Nhân dân Cuba đứng lên vì tự do

Nhân dân Cuba đứng lên vì tự do

Bởi  AdminTD

 Trần Trung Đạo

12-7-2021

Ảnh trên mạng

Hôm nay, hầu hết các hãng tin quốc tế đồng loạt đưa tin tức, hình ảnh và phim về các cuộc biểu tình tại nhiều nơi của nhân dân Cuba chống chế độ CS vì tự do. Những khẩu hiệu “Đả Đảo Độc Tài”, “Đả Đảo Cộng Sản”, “Tự Do!” được hô vang trên đường phố Havana và các thành phố lớn.

Cuba là một trong năm nước CS còn sót lại của thời Chiến Tranh Lạnh và chịu đựng dưới chế độ độc tài suốt 62 năm từ khi Fidel Castro và Che Guevara chiếm Cuba vào tháng Giêng, 1959. Các nước CS tàn dư khác là Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Bắc Hàn.

Nhắc lại lịch sử. Phong trào nổi dậy chống chế độ tham nhũng Fulgencio Batista đầu tiên là Phong Trào 26 Tháng Bảy (Movimiento 26 de Julio) 1953. Thoạt đầu phong trào thu hút được một số đông nông dân bất mãn với các chính sách sản xuất và thu mua mía, sản phẩm chính của nông nghiệp Cuba, và chính quyền vi hiến của Batista. Fulgencio Batista bị lật đổ và trốn sang Mỹ. Ông ta qua đời 26 tháng 8, 1973 tại Guadalmina, Spain.

Nhưng sau khi lật đổ Fulgencio Batista, Fidel Castro và Che Guevara thay vì tiến hành các cải cách kinh tế và mở rộng tự do chính trị như đã hứa, lại rập theo mô hình chính trị chuyên chế và kinh tế tập trung của các nước CS thuộc khối Đông Âu.

Fidel Castro quốc hữu hóa toàn bộ nền kinh tế trong đó 40% đường mía, 90% nguyên liệu là vốn đầu tư của các công ty Mỹ. Đảng CS Cuba chính thức ra đời ngày 3 tháng 10, 1965 và là nước CS đầu tiên tại Châu Mỹ.

Ngày 19 tháng 10, 1960, TT Dwight D. Eisenhower trừng phạt Cuba bằng cách ra lệnh cấm vận các hàng hóa Mỹ xuất cảng sang Cuba ngoại trừ y tế. Tháng 2, 1962, TT John F. Kennedy ra lịnh cấm vận các sản phẩm Cuba nhập vào Mỹ.

Qua các thời kỳ tổng thống Mỹ từ Eisenhower đến nay, quan hệ giữa Mỹ và Cuba có khi nóng khi lạnh, khi nới lỏng khi siết chặt, nhưng các điểm trọng tâm trong chính sách cấm vận của Mỹ đối với Cuba vẫn không thay đổi.

Chính sách cấm vận đối với Cuba chi phối bởi nhiều đạo luật như Trading with the Enemy Act 1917, Foreign Assistance Act nên muốn hủy bỏ phải được Quốc Hội Hoa Kỳ phê chuẩn và cho đến nay Quốc Hội chưa thông qua một đạo luật nào nhằm hủy bỏ cấm vận đối với Cuba.

“Cuba Archive”, một đề án phi lợi nhuận phục vụ nhân quyền tai Cuba đã tổng kết được danh sách của 8.200 người bị mất tích dưới chế độ Castro và đề án này hiện đang tiếp tục được tổng kết. Tiến sĩ Lago, thuộc đại học Havard, dựa theo các báo cáo của lực lượng tuần dương Mỹ đã ước lượng số người dân Cuba chết trên đường vượt biển là 77 ngàn. Sách Đen về Chủ Nghĩa Cộng Sản (The Black Book of Communism) ước lượng khoảng 15.000 đến 17.000 người Cuba bị xử tử dưới chế độ CS.

Nhiều người chết trên đường vượt biển, không nằm trong danh sách đó, là do trực thăng của công an Cuba thả bao cát đánh chìm bè, bắn thẳng xuống bè, ra lịnh tàu hải quân Cuba tông vào những chiếc bè mong manh. Trường hợp tàn sát “The Canimar River” hay “Tugboat massacre of 1994” trong đó nhiều trẻ em bị giết được ghi nhận nhưng vô số trường hợp khác vẫn chưa được biết đến, ít nhất cho đến ngày chế độ CS Cuba sụp đổ.

Nhưng sự chịu đựng nào cũng có giới hạn. Hôm qua, nhiều ngàn dân của thành phố San Antonio de los Baños đã xuống đường biểu tình chống chế độ CS. Dân chúng thủ đô Havana hưởng ứng và cũng đã xuống đường.

Theo hãng tin Reuters, đây là cuộc biểu tình chống chế độ lớn nhất kể từ khi Fidel Castro cướp chính quyền năm 1959 tới nay.

Các phương pháp sai lầm và chậm chạp mà chế độ CS áp dụng để giải quyết nạn dịch là giọt nước tràn ly dẫn tới cuộc bùng nổ hiện nay. Riêng ngày Chủ Nhật 11 tháng 7, đã có 6.923 người bị dương tính Covid-19 và 47 người, gấp đôi tuần trước, bị chết.

Đời sống của những người thuộc giới tiểu thương, những người làm ngày nào ăn ngày đó, các nghề nghiệp phụ thuộc vào sinh hoạt đường phố, chợ búa đều không có một lối thoát nào cho số phận vốn nghèo nàn của họ.

Trả lời phóng viên hãng Reuters, bà Miranda Lazara, 53 tuổi, một giáo viên, cho biết “Chúng tôi đang trải qua những giai đoạn vô cùng khó khăn. Hệ thống cần phải được thay đổi.”

Dù họ Castro từng gắn liền với chế độ độc tài CS Cuba không còn nhưng bộ máy vẫn còn nguyên như thời Fidel Castro và sau đó Raul Castro nắm quyền cai trị.

Miguel Díaz-Canel, chủ tịch Cuba kiêm Bí thư Thứ Nhất đảng CS Cuba từ 2019, trong diễn văn ngày hôm qua Chủ Nhật 11 tháng 7, vẫn với giọng điệu tuyên truyền cố hữu, đổ lỗi những khó khăn và bất ổn cho Mỹ.

Theo lãnh tụ CS này, một một số không nhỏ trong những người đang xuống đường là do Mỹ “xúi giục”. Nhiều người biểu tình đã bị an ninh thường phục bắt và hiện chưa ai biết số phận họ ra sao. Theo tin của hãng AP, cảnh sát đã xịt hơi cay vào đoàn người kể cả các phóng viên ngoại quốc đang theo dõi cuộc biểu tình.

Tương tự như các cuộc biểu tình Mùa Xuân Á Rập (Arab Spring) năm 2011 hay các cuộc biểu tình đòi đẩy bật Ali Khamenei tại Iran 2018, những người tổ chức đã vận dụng tối đa các phương tiện tin học. Các tín hiệu, hình ảnh được gởi đi qua các mạng xã hội. Các “lãnh tụ không chân dung” xuất hiện. Một phong trào không người lãnh đạo được hình thành. Ý chí tập thể trở thành nguyên tắc sinh hoạt và thay đổi hệ thống cai trị là mục tiêu chung mà đại đa số trong 11 triệu dân của đảo quốc Cuba đang tiến hành.

Díaz-Canel, chủ tịch Cuba, kêu gọi các đảng viên CS và các thành phần ủng hộ giới cai trị CS, xuống đường để “bảo vệ cách mạng” đúng ra là “bảo vệ quyền lợi” của giới cán bộ, đảng viên có đặc quyền trong xã hội.

