Hôm nay giỗ 42 năm Cha Giáo Gioan Baotixita Trần Học Hiệu bị cộng sản xử tử hình

Duong Hoa is with Xạc Bình and ND Nguyen.

“Một trái tim lớn đau cái đau của cả dân tộc

Một trái tim âm thầm với một tình yêu lớn lao”

Xin cầu nguyện cho LM Gianbaotixita Trần Học Hiệu- Tiến sĩ- Giáo sư- Nhạc sĩ đã bị cộng sản hãm hại, tử hình mà rất it người biết.

Can Ngoc Tran

Hôm nay giỗ 42 năm Cha Giáo Gioan Baotixita Trần Học Hiệu bị cộng sản xử tử hình. Xin đăng bài viết ngắn của cô Phạm Minh Tâm nói về cuộc đời của Cha Giáo.

Đại-học chi đạo…

Phạm Minh-Tâm

Làm gì thấy Người khi núi sông ngút khói

Máu xương ngập lối, ôi những ngày hấp-hối

Ghét ghen tham tàn, gây bất công nghèo đói

Con thấy Nhan Người trong nỗi đau tràn đầy

(Ôi Giê-su)

Khi tôi chống cưỡng luật Người

Luật Người khắc trong tim tôi

Lạc-viên êm-ái hồn tôi, tan-vỡ như ảo-mộng

Nay toàn thấy sỏi đá gai nhọn

(Từ vực thẳm hư-vô)

Ngày 05-11-2021 năm nay là ngày giỗ thứ 42 của linh-mục Gio-an Bao-ti-xi-ta Trần Học Hiệu với cái chết bằng các viên đạn xử bắn vào xế chiều ngày 05-11-1979 tại ấp Bà Thức, Suối Máu, Biên-hoà. Đây là khu đất nằm trong vùng phi-quân-sự phía sau phi-trường Biên-hoà mà sau 1975 chính-quyền cộng-sản huyện Thống-nhất, dùng làm bãi xử bắn dã-chiến.

Bản-thân tôi là con út trong gia-đình năm người con thiêng-liêng của linh-mục Trần Học Hiệu, được xếp theo thứ-tự nhận trước hay sau; gồm có anh Cao Kim Động, sau này là Đan-trưởng Đan-viện Thiên-hoà ở Ban-mê-thuột, anh Phạm Văn Tuyền đang sống tại Hoa-kỳ, chị Nguyễn Thị Phương sang Pháp từ trước 1975, chị Lê Thị Thu Hương một tân-tòng…

Hôm nay, khi viết về linh-mục Gio-an Bao-ti-xi-ta Trần Học Hiệu, tôi không nhắm vào mối liên-hệ là cha linh-hồn, cha thiêng-liêng, bố đỡ đầu… hay gì-gì khác theo cảm-xúc cá-nhân. Mà vì, đã 42 năm sau khi ông đã thành-toàn sứ-vụ ở trần-gian, tôi thấy cần phải viết, dù hơi trễ, về một con người linh-mục trí-thức Việt-Nam nơi ông, có thể xem như một tổng-hợp của đức tin tông-truyền hoà với nhân-cách một người Việt-Nam đúng nghĩa. Tóm lại, là của một công-dân linh-mục ý-thức rõ và dung-hoà được bổn-phận với Thiên Chúa và Tổ-quốc – Deus et Patria.

Cũng đồng-thời, muốn nhân đây, trước là chính-thức điều-chỉnh lại đôi ba chi-tiết liên-quan đến những ngày tháng tù-đầy và cái chết của linh-mục Trần Học Hiệu vào bốn năm sau ngày cộng-sản cưỡng chiếm Miền Nam, mà ông đã được vài ba nguồn tài-liệu nhắc đến, như sách Rồng Xanh Ngục Đỏ (trang 234-242) của linh-mục Vũ Đình Trác; Đoá Hồng Gai (trang 86-89) của Nguyễn Thanh Nga; Thư-viện Phạm văn Thành (Toàn cảnh Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng Việt Nam – Mặt Trận Liên Tôn kháng cộng sau 1975) trên mạng lưới thông-tin điện-tử với tấm ảnh không phải là chân-dung mà là vẽ truyền-chân. Tiếp sau, để chính-thức gửi đến những thân-hữu xa gần đã từng một thời biết, quen hay thân-thiết với ông từ sau cuộc di-cư 1954, từng cùng ông góp sức vào những sinh-hoạt của Giáo-hội, của xã-hội Miền Nam trong các điạ-hạt mục-vụ, Công-giáo tiến-hành, thánh-nhạc, giáo-dục, văn-học nghệ-thuật đến ngày 30-4-1975, rồi sau đó ông biệt tăm theo cơn xoáy chính-trị ở Miền Nam mà không mấy ai rõ-ràng.

Cổ-nhân khi nói “quốc-gia hưng-vong thất-phu hữu-trách” là hiển-nhiên xác-nhận vận-mệnh đất nước mạnh yếu hoặc mất còn đều hệ tại thái-độ chung phần trách-nhiệm của mỗi ngưòi dân; có nghĩa là không loại-trừ hay đặc-miễn cho bất-kỳ ai và càng không lý-giải theo thân-phận sang hèn hay giỏi dốt, mà là tinh-thần yêu đất nước, thương anh em cùng chung một bọc theo nghĩa hai chữ “đồng-bào”. Song riêng với thành-phần được gọi là sĩ-phu, là trí-thức theo mức-độ ăn học cao thấp thì còn có thêm một cách nhìn khác, nói đúng ra là một đòi hỏi khác gọi là con đường của kẻ sĩ, của giới trí-thức, gọi là “đại-học chi đạo”.

Mở đầu sách Đại-học có viết: Đại-học chi đạo, tại minh minh-đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện…Hai chữ “đại-học” ở đây có nghĩa là học vấn uyên-bác, tinh sâu; đạo là con đường. Con đường của kẻ đã có học-vấn cao hơn người thì truớc hết phải làm sáng tỏ cái đức, phải giúp dân biết đổi mới nếp sống và chỉ được ngừng khi đã tận hảo.

Linh-mục Gio-an Bao-ti-xi-ta TRẦN HỌC HIỆU

Linh-mục Trần Học Hiệu sinh năm 1927 tại Ninh-cường, Bùi-chu. Thụ-phong linh-mục năm 1958 tại Sài-gòn. Ông còn có một người em là linh-mục Trần Ngọc Quỳnh, thuộc tu-hội Saint Sulpice, giáo-sư Đại-chủng-viện Huế.

– Sau khi chịu chức linh-mục, ông giữ nhiệm-vụ Tuyên-uý Hiệu-đoàn tại

trường Nguyễn Bá Tòng, chuyên-trách các sinh-hoạt tâm-linh và các hoạt-động Hiệu-đoàn của mấy ngàn học-sinh, kiêm tuyên-uý đoàn Thanh Sinh Công tại đây. Ông là người đầu tiên và hình như cũng là duy-nhất chịu khó dịch tập Hiến-chương Dakar là Thủ-bản của Phong-trào Thanh Sinh Công thế-giới, thường biết đến với tên viết tắt là JECI (Jeunesse Étudiante Catholique Internationale) thành ấn-bản song-ngữ với lời đề biệt tặng các bạn Thanh Sinh Công của tôi.

– Là tác-giả hai tập sách dịch mang tên Ngày Quỷ Vương và Lạy Chúa con

nghe đây…dưới bút-hiệu Mặc Huy, xuất-bản vào thập-niên 60 tại Sài-gòn. Ông giải-thích, Mặc Huy là ánh sáng của ngọn đèn chầu, tuy leo-lét nhưng liên-lỉ.

Lễ mở tay của linh-mục Trần Học Hiệu tại trường Nguyễn Bá Tòng.

Bốn người hàng đầu từ trái, người em Trần Ngọc Quỳnh, cụ Hiếu thân-sinh, người chú, đức giám-mục Phạm Ngọc Chi.

– Là người có nếp sống đúng tinh-thần khó nghèo. Thậm chí, sau khi chiụ chức linh-mục, ông đã chọn

nơi dâng lễ mở tay là khu tiền-sảnh đơn-sơ của trường Nguyễn Bá Tòng.

– Là một người chống cộng và hăng say hoạt-động trong lãnh-vực văn-hoá và nghệ-thuật Công-giáo

– Năm 1964, ông rời trường Nguyễn Bá Tòng, đi làm Tuyên-uý Quân-đội, tùng-sự tại Nha Tuyên-úy

Công-giáo với cấp-bâc đại-uý tượng-trưng theo quy-định. Ông giữ nhiệm-vụ Trưởng Phòng Giáo-vụ Nha Tuyên-uý Công-giáo và đặc-trách nội-dung nguyệt-san Tinh Thần của Nha Tuyên-úy Công-giáo.

– Thành-lập ca-đoàn Hương Quê. Tổ-chức hai đêm đại-hợp-xướng tại Thảo-cầm-viên Sài-gòn và một

tuần Triển-lãm hội-hoạ do nhiều hoạ-sĩ tên tuổi góp mặt, như Bé Ký, Hồ Thành Đức, Hiếu Đệ….tại Nhà Văn Hoá là trụ-sở Hạ-nghị-viện trước và kết-thúc bằng đêm trình-diễn hợp-ca âm-nhạc Việt-Nam.

– Cùng với Giám-mục Huỳnh văn Nghi, chính-thức cổ-động Phong-trào Đạo Binh Xanh, do Đại-tá Đỗ

Sinh Tứ làm Giám-đốc.

– Chủ-trương tờ “Người Mới” bộ mới.

– Tháng 10 năm 1966, được Đức Tổng Giám-mục Nguyễn Văn Bình cho đi du-học bên Pháp bốn năm và được cho thêm hai năm để học về âm-nhạc.

– Năm 1972, về nước với văn-bằng Tiến-sĩ Đệ-tam-cấp Đại-học Sorbonne (Doctorat Troisième Cycle)

và Chứng-chỉ tốt-nghiệp khoá đào-tạo ca-trưởng tại Học-viện Ba-lê (Conservatoire de Paris).

– Vừa về nước, lập ban Hợp-ca “Đẹp Bình Minh” và tổ-chức buổi trình-tấu hợp-ca Thánh-nhạc tại trường Taberd.

– Dạy tại Đại-học Huế và xin về làm mục-vụ cho một số gia-đình thương phế binh đang sinh sống tại khu trại chăn nuôi bỏ hoang ở quận Tân-bình mà sau được phép lập thành giáo-xứ Tân Dân. Linh-mục Phan Văn Lợi cho biết…Cha Hiệu và cha Quỳnh tôi đều quen biết, vì cha Quỳnh là thầy của tôi nhiều năm tại Đại chủng viện Xuân Bích – Huế. Còn cha Hiệu thì tôi có nghe ngài thuyết trình một lần cho các đại chủng sinh, vào năm 1973 và vẫn còn nhớ chuyện ngài kể về các giáo dân thương binh giáo xứ Tân Dân của ngài. …Về chuyện của ngài, tôi nghe khoảng năm 1980, nhưng không nhiều chi tiết như chị cho biết. Ai cũng cảm thương và cảm phục ngài như đối với cha Nguyễn Văn Vàng DCCT, cha Nguyễn Quang Minh, cha Trần Đình Thủ và mọi cha bị tù tội vì cộng sản sau 1954 và 1975.

– Tổ-chức khóa huấn-luyện đầu tiên về Phong-trào Cursillo Việt-Nam tại nhà Betania Chí-hoà và mở tiếp khoá huấn-luyện Cursillo nữ đầu tiên tại Long-khánh.

Mấy anh em gia-đình thiêng-liêng chúng tôi thường được ông bố đỡ đầu nhắc-nhở mục-đích khi làm việc là đặt ý-nghĩa vào kết-quả đem lại chứ không ở tên-tuổi mình có được tiếng vang hay không. Bản-thân tôi nhớ mãi lời ông hướng-dẫn…giả như một hoạ-sĩ kia có biệt-tài vẽ nhưng thiếu nhiệt-tình phục-vụ nghệ-thuật thì mình nên cố gắng tìm cách khích-lệ anh ta…hầu-hạ cũng được, như rửa cọ, pha sơn, căng vải lên khung, pha cà-phê…miễn sao anh hoạ-sĩ chịu cầm cọ vẽ những nét đầu để hy-vọng anh sẽ vẽ nên một tác-phẩm nghệ-thuật để cho đời. Dĩ nhiên mình không có một dấu nào ghi trên hoạ-phẩm đó, song Thiên Chúa đã nhìn thấy sự đóng góp của mình là đủ.

