Nghệ Thuật Nhân Sinh: Quên

 Nghệ Thuật Nhân Sinh: Quên

Bài này có thể các bạn đã đọc qua. Cuối tuần của Lễ ĐỘC LẬP Mỹ, nếu rảnh, mời quý bạn đọc lại. Xem như “Ôn Cố Tri Tân” các bạn nhé. Chúc tất cả có một cuối tuần vui vẻ, hạnh phúc.

Hoa V. 
 
Một buổi tối, tôi đi thăm người bạn từng bị vu cáo hãm hại. Lúc ăn cơm, anh nhận được một cú điện thoại, người đó muốn nói cho anh biết ai đã hãm hại anh.
Nhưng anh bạn tôi đã từ chối nghe. Nhìn thấy vẻ mặt ngạc nhiên của tôi, anh nói: “Biết rồi thì sao chứ? Cuộc sống có những chuyện không cần biết và có những thứ cần phải quên đi”.
Sự rộng lượng của anh khiến tôi rất cảm kích. Đời người không phải lúc nào cũng được như ý, muốn bản thân vui vẻ, đôi khi việc giảm áp lực cho chính mình là điều cần thiết và cách để giảm áp lực tốt nhất chính là học cách quên, bởi trong cuộc sống này có những thứ cần nhặt lên và bỏ xuống đúng lúc.

Lời nói của lão hòa thượng đầy thiền ý, hàm chứa trong nó một nghệ thuật nhân sinh. Cuộc đời con người giống như một cuộc hành trình dài, không ngừng bước đi, ven đường nhìn thấy vô vàn phong cảnh, trải qua biết bao những gập ghềnh, nếu như đem tất cả những nơi đã đi qua, đã nhìn thấy ghi nhớ hết trong lòng thì sẽ khiến cho bản thân mình chất chứa thêm rất nhiều gánh nặng không cần thiết. Sự từng trải càng phong phú, áp lực càng lớn, chẳng bằng đi một chặng đường quên một chặng đường, mãi mãi mang một hành trang gọn nhẹ trên đường. Quá khứ đã qua, thời gian cũng không thể quay ngược trở lại, ngoài việc ghi nhớ lấy những bài học kinh nghiệm, còn lại không cần thiết để cho lòng phải vướng bận thêm.
Sẵn sàng Quên đi là một cách cân bằng Tâm Lý, cần phải chân thành và thản nhiên đối mặt với cuộc sống. Có một câu nói rất hay rằng: tức giận là lấy sai lầm của người khác để trừng phạt chính mình, cứ mãi nhớ và không quên khuyết điểm của người khác thì người bị tổn thương nhiều nhất chính là bản thân mình. Bởi lẽ đó, để có được niềm vui và một cuộc sống thanh thản, ta không nên truy cứu lỗi lầm cũ của người khác.

Có rất nhiều người thích câu thơ:
Xuân có hoa bách hợp, Thu có trăng.
Hạ có gió mát, đông có tuyết”.
Trong lòng không có việc gì phải phiền lo, ấy mới chính là mùa đẹp của nhân gian. Nhớ những cái cần nhớ, quên những cái nên quên, sống một cuộc sống cởi mở, trong lòng không vướng mắc thì cuộc sống này sẽ thật tươi đẹp. 
 
Giang Nhất Yến

From: TU-PHUNG

FBI tóm ông gốc Việt tham gia bạo loạn Quốc Hội và âm mưu ly khai

FBI tóm ông gốc Việt tham gia bạo loạn Quốc Hội và âm mưu ly khai

July 7, 2021 

ALEXANDRIA, Virginia (NV) – Một ông gốc Việt ở Virginia bị truy tố tội xông vào Quốc Hội hôm 6 Tháng Giêng, đang bị nghi cũng tham gia một nhóm kiểu dân quân đang bàn bạc theo dõi điện Capitol và ly khai khỏi Mỹ sau vụ bạo loạn, theo Insider hôm Thứ Tư, 7 Tháng Bảy.

Bị cáo Fi Dương, 27 tuổi, biệt danh “Vua Khỉ” và “Jim,” được thả về để quản thúc tại gia hôm Thứ Sáu tuần trước sau khi bị truy tố nhiều tội liên quan vụ tấn công Quốc Hội, gồm gây rối trật tự và cản trở thủ tục của chính quyền.

Bị cáo Fi Dương. (Hình: United States District Court of the District of Columbia)

Trong đơn tố cáo công bố hôm Thứ Ba, FBI cho hay một cảnh sát viên chìm gặp bị cáo Fi ở Quốc Hội trong ngày ủng hộ viên cựu Tổng Thống Donald Trump tràn vào tòa nhà này và xô xát với nhân viên công lực.

Bị cáo Fi cho cảnh sát viên này hay ông ta là “người điều hành,” đơn tố cáo viết, cho biết thêm có bằng chứng sau đó người ta nhìn thấy ông ta bên trong Quốc Hội, đeo “mặt nạ kiểu Nhật.”

Theo đơn tố cáo, khoảng một tuần sau, cảnh sát viên chìm giới thiệu bị cáo Fi với nhân viên FBI chìm và nhân viên này thâm nhập nhóm có tên “Học Kinh Thánh” của ông ta.

Nói chuyện với nhân viên FBI này, bị cáo Fi cho hay ông ta là thành viên nhóm “gián điệp” kiểu dân quân mà “không thể xuất đầu lộ diện” và nhiệm vụ của ông ta là tìm kiếm người cùng tư tưởng để chuẩn bị đối phó “kịch bản xấu nhất” cho Virginia, theo đơn tố cáo.

Bị cáo Fi gửi tin nhắn cho nhân viên FBI chìm này có ý nói một trong số “thành viên của chúng tôi” đang “tuần tra” bên ngoài điện Capitol, và một thành viên khác sau đó gửi tin nhắn cho hay đã chụp hình phía Tây và phía Đông tòa nhà Quốc Hội và sẽ đăng lên ứng dụng (app) nhắn tin được mã hóa, theo đơn tố cáo.

Ngày 12 Tháng Hai, nhân viên FBI này dự buổi gặp gỡ của nhóm “Học Kinh Thánh” tại nhà bị cáo Fi. Tuy nhiên, nhóm này chỉ học hai đoạn Kinh Thánh, còn sau đó là bàn bạc lên kế hoạch cho những cuộc gặp gỡ khác cũng như thảo luận về vũ khí và huấn luyện trong tương lai, đơn tố cáo cho biết.

Đơn tố cáo không cho thấy bất kỳ cáo trạng nào liên quan bạo lực hôm 6 Tháng Giêng nhưng cho hay bị cáo Fi “liên tục bày tỏ mong muốn đụng độ, kể cả bạo lực, với những nhóm khác quan điểm với ông ta.”

Đài CNN dẫn lời các nhà điều tra cho biết bị cáo Fi tàng trữ nhiều vũ khí tại nhà ông ta ở Alexandria, trong đó gồm một khẩu AK-47 và năm thùng chứa đầy vật liệu chế tạo và thử bom xăng.

Bị cáo Fi ra tòa liên bang ở DC lần đầu tiên hôm Thứ Sáu tuần trước. Tòa quyết định thả anh ta ra sau khi Bộ Tư Pháp đồng ý có thể phóng thích anh ta, theo hồ sơ tòa án.

Đến nay, 545 người bị truy tố liên quan vụ bạo loạn Quốc Hội. (Th.Long)

Khoảng trống cuối đời  

Khoảng trống cuối đời  

Lưu An- Vũ Ngọc Ruẩn

Một nén hương cho những người mẹ bất hạnh mà tôi quen biết.

Vài hàng phi lộ

Bất cứ người Việt Nam nào đã trưởng thành và sống qua thời kỳ từ năm 1975 đến nay đều chứng kiến biết bao nhiêu hiện tượng buồn đau, xuống dốc đạo đức trong gia đình, tập thể người Việt Nam ở trong nước cũng như ở hải ngoại. Những cảnh anh em chém giết, thưa kiện nhau vì tranh dành tài sản, đất đai; bỏ bê, đày đoạ, bất hiếu với cha mẹ khi về già. Vợ chồng tan vỡ chỉ vì tham bạc bỏ tình, bạn bè thì lừa đảo, đổi trắng thay đen không trừ thủ đoạn nào để dành quyền lợi cho mình, như một kẻ ăn cướp,.v.v… Riêng cá nhân tôi, sau hơn 45 năm sống và làm việc tại hải ngoại, đã có biết bao nhiêu dịp du hành vui chơi, thăm viếng người thân quen hay công tác tại nhiều quốc gia trên thế giới, đã chứng kiến bao nhiêu chuyện đau buồn trong tập thể người Việt Nam tại những nơi chốn đi qua mà ngẩn ngơ vì nó ra ngoài sự tưởng tượng của mình. Nhiều khi tôi tự hỏi tại sao con người Việt Nam chúng ta đã đổi thay đến mức kinh hoàng như vậy.

Mà cũng rất lạ lùng, nơi mà tôi chứng kiến những cảnh buồn đau đó lại phần lớn xảy ra các các quốc gia giàu có, thịnh vượng tại Âu châu, Bắc Mỹ, những nơi mà tôi tưởng rằng với cuộc sống cao sang, luật lệ đàng hoàng con người ta sẽ ý thức, lòng ngay thẳng và trong sáng tâm hồn hơn. Nhưng tôi đã lầm, sự ngay ngắn, đàng hoàng, đạo đức không phải chỉ sinh ra từ những nơi vật chất dư dả, luật lệ khắt khe… Mà đôi khi còn ngược lại, trong những xã hội văn minh, tân tiến đó con người ta tinh khôn hơn, lòn lách cao cấp hơn trong lừa đảo nữa là khác. Nhờ văn minh, kiến thức, người ta biết tính toán, biết xếp đặt sao cho hợp với luật pháp để lừa đảo mà nạn nhân chỉ còn biết khóc than, chịu thiệt. Hãy ngoái nhìn lại Việt Nam ngày xưa lúc còn đối diện với khó khăn, nghèo túng thì cha mẹ, anh em vợ chồng, cha mẹ hoà thuận, thương yêu nhau, chia cho nhau từng nắm cơm, con cá… Nhưng ngày nay vật chất thừa mứa, nhà cao cửa rộng thì coi nhau như kẻ thù, sẵn sàng làm những chuyện vô luân, bất đạo để chiếm đoạt hay kéo nhau ra toà với mọi thủ thuật miễn là giành được mối lợi về mình, v.v…

Sinh ra, trưởng thành trong tao loạn, có thể nói tôi đã nếm đủ những mùi vị, đắng cay, chua ngọt của nhân sinh, nhưng đã bao lần ngẩn ngơ, ngao ngán thở dài khi phải chứng kiến biết bao nhiêu những cảnh tượng không vui trong tập thể người Việt Nam của chúng ta mà buồn bã. Hôm nay, trong cái không gian vắng vẻ, buồn chán, tôi đã để cho ký ức mình lang thang về một hoàn cảnh rất buồn của một bà mẹ gốc Tây học. Một gia đình quý phái ngày xưa tôi đã quen biết để viết ra câu truyện xót đau của đời bà, như môt nén hương dành cho bà và cũng để tưởng nhớ đến một vài bà mẹ khác mà tôi cũng rất thân thiết, mang ơn họ với những bữa cơm hay những bát bún, tô canh… họ đã cho tôi vào những năm tháng nghèo đói của đời tôi khi còn đi học tại Viêt Nam. Những bà mẹ ân tình của tôi ở trong nước cũng như hải ngoại, họ cũng đã vướng vào một dạng thức khổ đau nào đó trước khi vĩnh viễn rời xa trần thế.

Tôi đã dùng kỹ thuật văn chương để chuyển đổi tí chút về thời gian, về địa phương và cả về nhân vật trong câu truyện để tránh đi những tác động không tốt cho sự giao tế của tôi với những người thân của bà. Nhưng cứu cánh mà tôi muốn đem vào câu truyện vẫn là những tiếng thở dài, thương xót như một nén hương lòng với mồi lửa tâm hồn, lòng biết ơn mà tôi muốn dành cho những bà mẹ bất hạnh, những bà mẹ mà tôi đã từng quen biết, mang ơn họ trong quá khứ xa xưa, thời mà tôi còn là một học sinh, sinh viên trong tình trạng đói nghèo.

(Lưu An, Vũ Ngọc Ruẩn)

Vào truyện

Qua người bạn thân cùng lớp, tôi quen với gia đình bác Chấn, một gia đình gốc Tây học, giàu có và thế lực của miền Nam trước năm 1975. Bác có hai người con, một trai, anh Quang hơn tôi 3 tuổi. Một gái, chị Yến hơn tôi 1 tuổi. Hai người con của bác đều theo học chương trình Tây. Sự quen biết của tôi với gia đình bác rất sơ sài, không bước xa hơn những lời chào hỏi xã giao thông thường hay vài câu hỏi tò mò về thân thế tôi trong những lần tôi theo người bạn đến nhà bác chơi.

Sau này tôi được biết hai người con của bác Chấn đã đi du học tại Thụy Sĩ ngay sau khi tốt nghiệp bậc trung học Pháp. Còn tôi không có điều kiện nên học đại học trong nước. Năm 1971 tôi tốt nghiệp rồi xuống Cần thơ dạy học. Từ ngày lên đại học rồi đi làm tôi không có dịp nào đến chơi nhà bác Chấn nữa. Đầu năm 1974 trước khi nhận học bổng di du học ở Nhật bản, tôi được người bạn cho biết bác Chấn trai đã bị mất vì ung thư. Bác gái vẫn sống với vài người cháu họ xa ở căn khá nhà lớn, sang trọng ngày xưa ở đường Ngô Tùng Châu.

Rồi với bao nhiêu đưa đẩy của thời cuộc, cuối năm 1979 tôi rời bỏ Nhật Bản vì tìm được việc làm đúng với chuyên môn ở thành phố Zürich, vùng nói tiếng Đức ở miền bắc Thụy Sĩ. Sang Thụy Sĩ được khoảng một năm tôi lập gia đình với người bạn gái người Nhật mà tôi đã quen biết nhiều năm trong thời du học tại đó.

Một lần vào năm 1983 gia đình tôi xuống Genève thăm người bạn, ngẫu nhiên tôi gặp được chị Yến, cô con gái của bác Chấn. Chị cho biết chị và anh Quang đã tốt nghiệp xong đại học Genève từ lâu, cả hai đang đi làm, vẫn sống ở Genève, nhưng kẻ ở đầu tỉnh, người ở cuối tỉnh, lại bận rộn với công việc làm cho nên cũng rất ít gặp nhau. Chị cũng cho biết cả hai vẫn chưa lập gia đình nhưng sống chung với người yêu đều là người Thụy Sĩ. Tôi cũng hơi ngạc nhiên vì cả hai đều đã xấp xỉ 40 tuổi mà vẫn độc thân, nhưng không dám thắc mắc vì có lẽ lối sống Tây phương là thế.

Trong lần gặp nhau đó, tôi cho chị địa chỉ, số điện thoại của gia đình, ân cần mời chị và anh Quang đến chơi, coi như tìm được người bạn xa xưa nơi xứ lạ quê người. Nhưng tôi có cảm tưởng chị không có vẻ hồ hởi với lời mời vồn vã, chân thành của tôi lắm. Vô tình hay cố ý, chị cũng không cho tôi biết địa chỉ! Tuy nhiên tôi cũng chẳng bận lòng vì nghĩ họ đã sống với nền văn hóa Tây Phương từ ngày bé, sự lạnh lùng, cách biệt với những người không cần thiết là lẽ tự nhiên như thế mà thôi.

Chỉ có vậy, lần gặp nhau như thoáng qua, được quên đi dễ dàng. Bất thình lình, khoảng gần 2 năm sau ngày chúng tôi gặp chị, tôi nhận được điện thoại của chị cho biết bác Chấn gái đã được anh em chị bảo lãnh sang đoàn tụ, hiện đang sống với chị ở Genève đã được khoảng một tháng rồi. Chị có nói với bác Chấn về gia đình chúng tôi, bác mong muốn mời gia đình tôi đến chơi để tâm sự. Đặc biệt trong cuộc điện thoại này chị rất thân thiện, thân thiện đến nỗi tôi có cảm tưởng chị năn nỉ chúng tôi đến chơi với mẹ chị, giúp bà vui mà quên đi nỗi nhớ quê hương khi chưa quen biết ai ở Genève.

