Cỡ giám đốc sở mà mấy mươi năm làm việc ăn xài xong còn dư được 2,6 ký vàng và 35 ngàn đô la? Vậy cấp cao hơn như chánh văn phòng, chủ tịch, bí thư tỉnh thì để dành được bao nhiêu? Rồi các cấp trên nữa như vụ, cục, bộ… thì họ tích lũy khủng khiếp đến mức nào?
Ông bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng huỵch toẹt trong 1 hội nghị: “lương bộ trưởng như tôi chỉ có 11.690.000/tháng. Vậy tôi hỏi thật các đồng chí chúng ta có thể sống được bằng mức lương đó không?”
Họ khẳng định tiền lương họ không đủ sống, nhưng họ rất giàu! Vì sao họ giàu? Ông bộ trưởng tài chính Đinh Tiến Dũng nói thẳng luôn: “hành vi ăn hối lộ hơn 5 tỷ đồng của cán bộ cục thuế Bắc Ninh chỉ là ăn vặt”. Vì ông cho rằng, các khoản tham nhũng khác lớn hơn gấp nhiều lần.
Như vậy đã rõ, sự giàu có của các quan chức nhà nước đều do tham nhũng mà có. Bởi, lương họ không đủ sống như lời ông bộ trưởng Đinh Tiến Dũng khẳng định, thì không thể nói họ tích lũy hàng chục tỷ từ tiền lương trong thời gian họ công tác được. Đúng chưa? Và mức độ tham nhũng của họ khủng khiếp đến mức như ông bộ trưởng tài chính nhận xét, tham nhũng mà chỉ có 5 tỷ, đó chỉ là ăn vặt mà thôi. Ghê chưa?
Tiền ở đâu ra mà các quan chức tham nhũng khủng khiếp như vậy? Theo báo Lao Động Nghệ An giải thích: Dân VN đang phải gánh thuế phí nặng nề hàng đầu khu vực, một trong những nguyên nhân là ta phải đóng thuế cao để bù vào những khoản thất thoát khổng lồ do tham nhũng. Báo Dân Trí năm 2019 cũng nêu rõ: Xăng dầu tăng giá mạnh là do Thất thoát hàng chục ngàn tỷ vì tham nhũng. Vậy tiền ở đâu mà họ tham nhũng từ địa phương đến tận trung ương, thì báo chí đã giải thích rồi.
Ở một đất nước mà duy nhất chỉ có 1 đảng cầm quyền, và đảng ấy được quyền tiêu xài ngân sách quốc gia. Khi ngân sách bị cạn kiệt vì các thành viên trong đảng tham nhũng, ăn cắp, thì đảng bắt dân gò lưng đóng thuế để bù vào. Trong khi đó, người dân chẳng được hưởng một dịch vụ nào miễn phí từ tiền đóng thuế của họ, cũng như tiền bán tài nguyên từ ông bà, tổ tiên họ để lại. Không những không được hưởng gì, mà người dân còn phải lo cho quân đội (quỹ ANQP); Lo cho công an (quỹ ANTT); Lo cho giáo dục (quỹ khuyến học); Lo cho các chính sách (quỹ vì người nghèo, quỹ BMVNAH); Lo cho Trời, cho Đất (quỹ phòng chống thiên tai, bão lũ); Lo cho môi trường…
Ối chu choa! Biết đến bao giờ dân đen mới tích lũy được số tiền bằng ông quan kia, để đảng khỏi phải nhọc lòng đấu tranh giai cấp, mà tiến thẳng lên CNXH!
Không có người nào cả đời chỉ toàn niềm vui, và cũng không có người nào cả đời chỉ toàn nỗi buồn; nhưng vẫn luôn có những người chờ mong cuộc sống của mình chỉ toàn niềm vui, đâu biết chính sự chờ mong đó vô tình làm khổ họ, khổ khi vừa thoáng thấy nỗi buồn xuất hiện, buồn khi mọi chuyện không được như ý.
Thứ gì có thể làm cho chúng ta vui như vỡ ra thì ngay bên trong thứ đó luôn ẩn chứa một sức mạnh đủ lớn để có thể xé nát chúng ta, và chỉ những thứ từng sưởi ấm chúng ta mới đủ sức làm chúng ta phải co ro lạnh.
Bám vào niềm vui và ghét bỏ nỗi buồn là cách nhanh nhất để đánh mất bình yên trong lòng, và người đời thường đánh mất bình yên của mình theo cách đó.
Người bình yên nhất là người biết trân trọng mọi thứ, kể cả nỗi buồn. Người đi xa nhất là người biết nhặt lấy từng nỗi buồn, nhặt lấy từng nghịch cảnh, nghịch duyên rồi đốt cháy chúng để làm năng lượng cho cuộc hành trình phía trước. Người thương cuộc sống nhất là người thương được cả từng nỗi đau.
Tôi thích nghe những người ngược going, ngược gió để trở về ngồi thật yên dưới hiên chùa kể chuyện, nghe những thứ đã làm họ tổn thương, nghe cách họ chuyển hóa chúng thành thứ có ích cho cuộc sống của mình.
Làm gì có cuộc đời nào không có nỗi buồn, làm gì có một cuộc đời bình yên, chỉ có trái tim bình yên thôi.
“Phố biến thành sông” chỉ sau một cơn mưa ở Hà Nội
* Trên giấy tờ bằng cấp, VN hiện nay là 1 nước có nhiều Tiến sĩ, Thạc sĩ, Giáo Sư, phó GS nhất thế giới.
Nhưng rất tiếc, Tiến sĩ hay Giáo Sư thật thì không có bao nhiêu, chỉ toàn là ” Tiến Sĩ lu”, ” hay “GS máy bơm” tiền dân bỏ vào túi mà thôi”
Từ bao nhiêu năm qua, các ông Lãnh đạo VN ông nào cũng có bằng Tiến sĩ, GS, phó GS nhưng thủ đô Hà Nội hay các thành phố lớn như Sài Gòn vẫn biến thành sông chỉ qua 1 cơn mưa mà không một ông hay 1 nhóm Kỹ sư, Tiến sĩ nào tìm ra giải pháp để khắc phục thì đủ biết mấy bác TS, GS made in VN nhà mình dỏm đến cỡ nào rồi.
