TÊN THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU

TÊN THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU

 Sương Mai

Mỗi người sinh ra đều được đặt một cái tên.  Tên hay còn gọi là danh xưng của một cá nhân nhằm xác định cụ thể và định dạng về một ai đó.  Nói đến tên là nói đến sự hiện hữu của người đó.  Mỗi cái tên mang một ý nghĩa và có một tầm quan trọng rất lớn.  Tên gắn bó với người đó trong suốt cuộc đời và còn mãi cho đến khi đã khuất tên vẫn còn “lưu truyền hậu thế,” như câu ngạn ngữ: “Hổ chết để da, con người ta chết để tiếng;” lưu truyền đó tốt hay xấu là do cách sống của ta.  Khi nói đến tên của ai đó ta nghĩ về cuộc đời và con người của họ.  Người Công giáo ngoài tên thường gọi, còn có tên Thánh, được đặt từ ngày lãnh nhận Bí tích Rửa tội.  Tên con người là thế, nhưng có ai đã đặt vấn đề: Con người sinh ra ai cũng có tên, vậy Thiên Chúa là Đấng dựng nên ta, Ngài có tên không?  Và tên Ngài là gì?

Khi ta biết tên của ai đó là lúc ta bắt đầu biết về họ.  Chúng ta không ai biết tên Thiên Chúa.  Sở dĩ chúng ta biết tên Thiên Chúa là nhờ Ngài mạc khải chính tên của Ngài cho chúng ta.  Cho nên, khi con người biết tên Thiên Chúa là bước khởi đầu để con người có cơ hội biết về Ngài, và Ngài sẵn sàng thiết lập tương giao giữa Ngài với con người.  Điều này được thấy rõ trong Kinh Thánh Cựu Ước, khi Thiên Chúa mạc khải tên của Ngài cho dân qua Môsê trên núi Sinai (Xh 3,1-15).  Thiên Chúa mạc khải cho Môsê biết tên Ngài là Giavê (Yahweh), Đấng Tự Hữu, là “Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em, Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Jacob.”  Khi Thiên Chúa mạc khải tên của Ngài cũng là lúc Ngài mạc khải bản tính của Ngài.  Ngài là Thiên Chúa của tình yêu.

Theo dòng lịch sử của mình, Israel đã có thể khám phá ra rằng Thiên Chúa chỉ có một động lực duy nhất khiến Ngài tự mạc khải cho họ, và chọn họ giữa mọi dân để họ là dân của Ngài: đó là tình yêu nhưng không của Ngài.  Nhờ các tiên tri, Israel hiểu rằng, cũng vì tình yêu mà Thiên Chúa không ngừng giải cứu họ và tha thứ cho sự bất trung và tội lỗi của họ.  Tình yêu của Thiên Chúa đối với Israel được so sánh với tình yêu của một người cha đối với con mình (Hs 11,1).  Tình yêu đó còn mạnh hơn tình yêu của một người mẹ dành cho con cái mình (Is 49, 14-15).  Thiên Chúa yêu dân Ngài hơn người chồng yêu người vợ yêu dấu của mình (Is 62,4-5). Tình yêu đó cũng chiến thắng những bất trung, tình yêu là tha thứ, và tình yêu của Thiên Chúa đối với dân Israel là vĩnh cửu “tồn tại muôn đời” (Is 54,8).  “Núi có dời có đổi, đồi có chuyển có lay, tình nghĩa của Ta đối với ngươi vẫn không thay đổi” (Is 54,10).  “Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng thương xót” (Gr 31,3).  Tình yêu vĩnh cửu đó thể hiện rõ nhất qua việc “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài” (Ga 3,16).  Thánh Gioan định nghĩa: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8.16), vì chính Hữu thể của Thiên Chúa là tình yêu.  Với mầu nhiệm nhập thể, tử nạn và phục sinh, tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện cụ thể, rõ ràng qua dung mạo của Đức Giêsu Kitô.  Đức Kitô chính là lời mạc khải trọn vẹn về tình yêu Thiên Chúa.  Qua Con Một, Thiên Chúa mạc khải điều bí ẩn thâm sâu nhất của Ngài: Chính Ngài là sự trao đổi tình yêu vĩnh cửu: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và Ngài đã tiền định cho chúng ta được dự phần vào sự trao đổi tình yêu đó. (GLHTCG 218-221)

Chúng ta biết Tên của Thiên Chúa là Tình Yêu, và chúng ta được Thiên Chúa dựng nên bằng tình yêu của Ngài, khi Ngài cho con người giống hình ảnh Ngài, nên chúng ta được thông phần với tình yêu của Ngài.  Vì thế, tên của chúng ta cũng phải thể hiện được bản chất vốn sẵn có mà Thiên Chúa đã khắc ghi trong mỗi người chúng ta đó là Tình Yêu.  Chúng ta được mời gọi hãy sống và phản chiếu dung mạo của Thiên Chúa là Tình yêu.  Khi ta sống trong tình yêu và thể hiện tình yêu ấy là ta đang sống đúng bản chất tình yêu như Thiên Chúa muốn ban tặng cho chúng ta; được kết hiệp nên một với Thiên Chúa, cuộc đời ta được tháp nhập hoàn toàn vào tình yêu của Ngài, dù tình yêu của ta nhỏ bé và giới hạn so với tình yêu của Thiên Chúa.

Từ muôn thuở Thiên Chúa đã khắc ghi tên ta là Tình yêu trong trái tim Ngài.  Ngài muốn hiện hữu cùng ta với tên gọi Tình yêu.  Ta là Tình yêu của Thiên Chúa.  Thế nhưng, đối với ta, Thiên Chúa có là Tình yêu của ta không?  Hay chỉ là một thụ tạo, một đam mê, một vui thú thế gian nào đó mới là tình yêu của ta?  Ta đã thực sự thông phần vào bản chất tình yêu mà Thiên Chúa đã khắc ghi trong trái tim Ngài chưa?

Thân phận con người vốn mỏng manh, yếu đuối và dễ đổi thay.  Thiên Chúa thấu suốt mọi tâm can từng gang tấc nơi con người hơn bất cứ ai.  Ta đã từng khấn hứa giao ước tình yêu với Thiên Chúa, nhưng liệu ta có giữ mãi được lời thề hứa sắt son đó không?  Tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu trung tín, không thay đổi; chỉ có tình yêu nơi con người mới đổi thay.  Thiên Chúa mãi mãi thể hiện đúng bản chất tình yêu của Ngài.

Trong cuộc sống, có lẽ ai cũng có những lúc ta muốn buông xuôi tất cả, cảm thấy chán nản, thất vọng, đau khổ, sợ hãi, căng thẳng, mệt mỏi…  Có những lúc tình yêu và lòng nhiệt huyết đi theo Chúa của ta không còn nồng nàn như thuở ban đầu, ta cảm thấy tình yêu ta dành cho Chúa sao hời hợt, tẻ nhạt quá.  Dù như thế, ta hãy nhớ ta vẫn mãi là Tình yêu của Thiên Chúa vì ngay cả khi ta không trung tín với Ngài thì Ngài cũng vẫn tín trung, vì Ngài không thể nào tự chối bỏ chính mình (2Tm 2,13).  Dù ta có như thế nào Thiên Chúa chỉ muốn ta một điều đó là không được thay đổi tình yêu.  Tình yêu là chất keo gắn kết ta với Chúa và giúp ta hiệp thông với anh chị em.  Trung thành trong tình yêu là điều cần thiết để theo Ngài.  Cuộc sống có lúc thăng, lúc trầm, điều đó giúp cho cuộc sống ta thêm phong phú hơn, nó như một bản nhạc cuộc đời làm cho ta thêm khởi sắc hơn.  Ta hãy nhìn cuộc sống bằng đôi mắt đức tin và trong cái nhìn tích cực để thúc đẩy ta trung thành với tình yêu giao ước thuở ban đầu của ta với Chúa.

Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã sớm cảm nghiệm được tình yêu, nên ngài viết lên một lời bất hủ: “Trong lòng Giáo hội, con sẽ là Tình yêu.”  Một tình yêu âm thầm nhưng vĩ đại và sâu sắc.  Tình yêu của hoa hồng đầy gai nhưng tràn ngập hạnh phúc vì được yêu Chúa.  Chị thánh đã nói: “Tôi đã chẳng cho Thiên Chúa tốt lành điều gì ngoài tình yêu, và Ngài sẽ trả lại cho tôi chính tình yêu.”  Thánh nữ không chỉ là bông hoa bé nhỏ của Chúa Giêsu nhưng còn là của toàn Giáo hội, chị đã để lại một kho tàng quý giá là linh đạo “Con đường thơ ấu” với một tình yêu mạnh mẽ và vĩ đại.

Lạy Chúa Giêsu, tạ ơn Chúa đã thương chọn gọi con, đã yêu thương con bằng mối tình muôn thuở, và đã khắc tên con trong trái tim Ngài.  Xin cho con biết thể hiện và sống đúng bản chất tên Tình yêu như Chúa.  Ước gì trái tim con luôn cùng nhịp đập với trái tim Ngài để con biết yêu thương như Ngài đã yêu bằng đời sống đức ái với anh chị em con.  Xin cho con được mãi trung thành với giao ước tình yêu mà Chúa dành cho con trong ơn gọi thánh hiến.   Amen!

 Sương Mai

Nguồn: https://dongten.net

CUỘC ĐỜI…

CUỘC ĐỜI …

NAM GIANG TỬ

Cuộc đời пhư một dòпg sôпg, mãi tɾôi đi khôпg bɑo giờ tɾở lại – пhữпg lời пày giúp bạп sốпg bình an, vui tư ơi.
Làm vui lòпg пgười khác thì chi bằпg hãy làm vui lòпg mình. Cuộc sốпg khốn khổ thì mìпh hãy sốпg tɾàn đầy ý thơ. Thế gian bạc bẽo thì mìпh hãy sốпg tìпh sâu пghĩɑ пặng. Đó mới là sốпg có bản lĩnh. 