Ngay sáng sớm thứ bảy cuối tuần, vợ chồng tôi lái xe xuống Genève đến tạm trú nhà một người bạn cũng ở trong Genève, nghỉ ngơi một lúc, khoảng 2 giờ chiều chúng tôi mới đến nhà chị Yến thăm bác Chấn. Trong lần gặp gỡ này có cả anh Quang cùng với hai người Thụy Sĩ là bạn trai và bạn gái của chị Yến và anh Quang.

Ngay khi bước vào nhà, sau vài câu chào hỏi thông thường, vợ chồng tôi đã nhận thấy ngay bầu không khí nặng nề giữa bác Chấn với hai người con của bác cùng với 2 người bạn của họ. Bác Chấn hoàn toàn bị tách xa trong cuộc sinh hoạt của hai người con và bạn của họ, dù ngôn ngữ Pháp với bác không thành vấn đề. Sau vài câu xã giao bình thường, nói chuyện vu vơ với chúng tôi, nhóm con của bác Chấn cũng tự tách rời. Họ nói chuyện, cười đùa, âu yếm nhau trước mặt chúng tôi, chẳng có tí ngại ngần rồi dẫn nhau vào phòng bên cạnh đùa giỡn trong âm thanh của âm nhạc khá ồn ào.

Bác Chấn có vẻ ngượng ngùng, nhưng chúng tôi cố làm ra vẻ không để ý, coi như chuyện bình thường của giới trẻ Tây phương. Chúng tôi cũng ân cần mời bác lên nhà chúng tôi chơi bất cứ lúc nào, bác có thể ở với chúng tôi hàng tháng cũng chẳng sao vì nhà khá rộng lại có vườn riêng nên rất thoải mái. Bác tỏ vẻ rất cảm động với nhiệt tình của chúng tôi, lại càng thích hơn khi thấy vợ tôi cầm chiếc áo len mà bác đang đan nửa chừng, tò mò xem ra chiều hiểu biết và đồng sở thích thêu thùa. Lúc sửa soạn ra về, vợ chồng tôi có ý gặp hai người con để chào từ giã, đưa mắt nhìn chúng tôi với tí ngần ngừ, trong vẻ ngượng ngùng bác nói:

– Thôi, các cháu cứ về đi, bác sẽ nói với chúng nó sau.

Thông hiểu sự khó nói của bác, chúng tôi thân thiết quàng tay ôm bác trước khi chia tay bác ra về.

***

Sáng hôm sau, ngày chủ nhật, sau khi ăn sáng với gia đình người bạn xong chúng tôi từ giã để về lại Zürich. Tôi định lái xe đi một vài vòng thành phố Genève trước khi về lại Zürich. Đang lúc chạy xe tôi thoáng thấy bác Chấn ngồi ở chiếc ghế của một trạm xe bus. Dừng xe vào lề đường tôi chạy vội đến nói với bác:

– Bác Chấn, bác đi đâu vậy? Bác lên xe cháu chở đi.

Bác giật mình khi nhìn thấy tôi, nhưng ngay lúc đó cảm giác ngượng ngùng buồn bã hiện rõ trên khuôn mặt, ánh mắt của bác. Chẳng đợi cho bác trả lời tôi nói tiếp:

– Cháu đang định chạy lòng vòng xem thành phố đây, bác đừng ngại gì cả, cứ lên cháu chở đi mà.

Nói xong tôi cầm tay, kéo bác về hướng chiếc xe, nơi đó vợ tôi đang mở cửa xe chờ đợi. Ngần ngừ tí chút, nhìn tôi như gửi gấm nỗi buồn kín đáo, bác nói như muốn khóc:

– Bác có muốn đi đâu đâu! Ở nhà buồn và cô đơn quá cháu ạ, chịu không được, ngày nào bác cũng ra ngồi ở các trạm xe bus, xe điện để nhìn người ta lên xe, xuống xe cho đỡ buồn đó mà thôi!

Tôi ngẩn ngơ, nhìn bác trân trối, câu trả lời của bác xót đau quá! Tôi cảm nhận người đàn bà xấp xỉ tuổi 70 đang đứng tước mặt tôi có rất nhiều tâm sự buồn đau khó nói. Hình ảnh cuộc gặp mặt chiều hôm qua ở nhà cô Yến, con gái bác lại hiện ra, trở về trong ký ức tôi! Tôi thoáng hiểu một phần nào nỗi buồn, cô đơn của bác. Nhân dịp gặp lại trong ngẫu nhiên này tôi muốn được nghe bác tâm sự, biết đâu tôi có thể tìm được điều gì đó giúp bác giảm được nỗi buồn mà bác đang chất chứa trong lòng? Nghĩ như vậy, tôi thân thiện khoác tay lên vai bác, khẩn khoản nói:

– Bác lên xe với cháu, chúng ta tìm một quán nước nào đó nói chuyện, bác đừng ngại gì cả, ngày hôm qua cháu muốn nói chuyện với bác nhiều mà chưa hết.

Hình như sự nhiệt tình của tôi, cũng có lẽ vì quá buồn, bác im lặng đi theo tôi lên xe. Sau một lúc chạy lung tung, chúng tôi vào một quán nước bên ngoài hành lang của một khách sạn trên đại lộ Quai du Mont Blanc, bên kia đường là hồ Lehmann. Bầu trời trong xanh, ánh sáng ban mai chiếu rọi lên mặt hồ nhấp nhô tạo ra những dải sáng lấp lánh tuyệt đẹp của một buổi sáng nắng tốt. Bác Chấn đã khóc gần như suốt thời gian ngồi kể cho tôi nghe về lý do của bác khi lựa chọn rời xa Việt Nam, sang Thụy Sĩ định cư. Một lựa chọn mà bác nghĩ rằng đã sai lầm, đang làm cho bác buồn đau vì cô đơn.

Bác cho biết, với lời khuyên nhủ rất hợp lý, chân tình của hai con. Bác đã bán căn nhà của mình ở trong nước, gom vào với tất cả nữ trang, tiền bạc mà bác đã dành dụm từ khi mới kết hôn để giúp hai con, mua cho mỗi người một căn hộ ở Genève. Căn hộ mà chúng tôi đến thăm hôm qua là của Yến. Một căn khác cho Quang, đến nay dù đã hơn một tháng ở Thụy Sĩ nhưng bác vẫn chưa có dịp đến xem nó to nhỏ, xấu đẹp ra sao.

Trước khi rời bỏ quê hương sang Thụy Sĩ, bác nghĩ rằng, tuổi đã già, bệnh hoạn, sống chết không biết lúc nào, vì vậy nếu được sống với chính con của mình là một điều rất hợp lý, vẫn hơn sống với những đứa cháu họ ở Việt Nam. Đã thế với khả năng thông thạo tiếng Pháp của bác, có lẽ chẳng khó khăn trong việc giao tế với người địa phương, ngoài ra với sở thích đọc sách báo, thêu thùa cũng sẽ giúp bác che lấp được những lúc nhà rỗi, cô đơn khi các con đi làm. Với ý nghĩ lạc quan như vậy bác đã chờ đợi từng ngày cho việc ra đi đoàn tụ với hai con. Nhưng khi đến Thụy Sĩ, chỉ sau một tuần lễ đầu tiên bác đã nhận thấy mình sai lầm, cái sai lầm ra ngoài tưởng tượng, tính toán của bác. Dù thích đọc sách, thích thêu thùa nhưng bác chẳng có được hứng thú mà làm được như mong muốn!

Bác được Yến, người con gái mà bác thương yêu nhất đón về sống chung. Mấy ngày đầu tiên Yến nghỉ làm việc, dẫn bác đi lo giấy tờ hành chánh, bảo hiểm sức khỏe đồng thời chỉ dẫn bác cách mua vé, xử dụng các phương tiện giao thông công cộng như xe bus, xe tram của thành phố. Yến cũng không quên hướng dẫn bác sử dụng các máy móc trong nhà như máy giặt, máy sưởi cùng với những việc làm trong tập thể chung cư.

Mấy ngày đầu tiên còn bận rộn với những học hỏi, làm quen với cuộc sống mới nơi xứ lạ quê người, bác không có thời gian để cảm thấy cô đơn. Nhưng chỉ một tuần sau, mọi hoạt động đã được đưa vào thứ tự và đều đặn. Buổi sáng Yến vội vàng đi làm, chiều tối về nhà, mệt mỏi cô ta chẳng có thì giờ và hứng thú để nói chuyện với bác ngoài vài câu hỏi sức khỏe vu vơ. Đã thế Yến thường về với người bạn trai, họ lại quây quần với nhau trong phòng riêng, chẳng thèm để ý đến bác. Bác sống im lìm như một chiếc bóng thừa thãi trong căn hộ.

Mấy ngày đầu tiên, có lẽ vì món ăn lạ hay nể nang công lao nấu nướng của bác, Yến và người bạn trai còn về nhà ăn cơm tối. Nhưng chỉ được vài ngày, họ chẳng còn thú vị với món ăn của bác nữa, Yến nói với bác đừng nấu cơm cho họ, họ tự lo được. Từ đó Yến và bạn trai thường ăn cơm ở đâu đó trước khi về nhà khá muộn. Thỉnh thoảng Yến mua đồ ăn nguội, rượu bia mang về bày ra bàn, ăn uống với bạn trai, nói chuyện cho đến khuya rồi chẳng thèm thu dọn…. Sáng hôm sau khi thức dậy, nhìn thấy đống bát đĩa bác lại phải lau chùi, thu dọn… Không nói ra nhưng bác Chấn đã có cảm tưởng mình là người hầu hạ trong nhà, không còn là người mẹ được con đón sang để phụng dưỡng nữa. Còn Quang thỉnh thoảng cùng cô bạn gái đến chơi, nói chuyện vu vơ với bác rồi quây quần ăn uống với Yến và bạn trai một vài giờ đồng hồ rồi ra về và cuối cùng việc thu dọn lại cũng là bác!

Đôi lần thấy bác buồn, than van cô đơn không bạn bè… Yến khuyên bác hãy làm theo lối giải trí, tìm vui của người Thụy Sĩ khi về già, không có việc gì làm, để tránh thời gian rảnh rỗi, cô đơn họ mua vé tháng của thành phố cho xe bus, xe tram… Rồi sáng đi, tối về, ngày ngày dùng phương tiện giao thông đi từ phố này, sang phố kia ngắm nhìn người ta buôn bán ở các siêu thị. Buổi trưa hay lúc mệt mỏi thì tạt vào những nhà ăn bình dân rẻ tiền trong các siêu thị uống cà phê hay ăn trưa.

Nghe lời đề nghị của cô con gái, bác hình dung khá rõ con đường sống của mình sẽ ra sao nếu còn sống nơi đây. Bác chợt hiểu ra rằng hai đứa con của bác thật sự đã là dân Thụy Sĩ rồi, chúng sống, chúng suy nghĩ và giải quyết theo xã hội, con người Thụy Sĩ. Chúng không thể nào nhìn thấy hay cảm thấy nỗi buồn, cô đơn của bác được nữa. Nói đến đây, bác Chấn ngước nhìn tôi với đôi mắt nhòa lệ, buông tiếng thở dài buồn bã bác than thở:

– Có lẽ bác phải về lại Việt Nam cháu ạ, sống ở đây chắc bác sẽ chết vì cô tịch mà thôi. Mấy ngày trước bác có liên lạc với tòa lãnh sự Việt Nam ở Genève để hỏi về việc hồi hương. Theo bác không khó khăn lắm, nhưng cần nhiều thủ tục để lấy lại hộ khẩu của bác ở Việt Nam và nhất là chứng minh được sự bảo đảm về tài chánh cho sự sinh sống của bác khi hồi hương.

Thấy tôi im lặng, bác buồn rầu nói tiếp:

– Hiện nay bác chẳng có gì ở Việt Nam nữa, nhà cửa đã bán, tiền bạc, nữ trang cũng không còn nữa. Bác đúng nghĩa một người nghèo, già lão đơn độc nếu về lại quê hương thì sống làm sao đây?

Tôi buột miệng hỏi:

– Tại sao bác không nói với anh Quang, chị Yến trả lại bác một ít tiền để có thể về Việt Nam sinh sống?

Lắc đầu ra vẻ thất vọng, bác cho biết tiền bán nhà, bán nữ trang vừa rồi rất lớn so với xã hội Việt Nam nhưng có đáng bao nhiêu so với Thụy Sĩ đâu. Bác đã chia cho hai con để giúp chúng mua nhà, theo bác biết thì hai người con cũng phải mượn ngân hàng hơn một nửa mới có đủ tiền để mua hai căn hộ. Hiện nay tiền lời ngân hàng cùng với chi phí dịch vụ cho chung cư như thang máy, điện nước, lau chùi, cắt cỏ, xúc tuyết, làm vườn… tất cả không phải nhỏ, chẳng thua gì tiền đi thuê nhà. Bác đã bàn với hai con để đưa trả lại bác một số tiền cho bác mua một căn nhà nhỏ ở Việt Nam, nhưng coi vẻ không được vì chúng vẫn phải trả nợ ngân hàng mỗi tháng, chẳng dư dả để đưa cho bác được. Đã thế khi về Việt Nam tiền sinh sống, thuốc thang, bệnh viện khi ốm đau cũng không thể coi là nhỏ được!

Nhẩm tính lại cuộc sống ở Việt Nam, tôi nói với bác:

– Theo cháu nghĩ nếu hai người con của bác giúp bác mỗi tháng 200 quan Thụy Sĩ (thời điểm 1986) chắc bác sống không khó khăn lắm đâu!

Bác Chấn mỉm cười trả lời:

– Cháu tưởng đơn giản như thế sao? Giả dụ mà chúng nó gửi cho bác 200 quan mỗi tháng thì cũng chỉ đủ cho sinh sống bình thường mà thôi. Còn lúc ốm đau, chi dụng cho việc thuê nhà, cho người quen, họ hàng để người ta vui vẻ mà săn sóc cho mình làm sao mà đủ? Tuổi già của bác đâu có thể sống độc lập được, mà phải dựa vào người khác, nhất là lúc ốm đau, dù là họ hàng, quen biết cũng phải có tiền, không dễ dàng như cháu nghĩ đâu!

Nghe bác tâm sự, tôi đã đã tạm hiểu hoàn cảnh của bác. Đúng như vậy, cái sai lầm là bác đã bán nhà, thu dọn tài sản để gửi cho con mong được sống gần con. Điều này nghe ra đơn giản và hợp lý như thói thường của gia đình văn hoá Việt Nam, nhưng với hai người con của bác, sự việc đã xảy ra khác hoàn toàn. Tìm một giải quyết cho bác không dễ dàng, họa chăng một hay cả hai người con bác biết cảm thông nỗi cô đơn, buồn bã của mẹ mà tìm cách giúp đỡ mà thôi. Bác không nói ra, nhưng tôi có cảm tưởng hai người con bác không như bác chờ mong.

Trước khi chia tay tôi ân cần nhắc lại lời mời của gia đình tôi, bất cứ lúc nào bác có ý muốn đến nhà tôi chơi nhiều tuần, vài tháng hoàn toàn không có gì khó khăn. Hình như nhìn rõ sự chân thành của tôi, bác vuốt nhẹ bàn tay vợ tôi mỉm cười và hỏi vợ tôi:

– Cháu có phiền lòng nếu bác đến nhà cháu chơi không?

Dù ngôn ngữ Việt Nam chỉ hiểu lõm bõm, nhưng vợ tôi cảm nhận hoàn toàn ý nghĩa lời nói của bác qua ánh mắt, khuôn mặt và cả dáng điệu chân thành trong giọng nói, nụ cười của bác. Vợ tôi đưa tay ra dấu thêu đan, lõm bõm câu tiếng Việt:

– Bác cứ đến chơi đi… có nhiều việc làm với nhau lắm, bác đừng lo!