Hết công trình nầy đến dự án khổng lồ nọ tốn hàng tỷ tỷ tiền của ngân sách quốc gia rồi nhưng hỡi ơi, đến mùa mưa thì thật là thê thảm.
Cơn mưa lớn trong hơn một giờ khiến nhiều tuyến phố ở Hà Nội ngập sâu, giao thông ùn tắc, tối 11/5.
“Mưa cuốn theo rác kéo vào trong nhà mùi rất hôi. Tôi phả đứng ở cửa để ngăn rác tràn vào”, một người dân trên phố Tạ Hiện cho biết.
– Đường Nguyễn Trãi ùn ứ kéo dài, nhiều phương tiện nối đuôi nhau di chuyển dưới mưa.
– Đường Vũ Trọng Phụng đang trong giai đoạn thi công cũng ngập sâu, các phương tiện phải dồn lại, chờ nước rút.
– Hệ thống đo mưa ghi nhận 19 điểm ngập khắp thành phố. Điểm đo Hoa Bằng (Cầu Giấy) có lượng mưa lớn nhất hơn 130 mm; Ba Đình, Hoàn Kiếm gần 90 mm; các quận Thanh Xuân, Tây Hồ, Hoàng Mai gần 70 mm.
* Xin hỏi mấy bác Lãnh đạo TS, GS, phó GS khi nào Hà nội & Sài Gòn …hết lụt mùa mưa???
Một ngày nọ, Vua Salomon bỗng muốn làm bẽ mặt Benaiah, một cận thần thân tín của mình. Vua bèn nói với ông: “Benaiah này, ta muốn ông mang về cho ta một chiếc vòng để đeo trong ngày lễ Sukkot và ta cho ông sáu tháng để tìm thấy chiếc vòng đó. ”
Benaiah trả lời: “Nếu có một thứ gì đó tồn tại trên đời này, thưa đức vua, tôi sẽ tìm thấy nó và mang về cho ngài, nhưng chắc là chiếc vòng ấy chắc phải có gì đặc biệt? ”
Nhà Vua đáp: “Nó có những sức mạnh diệu kỳ. Nếu kẻ nào đang vui nhìn vào nó, sẽ thấy buồn, và nếu ai đang buồn, nhìn vào nó sẽ thấy vui”. Vua Salomon biết rằng sẽ không đời nào có một chiếc vòng như thế tồn tại trên thế gian này, nhưng ông muốn cho người cận thần của mình nếm một chút bẽ bàng.
Mùa xuân trôi qua, mùa hạ đến nhưng Benaiah vẫn chưa có một ý tưởng nào để tìm ra một chiếc vòng như thế.
Vào đêm trước ngày lễ Sukkot, ông quyết định lang thang đến một trong những nơi nghèo nhất của Jerusalem. Ông đi ngang qua một người bán hàng rong đang bày những món hàng trên một tấm bạt tồi tàn. Benaiah dừng chân lại hỏi “Có bao giờ ông nghe nói về một chiếc vòng kỳ diệu làm cho người hạnh phúc đeo nó quên đi niềm vui sướng và người đau khổ đeo nó quên đi nỗi buồn không? “. Người bán hàng lấy từ tấm bạt lên một chiếc vòng giản dị có khắc một dòng chữ. Khi Benaiah đọc dòng chữ trên chiếc vòng đó, khuôn mặt ông rạng rỡ một nụ cười.
Đêm đó toàn thành phố hân hoan, tưng bừng đón mừng lễ hội Sukkot.
“Nào, ông bạn của ta, ” Vua Salomon nói, “Ông đã tìm thấy điều ta yêu cầu chưa? “. Tất cả những cận thần đều cười lớn và cả chính vua Salomon cũng cười.
Trước sự ngạc nhiên của mọi người, Benaiah đưa chiếc vòng ra và nói: “Nó đây thưa đức vua”. Khi vua Salomon đọc dòng chữ, nụ cười biến mất trên khuôn mặt vua. Trên chiếc vòng đó khắc dòng chữ: “Điều đó rồi cũng qua đi”
Vào chính giây phút ấy, vua Salomon nhận ra rằng tất thảy những sự khôn ngoan, vương giả và quyền uy của ông đều là phù du, bởi vì một ngày nào đó, ông cũng chỉ là cát bụi.
Sáng đi ăn phở, phở bưng ra đang bốc khói. Bạn tôi hỏi: “Cô ơi, cho cháu ít chanh.”
Chủ quán im lặng.
Lại hỏi: “Cô ơi, có chanh không cho cháu một ít.”
Chủ quán quay sang ra chiều giận dữ, từ khuôn mặt mỡ màng béo tốt, hai vành môi của bà nâng lên sin sít: “Hỏi một lần nghe rồi, tôi có điếc đâu mà hỏi lắm thế!” Bạn tôi im bặt.
Lát sau bà cầm chanh đến, vứt độp trên bàn.
Bạn líu ríu đưa tay với lấy mà hình như vẫn còn run.
Chúng tôi đến một quán nhậu, vừa mở thực đơn ra thì thấy bốc mùi nước mắm, nhoen nhoét bẩn thỉu.
Bạn hỏi nhân viên phục vụ: “Em ơi, sao cái thực đơn bẩn thế?”
Phục vụ lầm lì im lặng.
Bạn tôi bực bội, hỏi tiếp: “Em bị thế này lâu chưa?”
Phục vụ hỏi lại rằng bị gì.
“Thì bị khó khăn đường ăn nói đấy” – bạn tôi đáp.
Rồi bạn kéo tay tôi đi thẳng, vừa đi vừa nói: “Mình đi tìm quán nào có nhân viên biết nói.”
Chuyện dễ gặp ở Hà Nội, một người đàn ông cầm ghế nhựa đuổi theo đánh một khách hàng vì đi vào vỉa hè, vướng đồ của quán ông ấy bày ra.