Vào đầu thập-niên 70, Giáo-hội Công-giáo tại Miền Nam như mùa hoa nở rộ với khá nhiều thành-phần linh-mục trí-thức. Linh-mục Trần Học Hiệu tuy vẫn thuỷ-chung với thiên-chức linh-mục và tâm-thức Việt-Nam, song từ nhận-thức thủ-đắc trong thời-gian du-học, ông cũng gợi cho anh em chúng tôi ý-thức về một số cần thay đổi trong nếp sống đạo cũ bằng phong-cách dấn-thân nhập-cuộc mới.

Sau ngày 30-4-1975, nhiều biến-cố dồn-dập xẩy đến cho Giáo-hội bên cạnh niềm đau của dân-tộc. Ủy-ban Quân-quản Thành-phố đã bắt đầu chiếu-cố đến nhiệm-vụ Phó Tổng-giám-mục thừa-kế của Đức cha Nguyễn Văn Thuận. Một số linh-mục và giáo-dân trí-thức hùng-hổ theo “cách mạng”, kéo nhau đi trục-xuất Đức Khâm-mạng Toà-thánh. Rồi họ viết tâm-thư 1, tâm-thư 2, tâm thư 3…gửi Ủy-ban Quân-quản, tố-cáo Giáo-hội không dung-nạp lý-thuyết cộng-sản, tố-cáo Đức cha Thuận là có dòng máu chống cộng vì là con cháu trong gia-đình Tổng-thống Ngô-đình Diệm và thêm một tội nữa là tôn-sùng Đức mẹ Fa-ti-ma mà Đức Mẹ Fa-ti-ma là Đức Mẹ chống cộng …

Linh-mục Trần Học Hiệu khi ấy đang ở giáo-xứ thương-phế-binh trong trại chăn nuôi, trả lời ngay các thư này. Mỗi khi soạn xong thư trả lời, ông đạp xe đến giao cho tôi đánh “stencil” và dùng máy “ronéo” quay tay nhỏ của chúng tôi in ra nhiều bản, rồi đem đến các xứ để nhờ phổ-biến trong cộng-đoàn tín-hữu. Tôi nhớ rất kỹ hai người nhiệt-tình tiếp-nhận các thư trả lời và hăng-hái góp tay giúp là linh-mục Lã Quang Hiệu giáo-xứ Lộc-hưng và Đức cha Phạm Văn Nẫm khi còn là linh-mục, làm giám-học tại trường Thánh Mẫu ở Bà Chiểu.

Chính-quyền mới bắt đầu “rà từng đối tượng” linh-mục bằng các “nhãn” do họ dán cho để hoặc là kiếm cớ quản-thúc hay giới-hạn trong mục-vụ. Chẳng hạn, xuất-thân từ Trường Truyền-giáo Rô-ma, trong ban điều-hành và giảng dạy ở Giáo-hoàng Học-viện là di-sản tư-tưởng của Hội Thừa-sai Ba-lê, viết báo và ủng-hộ các đoàn-thể chống cộng…nghĩa là đủ cớ để loại trừ sau cái lý-do chính là linh-mục trí-thức Công-giáo. Linh-mục Trần Học Hiệu biết mình còn nhiều “tội” hơn nữa như gốc Bùi-chu chống cộng cực-đoan, là tuyên-uý Công-giáo, người điều-hợp chính của Phong-trào Đạo Binh Xanh…Đại-để như Nguyễn Ngọc Lan đã nói sống với xã-hội chủ-nghĩa, chúng ta mới hiểu “tội tổ tông” một cách thấm-thía hơn….

Một sáng sớm trong tháng 8, được tin ông bị bắt hụt, chúng tôi đến ngay giáo-xứ Tân Dân. Bà nấu bếp nhà ở ngang nhà xứ đã sang, đang ngồi khóc dưới bếp. Bà kể, sáng sớm công-an quân-quản đến bắt ông chủ-tịch Hội-đồng giáo-xứ. Cô con gái ông chủ-tịch đi lễ sớm, về gần đến nhà thấy lạ vội quay lại nhà thờ báo tin vừa kịp lúc cha Hiệu đang từ phòng áo bước ra nên ông không về nhà xứ, song không ai biết ông đi đâu. Tôi ra trước thềm nhìn thấy hai người đang ngồi câu cá trên bờ ao trước nhà xứ nên quay vào bàn với bà bếp cứ mở toang cửa phòng khách và xách giỏ đi chợ như mọi ngày, gọi mấy bà hàng xóm bảo họ thay nhau ra vào tự nhiên như không biết sự gì xẩy ra. Nhà tôi đem cuốc ra bụi chuối gần chỗ người câu cá ngồi, vừa đánh cây chuối con vừa khua náo khi nào cha về cô nói giúp con xin một cây về trồng. Hôm sau, bà bếp cũng sang mở cửa nhà xứ bình-thường, nhưng thay vì đi chợ thì xách giỏ đến nhà tôi, cho biết tối hôm qua, rất khuya cha mới về thu xếp giấy tờ, giao hết các chìa khóa cho bà và ra đi. Thật ra từ hai tháng trước, ông đã nói với chúng về một “chiến khu” và ông sẽ vào; song có lẽ sự việc đến mau nên ông chưa kịp sắp xếp.

Một buổi tối gần cuối năm 1975, cả khu phố bị cúp điện, chúng tôi có người khách ghé thăm. Vừa buớc vào nhà, ông yêu cầu đóng cửa lại và nói ngay một hơi …Tôi chỉ nói miệng vì cha Hiệu không muốn viết giấy hay thư. Cha đã vào đến nơi bình an và khoẻ. Cha không cần tiền bạc hay bất cứ gì khác. Nếu có ngay bây giờ thì gửi cho cha chiếc “radio transitor”. Cha dặn lúc nào đi Fa-ti-ma thăm hai cha Nguyễn Văn Lập và Trần Nguyên Khôi….Đó là lần cuối cùng tạm coi như tôi còn được liên-hệ với ông.

Tôi đến Fa-ti-ma gặp linh-mục Nguyễn Văn Lập, cựu Viện-trưởng Viện Đại-học Đà-lạt và linh-mục Trần Nguyên Khôi, như lời dặn. Nhờ vậy, được biết rõ hơn, linh-mục Trần Học Hiệu đã có người liên-lạc đón vào rừng an-toàn vào đầu tháng 9-1975. Còn thêm chi-tiết không ai ngờ là lúc từ phòng áo ra đi thì nguyên tuần đầu tiên ông vẫn ở khu trại chăn nuôi, trong ngôi chùa cũng mới xây trong thời-gian xây nhà thờ Tân Dân. Điều này đối với tôi không lạ vì ngay từ khi còn ở Phòng Giáo-vụ Nha Tuyên-úy Công-giáo, không biết duyên-do nào, ông và Hoà-thượng Thích Tâm Giác, Giám-đốc Nha Tuyên-uý Phật-giáo, có tương-quan giao-hảo nên thỉnh-thoảng tôi được giao việc đem bài viết của ông sang cho nguyệt-san Đại Từ Bi của Nha Tuyên-uý Phật-giáo, hay ngược lại sang nhận bài về cho nguyệt-san Tinh Thần. Còn khi làm mục-vụ ở giáo-xứ Tân Dân cũng thế, có buổi chiều hai vợ chồng tôi vào thăm, vừa gặp lúc ông lững-thững đi bộ về và mỉm cưới ý-nhị cho biết là sang thăm “sư cụ chùa Long-giáng”.

Đầu năm 1977, người dân tại nhiều quận Sài-gòn, đi họp tổ dân-phố đều được cảnh-giác không được liên-lạc hay chứa-chấp mà phải tố-cáo ngay các dư-đảng của “tên phản-động đội lốt thầy tu để chống phá cách-mạng Trần Học Hiệu”. Thời gian này ông bị giam ở Tổng Nha Cảnh-sát cũ, sau đó đem về Chí-hoà và vì ông bị bắt tại vùng Hố-nai nên đã bị đưa ra xét-xử trong một phiên toà công-khai tại huyện Thống-nhất, tỉnh Đồng-nai vào tháng 11-1978. Có thể vì muốn dằn-mặt công-luận nên chính-quyền huyện Thống-nhất gửi giấy mời Giám-mục Xuân-lộc và các linh-mục trong huyện Thống-nhất đi nghe xử. Đức giám-mục Nguyễn Văn Lãng sau này cho biết ông cũng rất muốn đến toà cho biết sự-thể, song nghĩ lại nên để cha Hiệu tự-nhiên ăn nói giữa toà. Những người có mặt trong phiên-xử này đã chúng-kiến thái-độ ung-dung tự-tại của linh-mục Trần Học Hiệu với những lý-luận giữa toà, nhất là khi nói về vụ án Galilée. Nhiều người thân, quen đã chép miệng trong toà …giáo-sư đại-học có khác, phải “minh minh-đức” như thế mới đúng nghĩa tâm-linh.

Linh-mục Trần Học Hiệu bị tuyên xử tử-hình. Một mục-sư cùng bị giam với ông, vì bị bệnh nặng sắp chết, được cho về nhà để chữa bệnh, đã đem theo lời cha Hiệu nhắn về là sẽ không viết đơn xin ân-xá.

Năm 1981, tôi được tin từ Tân-mai Biên-hoà nhắn lên gặp gấp. Rồi được một cậu nhỏ bán cà-rem dẫn đi tìm mộ cha Hiệu. Tôi được cho mượn chiếc xe đạp cùng ra đi. Vừa đạp xe, cậu nhỏ vừa kể vì ngày-ngày đạp xe đi bán rong, la-cà đến cả các khu trại bộ-đội sau phi-trường Biên-hoà. Một hôm đang đứng bán kem cho bộ-đội ở cổng trại thì có mấy chiếc xe công-an chạy qua. Họ bảo là xe đi xử bắn và rủ đi xem, từ đó mới biết bãi xử bắn ở phía trong sâu này, cho nên sau đó cứ gặp xe như thế là chạy theo xem. Đây là nơi ngày trước thuộc vùng phi-quân-sự, nên có một khu đất bị bom làm thành một hố trũng khá lớn, thấp hơn mặt đường đi bốn năm thước, đang được dùng làm bãi xử bắn và cứ lâu-lâu họ lại đem đến bắn mấy người rồi vùi luôn xác tại đây nên dân địa-phương ít dám lai-vãng. Cậu nhỏ nói đâu có biết cha Hiệu là ai, chỉ là lần đi xem xứ bắn đó, thấy có người vừa bị bịt mắt và tróí vào cột xong là hát rất to bài “Kinh Hoà-bình” nên đoán là ông cha mới về kể lại thôi.

Pháp-trường vẫn còn ba cái cột chôn sẵn với các mẩu giây trói bị cắt nát vương-vãi và chỉ có thể đếm được gần 30 nấm mộ bằng-phẳng như mặt đất, là nhờ các miếng gỗ tạp cắm làm bia khuất trong bãi cỏ cao đến đầu gối. Cậu bán cà rem lưu ý đi cẩn-thận vì đã có lần người bị bắn xong thì vùi ngay xuống, không có quan tài gì cả. Tôi chăm-chú lần từng tấm bia gỗ với sự hồi-hộp giữa hy-vọng và thất-vọng lẫn-lộn cả khi tìm được mộ hay không.

Cuối cùng chúng tôi thấy được mộ linh-mục Trần Học Hiệu, dù hơi khó tìm vì cọc gỗ bị gẫy, tấm bia gỗ rộng khoảng 50 cm rơi lẫn trong cỏ, song nhờ mặt ghi chi tiết bằng sơn đen lại úp sấp trên đất nên còn rõ nét. Tôi thấy lạ khi đọc hai chữ Khánh Hạ viết trước tên cha Hiệu trong hàng chữ đầu. Linh-mục Trần Ngọc Quỳnh xác-nhận Khánh Hạ là tên gọi của linh-mục Trần Học Hiệu lúc nhỏ.

Trên đường về, tôi ghé báo tin cho gia-đình ông Cự, một người em con dì ruột của cha Hiệu sống ở giáo-xứ Bùi-vĩnh. Rồi về lần-lượt đi xác-nhận với Đức Tổng-giám-mục Nguyễn Văn Bình, linh-mục Trần Văn Hiến Minh Đại-diện Bùi-chu, các Bề-trên dòng Mân-côi Chí-hoà, Trinh Vương Bùi-môn, linh-mục Trần Thái Hiệp Giám-đốc Đại-chủng-viện…Lễ phát-tang được cử-hành tại nhà nguyện Mai-khôi của Dòng Đa-minh chi Lyon. Linh-mục Phạm Long Tiên mở đầu Thánh-lễ với câu…trong Thánh-lễ hôm nay, xin cộng-đoàn đặc-biệt nhớ đến linh mục Gio-an Bao-ti-xi-ta Trần Học Hiệu, người đã nhận một cái chết đau thương….

