Ai cho quan làm người lương thiện?

Ai cho quan làm người lương thiện?

Bởi  AdminTD

 Dương Quốc Chính

26-6-2021

Vụ anh Cảm cựu giám đốc CDC Hà Nội được 500 anh em Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ đồng loạt xin giảm án với lý do anh là người tận tâm với công việc, chuyên môn tốt… cho thấy rằng anh Cảm chính là một nạn nhân của chế độ, đen thì nhập kho chứ đỏ thì có khi thành anh hùng lao động thời kỳ mắc dịch chứ chả đùa.

Sở dĩ anh được anh em, đồng chí, toàn trí thức hàn lâm trong giới y khoa và dịch tễ thương xót là do họ chỉ nhìn thấy một mặt của tấm huân chương. Mỗi người trí thức, nhất là cán bộ xã nghĩa, nằm trong hệ thống đều là tù nhân dự khuyết.

Người cán bộ thời nay không thể vừa tài năng vừa tử tế mà lại trung thành được. Người tài thì tham mà người có tử tế thì ngu, thế mới éo le. Các đồng chí chức to, có tài, thì thực ra là chưa bị lộ mà thôi.

Đã dấn thân vào quan trường thì đương nhiên phải tham nhũng. Bởi tham nhũng là để kiếm sống, chứ lương TBT mới gần 20 ‘củ’ thì cán bộ sống bằng khí trời và quang hợp, nếu không được nhân dân tin yêu, nuôi nấng, gọi một cách tế nhị là xã hội hoá tiền lương cho anh em quan lại.

Thời buổi bây giờ muốn tiến bộ, thành đạt thì ngoài hồng và chuyên thì cần phải có ‘tài’, tài ở đây là tiền ý. Không có tiền chạy chức thì cùng lắm chỉ làm culi cao cấp, cỡ phó phòng cấp Sở hoặc phó chủ tịch xã. Nếu không thì cũng phải có ô dù nâng đỡ, lúc đó không phải chạy tiền nhưng bản chất là cũng là sự mua bán, ân huệ của ô dù với cấp trên của đương sự.

Công bằng mà nói, bần nông chúng ta nếu rơi vào vị trí của anh Cảm thì cũng phải đục đẽo như anh thôi. Lý do như trên. Ngoài ra, với tình hình nước sôi lửa bỏng của dịch bệnh, được phép bỏ qua nhiều quy tắc đấu thầu, thì việc thổi giá, đục đẽo là đương nhiên phải có. Việc này mình đã viết tút dự báo khi mới có dịch. Dịch bệnh là cơ hội cho cánh tả và CS trỗi dậy cũng là cơ hội cho anh em đục đẽo mà nhân dân vẫn tin yêu.

Vấn đề là cơ chế nó tạo điều kiện cho quan lại ăn tiền. Nếu làm quan mà lương 15 ‘củ’ thì lấy đâu ra cán bộ? Vì thế, tham nhũng là phần thưởng cho cán bộ, là động lực cho anh em phấn đấu tiến thân và cống hiến. Vấn đề là tham nhũng tới mức độ nào để an toàn và quan hệ với những ai để không bị làm củi mà thôi.

Vì thế 99,69% anh em quan lại là củi dự khuyết hết. Anh Cảm không ngoại lệ, anh phải hi sinh sự nghiệp để giữ uy tín cho chế độ được phần nào. Để nhân dân tin rằng bác cả đốt lò không có vùng cấm.

Ngành y tế lâu nay vẫn có tiếng là dễ đục đẽo thiết bị y tế. Chứng tỏ đây là bất cập lớn của ngành. Thông thường, quan lại vẫn kiếm ăn nhất khi đầu tư xây dựng, vì đó là món to để chi tiêu công. Nhưng kiếm tiền qua xây dựng cơ bản giờ cũng khó, vì thổi giá không thể quá 30-50%, ăn bớt quá hay thổi giá quá đều dễ bị lộ. Nhưng với tiền mua sắm thiết bị y tế thì anh em thổi giá từ 300% trở lên là trong tầm tay. Vì thiết bị đặc biệt mua đi bán lại lòng vòng thậm chí chính hãng bên giãy chết cũng sẵn sàng nhập hàng Tàu về dán mác Tây để giúp anh em thổi giá. Chính vì chuyện đó nên anh Cảm phải vào lò để răn chúng. Khi có tin anh Cảm và các anh em vào lò thì lập tức CDC các tỉnh đều công bố giá máy móc y tế tụt xuống khủng khiếp, thậm chí có tỉnh còn MƯỢN được máy của nhà cung cấp. Doanh nghiệp bây giờ tốt bụng quá!

Sau vụ anh Cảm thì một mớ BS khác vào lò như lãnh đạo BV Bạch Mai, Viện Tim HN… Nếu mà cứ mò vào thanh tra tất cả các BV và các CDC về thiết bị y tế thì chắc cũng hết sạch cả cán bộ lãnh đạo, lấy ai chống dịch nữa? Thế nên chắc bác cả chỉ giơ cao đánh khẽ?

Quay lại chuyện các GS, TS, BS xin giảm án cho anh Cảm. Mình cho là hầu hết họ đều làm trong các Viện, BV, CDC nhà nước. Cùng là trí thức hàn lâm ngành y chắc họ đều thấy bóng dáng mình trong đó nên đứng ra xin cho đồng chí?

Nhưng sống dưới chế độ này thì ai cho quan làm người lương thiện?

Ông Trump từng muốn quân đội Mỹ “đập bể sọ” những người biểu tình!

Ông Trump từng muốn quân đội Mỹ “đập bể sọ” những người biểu tình!

Bởi  AdminTD

Jackhammer Nguyễn

26-6-2021

Lại một minh chứng nữa cho chuyện quân đội đứng ngoài chính trị có ích như thế nào cho một thể chế dân chủ.

Ngày 25/6/2021, truyền thông Mỹ đưa tin về một quyển sách của nhà báo Michael Bender, mang tựa đề “Frankly, We Did Win This Election”, tạm dịch, “Thật sự chúng ta đã thắng cuộc bầu cử”.

Ông Bender là phóng viên của tờ báo khuynh hữu Wall Street Journal, ông phụ trách tin tức từ tòa Bạch Ốc. Trong quyển sách mới mà nhiều nhà bình luận gọi là một tiếng sấm giữa trời quang, ông Bender tường thuật một buổi họp tại tòa Bạch Ốc, tìm cách đối phó với những cuộc biểu tình đòi bình đẳng của người da đen, sau khi ông Georges Floyd, một người đàn ông da đen bị một cảnh sát da trắng là Derek Chauvin đè chết (ngày 25/6/2021, Chauvin bị kết án 22 năm rưỡi tù giam).

Những cuộc biểu tình giận dữ bùng nổ khắp nước Mỹ, làm cho uy tín tổng thống đương nhiệm là Donald Trump lúc đó sa sút, trong khi chỉ còn vài tháng là đến ngày bầu cử.

Ông Trump giận dữ, đòi quân đội Mỹ can thiệp, “đập vỡ sọ” những người biểu tình, và bắn họ chết hết.

Tướng Mark Milley, Tham mưu Trưởng Liên quân Mỹ lúc đó từ chối và nói rằng, đó là những cuộc biểu tình. Ý ông Milley nói rằng, đó là vấn đề chính trị, không dính dáng tới quân đội.

Donald Trump và tướng Mark Milley (phải), Tham mưu Trưởng Liên quân Mỹ. Nguồn: Mark Wilson/ Getty Images

Stephen Miller, cố vấn thân cận của ông Trump, nói rằng, quân đội phải thiết lập những vùng chiến sự, tướng Milley nói ông Miller, hãy câm miệng lại, theo Michael Bender.

Sau khi thất bại trong cuộc bầu cử tổng thống ngày 3/11/2020, ông Trump liên tục tung tin vịt là ông bị gian lận. Ngày 6/1/2021, ông ta kích động những người ủng hộ ông một cách cuồng tín, làm loạn, tấn công vào điện Capitol, trong lúc Quốc hội Mỹ chuẩn bị tuyên bố chính thức, ông Joe Biden là tổng thống. Cuộc nổi loại đã bị cảnh sát và vệ binh quốc gia dẹp tan. Đến nay có khoảng 500 người bị bắt, chờ ngày ra tòa.

Gần 1 tháng sau, ngày 1/2/2021, quân đội Miến Điện lật đổ chính quyền dân sự của bà Aung San Suu Kyi và cầm quyền cho đến nay. Miến Điện thật sự bước vào một cuộc nội chiến mới.

Hãy tưởng tượng rằng, tướng Mark Milley nhúng tay vào chính trị, ủng hộ ông Trump “đập bể sọ” những người biểu tình, rồi sau đó cùng nhóm bạo loạn ngày 6/1 bắt nhốt hết các dân biểu và thượng nghị sĩ Mỹ, chuyện gì sẽ xảy ra? Chắc chắn nước Mỹ sẽ xảy ra nội chiến như ở Miến Điện!

Nhưng nước Mỹ không phải là Miến Điện. Tường trình của Michael Bender cho thấy, vị trí phi chính trị của quân đội đủ mạnh đến mức vô hiệu hóa tham vọng độc tài của những kẻ như Trump, Miller.

***

Các nhà lãnh đạo Việt Nam hãy nhìn vào đó để đừng mắng chửi những người mong muốn phi chính trị quân đội Việt Nam. Quân đội Việt Nam phải trung thành với tổ quốc Việt Nam, không nên trung thành với đảng Cộng sản Việt Nam.

Chuyện gì sẽ xảy ra, khi ông Nguyễn Phú Trọng với ông Nguyễn Tấn Dũng tranh quyền hồi Đại hội đảng 12, quân đội đứng về phía ông Dũng, lật đổ ông Trọng? Chắc chắn Việt Nam sẽ rơi vào trường hợp nội chiến như Miến Điện hiện nay.

Quân đội Mỹ đứng ngoài chính trị, nên những cuộc chuyển giao quyền lực luôn xảy ra êm thắm từ nội chiến (1861-1865) đến nay. Tham vọng của một kẻ độc tài như Donald Trump, kích động bạo loạn, cũng không qua được cấu trúc nhà nước dân chủ đó.

Không chỉ đảng Cộng sản Việt Nam nên đọc quyển sách của Michael Bender, mà những người đối kháng với đảng Cộng sản cũng nên đọc quyển sách ấy, vì có một số “nhà bất đồng chính kiến” Việt Nam ủng hộ Donald Trump, ủng hộ cả chuyện quân đội Mỹ nên can thiệp để giúp Trump tiếp tục nắm quyền.

“Những nhà bất đồng chính kiến” mà ông Trương Nhân Tuấn gọi là những nhà “dân chủ xà bần” này không hiểu gì về một thể chế dân chủ, trong huyết quản của họ vẫn chảy một dòng máu quân phiệt độc tài, y như những người mà họ chống.

Tựa cuốn sách của Michael Bender như một lời tán thán, chúng ta thắng cuộc bầu cử rồi, chúng ta ở đây là tất cả những người dân Mỹ, nền dân chủ Mỹ, không phải Donald Trump.

Cuộc bầu cử Quốc hội ở Việt Nam cũng vừa diễn ra hồi tháng Năm, nhưng ngược lại, dân tộc Việt Nam thì thất bại.

T R Ả L Ờ I B Ạ N N G U Y Ễ N V Ă N TUỆ

Vũ Thư Hiên is with Bùi Quang Minh

T R Ả L Ờ I B Ạ N N G U Y Ễ N V Ă N TUỆ

Tuệ Nguyễn Văn: “Có một câu hỏi vẫn luôn ám ảnh trong đầu cháu, rất mong bác Vũ Thư Hiên có thể trả lời giúp cháu đó là: “Sau tất cả những điều kinh khủng mà bác phải qua trong suốt 9 năm trời như vậy, mà sao bác không có chút hận thù, căm ghét gì với những kẻ đã hành hạ bác trong suốt những ngày tháng tù đày dã man đến vậy ạ? Đọc “Đêm giữa ban ngày” cháu có cảm tưởng như bác đang nói về chuyện của ai đó chứ không phải của mình vậy. Rất mong bác có thể trả lời giúp cháu ạ”.