Trong một cuộc tọa đàm về đô thị, một nhà nghiên cứu về đô thị học thế giới đã khá ngạc nhiên trước cuộc sống trên vỉa hè của Hà Nội. Ông dùng chiếc máy ảnh du lịch của mình, chân bước chậm trên vỉa hè, lách qua những chiếc xô chậu, bàn ghế bày ra, tránh những hàng quán chỉ chực trào ra lòng đường. Và ông chụp, nhiều góc độ trên cái vỉa hè ấy.
Rồi ông nói mỉa rằng người dân Hà Nội “biết vận dụng một cách khôn khéo và đồng thuận không gian công cộng thành không gian riêng của mình.”
Sự phân chia không gian chiếm dụng khiến mọi người đều tự thỏa hiệp với nhau.
Thế nên bạn đừng lạ lẫm khi vô tình chạm chân vào một vài thứ họ bày trên vỉa hè, dù nơi đó bạn được quyền đi lại. Người ta sẽ sấn sổ, đe nạt, mắng nhiếc bạn như đang xâm phạm cái sân của nhà mình.
Rồi bạn có thể cũng tự tin đối đáp lại sòng phẳng về quyền đi lại của mình.
Tuy nhiên, bạn phải vận dụng lý lẽ này để an toàn: Tránh voi chẳng xấu mặt nào.
Bởi tôi đã từng chứng kiến bạn tôi đi ngang hàng phở, tranh cãi kiểu như trên và kết quả là nhận nguyên một muôi nước phở từ tay bà chủ quán vào mặt.
Cây xăng trên đường Láng chiều tối đông người, tôi đang kiên nhẫn đợi đến lượt mình thì một em mặt xinh da trắng, quần ngắn đầu trần (sau đây tạm gọi là em thiên thần) cưỡi xe tay ga lao tới chia cắt đội hình rồi ném cho một ánh nhìn như muốn nói: “Ê anh, cho em tranh chỗ tí.” Chẳng cần anh gật đầu, em ủn bánh xe của em lên trước bánh xe tôi.
Trước nhan sắc, tôi rất bản lĩnh. Tuy nhiên, lúc đó bỗng tình thương trỗi lên, tôi mỉm cười nhân nhượng rồi cong mông đẩy xe mình lùi lại cho em chiếm chỗ.
Đến lượt mình, em đỏng đảnh đẩy xe lên, thanh niên bơm xăng nhìn em giận dữ, nói: “Đi vòng lại xếp hàng, em có mang bầu, tàn tật hay vấn đề gì không mà đòi ưu tiên?”
Thanh niên vừa dứt lời, em thiên thần đã ngúng nguẩy đẩy xe ra khỏi đội hình, vừa đẩy vừa nói: “Mẹ mày, không đổ thì thôi, tao có bầu với bố mày chắc.” Lúc đó, em thiên thần trong mắt tôi đã vội vã bay đi, chỉ để lại hình hài của một thiếu nữ vô cùng đanh đá.
Còn lại tôi với thanh niên bán xăng, thanh niên bán xăng lầm rầm nói trong khói xe tay ga: “Hôm nay anh mà không bận làm thì con đó không xong với anh.”
Tôi chen ngang: “Không xong thì anh định làm gì?”
Thanh niên bán xăng mặt vô cùng hiên ngang, đáp: “Thì chẳng cần đến bố anh, riêng anh đủ làm cho nó có bầu. Chú tin không?”
Ôi, Hà Nội thanh lịch ơi, em đang ở đâu?!
Bạn có thể chưa biết về Hà Nội:
– Nếu bạn đi ăn phở sáng ở Hà nội mà chưa thấy chanh, ớt, tỏi… mà gọi chủ quán lấy cho thì bạn không phải người ở đây. Văn hóa Hà Nội không như Sài Gòn.
– Nếu bạn đi uống cafe mà xin thêm hai lần nước lọc thì coi chừng, bạn có thể phải trả tiền nước lọc hoặc họ nói: Bọn em bán chai Lavie. Nếu bạn chỉ uống cafe mà ngồi lâu quá cũng gây khó chịu cho chủ quán.
– Nếu bạn vào các chợ đầu giờ sáng, chỉ hỏi giá hay xem xong đi thì coi chừng, vía bị đốt sau đó.
– Nếu bạn đi tàu hay xe car về Hà Nội, gần tới bến mà không đeo kính đen và bảo: “Vợ anh đang chờ rồi” thì bạn sẽ bị chỉ vào mặt: “Thằng áo NO U kia của tao,” và lôi rách cái áo lên xe ôm.
– Nếu bạn đi tìm số nhà 258 trên phố nào đó thì coi chừng sẽ có hai chục số nhà như vậy. Đố bạn giao bưu phẩm được nếu không có số di động của người nhận.
Đấy, Hà Nội của bọn mình đấy, bọn các nơi đến cứ chuẩn bị xem trước các lưu ý này nhá
Chúng ta càng cảm tạ Thiên Chúa về những gì Ngài đã làm cho chúng ta thì chúng ta càng có điều kiện để nhận được nhiều phúc lành hơn nữa.
Adolfo Affatato là một trong những người con tinh thần cuối cùng còn sống của Thánh Padre Pio (Pio Năm Dấu). Ở tuổi 82, ông vẫn tiếp tục nói và viết về Thánh Pio. Phần dưới đây được phỏng tạo theo cuốn “Thánh Padre Pio và Tôi” của ông.
Adolfo thường nói rằng lòng biết ơn rất quan trọng đối với Thánh Padre Pio. Một buổi tối, Adolfo hỏi ngài rằng liệu Chúa có tha thứ mọi tội lỗi hay không. Ngài trả lời: “Này con trai, Thiên Chúa là Cha nhân lành, và Ngài đã tha thứ cho mọi người. Tuy nhiên, có một tội mà Ngài khó tha thứ, đó là SỰ VÔ ƠN của con người.” Rồi ngài nói thêm: “Nhưng Thiên Chúa biết cách chờ đợi.”
