như chỉ để chờ chồng trở về sau những cuộc hành quân, hoặc để chăm sóc chồng những ngày bị thương nằm trong quân y viện. Với họ thì đúng là “may mà có anh đời còn dễ thương”. Trong số ấy đã có biết bao người trở thành góa phụ.

Giữa tháng 3/75, sau đúng một tuần Ban Mê Thuột mất vào tay giặc. Một buổi sáng, từ bản doanh Liên Đoàn về, anh hối hả bảo mẹ con tôi và chị giúp việc thu dọn đồ đạc gấp, bỏ lại mọi thứ, chỉ mang những gì cần thiết, nhất là thức ăn và sữa cho các con, theo anh vào hậu cứ.

Khi vừa đến cổng trại, tôi ngạc nhiên khi thấy tất cả mọi người đều đã ngồi sẵn trên xe. Chúng tôi rời khỏi doanh trại. Thành phố Pleiku như đang ngơ ngác trước những người từng bao năm sống chết với mình nay vội vàng bỏ đi không một tiếng giã từ. Đang giữa mùa xuân mà cả một bầu trời u ám. Pleiku tiễn chúng tôi bằng một cơn mưa đổ xuống khi đoàn xe vừa ra khỏi thành phố. Đến ngã ba Mỹ Thạnh, đoàn xe dừng lại. Phía trước chúng tôi dày đặc xe và người, vừa dân vừa lính, đủ các binh chủng, đủ các loại xe, kể cả xe gắn máy. Tôi nghe chồng tôi và bạn bè nói là ngoài lực lượng xung kích mở đường, một số đơn vị Biệt Động Quân còn được chỉ định đi sau, ngăn chặn địch quân tập hậu để bảo vệ cho đoàn quân di tản! Đây là trách nhiệm nguy hiểm và nặng nề nhất trong một cuộc hành quân triệt thoái.

Hơn một ngày mò mẫm trên Tỉnh Lộ 7, chúng tôi đến thị xã Hậu Bổn vào lúc trời sắp tối. Vừa dừng lại chưa kịp ăn cơm thì bị pháo kích và súng nổ khắp nơi. Xe và người dẫm lên nhau trong cơn hốt hoảng. Địch đã bao vây. Các đơn vị BĐQ chống trả kiên cường, nhưng địch quá đông, mà bên ta thì vừa quân vừa dân chen chúc nhau hỗn độn. Trong lúc nguy nan này trời lại giáng xuống cho bên ta thêm một điều bất hạnh: Một chiếc phản lực cơ dội bom nhầm vào quân bạn. Đoàn xe vội vã rời Hậu Bổn, di chuyển đến gần Phú Túc thì lại bị địch tấn công từ khắp hướng. Nhiều xe bốc cháy và nhiều người chết hoặc bị thương. Cả đoàn xe không nhúc nhích được. Chúng tôi có lệnh bỏ lại tất cả xe cộ, băng rừng tìm đường về Củng Sơn.

Chồng tôi, vừa chiến đấu vừa dẫn đường chúng tôi cùng một số binh sĩ, vợ con. Tôi dắt theo Cao Nguyên còn chị giúp việc bồng cháu Thùy Dương. Chúng tôi lầm lũi trong rừng. Tiếng súng vẫn còn ầm ĩ, những viên đạn lửa như muốn xé màn đêm. Khi chúng tôi mệt lả cũng là lúc đến bờ một con suối nhỏ. Chồng tôi lo chỗ ngủ cho mẹ con tôi dưới một gốc cây, rồi cùng một số đồng đội chia nhau canh gác. Mệt quá, tôi ngủ vùi một giấc, thức giấc thì trời vừa sang… Chúng tôi lại tiếp tục lên đường. Tôi không còn đủ sức để bồng Cao Nguyên, nên chồng tôi phải dùng cái võng nylong gùi cháu sau lưng, bên ngoài được phủ bằng cái áo giáp.

Vừa ra khỏi bìa rừng tôi ngạc nhiên khi thấy từng đoàn người lũ lượt kéo nhau đi cùng hướng chúng tôi, trong đó có nhiều người vừa bị thương, mình đầy máu. Tôi nghĩ họ cũng là những vợ chồng, con cái, cha mẹ dắt dìu nhau đi tìm sự sống. Hình như họ không còn mang theo bất cứ thứ gì. Nhìn nét mặt ai nấy cũng kinh hoàng. Chồng tôi bàn bạc cùng một số bạn bè trong đơn vị, chúng tôi lại tách khỏi đám đông này, tìm một lộ trình khác mà đi, để tránh sự phát hiện của địch.