Tuy nhiên Díaz-Canel quên rằng Nicolae Ceaușescu cũng đã từng làm vậy khi tổ chức cuộc mít-tinh ủng hộ mình ngày 21 tháng 12, 1989 và kết quả là hai vợ chồng bị chính các đồng chí từng thề thốt trung thành xử bắn bốn ngày sau đó.

Bài học các cuộc cách mạng dân chủ đã diễn ra tại Mông Cổ hay Hungary cho thấy đây là thời điểm của chọn lựa, không chỉ chọn lựa của người dân đang xuống đường mà còn là chọn lựa của những người lính, những người đang do dự và cả những người nằm trong giới cầm quyền. Nếu thành phần yêu tự do hay nghiêng về phía tự do tạo nên áp lực đủ mạnh, đất nước Cuba sẽ thay đổi.

Phong trào dân chủ Cuba hiện nay không phải tự nhiên bộc phát mà ngọn lửa tự do đã âm ỉ cháy từ nhiều năm trước.

Các tổ chức như Ladies in White được giải nhân quyền Sakharov 2005, Đề án Varela (Varela Project) thu thập hơn 10 ngàn chữ ký đòi hỏi tự do nhân quyền, xương máu của rất nhiều người Cuba chết trong ngục tù CS là những viên gạch lót đường cho nền dân chủ Cuba sau này.

Không có sự hy sinh nào cho tương lai con cháu là hy sinh oan uổng.

Thời gian ngắn tới đây sẽ là thời gian thử thách cho dân tộc Cuba và tương lai đất nước này. Nhưng dù kết quả ra sao, các cuộc biểu tình hôm qua và sắp tới nhắc cho giới cai trị CS một chân lý ngàn đời rằng mọi chế độ độc tài đi ngược với quyền sống của con người sớm hay muộn đều phải sụp đổ.

Bộ Thông tin-Truyền thông tính siết chặt hơn nữa việc quản lý mạng xã hội

VOA Tiếng Việt 

 Việt Nam đang nhắm đến siết chặt hơn nữa việc quản lý thông tin trên mạng internet, đặc biệt là hoạt động tường thuật hoặc diễn thuyết trực tiếp trên mạng xã hội thường được gọi là livestream.

Bộ Thông tin-Truyền thông của Việt Nam, cũng được nhiều người trong nước gọi tắt là Bộ 4T, vừa công bố một dự thảo nghị định sửa đổi, bổ sung cho Nghị định 72 hiện hành về quản lý internet.

Theo tìm hiểu của VOA, bản dự thảo dài 184 trang có điều khoản quy định rằng những chủ trang web cung cấp thông tin của nước ngoài mà có người sử dụng tại Việt Nam hoặc có truy cập từ Việt Nam “cần tuân thủ các quy định của pháp luật liên quan của Việt Nam”.

Các trang web nước ngoài có 100.000 người trở lên ở Việt Nam truy cập thường xuyên trong 1 tháng phải thực hiện một số nghĩa vụ bao gồm “ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin, dịch vụ vi phạm pháp luật theo yêu cầu của Bộ Thông tin và Truyền thông” cũng như phải “lưu trữ dữ liệu và thành lập chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam” theo Luật An ninh mạng, bản dự thảo viết.

Vẫn theo bản dự thảo, các nhà cung cấp mạng xã hội nước ngoài như Facebook, YouTube, TikTok chỉ cho phép các tài khoản, các trang cộng đồng, các kênh có từ 10.000 người theo dõi trở lên ở Việt Nam được phát livestream và tham gia các dịch vụ có phát sinh doanh thu khi các tài khoản, các trang, các kênh đó đã cung cấp thông tin liên hệ với Bộ Thông tin và Truyền thông.

Theo quan sát của VOA, đây là điều đang gây chú ý trong dư luận do nó đặt ra các quy định khó khăn hơn đối với việc livestream hoặc bán hàng, kiếm tiền thông qua mạng xã hội.

Theo con số do Bộ 4T công bố, được các báo trong nước dẫn lại, các mạng xã hội nước ngoài đang độc chiếm lượng người dùng đông đảo ở Việt Nam, đứng đầu là Facebook với khoảng 65 triệu tài khoản, YouTube với khoảng 60 triệu và TikTok khoảng 20 triệu.

Trang VNExpress dẫn lại lời của Bộ 4T đưa ra nhận xét rằng kể từ năm 2013 đến nay các loại hình báo chí ở Việt Nam không còn giữ vị trí độc tôn, và người dùng đã dần chuyển sang các mạng xã hội như Facebook, Youtube, TikTok, Twitter, Instagram để phục vụ các nhu cầu giải trí, mua sắm.

Bộ 4T cho rằng trong thời gian qua “nhiều cá nhân, tổ chức lợi dụng mạng xã hội để hoạt động báo chí, tổ chức phát trực tuyến (livestream) để cung cấp thông tin sai sự thật, xúc phạm uy tín, nhân phẩm tổ chức, cá nhân khác và thông tin, dịch vụ vi phạm pháp luật”, và vì vậy Nghị định 72 hiện hành cần được sửa đổi, bổ sung.

https://www.voatiengviet.com/…/bo-thong…/5962578.html

Bộ Thông tin-Truyền thông tính siết chặt hơn nữa việc quản lý mạng xã hội

VOATIENGVIET.COM

Bộ Thông tin-Truyền thông tính siết chặt hơn nữa việc quản lý mạng xã hội

Việt Nam đang nhắm đến siết chặt hơn nữa việc quản lý thông tin trên mạng internet, đặc biệt là hoạt động tường thuật hoặc diễn thuyết trực tiếp trên mạng xã hội thường được gọi là livestream.

Kỷ lục buồn: Việt Nam có 2.367 ca chỉ trong vòng ngày 12-7

 Đài Á Châu Tự Do 

Kỷ lục buồn: Việt Nam có 2.367 ca chỉ trong vòng ngày 12-7

Số ca nhiễm trong nước Việt Nam lần đầu tiên vượt ngưỡng 2.000 ca dương tính trong cộng đồng chỉ trong một ngày.

Số ca dương tính với COVID-19 được Bộ Y tế công bố vào tối 12-7-2021 là 2.367 ca, nhiều hơn một ngày trước đó 422 ca.

Trong đó, chỉ riêng thành phố Hồ Chí Minh chiếm đến 75% số ca nhiễm (1.764 ca), nâng tổng số người mắc ở trung tâm kinh tế lớn nhất nước là 14.776 ca.

Bình Dương có số ca nhiễm nhiều thứ hai trong ngày với 128 ca.

Bình Dương là nơi đặt rất nhiều nhà máy công nghiệp có số ca dương tính hiện giờ là 1.628 ca, chỉ thua Bắc Ninh 1.694 ca và Bắc Giang 5.691 ca.

Tính cả đầu dịch, quốc gia Đông Nam Á này đã vượt con số 30.000 ca nhiễm, con số mà Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam từng tuyên bố đã chuẩn bị kịch bản và phương án đối phó với tình huống này.

Bản tin Bộ Y tế cho biết, các ca dương tính phát hiện mới ở các tỉnh thành khác như: Tiền Giang (118), Đồng Nai (82), Khánh Hoà (58), Đồng Tháp (40), Phú Yên (30), Hà Nội (29), Vĩnh Long (26), Đà Nẵng (14), An Giang (11), Bình Phước (8 ), Trà Vinh (8 ), Hậu Giang (8 ), Bắc Giang (7), Hưng Yên (7), Quảng Ngãi (7), Sóc Trăng (5), Bắc Ninh (4), Tây Ninh (3), Bạc Liêu (2), Thanh Hóa (2), Nam Định (2), Huế (1), Nghệ An (1), Vĩnh Phúc (1), Đắk Nông (1).

