Virus không biết vâng lời Đảng!

Virus không biết vâng lời Đảng!

Bởi  AdminTD

Jackhammer Nguyễn

24-6-2021

Việc chống dịch Covid-19 tại Việt Nam vào cuối tháng 6/2021 rối như canh hẹ. Nồi canh hẹ này có vài gia vị tiêu biểu như sau:

Chính phủ gọi điện thoại khắp nơi trên thế giới xin trợ cấp thuốc ngừa, nhưng chưa có gì khả quan. Điều dễ hiểu là không phải các nước kia xấu bụng, mà họ không có dư để mà cho.

Nước Mỹ có tiềm lực dồi dào, đang hồi phục thì đâu thể … ưu tiên cho Việt Nam được, vì Mỹ cũng không quá dư thừa để đủ giúp các nước đồng minh, thì có đâu cho Việt Nam. Mình là cái gì của người ta đâu mà người ta ưu tiên?

Thuốc nội địa thì không tới đâu, vừa định lấp liếm cho qua truông thì bị báo chí phanh phui ghê quá, lại thụt vào.

Việc cách ly thì, cứ bật chỗ này, bung chỗ nọ, hoặc là đóng rồi mở như ở Gò Vấp, thành Hồ hồi đầu tháng 5/21.

Đóng cửa trị dịch thì không làm ăn được, dân nghèo thiếu đói, các doanh nghiệp không hoạt động được. Mà mở cửa thì dịch hoành hành, nên đóng không được, mà mở thì cũng không xong.

Đây là kết quả của việc điều hành quốc gia với phương châm chính trị là thống soái, thiếu sự suy luận hợp lý của những cái đầu bình thường. Nó cũng là lối suy nghĩ dựa trên chủ trương “bạo lực cách mạng”, đàn áp, độc quyền chân lý,… từ đó mất một cái nhìn toàn thể, không thể hiểu được sự việc một cách toàn cục, có gốc, có ngọn.

Khi dịch bệnh mới bắt đầu, dựa trên hệ thống toàn trị có sẵn, Hà Nội đạt được thành công trong việc chặn dịch. Từ thành công đó, dàn đồng ca chính trị từ thủ tướng cho tới các cư dân mạng “lề đảng”, lập tức la toáng lên, nào là “Việt Nam trên đà chiến thắng Covid-19”, nào là “lúc hoạn nạn mới biết đâu là cường quốc”, nào là người nước ngoài “hối tiếc vì năm ngoái đã vội rời Việt Nam”, và rằng, “nếu cột điện ở Mỹ biết đi, thì sẽ về Việt Nam”…

Biếm họa Việt Nam tự hào về chống dịch. Ảnh trên mạng

Không ai có thể phủ nhận hệ thống toàn trị của đảng Cộng sản Việt Nam rất hữu hiệu trong việc… đàn áp. Nhưng đàn áp đây là đàn áp bọn “phản động”, những người bất đồng chính kiến, đàn áp những công nhân đình công, nông dân đòi đất, còn virus thì lại không có chính kiến, nó vượt qua các chốt dân phòng, công an… dễ dàng. Các nhóm bất đồng chính kiến thì rất vất vả đễ tập hợp thêm người, trong khi virus thì nhân bản hàng triệu lần, chỉ trong vài giây!

Virus không cần lương công nhân, không cần đất nông dân. Virus không ngán “chuyên chính vô sản” lẫn “ba dòng thác cách mạng”, nó cũng không sợ “đấu tranh giai cấp” hay là “bạo lực cách mạng”, nó có thể tiến vào văn phòng trung ương đảng trong chớp mắt, cho dù đảng trưởng có tập hợp vài chục triệu dân, hô to “chống dịch như chống giặc”, cũng không thể chặn sự lây lan của nó!

Buồn cười nhất là khi đợt dịch thứ tư hiện nay nằm ngoài tầm kiểm soát, các cán bộ “hồng hơn chuyên” của Đảng bèn so sánh “dịch Covid-19 và ‘biến thể virus mới’ chống phá cách mạng Việt Nam” và rằng dịch đang dâng cao cũng đừng quá lo lắng, vì đó là lúc dịch đang “giãy chết”!

Lần giở những trang sử cộng sản từ lúc mới thành lập cho đến lúc chết yểu, chuyện chính trị hóa khoa học, có thể thấy, là điều không hiếm, và có thể nói đó là đặc trưng của các nhà cầm quyền cộng sản. Hai ví dụ rất rõ về  chuyện này ở hai nước cộng sản lớn nhất thế giới thuở trước:

  1. Liên Xô có quan chức khoa học Trofim Lysenko, cho rằng, nhà sinh học Pháp Lamarck là chân lý. Ông Lamarck cho rằng các sinh vật có thể tập tành để thích nghi trong thời gian ngắn. Lysenko bác bỏ thuyết di truyền của Mendel. Các nhà khoa học Soviet nào theo thuyết di truyền đều bị trù dập, vì Lysenko được nhà độc tài đỏ Stalin ủng hộ hết mình. Soviet và nước Nga ngày nay, bị phương Tây bỏ xa về khoa học di truyền.
  2. Còn Trung Quốc cộng sản có chiến dịch diệt chim sẻ của Mao Trạch Đông, bất chấp mọi lý lẽ khoa học, bất chấp mọi kiến thức về sinh thái con người có được đến thời điểm đó. Kết quả là, sau khi chim sẻ bị tiêu diệt, mùa màng trở nên thất bát vì sâu bọ phá hại.

Thật ra những kiểu “học phiệt” này của xã hội cộng sản xuất phát từ chính mô hình của nó, cho rằng xã hội con người có một “quy luật” bất di bất dịch. Khoa học dưới chế độ cộng sản được tiến hành trong những cái khuôn có sẵn và bị áp chế bởi những ý chí chính trị.

Khoa học Soviet và Trung Quốc không phải không đạt được những bước tiến, nhưng thường là nhờ một ý chí chính trị, dồn mọi nỗ lực của xã hội để làm một điều gì đó, bất kể tốn kém và những phi lý. Một cường quốc hạt nhân như Liên Xô lại không sản xuất được máy photo và giấy vệ sinh thì không đủ cho công dân mình dùng. Sự tốn kém trong việc chế tạo các thiết bị quân sự đã góp phần làm đế chế Soviet kiệt quệ và sụp đổ.

Sau 30 năm chấp nhận kinh tế thị trường, cuộc sống vật chất của người Việt có phần khá hơn, nhưng kiểu cách dùng ý chí chính trị để lấn át khoa học trong điều hành quốc gia, không thay đổi. Các chương trình chính trị, dù có giảm bớt, vẫn là bắt buộc trong trường đại học, ở cả những lĩnh vực khoa học thực nghiệm chẳng liên quan gì đến chính trị cả.

Cuối tháng trước, tôi có viết một bài đăng trên Tiếng Dân, trích lời một nhà triết học Pháp từng là cộng sản, ông Albert Camus, rằng “Muốn chống được dịch thì phải đàng hoàng”. Đàng hoàng ở đây rất đơn giản, đó là suy nghĩ một cách bình thường, chấp nhận những bài học vỡ lòng về khoa học, khoa học thực nghiệm, khoa học quản lý, khoa học xã hội, chấp nhận sự đa dạng.

Những người đang cai trị Việt Nam nếu tiếp tục không đàng hoàng, thì không những họ không chống dịch được, mà họ cũng sẽ không thể đưa nước Việt đi lên như nó xứng đáng được như thế.

CHÂN PHƯỚC GIÁM MỤC MYKOLAY CHARNETSKYI, C.Ss.R. (1884-1959)

 May be a black-and-white image of 1 person, beard and eyeglasses

Hôm nay (28/6), Dòng Chúa Cứu Thế mừng kính Chân phước Giám mục Mykolay Charnetskyi và các bạn tử đạo dưới chế độ Cộng sản Xô Viết.

CHÂN PHƯỚC GIÁM MỤC MYKOLAY CHARNETSKYI, C.Ss.R.

(1884-1959)

Mykolay Charnetskyi sinh ngày 14 tháng 12 năm 1884 trong một gia đình nông dân đông con và ngoan đạo ở làng Semakivka, tây Ukraina. Nhà có 9 anh em, Mykolay là con cả. Ngài bắt đầu đi học ở làng Tovmach rồi vào trường thánh Ni-cô-la ở Stanislaviv (bây giờ là Ivano-Frankivsk).

Từ khi còn là một thiếu niên, Charnetskyi đã nhận thấy ơn gọi làm linh mục và ngài ngỏ ý muốn bước theo. Năm 1903, Đức Giám mục Hryhoriy Khomyshyn gởi ngài đi học ở Rô-ma. Trong một lần về thăm ngắn ngủi Ukraine, ngày 2 tháng 10 năm 1909, Đức cha Hryhoriy Khomyshyn phong chức linh mục cho ngài. Cha Mykolay trở lại Rô-ma tiếp tục học và nhận học vị tiến sĩ thần học.

Mùa thu năm 1910, cha Charnetskyi làm giáo sư triết và thần học tín lý tại chủng viện Stanislavis. Ngài cũng là cha linh hướng của Đại chủng viện này. Tuy nhiên, sâu trong tâm tư, cha Mykolay mong ước sống đời tu sĩ. Vì thế, vào tháng 10 năm 1919, ngài vào nhà tập Dòng Chúa Cứu Thế ở Zboiska, gần Lviv. Năm sau, ngày 16 tháng 10, ngài tuyên khấn.

Năm 1926, đầy nhiệt huyết hoạt động cho sự hiệp nhất giữa các tín hữu Ki-tô và giúp những người bị bỏ rơi trở về với Công giáo, các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế tỉnh Lviv lập một trung tâm truyền giáo tại Kovel trong vùng Volhyn. Vị thừa sai hăng hái Charnetskyi được gởi đến đó. Hầu như ngay lập tức ngài được dân chúng địa phương hết lòng kính trọng, ngay cả các giáo sĩ Chính thống. Một nhà thờ và một tu viện đã được xây dựng tại Kovel. Cha Mykolay đã làm hết sức mình để bảo tồn sự tinh túy của nghi thức phụng vụ Đông phương. Năm 1931, quan tâm tới công việc đầy hy sinh của cha Charnetskyi, Đức giáo hoàng Pi-ô XI trao cho ngài chức Giám mục tông tòa Lebed và là Đại diện tông tòa tại Giáo hội Công giáo Ukraina miền Volhyn và Pidliashsha. Những miền này trở thành nơi hoạt động của Charnetskyi, trước tiên trong tư cách là một nhà truyền giáo, sau như một giám mục, trong gần 14 năm.

Là Giám mục Dòng Chúa Cứu Thế đầu tiên tại Ukraina, ngài kinh nghiệm sự ngược đãi ngay từ lúc bắt đầu công việc. Trong thời gian quân đội Xô-viết chiếm đóng miền tây Ukraina, năm 1939, Dòng Chúa Cứu thế bị áp lực phải rời miền Volhyn, giám mục Charnetskyi chuyển về Lviv, tới ở tại tu viện Dòng Chúa Cứu Thế đường Zyblykevycha (nay là đường Ivana Franka).

Sau khi phục hồi lại Học viện thần học Lviv vào năm 1941, giám mục Mykolay Charnetskyi tham gia giảng dạy triết lý, tâm lý và thần học luân lý. Sự điềm tĩnh đặt nền tảng trên lòng tin chắc chắn không lay chuyển, tinh thần vâng phục và cầu nguyện của ngài khiến các sinh viên có lý mà cho rằng cha giáo của họ là một ông thánh. Đối với họ, giám mục Mykolay Charnetskyi vừa là một người đạo hạnh, vừa là một tu sĩ gương mẫu.

Năm 1944, quân Xô-viết tiến vào Galicia lần thứ hai. Đây là mốc khởi đầu đường thương khó của giám mục Charnetskyi. Ngài bị bắt ngày 11 tháng 4 năm 1945, bị mật vụ Xô-viết bắt giam tại đường Lonskoho. Ở đó, ngài chịu nhiều đau đớn: nửa đêm bị kêu dậy hỏi cung, bị đánh đập và tra tấn tàn nhẫn. Sau đó, Giám mục Charnetskyi được chuyển về Kiev, trải qua một năm đau khổ cho đến khi trường hợp của ngài được mang ra xét xử. Ngài bị kết án 10 năm tù giam về tội làm tay sai cho Vatican, chịu tù đày cùng với Đức Tổng giám mục Yosyf Slipyi, ban đầu thì ở thị trấn Mariinsk vùng Kemeroc, Siberia, sau đó tại một số nhà tù khác cũng thuộc vùng đó.