Biết cúi đầu sẽ khôпg bị đụпg cửa; biết пhượпg bộ sẽ khôпg ρhải lùi bước; пgười cầu khuyết thiếu mới có cảm giác hài lòng; пgười tiếc ρhúc mới có được hạпh ρhúc…

Cuộc đời con пgười quả khôпg Ԁễ Ԁàng, bao đắпg cay mặn пgọt, lúc vui buồn hợp taп, chúпg tɑ vẫn ρhải sốпg tốt, tɾoпg пhữпg пăm còn lại củɑ cuộc đời, cần sốпg một cuộc sốпg theo cách mà mìпh muốп.
Ban đầu chúпg tɑ đến với thế giới пày là vì khôпg thể khôпg đếп. Cuối cùпg chúпg tɑ ɾời khỏi thế gian cũпg bởi vì khôпg thể khôпg đi. Quá tɾìпh ở giữɑ đó thì chúпg tɑ có thể sốпg tùy theo ý mình.
Làm vui lòпg пgười khác thì chi bằпg hãy làm vui lòпg mình. Cuộc sốпg khốn khổ thì mìпh hãy sốпg tɾàn đầy ý thơ. Thế gian bạc bẽo thì mìпh hãy sốпg tìпh sâu пghĩɑ пặng. Đó mới là sốпg có bản lĩnh.

Cách sốпg khác nhau, kết quả cũпg khác nhau…
Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy tiền bạc làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ sốпg ɾất khổ.
Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy con cái làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ 
sốпg ɾất mệt.
Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy ái tìпh làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ 
sốпg ɾất đau lòng.
Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy so đo làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ 
sốпg ɾất ρhiền toái.
Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy khoan Ԁuпg làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ 
sốпg ɾất hạпh ρhúc.

Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy hài lòпg làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ sốпg ɾất vui vẻ.
Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy cảm ân làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ 
sốпg ɾất thiện lương.

Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy ái tìпh làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ sốпg ɾất đau lòng. Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy so đo làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ sốпg ɾất ρhiền toái. (Ảnh: Pexels).

Có câu пói: ‘Khi bạn пằm tɾên giườпg bệпh, bạn sẽ chẳпg còn sợ gì пữa!’… vì sao vậy?
Bởi lẽ khi đó chỉ có пgười khác sợ bạn: Bạn bè thân thích sợ bạn mượn tiền; Chɑ mẹ sợ bạn chữɑ khôпg khỏi; Bạn đời sợ bạn làm liên lụy đến họ; Lãпh đạo sợ bạn khôпg thể qυay lại côпg tác, vội vàпg tìm пgười thay; Bác sĩ sợ bạn khôпg đủ tiền tɾả viện ρhí…

Đến lúc đó, пóпg tíпh và kiêu пgạo sẽ hoàn toàn biến mất…

Do đó, пhất địпh ρhải chăm sóc tốt bản thâп, dù thứ gì đi пữɑ cũпg khôпg bằпg bản thân mình. Duy chỉ có thân thể là củɑ mình, thứ qυan tɾọпg пhất là tâm tíпh – đạo đức và sức khỏe.
Học cách chăm sóc bản thâп, yêu bản thâп, cuộc sốпg chân thực пhư vậy, hãy tɾân quý.
Khi bạn mệt thì sẽ có ɾất пhiều пgười пói với bạn ɾằng: “Mệt thì đừпg làm пữa”. Nhưпg có ɑi cho bạn tiền để chi tiêu không?
Khi bạn mắc bệ̣nh, sẽ có ɾất пhiều пgười пói với bạn ɾằng: “Uốпg thuốc đi”. Nhưпg có ɑi cho bạn tiền để muɑ thuốc không?
Khi bạn пói điện thoại củɑ bạn tɾục tɾặc, sẽ có ɾất пhiều пgười пói với bạn ɾằng: “Hỏпg ɾồi thì muɑ cái mới đi”. Nhưпg có ɑi cho bạn tiền để muɑ không?
Khi bạn gặp khó khăп, sẽ có ɾất пhiều пgười пói với bạn ɾằng:“Khôпg sao…”. Nhưпg có bao пhiêu пgười có thể thực sự giúp bạn?
Cuộc sốпg đều ρhải dựɑ vào mìпh пỗ lực, пếu khôпg cố gắпg thì chẳпg ɑi có thể cho mìпh cuộc sốпg mà mìпh moпg muốn cả.

Khi bạn gặp khó khăп, sẽ có ɾất пhiều пgười пói với bạn ɾằng:“Khôпg sao…”. Nhưпg có bao пhiêu пgười có thể thực sự giúp bạn?
Chỉ cần пghĩ thoáng thì sẽ hiểu ɾõ…
Trên thế gian пày bạn chíпh là bạn: Bạn đau đớn hay mệt mỏi thì chỉ mìпh bạn chịu đựng.
Có thể có пgười cảm thôпg với bạп, пhưпg cũпg có thay đổi được gì пhiều đâu. Cuối cùпg thu Ԁọn tàn cuộc vẫn là ρhải dựɑ vào chíпh mình.
Có пhữпg пgười bạn có thể kỳ vọng, пhưпg đừпg ỷ lại. Từпg giờ từпg ρhút khuyên ɾăn mình: hãy пỗ lực, hãy kiên cường!
Trời mưɑ thì đườпg tɾơп, mìпh tɾượt пgã thì tự mìпh bò dậy, đườпg ɑi пgười ấy ρhải tự đi, mệt hay khôпg thì tự mìпh biết.
Nước mắt ɑi пgười ấy tự lau, chẳпg пgười пào có thể thay thế được mình.
Chớ ôm  ấp dĩ vãпg mà khôпg muốn tiếp bước…
Khi một пgười coi thườпg bạn thì chớ đau lòng. Ai cũпg có cuộc đời ɾiêng, chẳпg ɑi có thể luôn luôn ở bên bạn được.
Ngượпg пhất là khôпg gì bằпg đánh giá mìпh quá cao tɾoпg lòпg пgười khác. Thực ɾɑ bạn biết ɾõ, khôпg gì ti tiện hơn tìпh cảm, khôпg gì lạпh lẽo hơn tìпh пgười.
Bạn cần hiểu ɾõ, пgười muốn đi thì khôпg thể giữ được; пgười giả пgủ thì khôпg thể đánh thức được; пgười khôпg thích bạn thì khôпg làm cảm động được.
Mặt tɾời đứпg bóпg liền пgả về Tây; tɾăпg tɾòn liền chuyển saпg khuyết. Do đó có khiếm khuyết mới lâu dài, khôпg hoàn mỹ mới là пhân sinh.
Thực ɾɑ cảпh giới đẹp пhất là hoɑ пở chưɑ hết, tɾăпg vẫn chưɑ tɾòn…
Biết cúi đầu sẽ khôпg bị đụпg cửa; biết пhượпg bộ sẽ khôпg ρhải lùi bước; пgười cầu khuyết thiếu mới có cảm giác hài lòng; пgười tiếc ρhúc mới có được hạпh ρhúc.

NAM GIANG TỬ

From: KimBang Nguyen

Đời Sài Gòn, ít ai chịu được hai từ “giải phóng”

Đời Sài Gòn, ít ai chịu được hai từ “giải phóng”

Ngày đầu tôi vào Sài Gòn, lúc ấy chưa xin được việc nên tạm thời đi làm công nhân một thời gian, chỗ công ty may túi xách của Nhật ở cổng Khám Chí Hòa với vai trò là thợ phụ, nhớ không nhầm là tiền công 25,000/ngày thì phải. Hồi đó chưa nhiều người Bắc như bây giờ. Có mấy đứa người Bắc làm chung với những người Nam Kỳ khác. Hồi đó cũng chưa có internet, cũng chưa có smartphone, ai giàu lắm cũng chỉ có cái “cục gạch” Nokia. Mạng xã hội chưa có cho nên mọi thứ chưa dễ tìm hiểu.

Mấy người Nam có vẻ không ưa mấy người nói giọng Bắc. Mình buồn lắm, vừa buồn, vừa có chút giận vì trong lòng. Mình yêu người Nam thế mà tại sao họ lại ghét mình. Không ai nói cho mình hiểu cả. Sau đó có internet thì mình cũng lên mạng học ngoại ngữ, tò mò vào các nhóm thì gặp một ông người Việt ở Mỹ, hỏi han qua lại khi biết mình người Bắc là ổng chối đây đẩy y như giẫm phải cờ ứt vậy.

Cay cú lắm, mình mới đi tìm hiểu, lúc đó cũng 30 tuổi rồi nhưng mà còn khờ kiến thức xã hội lắm. Trong trường Y học trối chết, có thời gian đâu, với lại có thời gian cũng chẳng có thông tin nào mà đọc. Sau có cô bạn người Nha Trang (lúc này mình mới bắt đầu đi học chuyên khoa định hướng năm 2014 và thực sự hòa nhập vào môi trường ở đây). Bạn ấy kể:

– Mẹ em nói hồi xưa còn Mỹ ở đây sướng lắm.

– Ủa, sao lại sướng hả em? Chị nghĩ là đánh Mỹ đi để giành độc lập mới sướng chứ? Nước mình độc lập không sướng hơn à?

– Ừ thì độc lập nhưng mà không sướng như ngày xưa đâu chị.

– Sao kỳ vậy em? Em nói gì chị không hiểu, chị nghĩ Sài Gòn được giải phóng thoát khỏi sự kìm kẹp của Mỹ Ngụy thì người dân phải vui hơn mới phải chứ (nói đúng lý thuyết luôn).

– Thì biết vậy nhưng mà “giải phóng” rồi đừng có đi chiếm nhà của người ta, làm bao nhiêu người bị mất nhà mất cửa, bị đẩy đi vùng kinh tế mới, chết vì sốt rét rừng… Họ không chịu được nên họ về cũng lang thang không chỗ ở nên buộc phải vượt biển chết bao nhiêu là người…

Bạn cũng chỉ nói tới đó thôi vì nghe kể sao biết vậy. Lúc ấy mình mới lờ mờ hiểu… À, thì ra là mình bị ghét vì lý do này đây.

– Nhưng mà chị hỏi em nè, những người như chị có tội tình gì đâu mà sao chị lại bị ghét? Mấy cô người miền Tây hay dùng từ “Bắc Kỳ”.

– Kỳ thị là đúng đó chị, họ không nói ra thôi, chị nghe những điều hồi nãy em nói không? Nỗi đau lớn nhất trong cuộc đời là mất người thân, vậy sao họ không hận cho được mặc dù những người như chị không có lỗi nhưng chị nói giọng Bắc là họ không có ưa.

À, thì ra là vậy.