Nghe vợ tôi nói, không giấu được niềm vui ngỡ ngàng hiện lồ lộ trên khuôn mặt, ánh mắt, bác cầm lấy bàn tay vợ tôi vuốt ve:

– Bác cám ơn cháu lắm lắm, cháu là người vợ hiền, dâu thảo.

Có lẽ đây là lần đầu tiên trong suốt cuộc gặp gỡ bác, hôm qua và hôm nay tôi đã nhìn thấy bác cười, vẻ buồn bã biến mất, thay vào đó là niềm vui hiện trên khuôn mặt, trong ánh mắt của người đàn bà xấp xỉ 70 tuổi mà tôi cũng chỉ quen biết thoáng qua trong quá khứ.

***

Trở về Zürich đã cả tháng trời, vì bận rộn với sinh nhai tôi cũng chẳng có dịp liên lạc với bác nữa. Đôi lúc trong trí nhớ tôi cũng nghĩ đến bác, nhưng cho rằng với thời gian bác sẽ làm quen với những người Việt Nam khác, rồi cũng giống như mọi người, đâu vào đó mà thôi. Nhưng bất thình lình vào buổi tối khi tôi đang ăn dở bữa cơm thì bác gọi đến. Với giọng nói thều thào, chứa đầy buồn bã, chán nản bác cho biết hiện đang ở bịnh viện đã gần một tuần lễ nay. Tôi hỏi lý do, bác không nói rõ ràng lắm nhưng có lẽ liên quan đến tim mạch lại thêm bị trầm uất vì buồn bã, cô đơn mà ra. Bác khóc qua điện thoại cho biết hai người con chỉ đến thăm bác một lần duy nhất vào ngày đầu tiên, sau đó vì bận rộn họ chỉ điện thoại hỏi thăm mà thôi. Tôi buông tiếng thở dài, nói vài câu an ủi bác, hứa sẽ chở vợ đến thăm bác vào ngày mai hay ngày kia! Có lẽ cảm nhận được ý nghĩa tiếng thở dài của tôi trong điện thoại, bác nói rất nhẹ:

– Cám ơn vợ chồng cháu, biết là làm phiền cháu nhưng bác muốn gặp lại các cháu lắm. Cháu cố đến với bác lần nữa nhé. (Rồi một tiếng thở dài, bác nói tiếp) chắc bác không có dịp gặp lại vợ chồng cháu nữa đâu.

Tôi nghe mà rụng rời, tưởng như bác muốn gặp để nói lời trối trăn! Tôi nói vài câu an ủi, nâng đỡ tinh thần rồi hứa chắc ngay ngày mai sẽ xin nghỉ làm một ngày đến thăm bác.

Xế chiều hôm sau chúng tôi đến bệnh viện của tỉnh, căn phòng khá rộng có 4 bệnh nhân. Chúng tôi đã giật mình đến độ nghi ngờ thị giác của mình khi nhìn thấy bác nằm như đang ngủ. Chỉ hơn một tháng trời mà sắc diện của bác thay đổi quá mau! Khuôn mặt tái xanh, hốc hác như người bệnh lâu năm, cơ thể như bị thu nhỏ lại nằm ép dính xuống tấm nệm của chiếc giường! Cánh tay trái khẳng khiu, tái xanh thò ra ngoài chiếc chăn, được nối với sợi dây truyền serum treo lủng lẳng trên chiếc giá bằng alumin trắng. Tôi nhẹ nhàng nắm lấy cổ tay xương xẩu làm bác giật mình tỉnh dậy. Nhìn thấy chúng tôi, sự vui mừng, cảm động hiện rõ trên khuôn mặt già nua trắng bệch, bác gật đầu nhẹ, đáp lại lời chào hỏi của vợ chồng tôi, rồi thều thào:

– Cám ơn hai cháu đã đến thăm bác, mời hai cháu ngồi!

Bác cho biết mấy ngày trước tự nhiên bị mệt mỏi, chóng mặt rồi bị xỉu, ngã ngay ở bếp vào ban đêm. Yến nghe tiếng động của chiếc ghế bị đổ, chạy ra mới biết và chở bác đến bệnh viện. Qua kiểm nghiệm bác sĩ cho biết do chứng suy tim đã có từ trước kèm theo thận và gan hoạt động không bình thường gây tắc trách sự tuần hoàn dẫn đến chứng lậm độc máu.

Sau vài giờ đồng hồ tâm sự, bác kể cho chúng nghe những ngày tháng cô độc, buồn chán càng lúc càng đè nặng lên bác vừa qua. Tôi cũng chỉ biết khuyên nhủ để nâng đỡ tinh thần bác mà thôi. Trước khi từ giã, bác nói với vợ chồng tôi trong nước mắt:

– Chắc bác và vợ chồng cháu không có dịp gặp lại nhau nữa đâu! Dù thế nào thì bác rất cảm động với lòng tốt của các cháu đã vì thương bác mà nghe tất cả những lời tâm sự của bác. Bác cũng không ngờ cuối đời mình lại cô độc và buồn đau như thế này. Con của bác vì bận rộn hay vì vô tâm mà chúng quên săn sóc bác, nhưng biết làm sao ngoài sự im lặng, tủi thân! Nhưng ít ra vào lúc cuối đời bác cũng có một niềm vui đó là có hai cháu để hàn huyên, tâm sự ….

Dù rất mệt, tiếng nói thều thào nhưng bác nói với chúng tôi khá nhiều, toàn là những câu nói đượm buồn và kín đáo than van! Tôi có cảm tưởng tinh thần bác hoàn toàn suy sụp, buông xuôi. Nỗi chán nản cùng cực của bác không những thể hiện trên khuôn mặt mà còn trong những lời nói như muốn gửi những lời trăn trối với vợ chồng tôi. Tôi cố gieo vào bác lòng tin về tài năng của y học Thụy Sĩ, họ sẽ mang lại cho bác sức khoẻ và niềm vui. Tôi hứa chắc chắn khi bác khỏe mạnh tôi sẽ xuống chở bác lên chơi với gia đình tôi vài tháng. Bác nghe lời hứa của tôi trong trạng thái bâng quơ hình như kín đáo che dấu sự thất vọng ở trong lòng.

Sau khi từ giã ra về, tôi tạt vào phòng y tá trực của dãy phòng bác nằm, ý định gặp người y tá nào đó nói với họ vài lời cám ơn, nhân tiện nhờ họ thông báo cho tôi biết ngay nếu có gì cần thiết. Thật may, tôi gặp được cô y tá trưởng, biết nói tiếng Đức, nhờ vậy mà vấn đề giao tiếp, nhờ vả của tôi dễ dàng hơn. Tôi cũng chẳng ngần ngại nói rõ với cô ta sự thật về hoàn cảnh không vui của bác cùng với sự nhạt tình, thiếu săn sóc của hai người con. Tôi mong cô ta cảm thương nỗi cô tịch của bác mà đặc biệt quan tâm. Tôi cũng không quên đưa cho cô ta số điện thoại, ân cần xin cô ta báo tin cho tôi biết ngay, bất cứ giờ nào, ban đêm hay ban ngày nếu có gì bất trắc, để tôi kịp đến thăm viếng hay giúp đỡ bác nếu cần.

Trở về nhà, vừa được 2 ngày, vào buổi sáng khi đang sửa soạn đi làm thì cô y tá trưởng từ bệnh viện Genève gọi đến. Tôi giật mình, linh cảm có gì không may xảy đến cho bác rồi. Cô ta cho biết bác hiện đang ở khoa cấp cứu, trong tình trạng tuyệt vọng! Với tí chút ngập ngừng cô ta cho biết đêm hôm qua vào khoảng nửa đêm, khi mọi người an ngủ, bác đã dùng kéo cắt đứt sợi dây chuyền serum, rồi để nguyên mũi kim trong mạch máu ở khủy tay cho máu chẩy ra ngấm vào chăn, đệm! Khi người y tá trực đêm biết thì bác đã rơi vào hôn mê. Bác sĩ khoa cấp cứu cho biết rất khó hy vọng cứu chữa vì bệnh nhân đã bị sẵn bệnh về tim mạch lại cơ thể rất yếu. Theo cô ta, nếu tôi đến bệnh viện trước buổi trưa hy vọng có thể gặp được bác lần cuối cùng.

Dù bị vướng bận với việc làm, nhưng tôi cũng xin nghỉ, lái xe một mình xuống Genève hy vọng gặp được bác thêm một lần nữa. Trên đường đi, tôi cầu mong sự kiện không phải quá bi đát như lời cô y tá nói.

Đến Genève, người đầu tiên tôi tìm gặp là cô y tá ,cô ta cho biết bác đã mất ngay sau khi cô ta điện thoại cho tôi, hiện đang nằm ở một phòng riêng gần khu nhà xác của bệnh viện để làm thủ tục cần thiết trước khi đưa vào nhà xác của bệnh viện. Tôi thẩn thờ khi biết mình đến quá chậm để không gặp được bác lần cuối cùng!

Mở cửa bước vào căn phòng nhỏ ở cuối hành lang của dãy nhà phụ được tách biệt với khu vực chính của bệnh viện. Chỉ có một chiếc giường duy nhất trên đó bác Chấn đang nằm. Cặp mắt của bác nhắm lại, bình thản như đang trong giấc ngủ! Chỉ có khác là khuôn mặt của bác hốc hác làm cho đôi gò má nổi hẳn lên giữa màu xám, tái xanh xấu xí của làn da mặt. Tôi im lặng đặt nhẹ bàn tay lên thân thể, lên cánh tay xương xẩu của bác như muốn cảm nhận rõ hơn cái lạnh lẽo của cơ thể cũng như nỗi buồn đau, cô độc của tâm hồn bác lúc ra đi.

Cũng chính lúc đó, lời tâm sự của bác mấy ngày trước khi vợ chồng tôi đến thăm bác ở bệnh viện hình như vang nhẹ bên tai tôi: “Bác đã lầm lẫn chọn lựa! cái lầm lẫn đã làm cho bác mất tất cả! Mất nhà cửa, mất tiền bạc nữ trang và có lẽ mất cả hai đứa con của bác nữa! Bác đã không thể hình dung ra cuộc sống xa quê hương lại mang đến cho bác thất vọng và buồn đau đến như thế! Nhưng ân hận cũng đã muộn, chẳng còn giải quyết nào khác hơn là phải chấp nhận những ngày tháng cô liêu đang đến. Nhưng bác tự hỏi bác có can đảm để chấp nhận nó suốt cuộc đời còn lại của bác hay không?”

Tôi đưa mắt nhìn qua khung cửa sổ, bên ngoài ánh nắng hoàng hôn đổ dài trên con đường trải đá sỏi trong khung viên của bệnh viện. Vài con chim nho nhỏ chuyền nhẩy trên cành cây làm rung động những bông hoa cuối mùa đã khô vì nắng gió còn sót trên những ngọn cây… Không gian thật vô tư, im lặng, chẳng có gì khác lạ để cảm thương cho một người mẹ đã vượt xa biết bao nhiêu khoảng cách trời đất, rời bỏ quê hương đến nơi đây với hy vọng được sống gần những đứa con, tìm cho mình một niềm vui đoàn tụ. Nhưng cuối cùng phải mang lấy nỗi buồn đau, cô tịch mà về với hư vô!

Lưu An Vũ Ngọc Ruẩn
(Switzerland, Zuerich)

Nguồn: https://www.rongmotamhon.net/xem-sach_Khoang-trong-cuoi-doi_gmlmsgqs_show.html

From:TU-PHUNG

Chậm Lại Hóa Hay

Van Pham

Chậm Lại Hóa Hay

Người ta thường nói: “Trâu chậm uống nước đục”, tuy vậy ở đời có những cái chậm lại hóa hay. Có người vì chậm mà không phải lên chuyến tàu định mệnh, hoặc vì chậm mà tránh được chuyến bay tử thần, chuyến bay một đi không trở lại bao giờ, cũng có khi vì chậm mà tránh được chuyến xe đi vào vĩnh viễn…

Trong số hàng triệu người ly hương, có nhiều kẻ vì hay bị chậm mà lại hóa hay, lại may mắn hơn, hưởng nhiều lợi lạc hơn những người đi trước. Những kẻ đi sau diện ODP, diện đoàn tụ gia đình, hoặc qua đường hôn nhân… đều là những kẻ an nhàn hơn, may mắn hơn, đi bằng máy bay, không phải vượt biên bằng tàu thuyền hay băng đường bộ. Những lớp người vượt biên trải qua chín chết một sống, lao vào cõi chết để tìm sự sống…

So với những người thuộc lớp đầu tiên đến đây với hai bàn tay trắng và một tâm hồn tan nát vì quê hương. Những lớp người thuộc diện HO sớm, đến đây với sự khó khăn bỡ ngỡ và phải làm lại từ đầu…Gã đến xứ Cờ Hoa này quả là chậm, quá chậm khi mà cộng đồng Việt đã hình thành vững mạnh và đông đảo. Gã đến xứ Cờ Hoa khi mà quan hệ hai nước đã bang giao, việc đi – về đã dễ dàng. Nếu những lớp người đi trước nhớ nhà, nhớ quê đến da diết tâm hồn, lâu lâu gặp được một đồng hương hay một dấu hiệu quê hương thì mừng lắm, quý lắm. Những tháng năm ấy thức ăn, món uống hay sản vật quê hương rất hiếm hoi, có người mua được chai nước mắn ở chợ Tàu mà mừng rơi nước mắt. Hoặc giả có người đang ở giữa đường mà nghe được người nói tiếng Việt thì cảm động đến độ chạy đến làm quen. Thời của gã đến đây thì hàng hóa made in Viet Nam đã ê hề, đã đầy nhóc các siêu thị: quần áo, gia dụng, thực phẩm, hàng thủ công mỹ nghệ…

Gã đến xứ này theo diện hôn nhân. Vợ gã là con gái của một vị thiếu tá quân lực Việt Nam Cộng Hòa, hai đứa quen biết và yêu nhau trước khi gia đình nhà vợ xuất cảnh theo diện HO 13, sau mấy năm thì vợ gã về Việt Nam bảo lãnh. Bởi thế mà gã mới bảo rằng, tuy trâu chậm nhưng không uống nước đục, thậm chí còn hưởng được nước ngọt ngon, thành quả từ những lớp đi trước gầy dựng nên. Khi gã đến xứ này thì chẳng còn tình cảnh thèm món ăn quê hương hay thèm nghe được tiếng nói đồng hương, thậm chí vào thời điểm ấy người Việt đã “ngán ngẩm” nhau lắm rồi. Người nào cũng bảo” cạch mặt Việt Nam”, “Đụng với người Việt dễ bị phiền toái lắm”…Chuyện người Việt chống báng nhau cứ từ từ nói sau, giờ quay lại những bước đầu của gã ở Mỹ.

Đến Mỹ hai tuần sau là có thẻ an sinh xã hội, gã lập tức xin vào hãng sản xuất phụ tùng xe hơi, cày đúng một tuần là bỏ. Khổ trần ai, tiếng dập ầm ầm đinh tai nhức óc, hơi nóng từ hệ thống máy móc tỏa ra thiếu điều như nung trong lò bát quái, xong mỗi ca làm là nằm dài ra chẳng còn thiết ăn uống, sau một tuần nhận được cái ngân phiếu chưa được hai trăm đồng. Trời, làm cực và nặng vậy mà lương thế này thì sao sống nổi?

Thiên hạ xưa nay vẫn ca tụng:” Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật, lãnh lương Mỹ”, lương Mỹ như cái ngân phiếu này sao? Bỏ việc, sau có người quen giới thiệu vào một tiệm nails. Tiệm đang hồi thiếu thợ, thế là nhào vô chơi luôn, ban đầu làm vụng, xấu, khách chê dữ lắm nhưng riết rồi quen. Đến khi làm thạo thì sanh ra chán, tuy có tiền mặt và tiền tip rủng roẻn nhưng cảm thấy không thích hợp. Ngày nào vào tiệm cũng đầy chuyện thị phi cãi cọ giữa thợ với thợ, thợ với khách, giữa thợ với chủ, tất cả cũng không ngoài việc giành khách, hơn thua tiền tip, thậm chí đố kỵ vì người này người nọ hơn mình…Công việc quả thật nhàm chán, cứ rị mọ hí hoáy với mấy cái móng đàn bà.