Gửi bạn Nguyễn Văn Tuệ, và các bạn: Chau Nhi, Kiều Mỵ, Phan Thuý Hà, Hong Ngoc Trinh, Vương Quốc Toàn, Tran Thang, Hoài Thu Nguyễn…

Nhân bạn Nguyễn Văn Tuệ nêu câu hỏi, lần này tôi sẽ kể dài dòng một chút để bạn và các bạn khác cũng từng đặt câu hỏi tương tự biết thêm về chuyện cuốn Đêm Giữa Ban Ngày đã hình thành như thế nào. Trong câu chuyện kể này, biết đâu đấy, các bạn sẽ tìm thấy câu trả lời cho câu hỏi trên.

1

Năm 1994, tôi ở Moskva (Liên Xô cũ).

Việc khởi đầu cuốn Đêm Giữa Ban Ngày liên quan tới một hiện tượng mà tôi không thể giải thích.

Một buổi sáng, vừa mắt nhắm mắt mở bước vào phòng tắm, tôi đứng sững – trước mặt tôi, trong tấm gương lớn tôi thấy không phải tôi mà cha tôi. Ông bất động, nhìn tôi bằng cặp mắt nghiêm khắc, có phần giận dữ. Hình ảnh ấy chỉ xuất hiện trong một thoáng, rất nhanh, rồi tôi lại nhìn thấy tôi trong gương như bình thường. Cảnh tượng cha tôi thoáng hiện ấy đưa tôi về một thời gian đã xa.

– Bố thấy trong người yếu lắm rồi – cha tôi thở dài – Chà, nếu bố còn khỏe! Có nhiều điều bố thấy cần phải viết ra cho đồng bào biết. Nhưng không còn sức nữa. Bố kỳ vọng ở con. Con phải viết. Đó là trách nhiệm, con ạ, là trách nhiệm.

Ông gắng gượng ngồi dậy, đặt tay lên vai tôi, nhìn vào mắt tôi:

– Không phải vì mục đích vạch tội ai mà con làm việc này, không phải vì mục đích ấy. Mục đích lớn hơn: qua vụ án này con phải để nói lên điều khác, điều rất quan trọng đối với dân tộc ta. Nhân dân ta cần phải hiểu để tránh xa vết xe đổ. Nước mà không có dân chủ, không có luật pháp, hoặc luật pháp chỉ là xảo ngôn, là mảnh đất màu mỡ cho thể chế độc tài, cho sự lộng hành tùy tiện của những tên độc tài…

Tôi hiểu tâm trạng cha tôi.

Ông khoan thứ cho kẻ thù.

Nhưng ông không ngơi lo lắng cho đất nước trước viễn cảnh xám xịt của nền chuyên chế.

Tôi quyết định bỏ mọi việc để thực hiện lời cha tôi dặn trước khi qua đời.

Ngay hôm ấy tôi đến công ty, nói lời từ biệt.

Mọi người bàng hoàng vì sự bỏ đi đột ngột của tôi. Trong công ty thuần Nga tôi là người Việt duy nhất, nhưng lại là bộ óc điều khiển hoạt động của nó. Cả chục năm ở Sài Gòn để kiếm sống tôi đã học được ít nhiều cách điều hành một xí nghiệp tư nhân, trong khi đó thì những người bạn Nga vừa thoát ra khỏi nền kinh tế kế hoạch hoá lại rất bỡ ngỡ. Chẳng cứ dân thường, ngay chính quyền mới cũng rất vụng về trong việc chuyển sang kinh tế thị trường. Một thí dụ: công ty chúng tôi gửi ngân hàng tiền dollar Mỹ và Deutch Mark thì lập tức được ngân hàng tính thành rúp, coi như gửi rúp chứ không phải ngoại tệ. Ít lâu sau chúng tôi đến lấy ra thì tỷ suất hối đoái đã khác do lạm phát phi mã. Số tiền tính bằng rúp tăng lên chóng mặt, khoản chênh lệch giữa hai thời điểm bị ngân hàng coi như lãi và công ty phải nộp thuế cho số tiền mà người ta gọi là “lãi bất ngờ”. Kỳ quặc thế đấy, vừa buồn cười vừa xót ruột, nhưng là sự thật. Những chuyện tương tự thời chuyển đổi chế độ ở Liên Xô kể không hết.

2

Những trang đầu tiên của Đêm Giữa Ban Ngày được bắt đầu như thế nào?.

Cái sườn đầu tiên cho cuốn sách chỉ là mấy trang phác thảo nằm lại ở Sài Gòn, được cất giấu ở nhà bè bạn. Tôi không cần đến chúng nữa vì đã thuộc nằm lòng. Tôi gặp may -vào thời gian đó tôi có nhu liệu Vietbit viết tiếng Việt rất tiện lợi của tác giả Bùi Quang Minh hồi ấy cũng ở Moskva. Cái Amstrad cổ lỗ không có ổ cứng, cứ viết thẳng vào đĩa mềm, không có cách trình bày như mình muốn. Tôi mổ cò từng chữ, ngày nối ngày, miễn sao nói được điều cần nói.

Như tôi viết trong phần Tự Bạch “Văn học không có chỗ nơi đây”, tôi tránh hết sức thói quen viết văn để cuốn sách chỉ chứa đụng những gì cần phải nói. Chậm chạp, từng dòng một, ngày lại ngày kỳ cạch nối tiếp, những trang bản thảo theo nhau làm đầy dần từng đĩa. Những cái đĩa mềm ngày ấy đúng như tên gọi – chúng mềm thật và to thật, đựng trong những bao giấy có thể chứa cả kí lô usb ngày nay.

Tai họa đến bất ngờ.

Nghĩ mình giờ đã ở Moskva, một nơi an toàn cách xa Việt Nam nhiều ngàn cây số, tôi hoàn toàn yên tâm, không chút cảnh giác. Một người nào đó trong số khách đến thăm tôi tình cờ đọc được vài dòng trên màn hình Amstrad đã biết tôi đang viết gì.

Tin bay về Hà Nội. Một toán đặc nhiệm được cử sang. Lợi dụng một hôm tôi về nhà một mình, những tên đột nhập tấn công tôi ngay khi tôi vừa bước vào thang máy. Một tên trẻ măng theo chân tôi xông vào lấy tay bịt miệng tôi, đâm tôi một nhát, rồi khi thang máy lên đến tầng, những tên khác chờ sẵn xô tới, nhanh nhẹn lục túi tôi lấy chìa khoá, đưa tôi vào phòng. Ở đó chúng không nói một lời vật tôi xuống sàn, trói nghiến, bịt mắt bịt miệng tôi bằng băng dính. Sau đó, không vội vã chúng lục lọi cả giờ mọi xó xỉnh, lấy đi tất cả những gì tôi có – tiền nong, vật dụng, không từ thứ gì, kể cả quần áo. Nằm trên sàn, tôi bất lực, chú ý nghe từng câu cụt lủn chúng trao đổi với nhau, tôi hiểu – mục đích của cuộc đột nhập được tạo ra theo cách của kẻ cướp là lấy bản thảo cuốn sách

Tin nội bộ từ Hà Nội cho tôi biết không đầy nửa tháng sau vụ đột nhập, việc tôi viết Đêm Giữa Ban Ngày đã được thông báo ngắn gọn với những trích dẫn trong một cuộc họp trung ương đảng (cộng sản). Điều này cho tôi thêm chứng cớ để khẳng định kẻ nào là tác giả vụ tấn công. Tôi cũng hiểu thêm vì sao những tên đột nhập chỉ đâm tôi một nhát cảnh cáo vào đùi chứ không định đâm chết. Có thể hiểu được: chúng chỉ làm tđến hế do có chỉ đạo. Ở Moskva tôi có quan hệ rộng với nhiều nhà văn nhà báo Liên Xô, kể cả với giới quan chức, tất yếu sẽ gây ra một sự ồn ào không cần thiết và không có lợi nếu bị phanh phui. Vết đâm vào phần mềm không nặng, máu chảy ra nhiều làm ướt sũng quần và lõng bõng trong giày. Điện thoại bị chúng lấy mất, tôi phải nhờ điện thoại của hàng xóm gọi cho bạn bè và họ lập tức phóng tới để đưa tôi đi bệnh viện.

Mấy hôm sau, một trong những tên đột nhập gọi điện cho tôi vào nửa đêm, thì thào bằng giọng hấp tấp: “Hay, chú ạ, cháu đọc rồi, chú cứ viết tiếp đi nhé!”. Rồi không thì thào nữa mà cho tôi biết tôi có thể nhận lại những vật bị mất ở đâu – số điện thoại mà tên cướp cung cấp không khó khăn để tra ra là số nhà riêng của một nhân viên lãnh sự quán Việt Nam. Câu sau là quan trọng, rõ ràng được mớm lời. Chúng mới ngây thơ làm sao – đời nào tôi dại dột đâm đầu vào rọ.

Về chuyện này tôi đã kể lại với đầy đủ chi tiết trong một bài báo “Những tên cướp dễ mến” được đăng trên tờ Việt Nam Dân chủ ở Paris. Nhiều bạn đã đọc hỏi tôi có giữ lại được bài báo đó không, nhưng mặc dầu cố gắng nhờ vả nhiều người tôi không sao tìm được. Tôi không có thói quen cất giữ những gì mình viết, cho rằng nếu chúng có giá trị thì chúng sẽ tồn tại không cần đến mình.

Một tuần sau, tôi được mời tới ngôi nhà rất lớn chạy dài cả một phố Lubianka nổi tiếng mà người dân Liên Xô nào cũng biết – trụ sở của KGB (Komitet Gosudarstvennoy Bezopasnosti – Bộ An ninh). Lúc ấy cơ quan quyền lực khủng khiếp một thời đã đổi tên là FSK (Federalnaya Sluzhba Kontrrazvedki – Cục Phản gián Liên bang) . Viên đại tá tầm thước, với gương mặt thật thà của người nông dân vùng Trung Nga, tiếp tôi trong một căn phòng hẹp dưới tầng hầm. Lấy ra chai vodka và con cá khô vobla đặt lên bàn, ông ta bắt đầu câu chuyện không vui. Chúng tôi vừa trò chuyện vừa uống rượu và nhai cá khô. Cuối cùng, trước khi chia tay, viên đại tá buồn rầu bảo tôi: “Chẳng cần nói ông cũng thừa biết ai làm vụ này. Tôi xấu hổ phải nói với ông rằng FSK không thể bảo vệ ông khi người ta chỉ cần bỏ ra vài ngàn dollars là đã thuê được lũ mafia đang đói rạc giết ông ngay trên đường phố Moskva. Tôi khuyên ông hãy chạy

sang phương Tây, ở đó ông mới có thể giữ được tính mạng”.

Tôi không chạy sang phương Tây mà bỏ sang Warszawa, thủ đô Ba Lan. Ở đó tôi cặm cụi viết lại những chương bị lấy mất (khoảng một phần ba cuốn sách) và vài chương tiếp theo. Công việc rồi cũng lại bị bỏ dở vì tôi được những người tốt báo cho biết công an từ Hà Nội đã sang Warszawa để lùng tôi, không thể biết lần này họ sẽ làm gì.

Tôi lập tức lấy chuyến bay đi Paris, ở đó tôi xin tị nạn. Tôi viết nốt những chương cuối cùng ở một căn phòng hẹp, lầu áp mái. Mùa hẻ căn phòng nóng như lò than. Mùa Đông thì lạnh cóng.

Nói tóm lại, cuốn sách được viết ra với rất nhiều cực nhọc. Nếu có nói nó được viết cả bằng máu cũng không ngoa.