Cho nên mình cũng ráng dữ lắm, ráng sống cho thật tốt, chơi với bạn thật chân thành, không bao giờ dám nhắc tới hai từ “giải phóng” bởi với họ, đó là nỗi đau. Hai từ ấy chỉ có người nào vào Nam rồi và chơi với họ thì mới hiểu, đó là nỗi đau, đó là sự mất mát. Ở ngoài Bắc, nhất là các bạn trẻ bây giờ thường nói trong vô thức. Bởi vì các bạn ấy không hề hiểu, đối với người Nam, từ “giải phóng” là từ kỵ, rất kỵ. Họ sẵn sàng nổi sùng lên khi nghe hai từ ấy. Sự việc hôm rồi cũng thế, có lẽ đó cũng là nguồn cơn của cuộc chiến không hồi kết trên mạng xã hội.

Bây giờ, nếu như muốn xóa bỏ ngăn cách thì có một việc cần làm đó là đừng có nhắc tới hai từ kỵ húy ấy. Hãy tìm hiểu nhiều hơn các thông tin để hiểu về người khác. SỰ CHÂN THÀNH SẼ XÓA NHÒA KHOẢNG CÁCH chứ đừng có gân cổ lên chửi làm gì, không giải quyết được việc gì cả. Người ta ghét mình thì hãy tìm hiểu làm sao họ ghét.

Sự thật thì hãy chấp nhận là sự thật, kể cả vết thương có lớn, có đau như thế nào nhưng điều trị đúng thì nó sẽ lành thôi. Nhân đây tôi cũng mong là một số anh chị hơi cực đoan hãy vui lòng nhìn lại và thông cảm, bởi những người trẻ như tôi hồi ấy không hề biết gì mất mát của các anh chị, học trên lý thuyết ra sao thì biết vậy, một số bạn trẻ bây giờ cũng thế. Cùng là dân tộc Việt nhưng không biết bao giờ sự ngăn cách mới được xóa nhòa.

(Tựa bài do Saigon Nhỏ đặt)

From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen

Loạn Covid và phát biểu mê sảng của lãnh đạo CSVN, báo hiệu điều gì?

Loạn Covid và phát biểu mê sảng của lãnh đạo CSVN, báo hiệu điều gì?

Bởi  AdminTD

Jackhammer Nguyễn

9-7-2021

Chủ tịch thành Hồ, ông Nguyễn Thành Phong kêu gọi, rằng mỗi người dân thành phố này hãy là một chiến sĩ! Quái lạ, chiến sĩ đánh nhau với ai? Chiến hạm Trung Quốc vào tới… cảng Nhà Rồng?

À không, ông chủ tịch kêu gọi chống dịch Covid-19. May mà ông chưa tuyên bố … nắm lấy thắt lưng con virus mà đánh!

Nhưng virus lại thoắt ẩn, thoắt hiện còn hơn cả những du kích quân Cộng sản thế hệ tiền bối của ông Phong nữa, làm sao mà đánh đây?

Trong chiến cuộc Việt Nam, các du kích quân có hai thứ rất lợi hại để chiến thắng, đó là vũ khí tối tân của Nga Xô, và chiến thuật tuyên truyền rất hữu hiệu. Trong thời bình, Đảng và Nhà nước (cộng sản) của ông Phong, cùng các đồng chí của ông vẫn còn hai thứ vũ khí đó để đàn áp bọn “phản động”, bọn “diễn biến hòa bình”, bọn “cách mạng màu”…

Nào là dùi cui, nào là máy phá sóng điện thoại, các đội công an cơ động trang bị tận răng. Rồi biệt đội “dư luận viên” Lực lượng 47 (cảm hứng từ khẩu AK47 lừng danh của du kích cộng sản), tác chiến, tấn công mạng…

Nhưng hai thứ bửu bối đó đều thúc thủ trước con virus Covid-19 bé xíu, vào ra trại giam, bệnh viện như chỗ không người, từng tấn công cả một ủy viên trung ương (có thể là nhiều hơn một).

Có thể hiểu rằng, ông Phong, cũng như nhiều đồng chí, đồng mộng, đồng phe với ông, vẫn còn tâm lý chiến tranh cách mạng, như tôi từng nêu ra trong bài viết gần đây “Cái nắm đấm đẫm lệ và chủ nghĩa tư bản Vượng Vin”. Chúng ta hiểu rằng, ông Phong bảo các công dân thành Hồ hãy tuân theo chỉ dẫn chống dịch, hãy có kỹ luật, hãy tích trữ lương thực chờ giới nghiêm,… nói chung, như một chiến sĩ, theo cái nghĩa đen của nó, chứ không phải súng đạn, người giết người như nghĩa bóng, ẩn dụ.

Nhưng đoạn phát biểu sau đây của đương kim thủ tướng Phạm Minh Chính thì phải hiểu ra làm sao? Hãy xem đoạn dẫn sau đây trên báo Chính phủ:

Ngoài các phương châm phòng chống dịch đã có, Thủ tướng đề nghị nghiên cứu, bổ sung phương châm kết hợp hài hòa, hợp lý, hiệu quả giữa truyền thống và hiện đại, giữa phân tán và tập trung. Thủ tướng lấy một số ví dụ như kết hợp tây y và đông y trong điều trị bệnh; kế thừa truyền thống của cha ông ta trong đánh giặc là vừa kết hợp chiến tranh hiện đại với bộ đội chủ lực và chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân. Tinh thần là kết hợp sức mạnh tổng lực để kiểm soát, ngăn chặn, đẩy lùi dịch bệnh.”

Thủ tướng Phạm Minh Chính (trái) và Chủ tịch thành Hồ Nguyễn Thành Phong.

Hãy đặt câu hỏi cho vài “ý tưởng” của ngài thủ tướng xem sao.

– Truyền thống và hiện đại: Ý thủ tướng nói là kết hợp thuốc đông y và vaccine? Đọc lại lịch sử Việt Nam, thì có những ghi chép về dịch bệnh, nhưng không thấy thuốc men gì cả, sau khi dịch giết chết một số đông cư dân, số còn lại miễn nhiễm thì dịch hết. Đó là ngày xưa, dân cư thưa thớt, phải đi xe thổ mộ cả ngày từ Bình Điền vào quận Nhất, nay virus đi theo xe gắn máy, máy bay,… thì làm sao mà kết hợp?

– Phân tán và tập trung: Ý ông Chính nói là tập trung những người bị bệnh lại và phân tán những người không bị bệnh ra?

– Bộ đội chủ lực và du kích: Ý ông thủ tướng, vaccine là bộ đội chủ lực; còn xét nghiệm là du kích? Hay ông nói bác sĩ y tá điều trị bệnh nhân là chủ lực, còn 300 em học sinh Hải Dương “đường mòn Hồ Chí Minh trên không” là du kích?

Quả là không thể dùng một loại logic ngôn ngữ bình thường nào để có thể hiểu cao kiến của thủ tướng, vốn xuất thân từ một viên công an từ Thanh Hóa.

Chỉ có thể hiểu là, lại một lần nữa, ông Phạm Minh Chính lại chơi trò ghép từ như các đồng chí của ông, từ đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng cho tới ông bí thư xã. Đó là một loại từ điển, một loại cẩm nang từ ngữ cách mạng vô sản, chiến tranh cách mạng,… mà khi cần thì các ông ghép lại với nhau, thành một thứ diễn văn trị bá bệnh cho “công tác tuyên truyền”, từ “chống diễn biến hòa bình”, cho đến chống lạm phát; từ chống tham nhũng, cho đến công nghiệp hóa quốc gia.

Nay lại đến chống dịch Covid-19. Nhưng dịch Covid-19 không phải là một cuộc chiến với đối thủ cụ thể mà tấn công, du kích hay tổng lực, nó cũng không phải kiểu vô thưởng vô phạt như bầu cử Quốc hội cho vui, có cũng được mà không có cũng chẳng sao. Dịch Covid là chết người, là hết sạch giường nằm và máy thở trong bệnh viện, là hàng nấm mồ tập thể không kịp đào!

Thế cho nên, bên cạnh các phát biểu đầy tính “nâng quan điểm giai cấp đấu tranh cách mạng” của các ông Nguyễn Thành Phong, Phạm Minh Chính,… là tình trạng thực tế rất bi đát của dịch bệnh, có thể kể ra vài sự việc tiêu biểu như sau:

– Xếp hàng chích ngừa và xét nghiệm chật như nêm. Thuốc chưa kịp có hiệu quả thì virus hẳn đã bùng phát trong đám đông.

– Cấp giấy chứng nhận xét nghiệm như một loại căn cước đi xin việc, một loại giấy thông hành đi lại lúc giới nghiêm. Nhà cầm quyền không hiểu là người có xét nghiệm âm tính có thể nhiễm virus sau đó vài giây.

Việc rối loạn vì dịch Covid-19 ở thành Hồ và Việt Nam hiện nay gợi nhớ hình ảnh Đông Âu cộng sản sụp đổ, vì nhà cầm quyền không biết phải làm gì trước sự tan rã mà họ không hiểu.

Tình trạng dịch Covid-19 ở Việt Nam hiện nay, với trên dưới 1000 ca nhiễm mỗi ngày, không đến nỗi bi đát cho nhà cầm quyền cộng sản như vậy. Lệnh giới nghiêm và phong tỏa sẽ giúp kéo dài thời gian, chờ đợi vaccine tới, dù muộn, mà trớ trêu lại là các loại vaccine đến từ những nhà nước tư bản. Và cũng chẳng có một tổ chức nào khả dĩ có thể nắm lấy cái khoảng trống quyền lực, nếu nhà nước này sụp đổ.

Nhưng cơn hoảng loạn vì dịch Covid-19 ở thành Hồ, gây ra bởi nhóm cán bộ điều hành quốc gia thiếu kiến thức, thừa mệnh lệnh tuyên truyền chính trị, báo hiệu xã hội Việt Nam cộng sản có thể bị tan rã, hoặc sẽ trở thành một kiểu nhà nước thất bại (Failed State). Vì căn bản của xã hội cộng sản, hệ thống cộng sản là một hệ thống loại trừ (exclusive) đưa đến đỉnh quyền lực những người không có khả năng, chỉ biết hoạt động trong một cái khuôn có sẵn của công thức toàn trị, không đối phó được với những diễn biến của tự nhiên, của xã hội, đòi hỏi phải có kiến thức và tạo cơ hội cho mọi công dân (inclusive) cùng nhau quản trị quốc gia.

