Đời người như cơn gió thoảng…VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC

Đời người như cơn gió thoảng…

VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC

Đây có lẽ lần đầu tiên tôi ý thức rõ ràng và thấm thía ý nghĩa thăm thẳm của sự tiếc nuối hụt hẫng và đau khổ đắng ngắt khi viết và nhẩm đọc 4 chữ: VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC.

Sáng nay tôi bị đánh thức bởi tiếng chuông điện thoại và bàng hoàng khi nghe tin thầy Ngữ đã chết. Tôi cầu mong đây chỉ là sự nhầm lẫn dù linh tính biết rằng đây là tin chính xác và chính thức.

Chẳng phải mình tôi bàng hoàng mà những ai quen biết thầy cũng đều ngỡ ngàng và tiếc thương. Tối qua ngày 11/5 khi đang đi dạo ở khu Manhattan, thành phố New York thì thầy bị tên lái xe say rượu tông phải. Có lẽ thầy đã chết ngay sau khi bị xe tông.

Thầy có biết đây là lần cuối cùng thầy di dạo phố? Thầy có biết đây là ngày cuối cùng thầy sống trên trần gian này? Thầy có biết đây là lần cuối cùng thầy cười nói cùng bạn bè, cùng với ai thầy gặp trong ngày hôm qua? Thầy có biết đây là lần cuối cùng thầy ngắm phố hoa lệ New York về đêm? Cái chết đến như kẻ trộm trong đêm. Không ai biết được. Nhưng mình tin chắc rằng sáng qua khi thức dậy thầy đã dâng ngày cho Chúa và nếu có dự lễ thầy đã đón nhận mình máu thánh Chúa như là của ăn đàng… rồi!

Thầy tên là Phê-rô Trần Quốc Ngữ, 29 tuổi, sinh trưởng ở An Giang. Gia đình thầy thuộc xứ đạo Năng Gù, Giáo-phận Long Xuyên. Thầy đến Mỹ vào tháng 8 năm 2017 và ở nhà dự tu của Giáo-phận Metuchen. Đầu năm 2018 thầy bắt đầu chương trình tiền thần học tại chủng viện thánh Vincentê, Latrobe, PA và mùa thu thầy tiếp tục học thần học tại chủng viện Vô Nhiễm Nguyên Tội, South Orange.

Khi mới đến Mỹ lúc còn ở nhà dự tu, thầy có đến dự lễ tại Cộng Đoàn Công Giáo VN, thuộc Giáo-phận Metuchen để ra mắt cộng đoàn. Sau thánh lễ, thầy ngỏ lời chào cộng đoàn và đã chiếm được cảm tình của rất nhiều người với bài giới thiệu về mình và những trải nghiệm của mấy tháng đầu tiên trên đến Mỹ. Người ta thấy ngay sự thân thiện, gần gũi, ăn nói lưu loát, khúc chiết… và óc khôi hài dí dỏm thật dễ thương của thầy. Nên không ngạc nhiên khi thấy rất nhiều người cảm thấy hụt hẫng và thương tiếc sự ra đi quá bất ngờ khi tuổi đời còn quá trẻ. Nhiều người đã biểu tả cảm xúc chân thành khi chia sẻ rằng chưa bao giờ họ có cảm giác thương tiếc ai như thương tiếc thầy Phê-rô.

Lại một lần nữa tôi suy gẫm Lời Chúa trong sách tiên tri Isaiah:

“Lạy Chúa, con như người thợ dệt,

đang mải dệt đời mình,

bỗng nhiên bị tay Chúa

cắt đứt ngay hàng chỉ.” (Is 38, 12)

Vẫn biết cuộc đời là vô thường. Vẫn biết cuộc đời chóng qua như cỏ, như bông hoa nở trong cánh đồng, một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc cũng không còn mang vết tích. Vẫn biết nước sẽ theo nguồn chảy về biển lớn. Vẫn biết có sinh thì có diệt. Nhưng sao không khỏi đau lòng khi thấy một người trẻ bất ngờ ra đi.

Thầy Ngữ cũng đang mải mê dệt đời mình, mải mê vẽ tương lai, không phải tương lai cho riêng mình nhưng là tương lai của Giáo Hội, tương lai hiến dâng cả đời trong ơn gọi tận hiến phục vụ cho cánh đồng lúa mênh mông… mà thiếu thợ gặp. Vì yêu mến mà thầy bỏ cha mẹ, anh chị em, bạn bè, bỏ quê hương đến xứ lạnh để học ngôn ngữ mới, văn hoá mới, nếp sống mới và cả thức ăn không hợp khẩu vị. (Ngay trong lời chia sẻ với cộng đoàn lần đầu tiên sau mấy tháng ở Mỹ thầy đã thú thật là bị sụt mấy ký vì không quen thức ăn Mỹ.) Rồi miệt mài đèn sách, với chữ nghĩa… chỉ vì muốn thành người thợ gặt tốt cho cánh đồng lúa sau này. Đức cha hay khoe mỗi khi có dịp về thầy như là người thông minh và học giỏi. Nhưng nay tất cả mọi ước mơ đó đã khép lại… khi thầy bước qua ngưỡng cửa tử sinh để trở về với Đấng mà thầy tôn thờ từ thơ ấu. Thầy trở về với Thiên Chúa. Vì Ngài là cùng đích mà mọi người chúng ta rồi cũng sẽ phải đến.

Sáng nay sau khi nghe tin thầy mất, một chị đã đăng bức hình do thầy vẽ tặng chị mới đây. Bức tranh ấy thầy vẽ chiếc thuyền buồm mong manh nhỏ bé một mình trên biển cả. Xa xa là ngôi nhà như ngọn hải đăng soi lối cho thuyền không lạc lối. Trên bầu trời xanh cao bao la có những ngôi sao đang lấp lánh… ở dưới là chân trời với màu vàng sáng ánh lên niềm hy vọng.

Con thuyền ấy nay đã cặp bến bình an… thầy đã về yên nghỉ trong vòng tay yêu thương vô ngần của Thiên Chúa ở giữa những vì sao.

Thầy ra đi để lại thương tiếc cho bao nhiêu người. Ông bà cố, anh chị em, các bạn bè, các thầy cùng lớp và cùng địa phận, Đức cha, quý cha đang hướng dẫn thầy trên đường tu đức … và mọi người quen biết và yêu quý thầy. Chắc chắn ông bà cố đang thương khóc thầy và đau khổ khi không thể gần gũi và được nhìn thấy mặt con trong lúc này. Xin Chúa ban cho mọi sự thuận lợi để xác thầy được về với gia đình và nghỉ ngơi nơi trong lòng đất quê nhà.

Lạy Thiên Chúa giầu lòng xót thương xin tha thứ mọi tội lỗi và đón nhận linh hồn Phê-rô vào nước hằng sống. Xin ban ơn an ủi, bình an và lau khô mọi giọt lệ của cha mẹ, anh chị em và mọi người yêu mến và khóc thương thầy.

Vô cùng thương tiếc,

Lm. Hùng Cường, M.M.

https://diometuchen.org/…/a-letter-from-bishop-checchio…

Mái Nhà Xưa-TRUYỆN NGẮN

TRUYỆN NGẮN LƯỢM TRÊN MẠNG….

Mái Nhà Xưa

Tôi qua Mỹ theo Chương Trình HO đầu năm 1990. Tôi đến đây một mình vì chồng chết trong trại cải tạo và chúng tôi không có con cái. Tội nghiệp ảnh, chúng tôi mới ăn ở với nhau chưa đầy nửa tháng thì ảnh bị tập trung. Nếu cái ngày đen tối ấy trễ hơn chừng nửa tháng, có thể ảnh đã có người nối dõi.

Hội USCC, sau này là IOM, thuê cho tôi một cái nhà chứa xe được sửa lại để tá túc. “Cái nhà” này ở gần trường tiểu học Howard thuộc thành phố Glendale, California. Mỗi buổi chiều tôi hay lang thang trên lề của một con đường có trồng hai hàng phượng tím. Những cây phượng tím ra hoa, làm tím cả con đường vắng lặng, tím cả không gian chung quanh và tím cả lòng tôi. Tôi biết đến đây tôi sẽ buồn lắm và cô đơn thêm, nhưng nếu thu mình trong cái nhà chứa xe đó, tôi sẽ chán đến thế nào. Đối với tôi, thà buồn hơn chán. Buồn không làm ai tự tử, nhưng khi chán ta thường không muốn sống.

Một hôm tôi đi lang thang xa hơn thường lệ. Tôi đến gần một ngôi nhà nhỏ kiểu cổ, xinh xắn. Trước nhà trồng toàn một loại hoa hồng màu đỏ thắm. Một bà cụ từ trong nhà bước ra, tay cầm một bình tưới, đến bên những khóm hoa hồng. Bà cụ trông thấy tôi, gật đầu chào. Tôi lễ phép cúi đầu chào lại. Sau khi bước đi vài bước tôi có cảm tưởng như bà cụ đang nhìn theo tôi, nên quay đầu lại. Quả nhiên như vậy. Tôi mỉm cười tiến về phía bà, đưa mắt nhìn bà và lấy tay ra dấu, có ý nói cho tôi xin một đóa hoa hồng. Bà cụ gật đầu. Tôi ngắt một đoá hoa hồng trao cho bà. Bà mỉm cười nhận đoá hoa, đưa lên môi hôn.

Chiều hôm sau, khi đi ngang qua ngôi nhà đó tôi thấy bà cụ đang ngồi trên chiếc ghế mây cạnh mấy khóm hoa. Bây giờ tôi mới có dịp nhìn kỹ bà. Đó là một bà cụ người Mỹ trắng ngoài 80 tuổi, trông rất đẹp lão và hiền từ. Mặt bà cụ ửng hồng dưới mấy đoá hoa hồng đỏ thắm. Tôi nhớ đến bốn câu thơ rất nổi tiếng của Thôi Hộ mà chồng tôi thường ngâm nga:

Khứ niên kim nhật thử môn trung,

Nhân diện đào hoa tương ánh hồng.

Nhân diện bất tri hà xứ khứ,

Đào hoa y cựu tiếu đông phong.

(Năm ngoái, ngày hôm nay tại cửa ngõ này,

Mặt người đẹp với hoa đào cùng một màu hồng.

Không biết mặt người đẹp bây giờ ở nơi đâu,

Mà hoa đào vẫn cười với gió đông như cũ)

Tôi bật cười vì đã ví bà cụ với một cô gái đẹp; nhưng tôi lại nghĩ biết đâu sang năm đi ngang đây tôi sẽ không thấy bà cụ nữa. Bà cụ đã ngoài 80 rồi mà.

– “Cô ơi! Biết nói tiếng Anh không””*

Nghe tiếng bà cụ, tôi quay lui, đến gần bà:

– “Dạ biết. Con từng làm cho một hảng thầu Mỹ ở Việt Nam.”

– “Cô người Việt Nam hả” Thật là thú vị!”

Bà nói bà không thể nào phân biệt được người Việt Nam với người Tàu, Nhật hay Thái Lan v.v… Bà mời tôi vào xem căn nhà và khu vườn sau.

– “Cái nhà này đã chứa đựng biết bao nhiêu nhiêu kỷ niệm của ông nhà tôi, David Carter. Cô xem đây! Sàn nhà là cả một công trình của ổng trong suốt mấy năm. Ổng lụm cụm cưa gọt từng khúc gỗ, rồi sơn phết và ráp lại thành cái sàn nhà này. Mấy con thú giả phía sau vườn nữa, cô không tưởng tượng nổi đâu, chính ông nhà tôi đã nặn ra đó. Còn cây sồi sau vườn nữa. Hồi chúng tôi còn nằm chung một giường cho đến khi nằm riêng, nó vẫn y như vậy. Ước gì mình sống mãi với nó. Một ngày nào đó mình sẽ bỏ nó mà đi. Với tôi, chuyện ấy chẳng xa xôi gì”

– “Bà còn khoẻ quá mà. Cái nhà đẹp ghê, lại sạch sẽ ngăn nắp nữa. Bà tự mình săn sóc hả””

– “Tôi tự săn sóc. Thỉnh thoảng cũng có người giúp.”

– “Bà không sợ con là ăn cướp sao mà dám đưa con vào nhà như thế này.”* Tôi cười nói.

– “Vậy chớ cô không sợ tôi là mụ phù thủy ác độc sao mà dám vào đây.”* Bà cười, hàm răng trắng tinh như hàm răng của một cô gái biết chăm sóc sắc đẹp.

– “Ở Mỹ chỉ có trẻ con với người già là dễ thương và không nguy hiểm.”*Tôi nói đùa.

– “Không đâu, thanh niên cũng dễ thương lắm. Cô xem này.”

Bà đến kéo cái hộc tủ nhỏ ra nhưng nó đã bị khoá. Bà vào trong phòng ngủ nhưng rồi đi ra:

– “Tôi định cho cô xem hình con trai tôi nhưng tìm không ra chìa khoá. Nó mất tích ở Việt Nam. Tôi già cả lẩm cẩm mất rồi. Thời gian trôi qua nhanh thật. Mới là một cô gái, mà nay đã thành một bà già. Tôi thấy bà chị Jennifer của tôi mà sợ quá. Chị ấy nằm một chỗ suốt hai năm như vậy. Cô y tá phải nghiền đồ ăn bơm qua lỗ mũi; hạ bộ chị ấy luôn luôn ướt vì phân và nước tiểu, vài chục phút phải thay một cái tã lót, dù đã có cái quạt nhỏ hong khô từ dưới giường.

Hồi xưa chị ấy là một ca sĩ nổi tiếng. Khi chị đứng trên sân khấu hát, chắc không có chàng trai nào tưởng tượng nổi chị sẽ phải bị thay tã lót thường xuyên. Chị mất cách đây 3 năm. Làm sao bây giờ cô” Tôi không muốn giống chị tôi, nhưng tôi còn yêu đời lắm, không muốn chết trẻ đâu. Phải chi đến một lúc nào đó mình quá già và khoẻ mà Chúa gọi mình đi. Cái giây phút đó phải không đau đớn mới được. Nhưng mà tôi cũng không muốn chết đâu, dù bằng cách nào.”

– “Con nghĩ trong trường hợp bà thì Chúa chưa gọi bà đâu.”

– “Nhưng Chúa cũng sẽ gọi chứ! Mình sống trên đời biết bao năm, gắn bó với nào là người thân, bạn bè, khung trời rộng, hoa cỏ xanh tươi, căn nhà ấm cúng&Vậy rồi mình rời bỏ tất cả. Thật vô lý quá!”

– “Bà hãy nghĩ đến những người sắp chết còn khổ hơn những người như Jennifer; chẳng hạn như những tử tội chờ bị hành hình, họ đau khổ cả tâm hồn lẩn thể xác, nằm trong ngục thấp thỏm, không biết lúc nào ra pháp trường, và khi bị hành hình, bộ không đau đớn sao.”

– “Họ có tội, còn mình có tội gì đâu.”

– “Có khi họ bị oan. Còn tử tội chính trị ở một vài nước như nước con, liệu họ có tội thật không. Mà bà là con chiên của Chúa mà, sao lại sợ Chúa gọi””

– “Thiên Đàng hay Địa Ngục gì tôi cũng không muốn đến, khi chưa có tin tức chính xác về con tôi.”

– “Đến một trong hai nơi đó chắc chắn bà biết chính xác.”

– “Ừ, phải.”

Thấy chuyện trò như vậy cũng tạm đủ, tôi xin phép ra về. Bà nói lần sau bà sẽ cho xem ảnh con bà. Tôi cũng hứa sẽ đem hình chồng tôi cho bà xem.

Vì bận chút việc, ba hôm sau tôi mới qua nhà bà, tay cầm theo một tập ảnh. Mới trông thấy tôi, bà đã vào phòng trong đem ra một tập ảnh lớn:

– *”Hình nó chụp lúc học mẫu giáo nè. Còn đây là hình chụp lúc tốt nghiệp trung học. Đây là hình chụp lúc đi lính. Đây là hình chụp khi ở Việt Nam. Nó có cả bạn gái Việt Nam nữa đó. Phải chi nó có một đứa con.”

Bà trưng ra nhiều hình quá, tôi xem không kịp . Sau cùng bà đưa cho tôi xem một tấm hình con bà mặc quân phục tác chiến, đầu đội mũ lưỡi trai, mang súng trường:

– *”Đây là hình mới nhất của nó. Có khi nào cô gặp một người như vậy không”* Nó tên John Carter, cái tên rất dễ nhớ.”

Tôi nhìn John trong hình: cao lớn, khoẻ mạnh, đẹp trai, có hơi ngổ ngáo. Tôi đã gặp biết bao nhiêu quân nhân Mỹ như vậy ở Việt Nam. Hầu như họ đều giống nhau; hầu như họ chỉ là một người được phân ra thành nhiều người, dù đen, trắng, vàng hay đỏ. Tôi nói:

*- “Thật tình con không nhớ nổi.”

– “Có khi nào nó lấy vợ, có con rồi ẩn mình ở đâu bên đó không, như một truyện phiêu lưu tôi đã đọc. Có khi nào nó điên điên, khùng khùng trốn trong rừng rậm không” Nó điên khùng hay gì cũng được, miễn là còn sống.”*

Bà buồn bã nói tiếp:

*- “Tôi khô nước mắt rồi cô ơi, không khóc được nữa.”

Tôi lấy hình Thuận-chồng tôi- ra cho bà xem. Bà nói:

– “Họ mặc đồ giống nhau quá hả. Chồng cô đâu””

– “Chồng con chết trong trại cải tạo.”

– “Tôi có nghe nói đến những trại tù đó. Con tôi cũng có thể ở trong những trại như vậy. Cực nhọc, đói khát. À, cô có biết một món ăn gọi là “phở” không” Con tôi viết thư nói nó thích ăn phở lắm. Tôi có đi ăn mấy lần rồi. Hôm nào chúng ta đi ăn nghe. Tôi đãi cô.”

Lần thứ ba tôi đến, bà nói:

– “Gặp nhau nhiều lần mà tôi quên nói tên tôi cho cô biết. Tên hồi còn con gái của tôi là Julia. Cô tên gì””

– “Con tên Oanh”

– “Ồ, cái tên hơi khó gọi. Gọi là One được không””

– “Dạ được. One, number one.” Tôi cười nói.*

Sau đó tôi đưa bà qua thăm nơi ở của tôi. Vừa bước chân vào nhà, bà đã nói:

– “Đạm bạc quá. Cô có muốn qua ở với tôi không””

– “Xin cám ơn bà. Thật tình, con muốn tự do. Dù sao, bà với con cũng là hai người, không phải một.”

– “Nhưng cô cứ qua nhà tôi chơi, muốn ở lại, ngủ lại bao lâu cũng được.”

– “Dạ vâng, để hôm nào tiện.”

Thế rồi sau đó tôi qua nhà bà thường xuyên. Chúng tôi kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện về gia đình, bạn bè và chuyện Việt Nam trước cũng như sau 30-4-1975. Bà cho biết thân nhân gần nhất của bà hiện nay chỉ còn một người em gái tên là Cindy thua bà 10 tuổi và đứa con trai của bà ấy tên Richard, nhưng rất ít khi họ gặp nhau. Lần gặp nhau mới nhất cách đây chừng hai năm; còn thân nhân của ông cụ thì ở tận Tô Cách Lan, hầu như bặt tin. Tôi cũng nói hoàn cảnh tôi không khác gì bà.

Chúng tôi cùng ăn với nhau, cùng xem TV. Khi mỏi mệt tôi nằm trên sô-pha ngủ một cách tự nhiên thoải mái như trong nhà mình. Trong vòng sáu tháng như vậy, ngoại trừ nhà bà Julia, tôi không hề đi đâu cả.