Theo những nguồn tin đáng tin cậy, trong thời gian tù đày từ khi bị bắt ở Lviv tháng 4 năm 1945 cho đến khi được phóng thích vào năm 1956, giám mục Charnetskyi đã phải trải qua tất cả là 600 giờ thẩm vấn và tra tấn, chuyển qua đến 30 nhà giam và trại tù khác nhau. Dù phải chịu nhiều đau khổ như thế, ngài vẫn luôn luôn tìm lời an ủi các bạn tù, nâng đỡ họ về mặt đạo đức và biết tên tất cả. Chẳng có gì lạ khi hầu như tù nhân nào cũng biết giám mục Charnetskyi, ngài như nguồn an ủi duy nhất của họ.

Giám mục Mykolay Charnetskyi trải qua những năm tù cuối cùng trong bệnh xá trại tù ở Mordovia. Năm 1956, sức khỏe ngài suy sụp đến độ các bác sĩ cho rằng không còn hy vọng gì sống sót. Các tù nhân qua đời được mặc một cái áo dài đặc biệt để chôn, và người ta đã may xong cho ngài. Thấy một giám mục đã đến hồi tuyệt vọng, và có thể cũng muốn tránh tiếng đã gây ra cái chết cho một giám mục, ban quản trị nhà tù quyết định phóng thích và gởi ngài về Lviv. Sau khi trở về Lviv vào năm 1956 cùng với bệnh viêm gan và một số bệnh tật khác, ngài phải nhập viện ngay. Ai cũng cho rằng ngài chẳng còn sống được bao lâu nữa. Nhưng Chúa có kế hoạch khác, Người quyết định kéo dài đời của một con người mà sự trung thành và việc làm đã được Giáo hội Ukraina lượng giá và cần đến. Chẳng bao lâu, vị giám mục lại hồi phục và chuyển về căn hộ số 7 đường Vechirnia cùng với thầy trợ sĩ Klymentyi. Ở đó, ngài tiếp tục kiên nhẫn làm việc tông đồ và cầu nguyện. Hầu như ngài đọc sách và cầu nguyện cả ngày. Những người đến thăm ngài trong thời gian này làm chứng rằng họ thường thấy ngài ở trong tình trạng xuất thần. Tại Lviv, Giám mục Charnetskyi vẫn trung thành với sứ mạng mục tử nhân lành: ngài nâng đỡ tinh thần anh em, chuẩn bị cho các tiến chức linh mục và phong chức cho hơn mười thầy.

Đáng tiếc là sự bình phục lạ lùng của ngài không kéo dài được lâu. Ngày 2 tháng 4 năm 1959, ngài đón nhận cái chết lành thánh. Lời cuối cùng của ngài là kêu xin sự nâng đỡ của Mẹ Hằng Cứu Giúp. Lễ an táng được cử hành vào ngày 4 tháng 4 năm 1959. Điếu văn lưu giữ tại văn khố tỉnh Yorkton (Canada) kết thúc như sau: “Chúng tôi nghĩ rằng sẽ đến ngày ngài được phong hiển thánh, vì ngài quả thật là một vị giám mục thánh thiện.”

Ai biết đến Giám mục Mykolay Charnetskyi cũng đều nhất trí xác nhận sự thánh thiện của ngài. Cũng không có gì ngạc nhiên khi thấy ngay sau khi ngài chết, nhiều người đã bắt đầu cầu nguyện với ngài. Có người đã nhận ra dấu chỉ đây là một vị thánh có khả năng cầu bầu cùng Thiên Chúa khi cầu nguyện nơi mộ Giám mục Charnetskyi tại nghĩa trang Lychakiv. Nhiều ơn huệ khác nhau đã được Thiên Chúa ban cho những người đến viếng mộ xin ngài nguyện giúp. Một phụ nữ có cánh tay sắp bị cưa được chữa lành hoàn toàn nhờ lấy đất lấy nơi mộ xoa vào tay. Từ đó, người ta bắt đầu lấy đất nơi mộ ngài để chữa đủ thứ bệnh tật.

Quan tâm đến những lời chứng về đời sống thánh thiện của Giám mục Mykolay Charnetskyi, cách riêng về sự kiên trì chịu đựng, lòng can đảm và sự trung thành với Hội thánh Chúa Ki-tô trong thời gian bị bắt bớ, việc xin phong Chân phúc cho ngài được bắt đầu vào năm 1960. Ngày 2 tháng 3 năm 2001, tiến trình hoàn tất ở cấp độ địa phương và được đệ trình lên Tòa thánh. Ngày 6 tháng 4 năm 2001, Ủy ban thần học xác nhận Giám mục Charnetskyi tử vì đạo. Ngày 23 tháng 4, Hội đồng các Hồng y chấp nhận. Và ngày 24 tháng 4 năm 2001, Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II phong Chân phước cho vị giám mục trung thành với niềm tin Ki-tô giáo.

=Truyền Thông Thái Hà=

HAI CUỘC ĐỔI ĐỜI

HAI CUỘC ĐỔI ĐỜI

Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Hôm nay chúng ta mừng kính thánh Phêrô và Phaolô tông đồ.  Các ngài là cột trụ của Hội Thánh.  Các ngài là những viên đá tảng, đá quý để xây dựng toà nhà Hội thánh vững chắc và toả rạng cho khắp năm châu.

Các ngài là cột trụ của niềm tin cho toàn thể Hội thánh.  Một niềm tin không gì có thể lay chuyển đến nỗi “ma quỷ cũng không thắng nổi.”  Một đức tin can trường đến nỗi dầu có chịu nhiều thiệt thòi, dầu có phải trải qua những gian truân cùng khốn: tù đầy, đói rét hay phải bôn ba rày đây mai đó, phải vượt qua biết bao phong ba bão tố, các ngài vẫn vui lòng chấp nhận vì được thông phần đau khổ với Thầy Giêsu.

Hai con người này tuy được sự giáo dục khác nhau, và hấp thụ hai nền văn hoá khác nhau, nhưng họ lại đi chung một đường, và cùng chung một lý tưởng.  Cuộc đời các ngài đều phải lội ngược dòng để làm lại cuộc đời, để thay đổi cách sống sao cho phù hợp với niềm tin của mình.

Thực vậy, nhìn vào đời sống hai trụ cột của Hội thánh, chúng ta thấy: một Phêrô đã từng sa ngã.  Ông đã từng can ngăn không muốn cho Chúa nộp mình chịu chết.  Ông đã đi đến tận tùng của sa ngã là hành vi chối Chúa đến ba lần trong cùng một đêm.  Một Phaolô đã hăng say lùng bắt các môn đệ của Chúa.  Chính ông đã đồng loã với những người quá khích ném đá vị tử đạo đầu tiên là Stephano.  Thế nhưng, ý Chúa nhiệm mầu.  Tình yêu của Chúa đã thắng vượt những yếu đuối của Phêrô và Phaolô.  Chúa đã dùng muôn nghìn cách để đổi đời các ngài.  Chúa đã tạo cho các ngài cơ hội để chuộc lại lỗi lầm.  Chúa đã nói cùng Phêrô: “một khi con trở lại hãy củng cố đức tin của anh em con.”

Theo Thánh Kinh kể lại: Sau khi chối Thầy lần thứ ba, từ trên pháp đình Chúa nhìn xuống Phêrô, Ngài biết hết!  Phêrô chột dạ.  Phêrô nhớ lại lời Thầy: “Nội trong đêm nay, trước khi gà gáy con đã chối Thầy ba lần.”  Tức thì, Phêrô lầm lũi ra khỏi pháp đình, nước mắt tuôn trào, tâm hồn nặng trĩu, một cái gì đó đã chết trong ông.  Vâng, đã chết rồi, niềm tự hào, tự tin quá mức.  Còn lời nào biện mình cho hành động hèn nhát của ông.  Còn đâu lời khẳng khái: “mọi người có bỏ Thầy, riêng con thì không bao giờ.”  Ông chỉ là cát bụi, ông biết mình chỉ là cát bụi, hèn yếu và rất dễ sa ngã.  Nhưng đêm hôm đó, một biến cố trọng đại đã “đổi mới” tâm hồn Phêrô.  Lòng ăn năn bộc phát và lòng khiêm nhường chân thành đã biến Phêrô thành người thuyền trưởng trên con tàu Giáo hội.

Còn Phaolô thì sao?  Sau khi ngã ngựa đau đớn bởi một luồng sáng chói loà.  Mắt ông không còn thấy gì nữa, ông như kẻ bị mù trong ba ngày.  Nhưng thật ra, tâm hồn ông lại sáng.  Ông đang thấy và thấy rất rõ.  Đó là Đức Giêsu, Người đã Sống lại thật, lên trời ngự bên hữu Chúa Cha.  Đó là sự thật mà ông phải chấp nhận.  Một sự thật mà từ nay ông phải làm chứng về những điều đã nghe, đã thấy, và đã biết.

Vâng, có thể nói, nhờ sự đổi mới cuộc đời của Phêrô và Phaolô mà cả thế giới được đổi mới.  Văn hoá Kitô giáo đã làm mới lại bộ mặt địa cầu.  Có thể nói ở đâu đó vẫn có những người chưa tin vào Chúa nhưng họ đã được thấm nhuần văn hoá Kitô giáo, vẫn còn có những người được đổi mới cuộc đời nhờ vào lời Chúa và sức mạnh của Tin Mừng.  Ở đâu đây vẫn còn những tâm hồn thất vọng, lầm than nhưng họ đã bừng lên niềm hy vọng nhờ những giá trị tin mừng mà Kitô giáo mang lại cho họ.

Mừng kính hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, mỗi người chúng ta được mời gọi tiếp nối truyền thống của các tông đồ mang Tin Mừng đến khắp cùng trái đất.  Mỗi người chúng ta cũng là những viên đá sống động, góp phần xây dựng toà nhà Hội thánh.  Dù nhỏ bé, yếu hèn và bất lực, nhưng Chúa sẽ dùng tuỳ theo nhu cầu của Ngài.  Chính Ngài sẽ đổi mới cuộc đời chúng ta bằng ân sủng và tình thương của Ngài, để nhờ đó chúng ta cũng có khả năng đổi mới môi trường chúng ta đang sống.  Đồng thời chúng ta hãy cầu nguyện nhiều hơn cho Đức Thánh Cha, cho các giám mục là những Đấng kế vị thánh Phêrô và các tông đồ.  Xin Chúa ban thêm sức mạnh, nghị lực và ơn khôn ngoan, để các ngài luôn là điểm tựa cho niềm tin của chúng ta. Amen!

Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

VẾT SẸO

VẾT SẸO

Mẹ ruột chúng tôi mất sau khi sinh em trai út của tôi. Chị Như, chị hai tôi, lúc đó mới lên mười. Tôi, đứa con gái thứ hai, lên tám ốm quặt quẹo. Sau nữa, thằng Thành, năm tuổi, tròn như củ khoai ngơ ngác đi tìm mẹ suốt ngày.

Hai năm sau cha tôi tục huyền với người phụ nữ con nhà gia thế, một phụ nữ đẹp mới 27 tuổi. Chúng tôi gọi người này là “má”. Cha đi làm từ sáng đến tối, giao phó toàn bộ việc chăm nom con cái cho má tôi. Má làm trăm thứ việc không mấy khi ngơi tay. Chị em tôi no đủ, sạch sẽ, nhà cửa chúng tôi gọn gàng, bữa cơm dọn lên lúc nào cũng nóng sốt.

Cha tôi chung sống với má sau được ba năm thì đau nặng rồi mất. Lúc sắp ra đi, cha không còn nói được chỉ nhìn má tôi rồi khóc. Má lúc đó trẻ quá, đẹp quá lại chẳng phải má ruột của chúng tôi…

Cha vừa nằm xuống được mươi ngày đã có người đến đòi xiết nhà, xiết đồ. Gia đình nhà má khăng khăng bắt má về gả chồng. Rồi một ngày kia má kêu bán nhà, trả hết nợ rồi lặng lẽ dắt díu chúng tôi đi. Đó là năm 1978. Chúng tôi ở đậu nhà người chị họ xa của má, gọi là dì tư Tím. Dì làm nghề ướp cá, bán cá, dì góa bụa và nghèo khó. Căn nhà của dì không khác hơn cái chòi canh dưa là mấy, vậy mà còn chứa thêm má và bốn đứa chúng tôi. Dì tư Tím đem biếu ba con gà mái dầu cho một người quen để xin cho má một chân hộ lý trong bệnh viện đa khoa.