“QUEN VỚI NGƯỜI CHẾT HAY SAO MÀ CÚI ĐẦU CHÀO TIỄN HỌ VẬY?”

 

Trung Lễ   Những câu chuyện thú vị

“QUEN VỚI NGƯỜI CHẾT HAY SAO MÀ CÚI ĐẦU CHÀO TIỄN HỌ VẬY?”

Buổi trưa, giờ tan học, trước cổng trường Tiểu học đang có rất nhiều phụ huynh chờ đón con, người thì dõi mắt tìm kiếm, người gọi tên con mình …

​Lúc ấy, có xe đám tang đi ngang qua. Nhiều người ngước nhìn xe đưa tang, bày tỏ sự phấn khích khi đội nhạc cử kèn trống vang lên inh ỏi.

Họ bàn tán xôn xao, có người khen ban kèn Tây chơi toàn nhạc Trịnh Công Sơn “nghe hết sảy”, người khác góp ý như thế thì không hợp với khung cảnh, đáng lẽ phải chơi bài Lòng mẹ, Tình cha …

Duy nhất trong số phụ huynh đang ồn ào đó, có người đàn ông trên 50 tuổi lặng lẽ bước xuống xe, lấy chiếc mũ bảo hiểm đang đội trên đầu cầm tay rồi đứng thẳng người, đầu hơi cúi một chút. Ông cứ đứng vậy, yên lặng chờ xe tang đi qua mới ngước mặt gọi cháu lên xe đi về.

Người đứng bên cạnh tỏ vẻ ngạc nhiên hỏi:

– “Ủa, ông quen với người chết hay sao mà cúi đầu chào tiễn họ vậy?”.

Ông trả lời:

– “Tôi không hề quen biết hay bà con với người đã mất, nhưng sống trên đời “nghĩa tử là nghĩa tận” mà chú em”.

Rồi ông giải thích:

– “Thời tôi đi học, thầy cô thường nhắc nhở học sinh phải biết kính trọng và lễ phép với người già, người lớn tuổi, biết thương yêu giúp đỡ các em nhỏ tuổi hơn mình, trên đường đi khi gặp người lớn hơn mình phải biết khoanh tay cúi đầu chào, khi gặp đám tang đi ngang phải biết ngả mũ cúi đầu chào người quá cố để tiễn đưa họ …

Chính vì vậy mà các việc ấy bây giờ trở thành thói quen với tôi, mà thói quen thì không bao giờ quên được, việc tôi làm chỉ xem là phản xạ tự nhiên từ nhỏ cho đến bây giờ”.

Tôi nghe ông nói, ngẫm nghĩ đó chỉ là chuyện nhỏ, chuyện đạo làm người mà hình như bây giờ trong xã hội không còn tồn tại hình ảnh đẹp hết sức trân trọng đó.

Tôi mong sao những bài học đạo đức như vậy được chú trọng dạy trong trường, thay vì chỉ tập trung dạy kiến thức sách vở, để trẻ có thể hình thành những thói quen tốt trong cuộc sống, như có thể giữ yên lặng và cúi chào tiễn đưa khi gặp đám tang đi qua.

Nguồn: TRẦN VĂN TÁM 

THẦY MARCEL NGUYỄN TẤN VĂN – NẠN NHÂN CỦA VIỆT CỘNG

 May be an image of 1 person and text

Gương anh hùng:

THẦY MARCEL NGUYỄN TẤN VĂN – NẠN NHÂN CỦA VIỆT CỘNG

Lời toà soạn: Đây là sinh chứng của cha Denis Paquette, bề trên của thầy MARCEL. Ngài cũng đã tự ý ở lại Bắc Việt và cũng đã bị trục xuất vào ngày 23/10/1958. Lúc bấy giờ thầy MARCEL đã bị khổ sai hơn 3 năm.

***

“Không một nỗi gian khổ nào có thể xoá nhoà nụ cười êm dịu luôn phảng phất trên gương mặt gầy hóp của anh được. Và nụ cười tươi nở cho ai, nếu không phải là cho bạn tình Giêsu! Anh là lễ vật của tình yêu, và tình yêu là hạnh phúc hoàn hảo, bất diệt của anh. Anne Marie, em thân mến, anh khuyên em đừng khóc, cố gắng vui vẻ và hiến dâng tất cả cho Chúa”.

Bút tích trên được trích trong bức Ngục trung thư của thầy Marcel gửi cho em gái, hiện là nữ tu Dòng Chúa Cứu Thế tại Sainte Anne de Beaupré, Gia Nã Đại.

Vào tháng 7 năm 1954, khi Bắc Việt rơi vào tay Cộng sản, thầy Marcel đang phục vụ tại Học viện Dòng Chúa Cứu Thế Đà Lạt. Thầy tình nguyện gia nhập nhà Dòng tại Hà Nội để làm chứng tá dưới chế độ Cộng sản. Trong số năm tu sĩ phục vụ tại đây, có hai linh mục Gia Nã Đại, một linh mục người Việt và hai tu sĩ, có nhiệm vụ duy trì đời sống của nhà Dòng dưới chế độ đỏ, và giúp đỡ cộng đoàn tín hữu ở lại trong xứ đạo sau biến cố di cư. Các vị Bề trên đã không ngần ngại chấp nhận lời thỉnh cầu của một tu sĩ gương mẫu như thầy Marcel, và chọn thầy để nêu cao tang chứng đức tin như ngọn đuốc sáng trong đêm tối của Giáo Hội thầm lặng và nguyện cầu.

Lúc ấy thầy Marcel được 26 tuổi, và đã khấn dòng được 9 năm. Lòng sốt sắng nồng nhiệt, tinh thần kỷ luật tuyệt mức, chí làm việc và hy sinh là những đặc điểm sáng chói nơi thầy. Từ thuở ban đầu, giữa bốn bức tường của gian phòng Tập viện, thầy đã tha thiết ước ao ơn Tử Đạo. Nên dịp hiếm có vừa đến, thầy đã không ngần ngại hiến dâng.

Trên đường ra Bắc, thầy đã thổ lộ hy vọng hạnh phúc Tử Đạo. Vài tháng sau ngày Việt cộng tiếp thu Hà Nội, tình hình đã rõ rệt và nguy hiểm đang sờ sờ trước mắt, Bề trên đã khuyên thầy nên theo đợt di cư cuối cùng vào Nam. Không ngần ngại, thầy từ chối, viện lẽ đã chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận mọi cực hình và sự chết vì tình yêu Chúa. Ít lâu sau, thầy nói cùng Bề trên: “Cộng sản sẽ buộc con vu cáo cha, nhưng cha đừng sợ, con sẽ không bao giờ vu cáo cha. Con sẽ kháng cự đến chết, và như thế con sẽ thắng Cộng sản”. Số phận của thầy đã được thực hiện đúng từng li theo lời tiên báo ấy.

Vào một buổi sáng thứ Bảy ngày 07 tháng 05 năm 1955, 7 tháng sau tiếp thu, thầy đã bị bắt và tống giam. Tu sĩ Marcel Nguyễn Tấn Văn đã bị buộc tội làm gián điệp cho Đế Quốc Mỹ và chánh phủ Miền Nan Việt Nam. Từ hăm doạ đến hứa hẹn, người ta bắt ép thầy phải nhận tội và đồng thời tố cáo vị Bề trên Dòng là chỉ huy tổ chức gián điệp và tuyên truyền chống chánh phủ. Thầy sẽ được trả tự do nếu thầy nhận tội và tố cáo vị Bề trên. Thầy Marcel không còn lạ về mánh khoé của Cộng sản và đã anh hùng trung thành cùng Thiên Chúa và lương tâm.

Năm tháng trời đằng đẵng trôi qua trong ngục tối. Có lần thầy đã bị tra hỏi suốt 15 đêm liền. Sức khoẻ mong manh của thầy vượt quá mức chịu đựng, thầy lâm bệnh trầm trọng và trước ngưỡng cửa sự chết, thầy vẫn một lòng sắt son với đức tin và tình yêu Giáo Hội.

Mọi biện pháp đều tỏ ra vô hiệu. Cộng sản không còn hy vọng khai thác thầy được. Thầy lại bị tống vào trại giam trung ương ở Hà Nội, cùng với hàng trăm tù nhân, đa số là Công Giáo, với 2 linh mục. Những bức thư lén lúc từ trại giam gửi ra cho biết nỗi khổ từ nội tâm và chí cương quyết của thầy: “Thưa cha, muốn sống là một điều dễ. Con chỉ việc vu cáo cha. Nhưng cha đừng sợ, con không bao giờ chịu vu cáo cha đâu. Con sẽ kháng cự đến chết”.

Sau này nhiều tù nhân đồng trại được phóng thích, đã nói lên lòng cảm mến và khâm phục thầy trong suốt thời gian bị giam giữ. Gương mặt thầy luôn phản chiếu ánh vui tươi siêu việt. Thầy cầu nguyện suốt ngày, tận tình bác ái với đồng bạn, chia sẻ từng miếng cơm, manh áo hay tiền bạc.

Sau nhiều lần bị tra hỏi vô hiệu. Thầy đã lãnh án 15 năm khổ sai. Thầy bị giải lên trại giam số 1 ở Mỏ Chén, một trại giam hai ngàn tù nhân với hai nghĩa địa để vùi thây những kẻ chết rũ tù. Một đoạn thư trong thời gian ấy: “Ở đây con được phước sống chung với nhiều tín hữu: thầy Quản lý nhà thờ Phát Diệm, bà Tu viện trưởng Dòng Mến Thánh Giá Phát Diệm cũng bị giam ở đây. Tất cả mọi tín hữu trong trại đều rất vững lòng tin. Nhiều người ăn chay nhiệm nhặt ngày thứ Tư và thứ Bảy.

Phần con, từ ngày lên đây, phải đóng vai một cha xứ. Ngoài giờ làm việc, phải tiếp các tù nhân, an ủi họ. Mọi người đều đến với con. Cám ơn Chúa hết lòng. Cuộc tù đầy đã không lay chuyển mức sống thiêng liêng của tâm hồn con. Rất nhiều lúc, Thiên Chúa tỏ rõ ràng là con đang thực hiện thánh ý Người nơi đây”.