Một hôm tôi nghe có tiếng xe cứu thương réo inh ỏi. Linh cảm cho tôi biết đang có chuyện chẳng lành xảy ra cho bà Julia. Tôi chạy vội qua nhà bà. Tôi đến nơi vừa lúc người ta dìu bà lên cáng để khiêng ra xe cứu thương. Mặt bà nhợt nhạt, miệng há ra, mắt lờ đờ. Tôi đến bên bà nhưng mấy người khiêng cáng ngăn tôi lại. Bà khoát tay ra dấu phản đối rồi chỉ tôi, nói thều thào:

– “Người…quen…của…tôi”

Một người khiên cáng nói:

– “Chị coi giùm nhà. Liên lạc Glendale Medical Center sau.”

Tôi vào nhà bà, thu dọn sơ qua, kiểm soát bếp núc, phòng tắm. Mãi đến chiều tối tôi mới được vào thăm bà. Bà nằm trong bệnh viện nguyên một tuần. Tôi nghỉ việc để săn sóc bà. Tôi làm tại một tiệm móng tay, người chủ ưu tiên cho tôi muốn nghỉ hay làm lúc nào cũng được, miễn là thông báo trước.

Đến ngày thứ tám bà được xuất viện nhưng phải ngồi trên xe lăn. Tôi đem theo một ít áo quần và vật dụng qua nhà bà ở. Nhìn bà nằm trên giường, mắt nhắm nghiền, hơi thở mệt nhọc, tôi thấy bà giống mẹ tôi một cách lạ kỳ, giống hồi mẹ tôi nằm trên giường bệnh trước khi mất. Rõ ràng bà khác mẹ tôi về vóc dáng, nước da, khuôn mặt…nhưng vẫn có cái gì đó mà tôi không thể đặt tên được, rất giống mẹ tôi. Không biết cái nhìn của tôi có gì khác thường không mà tôi thấy có một số người Mỹ, dù đen, trắng, vàng hay đỏ lại giống một số người Việt nào đó, thí dụ như giống cái liếc nhìn, nụ cười hay tính cách.

Hầu như tôi săn sóc bà từ A đến Z. Tôi dìu bà đi tiểu, đi tiêu, đi tắm rửa. Tôi nấu ăn, giặt quần áo, làm vệ sinh nhà cửa. Có lần bà nói muốn ăn phở. Tôi vội vàng lái xe đi mua một tô phở nhỏ chia làm hai, bà một nửa, tôi một nửa. Bà vừa ăn vừa nói:

– “Biết đâu thằng John đang ăn phở bên Việt Nam.”

Ăn xong bà viết một chi phiếu đưa cho tôi:

– “Con nghỉ làm thì tiền đâu mà tiêu. Cầm cái này đi.”

Thấy tờ chi phiếu 300 đô, tôi trả lui cho bà:

– “Cám ơn bà. Con không nhận đâu.”

Bà lắc đầu bảo tôi phải nhận. Tôi từ chối mãi không được, bèn cầm lấy chi phiếu.

Sau đó vài ngày bà Julia khỏe dần nhưng không ra ngồi ngoài hiên như trước. Tôi đi làm trở lại, nhưng tối nào cũng qua nhà bà ngủ. Vài tháng sau, vào một buổi tối, bỗng nhiên bà cụ nắm tay tôi nói:

– “Gọi tao bằng mẹ đi.”*

Tôi cảm động gọi:

– “Mẹ!”*

Bà cụ Julia ôm tôi khóc thút thít như một đứa trẻ.

Mùa đông năm đó bà cụ Julia lại bệnh giống y như lần trước và phải nằm bệnh viện. Tôi được biết, có thể má sẽ nằm đây cho đến khi không cần phải nằm nữa, nghĩa là cho đến khi nhắm mắt lìa đời. Cái gì đến với bà Jennifer trước đây thì nay lại đến với má: – Má không thể tự mình ăn uống và tắm rửa được, cô y tá hay tôi phải thường xuyên thay tã lót cho má. Má thều thào nói với tôi:

– “Cái đó thật sự đã đến với mẹ.”

Tôi rơm rớm nước mắt hỏi:

– “Mẹ thấy trong người thế nào”

– “Người mẹ như đúc toàn bằng xi-măng, nhưng không đau đớn lắm, có lẽ nhờ thuốc. Dù sao tâm hồn mẹ thanh thản lắm.”

– “Mẹ có nghĩ ngợi gì không”

– “Mẹ nghĩ đến Chúa, nghĩ đến thằng John. Con nói phải, đến một trong hai nơi đó mẹ sẽ biết tin nó chính xác hơn. Nghĩ đến đây mẹ cảm thấy vui. Ôi chao, phải chi con là vợ thằng John thì mẹ sung sướng biết bao nhiêu. Con có muốn làm vợ nó không””*

Tôi nói cho má vui lòng:

– “Dạ muốn.”

– “Vậy con ở bên này chờ nó; còn mẹ qua bên kia…”

Má vừa nói vừa tháo chiếc nhẫn từ một ngón tay ra đưa cho tôi.

– “Nếu mẹ có thể giao cái nhà cho con thì mẹ cũng giao.. Giao nhà cho con thì mẹ an tâm hơn nhiều. Nhưng mà không được. Thôi, mẹ cho con chiếc nhẫn này. Đây là chiếc nhẫn mẹ sắm cho John cưới vợ. Thôi, con về ngủ kẻo khuya.”

Vì mỏi mệt, tôi về nhà ngủ mê man cho đến khi nghe tiếng chuông cửa reo liên tiếp, sau đó là mấy tiếng gõ cửa lớn. Tôi đến nhòm vào cái “lỗ an toàn” trên cửa. Một thanh niên chừng 25 tuổi đang đứng bên ngoài. Tôi hỏi anh ta là ai, anh ta nói là cháu của bà Julia. Sau khi vào nhà, anh ta tự nhiên đi tới đi lui khắp nhà, nhìn chỗ này một chút, chỗ kia một chút. Cuối cùng anh thanh niên nói:

– “Việc của chị đến đây là xong. Chị có thể nghỉ việc. Dì Julia của tôi còn thiếu của chị tiền công gì không” Tôi là Richard Carpenter, cháu gọi Julia bằng dì ruột.”

– “Anh gặp bà Julia chưa”” *Tôi bực mình nhưng vẫn thản nhiên hỏi.

– “Dì tôi đã mất lúc 2 giờ sáng hôm nay.”*

Tôi oà khóc và bảo anh ta lái xe đưa tôi đến bệnh viện.

– “Không cần đâu. Đã có bệnh viện và nhà quàng lo. Tôi cũng sẽ lo mọi việc còn lại.” Anh thanh niên nói.

Tôi vội vàng lái xe đến bệnh viện. Người ta cho tôi vào gặp má Julia một cách dễ dàng. Lát sau Richard cũng đến. Anh ta yêu cầu tôi đến lấy những áo quần và vật dụng còn để tại nhà má Julia, để anh ta thuê người chuyên môn về vệ sinh dọn dẹp, tẩy uế. Nhìn vẻ mặt Richard tôi lại thấy anh ta giống một người Việt Nam nào đó nơi quê nhà mà tôi không ưa. Tôi hôn má Julia và ra về.

Tôi bỏ ra ba ngày tìm mộ của má Julia nhưng không ai biết cả. Tôi đến ngôi nhà của má Julia tìm Richard nhưng không có anh ta ở đó. Tôi cảm thấy buồn và chán, muốn rời nơi đây để đi đâu đó thật xa.

Một hôm có người bạn rủ tôi qua Missouri mở tiệm nail.

– “Ở bên đó làm nail kiếm ăn dễ lắm.”

Tôi nói tôi không có tiền. Người bạn ngập ngừng một lát rồi nói:

– “Chị giao chiếc nhẫn cho tôi, xem như… cầm. Tôi với chị thì sao cũng được, nhưng còn chồng tôi nữa “

Tôi thật thà nói:

– “Nó đâu đáng giá bao nhiêu”

– “Hột xoàn thiệt mà. Theo tôi nghĩ, nó vừa đủ cho giá sang nửa cái tiệm nail.” Chị bạn cũng thật thà nói vậy.

– “Đây là vật kỷ niệm của tôi. Tuyệt đối không làm thất lạc. Với bất cứ giá nào, tôi cũng chuộc lại.”

Vậy là tôi theo người bạn qua Missouri. Nơi đây thấy có nhiều ngôi nhà kiểu cổ xinh xắn giống như nhà má Julia, tôi càng nhớ má hơn nữa.

Ở Missouri trong vòng 10 năm, chúng tôi lần lượt mở được 8 tiệm nail rải rác khắp tiểu bang và kiếm được một số tiền tương đối lớn. Tôi đã chuộc lại chiếc nhẫn từ lâu và luôn luôn đeo nó trên ngón tay áp út.

Qua năm thứ 11 ở Missouri tôi thấy mình có đủ điều kiện vật chất để an hưởng tuổi đời còn lại. Lúc ấy tôi vừa 46 tuổi. Tôi không có con cái, nên thấy mình không cần phải bon chen cực nhọc làm việc để lo tương lai cho chúng. Tôi nghĩ tôi nên trở về nơi tôi đã từng ở, khi mới vừa chân ướt chân ráo đến Mỹ bằng hai bàn tay trắng, nơi từng có má Julia thương yêu tôi và nhận tôi làm con dâu. Thế nên tôi bán ngôi nhà, cho bạn bè tất cả đồ đạc, sang lại cơ sở làm ăn , bán chiếc xe hơi và trở lại Cali.

Đến đây tôi thuê tạm một căn nhà nhỏ loại single để ở và mua ngay một chiếc xe hơi khác. Chiều nào tôi cũng lái xe đến đậu gần trường tiểu học Howard, rồi lang thang thả bộ trên lề con đường có hai hàng phượng tím. Không có gì thay đổi. Vẫn hai hàng phượng tím buồn, vẫn những ngôi nhà kiểu cổ xinh xắn.

Tôi đi như vậy để được nhìn lại cảnh vật từng lưu lại trong tôi nhiều kỷ niệm với má Julia. Tôi đi tới đi lui và tôi ước gì mua được một ngôi nhà nằm trong khu vực này. Thế rồi chân tôi tiến về phía ngôi nhà của má Julia lúc nào không hay. Ngôi nhà không có một dấu hiệu nào thay đổi, vẫn màu sơn đó, vẫn cây sồi lá xanh ngắt nhô lên ở phía sau, vẫn những khóm hoa hồng màu đỏ thắm. Và… tôi có hoa mắt không, má Julia từ trong nhà bước ra, tay cầm một bình tưới. Má chỉ tưới vài gốc hồng, rồi mệt mỏi, ngồi lên trên chiếc ghế gần đó. Nước mắt rưng rưng, tôi tiến về phía má, đưa hai tay ra, rồi lại bỏ tay xuống và ngắt một đoá hoa hồng trao cho má.

Tôi mơ hồ nghe tiếng nói:

– “Sao lại ngắt hoa như thế”.

– “Con là Oanh đây mà.”

– “Oanh hả” Tới đây làm gì vậy”

– “Con muốn thăm mẹ và hỏi thăm có ai bán nhà gần đây không.”

– “Nhà ở đây đắt lắm.”

– “Như cái nhà này thì bao nhiêu””

– “Đâu có bán mà nói bao nhiêu”*

Tôi lẩm bẩm:

– “Má Julia chưa chết và trở thành lú lẩn như thế này. Người ta đã lừa tôi.”

Tôi ôm bà cụ, khóc nức nở. Bà cụ cũng ôm lấy tôi:

– “Đã lâu rồi ta chưa được ai ôm như vậy. Phải chi ta có một đứa con gái hay con dâu hiếu thảo như thế này. Ta có một thằng con trai đi lính, rồi đào ngũ, bài bạc, hoang đàng. Thật vô phúc.”

Ngay lúc đó một người đàn ông từ trong nhà bước ra. Chính là Richard. Anh ta nói:

– “Chị muốn mua nhà hả” Mẹ tôi không bán đâu.”

Thì ra bà cụ này là dì Cindy, em của má Julia.

– “Mẹ tôi nói dì Julia không cho phép bán nhà. Mẹ tôi bây giờ lú lẫn lắm. Tôi không có cách gì thuyết phục mẹ tôi bán được, trừ phi… trừ phi mẹ tôi chết. Cô đợi được không” Tôi nghĩ cũng không lâu”

Anh ta lè nhè nói, mặt đỏ gay vì rượu. Anh ta không nhận ra tôi. Tôi sợ hãi chào anh ta và bà cụ, rồi bước nhanh ra xe.

Tối hôm ấy tôi nằm mơ thấy má Julia. Tôi nói đủ thứ chuyện với má, nào là chuyện chiếc nhẫn má cho, chuyện làm ăn, chuyện mua nhà. Sau cùng tôi hỏi:

“Sao mẹ không cho phép dì Cindy bán nhà cho con””

Má Julia cười nói:

– “Mẹ bảo đừng bán cho người khác, chứ không phải đừng bán cho con. Con cứ tới mua đi.”

Tôi cho đó chỉ là giấc mơ vớ vẩn nên không đế ý đến.

Một buổi sáng tôi lái xe ngang ngôi nhà của má Julia. Tôi định đi luôn, nhưng rồi như có một mãnh lực nào đó bảo tôi dừng lại. Tôi đã dừng lại và tiến về phía ngôi nhà.

– “Tôi đã thuyết phục được mẹ tôi bán nhà” Richard nói, nhìn tôi soi mói, nhưng vẫn không nhận ra tôi.

Thế là sau khi nhờ chồng của một người bạn rành về bất động sản trả giá và lo mọi thủ tục, tôi đã mua được ngôi nhà đó.

– “Tôi không ngờ chỉ trả có một tiếng là họ bán liền. Rẻ như cho.” Người chồng của bạn tôi nói.

Mấy tháng sau tôi dọn vào. Ngôi nhà hoàn toàn không được sửa sang tu bổ, mười năm trước thế nào thì nay nó cũng y như thế. Tôi kéo cái hộc tủ ra. Những tấm ảnh gia đình bụi bặm mà có lẽ 10 năm nay không có ai xem. Tôi cho sửa sang, tu bổ lại ngôi nhà, nhưng vẫn giữ nguyên kiểu cách ban đầu.

Theo phong tục Việt Nam, tôi lập một bàn thờ, trên đó đặt các tấm hình của ông bà nội tôi, ba má tôi, ông cụ David, má Julia, chồng tôi và John. Tôi phóng lớn một tấm hình của chồng và một tấm hình của John treo trên tường. Ai hỏi hai người đó là ai, tôi đều nói là chồng tôi, đời chồng trước và đời chồng sau. Tôi đã thay thế má Julia làm chủ ngôi nhà.

Nhưng rồi sẽ được bao lâu như vậy. Một ngày nào đó tôi cũng sẽ theo má Julia. Thế nên tôi thường bắc ghế ra ngồi ngoài hiên, mong có người đến ngắt tặng tôi một đoá hoa hồng.

May be an image of flower, tree and outdoors

HÃY LƯU LẠI: Người xưa đã từng răn dạy!

HÃY LƯU LẠI: Người xưa đã từng răn dạy!

1, Ăn no không gội đầu, đói không tắm. Rửa mặt nước lạnh, vừa đẹp vừa khỏe. Mồ hôi chưa khô, đừng tắm nước lạnh. Đánh răng nước ấm, chống ê chắc răng.

2, Ăn gạo có trấu, thức ăn có chất xơ. Nam không thể thiếu rau hẹ, nữ không thể thiếu ngó sen. Củ cải trắng, sống không tốt nhưng chín thì bổ. Ăn không quá no, no không nên nằm.

3, Dưỡng sinh là động, dưỡng tâm là tĩnh. Tâm không thanh tịnh, ưu tư vọng tưởng dễ nảy sinh. Tâm thần an bình, bệnh sao đến được. Nhắm mắt dưỡng thần, tĩnh tâm ích trí.

4, Dược bổ thực bổ, đừng quên tâm bổ. Coi tiền như cỏ, coi thân như bảo. khói hun cháy lửa, tốt nhất không ăn. Chiên dầu ngâm ướp, ít ăn thì tốt.

5, Cá thối tôm rữa, lấy mạng oan gia. Ăn mặc giữ ấm, nhất thân là xuân. Lạnh chớ chạm răng, nóng chớ chạm môi. Đồ chín mới ăn, nước chín mới uống.

6, Ăn nhiều rau quả, ít ăn đồ thịt. Ăn uống chừng mực, ngủ dậy đúng giờ. Đầu nên để lạnh, chân nên giữ ấm. Vui chơi biết đủ, không cầu an dật.

7, Dưỡng sinh là cần cù, dưỡng tâm là tĩnh tại.

8, Người đến tuổi già, thì phải rèn luyện, đi bộ chạy chậm, luyện công múa kiếm; đừng sợ giá lạnh, quét sạch sân nhà, hội họa thêm vui, tấm lòng rộng mở.

9, Nghe tiếng gà gáy, đừng cố nằm thêm, trồng hoa nuôi chim, đọc sách ngâm thơ; chơi cờ hát kịch, không ham phòng the, việc tư không nhớ, không chiếm lợi riêng.

10, Ẩm thực không tham, bữa tối ăn ít, khi ăn không nói, không nên hút thuốc; ít muối ít đường, không ăn quá mặn, ít ăn chất béo, cơm không quá nhiều;

11, Mỗi ngày ba bữa, thức ăn phù hợp, rau xanh hoa quả, ăn nhiều không sợ; đúng giờ đi ngủ, đến giờ thì dậy, nằm dậy nhẹ nhàng, không gấp không vội;

12, Uống rượu có độ, danh lợi chớ tham, chuyện thường không giận, tấm lòng phải rộng.

13, Tâm không bệnh, nên phòng trước, tâm lý tốt thân thể khỏe mạnh; tâm cân bằng, phải hiểu biết, cảm xúc ổn định bệnh tật ít;

14, Luyện thân thể, động cùng tĩnh, cuộc sống hài hòa tâm khỏe mạnh; phải thực dưỡng, no tám phần, tạng phủ nhẹ nhõm tự khai thông;

15, Người nóng giận, dễ già yếu, thổ lộ thích hợp người người vui; thưởng thức thư họa, bên suối thả câu, lựa chọn sở thích tự do chơi;

16, Dùng đầu óc, không mệt nhọc, bớt lo dưỡng tâm ít náo nhiệt; có quy luật, sức khỏe tốt, cuộc sống thường ngày phải hài hòa;

17, Tay vận động, tốt cho não, phòng ngừa bị lạnh và cảm cúm.

18, Mùa hè không ngủ trên đá, mùa thu không ngủ trên phản. Mùa xuân không hở rốn, mùa đông không che đầu. Ban ngày hoạt động, tối ngủ ít mơ.

19, Tối ngủ rửa chân, hơn uống thuốc bổ. Buổi tối mở cửa, hễ ngủ là say. Tham mát không chăn, không bệnh mới lạ.

20, Ngủ sớm dậy sớm, tinh thần sảng khoái, tham ngủ tham lạc, thêm bệnh giảm thọ. Tranh cãi buổi tối, ruột như sát muối.

21, Một ngày ăn một đầu heo, không bằng nằm ngủ ngáy trên giường.

22, Ba ngày ăn một con dê, không bằng rửa chân rồi mới lên giường.

23, Gối đầu chọn không đúng, càng ngủ người càng mệt. Tâm ngủ trước, người ngủ sau, ngủ vậy sẽ thành mỹ nhân.

24, Đầu hướng gió thổi, ấm áp dễ chịu, chân hướng gió thổi, hãy mời thầy lang.

25, Không ngủ nơi ngõ hẻm, độc nhất khi gió lùa.

26, Đi ngủ không thắp đèn, sáng dậy không chóng mặt.

27, Muốn ngủ để tấm thân nhẹ nhõm, chân không hướng tây đầu không hướng đông

Nguồn: St

From: Nguyen Phi Phuong

Hơn 150 đảng viên Cộng hòa khởi động phong trào chính trị mới, đặt câu hỏi về vai trò của Trump trong đảng Cộng hòa

Hơn 150 đảng viên Cộng hòa khởi động phong trào chính trị mới, đặt câu hỏi về vai trò của Trump trong đảng Cộng hòa

Bởi  AdminTD

CNN

Tác giả: Daniella Diaz

Dịch giả: Dương Lệ Chi

13-5-2021

(CNN) Một nhóm gồm hơn 150 đảng viên đảng Cộng hòa, dẫn đầu bởi những người chỉ trích Donald Trump là Evan McMullin và Miles Taylor, tuyên bố một phong trào chính trị mới nhắm vào việc cựu Tổng thống Mỹ Donald Trump giữ vai trò trong đảng Cộng hòa, và kêu gọi cải tổ đảng.