Ở đây nổi lên một trong những sứ mệnh được Chúa giao cho Thánh Padre Pio: đưa những con chiên lạc trở lại bầy. Một hôm, Adolfo đi cùng với một chính trị gia đến thăm cha Pio. Họ gặp nhau tại ga xe lửa ở Foggia.
Trong bữa ăn trưa, người bạn mới đã nói theo cách khiến Adolfo đầy phỏng đoán. Ông ấy cảm thấy có thể làm bất cứ điều gì mình muốn. Ông ấy tiếp tục nói rằng trong đời mình, ông ấy đã ba lần thề nguyện, nhưng lần nào cũng thất bại. Khi nghe nói về cha Pio, ông ấy muốn gặp vị thánh dòng Capuchin và theo hướng dẫn ngài.
Khi họ đến nhà ga ở San Giovanni Rotondo, Adolfo và chính trị gia lên lầu đợi cha Pio. Khi đi xuống để giải tội cho họ, cha Pio nói theo thói quen như vẫn nói với các tu sĩ trong dòng: “Hãy chúc tụng Chúa Giêsu Kitô.” Quay sang Adolfo, ngài nói: “Hôm nay anh là ai?” Adolfo trả lời: “Thưa cha, những người này muốn cha phúc lành.”
Thánh Padre Pio nói: “Thật tuyệt khi bạn đem tôi đến đây. Hãy nói với ông ấy rằng ông ấy đã thề hứa ba lần và ba lần ông ấy đã thất bại. Đây là cơ hội cuối cùng mà Thiên Chúa ban cho ông ấy. Ông ấy nên đến trước Thánh Thể và cầu xin tha tội cho mình.” Không chào ông chính trị gia, ngài đi xuống cầu thang để nghe lời thú tội. Adolfo đã bị tấn công. Đó là một trong nhiều tình tiết khác, trong đó ông ấy đã trực tiếp trải nghiệm những món quà siêu nhiên của Thánh Pio.
Mặc dù Adolfo thường trải nghiệm sự quý mến, phương diện phụ tử của Thánh Pio, nhưng đây là mặt khác của ngài – vị linh mục nghiêm khắc đối với những người đã phạm tội với Chúa và bỏ bê bổn phận của họ là một tín nhân. Thánh Pio đã phải chịu đựng rất nhiều trước những biểu hiện của sự vô ơn bạc nghĩa như vậy.
Không ai ngoại trừ chính chính trị gia và Thánh Pio biết chính xác ông ấy đã phạm tội gì và đã vi phạm những lời thề nào. Có khả năng đọc được tâm hồn của người khác, Thánh Pio có thể nhìn thấy những gì người khác không thể thấy. Adolfo cảm nhận được sự trống trải băng giá bao trùm lấy chính trị gia lúc đó. Ông ấy đã bật khóc, một cơn khủng hoảng của sự chuộc lỗi.
Sau đó, cha Onorato nói với Adolfo rằng tối hôm đó ngài đã hỏi Thánh Pio rằng liệu có quá gay gắt với chính trị gia kia hay không. Thánh Pio trả lời ngay: “Nếu cha có thể xem xét kỹ lưỡng các linh hồn, cha sẽ thấy trong lòng người đó không chỉ có bảy tội nặng, mà là bảy mươi tội.”
Chỉ vào cốc nước trên bàn gần chiếc giường, ngài nói tiếp: “Hãy nhìn chiếc ly đầy nước kia. Nếu người ta không làm sạch nó và đổ đầy nó bằng tình yêu thương của Thiên Chúa thì sẽ không bao giờ có bình an.” Adolfo nghe nói rằng sau cuộc gặp gỡ đó, chính trị gia bắt đầu hoàn toàn đổi đời. Qua Thánh Pio, quyền năng Thiên Chúa đã mở cánh cửa trái tim của ông, dù đã bị khóa bởi sự kiêu hãnh, và lấp đầy nó bằng lòng bác ái.
Thời giờ đã đến. Thánh Pio nói: “Chúa biết cách chờ đợi.” Qua Thánh Pio, Adolfo hiểu rằng lòng biết ơn là một đức tính vĩnh cửu. Chúng ta càng cảm tạ Thiên Chúa về những gì Ngài đã làm cho chúng ta thì chúng ta càng có điều kiện để nhận được nhiều phúc lành hơn nữa. Thiên Chúa không muốn gì hơn nữa, và đến lượt chúng ta, chúng ta nên giống như những thiên thần sẵn sàng giúp đỡ những người gặp khó khăn.
Năm 1991, Đài Loan có cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên sau 45 năm chịu sự kiểm soát toàn diện của Quốc dân Đảng (KMT). Cạnh tranh giữa các đảng phái bắt đầu xuất hiện.
Một trong những cuộc cạnh tranh quan trọng nhất là về chính sách bảo hiểm y tế. Để giành chiến thắng, các đảng phải đưa ra chính sách sao cho ngày càng có nhiều người dân được hưởng phúc lợi hơn.
Sự cạnh tranh còn tạo động lực để các vấn nạn thể chế như tham nhũng được đưa ra ánh sáng, bóc tách và sửa chữa. Dưới áp lực cạnh tranh, các đảng phái cũng buộc phải tự sửa mình.
Trong thời kỳ độc tài, một danh tính Trung Hoa chung được áp đặt lên người Đài Loan. Chỉ đến khi các đảng phái khác xuất hiện, người dân mới bắt đầu lên tiếng đấu tranh cho một căn tính khác của riêng mình.
Công trình nghiên cứu của Dafydd Fell trong quyển “Party Politics in Taiwan” cung cấp bằng chứng cho các thay đổi tích cực mà cạnh tranh đảng phái góp phần tạo ra ở Đài Loan.
Vào năm 1987, khi chính phủ Đài Loan tuyên bố chấm dứt tình trạng thiết quân luật, nước này đã xác lập một kỷ lục không hay ho gì: là quốc gia có tình trạng thiết quân luật lâu nhất trên thế giới tính đến thời điểm đó (kéo dài gần bốn thập niên).