Lợi-dụng thời-gian chính-quyền đang có chương-trình giải-toả các khu nghĩa trang, gia-đình ông Cự đứng xin cải-táng. Lá đơn cần sáu con dấu, năm con dấu thuộc các ban cấp xã, ấp…cứ thấy chữ “đơn xin cải táng” thì đóng dấu, nhưng lên tới Huyện Thống-nhất, là nơi đã thi-hành án thì chúng tôi ngại ba chữ Trần Học Hiệu không xong, cho nên phải dùng tiền cho xong. Thực ra, nếu không xin giấy thì cũng có thể được vì nơi đó hoang-vắng không ai để ý, song chỉ sợ có khi đang làm thì chính-quyền tỉnh Đồng-nai lại đem ngưòi đến bắn, sẽ phiền-phức.

Hôm cải-táng về đất-thánh xứ Bùi-vĩnh, linh-mục Mat-thêu Bùi Tiến San vốn trước là học trò của cha Hiệu ở chủng-viện, đã dành cho mọi sự dễ-dàng, song chỉ khuyên vì còn mới quá nên bia mộ để đơn giản là cố “Gio-an Bao-ti-xi-ta HIEU”. Tôi cũng liên-lạc được với gia-đình ông giáo Nhâm, ở gần Trảng-bom là nơi đã giúp linh-mục Trần Học Hiệu thời-gian trong rừng và cả nhà họ sau đó đều bị bắt, ông giáo suýt bị tử hình, bà giáo và cô con gái cũng đi tù ít năm. Thêm vài người nữa tôi được biết như linh-mục Đa-minh Trần Văn Nguyện, phó xứ Tân-mai bị 20 năm tù, chỉ vì liên-lạc về nhu-cầu phụng-vụ của một linh-mục như đem rượu và bánh lễ vào cho cha Hiệu; ông Trần Trọng Thi trước 1975 là nhân-viên hành-chính của trường Nguyễn Bá Tòng, đã bị bắt giam ở Chí-hoà vì lý-do “đồng bọn” của linh-mục Trần Học Hiệu, nhưng không đưa ra tòa, hỏi cung và điều-tra chán thì thả về.

Xin được trân-trọng cùng tưởng-niệm nơi đây.

Đang giữa bữa ăn trưa trong ngày bốc mộ linh-mục Trần Học Hiệu, ông Cự đem túi đựng các thứ còn gom được trong quan-tài như sách đọc thiêng-liêng, tràng hạt, bàn chải đánh răng, hai vòng dây trói ở cổ tay và đôi dép nhựa đã đứt quai hậu…cho mọi người xem. Khi vừa nhìn thấy đôi dép cao su, bà vợ ông giáo đánh rơi bát đũa xuống đất và ôm mặt khóc vì chính bà mua gửi vào trong rừng.

Năm 1985, một linh-mục – tạm nhớ tên là cha Nhung – ở Long-khánh, tìm đến nhà, giao cho tôi ba bản nhạc viết tay do chính ông ghi lại. Ông cho biết, cũng bị đi tù 20 năm vì lý-do tôn-giáo và bị biệt-giam cạnh phòng giam cha Hiệu. Hai người dùng cách gõ “morse” mà nhận ra nhau là linh-mục. Cha Hiệu đã viết ba bản nhạc… Ôi Giê-su, Tù vực thẳm hư vô và Tâm-ca Mai-đệ-liên…rồi cũng gõ “morse” “hát” cho ông nghe hàng ngày để góp ý, thêm lời và hai người cứ hát đi hát lại. Rồi cha Hiệu nhờ ông khi nào được về thì giao lại cho tôi, vì cha nói không còn nhớ được địa-chỉ nào nữa. Thấy vậy, cha Nhung cố gắng ghi từng chi-tiết về cả nhạc và lời vào đầu. Sau khi linh-mục Trần Học Hiệu bị đem đi xử bắn thì ngày nào cha Nhung cũng hát nhẩm trong đầu như một cách dâng lời cầu nguyện cho cha Hiệu. Khi được tha, ông vội-vã viết ngay xuống giấy để khỏi quên, chờ tìm cách liên-lạc với tôi.

Hai đoạn trích-dẫn ngay ở đầu bài viết này là hai phiên-khúc của bài hát Ôi Giê-su và Từ vực thẳm hư-vô mà khi Đức Tổng-giám-mục Ngô Quang Kiệt đọc xong đã chia sẻ….thật là hào hùng. Một trái tim lớn đau cái đau của cả dân tộc. Bài “Từ vực thẳm hư vô” rất tha thiết. Đúng tấm lòng bị vò xé của ngài… Một trái tim âm thầm với một tình yêu lớn lao.

Trước khi chấm hết bài viết về linh-mục Trần Học Hiệu với những gì còn lưu lại nơi cõi đời này, tôi không thể không tỏ-bày đôi dòng cảm-nghĩ của một người con thiêng-liêng trong tương-quan tâm-linh …Lại thêm một ngày giỗ của cha đến trong khi con vẫn chưa quen được với những cảm-nghĩ rằng cha đã thực sự khuất vắng hẳn trong cuộc đời này. Là linh-mục bên cạnh đời sống tâm-linh của tín-hữu nói chung và của đám anh em chúng con cách riêng, cha đã thể-hiện được những gì của vai trò chứng-nhân cần có. Để ngay lúc này con có thể thưa với cha rằng trong cuộc hành-trình của chúng con, đôi lúc con cũng cảm thấy hun-hút, vô-định và mịt-mờ; nhưng hình ảnh và lời nói của cha đã nói tiếp với con về một cái gì không phải là hư-vô vì con nghĩ cha vẫn tiếp-tục đi về hướng trước mặt trên cùng con đường ấy…

Israel: Một đất nước thần kỳ

                   Israel: Một đất nước thần kỳ

Một ngày thôi, chúng ta hãy tạm quên đi khung trời tự do thiên đường của Mỹ và hãy thôi thèm thuồng sự hào nhoáng ngọt ngào từ các bộ phim Hàn.  Một ngày thôi, chúng ta hãy thôi ca tụng nếp sống văn hóa của Nhật và quên luôn gã khổng lồ đáng ghét Trung Cộng đang lặn ngụp ngoài biển đông.  Một ngày thôi, hãy quên những đất nước đang sôi sục say men chiến thắng mùa world cup và thậm chí hãy tạm lơ luôn cả đất nước Việt Nam máu thịt mà ta đang ngự trị.  Chỉ một ngày thôi, hãy nhìn sang một đất nước khác, một đất nước nghe tên đã thấy nhàm chán và xa xôi, một đất nước chỉ có chiến tranh và sa mạc nóng bỏng trải dài tít tắp. Một đất nước nhỏ bé và chẳng có mấy tin tức hay ho về nó trên báo đài nhưng phần lớn sự kiện quan trọng trên thế giới đều có liên quan đến những con người xuất thân từ đó.   Đó là đất nước Israel, nơi con người đã chiến thắng thiên nhiên và theo tôi, chiến thắng cả thế giới về tính cần cù, bền bỉ, vượt khó, khả năng sáng tạo và không bao giờ dừng lại.  Những thông tin sau đều là tin tổng hợp nên chắc nhiều bạn biết rồi nhưng tôi tin cũng rất nhiều người chưa hề được biết, và chắc chắn, sẽ có điều khiến bạn phải ngạc nhiên về đất nước này.

 Một nền nông nghiệp thần kỳ

  Israel Có diện tích rất nhỏ, trên 20.000 km2, tức là chỉ lớn hơn tỉnh Nghệ An của Việt Nam chút ít. Tuy nhiên Israel lại được mệnh danh là “thung lũng silicon” của thế giới trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghệ nước. Chỉ với 2,5% dân số làm nông nghiệp nhưng mỗi năm Israel xuất khẩu chừng 3 tỷ USD nông sản, là một trong những nước xuất khẩu hàng đầu thế giới. Ít ai biết rằng, những sản phẩm rau quả từ Arava – một trong những nơi khô cằn nhất thế giới – lại chiếm tới trên 60% tổng sản lượng xuất khẩu rau của Israel và 10% tổng sản lượng hoa xuất khẩu.

  Thung lũng Arava. Địa danh khá lạ tai đối với khách du lịch, nhưng lại là cái tên rất tự hào của mọi người dân Israel vì tại đây, phép màu đã làm nở hoa giữa sa mạc – những phép màu thực sự của khoa học công nghệ. Là phần khô hạn nhất của hoang mạc Negev với lượng mưa bình quân chỉ từ 20-50mm mỗi năm (Việt Nam là 1500mm/năm). Độ ẩm cực thấp và sự chênh lệch nhiệt độ khiến đá cũng phải vỡ vụn mà khắp hoang mạc phủ một lớp đá vụn và cát đặc thù sa mạc. Arava là một trong những vùng đất khô cằn nhất thế giới. Cảm giác đầu tiên khi đặt chân đến vùng đất này, là miền Trung Việt Nam với những dải đất bạc màu và đồi cát, hóa ra vẫn còn là miền đất trù phú!

Ấy thế mà nơi đây mọc nên những nông trại trồng đủ loại cây từ rau củ, cây ăn trái đến hoa hòe. Tất cả đều xanh tốt và cho sản lượng không nơi nào sánh được. Không từ nào có thể diễn tả đúng hơn về một “vườn địa đàng” đã được tạo ra giữa thung lũng Arava, đúng như Tổng thống Israel Shimon Peres đã thốt lên khi đến thăm nơi này năm 2009: “Hãy đến và thấy chính con người cũng có thể tạo nên vườn địa đàng! (Garden of Eden)” Ông Ezra Ravins, người đứng đầu cộng đồng hơn 3.000 người tại khu vực này cho biết, từ một nhóm thanh niên Israel “bồng bột”, mang theo bánh mì và nước quyết định định cư tại thung lũng Arava năm 1959, cả một cộng đồng đã được xây dựng với nhiều thế hệ, tạo thành một trong những trung tâm nông nghiệp lớn nhất cả nước. “Khi những người đầu tiên đến đây, quyết định đó được xem là “điên rồ” nhất và chính những nhà khoa học cũng khẳng định con người không thể sống được ở vùng đất này.”

 Ấy vậy mà họ đã làm được, không chỉ làm được, mà còn tuyệt đối thành công, trồng trọt mà không cần đất và không cần nhiều nước, thoạt nghe cứ như chuyện của thế giới nào đó không phải trái đất này.

 Nhưng không, đó là sự thật, đó là Israel!

Thần kỳ cách họ trữ nước và sử dụng nước

Thiên đường nông nghiệp tại Arava gắn liền với một công trình xứng đáng ghi nhận như một kỳ công mà con người đã tạo ra giữa sa mạc: Bể chứa nước khổng lồ mang tên Shizaf. Với khả năng dự trữ 150.000 m3 nước sạch, bể chứa này có nhiệm vụ cấp nước sạch cho sinh hoạt và tưới tiêu. Bể được thiết kế để tích trữ nước từ giếng khoan vào thời điểm nhu cầu giảm.  Bể có đáy chìm 3,5 m dưới mặt sa mạc và chia thành nhiều lớp khác nhau, tạo nên bề mặt nổi 10m. Một khối lượng công việc khổng lồ được thực hiện để đào bỏ 320.000 m3 đá và đất sa mạc. Độ sâu của giếng khoan lên tới 1,5 km mới tới túi nước ngầm. Kỹ thuật thiết kế đặc biệt của bể chống lại chế độ bốc hơi tự nhiên cũng như thu gom nước một cách hoàn hảo.

Điều kiện tự nhiên của Israel đặc biệt khô hạn với lượng mưa rất thấp và thay đổi theo từng mùa: Phía Bắc quốc gia này lượng mưa khoảng 800mm/năm và ở phía Nam chỉ khoảng 50 mm/năm. Mùa mưa kéo dài từ tháng 11 đến khoảng tháng 3 năm sau và lượng bốc hơi tự nhiên lên tới 1.900-2.600 mm/năm. Không có gì ngạc nhiên khi nước ngọt ở Israel được coi như vàng trắng và được quản lý một cách chặt chẽ hơn bất kỳ nơi nào trên thế giới. Chính phủ xây dựng hẳn một bộ luật để đo lường mức tiêu thụ nước, kiểm soát việc khai thác nước ngầm, ngăn chặn ô nhiễm nước. Công nghệ xử lý nước của Israel thuộc hàng hiện đại nhất thế giới với tỷ lệ tái chế tới 75%.