3

Tính từ khởi đầu cuộc trấn áp cái gọi là “nhóm xét lại chống Đảng” (1967) cho tới khi tôi đặt bút viết Đêm Giữa Ban Ngày thì đã qua gần 30 năm. Khoảng cách về thời gian ấy là một độ lùi cần thiết cho người viết hồi ký. Những trang viết sẽ tách khỏi những cảm xúc tại chỗ, nóng hổi, nhất thời, gắn với những sự việc đang hoặc vừa xảy ra. Độ lùi này làm cho sự nhìn lại và miêu tả những sự kiện xảy ra trong quá khứ khách quan hơn.

Đêm Giữa Ban Ngày đã được thực hiện đúng như ý cha tôi muốn. Nó không phải là cuốn sách về một vụ án. Tôi không có định viết về vụ “nhóm xét lại chống Đảng” như một bản buộc tội những kẻ gây ra nó, cũng là thủ phạm của vô vàn oan trái khác tràn lan trong xã hội thời ấy, hay như sự chiêu tuyết cho những nạn nhân.

Vụ án chỉ là cái nền cho sự miêu tả một xã hội, trong đó tôi đã sống, với trải nghiệm của một thành viên bất đắc dĩ. Tôi vui khi thấy nhiều bạn đọc hiểu đúng mục đích của cuốn sách. Không có gì vô duyên hơn những hồi ký kể lể danh vị của cha ông hoặc sự khoe khoang những thành đạt trong cuộc đời tác giả. Người ta đọc hồi ký là để biết một cái gì lớn hơn cuộc đời của một cá nhân – ấy là diện mạo của một xã hội trong đó tác giả nằm khuất dưới những hàng chữ với tư cách nhân chứng.

Khi viết Đêm Giữa Ban Ngày tôi không hề muốn nói về “cái tôi” trong sự kiện, mà dùng sự kiện (vụ án) như cái nền trên đó hình ảnh của một xã hội mà tôi coi là không xứng đáng với con người được lộ ra nhiều nhất có thể. Chính vì thế mà bạn đọc mới được biết về những số phận người như ông già ba chục năm tù “Jean Valjean gọi bằng Cụ”, thằng bé Hán Còi, ông nông dân hiền lành Nguyễn Thái Bút hoặc tên “gián điệp quốc tế” Dịp Pún Mằn… Nếu tôi có đưa vào cuốn sách những văn nghệ sĩ như nhà văn Nguyễn Tuân, hoạ sĩ Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái… thì đó là để nói về cách đối xử của chính quyền cộng sản với lớp công dân ưu tú mà chính quyền ở các quốc gia bình thường coi trọng.

Chính vì để miêu tả những số phận bị chà đạp, bị dày xéo ấy mà bạn thấy tôi không nói gì nhiều về thân phận của tôi trong chín năm qua nhiều trại giam và những gì tôi đã nếm trải, như thể tôi “đang nói về chuyện của ai đó chứ không phải của mình vậy”. Những nhà tù (được gọi là “trại cải tạo”) có rất nhiều chuyện đáng được nói đến, được kể ra, nhưng những cái đó nằm ngoài mục đích của cuốn Đêm Giữa Ban Ngày. Chỉ tính những gì được nói đến đã làm cho nó dày cộp rồi. Hơn nữa, tôi không có ý định viết một cuốn sách thuộc dòng văn học “tố khổ”. Những tác phẩm loại này đã có nhiều đến nỗi sự thêm vào một cuốn nữa là thừa.

Jean Fréville (Eugène Schklaff (1895-1971) có một lời khuyên đáng giá cho người cầm bút bất kể anh ta dùng thể loại văn học nào: “Hãy để sự vật nói lên”. Sức mạnh của sự vật, cũng là sức mạnh của sự thật, lớn hơn mọi thủ pháp văn chương. Tôi đã cố gắng theo đúng lời khuyên này, nhưng không chắc mình đã làm được.

Bạn hỏi: “Sau tất cả những điều kinh khủng mà bác phải qua trong suốt 9 năm trời như vậy, mà sao bác không có chút hận thù, căm ghét gì với những kẻ đã hành hạ bác trong suốt những ngày tháng tù đày dã man đến vậy ạ?”. Bảo rằng tôi không có chút hận thù hay căm ghét nào với những kẻ hành hạ tôi thì tôi nghĩ không được đúng lắm đâu. Có đấy, nó nằm trong sự thật mà bạn thấy qua những dữ kiện được trình bày bằng cái nhìn lạnh lùng. Sự thật đã được phơi bày thì mọi bình luận về nó là thừa, làm hỏng điều mình muốn nói.

Khi nhìn lại sự việc trong quá khứ cái nhìn nào cũng chứa đựng sự bao dung trong vô thức, không nhiều thì ít, với người nào cũng vậy. Không ai có thể mãi mãi khư khư ôm thù hận trong lòng trong suốt cuộc đời. Tôi nhớ có đọc đâu đó một nghiên cứu khoa học về một đặc tính của não bộ con người – nó bao giờ cũng giữ lại những kỷ niệm tốt đẹp và quên đi những việc xấu.

Tôi hiển nhiên là nạn nhân của hai tên độc tài Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, như nhiều bạn cùng thời tôi biết rõ, hay ít ra thì cũng biết nhiều hơn những người chỉ đọc những bài tụng ca các lãnh tụ anh minh. Nhưng khi đã lùi xa khỏi sự kiện, tôi mới thấy cả hai người (hay quỷ) này xét cho cùng cũng là một thứ nạn nhân – nạn nhân của sự ham hố quyền lực và danh vọng. Chúng hoàn toàn không hiểu được rằng chúng là nô lệ của sự ham hố ấy. Vô vàn tội ác của chúng cũng từ sự ham hố ấy mà ra. Chửi bới chúng là tự hạ mình xuống chỗ của chúng.

Khi “quân dữ” (tôi mượn từ Thiên Chúa giáo) hùng hổ xông vào tôi khi tôi đang đi giữa đường, quẳng tôi lên xe, đưa tôi vào thẳng Hoả Lò, nhà tù nằm giữa lòng thành phố, rồi tiếp tục cuộc hành hạ tôi chín năm, tôi thấy lòng mình hoàn toàn yên tĩnh nhờ sự biết trước rằng chúng không thể hành xử theo cách nào khác với bản chất của chúng.

Khi ấy, tôi chợt nhớ tới mấy vần thơ của Puskhin:

Đừng cười nhé nỗi buồn anh thấy trước

Anh biết đòn số mệnh chẳng buông tha

Mái đầu xanh em vẫn hằng ve vuốt

Từ ngực em sẽ tới pháp trường xa…

Tôi không biết làm thơ, nhưng trong những ngày tù đằng đẵng của mình, tức cảnh sinh tình, tôi cũng ghi lại mấy dòng giống như thơ:

Kiệt lực qua thập điện khổ đau

Tôi lử lả tiến công vào cái Ác

Trong đêm giữa ban ngày

Với vũ khí trong tay

Chỉ một ngọn bút cùn thay lưỡi mác

Tôi ngã xuống trong lốc bụi chiến trường,

Phút hấp hối còn mang mang nghe tiếng nhạc.

Thì ra máu của tim mình

nhỏ xuống

đất cằn

Và đất lên giọng hát

Bài hát của niềm tin

Từ trái tim tôi rách nát.

Thực khách ở New Hampshire trả tiền nhà hàng $37.93 nhưng ‘tip’ tới $16,000!

Thực khách ở New Hampshire trả tiền nhà hàng $37.93 nhưng ‘tip’ tới $16,000!

June 24, 2021 

LONDONDERRY, New Hampshire (NV) – Một vị khách, không muốn nêu tên, đã ghi vào hóa đơn trả tiền thức ăn trị giá $37.93 của mình số tiền “tip” là $16,000.

Câu chuyện khó tin nhưng có thật xảy ra tại nhà hàng Stumble Inn Bar and Grill ở thành phố Londonderry, New Hampshire.

Số tiền “tip” $16,000 ghi trong hóa đơn trả tiền thức ăn trị giá $37.93. (Hình: Mike Zarelle cung cấp)

Theo lời ông Mike Zarelle, chủ nhân nhà hàng, nói với phóng viên Người Việt hôm trưa Thứ Năm, 24 Tháng Sáu: “Sự việc diễn ra vào ngày 12 Tháng Sáu, nhưng cho đến 22 Tháng Sáu, tức 14 ngày sau, chúng tôi mới quyết định chia sẻ câu chuyện trên trang Facebook của nhà hàng.”

“Người khách tốt bụng đó chỉ nói đơn giản là ông ấy muốn bày tỏ tri ân với tất cả nhân viên ở đây và công việc mà họ đang làm,” ông Zarelle nói qua điện thoại.

Vị khách giấu tên tốt bụng ấy đã gọi hai phần bánh mì xúc xích (chilli dogs), khoai tây chiên và vài ly cocktail.

Cô Lindsay Chowns, nhân viên nhà hàng, nói với Người Việt rằng cô “rất bất ngờ và không bao giờ nghĩ rằng chuyện này có thể xảy ra.”

Tất cả nhân viên đi làm ngày hôm đó đều như vừa “trải qua một giấc mơ tuyệt vời,” theo lời của Chowns nói.

Theo lời ông Zarelle, khi ông nhìn thấy số tiền “tip” ghi trong hóa đơn tính tiền, ông nghĩ người khách bị nhầm lẫn hoặc “có vấn đề về tâm thần.”

“Tôi nói với vị khách là hình như ông ấy nhầm lẫn vài con số không. Nhưng ông ấy trả lời ‘Không, đó là $16,000.’ Lúc đó tôi và người nhân viên thu ngân mới tin đó là sự thật, không phải chuyện đùa,” ông Zarelle kể lại.

Đặc biệt, vị khách tốt bụng ấy nhấn mạnh đến ba lần, rằng “đừng sử dụng số tiền này vào một chỗ duy nhất. Hãy chia nó ra.” Do đó, cũng theo ông Zarelle, số tiền “tip” $16,000 được chia ra cho tám nhân viên làm việc ngày hôm đó. Sau đó, những người này chia đều món quà của người khách lạ cho bốn nhân viên làm việc trong bếp.

“Đây là thật sự là một sự phi thường. Ông ấy là một người tử tế. Chúng tôi rất cảm kích việc ông ấy làm, đặc biệt sau một năm vô cùng khó khăn cho tất cả mọi người,” ông Zarelle nói trước khi kết thúc cuộc nói chuyện.

Như tất cả những nhà hàng khác ở Mỹ, Stumble Inn Bar and Grill của ông Zarelle phải đóng cửa vài tháng trong năm vừa qua. Sau đó chỉ bán “take-out” và ăn uống bên ngoài. Hiện nay, nhà hàng trở lại hoạt động bình thường, phục vụ khách hàng cả bên ngoài lẫn bên trong.

Số tiền “tip” này là con số cao nhất mà báo chí có cơ hội biết đến kể từ khi xảy ra đại dịch COVID-19.

Hóa đơn trả tiền thức ăn trị giá $37.93 với số tiền “tip” $16,000. (Hình: Mike Zarelle cung cấp)

Theo Washington Post, vào một ngày cuối Tháng Mười Một, 2020, trong lúc một nhà hàng nhỏ ở Cleveland, Ohio, chuẩn bị đóng cửa theo lệnh tiểu bang, một vị khách (cũng giấu tên) bước đến trả tiền phần ăn của ông và nói: “Chúc các bạn may mắn và hẹn gặp lại khi nhà hàng mở cửa trở lại.”

Ông khách này để lại hóa đơn thanh toán phần ăn trị giá $7 và số tiền “tip”… $3,000.

Ngày 29 Tháng Năm, 2020, là ngày đầu tiên nhà hàng Founding Farmers ở Reston, Virginia, mở cửa trở lại. Hôm đó cũng là ngày mà ông Dan Simons, chủ nhà hàng, bật khóc khi ông nhận một món quà có ý nghĩa rất lớn với ông cũng như những nhân viên khác.