#RFAVietnamese #TinRFA #Vietnam #ThuDuc #TPHCM #HCMC #HCMCity

May be an image of text that says '2 367 ca dương tính TpHcm RFA 1764 ca dương tính tháng 7 12'

Văn Hoá Nịnh

Văn Hoá Nịnh

Tưởng Năng Tiến

Ngày 7 tháng 8 năm 2015, NCS Nguyễn Thị Thanh Huệ bảo vệ thành công luận án Hành Vi Nịnh Trong tiếng Việt”. Sự kiện này đã gây ra không ít ngộ nhận và điều tiếng eo sèo (đáng tiếc) khiến GS. TS Nguyễn Văn Hiệp, Viện Trưởng Viện Ngôn Ngữ Học Việt Nam, phải lên tiếng:

“Không nên đáng giá nịnh theo nghĩa dung tục… Nghiên cứu về tội phạm không phải là để cổ vũ tội phạm, mà là để ngăn ngừa. Nghiên cứu về nịnh là để chúng ta biết thế nào là nịnh để tránh xa. Việc đó rất tốt, không nên quy chụp nịnh có gì mà nghiên cứu. Đây là luận án khá hay, có tác động thực tiễn lớn đối với xã hội, tôi đang khuyến khích tác giả công bố nghiên cứu này thành sách.”

Lời khuyến khích quí giá thượng dẫn – tiếc thay – mãi cho đến nay vẫn chưa được thực hiện (để giảm bớt hành vi nịnh nọt) nên chuyện xu nịnh hay siêu nịnh vẫn tiếp tục tràn lan, theo ghi nhận của FB Minh Râu: “Giặc nịnh nở rộ khắp nơi, trên quan trường, trong nghị trường, không thể dẹp được.”

Blogger Gió Bấc (RFA) đặt vấn đề:

“Ai là ông tổ nịnh? Những tên gian nịnh như Nguyễn Anh Trí, Nguyễn Hồng Diên đáng trách, đáng khinh một, thì những kẻ thích nịnh, hậu đãi, ban thưởng cho nịnh thần như Nguyễn Phú Trọng đáng khinh, đáng trách đến mười lần.

Nhưng Nguyễn Phú Trọng cũng không phải là kẻ đầu tiên thích nịnh, thích giả vờ khiêm tốn. Người khởi đầu công cuộc này chính là ‘vị cha già kính yêu của dân tộc’. Ngay khi còn sống, vị này đã để cho văn nghệ sĩ suy tôn mình như thánh.”

Nói cho nó khách quan thì cũng khó mà ngăn cản giới “văn nghệ sỹ” khi họ đã quyết tâm trở thành “những hạt bụi lấp lánh” dưới gót giầy của người lãnh đạo :

  • Chế Lan Viên: Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi/
    Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác!
  • Tố Hữu: Bác về… Im lặng. Con chim hót/ Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ…

Thuở xa xưa ấy, cả chim lẫn người đều hay … hót và hót hay. Chim chóc ở Việt Nam, bây giờ, chả còn mấy con sống sót. Những người có năng khiếu đặc biệt trong lãnh vực ca hót ở đất nước này – cỡ như quí ông Chế Lan Viên hay Tố Hữu – cũng đều chết tiệt cả rồi.

Đám hậu sinh tuy thiện chí vẫn có thừa nhưng tài thì bất cập:

  • Đỗ Thị Thanh Hà: Đã bao lần cháu đặt bút làm thơ/ Viết nắn nót từng lời thơ về Bác/ Tuổi bẩy lăm Bác là Chủ Tịch Nước/ Sống hết mình vì dân tộc Việt nam/ Nhiều kẻ xấu cho rằng Bác tham lam/ Tuổi đã cao … sao không nhường người khác/ Họ đâu biết triệu, triệu người bầu Bác/ Bác làm sao thoái thác được lòng dân…
  •  Nguyễn Văn Linh: Dân cần lắm Bác làm thêm kỳ nữa/ Giữ bếp lò khơi lửa cháy bùng lên/ Lòng muôn dân tề tựu cả ba miền/ Nguyện sát cánh kề bên Người nhóm củi…

Tệ hại đến thế nên quí vị lãnh đạo đất nước hiện nay đành phải tự nịnh (self service) thôi:

  • Nguyễn Thị Kim Ngân: “Quốc hội khóa XIV: Hiện thân của đại đoàn kết dân tộc, tư duy đổi mới … ngày càng nâng cao hiệu lực, hiệu quả, đạt được nhiều kết quả quan trọng, được cử tri và nhân dân đánh giá cao.”
  • Nguyễn Xuân Phúc: “Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam đứng thứ 5 thế giới.”

Khuynh hướng tự trào trong văn học Việt Nam không hiểu bắt đầu từ thế kỷ nào nhưng khuynh hướng tự nịnh thì có thể được đánh dấu vào giữa thế kỷ trước, khi tác giả Trần Dân Tiên cho xuất bản Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch, vào năm 1948.

Bắt đầu từ đây thì xu hướng nịnh nọt nở rộ và tràn lan ra khỏi lãnh vực thơ văn, vào đến tận nhà vệ sinh công cộng – theo ghi nhận của nhà báo Bút Bi :

Thấy tóc sếp đen thì nịnh: “Anh lo nghĩ nhiều mà giữ được tóc đen vậy thì tài tình quá!”, tóc sếp bạc thì âu lo: “Anh suy tư công việc nhiều quá nên để lại dấu ấn trên mái tóc anh”. Sếp ốm: “Quanh năm suốt tháng lo cho người khác nên anh chẳng nghĩ đến tấm thân gầy guộc của mình”. Sếp mập: “Anh quả là khổ, làm việc nhiều quá đến không có thời gian tập thể dục…”

Trong buổi họp phê và tự phê, một nhân viên phê sếp: “Ưu điểm của anh thì ai cũng biết, anh chỉ có khuyết điểm là làm việc quên cả bản thân mình”.

Đến vô toilet mà nịnh kiểu này: “Anh bận trăm công ngàn việc mà có thời gian vào đây à?”

Từ toilet văn hóa nịnh hót lan luôn qua tới nghị trường luôn, theo ghi nhận của blogger Trân Văn (VOA), vào hôm 2 tháng 4 năm 2021 vừa qua:

“Ở cuộc họp được tổ chức vào ngày 29 tháng 3 để Quốc hội góp ý cho Báo cáo công tác nhiệm kỳ 2016 – 2021 của Chủ tịch Nhà nước và chính phủ, ông Trí bảo rằng ông… cảm động vô cùng với Tổng Bí thư, Chủ tịch Nhà nước có mái đầu bạc trắng hiên ngang, với gánh sơn hà nặng trĩu hai vai, là trung tâm đoàn kết, khơi nguồn tự hào dân tộc

Ông Trí cũng là người nhận định rằng trong nhiệm kỳ vừa qua, chính phủ có… một Bộ Nông nghiệp ‘rũ bùn đứng dậy sáng lòa’. Một Bộ Y tế kiên cường chống dịch. Một Bộ Lao động – Thương binh – xã hội luôn quan tâm đến đời sống an sinh của nhân dân. Một Bộ Công an kiên quyết, khôn khéo bảo vệ sự bình an cho đất nước. Một Bộ Quốc phòng đã làm hết sức mình để đất nước hòa bình.

Rồi… Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương đã mở ra được những đại lý khai thông cho Việt Nam hội nhập hiệu quả. Bộ Tài nguyên – Môi trường trăn trở, lăn lộn với môi trường, với rừng núi. Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch với sự tiến bộ vượt bậc về thể thao, về bóng đá, sự thăng hạng liên tục của du lịch …

Không ít facebooker cho rằng phải xử lý ông Trí để ngăn chặn việc mượn nghị trường nịnh nguyên thủ.”