Vừa rời đoàn người chừng vài phút thì đạn pháo thi nhau rớt xuống. Tiếng la khóc thất thanh cộng với tiếng súng nổ khắp nơi làm cho cả một khu rừng như trải qua một cơn địa chấn. Trong nhóm chúng tôi cũng có một số người đã chết. Đến lúc này thì mạnh ai nấy tìm đường sống. Gia đình tôi cùng gia đình vài người bạn nữa chạy vào khu rừng phía trước, nơi không nghe tiếng súng. Kinh nghiệm bao nhiêu năm chiến trận, bây giờ chồng tôi chỉ còn dùng để mong cứu được vợ con mình. Địch quân tràn ngập. Một số đơn vị tan rã. Đồng đội kẻ chết người bị thương. Có thể một số đã bị bắt. Tôi không thể tưởng tượng được số mệnh bi thảm của những người lính Biệt Động Quân một thời oanh liệt trên khắp chiến trường, giờ này lại tan tác trong bất ngờ, tức tưởi! Chồng tôi suýt bật khóc, khi nghe cấp chỉ huy truyền lệnh từ ông tướng tư lệnh Quân Đoàn: “Đạp lên mà đi!”. Trong cả đời binh nghiệp, chắc những người lính không còn nhận được cái lệnh nào đau đớn hơn thế nữa.

Sau chừng một tiếng đồng hồ băng rừng, chúng tôi bất ngờ gặp một toán lính hơn 20 người thuộc tiểu đoàn cũ của chồng tôi… Thầy trò chưa kịp nắm tay mừng rỡ thì súng nổ. Địch quân phía trước mặt. Trở lại cương vị chỉ huy, chồng tôi lưng mang con, điều động anh em xông vào trận mạc. Một cuộc đánh tốc chiến, toán địch quân bị tiêu diệt. Chồng tôi quay lại tìm và hướng dẫn đám đàn bà con nít chúng tôi đi tiếp.

Trong núi rừng đêm xuống thật nhanh. Cái bóng tối bây giờ thật rợn người. Tôi hình dung cái bóng của tử thần. Chúng tôi dừng lại trên một ngọn đồi thấp. Tôi nghiệp cho những người lính trung thành. Đáng lẽ họ lợi dụng bóng đêm để đi tiếp, vì đó là sở trường của họ, nhưng thấy một số vợ con bạn bè cùng vài anh em bị thương không thể đi nổi, nghe lời chồng tôi, tất cả cùng ở lại qua đêm. Sau khi sắp xếp anh em phòng thủ, chồng tôi trở lại phụ lo chỗ nằm cho mẹ con tôi. Tối hôm ấy, dù mệt, nhưng sao tôi cứ trằn trọc, không ngủ được. Chồng tôi ôm tôi dựa vào một gốc cây. Anh ôm tôi thật chặt vào lòng, thỉnh thoảng hôn nhẹ tôi, trên môi, trên tóc. Trong hoàn cảnh này chẳng ai còn lòng dạ nào để lãng mạn yêu thương, nhưng có lẽ anh tội nghiệp cho một người con gái đã trót chọn chồng là lính chiến. Và cũng không ngờ đó là những nụ hôn cuối cùng anh dành cho tôi. 

Buổi sáng sớm khi vừa xuống chân đồi, chúng tôi chạm súng với địch. Cũng là lần cuối tôi chứng kiến những người lính Biệt Động can trường. Các anh phân tán từng toán nhỏ, xông vào lòng địch mà đánh, tiếng thét “Biệt Động Quân Sát” vang dội cả một vùng. Nghe súng nổ, tôi đoán lực lượng địch đông lắm. Một anh trung sĩ bị thương ở cánh tay trong trận đánh hôm qua, được chỉ định dắt tất cả đám đàn bà con nít chúng tôi ra khỏi vùng giao chiến. Đã vậy anh còn phải dìu theo một người lính bị thương khác. Vợ chồng tôi thất lạc nhau kể từ phút ấy. Tôi còn lạc mất cả cháu Cao Nguyên, được ba nó gùi theo phía sau lưng ngay cả những khi lâm trận. Không biết chiếc áo giáp có đủ để che chắn hình hài bé nhỏ của con tôi. Hình ảnh này trước đây tôi nghĩ chỉ có diễn ra trong mấy cuốn truyện Tàu mà tôi đã đọc.

Tiếp tục di chuyển từng vài giờ đồng hồ nữa, khi tới một con đường mòn, chúng tôi lại nghe súng nổ. Anh trung sĩ dẫn đường chúng tôi nhận ra từng loạt lựu đạn nổ, bảo chúng tôi nằm rạp xuống. Chờ im tiếng súng, đám chúng tôi rời con đường mòn, chạy về bên hướng rừng bên phải, mà theo anh trung sĩ, có thể an toàn hơn. Khi đến bìa rừng, tôi thấy mấy người lính BĐQ nằm chết bên cạnh xác quân thù, máu me lai láng. Sau này tôi được biết những người lính này bị địch bao vây, đã tự sát để cùng chết chung với giặc. 