Ông Simons đưa lên Twitter một hóa đơn mà trong đó một vị khách hàng gửi tặng $1,000 “tip” cho những phần ăn trị giá $213.59 cùng với dòng chữ: “Chúc mừng nhà hàng mở cửa lại. Chúng tôi rất nhớ các bạn. Hãy chia số tiền này với các đồng nghiệp trong ngày hôm nay.” (K.L.) [đ.d.]

THƯ CỦA MỘT LINH MỤC HẤP HỐI GỬI CHO CHÚA

THƯ CỦA MỘT LINH MỤC HẤP HỐI GỬI CHO CHÚA

“Con sợ rằng, vào giờ sau hết, con sẽ có chung một ý tưởng như mẹ con đã có khi bà lìa đời.  Ý tưởng đó là, con chết mà thấy mình chẳng có công nghiệp gì, có thể nói là trắng tay, vì không gì Chúa gửi đến mà lại quá sức con…”

Cha José Luis Martín Descalzo người Tây Ban Nha, một phóng viên, một nhà văn, cũng là con út trong một gia đình công giáo đạo đức gồm bốn anh chị em.  Ngài tốt nghiệp khoa Lịch Sử và Thần Học của Đại Học Giáo Hoàng Grêgôriô tại Rome, thụ phong linh mục năm 1953.  Ngài làm việc trong tư cách giáo sư và giám đốc tại một công ty kịch nghệ; và trong thời gian diễn ra Công Đồng Vaticano II, cha José Luis Martín Descalzo là một thông tín viên.

Là một nhà báo, cha José đã điều hành nhiều tạp chí khác nhau và một chương trình truyền hình.  Ngài đã viết nhiều tác phẩm văn chương, một số được biết đến nhiều nhất là “Cuộc Đời và Mầu Nhiệm Của Chúa Giêsu thành Nazareth”, “Những Lý Do Để Sống”, “Những Lý Do Để Hy Vọng”, “Những Lý Do Để Yêu Thương” và “Những Lý Do Cho Đời Sau”, vốn tích hợp nhiều đề mục liên quan đến các biến cố thực và cuộc sống thường ngày.

Cha José Luis Martín Descalzo đã dâng trọn đời mình cho thiên chức linh mục; ngài nguyện trung thành với ơn gọi một cách đơn sơ nhưng sâu lắng.  Từ lúc còn trẻ, trải qua những cơn đau tim và thận suy nghiêm trọng, ngài đã phải lọc máu nhiều năm.  Sống trọn vẹn những giờ khắc hiện tại Chúa ban, Ngài không ngừng toả lan niềm hy vọng cho đến lúc lìa đời tại Madrid ngày 11 tháng 6 năm 1991.  Ở đây, chúng tôi xin giới thiệu bài viết cuối cùng của ngài trước khi ngài ra đi, đó là một lá thư gửi cho Thiên Chúa, chất chứa những tâm tình quý giá đáng cho chúng ta nghiền ngẫm và chia sẻ.

“‘Con cám ơn Chúa’, những lời này sẽ gói trọn tất cả những gì con muốn gửi đến Ngài, lạy Thiên Chúa, tình yêu của con; bởi lẽ, đó cũng là tất cả những gì con muốn thưa lên cùng Chúa, ‘Cám ơn Chúa’, ‘Cám ơn Chúa’.  Đứng từ chỏm núi cao nhất của 55năm đời mình, con nhìn lại và dường như không thấy gì khác ngoài những dãy núi trùng trùng điệp điệp bất tận của tình yêu Chúa.  Lịch sử đời con, chẳng chỗ nào lại không được rọi sáng bởi lòng thương xót Chúa dành cho con; ở đó, đã không một giây phút nào mà con đã không nghiệm ra một sự hiện diện yêu thương đầy tình phụ tử của Chúa đêm ngày chăm bẵm linh hồn con.

Ngay mới hôm qua, một người bạn vừa nghe biết vấn đề sức khoẻ của con gửi cho con một bưu thiếp; trong đó, đầy phẫn nộ, cô bạn viết cho con những lời này, “Một sự giận dữ lớn lao xâm chiếm toàn thân con, và con đã nổi loạn với Chúa vì đã để cho một người như cha phải khốn khổ.” Một điều gì đó thật đáng thương!  Cảm xúc nơi cô đã khiến cô mù loà để không trông thấy sự thật. Đó là đang khi con chẳng còn quan trọng gì so với bất cứ ai, thì trọn đời con đã là một chứng từ cho sự sống và niềm tin.  Suốt 55 năm đời con, con đã đau khổ hơn nhiều lần dưới bàn tay người đời; bao lời nộp rủa và sự vô ơn cũng như cô đơn và hiểu lầm.  Vậy mà, từ nơi Ngài, con đã không nhận được gì khác ngoài những cử chỉ âu yếm bất tận, kể cả cơn đau sau cùng của con.

Trước hết, Chúa cho con sự sống, kỳ diệu thay con được làm người, để con vui thoả cảm nhận sự mỹ miều của thế giới. Cho con niềm vui trở nên một phần của gia đình nhân loại; cho con vui sướng vì biết rằng, cuối cùng, khi con đặt mọi sự lên bàn cân thì những vết cắt, những thương tích luôn luôn ít hơn tình yêu lớn lao mà cũng chính những con người đó đã đặt lên đĩa cân bên kia của đời con. Dường như con khá may mắn hơn những người khác thì phải. Có thể.  Nhưng giờ đây, làm sao con có thể vờ vịt làm một kẻ bị đọa đày của nhân loại khi biết chắc một điều là, con đã được đỡ nâng và cảm thông nhiều hơn là những khó nhọc.

Hơn thế, cùng với quà tặng làm người, Chúa còn cho con quà tặng đức tin.  Ngay từ thời thơ ấu, con cảm nhận sự hiện diện của Ngài hằng bao bọc con; với con, xem ra Chúa thật dịu hiền.  Nghe đến danh Ngài, con chẳng hề sợ hãi bao giờ.  Linh hồn con, Chúa đã trồng vào đó những khả năng phi thường: khả năng nhận thức, con đang được thương yêu; khả năng cảm biết, mình đang được cưng chiều; khả năng trải nghiệm sự hiện diện mỗi ngày của Chúa trong từng giờ khắc lặng lẽ trôi.  Con biết, vẫn có một ít người nguyền rủa ngày họ chào đời, họ thét lên với Chúa rằng, họ không cầu xin để được sinh ra; con cũng chẳng cầu xin điều đó, vì trước đó làm gì có con.  Nhưng nếu con biết đời mình là gì, hẳn con vẫn sẽ van nài cho được hiện hữu, một sự hiện hữu như Ngài đang ban cho con.

Con thiết nghĩ, vẫn là tuyệt đối cần thiết để được sinh ra trong mái gia đình mà Chúa đã chọn cho con.  Hôm nay con sẽ sẵn sàng đánh đổi tất cả những gì con sở hữu chỉ để được lại ba mẹ và anh chị em con như con đã được.  Tất cả họ là những chứng nhân sống động cho sự hiện diện của tình yêu Chúa; qua những người thân yêu đó, con dễ dàng học biết Chúa là ai.  Nhờ họ mà việc kính mến Chúa yêu thương người của con nên dễ dàng hơn rất nhiều.  Thật vô lý nếu không yêu mến Chúa cũng như không dễ gì để có thể sống đắng cay.  Hạnh phúc, niềm tin và lòng tín thác tựa hồ món bánh kem mà mẹ con luôn luôn dọn sẵn sau bữa cơm chiều, một món gì đó gần như chắc chắn không thể không có; hôm nào không có bánh kem thì thật đơn giản, chỉ vì không có trứng chứ không phải tình yêu đang thiếu đi. Con cũng học biết rằng, đau khổ là một phần của cuộc vui; đau khổ không phải là một lời nguyền rủa nhưng là một phần cho cái giá của sự sống, một điều gì đó vốn không bao giờ đủ để lấy mất niềm vui của chúng con.

Nhờ tất cả những điều ấy, giờ đây con cảm thấy thẹn thùng khi nói lên và rằng, cơn đau không làm con đau, đắng cay không làm con cay đắng.  Được như thế, không phải vì con can trường nhưng đơn giản chỉ vì ngay từ tấm bé, con đã học nhìn ngắm những khía cạnh tích cực của cuộc sống và tập bước đi trong những vùng tối tăm; để rồi khi chúng ập đến, chúng không quá tăm tối nhưng chỉ hơi xám một chút. Một người bạn khác vừa viết cho con trong mấy ngày qua rằng, con có thể chịu đựng được việc lọc máu cùng lúc khi “con say Chúa.”  Điều này, với con, xem ra hơi quá đáng và cường điệu.  Bởi vì ngay từ thuở nằm nôi, con đã ngất say với sự hiện diện tự nhiên của Ngài, lạy Chúa, và trong Ngài, con luôn cảm thấy cứng cáp để chịu đau đớn hoặc cũng có thể chỉ vì đau đớn thật sự Chúa đã không gửi đến cho con.

Đôi khi con nghĩ, con thật “quá đỗi may mắn.”  Các thánh đã dâng Chúa bao điều lớn lao, còn con, đã không bao giờ có gì đáng giá để dâng Ngài.  Con sợ rằng, vào giờ sau hết, con sẽ có chung một ý tưởng như mẹ con đã có khi bà lìa đời. Ý tưởng đó là, con chết mà thấy mình chẳng có công nghiệp gì, có thể nói là trắng tay, vì không gì Chúa gửi đến mà lại quá sức con; cũng không phải ngay cả sự cô đơn hay phiền muộn Chúa trao cho những ai thực sự thuộc về Ngài.  Tha lỗi cho con, nhưng con sẽ làm gì đây khi Chúa không bao giờ bỏ con? Đôi lúc con cảm thấy xấu hổ khi nghĩ rằng, con sẽ chết mà không được ở bên Chúa trong vườn Ôliu, không được trải qua hấp hối của mình trong vườn cây dầu. Chỉ bởi Chúa, con không hiểu tại sao, không bao giờ để con vắng mặt trong các Chúa Nhật Lễ Lá dù con phải nằm bệnh viện triền miên.  Thi thoảng, trong những giấc mơ anh hùng của mình, con từng nghĩ táo bạo rằng, lẽ ra con cần trải qua một cuộc khủng hoảng đức tin để tự chứng tỏ cho Chúa thấy.  Người ta nói, lòng tin đích thực được chứng tỏ nơi thập giá đang khi con chưa bao giờ gặp phải bất kỳ một thập giá nào ngoài đôi tay mơn trớn dịu hiền của Ngài.

Đó chẳng phải vì con tốt lành hơn những người khác.  Tội lỗi tiềm ẩn trong con, nó sâu sắc làm sao… Chúa với con cùng biết.  Sự thật là ngay cả vào những thời khắc tồi tệ nhất, con vẫn chưa trải nghiệm được cái nghiệt ngã của bóng tối sự dữ, bởi lẽ, ánh sáng Chúa đã đêm ngày chiếu soi con. Ngay trong khổ đau, con vẫn thuộc về Chúa; quả vậy, tình yêu Chúa dành cho con xem ra càng tăng thêm mỗi khi con lỗi tội nhiều hơn.

Con cũng đã tựa nương vào Chúa suốt những thời điểm bách hại và khó khăn.  Chúa biết, ngay cả trong những chuyện thế gian, thì ở đó, bên con, luôn luôn có nhiều người tốt hơn kẻ bội phản.  Vì lẽ, cứ mỗi lần hiểu lầm, con lại nhận được những mười nụ cười.  Con thật may mắn vì sự dữ không bao giờ phương hại được con; và quan trọng nhất, sự dữ không bao giờ có thể làm nội tâm con cay đắng.  Ngay đến cả những trải nghiệm tồi tệ cũng làm gia tăng trong con sự khát khao được nên trọn lành và kết quả là, con có những người bạn hết sức bất ngờ.