Hằng ngày, má dậy từ 3g30 sáng, vào bệnh viện nấu nước, châm nước cho những bệnh nhân dậy sớm rửa mặt, pha sữa, pha trà để kiếm thêm chút tiền còm mua sách vở cho chị em tôi đi học. Sáu giờ má tất tả về nhà lo cho chúng tôi ăn sáng và đến trường. Bảy giờ má trở lại bệnh viện lau cầu thang, lau sàn, cọ rửa nhà vệ sinh, thay trải giường cho người bệnh, gom rác đem đi đốt… Sau năm giờ chiều, má còn nhận giặt thuê quần áo cho những bệnh nhân khá giả. Đến tám giờ tối má mới về đến nhà, mệt rã rời.

Hôm nào mưa gió má về sớm hơn. Má mua về cho chị em tôi mỗi đứa một trái bắp nướng hay một túi đậu nành rang thơm giòn. Mấy chị em nằm bên má trên một manh chiếu rách, nghe má kể chuyện đời xưa. Thằng út Tài sợ lạnh cứ ôm chặt má mà khen sao má ấm quá. Thằng Thành nhõng nhẽo đòi má gãi lưng. Cũng có khi má dạy chúng tôi những bài hò, bài vè để cả nhà thành một “dàn đồng ca” rất ăn ý, rất vui nhộn, mặc ngoài kia gió thổi mưa tuôn…

Mỗi năm vào ngày giỗ mẹ tôi, má làm một mâm cơm tươm tất. Rồi má thắp mấy nén nhang thơm, gọi hết bốn chị em tôi lại bên bàn thờ mà nói: “Đây là mẹ ruột của các con, người đã sinh ra và nuôi nấng các con. Tuy mẹ các con mất rồi nhưng ở trên trời mẹ các con vẫn luôn phù hộ cho các con mạnh khỏe”. Vào ngày giỗ ba, má cũng làm như vậy. Ngày ấy cũng như mãi tới bây giờ cũng vậy, tôi vẫn tin ba mẹ tôi ở trên trời nhìn thấy chúng tôi.

Có một sáng người ta đưa má về. Chân má bị phỏng nước sôi do một bệnh nhân chạy vấp vào má. Vết phỏng rất lớn. Do ăn uống thiếu thốn, sức đề kháng yếu nên chỗ phỏng trên chân má rất lâu không lành, cứ sưng lên đau nhức. Má mất ngủ nhiều, ốm rạc như con cò. Chị hai khóc, năn nỉ má cho đi đổ nước thay má mà má không cho đi. Rồi má nén đau, cố lê chân đi làm trở lại. Về sau vết bỏng ở chân má làm sẹo, một sẹo lồi nhăn nhúm chạy từ cổ chân đến hết mu bàn chân trái. Dáng má đi không còn tự nhiên nữa.

Dì tư Tím mua được một căn nhà ở gần chợ, bán rẻ căn nhà lá cho má con tôi. Năm đó chị hai tôi thi đậu vào Trường cao đẳng Sư phạm Cần Thơ. Thương má cực nhọc, chị định bỏ học đi làm thuê. Má cương quyết không cho. Chưa bao giờ má cương quyết như vậy. Thắp nén nhang trên bàn thờ ba, má khấn (cốt cho chị hai nghe): “Con gái lớn của mình định bỏ học. Khi về nơi chín suối, em biết nhìn anh sao đây…”.

Chị hai khóc, xin lỗi má rồi chấp nhận đi học. Hai năm sau tôi cũng vào đại học và cũng được má sắp soạn vali quần áo cho tôi rồi đưa đi. Mở cái vali ra nhìn mà thương má đứt ruột: ngoài quần áo, má còn bỏ vào kim chỉ, dầu gió, tem thư, bông băng thuốc đỏ, thuốc cảm…

Dường như má có thể gói trọn sự thương yêu của má vào trong từng thứ một. Bốn năm, chị em tôi ra trường lênh đênh tìm việc thì cũng là lúc thằng Thành vào Đại học Luật TP.HCM và năm sau nữa là thằng Tài vào Đại học Y Cần Thơ. Làm sao đong được sự vất vả, cực nhọc của má lúc ấy. Lưng má còng đi, tóc đã lốm đốm bạc, da tay chai sần.

Nhiều năm trôi qua má lần lượt dựng vợ gả chồng cho ba đứa con lớn. Thằng Tài vẫn ở với má và chưa có gia đình riêng. Giờ nó là bác sĩ ngoại khoa của bệnh viện mà xưa má làm hộ lý. Nó tâm sự rằng hễ đi trực đêm mà nghe tiếng rao “nước sôi đây” là giật mình thảng thốt tưởng như tiếng má, nghẹn thắt cả lồng ngực.

Những ngày rảnh rỗi, chị em tôi dẫn lũ con về với má cho má vui. Đám trẻ quấn quít với má không rời nửa bước. Đứa nhổ tóc sâu, đứa bóp tay, đứa bóp chân cho bà. Một lần bé Du con tôi xoa vào vết sẹo trên chân má mà nói: “Bà ngoại ơi, con bị phỏng tay có một chút đã đau ghê. Ngoại phỏng nhiều vậy chắc là khiếp lắm…” Má tôi cười: “Lâu quá, ngoại quên mất rồi”.

Một chiều mưa tôi về thăm má, nằm bên má tâm sự chuyện chồng con. Mưa ầm ào, mưa tầm tã, tôi kêu lạnh má liền kéo mềm đắp cho tôi, tôi thì lại đắp cho má y như lúc tôi còn nhỏ ngủ chung với má vậy. Chân tôi lạnh tôi tìm hơi ấm nơi chân má. Tôi chạm vào vết sẹo trên cổ chân má, cái vết sẹo đã thành thân thuộc với tôi vậy mà tự nhiên tôi rơi nước mắt.

Nghĩ lại, tôi có chồng có con, vợ chồng tôi luôn quấn quít đầm ấm… Còn má, má chỉ được hạnh phúc làm vợ trong ba năm lẻ. Trong những năm tháng dằng dặc sau này, chắc cũng có lúc má khát khao một hạnh phúc riêng tư, cũng có lúc má cô đơn, mệt mỏi mà không có ai chia sẻ. Má ơi, sự lựa chọn của má sao nghiệt ngã quá vậy!

Đã bao lần má kể cho các con tôi nghe những câu chuyện cổ tích về công chúa, về hoàng tử, về các cô tiên xinh đẹp… Một ngày kia con tôi lớn lên, tôi sẽ kể cho các con tôi nghe về “Bà Tiên” của chị em tôi, bà tiên tóc bạc, dáng đi hơi khập khiễng vì một vết sẹo dài… Truyện cổ tích má viết cho chúng tôi bằng cả sự nhọc nhằn, sự đau đớn, bằng nước mắt, mồ hôi và bằng cả cuộc đời của má.

Lê Thúy Bảo Nhi

P/S : Đây là một câu chuyện dự thi “cuộc thi viết ngắn về Mẹ”, của báo TT mà lúc đó Bảo Nhi đoạt giải nhì. Một câu chuyện có thật của người bạn bác sĩ giảng viên ĐHCT cũng là ân nhân của mình

May be an image of 2 people and indoor

Ly hương, sự chọn lựa nghiệt ngã!!!

Van Pham

Ly hương, sự chọn lựa nghiệt ngã!!!

Nguyễn Thị Oanh.

Cuối cùng cũng đến ngày em gái út cùng chồng và con sang Mỹ định cư. Thế là lại thêm một gia đình người thân nữa của tôi rời bỏ đất nước này.

43 tuổi, em đang có việc làm ổn định ở một doanh nghiệp nhà nước với mức thu nhập vài chục triệu đồng mỗi tháng. Hai vợ chồng có biệt thự, xe hơi và chồng còn sở hữu một cơ ngơi làm ăn riêng, tuy nhỏ nhưng cũng đáng để cho nhiều người phải mơ ước. Vậy mà điều gì đã khiến các em bỏ hết mọi thứ và dắt díu ba đứa con nhỏ dại từ giã quê hương để bắt đầu làm lại cuộc sống nơi xứ người cách đây nửa vòng trái đất? Câu trả lời nghe vẫn quen thuộc như nhiều lần tôi đã từng nghe: “Vì tương lai con cái!”.

Vâng! Đó là lý do mà rất nhiều người Việt trong dòng chảy nhập cư nước ngoài những năm gần đây thường nêu lên để giải thích cho việc ra đi của mình. Thật chua chát khi hơn 45 năm sau ngày 30-4-1975, ký ức “thuyền nhân” lại trở về dưới một dạng thức khác.

Lần này, các “thuyền nhân” ra đi không phải trong tâm thế trốn chạy hoảng loạn, vội vã mà là được cân nhắc, chuẩn bị cẩn thận. Không phải trên những chiếc thuyền lênh đênh đầy bất trắc mà là trên những chuyến bay tiện nghi, an toàn. Không phải lén lút, vô định mà là công khai và được chuẩn bị sẵn mọi thứ cho đến khi cầm visa trong tay mới lên đường. Các công ty tư vấn nhập cư dạo này nhan nhản khắp nơi với những chương trình mời gọi đi định cư châu Âu, Mỹ, Canada, Úc…

Giờ gặp nhau, người ta hỏi thăm đã có PR (permanent resident) của nước nọ nước kia chưa, như một điều bình thường! Người có tài tìm đường đi theo dạng skill worker hoặc doanh nhân khởi nghiệp.

Người có tiền thì bỏ tiền ra mua quốc tịch hoặc “thẻ xanh” cho nhanh. Người ít cả tiền và tài thì hy vọng kiếm được một suất đi lao động nước ngoài rồi tìm đường ở lại bằng đủ cách.

Lớp trẻ đi du học hầu hết cũng không muốn trở về. Năm 2014, báo chí thông tin có 12/13 quán quân của cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” không trở về nước sau khi kết thúc thời gian du học ở Úc với học bổng toàn phần cho người chiến thắng chung cuộc. Con số đó đến nay chắc đã tăng thêm sau sáu năm.

Tháng 7-2017, Hiệp hội Quốc gia chuyên viên địa ốc Hoa Kỳ công bố báo cáo hằng năm cho thấy Việt Nam đứng trong top 10 nước hàng đầu mua nhà tại Mỹ.

Trả lời BBC, tổ chức này cho biết chỉ trong thời gian từ tháng 4-2016 đến tháng 3-2017, công dân Việt Nam đã mua bất động sản tại Mỹ trị giá lên tới 3,06 tỷ USD. Đó là mới tính số tiền chuyển đi để mua nhà tại Mỹ chứ chưa tính ở các nước khác và tất nhiên, đó cũng chỉ là phần nổi của tảng băng!

Đất nước như một bao gạo bị thủng để trí lực, tài lực cứ chảy dần ra nước ngoài cho đến khi rỗng ruột. Quê hương chôn rau cắt rốn ở đây mà dường như chỉ là chốn dừng chân tạm bợ với rất nhiều người Việt bây giờ…

Làm sao có thể trách em tôi cũng như hàng triệu người dân khác đã và đang tính bỏ nước ra đi?

Bởi cái lý do “vì tương lai con cái” nghe nhẹ bâng vậy mà trĩu nặng quá chừng! Sự lo toan và hy sinh vô bờ cho con cái vốn là nét văn hoá đặc trưng của người Việt. Những bậc cha mẹ thuộc nhiều thế hệ đã trải qua các cuộc chiến tranh trên đất nước nhỏ bé này, càng khổ cực nhiều ở đời mình lại càng thấm thía sâu sắc ước mơ về một cuộc sống bình yên và hạnh phúc cho đời con cháu.

Nhưng nỗi lo bây giờ không còn là chuyện cơm ăn áo mặc hàng ngày cho phần “con”, như trong thời kỳ phải thắt lưng buộc bụng vì chiến tranh và sự mông muội. Nỗi lo bây giờ là về chất lượng cuộc sống cho nhu cầu của phần “người”.