Một ngày nọ, một anh thợ nam đắp bột móng tay và thợ nữ chà chân, làm xong người khách chỉ cho có một đồng tiền tip. Anh thợ xé đôi tờ bạc và nói:’ You và me làm chung, nó cho một đồng, you năm mươi, me năm mươi”. Người thợ nữ nghẹn, chửi:” Đồ bần tiện”, không biết chị ta chửi khách hay chửi anh thợ kia, có lẽ cả hai.

Rồi một ngày khác có cô thợ vớt tay trên của bạn làm chung;” Tuần trước đi casino thua mấy xấp, giờ tui phải tranh thủ cày bù lại”. Người kia uất ức nhưng không biết làm gì được, chửi:” Bòn đứa dại đãi đứa khôn”. Rồi chuyện thợ này nói xấu thợ kia, bỏ nhỏ với khách:’ Đứa đó làm xấu, chơi thuốc, chỉ biết tiền tip… mầy đừng để nó làm cho mầy”… oải quá, gã bỏ nghề! Cuối cùng vào được một hãng gia công lắp ráp máy cho công ty Google, thế rồi từ ấy tạm yên với công việc của mình, không còn phải đụng hay nhìn thấy đồng hương.

Cũng thời gian ấy, có một quyển sách vừa xuất bản đã gây xôn xao dư luận, quyển “ Người Bắc Kinh ở New York” ( tác giả người Hoa, quên tên rồi). Trong quyển ấy có một câu mà gã rất tâm đắc:” Nếu bạn yêu ai, hãy đem họ đến New York; còn như bạn ghét ai, thì cũng đem họ đến New York”. Điều ấy cho thấy, xứ Cờ Hoa này quả nhiên là mảnh đất lý tưởng của những người tỵ nạn ( tỵ nạn với bất cứ lý do gì), là mảnh đất của giấc mơ ( Ameria dream), nhưng nó không dễ dàng tí nào, nó không phải là mảnh đất thần tiên để “ Nằm ngửa ra đô la rơi vào mồm ăn” như những lời đồn phóng đại., những lời nổ sảng. Xứ Cờ Hoa nói chung, New York nói riêng, nó là thiên đường cho những ai chăm chỉ làm ăn nhưng nó cũng là địa ngục cho những ai không chịu nổi những đặc tính của nó. Xứ sở này dù giàu có, tự do nhưng cũng vất vả lắm! Người lao động quần quật và trần ai chứ không dễ gì kiếm tiền. Đồng lương cơ bản làm sao đủ chi trăm thứ chi phí, phải làm thêm giờ, làm job thứ hai…”cày” đến phờ phạc cả mặt mày. Sáng vào hãng, quần quật suốt ngày; tối về quất tô cơm, làm lon budweiser rồi lăn ra ngủ lấy sức để sáng mai lại cày.

Ngày gã đến Mỹ cũng là thời điểm có khá nhiều “Việt kiều hồi hộp” xênh xang áo gấm về làng. Họ bỏ ra vài trăm đô là tha hồ ăn nhậu và nổ sảng về nước Mỹ, khoe những tấm hình chụp ké nhà sang xe xịn của ai đấy để lòe dân quê, làm cho không ít người có cái nhìn ngộ nhận và sai lệch về nước Mỹ. Gã đã nghe có người nổ sảng” Mỹ sẽ trả lương và bồi thường cho những ai đã làm sở Mỹ trước 1975” Biết nói sao với những tay “Áo gấm về làng” như thế!

Nước Mỹ quả là thật tự do, muốn đi đâu thì đi, muốn ở đâu thì ở, chẳng cần xin phép ông kẹ bà chằng nào cả. Nước Mỹ thật sướng, muốn theo đảng phái nào thì theo ( chí ít là không phải Communist hay Fascisti là ok!), Nước Mỹ thật tuyệt vời, muốn viết gì thì viết, muốn in sách thì cứ in ( in ra mà bán được hay không mới là quan trọng), viết và in cứ tự do, chẳng phải kiêng kỵ ai, chẳng phải xin phép ai, chẳng bị kiểm duyệt ( khi mà chưa phải là nhân viên cao cấp có thể ảnh hưởng đến an ninh quốc gia). Nước Mỹ quả là thiên đường của người cầm bút, tác phẩm có sống được hay không mới là yếu tố quyết định. Nước Mỹ có cả một rừng báo, tạp chí, ấn phẩm… ở đâu cũng thấy sách báo.Những kẻ mang nghiệp chữ thấy mà ham!

Nước Mỹ với hệ thống giáo dục tân tiến, khoa học, hữu dụng và thực tế. Giáo dục hoàn toàn miễn phí ( trừ bậc đại học trở lên). Nước Mỹ với nền chính trị minh bạch, tam quyền phân lập, báo chí tự do, khoa học kỹ thuật hiện đại, nghệ thuật khai phóng…Quả thật là ấn tượng sâu sắc với gã! Điều đầu tiên mà gã thích nhất, khoái nhất khi đến nước Mỹ không phải là đi shopping mua sắm mà là vào nhà sách. Gã mê mẩn với muôn hồng ngàn tía của một rừng sách báo. Những năm tháng đầu thì tiếng Anh còn yếu lắm, chưa đọc nổi, chỉ đọc những mẩu tin ngắn và xem hình là chính ( kể cả xem tạp chí playboy, penthouse…). Thế gian này có kẻ nào mang nghiệp chữ mà không mê sách báo bao giờ!

Có những lần gọi phone về Việt Nam nói chuyện với bạn bè, gã thật thà “kể khổ” phải cày như trâu. Nhiều đứa cười bảo:” Việt Nam giờ sướng lắm, sáng tà tà cà phê, chiều nhậu sương sương, tối quậy tới bến”, hoặc “ Việt Nam giờ sống thoáng lắm, miễn là đừng đụng chuyện chính trị”… Đôi khi gã cảm thấy lung lay, mình ở đây “cày như trâu”, tụi nó sống tháng ngày hoan lạc hưởng thụ, đến Mỹ để chịu “thiệt” như vậy sao?. Nghĩ đi rồi nghĩ lại, mình vẫn hơn rất nhiều, được thụ hưởng cái tự do, cái bảo đảm về nhân quyền, có tương lai ổn định và vững chắc cho con cái, được thở cái không khí an toàn mà ở quê hương mình không có được!

Gã đến Mỹ khi mà cộng đồng người Việt đã đông đảo và phát triển. Ngay tại thành Ất Lăng này, chỉ chừng vài mươi ngàn người Việt ( những năm tháng ấy) nhưng cũng có đến hai cộng đồng. Quanh năm kèn cựa nhau, chụp mũ nhau, đấu tố nhau như “ Chỉ có cộng động thống hợp là hợp pháp”, “ Chỉ có cộng đồng hậu duệ là chính quy”, Một nhúm người mà hai cộng đồng, nhóm nào cũng cho mình là đại diện chính đáng, bao nhiêu cuộc họp dàn xếp nhưng bất thành. Bên nào cũng khư khư cho mình là phải, nhóm kia là quấy, tất cả cũng không ngoài cái danh hão và nguồn trợ giúp của tiểu bang.

Người Việt ở đây thường nói vui với nhau một câu tục ngữ mới:” Không ăn đậu không phải Mễ, không chia rẽ không phải Việt Nam”, quả thật như thế! Người Việt lúc nào cũng chống báng nhau, tranh đấu với nhau, kèn cựa nhau, hễ một người làm được mà những người khác không bằng thì thế nào họ cũng lôi kéo xuống cho bằng được.

Có người còn ví người Việt như những con cua đồng trong cái rọ tre, con nào ngoi lên thì con kia kéo xuống, những cái que của chúng móc vào nhau! Cũng có người bảo:” Người Việt như nắm cát khô” ngụ ý cát khô sẽ chảy qua kẽ ngón tay.

Việc tranh đấu ngoài đời chưa đủ, họ còn kết bè kết cánh với cả thày chùa, với đám mang danh luật sư, bác sĩ kém phầm hạnh bắt tay với lũ cộng nằm vùng tấn công những người hy sinh làm việc giúp cộng đồng, đặc biệt là nhóm trẻ đáng tuổi con cháu, họ cũng chẳng tha. Họ âm mưu đặt để người theo ý mình, hòng điều khiển mọi việc theo ý đồ riêng tư. Nhưng không thành công theo ý, thì họ quay sang tấn công cá nhân, moi móc chuyện đời tư mà không hiểu họ chui gầm giường hay sao mà biết rõ thế….

Cũng câu tục ngữ ấy nhưng phiên bản mới là “ Không ăn đậu không phải Mễ, không đi trễ không phải Việt Nam”. Quả thật người Việt ở xứ này là chúa đi trễ, những lễ lạc, hội hè, tiệc tùng… người Việt trễ một hai giờ là chuyện thường. Chỉ duy có đi làm là đúng giờ ( có lẽ đi trễ bị trừ tiền, trừ điểm, đuổi việc…nên sợ). Có những lần đám cưới, gã cứ thật thà đi đúng giờ ghi trên thiệp, hậu quả là bơ vơ lạc lõng ngồi chờ đồng hương đến. Ngay cả những buổi lễ có tính cách tôn giáo cũng thế, đồng hương cứ tà tà, lọt chọt đến sau.

Những ngày sống và làm việc ở xứ này, gã cũng tham gia vào việc dạy tiếng Việt ở một ngôi chùa địa phương. Bọn trẻ sinh ra và lên ở đây, chúng có thể nói được tiếng Việt ( vì ba mẹ và ông bà vẫn nói tiếng Việt) nhưng chúng không thể đọc hay viết tiếng Việt được.

Dạy tiếng Việt cho tụi trẻ quả là cũng cần thiết và cũng thú vị, giao tiếp với trẻ em thì bao giờ cũng dễ chịu và thoải mái. Nhiều đứa trẻ có lối tư duy rất Mỹ, tuy chúng rất ngoan và hiền nhưng lý luận rất sòng phẳng và rạch ròi. Khi gã dạy tiếng Việt, có ý lồng những nội dung về con ngoan trò giỏi hay con hiền cháu thảo để cho các em biết về văn hóa Việt…

Lúc trao đổi với các em, gã cũng học thêm được chút ít về lối sống Mỹ. Khi gã hỏi một em học sinh về tình cảm và cách đối xử với cha mẹ, em ấy bảo:” Em thương cha mẹ, khi em lớn ở riêng, cha mẹ ở nhà cha mẹ, cha mẹ không thể ở nhà em!”, cũng có em khác trả lời về vấn đề ông bà” Ông bà là cha mẹ của cha me, không phải cha mẹ em, em không phải lo cho ông bà”… Văn hóa Mỹ là thế! Tác động sâu vào những thế hệ thứ hai, thứ ba.

Dù muốn hay không chúng ta cũng phải chấp nhận cái thực tế này. Vấn đề mà chúng ta có thể là duy trì việc dạy tiếng Việt cho con em, thông qua đó có thể giới thiệu chút ít về nguồn cội lịch sử, văn hóa của chúng ta với con em mình! Gã cũng có lần hỏi các em vì sao chúng ta có mặt ở xứ sở này, khá nhiều em không biết vì sao và hiều em thắc mắc:” Tại sao ở đây ( chùa và cộng đồng người Việt) dùng lá cờ màu vàng mà ở trường Mỹ thì em thấy lá cờ màu đỏ?”

Thời gian hai năm đầu khi đến Mỹ quả thật không khó khăn nhiều như những lớp người di tản, vượt biên… nhưng cũng “cày” vất vả không kém ai, không ít lần có ý nghĩ quay về Việt Nam, sống tà tà sáng cà phê chiều nhậu mát trời ông địa. Chuyện tự do, dân chủ, nhân quyền… xa xôi quá, có người khác lo! Dần dần thời gian trôi qua, gã cũng nhận diện ra sự thật của vấn đề ( nói kiểu nhà thiền nhận ra bản lai diện mục). Thiên đường có thể là địa danh, có thể là tính từ. Thiên đường không phải là cái có sẵn để mình nằm không mà hưởng. Thiên đường phải cật lực kiến tạo mới có được! Không phải cuộc sống cứ tà tà ăn nhậu chơi bời là thiên đường, nếu cho thiên đường là thế thì quả thật là “ thiên đường mù” ( chữ của nhà văn Dương Thu Hương).

Xứ sở này phải làm cật lực, phải vất vả học hành và làm việc. Xứ sở này tuy chưa phải là thiên đường nhưng nó có những yếu tố của thiên đường: Tự do, nhân bản, khai phóng, phát triển, an toàn, bền vững…Mọi người đều có cơ hội như nhau. Xứ sở này trời cao đất rộng, thiên nhiên xanh tươi, khí hậu trong lành, xã hội văn minh, chính trị minh bạch, giáo dục nhân bản, nghệ thuật khai phóng, dân quyền, dân sinh, dân chủ… đều được pháp luật bảo vệ. Tài năng của mọi người có cơ hội phát triển và nuôi dưỡng. Mọi người có quyền biểu đạt ý kiến và quan điểm của mình. Ở xứ này, mọi người đều tiếp cận và thụ hưởng dễ dàng những phương tiện kỹ thuật hiện đại nhất, nhất trào lưu tân tiến nhất, cho dù ta chỉ là những người bình dân. Ở xứ này con người dễ dàng phát huy mọi khả năng và sở trường của mình, chỉ sợ là mình không có khả năng gì mà thôi! Nếu mình mà có khả năng đặc biệt thì lập tức những công ty hãng xưởng sẽ trọng dụng mình, những học sinh xuất sắc sẽ được các đại học danh tiếng chiêu dụ mình.

Ở xứ này con người rất xa lạ, thậm chí chẳng hề nghe qua cái gọi là “lý lịch ba đời”, “ Lập trường giai cấp”… Con người dường như bao đời nay chưa hề biết đến những từ ngữ:” Tịch thu”, “ quốc hữu hóa”, “Quy hoạch”, “Sở hữu toàn dân”…Ở xứ này, tài sản người dân được pháp luật bảo vệ; thân thể, nhân phẩm, danh giá con người được tôn trọng; tài năng được trọng dụng. Xứ sở này có thể chưa phải là thiên đường nhưng rõ ràng nó mang bóng dáng của một thiên đường và vô số người vẫn cho nó là một thiên đường. Bằng chứng là hàng triệu, hàng chục triệu người khắp thế gian này đều tìm cách đến đây để sinh sống. Họ tìm mọi cách kể cả phi pháp, bất hợp pháp.

Họ không chỉ là người tị nạn, người nghèo mà có rất nhiều những người giàu bỏ tiền của ra để mua cho bằng được thẻ xanh. Có rất nhiều những con ông cháu cha, quan chức trung cấp, cao cấp tìm đến xứ sở này để sống và còn rất nhiều quan chức cao cấp khác gởi tiền trong các nhà băng ở xứ này, mua đất mua nhà ở xứ này! Xứ sở này dẫu chưa phải là thiên đường nhưng nó thât sự là thiên đường trong con mắt của vô số người trên thế giới. Vô số người nuôi “Giấc mơ Mỹ”!

Có không ít những người Việt sống ở đây nhưng lại nghĩ Việt Nam mới là thiên đường, ở bển tha hồ sáng cà phê chiều nhậu, bia bọt gái gú, ăn chơi khoe thân, khoe của, lên mạng làm những trò nhí nhố…Bởi thế năm nào cũng làm những chuyến “ Áo gấm về làng”, tha hồ ăn chơi vung vít, nổ sảng cho sướng lỗ miệng, tha hồ phô bày cái “Tôi”, cái “Ngã” đầy nhỏ nhen ích kỷ của mình.

Tuy họ về bển chơi, ca tụng ở bển mới là thiên đường nhưng không đời nào họ dám từ bỏ thẻ xanh hay quốc tịch mẽo này đâu! Nếu ngày xưa, những người ra đi mệnh danh tìm tự do, vậy bây giờ họ ra về thì mệnh danh là gì? Có lẽ câu hỏi này không khó để trả lời, nhất là với những người thuộc giới showbiz

Không phải đến thế kỷ hai mươi người Việt mới có di tản, lưu vong. Lịch sử hai ngàn năm nước Việt có rất nhiều những lần lưu lạc ly tán. Khởi đầu là những cuộc di dân nam tiến của cư dân Việt cổ xưa thuộc đồng bằng bắc bộ ngày nay, cao điểm là những lần đánh chiếm đất Champa.