Tháng 08 năm 1957, thầy Marcel bị giải sang trại số 2 ở Yên Bái. Chúng tôi không còn được phép thăm viếng thầy nữa: “Tên Văn không tiến bộ tí nào sau thời gian tẩy não. Các ông không nên thăm viếng nữa!” Chúng tôi biệt tin thầy từ đó. Thầy tạ thế ngày 10 tháng 07 năm 1959. Trong ngục ròng rã một năm, thầy kiệt sức vì thiếu ăn, đang lúc bệnh lao hoành hành, và sau cùng cơn bệnh thũng đã kết liễu cuộc đời anh dũng của thầy.

Trưa ngày 10 tháng 07, thầy hấp hối, cha Vinh Bề trên Địa phận Hà Nội, bạn đồng ngục của thầy, đã giúp đỡ thầy trong giây phút cuối cùng. Trên ngôi mộ thầy, các bạn đồng ngục của thầy đã chôn một vỏ chai để ghi dấu.

Thiên Chúa đã thực hiện hoài vọng của thầy Marcel. Tù ngục, tra tấn và sau cùng là cái chết bi đát, tất cả chỉ vì lòng trung thành cùng Thiên Chúa, cùng Giáo Hội, từ chối phá hoại Giáo Hội bằng vu cáo Bề trên: “Nếu con muốn sống thì rất dễ, con chỉ việc vu cáo cha”. Cũng như ngày thầy khấn dòng, trước đau khổ và sự chết, thầy Marcel đã lựa chọn và hiến dâng, sự lựa chọn và hiến dâng đó đã tươi nở nên một ngành hoa đỏ thắm mà các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam hân hạnh tiến dâng lên Thiên Chúa và Giáo Hội.

Nếu các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế khắp hoàn cầu có vinh hạnh tôn dương một người anh cả như thánh Giêrađô, thì các tu sĩ Dòng tại Việt Nam cũng không kém vinh hạnh trước gương sáng thánh thiện và anh dũng của thầy Marcel Nguyễn Tấn Văn tinh hoa của DCCT tại đất Việt.

(Trích Nguyệt San Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, số 183 tháng 8 năm 1964, tr. 252 – 253)

LỜI DẶN DÒ CẦN THIẾT

LỜI DẶN DÒ CẦN THIẾT

 Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Chúa Giêsu lập Nhóm Mười Hai.  Ngài cho các ông sống bên cạnh mình.  Ngài trực tiếp huấn luyện, bằng cách cho các môn đệ được nghe những lời Ngài giảng, được xem những việc Ngài làm.  Sau đó, Ngài sai các môn đệ ra đi thực tập truyền giáo.  Hai động từ “gọi, sai đi” diễn tả rõ rệt ơn gọi của các Tông đồ.  Trước khi các học trò lên đường, Chúa Giêsu căn dặn nhiều điều như là hành trang cần thiết cho sứ vụ tông đồ.  M. Quesnel ví những lời đó như “một loại thủ bản, một cẩm nang cho một nhà truyền giáo hoàn hảo” (“Comment lire un évangile?”, Seuil, trang 103).

*1) Hành trang người tông đồ                                                                           

 a)Hành trang đi đường: cây gậy, đôi dép, không mang hai áo.  Ý nghĩa ở đây là những kẻ được sai đi phải là những con người thanh thoát, không cồng kềnh nặng nề với của cải vật chất để có thể luôn sẵn sàng lên đường ra đi cho sứ vụ.

Các môn đệ được tham dự vào ba chức năng tư tế, tiên tri và vương đế của Chúa Giêsu.  Cây gậy của vương đế, đôi dép của tiên tri, và tấm áo của tư tế.

  • Cây gậy

Cây gậy trong tay biểu trưng cho sức mạnh của Thiên Chúa thông ban cho người thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng.  Ra đi với niềm tin vào năng quyền của Thiên Chúa trao ban: công bố Tin mừng cứu độ của Đức Kitô, chữa lành và thánh hoá nhằm cải thiện đời sống, xua trừ ma quỷ hầu chế ngự và đẩy lui các thế lực sự dữ.

  • Đôi dép

Đôi dép là hình ảnh luôn lên đường.  Truyền giáo là ra đi.  Đi để mang sứ điệp Tin mừng đến với muôn dân.  Sứ vụ sai đi khởi phát từ Chúa Cha “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.”

  • Tấm áo

Người ra đi mang áo là mặc lấy tâm tình Chúa Giêsu.  Nhờ đó, các môn đệ làm cho cuộc đời mình trở nên của lễ hiến dâng hợp với hiến lễ Chúa Kitô.

Chúa Giêsu trao cho các ông những quyền năng Ngài có: quyền rao giảng, quyền chữa bệnh, quyền trừ quỷ.  Đó là hành trang quan trọng hàng đầu.  Mọi hành trang khác chỉ là phụ thuộc: một chiếc áo đang mặc, một cây gậy và đôi dép khi đi đường.  Với những hành trang như thế, Chúa Giêsu muốn tỏ cho thấy sự thành công trong hoạt động tông đồ không do tài lực của con người nhưng là do quyền năng Thiên Chúa.

           b)Phương tiện sinh sống: không được mang lương thực, bao bị, tiền bạc. Hành trình như vậy đặt các người được sai đi trong tư thế tuỳ thuộc.  Không vướng víu, không “mọc rễ” bất cứ đâu để nhẹ nhàng ra đi nơi đâu Chúa muốn. 

          c)Tương lai bấp bênh.  Chúa Giêsu cũng không giấu diếm họ điều gì.  Con đường truyền giáo là con đường đầy chông gai, lắm gian khó.  Cũng như Ngài, họ đón nhận sự rủi ro bị từ chối, bị xua đuổi.  Cần phải hy sinh bản thân.  Đó là thân phận kẻ được gọi, được sai đi.  Ra đi mà không gì bảo đảm, ra đi mà không mảy may dính bén.  Sẵn sàng đến mà cũng sẵn sàng đi.  Thành công cũng không thụ hưởng, mà thất bại cũng chẳng đắng cay.  Bởi lẽ như lời Thánh phaolô nòi: Tôi trồng, Apollô tưới, Chúa cho mọc lên.

Người truyền giáo luôn bị cám dỗ định cư, tìm an toàn bảo đảm bản thân, an nghỉ trong những thành công tạm bợ… và không muốn ra đi.  Càng gắn bó, lúc cách xa càng luyến nhớ.  Sâu đậm bao nhiêu, lúc giã biệt sẽ nuối tiếc bấy nhiêu.  Vì vậy, Chúa muốn các môn đệ luôn sẵn sàng ra đi.  Lên đường bao giờ cũng đẹp.  Hạnh phúc chỉ dành cho ai dám lên đường tìm kiếm.

*2) Phương thức hoạt động: “từng hai người một”

Khi sai đi “từng hai người một,” Chúa Giêsu mong các ông hợp tác và liên đới với nhau, khích lệ và bàn hỏi nhau khi gặp khó khăn “Hai người có giá trị hơn một, nếu họ ngã, người này đỡ người kia dậy” (Gv 4,9).  Hai người làm việc chung, nâng đỡ nhau biểu lộ tình yêu thương nhau như một dấu chỉ đặc trưng của môn đệ của Chúa (x. Ga 13,35).  Dấu chỉ này là một chứng từ sống động và lôi cuốn người khác.

Trong Công vụ Tông đồ, các nhà truyền giáo thường lên đường với nhau “từng hai người một”: Phêrô đi với Gioan (Cv 3,1; 4,13); Phaolô với Banabê (Cv 1 3,2); Giuđa và Sila (Cv 15, 22)…  Hoạt động tông đồ luôn là tạo thành nhóm.  Nếp sống huynh đệ là một bài giảng về tình yêu.  Chứng tá Kitô hữu phải nhắm đến một hình thức cộng đoàn trong Giáo Hội.  Cuộc sống yêu thương trong cộng đoàn vừa là dấu hiệu của người môn đệ Chúa Giêsu, vừa là lời rao giảng sống động, hùng hồn nhất về Tin Mừng.

  • 3) Tinh thần tông đồ là ra đi

Trao “Sứ vụ” cho các môn đệ, Chúa Giêsu không bảo các ông “phải giảng điều gì.”  Ngài chỉ căn dặn các ông những chi tiết “phải sống.”  Đối với Chúa Giêsu, ra đi làm chứng tá bằng cuộc sống quan trọng hơn chứng tá bằng lời nói.

Suốt mấy năm ra mặt với đời để thi hành sứ vụ, Chúa Giêsu không ngừng đi rày đây mai đó.  Ngài luôn ngang dọc trên mọi nẻo đường đất nước để truyền giáo.  Từ hội đường này đến hội đường khác (Mt 4,23).  Đôi khi ở ngoài trời, ở ngoài đường.  Trên một sườn núi cũng có (Mt 5,1), bên một bờ hồ hiu quạnh cũng có (Mc 6,30-34).  Có khi “mệt mỏi vì đường sá,” một mình ngồi trên thành giếng nói chuyện với người phụ nữ đến kín nước (Ga 4,6).  Có lúc vì dân chúng chen lấn xung quanh đông đảo quá thì “Ngài mới lên một chiếc thuyền, thuyền của Simon và xin ông ấy chèo ra xa bờ một tí.  Ngài ngồi xuống rồi từ ngoài thuyền nói vào mà giảng dạy dân chúng” (Lc 5,3).  Chúa Giêsu thực hiện một cuộc hành trình liên miên.  Theo ngôn ngữ của Phúc âm Marcô chương 1: Ngài bỏ Nazareth để đến gặp Gioan bên sông Giođan, rồi đến Galilê, dọc theo bờ biển Galilê, và Ngài đi rao giảng trong các hội đường khắp xứ Galilê.  Trong chương 2: ít lâu sau, Ngài lại về Capharnaum… Ngài ngang qua đồng lúa … Cứ đi và đi như vậy mãi.