Theo thiển ý thì đây chỉ là chuyện nhỏ thôi. Chả có vấn đề gì để phải “xử lý” cả. Xưa, Bác Hồ đã dùng công quỹ in hết cuốn sách này đến cuốn sách khác để tự nịnh mình (Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ TịchVừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện) và còn cho tái bản cả trăm lần nữa cơ.

Nay, Nguyễn Anh Trí “mượn nghị trường để nịnh” thì đã làm sao? Ông ĐBQH – chả qua – chỉ học tập và làm việc theo gương đạo đức của Bác, để bảo tồn nền văn hoá (nịnh hót) thôi. Có gì sai đâu mà um xùm dữ vậy?

Tưởng Năng Tiến

TA CHỐNG DỊCH, BẠN BIỂU TÌNH

+2

TA CHỐNG DỊCH, BẠN BIỂU TÌNH

Tác giả Tiến Văn của Đài Phát thanh Đáp Lời Sông Núi cách đây vài tuần đưa ra nhận định rằng, nhà cầm quyền “đã dùng chính sách chống dịch dựa trên hai đặc tính cơ bản là: Kì Thị và Lợi Dụng.

“Chính sách kì thị tức là gây cho toàn xã hội một tâm lí ghét bỏ, hắt hủi người mắc bệnh Covid-19.

“Chính sách lợi dụng là nhân việc chống dịch chúng tăng cường các cơ hội tham nhũng, bòn rút thêm tiền bạc của người dân cho cá nhân và gia đình chúng”. (Hết trích)

Trưa ngày 11/7, nhóm facebook có tên “Tôi là dân quận 7”, một người có tên Dinh Thang Nguyen đăng tải: “Hiện tại người dân khu phố Bùi Văn Ba thuộc phường Tân Thuận Đông, quận 7 đang trong khoảng thời gian tồi tệ nhất. Đã 3 ngày người dân không được tiếp cận với nhu yếu phẩm thiết yếu vì lệnh phong tỏa của nhà nước…”

Cũng ngày 11/7, báo chí thế giới đồng loạt đưa tin hàng ngàn người dân Cuba đổ ra đường biểu tình đòi “tự do” và “lật đổ chế độ độc tài”. Một trong những nguyên nhân trực tiếp khiến người dân phẫn nộ, vượt qua sợ hãi và quyết định xuống đường là vì bất bình với biện pháp phòng chống dịch bệnh kém hiệu quả của nhà cầm quyền khiến các ca nhiễm và số người tử vong tăng cao ở nước này. Biện pháp “chống dịch” yếu kém của Cuba còn khiến lương thực-thực phẩm, nhu yếu phẩm khan hiếm và giá cả tăng vọt. Đây là cuộc biểu tình lớn nhất trong vòng 30 năm trở lại đây.

Lãnh đạo Cuba ngay lập tức tru tréo, đổ vạ cho Mỹ “giật giây” gây nên cuộc biểu tình.

Con giun xéo lắm phải quằn.

(Hình ảnh cuộc biểu tình tại Cuba của hãng tin AP.

Hình VN chống dịch của báo đảng)

MÙ SỬ!

May be an image of outdoors and tree

Trần Hoan

MÙ SỬ!

Lê Chân là một nữ tướng sinh ra và lớn lên ở Đông Triều – Quảng Ninh, bà là một người nhan sắc, giỏi võ nghệ và thơ phú, vì vậy tên Hán Tặc Tô Định dùng mọi cách ép bà về làm tì thiếp nhưng bà không chịu, sau đó bà trốn đến vùng An Dương- Hải Phòng.

Năm 40, Hai Bà Trưng dấy binh khởi nghĩa, bà đã đem theo binh lính gia nhập quân khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Trong các trận đánh, bà thường được cử làm nữ tướng quân tiên phong, lập nhiều chiến công.

Dưới sự chỉ huy tài tình dũng cảm của Hai Bà Trưng và Tướng Lê Chân, nhân dân đã đánh cho tan tác bè lũ Hán tặc tên Hán Tặc Tô Định chạy bán sống bán chết về Nam Hải TQ.

Sau khi đánh thắng giặc tàu bà Trưng Trắc được suy tôn làm vua, còn Lê Chân được Trưng Vương phong là Thánh Chân công chúa, giữ chức Chưởng quản binh quyền nội bộ, đứng ra tổ chức, luyện tập quân sĩ, tăng gia sản xuất

Như vậy Lê Chân là một nữ tướng dưới thời Hai Bà Trưng những năm 20 -43 sau CN. Bà có phải sinh ra dưới thời cộng sản và làm tướng đánh trận dưới thời cộng sản đâu mà phong cho bà là LIỆT SĨ vậy mấy nhà sử học, mấy nhà quản lý văn hoá?

Thế là hết từ đây thôi ngạo nghễ…

 

Thế là hết từ đây thôi ngạo nghễ

Việt Nam này không dễ bị covy

Cột điện Mỹ nếu mà nó biết đi

Cũng vượt biên về Việt Nam có thể

Thế là hết từ đây thôi ngạo nghễ

Hết thật rồi phó thủ Vũ Đức Đam

Mới ngày nào anh nói thấy phát ham

Ta chống giỏi dịch cúm Tàu phải nể

Thế là hết từ đây thôi ngạo nghễ

Sự thật lột trần bộ mặt tan hoang

Dịch covy vây bủa khắp tràn lan

Mà đảng ta không cách nào chống đỡ

Thế là hết từ đây thôi ngạo nghễ

Hết thiệt rồi nhen anh Phúc, anh Đam

TRÊN ĐỜI KHÔNG CÓ BỮA ĂN NÀO LÀ MIỄN PHÍ

TRÊN ĐỜI KHÔNG CÓ BỮA ĂN NÀO LÀ MIỄN PHÍ

 Lời cha dặn dò con gái

Con gái của cha!

Một người không tốt với con, con không nên quá bận tâm. Trong cuộc sống của con, không ai phải có nghĩa vụ đối tốt với con trừ cha mẹ. Còn với những người tốt với con, con nên trân trọng và biết ơn điều đó. Nhưng con cũng cần phải có chút đề phòng bởi mỗi người khi làm bất cứ việc gì đều có mục đích riêng. Hãy nhớ, họ tốt với con không đồng nghĩa với việc họ phải quý mến con.

Không có ai là không thể thay thế, không có vật gì thuộc hoàn toàn sở hữu của con. Vì thế, nếu sau này người con yêu thương không còn ở bên, hay họ không còn là nơi con có thể đặt niềm tin, con cũng đừng bi lụy. Sinh mệnh con người thực sự ngắn ngủi, con đừng để mỗi ngày trôi đi vô ích. Người ta tham vọng sống lâu nhưng con chỉ cần sống hạnh phúc mỗi ngày. Hãy trân trong và yêu lấy cuộc sống hiện tại của con.

Trên đời này không có gì là nhất cả, tình yêu chỉ là cảm giác bất chợt đi qua cuộc đời con, nhưng nó sẽ theo thời gian và lòng người mà thay đổi. Nếu như người đó rời xa con, con hãy học cách chờ đợi. Hãy để thời gian rửa sạch vết thương, để tâm hồn con lắng lại rồi nỗi đau của con cũng sẽ dần biến mất. Con đừng mơ ước một tình yêu hoàn hảo, cũng đừng thổi phồng nỗi đau khi nó không còn.

Có những người thành đạt mà không cần trải qua nhiều trường lớp, nhưng điều đó không có nghĩa con thôi nỗ lực học tập. Kiến thức con học được chính là vũ khí con cần có, hãy nhớ người ta không thể làm gì nếu họ chỉ có tay không. Con không nhất thiết phải chăm sóc cha nửa cuộc đời còn lại và cha cũng thế. Khi trưởng thành, con có thể tự mình bước đi, trách nhiệm của cha cũng đã kết thúc. Sau này dù con hạnh phúc hay buồn đau, con đều phải tự mình lựa chọn và có trách nhiệm với nó.