Nỗ lực này diễn ra chỉ vài giờ sau khi dân biểu Liz Cheney, từ tiểu bang Wyoming, bị các đồng đảng trong Hạ viện truất khỏi vị trí lãnh đạo đảng Cộng hòa vì bà thẳng thắn chỉ trích Trump nói dối, rằng cuộc bầu cử của ông ta đã bị đánh cắp, một lần nữa nhấn mạnh sự kềm kẹp của cựu tổng thống đối với đảng Cộng hòa và sự thách thức đối với những người trong nhóm, qua việc tìm cách định hình lại đảng Cộng hòa.

McMullin là người từng tranh cử tổng thống trong vai trò ứng cử viên độc lập hồi năm 2016 và Taylor, là người nổi tiếng, từng viết một cuốn sách ẩn danh lên án chính quyền Trump, đã tổ chức nỗ lực này và đề ra một bộ nguyên tắc hành động trên báo Deseret News hôm thứ Năm [13/5/2021].

Taylor nói trong chương trình New Day của CNN hôm qua: “Đã quá đủ rồi và chúng ta cần đưa ra một liên minh chung cho đất nước này, cũng như một tầm nhìn thống nhất hơn để thay thế những gì chúng ta đang thấy từ đảng Cộng hòa hiện tại, bây giờ trở nên thối nát với những cuộc tấn công dai dẳng vào nền dân chủ của chúng ta. Cho nên, thông điệp của chúng tôi là, đã đến lúc cải tổ hoặc hủy bỏ đảng Cộng hòa”.

Trong bộ nguyên tắc hành động, nhóm viết rằng, họ “hình dung lại một đảng phục vụ những lý tưởng sáng lập của chúng tôi, hoặc nếu không thì đẩy nhanh việc tạo ra một sự thay thế tương tự như thế”.

Họ đã viết trong tuyên bố về các nguyên tắc của mình: “Chúng tôi tìm kiếm sự bảo tồn và cải thiện nền cộng hòa dân chủ và sự bền vững cho chính phủ tự trị của chúng tôi, không bị can thiệp và bảo vệ chống lại mọi kẻ thù, trong và ngoài nước. Chúng tôi phản đối việc sử dụng các biện pháp gây sợ hãi, thuyết âm mưu và sự giả dối; thay vào đó, chúng tôi ủng hộ việc hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng và lời nói trung thực”.

LS George Conway, chồng của bà Kellyanne Conway, cựu cố vấn tòa Bạch Ốc và cũng là một thành viên trong nhóm, nói rằng, đây không phải là một đảng thứ ba, mà là một phong trào.

Ông Conway nói với phóng vien Anderson Cooper của đài CNN tối thứ Tư [12/5/2021]: “Tôi không nghĩ rằng tôi mô tả nó như một đảng thứ ba với tư cách là một liên minh. Tôi không nghĩ rằng một đảng thứ ba nhất thiết phải hoạt động theo kiểu hệ thống chính trị mà chúng tôi có, với quận hạt có một dân biểu. Nhưng cần có những người có quan điểm từ bảo thủ đến quan điểm trung bình, muốn tin vào pháp quyền và họ cần một nơi để đến và một nơi mà họ có thể tổ chức và hỗ trợ những ứng cử viên phù hợp với điều đó”.

Danh sách các đảng viên Cộng hòa ký tên, gồm Bill Weld, cựu Thống đốc bang Massachusetts và Mark Sanford, cựu Thống đốc bang South Carolina, cũng như 27 cựu dân biểu Hạ viện Hoa Kỳ, gồm Barbara Comstock, Charlie Dent, Paul Mitchell; và cựu Thượng nghị sĩ David Durenberger.

Các đảng viên khác của nhóm, gồm Anthony Scaramucci, cựu giám đốc truyền thông tòa Bạch Ốc; Elizabeth Neumann, cựu quan chức Bộ Nội an; và John Mitnick, cựu cố vấn Bộ Nội an.

Bé Ký, nữ họa sĩ nổi danh trong hội họa Việt Nam, qua đời

Bé Ký, nữ họa sĩ nổi danh trong hội họa Việt Nam, qua đời

WESTMINSTER, California (NV) – Nữ họa sĩ Bé Ký, một tên tuổi gắn liền với hội họa của người Việt Nam, qua đời vào chiều Thứ Tư, 12 Tháng Năm, tại nhà ở Westminster, hưởng thọ 83 tuổi.

Tin này được ông Hồ Thành Cung, con trai của họa sĩ Bé Ký, xác nhận với nhật báo Người Việt.

Nữ họa sĩ Bé Ký. (Hình: Gia đình cung cấp)

Ông Cung kể: “Mẹ mất vào khoảng 2 giờ đến 6 giờ chiều. Tôi về nhà thì thấy bà mất trong lúc ngủ và đang nắm tay ba. Mẹ tôi không chỉ là một người mẹ bình thường, và còn là một họa sĩ thành công với nhiều tác phẩm đầy tình mẹ con.”

Theo ông, bà sống với cha mẹ nuôi khi vào miền Nam, sau đó tìm lại được cha mẹ ruột sau năm 1975, nhưng họ đã qua đời.

Về phần hội họa, bà tự học vẽ từ nhỏ và được các họa sĩ như Trần Đắc, Trần Văn Thọ và Văn Đen chỉ dạy.

Họa sĩ Bé Ký lúc còn trẻ. (Hình: Gia đình cung cấp)

Từ năm 1957 đến 1975, họa sĩ Bé Ký có đến 16 cuộc triển lãm ở Sài Gòn.

Sau khi đến Hoa Kỳ vào năm 1989, bà cùng chồng là họa sĩ Hồ Thành Đức và gia đình sống ở thành phố Westminster, California. Các tác phẩm của bà cũng được trưng bày tại nhiều cuộc triển lãm tại nhiều tiểu bang, và còn được trưng bày tại Học Viện Smithsonian.

Họa sĩ Nguyên Khai, người cùng thời với họa sĩ Bé Ký, cho hay sự ra đi của nữ họa sĩ Bé Ký là một mất mát lớn đối với hội họa của người Việt Nam vì bà có rất nhiều cống hiến.

Ông nói với nhật báo Người Việt: “Họa sĩ Bé Ký là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên theo con đường hội họa này, và có nét vẽ theo đường lối mới rất đặc biệt. Bà tự học vẽ từ nhỏ và bắt đầu vẽ tranh từ lúc còn rất trẻ.”

Theo ông, những tác phẩm của họa sĩ Bé Ký rất phóng khoáng và đầy tinh thần dân tộc, thể hiện được nhiều mặt của xã hội.

Vài tác phẩm của họa sĩ Bé Ký tại tòa soạn nhật báo Người Việt. (Hình: Thiện Lê/Người Việt)

“Tranh của bà có đề tài rất xã hội vì vẽ người bán hàng ngoài đường, hớt tóc, ráy tai, nên ai cũng thích. Từ lúc trẻ, bà được báo chí Pháp ca tụng rất nhiều,” ông chia sẻ.

Cuối cùng, họa sĩ Nguyên Khai nói: “Sự ra đi của bà là mất mát lớn của hội họa Việt Nam, nhất là đối với phái nữ vì bà là đại diện cho họ trong nhiều chục năm.” (Thiện Lê) [qd]

Xem thêm:

Bé Ký – Nữ Họa Sĩ Của Vỉa Hè Đô Thành – qua đời

Ấn Độ – Thiên đường và địa ngục

Ấn Độ – Thiên đường và địa ngục

Nhiều người từng đến Ấn Độ chắc đều có chung một cảm giác là đã đến một đất nước với hai thái cực, vừa là địa ngục vừa là thiên đường. Bẩn thỉu và thánh thiện, ồn ào và lười nhác, xảo trá và chính trực. Sự biến đổi ở đây là không thể lường trước được, nhưng lại không thể cưỡng lại được. Sáu nghìn năm văn hiến đã khiến cho Ấn Độ toát lên khí chất mạnh mẽ giữa thần tiên và ma mị, đồng thời cũng khiến tâm trạng một du khách như lão PP thăng trầm như chiếc xe vượt núi băng đèo trong suốt cuộc hành trình.

Hơn 20 năm trước, lão lần đầu tiên đến sân bay Delhi, cảm thấy không khác gì những sân bay quốc tế khác. Nhìn thấy quầy taxi, lão bước đến trả tiền trước cho một chiếc xe, vừa bước ra khỏi sảnh một mùi ẩm nóng phả vào mặt mang theo đủ vị, xăng, dầu, mồ hôi, cứt chó, cứt bò, mùi hoa, mùi nước hoa, mùi gia vị…hỗn độn khó tả. Đang loay hoay tìm phương hướng đi về bãi đậu taxi thì một tia chớp loé sáng, chiếc xe Hindustan Ambassador cũ kỹ tưởng chui ra từ đống rác đỗ xịch trước chân, một chiếc đầu xù tóc, khuôn mặt đen xì với đôi mắt chỉ lòng trắng thò ra bên ngoài xe (Ấn Độ vô lăng bên phải) “Sir, you book a car?” (Thưa ngài, ngài đặt xe chứ?). Lão hơi ngần ngại nhìn chiếc xe như đồ chơi nhưng vì là một tay lão luyện từng trôi nổi giang hồ nên rất dễ thích nghi mọi điều, lão “Yes” xong thì mở cửa xe định chui vào ngồi ghế bên tay trái lái xe thì trên ghế đầy rác rưởi, nào là vỏ hộp đồ ăn nhanh, vỏ chai, thuốc lá, giấy, khăn…Tay lái xe chỉ tay ra hàng ghế sau, lão chui vào chưa yên vị thì hắn đã rồ ga phun khói lao đi.

Cậu ta tăng ga lạng lách trên đường, vượt qua nhiều ô tô có vết đâm xước lồi lõm, xe nào cũng muốn tranh lao đi trước, chạm nhau là chuyện thường tình. Nhiều người chắc sẽ hoảng hồn về kiểu lái như một thằng điên cầm lái này, nhưng đối với lão quen trò mạo hiểm nên không hề lo lắng về điều này, dường như tốc độ điên cuồng của chiếc xe đã mang lại cho lão một cảm giác cực kỳ thú vị, lão luôn miệng cổ vũ “Hey, very good, try faster!” ( Này, được lắm, thử đi nhanh hơn). Một phần cũng để răn đe hắn rằng, bố mày đến từ New York, dọa bố mày đéo được đâu, và đừng giở những trò gì khác.

Không khí nóng ẩm phả mạnh vào mặt, nhìn xung quanh, dọc đường có rất nhiều cây xanh khiến lão hơi ngạc nhiên. Bỗng tay tài xế phanh gấp, một thằng cha khoác một chiếc bị hơi to đứng bên đường. Xe đậu lại, hắn tự nhiên như ruồi mở cửa chui lên xe ngồi cạnh lão, hắn chào lão cũng rất tự nhiên. Cậu lái xe cũng rất thản nhiên bắn cho lão hai câu cộc lốc “My friend “ ( bạn tôi). Lão chưa kịp hoàn hồn thì chiếc xe lại lao đi như bay rồi dừng lại ở một khu chợ ven đường, tay bạn đi nhờ xe lao xuống nhưng cũng không quên quay đầu vẫy tay chào lão “Thank you sir!” (Cảm ơn ông). Lão bị cứng lưỡi sau khi tay này lên ngồi cạnh và hít đủ mùi cà ri và mồ hôi của hắn. Lão chỉ kịp bật ra câu “Địt mẹ, chuối thật!”.

Điểm đến của lão là khách sạn 5 sao “The Park New Delhi” nhưng một người bạn từ Hồng Kông đến trước hẹn gặp lão tại sảnh nhà ga xe lửa New Delhi. Tay lái xe đậu xe trên một con đường bẩn thỉu và nói với lão rằng đây là chợ Main Bazaar đi bộ xuyên vào bên trong là ga xe lửa, hỏi sao không đưa tớ đến tận cửa, hắn nói phải về đi lễ với vợ, nếu đi đến cửa lại phải vòng hơi xa. Thôi đành vậy, tức giận cũng chẳng giải quyết được gì. Lão lê bước trên một con đường gập ghềnh đầy bùn đất và rác thải, không khí nồng nặc mùi phân bò, hai bên là những tòa nhà cũ nát tưởng chừng như sắp đổ sập, những cửa hàng nhỏ bày bán đầy quần áo, khăn quàng, thảm đủ màu sắc, dân tình đi lại nháo nhào, tiếng rao hàng, tiếng hét tìm người, tiếng đọc kinh kệ, tiếng chó sủa, tiếng còi xe cũng kinh thiên động địa.

Đến sảnh ga thì đã thấy thằng bạn đứng đấy bên cạnh là một chiếc xe Tuktuk. Cậu ta làm ăn ở đây nên rất thông thạo New Delhi. Cậu ta giải thích, giờ này đi Tuktuk sẽ nhanh hơn taxi vì tắc đường trầm trọng. Thế là lại ngồi lên Tuktuk, rồi như một cơn lốc, xe luồn lách lao đi như một con chó điên xổng chuồng khiến người ngồi trên rớt tim nếu như chưa từng trải. Một hồi rồi cũng đến được khách sạn.

Bước vào khách sạn là thiên đường, là một thế giới hoàn toàn khác chỉ cách một bức tường với bên ngoài. Kẻ hầu người hạ giúp xách hành lý, đưa tận tay những chiếc khăn, đồ uống mát lạnh. Mọi tiện nghi từ nhà hàng, quầy bar, mát xa, bể bơi cho đến phục vụ đều tiêu chuẩn thế giới. Tắm rửa thay đồ xong, hai thằng xuống sảnh khách sạn. Một chiếc xe Mercedes-Benz đen mới cứng từ từ lăn bánh vào trước sảnh, một cậu lái xe ăn mặc áo trắng quần Tây đen là lượt phẳng phiu nhẩy xuống mở cửa xe mời hai vị lên. Ngồi trong xe mát lạnh thơm tho nên cũng không cảm thấy đường dài sau đấy đến một dinh thự ở khu người giàu Sunder Nagar bên cạnh là dòng sông Sunder Nagar tuyệt đẹp. Chủ nhân là một cặp vợ chồng trẻ thuộc giới thượng lưu Ấn Độ kinh doanh trong ngành công nghiệp phim ảnh Ấn Độ Bollywood. Mỗi năm họ làm vài chục bộ phim và thu nhập vài trăm tỷ VNĐ như chơi.

Đừng hình dung biệt thự 40 nghìn mét vuông của hai vợ chồng này như biệt thự Ecopark Việt Nam hay thậm chí như biệt thự bình thường ở Beverly Hills, Los Angeles, California, Mỹ. Nó kinh tởm hơn nhiều, nó rộng và chiếm cả một quả đồi. Hai vợ chồng hai đứa con có hơn 50 người hầu hạ. Lão cũng không muốn tả lại căn biệt thự này làm chi, bởi nói như vậy là đủ. Riêng căn phòng làm rạp chiếu phim của họ thì lão thực sự ngưởng mộ. Màn hình rộng, ghế ngồi như ghế máy bay hạng thương gia năm sao cho khoảng 30 người, mỗi người một tủ lạnh một bàn đủ đồ uống, rượu và đồ ăn vặt. Âm thanh nổi, sự phân giải màu sắc thì tuyệt đỉnh. Lão đã từng tự hào về căn phòng xem duyệt phim của hãng phim Gia Hoà, Hồng Kông và cứ đinh ninh là nhất châu Á, khi nhìn thấy căn rạp mini thượng lưu này mới cảm thấy hổ thẹn.

Chiều hôm ấy được hai vợ chồng chiêu đãi một bữa ăn nửa Âu nửa Á do một đầu bếp thuê từ Hồng Kông. Suốt bữa ăn, lão được nghe chủ nhân kể về sự khác biệt trong xã hội Ấn Độ và ngành điện ảnh mà họ đang kinh doanh. Nói tóm lại, họ đã giải thích trước những cái mà lão sẽ được chiêm nghiệm vào vài ngày tới.

3 giờ sáng hôm sau vợ chồng này cho lái xe đến đón lão tại khách sạn đi 3 tiếng đồng hồ thì đến Taj Mahal để vừa kịp ngắm bình minh ở đây. Taj Mahal là một trong bảy kỳ quan thế giới và còn được biết đến như một đài tưởng niệm tình yêu tuyệt đẹp do Hoàng đế Shah Jahan xây dựng cho vợ mình là Mumtaz Mahal. Đây là một kỳ quan kiến ​​trúc được làm bằng đá cẩm thạch trắng và khảm 33 loại đá quý khác, các nghệ nhân đã mất gần 22 năm để xây dựng lăng mộ kỳ diệu này. Nếu để chiêm ngưỡng kỹ càng lăng mộ này thì cần khoảng vài ngày. Nhưng cưỡi ngựa xem hoa thì cũng nhìn ra một mối tình đáng ca tụng đến muôn thuở. Lão nhớ khi bước vào cổng Taj Mahal, có một dòng chữ viết như sau: “O Soul, thou art at rest. Return to the Lord at peace with Him, and He at peace with you.” ( Này linh hồn, ngươi đã yên nghỉ. Hãy trở về bên Thượng đế, bình yên với Ngài, và Ngài sẽ bình yên với bạn.)

Mấy ngày sau, lão muốn tự mình đi khám phá New Delhi và lang thang hết hang cùng ngõ hẻm. Từ New Delhi hiện đại đến Old Delhi cũ kỹ rách nát. Ghé thăm Chandni Chowk, Jama Masjid, Kinari Bazaar, Silver Market và Chợ Gia vị lớn nhất Châu Á. Rồi đi thăm Cổng Ấn Độ, Tòa nhà Tổng thống, Quốc hội Ấn Độ và Quảng trường Connaught.

Những con đường nhỏ hẹp, quanh co và lề đường của Delhi cũ là minh chứng cho sự cai trị của Mughal trước đây. Old Delhi có một trong những khu chợ lâu đời nhất và sầm uất nhất của đất nước – Chandni Chowk (Moonlight Square). Ở đây bạn có thể chiêm nghiệm những món ăn dân gian của Ấn Độ. Đây cũng là một con phố khác thường, một địa điểm tôn giáo nổi tiếng mà các tôn giáo khác nhau cùng tồn tại. Ở đây có Đền Tianyi Sect Jain, Đền Gaoli Sankha của Ấn Độ giáo, Nhà thờ Christian Central Baptist, nhà thờ Đạo Sikh, Nhà thờ Hồi giáo vàng Islam, Nhà thờ Hồi giáo Islam Fatehpur. Nhà thờ Hồi giáo nổi tiếng nhất ở Delhi, Jama Masjid, cũng nằm gần đó và được xây dựng vào năm 1650.

Đi bộ trên đường phố New Delhi, thủ đô của Ấn Độ, những khác biệt rất lớn ở thành phố này thật đáng ngạc nhiên. Bên cạnh những khu ổ chuột đổ nát là những khu dân cư cao cấp, với những con chim cùng con người kiếm ăn trên bãi rác, những con khỉ trên dây điện trong khu phố cổ … Sự nghèo đói và giàu sang được bộc lộ quá ư là sắc nét.

Lão đi vào khu ổ chuột Tughlakabad, không khí nồng nặc đầy mùi nước tiểu. Ngoài ra, nhiều con đường ngập rác và chất thải không rõ nguồn gốc, nhiều lúc không biết đặt chân vào đâu, phân trẻ em chỗ nào cũng có, lão thấy vài bà mẹ bế con để chúng ỉa ngay trên đường. Lão len lõi vào một chiếc hẻm, có đoạn chỉ rộng bằng một người đi vào để theo chân một anh bạn lái xe Tuktuk vào thăm nhà anh ta ở đây. Căn nhà có 5 mét vuông kê 2 giường tầng ở đến 6 người. Tuy họ nghèo khổ nhưng họ vẫn vui vẻ nhiệt tình và không hề ái ngại với người bạn mới quen.