Rồi, Chúa đã gọi con, kỳ diệu thay!  Con là linh mục, một điều không thể, Chúa biết điều đó… nhưng với con, con biết, thật nhiệm mầu.  Hôm nay hẳn con không còn nhiệt huyết với mối tình trẻ như những thuở đầu; nhưng may thay, thánh lễ đã không bao giờ chỉ là một thói quen thường nhật và con vẫn run lên mỗi khi giải tội.  Con vẫn cảm nhận niềm vui vô bờ khi đang ở đây để có thể nâng đỡ người khác, cũng như niềm vui hiện diện để rao truyền danh Chúa cho anh em. Chúa biết, con vẫn sùi sụt khóc mỗi khi đọc lại dụ ngôn đứa con hoang đàng; nhờ ơn Chúa, con vẫn xúc động mỗi lần đọc Kinh Tin Kính ở phần nói đến cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa.

Dĩ nhiên, quà tặng lớn nhất của Chúa là chính Con Một, Chúa Giêsu.  Ngay cả khi con là con người đáng thương nhất hoặc khi khổ đau vẫn cứ đeo bám con mọi ngày trong đời thì con biết rằng, con sẽ chỉ nhớ đến Chúa Giêsu mà vượt qua chúng. Việc ý thức Chúa đã nên một người như chúng con giúp con giao hòa với những thất bại và trống rỗng của mình.  Vậy tại sao lại có thể buồn một khi biết rằng, Chúa đã bước những bước trên hành tinh này. Còn gì dịu dàng hơn việc chiêm ngắm khuôn mặt sầu bi của Mẹ Maria?

Hẳn con đang hạnh phúc, sao mà không hạnh phúc được?  Con đang hạnh phúc ngay đây dẫu đang ở ngoài vinh quang thiên đàng.  Chúa hãy nhìn xem, con đâu sợ chết, nhưng con không vội đến đó.  Liệu con được gần Chúa hơn khi đến đó so với bây giờ không?  Thật là kỳ diệu, có thiên đàng ngay khi chúng con có thể yêu mến Chúa.  Cabodevilla, bạn con, nghĩ đến một điều gì đó khi nói, “Chúng ta sắp chết mà không biết đâu là quà tặng tuyệt vời nhất của Chúa, hoặc Chúa yêu mến chúng ta hoặc Chúa cho chúng ta mến yêu Ngài.”

Vì lý do này, con đau lòng biết bao khi ai đó coi thường cuộc sống của họ.  Quả thật, mỗi người chúng con đang làm một điều gì đó cao cả hơn vô vàn so với phận mình, phàm phu tục tử; đó là yêu mến Chúa và cộng tác với Chúa trong việc kiến tạo một toà nhà bát ngát bao la của tình yêu.

Con cảm thấy không ổn khi nói rằng, chúng con làm vinh quang Chúa ở thế gian này; nói thế thì thật quá đáng.  Con tin rằng, con sẽ vui thỏa khi con gối đầu vào tay Chúa để Chúa có cơ hội vỗ về con, thế thôi.  Việc nói rằng Chúa sẽ ban thiên đàng cho chúng con như một phần thưởng khiến con thầm cười.  Phần thưởng cho cái gì đây? Chúa thật đáo để khi vừa ban thiên đàng vừa cho chúng con cảm thấy mình xứng đáng với điều đó.  Chúa quá biết, chỉ tình yêu mới có thể đáp đền tình yêu.  Hạnh phúc không là kết quả cũng không là hoa trái của tình yêu; tình yêu tự nó là hạnh phúc.  Nhận biết Chúa là Cha của con, và đó là thiên đàng.  Dĩ nhiên, Chúa không cần cho con mọi điều, nguyên việc cho con yêu mến Chúa đã là quà tặng lớn lao cho con, Chúa không thể cho con nhiều hơn.

Vì tất cả điều này, lạy Chúa, Thiên Chúa của con, con đã muốn nói về Chúa và với Chúa ở trang cuối cuốn sách “Những Lý Do Để Yêu Thương” của con. Chúa là cùng đích và là lý do duy nhất cho tình yêu của con, con không còn lý do nào nữa.  Sẽ không có bất cứ hy vọng nào cho con nếu không có Chúa. Niềm vui của con sẽ được tìm thấy ở đâu, dựa trên cái gì, nếu vắng bóng Ngài. Rượu tình của con sẽ vô vị nhạt nhẽo biết bao nếu không được ủ ấp trong tình yêu Chúa.  Chúa cho con sức mạnh và cuộc đời để con biết rất rõ rằng, nhiệm vụ duy nhất của con là như một phát ngôn nhân lặp đi lặp lại danh Chúa mãi mãi.  Và như thế, con thanh thản ra đi.

Con, José Luis Martín Descalzo”

Luisa Restrepo – Lm. Minh Anh dịch từ catholic-link.org (tonggiaophanhue.org 28.04.2020)

 From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen

 

Kỹ Thuật Thông Tim

Kỹ Thuật Thông Tim

  Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức  

 

Nói là “Thông Tim” thì cũng không chính xác lắm. Ðúng ra là thông Ðộng Mạch Vành nuôi dưỡng trái tim thân yêu của chúng ta. Thay vì trơn tru mở rộng thì động mạch đã bị thoái hóa, tắc nghẽn với nhiều chất khác nhau bám vào thành của huyết quản.

Ðộng Mạch Vành coronary artery bao bọc trái tim như một cái vương miện với hai nhánh phải và trái và nhận máu trực tiếp từ Ðộng Mạch Chủ aorta. Tế bào tim được tiếp tế oxy và chất dinh dưỡng từ động mạch vành. Nếu vì một lý do nào đó mà động mạch này bị nghẹt thì sự nuôi dưỡng bị trở ngại, tim thiếu dưỡng khí, báo động bằng cơn đau thắt ngực.

Trong đa số các trường hợp, tắc nghẽn là do chất béo bám vào mặt trong của thành động mạch. Ðó là bệnh Vữa Xơ Ðộng Mạch.

Ngày nay, nhiều người cứ nói vữa xơ là hậu quả của nếp sống dư thừa trong thời văn minh tiến bộ hiện đại. Thực ra dấu hiệu vữa xơ đã tìm thấy ở xác ướp Ai Cập cả nhiều ngàn năm về trước.

Vữa xơ động mạch atherosclerosis là bệnh trong đó các mảng gồm nhiều chất bám vào mặt trong thành động mạch khiến cho sự lưu thông của máu bị gián đoạn. Thành phần chính của mảng này là chất béo, chất cholesterol cộng thêm các chất phụ khác như calcium, tế bào xơ. Mảng xơ vữa có thể tan vỡ,  đưa tới chứng huyết khối.

Ðây là một diễn tiến phức tạp, phát triển chậm, xuất hiện từ tuổi nhỏ và trầm trọng lên với thời gian. Theo nhiều khoa học gia, bệnh bắt đầu với sự tổn thương ở lớp tế bào trong cùng của động mạch.

Theo Hội Tim Mạch Hoa Kỳ, ba rủi ro đã được chứng minh làm tổn thương lòng động mạch là:

1) Mức độ cholesterol và triglyceride trong máu lên quá cao;

2) Cao huyết áp;

3) Ảnh hưởng của hút thuốc lá.

Ngoài ra vữa xơ còn hay xẩy ra ở người béo phì, mắc bệnh tiểu đường, có nhiều căng thẳng tâm thần và  không vận động cơ thể.

Di truyền cũng tham dự phần nhỏ. Nếu cả cha lẫn mẹ bị vữa xơ thì con có nhiều triển vọng bị bệnh.

Cũng còn phải kể tới tuổi tác và giới tính.

Người dưới năm mươi tuổi ít vữa xơ hơn người trên tuổi này.

Trước khi mãn kinh, phụ nữ ít bị vữa xơ  hơn nam giới nhờ sự bảo vệ của kích thích tố nữ, nhưng  từ tuổi mãn kinh thì nam nữ bị vữa xơ bằng nhau.

Vữa xơ có thể thấy ở các động mạch cỡ trung và lớn. Nếu ở động mạch vành nuôi dưỡng tim thì đưa tới nhồi máu cơ tim; động mạch cản nuôi dưỡng não bộ sẽ có tai biến mạch máu não, động mạch nuôi dưỡng chi dưới với hoại tử chi; động mạch võng mạc đưa tới khiếm thị, mù lòa…

Tắc nghẽn thì phải kiếm cách thông, giống như thông ống cống nước từ bếp ra vườn. Nhưng thông cống chỉ việc tống cây sào dài vào hoặc đổ nửa lít nước hóa chất là xong. Còn mạch máu thì nằm ở xa lại mỏng manh, khó mà đạt tới.  Cũng đã có nhiều dược phẩm để giải tỏa tắc nghẽn nhưng công hiệu chậm. Nên nếu thông được như thông cống thì hay biết mấy.

Thế là các nhà y khoa học lại vắt tay lên trán, tìm kiếm kỹ thuật, thuốc men. Và mở đầu với sự tò mò, mạo hiểm của một sinh viên nội trú y khoa người Ðức, anh Werner Frossmann. 

Ðó là vào năm 1929. Từ lâu, anh ta vẫn muốn tìm cách để thám hiểm trái tim mà không gây ra thương tổn gì.

Sau khi đã có một ý niệm, anh trình bầy với các vị thầy, các vị đàn anh về điều anh định làm. Nhưng mọi người đều không tin tưởng và cấm không cho anh thực hiện ý tưởng điên rồ đó trong bệnh viện.

Anh bèn năn nỉ một nữ điều dưỡng viên cho mượn một ống thông.  Anh đưa ống thông từ mạch máu ở khuỷu tay của mình, luồn dần lên tim. Ðặt ống xong, anh lại năn nỉ một đồng nghiệp điện tuyến, chụp cho một tấm hình X-Quang ngực. Và thấy đầu ống thông đã an toàn nằm ở tim mà không gây ra khó khăn gì cho sức khỏe của mình.

Werner hăm hở tường trình sự việc với ông thầy. Chẳng những không được khen mà còn bị khiển trách, không cho thực tập ngành tim tại bệnh viện.  Anh ta đành học về tiết niệu và tiếp tục lén lút nghiên cứu, thọc thêm tới 15 lần nữa vào tim mạch của mình. Nghiên cứu được anh công bố trong y giới, nhưng không ai để ý. Buồn tình, anh về một tỉnh lẻ, hành nghề y, kiếm bạc cắc cho qua ngày.

Rồi một ngày đẹp trời của năm 1956, Werner được mời ra nhận giải Nobel với hai nhà Tim học Andreas Frderic Coumand và Dickinson W. Richards. Hai vị bác sĩ này đã dựa trên kết quả các mạo hiểm trước đây của Werner để tìm cách chữa tắc nghẽn động mạch. Năm 1941, hai ông đã thành công trong việc  dùng ống thông tim để đo lưu lượng máu từ tim ra.

Các nhà y khoa học  tiếp tục nghiên cứu.

Tới năm 1977 thì bác sĩ Andreas Gruentzig của Bệnh Viện Ðại Học Zurich, Thụy Sĩ là người đầu tiên thực hiện kỹ thuật thông mạch máu bằng bóng balloon ở người. Ông này sau đó sang định cư tại Hoa Kỳ, tiếp tục tìm hiểu về bệnh tim và làm giàu trí thức cho quốc gia này. Balloon làm bằng một loại plastic gọi là polyethylene terephthalate (PET) rất bền bỉ và thay đổi hình dạng dễ dàng

Ngày 3 tháng 8 năm 1994, cơ quan Thực Dược Phẩm Hoa Kỳ công nhận Balloon-Expandable–Stent do bác sĩ Richards Schatz chế biến để làm thông và mở rộng động mạch tim bị tắc nghẽn vì mỡ đóng lên.

Ngày nay, cả triệu bệnh nhân nghẹt tim được thông bằng kỹ thuật này. Kỹ thuật rất phổ thông, được mang ra dùng tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Phương pháp thông tim giản dị và dễ thực hiện hơn là giải phẫu bắc cầu by-pass surgery, nhưng một trở ngại là từ 30 – 50% bệnh nhân cần thông lại vì mạch có thể bị nghẹt lại.  Và stent được các nhà chuyên môn đặt để tránh sự tái tắc nghẹt này.