Có thể nào sống an yên khi môi trường bị phá hoại tàn khốc, tài nguyên đất nước bị khai thác tới cạn kiệt, thực phẩm bẩn tràn lan khắp nơi và tham ô thì như ổ dịch bệnh hoành hành từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài?

Có thể nào sống hạnh phúc khi nền giáo dục và y tế ngày càng xuống cấp, các phúc lợi xã hội không chỉ kém chất lượng mà còn tiếp tục giảm sút, các giá trị văn hoá – đạo đức bị tha hoá và đảo lộn…

Bây giờ, bước ra đường là thấy lo: Lo nạn cướp giật, móc túi; lo tai nạn giao thông; lo ăn uống bị ngộ độc thực phẩm; lo hít khói bụi bị ung thư; lo bọn trẻ bị dụ dỗ sa vào ma túy hoặc bị xâm hại, bắt cóc… Cứ thế mà ngút ngàn triền miên lo.

Thà chỉ phải lo cơm áo như ngày xưa còn dễ hơn bội phần! Xã hội càng bất ổn, lòng người càng bất an. Làm sao có thể yên tâm để con cái lớn lên trong một môi trường sống như vậy?

Chưa kể, những lời đồn đoán về một tương lai xám xịt của đất nước gắn với những thỏa thuận của Việt Nam và Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô năm 1990 cũng là một trong những nguyên nhân gây hoang mang khiến cho nhiều người phải tính đường tháo chạy trước. 30 năm qua, Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam vẫn giữ bí mật, nhất quyết không công khai những nội dung đã ký kết với Đảng cộng sản và Nhà nước Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô. Vì thế, những đồn đãi càng ngày càng lan rộng, bất chấp mọi nỗ lực trấn an dân chúng của chính quyền. Và dù đã bước sang thế kỷ 21, thế nhưng nhà nước Việt Nam vẫn chủ trương quản lý, định hướng về tư tưởng và bưng bít thông tin không khác gì ở trong thế kỷ trước.

Hôm biết tin Quốc hội đã thông qua Luật An ninh mạng, một người quen của tôi là tiến sĩ trong lĩnh vực tài chính từng hăm hở từ Mỹ trở về nước cách đây 10 năm ngậm ngùi chia sẻ:

“Em đã hoàn tất thủ tục cho cả gia đình trở lại Mỹ cách đây mấy tháng, nhưng vẫn còn cố nấn ná… Giờ thì phải ra đi thôi chị ạ, không thể để bọn trẻ lớn lên trong bầu không khí ngày càng ngột ngạt thế này…”.

Bao nhiêu người trẻ có tri thức và nặng tình với quê hương đã “vội vã trở về, vội vã ra đi” như thế?

***

Hồi đi thăm Israel, tôi thường đứng lặng thật lâu trước hình ảnh những con tàu hồi hương hiện diện khắp mọi nơi, như một niềm kiêu hãnh trong lịch sử lập quốc của đất nước này. Đó là những chuyến tàu từ châu Âu, châu Mỹ… đưa hàng triệu người Do Thái ở khắp nơi trên thế giới trở về xây dựng quê hương sau khi Israel chính thức được thành lập vào năm 1948. Những gương mặt người Do Thái hồi hương khi ấy còn vương nét nhọc nhằn sau Thế chiến, nhưng vẫn bừng sáng niềm hy vọng vào tương lai và ý chí quyết tâm kiến thiết quốc gia. 70 năm sau khi lập quốc, ngày nay Israel đã trở thành một trong số các quốc gia phát triển hàng đầu và là nền kinh tế lớn thứ 34 thế giới (tính theo GDP danh nghĩa năm 2016). Những chuyến tàu hồi hương ngày đó đã mang về cho quốc gia này vốn liếng quý nhất là những con người tinh hoa để xây dựng thành công một đất nước đã từng không có tên trên bản đồ thế giới.

Còn chúng ta? Sau 75 năm thành lập và thống nhất đất nước (dài hơn thời gian lập quốc của Israel), những chuyến tàu (cả tàu thuỷ và tàu bay) sao lại chỉ mang dân ta ra đi mà không có trở về?

Lịch sử dân tộc Việt Nam dường như gắn liền với các cuộc di dân, nhưng chua xót hơn là cho tới tận bây giờ, những cuộc di dân ra nước ngoài vẫn chưa biết bao giờ mới dừng lại?

Bao câu hỏi cứ quay quắt trong tôi khi nghĩ đến em gái. Ngoài kia, trời Sài Gòn vẫn vần vũ mưa. Tiếng hát Thái Thanh vọng từ nhà ai đó nghe nức nở:

“Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui, khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…”.

Và trong tôi, không hiểu sao cứ thấp thoáng khôn nguôi hình ảnh những con tàu hồi hương về Israel cùng những con tàu ly hương rời Việt Nam.

MỘT XÃ HỘI QUÁ BẤT CÔNG!

Liên Trà

MỘT XÃ HỘI QUÁ BẤT CÔNG!

Phạm Minh Vũ

Chị Nguyễn Thị Minh Uyên là một trong 200 công nhân bị công ty Minh Quân nợ lương, chị bắt đầu làm việc thu gom rác cho công ty này từ năm 2017. Thời gian đầu, công ty trả đủ 174.000 đồng/ngày lương nhưng đến năm 2020 thì bị chậm. Đỉnh điểm là thời gian cuối năm, công ty nợ chị Uyên và đồng nghiệp trong tổ 6 tháng lương.

Chị ở với con trai đang học lớp 3 và mẹ già tại phường Phú Đô (Hà Nội). Nhiều ngày trong nhà gạo cũng không còn, chị phải đi vay từng vài chục nghìn một để đong gạo ăn qua ngày.

Mỗi lần nói về con trai, nước mắt của chị Uyên lại tự nhiên trào ra. Chị khóc không phải vì sự vất vả, cơ cực mà vì bản thân không lo được cho con một cuộc sống tốt đẹp.

Gạo hết thì đi vay được nhưng đến hạn đóng tiền học phí cho con trai chị Uyên đành phải lực bất tòng tâm. Đã nhiều lần đứa con nhỏ không hiểu chuyện của chị phải nghỉ học vì bị “các bạn trêu đóng tiền học phí muộn”.

Câu chuyện của Chị Minh Uyên cùng 200 đồng nghiệp khác bị công ty quỵt lương, chắc chắn khi xã hội lên tiếng họ sẽ phải trả. Nhưng ở đây, đã bật ra một vấn đề mà quá bất công với những người dân Việt Nam, ai ai cũng đang bị bóc lột, đó là tiền học phí. Tại sao bắt học sinh đi học phải đóng học phí?

Trên thế giới này, không có quốc gia nào lại thu học phí, vì Giáo dục và Y tế là một trong những phúc lợi xã hội được chính phủ đầu tư gần như ưu tiên trong các chính sách. Ưu tiên cho giáo dục là ưu tiên cho tương lai.

Theo tôi được biết, Việt Nam là quốc gia duy nhất thu tiền học phí học sinh. Không nói đâu xa các nước Nhật Hàn, Sin ngay tại Thái Lan cạnh VN đây, học sinh cấp 1 ở Thái Lan sẽ như sau:

-Đi học sẽ không đóng bất cứ khoản thu nào (như Việt Nam gần 20 loại phí: ví dụ như học phí, phí vệ sinh…)

– Sách vở thì được nhà trường phát miễn phí. Tại Thái, tất cả bộ sách mỗi trường tự in theo cách dạy riêng, nhưng vẫn đáp ứng trương trình khung của bộ giáo dục (ở Việt Nam riêng khoản học phí và sách vở coi như bán hết lúa giống, nhà 3 đứa con coi như cắm sổ đỏ lên ngân hàng vay co con đi học, từ khi gọi là đổi mới giáo dục thì sách bị viết vào từng trang để mỗi năm mua một bộ, vô cùng tốn kém)

– Ở nhà học trực tuyến thì được phát tiền cơm 1 buổi ăn 30bat (22.500₫).

– Một tháng được nhận 1thùng sữa học đường.

– Phụ huynh đi họp một buổi được nhận 200bat (150.000₫).

– Học sinh nào có hoàn cảnh khó khăn thì được nhận thêm học bổng.

– Học sinh đi học không bị phân biệt đối xử (kể cả là người tị nạn).

– Học sinh chủ yếu học trương trình hướng đạo sinh (học cách sinh tồn). Đó là nước Thái, chứ chưa nói sang Châu Âu- Mỹ làm chi.

Đọc câu chuyện chị Minh Uyên lòng chợt dâng lên cảm xúc phẫn nộ, phẫn nộ cái công ty nợ lương chị là cũng là sân sau của quan chức đảng viên cộng sản. Và để cháu bé con chị bị bạn bè trêu tới nổi phải nghỉ học ở nhà là do chậm học phí. Hôm trước nghe tin một cháu bé ở Đắk Nông bị giam học bạ do chưa đóng Quỹ bởi nhà nghèo nữa thì đất nước này không biết sẽ về đâu?

Một hệ thống chính trị đã lỗi thời, những kẻ ông vua con (hiệu trưởng) luôn tự cho mình quyền hành đưa ra những quyết sách bất chấp đạo lý.

Trong khi cả thế giới không còn ai thu học phí, vì thu học phí là ăn cướp cả tương lai của mầm non đất nước, thì tại Việt Nam bất cứ thứ gì cũng ăn, món ngon là cạp đất, nhưng cạp cả tương lai đất nước bằng cách thu học phí, để tạo ra những hệ lụy kỳ thị, trêu chọc nhau tạo cảm giác tổn thương nơi các tâm hồn thơ trẻ, thì chế độ chính trị ấy quá vô đạo, quá ngang ngược quá bạo tàn!

Bất công này, trời cao có thấu?

May be an image of 1 person and standing

Bánh Tây & Bánh Mì

Bánh Tây & Bánh Mì

Bánh Tây

PHIẾM

Song Thao

Bánh Tây, là cách gọi của miền Bắc, miền Nam kêu là bánh mì. Cả hai chỉ thị cùng một thứ nhưng ngày nay bánh mì tách ra thành một thứ không phải là bánh tây. Chuyện ra sao, xin coi hồi sau sẽ rõ. Bây giờ nói chuyện bánh tây trước.

Bánh Tây là bánh baguette. Của mấy anh Tây rõ ràng. Nếu có dịp tới Pháp, cái đập vào mắt là các cửa hàng bánh boulangerie. Cứ đi vài trăm thước lại thấy boulangerie. Trên toàn nước Pháp có tới 35 ngàn boulangeries. Những ngày ở Paris, sáng sáng tôi bắt gặp những ổ bánh trên tay các ông già bà cả, các thanh niên thiếu nữ, các em nhỏ. Bánh baguette còn ngự trên các giỏ xe đạp, thò đầu ra khỏi những chiếc túi đeo lưng. Dân tây mua bánh mỗi sáng. 

Baguette trên tay. REUTERS

Nhà báo Nguyễn Dũng, trong một lần tới Paris, đã ghi lại: “Rong ruổi qua các phố của Kinh Thành Ánh Sáng, đặc biệt vào buổi sáng, bạn sẽ dễ dàng nhận thấy rằng thủ đô của nước Pháp có cái mùi hương riêng. Đó là mùi bánh baguette phát tỏa ra từ những boulangerie. Mà hầu như phố nào ở Paris cũng có một vài boulangeries…Một ngày vui khám phá Paris của tôi thường bắt đầu với việc thức dậy sớm, rời phòng trọ không sao phía trên một nhà hàng bán thức ăn Hoa, Việt lẫn lộn cực kỳ mini gần nhà ga xe lửa Montparnasse đi mua ly chocolat thơm nóng vừa nhâm nhi vừa quan sát người Pháp chào ngày mới như thế nào. Kế đến là bước vào một boulangerie để mua baguette, loại bánh mì dài như khúc củi…Bình minh ngày bay trở về Sài Gòn, kéo vali trên đại lộ Maine xuôi về phía nhà ga xe lửa Montparnasse, nơi có trạm xe buýt Car Air France chở khách ra sân bay Charles de Gaulle, tôi đi ngang qua tiệm bánh mì, bánh ngọt Paul. Mùi bánh mì tươi nóng tỏa lan thơm lừng góc phố, trong tủ kính là hàng hàng lớp những baguette nướng căng phồng trông thật hấp dẫn. Chợt nhớ và nể phục ông Victor Hugo với cuốn “Những Kẻ Khốn Cùng” (Les Misérables). Đáng thương cho Jean Valjean năm xưa vì ổ bánh mì cứu đói đám cháu nheo nhóc mồ côi bố mà bị án tù chung thân khổ sai. Chắc chắn Jean Valjean cũng đã bị mùi bánh mì cám dỗ ghê lắm”.