Lịch sử còn ghi nhận Hoàng tử Lý Long Tường ( đời nhà Lý) đã đem toàn bộ gia tộc và gia nhân vượt thoát sang Đại Hàn – Triều Tiên để tránh họa diệt tộc. Mãi đến thế kỷ hai mươi này, hậu duệ đời thứ bốn mươi là ông Lý Xương Căn tìm về Đình Bảng để bái yết tổ tiên, có lẽ đây là cuộc di tản buồn nhất, dài lâu nhất của người Việt. Sử Đại Hàn chép rõ ràng, hoàng tử Lý Long Tường dựng “Vọng quốc đài” ngày ngày ngóng trông về Đại Việt.

Kế đến là những cuộc vượt thoát từ đàng ngoài vào đàng trong, kéo dài suốt hai trăm năm nội chiến của các tập đoàn phong kiến: Lê – Mạc – Trịnh – Nguyễn. Sông Gianh trở thành biên giới phân chia giữa đàng ngoài và đàng trong.

Thế kỷ hai mươi thì lịch sử lập lại một cách nghiệt ngã, sông Bến Hải trở thành vĩ tuyến chia đôi đất nước, hàng triệu người rời bỏ nhà cửa, ruộng vườn để di tản vào nam.

Năm 1975, cuộc chiến tương tàn kết thúc thì hàng trăm ngàn người Việt di tản, sau đó thì lại có hàng triệu người lao ra biển đông để tìm đường sống, hàng triệu người vượt biên, lao vào cái chết để tìm sự sống, đó cũng là lý do tại sao có cộng đồng Việt ở xứ Cờ Hoa này. Ngày nay, có không ít những người xưa kia từng tuyên bố vượt biên tìm tự do, giờ họ làm cuộc vượt biên ngược lai, không biết cuộc vượt biên ngược lại để tìm gì đây?

Nước Mỹ bây giờ còn vật vã trong cơn dịch Corona virus, tuy nhiên đang dần được khống chế. Nước Mỹ vẫn còn âm ỉ những chia rẽ phân liệt nặng nề bởi một ông tổng thống bá đạo, thô lỗ và ích kỷ. Nước Mỹ vẫn còn ngăn cách bởi sự bênh và chống giữa Dân Chủ với Cộng Hòa. Nước Mỹ hôm nay đã có phần suy giảm trước sự phát triển và hung hăng của Trung Cộng. Tuy vậy, nước Mỹ vẫn còn là cường quốc số một của thế giới, có những giả thuyết đặt ra sau vài mươi năm nữa Trung Cộng sẽ thay thế nước Mỹ, xem ra những giả thuyết này chẳng có sức thuyết phục nếu nước Mỹ đoàn kết như trước đây. Nước Mỹ hôm nay vẫn đương nhiên là nước hàng đầu thế giới về mọi mặt: Kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, công nghệ, tài chánh, nhân quyền… và kể cả là cường quốc dung chứa những người tị nạn. Những nạn nhân của chiến tranh, kỳ thị tôn giáo, kỳ thị giới tính, bất công xã hội, những người bị săn đuổi bởi những thể chế độc tài toàn trị… đều được nước Mỹ mở rộng vòng tay đón họ.

Những thế hệ người Việt đến Mỹ sớm giờ đã già, một phần đã ra đi. Những thế hệ thứ hai, thứ ba… đã hội nhập sâu vào đời sống Mỹ, có không ít đã thành công trên chính trường, quân đội, dân sự, khoa học và nhiều nhất, dễ thấy nhất là thành công ở mặt kinh tế. Tỷ lệ theo mức độ hội nhập và thành công của người Mỹ gốc Việt thế hệ con cháu là cái “ Căn cước” tị nạn cũng dần phai.

Những người Việt đến Mỹ hiện nay, đa số là du học sinh, một số ít theo diện đầu tư ( thật sự là kiếm đường định cư mà thôi) và một phần đáng kể nữa là đi theo diện hôn nhân ( kể cả rất nhiều vụ kết hôn giả). Không khó khăn gì để nhận thấy có một sự khác biệt khá lớn giữa lớp người đi trước và những người mới đến hôm nay, cái khác biệt về tư tưởng, quan điểm, cách nhìn nhận vấn đề; khác biệt về lối sống và văn hóa ứng xử… u đó cũng là hậu quả của hai môi trường sống khác nhau.

Tiểu Lục Thần Phong

May be an image of one or more people and outdoors

SỰ SỢ HÃI TRONG DÂN?…

SỰ SỢ HÃI TRONG DÂN?…

Ngày hôm qua, bắt đầu từ trưa khi Thủ tướng họp với lãnh đạo thành phố bàn việc chống dịch. Trong phát biểu ý kiến của Thủ tướng đại ý là: “Chính phủ kêu gọi sự cảm thông và ủng hộ của nhân dân nếu phải áp dụng các biện pháp khoanh vùng, giãn cách, phong tỏa, cách ly trên diện rộng để xử lý triệt để sự lây lan của dịch bệnh vì sức khỏe cộng đồng và sự phát triển của đất nước.”. Có nghĩa là Thủ tướng và thành phố đang chuẩn bị một số biện pháp mới mạnh hơn, quyết liệt hơn trong việc ngăn chận dịch bệnh.

Thế là chỉ không lâu sau đó, trên mạng xã hội và truyền thông có lan truyền một lời nhắn có nội dung: ̵”̵ ̵E̵m̵ ̵c̵h̵u̵ẩ̵n̵ ̵b̵ị̵ ̵đ̵ồ̵ ̵ă̵n̵,̵ ̵t̵h̵ự̵c̵ ̵p̵h̵ẩ̵m̵ ̵t̵h̵i̵ế̵t̵ ̵y̵ế̵u̵ ̵n̵g̵a̵y̵ ̵n̵h̵é̵.̵ ̵A̵ ̵đ̵a̵n̵g̵ ̵h̵ọ̵p̵ ̵t̵r̵ự̵c̵ ̵t̵u̵y̵ế̵n̵ ̵h̵o̵ả̵ ̵t̵ố̵c̵.̵ ̵C̵h̵u̵ẩ̵n̵ ̵S̵G̵ ̵k̵o̵ ̵đ̵c̵ ̵r̵a̵ ̵n̵g̵o̵à̵i̵.̵ ̵L̵à̵m̵ ̵n̵g̵a̵y̵ ̵đ̵i̵.̵ ̵A̵ ̵đ̵t̵ ̵k̵o̵ ̵n̵g̵h̵e̵.̵”̵ ̵

Tiếp đó là thông báo sẽ lockdown toàn thành từ 0 giờ ngày 9/7. Tui nhận được khoảng 100 tin như thế này trên messenger cũng trên tin nhắn điện thoại, zalo, Viber…

Đồng thời, tui cũng được báo tin trên điện thoại bởi nhiều bạn bè quen biết. Tôi đọc tin mà ngờ ngợ vì trước đây mấy hôm cũng đã có tin như thế này tung ra nhưng sau đó đã được cải chính. Hôm nay thì chỉ một cái nhắn tin nho nhỏ, ngắn gọn giống như của người trong cuộc đưa ra.

Hàng trăm, hàng ngàn cái tin đều giống như đúc từ một khuôn và nội dung là một. Tui đâm nghi ngờ nên cũng dè dặt khi trao đổi với bạn bè và người thân. Rất nhiều người tin vào cái mẩu con con này, Họ bảo nhà nước này từ xưa đến nay muốn làm gì quan trọng đều theo bài này, tức là tung tin ra, sau đó cải chính nhưng thật sự là chuyện đó có thật.

Như chuyện mấy lần đổi tiền ngày xưa chẳng hạn. Lại thêm nhiều cơ quan, xí nghiệp, nhà máy yêu cầu công nhân, viên chức ở lại cơ quan, công nhân ăn ngủ, làm việc trong xưởng để hạn chế lây lan dịch bệnh. Chỉ cần thế là mọi người đã nháo nhào.

Thế nên mọi người lại ùn ùn lũ lượt ra siêu thị vét hàng. Chiều và tối hôm qua các siêu thị các quầy hàng trống rỗng. Sáng hôm nay cũng vậy. Chợ bây giờ phải bán chui, sạp hàng bảo với khách quen muốn mua hàng thì ra lúc 4:30 sáng để tránh dân quân với công an. Giá thì bảo sao mua vậy, không thể cò kè vì hàng khan hiếm.

Dù hôm nay, chính quyền đã thông báo cho biết là không có lockdown, chỉ hạn chế có kiểm soát tình hình ra vào và di chuyển trong thành phố. Nhưng khổ lắm, dân vẫn không chịu tin và vẫn sống trong nghi ngờ và sợ hãi. Cho đến giờ, tui vẫn khẳng định tin nhắn nho nhỏ được phát tán, lan truyền một cách rộng rãi hôm qua là tin giả và vẫn nghĩ rằng chính quyền đang có một kế hoạch mới để đối phó với dịch bệnh đang lan tràn, số người mắc bệnh càng ngày càng cao.

Hôm nay hơn 120.000 thí sinh và các bộ phận liên quan đang thi tốt nghiệp. Thí sinh đi thi với tâm trạng không ổn, cha mẹ học sinh thì đầy âu lo. Nhà nước cũng ở trong tình trạng căng thẳng vì lỡ như có thí sinh nhiễm bệnh vì tập trung đi thi, dân chửi không kịp vuốt mặt. Và mới đây đọc báo thấy có một thí sinh ngất xỉu trong phòng thi phát hiện thấy dương tính. Đọc tin mà hoảng hồn. Nguy thật!

Thành phố xáo xào hoang mang với đủ thứ lời đồn. Thực hư, hư thực. Tin chính thống của nhà nước thì hạn chế, mông lung nhiều khi không cụ thể vấn đề, chữ nghĩa thì kêu rổn rảng mà chẳng hiểu gì. Tin vỉa hè, tin giả thì lan truyền như vết dầu loang. Dân bối rối nên thường chỉ tin vào những đồn thổi.

Giá như chính quyền khi dự định đưa ra những biện pháp mới nên khẳng định có phong toả toàn thành, nội bất xuất, ngoại bất nhập hay không, khẳng định điều đó trước khi đề nghị những phương cách mới.

Được như thế, dân hiểu ngay là chính quyền sắp có nhiều thay đổi nhưng biết rõ có hay không biện pháp phong toả toàn thành. Khi được biết những khẳng định minh bạch của nhà nước, dân sẽ ít bị chi phối bởi những tin đồn nhảm. Đừng vội trách dân chúng và dân cũng nên thông cảm với chính quyền.

Trong tình hình nước sôi lửa bỏng như thế này, minh bạch là điều cần thiết đối với lãnh đạo và dân phải tập bình tĩnh trước những sự kiện. Thành phố đang thiếu một bộ phận đầu não có kiến thức chuyên môn và tổ chức khoa học cùng một đội ngũ truyền thông tốt. Chính vì thiếu những yếu tố đó đã đưa đến tình trạng hỗn loạn và bát nháo trong dân.

Phải thay đổi cách dập dịch là điều tiên quyết để ngăn chận dịch lan truyền như lúc này. Không thể cứ có dương tính là đóng cửa, là bao vây và sau đó hàng loạt F1, F2 vào khu cách ly. Thành phố đã có gần 800 điểm cách ly và phong toả, cứ thấy nơi đâu cũng giăng dây và hàng rào kẽm, lòng dân làm sao yên. Khi người nhiễm bệnh không còn có những triệu chứng thì việc tập trung đông người để tầm soát bệnh là việc làm gây nhiều nguy cơ.

Khi số người bệnh tăng cao lên con số hàng trăm, hàng ngàn một ngày thì tất cả những việc tập trung đông người như tổ chức thi tốt nghiệp hay tầm soát là một việc làm sai lầm. Đó là dịp để dịch bệnh lan tràn khó kiểm soát.

Có thể thành phố không thiếu lương thực, thành phố vẫn còn những cơ sở cung ứng thức ăn, thực phẩm theo kiểu online.

Nhưng người ta lại ngán shiper. Họ chạy suốt ngày ngoài đường, tiếp xúc không biết bao nhiêu người nên nguy cơ tiềm ẩn bệnh là rất lớn, do vậy mua hàng online chỉ là cái bấm chuột nhưng tiếp xúc với người giao hàng thì lắm e ngại.

Nhưng mua hàng kiểu đấy chỉ dành cho những người có đồng ra đồng vào, còn dân nghèo thì chịu chết, làm không ra vì dịch bệnh bủa vây, lấy tiền đâu mà mua.

Thế nên, để an dân, ngoài chuyện minh bạch thông tin, chính quyền nên lưu ý đến những người dân nghèo, không thể cứ để mặc cho những người làm thiện nguyện hỗ trợ dân như lâu nay vẫn thế và bây giờ vẫn vậy.

Phải có chính sách và tổ chức để đến với tầng lớp dân nghèo. Họ không thể ngồi chờ mãi những tấm lòng của mọi người hảo tâm mang đến mà phải có một sự trợ giúp dài hơi của chính phủ, và đó là bổn phận và trách nhiệm của nhà nước đối với nhân dân. Đó cũng là một cách để an dân.

7.7.2021

DODUYNGOC

May be an image of 1 person and text

Nền Cộng hòa cần đức hạnh…

“Giống như nền Cộng hòa cần đức hạnh, chế độ quân chủ cần danh dự, thì chính phủ quân phiệt cần nỗi sợ hãi. Nó không cần đến đức hạnh, còn danh dự là nguy hiểm đối với nó.” – Charles-Louis de Secondat

Trong một cuộc viếng thăm thương bệnh binh nọ, các bác sĩ đã dẫn Lincoln đến bên một người lính trẻ sắp cận kề cái chết. Tổng thống đến bên giường, hỏi người lính: “Tôi có thể làm gì cho anh không?”

Người lính hốc hác rõ ràng đã không nhận ra người đàn ông đứng trước mặt mình là Tổng thống Lincoln. Chàng trai trẻ bị thương thì thầm với Tổng thống một cách khó khăn: “Ông có thể viết thư cho mẹ tôi không?”

Lincoln đã ghi lại đúng và cẩn thận những gì người lính nói lên một tờ giấy.

“Mẹ thân yêu nhất của con, con bị thương nặng khi làm nhiệm vụ. Con sợ con sẽ không hồi phục. Xin đừng quá tiếc thương. Hôn Mary và John giúp con. Chúa sẽ phù hộ cho cha mẹ.”

Người lính dừng lại khi anh quá yếu để tiếp tục. Và vì vậy, Lincoln đã ký bức thư:

“Viết cho con trai của ông bà bởi Abraham Lincoln.”

Đọc lại bức thư mà “vị khách” ghé thăm đã viết thay cho mình, người lính bị thương đã rất ngạc nhiên khi thấy chữ ký của Tổng thống Abraham Lincoln…

“Ông có thực sự là Tổng thống không?” Chàng trai trẻ hỏi.

Lincoln trả lời: “Đúng, là tôi đây” rồi hỏi thêm người lính có cần hỗ trợ gì nữa không.

Người lính đáp lại: “Ngài có thể nắm tay tôi không? Nó sẽ giúp tôi vượt qua những giây phút khó khăn cuối cùng này.”

Trong căn phòng yên tĩnh, vị tổng thống cao lớn, gầy gò nắm tay chàng trai trẻ và động viên anh cho đến khi anh trút hơi thở cuối cùng.

Với tầm nhìn sâu rộng và lòng trắc ẩn bao dung, biết lắng nghe tiếng nói, nhu cầu của người dân, Tổng thống Lincoln đã trở thành một lãnh tụ xuất sắc được cả nước Mỹ và thế giới công nhận là một nhà lãnh đạo xuất sắc.