Ngược lại ở New Delhi, đặc biệt là trong khu vực trung tâm thành phố, cây cối rậm rạp, sạch sẽ và thoáng rộng, trong khi tình trạng lộn xộn ở Old Delhi thật sự gây sốc, hai cảnh tượng chỉ ngăn cách nhau bởi một bức tường cổ.

Khoảng cách giàu nghèo ở Ấn Độ lớn như thế nào? 5 mét vuông nhà cho người nghèo và 40 nghìn mét vuông dinh thự cho người giàu. Nói vậy dễ hình dung hơn.

Ấn Độ luôn được biết đến là nghèo đói trong mắt người nước ngoài. Nhưng điều mà nhiều người không biết là đất nước bị người khác chê nghèo, nhưng số lượng tỷ phú lại đứng thứ ba thế giới, chỉ sau Hoa Kỳ và Trung Quốc. Lấy ví dụ như người đàn ông giàu nhất Ấn Độ, Mukesh Ambani. Thu nhập hàng ngày của ông có thể đạt 10,7 tỷ Rupee. Ông đã vượt qua người giàu nhất Trung Quốc Jack Ma trước khi trở thành người giàu nhất châu Á và đứng thứ 16 trong danh sách người giàu toàn cầu.

Ở đất nước này, những khu nhà giàu và khu ổ chuột thường được ngăn cách chỉ một bức tường, nhưng những người giàu lại ngoảnh mặt làm ngơ trước những đồng bào đang chật vật với cơm ăn áo mặc, và cảm thấy không cần thiết phải giúp họ thoát nghèo. Ở phía đông và phía tây của một bức tường, phía đông là thiên đường tráng lệ trên trái đất, phía tây là địa ngục kinh hoàng của trần gian.

Những người giàu sống trong biệt thự, lái những chiếc xe hơi sang trọng và được kẻ thấp hèn hầu hạ. Họ sống như đế vương. Khi màn đêm buông xuống, họ lái những chiếc xe thể thao đắt giá gầm rú trên đường phố và ngõ hẻm. Họ có thể vung phí tiền kể cả ở Paris và hô phong hoán vũ bắt những người da trắng hầu hạ dưới ma lực của đồng tiền.

Còn những người “hàng xóm” của họ sống như chuột cống, tiền sinh hoạt hàng ngày thường chỉ vẻn vẹn một Đô La, họ phải sống trong những căn nhà dột nát, tối tăm ẩm thấp với bốn bức tường, suốt ngày quanh quẩn ở bãi rác tìm kiếm thức ăn có thể nuôi sống bản thân.

Hiện thực là vậy, một trong số ít họ đang đứng trên đỉnh của kim tự tháp và nhiều người còn lại đang quỳ dưới đáy của kim tự tháp, sự khác biệt là không thể tránh khỏi. Nhưng tuy vậy, tầng lớp dưới đáy sống rất vừa lòng với thực trạng, với số mệnh an bài và họ lại rất lãng mạn yêu đời. Bất cứ ở đâu, các bạn đều thấy nụ cười và ánh mắt chan chứa tình cảm của họ. Họ thích múa, thích hát, thích pha trò, chỉ cần đốt lửa và âm nhạc nổi lên, cho dù họ đang bận tay làm gì cũng vứt đấy ra tụ tập nhẩy múa hát hò đã. Mọi người đều không vì nghèo đói mà mất đi sự nhiệt tình và trung thực, một sự thành kính với tôn giáo tuy đơn giản nhưng vững vàng như đá hoa cương không hề suy suyển trước gió mưa, tháng ngày.

Không còn nghi ngờ gì nữa, Ấn Độ là đất nước huyền diệu và lãng mạn, là cõi Cực Lạc mà Đường Tam Tạng đã trải qua muôn vàn gian nan đi đến để thỉnh kinh. Ấn Độ cũng là một đất nước đầy mâu thuẫn, đầy tranh cãi, nhưng lại đầy hấp dẫn. Một số người khi đã bước chân đến đây đều không khỏi yêu nó đến say đắm và khó có thể rời xa, coi nó như thiên đường, nhưng một số người lại chế nhạo Ấn Độ, mô tả nó như một khu chợ ồn ào, bẩn thỉu, nghèo nàn và lạc hậu, và coi nó như địa ngục. Nhà văn Mỹ Mark Twain đã từng nói rằng “vì sự phức tạp của Ấn Độ nên bất kỳ sự đánh giá nào cũng đều đúng”. Bản thân Ấn Độ là nơi giao thoa giữa thực tế và mộng cảnh. Câu trả lời nằm trong trái tim mỗi người, ngay trong mắt bạn. Bạn hy vọng nhìn thấy điều gì? Bạn muốn ngăn chặn điều gì? Chỉ bạn mới có thể giải thích Ấn Độ.

Ấn Độ là đất Phật, tuy rằng nó lộn xộn bẩn thỉu phản ảnh lên muôn kiếp nhân sinh trong cõi ta bà. Nhưng nếu bạn đến đây với một tấm lòng hành hương để trải nghiệm, thì ngoại cảnh không cần thiết. Bạn nhìn thấy dấu ấn của Phật, chạm tay vào cổ tích, đấy là thiên đường. Bạn nhìn thấy và chứng kiến hiện thực, đấy là địa ngục.

Lão đã chứng kiến những cảnh tượng không thể hiểu nổi này mà rơm rớm nước mắt, khi đã ngộ ra thấu hiểu mới cảm thấy sự ngu dốt và tầm thường của chính mình. Điều kỳ diệu của Ấn Độ là trong sự hoang tàn và hỗn loạn vẫn tỏa sáng trí tuệ của nền văn minh triết học cổ đại. Nếu nhìn nó bằng bộ óc văn minh hiện đại, bạn sẽ không hiểu hết Ấn Độ. Chúng ta chỉ nhìn thấy sự bất công của chế độ đẳng cấp và sự mê muội vào nhiều vị thần, nhưng chúng ta không thể cảm nhận được sự cân bằng của việc chấp nhận luân hồi ở mỗi người nơi đây, bởi vì tất cả những điều này có thể bị cho là mê tín.

Mặc dù Ấn Độ là một quốc gia, nhưng có hai thế giới cực đoan. Mặc dù họ cực đoan chia rẽ, nhưng lại khăng khít với nhau. Tầng lớp trên bóp cổ tầng lớp dưới, tầng lớp giàu sụ thành công là nhờ sự bóc lột tầng lớp dưới. Vậy trong thế kỷ 21, tại sao Ấn Độ vẫn chưa thay đổi được tình trạng này?

Thứ nhất, chế độ đẳng cấp phân tầng xã hội đã được lưu truyền hàng nghìn năm. Xã hội Ấn Độ được chia thành bốn đẳng cấp, Bà la môn, Kshatriya, Vaisha và Sudra. Theo quan điểm của họ, Bà La Môn là cửa miệng của người nguyên thủy và thuộc tầng lớp cao nhất của xã hội. Họ thuộc hàng tăng lữ và có quyền giải thích mọi kinh điển. Kshatriya là cánh tay của người nguyên thủy, do Bà-la-môn trực tiếp điều khiển, phụ trách quyền lực quân sự và chính trị. Vaisha là đùi của người nguyên thủy, là những người bình thường bao gồm nông dân, người chăn nuôi và thương gia. Sudra là chân của người nguyên thủy, thuộc về thấp nhất. Những người thuộc đẳng cấp này bao gồm những người hầu, thợ thủ công, bồi bàn và đầu bếp. Đây là giai cấp đông dân nhất. Những người thuộc dạng Bà La Môn sẽ không hề coi người thuộc dạng Sudra là “người”, không chạm tay vào họ thậm chí nếu đang đi trên đường mà chiếc bóng của họ bị chiếc bóng của người Sudra đè lên cũng lập tức về ngay để tắm rửa sạch sẽ.

Những người ở khúc cuối thấp nhất của kim tự tháp cam chịu phục tùng và không bao giờ cảm thấy rằng có bất kỳ vấn đề gì. Theo quan điểm của họ, ngay từ khi sinh ra, họ đã có một định mệnh bi thảm, nếu không phục tùng tầng lớp thượng lưu, họ sẽ vi phạm ý trời và bị ông trời trừng phạt.

Chế độ đẳng cấp ban đầu chỉ là lời nói xảo quyệt được tạo ra bởi những người ở cấp cao để hưởng sự thịnh vượng và giàu có vĩnh viễn, nhưng lời xảo quyệt này đã được lưu truyền trong 3000 năm và mọi người đều biết bộ mặt thực sự của nó. Người Anh khi thống trị nước này cũng đã từng nghĩ đến việc xóa bỏ chế độ này nhưng cũng không thành.

Ấn Độ đã độc lập trong nhiều năm và chưa bao giờ cảm thấy rằng chế độ đẳng cấp là một tệ hại. Chừng nào nó còn tồn tại, giai cấp xã hội sẽ tiếp tục cố định theo cách này, những người ở dưới đáy sẽ không bao giờ có cơ hội đứng lên và nắm quyền kiểm soát, và khoảng cách giàu nghèo sẽ tiếp tục được nới rộng.

Thứ hai, những mặt hạn chế của Ấn Độ giáo. Tôn giáo này cho rằng phụ nữ là hiện thân của cái ác. Họ được sinh ra để làm mê hoặc thế giới, họ chỉ là kẻ hầu của đàn ông, họ không xứng đáng với bất kỳ phẩm giá nào, và họ không có nhân quyền nào cả. Chừng nào sự nguyên thuỷ và hạn chế của Ấn Độ giáo không bị phá vỡ, thì phụ nữ Ấn Độ sẽ không bao giờ có thể phá vỡ gông cùm. Sự bất công bằng giữa nam và nữ của Ấn Độ khiến các vụ hiếp dâm vẫn sẽ tiếp tục cho đến khi đất nước suy sụp.

Cả chế độ đẳng cấp và Ấn Độ giáo đều đã ăn sâu vào đất nước này và không thể xóa bỏ nó. Bởi vì một khi chạm đến những điều này thì đụng chạm đến lợi ích của tầng lớp trên khi tầng lớp này dù chỉ có 1% dân số nhưng nắm giữ đến hơn 70% tài sản cả nước. Và làm sao họ có thể chịu đựng được chiếc bánh của mình bị kẻ khác chia cắt?

Lần bùng phát thứ hai của đại dịch ở Ấn Độ là hình ảnh thu nhỏ cho những khiếm khuyết của Ấn Độ. Trước hết, họ biết rằng dịch bệnh vẫn chưa qua đi nhưng vẫn tổ chức các nghi lễ tôn giáo hoành tráng và tụ tập tranh cử. Thứ hai, họ tin tưởng một cách mù quáng, mê tín rằng với sự phù hộ của thần linh, họ có thể vượt qua dịch bệnh.

Dịch bệnh bùng phát, người chết như rạ, những người giàu đã đáp máy bay riêng trốn sang châu Âu để hưởng thụ tiếp, để lại những người nghèo vật lộn với dịch bệnh ở vùng đất thảm họa này.

Cầu nguyện cho họ, cầu nguyện cho một đất nước đáng yêu, đáng nhớ và huyền bí.

Bài viết của Peter Pho

 

CON ƠI! NHỚ LỜI CHA DẶN…

GÓC SUY GẪM…

CON ƠI! NHỚ LỜI CHA DẶN…

– Có ai khen con đẹp, con hãy cảm ơn và quên đi lời khen ấy.

– Có ai bảo con ngoan, hãy cảm ơn và nhớ ngoan hiền hơn nữa.

– Với người òa khóc vì nỗi đau mà họ đang mang, con hãy để bờ vai của mình thấm những giọt nước mắt ấy.

– Với người đang oằn lưng vì nỗi khổ, con hãy đến bên và kề vai gánh giúp.

– Người chìa tay và xin con một đồng. Lần thứ nhất con hãy tặng họ hai đồng. Lần thứ hai hãy biếu họ một đồng. Lần thứ ba con phải biết lắc đầu. Và đến lần thứ tư con hãy im lặng, bước đi.

– Con hãy biết khen. Nhưng đừng vung vãi lời khen như những cậu ấm cô chiêu vung tiền qua cửa sổ.

– Lời chê bai con hãy giữ riêng mình.

– Nụ cười cho người. Con hãy học cách hào phóng của mặt trời khi tỏa nắng ấm.

– Nỗi đau. Con hãy nén vào trong.

– Nỗi buồn. Hãy biết chia cho những người đồng cảm.

– Đừng khóc than, quỵ lụy, van nài. Khi con biết ngày mai rồi sẽ đến. Có bầu trời, gió lộng thênh thang.

– Con hãy đưa tay. Khi thấy người vấp ngã.

– Cần lánh xa. Kẻ thích quan quyền.

– Bạn. Là người biết đau hơn nỗi đau mà con đang có.

– Thù. Là người quặn đau với niềm vui mà con đang có.

– Chọn bạn sai. Cả đời trả giá.

– Bạn hóa thù. Tai họa một đời.

– Con hãy cho. Và quên ngay.

– Đừng bao giờ mượn. Dù chỉ một que tăm, sợi chỉ.

– Chớ thấy vui khi mình thanh thản trước điều cần nghĩ. Sự thanh thản chỉ có ở người vô tâm.

– Đừng sợ bóng đêm. Đêm cũng là ngày của những người thiếu đi đôi mắt.

– Đừng vui quá. Sẽ đến lúc buồn.

– Đừng quá buồn. Sẽ có lúc vui.

– Tiến bước mà đánh mất mình. Con ơi, dừng lại.

– Lùi bước để hiểu mình. Con cứ lùi thêm nhiều bước nữa. Chẳng sao.

– Hãy ngước nhìn lên cao để thấy mình còn thấp.

– Nhìn xuống thấp. Để biết mình chưa cao.

– Con hãy nghĩ về tương lai. Nhưng đừng quên quá khứ.

– Hy vọng vào ngày mai. Nhưng đừng buông xuôi hôm nay.

– May rủi là chuyện cuộc đời. Nhưng cuộc đời nào chỉ chuyện rủi may.

– Hãy nói thật ít. Để làm được nhiều – những điều có nghĩa của trái tim.

– Nếu cần, con hãy đi thật xa. Để mang về những hạt giống mới. Rồi dâng tặng cho đời. Dù chẳng được trả công.

– Những điều cha viết cho con – được lấy từ trái tim chân thật. Từ những tháng năm lao khổ cuộc đời. Từ bao đêm chơi vơi giữa sóng cồn. Từ bao ngày vất vưởng long đong.

– Cha viết cho con từ chính cuộc đời cha. Những bài học một đời cay đắng.

– Cha gởi cho con chút nắng. Hãy giữ giữa lòng con. Để khi con cất bước vào cuộc hành trình đầy gai và cạm bẫy. Con sẽ bớt thấy đau và đỡ phải tủi hờn.

– Đừng hơn thua làm gì với cuộc đời, con ạ.

– Hãy để chị, để anh giành lấy phần họ muốn.

– Con hãy chậm bước dù là người đến muộn.

– Dù phần con chẳng ai nhớ để dành!

– Hãy vui lên trước điều nhân nghĩa.

– Hãy buồn với chuyện bất nhân.

– Và hãy tin vào điều có thật:

“CON NGƯỜI SỐNG ĐỂ YÊU THƯƠNG”.

May be an image of child, flower and outdoors

 Dân biểu Liz Cheney: “Sự tự do của chúng ta chỉ tồn tại nếu chúng ta bảo vệ nó”

 Dân biểu Liz Cheney: “Sự tự do của chúng ta chỉ tồn tại nếu chúng ta bảo vệ nó”

Bởi  AdminTD

 Genie Nguyễn Thị Ngọc Giao, lược dịch

11-5-2021

“Thưa bà Chủ tịch Hạ Viện, tối nay tôi đứng lên để thảo luận về quyền tự do và nghĩa vụ bảo vệ nó theo hiến pháp của chúng ta.

“Tôi đã được đặc ân để tận mắt chứng kiến quyền tự do mạnh mẽ và mong manh như thế nào. 28 năm trước, tôi đứng bên ngoài một điểm bỏ phiếu, một ngôi trường ở miền tây Kenya. Binh lính đã xua đuổi những người xếp hàng bỏ phiếu. Vài giờ sau, mọi người bắt đầu quay trở lại, mạo hiểm tấn công thêm, không hề nản lòng về quyết tâm thực hiện quyền bầu cử của họ.

“Năm 1992, tôi ngồi đối diện với một thị trưởng trẻ tuổi ở TP Nizhny Novgorod, Nga và nghe ông ấy nói về ước mơ giải phóng dân tộc khỏi chủ nghĩa cộng sản. Nhiều năm sau, vì sự cống hiến của mình cho sự nghiệp tự do, Boris Nemtsov đã bị những tên côn đồ của Vladimir Putin ám sát.

“Ở Warsaw, năm 1990, tôi nghe một phụ nữ Ba Lan trẻ tuổi nói với tôi rằng, nỗi sợ hãi lớn nhất của cô ấy là mọi người sẽ quên cuộc sống dưới sự thống trị của cộng sản như thế nào, rằng họ sẽ quên đi cái giá của tự do.

“Ba người đàn ông – một người nhập cư đã thoát khỏi chế độ toàn trị của Castro; một chàng trai trẻ lớn lên sau bức màn sắt và trở thành bộ trưởng quốc phòng của đất nước mình; và một nhà bất đồng chính kiến từng nhiều năm sống trong đất nước Xô Viết, đều đã nói với tôi rằng, chính điều kỳ diệu của nước Mỹ được ghi lại theo lời của Tổng thống Ronald Reagan đã truyền cảm hứng cho họ tìm kiếm tự do.

“Tôi đã thấy sức mạnh của niềm tin và tự do. Tôi đã nghe Giáo hoàng John Paul II nói chuyện với hàng ngàn người ở Nairobi vào năm 1985, và 19 năm sau, tôi đã chứng kiến vị giáo hoàng đó nắm lấy tay cha tôi, nhìn vào mắt ông và nói: ‘Chúa phù hộ cho nước Mỹ’.

“Chúa đã ban phước cho nước Mỹ, nhưng tự do của chúng ta chỉ tồn tại nếu chúng ta bảo vệ nó, nếu chúng ta tôn trọng lời thề của mình, thực hiện trước Chúa trong căn phòng này, để ủng hộ và bảo vệ Hiến pháp, nếu chúng ta nhận ra các mối đe dọa đối với tự do khi chúng xuất hiện.

“Hôm nay chúng ta phải đối mặt với một mối đe dọa mà Mỹ chưa từng thấy trước đây. Một cựu tổng thống, người đã kích động một cuộc tấn công bạo lực vào Điện Capitol này trong nỗ lực đánh cắp cuộc bầu cử, đã tiếp tục nỗ lực tích cực của mình để thuyết phục người Mỹ, rằng cuộc bầu cử đã bị đánh cắp khỏi tay ông ta. Ông ta có thể kích động thêm bạo lực và tạo thêm nguy hiểm cho đất nước này.

“Hàng triệu người Mỹ đã bị cựu Tổng thống lừa dối. Họ chỉ nghe thấy những lời nói của ông ta, chứ không nghe thấy sự thật, khi ông ta tiếp tục phá hoại quá trình dân chủ của chúng ta, gieo mầm nghi ngờ về việc liệu dân chủ có thực sự hoạt động hay không.