Mua một ổ baguette mỗi sáng hình như đã trở thành dân tộc tính của người Pháp. Có lần con gái tôi tổ chức đám cưới ở miền Nam nước Pháp, chúng tôi ngụ trong một château hẻo lánh chẳng thấy phố xá làng mạc chi, vậy mà sáng sáng, bà sui gia, dân địa phương, luôn để một giỏ bánh mì trước cửa phòng. Không biết bà mua ở đâu, khi nào, nhưng bánh nóng hổi, thơm lừng. Theo tổ chức “Observatoire du Pain” chuyên theo dõi bánh baguette thì mỗi giây đồng hồ, dân Pháp tiêu thụ 320 bánh baguettes. Tính ra là 10 tỷ cái mỗi năm.

Để chỉ sự thân thiết giữa baguette và người Pháp, người ta có câu: “Người Pháp luôn đi bộ với baguette kẹp trong nách”. Thân thiết đến như vậy nhưng bánh tây không phải bắt nguồn từ Pháp mà từ Áo. Dưới thời cai trị của vua Louis 16 vào thế kỷ 18, nước Pháp có một hoàng hậu ngoại quốc: Hoàng Hậu Marie Antoinette, người gốc Áo. Qua Pháp, bà mang theo thợ làm bánh giỏi nhất của thủ đô Vienna, để làm đầu bếp cho hoàng gia. Bánh mì Áo bám theo bà Marie Antoinette qua Pháp là thứ bánh mì hình tròn và chỉ có hoàng gia được dùng. Dân chúng chịu khó ngó chơi. Mãi tới khi chế độ quân chủ bị thay thế bằng chế độ cộng hòa, dân chúng mới có quyền bình đẳng và mới được ăn bánh mì. Luật về bánh mì năm 1790 ghi rõ mọi công dân Pháp phải được ăn cùng một loại bánh, không phân biệt giầu nghèo và các tiệm làm bánh phải tuân thủ chung một công thức, theo đúng tiêu chuẩn để cho ra lò một loại bánh đồng nhất. Baguette trở thành một biểu tượng của sự bình đẳng cho mọi công dân.

Hình dáng của bánh mì thay đổi từ tròn ra dài. Người ta không biết nguyên nhân nào làm cho chiếc bánh mì bị kéo dài ra như vậy. Có thuyết cho rằng vì thợ làm bánh Pháp tự ái, không muốn rập khuôn theo bánh của Áo nên thay đổi để dân tộc hóa chiếc bánh có nguồn gốc ngoại lai. Một thuyết khác cho rằng chiếc bánh dài ra như vậy cho tiện chuyên chở và dễ dàng cho dân chúng…cặp nách! Nhưng bánh mì dài ra có lẽ chính xác nhất là vì chiến tranh. Thế kỷ 19, nước Pháp lâm chiến triền miên, hết cuộc chiến của  Napoleon Bonaparte từ năm 1800 đến 1815, tới cuộc chiến giữa Napoleon III và các nước láng giềng, binh lính di chuyển liên miên nên cần cột bánh mì theo chiều dọc, song song với chân, cho dễ di chuyển.

Baguette trên lưng.

Sau Thế Chiến II, kích thước chuẩn của baguette có chiều dài 80 phân và nặng 250 gram. Để bảo đảm cho toàn dân được ăn bánh mì đúng tiêu chuẩn như nhau, một luật quy định về bánh mì được ban hành vào năm 1790. Theo luật, bánh mì chỉ có thể làm bằng bốn thành phần sau: Bột mì, nước, muối và men. Không được để bánh đông lạnh, không được có các chất phụ gia hoặc chất bảo quản.

Ngoài ra, để dân chúng không thiếu bánh mì, các boulangerie phải xin phép chính quyền nếu muốn đóng cửa luôn, đóng cửa để nghỉ hè, du lịch hay nghỉ vì việc gia đình. Nếu được phép, chủ tiệm phải tìm người tạm thay thế để vẫn mở cửa hoặc nếu phải đóng cửa tạm thời cửa hàng thì phải có hướng dẫn cho khách hàng tới tiệm boulangerie gần nhất. Nếu muốn nghỉ hưu, chủ tiệm phải truyền nghề lại cho con cháu hoặc tìm người mua để tiệm tiếp tục mở cửa. Mục đích của điều khoản này là để bảo đảm cho người dân luôn có bánh mì tươi ngon một cách thường xuyên. Luật này được thi hành trong 225 năm và chỉ mới được bãi bỏ vào năm 2015.

Một boulangerie phải tự làm bánh từ A tới Z. Không có ngoại lệ. Mỗi tiệm làm bánh có thể có phương cách chế biến riêng nhưng phải đạt được tiêu chuẩn sau: Vỏ bên ngoài giòn cứng, có màu vàng, ruột bên trong mềm dẻo. Nếu bóp chiếc bánh dẹp xuống thì khi thả tay ra, bánh phải trở lại bề dày ban đầu. Muốn được như vậy, phải mất chừng 4 tiếng đồng hồ từ khi nhào nặn bột cho tới lúc đóng khuôn và cho vào lò nướng. Muốn khách có bánh tươi thơm, thời gian từ khi bánh ra lò đến khi tới tay khách chỉ kéo dài tối đa 1 tiếng. Trên thực tế, đó là thời gian lý thuyết, khách ít khi được có bánh thơm ngon trong vòng 1 tiếng. Nhưng trong thời buổi công nghệ hiện nay, tại các siêu thị hay các chợ, bánh được làm nhanh chóng và ít công phu hơn. Dân sành ăn không chịu dùng thứ bánh công nghệ này. Họ chỉ mua bánh tại các boulangerie, mua về ăn ngay, nóng sốt và thơm tho. Tới Paris, tôi thường tá túc nơi nhà cô em họ ở Wissous, ngoại ô Paris, gần ga metro Anthony. Bước ra vài bước là có boulangerie, bước thêm vài trăm thước nữa, lại boulangerie. Mỗi sáng,  đều có baguette nóng hổi thơm lừng, chỉ cần quẹt thêm chút bơ là ngon thấu trời. Nhiều khi muốn ăn nóng sốt, vừa vào cửa, bẻ ra ăn liền, chẳng bơ biếc chi mà vẫn ngon ơi là ngon, cái thơm ngon này còn lẽo đẽo theo tôi về tới Montreal.

Baguette rất khác với bánh mì Việt Nam tuy bánh tây là thứ tây mang sang Việt Nam. Từ khá lâu. Khoảng năm 1859 đến 1887 lận. Khi đó người Pháp đã cho xây những lò nướng bánh mì bằng gạch tại Việt Nam. Trước tiên ở Hà Nội rồi sau đó mới vào Sài Gòn. Erica Peters, một ký giả chuyên viết về ẩm thực, đã ghi: “Đến năm 1910, những chiếc bánh mì baguette nhỏ, hay còn gọi là “petit pain” được bán trên đường phố và người Việt hay mua trên đường đi làm để ăn sáng”. Trong Thế Chiến I, một làn sóng binh sĩ Pháp đã đặt chân tới Việt Nam khiến nhu cầu baguette tăng cao. Tuy nhiên việc nhập cảng lúa mì rất khó khăn nên người ta đã trộn thêm bột gạo vào. Hình thức chiếc bánh cũng thay đổi ngắn hơn, chỉ chừng từ 30 đến 40 phân, bằng phân nửa bánh ở Pháp. Bánh cũng ít ruột hơn để có thể kẹp nhân vào bên trong.

Bánh mì “Lý Toét” tại Sài Gòn trước 1975.

Không biết ai nghĩ ra chuyện kẹp nhân vào trong bánh mì nhưng ngay từ đầu thập niên 1950, bánh mì kẹp nhân đã có mặt tại Hà Nội. Ngày đó, quanh bờ Hồ, đã có những trẻ em  bán bánh mì kẹp jambon. Tôi đã nhiều lần thưởng thức thứ bánh này. Chiếc bánh rất nhỏ được các em ủ vào trong các bao tải để giữ nóng. Khi có khách mua, chú bé lấy bánh ra, dọc một đường rãnh, đặt vào một miếng thịt nguội mà gió nhẹ cũng có thể thổi bay. Rắc thêm tí muối tiêu là xong. Ổ bánh mì đơn sơ, rẻ tiền như vậy nhưng sao mà ngon. Muốn ngon hơn thì tới trước cửa trường Dũng Lạc, bên hông Nhà Thờ Lớn, ăn bánh mì của Lý Toét. Anh chàng bán bánh mì này tên Lý. Lý Toét là biệt danh mà lũ học sinh chúng tôi ngày đó thân ái đặt cho. Lý Toét rất vui tính, vừa bán vừa pha trò khiến chúng tôi vui vẻ chung tiền cho chàng. Bánh mì của Lý Toét được kẹp chả. Chả do chính chàng làm nên rất thơm ngon. Tôi không còn nhớ bánh mì này rắc muối tiêu hay xịt maggie nhưng ngon hết biết. Sau di cư, Lý Toét vào Sài Gòn, tiếp tục bán bánh mì tại góc đường Hai Bà Trưng và Phan Thanh Giản. Tác giả Đỗ Duy Ngọc viết về bánh mì “cụ Lý” như sau: “Cách đây hơn sáu chục năm, sáng sáng ở vỉa hè sát tường rào khúc Hai Bà Trưng với Phan Thanh Giản bên hông một biệt thự cổ có một người dựa chiếc xe, lúc đầu là xe đạp cổ lỗ sau đó là chiếc Mobylette xanh có chiếc thúng tre đằng sau bán bánh mì chả. Người ta gọi là Bánh mì Cụ Lý. Gọi là Cụ thế thôi chứ ông này lúc đấy chỉ trạc tứ tuần, giọng Bắc Kỳ đặc sệt, đầu chải “bri dăng tin” (brillantine) láng mướt, vuốt ra đằng sau để lộ một khuôn mặt lúc nào cũng đo đỏ như người uống rượu với chiếc mũi khá to với mấy sợi râu lún phún. Nhìn ông ta chợt nhớ đến khuôn mặt của nhân vật biếm họa Lý Toét đăng trên báo Ngày Nay của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Hay là vì cái sự giống nhau này mà người ta gọi ông là Cụ Lý chăng? Bánh mì Cụ Lý ngon mà giá bình dân. Chả đủ loại: Chả lụa, chả chiên, giò thủ, chả mỡ. Chả nóng hổi, phảng phất mùi hương của thì là. Chả của Cụ Lý không cắt lát như những xe bánh mì khác mà cụ cắt từng miếng lớn, lộn xộn để lung tung trên mẹt lót lá chuối xanh dờn. Từ lúc dừng xe dựa vào hàng rào, cụ cắt không ngơi tay, khách hỏi chuyện, cụ lại nhón miếng chả đưa khách ăn chơi. Xẻ ổ bánh mì, hồi trước bánh mì nướng củi, vỏ bánh vàng, ruột bánh trắng phau chứ không như bánh mì bây giờ, cụ nhét đại mấy miếng chả vào, bốc một nắm hành tây, rắc chút muối tiêu, xì dầu hay nước mắm theo yêu cầu của khách, thế là xong một ổ bánh, không patê, chẳng dưa chua, hành ngò chi cả. Khách chen nhau, lần lượt. Cầm ổ bánh mì nóng, chả tràn trề, cắn một miếng, ngon nhức xương”. Ông Đỗ Duy Ngọc thuộc thế hệ sau, chỉ biết chàng Lý ở Sài Gòn nên không biết biệt danh Lý Toét đã được chúng tôi đặt từ ngày ở Hà Nội. Khi vào Sài Gòn, tôi đã đi làm, có lần đi ngang qua đường Hai Bà Trưng, ghé vào, kêu lớn: “Lý Toét”. Chàng Lý nhận ra tôi, chú học sinh Dũng Lạc ở Hà Nội xưa, mừng tíu tít, cứ như gặp tri kỷ. Ổ bánh mì cho tri kỷ không lý chi tới chuyện tiền bạc. Cũng là một thứ “tha hương ngộ cố tri”!