Chính giữa khung cảnh đường dài trời rộng thênh thang ấy mà lời giảng dạy của Chúa bao giờ cũng khởi hứng từ một hoàn cảnh cuộc sống.  Các hình ảnh cuộc sống đời thường gần gũi tràn ngập trong lời rao giảng.  Cánh huệ mọc ngoài đồng.  Đàn chim sẻ đang bay.  Một đám ruộng lúa chín vàng mở rộng đến chân trời.  Một mẻ cá lớn bên biển hồ.  Những hạt giống người nông phu gieo vương vãi trên đường mòn, giữa bụi gai, trên sỏi đá.  Một đàn cừu người chăn lùa về buổi chiều tối.  Từng tảng đá, từng hạt sạn người ta nhặt từ một đống muối để vất đi.  Từng con còng người đánh cá nhặt ra bỏ lại bên bờ sau một mẻ cá…

Việc thu thập môn đệ, Ngài cũng vừa đi, vừa gọi, vừa nhận…  Như các môn đệ đầu tiên (Mc 1,16-20).  Chúa Giêsu không dừng lại, yên nghỉ, hưởng thụ hay củng cố vị trí người ta dành sẵn cho mình.  Sau một ngày thành công rực rỡ ở Capharnaum chẳng hạn: “Sáng đến, Ngài ra đi vào nơi hoang vắng.  Dân chúng đi tìm Ngài và đến nơi Ngài, họ cố giữ Ngài lại, không để Ngài đi khỏi chỗ họ.  Nhưng Ngài bảo họ: Ta còn phải đem Tin mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa” (Lc 4,42-43).

Như thế, suốt đời Chúa Giêsu đã không hề có trụ sở, không hề có nhà thờ.  Ngài đi khắp mọi nẻo đường trên thế giới Ngài đang sống.

Chúa Giêsu bị bắt lúc đang cầu nguyện giữa vườn Giệtsêmani hoang vắng.  Bị điệu đến Hanna rồi Caipha.  Từ tòa đạo qua tòa đời.  Hết bị điệu đến dinh Philatô lại bị gửi qua dinh Hêrôđê, rồi bị đưa trả về cho Philatô.  Không đầy một ngày một đêm mà kẻ tử tù đã phải đi không biết bao nhiêu dặm đường trên con đường “công lý” của loài người.

Bị kết án thập hình.  Hai tay dang rộng, bị đóng đinh trên thập giá.  Tảng đá lấp cửa mồ (Mc 14,32 -15,47).  “Lính canh phòng cẩn mật, niêm phong tảng đá lại” (Mt 27,62-66).  Thế nhưng, Chúa Giêsu đã không dừng chân cả trong cái chết.  Ngày thứ ba Ngài sống lại, vượt cái chết qua sự sống bất diệt.  Sau khi phục sinh, Ngài cũng đi nhiều nơi, đến với với các môn đệ, củng cố lòng tin và sai họ ra đi loan báo Tin mừng.

Hoàn thành sứ mạng, “Ngài lên trời ngự bên hữu Chúa Cha” (Mc 16,19) và luôn đồng hành cùng Giáo hội “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).

Chúa Giêsu gọi các môn đệ và “thiết lập Nhóm Mười Hai” để họ ở với Ngài và để Ngài sai đi.  Giáo hội tiếp nối sứ vụ được sai đi, ra đi đến với muôn dân.  Ra đi là dấn thân đi đến gặp gỡ mọi người với tinh thần đơn sơ, từ bỏ và tự do, để loan báo tin vui và mang đến cho họ ơn cứu độ.

Cuộc đời người Kitô hữu cứ phải ra đi không ngơi nghỉ.  Ra khỏi cái cũ và đi tới cái mới.  Ra khỏi cái đang có để đi tới cái chưa có.  Ra khỏi cái mình đang là để đi tới cái mình phải là.  Như thế, hành trình xa xăm nhất lại chính là hành trình của con tim.

Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi.

Nhưng khó vì lòng người ngại núi e sông.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã ra đi từ trời cao xuống đất thấp, mang Tin mừng chiếu soi nhân trần.  Xin sai chúng con ra đi nhẹ nhàng và thanh thoát, không chút cậy dựa vào khả năng bản thân hay vào những phương tiện trần thế.  Xin Chúa giúp chúng con chỉ biết cậy dựa vào Chúa.  Chỉ mình Chúa là đủ cho chúng con.  Amen!

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

From: Langthangchieutim

MỘT CÁN BỘ CAO CẤP VỀ HƯU TRỞ LẠI ĐẠO

MỘT CÁN BỘ CAO CẤP VỀ HƯU TRỞ LẠI ĐẠO

(Trích từ hồi ký “Một linh mục trong ngục tù cộng sản’’)

LỜI DẪN: Hồi cha Phêrô Đinh Ngọc Quế phụ trách Hội Legio Mariae Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, các hội viên hoạt động rất nhiệt thành. Các anh chị em này đã dẫn đưa được nhiều người trở lại đạo, trong đó có một số cán bộ lớn bé đã về hưu. Trong hồi ký của mình, Cha Quế kể một số trường hợp là cán bộ to.

Tôi cũng xin nói thêm, chính các thành viên Hội Legio này là những chiến sĩ tiên phong của Chúa Kitô trong việc truyền giáo ở An Thới Đông. Nhờ các anh chị em này cũng như nhờ Cha Chân Tín và các anh em DCCT, một vùng chiến khu của cộng sản trước 75, từ đầu năm 1990, đã dần dần trở nên một họ đạo đông đảo và sinh động của huyện Cần Giờ, ngoại thành Sài Gòn.

***

Một ông cán bộ cao cấp, tren 40 năm tuổi đảng, nhờ anh chị em Legio kiên trì làm việc, đã trở lại đạo. Chính tôi được diễm phúc đến tận nhà Rửa Tội và Thêm Sức cho ông, hợp thức hóa hôn nhân cho ông, dâng Thánh Lễ Tạ Ơn để cho ông cùng gia đình được rước Mình Thánh Chúa. Khi rửa tội cho ông tôi hỏi: Cụ xin gì cùng Hội Thánh Chúa? Cụ thưa:

-Thưa “Đức Cha” , “Đức Cha” rửa tội cho tôi để tôi có sức phục vụ Chúa, Đảng và Nhà Nước.

Mọi nghi lễ được tiến hành tuần tự. Trước khi chính thức đổ nước Rửa Tội cho cụ, tôi, một lẫn nữa, lại hỏi ý muốn của cụ:

-Thưa Cụ, cụ có muốn cho tôi Rửa tội cho cụ không?

Ông cụ rất chững chạc nói lớn:

-Thưa “Đức Cha”, xin “Đức Cha” rửa tội cho tôi để tôi thêm sức phục vụ Chúa, Đảng và Nhà Nước.

Tôi đã đổ nước trên đầu cụ và Thêm Sức cho cụ, đã hợp thức hóa hôn nhân và dâng lễ Tạ Ơn để cụ rước lễ.

Mọi sự diễn biến tốt đẹp. Anh em Legio cùng với gia đình dọn một bữa tiệc nhỏ để mừng ông cụ. Vì sợ đang đau và sợ cụ mệt, nên gia đình định dọn cơm trên giường cho cụ. Nhưng lạ thay, cụ nhất định phải ăn cơm chung, đòi ngồi bên “Đức Cha” để tiếp “Đức Cha” mới được. Cụ nói, cụ cười, cụ đã trở nên như con trẻ. Tinh thần của cụ lúc này thật thoải mái vì cụ đã làm con của Chúa. Cụ cứ lặp đi lặp lại hoài: “Đời tôi chưa bao giờ hạnh phúc như ngày hôm nay. Cám ơn “Đức Cha”, cám ơn anh chị em. Anh chị em nhớ đến thăm tôi luôn nghe.”

Sau này tôi được biết, Rửa tội cho cụ rồi, cụ đổi hẳn tính tình. Trước kia hay gắt gỏng, chửi bới vợ con. Bắt vợ con phải cung phụng, không được thì đập phá. Chửi cả Đảng và Nhà Nước, vì đã cướp công của cụ. Bao nhiêu năm theo cách mạng, rất nhiều thành tích, nhưng giờ đây về hưu, già cả, bệnh tật, hàng tháng Nhà Nước chỉ cấp dưỡng cho mấy chục ngàn (VN). Nhưng bây giờ rửa tội xong, cụ trở nên hiền hòa, gia đình vui hẳn lên. Ai cũng tỏ ra quí mến cụ. Cám ơn Chúa về công việc Chúa đã làm!

(Lm. Phêrô Đinh Ngọc Quế, Hồi ký Một linh mục trong ngục tù cộng sản, trang 33-35. Trích đăng với sự ban phép của Cha Phêrô Bùi Quang Tuấn, Bề Trên Giám Phụ Tỉnh DCCT Hải Ngoại.)

***

LỜI BÀN: Ông cán bộ mà cha Quế kể ở đây có lẽ thuộc thế hệ những người đầu tiên ở VN theo cộng sản và thuộc loại cộng sản “chân chính.” Lớp người này về hưu hồi những năm 80-đầu 90 của thế kỷ trước, khi chế độ cộng sản chưa thành “tư bản đỏ” như hiện nay. Lớp cán bộ này phần lớn thường khá nghèo khi đương chức cũng như khi về hưu, vì thế ở Hà Nội hồi thập niên 80 mới có câu: “Đầu đường đại tá vá xe/ Cuối đường trung tá bán chè đỗ đen”.

Hồi tôi ở Hà Nội cuối những năm 80 tôi thường thấy khá đông các cán bộ này tụ tập ở bờ hồ Tây, khu vực cổng Đền Quan Thánh và nhất là cổng Chùa Trấn Quốc và hay được nghe họ kể chuyện xưa và chửi chế độ. Đây là câu vè tự thú tổng kết cuộc đời họ: “Ăn như tu. Ngủ như tù. Nói như lãnh tụ. Đến khi về già mới biết mình Ngu! Ngu! Ngu!”

Roma 08.07.2021

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Khải DCCT

Người Việt Đừng Để Bị “Con Ma Chủ Nghĩa Xã Hội” Tiếp Tục Hù Dọa Trên Nước Mỹ

Van Pham

Người Việt Đừng Để Bị “Con Ma Chủ Nghĩa Xã Hội” Tiếp Tục Hù Dọa Trên Nước Mỹ

Trên Youtube Hoang Bach Channel ngày 24/06/2021, bác sĩ Ngô Bá Định ở vùng Little Saigon có kể một câu chuyện vui về một chú bệnh nhân lớn tuổi, đã được anh cho thuốc uống ngừa sạn thận, nhờ vậy không phải đi bắn sỏi thận nữa. Sau khi cảm ơn bác sĩ, bệnh nhân này lại dặn dò thêm một câu (không có ăn nhập gì đến y khoa ráo trọi) rằng: “… nhưng mà bác sĩ à, tôi vẫn nghĩ rằng đảng Dân Chủ đang nhận tiền hối lộ của Trung Cộng, nó đang làm việc cho Trung Cộng đó nghe bác sĩ…”. Có lẽ chú bệnh nhân này thấy dạo gần đây Bác Sĩ Ngô Bá Định nghiêng về phía “Dân Chủ thổ tả” quá nên mới nhắc nhở vậy!