Xác định tắc nghẽn mạch máu.

Vữa xơ động mạch được xác định bằng kỹ thuật chụp X-Quang cardiac catheterization. Ðây là một kỹ thuật rất hữu ích và khá chính xác để biết tình trạng tốt xấu của hệ thống tuần hoàn.

Một ống hướng dẫn bằng plastic mềm nhỏ được đưa vào mạch máu ở cánh tay hoặc ở bẹn. Ống được đẩy dọc theo mạch máu để vào lòng trái tim hoặc động mạch nuôi tim. Một loại hóa chất cản quang đặc biệt được chuyền vào ống hướng dẫn. Chất này giúp ta nhìn rõ được tình trạng trong lòng mạch máu  hoặc các phòng trái tim qua máy X-Quang.

Chụp X-Quang mạch máu được áp dụng trong các trường hợp sau:

– Khi ta có dấu hiệu đau động mạch tim như là cơn đau trước ngực;

– Ðau không biết nguyên nhân ở ngực, cằm, cổ, cánh tay mà các thử nghiệm khác đều không xác định được tại sao;

– Khi có cơn đau mới xẩy ra ở ngực;

– Không có triệu chứng gì nhưng vài thử nghiệm khác cho là ta có thể bị bệnh tim mạch.

– Khi sẽ có phẫu thuật không liên hệ tới tim mạch nhưng ta có thể có rủi ro bệnh tim trong khi giải phẫu;

– Khi ta sẽ có giải phẫu về van tim;

– Khi ta đã có bệnh tim bẩm sinh;

– Khi ta đang bị suy tim;

– Khi có chấn thương ngực hoặc một bệnh tim nào đó.

Thông Tim – Ðặt Lưới

Khi tình trạng vữa xơ động mạch tim không có kết quả tốt với thay đổi nếp sống, dược phẩm, hoặc khi cơn đau tim ngày càng trầm trọng thì bác sĩ có thể đề nghị làm thông tim – đặt lưới angioplasty balloon.

Trước khi thực hiện, bệnh nhân sẽ được khám tổng quát và làm một số thử nghiệm như:

1- Chụp một phim x-Quang đen trắng của lồng ngực.

Việc này rất dễ thực hiện nhưng cho ta nhiều điều cần biết: hình dạng lớn nhỏ của trái tim, của đại động mạch và tĩnh mạch phổi; tình trạng toàn hảo của hai lá phổi, màng phổi và phế quản.

2- Làm Ðiện Tâm Ðồ.

Mỗi lần trái tim đập một nhịp thì có những dòng điện phát ra từ một số tế bào đặc biệt của trái tim. Luồng điện chạy khắp tim, khiến tim co bóp. Ðiện tâm đồ ghi lại các sinh hoạt điện năng này.

Nhìn hình tâm đồ, bác sĩ có thể chẩn đoán các rối loạn về nhịp đập của tim; cấu tạo bất thường to nhỏ của tim, sự nuôi dưỡng của tế bào tim với oxy; có tiền sử hoặc đang có cơn đau tim; theo dõi tình trạng tim khi đang giải phẫu hoặc khi thông động mạch.

3- Thử nghiệm máu để coi mức cao thấp của cholesterol lành HDL, cholesterol dữ LDL; của các yếu tố giúp máu bớt loãng prothrombine, fibrinogen; các diêu tố tim CPK, LDH, Troponin mà khi lên cao có thể là dấu hiệu của cơn đau tim…

Tới ngày thông tim thì được nhắn nhủ không ăn từ nửa đêm hôm trước, điều chỉnh liều lượng hoặc ngưng một vài loại thuốc, nhất là thuốc loãng máu, thuốc tiểu đường.

Kỹ thuật sẽ được một bác sĩ chuyên khoa tim có tu nghiệp thêm về phương pháp này thực hiện với sự tiếp tay của một nhóm chuyên viên điều dưỡng và kỹ thuật. Kỹ thuật thường được làm ở một trung tâm y tế có đơn vị tim mạch, để phòng hờ trường hợp cần cấp cứu giải phẫu tim.

Thông tim thường thực hiện ở động mạch đùi, đôi khi động mạch cánh tay hoặc cổ tay. Bệnh nhân không cần gây mê tổng quát mà chỉ một chút thuốc tê được chích vào háng để giảm đau. Do đó ta tỉnh táo trong suốt thời gian phương pháp được thực hiện.

Một vết cắt nhỏ trên da ở bẹn được rạch và một ống ngắn nhỏ được đặt vào động mạch. Qua ống này, một ống thông hướng đạo dài hơn, có thể uốn cong, được luồn  vào trong. Dưới sự hướng dẫn qua X quang, ống thông được đưa lên động mạch tim, nơi bị nghẹt. Ống đi lên rất nhẹ nhàng, ta không cảm thấy đau gì, ngoại trừ một chút thôn thốn ở bẹn mà thôi. Nếu đau thì cho bác sĩ hay ngay để họ đối phó.

Một chút dung dịch mầu cản quang được bơm vào ống, tới động mạch vành để chụp hình X quang, coi tắc nghẽn lớn nhỏ ra sao.

Rồi một ống khác nhỏ hơn đầu có mang một bong bóng xẹp được chuyền vào trong ống hướng đạo. Khi lên tới chỗ bị tắc nghẽn, thì bong bóng được bơm phồng lên. Lúc này máu tới tim sẽ giảm chút ít và ta thấy hơi đau nhói nơi ngực. Bong bóng được bơm lên, xẹp xuống vài lần, sẽ đè vào nơi động mạch dính đầy chất béo, làm lòng động mạch mở rộng. Xong nhiệm vụ, bóng được làm xẹp trở lại.

Công hiệu của nong bóng không vĩnh viễn. Theo thống kê, có tới 1/3 bệnh nhân có thể bị nghẹt trở lại trong vòng tháng.

Ðể ngăn ngừa tái tắc nghẽn, một lưới gọi là stent nhỏ xíu được phát minh. Lưới nằm trên ống hướng đạo bong bóng, được đưa tới chỗ nghẹt. Bóng được bơm phồng, lưới mở ra và bám ép vào thành động mạch. Lưới an toàn nằm đó suốt đời người như một cái giá chống đỡ không cho động mạch nghẹt trở lại. Lưới làm bằng hợp kim không rỉ không hư hao, không di chuyển và không trở ngại khi ta đi qua máy rà kim loại ở phi trường hoặc chup X-Quang cơ thể..

Ống hướng dẫn được rút ra và phương pháp thông tim đặt lưới hoàn tất. Trước sau chỉ mất vài giờ đồng hồ, đôi khi chỉ ba mươi phút dưới bàn tay điêu luyện của một chuyên viên đặt ống giầu kinh nghiệm.

Thường thường ta cần nằm lại nhà thương khoảng 24 giờ  để bác sĩ theo dõi tình trạng sau giải phẫu.

Các ống đều được rút ra. Vết cắt trên da nơi bẹn và động mạch được băng bó để tránh chẩy máu, nhiễm trùng và để vết thương mau lành.

Tim được tâm điện đồ theo dõi, để phát hiện và phòng ngừa biến chứng. Nên nằm nghỉ, chân duỗi thẳng.

Một vài thuốc chống huyết cục như aspirin, thuốc kháng tiểu cầu, thuốc an thần được bác sĩ biên toa. Nên uống thuốc theo liều lượng, thời gian mà bác sĩ đã dặn.

Về nhà, nên nghỉ ngơi, tránh làm việc quá nặng trong dăm ngày, uống nhiều nước để loại chất mầu cản quang.

Ðể ý các dấu hiệu bất thường như chẩy máu, nhiễm trùng sưng đỏ, đau nơi vết thương ở bẹn, nhiệt độ cơ thể lên cao, trong người mệt mỏi, đau ngực, khó thở. Thông báo cho bác sĩ ngay.

Vài tuần sau,  khi bác sĩ đồng ý, ta có thể đi làm trở lại được.

Và nhớ giữ ngày tái khám theo hẹn của bác sĩ.

Thế là từ nay ta không còn đau ngực, không còn lo ngại cơn suy tim, tai biến não, tàn phế cơ thể. Nhiều người thấy da dẻ hồng hào, mặt mũi tươi rói, sinh hoạt gia tăng, yêu đời hơn.

Nhưng nên lưu ý lành mạnh nếp sống, bỏ hút thuốc lá, ăn nhiều rau trái cây, bớt chất béo bão hòa động vật, vận động cơ thể đều đặn, giảm cân nếu quá mập phì, chữa các bệnh kinh niên như cao huyết áp,  cao cholesterol, bệnh tiểu đường.

Và nhẹ nhàng sống trong niềm vui của Tâm Thân An Lạc với gia đình, thân hữu.

Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức

  From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen

Vợ chồng trẻ ở Chicago bị đánh, bắn đến chết dù chỉ đụng xe nhẹ

Vợ chồng trẻ ở Chicago bị đánh, bắn đến chết dù chỉ đụng xe nhẹ

June 23, 2021

CHICAGO, Illinois (NV) – Một đôi vợ chồng trẻ thiệt mạng do bị đánh đập và bị bắn sau vụ đụng xe nhẹ ở Chicago, Illinois, cuối tuần qua, theo đài FOX 32 hôm Thứ Ba, 22 Tháng Sáu.

Tối Thứ Bảy tuần trước, cô Yasmin Perez, 23 tuổi, cùng chồng là anh Gyovanny Arzuaga, 24 tuổi, đang lái xe sau khi dự diễn hành Puerto Rican Day trong công viên Humboldt thì xảy ra tông xe.

Đồ vật tưởng niệm anh Gyovanny Arzuaga và cô Yasmin Perez được đặt trong công viên Humboldt ở Chicago, Illinois, hôm 22 Tháng Sáu. (Hình: Brian Cassella/Chicago Tribune via AP)

Video đăng lan tràn trên mạng xã hội cho thấy một nhóm đàn ông vây quanh xe hai vợ chồng cô Perez, rồi lôi cô ra ngoài đánh đập. Anh Arzuaga bị bắn “kiểu xử tử,” chết trong đêm đó.

Còn cô Perez bị bắn ngay cổ, sống sót được vài ngày nhưng qua đời hôm Thứ Ba.

Đôi vợ chồng trẻ để lại hai đứa con. Trang web GoFundMe được lập để giúp đỡ gia đình.

Vụ tấn công dã man làm rúng đụng cả nước Mỹ và nêu bật nạn bạo lực ở Chicago, đặc biệt trong năm nay.

Hôm Thứ Hai, Thị Trưởng Lori Lightfoot hứa sẽ tìm ra hung thủ.

Tính đến chiều Thứ Ba, cảnh sát loan báo chưa bắt giữ người nào. (Th.Long) [qd]

Bơ Vơ Phận Già-Truyện ngắn

 Van Pham

Trong bản năng tiềm thức con người, có ai mà không biết  “thờ cha kính mẹ mới là đạo con’’. Nhưng nói là một chuyện, thực hành lại là một chuyện khác không dễ chi vuông tròn!

***

Truyện ngắn

Bơ Vơ Phận Già

Tôi đang đứng lơ mơ ở cột đèn giao thông chờ băng qua đường, bất chợt một bà bác chống gậy khập khiểng bước đến cạnh tôi lên tiếng hỏi:

– Cô ơi ! cho tôi hỏi thăm một chút.

– Dạ, có chuyện chi đó bác?

Tôi quay lại sốt sắng hỏi. Bà bác với dáng điệu tất tả hoang mang khẩn khỏan nói:

– Tui muốn kiếm phòng mạch bác sĩ Hòang Mai, người ta chỉ tôi ở lối này nè mà không biết là căn nào. Với lại tui cũng muốn biết phòng mạch này ở dưới đất hay trên lầu. Nãy giờ tui đứng đây chờ coi có ai người Việt đi ngang để hỏi. Cô biết không làm ơn chỉ giùm tui đi.