Dưới chế độ độc tài của Quốc dân Đảng, người Đài Loan không có tự do ngôn luận, không được tự do lập hội, và không có quyền bầu ra những lãnh đạo của đất nước. Những tiếng nói đối lập đều bị thẳng tay đàn áp, bỏ tù hoặc giết hại.
Tranh minh họa thời kỳ thiết quân luật tại Đài Loan. Nguồn: Taiwan Times.
Ngày nay, chỉ ba thập niên sau khi bức màn kiểm soát quân sự bị xé bỏ, Đài Loan lột xác trở thành một trong những quốc gia dân chủ tự do nhất thế giới. Thể chế dân chủ của nước này được đánh giá là số một ở châu Á, vượt qua cả Nhật Bản lẫn Hàn Quốc.
Những quả ngọt của quá trình dân chủ hóa tại Đài Loan đến rất nhanh và rất sớm. Ngay trong những năm đầu tiên kể từ khi cải cách, người dân đã chứng kiến các thay đổi thực tế trong hầu hết các vấn đề, từ quốc kế dân sinh đến chủ nghĩa dân tộc.
Các thay đổi này có thể được tìm thấy trong quyển sách “Party Politics in Taiwan” của Dafydd Fell, một nhà khoa học chính trị chuyên nghiên cứu về Đài Loan. Ông là giảng viên Khoa Chính trị và Quan hệ quốc tế thuộc Đại học London, Anh. Cuốn sách là công trình nghiên cứu của tác giả về sự thay đổi của các đảng phái và quá trình dân chủ hóa tại Đài Loan từ năm 1991 đến 2004.
Thông qua phân tích các thông điệp tuyên truyền bầu cử, phỏng vấn trực tiếp quan chức cấp cao của các đảng, thu thập ý kiến từ những chuyên gia, tác giả kết luận rằng việc cạnh tranh trong bầu cử đem lại một môi trường tích cực cho toàn bộ xã hội Đài Loan.
Các đảng phái nâng cao năng lực quản trị, người dân có được những đại diện thực chất giúp giải quyết các vấn đề của mình, còn các vấn đề xung đột dần đạt được đồng thuận thông qua tranh luận cởi mở và công khai.
Nghiên cứu của Dafydd Fell tập trung vào ba vấn đề lớn: đưa ra chính sách trợ cấp xã hội, xử lý nạn tham nhũng và xác định danh tính dân tộc.
Trợ cấp xã hội: hướng đến công bằng cho tất cả
Trước thập niên 1990, ngoài tầng lớp lãnh đạo, tại Đài Loan có một nhóm người được hưởng đặc quyền đặc lợi. Nhóm này được gọi là “quân công giáo” (jungongjiao), viết tắt từ quân đội, công chức và những người làm việc trong ngành giáo dục. Đa phần họ đều là đảng viên Quốc dân Đảng, vốn là điều kiện tiên quyết để thăng tiến trong sự nghiệp.
Họ ủng hộ nhiệt thành các chính sách của Quốc dân Đảng, đổi lại nhận được trợ cấp xã hội hậu hĩnh. Trong khi đó, người dân thuộc các ngành nghề khác được hưởng rất ít, hoặc không có được bất kỳ trợ cấp nào từ chính quyền.
Theo thống kê, vào năm 1991, trong số chi tiêu trợ cấp của chính phủ, nhóm “quân công giáo” hưởng đến 74%.
Lịch sử phức tạp của Đài Loan góp phần tạo nên sự thiên lệch này.
Vào năm 1949, khi Quốc dân Đảng thất trận tại đại lục, họ chạy sang Đài Loan, đem theo bộ máy chính quyền cũ và những quân nhân công chức trong hệ thống đó. Những người này được gọi là “người đại lục” (Mainlanders) để phân biệt với “người Đài Loan” (Taiwanese), sinh ra và lớn lên tại đảo quốc. Nhóm người đại lục chỉ chiếm thiểu số, nhưng nắm độc quyền và hưởng đặc lợi. Sự bất bình đẳng này gây ra nhiều mâu thuẫn sắc tộc.
Dưới chế độ thiết quân luật, chính quyền đàn áp đẫm máu những ai dám lên tiếng phản đối. Các mâu thuẫn bị đè nén, không được bàn luận công khai. Chỉ tới khi những đảng phái khác xuất hiện, các chính sách bất công này mới bị thách thức.
Đảng Dân tiến (DPP) là một trong những đảng đầu tiên nêu ra vấn đề cải cách trợ cấp xã hội, với việc yêu cầu phải có chính sách y tế và lương hưu công bằng cho mọi người dân.
Tuy mới thành lập, không có thực quyền, nhưng những yêu cầu của Đảng Dân tiến nhận được nhiều sự ủng hộ từ cử tri.
Nắm bắt được xu thế đó, Quốc dân Đảng nhanh chóng “cướp diễn đàn”, giành quyền ban hành chính sách bảo hiểm y tế. Với lợi thế nắm đa số tại Quốc hội, vào năm 1994, họ nhanh chóng thông qua luật về Bảo hiểm y tế toàn dân (National Health Insurance – NHI). Chính sách này thành công lớn, nhận được hơn 70% sự ủng hộ từ người dân. Trong các cuộc bầu cử sau này, Quốc dân Đảng vẫn thường nhắc lại NHI như một lá bài ghi điểm quan trọng.
Tranh cổ động tham gia chương trình Bảo hiểm y tế toàn dân (NHI) của Đài Loan. Nguồn: nhi.gov.tw.
Đây là trường hợp hiếm hoi một đảng phái “cướp” thành công diễn ngôn của phe đối lập và biến nó thành lợi thế riêng.
Về phần mình, Đảng Dân tiến không từ bỏ cuộc chiến. Họ đưa yêu cầu cải cách về lương hưu, một vấn đề lớn khác của trợ cấp xã hội.