Câu chuyện về Tổng thống Lincoln luôn mở rộng tấm lòng, đối đãi chân thành với người khác khi họ gặp khó khăn đã trở thành nguồn cảm hứng cho biết bao thế hệ và người dân nước Mỹ. Đó cũng là câu chuyện về một phong cách sống nhân văn, thân thiện và chứa chan lòng trắc ẩn. Đúng như nhà nghiên cứu người Mỹ Steve Maraboli đã từng viết: “Một cử chỉ tử tế có thể chạm tới vết thương mà chỉ có lòng trắc ẩn mới có thể chữa lành!”

[My My biên dịch]

May be an image of flower and indoor

Trại Chí Hòa: Tù nhân nổi dậy sau khi một can phạm chết vì COVID-19

May be an image of road and text

 Đài Á Châu Tự Do 

Trại Chí Hòa: Tù nhân nổi dậy sau khi một can phạm chết vì COVID-19

Hàng loạt các tù nhân đang bị tạm giam trong Trại Chí Hòa, TP.HCM nổi dậy vào tối 6-7-2021 sau khi một can phạm 26 tuổi tử vong hai hôm trước dương tính với COVID-19.

Hàng loạt tiếng nổ vang lên sáng rực khuôn viên trại tạm giam Chí Hòa, TPHCM được người dân ghi lại bằng điện thoại và đưa lên mạng xã hội. 

Loạt tiếng nổ này giống như những quả nổ nghiệp vụ mà lực lượng cảnh sát cơ động thường dùng để trấn áp trong các cuộc biểu tình, bạo loạn.

Theo VnExpress, cảnh sát cơ động có vũ trang được điều đến Trại tạm giam Chí Hoà, quận 10 bằng các xe chuyển quân loại lớn để giữ an ninh trật tự sau khi nhiều phạm nhân bị cho là “kích động gây rối”.

Đến 7 giờ 50 tối, ít nhất 6 loạt tiếng nổ tiếp tục vang lên cùng nhiều tiếng la hét.

Hơn 2 tiếng sau, một ô tô chở phạm nhân và 6 xe chở cảnh sát mặc giáp chống đạn từ trong khám đi ra ngoài.

Theo thông tin một chiều từ Công an TP HCM, khi lực lượng y tế tổ chức thăm khám sức khỏe cho các can phạm nhân tại Chí Hòa thì một số người “lợi dụng kích động người khác la hét, gây rối”.

Công an thành phố điều động lực lượng phối hợp Quản giáo Trại tạm giam Chí Hòa xử lý, ổn định an ninh trật tự, đưa số can phạm nhân trở lại buồng giam.

Một số người được chuyển về Trại giam T30 (huyện Củ Chi, mới xây) để thực hiện giãn cách, phòng chống COVID-19, cải thiện điều kiện sinh hoạt cho can phạm nhân.

Cũng trong tối 6-7, công an TP.HCM mới tiết lộ về việc một bị can 26 tuổi tử vong hôm 3-7 do suy hô hấp cấp, sốc nhiễm trùng, viêm phổi… và có kết quả test nhanh dương tính nCoV.

Thông tin trên được trại tạm giam Chí Hoà báo cáo với Công an và VKSND TP HCM, chiều 4/7.

Người này mới bị bắt giữ và hôm 2-5 bị chuyển đến Chí Hoà, được trại giam kiểm tra y tế, cách ly theo quy định rồi chuyển đến buồng giam.

Hôm 28-6-2021, Trại Chí Hòa thông báo có 3 cán bộ công an nhiễm COVID-19, sau đó một phạm nhân bị chuyển đến Trại tạm giam Bố Lá, huyện Phú Giáo – Bình Dương cũng có kết quả dương tính.

Tuy nhiên, sau đó báo chí hoàn toàn không thông tin về những gì đang xảy ra ở trong trại Chí Hòa và Bố Lá – là những nơi giam giữ chật chội, môi trường thuận lợi để vi-rút corona lây lan mạnh.

Một thông tin khác có liên quan đó là 53 y bác sĩ thuộc Bệnh viện 199 – Bộ Công an đã từ Đà Nẵng vô TP.HCM vào hôm 5-7.

Thượng tướng Nguyễn Văn Sơn, Thứ Trưởng Bộ Công an tiết lộ, ngoài điều trị cho người dân “còn có phần lớn là đồng chí, đồng đội” và “những phạm nhân đang thực hiện giam giữ theo quy định” cho thấy dịch đang diễn biến phức tạp trong trại giam.

#RFAVietnamese #TinRFA #traiChiHoa #TraitamgiamCHiHoa #ChiHoa #TraiBoLa #TraitamgiamBoLa

Sóc Trăng: Dàn đèn trang trí hơn 3 tỷ đổ sập “như trò chơi trẻ em”

May be an image of outdoors and text that says 'Cនស RFA HYUR CONGE P=B Báo Công an nhândân ĐÀIÁ CHÂUT DO ĐAIÁCHAUTO ĐÀIÁCHÂUT DO ĐÀIÁ CHÂU DO Sóc Trăng: Dàn đèn trang trí hơn 3 tỷ đổ sập "như trò chơi trẻ em"'

Đài Á Châu Tự Do Friends Who Like Đài Á Châu Tự Do

Sóc Trăng: Dàn đèn trang trí hơn 3 tỷ đổ sập “như trò chơi trẻ em”

Toàn bộ khung sắt và dàn đèn trang trí cầu Maspero trị giá hơn 3 tỷ đồng ở trung tâm thành phố Sóc Trăng đổ sập vào lúc 15 giờ ngày 6-7-2021 khi đang trong giai đoạn hoàn thiện.

Mạng báo Tuổi trẻ online dẫn lời một người bán nước mía gần đó cho biết, “cảnh sập đổ diễn ra như trong phim, như đồ chơi trẻ em”.

May mắn do khung thép nặng chục tấn ngã từ từ nên người và xe kịp chạy thoát thân nên không gây thiệt mạng về người.

Các ảnh chụp do báo Công an nhân dân đăng tải cho thấy, một phần khung sắt đổ sập lên cầu Maspero, một phần còn lại vắt qua thành cầu đổ hết xuống sông.

Theo TTO, dự án trang trí cầu Maspero là một trong ba dự án làm đẹp ba cây cầu bắc qua sông Maspero qua trung tâm thành phố Sóc Trăng với kinh phí khoảng 10 tỉ đồng.

Không hiểu lý do vì sao giữa đại dịch COVID-19, thành phố Sóc Trăng vẫn cho thi công trang trí các cây cầu tiền tỷ.

#RFAVietnamese #tinRFA #CauMaspero #SocTrang #Vietnam

 

CSVN bắt thêm 2 người cáo buộc chống chế độ độc tài đảng trị

CSVN bắt thêm 2 người cáo buộc chống chế độ độc tài đảng trị

July 6, 2021

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Công An CSVN bắt một người ở Nam Định và một người bị Công An Cần Thơ khởi tố nhưng cho tại ngoại, cáo buộc chống chế độ độc tài đảng trị.

Báo chí tuyên truyền chính thống CSVN cho hay, hôm Thứ Ba, 6 Tháng Bảy, Công An thành phố Nam Định đã bắt ông Đỗ Nam Trung khi ông đang trên đường đi làm rồi đưa ông về chỗ ở lục soát. Cùng ngày, Công An Cần Thơ khởi tố thêm một thành viên của nhóm “Báo Sạch” là ông Lê Thế Thắng nhưng chỉ “cấm đi khỏi nơi cư trú.”

Ông Đỗ Nam Trung. (Hình: FB Đỗ Nam Trung)

Ông Đỗ Nam Trung, 40 tuổi, một người nổi tiếng mấy năm trước đây khi tham gia phong trào chống đối các trạm thu phí “BOT bẩn” trên các trục lộ giao thông tại Việt Nam. Năm 2014, ông đã bị bắt giam và kết án 14 tháng tù khi bị vu cho tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ…” theo điều 258 của Luật Hình Sự CSVN (ban hành năm 1999). Bây giờ là điều 331 của Luật Hình Sự mới, được thông qua năm 2015.

Lần bắt giữ này, theo lời bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết viết trên Facebook, ông Đỗ Nam Trung bị bắt giam theo điều 117 tức ông bị quy chụp cho tội “tuyên truyền chống nhà nước …” với bản án có thể từ bảy năm đến 20 năm tù.

Cùng trong ngày Thứ Ba, 6 Tháng Bảy, Công An Cần Thơ đã khởi tố thêm ông Lê Thế Thắng, 39 tuổi, cư dân thành phố Hà Nội, với cáo buộc “lợi dụng các quyền tự do dân chủ…” Ông “bị xác định là thành viên fanpage nhóm Báo Sạch” cùng với các ông Trương Châu Hữu Danh, Nguyễn Phước Trung Bảo, Đoàn Kiên Giang và Nguyễn Thanh Nhã.

Tờ Tuổi Trẻ dẫn thông tin từ công an nói nhóm Báo Sạch từ năm 2019 trên mạng xã hội đã “đăng tải nhiều bài viết liên quan đến vụ án Hồ Duy Hải, tranh chấp đất tại Đồng Tâm, hạn mặn miền Tây, bài viết về Tôn Đức Thắng, vấn đề cấm xuất khẩu trong đợt dịch COVID-19, cưỡng chế tại Gia Trang Quán…”

Sau khi ông Trương Châu Hữu Danh (38 tuổi), bị bắt giam ngày 17 Tháng Mười Hai, 2020, ông Thắng bị cáo buộc là “người trực tiếp thao tác xóa fanpage ‘Báo Sạch,’ Tuy nhiên cơ quan điều tra đã trích xuất, lưu trữ được các bài viết liên quan,” tờ Tuổi Trẻ viết.

Ngày 20 Tháng Tư vừa qua, công an đã bắt ba thành viên “Báo Sạch” là các ông Nguyễn Thanh Nhã (41 tuổi, cư dân Thủ Đức Sài Gòn), ông Đoàn Kiên Giang (26 tuổi, cư dân Sài Gòn) và ông Nguyễn Phước Trung Bảo (39 tuổi, cư dân Đà Nẵng). Tất cả đều bị quy chụp theo điều 331 của Luật Hình Sự CSVN năm 2015 tức “lợi dụng các quyền tự do dân chủ…”

Ông Lê Thế Thắng. (Hình: FB Lê Thế Thắng)

Tuy Hiến Pháp CSVN công nhận công dân có đầy đủ các quyền tự do căn bản, nhưng lại đưa ra các điều luật hình sự lời lẽ mơ hồ, giải thích ngược xuôi đều được, để kết án những người bị cáo buộc chống đối nhà nước và đảng Cộng Sản độc tài tại Việt Nam.

Từ đầu năm đến nay, ít nhất có bảy người đã bị chế độ Hà Nội bắt giữ để kết án tù theo điều 117 của Luật Hình Sự CSVN.

Hôm Thứ Ba, 6 Tháng Bảy, tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới (RSF) kêu gọi chế độ Hà Nội trả tự do ngay tức khắc cho ông Lê Văn Dũng. Ông bị bắt ngày 30 Tháng Sáu khi lẫn tránh tại nhà một người họ hàng suốt một tháng từ khi có lệnh khởi tố và tầm nã.

Ông Lê Văn Dũng, 51 tuổi, được mọi người biết với bút danh Lê Dũng Vova, có kênh truyền hình “Chấn Hưng Nước Việt” (CHTV) trên Facebook và Youtube. Ông phát trực tiếp các lời tố cáo tham nhũng, dân oan khiếu kiện nên là cái gai trong mắt mà chế độ Hà Nội không thể không nhổ bỏ. Ông cũng bị cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước…” nên bản án có thể đến 20 năm tù. (TN)

MƯỜI THỨ TIỀN KHÔNG MUA ĐƯỢC!

MƯỜI THỨ TIỀN KHÔNG MUA ĐƯỢC!

Jordi Al Emany là người sáng lập một công ty tư nhân. Vừa qua, ông đã đăng một bài trên mạng xã hội, nói rằng tiền tài không phải vạn năng, có 10 thứ cho dù có gia tài bạc triệu cũng không mua được. Bài viết đã nhanh chóng nhận được sự hoan nghênh trên cộng đồng mạng, mọi người đều tán thành. Chúng ta hãy cùng xem, rốt cuộc là những điều gì mà cho dù là tỉ phú thế giới cũng không thể mua được?

*1-Khỏe mạnh – Đạt Lai Lạt ma:
Nhân loại, vì kiếm tiền mà hy sinh sức khỏe. Vì chữa bệnh mà hy sinh tiền tài. Sau đó, vì lo lắng tương lai nên không cách nào hưởng thụ hiện tại. Cứ như vậy mà không cách nào sống cho hiện tại. Khi còn sống, họ quên rằng cuộc đời là ngắn ngủi. Đến khi chết, mới phát hiện mình chưa từng một lần sống thật tốt.

*2- Tình thương – Tagore:
Lúc thoát khỏi cảnh nghèo khó, chúng ta sẽ có được tiền tài của mình nhưng để có được khoản tiền này, chúng ta đã mất đi bao nhiêu thiện tâm, bao nhiêu cái đẹp và bao nhiêu sức lực chứ!

*3- Niềm vui – Nhà chính trị, nhà khoa học về vật lý, điện từ, nhà phát minh Mỹ Franklin:
Tiền tài không thể khiến người ta vui vẻ, vĩnh viễn sẽ không vì trong bản chất của nó không hề tồn tại cái gọi là vui vẻ. Người có được càng nhiều, lại càng muốn nhiều hơn.

*4- Chính trực – Nhà tiểu thuyết người Anh – Douglas Adams:
Lúc thật sự phục vụ người khác, điều cần thiết mà tiền tài không thể nào mua sắm hay đong đếm, đó chính là sự chân thành và chính trực.

*5- Tôn trọng – Nhà triết học người Mỹ – Ayn Rand:
Tiền tài là công cụ để tồn tại, thái độ của bạn đối với công việc cũng chính là thái độ của bạn đối với cuộc đời của chính mình. Nếu công việc kiếm sống là sa đọa, bạn đã hủy diệt ý nghĩa tồn tại của chính mình. Bạn đã từng cầm qua đồng tiền bất nghĩa chưa? Đã từng vì giành thêm chút lợi nhuận mà giễu cợt người khác chưa? Hoặc là hạ thấp tiêu chuẩn đạo đức của mình? Vì để có thể sống qua ngày bạn đã làm những việc không nên làm? Nếu là như vậy, tiền tài cũng không mang đến dù chỉ một chút niềm vui. Đồ vật bạn mua sẽ trở thành một loại sỉ nhục mà không phải là kính trọng; là một loại căm hận mà không phải thành tựu. Như vậy, bạn sẽ cho rằng tiền tài là một loại tội ác bởi vì bạn không thể nào có được sự tự tôn từ nó.

*6- Nội tâm thanh tĩnh – Doanh nhân nổi tiếng tại Mỹ – Richard M. DeVos:
Tiền tài không thể nào mua được sự thanh bình trong nội tâm, nó không thể chữa trị mối quan hệ bị xé rách, hoặc làm cho cuộc sống không ý nghĩa trở nên ý nghĩa.

*7- Đạo đức – Ký giả kiêm tác giả người Mỹ – George Lorimer:
Thứ có thể mua được bằng tiền dĩ nhiên là tốt nhưng không nên quên rằng điều không thể mua được bằng tiền sẽ càng tốt hơn.

*8-Giáo dục – Phóng viên kiêm tác giả người Mỹ – Neil de Grasse Tyson:
Con người không dùng sự cảm thông và chia sẻ để cảm nhận tình cảm và ý nghĩ của người khác hay những sinh vật khác trên trái đất, có lẽ giáo dục chính quy của chúng ta nên thêm vào giáo dục sự cảm thông và chia sẻ. Thử tưởng tượng, nếu giáo dục gồm có đọc, viết, toán học, cảm thông và chia sẻ, thì thế giới này sẽ không còn như cũ nữa.

*9- Trí tuệ – Steve Jobs nhà sáng lập Apple:
Tôi không phải vì kiếm tiền mà quay về Apple. Thần may mắn vẫn luôn quan tâm đến tôi; năm 25 tuổi, tôi đã kiếm được tài sản 100 triệu đô-la. Lúc ấy rất rõ ràng rằng tôi sẽ không bị tiền tài nô dịch. Bởi vì tôi chắc chắn không có khả năng tiêu hết số tiền kia, hơn nữa, tôi cũng không dùng tiền tài để kiểm chứng trí tuệ của mình.