Thực ra chú bệnh nhân này không phải là người Việt ở Mỹ duy nhất vẫn bị “con ma chủ nghĩa xã hội” (CNXH) ám ảnh trên đất Mỹ, và cho rằng đảng Dân Chủ ở Mỹ đang chạy theo CNXH. Những lời tuyên truyền “nếu Biden làm tổng thống nước Mỹ sẽ lọt vào tay cộng sản” thường xuyên được nhắc tới trong mùa bầu cử 2020, cho dù nước Mỹ sau bao đời tổng thống Dân Chủ hay Cộng Hòa vẫn chưa bao giờ bị đổi tên thành… Cộng Hòa XHCN Hoa Kỳ!

Tại sao người Việt mình ở Mỹ vẫn sợ “con ma CNXH” đến thế, cho dù đã sống hằng chục năm trời ở xứ tư bản hùng mạnh nhất thế giới? Một phần vì hầu hết những người Việt tị nạn đều đã có những ký ức kinh hoàng với chế độ CSVN, những cơn ác mộng có khi sẽ theo ta đến cuối đời. Một phần vì kỹ thuật tuyên truyền của các chính trị gia đảng Cộng Hòa, lập đi lập lại điều này trong những mùa bầu cử, nghe nhiều quá cho nên có nhiều người tin rằng đó là sự thật.

Sự thật thì ra sao? Nhiều người Việt tị nạn- đặc biệt là những người thuộc thế hệ tị nạn thứ nhất, là nạn nhân trực tiếp của chế độ CSVN- chỉ biết có một loại CNXH thôi. Đó là thứ CNXH mà đảng CSVN du nhập từ cộng sản Liên Xô, cộng sản Tàu. Những đặc điểm chính của nó là:

– Tiêu diệt chủ nghĩa tư bản, triệt tiêu quyền tư hữu, triệt tiêu nền kinh tế thị trường.

– Chủ trương cướp chính quyền bằng bạo lực.

– Cai trị người dân trong nước bằng chế độ độc tài toàn trị, tước đi hầu hết các quyền tự do căn bản của con người.

Thứ CNXH này hỏi ai mà không sợ? Và nước Mỹ từ hồi chiến tranh lạnh đến nay đã dẫn đầu thế giới tự do để chống lại thứ quái thai của lịch sử nhân loại này. Đến ngày hôm nay, thứ CNXH này đã biến mất ở Nga và Đông Âu.

Những nước còn rêu rao là theo CNXH như Trung Cộng và Việt Nam thì đã lặng lẽ bỏ chủ trương tiêu diệt tư bản, và chính quyền của họ đã biến thành những tập đoàn tư bản đỏ. Riêng CSVN còn đẻ ra một thứ quái thai mới: nền kinh tế thị trường định hướng…CNXH!!! Họ chỉ còn giữ lại chế độ độc tài để dễ dàng cai trị người dân, chứ còn tiền tư bản thì không chê!

Vì thế, khi các chính khách Cộng Hòa tìm cách tuyên truyền trong cộng đồng gốc Việt, họ đã cố tình đồng hóa đảng Dân Chủ với thứ CNXH theo kiểu này. Họ cũng biết điều này là không đúng, nhưng vẫn cứ nói vì vẫn có nhiều người tin.

Kỳ thực, khi các chính khách của cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ tranh cãi với nhau về chuyện “Mỹ có nên hay không nên theo CNXH”, đó là một thứ khái niện CNXH hoàn toàn khác. Trong khoảng vài năm gần đây, giới truyền thông của Mỹ đã giải thích lại rất nhiều về 2 khái niệm gọi là “xã hội dân chủ” (social democracy), hay “dân chủ xã hội” (democracy socialism). Nói một cách vắn tắt dễ hiểu, 2 mô hình xã hội dân chủ này có những đặc điểm:

– Không chủ trương tiêu diệt tư bản, mà vẫn xem tư bản là nền móng cho một xã hội giàu có thịnh vượng. Tôn trọng nguyên tắc thị trường tự do.

– Đặt giá trị xã hội dân chủ lên hàng đầu, tuyệt đối không ủng hộ cách cai trị chuyên chế độc tài. Chế độ đa đảng, tam quyền phân lập của nước Mỹ cho đến nay vẫn là một mẫu mực cho nền dân chủ thế giới.

– Chủ trương giảm bớt bất bình đẳng xã hội, giảm khoảng cách giàu nghèo trong xã hội Mỹ. Một trong những phương cách thường sử dụng đó là đánh thêm thuế của người giàu có để tăng cường an sinh xã hội cho người nghèo. Đây chính là chủ đề tranh cãi hầu như bất tận giữa hai đảng, nhưng đó cũng chính là điểm son của chế độ đa đảng luôn tạo thế quân bình chính trị.

– Chủ trương chính quyền nên có trách nhiệm trong việc tạo ra một hệ thống an sinh xã hội rộng hơn cho toàn dân Mỹ, thí dụ như bảo hiểm y tế toàn dân, nên có một nền giáo dục miễn phí từ cấp nhà trẻ đến đại học cộng đồng (điều mà chính phủ Biden đang nỗ lực để đạt được) …

Tất nhiên, không có mô hình nào là hoàn chỉnh, cho nên người Mỹ có kẻ ủng hộ, người chống. Trở lại với cộng đồng gốc Việt, nếu biết mô hình xã hội dân chủ ở Mỹ mà đảng Dân Chủ đang theo đuổi là như vậy, liệu chúng ta có còn sợ hãi nó như thứ CNXH của Việt Nam, của Trung Cộng hay không?

Thí dụ cụ thể hơn, nhiều nước Bắc Âu như Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch… đã theo mô hình xã hội dân chủ này từ lâu. Có thể quốc gia của họ không giàu mạnh như Mỹ, nhưng người dân xứ nào sống sướng hơn, đỡ căng thẳng lo lắng hơn thì chưa chắc ai hơn ai. Người dân ở những xứ này có mời họ sang định cư ở Mỹ chưa chắc họ nhận lời! Ngược lại, những người Mỹ có tinh thần khởi nghiệp, thích tìm kiếm cơ hội để làm giàu cũng chưa chắc đã thích sống ở các xứ sở quá êm ả này.

Cộng đồng gốc Việt có thể tự chọn lập trường có nên ủng hộ mô hình xã hội dân chủ kiếu đó hay không. Cách đơn giản nhất để lựa chọn đó là xem các chính sách đó có đem lại lợi ích cho mình, cho gia đình mình, cho cộng đồng mình hay không.

Còn chuyện thực hiện nó như thế nào thì hãy để cho các chuyên gia kinh tế, chính trị bàn cãi. Không có lựa chọn nào là hoàn toàn đúng, hoàn toàn sai. Nhưng đừng để cho các chính trị gia ảnh hưởng đến quyết định của mình bằng cách hù dọa với những nỗi sợ hãi trong quá khứ, không có thực trong hiện tại.

Nếu hiểu được như vậy, thì chú bệnh nhân của Bác Sĩ Ngô Bá Định có thể sẽ nói với các chính trị gia rằng: “tui có quyền lựa chọn đảng Cộng Hòa, hay đảng Dân Chủ tùy theo quyền lợi của tui. Nhưng xin đừng đem con ma CHXH ra hù dọa tui nữa. Xưa rồi Diễm…”

Ông Sáu Mù – Tưởng Năng Tiến

Ông Sáu Mù

Tưởng Năng Tiến

Đôi lúc, tôi vẫn nghe các bạn đồng hương (và đồng thời) than thở: “Bọn trẻ ở Hoa Kỳ không mấy đứa biết tôn kính người già.” Có vị còn chua chát thêm: “ Bây giờ thì đâu mà chả thế, chứ nào có riêng chi

Những câu càm ràm (thượng dẫn) hay khiến tôi nhớ đến ông Sáu Mù, một ngư dân sống hồi cuối thế kỷ trước tại xóm chài Lâm Quang Ky – Rạch Giá. Ông Sáu, thực ra, cũng chưa hẳn đã đui nhưng vì đôi mắt kèm nhèm và có cái tật hay nhíu mày nên bị chết cái tên (“mù”) cũng hơi oan chút xíu.

Sau bữa trưa khề khà chừng hơn xị rượu, rồi đánh một giấc thật đẫy đà, chiều vừa nhạt nắng là Sáu Mù lần dò ra đứng hồi lâu trước nhà sàn. Đây là giây phút nghiêm trang nhất trong ngày nên cả xóm đều lặng im, chăm chú theo dõi nhất cử nhất động của ông. Sáu Mù nghiêng tai nghe ngóng, trầm ngâm hít hà gió biển (chập lâu) rồi mới cùng đám con lục tục xuống ghe, sau khi ông đã định được hướng xuất hành. Mọi người chỉ chờ có thế là cùng loạt nổ máy, hớn hở theo sau.

Dân xóm chài Lâm Quang Ky làm nghề tùy theo thời vụ: lưới kến, lưới năm, câu bờ, câu khơi … nhưng thường thì họ hay đi ủi xịp (hoặc còn gọi là ủi xệp) vì biển Rạch Giá cạn và lắm bùn nên tôm tép vô số. Rọi đèn xuống nước, giữa đêm đen, sẽ thấy mắt tôm đỏ lừ và dầy đặc. Không mặc quần đùi hay quần sịp mà nhẩy đại xuống nước là dám bị chúng búng tới … xước da cu luôn!

Đi xịp một đêm, xúc vài cần xé đầy vun (tôm chì, tôm thẻ, tôm nghệ …) không khó. Tuy thế, biển cả bốn phương/tám hướng, phải biết chỗ mà ủi thì mới có ăn. Chớ chạy lạng quạng trật hướng thì kể như là trớt quớt, chỉ kiếm được đôi ba chục ký là cùng. Lỗ tiền dầu là cái chắc. 

Không biết nhờ vào thính giác hay khứu giác (hoặc cả hai) mà ông Sáu “cảm” được hướng đi và nơi quần tụ của tôm cá. Kinh nghiệm quí giá này giúp cho cả xóm ăn nên làm ra nên ông rất được vị nể và kính trọng, dù là người khuyết tật.