 Dọc ngang Israel, ở những thành phố lớn hay những vùng nông thôn, hoang mạc, hệ thống tưới nước hoàn hảo đến mức gần như không bỏ phí một giọt nước nào. Đại diện công ty công nghệ tưới Naan DanJain cho biết 75% hệ thống nước nông nghiệp của Israel áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt, 25% còn lại tưới nước bằng ống dẫn và vòi tưới các loại phun mưa nhỏ, không hề có chế độ tưới ngập nước. Israel cũng là quốc gia phát minh ra hệ thống tưới nước nhỏ giọt điều khiển bằng máy tính, kết hợp với các thiết bị kiểm soát độ ẩm trong đất, có thể tính toán chính xác nhu cầu nước và tiết kiệm tối đa.

 Tại công ty Netafim, người viết được chứng kiến những thành quả đáng ngạc nhiên về hiệu quả của việc sử dụng công nghệ tưới nhỏ giọt của Israel trên khắp các dự án ở những vùng khô hạn trên thế giới. Hệ thống ống dẫn nước như những mao mạch dẫn tới từng gốc cây, được vận hành chính xác bằng công nghệ cao cũng như sử dụng tối ưu năng lượng mặt trời. “Đạt năng suất cao hơn với chi phí thấp hơn” (grow more with less) là khẩu hiện của Netafim và có lẽ cũng là hướng đi của phần còn lại của thế giới, khi nguồn tài nguyên nước đang ngày càng suy giảm.

  Israel giải quyết được sự thiếu nước, biến nước thành tài sản, đang dẫn đầu thế giới về tái chế nước thải, hơn 70% lượng nước được tái chế, gấp 3 lần quốc gia đứng thứ hai Tây Ban Nha.

 “Cây đũa thần” khoa học

 Một con số dễ hình dung về năng lực của “cây đũa thần’’ khoa học. Năm 1950, một nông dân Israel cung cấp thực phẩm đủ cho 17 người, hiện đã là 90 người. Một hecta đất hiện cho 3 triệu bông hồng, hay 500 tấn cà chua/vụ. Một con bò cho tới 11 tấn sữa/năm – mức năng suất mà không một nước nào trên thế giới có được.  Những thực tế tại công ty NaanDanJain đã đem lại một bài học khác về sự phối hợp: nhà khoa học, nhà doanh nghiệp có sự tách biệt khó phân định với nhà nông.  Đa phần các nước nhập khẩu công nghệ của NaanDanJain chỉ biết rằng đây là một trong những công ty hàng đầu Israel chuyên về giải pháp tưới, hệ thống công nghệ kiểm soát khí hậu nhà kính, mà không biết rằng chính công ty cũng đang sở hữu những đồn điền rộng lớn, nơi chính những tiến bộ khoa học của công ty được triển khai đầu tiên, nhằm đảm bảo sự thích ứng hoàn hảo nhất đối với nhu cầu của người trồng trọt.

 Một trong những lợi thế của sự phối hợp giữa khoa học và nhà nông tại Israel là tính cộng đồng rất cao. Nhà khoa học rất gần gũi với đồng ruộng và nhiều trong số họ cũng chính là nông dân hoặc giữ vai trò tư vấn trực tiếp cho nông dân. Các trung tâm nông nghiệp lớn, thậm chí cả các “làng nông nghiệp” (từ địa phương là kibbutz) đều có sự xuất hiện của các phòng nghiên cứu hoặc đại diện của các viện khoa học. Những giống cây mới hay các nghiên cứu mới về hệ thống nhà kính trước hết được thí nghiệm, kế đó sẽ áp dụng thử nghiệm với một số nhỏ hộ nông dân bằng nguồn vốn hỗ trợ của hệ thống tài chính vi mô hoặc từ chính quỹ của viện thí nghiệm, trước khi triển khai thương mại đại trà.

 Tại Israel phần lớn các nhà khoa học nông nghiệp làm cho chính phủ. Có tới hơn 60% các công trình nghiên cứu nông nghiệp là của Cơ quan Nghiên cứu Nông nghiệp hay trung tâm Volcani thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.  Israel cũng là nước có mức đầu tư cho nghiên cứu thuộc loại lớn nhất thế giới với gần 100 triệu USD mỗi năm, chiếm khoảng 3% tổng sản lượng nông nghiệp quốc gia. Nguồn lực này đến từ ngân sách và cộng động (50 triệu USD/năm), các hợp tác quốc gia song phương (12 triệu USD/năm), các tổ chức nông nghiệp cấp địa phương và quốc gia (6 triệu USD/năm) thông qua nguồn lợi từ thu hoạch cây trồng. Khu vực tư nhân cũng đóng góp khoảng 25 triệu USD hàng năm.

    Nguồn lực này được cung cấp trực tiếp cho việc nghiên cứu và phát triển các sản phẩm ứng dụng và các nhà đầu tư giữ bản quyền sáng chế. Phần lớn các nghiên cứu đều do những công ty sản xuất sản phẩm đầu tư, như hệ thống tưới tiêu, phân bón, nhà kính… triển khai. Sự phối hợp giữa kinh doanh và nghiên cứu đảm bảo cho các nhà khoa học một mức ưu đãi đủ để phát huy tối đa năng lực hoạt động chuyên môn. Thậm chí các chuyện các chuyên gia nông nghiệp đi tư vấn trực tiếp cho các nông trại là điều không hiếm.

 Việc chăn nuôi tại Israel:

 Nuôi cá trên sa mạc

 Khi đào giếng sâu gần nửa dặm, người Israel phát hiện nguồn nước ấm mặn. Một giáo sư đại học chỉ ra đây là nguồn nước hoàn hảo để nuôi cá nước ấm. Các nông trang bơm nước nóng 37 độ vào trong bể, nuôi cá thương mại. Nước chứa chất thải của cá được tưới cho rau, cây ăn quả. Nhờ vậy, nước được sử dụng tới 2 lần thay vì dùng 1 lần rồi bỏ.

 AfiMilk chính là công ty đã mang lại cho Israel thương hiệu độc tôn trong ngành chăn nuôi bò sữa, đặc biệt là ở khu vực châu Á, nơi mà thói quen uống sữa đang được hình thành. Những công nghệ của AfiMilk đã và đang giúp người nông dân chăn nuôi bò sữa kiểm soát được loại sữa đang được sản xuất từ trang trại của mình; cũng như kiểm soát được liệu mỗi con bò đã có đủ dinh dưỡng không, sữa bò có đủ lượng protein tiêu chuẩn không, tình trạng sức khỏe của bò ra sao, mỗi con bò đang cần được chăm sóc thế nào… Hệ thống giám sát thời gian thực do AfiMilk sản xuất đã giúp người nông dân đảm bảo duy trì chất lượng và sản lượng, đồng thời đáp ứng những nhu cầu cơ bản của đàn bò sữa.

 Ở trang trại nuôi bò sữa của Kibbutz Mashabbe Sade thuộc vùng Negev, bò được huấn luyện rất kỹ, cứ đến giờ là tự tìm đường về trạm cho sữa, thậm chí không cần người dẫn dắt. Họ gọi những con bò này là “bò có giáo dục”.

 Tiện nghi cho chó

Israel đã phát triển một loạt các sáng tạo với những sản phẩm out of the box (những sản phẩm sáng tạo không gò bó theo khuôn phép) cho những người nuôi chó trên toàn thế giới, từ DogTV (kênh truyền hình dành cho chó) đến pooper-scooper (một thiết bị mang tính cách mạng giúp bạn tự động dọn sạch phân chó – đã có trên thị trường).

 Khi bạn đi ra ngoài và để chú chó của mình ở nhà một mình, chúng sẽ không còn cảm thấy chán nhờ vào kênh DogTV – kênh truyền hình dành cho những chú chó đã đạt những thành công phi thường của Israel.

 Và khi bạn lái xe, một việc không ai muốn làm đó là dọn phân cho những chú chó, sẽ trở nên dễ dàng với thiết bị của Paulee CleanTec: biến chất thải thành chất không màu, không mùi, bột vô hại chỉ với một nút nhấn.

 Dẫn đầu thế giới về công nghệ sạch

 Họ được xếp hạng cao nhất với chỉ số 4,34, tiếp theo là Phần Lan 4,04, Mỹ 3,67, Thụy Điển 3,55 và Đan Mạch 3,45. Trong vòng 3 năm qua, Israel có 19 công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghệ sạch được lọt vào danh sách rút gọn của GCII. “Israel đứng đầu chỉ số năm 2014. Ngoài bản năng sinh tồn, đất nước này còn tạo ra nền văn hóa, giáo dục và những nền tảng cần thiết khác để nuôi dưỡng sự sáng tạo”, báo cáo cho biết.

Những điều hay ho về con người, tính cách, bản sắc văn hóa và nền kinh tế:

  Kinh doanh từ niềm đam mê sáng tạo nên cái mới, chứ không hẳn vì tiền

  1. Ze’ev Ganor, một giảng viên cao cấp tại Viện Công nghệ Technion-Israel và đồng sáng lập của Urginea Ventures, người đã phân tích dữ liệu về các doanh nhân nối tiếp ở Israel từ năm 2005 nói rằng: Hiện tượng một doanh nhân thành lập nhiều công ty rất phổ biến ở Israel. Khoảng 10% doanh nhân Israel có ít nhất hai công ty trở lên, gấp đôi con số 5% ở Mỹ. Tương tự như vậy, có khoảng 7,5% các doanh nhân Israel khởi nghiệp từ ba công ty hoặc nhiều hơn, trong khi chỉ có 3,75% các doanh nhân Mỹ làm như vậy.Trên sàn giao dịch chứng khoán NASDAQ, số doanh nghiệp Israel nhiều hơn cả 4 nước Nhật, Hàn, Trung Cộng, và Singapore cộng lại. Không ít những ông chủ khổng lồ nhất thế giới có mặt trên đất nước này đến từ Mỹ, Ấn độ, Đức… Xuất khẩu hướng vào thị trường cao cấp và sản phẩm mà Israel thu lợi nhuận cao nhất là bán các ý tưởng, được kết hợp chặt chẽ từ hai yếu tố sáng tạo và táo bạo. Và hình như, đây chính là tinh thần Do thái.Israel có tỷ lệ doanh nhân bình quân đầu người cao hơn bất kì một quốc gia nào khác. Vậy đâu là những yếu tố thúc đẩy sự thành công của họ?

  “Tôi cho rằng giá trị chung cơ bản mà những người liên tục tạo ra các công ty khởi nghiệp nằm ở sự đam mê tạo ra giá trị mới chứ không phải đam mê kiếm tiền. Kiếm tiền chỉ là một yếu tố phụ, không phải là mục tiêu phấn đấu của những doanh nhân tiếp nối ở Israel.” GS. Amnon Shashua của Đại học Hebrew, người sáng lập ra các công ty Cognitens, OrCam và Mobileye nói.

 Hay như theo cách mà ông Wurtman giải thích thêm về triết lý kinh doanh của họ: “Điều khiến bạn thích thú không phải ở việc tạo ra của cải, mà là tạo ra những cái mới.” “Đặc điểm của những doanh nhân tiếp nối là họ không bao giờ ngừng liên kết những ý tưởng mới vào doanh nghiệp mới và họ coi trọng cuộc hành trình của mình hơn là cái đích. Theo tôi, đây là một đặc điểm mang tính dân tộc, vì bản thân tôi đã luôn xem những gì tôi làm như là một phần của cuộc hành trình để phục vụ nhà nước Do Thái. Thành công, theo tôi, được đo bởi số lượng việc làm có chất lượng được tạo ra.” Wurtman khẳng định.

 Chuyện nói và chuyện làm. Khi người Israel có ý tưởng, anh ta sẽ triển khai nó ngay trong tuần. Tổng thống S. Peres, người đã sang Việt Nam, nói thế này: diễn văn rất hay, nhưng anh định làm gì tiếp theo?. Tỷ phú hàng đầu Israel, ông Stef Wertheimer, lời khuyên đầu tiên với người Việt cũng là, nói ít thôi làm nhiều lên. Ông là nhà sản xuất vũ khí và chủ một khu công nghệ còn đẹp hơn bất cứ công viên giải trí nào ở Việt Nam. Điều này hơi ngược với triết lý của ta khi bắt đầu kinh doanh cần phải có kinh nghiệm. Người Israel không cần kinh nghiệm, họ cần ý tưởng nhiều hơn, và sẵn sàng thất bại để học hỏi từ thất bại đó.