Đi vào cánh rừng bên phải chỉ vài trăm mét nửa thì chúng tôi bị một đám khá đông VC chặn lại. Anh trung sĩ bị tước hết vũ khí. Tất cả chúng tôi bị lùa vào bên bờ suối nhỏ. Ở đây tôi gặp một số sĩ quan, binh sĩ của ta bị bắt, nhiều người tay bị trói ngược ra sau, ngồi theo hàng dọc quay lưng ra suối, trước họng súng sẵn sàng nhả đạn của kẻ thù. Tôi cố ý tìm xem, nhưng không thấy chồng tôi trong số người bị bắt. Lòng tôi lo âu vô hạn. Từ lúc ấy, tiếng súng tạm im, chỉ còn tiếng quát tháo và tiếng nói rất khó nghe của đám người thắng trận. Tất cả chúng tôi bị lùa về địa điểm tập trung, một ngôi trường nằm trong huyện Củng Sơn (Sơn Hòa).

Trong cảnh khốn cùng này, tôi chỉ còn lại một điều may mắn: Chị giúp việc rất tốt bụng và trung thành. Vừa bồng bế, bảo bọc cho cháu Thùy Dương, vừa lo lắng cho tôi. Chị đi đâu đó xin cho tôi nửa bát cơm, nhưng tôi không nuốt nổi, mặc dù đã trải qua hai ngày đói khát. Nhìn đứa con gái vừa mới lên hai lay lắt bên cạnh và nghĩ tới chồng tôi và đứa con trai giờ này không biết sống chết ra sao, lần đầu tiên tôi bật khóc. 

Cuối cùng thì tôi cũng lần mò về đến Nha Trang, khi thành phố này cũng vừa lọt vào tay giặc. Khi nhận ra tôi, mẹ tôi ôm tôi vào lòng và khóc như mưa. Tôi không đủ can đảm để mang tin buồn đến nhà chồng, nhờ cha tôi sang báo tin tôi và cháu Thùy Dương vừa mới về nhà, chồng tôi và cháu Cao Nguyên còn đang mất tích. Cả nhà chồng kéo sang thăm tôi, bồng cháu Thùy Dương về nhà chăm sóc. Mẹ chồng tôi thẫn thờ cả mấy ngày liền khi nhận được tin này. Nằm nhà hơn một tuần, nhờ mẹ tận tình chăm lo, sức khỏe tôi đã gần bình phục, tôi xin được trở lại Phú Bổn tìm chồng và cháu Cao Nguyên. Cả nhà tôi và cha mẹ chồng đều ái ngại, âu lo. Nhưng qua sự nài nỉ của tôi, cuối cùng cha mẹ chồng cho đứa em trai út của chồng tôi, dùng xe honda chở tôi ngược đường lên Tỉnh Lộ 7. 

Mặc dù đã chứng kiến bao nhiêu máu lửa tang tóc, cũng như đã chuẩn bị tinh thần, nhưng tôi thực sự kinh hãi những gì trước mắt, khi nhìn thấy ngổn ngang bao nhiêu xe cộ bị đốt cháy, những bộ xương người còn vương vãi đó đây, bao nhiêu nấm mộ bị lấp vội bên đường. Cả một vùng xông mùi tử khí. Chiếc khăn bịt miệng tẩm ướt dầu Nhị Thiên Đường đã giúp tôi và cậu em vượt qua chặng đường gần 100 cây số. Đến Cheo Reo, hỏi thăm một vài người dân, được biết một số sĩ quan bị bắt làm tù binh, đang còn giam ở Thuần Mẫn. Chúng tôi đến đó, trình giấy phép đi tìm chồng của Ủy Ban Quân Quản mới được cho vào trại. Sau khi tên VC trực ban cho biết không có tên chồng tôi trong danh sách tù binh, tôi xin được gặp bất cứ sĩ quan nào cùng đơn vị với chồng tôi. Rất may, tôi gặp được anh đại đội phó lúc chồng tôi còn ở tiểu đoàn. Anh cho biết là có gặp một số binh sĩ cùng chồng tôi chiến đấu dưới ngọn đồi gần đèo Tu Na. Họ cho biết chồng tôi bị thương, nhưng cố tìm cách đưa cháu Cao Nguyên đến một nơi nào đó. Tôi sáng lên niềm hy vọng. Ngay hôm ấy tôi thuê năm người thượng, theo tôi lần theo con đường dọc bờ sông mà tôi còn nhớ, trở lại khu đồi thấp, rồi bung ra xa đi tìm. Liên tục trong một tuần, chúng tôi chỉ tìm được mấy bộ xương người, một số mộ vô danh, nhưng không thấy dấu vết của chồng tôi. Tôi trở về mang theo niềm tuyệt vọng, không chỉ cho tôi, mà cho cả nhà chồng.