Cùng với cuộc di tản và vượt biên những năm sau 1975, bánh mì Việt Nam có mặt tại nhiều nước và được dân bản xứ hưởng ứng nồng nhiệt. Bánh mì thịt tại Montreal hiện nay có nhiều thứ. Chắc cũng khoảng hai chục loại. Từ thịt, chả, gà nướng, bò nướng tới nem chua, tàu hũ. Lung tung xòe tất cả. Nơi nào có người Việt thì nơi đó có bánh mì kẹp thịt. Tại Montreal, cảnh các anh chị tây đầm vừa đi vừa…thổi sáo bằng bánh mì là cảnh tôi bắt gặp thường xuyên. Nhưng bánh mì xâm nhập đất Pháp để đọ sức với baguette mới là chuyện đáng nói.

Cái khác của bánh mì tại quê hương của bánh tây là bánh mì dùng ngay bánh tây dài ngoằng chứ không phải những ổ bánh ngắn nhồi nhân như các nơi khác. Không ai có thể ăn được hết 80 phân bánh nhồi thịt nên nhà hàng cắt làm ba. Đây là một cuộc hôn nhân thuận lợi. Bánh baguette Parisienne giòn và thơm nức mũi đi với nhân Việt gồm cả ngò, đồ chua, ớt, tiêu cay chua đủ mùi đời thì đẹp đôi là cái chắc. Muốn có ổ bánh mì thịt để gặm thì phải tới hai khu nhiều người Việt là Quận 13 và Quận 20. Tiệm bánh mì của người Việt đầu tiên tại Quận 13 là tiệm Khai Trí. Cái tên Khai Trí hình như đã dính liền với sách vở tại Sài Gòn. Đúng vậy, Khai Trí bán bánh mì và sách! Hai thứ văn hóa, một phục vụ tinh thần, một phục vụ cuộc sống thường ngày, đã quyện vào nhau. Nhưng đó chỉ là thời gian đầu khi tiệm khai trương vào năm 1984. Sau đó bánh mì nghỉ chơi với sách, một mình hùng cứ trong tiệm. Nhưng cái tên Khai Trí vẫn còn đó với những cuốn sách còn sót lại nằm dọc trên tường như một chứng tích của bên…thua cuộc.

Khách của Khai Trí dĩ nhiên là người Việt nhưng tây đầm cũng rất chịu khó gặm bánh mì. Cô chủ tiệm Khai Trí thổ lộ về thứ bánh mì rất đắt khách của tiệm: “Mình không làm theo lối kỹ nghệ, hàng ngày mình làm nên đồ nó tươi! Một ngày mình nghĩ bán bao nhiêu thì làm bấy nhiêu thôi. Mình muốn làm cho khách hàng ăn rồi trở lại chứ không phải ăn rồi đi luôn. Có nhiều nơi họ mua bánh mì industrielle (kỹ nghệ) thì rất rẻ. Em đặt bánh mì đặc biệt thành ra ổ bánh mì lúc nào cũng ngon. Đặc biệt của tụi em ở đây là có gà, có chả, có thịt, nhưng cái ngon nhất của em là gà chà bông, gà ruốc của em làm rất đặc biệt. Em chỉ có 3 thứ thịt thôi: Thịt heo, gà ruốc và chả lụa. Tổng cộng ba cái lại người ta gọi là bánh mì đặc biệt. Bữa nào em hết gà là người ta hơi thất vọng.”

Một boulangerie.

Tại Quận 20, còn gọi là khu Belleville, có tới ba tiệm bánh mì do người Việt làm chủ. Mỗi tiệm cũng có những thứ đặc biệt. Chị Huỳnh, chủ tiệm Hòa Hưng có từ 21 năm nay, cho biết: “Bánh mì tự nướng để nó ngon, nó nóng. Thịt đùi, chả lụa với gà chà bông. Đó là bánh mì đặc biệt, bánh mì gà thì gà ướp sả, vệ sinh hơn mà ở ngoài thì cũng không có bán”. Khách hàng buổi sáng là người Việt, buổi trưa là người Pháp. Được hỏi về sự khác nhau giữa bánh mì Việt Nam và bánh tây kẹp thịt của Pháp, ông Jean Pierre, một khách hẩu của bánh mì Việt nói : “Sự khác nhau? Đó là món Á Châu, nó đầy đủ hơn, nóng. Tôi ở khu này không lâu lắm, món bánh mì ngon, và làm thay đổi khẩu vị… Món bánh mì nào của Pháp ngon nhất đối với tôi? Tôi không biết! Có lẽ là món bánh mì Vendôme với paté, rất, rất ngon! Nhưng không ngon như bánh mì (Việt Nam). Với bánh mì, chúng tôi khám phá thêm được một món ăn Việt Nam, rất ngon!”. Một ông người bản xứ khác ví von: “Bánh mì Pháp là một cuộc gặp gỡ tuyệt vời giữa hai nền văn hóa Pháp-Việt về khẩu vị và mùi vị. Đó là một cuộc hôn nhân hoàn hảo”.

Cuộc hôn nhân hoàn hảo, tuy hai mà một, nhưng vẫn là hai. Bánh mì Việt Nam đã là một thực thể riêng biệt. Ngày 28/3/2011, tự điển danh tiếng Oxford đã ghi từ “bánh mì” với định nghĩa như sau:  “Bánh mì là một món ăn nhẹ, bên trong kẹp một hoặc nhiều loại thịt, paté và rau củ như cà rốt, dưa leo, ngò…và kèm gia vị như ớt, tiêu”. Vậy là sau hai từ “áo dài” và “phở”, “bánh mì” đã leo được vào từ điển Oxford.

Bánh tây qua Việt Nam đã bị Việt Nam hóa và mang trở lại Tây với một vị trí độc lập được ghi nhận chính thức với tên “bánh mì”, chẳng là một hãnh diện cho dân Việt ta sao?

Song Thao 05/2021

     From: Do Tan Hung & Kim Bang Nguyen

Thảm Kịch Súng Đạn Trong Xã Hội Hoa Kỳ 

Thảm Kịch Súng Đạn Trong Xã Hội Hoa Kỳ 

Đào Văn Bình

Trong khi chúng ta ngồi trong yên lành, gia đình êm ấm thì biết bao thảm kịch đã xảy ra cho xã hội mà chúng ta không hề hay biết. Vì đất nước Hoa Kỳ quá to lớn và quá đông dân cho nên dù thảm kịch có xảy ra thì cũng chẳng ăn thua gì. Chẳng hạn tính đến ngày 2/6/2021, Hoa Kỳ đã có 610,912 người chết vì dịch cúm Corona. Thế nhưng nó chỉ như một cánh sao băng lóe lên rồi vụt tắt, có người quan tâm, có người chẳng cần quan tâm. Rồi mọi chuyện chìm vào quên lãng. Rồi chỉ là những con số nằm trong sách vở, văn khố hay cuốn Biên Niên Sử để đời sau đọc chơi cho biết. Nhiều khi thế hệ sau lại bùi ngùi thương cảm, động tâm hơn thế hệ hiện tại.

Trong hai tháng qua, những vụ dùng súng giết người ở trong gia đình, kể cả ở trường học đã liên tiếp xảy ra. Người ta sau đó cầu nguyện rồi lại cầu nguyện và không có một biện pháp nào để cứu chữa. Những thảm họa về súng đạn, dù kinh hoàng cách mấy rồi cũng chìm đắm vào dòng thác lũ của những biến cố về chính trị, về kinh tế và những vật lộn của cuộc sống và hoan ca của nhạc Pop, nhạc Rap, Football, đại hội điện ảnh cùng những buổi trình diễn thời trang của những cô gái ăn mặc gần như lõa thể.

Tuy nhiên đối với những người có đầu óc suy nghĩ thì lại lo lắng. Phải chăng trẻ vị thành niên phạm pháp, dùng súng đạn để đi ăn cướp, bắn giết bạn bè ở trong trường học và người thân trong gia đình có phải là một dấu hiệu báo động không? Trách nhiệm về ai? Đâu là biện pháp chữa trị? Người “có lòng” chỉ biết ngậm ngùi. Theo tôi, trách nhiệm thuộc về tổng thống, quốc hội liên bang lẫn tiểu bang, các tổ chức tôn giáo, trường học, phụ huynh và truyền thông. Khi mà mọi người được quyền tự do mua và mang súng thì ngăn ngừa bạo lực súng đạn chỉ là ảo vọng. Con quái vật giết chết những đạo luật hay biện pháp hạn chế quyền sử dụng vũ khí ở đây là Hội Súng Đạn Hoa Kỳ (National Rifle Association). Không một đảng nào, dân biểu, thượng nghị sĩ nào dám đụng tới sợi lông chân của hội này. Sức mạnh của NRA không phải súng đạn mà là tiền! Họ dùng tiền để bịt miệng tất cả các vị đại diện cho dân mà chúng ta tin tưởng, bầu họ lên để bảo vệ quyền lợi của chúng ta. Dân biểu, thượng nghị sĩ và tổng thống, chủ tịch quốc hội còn bó tay thì “phó thường dân” (thiểu số, da màu) như chúng ta biết làm sao đây?

Dưới đây là một số thảm kịch đã xảy ra cho xã hội Hoa Kỳ trong vòng hai tháng qua mà tôi chỉ ghi nhận được một số ít chứ không ghi nhận được tất cả.

Theo Huffington Post ngày 28/3/2021: Hai cô gái vị thành niên 13 và 15 tuổi đã giết chết một tài xế Uber giao đồ ăn để cướp chiếc xe này ở Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn. Thật kinh hoàng, con gái còn ở lứa tuổi “ô mai” đầy mộng mơ mà đã trở thành sát nhân! Hành động khủng khiếp này khiến chúng ta sẽ phải nghi ngại khi các cô gái trẻ đến gần chúng ta. Thật là thảm họa của thời đại văn minh điện tử! Dường như xã hội càng văn minh càng có nhiều thú giải trí và nhiều tội ác.

Rồi vào ngày 13/5/2021 theo ABC News: Hai cậu bé 11 tuổi và 17 tuổi đã bị bắt vì hành hung một bà già người Á Châu 89 tuổi ở San Leandro, California. Cậu bé 11 này tuổi đã có một hồ sơ hình sự dài lê thê như hai lần ăn cướp và một lần cướp xe. Cậu bé đã được giao cho bà mẹ canh giữ vì tuổi còn quá nhỏ. Thật kinh hoàng! Mới 11 tuổi đã tham gia băng đảng ăn cướp! Không biết lớn lên sẽ thành cái gì?

Trong khi đó tại Texas, một ông chồng 40 tuổi- phó hiệu trưởng một trường tiểu học đã dùng súng bắn chết bà vợ 35 tuổi- hiệu trưởng một trường tiểu học trước mặt hai con 2 tuổi và 7 tuổi rồi quay súng tự sát. Người vợ trước đó đã nạp đơn xin ly dị và bán căn nhà. Có lẽ do uất hận, người chồng đã có hành động điên cuồng. Tội nghiệp hai đứa trẻ ngây thơ vô tội. Thảm kịch này sẽ đeo đuổi chúng nó suốt đời.

Rồi một thanh niên ở Oregon tên Shane Finnell 25 tuổi đã rút súng bắn chết chị dâu/em dâu (sister-in-law) chỉ vì cãi cọ nhau về giặt quần áo.

Rồi theo Insider ngày 23/5/2021, một em bé ba tuổi tìm thấy khẩu súng dấu dưới chiếc ghế dài và bắn vào ngực em gái 2 tuổi của mình trong lúc người lớn mải mê tụ tập coi trận đấu bóng rổ trận chung kết. Ôi đời là bể khổ bến mê! Tu Chính Án Số II cho phép người dân được tự do mang súng đạn để tự vệ nay biến thành thảm họa!

Rồi vào ngày 26/5/2021, báo chí loan tin một cô gái 15 tuổi tên Kaleigh ở Oklahoma hư hỏng, uống rượu, thường xuyên rước trai về nhà ngủ bị bố la rầy đã căm hận và xúi giục và bày mưu cho người tình 21 tuổi tên Chiles đâm chết bố mình.