  Người Israel mê sáng tạo, và không sợ trí tưởng tượng. Họ biết kinh nghiệm là quý báu, nhưng kinh nghiệm dễ thành lối mòn. Họ không ngại thay đổi, luôn hướng về phía trước, không nằm im gặm nhấm thành công quá khứ. Họ biết “nỗi sợ hãi mất mát luôn lớn hơn niềm hy vọng nhận được” để bỏ đi cái cũ không còn phù hợp, kiến tạo cái mới cho hiện tại và tương lai. Trong những buổi gặp mặt cựu binh hay bạn học, họ ít hồi tưởng về quá khứ huy hoàng, mà hướng về tương lai phía trước. Những đơn vị thành công thì thuyết trình về công ty để người khác được chia sẻ kinh nghiệm. Họ xây dựng mạng luới làm ăn, kiến tạo những cơ hội kinh doanh.

 Tiếp nhận sự khác biệt và đa dạng trong cộng đồng

  Một trong những giá trị của Israel đó là lịch sử dân tộc. Chỉ với khoảng 8 triệu dân nhưng lại có nguồn gốc từ 70 nước trên toàn thế giới. Họ là quốc gia duy nhất thực thi luật di trú mà bất cứ người Do thái nào đặt chân lên Israel, ngay lập tức trở thành người Israel. Họ biết chiêu dụ những người Israel sống ở nước ngoài về phục vụ tổ quốc, trọng dụng họ và không bao giờ bỏ rơi họ. Israel thực sự là một đất nước đa dạng về văn hóa, sắc tộc, ngôn ngữ, nguồn gốc.   Vì là nạn nhân của chủ nghĩa bài Do thái, họ thấu hiểu việc tôn trọng sự đa dạng quan trọng như thế nào. Chính vì vậy, sự khác biệt không cản trở họ, mà ngược lại là nguồn gốc của sự sáng tạo. Đây chính là cốt lõi khởi tạo mọi thành công của người Israel.

Quá trình tuyển chọn lãnh đạo của Israel dựa trên tài năng chứ không phải dựa trên mối quen biết hay sức mạnh tài chính. Quá trình tuyển chọn rất minh bạch và dân chủ. Cộng với văn hóa tranh luận và đặt câu hỏi “tại sao ông là sếp của tôi; tại sao tôi không phải là sếp của ông?” đầy thách thức, làm cho người sếp không đủ tài năng sẽ phải nhường chỗ cho người khác. Quá trình này giúp tìm ra được người lãnh đạo tốt nhất cho công ty, tập đoàn hay chính phủ. Khi có lãnh đạo giỏi, việc trao quyền cho cấp dưới được thực hiện dễ dàng hơn, các thông tin, ý tưởng, giải pháp được đến từ nhiều người hơn là chỉ một số người có trách nhiệm.

 “Mục tiêu của nhà lãnh đạo là tối đa hóa sự chịu đựng – trong khi khuyến khích sự bất đồng chính kiến.” Là một phương châm lãnh đạo rất sâu sắc. Tinh thần này có nghĩa, lãnh đạo phải chịu được những điều “chướng tai gai mắt”, những khác biệt thậm chí bất đồng, thì nhân viên mới thỏa sức sáng tạo. Còn nhân viên, phải phát huy tính tự chủ độc lập của mình, không sợ khác biệt về nhận định hay giải pháp, vì đó chính là khởi nguồn của sáng tạo. Văn hóa này đã nuôi dưỡng tinh thần chiến đấu và hướng tới cái mới hơn, tốt hơn và hiệu quả hơn.

Ở Israel, các sinh viên đại học nói chuyện với giảng viên, nhân viên thách thức ông chủ, binh lính chất vấn sĩ quan chỉ huy, thư ký sửa lưng các bộ trưởng, đây không phải là sự cả gan, mà là điều hết sức bình thường. Ai mới tới Israel thường có cảm giác người bản xứ rất thô lỗ, thẳng thắn quá trớn. Nhưng nếu hiểu được bản chất và văn hóa của người Israel thì ta sẽ cảm thấy thoải mái, xem đây là biểu hiện của sự chân thành.

 Hiện tượng cấp dưới có quyền đưa ra quyết định vượt cấp trong quân đội Israel là kết quả của nhu cầu thực tế cũng như bản chất của lực lượng này. Việc quân đội Israel có ít chỉ huy, đồng nghĩa với việc có nhiều sáng kiến hơn đến từ binh lính cấp dưới. Mức độ trao quyền hạn vượt cấp trong quân đội Israel đã làm lãnh đạo các quốc gia ngạc nhiên. 

 Giá trị của binh lính Israel không phụ thuộc quân hàm, mà được quyết định bởi năng lực của họ. Ở đây, bí quyết lãnh đạo là niềm tin của binh lính đối với chỉ huy của mình. Nếu không có niềm tin, binh lính sẽ không bao giờ tuân phục. Trong doanh trại quân đội Israel, các viên tướng, sĩ quan và binh lính thường ngồi quây quần bên nhau, ít kiểu cách nhưng thân thiện và bao dung hơn. Đó là tinh thần Chutzpah trong quân đội. Điều này lý giải tại sao Shvat Shaket, một người đã sống nhiều năm trong quân đội, có thể giảng cho chủ tịch PayPal về sự khác nhau giữa “người tốt và kẻ xấu” trên internet. Hay nhóm kỹ sư Israel của Intel thực hiện cuộc cách mạng lật đổ kiến trúc cơ bản của sản phẩm của chính công ty mình. 

 Tinh thần chiến đấu của người Israel không chỉ được thể hiện trên chiến trường, bàn ngoại giao, mà còn thấm đẫm vào công việc kinh doanh của họ. Khi bị ban lãnh đạo Intel từ chối giải pháp làm nguội con chíp, nhóm làm việc Israel không chịu lùi bước. Họ kiên trì thuyết phục, cải tiến và chứng minh viễn kiến và giải pháp của họ là đúng, tạo bước ngoặt cho Intel và thế giới khi đưa ra các sản phẩm chip mới. Trong những công ty khởi nghiệp, khi thất bại họ “thất bại có tính xây dựng” hay “thất bại thông minh”, cộng với tính khoan dung của người Israel, nên những người thất bại được trao cơ hội làm lại. Theo thống kê, những người đã thất bại lần đầu mà khởi nghiệp lại, tỉ lệ thành công của họ sẽ tăng lên 20%. Đây chính là lý do góp phần để Israel thành một quốc gia khởi nghiệp.

Mô hình kinh tế Kibbutz

 Về kinh tế, mô hình kinh tế Kibbutz được hình thành từ những năm 1960 và tới nay vẫn còn duy trì hiệu quả. Đây là mô hình tổ chức nông-công nghiệp nông thôn độc nhất vô nhị trên thế giới chỉ có tại Israel. Hiện nay trên toàn Israel có khoảng 270 Kibbutz, trung bình mỗi Kibbutz này có trên dưới 300 xã viên hoạt động tương tự như nhau, sở hữu những cánh đồng trồng cây nông nghiệp, trại chăn nuôi gia súc, các nhà máy chế biến sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp nhẹ như sản xuất bột giặt, đồng hồ đo nước xuất khẩu, van và khớp nối ống nước… Mọi thành viên của gia đình các xã viên được cung cấp miễn phí hai bữa ăn sáng và trưa tại một bếp ăn tập thể giữa làng. Riêng bữa tối các gia đình tổ chức ăn ở nhà để cho gắn bó tình cảm giữa các thành viên trong gia đình mình.

  Buổi sáng, các xã viên và trẻ em trong làng lũ lượt kéo đến các nhà ăn tập thể dùng bữa sáng. Nhà ăn được tổ chức hiện đại và sang trọng với đầy đủ các món ăn cao cấp không khác mấy so với các phòng ăn ở khách sạn 5 sao. Sau khi ăn xong, mỗi người tự mang bát đĩa, khay, thìa đến những chỗ quy định để “tổ bếp núc” rửa. Sau đó, trẻ em thì đến trường, người lớn đến nơi làm việc. Khoảng 12h30 trưa, trẻ em đi thẳng từ trường học tới nhà ăn, cùng người lớn dùng bữa trưa. Các gia đình không nhất thiết ngồi ăn cùng bàn, họ thoải mái tự chọn món mình thích và tùy chọn chỗ ngồi trong bữa ăn, không hạn chế số lượng và hoàn toàn theo nhu cầu.

 Ngoài ra còn những điều cực kỳ lý thú, việc giặt giũ của mỗi gia đình được phụ trách bởi một tổ có tên “tổ giặt giũ” đảm nhiệm. Họ phân loại quần áo, dùng máy móc giặt sấy và trả về cho mỗi gia đình theo số thứ tự được đánh dấu của mỗi nhà. Các xã viên cũng không cần mua ô tô khi các Kibbutz luôn có sẵn khoảng 60 ô tô con các loại để tại bãi đậu xe có người trông coi. Ai cần đi xe chỉ việc chọn xe, đăng kí trên website và tới bãi để lấy xe chạy thoải mái. Ngoài ra, các khoản như xăng, sửa chữa và các chi phí khác hoàn toàn do Kibbutz chịu trách nhiệm. Nếu thích một loại xe nào đó khác, chỉ việc yêu cầu, Kibbutz sẽ chịu trách nhiệm đi thuê xe cho bạn, và đương nhiên, hoàn toàn miễn phí, Kibbutz sẽ thanh toán cho bạn.

  Kibbutz còn xây dựng và cấp nhà miễn phí cho các gia đình xã viên. Khi cần mở rộng hoặc muốn cải tạo theo ý mình, chủ nhà trao đổi với ban quản trị, sau đó sẽ có một đội xây dựng đến thực hiện theo yêu cầu của chủ nhà, Kibbutz thanh toán chi phí toàn bộ, bao gồm cả tiền điện, nước, gas sinh hoạt trong các gia đình. Mỗi căn nhà này ở Mashabbe Sade là một biệt thự cao cấp, đầy đủ tiện nghi.

 Ngày Shabbat bình yên

 Chiều thứ sáu, đường phố ở Haifa vắng tanh, mọi người đều về nhà để chuẩn bị một bữa tối linh đình cho gia đình. Các cửa hàng, siêu thị, công sở đều đóng cửa, thậm chí các phương tiện giao thông công cộng cũng ngưng hoạt động. Người lần đầu đến Israel đúng những ngày này sẽ cảm thấy bất ngờ và hụt hẫng. Muốn mua sắm hay đi chơi đều phải chuẩn bị từ đầu hoặc giữa tuần. Nếu chẳng may phải đi đâu, phương tiện công cộng duy nhất là taxi với giá 5 shekel (tiền Israel, bằng khoảng 5.000 đồng VN).Một người dân tên Roi Ariel cho biết, theo phong tục, người Israel thường ở nhà nghỉ ngơi, thư giãn, đọc sách, đi thăm người thân hoặc bạn bè, đi du lịch nhân ngày Shabbat. Cánh thanh niên tận dụng những ngày Shabbat để đi ra biển hoặc khám phá những thành phố mới. Roi Ariel đang trong thời gian quân ngũ và phục vụ trong hải quân. Tham gia quân đội cũng là cách các chàng trai, cô gái xứ sở này có được một khoản thu kha khá. Sau 3 năm tại ngũ, họ sẽ dùng số tiền tiết kiệm được để đi du lịch hoặc đăng ký học tại một trường đại học nào đó. Và trường đại học tại Israel thì có chất lượng không thua kém bất cứ đại học danh tiếng nào trên thế giới.

 Theo lời Erik – một người dân Israel thì, đàn ông Israel không có thói quen tụ tập tại các quán bar sau giờ làm việc, trừ những ngày cuối tuần. Hầu hết đều trở về nhà,

giúp đỡ vợ những công việc gia đình, xem tivi, đọc sách và ngủ. Làm việc quên giờ giấc cũng là một đặc tính nữa của người Israel. Chắt chiu trong cuộc sống thường ngày, nhưng bù lại họ có niềm đam mê trong việc du lịch và khám phá những vùng đất khác. Chả thế mà người Israel được xem là dân tộc đi du lịch nhiều nhất thế giới.

  Tạm kết

  Quả thật là lý thú và kỳ diệu, đất nước này, những con người nơi đây. Họ có xứng đáng cho chúng ta học hỏi, từ công việc nông nghiệp, cách dụng người tài, khả năng sáng tạo tuyệt đỉnh cho đến thói quen sinh hoạt thường ngày? Thật đáng khâm phục đúng không?