“Tôi là một người theo đảng Cộng hòa bảo thủ và người bảo thủ nhất trong các nguyên tắc bảo thủ là tôn trọng pháp quyền. Cử tri đoàn đã bỏ phiếu. Hơn sáu mươi tòa án liên bang và tiểu bang, bao gồm nhiều thẩm phán do ông bổ nhiệm, đã bác bỏ các tuyên bố của cựu tổng thống. Bộ Tư pháp trong chính quyền của ông đã điều tra các tuyên bố của cựu tổng thống về hành vi gian lận trên diện rộng và không tìm thấy bằng chứng nào chứng minh cho chúng. Cuộc bầu cử kết thúc. Đó là quy định của pháp luật. Đó là quy trình lập hiến của chúng ta.

Những người từ chối chấp nhận các phán quyết của tòa án của chúng ta đang đánh nhau với Hiến pháp Hoa Kỳ.

“Nhiệm vụ của chúng ta rất rõ ràng. Mỗi người trong chúng ta, những người đã tuyên thệ phải hành động để ngăn chặn sự phá vỡ nền dân chủ của chúng ta. Đây không phải là về chính sách. Đây không phải là về đảng phái. Đây là nghĩa vụ của chúng ta với tư cách là người Mỹ. Giữ im lặng, và phớt lờ lời nói dối, chỉ giúp tăng sức mạnh của kẻ nói dối.

“Tôi sẽ không tham gia vào việc đó. Tôi sẽ không ngồi yên và quan sát trong im lặng khi những người khác dẫn dắt đảng của chúng ta đi theo con đường từ bỏ pháp quyền và tham gia vào cuộc thập tự chinh của cựu tổng thống để phá hoại nền dân chủ của chúng ta.

“Với tư cách là đảng của Reagan, những người Cộng hòa đã đi đầu về dân chủ, chiến thắng trong Chiến tranh Lạnh và đánh bại những người Cộng sản Liên Xô. Như chúng ta đã nói, Mỹ đang ở trên đỉnh của một cuộc Chiến tranh Lạnh khác – lần này là với Trung Quốc cộng sản. Các cuộc tấn công chống lại tiến trình dân chủ của chúng ta và nhà nước pháp quyền đã trao quyền cho kẻ thù của chúng ta và đưa ra tuyên truyền của Cộng sản rằng nền dân chủ của Mỹ là một thất bại. Chúng ta phải nói sự thật. Cuộc bầu cử của chúng ta không bị đánh cắp, và nước Mỹ đã không thất bại.

“Tuần trước, tôi nhận được một tin nhắn từ một người cha của Sao Vàng (*), người này nói rằng ‘Đứng lên vì sự thật, tôn vinh tất cả những ai đã cống hiến hết lòng’. Tất cả chúng ta phải cố gắng để xứng đáng với sự hy sinh của những người đã chết vì tự do của chúng ta. Họ là những người yêu nước mà Katherine Lee Bates đã mô tả trong những lời của America the Beautiful: ‘Ôi thật đẹp cho những anh hùng đã được chứng minh trong cuộc xung đột giải phóng, những người hơn cả đất nước của họ yêu thương và thương xót hơn cuộc sống’.

“Hơn tất cả, đây là trọng tâm của những gì mà lời thề của chúng ta yêu cầu – rằng chúng ta yêu đất nước của mình hơn. Rằng chúng ta yêu tổ quốc này rất nhiều, chúng ta sẽ đứng trên chính trị để bảo vệ tổ quốc. Rằng chúng ta sẽ làm mọi thứ trong khả năng của mình để bảo vệ hiến pháp và sự tự do của chúng ta – đã được trả giá bằng xương máu của rất nhiều người.

“Chúng ta phải yêu đất nước này rất nhiều, chúng ta sẽ không bao giờ nhượng bộ trong sự bảo vệ tổ quốc.

“Đó là nhiệm vụ của chúng ta”.

Nguồn: https://cheney.house.gov/2021/05/11/cheney-our-freedom-only-survives-if-we-protect-it/

______

(*) Người cha có con tử trận trong cuộc chiến, khi đang phục vụ trong lực lượng vũ trang.

‘‘Chiến lược An ninh Quốc gia’’ Mỹ: Ưu tiên củng cố dân chủ và siết chặt quan hệ đồng minh

Cách đây hơn 2 tháng:

tân chính quyền Mỹ công bố bản « Chỉ dẫn Chiến lược An ninh Quốc gia Tạm thời », là cơ sở cho Chiến lược An ninh Quốc gia của nước Mỹ, dự kiến hoàn tất cuối năm. Bản chỉ dẫn nhấn mạnh đến việc củng cố nền dân chủ, trước hết ngay tại Mỹ, siết chặt quan hệ với đồng minh, đối tác để đối phó với các thách thức lớn xuyên quốc gia, với các thế lực độc tài. Bắc Kinh bị chỉ đích danh như một mối đe dọa chính.

***

Hôm 03/03/2021, tân chính quyền Mỹ công bố bản « Chỉ dẫn Chiến lược An ninh Quốc gia Tạm thời ». Bản chỉ dẫn là cơ sở cho việc soạn thảo Chiến lược An ninh Quốc gia của nước Mỹ, dự kiến sẽ hoàn tất cuối năm.

Bản chỉ dẫn nhấn mạnh đến việc củng cố nền dân chủ, trước hết ngay tại Mỹ, siết chặt quan hệ với đồng minh, đối tác để đối phó với các thách thức lớn xuyên quốc gia, với các thế lực độc tài. Bắc Kinh bị chỉ đích danh như một mối đe dọa chính.

Về mục tiêu của việc công bố bản « Chỉ dẫn Chiến lược An ninh Quốc gia Tạm thời » (Interim National Security Strategic Guidance), Nhà Trắng cho biết là để « truyền đạt tầm nhìn của tổng thống Biden về cách thức mà nước Mỹ sẽ làm việc với thế giới và cung cấp hướng dẫn cho các bộ và các cơ quan để điều chỉnh hành động của mình, khi chính quyền bắt đầu xây dựng Chiến lược An ninh Quốc gia ».

« Chỉ dẫn Chiến lược An ninh Quốc gia Tạm thời » khẳng định trước hết là, các mối đe dọa hiện nay, từ đại dịch đến khủng hoảng khí hậu, thách thức về công nghệ số, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng nhân đạo, hay chủ nghĩa bạo lực, khủng bố, vũ khí hủy diệt…, không thể được hóa giải, nếu không có các phối hợp quốc tế.

Bản « Chỉ dẫn » cũng đặc biệt nhấn mạnh đến một thách thức sống còn khác, đó là các nền dân chủ trên toàn cầu, bao gồm cả nước Mỹ, đang trong tình trạng « bị vây hãm », bị thách thức « từ bên trong », bởi « nạn tham nhũng, bất bình đẳng gia tăng, phân cực xã hội, chủ nghĩa dân túy và các mối đe dọa phi tự do nhắm vào thể chế nhà nước pháp quyền ».

Bản « Chỉ dẫn » cũng tập trung chỉ rõ các thế lực chuyên chế có xu thế « sử dụng thông tin bóp méo, thông tin sai lệch », để khai thác các điểm yếu và gieo rắc sự chia rẽ « trong nội bộ các quốc gia tự do, và giữa các quốc gia tự do, làm xói mòn các quy tắc quốc tế hiện có và thúc đẩy các mô hình cai trị độc tài như giải pháp thay thế ».

Để « đảo ngược các xu thế » nguy hiểm nói trên, tân chính quyền Mỹ đặt trọng tâm vào việc Hoa Kỳ trở lại dẫn đầu thế giới bằng « sức mạnh nêu gương », trước hết với việc nỗ lực hành động để củng cố các trụ cột nền tảng của nền dân chủ trong nước, với việc giải quyết căn bản tình trạng kỳ thị chủng tộc. Thành công của nước Mỹ sẽ trở thành « ngọn hải đăng » cho các nền dân chủ khác.

Trang mạng Nhật Bản NHK đặc biệt chú ý đến việc bản « Chỉ dẫn » cho biết nước Mỹ sẽ tập trung đầu tư vào Hiệp ước Liên minh Bắc Đại Tây Dương (NATO) và các quan hệ liên minh của tổ chức này với Nhật Bản, Úc và Hàn Quốc, được coi là « tài sản chiến lược lớn nhất của Mỹ ».

Tài liệu cho biết thêm chính quyền Biden sẽ làm việc có trách nhiệm để chấm dứt chiến tranh ở Afghanistan và duy trì sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Trung Đông ở mức độ phù hợp, đồng thời « duy trì sự hiện diện quân sự mạnh mẽ nhất ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và châu Âu ».

Tài liệu dài 24 trang của Nhà Trắng cũng khẳng định « sẽ làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác với Ấn Độ, cộng tác với New Zealand, cũng như Singapore, Việt Nam và các quốc gia thành viên ASEAN khác, để thúc đẩy các mục tiêu chung ».

Rời bỏ vương miện vác súng lên đường

Nguyễn Ngọc Như Quỳnh  

Rời bỏ vương miện vác súng lên đường

Htar Htet Htet – Nữ hoàng sắc đẹp Myanmar gửi thông điệp đến với thế giới.

Htar Htet Htet, 32 tuổi, là một trong số các thanh niên từ biểu tình ôn hòa nay đã chuyển sang tham gia khóa huấn luyện quân sự sau 3 tháng bị lực lượng quân đội đảo chính đàn áp dã man.

Htar Htet Htet, người đẹp đại diện cho Myanmar trong cuộc thi sắc đẹp Miss Grand International đầu tiên ở Thái Lan vào năm 2013, đã đứng lên chống lại quân đội bằng cách đăng tải hình ảnh chụp cùng một khẩu súng trường trong tay trên trang Facebook cá nhân.

Cô viết: “Đã đến lúc phải chiến đấu trở lại. Cho dù bạn cầm vũ khí, cây bút, bàn phím hay quyên góp tiền cho phong trào ủng hộ dân chủ, mọi người đều phải cố gắng hết sức để cuộc cách mạng thành công. “

“Tôi sẽ chống trả hết khả năng. Tôi đã sẵn sàng và chuẩn bị từ bỏ mọi thứ. Tôi thậm chí sẵn sàng trả giá bằng mạng sống của mình”

“Cách mạng không giống như quả táo tự nhiên sẽ rụng khi chín. Bạn phải khiến nó bùng nổ. Chúng ta phải chiến thắng”. Htar Htet Htet đã tweet những dòng trên.

Thanh niên Miến Điện có một tuổi trẻ hào hùng, đáng sống. Họ không hề hối hận và sẵn sàng từ bỏ ánh hào quang để hít thở bầu không khí tự do.

Đây là chuyện nước người ta,

Còn nước mình người đẹp đi quảng cáo tiền số, khoe siêu xe, giỏ xách…. vì vâng lời chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc rằng “dân chủ tào lao” thì đất nước sẽ loạn.

Quyết định dời về … Tampa

Quyết định dời về …Tampa

Ngô Đình Châu

Gia đình tôi sinh sống trên đất Mỹ được 23 năm

Gia đình tôi đến Mỹ năm 1993 đến nay 2016 đã được 23 năm, vì hoàn cảnh sinh sống chúng tôi phải di chuyển qua nhiều nơi chốn, thế nên biết thêm được nhiều điều về nước Mỹ.

Thoạt đầu đến Mỹ chúng tôi cư ngụ tại thành phố Hawthorne – nam Cali vì do bà chị giúp đở sponsor cho. Ở đây chúng tôi share phòng với nhà chị, vợ chồng con cái dồn vào một phòng nhỏ tí thật bất tiện rồi dần dà cũng quen. Ở Hawthorne, vợ chồng tôi đi đến trường chuyên dạy nghề nail để học lấy cái bằng. Rồi kể từ năm 1995 chúng tôi sinh sống bằng nghề này, một nghề duy nhất cho đến bây giờ.

Cali là nơi sinh sống lý tưởng cho người Việt Nam khí hậu mát mẻ quanh năm như Đà Lạt. Ở VN có món ngon gì thì Cali cũng có đủ, có khi còn ngon tuyệt hơn nữa vả lại thực phẩm được kiểm tra rất nghiêm ngặt nên không sợ độc hại như bên nhà. Ra đường gặp toàn người Việt đi đâu cũng nói tiếng Việt thoải mái, sống trên đất Mỹ mà hoàn cảnh sống gần như VN.

Chỉ kẹt một điều nghề Nail ở Cali bị cạnh tranh rất dữ, nên giá “bèo” hơn các Tiểu bang khác nhiều lắm nhất là so với các Tiểu bang miền Bắc. Thứ hai nhà cửa Cali lại rất mắc mỏ, có người ví von bán một căn nhà ở Cali đem tiền qua Tiểu bang khác mua được hai, ba …. căn nhà. Vợ chồng tôi lúc đó đã trung niên e rằng khó lòng mua nổi một căn nhà cho dù trả góp.

Sau 4 năm ở Cali vợ chồng con cái lại đùm túm qua Tiểu bang khác, về thành phồ Joliet thuộc TB Illinois, một thành phố nhỏ gần Chicago cách đó khoảng 1 giờ lái xe. Chúng tôi đến Joliet vào mùa đông thấy tuyết bay đầy trời mà lòng kinh hãi. Tất cả cảnh vật đều phủ một màu trắng toát và lạnh kinh hồn. Cảm nghĩ đầu tiên của tôi về Joliet đây là nơi chốn không thể sống lâu dài được, chỉ sống tạm bợ để kiếm tiền rồi chuồn thẳng.

Có lẽ hầu hết người VN đều rất sợ lạnh đồng thời lại rất sợ cái khung cảnh u buồn của mùa đông, cảnh buồn người có vui đâu bao giờ, bầu trời âm u màu chì kéo dài suốt 6 tháng khiến người ta cảm thấy chán chường, không còn cảm thấy muốn sống háo hức nữa cho dù nơi đây chúng tôi kiếm rất nhiều tiền. Sau 5 năm, chờ cho con gái học xong lớp 12 chúng tôi quyết định đi về miền nắng ấm tiểu bang Florida. Ngày đi, bao nhiều đồ đạc sắm sửa tạm bợ vất đi hết chỉ mang theo quần áo và đồ dùng cần thiết. Xong xuôi, chúng tôi lên xe bấm 3 hồi còi dài để giã từ Joliet, giã từ vùng tuyết trắng lạnh lùng. Sau đó giong ruổi qua một quãng đường dài 1200 miles để đến Jacksonville – Florida.

Tôi chọn Jacksonville vì muốn trốn cái lạnh cái buồn nơi miền Bắc và xuôi nam để hưởng nắng ấm mặt trời quanh năm. Ngoài ra, ở đây tôi còn có một người bạn rất thân từ hồi Trung học, muốn gần gủi bạn bè cho vui. Té ra không phải vậy chúng tội bận rộn tíu tít với công việc, đâu có thời gian mà gặp gỡ nhau nhiều. Lâu lâu tiệc tùng họp mặt uống vài chai bia và tán gẫu dăm ba câu chuyện, rồi chia tay ai về nhà nấy.

Chúng tôi ở Jacksonville thấm thoát được 13 năm một thời gian khá dài cho một nơi chốn. Trước nay chưa khi nào chúng tôi ở một chổ lâu đến như vậy. Hàng năm vào ngày Labor Day chúng tôi thường hay kéo xuống Tampa, thăm gia đình người em trai của tôi cách đó 4 giờ lái xe.

Có một lần không biết nghĩ sao, em tôi nói:” Khi nào anh chị về hưu, xuống đây mua một ngôi nhà, có mảnh vườn bao quanh, tha hồ mà trồng trọt vui với tuổi già. Tampa khí hậu nóng ẩm quanh năm, trồng cây gì cũng được.” Nghe nói như thế, giống như mọt tia chớp lóe lên trong đầu tôi:” nếu có thú vui này, sao không về Tampa sinh sống, càng sớm càng tốt !” Ở Jacksonville, mùa đông đôi khi lạnh dưới không độ C, trồng cây gì cũng chết, ngoại trừ cam bưởi.

Thế rồi một lần nữa và có lẽ lần cuối cùng, chúng tôi quyết định dời về Tampa. Sau đó, chúng tôi tiến hành hai công việc, mua ngay một căn nhà tại Tampa và sau đó bán căn nhà tại Jacksonville. Công việc mua bán không đơn giản, cũng may em dâu tôi làm nghề địa ốc, nên mọi chuyện rồi cũng suôn sẻ. Đồng thời đóng cửa tiệm Nail gọi người đến cho hết đồ đạc.

Rồi ngày dọn nhà cũng đã đến, công việc dọn nhà lần này nhọc nhằn hơn hai lần trước. Bởi lẽ các lần trước, chúng tôi chủ trương sống tạm bợ nên không sắm sửa gì nhiều bây giờ ngổn ngang trăm thứ. Suốt một tuần lễ, cả nhà tập trung cao độ đóng gói đồ đạc vào các thùng giấy, rồi bưng bê ra gara chất đống chờ người đến bốc dỡ. Có chuyện khôi hài khi dọn nhà, ngày nào vợ chồng cũng cãi nhau, ông muốn vất hết những đồ không dùng đến, còn bà thì cứ ôm theo hết, nhất quyết không buông bỏ. Có người ví von rằng, một lần cháy nhà bằng hai lần dọn nhà, để nhằm nói lên nỗi nhọc nhằn khiếp đảm của việc dọn nhà. Cho đến nỗi, có người dọn nhà chỉ một vài lần là đủ tởn, thề không bao giờ dọn nữa, trong đó có tôi.

Tampa nằm ở khoảng giữa và thuộc bên bờ Tây của Florida, nó nằm trên một vịnh nhỏ có tên là Tampa Bay, vịnh này thông ra vịnh Mexico khổng lồ. Tampa có dân số trên 1 triệu người, đứng hàng thứ 3 tại Florida, sau Miami và Orlando. Tuy có dân số cao nhưng diện tích lại nhỏ hơn các thành phố khác cho nên dân cư cảm thấy đông đúc hơn, luôn luôn lúc nào cũng thấy xe cộ chạy dày đặc trên đường. Thời tiết Tampa có bốn mùa rõ rệt, mùa Thu cũng quét lá mệt nghỉ, mùa Đông cũng hơi hơi lạnh khoảng 50 độ F (khoảng 10 độ C) mùa Hè nóng hừng hực trên 90 độ F (32 độC).

Căn nhà ở Tampa của chúng tôi đã trên 30 tuổi, nhà nhỏ chỉ có 1,100 sqf (khoảng 100 mét vuông), cũng có 3 phòng ngủ và 2 phòng tắm, giá mua là 129K. Căn nhà sơn 2 màu xanh trắng, mặt ngó thẳng ra hướng Đông, đúng cái hướng mà các Thầy Tử vi khuyên tôi nên chọn cho hạp tuổi, không biết có đúng như vậy không, thôi thì có kiêng thì có lành. Trước và sau nhà có 2 cây sồi (oak) cổ thụ tỏa bóng mát trông thật đẹp, nhưng ngặt một điều là không trồng trọt gì được dưới tàn cây của chúng. Cây sồi được coi là tài sản cảu Florida, tỉa nhánh mé cành thì không sao, còn muốn đốn bỏ phải xin phép.

Khi dọn nhà đi thì chứa đồ đạc ở trong thùng, khi đến chổ mới thì dỡ đồ đạc ra để xếp vào các nơi, cả nhà xúm lại làm suốt ngày, khoảng 2 tuần sau thì tạm ổn. Đến cuối tháng, có bửa nghe điện thoại reo, tôi nhấc lên thì được biết có người chủ tiệm Nail được bạn bè giới thiệu bèn gọi đến mời vợ chồng tôi đi làm. Thế là yên phận sống trong căn nhà mới.

Bước ra mảnh vườn, chủ trước họ trồng cây kiểng um tùm trông phát ớn. Tôi kêu một anh Mể tới dọn dẹp, anh chàng này ngơ ngác không biết nói tiếng Anh, muốn bàn công việc phải nói qua điện thoại với vợ hắn. Anh Mể ra giá tiền công là 500 đô, tôi chẳng biết gì nên cứ gật đầu bừa cho xong. Trước nay tôi có nghe nói đàn ông Mể có sức khỏe kinh người, bây giờ khi tận mắt chứng kiến cái cảnh anh Mể này làm việc mà kinh sợ, sợ anh ta ngã lăn ra chết bất tử. Anh ta làm việc dưới trời nắng như đổ lửa và ghê gớm ở chổ, suốt từ sáng tới chiều anh ta chớ hề nghỉ tay. Tới trưa tôi chạy đi mua cho anh một cái bánh hamburger, anh ta nhai nhồm nhàm xong nốc cạn lon Coca, rồi hì hục làm tiếp. Anh ta cứ làm như thế suốt 3 ngày trời, khuôn mặt bình thản, không than vắn thở dài gì hết, mọi chuyện đều bình thường đối với anh ta. Thiệt đáng nể.