Rồi theo Insider ngày 27/5/2021, một cô gái 13 tuổi bị ông nội hãm hiếp đã đi khắp Tiểu Bang Texas tìm chỗ phá thai vì luật Texas cấm phá thai nếu bào thai quá sáu tuần dù loạn luân hay bị hãm hiếp. Texas là tiểu bang Cộng Hòa bảo thủ cho nên có luật khắt khe về phá thai. Ôi, đời là bể khổ bến mê! Đứa con sinh ra nó sẽ là anh em, chị em với bố mẹ của cô gái. Chúng ta biết làm sao đây? Nếu ở các quốc gia Hồi Giáo, người ta dễ dàng giải quyết bằng cách treo cổ ông già và cả cô gái này. Còn ở đây là xứ tự do và dân chủ cho nên phải tuân thủ pháp luật. Mà tuân thủ pháp luật là chấp nhận loạn luân! Trong trường hợp này, độc tài và dân chủ, cái nào đúng? Có lẽ Ông Trời xuống đây cũng không giải đáp được.

Rồi theo Miami Herald ngày 2/6/2021, một cô gái 14 tuổi và một cậu trai 12 tuổi, bỏ trốn khỏi cô nhi viện Enterprise’s Florida United Methodist Children’s Home rồi lén vào một nhà khác ăn trộm một khẩu Shotgun và AK-47. Khi cảnh sát tới, cô gái và cậu bé nổ súng vào cảnh sát và bị cảnh sát bắn trọng thương.

Theo Wikipedia, tại Hoa Kỳ, riêng năm 2019 đã có tất cả 434 vụ nổ súng khiến 517 người chết, 1643 người bị thương với nạn nhân là 2160 người. (There were 434 mass shootings in 2019 that fit the inclusion criteria of this article, resulting in 517 deaths and 1,643 injuries, for a total of 2,160 victims.)

Thế mới hay trên cõi đời này, bể khổ không do thần linh tạo ra mà do chính con người tạo ra. Xây dựng những công trình vĩ đại trên trái đất này là do con người và kiến tạo Địa Ngục cho chính mình cũng do con người. Do đó, ngay trong thế giới Ta Bà này đã có sẵn Địa Ngục và Thiên Đình, chẳng cần tìm kiếm Địa Ngục và Thiên Đình ở đâu xa. Có thể các giáo sĩ và thầy tu của một Cung Trời nào đó, khi nhìn xuống Trái Đất với đầy chiến tranh, hận thù, kỳ thị, ghét bỏ, chửi rủa, lên án, vu cáo nhau nhau từng giờ từng phút… sẽ nói với các tín đồ rằng “Ở đây có một địa ngục thật kinh khiếp. Những ai làm ác sẽ bị đày xuống Địa Ngục này!”

Đào Văn Bình

(California ngày 3/6/2021)

Những Gì Đáng Sợ Hơn Cái Chết?

Nhân đọc tin hàng trăm người chết tại một thôn Phước Thiện, Quảng Ngãi với 90% do bị ung thư. Xin gởi quí bạn chuyện phiếm về cái chết tại XHCNVN sau đây:

***

Những Gì Đáng Sợ Hơn Cái Chết?

“Chết diễm phúc phải là chết già, trên giường, và có người chung quanh khóc ầm ĩ”.

Ít nhất đó là hình ảnh hầu hết người Việt chúng ta được dậy từ thuở nhỏ. Hơn thế nữa, chúng ta còn nghĩ hình ảnh “chết lý tưởng”, “chết êm ả” đó cũng là ước muốn chung của loài người. Chí ít cũng bao gồm mọi người thuộc văn hóa Đông phương.

Nhưng có thật thế không?

Có ngay thí dụ: Một trong những điều giới võ sĩ đạo Nhật sợ nhất là phải chết già, chết trên giường. Họ tha thiết cầu phật khấn thần để đừng phải chết như vậy. Cảnh một samurai lưng còng, chân tay run rẩy, không cử động được theo ý muốn, ngay cả đi đứng cũng phải cậy dựa vào người khác là cơn ác mộng đối với họ. Rõ ràng viễn cảnh trở nên “vô dụng” đối với họ đáng lo hơn cái chết.

Và có thể nói hầu hết chiến binh phương Đông, từ Mông Cổ đến Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, đều khoái được “da ngựa bọc thây” hơn nằm giường.

Sang đến văn hóa phương Tây thì người ta lại càng không thích để lại hình ảnh chết già. Người càng có học, có tài, có tiếng càng muốn cả người thân lẫn công chúng chỉ nhớ tới thời điểm cực thịnh mà họ đẹp nhất, thành công nhất, quyền thế nhất, hay sáng chói nhất về trí tuệ. Rõ ràng họ quan tâm đến di sản họ để lại hơn cái chết rất nhiều.

Do đó, quan điểm ‘chết già là sướng’ chẳng đáng được điểm cao đến thế đâu. Và ngược lại ‘chết lúc chưa già’ cũng chưa chắc đáng sợ như ta vẫn nghĩ. Còn lắm thứ đáng sợ hơn cái chết nhiều.

Nhiều cán bộ lớn tuổi tâm sự điều mà họ sợ nhất vào cuối cuộc đời là phải nhìn lại những gì họ đã làm hay không làm trong những năm dài đã qua. Từ đó, họ sợ những nạn nhân đang chờ họ ở thế giới bên kia hơn sợ cái chết, vì chết chỉ là ngưỡng cửa bước qua trong khoảng khắc.

Với thời đại Internet, chúng ta có thể thấy được khá nhiều lãnh đạo đảng đi qua giai đoạn cuối đời như vậy, kể cả những hung thần một thời như Tố Hữu, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, v.v…..

Cũng có lãnh đạo sợ phải đối diện những người bạn đang chờ họ bên kia thế giới hơn cả cái chết. Đó là những đồng đội mà họ từng phản bội, bỏ rơi hay thủ tiêu để giữ an toàn cho bản thân, kể cả những người đứng lên theo lời kêu gọi của họ. Chúng ta có thể thấy loại ân hận đó ở những ông Võ Văn Kiệt, Võ Nguyên Giáp, …

Và cũng có những lãnh đạo sợ phải thừa nhận mình đã sống qua cả một cuộc đời vô ích, vô nghĩa, vô vị. Vì quá lo an toàn cho bản thân mà chẳng để lại được gì, chẳng hoàn thành được gì. Mà cái chết, tức lằn ranh sau cùng của an toàn, vẫn đến, chẳng né tránh được.

Hơn thế nữa, họ phải thừa nhận chính họ là một phần của cỗ máy đem lại điêu linh cho hàng chục triệu người khác. Chúng ta có thể nhận ra loại tâm tư này ở những ông Phạm Văn Đồng, Trần Quang Cơ, …

Trong tình trạng thê thảm của dân khí hiện nay, chúng ta khó còn cảm được lời dạy của cha ông: Chết vinh hơn sống nhục.

Nhưng 5 chữ đó là kết tinh kinh nghiệm sống của biết bao cuộc đời. Một trong những lý do chết vinh hơn sống nhục là vì “sống nhục” chỉ được một thời gian ngắn rồi vẫn dẫn đến cái chết, mà luôn là “chết nhục”. Mọi hối tiếc vào lúc sắp “chết nhục” đều đã quá trễ.

Qui luật đó ứng dụng cho cả nhân loại chứ không riêng gì người Việt. Gần 80 năm trước, hàng triệu người Do Thái khi gần chết trong trại tập trung của Đức Quốc Xã mới quặn lòng hối tiếc đã không tham gia kháng chiến vì sợ chết; hối tiếc đã không mang thân ra hứng đạn cản đường cho vợ con chạy trốn vì sợ chết; hối tiếc đã riu ríu kéo cả nhà lên xe vào trại tập trung vì sợ chết, … để rồi giờ đây vẫn chết, chết riêng từng người, chết từng phần cơ thể vì kiệt lực, và chết với nhận thức từng người trong gia đình mình ở đâu đó cũng đang chết dần ở mức dưới hàng súc vật như mình. Đối với họ cái đau của hối tiếc lớn hơn cái đau của sự chết.

Ngày nay tại nước ta, cả dân tộc đang bị đẩy vào loại chọn lựa đó. Gần nhất là những bà con không chỉ tại 4 tỉnh miền Trung mà còn lây lan ra cả nước…. đang sống dở chết dở vì thảm họa môi trường do Formosa gây ra. Nhiều người đang phân vân: đứng lên đấu tranh đòi tẩy rửa môi trường bây giờ có thể bị trấn áp nhưng dẫu có chết đi nữa thì vẫn hơn cảnh ngồi nhìn từng người trong gia đình nhiễm ung thư, đau đớn nhiều năm tháng, rồi lần lượt ra đi, kể cả bản thân mình. Cái đau của hối tiếc sẽ lớn hơn nhiều cái đau của sự chết. Còn nếu đứng lên đấu tranh giành lại môi sinh, môi trường sống ngay bây giờ, gia đình mình sẽ sống dù mình có chết

Dĩ nhiên câu hỏi lương tâm này cũng được đặt ra cho từng người chúng ta chứ chẳng riêng gì bà con 4 tỉnh miền Trung. Chất độc nay không chỉ có trong cá mà trong hầu hết mọi loại thực phẩm và không từ một ai trên cả nước. Liệu chúng ta có dám chấp nhận để đứng lên mạnh mẽ đòi nhà cầm quyền phải đóng ngay các cánh cửa dẫn chất độc vào Việt Nam, như các nhà máy sản xuất thải ra các chất thải độc hại. Nhữưng nhà máy điện xả thải khí độc và xỉ than đầu độc môi trường sống v.v… hay ngồi chờ ngày ung thư đến đón từng người trong gia đình ra đi?

Và còn nhiều quốc nạn khác nữa, đặc biệt là số phận của đất nước sau thời điểm 2020. Liệu chúng ta có dám chấp nhận để đứng lên bảo vệ chủ quyền đất nước ngay bây giờ, bất kể những kẻ cứ nhất định ôm chân quân xâm lược? hay ngồi chờ ngày “chết nhục” dưới chân chủ mới như dân tộc Tây Tạng? Đến lúc đó có muốn chọn lại cũng đã quá muộn.

***

Chẳng ai muốn tìm lấy cái chết nhưng nghĩ cho cùng chết có phải là chuyện khủng khiếp nhất chưa?

Đời người chỉ cần kiên trì được 7 việc này…

Đời người chỉ cần kiên trì được 7 việc này, cuộc sống sẽ tự khắc trở nên thuận lợi, viên mãn

  1. Tươi cười, tính cách sẽ ngày một tốt hơn

Người luôn tươi cười, dù là cười lớn hay chỉ cười mỉm cũng đều sẽ đem lại cảm giác ngọt ngào cho người khác. Khi tâm trạng tốt thì mọi chuyện cũng sẽ đều tốt đẹp; tâm trạng không tốt thì mọi chuyện đều sẽ loạn.

Người thích cười sẽ có được khí chất đặc biệt của riêng mình, loại khí chất này không phải dựa vào tuổi tác, trang phục hay ngoại hình bên ngoài mà xuất phát từ tận sâu trong nội tâm.

Cuộc sống nhờ có những nụ cười mới trở lên tươi đẹp! Bạn tươi cười không phải vì người khác mà chính là vì bản thân mình. Có nhiều người quanh năm suốt tháng luôn bực tức với chính mình, tự tranh đua với bản thân, cho nên chúng ta cần học cách mỉm cười, khi bạn tươi cười với thế giới thì cuối cùng thế giới cũng sẽ dùng nụ cười trả lời bạn.

  1. Không phàn nàn, than vãn, mọi chuyện sẽ thuận lợi hơn

Nhìn thấy điều gì không hợp ý mình, vậy bạn hãy thay đổi nó, nếu không thay đổi được nó, vậy trước hết bạn nên thay đổi thái độ của bản thân. Một người khi gặp chuyện khó khăn, không thuận lợi, nếu chọn cách trách móc, than vãn thì sẽ chỉ khiến cuộc sống càng thêm tồi tệ hơn mà thôi.