Cha mẹ chồng tôi lập bàn thờ cho chồng tôi và Cao Nguyên, đứa cháu đích tôn của ông bà. Ngày 19 tháng 3 là ngày giỗ của hai cha con. 

Hàng năm, cứ đến ngày này, tôi và Thùy Dương đều trở lại Phú Bổn, tìm đến chân đồi, dưới gốc cây nằm giữa đỉnh đồi, mà đêm cuối cùng chồng tôi ôm tôi vào lòng, thắp hương tưởng niệm anh và cháu Cao Nguyên. Tôi đã dùng dao khắc đậm tên anh và cháu Cao Nguyên vào thân cây. Lần nào, khi nước mắt ràn rụa, trong tiếng gió rừng, tôi mơ hồ như có tiếng khóc từ gốc cây này, rồi văng vẳng bao nhiêu tiếng khóc từ những thân cây khác, từ những khúc gỗ nằm vương vãi do bom đạn hôm nào, tạo thành những âm thanh não nùng, xé ruột.

Tôi đã mang dư âm của tiếng khóc ấy đến tận Bắc Âu, nơi mẹ con tôi định cư sau chuyến vượt biển được một chiếc tàu của vương quốc Na Uy cứu vớt. Tháng 5 năm 1985, cha mẹ chồng tôi góp vàng cùng một người bạn ở vùng biển Lương Sơn đóng ghe vượt biển. Tôi, cháu Thùy Dương, và một đứa em trai của tôi đi cùng với gia đình chồng. Tôi cũng xin được một chỗ cho chị giúp việc lúc trước (chị đã về quê trên vùng quê Diên Khánh, sau ngày cùng tôi thoát chết trở về), nhưng chị chối từ. Tôi âm thầm gom nhặt tài sản của nhà chồng và của tôi mang lên biếu chị trước khi rời khỏi quê nhà. 

Hai mươi năm sau, khi Thùy Dương vừa làm đám cưới, tôi muốn đưa vợ chồng cháu về lại Việt Nam trình diện ông bà ngoại, và đến địa điểm cuối cùng khi chồng tôi và Cao Nguyên còn sống, như là một nghĩa cử để cháu tưởng nhớ đến cha và anh mình. Chúng tôi đến đây vào giữa mùa xuân, một ngày trước ngày giỗ chồng và đứa con trai.
Con đường Tỉnh Lộ 7 ngày xưa bây giờ đã được tráng nhựa và đổi tên thành Quốc Lộ 25. Chúng tôi thuê bao một chiếc xe tám chỗ ngồi. Ngoài tôi và vợ chồng cháu Thùy Dương, còn có vợ chồng cậu em trai út của tôi và vợ chồng chị giúp việc ngày xưa. Chúng tôi đến Cheo Reo, bây giờ có tên mới là A Yun Pa thuộc tỉnh Gia Lai. Tất cả không còn gì dấu vết của chiến tranh. Người ta đã cố tình trát phấn tô son lên thành phố núi này để có dáng dấp của thời kỳ đổi mới. Màu sắc lòe loẹt, vài ngôi nhà cao tầng quê mùa kệch cỡm, những ngôi nhà sàn “cải biên” thành những biệt thự của các ông quan lớn, nằm chơ vơ giữa một vùng nghèo nàn mang tên “thị xã”. Nhìn dãy núi Hàm Rồng từ xa, ẩn hiện trong những đám mây mù, lòng tôi chùng xuống. Nơi ấy, đã bao lần tôi đến thăm chồng, để được hòa mình vào đơn vị với những người lính trẻ, sẵn sàng chết cho quê hương. Cũng ở nơi ấy tôi đã vinh dự chứng kiến chồng tôi cùng nhiều anh em đồng đội được ông tướng Vùng gắn huy chương lên ngực áo khi ban nhạc trổi khúc quân hành. Tất cả bây giờ đã trở thành huyền thoại.

Sau khi thuê phòng trọ, tắm rửa và cơm nước xong, chúng tôi hỏi đường đến tháp Yang Mun và tháp Drang Lai. Vì nghe dân ở đây bảo các vị thần Chàm trong hai ngôi tháp này linh thiêng ghê lắm. Tôi khấn vái và xin xăm. Tôi ngạc nhiên vô cùng khi lá xăm tôi bốc trúng lại là bốn câu Kiều của ông Nguyễn Du:

Từ phen chiếc lá lìa rừng

Thăm tìm luống những liệu chừng nước mây

Rõ ràng hoa rụng hương bay

Kiếp sau họa thấy kiếp này hẳn thôi.