Dọn dẹp mảnh vườn xong, tôi chưa biết chỗ nào bán cây ăn trái để mua về nhà trồng. Thời may con gái có người bạn giới thiệu cho Khu Chợ Trời bên thành phố St Petersburg. Nằm kề cận Tampa có 2 thành phố vệ tinh là St. Petersburg và Clearwater. Cả ba tạo thành một hình tam giác, từ nhà đi qua hai nơi này khoảng nửa tiếng.

Theo sự hiểu biết của tôi, thành phố St. Petersburg gọi tắt là St. Pete. (phe ta kêu là Săn Pí) tuy nhỏ hơn Tampa, nhưng không hiểu sao người Việt lại quần tụ đông hơn, chợ búa và nhà hàng Việt Nam đông hơn bên Tampa. Chợ tuy nhỏ cũng có bán đủ thứ hàng, cũng có quày thịt cá tươi sống, cũng có đủ các loại to go như bún mì phở… còn các loại ăn chơi thì ê hề. Nhà hàng VN cũng nho nhỏ, có nhiều nơi cũng có thức ăn ngon nổi tiếng. Tóm lại sinh hoạt của người Việt nơi St. Pete khá nhộn nhịp.

Từ Tampa qua St. Pete phải chạy qua cây cầu Howard dài 6 dặm, cây cầu rất đẹp, đẹp ở chỗ cầu chạy sát mặt biển, khiến ta có cảm giác sóng biển đang vờn bên má mình, đến giữa thì cầu nhô lên cao cho tàu thuyền qua lại. Sáng sớm chúng tôi chạy qua cây cầu này, rồi nhìn qua hai bên, mặt biển lặng im xanh ngắt và trải rộng mênh mông tới chân trời, có những chiếc thuyền rẽ sóng ở xa xa, đã tạo nên một khung cảnh kỳ thú tuyệt đẹp. Từ đó mỗi sáng sớm Chủ nhật, chúng tôi đi qua cây cầu để đến Chợ Trời, chưa bỏ qua một lần nào hết.

Khu Chợ Trời (Flea Market) St. Pete, nằm trên một khu đất rộng, khung cảnh nhộn nhịp bát nháo như bất cứ Khu Chợ Trời nào khác, tuy nhiên mọi nơi đều sạch sẽ, không hề thấy ai xả rác. Những người bán hàng, họ dựng lều hoặc che dù san sát nhau, người người đi lại tấp nập. Vợ chồng tôi khi lần đầu tiên đến đây, chỉ đi dạo một vòng là trong lòng bỗng nhiên cảm thấy vui thích lắm.

Theo tôi, Chợ Trời St. Pete là một nét văn hóa đặc sắc của vùng vịnh Tampa. Sau này khi có bạn bè đến thăm viếng, chúng tôi đều đưa đi thăm Chợ Trời và mọi người đều rất thích thú, kể cả người từ VN qua. Tôi thấy người mua kẻ bán ở đây rất đông người Việt và kỳ lạ một điều, những người Việt hiện diện tại đây đều có gốc gác từ miệt Đồng bằng sông Cửu Long, không hề thấy ai nói giọng Bắc giọng Trung ( hay là có nói mà tôi chưa gặp) Phần lớn những người này lại xuất thân từ vùng đồng quê chứ không ai xuất thân từ thành phố, cho nên giọng nói của họ nghe quê rặc và rất thiệt thà chơn chất, nói sao bán vậy, chứ không hề nói thách một tiếng nào.

Tôi hỏi cô bán hàng trái cây: “Nhãn này giá bao nhiêu tiền một pound vậy cô?” Cô cười đáp: “Dạ, 3 đồng “gửi” một pound”. Tôi nói giỡn: “Sao mắc vậy?” Cô ta cười lỏn lẻn: “Em bán “ghẻ ghề” mà anh chê mắc !” Tôi cười lớn: “Cha! cái giọng này sao nghe giống dân Rạch giá quá vậy ta?” Cô ta cũng cười theo: ” Dạ đúng vậy, em quê Giồng Riềng- Rạch Giá đây anh”.

Có một số người Việt lớn tuổi ở St. Pete không xin đi làm hãng được, bèn ở nhà trồng rau, nuôi gà vịt rồi mang ra chợ trời bán. Nhà cửa ở vùng này rất cũ kĩ và nhỏ xíu, nhưng được cái là có đất khá rộng chung quanh nhà, cho nên thoải mái trồng trọt. Ngoài những thứ thường thấy như rau cải, bầu bí, khổ qua… người ta còn thấy bày bán ở đây những thứ khó tìm như: rau càng cua, bông so đủa, bông điên điển, cọng bồn bồn, rau nhút, rau muống nước (loại rau này tôi chưa từng thấy ở những nơi khác)… Có nhà nuôi gà vịt “đi bộ”, hay ấp trứng vịt lộn cũng mang ra chợ bán. Trái cây thì tràn ngập các loại trái cây VN, vùng đất này trồng mãng cầu, nhãn, thanh long rất tốt, ngoài ra còn có ổi xá lị, trái li ki ma, mít, xoài…

Xoài ở St. Pete có loại trái mập ú, trông ô dề xấu xí, nhưng khi ăn thì có mùi vị thơm ngon, hột lại nhỏ xíu, rất đặc sắc. Vú sữa cũng có, nhưng trái nhỏ tí như trái chanh, ai cũng chê chẳng thấy ai mua. Hầu hết các loại cây trái VN đều trồng được ở vùng này, ngoại trừ sầu riêng, chôm chôm và măng cụt.

Chúng tôi đi dạo qua khu bán cây ăn trái. Anh chủ khu này tên Sang, khoảng 40 tuổi người quê Bạc Liêu, hiện làm chủ một nông trại khoảng 20 acres (acre – mẫu Anh, cở 4000 mét vuông). Anh Sang chuyên nghề ghép cây ăn trái. Mấy cây nhãn, bưởi, cam, quít… cây thấp lè tè mà trái treo lúc lỉu trông thật “đã” mắt. Anh chàng này bán cây nổi tiếng khắp vùng Tampa. Những cây ăn trái của Sang thuộc loại hàng “độc”. Anh ta có những loại xoài mà không chỗ nào có được, như một loại xoài lạ, khi trái còn xanh thì chua tê lưỡi, nhưng khi chín thì thơm ngon không thể tả, và lạ lùng không biết làm sao anh ta cũng có xoài cát Hòa Lộc của Mỹ Tho. Có loài mận VN, khi còn non trái có màu xanh, khi chín tới có màu hồng đào, cắn vào miệng nghe dòn tan ngọt lịm. Anh ta có đủ thứ cây ăn trái khác như hồng dòn, hồng mềm, cây bơ quả nhỏ mà béo ngậy, quít đường Cần thơ, bưởi Biên Hòa… tất cả đã được anh ta tuyển chọn công phu nên mua cây của anh ta chúng tôi đều rất yên tâm về chất lượng.

Đi dọc dài, người đi lại nhộn nhịp vui chưa từng thấy. Ngoài người Việt, còn có một sắc dân đặc biệt khác cũng chiếm số đông ở đây, đó là người H’mong, xuất phát từ vùng núi non của nước Lào ( lạ nhỉ ! không hiểu sao họ lại ở đây) Trong khi người Việt nói chuyện với nhau huyên thuyên bằng tiếng Việt, thì người H’mong cũng không kém ồn ào bằng tiếng nước họ.

Chỗ kia, có một anh người Việt chở nguyên một xe truck dừa xiêm đổ xuống một đống lớn, ai thích trái nào anh ta sẽ chặt dừa, xong cắm ống hút vào đưa cho khách, khách vừa đi vừa uống trông rất vui. Nơi khác người ta xúm xít quanh một cái bàn, chờ mua gỏi Thái Lan của hai vợ chồng người Thái, gỏi làm bằng đu đủ bào, cà pháo tươi, đậu phọng rang, trộn với nước chanh và mắm ba khía, mùi vị ngon khá lạ. Có người Việt kia đi chày tôm ngoài sông rồi đem ra chợ bán, tôm chứa trong thùng cooler, nghe anh ta rao hàng, tôm nhỏ giá 2 đô rưởi, tôm lớn 7 đô một pound. Có chỗ bán cá, bán hoa lan, bán nước mía tươi ép tại chỗ… Tất cả đã tạo nên một bức tranh hết sức sinh động và hấp dẫn của Chợ Trời St. Pete.

Lần hồi, tôi khuân về nhà lũ khủ các loại cây ăn trái, mỗi thứ một cây: xoài, nhãn, bơ, trái vải, quít đường, bưởi… rồi chạy ra chợ mua mấy bao phân bón vào gốc. Hàng ngày tôi ra vườn tưới tắm cho cây, cây lớn lên như thổi, đâm chồi ra lá xum xuê, một thời gian ngắn sau cây ra hoa kết trái, trái nhỏ tí trông dễ thương làm sao.

Trồng cây là một thú vui thanh tao, bởi vì không phải là mong tới ngày ăn quả, mà vì một niềm vui khác, khi trong lòng cảm thấy có một sợi dây tương thông thân ái với cây trái trong vườn nhà. “Cám ơn hoa đã vì ta nở. Thế giới vui từ mỗi lẻ loi”. (Tô Thùy Yên)

Thành phố vệ tinh thứ hai của Tampa là Clearwater, một thành phố du lịch, nhà cửa mắc mỏ nên dân Việt ít người dám sống ở đây. Con đường dẫn vào thành phố tuyệt đẹp cũng có một cây cầu dài khác chạy sát mặt biển băng qua vịnh Tampa, trên đường có những lối rẽ cho ai muốn câu cá thì ghé vào. Hai bên đường có trồng hai hàng cây cọ trông rất thơ mộng, con đường chạy thẳng ra vịnh Mexico. Ngày cuối tuần, người ta ở các nơi kéo đến tắm biển đông nghịt như ở Nha trang bên quê nhà. Lúc đầu chúng tôi cũng ngại ngần chuyện tắm biển, nhưng sau đó thấy người người thản nhiên xuống tắm, đủ sắc dân, đủ dạng người, đủ lứa tuổi… nên chúng tôi cũng kéo xuống tắm cho vui. Té ra biển ở đây rất tuyệt, nước biển trong xanh và phẳng lì chứ không hề có sóng dữ, nước biển lại ấm áp, chứ không lạnh cóng như biển Cali. Khi đã tắm được một lần là coi như vượt qua rào cản ngại ngùng, từ đó cứ dăm ba tuần chúng tôi lại kéo đi tắm biển, rất khoan khoái và thư giản.

Tôi về Tampa đến nay đã được gần hai năm. Không biết có phải vì đất trời phong thủy vận hợp với mình hay sao, mà từ khi về đây tôi thấy trong người sảng khoái lắm. Đêm về, lên giường là ngủ một mạch đến sáng, điều này trước kia chưa hề có nơi tôi. Trong thời gian ở Jacksonville vì nặng nợ cơm áo gạo tiền, đêm đến tôi trằn trọc mãi thuốc ngủ lúc nào cũng thủ trên đầu giường, cho nên có thời gian dài tôi mang bệnh anxiety (bịnh lo sợ). Tôi cũng có đọc nhiều bài viết khuyên người ta nên biết buông sả khi lớn tuổi, phải tu đạo này hay theo đạo nọ, theo vị Thầy này hay theo vị thiền sư kia. Nhưng theo tôi tất cả chỉ là vô ích, khi người ta chưa tìm được một hoàn cảnh sống thích hợp thì khó mà tìm được sự an lạc trong đời thường. Đêm về tôi lắng nghe toàn thân, nghe nỗi sung sướng khoan khoái lan tỏa khắp người mình, hình như Thiên đường ở ngay trong lòng mình chứ không phải đâu xa xôi. Cám ơn Nước Mỹ, đã tạo cho tôi điều kiện tìm thấy hạnh phúc đích thực ngay trong đời thường.

Tôi lại nghĩ lan man sang chuyện khác. Trên cõi đời này có hàng triệu triệu người mong ước được đến sinh sống trên đất Mỹ. Đồng thời cũng có triệu triệu người căm ghét nước Mỹ. Tôi còn nhớ biến cố 911 khủng bố tấn công nước Mỹ, phần lớn loài người đều sững sờ kinh ngạc và biểu lộ lòng thương xót đến nước Mỹ. Nhưng không phải là tất cả, trong những giờ phút đầu tiên của biến cố, người Palestine đã đổ ra đường hò reo mừng rỡ cho thắng lợi của những người tử vì đạo. Có một phái đoàn báo chí một nước Á Châu lúc đó được mời đến thăm viếng Mỹ. Khi biến cố xảy ra họ đang đứng trong Trung tâm Báo chí, và đã có thái độ hân hoan vui mừng trong khi đất nước này đang chìm trong đau khổ. Ngay lập tức họ đã bị trục xuất ra khỏi nước Mỹ và vĩnh viễn những con người này không bao giờ được phép đặt chân đến Mỹ. Vui mừng trước nỗi đau của đồng loại là hành vi man rợ, cho nên họ rất xứng đáng nhận lãnh hình phạt này. Nước Mỹ không hề đụng chạm đến đất nước họ, chỉ vì nước Mỹ giàu mạnh hơn, và dân Mỹ sống sung sướng hơn dân nước họ, chỉ đơn giản vậy thôi. Nhà văn NNN đã viết một câu rất hay:”… Có những người không chịu nỗi sự thành công của người khác. Bởi vì họ cứ coi sự thành công của người khác là sự thất bại của chính mình.”

Người Việt cũng vậy, có rất nhiều người mê Mỹ và cũng có rất nhiều người ghét Mỹ. Từ sau biến cố 1975 người Việt đã tìm mọi cách để đến Mỹ. Sau khi phong trào vượt biên chấm dứt người ta tiếp tuc ra đi bằng nhiều cách, hợp pháp hay bất hợp pháp. Hợp pháp là đi theo con đường bảo lãnh thân nhân, cha mẹ, vợ con, hôn thê, hôn phu và sau này thêm diện đầu tư. Bất hợp pháp bằng cách du học du lịch rồi ở lại luôn, hay tìm cách kết hôn giả với người có quốc tịch. Giả thử có người mất vài chục ngàn đô cho công việc bất hợp pháp này, thì suy cho cùng họ còn quá lời. Cái lời trước mắt là con cái được hấp thụ một nền giáo dục ưu tú nhất thế giới, nếu còn ở trong nước mà muốn cho con đến Mỹ du học hàng năm phải tốn khoảng 20 ngàn đô. Còn nữa, món lời lớn nhất không thể tính bằng tiền bởi vì nó vô giá, đó là được sống trong môi trường xã hội quá lý tưởng, mà người Mỹ đã cố công gầy dựng từ hồi mới lập quốc cho đến bây giờ.

Một xã hội nề nếp, tất cả mọi đường lối chính sách đều rất minh bạch. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không có giai cấp nào, một thế lực hay đảng phái nào được đứng ngoài và đứng trên pháp luật. Mọi người sinh ra đời đều được tôn trọng như nhau, đều có cùng một cơ hội tiến thân như nhau. Cho nên nếu anh nghèo, anh thất bại, anh học hành ngu dốt, là do anh chứ không phải do lỗi của xã hội, không hề có cảnh con quan thì được làm quan, con sãi ở chùa thì quét lá đa. Một xã hội có tính ưu việt vượt trội quá xa những xã hội khác, tôi không dám kể ra đây nhiều nữa sợ nhiều người chạnh lòng.

Có người Việt chưa hề đặt chân đến nước Mỹ ngày nào, nhưng cũng ghét nước Mỹ thậm tệ. Hàng ngày họ xem phim ảnh, thời sự tin tức, họ thấy những cảnh bạo lực ghê rợn cướp của giết người hay sexy khêu gợi, hay mấy vụ cảnh sát bắn chết người da đen… xem riết rồi họ đâm ra ghê tởm nước Mỹ, và còn cho rằng những người Việt qua tới Mỹ rồi đi làm những chuyện xấu xa, là do:” Quít trồng ở Giang Nam thì ngọt, mang trồng ở Giang Bắc thì chua…” đúng là dạng người ếch ngồi đáy giếng.

Có người cứ mở miệng ra là chửi Mỹ như tạo ra cho mình một style lạ, hay chứng tỏ ta đây cũng có một thời “chống Mỹ cứu nước” nhưng thật ra không phải vậy, họ nói một đằng làm một nẻo. Đây là một trường hợp điển hình, hãy nghe nghệ sĩ Kim Tuyến nhận xét về nghệ sĩ Bạch Tuyết: “BT thù ghét nước Mỹ nhưng tại sao lại thích đi Mỹ. Cho con học ở Mỹ rồi lại lấy vợ Mỹ. Phải chăng BT muốn tìm một bãi đáp an toàn sau này ở Mỹ…”

Trong cộng đồng người Việt tại Mỹ có một hạng người không giống ai. Nếu họ là người homeless, hay cuộc đời gặp toàn thất bại thì không có gì đáng nói. Đàng này họ sống trên đất Mỹ đã vài chục năm, làm ăn sinh sống khá thành đạt cũng có của ăn của để, con cái học hành thành tài. Vậy mà hễ cứ có dịp là họ chửi Mỹ, nào là làm ra bao nhiêu tiền, bảo hiểm và sở thuế ăn hết, chủ tư bản bóc lột đến tận xương tủy (câu này sao nghe quen quen!) Có người thấy vậy chướng mắt bèn nói móc họng: “Nếu ông thấy sống ở Mỹ có quá nhiều điều không ưng ý, thì ông nên về Việt Nam sinh sống để khỏi vướng mắt đến những điều này”. Lặng thinh! không nghe câu trả lời, những người này rất xứng đáng mang cái tên là “ăn cháo đá bát”.

Suy cho cùng, để cảm nhận thật sự nước Mỹ phải có thời gian để cho cái “chất Mỹ” nó ngấm vào người. Chứ còn chỉ đi du lịch hay thăm thân nhân vài ba tháng, hay được bảo lãnh qua Mỹ sống vài năm, thì thật tình chưa biết gì nhiều về nước Mỹ. Những người đó cảm thấy nước Mỹ sao chán ngắt, vừa buồn hiu vừa lạnh lùng. Đi đâu cảnh vật cũng từa tựa như nhau, giống y như câu thơ của Nguyên Sa:” Trời trên đất khách buồn vô hạn. Trăng rất quen mà vẫn chẳng quen.”. Thời giờ lúc nào cũng eo hẹp, cặp mắt cứ láo liên ngó đồng hồ. Không hề có cảnh sáng cà phê cà pháo cả tiếng đồng hồ, chiều lai rai bia bọt, kiếm người tán gẫu không phải dễ. Cái xứ gì mà người ta phải ôm đồm đủ thứ nợ: nợ nhà, nợ xe, nợ thuế, nợ bảo hiểm, nợ thẻ tín dụng… Cho nên có rất nhiều người Việt qua Mỹ một thời gian rồi lại quay về cố quốc.