Giống như trường hợp bảo hiểm y tế, Quốc dân Đảng cố gắng đưa ra đề xuất cải cách lương hưu của riêng họ để đáp trả. Tuy nhiên, do các xung đột nội bộ liên quan đến lợi ích nhóm, Quốc dân Đảng không ra được quyết sách nào về vấn đề này.
Đổi lại, khi Đảng Dân tiến nắm quyền vào năm 2002, họ đã thông qua các luật cải cách về chế độ lương hưu cho người dân như lời hứa.
Sự cạnh tranh của các đảng phái ngày càng giúp nhiều người dân Đài Loan được hưởng lợi ích công bằng từ chế độ phúc lợi xã hội.
Tham nhũng thể chế: Từ trắng sang đen và bị xóa bỏ
Trước thập niên 1990, nhiều hình thức tham nhũng tại Đài Loan được thể chế hóa, hay hoàn toàn hợp pháp mà không ai dám lên tiếng thách thức. Nhiều người còn không nghĩ rằng đó là chuyện xấu cần phải loại bỏ.
Đây cũng là một vấn đề có căn nguyên lịch sử.
Khi chính quyền Quốc dân Đảng bỏ chạy sang Đài Loan, họ là những kẻ mới tới. Để thiết lập được bộ máy cai trị hiệu quả, Quốc dân Đảng cần đến sự hợp tác của các nhóm người có quyền lực tại địa phương (local factions). Một mối quan hệ cộng sinh được thiết lập.
Chính quyền trung ương tạo điều kiện cho các nhóm lợi ích địa phương thiết lập hoạt động kinh tế độc quyền, cho tiếp cận với nguồn vốn trung ương và giao cho họ các hợp đồng nhà nước béo bở. Các hoạt động làm ăn phi pháp như cờ bạc hay vũ trường cũng được nhắm mắt bỏ qua. Đổi lại là sự ủng hộ tuyệt đối của các băng nhóm địa phương này cho Quốc dân Đảng.
Trong nhiều thập niên, đây là hình thức “tham nhũng trắng” (white corruption), hoàn toàn hợp pháp và không ai dám thách thức sự tồn tại của nó, cho đến khi các đảng phái khác xuất hiện và lên tiếng.
Khảo sát top 10 vấn đề được các đảng lớn nêu ra trong các quảng cáo tranh cử từ năm 1991 đến 2000. Tham nhũng (political corruption) là một trong những vấn đề hàng đầu. Nguồn: Sách “Party Politics in Taiwan”.
Trong cuộc bầu cử tự do đầu tiên của Quốc hội mới vào năm 1992, Đảng Dân tiến đặt chống tham nhũng là vấn đề trọng tâm, với các khẩu hiệu và chiến dịch quảng cáo trên truyền thông chỉ trích trực diện Quốc dân Đảng đang nắm quyền lúc đó.
Lần đầu tiên các ứng viên giàu có của Quốc dân Đảng bị phe đối lập đặt cho cái tên “bò vàng” (kim ngưu), với cáo buộc họ có nguồn tiền vô hạn, không minh bạch, sẵn sàng chi tiêu xả láng cho việc tranh cử, thậm chí là mua phiếu bầu.
Các “bò vàng” gây ra bất mãn cao trong xã hội, khiến ngay cả nội bộ Quốc dân Đảng cũng lên tiếng phản đối việc đề cử những nhân vật tai tiếng này.
Năm 1993, những người có xu hướng chống tham nhũng trong Quốc dân Đảng liên kết với Đảng Dân tiến cùng thông qua một đạo luật chống tham nhũng, bắt buộc các quan chức cấp cao phải công khai tài sản và nộp vào trong một quỹ quản lý.
Trong cuộc bầu cử Quốc hội năm 1995, Đảng Dân tiến tung ra một quảng cáo truyền hình trong đó nhấn mạnh 67,77% số ứng viên của Quốc dân Đảng là những người có quan hệ với các băng nhóm tội phạm hoặc nhóm lợi ích địa phương.
Ngoài ra, tại một cuộc họp báo vào năm 1995, một nhà lập pháp thuộc Đảng Dân tiến công bố số tài sản công mà Quốc dân Đảng tích lũy qua nhiều thập niên cai trị đất nước lên tới 150 tỷ Đài tệ (hơn 5 tỷ USD theo giá trị hiện tại).
Đối diện với các cáo buộc này, Quốc dân Đảng hầu như im lặng.
Tuy vậy, trước sức ép của công luận và phe đối lập, các lãnh đạo của đảng cầm quyền cũng phải lên tiếng.
Bộ trưởng Tư pháp Mã Anh Cửu vào năm 1995 hứa với công luận sẽ “đá bay tệ nạn mua phiếu bầu ra khỏi Đài Loan”.
Năm 1996, tại một Hội nghị phát triển dân tộc, Quốc dân Đảng lần đầu tiên đồng ý sẽ thay đổi các chính sách về tài sản của đảng (theo cáo buộc của phe đối lập là tài sản công), đồng thời cải cách các cuộc bầu cử tham nhũng tại địa phương.
Năm 2000, khi vận động cho cuộc bầu cử tổng thống, ứng cử viên Liên Chiến và cũng là Chủ tịch của Quốc dân Đảng đã hứa sẽ chấm dứt các hoạt động làm ăn kinh doanh của đảng, nộp các tài sản của đảng vào công quỹ và cắt bỏ liên hệ với những ứng viên có dính dáng đến nguồn tiền không minh bạch.
Tại Đài Loan, chống tham nhũng dường như không có vùng cấm. Cả hai cựu tổng thống Lý Đăng Huy (trái) và Trần Thủy Biển đều từng bị truy tố về tội tham nhũng. Ảnh: UDN.
Vấn đề tham nhũng thể chế, hay “tham nhũng trắng”, từ việc được xem là bình thường, sau khi bị dư luận và các đảng phái đối lập nêu ra chỉ trích, đã dần bị đặt lại đúng vị trí “tham nhũng đen”, trở thành mục tiêu mà các chính đảng đều quyết tâm loại bỏ để lấy lòng cử tri.