Tôi bán tín bán nghi, vì nghe nhiều người nói ở Việt Nam, chuyện cúng bái, mê tín dị đoan, bây giờ là một business. Chẳng lẽ ông thần Chàm này lại thuộc cả truyện Kiều. Nghĩ như vậy, nhưng thấy bốn câu thơ lại đúng vào trường hợp của mình, tôi cũng thấy lòng buồn vô hạn. Trở về phòng trọ, bà chủ nhà cho biết ngày mai có chợ phiên của người dân tộc, vừa đông vui vừa có thể mua nhiều thứ thổ sản, gia cầm với gía rất rẻ. Tôi cũng muốn mua mấy con gà, để cúng chồng tôi. Khi còn sống anh thích ăn gà luộc. Bà còn cho biết thêm dân chúng ở vùng này đa số là người Thượng thuộc các sắc tộc Djarai, Bahnar, Hroi và M’dhur. Có một số sống trong các bản rất xa, cách thị xã này từ 10 tới 20 cây số.

Sau một đêm trằn trọc với những cơn ác mộng, vừa mới chợp mắt tôi đã nghe tiếng người réo gọi nhau. Ngôn ngữ của các sắc tộc, tôi không hiểu họ nói gì. Chợ phiên nhóm rất sớm.

Chúng tôi vội vàng ăn sáng rồi kéo nhau ra khu chợ, nằm không xa trước nhà trọ. Tôi có cảm giác lạ lẫm vì đây là lần đầu tiên tôi đến một buổi chợ phiên của người sắc tộc. Đã vậy vợ chồng cháu Thùy Dương cứ theo hỏi tôi điều này điều nọ. Khi đang cố giải thích về nguồn gốc người Thượng, chúng tôi đến một quầy gà. Những con gà tre nhỏ xíu được nhốt trong mấy cái lồng đan bằng tre. Tôi ngồi xuống lựa hai con gà béo nhất, bảo người chủ bắt hộ hai con gà này ra khỏi lồng. Người chủ là anh đàn ông người Thượng vừa đen vừa ốm, nói tiếng Việt chưa sõi… Khi Anh xăn tay áo lên và thò tay vào lồng gà, tôi bỗng giật mình khi phát hiện vết sẹo trên cánh tay trái. Vết sẹo có hình dáng đầu một con cọp. Tôi nhớ tới Cao Nguyên, đứa con trai ba tuổi, bị thương trong trận pháo kích của VC vào trại gia binh ở Biển Hồ. Vết thương trên cánh tay cháu sau khi chữa lành cũng để lại một vết sẹo có hình ảnh đầu một con cọp. Biểu tượng binh chủng BĐQ mà chồng tôi luôn mang trên vai áo.

Tôi biến sắc, nắm chặt cánh tay anh người Thượng và nhìn vào mặt anh ta. Cũng hai con mắt khá to, cũng cái sống mũi cao, nhưng khuôn mặt cháy nắng, mái tóc mầu nâu sậm như mầu đất đỏ Pleiku. Không có nét đẹp của Cao Nguyên ngày trước. Anh người Thượng ngượng ngùng, cúi mặt xuống, khựng lại. Nhưng tôi chợt nhớ ra trên vành tai của Cao Nguyên có một lỗ tai nhỏ, giống như ba của nó, tôi cúi xuống để nhìn kỹ vào tai anh người thượng. Tôi bàng hoàng khi nhận ra hai cái lỗ tai nhỏ trên hai vành tai. Bất giác, tôi ôm chầm lấy anh và nước mắt trào ra. Nhưng anh bán gà đẩy mạnh tôi ra và nói một tràng tiếng Thượng. Vợ chồng cháu Thùy Dương ngơ ngác nhìn tôi, không biết xảy ra điều gì. Nghĩ tới chị giúp việc ngày trước có thể xác nhận cùng tôi đôi điều kỳ lạ, tôi báo cháu Thùy Dương đi gọi chị từ gian hàng hoa lan phía trước.

Tôi kéo chị ra xa và nói vào tai chị:

– Chị nhìn kỹ anh người Thượng này xem có giống ai không?
Sau một lúc nhìn không chớp mắt, mặt chị biến sắc, rồi không trả lời tôi mà thì thầm một mình:

– Thằng Nguyên? Chả lẽ là thằng cu Nguyên?
Rồi chị nhìn thẳng vào mặt anh ta hỏi:

– Mày có phải là thằng Nguyên, Lê Cao Nguyên không?
Anh người Thượng lắc đầu.