 Con người Israel với khả năng kinh doanh tuyệt vời và những vĩ nhân ảnh hưởng lớn đến thế giới thì chắc hẳn bạn nào yêu thích kinh doanh và từng đọc các cuốn sách “Bí mật người Do Thái dạy con làm giàu, Tủ sách của người Do Thái…” đều được biết. Tuy nhiên, thật không thể ngờ đi sâu vào đất nước ấy lại có nhiều điều thú vị đến vậy. Thiết nghĩ, Việt Nam ta cũng là một quốc gia nông nghiệp thì ta nên học hỏi đất nước này. Ta có một nền tảng tốt hơn, tại sao ta lại không thể làm tốt hơn? Phải chăng cũng vì cái nền tảng tốt đẹp sẵn có mà ta không còn cần phấn đấu và sáng tạo nữa?

From: Do Tan Hung & KimBằng Nguyễn

ĐẦU TƯ CHO SỰ THÁNH THIỆN

ĐẦU TƯ CHO SỰ THÁNH THIỆN

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ai trong các con không từ bỏ tất cả của cải mình có, thì không thể làm môn đệ Tôi!”.

Thời sự thế giới trong những tuần qua nóng lên trước quyết định từ bỏ hoàng gia của công chúa Mako, Nhật Bản. Bất chấp sóng gió, Mako kết hôn với Komuro, một luật sư, con của một người mẹ đơn thân. Luật hoàng gia quy định, các thành viên nữ phải từ bỏ tước vị nếu kết hôn với một thường dân; các nghi lễ truyền thống trong đám cưới bị huỷ. Theo truyền thống, các nữ thành viên hoàng gia lập gia đình sẽ nhận được 1,3 triệu Mỹ kim hồi môn; tuy nhiên, Mako đã từ chối. Là một trong những công chúa tài sắc, giới trẻ ngưỡng mộ, Mako chia sẻ, “Chúng tôi nghĩ, mình đã tìm được người bạn đời quý giá, phụ thuộc vào nhau cả lúc hạnh phúc và bất hạnh”; Mako trải lòng, “Những gì tôi muốn, là có một cuộc sống yên ả trong môi trường mới của tôi!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Nếu công chúa Mako đã hy sinh tất cả để đầu tư cho tiếng gọi của con tim, thì Tin Mừng hôm nay cũng tiết lộ số vốn ‘đầu tư cho sự thánh thiện’ của người môn đệ Chúa Giêsu quả không hề rẻ và không dễ! Bởi lẽ, không chỉ vật chất, “Tất cả của cải mình có”, mà ngay cả những người thân yêu; thậm chí, bản thân đều phải đứng hàng thứ yếu sau Ngài, “Ai đến với Tôi mà không bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình, thì không thể làm môn đệ Tôi!”.

Minh hoạ kế hoạch đầu tư xây dựng của một người xây tháp, Chúa Giêsu nói đến kế hoạch đầu tư trong đời sống thiêng liêng, ‘đầu tư cho sự thánh thiện’. Điều đó sẽ là gì? Hy sinh nhiều! Thế nhưng, như cảm giác hồi hộp khi cắt băng khánh thành toà tháp đã được thanh toán hoàn toàn và sẵn sàng đưa vào sử dụng, mọi nỗ lực ‘đầu tư cho sự thánh thiện’ của người môn đệ sẽ mang lại một kết quả tuyệt đẹp đến tận đời đời!

Bên cạnh đó, Chúa Giêsu đưa ra minh hoạ thứ hai, một vị vua sắp đi giao chiến. Ngài cho thấy đâu là mục tiêu tiên kiến của một kế hoạch chiến đấu. Câu trả lời rất đơn giản: Đừng để mình bị đánh bại! Qua đó, người môn đệ cần biết, chiến tranh luôn nghiệt ngã và nếu khả năng bị đánh bại là một điều có thể thấy trước, thì tốt hơn, nên tìm một chiến thuật khác. Cũng thế, với sự thánh thiện, cần nhớ rằng, chúng ta sẽ dễ dàng thắng một số “trận chiến”; đang khi có những “trận chiến” phải tránh hoàn toàn. Vì thế, đừng ngu khờ đánh giá cao năng lực của mình; điều này xảy ra, đặc biệt, khi chúng ta biết mình không thể không phạm tội, và nghĩ rằng, bản thân đủ mạnh để vượt qua chúng; vì đôi khi, chiến lược đối đầu tốt nhất không phải là chiến đấu, mà là chạy trốn!

Nói đến kế hoạch và nguồn lực ‘đầu tư cho sự thánh thiện’, Chúa Giêsu đưa ra một số lời khuyên xem ra khá cực đoan và nghiệt ngã. Ngài khá cường điệu khi đòi chúng ta “từ bỏ mọi của cải” hay “ghét cha mẹ”; những mối quan hệ này dù quan trọng đến đâu cũng không thể chiếm vị trí hàng đầu trong trái tim người môn đệ. Ở đó, ‘một Ai đó’ đã chiếm hữu, một Đấng yêu thương bằng một tình yêu dịu dàng và nồng nàn; Đấng ấy chính là Thiên Chúa. Chính Chúa Giêsu đã để Chúa Cha chiếm trọn trái tim, trọn con người, trọn tâm trí khi Ngài chu toàn ý muốn của Cha một cách triệt để, toàn vẹn, kể cả cái chết trên thập giá; vì thế, Ngài đã trở nên khuôn mẫu cho chúng ta noi theo. Vậy mà trớ trêu thay! Đi theo Chúa Giêsu trên con đường thập giá, “từ bỏ mọi của cải” hay “ghét cha mẹ” lại thực sự dẫn đến một tình yêu lớn hơn, hy sinh hơn, phong nhiêu hơn và trù phú hơn khi người môn đệ được chính Thiên Chúa trả lại “gấp trăm ở đời này” như Ngài đã hứa!

Anh Chị em,

‘Đầu tư cho sự thánh thiện’ nơi người môn đệ quả không rẻ, cũng không dễ! Chúa Giêsu yêu cầu chúng ta đặt mọi thứ ở vị trí thứ hai. Không ai có thể làm điều này nếu không có sự trợ giúp của ân sủng Chúa. Chúng ta yếu đuối và mãi yếu đuối, nhưng tin rằng, chính Chúa sẽ cho chúng ta sức mạnh cần thiết để đi vào những lối hẹp của Tin Mừng, lối hẹp của lề luật. Chúng ta ‘đầu tư cho sự thánh thiện’ bằng cách để Thiên Chúa chiếm trọn con người mình, thực hành yêu thương, vâng phục, như thánh Phaolô nói trong thư Rôma hôm nay, “Yêu thương là chu toàn mọi lề luật”; đồng thời, quảng đại với tha nhân như lời Chúa dạy, “Phúc thay người biết cảm thương và cho vay mượn!” như Thánh Vịnh đáp ca nhắn nhủ. Và được như thế, là chúng ta đã đầu tư tốt!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giúp con dám ‘đầu tư cho sự thánh thiện’ bằng việc chết đi mỗi ngày cho những gì còn vướng bận khiến con không thể chấp cánh bay cao trên ‘bầu trời nên thánh’”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: NguyenNThu

5 CÁI ĐỪNG VỀ CUỘC ĐỜI

5 CÁI ĐỪNG VỀ CUỘC ĐỜI

Con người muốn được sống hạnh phúc, thanh thản mà trong tâm lại vẫn cứ ôm giữ các loại tâm tranh đấu, oán hận thì vĩnh viễn không thể nào đạt được. Hãy ghi nhớ 5 thứ “đừng” sau đây để cuộc sống không phải vướng bận điều gì nữa!

CÁI ĐỪNG THỨ NHẤT: CÓ TIÊN ĐỪNG KEO KIỆT

Tiền khi sinh chẳng mang theo đến, khi tử chẳng mang theo đi. Sức khỏe mới là thứ quan trọng hơn nhiều, có sức khỏe thì mới có tất cả.

Trong dân gian có câu nói: “Không sợ kiếm ít tiền, chỉ sợ chết sớm”. Có sức khỏe thì ngại gì không kiếm được tiền. Vì sức khỏe, khi nào cần chi tiêu thì hãy chi tiêu, có tiền đừng keo kiệt.

CÁI ĐỪNG THỨ HAI: CÓ PHÚC ĐỪNG CHỜ ĐỢI
Con cháu đều có phúc của con cháu, đừng quá vì con cháu mà biến mình thành thân trâu ngựa. Nên tranh thủ thời gian hưởng thụ cuộc sống, đừng vì con cháu mà làm việc quá sức, làm cố quá là sát thủ nguy hiểm nhất của sức khỏe.

Con cháu đều có phúc của con cháu, đừng quá vì con cháu mà biến mình thành thân trâu ngựa.

CÁI ĐỪNG THỨ BA: CÓ TÌNH YÊU ĐỪNG BUÔNG BỎ

Cuộc đời thật ngắn ngủi, tình yêu lại không dễ tìm kiếm, cho dù yêu hay được yêu đều là duyên phận, đều nên đón nhận, ngày hôm nay bạn buông bỏ, thì kiếp này nó sẽ không bao giờ đến với bạn nữa.

CÁI ĐỪNG THỨ TƯ :TỨC GIẬN ĐỪNG ĐỀ TRONG LÒNG

Trong cuộc đời, ai cũng có thể phải gặp những chuyện khó khăn hay không vừa ý, đừng nên vì thế mà “nộ khí xung thiên”. Tức giận là tồn tại khách quan, không nên giữ ở trong lòng, nín thở thì khí sẽ ứ tắc, khí ứ tắc thì sẽ sinh bệnh.

Gặp phải những sự việc khiến ta tức giận, hãy tìm người để khai thông nó, thổ lộ ra hết, như vậy sẽ gỡ bỏ nó nhanh hơn, nội tâm sẽ yên bình trở lại.
Bạn bè chính là công cụ “thông tức khí” tốt nhất, cũng là nguồn động lực, khích lệ tinh thần, tiếp thêm sức mạnh tốt nhất cho bạn.

Hãy làm cho mỗi ngày trong cuộc đời của bạn là một ngày vui sống.

CÁI ĐỪNG THỨ NĂM: CÓ THÙ HẬN ĐỪNG GHI NHỚ

Lòng dạ khoáng đạt, dùng thiện lương nhân ái để đối đãi, không để ý những chuyện nhỏ, gạt bỏ ân oán, cũng không để thù hận trong lòng. Hãy làm cho mỗi ngày trong cuộc đời của bạn là một ngày vui sống.

Người xưa sống được trường thọ vì họ có “tam bất thức”, chính là không cần biết 3 điều, không quan tâm ân oán, không quan tâm tuổi tác, không quan tâm bệnh tật.

Hãy rèn luyện những điều này để sống thật vui vẻ nhé!

From: Do Tan Hung & KimBằng Nguyễn

Phân Ưu Bác Sĩ Phùng Văn Hạnh

Được tin Bác sĩ Phero PHÙNG VĂN HẠNH

được Chúa gọi về hôm nay 07-11-2021 tại Montreal, Canada

Hưởng thọ 90 tuổi

CHÚNG CON CẬY VÌ DANH CHÚA NHÂN TỪ, XIN CHO LINH HỒN PHERO ĐƯỢC LÊN CHỐN NGHỈ NGƠI – ĐƯỢC XEM THẤY MẶT ĐỨC CHÚA TRỜI SÁNG LÁNG VÔ CÙNG. AMEN

Ban Biên Tập Kẻ Đi Tìm

Thành Kính Phân Ưu cùng tang quyến

và nguyện xin linh hồn PHERÔ sớm hưởng Hạnh

Phúc Thiên Đàng Vĩnh Cửu

Về Bác Sĩ Phùng Văn Hạnh

 TRÂN TRỌNG CẢM ƠN ANH CHỊ EM BẰNG HỮU ĐÃ CẦU NGUYỆN & CHIA BUỒN VỚI GIA ĐÌNH VỀ VIỆC RA ĐI CỦA NGƯỜI CẬU

Phero PHÙNG VĂN HẠNH …

Một số ace đã nghe qua tên của cậu Hạnh, nhưng không nhớ đã nghe, đã gặp ở đâu và muốn hỏi rõ xem cậu Hạnh có phải là người quen không?