Muốn cái “chất Mỹ” nó ngấm vào người theo tôi nghĩ cũng phải mất cỡ 5 năm. Khi nào người ta thấy nỗi nhớ nhà nó dịu lại, nhìn cảnh vật chung quanh không còn thấy buồn như trước. Vào mùa Đông trời chớm lạnh ra đường thản nhiên vận áo T shirt, điều đó có nghĩa là không còn sợ lạnh như những năm tháng đầu đến Mỹ. Ra đường gặp ai bất kể lạ hay quen đều gật đầu chào:” Hello! How are you doing”. Nói chuyện với người Mỹ không còn dùng body language nữa. Ăn uống không còn thuần túy: bún bò Huế, hủ tíu, mì phở… mà còn thích hamburger, hog dog, pizza, sushi, pasta… Khi nào cảm thấy vui với cái vui của nước Mỹ và buồn với cái buồn của người Mỹ, là coi như không còn có thái độ bàng quang như trước kia, là biết con người mình đã đổi khác. Cuối cùng một điều quan trọng nhất, là khi ta quay về cố quốc, lòng chợt bàng hoàng thảng thốt, đất nước không còn giống như trong tâm tưởng nữa rồi, mọi chuyện đời đều đã thay đổi… và một ý nghĩa buồn rầu nẩy ra là mong sao sớm trở về nước Mỹ. Như ai đó đã nói một câu như là chân lý: “Nước Mỹ không phải là Thiên đường, nhưng là một nơi đáng sống nhất trên cõi đời này”.

Ngô Đình Châu

From: Tuyen Vu & Dai Bang Uong

Rã Rời Cánh Hạc – Truyện Ngắn – Từ Sơn…

Van Pham

Truyện Ngắn – Từ Sơn…

Rã Rời Cánh Hạc

1- Người ta nói mẹ luôn là nguồn sống muôn đời của con. Không có sự hy sinh nào của con có thể bù đắp được tình yêu thiêng liêng của mẹ. Riêng mẹ của con, dù là một phụ nữ không hoàn hảo, khi đối diện với bao nghịch cảnh, nhiều lần mẹ đã bị sa chân, vấp ngã, nhưng với tình thương vô bờ bến, mẹ sẵn sàng xả thân bảo vệ con yêu dù phải chịu đựng đớn đau oan trái của cuộc đời. Con là đứa con gái lớn lên trong sự nghèo khó, đã chứng kiến những thay đổi liên tiếp đến với gia đình con, nhanh chóng như trời hạn rồi mưa.

Hôm nay mẹ lại chạy xe máy ra quán cà phê Tango hẹn hò với chú Quang, người yêu của mẹ, chú là Việt Kiều ở Mỹ mới về. Con ở nhà một mình, tự ăn uống và cùng làm bài với bạn học trên điện thoại. Tango là tên một quán cà phê được dựng lên trên đường Kênh Tân Hoá. Con nghe nói chừng 10 năm trước, người ta đã đổ đất lên một con lạch nước hôi thối mà từ xưa người ta gọi là Kênh Tân Hoá, cải tạo nó đến ngày nay thành một con đường tráng nhựa khang trang, dài khoảng nửa cây số, không khí hoàn toàn trong lành. Con đường vẫn được đặt tên là Kênh Tân Hoá, hoà nhập vào hệ thống đường xá giao thông của quận Tân Phú, Saigon ngày nay.

Hai năm qua, mỗi năm mẹ đều có chở con ra quán đôi lần, nên con đã biết mặt chú Quang, rồi biết cả lịch sử của con đường Kênh Tân Hoá. Chú Quang rất tốt, đã nghỉ hưu, không thích bia rượu. Khi con có dịp tiếp chuyện với chú, chú hay khuyên con phải ráng học để ngày sau có tương lai. Chú cũng thường khuyên mẹ, hoàn cảnh mẹ còn rất khó khăn, phải cố gắng tiết kiệm, rồi tìm mọi cơ hội buôn bán kinh doanh để phát triển kinh tế gia đình. Những điều chú Quang khuyên mẹ, con không biết chừng nào mẹ mới thực hiện được.

Nhà con ở trong một khu nhà trọ cấp 4 rất gần ngã tư Thạch Lam – Luỹ Bán Bích, nơi đây có nhiều khu trọ nghèo, người trọ đa số là dân tứ xứ, làm nghề lao động phổ thông, hoặc chuyên đi làm mướn. Con chưa bao giờ biết được cảm giác sống trong một ngôi nhà riêng của mình sẽ như thế nào, vì từ khi lớn lên, con đã thấy mình chỉ ở trong nhà trọ. Ở cái xứ sở mà giá nhà bạc tỉ, người lao động mỗi tháng kiếm được chỉ vài triệu, ăn còn không đủ, lấy đâu mua nhà. Con nhìn các bạn cha mẹ có nhà cửa tươm tất mà đem lòng mơ ước.

Mẹ con không có nghề nghiệp gì ổn định, mỗi ngày, buổi sáng thức dậy, mẹ sửa soạn quần áo sách vở cho con, đưa con đi học, rồi ra chợ buôn bán lặt vặt, trưa về lo cơm nước, buổi chiều tối đi tìm việc làm, nay công việc này mai công việc khác, vất vả lắm mới kiếm đủ tiền để trả tiền trọ, tiền chợ, tiền học cho con và những chi tiêu khác trong gia đình.

Tiền trọ nhà con đang ở là hai triệu rưỡi một tháng, mẹ còn phải trả thêm chi phí điện nước nữa. Chỉ nội lo việc ăn ở, mẹ đã chật vật lắm rồi, vậy mà năm nay mẹ phải chạy vạy để đóng đủ 6 triệu tiền học phí và các phụ phí khác của lớp 8 cho con nữa, đó là chưa kể mẹ phải mua riêng đồng phục sách vở. Tiền học đã cao, sách học do bộ giáo dục đưa xuống bán với giá cũng không hề rẻ, từ vài chục ngàn đến vài trăm ngàn một cuốn. Sách học hàng năm thay đổi liên tục, học sinh buộc phải mua sách mới, mới có mà học.

Mẹ cho con đi học đã tốn rất nhiều tiền rồi, vậy mà nhà trường còn thường xuyên kêu gọi phụ huynh phải đóng góp thêm những thứ tiền khác, như là tiền mua cái quạt, cái chổi, khăn bàn, hộp phấn… có khi phải hỗ trợ đóng tiền đi tham quan, picnic dã ngoại… Cái gì cũng thu tiền, bất kể nghèo giàu gì ai cũng phải đóng, cứ một hai tháng là đã thấy có việc đóng tiền rồi. Mẹ con dù không đủ tiền chợ nhưng không thể không đóng tiền trường. Thiệt là khổ cho mẹ của con.

Nhìn thấy mẹ quá vất vả, có lúc con nói với mẹ con không đi học nữa, nhưng mẹ giải thích con còn nhỏ đâu làm được việc gì giúp mẹ, thôi thì ráng học, sau này nhờ tấm thân. Nghe lời mẹ con tiếp tục đi học, nhưng với bao nỗi buồn, nhìn thấy mẹ vất vả vì tiền sách tiền trường, thật sự con học không vô.

Con biết được một số các đại gia hay chủ các đại công ty lập ra rất nhiều loại quỹ từ thiện, giúp đỡ người tật nguyền, cứu trợ thiên tai, nhưng tại sao không có quỹ nào giúp cho con nít nhà nghèo, không đủ tiền mà muốn được đi học? Con không hiểu tại sao chính phủ có thể xây dựng những khu giải trí, khách sạn sang trọng, những khu thương mại thật đồ sộ, mà lại không chăm lo cho thế hệ mầm non, bắt con nít chúng con đi học phải đóng tiền quá cao?

Nghèo như con, chỉ mong đi học được ngày nào hay ngày nấy, mẹ con mà không kiếm được tiền thì con cũng phải đành nghỉ học thôi. Bởi vậy, làm sao con dám mơ ước đến khung trời đại học xa xôi, như các bạn học nhà cán bộ được?

Con mồ côi cha từ nhiều năm nay. Theo lời mẹ kể, ba con ngày xưa làm công nhân xưởng điện. Ba mẹ ở nhà trọ, lương ba không bao nhiêu mà phải nuôi mẹ không có việc làm, và rồi còn phải nuôi con. Ba con mất vì bệnh, từ khi con mới 13 tháng chưa biết gì. Mẹ con nách con đi buôn bán lặt vặt ngoài chợ để có tiền mua gạo. Rồi thì mẹ đi làm việc nhà, giữ em, nấu cơm cho người ta, để có tiền mua sữa cho con. Thời gian sung sướng nhất của gia đình con là lúc mẹ con nhận được việc vừa bưng cà phê vừa nấu ăn cho chủ. Mẹ và con được ăn ở ngay trong tiệm, không tốn tiền nhà, mà con lại còn có điều kiện bắt đầu được vô học lớp 1. Nhưng thời gian huy hoàng đó không kéo dài bao lâu thì mẹ con phải dẫn con ra ngoài tự đi mướn nhà trọ, tuồi thơ của con từ đó cũng vất vả theo.

2- Và chú Quang đã xuất hiện trong gia đình con, như là một vị thiên thần. Con không tiện hỏi mẹ con bằng cách nào mẹ quen được chú Quang, con chỉ biết, từ khi có chú, người ta dần bớt đi đòi nợ mẹ, những bữa cơm mẹ nấu được ngon hơn, quần áo con mặc được tươm tất hơn, và nhất là những khi con vụng về ham chơi, con cũng ít bị mẹ la rầy hơn.

Sau hơn một năm thân thiết với chú, gia đình con cũng được chú giúp mua cho những phương tiên phục vụ đời sống, như tủ lạnh và máy giặt như bao gia đình khác. Năm ngoái chú còn cho tiền mẹ mua máy lạnh gắn vào phòng trọ. Có máy lạnh rồi, không khí trong phòng không còn nóng bứt, con có những giấc ngủ êm đềm mà trước đây con chưa bao giờ có được, con được cười nhiều hơn và điểm học của con càng lúc càng tốt hơn.

Lần về Saigon năm rồi, Chú có mua cho mẹ một cái điện thoại thông minh mới tinh, và con cũng có một cái đời cũ, đã qua xử dụng. Con học không giỏi lắm, nhưng từ năm lên lớp 6, con đã tò mò theo chúng bạn, từng mò mẫm mấy cái điện thoại mà gia đình mua cho chúng nó, từ từ con đã trở nên rành rọt về điện thoại. Mấy cái vụ tải áp hay đăng xuất đăng nhập, sửa vài lỗi lặt vặt trên cấu hình điện thoại, đối với con dễ như trở bàn tay. Từ nay, với chiếc điện thoại trong tay, con có thể trò chuyện với bạn học trên Tik Tok, và các bạn mới ở các mạng xã hội khác, con hy vọng con sẽ được mở rộng tầm nhìn và mở mang kiến thức.

Thấu hiểu hoàn cảnh của mẹ, chú Quang thường xuyên gửi tiền về, giúp đỡ cho mẹ phần nào khó khăn trong cuộc sống, đỡ tiền nhà tiền trường. Chú còn gửi cho con một chút tiền để con làm vốn tập tành bán hàng trên mạng, kiếm tiền ăn sáng, và các chi phí cá nhân. Những mặt hàng đầu tiên con tập buôn bán là một số loại mỹ phẩm dành cho các bạn gái tuổi dậy thì đang bị mụn nám. Khách hàng của con hiện nay chính là các bạn trong lớp, các chị ở các lớp khác trong phạm vi trường con đang học.

Đã mấy năm nay, mỗi năm Chú Quang về Saigon một lần, mà hễ có chú về là mẹ con vui lắm, con cũng vui nữa. Vào những ngày thường, buổi sáng đến giờ con đi học, mẹ phải chạy xe đưa con đến trường, sau đó mẹ mới ra quán gặp chú Quang. Đi thăm chú chiều về, mẹ nấu nhiều món ăn thật ngon, có cả mấy ly trà sữa được mẹ đem về nữa. Hôm nay vì là chủ nhật con nghỉ học, mẹ nói mẹ đi thăm chú Quang đến tối mới về, con ở nhà một mình lo học bài, đến bữa ăn trưa con chỉ cần hâm nóng thức ăn có trong tủ lạnh. Con đã ngoan ngoãn nghe theo lời mẹ, ở nhà giặt giũ quần áo rồi học bài.

Đến trưa học bài xong rồi, con ngồi buồn lướt mạng một mình. Con ngạc nhiên thấy rất nhiều người khen đất nước Việt Nam là một trong những nơi đáng sống nhất trên thế giới. Người ta minh hoạ bằng nhiều hình ảnh nhà cửa nguy nga sang trọng, những tượng đài nghìn tỉ, người giàu vui chơi trên du thuyền… nhưng con không hiểu sao người ta ít đưa lên hình ảnh những mảnh đời khốn khó mà con nhìn thấy mỗi ngày, có những cụ già hàng ngày phải lặn lội bán từng củ khoai từng cọng hành, có những gia đình đói khổ phải chạy gạo từng bữa? Dường như trong xã hội này, ít có ai quan tâm đến đời sống người nghèo, mà người nghèo chung quanh con thì nhiều vô số kể.

Con nhớ có lần mẹ nói với con: “Chú Quang vừa gửi tiền tặng con mua áo mới ăn Tết nè”, rồi thì mẹ dẫn con vô siêu thị Aeon Tân Phú ăn gà rán uống trà sữa, và mua cho con được hai bộ quần áo thật đẹp, mà hồi đó tới giờ chưa có khi nào con dám mơ ước.

Ở trong siêu thị, mấy cô mấy chú đi mua hàng không ai ăn mặc xoàng xĩnh như mẹ của con, họ mặc đồ “mô đen” đủ kiểu trên đời, đẹp hết biết, chứng tỏ là ở Saigon này có rất nhiều người thật giàu có. Có lẽ những người giàu chỉ cư ngụ ở những nơi sang trọng, con không thể nào nhìn thấy họ trên các đường phố chung quanh nhà con. Mấy đứa con nít đi theo họ, ôi thôi quần áo đâu mà đẹp quá, màu sắc xanh đỏ sặc sở như trong các phim về thế giới thần tiên. Tự nhiên con hiểu ra, những người giàu có họ ăn mặc đẹp lắm, tơ lụa quần áo trên người họ, ngay trong siêu thị này cũng khó tìm thấy. Con chỉ có một chút thắc mắc, không hiểu vì sao, trong xã hội gạo châu củi quế này, mà họ lại giàu có quá chừng như vậy?

Từ khi nhận được sự giúp đỡ của chú Quang, con thấy mẹ có chút thay đổi về cách mưu sinh. Mẹ không còn ngày ngày đi năn nỉ xin việc làm, mà xoay sở cuộc sống bằng cách dùng tiền của chú cho, đem cho bạn hàng vay lấy lời. Chi phí trong gia đình con, mấy tháng nay, chỉ nhờ vào số tiền lời kiếm được từ tiền cho vay đó. Mỗi tháng tiền thu vào không nhiều nhưng đều đặn, dù có phải ăn tiêu dè xẻn, nhung cuộc sống của gia đình đã có phần dễ chịu hơn trước.

Dù sao thì nghề nghiệp của mẹ như thế này thật sự vẫn không ổn. Tình hình xã hội, giá cả biến đổi khó lường, nếu chỉ sống bằng tiền cho vay thôi, thi tương lai gia đình sẽ rất là mù mịt. Phải chi chú Quang và mẹ quyết định làm đám cưới, chú Quang sẽ chính thức bảo bọc mẹ và con, mẹ sẽ không còn cực khổ chạy vạy lo toan, và con cũng sẽ yên tâm học hành…

Lúc này trời đã về khuya, cảm giác trống trải làm con thấy lạnh hơn bình thường. Con mở cửa trông ra đường thì nghe gió thổi vù vù, mây giăng khắp trời, dường như có cơn mưa đang kéo đến. Mấy hôm trước đi gặp chú Quang, thường thì mẹ cũng về sớm, nhưng sao hôm nay lại về trễ như thế này? Con tự nhiên cảm thấy rất thương mẹ, bao ngày vất vả sương gió. không biết hôm nay mẹ có gặp nguy hiểm gì ngoài đường không. Nghĩ đến mẹ, trong lòng con cảm thấy xót xa.

Chợt điện thoại reo, chính là mẹ gọi. Mẹ dặn con ăn cơm trước, không phải chờ mẹ, khuya mẹ mới về. Nghe lời mẹ, con tự ăn uống tắm rửa và lên giường tìm giấc ngủ. Nằm mãi con vẫn không ngủ được. Đến khuya, sau cơn mưa, mẹ về đến nhà, bước vào cửa, thẩn thờ buông mình xuống nệm, tay không rời điện thoại. Dường như mẹ đang nói chuyện với chú Quang. Con nghe mẹ nói rất nhỏ, giọng lạc đi:

– Không còn hy vọng sao anh. Em không ngờ tình hình nghiêm trọng như vậy. Có cách nào giải quyết không anh?

Chú Quang nói gì đó con không nghe rõ, rồi nghe mẹ nói “em xin lỗi”. Mẹ nói chỉ một câu thôi mà nước mắt ràn rụa.

Đêm nay mẹ không hề ngủ, con giật mình mấy lần cũng vẫn thấy mẹ lục đục chuyện gì. Mới 3 giờ sáng mẹ lay con dậy:

– Hiền con cẩn thận coi chừng nhà, sáng nay con điện thoại cho bạn Ngọc đến chở dùm con đến trường. Bây giờ mẹ đi công chuyện.

Con mở cửa cho mẹ dắt xe ra ngõ, trong lòng bùi ngùi, có chút lo âu, khi lại một lần nữa nhìn thấy mẹ lao mình vào sương gió.

3- Con nghĩ tình yêu của mẹ đối với chú Quang rất sâu đậm, vì con thấy mẹ khóc nhiều từ sau ngày chú phải trở về Mỹ gấp, vì bệnh tim trở nặng. Con được biết do điều kiện sức khoẻ, chú không còn khả năng tiếp tục giúp đỡ, thăm viếng gia đình con nữa.

Chú Quang về Mỹ rồi, mẹ con đứng ngồi không yên, cứ tìm cách gọi qua Mỹ để hỏi thăm sức khoẻ chú, nhưng đường dây đã bị cắt. Mẹ buồn, cứ ra vào thờ thẩn. Có lẽ chú chưa có cơ hội, hoặc là do tình cảm hai người chưa đủ lớn, để chú chính thức công bố với con cái của chú ở bên Mỹ về quan hệ của chú và mẹ. Bây giờ thì mẹ không còn cơ hội. Mẹ nói với con, mẹ không thể quên kỷ niệm những ngày mẹ gần gủi với chú Quang. Chú đã mang đến cho mẹ rất nhiều hạnh phúc và tình yêu, dù hạnh phúc muộn màng và tình yêu cũng không thể trọn vẹn.

Cả năm nay, không có sự giúp đỡ của chú Quang, tiền bạc trong nhà dần cạn, nguồn vốn cho vay của mẹ cũng bị mòn dần. Hiện nay, mẹ chỉ lo được tiền trọ, tiền chợ mà thôi, còn tiền trường của con thì mẹ không lo nổi. Mẹ bảo con đã lớn, sắp bước lên lớp 9 rồi, con phải cố gắng tự lo đóng tiền học cho con. Nghe mẹ tính vậy, con cũng phải đồng ý. Nhưng muốn có tiền đóng tiền học, con cần phải nhờ người giúp tìm cách tăng số lần truy cập trang quảng cáo của con. Nếu bán được nhiều hàng hơn, con có thể có đủ tiền nộp cho trường để được tiếp tục đi học. Con chỉ biết làm hết sức, nhưng được tới đâu hay tới đó. Vì rủi như không kiếm đủ tiền, con phải nghỉ học thôi, không còn cách nào.

Con rất thương mẹ, nhưng con cũng trách mẹ sao không chịu khó tổ chức lại cuộc sống, để có thể tự mình đứng dậy, vượt khó khăn. Ở Saigon này, người lao động bay nhảy, buôn bán kiếm sống cùng khắp. Con có nhỏ bạn, ba bị bệnh, mẹ chỉ có gánh xôi sáng, chiều thau phá lấu vỉa hè, tiện tặn cũng nuôi được chồng và hai đứa con ăn học. Con không hiểu sao mẹ không chịu bước ra xã hội tìm cơ hội làm việc, chỉ biết ôm lấy mấy đồng tiền cho vay ít ỏi. Mẹ không nhớ các lời khuyên của chú Quang, mà cứ thản nhiên sống không nghĩ đến ngày mai, giao du nhiều bè bạn, ngày ngày cà phê, bia rượu… Con lo sợ có lúc nào đó, mẹ có thể bị sa chân, lầm lỡ.