Đèn xanh vừa bật lên cho khách bộ hành qua đường nhưng tôi đứng nán lại chờ nghe bác nói tiếp:

– Chân cẳng tui không thể lên cầu thang được cho nên muốn kiếm bác sĩ nào có phòng khám bệnh dưới lầu. Bác sĩ Mai này làm việc ‘’dưới đất’’ phải không cô?

Tôi chỉ căn nhà không xa phía trước nói:

– Con chưa từng đi bác sĩ này nhưng biết phòng mạch ở đằng trước kìa, chỉ cách đây mấy căn, để con dẫn bác đi và hỏi thử coi sao.

– Cám ơn cô quá, may là gặp cô tử tế, nói thiệt tui không biết chữ, cứ nhắm hướng đi cầu may rồi đi tới đâu hỏi tới đó thôi.

Nghe vậy, tôi nắm cánh tay bác vừa dìu đi vừa hỏi:

– Bác đi được không, ủa mà con cái bác đâu sao không đưa bác đi mà để bác đi một mình vậy? Nhà bác ở đâu, từ nhà ra đây bác đi bằng cái gì?

– Tụi nó bận đi làm hết rồi, tui đi bộ, chống gậy đi từ từ, nói nào ngay sau khi mổ đầu gối một thời gian, tui đi lại được, chỉ không lên thang lầu được thôi. Hôm qua con gái tui có hỏi ‘’má muốn đi bác sĩ hông tui chở cho đi’’ nhưng tui thấy tui đi được, không muốn phiền tụi nó nên nói không, thằng rể tui nó khó lắm cô à ! Tui buồn lắm, nhiều lúc muốn bỏ đi mà không biết đi đâu bây giờ. Thân già này đâu còn làm lụng gì được nữa đâu cô.

Vừa lúc tới trước cửa phòng mạch, tôi đẩy cửa dẫn bác vào gặp cô thơ ký. Tưởng ai xa lạ, ai dè cô này tên Chi, trước kia đã từng làm ở phòng mạch bác sĩ gia đình của tôi nên rất quen. Tôi hỏi:

– Bác sĩ Mai làm dưới lầu phải không Chi? Bà bác đây muốn khám bệnh mà sợ phải leo lầu vì chân yếu.

Chi nói:

– Dạ ở đây có hai bác sĩ, một nam một nữ đều làm ở từng dưới hết, bác muốn gặp bác sĩ nào vậy chị?

Tôi chưa kịp nói gì thì bà bác đã nhanh nhẩu trả lời huề vốn:

– Bác sĩ nào cũng được miễn là ở dưới đất thôi.

– Con đã nói là bác sĩ nào cũng làm ở từng dưới, bác phải nói rõ muốn gặp người nào mới được để con làm hồ sơ.

Chi hơi cau mày khó chịu. Tôi quyết định giùm cho bác:

– Cho gặp bác sĩ Hòang Mai đi Chi.

– Vậy bác cho biết ngày sanh và đưa con cái thẻ medicare đi bác.

Bà ngẩn người nói:

– Ngày sanh hả? Tui đâu có biết, ba má tui chết sớm, còn tui thì không biết chữ, làm sao biết ngày sanh. Tui chỉ biết năm nay tui 85 tuổi thôi.

Tôi và Chi đều lấy làm lạ, Chi sẵng giọng nói:

– Ủa sao kỳ vậy, mỗi khi làm giấy tờ gì người ta cũng cần phải biết ngày sanh tháng đẻ của đương sự, nếu bác không có ngày sanh thì đâu ai làm hồ sơ cho bác được. Ai cũng phải có ngày sanh, dù ngày sanh thật hay ngày sanh giả gì cũng phải có một ngày để điền vô giấy tờ chớ. Vậy bác có giấy nhập quốc tịch hay passport gì mang theo không, cho con mượn coi đi.

Bà ngập ngừng ú ớ :

– Tui, tui cũng không biết, giấy tờ con tui nó cất hết cho tui. Bị tui già quá rồi, chắc nó sợ tui bỏ mất.

– Vậy thôi bác về hỏi lại con bác đi chớ không có ngày sanh con không giúp gì được cho bác hết.*

Tôi đề nghị với Chi:

– Hay là Chi gọi văn phòng Medicare hỏi ngày sanh giùm bác đi khỏi mắc công bác trở đi trở lại. Chị cũng biết chuyện đó là confidential nhưng mình cứ thử coi sao.

Chi nhấc phone bấm số vừa gọi vừa nhăn nhó nói:

– Em cũng đang nghĩ tới chuyện đó nè nhưng chắc người ta không chịu nói hay nói đúng là không có quyền tiết lộ đâu chị à.

Quả thật hopeless. Chi gác điện thọai rồi bỗng phát sùng bâng quơ trách móc người nhà của bà:

– Mấy người này kỳ thiệt, biết má mình vậy sao không ghi sẵn một tấm giấy với đầy đủ chi tiết cho bà bỏ túi đi. Thiệt hết nói. Em đã biết là không được mà.

Thấy tình hình không giải quyết được gì, bà lấy cái hộp thuốc không trong túi xách ra đưa cho tôi và Chi coi rồi phân trần:

– Tui chỉ muốn gặp bác sĩ là để xin thuốc này thôi chớ không cần khám bệnh. Hồi trước tui đi bác sĩ Dũng bên kia đường kìa, nhưng bây giờ ổng dời đi chỗ khác xa quá tui đi không tới, nếu không được thì thôi để bữa khác tui trở lại. Thôi cám ơn hai cô nghe.

Tôi nhìn cái hộp thuốc rồi một tia sáng chợt lóe lên trong đầu, tôi hỏi bà:

– Bác mua thuốc này ở tiệm nào, có thể ở đó người ta có record ngày sanh của bác. Đi, con dẫn bác đi hỏi thử, biết đâu được.

Bà ái ngại nói:

– Nãy giờ tui làm mất giờ cô quá, thôi để tui đi một mình được rồi, tiệm thuốc cũng ở gần đây thôi. Cô lo đi công việc của cô đi, cô thiệt tốt bụng, tui cám ơn cô lắm.

– Không có gì đâu bác. Con cũng còn cha mẹ già cở tuổi bác, con rất hiểu sự buồn tủi, nỗi khổ của người già, nhứt là trong hòan cảnh bệnh tật không thể tự săn sóc mình. Như bản thân con đây từ từ rồi cũng sẽ tới giai đọan đó, chỉ cầu mong lúc đó có ai thưong tình ban bố cho chút tình người, đừng hất hủi đuổi xô mình là đủ an ủi rồi.

Nghe tôi thành thật tỏ bày, bà cũng tủi thân sụt sùi kể lể:

– Con tui nó bảo lãnh tui qua hồi năm 93. Tui có bốn thằng con trai một đứa con gái. Lúc đầu con cái tụi nó còn nhỏ, tụi nó còn cần tui coi cháu, giữ nhà. Bây giờ cháu lớn hết rồi, tụi nó thấy tôi hết xài, dư thừa chướng mắt cho nên đẩy tui qua hết đứa này tới đứa nọ. Con trai thì sợ vợ, con gái thì nể chồng, hiện giờ tui ở với con gái út, nó cũng thương tui nhưng thằng rể tui khó khăn quá, ai muốn tới thăm tui nó cũng không vui, riết rồi tui không còn bạn bè gì hết. Nếu có chuyện gì cực chẳng đả nhờ nó thì nó nói nhà này không có ai ở không.

Tui biết đứa nào cũng phải lo đời sống của nó, tui đâu có dám đòi hỏi gì nhiều đâu. Tại tui sanh tụi nó ra thì phải nuôi nấng làm tròn bổn phận người mẹ chớ thiệt tình tui không trông mong gì tụi nó đền ơn báo hiếu cả, nhưng ngặt một nỗi ở xứ này cái gì tui cũng không biết thành ra phải sống nương tựa tụi nó đó thôi. Nếu lúc trước biết vậy thì tui đâu có qua đây làm gì, bây giờ trở về thì nhà cửa đâu mà ở. Nhiều khi tui cầu trời khẩn Phật cho tui chết quách cho xong cái thân già vô dụng này để khỏi làm phiền con cái, tui không hiểu sao có nhiều người lại ham sống thọ, thọ để làm gì, sống càng lâu càng thêm khổ chớ vui sướng gì mà chúc thọ cho nhau.

Tôi hưởng ứng:

– Con cũng nghĩ như bác vậy. Những người bạn cở tuổi con ai cũng nói trong ba chữ “Phước Lộc Thọ’’ chỉ cần một chữ ‘’Phước’’ là đủ rồi. Chớ ham chi chữ ‘’Thọ’’, sống dai dẳng mà bệnh triền miên cũng là vô phước. Ai cũng “chơi khôn’’ cầu xin cho mình ngủ rồi được đi luôn êm thắm cho khỏe, kêu là chết tốt, không bị bệnh hành vật lên vật xuống khổ thân đó bác. Mà con thấy hiếm có người được phước như vậy lắm.

Khi tới tiệm thuốc, gặp hai vợ chồng chủ tiệm người Việt Nam, tôi trình bày:

– Chị à, bác đây muốn đi bác sĩ xin toa thuốc mà vì không nhớ ngày sanh nên không thể lập hồ sơ được. Tôi dẫn bác lại đây hỏi thử chị coi trong record mua thuốc của bác có ghi birthday của bác không.

Bà vợ bảo ông chồng đi lục hồ sơ ra coi và nói với bà bác:

– Nếu bác hết thuốc uống thì tụi con cho bác mượn trước một hộp rồi khi nào xin được toa bác sĩ, bác đưa lại cho con sau cũng được. Bác không cần phải có toa ngay bây giờ đâu.*

Bà khóat tay phân bua:

– Thật ra tui còn thuốc ở nhà, chỉ muốn đi bác sĩ xin hờ để đó, hồi trước tui đi bác sĩ Dũng mà bây giờ ổng dời đi xa quá, tui định kiếm đại một bác sĩ nào ở gần đây để xin thuốc tiếp tục thôi, ai dè cô thơ ký nói phải có ngày sanh. Gặp cô này tử tế, cổ nhứt định dẫn tui đi phăng ra cho được.

Ông chồng chủ tiệm sau khi coi lại record bèn nói:

– Trong record chỉ có số mật mã pensioner chớ không có ngày sanh của bác, nếu bác hết thuốc thì con đưa trước cho bác dùng còn chuyện ngày sanh thì chắc bác phải về kêu con bác coi lại trong giấy tờ nào đó.

Tôi còn rán làm tài khôn:

– Tôi biết kiếm ở đâu rồi. Chắc chắn là trong hồ sơ của bác sĩ Dũng. Anh chị có số phone của bác sĩ Dũng không? Nếu có thì gọi giùm cho bác hỏi cô thơ ký ở đó thì tìm ra chớ gì.

– Rất tiếc là chúng tôi không có.

Nghe bà chủ chemist nói vậy, bà bác bảo tôi:

– Thôi thôi khỏi làm phiền nữa đâu cô à, để bữa khác tui trở lại. Tui còn thuốc uống mà, nãy giờ cô dẫn tui đi vòng vòng mất cả tiếng đồng hồ của cô rồi, tui ngại lắm, thiệt là cám ơn cô hết sức.

Tôi buồn tình xuôi xị nói:

– Dạ không có chi đâu bác, con muốn giúp bác cho được mà hết cách rồi. Vậy thôi bác về nói với con bác ghi một tờ giấy với đầy đủ chi tiết tên tuổi ngày sanh, địa chỉ và số điện thọai nhà cho bác bỏ sẵn trong túi để khi bác đi đâu một mình rủi có chuyện gì, người ta còn biết đường mà liên lạc với người nhà của bác. Nhớ nghe bác.