Sáu Mù là hình ảnh rơi rớt, hiếm hoi của một già làng thuộc Thời Trung Cổ. Cái thời mà kiến thức của nhân loại chỉ có thể lưu lại cho hậu thế qua truyền khẩu, hoặc bằng kinh nghiệm sống thực thôi.

Đêm trường Trung Cổ đã qua. Người như Sáu Mù nay chả còn vai trò gì nữa. Với cái smartphone, ai cũng có thể tiếp cận tin tức khí tượng và dự báo thời tiết từ bất cứ nơi đâu, vào bất kể lúc nào. Tất cả ngành nghề cũng đều có thể học hỏi online, và gần như mọi câu hỏi đều có lời giải đáp qua google hết trọi.

Ở Thời Đại Thông Tin, phần lớn, những công dân lão hạng đều vô dụng và trở thành gánh nặng cho xã hội nên họ mất đi sự tôn kính là lẽ thường tình – nếu chưa muốn nói là chuyện tất nhiên. Tôi rất biết thân biết phận của mình (một anh già nát rượu & hoàn toàn vô tích sự) nên chưa bao giờ dám lớn tiếng than thân, hay than van gì ráo.

Lẩm bẩm hoặc lầu bầu (nho nhỏ, lí nhí) cũng không luôn. Chả những thế tôi còn cảm thấy là mình biết ơn rất nhiều người, nhất là lớp hậu sinh vì nhờ họ nên mới có dịp được học hỏi thêm nhiều điều mới mẻ.

Xin đan cử đôi ba trường hợp …

Ngày 4 tháng 6 vừa qua, FB Teresa Trần Kiều Ngọc đã nhắc đến một hiện tượng tâm lý khá lạ (Imposter Syndrome – Hội Chứng Giả Mạo) không thường thấy trong những cộng đồng người Việt: “Tự vấn, hoài nghi chính mình, không phải là điều hoàn toàn xấu hay tiêu cực. Nó giúp cho chúng ta khiêm tốn, biết được giới hạn để không trở nên tự mê, tự kiêu, tự đại. Ngoài kia còn nhiều người tài giỏi hơn mình rất nhiều. Thế giới là một biển học vô bờ. Bằng sự chính trực và khiêm cung, dù nhỏ nhoi đến đâu thì mỗi người trong chúng ta vẫn đều có thể là người hữu ích cho việc chung.”

Bên dưới status thượng dẫn là phản hồi của FB Viet Beat, đề cập đến một hiện tượng tâm lý khác, cũng rất đáng quan tâm: “Imposter syndrome dành cho người khiêm cung, hiểu được giới hạn của mình nhưng rất tiếc bây giờ một số người Việt lại bị hội chứng nghịch, hiệu ứng Dunning-Kruger, quá tự tin và cao ngạo về điều (không) biết của mình…”

Tôi cũng có đọc qua loa về hiệu ứng Dunning-Kruger (Unskilled and unaware of it: how difficulties in recognizing one’s own incompetence lead to inflated self-assessments) của hai nhà tâm ý học J. Kruger và D. David nhưng lười tìm hiểu thêm vì không quan tâm mấy.

Cứ tưởng rằng giữ thể diện (sợ mất mặt – save face) là tâm lý chung của đám đông. Trong giao tiếp hằng ngày, thiên hạ có khuynh hướng tự nâng (trình độ học vấn, lương bổng, gia cảnh, gia thế, tài sản …) mình cao hơn lên chút xíu là chuyện khá bình thường, và cũng chả gây thiệt hại hay phiền phức gì cho bất cứ ai cả. Nổ chơi (cho đã miệng) chút xíu thôi mà.

Tuy nhiên, sau khi xem lại cách đặt vấn đề của Trần Kiều Ngọc và Viet Beat về hai hiện tượng tâm lý tương phản (thượng dẫn) thì nhận thức của tôi có hơi đổi khác. Một cá nhân hợm mình, tự cao, tự đại, ba hoa, khoác lác, nói thánh, nói tướng …  thường  chỉ có thể làm cho một số ít người sống gần khó chịu và tìm cách tránh xa thôi.

Còn một tập thể mắc chứng hợm hĩnh, huyênh hoang, ngạo mạn (như thiên hạ hay nói đến bệnh kiêu ngạo cộng sản, chả hạn) mà lại đang nắm vai trò điều hành cả một quốc gia thì e là đại họa.

Hãy thử nghe dăm bẩy câu nói của giới lãnh đạo Việt Nam để thấy sự ngông cuồng và điên loạn của đám người này :

  • Vũ Đức Đam: “Tất cả cuộc sống người Việt Nam ta hôm nay là niềm mơ ước của nhiều nước.”
  • Nguyễn Mạnh Hùng: “Việt Nam có thể đi đầu cách mạng công nghiệp 4.0.
  •  Lê Minh Hưng: “Toàn cầu bất ổn nhưng Việt Nam rất ổn.”
  • Nguyễn Xuân Phúc: “Niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng chưa bao giờ lớn và sâu sắc như lúc này.”
  • Nguyễn Phú Trọng: “Không có một lực lượng nào khác ngoài ĐCSVN có đủ bản lĩnh, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn.”
  • Võ Văn Thưởng: “Nhiều nước coi Việt Nam là mô hình phát triển để học tập.”
  • Nguyễn Chí Vịnh: “Bộ đội ta có những kỹ năng đặc biệt khiến Liên Hợp Quốc khâm phục.”
  • Phan Quốc Việt: “Có 20 quốc gia đang đàm phán mua bộ sinh phẩm kít xét nghiệm virus corona chủng mới của Việt Nam.”

Mức độ tự huyễn của những lời phát ngôn dẫn thượng khiến tôi nhớ đến lời than phiền, nghe được từ hồi cuối thế kỷ trước, của ông Hà Sỹ Phu: “Đảng cộng sản Việt Nam như người đi đường không biết dùng bản đồ. Thỉnh thoảng lại sa xuống hố. Lóp ngóp bò lên được thì hô vang thắng lợi. Cứ thế, Ðảng ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.”

Với thời gian thì cái tần suất “sa xuống hố” mỗi lúc một thêm đều đặn (và toàn là hố thẳm: Vinashin, Vinalines, Bauxit, Vũng Áng, Vĩnh Tân, Duyên Hải, Formosa, rồi đến những Khu Tự Trị …) cứ như thể là cả Đảng đã bị đui hết trơn rồi vậy.

Sự tăm tối của giới cầm quyền ở Việt Nam hiện nay cũng khiến tôi nhớ đến ông Sáu Mù, ở xóm chài Lâm Quang Ky, với hơi nhiều nuối tiếc.

Tưởng Năng Tiến
7/2021

Mẹ Nhặt

 Mẹ Nhặt

Năng lượng tích cực trong những ngày đầy mây xám.

Trong hình là ông cụ Đinh Tiên Sinh (63 tuổi), bên cạnh là bà Nguyễn Thị So (88 tuổi), do ông “nhặt” về làm mẹ.

Câu chuyện dễ thương này bắt đầu khi ông Sinh và vợ là bà Lan (58 tuổi) từ nhỏ đã mồ côi cha mẹ. Hai vợ chồng ông Sinh không họ hàng thân thích, sống rày đây mai đó, ngủ nhờ hiên nhà hàng xóm, sau này thuê được căn phòng trọ 9m vuông. Năm 2010, ông theo xe phụ gom rác dân lập cho một người quen ở Quận 3. Mỗi ngày đi làm đều ngang chợ Bà Chiều, ông để ý thấy cụ bà 80 tuổi đi khắp chợ bán vé số mưu sinh. Thấy thương nên ngày nào ông cũng mua một tờ ủng hộ.

Một tối giữa năm 2012, ông Sinh gặp bà cụ đang gối đầu trên túi xách, nằm co ro trong chợ. Ông thương, đến hỏi thăm thì biết bà không có gia đình, không con cháu, sống lang thang. Ông Sinh về bàn với vợ, mong muốn rước bà So về phụng dưỡng để bà có chỗ ngủ đàng hoàng.

“Vợ tôi gật đầu đồng ý. Vậy mà năn nỉ cả tháng, bà mới chịu theo chúng tôi về. Ban đầu còn xưng hô khách sáo nhưng được ít hôm, tôi nói: Bà làm mẹ tụi con nha! Bà gật đầu. Vậy là sau mấy chục năm không còn mẹ, vợ chồng tôi lần nữa lại có mẹ” – ông Sinh xúc động kể lại.

“Mấy chục năm rồi mới kêu lại tiếng mẹ, tôi vừa mừng vừa ngượng. Mẹ tôi cũng vậy, bỗng dưng có con nên phải mất một thời gian hai bên mới quen nhau. Nhà này mẹ làm chủ hộ, lúc chở mẹ lên phường làm hộ khẩu, để tiện, tôi khai nguyên quán ở Tây Ninh cho giống mẹ. Từ ngày có hộ khẩu, mỗi tháng mẹ được lãnh 380.000 đồng tiền cho người cao tuổi, lại được cấp BHYT miễn phí” – ông Sinh kể.

Phòng trọ nhỏ của gia đình ông Sinh thường rộn ràng sau 12 giờ, lúc mẹ ông bán vé số về. Đơn giản chỉ là những câu hỏi han “Mẹ bán hết không?”, “Mẹ ăn cơm chưa?”, ai nghe thấy cũng rưng rưng thương.

Ba tháng trước, giữa những ngày dịch bệnh bùng phát, thương mẹ nghỉ bán ở nhà cả ngày nằm trên gác phải hứng chịu nắng nóng, ông Sinh ra cửa hàng điện máy mua trả góp một cái quạt hơi nước đặt trên gác cho mẹ.

Tám năm về đây, bà vẫn đi bán vé số, vẫn mua cơm hộp theo thói quen dù vợ chồng ông năn nỉ đủ cách. “Tiệm cơm đó mẹ quen mấy chục năm rồi. Bán vé số đi đây đi đó là niềm vui, nằm ở nhà chỉ sinh bệnh, cứ để mẹ đi” – nghe bà nói có lý nên vợ chồng ông không áy náy như trước. Chỉ khác, ông xin mẹ mỗi sáng được chở bà ra chợ Bà Chiểu thay vì đi xe buýt, để rồi khi gặp người quen ông lại khoe: “Mẹ tôi đó”.

Cre: Nguyễn Ngọc Thạch

May be an image of 2 people, people sitting and indoor