– Tao là thằng Ksor Tlang.
Tôi mua hết những lồng gà hôm ấy và và đưa cho anh một nắm tiền. Sau khi đếm xong anh trả lại cho tôi hơn một nửa, rồi buột miệng:

– Mày bắt cái con gà nhiều tiền quá!
Tôi mất hết bình tĩnh, bảo vợ chồng chị giúp việc đứng giữ anh ta, rồi chạy vào phòng trọ tìm bà chủ nhà. Tôi kể rất vắn tắt những gì đã xảy ra. Có lẽ bà ta là người có tai mắt ở đây, nhưng là một người tốt bụng, nhấc điện thoại gọi công an. Chưa đầy ba phút hai gã công an chạy tới bằng xe gắn máy, một Kinh một Thượng, cúi đầu chào bà chủ. Chưa kịp nói gì, bà chủ kéo tay hai gã công an ra chợ. Vừa đi bà vừa giải thích. Đến nơi, gã công an nói một tràng tiếng Thượng. Tôi không hiểu gì nhưng thấy anh bán gà gân cổ cãi lại. Cuối cùng hai người công an kéo anh đi, mặc dù anh cố tình chống lại. Chúng tôi đi theo phía sau trở về phòng trọ. 

Qua trung gian của bà chủ nhà trọ, tôi nhờ gã công an giúp tôi, dịch lại các điều trao đổi giữa tôi và anh bán gà, và cố gắng bằng mọi cách tìm ra tông tích của anh ta. Tôi nhét vào tay bà chủ nhà trọ hai tờ giấy bạc 100 đô la.
– Em có cha mẹ không? Tên ông bà là gì?

– Tôi có cha mẹ. Cha tôi tên Ksor H’lum, mẹ tôi tên H’Nu
– Có anh em không?

– Không.
– Anh có nhớ ngày sinh không?

– Không.(Gã công an nhìn sang tôi, bảo là sẽ đi tìm khai sinh sau)
– Anh có nhớ lúc còn nhỏ, khi ba, bốn tuổi anh ở đâu không?

– Không! Thì chắc tôi ở với cha mẹ tôi mà.
– Cái sẹo trên cánh tay trái, anh biết vì sao mà có cái sẹo này không? (Gã công an bảo anh xăn tay áo lên và chỉ vào vết sẹo)
– Không! Chắc là bị cành cây đâm trúng.
Tôi thở ra thất vọng. Nhưng vừa chợt nghĩ ra điều gì, tôi lại hỏi:
– Cha mẹ anh đang ở đâu?

– Buôn Ban Ma Dek. (Gã công an nhìn tôi, bảo buôn Ban Ma Dek cách đây hơn 10 cây số)
– Anh ở chung với cha mẹ anh? – Không, ở bên cạnh, với vợ và hai đứa con.
– Đã có vợ con rồi à! Tôi buột miệng.

Tôi đề nghị hai gã công an cùng đi với chúng tôi và anh bán gà về buôn Ban Ma Dek. Sau khi hỏi nhỏ bà chủ nhà trọ, hai gã công an gật đầu. Nhưng bảo chúng tôi phải thuê xe ôm, vì về buôn Ban Ma Dek chỉ có đường rừng, xe ô tô không chạy được. Bà chủ nhà trọ gọi giùm chúng tôi bảy cái xe ôm.
Cha mẹ của anh bán gà đã khá già, trước đây chỉ sống lẻ loi trong núi nên không nói được tiếng Việt. Chúng tôi lại trao đổi qua sự thông dịch của gã công an người Thượng. Vợ và hai con của Ksor Tlang thấy có nhiều người cũng chạy sang nhìn.
Lúc đầu, ông bà cứ nhất quyết Ksor Tlang là con đẻ của ông bà. Nhưng thấy tôi khóc lóc, năn nỉ và nhờ gã công an gạn hỏi, cuối cùng ông cha mới kể lại sự thực.
– Năm ấy, lâu rồi, sau mấy ngày chiến trận ác liệt, mà vợ chồng tôi phải nằm suốt sau tảng đá to trước nhà để tránh đạn. Bỗng một buổi chiều có người lính mặc áo rằn ri, bị thương nặng lắm, nhưng cố lết vào dưới căn nhà sàn của tôi rồi gục chết, trên lưng có mang một đứa bé. Nó là thằng Ksor Tlang bây giờ.

– Rồi xác của người lính đó ở đâu? Tôi hỏi.
Ông chỉ tay ra rừng cây phía trước:
– Tôi đã chôn ông ta dưới gốc cây ấy, rồi rào lại, sợ thú rừng bới lên ăn thịt.
Chúng tôi theo sau hai người công an dìu ông già đi về phía khu rừng.
Tôi khóc ngất khi nhìn thấy ngôi mộ lè tè nằm dưới tàng cây, được rào lại bằng những que gỗ nhỏ. Vợ chồng cháu Thùy Dương cũng qùy xuống ôm vai tôi mà khóc. Tôi ngước lên dáo dác tìm Ksor Tlang, thằng Cao Nguyên, đứa con trai duy nhất của vợ chồng tôi. Nó đang đứng bất động, hai tay đang nắm chặt hai đứa con đang trần truồng, đen đúa. Tôi chạy lại ôm hai đứa nhỏ vào lòng, nhưng cả hai đứa trố mắt nhìn tôi dửng dưng, xa lạ.