Nay xin phép mợ và các em được kể sơ qua về cậu như sau (nếu có thiếu sót xin Mợ và các em bổ túc và nhắc cho:

Cậu Phùng Văn Hạnh nguyên quán Điện Bàn, Quảng Nam. Nguyên là:

– Trung tá Quân Y Sĩ làm việc tại Quân Y Viện Duy Tân, Đà Nẵng

– Phó Giám đốc Bệnh viện Giải phẩu Đà Nẵng

– Giám đốc kiêm Sáng lập viên Dưỡng đường Độc Lập.

Trước 30-4-1975, những ai sinh sống tại Đà Nẵng sẽ biết rõ Dưỡng đường Độc Lập và tiệm thuốc Tây Thành Thái….

Sau 12 năm tù cải tạo tại Tiên Lãnh, cậu Hạnh đã vượt biên và đoàn tụ cùng gia đình tại Canada vào năm 1989-1990. Xin đọc cuốn Tuyển Tập Truyện Ngắn và Thơ – trích từ Tình Yêu Hiện sinh Một Kiếp Người để biết những ngày tháng lưu vong và số phân long đong khi chọn sống tại Canada (nếu cậu đến Mỹ có lẽ cậu sẽ thành công hơn khi đến Canada, nhưng biết làm sao khi vợ con đã định cư tại nơi đây…. và một phần do lòng tự trọng của một kẻ sĩ đã không muốn đến sống một xứ sở đã phản bội lại VNCH).

Trong thời gian lưu vong sinh sống tại Montreal, Canada… cậu đã ra mắt một số tập truyện và thơ như:

– Tình Yêu Hiện Sinh – Năm 2000

– Một Kiếp Người – Năm 2002

– Tuyển Tập Thơ – Năm 2004

– Tuyển Tập Truyện Ngắn & Thơ – Năm 2009

Với bút hiệu là Khánh Giao.

Tháng 11-2009 cậu và mợ đã đến Melbourne, Australia để thăm con cháu và nhân dịp ra mắt sách tại đây. Một điều quý đó là việc ra mắt sách tại Úc hoàn toàn là do quý đồng đội, chiến hữu, thân hữu và đồng tù cải tạo đang sống tại Úc châu đứng ra lo liệu tổ chức và quảng cáo….. con cháu chỉ lo việc chăm sóc ăn uống và đưa đón cậu mợ thôi.

Đáng nói là cậu vừa mới được mợ và các con tổ chức sinh nhật mừng thọ 90. Chưa đầy một tháng sau thì cậu đã ra đi trong thanh thản mà không có bất cứ triệu chứng đau đớn nào về bệnh tật. Cách nay mới mấy ngày hai cậu cháu đã chat với nhau về gia đình, về chính trị xã hội, cậu còn tỏ ra minh mẫn và nhờ nhiều chi tiết hơn thằng cháu…. Thế mà cậu ra đi thật bất ngờ

Vì ở quá xa hơn nữa lại vướng đại dịch, gia đình cháu không thể tham dự các nghi lễ an táng cậu được. Xin cầu chúc cậu yên nghỉ trong ơn Chúa Kito và Mẹ Maria với sự cầu bầu của Thánh Cả Phero…

Một số hình ảnh về cậu Phùng Văn Hạnh:

– Đại gia đình họ Phùng, chụp trước 1975. Cậu Hạnh đứng thứ hai hàng thứ hai từ trái sang.

– Nhà cậu Hạnh tại Đà Nẵng là tiệm thuốc Tây Thành Thái.

– Sau hơn 30 năm sống tại Canada, cậu trở về VN 1 lần duy nhất để thăm Nghĩa trang dòng họ Phùng….

– Những tác phẩm của cậu Hạnh sáng tác

TÌNH YÊU KHÔNG CHẾT

TÌNH YÊU KHÔNG CHẾT

Một tác giả nọ đã ghi lại bài học của mẹ mình như sau:

Ông ngoại tôi là một Mục sư vào đầu thế kỷ XX. Khi có một người trong cộng đồng qua đời, người ta thường đem khăn liệm và mang quan tài đến và đặt trong phòng khách của vị mục sư. Năm đó mẹ tôi lên tám tuổi, lần đầu tiên chứng kiến cảnh tượng đó mẹ tôi rất sợ hãi.

Ngày nọ ông ngoại cầm tay mẹ tôi đặt vào tường và hỏi mẹ tôi cảm thấy như thế nào? Mẹ tôi trả lời nó cứng và lạnh. Sau đó ông ngoại dẫn mẹ tôi đến cạnh quan tài của người tín hữu tên là Smick đang nằm trong phòng khách, ông nói với mẹ tôi: “Ba xin con làm một điều vô cùng khó khăn, nếu con làm được điều đó con sẽ không bao giờ biết sợ chết nữa. Ba muốn nói con đặt tay trên mặt ông Smick”.

Vì thương và tin tưởng ông ngoại, nên mẹ tôi đã làm theo điều ông ngoại xin. Mẹ tôi đưa tay sờ vào mặt người chết. Ông ngoại tôi hỏi: Con thấy thế nào? Mẹ tôi đáp: Lạnh như tường vậy. Ông ngoại tôi liền giải thích: Tốt lắm, đãy là ngôi nhà cũ của ông Smich, ông Smich đã ra đi và chúng ta không có lý do gì đẻ sợ ngôi nhà của ông cả.

Từ đó mẹ tôi không còn biết sợ người chết nữa! Tám giờ đồng hồ trước khi mẹ tôi qua đời, mẹ tôi đã yêu cầu chúng tôi làm một điều khác thường, thấy chúng tôi đang khóc sướt mướt, mẹ tôi nói đừng đặt hoa trên mộ của mẹ vì mẹ không có ở đó đâu, khi mẹ từ bỏ thân xác này, mẹ sẽ bay đi Âu Châu, cha chúng con chưa bao giờ đưa mẹ đến đó.

Nghe thế chúng tôi bật cười và suốt trong đêm hôm đó, không ai trong chúng tôi khóc nữa. Khi chúng tôi đến hôn từ biệt và chúc mẹ ngủ ngon. Mẹ tôi nói: gặp lại các con sáng mai. Thế nhưng đúng sáu giờ mười lăm phút sáng hôm sau, mẹ tôi đã vĩnh viễn ra đi. Hai ngày sau chúng tôi dọn dẹp lại căn phòng của mẹ, trong nhiều mảnh giấy để lại, có một bài thơ không rõ do mẹ tôi sáng tác hay của một tác giả nào đó. Sau đây là nội dung của bài thơ:

“Khi tôi chết, xin hãy để lại cho con cái tôi những gì còn lại của tôi. Nếu bạn cần khóc thì hãy khóc cho những người anh em đang đi bên cạnh bạn. Xin bạn hãy quàng tay qua mọi người, hãy cho họ những gì bạn muốn cho tôi. Tôi muốn để lại cho bạn một cái gì đó, một cái gì đó khác với lời nói hay âm thanh, bạn hãy tìm gặp tôi trong những người tôi đã biết và yêu thương. Và nếu bạn không thể sống mà không có tôi thì xin bạn hãy để cho tôi được sống trong ánh mắt, trong tâm trí và trong những hành động tử tế của bạn. Bạn có thể yêu thương tôi nhiều nhất bằng cách bàn tay nắm lấy những bàn tay và cho con cái được trở nên những con người tự do. Tình yêu không chết chỉ có con người mới chết thôi, vậy thì tất cả những gì còn lại của tôi là tình yêu, xin hãy trao ban.”

***

Khi chúng ta tưởng nhớ và cầu nguyện cách đặc biệt cho những người quá cố. Người chết nào dường như cũng có một cái gì để trăn trối cho những người còn sống, người chết nào dường như cũng tiếp tục sống bên cạnh người còn sống. Hẳn đó cũng là cảm nhận của mỗi người chúng ta. Sau đó, bên cạnh chúng ta những người thân thương ruột thịt của chúng ta vẫn tiếp tục hiện diện và theo dõi từng bước của chúng ta.

Giáo Hội nhắc nhở chúng ta về sự hiện diện đó và mời gọi chúng ta cầu nguyện cho người quá cố. Có những lời cầu nguyện qua những bài Thánh ca, những kinh quen thuộc đã đành, nhưng quan trọng hơn, ý nghĩa hơn hẳn phải là những hành động yêu thương mà chúng ta cố gắng thực thi mỗi ngày, đó là sự tưởng nhớ và chân thành nhất mà chúng ta dành cho người quá cố vậy.

***

Lạy Chúa, xin đón nhận những cố gắng sống yêu thương của chúng con như của lễ dâng lên Chúa để cầu nguyện cho những người thân thương đã qua đời của chúng con. Amen.

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

Cụ bà hạnh phúc nhất thế giới.

Cụ bà hạnh phúc nhất thế giới.

 CUỘC SỐNG BẠN RỘN ĐẾN MỨC “KHÔNG CÓ THỜI GIAN ĐỂ CHẾT” CỦA CỤ BÀ NHẬT BẢN

Người phụ nữ hơn trăm tuổi này gần đây vẫn luôn thu hút sự quan tâm của truyền thông. 

Báo chí không ngừng yêu cầu các bức ảnh cuộc sống của bà gần đây không phải các năm về trước. Nhưng bà đáp rằng đó hoàn toàn là những bức ảnh hiện tại. 

Bởi không ai có thể tin rằng người phụ nữ hơn trăm tuổi sẽ có dáng vẻ và tinh thần như vậy.

Sasamoto Tsuneko sinh năm 1914, năm nay đã 106 tuổi.

Khuôn mặt luôn được trang điểm một cách nhẹ nhàng, mái tóc ngắn trẻ trung là hình ảnh của nhiếp ảnh tin tức nữ đầu tiên tại Nhật Bản vẫn còn hoạt động tới hiện tại.

Mỗi lần đến phỏng vấn truyền thông, các nhà báo luôn dặn dò: “Xin đừng lấy những bức ảnh cũ, chúng tôi cần bức ảnh gần đây.”

Bà ấy cũng bận lòng mà giải đáp: “Đây là bức ảnh của tôi bây giờ.”

Bởi vì dáng vẻ quá trẻ trung, cộng với gu ăn mặc thời thượng, mọi người khó có thể tưởng tượng ra “cô gái” trong ảnh đã ngoài trăm tuổi.

Chồng chết khi bà 71 tuổi, Sasamoto Tsuneko quyết định cầm lại máy ảnh và bắt đầu sự nghiệp của một nhiếp ảnh gia tự do.

Cách bà cầm máy vẫn thân thuộc, các kỹ năng, từ dễ đến khó không hề có phân nửa dáng dấp sự già cả!

Thất tình ở tuổi 96 bà công bố tuổi thực khiến những người xung quanh không khỏi bàng hoàng. Thế nhưng vị “đại cô nương” này không vì những mất mát trong tình cảm và ánh nhìn kỳ lạ của người khác đánh gục. 

Ở tuổi 100, tự mình tổ chức triển lãm cá nhân và giành giải thưởng cao quý nhất, đó cũng là chiến thắng của người cao tuổi nhất trong lịch sử đạt được. Và bây giờ Sasamoto Tsuneko vẫn đang trên đường tạo ra một phép màu.

Đừng quan tâm đến tuổi tác già đi của mình, thay vào đó hãy để tâm hồn bạn mãi còn là thanh niên.

Ai đó hỏi bà ấy, bí quyết để duy trì sự trẻ trung là gì? Sasamoto Tsuneko liền trả lời đó chính là “tính hiếu kỳ”!

Nhắc tới ba từ tính hiếu kỳ, nhiều người chắc hẳn nghĩ ngay đến thời thơ ấu. Trong thời thơ ấu, chúng ta luôn tò mò với bất cứ điều gì, dám chấp nhận rủi ro, dám thách thức.

Nhưng Sasamoto Tsuneko cho chúng ta biết rằng tò mò mọi lúc giúp bạn luôn có thể chủ động đối diện và tràn đầy năng lượng.

Bà ấy nói: “Tôi thích nhìn chằm chằm vào thế giới, ngay cả khi một cái gì đó tôi không biết, tôi muốn sử dụng một bức ảnh để ghi lại từng khoảnh khắc. Tôi không muốn nghĩ về “việc già đi” và lại tiếp tục làm việc.”

71 tuổi là tuổi nghỉ hưu, nhưng bà chọn bắt đầu lại.

Chỉ vì bà vẫn muốn chụp ảnh, bà đã dành 6 năm để đi du lịch khắp Nhật Bản.

96 tuổi Sasamoto Tsuneko đến thăm ông Charles, Sculptor Charles, Nam Pháp và bắt đầu yêu!