Con vừa hoàn tất những buổi thi cuối cùng của học kỳ 2, hôm nay con bắt đầu được nghỉ mấy ngày trước khi trở lại trường nhận kết quả thi, sau đó sẽ chính thức nghỉ hè. Vừa sáng sớm mẹ đột nhiên bảo con sửa soạn ăn mặc đẹp, để cùng mẹ đi chơi Saigon. Con có hơi ngạc nhiên. Con đã từng ra Saigon bằng xe buýt với bạn bè trong lớp, cũng từng đi thăm viếng các di tích lịch sử, dinh thự của “đế quốc” để lại, từng tham dự các buổi du ngoạn Saigon – Suối Tiên do nhà trường tổ chức, nhưng chưa bao giờ nghe mẹ nói “đi chơi Saigon” cùng mẹ. Lời mời của mẹ con cảm thấy vui làm sao. Con thay một bộ đầm đẹp nhất, chải thẳng tóc, điểm thêm chiếc nơ trắng, để nhìn được sáng sủa hơn khi đi chơi với mẹ.

Mẹ chở con bằng xe máy chạy xuyên qua những con đường nội thành. Ngồi sau xe mẹ, con có dịp chiêm ngưỡng lại quang cảnh thành phố Saigon, đã được người ta xây dựng rất hiện đại và sang trọng. Nhìn cảnh vật, con chợt cảm thấy mẹ và con như những mảnh đời bọt bèo hèn mọn, đang lạc vào một thế giới giàu có xa hoa. Hôm nay trời rất đẹp, bầu trời có nhiều nắng, gió thổi hiu hiu nhè nhẹ. Thành phố dường như đang thở, nhưng rõ ràng không thở cùng nhịp với nhịp thở của dân nghèo.

Sau khi dạo phố cùng mẹ trên đường phố Lê Lợi, mua sắm ít quần áo trong siêu thị, rồi vòng qua nhà hát thành phố, cuối cùng, mẹ và con dừng lại trước cửa tiệm Mac Donald trên phố đi bộ Nguyễn Huệ. Buổi trưa tiệm rất nhiều khách. Mẹ chọn một bàn sát cửa ra vào, có thể nhìn thấy sinh hoạt bên ngoài. Con được ăn gà viên, khoai chiên với một cốc trà sữa. Dường như mẹ đang có điều gì ưu tư, khi mẹ trầm ngâm bên ly cà phê đá mô-ka rất đậm, mơ màng nhìn đường phố, nhìn bao người qua lại.

Được một lát, bất ngờ mẹ quay sang nói với con:

-Người mà mẹ thương nhất là chú Quang, nhưng vì sức khoẻ, chú không trở lại với mẹ. Mẹ vất vả bao ngày vẫn chưa tìm được lối thoát, chắc mẹ phải phụ lòng chú Quang, để chấp nhận mối quan hệ mới với bác Tường. Con nghĩ sao?

Nghe mẹ nói, con vô cùng thất vọng.

Con thật sự không tưởng tượng rằng có ngày mẹ chấp nhận quan hệ với bác Tường. Tư cách bác Tường rất tệ. Có lần con đã gặp bác khi mẹ ngồi uống cà phê trong quán với vài người bạn, có cả bác ở đấy. Hôm ấy bạn học chở con từ trường về, đưa con đi tìm mẹ lấy chìa khoá vì con lỡ để quên trong ngăn bàn. Ngay từ đầu, con không thể có cảm tình với bác Tường vì bác ấy ăn nói lớn tiếng, nhiều từ lỗ mãng, tục tằn.

Lời nói phản đối của con bây giờ còn có ích gì nữa không? Biết đâu rằng không chừng quan hệ của hai người đã vượt xa hơn mức có thể dừng lại.

Con mơ hồ cảm thấy gia đình mình chẳng còn chút hy vọng gì nữa cho tương lai, như mấy câu thơ con thấy trên báo:

“Và thêm chiếc lá bay cao,

Cuốn xoay trong gió rơi vào không gian,

Bao người hạnh phúc dâng tràn,

Sao em mãi chốn trần gian ngóng tìm” (T.S.)

Con không trả lời câu hỏi vừa rồi của mẹ. Nhìn thái độ con, chắc mẹ cũng đoán rằng con không vui lắm với quyết định này, nhưng mẹ lại không hỏi thêm. Đến nước này, tốt nhất con không nên nói gì, vì thế giới của mẹ đã đầy màu sắc rồi, dễ gì con xoay chuyển được nữa.

Trên đường trở về hai mẹ không ai nói với ai câu nào. Con cố đè nén cảm xúc thất vọng. Còn mẹ chắc cũng đang suy nghĩ để chuẩn bị cho tương lai của mẹ, với bác Tường.

4- Một điều thật kinh khủng, con không mong muốn nó xảy đến, nhưng nó thật sự đã xảy đến, ngay trong căn nhà trọ của mẹ và con. Hôm nay mẹ chính thức đưa bác Tường về ở chung trong nhà. Theo sự sắp đặt của mẹ, trong buổi sáng, con phải dọn sách vở đồ đạc lên căn gác lửng từ lâu đã bỏ trống, nhường chỗ ngủ thường ngày của hai mẹ con, để lại cho mẹ và bác Tường.

Con thật sự bất mãn với sự sắp đặt này của mẹ, nhưng con đâu có cơ hội để bày tỏ phản ứng của mình, vì vừa khi mẹ nói ra quyết định, thì con đã thấy bác Tường đã có mặt ở trong nhà mình rồi. Chờ con dọn đồ đạc lên gác xong, bác Tường vui vẻ, thản nhiên sắp đặt vài bộ quần áo của bác vào chiếc tủ gỗ nhỏ xíu mà trước đây con thường dùng. Mẹ thì loay hoay ở bếp. Con trốn trên gác nằm khóc một mình.

Bữa cơm trưa hôm ấy hoàn toàn không còn là bữa cơm gia đình êm ả đầm ấm như thường ngày nữa, thay vào đó, tràn ngập những âm thanh ồn ào, dung tục xuất phát từ cách ăn nói đặc trưng của bác Tường. Từ trước đến giờ, dù giận hờn thế nào, con cũng chưa hề nghe mẹ nói năng thô lỗ, nhưng hôm nay dường như mẹ đã biến thành một con người khác, vì chính mẹ cũng hoà nhập vào thế giới ngôn ngữ nhếch nhác của bác Tường. Trên bàn ăn, bác Tường lưng trần trùn trục, đáng lý ra bác phải để ý một chút, vì bên cạnh bác có một đứa con gái còn rất nhỏ tuổi như con. Lưng và vai bác xăm trổ cùng khắp, chứng tỏ bác từng có một quá khứ anh chị lẫy lừng. Hình ảnh trần trụi đó của bác làm con lợm giọng, không thể nào dùng cơm ngon miệng. Con chỉ lua vài đũa, rồi rời bàn ăn, đi rửa tay và từ giả trở lên gác.

Nằm trên gác một mình con chỉ biết khóc. Con lớn lên từ bầu sữa mẹ, hai mẹ con khắn khít bấy lâu. Mẹ đã phá vỡ khung trời đầm ấm mười mấy năm qua của hai mẹ con mình. Con không biết những ngày tháng sắp đến, con sẽ sống như thế nào.

Con tìm lý do để không dùng bữa cơm tối với gia đình. Bốn giờ chiều, tắm rửa xong, con xin mẹ qua nhà bạn Ngọc, để bàn bạc một số việc chuẩn bị cho kỳ thi vào lớp 10. Mẹ gật đầu, con rời khỏi nhà với nụ cười rất tươi của mẹ và tia mắt nhìn chằm chằm vào con của bác Tường. Con bắt đầu cảm thấy bất an trong lòng, khi bất ngờ con bắt gặp tia mắt cú vọ của bác.

Con đã dối mẹ, con chỉ muốn rời khỏi nhà chứ không hề ghé nhà bạn Ngọc. Con mãi miết chầm chậm bước đi, vừa đi vừa khóc. Con bước đi mà con chẳng biết mình đang đi đâu. Trời tối dần, và chuyển sang đêm rất nhanh. Đi loanh quanh một hồi, con ghé vào quán bán thức ăn nhanh tìm chai nước suối và chút bánh mì lót dạ. Đã tám giờ rồi, chắc con phải về nhà, chỉ mong mẹ không la rầy và mọi chuyện được bình yên.

Con mở khoá cửa bước vào nhà. Không thấy xe mẹ ở nhà, con giật mình nhìn thấy bác Tường, với quần short ở trần, đang ngồi chống tay trên bộ bàn ăn kê sát cửa ra vào. Con hỏi bác:

-Mẹ con đâu?

Bác Tường trả lời:

-Mẹ con mới nhận việc làm đêm rửa chén ở quán cơm, khuya sẽ về.

-Vậy con đi, lát con về với mẹ.

Con vừa định quay trở ra, thì bác Tường đã kéo then cài và đứng chặn cửa:

-Khuya rồi con không được đi đâu. Mẹ dặn phải giữ con ở nhà.

-Không được. Chỉ có bác, sao con ở nhà được?

Con xông tới, cố đẩy bác Tường qua một bên, để lấy đường thoát thân, nhưng bác đã nắm lấy hai cổ tay con, dùng sức mạnh đẩy con té ngữa xuống đất. Bác nằm đè lên người con và ôm con thật chặt.

Con ngộp thở vì mùi rượu nồng nặc từ hơi thở dồn dập của bác Tường. Con nhỏ người lại ốm yếu, nhất thời không thể vùng vẫy dưới sức mạnh ngàn cân của bác. Dường như thú tính của bác nổi lên, một tay bác chận miệng con không cho la lớn, tay kia bác lòn dưới áo ngực, nắn bóp không ngừng.

Con lấy hết sức bình sinh, vùng thoát khỏi bàn tay dơ bẩn của bác.

Khoảnh khắc ấy không biết từ đâu con lại có sức mạnh kỳ diệu, khi bác chồm tới ôm con lần nữa, lập tức con đạp mạnh vào bụng bác khiến bác loạng choạng ra phía sau, thừa cơ con đứng dậy, mở cửa và chạy ào ra ngoài thật nhanh. Con đường Luỹ Bán Bích lúc này vì trời đã tối, thiếu ánh sáng, nên cũng không có ai để ý đến một cô bé đang vừa chạy vừa khóc thất thểu trên đường.

Một lúc sau, tinh thần bình tĩnh hơn, con dừng lại ở trạm chờ xe buýt không có người, lấy điện thoại ra để gọi cho mẹ, vừa khóc vừa kể hết sự tình. Mẹ nói mẹ sẽ về ngay, mẹ hứa sẽ bảo vệ con và đưa con về nhà. Con nói với mẹ rằng con sẽ không về nhà khi còn bác Tường ở trong đó. Mẹ nói mẹ biết rồi.

Con không biết con đã ngồi ở trạm bao lâu. Đường phố lúc này trở nên rất vắng vẻ. Con co ro hai tay ôm trước ngực, vì càng về khuya gió thổi càng lạnh. Bất ngờ có một người đàn ông quần áo rách rưới, có lẽ là người vô gia cư, bước vô trạm. Dưới ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn đường, con thấy ông ấy nhìn con mỉm cười và lẵng lặng ngồi xuống băng chờ, nhích lần, càng lúc càng gần chỗ con ngồi. Con đứng dậy ù té chạy ra khỏi trạm. Lúc này con vô cùng hoãng sợ, vừa sợ vắng vẻ, vừa sợ con người.

Con không biết hiện giờ mẹ ở đâu, con nghĩ có lẽ mẹ đã về nhà rồi, và tốt nhất là con nên trở về nhà với mẹ.

Con lập tức chạy thật nhanh ngược về hướng nhà mình. Chưa đến ngõ con đã nghe tiếng bác Tường quát tháo sỉ vả mẹ, chửi rủa rất tục tằn vì mẹ không lo đủ cho bác số tiền để bác mua xe máy. Mẹ mắng lại bác đã xàm xở với con gái. Lời qua tiếng lại rồi con nghe tiếng huỳnh huỵch dường như hai người đánh lộn. Con vội chạy vào nhà thì vừa kịp thấy bác Tường nắm tóc, đấm tới tấp vào đầu mẹ. Con xông tới đẩy bác Tường ra, giúp mẹ thoát ra khỏi bàn tay tàn bạo của bác Tường. Thật nhanh mẹ chạy vào bếp chụp con dao yếm lao lên. Vừa thoáng thấy mẹ cầm dao bác Tường đã vụt chạy ra khỏi cửa. Mẹ hét lớn “đồ khốn nạn” rồi cầm dao rượt theo. Mẹ chạy theo, vừa rời khỏi nhà được mươi bước thì một viên đá khá to không biết từ đâu bay tời trúng đầu mẹ. Con nghe mẹ la thất thanh một tiếng rồi gục xuống, nằm sóng soài trên mặt đường, đầu và mặt loang đầy máu. Con nhào tới ôm mẹ, khóc oà:

-Mẹ ơi, mẹ. Mẹ có sao không mẹ?

Toàn thân mẹ mềm nhũng, con cố lay nhưng mẹ không có cử động gì hết. Nhiều cô bác nhà gần đó túa ra đứng chung quanh con. Có một bác đã gọi một chiếc taxi đậu gần đó, bảo xe chở gấp mẹ và con vào bệnh viện, bác nói nếu gọi xe cấp cứu, mà xe đến trễ sợ không kịp.

5- Con đang ngồi chờ bên ngoài Phòng Cấp Cứu Bệnh Viện Đa Khoa Quận 11. Trên xe, con đã khóc suốt trên đường đưa mẹ đến đây. Hồi nãy, người ta bảo con khai báo tên tuổi mẹ, rồi người ta đẩy mẹ vào bên trong. Đứng bên ngoài, con vẫn khóc, trong lòng xót xa bàng hoàng. Mẹ ơi ráng khoẻ lại, đừng làm cho con lo lắng mẹ ơi.

Bệnh viện nửa đêm vẫn còn nhiều ngồi chờ kết quả sơ cứu cho thân nhân, cũng giống như con. Người ta lao xao nói chuyện với nhau, nhưng con không bận tâm, tâm trí con chỉ còn biết cầu nguyện sao cho mẹ con qua khỏi đêm nay. Hồi đó mẹ dạy con rằng, sau mỗi câu cầu nguyện phải niệm thầm câu thần chú “Nam Mô A Di Đà Phật”, thì lời cầu nguyện mới linh, bây giờ con cũng đang cầu nguyện y như vậy, để cầu cho mẹ sớm tai qua nạn khỏi.

Con chợt thấy có một cô y tá tay cầm một xấp giấy bệnh án, từ bên trong bước ra đứng ở cửa phòng cấp cứu.

-Ai là thân nhân của Lê Thuỳ Hương?

-Dạ là con – Con lên tiếng ngay.

-Con là gì của chị Hương?

-Dạ là con gái.

-Chị Hương có mua Bảo Hiểm Y Tế không?

-Dạ không có mua.

-Tình trạng của chị Hương cũng khá nguy kịch, máu bầm nhiều trong sọ, cần phẩu thuật mới có thể cứu chị. Con cầm phiếu đóng tiền này ra phòng thu ngân đóng trước 20 triệu, đem hoá đơn vô đây cho cô. Sau phẫu thuật, còn phải đóng tiền bao nhiêu nữa, cô sẽ báo.

Nước mắt con tự nhiên trào ra:

-Cô ơi, con không có tiền.

-Con không có tiền thì bệnh viện làm sao điều trị cho mẹ con? Trong 24 giờ mẹ con phải được phẫu thuật. Con về nhà nói với bà con, chú bác cô dì, cho con vay tiền cứu mẹ, nếu không ai có, thì nhờ bà con kêu gọi từ thiện. Nhanh lên con.

-Thưa cô, con không có bà con.

-Trời ơi, không có bà con, bệnh viện làm sao giúp con? Thôi thì con suy nghĩ đi nha, cô phải vô với bệnh nhân. Con phải đóng tiền, bệnh viện mới phẫu thuật cho mẹ được. Về tìm cách đem tiền vô đóng sớm nha con.

Cô y tá đi rồi, con ngồi sụp xuống ghế, ôm mặt khóc thành tiếng. Trời ơi, con kiếm đâu ra tiền cho mẹ con làm phẫu thuật? Ai là người thân của mẹ? Chú Quang đang ở rất xa, bác Tường thì lừa đảo, con không biết mẹ còn thân nhân nào khác không, mà nếu còn, thì dễ gì có ai giúp mẹ lúc này? Qua làn nước mắt, con thấy đất trời tối đen, sụp đổ.

Có một bàn tay đặt lên vai, con ngước nhìn lên, đó là một cô, chắc là thân nhân người bệnh, đang ngồi cạnh bên con từ lúc nãy tới giờ, cô từ tốn nói với con:

-Hy vọng mẹ con không sao đâu. Con về bán đồ đạc, có gì bán nấy, đem tiền cứu mẹ, đi con.

Con càng khóc nhiều hơn:

-Cô ơi, con cần đến 20 triệu lận cô ơi. Nhà con là nhà trọ. Đồ cũ trong nhà có giá trị gì đâu, đem bán ai mua? Cả con đem bán cũng không ai mua.

Câu nói vô tình của con làm loé lên cho con một tia hy vọng có thể cứu được mẹ. Hình ảnh mẹ tảo tần nuôi con bao nhiêu năm, khi con còn nhỏ, lần lượt hiện về trong ký ức con. Từng giọt sữa cọng rau, bao ngày thiếu thốn. Khó khăn gì mẹ vẫn luôn cố sức lo cho con ăn học. Con thương mẹ vô cùng mẹ ơi, con phải làm mọi chuyện để cứu mẹ.

-Cô ơi, cô biết có ai có tiền giúp con 20 triệu không cô, con hứa sẽ làm mọi chuyện để đền ơn cho người ta.

-Thấy con tội nghiệp nhưng cô không biết làm sao để giúp con. Con không có gì đem đi bán làm sao con có 20 triệu được con?

Không chần chờ, con vùng đúng dậy, nói trong nấc nghẹn, khoé mắt ướt đẫm:

-Có. Con bán con nè cô. Có người mua con không cô? Con muốn cứu mẹ con. Cô ơi làm sao tìm được người mua. Con bán thân con nè cô.

-Trời ơi, con còn quá nhỏ. Sao con có thể nghĩ đến chuyên đó?

-Không có 20 triệu mẹ con sẽ chết. Cô chỉ dùm con cách nào đi cô. Con sẽ bán thân con 20 triệu. Con muốn cứu mẹ….

Con quỳ sụp xuống nền gạch, hai tay ôm mặt khóc nức nở.

Con có cảm giác như có một cô nào đó kéo hai tay con đứng lên rồi đặt con vào ghế, con ngước nhìn lên, vừa kịp thấy cô ấy đưa tay quẹt vào hai mi mắt của chính cô. Giọng cô nghẹn ngào:

-Tội nghiệp con quá. Vậy thì con thử đến mấy tiệm gội đầu thanh nữ xem sao, may ra gặp môi giới.

-Thiệt hả cô. Tiệm đó ở đâu cô?

-Con hỏi thử chú taxi đi con.

-Dạ.

Không còn nhìn thấy gì chung quanh, con vụt chạy thật nhanh ra cửa bệnh viện. Trước cổng có vài chiếc taxi đậu chờ khách. Con chạy đến nói với một chú:

-Chở dùm con đi chú. Con muốn đi đến tiệm gội đầu thanh nữ gần nhất. Chú chở dùm con đi chú.

Con mở cửa, phóng nhanh vào xe, từ giờ phút này, con đã phó mặc cuộc đời.

-Đến tiệm gội đầu thanh nữ gần nhất, nhanh lên chú, tiệm gội đầu thanh nữ…

May be an image of bird and outdoors