Tôi khóc lóc, năn nỉ lắm, ông già mới cùng vợ chồng và hai đứa con thằng Ksor Tlang về nhà trọ với tôi. Nhờ bà chủ thuê một cậu học trò thông dịch. Suốt một đêm, tôi, cháu Thùy Dương và vợ chồng chị vú giúp việc ngày xưa, giải thích, khóc hết nước mắt, xin vợ chồng Ksor Tlang và hai đứa con theo chúng tôi về Nha Trang ở với ông bà ngoại, rồi tôi sẽ tìm cách đưa sang Na Uy. Cả hai ông bà già, nếu muốn, chúng tôi sẽ mua nhà cửa ở Nha Trang và chu cấp cho ông bà sống gần Ksor Tlang. Nhưng cả Ksor Tlang và ông gìa một mực chối từ, bảo là họ không thể nào bỏ bản mà đi. Núi rừng mãi mãi là nhà của họ. Họ không thể nào sống xa rừng cũng như loài cá không thể nào sống mà không có nước.

Dự trù lên đây ba ngày. Vậy mà chúng tôi đã ở lại đây hơn hai tuần rồi. Ban đầu tôi tính xin phép cha mẹ nuôi của Ksor Tlang cho tôi cải táng phần mộ của chồng tôi, mang về an táng ở nghĩa trang gia tộc ở Nha Trang, nhưng rồi tôi đã đổi ý. Bởi anh phải nằm ở đây, bên cạnh đứa con trai và hai đứa cháu nội của anh, mặc dù bây giờ tất cả đã trở thành người Thượng và chắc không biết gì về anh. Và chắc có lẽ anh cũng muốn nằm lại với bao đồng đội, một thời cùng anh vào sinh ra tử, mà linh hồn chắc đang còn phảng phất quanh đây. Tôi mướn thợ xây lại ngôi mộ. Trên tấm bia không có hình chân dung của anh, mà có tấm ảnh anh chụp chung với tôi và hai cháu Cao Nguyên và Thùy Dương trong ngày sinh nhật bốn tuổi của Cao Nguyên, chỉ hơn một tháng trước ngày anh mất. Tấm ảnh này lúc nào tôi cũng mang theo.

Tôi cũng không thể bắt Cao Nguyên và vợ con phải rời khỏi núi rừng, nơi đã cưu mang nó. Có lẽ cái tên Cao Nguyên mà ngày xưa chồng tôi đề nghị đặt cho nó đã vận vào cuộc đời của nó. Điều làm tôi đau đớn hơn là tôi chẳng làm được điều gì cho đứa con trai ruột thịt máu mủ của mình, ngoài việc nhờ bà chủ nhà trọ thuê người dựng cho vợ chồng nó và ông bà cha mẹ nuôi một ngôi nhà sàn chắc chắn và rộng rãi hơn, sắm cho vợ chồng nó và hai đứa con một số quần áo mới. Nhưng phải năn nỉ khóc lóc mãi nó mới chịu nhận, cùng số tiền 200 đô la. Bằng đúng số tiền mà tôi trả công cho hai gã công an! 

Ngày cuối cùng, chúng tôi ở lại với với vợ chồng Cao Nguyên trên ngôi nhà sàn mới. Buổi chiều tôi bảo Cao Nguyên và vợ con nó, thay quần áo mới, cùng với tôi và vợ chồng Thùy Dương ra thắp hương trước mộ ba nó. Nó quỳ bên cạnh tôi, cúi đầu nói điều gì lầm thầm trong miệng và khi ngước lên, đôi mắt đỏ hoe. Suốt đêm hôm ấy, tôi ngồi khóc một mình. Tôi nghĩ tình mẫu tử thật thiêng liêng, nhưng có lẽ ông trời đã phạt tôi. Tôi sinh ra Cao Nguyên, nhưng không bảo vệ được con mình, để mất nó trong núi rừng này từ ngày nó mới lên bốn tuổi. 

Tôi rời khỏi Cheo Reo, chạy ngược về cầu sông Ba theo Tỉnh Lộ 7 ngày xưa, mang theo trong lòng nỗi đau đứt ruột. Đang giữa mùa xuân nhưng cả bầu trời nhuộm màu ảm đạm. Nhìn núi rừng hai bên đường, trong ràn rụa nước mắt, tôi mơ hồ như cây lá không còn nữa, mà tất cả đều mang hình dáng của những bộ xương người nối tiếp nhau, trùng điệp. Tai tôi nghe trăm ngàn tiếng khóc quyện vào trong gió. Không biết đó là tiếng khóc của người hay tiếng khóc của cây?