Con có thể bắt mình phải giữ chữ tín, nhưng không thể yêu cầu người khác làm thế với mình. Con có thể yêu cầu bản thân phải đối đãi tốt với người, nhưng con không thể kỳ vọng người ta sẽ làm ngược lại. Khi con tốt với họ, họ không có nghĩa vụ phải tốt lại với con. Hãy nhớ điều này nếu không con sẽ luôn gặp ưu phiền trong cuộc sống.

Cha đã mua vé số trong 26 năm thế nhưng chưa một lần trúng, điều đó nói lên rằng muốn giàu có phải dựa vào nỗ lực làm việc của bản thân, trên đời này không có bữa ăn nào là miễn phí cả.

Chỉ những ai có duyên phận mới trở thành người thân của nhau, cho dù trong cuộc sống bận rộn con ít khi gặp mọi người, nhưng con hãy trân trọng từng khoảnh khắc khi còn bên họ, hãy dành cho họ thời gian để yêu thương con hơn, và hãy gọi điện cho mẹ con

Têrêsa Ngọc Nga (st)

From: KimBang Nguyen

NỬA CUỐN SÁCH CUỘI

Rất hay, nên đọc và suy nghĩ

Ông Tràm Cà Mau viết truyện này hay đến đọc xong nhập tâm tin rằng cội nguồn cộng sản là do “Nửa cuốn sách cuội”.

NỬA CUỐN SÁCH CUỘI

Tâm là một thanh niên mới lớn.  Trong đầu anh ngùn ngụt lý tưởng cao đẹp. Anh thèm khát lý tưởng, mà không biết lý tưởng ở nơi đâu, lý tưởng là cái gì.  Bấy giờ là đầu thập niên 60 tại miền Nam Việt Nam, đời sống tương đối thanh bình, không hoàn toàn no ấm, nhưng cũng không đói khát.  Có tự do dân chủ phần nào, nhân dân không bị o ép ức chế qúa đáng.  Nhưng điều nầy ít người thấy được, nếu không biết so sánh với các chế độ độc tài tại các miền khác.

Vì lý tưởng nên cầu toàn. Tâm thấy chung quanh anh không có điều gì hoàn hảo cả.  Cái nào cũng có thiếu sót, sai trái, chưa vẹn toàn như anh mong mỏi. Bởi vậy, anh thấy bất mãn với chế độ, không bằng lòng với xã hội đang sống, muốn có sự thay đổi hoàn toàn, một cuộc cách mạng triệt để, may ra có được một xã hội lý tưởng mong muốn.

Khi đứng núi nầy, trông qua núi bên kia, thấy màu sắc long lanh tuyệt đẹp, tưởng núi bên kia rực rỡ thần tiên.  Y như Tâm đứng ở miền nam vĩ tuyến 17, ngóng về phía bắc, nghe bên kia vĩ tuyến đang xây dựng một xã hội tuyệt đối công bằng, không có người bóc lột người, không có chênh lệch giàu nghèo, mọi công dân đều được hưởng ấm no hạnh phúc.  Chỉ chừng đó thôi, cũng đã đủ hấp dẫn cái đầu óc cầu toàn lý tưởng của anh con trai mới lớn.  Bên dưới xã hội đó, còn được chiếu sáng bởi cái hào quang kháng chiến giành độc lập, đánh đuổi thực dân Pháp ra khỏi đất nước.  Tâm hoàn toàn không biết những sự thực của con người sống trong cái xã hội đó.  Anh cũng có đọc báo, có nghe thiên hạ nói về những điều vô cùng xấu xa đã và đang xảy ra  trong xã hội tại miền Bắc. Nhưng Tâm không tin, cho đó là những tuyên truyền ấu trỉ rẻ tiền, nói những điều quá đáng mà trẻ con  cũng không tin được. Hơn mười lăm năm sau, Tâm giật mình thấy sự thực còn tệ hơn nhiều lần những điều Tâm đã nghe được vào thời trước, mà tưởng là tuyên truyền lếu láo.

Tâm mơ ước được đi vào dòng cách mạng, đem tâm huyết, đem tuổi trẻ hiến dâng cho cái lý tưởng cao đẹp, phục vụ công bằng, bác ái, xây dựng đất nước cho được rạng rỡ hơn.

Tâm được một anh lớn tuổi hơn móc nối, đưa tài liệu kín cho Tâm đọc, đưa sách viết về triết lý cộng sản để Tâm nghiền ngẫm.  Càng đọc, càng thấm thía và Tâm muốn dấn thân ngay, càng sớm càng tốt.

Tâm đem lòng mình thổ lộ với An, một người bạn rất thân, để rủ rê An tham gia cùng hoạt động bí mật.  An khuyên Tâm nên để thì giờ học hành cho thành tài trước, và sau đó suy nghĩ chín chắn hơn, rồi chọn lựa và hành động.

An không thuyết phục được bạn, và biết rằng, khi tuổi trẻ say mê lý tưởng, thì còn hơn là say mê tình yêu. Yêu là mù quáng, không mù quáng thì không yêu. Kẻ say mê lý tưởng, còn mù quáng nhiều hơn. Thương bạn, An muốn Tâm đi thỉnh ý một bậc trưởng thượng, một người đã từng đi khắp năm châu bốn biển, đã lớn lên và sinh sống tại Nga Sô trước thời cách mạng 1917, và cả sau thời cách mạng, cho đến hết đệ nhị thế chiến.

 Đó là cụ Long, năm nay đã 95 tuổi, phiêu bạt sang Nga từ năm 1880, khi Việt Nam chưa bị Pháp hoàn toàn đô hộ.  Khi đó, cả hồ chí minh cũng chưa sinh.   Tâm cần gặp ông cụ Long, để biết nhiều hơn về cái lý thuyết và thực và tế của cái nôi cộng sản, xứ Nga Sô.

An hăng hái hướng dẫn Tâm đi.  Từ miền Trung lấy xe lửa về Nam, chuyển xe đò xuống miệt Long Xuyên, rồi chèo ghe nhỏ qua sông lạch, vào đến quận lỵ xa xôi vắng vẻ, đi bộ thêm vài cây số đường đất đến nhà ông cụ Long.

Tâm được dẫn vào bái kiến cụ Long, một ông già gầy gò,  ngồi co ro nửa thức nữa ngủ.  Râu cụ lưa thưa, tóc có nhiều cọng còn đen, hai hàm răng gần như nguyên vẹn, đóng bợn nâu vàng. Nhìn thấy dáng dấp bên ngoài của cụ, không có vẻ gì là tiên phong đạo cốt như Tâm đã vẽ vời trong trí, Tâm cũng hơi thất vọng trong lòng. Tự nhiên, niềm trân trọng trong lòng cũng hao hớt rất nhiều.  Cái náo nức đi tìm lời khuyên dạy vàng ngọc cũng nguội bớt đi.

Cụ kêu trẻ pha trà đãi khách, và mời ăn trái cây mới hái trong vườn. Tâm ngần ngại, định không bày tỏ cái tâm tình riêng tư của một kẻ tha thiết đi tìm chân lý cho cụ nghe. E rằng, chẳng đến đâu mà còn có thể bị hiểu lầm và di lụy về sau.

Nhưng Tâm cũng tò mò, muốn biết vài sự thực và chi tiết về những bước chân lãng tử giang hồ của cụ Long.  Trong một buổi mạn đàm uống trà, ăn bánh ngọt. Tâm do dự thưa:

“Cháu nghe nói cụ đã từng mòn gót chân lãng du khắp năm châu bốn biển.  Đã từng gặp gỡ và là bằng hữu của những nhân vật làm nên lịch sử hiện đại. Xin cụ vui lòng cho cháu biết cơ duyên nào đưa đẩy bước chân của cụ đi xa quê hương vạn dặm, đi ra xứ người trong một thời gian dài như vậy không?”