*10- Giác ngộ tâm linh – Người vô danh:
Tiền tài có thể mua phòng ốc để ở nhưng không thể mua được một mái nhà ôn hòa; nó có thể mua một chiếc giường nhưng không mua được một giấc ngủ thoải mái dễ chịu; nó có thể mua một chiếc đồng hồ nhưng không mua được thời gian; nó có thể mua được quyển sách nhưng không mua được tri thức; nó có thể mua máu huyết nhưng không mua được sức khỏe.

Vì vậy, tiền không phải là vạn năng.

Têrêsa NgọcNga (st)

 From: Kristie Phan & KimBang Nguyen

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa: Những vay mượn từ người Tàu

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa: Những vay mượn từ người Tàu

Nguyễn Ngọc Chính

Có thể nói, bất kỳ một ngôn ngữ trên trái đất này cũng đều trải qua hình thức vay mượn từ các ngôn ngữ khác. Ảnh hưởng về văn hóa là một trong những tác động chính trong việc vay mượn về ngôn ngữ. Ngoài ra, còn phải kể đến các yếu tố khác như địa lý, lịch sử, chính trị và xã hội trong việc hình thành ngôn ngữ vay mượn. Miền Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng vốn là một “melting pot”, dễ dàng hòa nhập với các nền văn hóa khác từ tiếng Tàu, tiếng Pháp và cuối cùng là tiếng Anh.

Có thể lấy bài hát Gia tài của mẹ của Trịnh Công Sơn để giải thích sự vay mượn của ngôn ngữ Việt: “Một nghìn năm đô hộ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây, hai mươi năm nội chiến từng ngày…” Như vậy, Việt Nam đã trải qua ba thời kỳ ảnh hưởng, lần lượt theo thứ tự thời gian là của Tàu, sau đó đến Pháp và cuối cùng là Mỹ trong những năm chiến tranh gần đây nhất.

Trước hết, xin được bàn về ảnh hưởng của Trung Hoa mà ta thường gọi nôm na là Tàu cùng những biến thể như Người Tàu, Ba Tàu, Các Chú, Khách Trú và Chệt hoặc Chệc. Gia Định Báo (số 5, năm thứ 6, phát hành ngày 16/2/1870) giải thích:

“…An-nam ta kêu là Tàu, người bên Tàu, là vì khách thường đi tàu qua đây, lại dùng tàu chở đồ hàng hóa qua đây buôn bán; nên kêu là Tàu, hàng Tàu, đồ Tàu v.v… Từ Ba-Tàu có cách giải thích như sau: Ba có nghĩa là ba vùng đất mà chúa Nguyễn cho phép người Hoa làm ăn và sinh sống: vùng Cù Lao Phố (Đồng Nai), Sài Gòn-Chợ Lớn, Hà Tiên, từ Tàu bắt nguồn từ phương tiện đi lại của người Hoa khi sang An Nam, nhưng dần từ Ba Tàu lại mang nghĩa miệt thị, gây ảnh hưởng xấu…”

“…Kêu Các-chú là bởi người Minh-hương mà ra; mẹ An-nam cha Khách nên nhìn người Tàu là anh em, bằng không thì cũng là người đồng châu với cha mình, nên mới kêu là Các-chú nghĩa là anh em với cha mình. Sau lần lần người ta bắt chước mà kêu bậy theo làm vậy…”

“…Còn kêu là Chệc là tại tiếng Triều Châu kêu tâng Chệc nghĩa là chú. Người bên Tàu hay giữ phép, cũng như An-nam ta, thấy người ta tuổi đáng cậu, cô, chú, bác thì kêu tâng là chú là cậu vân vân. Người An-nam ta nghe vậy vịn theo mà kêu các ảnh là Chệc…”

(Ảnh: Manhhai, Flickr)

Cách giải thích thuật ngữ nói trên của Gia Định Báo từ thế kỷ thứ 19 được coi là tạm ổn vì đây là một trong những tài liệu xưa có xuất xứ từ miền Nam. Theo Lê ngọc Trụ trong Tầm nguyên Tự điển Việt Nam, chệc hay chệt là tiếng Tiều gọi chữ thúc, nghĩa là “em trai của cha”. Người bình dân gọi Chệc để chỉ chung người Hoa.

Người Quảng Đông cho là gọi như thế có ý miệt thị, người Triều Châu trái lại, chấp nhận vì họ được tôn là chú. Ở miền Nam, “các chú” Quảng làm ăn buôn bán khá hơn “các chú chệc” người Tiều lam lũ trong nghề làm rẫy, tằn tiện nên không biết có phải vì vậy mới có câu:

Quảng Đông ăn cá bỏ đầu

Tiều Châu lượm lấy đem về kho tiêu!

Người Tiều lại chê dân Quảng không biết ăn cá. Họ nói món cháo cá Tiều khi ăn có vị ngọt đặc biệt nhờ chỉ rửa sạch bên ngoài, giữ lại nguyên si vảy, đầu và cả ruột! Dân Tiều ở miền Nam “chuyên trị” những món cá chim hấp, bò viên, tôm viên, ruột heo nấu cải chua… và nhất là món hủ tíu Tiều Châu.

Người ta còn dùng các từ như Khựa, Xẩm, Chú Ba… để chỉ người Tàu, cũng với hàm ý miệt thị, coi thường. Tuy nhiên, có sự phân biệt rõ ràng trong cách gọi: phụ nữ Tàu được gọi là thím xẩm còn nam giới thì lại là chú ba.

(Ảnh: Manhhai, Flickr)

Năm 1956, chính phủ Ngô Đình Diệm của nền Đệ nhất Cộng hòa (1955-1963) đã có một quyết định khá táo bạo, buộc tất cả Hoa kiều phải nhập quốc tịch Việt Nam, nếu không sẽ bị trục xuất. Thương nghiệp tại miền Nam sau thời Pháp thuộc phần lớn nằm trong quyền kiểm soát của Hoa kiều. Vì vậy, chính phủ cố tạo sức mạnh cho doanh nhân Việt bằng cách hạn chế quyền lợi của người Hoa.

Đạo luật 53 cấm ngoại kiều (nhắm vào Hoa kiều) tham gia 11 nghề liên quan đến thóc gạo, điền địa, buôn bán thịt cá, than đá, dầu lửa, thu mua sắt vụn… được Chính phủ Ngô Đình Diệm ban hành vào tháng 9/1956. Đạo luật này đã làm xáo trộn kinh tế trong nước nhưng đã có tác động mạnh đến nền công thương nghiệp của người Việt vào thời kỳ đó. Đa số người Hoa đã nhập tịch Việt, tính đến năm 1961, trong số 1 triệu Hoa kiều ở miền Nam chỉ còn khoảng 2.000 người giữ lại Hoa tịch.

Người Tàu kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc 3 lĩnh vực quan trọng: sản xuất, phân phối và tín dụng. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện… và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ, và 90% xuất nhập khẩu. Hoa kiều ở miền Nam gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường. Cũng vì thế, ở Sài Gòn có câu mỉa mai: “Sống phá rối thị trường, chết chật đường chật xá” để ám chỉ người Tàu khi còn sống lũng đoạn nền kinh tế và đến lúc chết lại tổ chức những đám ma một cách rình rang.

Cũng như người Tàu ở Hồng Kông và Macao, người Tàu ở miền Nam đa số nói tiếng Quảng Đông (Cantonese) chứ không nói tiếng Quan Thoại (Mandarin) mà ngày nay gọi là tiếng Phổ Thông. Cũng vì thế, ngôn ngữ Sài Gòn xưa vay mượn từ tiếng Quảng Đông được khoảng 71 triệu người Hoa trên khắp thế giới xử dụng.

Người Sài Gòn thường ví những người “ăn nói không đâu vào đâu” là “nói hoảng, nói tiều” thực ra là “nói tiếng Quảng Đông, nói tiếng Triều Châu”. Điều này cho thấy tiếng Quảng Đông xuất hiện rất nhiều trong ngôn ngữ miền Nam trước năm 1975, kế đến mới là tiếng Triều Châu. Trên thực tế, người Tàu có đến 5 nhóm Hoa kiều, được gọi là Ngũ Bang tại miền Nam: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Khách Gia (người Hẹ).

Trong lĩnh vực ẩm thực của Sài Gòn xưa, ảnh hưởng của người Tàu gốc Quảng Đông rất đậm nét. Người ta thường nói về 4 cái thú: “Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật Bản, đi xe Huê Kỳ”. Bên Tàu lại ví von: “Thực tại Quảng Châu, Y tại Hàng Châu, Thú tại Tô Châu, Tử tại Liễu Châu” (Cơm ngon ăn tại Quảng Châu, Áo đẹp may vải Hàng Châu, Vợ xinh cưới ở Tô Châu, Hòm chết chôn không bao giờ mục ở Liễu Châu ). Quảng Châu chính là thủ phủ của tỉnh Quảng Đông.

Kết hợp ý nghĩa của hai câu nói Việt-Trung ở trên ta có thể kết luận: ăn uống theo người Tàu gốc Quảng Đông là hết xảy hay số dzách (số một), những từ ngữ đã quá phổ biến trong xã hội miền Nam. Về sau, vào thời chiến tranh Việt Nam, “số dzách” được cải biên theo kiểu Mỹ thành “nâm-bờ oăn” (number one)! Hành trình của ngôn ngữ xem ra rất thú vị.

Nói cho công bằng, bên cạnh số đông các tửu lầu, cao lâu của người Tàu gốc Quảng Đông, ở Sài Gòn Chợ lớn cũng có lai rai một số tiệm Tàu khác như tiệm Hủ tíu Triều Châu ở đối diện Chợ Lớn Mới, Cơm Gà Hải Nam ở Chợ An Đông hay đường Tôn Thọ Tường.

Theo Bình-nguyên Lộc (1), thời tiền chiến trước 1945, các phổ ky trong tiệm Tàu còn có kiểu kêu vào bếp những món ăn thực khách gọi y như người ta gọi “lô-tô” (bingo), dĩ nhiên bằng tiếng Quảng Đông:

– Bàn số 3, bên Đông, bà lùn, cà phê ít sữa nhiều!

– Bàn số 4, bên Đông, hủ tíu không giá.

– Bàn số 1, bên Tây, thêm bánh bao ngọt thằng nhỏ.

– Bàn số 2, bên Tây, ông già râu, cà phê đen ly lớn, xíu mại to.

Chủ tiệm thường biết rõ tính nết và sở thích ăn uống của mỗi khách quen, nên họ thường đặt cho mỗi người một cái tên thuộc loại… “hỗn danh”. Khi khách ăn xong lại quầy trả tiền thì phổ ky rao những câu hóm hỉnh bằng tiếng Quảng Đông, chẳng hạn như:

– Ông đầu hói mang khăn rằn, một đồng hai cắc.

– Bà hai mập, ba đồng sáu cắc.

– Ông chủ ốm nón nỉ, tám đồng tư, hai bánh bao mang về.

Nổi tiếng tại Sài Gòn xưa có các nhà hàng Đồng Khánh, Arc-en-ciel (sau này đổi tên là Thiên Hồng), Soái Kình Lâm, Bát Đạt, Á Đông, Đại La Thiên, Triều Châu… Tại đây còn phục vụ loại “ăn chơi” theo cung cách nhất dạ đế vương. Quả thật người viết bài này chưa bao giờ được “làm vua một đêm” nên đoán trong những bữa tiệc như thế phải có mỹ nữ hầu tửu, thực đơn chắc chắn phải có nhiều món huyền thoại danh bất hư truyền đi đôi với các thứ rượu quí.

Cơm Tàu thường được để trong những cái thố nhỏ nên được gọi là cơm thố, chỉ là cơm trắng dùng chung với các món ăn nhưng không nấu bằng nồi mà chỉ hấp cách thủy để cho chín gạo. Thông thường một người ăn chừng một hoặc hai thố là no. Có người lại ca tụng ăn cơm thố chỉ cần chan chút hắc xì dầu (nước tương đen) pha với dấm Tiều thêm chút ớt là đã thấy ngon rồi.

Nghĩ lại cũng đúng nhưng nếu ăn kiểu này thì những tiệm nổi tiếng như Siu Siu bên hông chợ An Đông hay Siu Siu ở đầu hẻm Nguyễn Duy Dương (hình như ở số nhà 61) chắc đã dẹp tiệm từ lâu rồi! Hình dưới đây là những thố cơm chụp tại Quán Chuyên Ký trong khu Chợ Cũ đường Tôn Thất Đạm. (Những thố cơm ngày xưa nhỏ hơn nhiều, ngày nay tiệm dùng những cái thố quá lớn, không lẽ bao tử của thực khách ngày nay lớn hơn ngày xưa?).

Cơm chiên Dương Châu cũng là món ăn du nhập từ Quảng Đông. Nhiều người rất khoái cơm chiên nhưng ít người biết từ khởi thủy đây chỉ là món tổng hợp các thức ăn dư thừa được chế biến lại. Này nhé, cơm vốn là “cơm nguội” nấu dư từ hôm trước, các phụ gia khác như jambon, trứng tráng, đậu Hòa lan, hành lá… còn dư được xắt lát rồi trộn với cơm mà chiên lên!

Cũng thuộc loại thức ăn dư thừa có món tài páo (bánh bao). Ban không tin ư? Nhân bánh bao là thịt vụn được xào lên, trộn với lạp xưởng và trứng (sau này được thay bằng trứng cút kể từ khi dịch cút lan truyền khắp Sài Gòn, nhà nhà nuôi cút, người người ăn trứng cút). Vỏ bánh bao được làm bằng bột mì, sau khi hấp chín bột nở phình ra trông thật hấp dẫn.

Có người bảo cơm chiên Dương Châu và bánh bao thể hiện tính tằn tiện và tiết kiệm của người Tàu, không bỏ phí thức ăn thừa! Nói cho vui vậy thôi chứ từ cơm chiên, bánh bao đến các loại sơn hào hải vị như bào ngư, vi cá, yến sào… đều đòi hỏi cách chế biến, đó là nghệ thuật nấu ăn.

(Ảnh: Manhhai, Flickr)

Các tiệm “cà phê hủ tiếu” của Tàu lan rộng ra nhiều nơi chứ không riêng gì trong Chợ Lớn. Khắp Sài Gòn, Gia Định rồi xuống đến Lục Tỉnh đi đâu cũng thấy những xe mì, xe hủ tiếu, chỉ nhìn cách trang trí cũng có thể biết được chủ nhân là người Tàu. Họ có kiểu cách riêng biệt với những chiếc xe bằng gỗ, thiết kế một cách cầu kỳ. Phần trên xe là những tấm kính tráng thủy có vẽ hình các nhân vật như Quan Công, Lưu Bị, Trương Phi, Triệu Tử Long… trong truyện Tam Quốc.

Ăn điểm tâm thì có mì, hủ tíu, bánh bao, há cảo, xíu mại… Khách thường gọi một ly xây chừng, đó là một ly cà phê đen nhỏ hay tài phế (cà phê đen lớn). Cà phê ngày xưa còn có tên “cá phé vớ (dzớ)”, pha bằng chiếc vợt vải nên còn được gọi là “cà phê vợt” tựa như chiếc vớ (bít tất). Cà phê đựng trong “dzớ” phải được đun nóng trong siêu nên còn có tên là “cà phê kho”, có điều “kho” nước đầu thì có mùi cà phê nhưng những nước sau có vị như… thuốc bắc.

Sang hơn thì gọi phé nại (cà phê sữa) hoặc bạt sửu (nhiều sữa nhưng ít cà phê) với sữa đặc có đường hiệu Ông Thọ (2) hoặc Con Chim (3). Có người lại dùng bánh tiêu hoặc dầu-cha-quẩy (người miền Bắc gọi là quẩy) nhúng vào cà phê để ăn thay cho các món điểm tâm đắt tiền.