Phạm Tín An Ninh

From: Tuyen Ho- Nguyen

Chuyện Cô Nhíp ngày xưa “chống Mỹ cứu nước “và Cô Nhíp bây giờ thành “công dân Mỹ”

Chuyện  Nhíp ngày xưa “chống Mỹ cứu nước “và  Nhíp bây giờ thành “công dân Mỹ” !! (Nguoidongbang)

“…Chuyện gì đã xảy ra vậy? Sử sách sẽ ghi chép thế nào đây? Cả tôi lẫn nó đều không ai nhắc về “Cô Nhíp” với chiếc xe tăng từ Củ Chi tiến về Sài Gòn cách đây 40 năm, về cái chuyện nó rời bỏ VN và quên đi quá khứ “hào hùng” của nó…”

Cô Nhíp quốc tịch Mỹ lên bìa tạp chí Văn hóa Nghệ An

24/04/2015

Một hình ảnh công dân Việt nam nay là quốc tịch Mỹ : Đó là Cô Nhíp người hùng một khoảnh khắc dẫn xe tăng tiến vào dinh Độc lập trưa ngày 30/4/1975… và ngay sau đó cô cũng đã vứt bỏ đi quá khứ đến với một vương quốc “giãy chết” Nước Mỹ xứ sở của muôn vàn thăng trầm sự kiện 30/4/1975

Nay được tạp chí Văn Hóa Nghệ An lấy hình ảnh “Cô Nhíp” đặt trang trọng trên ảnh bìa số kỷ niệm 30/4 tròn 40 năm ngày giải phóng đất nước

Không biết sự cân nhắc này có làm phiền đến anh Phan Thắng không ?

co_nhip01

Phan Thắng

Cô Nhíp: Có ai còn nhớ?

co_nhip02

Hình ảnh Cô Nhíp 40 năm trước

co_nhip03

co_nhip04
và Cô  Nhíp (công dân Mỹ)  hiện nay định cư tại Nam Cali US

Ngày 29/4/1975, xe tăng của Phe Cách Mạng đã vào đến cửa ngõ Sài Gòn theo hướng Tây Bắc. Trên xe có một cô gái trẻ, xinh đẹp, đầu đội mũ tai bèo, dẫn đường.

Sau này, đạo diên họ khác. Một khoảng đời với cái tên Nhíp trước đây, cô đã tự chôn vùi.

Mùa hè cách đây vài năm, ở thành phố Garden Grove, Nam California, tôi gặp lại Nhíp. Vẫn xinh đẹp như xưa nhưng khi được hỏi về ngày 29/4/1975, Nhíp trả lời: “Tôi đã quên rồi. Quên lâu lắm rồi”.

Một buổi sáng thượng tuần tháng 10 năm ngoái, “Cô Nhíp” đến nhà thăm tôi khi vừa tử Cali về lại VN.
Tôi và nó là đôi bạn thân trước khi nó rời bỏ Sài Gòn để đến nước Mỹ xa xôi và trở thành cư dân ở đó.

Bốn mươi năm “Cô Nhíp” năm xưa đã mất dấu thật rồi. Chỉ còn đây, một người Mỹ gốc Việt.

Chuyện gì đã xảy ra vậy? Sử sách sẽ ghi chép thế nào đây? Cả tôi lẫn nó đều không ai nhắc về “Cô Nhíp” với chiếc xe tăng từ Củ Chi tiến về Sài Gòn cách đây 40 năm, về cái chuyện nó rời bỏ VN và quên đi quá khứ “hào hùng” của nó.

Có nỗi xót xa không thể nói thành lời.

Nguoidongbang’s blog

Nguồn: https://kontumquetoi.com/2015/04/26/chuyen-co-nhip

Bổ sung:

Cô Cao Thị Nhíp quê Tiền Giang, lên Sài Gòn hoạt động cách mạng, tham gia biệt động thành dưới vỏ bọc là người làm công cho gia đình một sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa. Vốn thông thuộc đường sá, cô Nhíp dễ dàng dẫn đường cho xe tăng vào đánh sân bay Tân Sơn Nhất, Năm 1976 Hãng phim Giải Phóng đã dựng phim “Cô Nhíp” do Nguyễn Trí Việt viết kịch bản và Khương Mễ làm đạo diễn, bộ phim được chiếu rộng rãi và giành nhiều giải thưởng điện ảnh lớn.

Năm 1983 cô Nhíp làm ở Công ty Thương nghiệp tổng hợp Quận 5 rồi sang Mỹ, mang quốc tịch Mỹ với tên họ khác, ở thành phố Garden Grove, Nam California.”
(fb Lịch sử Việt Nam qua ảnh)