Cụ già hất tay lắc đầu nói:

“Thôi, thôi, đừng nhắc những chuyện xa xôi đó nữa, không ích lợi gì, thêm bận lòng già.  Nay ta cũng đã gần trăm tuổi, thời gian còn thấy bóng mặt trời không lâu nữa. Ta muốn vùi chôn quá khứ.  Nhiều lúc ta cũng mãi ân hận không nguôi, có lẽ ta cũng đã góp phần không ít, làm đau khổ di lụy đến hàng trăm triệu sinh linh trên thế giới nầy”.”

Tâm nghĩ ông già đã lẫn, nói chuyện mê sảng trong mơ.  Con người tầm thường như ông, làm sao mà di lụy đến hàng trăm sinh linh được.  Tâm nói:

“Thưa cụ, làm sao mà cụ lại lưu lạc trôi dạt qua tận nước Nga xa xôi lạnh lẽo đó. Khi ra khỏi nước, cụ đã bao nhiêu tuổi. Ở bên Nga, cụ đã làm gì?,

Im lặng một lát như không muốn thổ lộ tâm sự.  Nhưng rồi cụ cũng bắt đầu  tâm sự.

Cụ Long nhìn Tâm với ánh mắt thương xót mà nói:

“Tôi nghe cháu An nói anh đang đi tìm lý tưởng, và muốn chết cho lý tưởng anh đang tôn thờ.  Đáng ra tôi không nói, nhưng phảỉ nói để anh biết, và sáng suốt hơn, khỏi đi lạc đường, nguy hiểm lắm.

Tôi ra khỏi nước do một sự tình cờ.  Nguyên ông cụ thân sinh tôi làm quan võ dưới triều vua Tự Đức, bị hàm oan phải bỏ xứ ra đi. Khi đó tôi vừa 15 tuổi, nhưng đã làu thông kinh sử, đang chuẩn bị về kinh đô tham dự kỳ thi hội. Sợ bị bắt tội, ông cụ tôi hốt cả kho đụn công khố, lấy tiền vàng trả cho chủ tàu Hòa Lan, đem vợ con đi ra khỏi xứ, chưa biết đi đến đâu.  

Trên tàu, nhờ có võ nghệ, ông cụ tôi đã khóa tay, và giựt được con dao của một người say rượu, cứu mạng và bảo vệ  cho một thương gia người Nga khỏi bị thương tích.  

Ông nầy có cơ sở kinh doanh tại thành phố Saint Petersburg.  Vị thương gia người Nga nầy đề nghị cho cụ tôi hợp tác kinh doanh, trông nom một cửa hàng bách hoá tại thành phố nầy.

  Nhờ có đem theo nhiều vàng ngọc, của cải nên chẳng bao lâu, ông cụ tôi đã làm chủ riêng được  một cơ sở kinh doanh tại Kazan.  Cụ làm ăn rất mau phát đạt nhờ cần cù, chăm chỉ, lương thiện, nên có được uy tín.  

Sau đó, bắt chước đám Do Thái, mở thêm tiệm cho vay, cầm đồ.  Dân nghèo địa phương kháo nhau về nơi cho vay không cắt cổ quá đáng, không bóc lột như các nơi khác. 

Chính nơi đây, nhiều nhà cách mạng Nga khi còn hàn vi đói rách, đã là thân chủ trung thành của tiệm cầm đồ, hoặc vay non tiền lương để vợ con bớt nheo nhóc, dài cổ trông chờ bánh mì hẩm nguội. Cũng tại đây, mà tôi quen ông Vladimir Ulianov, tức ông Lê Nin. 

 Một hôm ông  đến cầm đồ, và nhận ra tôi là bạn chung trường tại đại học Kazan, học trên ông hai lớp ở phân khoa Luật học.  Dạo đó vào khoảng năm 1887, khi đó tôi đã 22 tuổi, và ở nước Nga đã được bảy năm. 

 Khi đã nhận ra bạn chung trường, tôi thường cho ông nầy mượn chút tiền lẻ, mà ít khi thấy ông trả lại sòng phẳng.  Nhưng tôi không cần đòi nợ, vì tiền do cha mẹ làm ra, không phải là mồ hôi nước mắt của riêng mình nên không tiếc. 

 Bẵng đi một thời gian chừng hơn một năm, tôi mới gặp lại ông  Vladimir nầy, trông bộ gầy gò xơ xác.  Ông cho biết đã bị đuổi học, và bị phát lưu đến Kokushino.  Ông hỏi mượn tiền, và đưa một cuốn sách cũ nát làm của thế chấp. 

 Được biết cuốn sách nầy là vật gia bảo truyền đời từ hơn nhiều ngàn năm. Không biết ông nầy có thấy tôi là người sang nên bắt quàng làm họ hay không.  Ông nói rằng, tổ tiên bốn đời trước của ông cũng là người An-Nam, họ phò tá một vị vua mất ngôi chạy sang Tàu.  Mưu sự không thành,  rồi trôi dạt lên miền Ngoại Mông, Tây Bá Lợi Á, cuối cùng qua Nga lập nghiệp, lấy vợ bản xứ, sinh sản con cái. Ông Vladimir cho biết tên An Nam của ông là Lê Nin.  

Tổ tiên nguyên họ khác, nhưng vì có công giúp vua Lê Lợi khởi nghĩa, nên được đặc ân đổi thành họ Lê. Tôi nghĩ là ông nầy túng bấn, muốn mượn tiền, nên bày đặt câu chuyện làm quà mua vui. Nhưng có điều khó hiểu, là làm sao ông nầy biết được một phần của lịch sử nước Nam mình mà nói như thật. Khi mở lớp da bao bên ngoài cuốn sách thì tôi giật mình vì thấy mấy dòng chữ Nôm ghi: 

‘Đừng mở và đọc tập sách nầy, vì có thể gây đại họa cho bách tính’

Bên trên cuốn sách, cũng có một câu phiên dịch bằng tiếng Nga, với ý nghĩa tương tự.  Sau nầy truy cứu, tôi mới biết đây là nửa cuốn sách còn lại của ông Cuội trong truyện cổ tích, khi bà vợ Cuội đem sách nói dối ra đốt.  Ông Cuội về kịp dập tắt, còn lại nửa cuốn.

Tôi bằng lòng cho ông Vladimir mượn tiền, nhưng không giữ cuốn sách lại.  Thấy tôi đọc được phần chữ Nôm bên ngoài, ông Vladimir hớn hở muốn biết nội dung của cuốn sách gia bảo truyền đời.

 Tôi cũng tò mò, giở ra xem, thì thấy sách nguyên thủy viết bằng loại chữ loăng quăng như giun bò, nhưng bên cạnh có chua bằng chữ Nôm, chữ li ti rất nhỏ. Có nơi nét  đã nhòe, nếu không vững về Hán tự, thì khó mà đọc được. 

Tôi phiên dịch cho ông nghe vài đọan, ông thích thú la hoảng lên như bắt được vàng. Thế là từ đó, ông cứ quấy rầy tôi mãi, đến nhờ tôi phiên dịch từng trang, và cẩn thận trân trọng ghi chú vào cuốn sách riêng của ông. 

Tôi cũng khá bực mình, vì nội dung cuốn sách toàn những mánh khóe nói dối, lừa gạt, gian xảo. Thế mà ông Lê Nin mê say như tìm được chân lý chói lòa. 

Bây giờ tôi cứ gọi ông Lê cho tiện, không Vladimir, Vladi-miếc gì nữa.  Tôi cũng tức cười vì cái câu ghi ngoài cuốn sách, mánh khóe nói dối bịp thiên hạ, thì làm sao mà gây đại họa cho bách tính được?