Dặn dò bác xong tôi đi lo công chuyện của tôi. Trông người mà ngẫm đến ta, vừa đi tôi vừa tư lự nghĩ thầm, rồi đây một mai già yếu bệnh họan chắc gì mình thóat khỏi tâm trạng buồn tủi bơ vơ như bà bác này. Phải chăng đây là viễn ảnh tương lai, là cảnh ngộ chung của phận già, những kẻ sắp kết thúc một cuộc hành trình đầy gian khổ để về tới cõi quê hương vĩnh hằng, xác thân đã phờ phạc rã rời, như một chiếc lá vàng khô héo chỉ chờ một cơn gió nhẹ thỏang qua sẽ rơi rụng lìa cành yên ngủ thiên thu.

Người đời thường nói “’Mẹ nuôi con biển hồ lai láng, con nuôi mẹ tính tháng tính ngày’’ cũng đúng thôi. Chua chát thay! một bà mẹ có thể hy sinh cả cuộc đời chịu thương chịu khó để nuôi nấng đùm bọc năm mười đứa con nhưng năm mười đứa con không đủ sức cưu mang một mẹ già hay một người cha yếu đau trong tuổi già không còn khả năng tự săn sóc. Bởi vì nước mắt bao giờ cũng chảy xuôi chớ có đâu mưa từ dưới đất mưa ngược lên trời, đó là lẽ đương nhiên!

Sinh thì phải dưỡng, kẻ sinh thành tất nhiên phải có trách nhiệm “dưỡng nhi’’ đến nơi đến chốn, còn chuyện ‘’đãi lão’’ thì tùy ở lương tri và quan niệm báo hiếu của mỗi người con. Những người làm con chắc gì họ đã muốn có mặt ở thế gian này, chỉ tại cha với mẹ bắt họ ra đời, bất đắc dĩ họ phải tranh đấu vật lộn với cuộc sống đầy thử thách cam go mà biết đâu trong một lúc nào đó quá chán chường tuyệt vọng, họ đã không khỏi than thở kêu trời:

Ai có thể cho tôi lời đáp

Vì sao tôi hiện hữu cõi này

Tôi không xin nhập cảnh vào đây

Hà cớ bỗng dưng tôi có mặt !

Nếu kẻ làm cha mẹ thấu đạt tình lý đó thì mới mong tránh khỏi sự buồn tủi thất vọng khi một ngày nào đó bị con cái ruồng rẫy bỏ rơi. Hơn nữa cho dù con cái có hiếu thảo với cha mẹ đến đâu cũng không ai có thể trường kỳ phụng dưỡng cha mẹ đến chóang hết thời gian mà họ có thể dành riêng để hưởng thụ hoặc thực hiện hòai bảo gì đó của họ trong đời.

Và điều đáng nói thêm là nếu cha mẹ sống thọ đến tám chín mươi thì tuổi đời của những người con cũng đã lên đến năm, sáu, bảy chục, cũng đã đi vào giai đọan lão bệnh thì sức khỏe đâu mà báo hiếu đỡ đần ngày này qua ngày nọ. Đó là chưa kể người già thường hay khó tánh, ít có người con nào có thể nhẫn nại chìu chuộng đến ngày cha mẹ qua đời.

Kinh nghiệm bản thân đã cho tôi thấy rõ điều đó. Lúc nhỏ tôi được ba má thương yêu cưng chìu, lớn lên lập gia đình rồi tôi cũng vẫn được ba má bảo bọc sống chung một nhà. Giờ đây khi ông bà già yếu đi đứng khó khăn thì tôi cũng đã tới tuổi bệnh, đau nhức quanh năm bốn mùa không một ngày biết khỏe. Vì vậy cho dù muốn phụng dưỡng đáp đền thì lực cũng bất tòng tâm. Tôi chỉ có thể nấu những món ăn mà ba má tôi thích, thăm viếng thường xuyên cho ba má vui, còn việc chăm sóc đỡ đần hằng ngày thì phải nhờ vào cô em gái mà thôi. Biết vậy cho nên tôi rất thông cảm với những người con còn cha mẹ già và tôi cũng không kỳ vọng gì con cái mình báo hiếu về sau.

Tôi vẫn thấy mỗi năm cứ đến ngày Hiễn Mẫu, ngày Từ Phụ hay là nhân dịp lễ Vu Lan, trên diễn đàn báo chí hay trang mạng, ôi thôi biết bao là lời hay ý đẹp ngợi ca vinh danh công ơn trời biển của đấng sinh thành. Mẹ là tất cả trên đời không còn gì có thể thay thế hoặc so sánh hơn được. Do đó, bất cứ văn nhân thi sĩ nào cũng đều dốc hết tâm tư đề cao tình phụ mẫu thiêng liêng bằng những vần thơ thắm thiết tận đáy lòng khiến những người con nào dù vô tình đến đâu đi nữa cũng phải chạnh lòng ăn năn…

Nhưng thực tế đời thường, chắc gì chính bản thân những tác giả đó đã có lấy một ngày chăm sóc phụng dưỡng song thân họ. Ai cũng than thở vì nghịch cảnh thế này thế nọ, không có cơ hội ở gần để phụng dưỡng báo hiếu, chỉ có thể bày tỏ bằng lời. Nói thì hay thì dễ nhưng giả sử như họ sống chung với cha mẹ, phải nuôi bệnh người cha mang chứng Alzheimer mất trí hay người mẹ bị stroke bại xuội nằm liệt giường, mỗi ngày phải canh giờ cho uống thuốc, đút ăn, thay tả, rửa ráy vệ sinh thì chừng đó chắc gì họ còn tinh thần thỏai mái để mà nhả ngọc phun châu?!

Trong bản năng tiềm thức con người, có ai mà không biết ‘’thờ cha kính mẹ mới là đạo con’’. Nhưng nói là một chuyện, thực hành lại là một chuyện khác không dễ chi vuông tròn !

May be an image of one or more people and indoor

ÂN TÌNH

ÂN TÌNH.

Lawrence Anthony sinh ra ở Nam Phi, từ nhỏ đã yêu thích động vật và thiên nhiên. Giữa những năm 1990, ông quyết định từ bỏ sự nghiệp bảo hiểm và bất động sản đang trên đà phát triển, cùng với vợ mua một mảnh đất và xây dựng Khu bảo tồn sinh thái Thula Thula ở Zululand, tỉnh KwaZulu-Natal, Nam Phi.

Nơi đó, họ xây cho mình một căn nhà gỗ nhỏ để ở, tận hưởng không khí yên bình cùng thiên nhiên và các loài động vật hoang dã như tê giác, trâu, báo, hươu cao cổ và chim…

Vào năm 1999, một cuộc gọi điện thoại đã phá vỡ cuộc sống bình yên của họ. Người quản lý của Công viên Quốc gia Kruger gọi điện cho Lawrence và nói với ông rằng, họ có 7 con voi đã thoát khỏi hàng rào do bị thợ săn tấn công, bắt đầu phá hủy mùa màng và đe dọa con người xung quanh.

Họ hỏi Lawrence có thể tạm thời giữ chúng trong khu sinh thái không, hoặc những con voi sẽ bị bắn chết vì chúng gây nguy hiểm cho dân làng.

Với tình yêu thương động vật, đương nhiên ông Lawrence không cho phép bi kịch xảy ra và đã đưa chúng về chăm sóc tại khu bảo tồn của mình.

Do đã từng bị tấn công bởi những người thợ săn, đàn voi dường như mất niềm tin vào con người và luôn cố gắng trốn thoát hết lần này đến lần khác. Mặc dù vậy, Lawrence cũng không hề nản lòng.

Ông chuyển đến sống bên ngoài nơi ở của chúng, cùng ăn, cùng ngủ, xem chúng như bạn, trò chuyện, ca hát và thổi kèn harmonica cho chúng nghe.

Đối với con voi đầu đàn Nana, ông Lawrence dành nhiều tâm huyết hơn cả. Ông không chỉ chăm sóc kỹ càng mà còn kể chuyện cho nó nghe nhiều hơn các con khác. Mỗi ngày ông đều chăm sóc chúng bằng tình yêu thương vô bờ bến.

Và ông đã thành công, những chú voi hung dữ trở nên thân thiện. Nana đã chủ động đến gần Lawrence, vui đùa cùng ông. Khoảnh khắc này khiến ông cảm động rơi nước mắt.

Sau này, vì đàn voi không ngừng tăng lên về số lượng, Thula Thula đã không còn đủ chỗ cho chúng nữa, ông Lawrence đành phải đưa đàn voi đến khu bảo tồn bên cạnh. Khi muốn thăm chúng ông sẽ phải lái xe đến, mà mỗi lần thấy ân nhân đến thăm, chúng đều vui mừng chào đón ông.

13 năm sau, năm 2012, đàn voi đã phát triển từ 7 con lên thành 21 con. Nhưng đó cũng là lúc tai họa giáng xuống gia đình Lawrence. Ông qua đời vì một cơn đau tim ở tuổi 61.

Ngày ông mất, Nana dẫn đàn đến từ sáng sớm. Chúng đứng xếp hàng trước căn nhà gỗ của vợ chồng ông, chĩa vòi lên trời, phát ra tiếng kêu bi ai giống nghi thức tiễn đồng loại của chúng, để tiễn đưa ông Lawrence. Chúng ở quanh căn nhà suốt 2 ngày rồi mới rời đi.

Và đó không phải là lần duy nhất đàn voi làm điều này. Suốt 7 năm trôi qua, cứ vào ngày giỗ của ông Lawrence, đàn voi lại xuất hiện trước căn nhà gỗ để tưởng nhớ người bạn già đáng kính.

Được biết, đàn voi bình thường sống ở rất xa, chúng phải mất 12 tiếng đi bộ mới đến được ngôi nhà của hai vợ chồng.

Không ai có thể giải thích tại sao đàn voi ở một nơi xa xôi lại biết đến sự ra đi của ông Lawrence, tại sao một đàn voi lại nhớ ngày giỗ của con người.

Nhưng vợ ông Lawrence và những người làm ở Khu bảo tồn Thula Thula tin rằng giữa đàn voi và ông Lawrence đã có mối dây liên kết tâm linh kì lạ đủ để chúng có thể cảm nhận được việc người bạn thân yêu của chúng đã ra đi.

Câu chuyện của ông Lawrence và đàn voi khiến nhiều người nhận ra rằng động vật không phải là loài vô tri, chúng cũng có đời sống tình cảm và biết quan tâm thậm chí đau buồn trước sự ra đi của những người thân thiết với chúng.

(Trang sự thật kỳ bí)

May be an image of 1 person, elephant, outdoors and text that says 'KY T BI MỘT ĐÀN VOI ĐỨNG XẾP HÀNG TRƯỚC CAN NHÀ GÓ, CHĨA VÒI LÊN TRỜI, PHÁT RA TIÊNG KÊU BI AI GIỐNG NGHI THỨC TIỀN ĐỐNG LOẠI CỦA CHÚNG, ĐỂ TIÊN ĐƯA ONG LAWRENCE. CHÚNG ở QUANH CĂN NHÀ SUỐT 2 NGÀY RỐI MỚI RỜI ĐI. MỖI NĂM ĐẾN NGÀY GIÓ, ĐÀN VOI ĐI BỘ 12H ĐE ĐỂN NGÃI NHÀ GO, TƯỚNG NHỞ NGƯỜI BẠN GIÀ ĐÁNG KÍNH.'

Đây là cách mà người ta làm tượng tưởng niệm.

Đây là cách mà người ta làm tượng tưởng niệm. Giản dị nhẹ nhàng mà sâu sắc nhường bao. Nhìn một lần nhớ mãi, bồi hồi mãi.

Trăm tỷ nghìn tỷ xứ mình như những núi nợ đè lên vai dân. Nhà nghèo mà cứ thích đồ sộ, càng đồ sộ càng tỷ lệ nghịch với giá trị thông điệp. Tôi nhìn tượng đài xứ mình, khó thở vô cùng.

– Nguyễn Tiến Tường

May be an image of sculpture, outdoors and monument