Danh tính dân tộc: Từ gốc gác Trung Quốc đến căn tính Đài Loan
Trong nhiều thập niên kể từ khi thất trận phải chạy về Đài Loan, chính quyền Quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch vẫn luôn nuôi mộng quay về “giải phóng đại lục”.
Họ thiết lập các chính sách kinh tế, giáo dục, văn hóa với mục tiêu một ngày nào đó quay lại phản công quân đội cộng sản. Tiếng phổ thông (Mandarin) là ngôn ngữ duy nhất được sử dụng chính thức. Các tiếng địa phương đều bị cấm. Một căn tính Trung Hoa chung được áp đặt cho toàn bộ người Đài Loan.
Đến khi các đảng phái khác xuất hiện, người dân mới bắt đầu lên tiếng đấu tranh cho một căn tính khác của riêng mình.
Đảng Dân tiến đi đầu trong việc cổ vũ cho một danh tính riêng biệt của người Đài Loan, độc lập hoàn toàn với Trung Quốc đại lục.
Việc có một căn tính khác biệt có liên hệ mật thiết với yêu cầu dân chủ hóa đất nước.
Quốc dân Đảng cho tới cuối thập niên 1980 vẫn từ chối tổ chức bầu cử tự do cho các vị trí trong Quốc dân Đại hội (National Assembly) và Quốc hội (Legislative Yuan). Những thành viên trong các cơ quan này đa số vẫn là những người đã được bầu vào thập niên 1940 tại đại lục, sau đó theo chân Tưởng Giới Thạch chạy sang Đài Loan.
Quốc dân Đảng xem mình là đại diện hợp pháp duy nhất cho toàn bộ đất nước Trung Quốc. Dưới chế độ Quốc dân Đảng, Đài Loan vẫn là một phần của Trung Quốc, nằm trong danh tính chung của toàn bộ đất nước Trung Hoa. Nếu để người Đài Loan bầu ra chính quyền và lãnh đạo mới, các cơ quan này sẽ không còn đại diện được cho “tất cả người dân Trung Quốc”.
Nói cách khác, dưới danh tính (là một phần của) Trung Hoa, người Đài Loan không thể có dân chủ.
Bãi bỏ thứ danh tính cũ này, tạo ra một căn tính độc lập vì vậy là một phần của yêu cầu cải cách dân chủ.
Không chỉ có Đảng Dân tiến, ngay cả Quốc dân Đảng và các đảng phái khác cũng tham gia sôi nổi vào quá trình thảo luận và đề xuất lựa chọn ra một hướng đi riêng cho đất nước.
Người Đài Loan biểu tình với khẩu hiệu “Đài Loan không phải là Trung Quốc, Đài Loan là Đài Loan”. Nguồn: Taiwan News.
Cùng với việc mở rộng cửa đón nhận người bản địa Đài Loan gia nhập đảng, Quốc dân Đảng bắt đầu nói nhiều hơn về một “Đài Loan mới” với những đặc điểm riêng biệt. Họ cũng không còn nhắc lại nhu cầu phải “giải phóng Trung Quốc”. Thậm chí theo thời gian, Quốc dân Đảng tự xây dựng hình ảnh tương đối trung lập trong vấn đề này, chống lại chủ trương “thống nhất sớm” với Trung Quốc của các đảng cực hữu lẫn đường lối “độc lập ngay” của các nhóm cực tả.
Về phần mình, Đảng Dân tiến cũng tự biết điều chỉnh. Khi chủ trương tuyên bố độc lập khiến họ nhận thất bại nặng nề trong các cuộc bầu cử năm 1991 và 1996, các lãnh đạo đảng đã giảm bớt mức độ cực đoan. Họ đưa ra các đường lối phù hợp hơn với số đông, như nhấn mạnh đến nguyên tắc “tự chủ” (self-determination) thay vì giương cao ngọn cờ “độc lập” (independence), vốn bị chỉ trích là có thể gây ra chiến tranh với Trung Quốc.
***
Các cuộc thảo luận công khai của những đảng phái giúp người dân có được nhiều lựa chọn. Và bằng lá phiếu của mình, người dân giúp các chính đảng thay đổi để đến gần nhất với nguyện vọng của cử tri.
Ngay cả khi thắng trong một cuộc bầu cử, đảng phái cũng phải tính đến lá phiếu trong tương lai của người dân để thay đổi. Như trường hợp của Quốc dân Đảng, dù chiến thắng cuộc bầu cử năm 1996, nhưng họ vẫn phải đưa ra cam kết thay đổi để chống tham nhũng như chủ trương của phe đối lập.
Hoặc trường hợp của Đảng Dân tiến, khi nhận ra đường lối độc lập của mình không được lòng cử tri, họ bắt buộc phải đổi tông, đồng thời tìm ra các vấn đề dân sinh khác (như trợ cấp xã hội, chống tham nhũng) để giành được sự ủng hộ của người dân.
Thông qua chế độ cạnh tranh công khai và công bằng, tất cả thành phần trong xã hội đều được lợi.
Năm 2006, Nguyễn Thiện Nhân được giao nắm giữ trọng trách Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Báo chí thường gọi là Tư lệnh Mặt trận giáo dục, bởi ở thời điểm đó cho đến hết nhiệm kỳ Phạm Vũ Luận, người kế nhiệm của ông Nhân, giáo dục được xem là “trận đánh”.
Cũng năm ấy, một chiến sỹ tiên phong là Đỗ Việt Khoa, chưa có lệnh đã tự phát xông lên tấn công vào hang ổ giặc ngay tại điểm thi tốt nghiệp phổ thông trung học ở Vân Tảo. Tư lệnh mặt trận đích thân đến nhà trao Bằng khen, tương đương như là Huân chương chiến công, kèm phần thưởng là quyển sách dạy đạo đức làm người. Đỗ Việt Khoa trở thành người hùng, VTV làm luôn cả một chương trình “Người đương thời” vinh danh cả hai: Nguyễn Thiện Nhân – Đỗ Việt Khoa.