Ông Lê nầy khá thông minh và láu lỉnh, là một người đầy tham vọng, mưu mô. Vì bị đuổi học, ông mượn tôi mớ sách vở, tài liệu cũ của trường Luật mà tự học, và nhờ tôi cho đề thi cũ, nhiều đề đã làm sẵn như bài tủ, mà thi đậu như thí sinh tự do.

Khi tôi chuyển về Saint Petersburg làm việc cho một văn phòng luật sư, thì ông Lê xin đi theo. Tôi cho ông làm phụ tá pháp lý. Chuyên thu thập tài liệu, tin tức lặt vặt, như đánh ghen, tranh chấp hàng rào, đất đai, của cải nho nhỏ, mà ngày nay báo chí thường gọi là tin xe cán chó.

Lúc nầy, tôi có một người bạn gái đeo riết mà gỡ không ra, đó là nàng Na-Đê. Cô ta hiền lành, dễ thương và rất lý tưởng. Dù tôi đã có vợ và hai con, nhưng cũng không gỡ ra được mối oan tình nầy. May mắn cho tôi, ông Lê thầm yêu cô nầy mê mệt. Chúng tôi thường cùng uống cà phê bên vỉa hè và kháo chuyện trời đất.  Tôi tìm cách gán cô Na Đê qua cho ông Lê, và hai người dính nhau. Tôi thường mời cả hai đi ăn chung, và giúp đỡ tiền bạc, tài chánh cho họ.

Khoảng cuối năm 1895 ông Lê lại bị bắt, và sau đó bị đưa đi đày tận miền đông bắc buốt giá của nước Nga.  Sau ba năm đi đày về, ông Lê viết được nhiều cuốn sách, đem cho tôi xem thử. Đọc xong, tôi ngẩn ngơ, vì nội dung sách ông viết, bàng bạc ý tưởng trong nửa cuốn sách Cuội mà tôi đã dịch cho ông ghi lại.  Tôi bảo ông nên  đem đốt hết đi, đừng nên phổ biến những tư tưởng dóc lác nầy, làm hư cái chân thiện của loài người.  Ông không giận tôi, mà còn cười, cái cười đểu lắm.  Bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in cái nụ cười đểu giả đó.

Tôi vẫn ngấm ngầm giúp đỡ tài chánh cho hai vợ chồng ông. Dù sao, bà Lê cũng là bạn cũ thân thiết của tôi. Sau nầy, ông viết thêm được nhiều tập sách khác nữa. Nội dung cũng không ra ngoài nửa cuốn sách Cuội mà ông có. 

 Nghĩa là bịp, bịp bợm. Ông bẻ cong một triết lý tào lao, không tưởng, ác độc khác, và nhuần nhuyễn kết hợp với tư tưởng ông Cuội để làm căn bản cho những sách của ông viết, và những điều ông nói.

Tôi làm ăn càng ngày càng khấm khá. Ông Lê cứ bị truy lùng, và phiêu dạt nay đây, mai đó, khi ra ngoại quốc, khi lẻn về nước Nga. Tôi thường an ủi bà Na-Đê, vợ ông, vì số  phận hẩm hiu.

Thế giới chiến tranh lần thứ nhất bùng nổ, tình hình nước Nga dạo nầy rối ren khủng khiếp. Thực phẩm khan hiếm, đã lạnh mà còn đói nữa, thì khổ lắm. Lòng dân như một cái nồi nước sôi bí hơi căng cứng, chờ dịp bùng nổ. 

Ông Lê biết vậy, và nói với tôi rằng, cứ la toáng lên, hứa hẹn đại rằng, sẽ có công ăn việc làm, có cơm ăn, áo mặc, công bằng.  Có đủ thứ, thì thợ thuyền, dân nghèo ùn ùn chạy theo. Thanh niên mới lớn, lòng đầy lý tưởng bác ái, nhân đạo, nghe được những điều đó, thì mê tơi củ kiệu.

 Có chết cho lý tưởng, cũng hãnh diện, cam lòng. Nhiều người cho tôi biết rằng, nước Đức đã chi tiền, đưa ông Lê về để quấy động làm suy yếu nước Nga. Ông Lê cũng biết vậy, nhưng cơ hội đến, thì cứ nắm bắt và lợi dụng.

Thỉnh thoảng ông Lê cũng có mời tôi tham gia các buổi họp kín trong nội bộ của đảng ông.  Ông muốn quyến dụ tôi.  Tôi đi họp vì tò mò, chứ tôi vốn không ưa chuyện chính trị. Có lẽ vì tôi chịu chi tiền, mua bánh trái, trà nước cho các buổi họp thêm phần hấp dẫn, và có lẽ nhờ có ăn uống chút chút, mà thu hút được đông đảo người đi họp hơn. Sau buổi họp, tôi thường đi uống cà phê với họ. 

Do đó, mà tôi quen biết nhiều với các tay gộc trong nhóm cầm quyền nước Nga sau nầy. Các tay gộc nầy, sau khi nắm được chính quyền, xâu xé tranh giành nhau dữ dội. Đa số bị giết chết vì nội bộ thanh toán, một số nhỏ chạy thoát ra ngọai quốc ẩn mình, thế mà cũng bị truy lùng tận diệt.

Sau khi hoàng gia Nga bị xử bắn, và ông Lê nắm được chính quyền và lên làm lãnh tụ, ông cho thanh toán và khủng bố dữ dội. Nước Nga bao trùm trong sợ hãi.  Tịch thu tài sản của người giàu. Nhà cửa bị sung công cho dân nghèo chia nhau trú ngụ.

 Bọn đồ điếu tha hồ tung hoành, tác oai tác quái.  Trí thức bị trù dập, bắt bớ, tù đày.  Nạn đói còn khủng khiếp hơn trước thời chiến tranh. Sau đó, lương thực được phân phối theo khẩu phần, thành ra ai cũng đói cả.

Trong lúc cả nước đều khốn khó, vì đói khát, khủng bố, lo lắng, bắt bớ, tù đày, thì gia đình tôi vẫn sung túc, nguyên vẹn, nhà cửa không bị tịch thu, trưng dụng, của cải không hề bị đụng chạm mảy may. Bởi tôi đã có quen biết, ân nghĩa nhiều với các Ủy Viên trong toàn Bộ Chính Trị đang cầm quyền.  Có mấy ông đảng ủy địa phương không biết cái thế của tôi, đòi tịch thu nhà cửa, của cải, tài sản. Mấy ông nầy đều bị bắt, và đưa đi đày ở miền Tây Bá Lợi Á cả.  Tôi không biết họ bị đi đày, tưởng đâu họ chỉ bị chuyển công tác qua vùng khác mà thôi.

Khi nước Nga chìm đắm trong sợ hãi, ngột ngạt, khủng bố trắng, khủng bố đen Một hôm tôi tìm gặp ông Lê, hai người nằm chung giường, gác chân lên nhau mà tâm sự chuyện đời đến khuya. 

Tôi nói cho ông biết tình hình thực sự trong xã hội, vì e rằng, ông ở chức vụ cao, nghe báo cáo sai lạc, không đi sát thực tế.  

Thì ra ông biết rõ hết.  Tôi hỏi ông, tại sao không đoàn kết toàn xã hội mà xây dựng đất nước.  Bày chi việc phân chia và đấu tranh giai cấp, lấy thợ thuyền làm chủ và lãnh đạo. 

Ông cười và bảo rằng tôi mới biết một, mà không biết hai. Vì thợ thuyền đa số đều ngu dốt, cho một chút quyền hành, thoả mãn cái thèm khát thấp hèn trong lòng họ, thì bảo gì, cũng nghe theo, nói gì cũng tin tưởng.  Hăng hái làm theo mệnh lệnh.  Có thế mới củng cố được địa vị của ông và đảng ông. 