Đối với công việc chụp ảnh của mình Sasamoto Tsuneko nói: “Công việc khiến tôi tràn đầy sự nhiệt tình, tình yêu vẻ đẹp, là cuộc sống của tôi! Con người nếu như chỉ làm mọi thứ phụ thuộc vào tuổi tác của mình nhất định thứ bỏ lỡ rất nhiều! 105 tuổi hôm nay vẫn duy trì một luật đặc biệt. 11 giờ đêm lên giường, thức dậy lúc 5 giờ sáng. Nghe tiếng Anh trên TV để đánh thức trí não. Sau đó, vừa xem TV, vừa thể dục.”

Ngoài nhiếp ảnh, mọi người cũng quan tâm đến cách thức chăm sóc sức khỏe của Sasamoto Tsuneko.

Tuy nhiên, bà ấy bận rộn cả ngày, không để bản thân mình nhàn rỗi,làm gì có thời gian để dưỡng sinh.

Nếu có một vũ khí ma thuật giúp bảo dưỡng nhan sắc, đó là sự kiên cường và yêu thương cuộc sống.

Cuộc sống của Sasamoto Tsuneko đầy nhiệt huyết, và nó không trở nên lười biếng vì tuổi già. Xung quanh chúng ta có rất nhiều người chỉ ngoài sáu mươi vừa nghỉ hưu đã bắt đầu cháu bồng cháu bế, chăm lo cuộc sống cuối đời.

Ngược lại Sasamoto Tsuneko tinh tế chiếc váy mỗi ngày, ngay cả móng tay và nước hoa cũng phải phù hợp tâm trạng.

Bà luôn mỉm cười và nói: “May mắn thay, tôi có thể trông giống như 26 tuổi.”

Sưu tầm

Câu truyện một con chó

Câu truyện một con chó

Có một lần, tôi gọi taxi để đưa con chó đi khám bệnh. Vì con chó ho rất nặng tiếng nên gây chú ý đến người tài xế. Anh ta quay lại hỏi: “con chó bị cảm lạnh à?”

Tôi đáp: “Đúng vậy, nó ho liên tục từ hôm qua đến giờ.”

Người tài xế thở dài hỏi:”Chà, sao ho giống người vậy.”

Rồi anh ta bắt đầu câu chuyện. Anh ta kể về những trải nghiệm đau khổ khi anh ta nuôi con chó của mình. Nhiều năm trước đây, anh ta nuôi một con chó berger. Nó có thân hình cao lớn, ăn rất khỏe, tiếng sủa của nó rất vang.

Một hôm, anh cảm thấy mình không còn đủ sức để nuôi nó, anh cho nó vào bao tải và chở đi vứt.

Vì sợ nó quay về nhà, anh đã lái xe đến một vùng núi cách nhà hơn 100km rồi thả nó ở đó.. Sau khi thả con chó, anh lái xe thật nhanh, con chó đuổi theo mấy cây số rồi biến mất.

Một tuần lễ sau, vào lúc nửa đêm anh nghe ngoài cửa có tiếng lạch cach. Mở cửa ra nhìn thì hóa ra con chó quay về. Thân hình của nó gầy còm, dáng vẻ bối rối, rõ ràng là nó đã trải qua một thời gian tìm kiếm khá lâu.

Tuy rất ngạc nhiên nhưng anh ta chẳng nói câu nào, lẳng lặng vào trong nhà lấy ra một chiếc bao tải và cho con chó vào, vứt nó đi một lần nữa.

Lần này anh đi theo đường quốc lộ số 1. Dọc đường đi anh nghe thấy tiếng con chó khóc thúc thít. Khi đến nơi, anh ta mở chiếc bao tải ra, thì thấy toàn là máu.

Ở khóe miệng của con chó, máu vẫn tiếp tục trào ra. Anh dùng tay banh miệng con chó ra thì thấy lưỡi nó đã đứt làm đôi. Hóa ra con chó đã cắn lưỡi tự tử.

Khi người tài xế kể xong chuyện, một không khí im lặng lạ thường bao trùm chiếc xe. Từ chiếc kính chiếu hậu, tôi nhìn thấy khóe mắt của anh ta đỏ lên.

Một lát sau, anh ta mới nói: “Mỗi lần nhìn thấy chó của người khác, tôi đều nhớ đến con chó đã cắn lưỡi tự tử của tôi. Sự việc này khiến cho tôi đau khổ suốt cả một đời. Tôi không phải con người. Tôi không phải con chó.”

Nghe xong câu chuyện của người tài xế, trước mắt tôi như hiện ra cảnh tượng: con chó ấy chạy lang thang giữa núi sâu, giữa những cánh đồng hoang, giữa những thành phố ngoại ô. Để trở về nhà gặp lại chủ nhân, nó đã chạy hàng trăm cây số. Khó khăn lắm mới tìm được đường về nhà, vậy mà chủ nhân không những không mở cửa, không một lời động viên nào còn lập tức vứt nó đi lần nữa.

Đây là một cú sốc lớn chừng nào đối với một con chó trung thành và tình nghĩa. Để khỏi bị chối bỏ lần nữa, con chó đã tự kết liễu đời mình.

Người tài xế kể tiếp. Anh đã mang con chó về chôn cất ở trong vườn, thường xuyên cầu nguyện cho nó. Vậy mà đến nay anh vẫn chưa gạt bỏ được nỗi ân hận trong lòng. Vì thế anh thề rằng, phải kể cho những người nuôi chó nghe câu chuyện này, khuyên mọi người hãy yêu quý con chó của mình nhiều hơn.

Anh hy vọng việc này sẽ giúp anh chuộc lại phần nào tội lỗi của mình.

Một con chó có tình có nghĩa nhưng lại bị vứt bỏ một cách vô tình, điều này khiến cho người tài xế đau khổ suốt cả cuộc đời.

Chó còn như thế huống hồ là con người.

Khi ai đó bỏ mặc một người có tình có nghĩa, liệu anh ta có thể sống yên ổn suốt cả cuộc đời hay không?

Với những kẻ làm cha làm mẹ chối bỏ con cái mình, với những kẻ làm con nhưng lại bỏ mặc cha mẹ tuổi già sức yếu thì tội ác lớn biết chừng nào.

Khoai Lang Sưu tầm.

From: Do Tan Hung & KimBằng Nguyễn

BỆNH TRẦM CẢM: NGUYÊN NHÂN VÀ CHỮA TRỊ

Rung Nga Nguyen

BỆNH TRẦM CẢM: NGUYÊN NHÂN VÀ CHỮA TRỊ

Trầm cảm là căn bệnh thuộc tâm thần đặc trưng bởi sự rối loạn khí sắc. Bệnh do hoạt động của não bộ bị rối loạn gây nên, do một yếu tố tâm lý tạo thành những biến đổi bất thường trong suy nghĩ hành vi tác phong.

Số lượng phụ nữ thường gặp bệnh trầm cảm nhiều gấp đôi nam giới (2 nữ/ 1 nam) xảy ra ở nhiều lứa tuổi, đặc biệt là độ tuổi trưởng thành. Tỉ lệ mắc bệnh trầm cảm ngày một gia tăng, theo tổ chức Y tế Thế giới ước tính mỗi năm có khoảng 850 000 người chết do tự sát vì mắc bệnh trầm cảm, là một bệnh phổ biến ở trên toàn cầu. Tuy nhiên trong số đó những người được chẩn đoán và điều trị kịp thời còn rất thấp khoảng 25%. Trầm cảm do các nguyên nhân sau gây nên:

– Trầm cảm chưa rõ nguyên nhân: có nhiều giả thuyết cho rằng do di truyền, yếu tố tự miễn, môi trường sống, xã hội nhưng chưa thực sự rõ ràng.

– Trầm cảm do căng thẳng: do áp lực từ nhiều phía như công việc, gia đình, con cái, phá sản hay do những điều đột ngột xảy đến như mất đi người thân, mất tiền của,…

– Trầm cảm có thể xuất hiện các bệnh lý hay chấn thương tác động trực tiếp đến não bộ

Triệu chứng trầm cảm khá đa dạng và khác nhau ở mỗi người, chẳng hạn khi bị trầm cảm có người sẽ ngủ nhiều, có người lại rất khó ngủ hoặc có người thi ăn nhiều, trong khi một số người lại mất cảm giác ngon miệng khi ăn. Tuy nhiên, vẫn có những dấu hiệu trầm cảm nhẹ thường xuất hiện như:

– Không thể tập trung.

– Cảm thấy vô cùng mệt mỏi.

– Cảm thấy buồn hoặc trống rỗng.

– Cảm thấy vô vọng, dễ bị kích động, lo lắng hoặc cảm thấy có lỗi.

– Mất hứng thú với việc quan hệ tình dục.

– Nhức đầu, đau bụng hoặc gặp các vấn đề về tiêu hóa.

– Trầm cảm nghiêm trọng có thể dẫn đến ý định tự tử, hoặc cố tìm cách tự tử.

Những thói quen sinh hoạt dưới đây sẽ giúp bạn hạn chế diễn tiến của bệnh trầm cảm:

– Đừng tự cô lập mình.

– Đơn giản hóa cuộc sống.

– Tập thể dục thường xuyên.

– Ăn uống đầy đủ dinh dưỡng.

– Học cách thư giãn và kiểm soát căng thẳng.

– Không nên đưa ra các quyết định quan trọng khi đang cảm thấy chán nản.

Nếu bạn cảm thấy bị trầm cảm với các dấu hiệu và triệu chứng kể trên, hãy hẹn gặp bác sĩ càng sớm càng tốt. Bạn có thể bị trầm cảm nặng nếu không được chữa trị. Trầm cảm không được chữa dẫn đến các vấn đề về thần kinh và thể chất, hay các rắc rối trong các mặt khác của cuộc sống, thậm chí dẫn đến liều lĩnh tự tử.

An An (Dịch từ Naver, tổng hợp)

TỪ MỘT NGƯỜI LƯƠNG DÂN, THEO ĐẠO VÀ TRỞ THÀNH LINH MỤC CỦA CHÚA

Make Christianity Great As Always

TỪ MỘT NGƯỜI LƯƠNG DÂN, THEO ĐẠO VÀ TRỞ THÀNH LINH MỤC CỦA CHÚA

Tân linh mục Phanxico Xavie Lương Văn Tây Dcct, người vừa được Đức Giám mục Giuse Đinh Đức Đạo truyền chức linh mục vào ngày 16/10/2021 tại Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp – Dòng Chúa Cứu Thế, quả thật là một trường hợp rất đặc biệt.

Vào năm 2005, ngài gia nhập Hội Thánh Công giáo khi đã tốt nghiệp Đại học và bắt đầu đi làm.

Hai năm sau ngày Rửa tội, ngài vào tìm hiểu Dòng Chúa Cứu Thế.

Đến năm 2014, ngài tuyên khấn lần đầu và năm 2018 khấn trọn đời trong DCCT.

Và nay trở thành linh mục thừa sai DCCT.

….

Được biết, khi còn là sinh viên, ngài tham gia các nhóm sinh hoạt Công giáo và tham gia trong trào Hướng đạo. Vì “chơi với người Công giáo” nên chú Tây cũng thường xuyên lân la đến Nhà thờ và “ngồi ở ngoài để xem lễ”.

Nhìn thấy chàng thanh niên tham dự thánh lễ cách sốt sắng mà không chịu lên rước lễ, nên quý xơ đã tìm gặp “để hỏi cho biết sự tình như thế nào”. Nghe chú Tây bảo, con là người khác tôn giáo, thế là quý xơ đã “tìm cách rủ rê chú theo đạo”.

Chính quý xơ là người đã dạy giáo lý cho chú Tây, hướng dẫn chú trở thành con cái Chúa.

Mục đích theo đạo của chú Tây là để dâng mình cho Chúa trong ơn gọi dâng hiến. Ước nguyện của chú Tây đã được Chúa nhận lời. Chúa đã chọn chú làm con của Chúa, làm tu sĩ và làm linh mục của Chúa.

Hai ông bà cố của tân linh mục đã qua đời khi ngài mới vào Nhà dòng, nên giờ đây Thiên Chúa là Cha duy nhất của ngài và Hội thánh là người mẹ cưu mang ngài.

Thánh ý Chúa quả thật rất nhiệm mầu. Tạ ơn Chúa muôn đời.

Nguyện xin ơn Chúa Thánh Thần đồng hành và hướng dẫn cha P.x trên nẻo đường sứ vụ, để cha trở thành người mục tử như lòng Chúa mong muốn.

Chúng ta cùng cầu nguyện thật nhiều cho ngài.

May be an image of 2 people, people standing and indoor