Chiến dịch “Nói không với bệnh thành tích”, “Nói không với tiêu cực trong thi cử” bắt đầu mở màn, sôi động và đầy hào khí, hơn cả trận Xích Bích thời Tam quốc. Cả nước hưởng ứng, đi đâu cũng thấy giăng khẩu hiệu đỏ rực tinh thần cách mạng.
Năm sau đó, 2007, một cuộc thi tốt nghiệp trung học phổ thông diễn ra nghiêm túc. Kết quả, chỉ 60% đỗ tốt nghiệp, có nơi chỉ 40%, thậm chí 20%! Vậy là khoảng 40% quân Tào coi như bị hoả công của quân Đông Ngô thiêu cháy hoặc cho chết đuối khi vượt vũ môn Trường Giang???
Khí thế chống học giả, thi giả, nhân tài giả đang lên cao trào. Tướng tiên phong Đỗ Việt Khoa lại lập chiến công mới ở Đồi Ngô. Nhưng bất ngờ, Tư lệnh Mặt trận ra lệnh cho tổ chức thi lại lần hai, đồng thời lại ra lệnh cho các giáo viên trong vòng một tháng phải dạy phụ đạo sao cho số 40% té nước ấy phải đậu, nếu không sẽ bị kỷ luật!
Kế sách này nhân đạo gấp vạn lần Nguyễn Trãi cho 20 vạn binh Vương Thông giong cờ mở trống về nước. Nhưng thật là gây khó cho đội ngũ giáo viên: dạy học cách nào chỉ trong vòng một tháng mà có được trình độ vượt vũ môn như cá có được chân để leo cây? Cái sự khó ấy còn khó hơn Chu Du lệnh cho Khổng Minh trong vòng 3 ngày phải có được 10 vạn tên trước khi vào trận Xích Bích, nếu không sẽ bị mất đầu?
Ông Thuyết, ông Thống chê trình độ giáo viên phổ thông kém, cần tập huấn, bồi dưỡng đủ loại chương trình, từ các loại chứng chỉ lặt vặt đến học modul, nhưng sự thực lịch sử đã chứng minh mỗi giáo viên đã là một Khổng Minh tái thế. Mỗi giáo viên tự làm thuyền cỏ bơi giữa sương mù để mượn tên quân Tào, người hùng Đỗ Việt Khoa có mắt thánh cũng không thể nhận ra. Kết quả là cuộc thi lần hai, hơn 40% học sinh đã vượt vũ môn một cách dễ dàng. Vậy là tổng cộng hai cuộc thi, gần 100% học sinh đã đỗ tốt nghiệp trung học phổ thông một cách mỹ mãn. Nếu mỗi giáo viên là một Khổng Minh thì mỗi học sinh cũng là một Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Tử Long… Tất cả đều tiến lên toàn thắng ắt về ta!
Nhân tài thật là đấy chứ đâu?
Với bài học lịch sử ấy, ai không tin chứ tôi thì tin sâu sắc rằng chiến dịch “Học thật, Thi thật, Nhân tài thật” hiện nay sẽ thực hiện thành công vang dội hơn xưa!
Ngày xưa có ba ông thầy : một thầy xem tướng, một thầy tính số, và một thầy phong thủy cùng nhau đi chu du khắp nơi. Một ngày, các thầy tới thăm một nông trại.
Lúc đó trời đã tối nên cả ba xin được tá túc qua đêm. Thế là, ba ông thầy tướng số theo chân gia nhân vào trong nhà. Cả ba người được chủ nhà chào đón rất chân tình. Chủ nhà sai người dâng trà rồi lại làm cơm thịnh soạn thiết đãi. Sau đó, ba thầy được sắp xếp nghỉ ngơi trong một phòng khách bài trí hài hòa, đồ đạc giản dị, gọn gàng ngăn nắp.
Trước khi đi ngủ, thầy tướng nói với hai thầy còn lại: “Hai huynh đệ, tôi thấy vị chủ nhà này ngũ quan phá tướng không tốt chút nào. Trán hẹp, lệch, tướng yểu, nghèo khổ”.
Thầy xem số bàn thêm: “Ông này mệnh triệt, thân tuần. Ba cung tam hợp mệnh, tài, quan đều không tốt, lại có số không giữ được tiền của.”
Ông thầy phong thủy tổng kết: “Vậy là tướng không tốt, số cũng chẳng lành. Kỳ lạ thật, tại sao ông ta lại có thể giàu có được nhỉ ? Tôi thấy người gác cổng kia còn có tướng làm ông chủ hơn đấy. Phải chăng nhờ mồ mả gia tiên ở nơi âm trạch tốt nên ông ta mới được như vậy?”. Ba thầy nằm thao thức mãi không ngủ được, mong trời mau sáng.
Sáng hôm sau, ba thầy cùng ngỏ ý muốn đi xem âm trạch. Chủ nhà vui vẻ đồng ý và đích thân dẫn ba thầy đi xem phần mộ.
Đường đi khá vòng vèo và xa xôi lại còn phải đi qua suối. Nhưng khi quay về, chủ nhà lại dắt họ đi một đường khác. Đường về thì ngược lại rất gần, chẳng vòng vèo như lúc đi.
Ba thầy hỏi: “Sao khi đi ông không đi đường này mà đi vòng chi cho xa ?”.
Chủ nhà từ tốn đáp: “Khi dẫn ba thầy ra tới cổng, tôi thấy người hàng xóm đang cắt trộm lúa của tôi. Nếu tôi đi qua đó, thấy tôi họ sẽ bỏ lúa mà chạy. Tôi biết vì đói nên họ mới làm vậy chứ bản tính không phải phường trộm cắp, nên muốn đi đường vòng để tránh không làm họ tủi thân.”
Cả ba thầy đều gật đầu nói rằng: “Ồ, vậy Ngài được chữ ĐỨC, chính ĐỨC đã thay đổi vận mệnh của Ngài. Chính Tâm hành thiện của Ngài đã tích được ĐỨC!