Trách móc người thân không đủ chu đáo, trách lãnh đạo không coi trọng sự cố gắng của bạn, trách bản thân không đạt được thành công, đến cuối cùng, trách móc than phiền cũng chẳng thể giúp bạn giải quyết được chuyện gì.

Khi bạn trách móc cuộc đời đối xử bất công với bản thân thì trước đó hãy tự hỏi bản thân mình là viên ngọc hay là hạt cát.

Nếu như bạn vẫn chưa trở thành viên ngọc, thì hãy tiếp tục cố gắng biến bản thân mình thành viên ngọc sáng, vì dù cát có nhiều thế nào cũng chẳng thể che nổi ánh sáng của ngọc. Người không than phiền, trách móc thì tự nhiên cũng sẽ nhận được kết quả tốt hơn.

  1. Thấu hiểu, giúp tình cảm càng thêm tốt đẹp

Là người không có ai là hoàn hảo, mọi việc cũng không có gì là mỹ mãn. Cho dù là trong mối quan hệ nào đi nữa, giữa bạn và bố mẹ, giữa bạn và người yêu, vợ chồng, giữa bạn và con cái hay với bất kỳ ai ở xung quanh, cơ sở quan hệ giữa người với người chính là ý thức chừng mực. Không có cảm giác chừng mực tức là không có sự tôn trọng, sẽ khiến hai bên phát sinh lo lắng, mâu thuẫn và tổn thương lẫn nhau.

Vậy chừng mực là như thế nào? Chừng mực là biết đứng ở vị trí của người khác để suy xét, thay đổi lập trường để hiểu cho nhau, để mối quan hệ hai bên thêm sâu sắc hơn chứ không phải để tranh cãi, làm tổn thương lẫn nhau.

  1. Bao dung, khiến cuộc sống tốt đẹp hơn

Với người thân trong gia đình, bao dung rộng lượng càng nhiều thì hạnh phúc cũng càng nhiều; giữa vợ chồng, bao dung nhiều thì tình cảm càng sâu đậm; với hàng xóm, bao dung nhiều hơn thì chung sống với nhau cũng tốt đẹp hơn; giữa bạn bè, bao dung giúp tình bạn càng thêm bền lâu; với đồng nghiệp, bao dung nhiều hơn thì sự nghiệp cũng thuận lợi hơn.

Cuộc sống không phải là chiến trường, không cần nhất định phải tranh cao thấp, thắng thua. Giữa người với người, thấu hiểu nhau thêm một chút thì sẽ bớt đi hiểu lầm; giữa trái tim với trái tim, bao dung độ lượng hơn một chút thì sẽ bớt đi những tranh chấp.

Mọi người thường quá coi trọng chính bản thân mình nên mới lo được lo mất, không nên dùng ánh mắt, dùng hiểu biết của cá nhân mình để đi đánh giá một cá nhân khác, vì thực sự bao dung độ lượng bao nhiêu thì sẽ nhận được càng nhiều bấy nhiêu.

  1. Coi trọng người khác, nhân duyên sẽ càng tốt hơn

Khổng Tử nói: “Tam nhân hành, tất hữu ngã sư” (nghĩa là: trong ba người cùng đi, ắt sẽ có người là thầy của ta).

Hãy nhìn những người bình thường xung quanh bạn, những người mà bạn chưa từng xem trọng, họ tuy không phải những người nổi tiếng, những minh tinh với ánh hào quang được mọi người chú ý, những họ vẫn đang ngày ngày trải qua cuộc sống, luôn cố gắng làm việc, đối đãi chân thành với mọi người xung quanh.

Họ – những người bình thường ấy, trong đó có người thân của bạn, bạn bè của bạn, đồng nghiệp của bạn và hàng xóm quanh bạn.

Khi trời mưa, họ sẽ kéo bạn cùng trú mưa dưới mái hiên nhà; khi trời nổi gió, họ sẽ khoác thêm cho bạn chiếc áo gió tránh rét. Những người ấy mới là người mà bạn thực sự phải coi trọng trong cuộc sống này.

  1. Lương thiện, giúp thế giới tốt đẹp hơn

Làm người không nhất định phải đỉnh thiên lập địa, quyền cao chức trọng, rầm rộ khoe khoang, nhưng nhất định phải sống lương thiện chân thành.

Bạn trao ấm áp cho người khác, người ta mới mang ánh sáng cho bạn; bạn trao chân thành cho người khác, người ta mới cho bạn sự ôn hòa, nhã nhặn.

Cho dù chưa có ai biết ơn sự lương thiện của bạn, nhưng bạn vẫn nên chọn sống là người có tấm lòng lương thiện.

Bạn chọn lối sống như thế nào, điều đó hoàn toàn là vì bản thân bạn chứ không phải sống vì người khác. Suy cho cùng, thế giới luôn luôn tán dương những người sống lương thiện theo cách này hay cách khác.

  1. Biết ơn, sẽ giúp ta may mắn hơn

Tâm nguyện đầu tiên của tôi chính là trở thành người biết biết ơn. Biết ơn cha mẹ, đã cho tôi cuộc sống này; biết ơn cuộc đời, đã dạy tôi trưởng thành; biết ơn hiện thực, đã giúp tôi học được phải kiên cường, mạnh mẽ.

Biết ơn tình thân, sẽ sưởi ấm trái tim; biết ơn tình yêu, không cách lìa, không chia xa; biết ơn tình bạn, cùng vượt qua khó khăn hoạn nạn; biết ơn chính bản thân mình, dù cuộc sống có đắng cay, cuộc đời có khó khăn vẫn luôn cố gắng nỗ lực vươn lên.

Người hiểu được biết ơn sẽ được ông trời chiếu cố, may mắn nhất định sẽ đến với bạn.

Sưu tầm

MỘT PHÉP LẠ ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP DÀNH CHO TÔI

MỘT PHÉP LẠ ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP DÀNH CHO TÔI

Hôm nay là Lễ kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.

Tôi yêu mến và sùng kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Mỗi khi có chuyện gì, nhất là những chuyện khó khăn và đau buồn, tôi luôn chạy đến xin Đức Mẹ cứu giúp tôi.

Hồi mới sang Roma, giấy tờ cư trú chưa có, thẻ bảo hiểm y tế cũng không; Cha Bề Trên Giám Tỉnh và Cha Bề Trên tu viện cũng đi Paraguay, tu viện chỉ còn hai cha già gần chết và mấy thầy trẻ.

Đúng lúc đó tôi bị đau lưng. Không hiểu vì nguyên nhân gì mà đau dữ thế! Đau không ăn không ngủ được. Một tuần tôi sụt hơn 3 kg. Mặt mũi hốc hác tiều tụy. Tôi lo và anh em trong nhà ai thấy cũng lo cho tôi.

Xem trong danh sách các linh mục tu sĩ Việt Nam đang sống ở Roma tôi thấy có một dì phước là lương y thì tôi liên lạc xin giúp đỡ, nhưng dì trả lời là dì đang đi phục vụ dịp hè ở Miền Bắc nước Ý nên không giúp gì tôi được.

Hết đường tôi chạy đến Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp để xin Đức Mẹ cứu chữa. Tôi đi với ý nghĩ nếu Đức Mẹ không chữa lành tôi, thì đấy là dấu muốn tôi trở về Việt Nam sớm. Tôi quỳ cầu nguyện khá lâu ở trước linh ảnh Đức Mẹ.

Thấy có Cha Bruno người Ý, Giám đốc Đền Thánh, đang trực giải tội, tôi đến xin ngài giúp đỡ. Tôi quỳ trước cung thánh nơi có linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, trong khi ngài đặt tay trên đầu tôi và khẩn cầu Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp chữa lành tôi.

Được khoảng 5 phút. Ngài nhấc tay tính thôi! Tôi bảo: “Không! Con còn đau lắm! Xin cha tiếp tục!” Mấy phút sau ngài lại muốn bỏ! Tôi lại bảo: “Không! Con vẫn chưa khỏi! Cha làm ơn cầu nguyện nữa! Xin Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp chữa lành con!”

Vài phút sau đó, bỗng dưng tôi cảm thấy có cái gì đó như một dòng điện chạy rất nhanh từ đỉnh đầu xuống xương sống. Một cảm giác nóng ran và tiếp theo là một cảm giác mát lạnh. Tôi thấy người nhẹ bẫng, rất dễ chịu. Tôi khỏi bệnh tức thì. Hoàn toàn không còn đau đớn gì!

Tôi tin Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp chữa lành tôi! Cũng như tôi tin Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã dẫn đưa tôi vào Dòng Chúa Cứu Thế và đã giúp tôi giải gỡ bao nhiêu khó khăn, vượt qua bao nhiêu thử thách để tiếp tục là một thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế cho đến ngày nay.

Tạ ơn Đức Mẹ.

27.06.2021

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Khải DCCT

Lòng yêu người là đôi cánh giúp chúng ta bay cao hơn hết

May be an image of 1 person, child, outdoors and text that says 'Lòng yêu người là đÃi cánh giúp chúng ta bay cao hơn hết. -M.Gorky- #LightofDonBosco'

NGẪM…

Tại một thành phố ở Ấn Độ.. có vị thương gia nọ bận rộn cả ngày vì công việc.. mệt mỏi.. ông vào một nhà hàng tự thưởng cho mình bữa tối thịnh soạn..!

Khi những món ăn đã được dọn sẵn trên bàn.. bất chợt ông nhìn thấy một cậu bé đang nhìn trộm ông qua cửa kính với ánh mắt thèm thuồng.. hình ảnh ấy như có gì làm nhói tim ông..!

Ông đưa tay vẫy cậu bé.. cậu liền bước vội vào.. theo sau cậu là 1 bé gái nhỏ.. 2 đứa trẻ nhìn chăm chăm vào những đĩa thức ăn còn nóng hổi.. mà chẳng cần biết người vừa gọi chúng vào là ai..?

Vị thương gia bảo chúng cứ tự nhiên mà ăn thỏa thích…

Không nói.. không cười.. cả hai ngấu nghiến ăn hết các món ăn trên bàn một cách ngon lành…

Vị thương gia im lặng.. nhìn hai đứa trẻ ăn đắm đuối.. và khi chúng rời đi.. chúng đã không quên nói lời cám ơn với ông..!

Cơn đói trong lòng vị thương gia lúc ấy được xua tan một cách lạ kỳ.. kèm theo một cảm giác khó tả đang lâng lâng trong lòng…

Mãi một hồi sau.. vị thương gia gọi tiếp các món ăn lần nữa.. rồi từ từ thưởng thức.. đến khi gọi thanh toán.. nhìn tờ hóa đơn.. không ghi số tiền.. mà chỉ là một hàng chữ:

– “Thật đáng tiếc.. tiệm chúng tôi không in được HÓA ĐƠN THANH TOÁN CHO TÌNH NGƯỜI.. xin chúc ngài mãi luôn hạnh phúc..!”

Một giọt nước mắt đã rơi từ vị thương gia.. ông quay nhìn người đàn ông đang đứng tại quầy thu ngân rồi gật đầu mỉm cười.. ông ta đáp lại bằng một nụ cười rạng rỡ…

Vị thương gia đã dùng “Đức” đối xử với người nghèo.

Chủ nhà hàng dùng “Nghĩa” đáp lại “Đức” không biết ai hơn ai.?

Người xưa có câu :

– Ngồi trên đống Cát.. ai cũng là hiền nhân.. quân tử.

– Ngồi trên đống Vàng.. mới biết rõ.. ai mới là quân tử.. hiền nhân.

Tình yêu thương luôn đem đến những sự kỳ diệu từ hai phía:

– “người cho và người nhận”.

Hạnh phúc của TÌNH NGƯỜI là cảm giác bình yên và thật sâu lắng.. xóa tan tất cả những đau khổ và bất hạnh.

Vạn vật tồn tại trên thế giới này đều không thể sống mãi với thời gian.. ngay cả con người cũng không thể đi ngược lại hay cưỡng cầu với quy luật ấy.

– Theo thời gian.. mọi thứ đều biến hóa và thay đổi..

– Tất cả có thể sinh ra hoặc mất đi.. có thể phát triển hay lụi tàn..

– Cái gì có đến chắc chắn sẽ rời đi.. không bao giờ là tồn tại mãi mãi.

– Vật chất là ngoại thân.. TÌNH NGƯỜI là vĩnh cửu.

St: Nguyễn Thành Đức