Người bình dân còn có lối uống cà phê trên đĩa. Mỗi tách cà phê thường được để trên một chiếc đĩa nhỏ, khách “sành điệu” đổ cà phê ra đĩa, đốt điếu thuốc Melia chờ cà phê nguội rồi cầm đĩa lên… húp. Nhà văn Bình-nguyên Lộc trong Hồn Ma Cũ mô tả cách uống cà phê của người xưa: “… Người cha đứa bé rót cà phê ra dĩa cho mau nguội, rồi nâng dĩa lên mà uống”. Đây là cách uống của một số người Sài Gòn vào những thập niên 50-60, đa số họ là những người lớn tuổi, “hoài cổ” nên vẫn duy trì cách uống đặc trưng của Sài Gòn xưa.

Vào một quán nước bình dân trong Chợ Lớn ta có thể gọi một ly suỵt xủi và người phục vụ đem ra một ly đá chanh mát lạnh. Có người gọi nước đá chanh là “bất hiếu tử” vì dám cả gan “đánh cha” nhưng nói lái lại là… đá chanh! Tại các tiệm “cà phê hủ tiếu” luôn luôn có bình trà để khách có thể nhâm nhi nhậm xà (uống trà) trước khi gọi phổ ky đến để thảy xu (tính tiền). (Nhậm xà còn có nghĩa là tiền hối lộ, tiền trà nước). Người sành điệu còn “xổ” một tràng “broken Cantonese”: “Hầm bà làng kỵ tố?” (Hết thảy bao nhiêu tiền?).

Những từ ngữ vay mượn của người Tàu dùng lâu hóa quen nên có nhiều người không ngờ mình đã sử dụng ngôn ngữ ngoại lai. Chẳng hạn như ta thường lì xì cho con cháu vào dịp Tết hoặc lì xì cho thầy chú (cảnh sát) để tránh phiền nhiễu, cũng là một hình thức hối lộ.

(Ảnh: Manhhai, Flickr)

Lạp xưởng (người miền Bắc gọi là Lạp xường) là một món ăn có nguồn gốc từ bên Tàu, tiếng Quảng Châu là lạp trường: ngày lễ Tất niên và ruột heo khô. Cũng vì thế vào dịp giáp Tết các cửa hàng nổi tiếng như Đồng Khánh, Đông Hưng Viên trưng bày la liệt các loại lạp xưởng, nào là lạp xưởng mai quế lộ, lạp xưởng khô, lạp xưởng tươi…

Chế biến lạp xưởng là nghề của các Chú Ba trong Chợ Lớn. Lạp xưởng được làm từ thịt heo nạc và mỡ, xay nhuyễn, trộn với rượu, đường rồi nhồi vào ruột heo khô để chín bằng cách lên men tự nhiên. Lạp xưởng màu hồng hoặc nâu sậm vì chắc hẳn có thêm chút bột màu.

Lạp xưởng ở Sóc Trăng thuộc miền Lục tỉnh cũng rất nổi tiếng cùng với món bánh pía, một món đặc biệt của người Tiều gốc từ Triều Châu. Đôi khi bánh pía còn được gọi là bánh lột da, thực chất có nguồn gốc từ bánh trung thu theo kiểu Tô Châu nhưng khác với loại bánh trung thu mà ta thường thấy. Đây là loại bánh có nhiều lớp mỏng và nhân bánh có trộn thịt mỡ.

Bánh pía do một số người Minh Hương di cư sang Việt Nam từ thế kỷ 17 mang theo. Trước đây, việc làm bánh pía hoàn toàn mang tính thủ công và phục vụ cho nhu cầu của từng gia đình. Bánh pía ngày trước cũng khá đơn giản, vỏ ngoài làm bằng bột mì có nhiều lớp da mỏng bao lấy phần nhân, lớp da ngoài dày thường để in chữ, nhân làm bằng đậu xanh và mỡ heo chứ không có lòng đỏ trứng muối và các loại thành phần khác như ngày nay.

Do thị hiếu của người tiêu dùng mà các lò bánh mới thêm các thành phần hương liệu khác như sầu riêng, khoai môn, lòng đỏ trứng muối… Tại Sóc Trăng hiện có gần 50 lò chuyên sản xuất bánh pía. Tuy nhiên, số lò bánh và cửa hàng buôn bán tập trung đông nhất tại thị tứ Vũng Thơm (xã Phú Tâm, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng) nơi được xem là khởi thủy của làng nghề bánh pía.

Vịt quay Bắc Kinh và vịt quay Tứ Xuyên là những món “đặc sản” nổi tiếng của Tàu. Đặc trưng của món vịt quay là da vịt mỏng, giòn, màu vàng sậm. Tại miền Nam, vịt quay và thịt heo quay cũng được người Quảng Đông đưa vào danh sách ẩm thực. Bí quyết gia truyền của các món này là ướp ngũ vị hương rồi quay sao cho da giòn tan trong khi phần thịt vừa mềm lại vừa thơm.

Vịt quay hoặc heo quay theo đúng kiểu Tàu là phải ăn với bánh bao chay (không nhân) nhưng người Việt cũng chế thêm món bánh hỏi thịt quay ăn với các loại rau, chấm nước mắm cho hợp với khẩu vị. Ngày xưa, trong Chợ Lớn, nổi tiếng về heo quay, vịt quay có khu vực đường Tôn Thọ Tường, ở Sài Gòn thì khu Chợ Cũ có vài tiệm heo quay của người Tàu. Chuyện kể có một ông cà lăm đi mua thịt quay, khi ông lắp bắp: “Bán… cho tôi… 20 đồng… thịt quay…” thì Chú Ba với tay nghề chặt thịt cũng vừa chặt xong đúng 20 đồng!

(Ảnh: Manhhai, Flickr)

Hết “ăn” giờ lại sang đến “chơi” trong ngôn ngữ vay mượn của người Tàu. Chuyện cờ bạc trong ngôn từ của người Sài Gòn xưa đã xuất hiện không ít những từ ngữ từ tiếng Tàu. Tài Xỉu (phiên âm từ tiếng Tàu có nghĩa là Đại – Tiểu) là trò chơi dân gian có từ rất lâu. Chỉ cần 1 cái đĩa, 1 cái bát và 3 hạt xí ngầu cũng có thể lập sòng tài xỉu nên còn có tên là sóc đĩa.

Hột xí ngầu có sáu mặt, mỗi mặt có từ một đến sáu chấm, tương đương từ một đến sáu điểm. Khi ráp sòng, người ta để cả ba hột lên chiếc đĩa sứ, chụp bát lên trên rồi lắc. Tổng số điểm của ba hột từ mười trở xuống gọi là xỉu, trên con số mười là tài. Sau khi chủ sòng lắc đĩa, người chơi đoán hoặc tài hoặc xỉu mà đặt cược. Chuyện thắng thua trong tài xỉu tùy thuộc vào tay nghề của người xóc đĩa, còn được gọi là hồ lỳ. Xác suất chủ sòng là từ 60 đến 70% thắng nhưng vì lỡ mang kiếp đỏ đen nên con bạc vẫn bị thu hút vào sòng xóc đĩa.

Các loại bài và hình thức chơi bài cũng có xuất xứ từ tiếng Tàu. Binh xập xám (13 cây) có những thuật ngữ như mậu binh (không cần binh cũng thắng), cù lủ (full house) là 3 con bài cùng số và một cặp đôi, ví dụ như 3 con chín và 2 con K (lớn nhất là cù lủ ách (ace), nhỏ nhất dĩ nhiên là cù lủ hai), thùng (flush) là 5 con cùng nước (suit) mà không theo trật tự liền nhau, ngược lại là sảnh (straight) là 5 con theo trật tự liền nhau nhưng không cùng nước. Kho từ vựng trong xập xám còn có xám chi (3 con cùng loại – three of a kind), thú (two) hay thú phé (two separate pairs) là 2 cặp và 1 con bất kì nào khác. “Thứ nhất tứ quý (4 con bài cùng số) thứ nhì đồng hoa (cùng một nước như cơ, rô, chuồn, bích)” là một trong số cả rừng từ ngữ của dân binh xập xám.

Ở phần trên đã bàn về hai khía cạnh “ăn” và “chơi”, còn một khía cạnh đóng vai trò không kém phần quan trọng là “làm” của người Tàu. Nghề nghiệp được xếp thấp nhất của người Tàu là nghề lạc xoong hay nói theo tiếng Việt là mua ve chai, người miền Bắc gọi là đồng nát.

Chú Hỏa (1845-1901), người Phúc Kiến, xuất thân từ nghề này nhưng về sau lại là một trong 4 người giàu nhất Sài Gòn xưa: “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa”. Bốn triệu phú ngày xưa gồm các ông Huyện Sỹ (Lê Phát Đạt), Tổng đốc Phương (Đỗ Hữu Phương), Bá hộ Xường (Lý Tường Quan) và Chú Hỏa (Hui Bon Hoa hay Hứa Bổn Hòa).

Một số người Tàu hành nghề bán chạp phô với các mặt hàng thuộc loại tả pín lù nhưng sẵn sàng đáp ứng được mọi nhu cầu hàng ngày của người lao động trong xóm. Tiệm chạp phô chỉ có mục đích lượm bạc cắc từ cây kim, sợi chỉ đến cục xà bông Cô Ba, quả trứng, thẻ đường. Người Tàu kiên trì trong công việc bán tạp hóa, ông chủ ung dung đếm tiền mỗi tối và ẩn dưới tiệm chạp phô là cả một gia tài được tích lũy. Người ta chỉ phát hiện điều này khi có phong trào vượt biên. Tính rẻ “3 cây một người” thế mà cả gia đình chủ tiệm chạp phô vẫn thừa sức vượt biển để tìm đến bến bờ tự do.

(Ảnh: Manhhai, Flickr)

Cao cấp hơn là những xì thẩu, những người thành công trong kinh doanh mà ngày nay ta gọi là đại gia. Điển hình cho giai cấp xì thẩu là Trần Thành, bang trưởng Triều Châu, với hãng bột ngọt Vị Hương Tố rồi các mặt hàng mì gói Hai Con Tôm, nước tương, tàu vị yểu đã chinh phục thị trường miền Nam từ thập niên 60 để trở thành “ông vua không ngai trong vương quốc Chợ Lớn”.

Xì thẩu Lý Long Thân làm chủ 11 ngành sản xuất và dịch vụ, 23 hãng xưởng lớn: hãng dệt Vinatexco, Vimytex, hãng nhuộm Vinatefinco, hãng cán sắt Vicasa, hãng dầu ăn Nakyco, hãng bánh ngọt Lubico, Ngân Hàng Nam Việt, Ngân Hàng Trung Nam, khách sạn Arc en Ciel, hãng tàu Rạng Đông…

Xì thẩu Lâm Huê Hồ được nhiều người gọi là “chủ nợ của các ông chủ”. Ông là người giữ nhiều tiền mặt nhất miền Nam, số tiền ông có trong tay bằng vốn của nhiều ngân hàng tư nhân cỡ nhỏ như Nam Đô, Trung Việt gộp lại. Lâm Huê Hồ còn nổi tiếng là vua phế liệu, chuyên thầu quân cụ và võ khí phế thải rồi bán lại cho những doanh nhân trong ngành luyện cán sắt hay bán lại cho Nhật Bản. Người Sài Gòn thường nói: “Trần Thành, Lý Long Thân chỉ có Tiếng nhưng Lâm Huê Hồ lại có Miếng”.

Xì thẩu Vương Đạo Nghĩa, chủ hãng kem Hynos, là một người có óc làm ăn cấp tiến. Ông là người có rất nhiều sáng kiến để quảng cáo sản phẩm trên các cửa hàng ăn uống, chợ búa, hệ thống truyền thanh và truyền hình. Ông cũng là người đầu tiên biết vận dụng phim võ hiệp và tình báo kiểu Hồng Kông vào quảng cáo. Người dân miền Nam không thể quên hình ảnh tài tử Vương Vũ giải thoát các xe hàng do đoàn bảo tiêu hộ tống thoát khỏi quân cướp: mở thùng ra chỉ toàn kem đánh răng Hynos!

(Ảnh: Manhhai, Flickr)

Có rất nhiều xì thẩu được Sài Gòn xưa phong tặng danh hiệu Vua. Trương Vĩ Nhiên, “vua ciné”, là chủ hãng phim Viễn Đông và gần 20 rạp ciné tại Sài Gòn – Chợ Lớn: Eden, Đại Nam, Opéra, Oscar, Lệ Thanh, Hoàng Cung, Đại Quang, Palace, Thủ Đô…; Lý Hoa, “vua xăng dầu”, là đại diện độc quyền các hãng Esso, Caltex, Shell phân phối nhiên liệu cho thị trường nội địa; Đào Mậu, “vua ngân hàng”, Tổng giám đốc Trung Hoa Ngân Hàng (một trong hai ngân hàng châu Á lớn nhất tại Sài Gòn cùng với Thượng Hải Ngân Hàng).

Bên cạnh đó lại có Lại Kim Dung là “nữ hoàng gạo”. Giá gạo tại miền Nam là do công ty của bà ấn định, chính phủ đã có lúc phải hợp tác với “nữ hoàng gạo” để ổn định giá gạo trên thị trường. Trong các buổi tiếp tân lớn, bà Kim Dung luôn xuất hiện bên cạnh các mệnh phụ phu nhân.

Tạ Vinh là một trường hợp xì thẩu đặc biệt. Năm 1964, Tạ Vinh bị Ủy Ban Hành Pháp Trung ương của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ xử bắn tại pháp trường cát trước chợ Bến Thành vì tội “gian thương, đầu cơ tích trữ gạo, gây xáo trộn thị trường”. Dân chúng và báo chí gọi Tạ Vinh là “hạm gạo”. Ông Kỳ muốn cảnh cáo giới tài phiệt gốc Hoa không nên quá lạm dụng tình trạng chiến tranh để làm giàu phi pháp, ông đã tổ chức một cuộc họp kín gồm đủ thành phần đại xì thẩu tại Sài Gòn-Chợ Lớn để cảnh cáo.

Nguyễn Ngọc Chính

Đăng lại từ diễn đàn Hội quán Phi Dũng (hoiquanphidung.com)

Chú thích:

(1) Bình- nguyên Lộc là bút hiệu của Tô Văn Tuấn (1914-1987) với cách viết tên rất cầu kỳ: có gạch nối giữa Bình và nguyên, nhưng không có gạch nối giữa nguyên và Lộc, chữ nguyên lại được viết với mẫu tự n không hoa. Nguiễn Ngu-Í trong “Sống và viết với… Bình-nguyên Lộc”, gọi ông là “một trong tam kiệt của miền Nam” bên cạnh Hồ Biểu Chánh và Lê Văn Trương. Bình-nguyên Lộc có khoảng 50 truyện dài, 1.000 truyện ngắn và 4 quyển sách nghiên cứu, trong đó quyển Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam chỉ được in phần đầu, phần còn lại khoảng 800 trang viết tay coi như bị thất lạc. Tác phẩm nổi tiếng phải kể đến Đò dọc, Rừng mắm, Cuống rún chưa lìa…

(2) Sữa Ông Thọ là tên gọi của hiệu sữa Longevity trước đây thuộc hãng sữa Foremost. Tên được dùng trước năm 1975 với hình Ông Thọ trong Tam Đa (Phước, Lộc, Thọ) để minh họa. Sau năm 1975, Vinamilk sử dụng lại tên Ông Thọ nên khi Foremost quay trở lại Việt Nam kiện đòi lại thương hiệu nhưng thất bại nên phải dùng nhãn hiệu Longevity. Hiện nay Longevity đã được chuyển nhượng cho Dutch Lady VN với cái tên Sữa đặc Trường Sinh.

(3) Sữa Con Chim của hãng Nestlé (Thụy Sĩ) đặt chân đến Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1916. Trải qua nhiều thập kỷ, các sản phẩm như Guigoz, Lait Mont-Blanc, Maggi đã trở nên thân thuộc với các thế hệ người Việt. Nestlé trở lại Việt Nam vào năm 1990, và mở một văn phòng đại diện vào năm 1993. Vào năm 1995, Công ty Nestlé Việt Nam (100% vốn đầu tư nước ngoài) được thành lập, trực thuộc tập đoàn…

 From: Doan Dang