Tôi hỏi ông về chính sách khủng bố, thanh toán, có nên chấm dứt sớm, để cho nhân dân bớt sợ hãi, bớt lo lắng mà yên lòng làm ăn không? 

Ông cười lớn, vỗ vai tôi, nói rằng, thế thì tôi chưa hiểu được cái ý nghĩa của mấy chữ “bạo lực cách mạng” do ông bày ra.  Phải khủng bố, và khủng bố nhiều hơn nữa, càng nhiều càng tốt, khủng bố cho đến khi dân chúng sợ hãi cực độ, hoàn toàn mềm nhũn ra, không còn một sức đối kháng nào, thì đảng ông, nhà nước ông và địa vị của ông thêm bền vững, chắc chắn. 

Tôi hỏi thêm, liệu các chính sách kinh tế, xã hội của ông có cơ may nào đem no ấm hạnh phúc cho dân chúng như ông đã từng hứa hẹn, lặp đi lặp lại thường ngày hay không?

 Ông nói rằng, hứa hẹn thì cứ hứa hẹn, dân chúng có ấm no hạnh phúc hay không thì mặc họ.  Dân càng đói, càng dễ trị.  Cứ nắm chặt cái bao tử dân, cho ăn lưng lửng bụng, thì mọi người đều khuất phục, vì họ sợ mất cái phần ăn ít ỏi kia đi, khổ lắm. 

Mình cứ hứa hẹn tương lai cho họ nghe sướng lỗ tai là đủ.  Chứ cho dân ăn no, thì cũng dễ sinh ra loạn lạc.  Tôi nghe mà buồn và thở dài. Ông nói rằng, lòng dạ tôi còn yếu đuối như đàn bà.  

Tôi hỏi thêm tại sao nhiều người bị thanh toán, bị đi đày oan ức tội nghiệp. 

Ông bảo, muốn được yên ổn, thì hy sinh chừng bấy nhiêu người, cũng chẳng đáng là bao. 

Tôi đem điều lo lắng nhất trong lòng ra tâm sự cùng ông, là nhiều năm qua, nhân tâm suy đồi lắm.  Con người cứ lấy dối trá ra mà cư xử nhau, nhà nước cũng nói toàn điều không thật.   Đó là điều nguy hại cho nhiều thế hệ mai sau. 

Ông Lê dậy bật đèn lên, lấy cuốn sổ tay cũ kỹ trên kệ, phất phất trước mặt tôi, và hỏi có nhớ cuốn nầy không?  Ông cười toe toét thỏa mãn lắm.  Tôi nhận ra đó là cuốn sách ghi lời dịch của tôi từ nửa cuốn sách Cuội.  Ông Lê nói lớn thêm rằng, ông sẽ thống trị thế giới nhờ cuốn sổ tay nầy.

Mấy năm sau, ông Lê  bị tai biến mạch máu não, nữa người tê liệt, nằm trên ghế dựa, thế mà vẫn hung hăng.  Bà vợ tận tâm, không quản ngại mệt nhọc, chăm sóc ngày đêm.  Ông vẫn đưa mệnh lệnh, vẫn thanh toán người này, cất nhắc người kia qua trung gian của ông Stalin.  Đáng ra trong tình trạng bệnh hoạn đó, con người phải biết cái lẽ sai đúng của trời đất mà tỉnh ngộ, thôi làm điều ác.  Tôi có đến thăm ông Lê mấy lần, ông nói ngọng, khó khăn, thế mà vẫn còn nhắc đến chuyện ngày xưa cùng đi đến chỗ yêu hoa, mắt ông rực sáng lên khoái trá.

Người ta xầm xì rằng, một hôm bà vợ ông Lê có công chuyện đi vắng.  Ông Stalin vào trình báo công việc, thấy ông Lê đang há hốc miệng nằm ngáy, cuốn sổ tay rơi nằm trên sàn nhà.  Ông Stalin mở ra xem, càng xem ông càng hớn hở.  Rồi động tâm cơ, ông Stalin dấu cuốn sổ vào túi áo vét, và lấy chiếc gối đè ghịt lên mặt ông Lê.  

Ông Lê vùng vẫy yếu ớt, dẫy dẫy chân tay, vãi phân, vãi tiểu ra cả quần mà băng hà. Đồng chí gái phục vụ thấy được, nhưng không dám nói ra vì sợ mất mạng.  

Dạo đó vào mùa xuân năm 1924, ông Lê được 54 tuổi, và tôi xấp xỉ tuổi sáu mươi. 

Ông Stalin chớp được bản dịch sơ luợc nữa cuốn sách Cuội từ ông Lê, và đem ra áp dụng triệt để.  Quyền hành càng vững chắc hơn bao giờ cả.  Ông phát huy tối đa lý thuyết Cuội, và đem truyền bá đi khắp năm châu bốn biển.  Nhiều tỉ người mê sảng trong dối gian, láo khoét mà rất nhiều khi chính ngay bản thân họ, cũng không biết là họ đang nói dối hay nói thật.

Bạn bè cũ của tôi trong Bộ Chính Trị, thuộc giới cầm quyền, bị thanh toán, bị hành quyết dần dần, ông nào trước khi chết cũng có bản tự khai, thú tội là phản cách mạng, là tay sai tư bản đế quốc.

 Dù tôi cũng có quen biết, có chút ân tình với ông Stalin, vì đã che dấu, cho ông trú ngụ, cơm ăn, áo mặc vào thời kỳ ông vừa vượt ngục trốn trại tù khổ sai từ Siberia về. 

Và cả về sau, khi ông còn vất vưởng không nhà, thỉnh thoảng cũng dúi cho một ít tiền còm mua bánh mì ăn qua bữa. Nhưng tôi cũng ngán và sợ tiếp xúc với ông.  Ông nầy như con thú ác hiểm. 

Ngay cả những vị trong Chính Trị Bộ được ông mời ăn cơm thân mật, buổi tối khi ra về, cũng hồi hộp không biết sẽ được về đâu, ra nghĩa địa hay đi đày Siberia, hay được thực sự về nhà với vợ con.  Chỉ khi đóng cửa nhà, mới hú hồn mừng rỡ.  Đó, tôi không ngại sao được. Tôi nghĩ, càng thu mình lại, càng lu mờ càng tốt.  Thời gian nầy, tôi rất muốn di cư ra khỏi nước Nga, mà sợ, không dám xin đi.

Một lần tình cờ gặp ông Stalin, tôi hỏi bao giờ thì nước Mỹ trở thành cộng sản.  

Ông lắc đầu nói rằng, không bao giờ cả, vì Mỹ mà thành cộng sản thì ai bán lúa mì cho chúng ta ăn.  Khi đó thì Mỹ cũng đói dài dài. 

Có lần gặp một uỷ viên trong bộ chính trị, tôi dò ý, muốn nhờ ông nầy vận động cho tôi được đi ra khỏi nước Nga.  Tôi thăm dò và hỏi ông tại sao có nhiều người muốn đi ra khỏi xứ nầy, và làm sao mà họ xin đi được, ai là cấp thẩm quyền chấp thuận cho họ được ra đi.  Ông trả lời rằng, những người không muốn sống trong xã hội chủ nghĩa nữa, thì cần gởi họ đi lao động ở miền Siberia cho họ biết giá trị của đời sống hiện nay. 

Ông nói rằng, trong xứ xã hội chủ nghĩa có bảy điều siêu việt, mà các xứ tư bản không thể có được. 

Thứ nhất, tất cả mọi công dân đều có công ăn việc làm. 

Thứ hai là có công ăn việc làm, nhưng ai cũng không cần làm  việc chi cả. 

 Thứ ba, dù không ai làm việc cả, nhưng tất cả mọi kế hoạch đều đạt được chỉ tiêu mỹ mãn. 

Thứ tư, dù mọi chỉ tiêu đều đạt, nhưng hàng hóa tiêu dùng vẫn thiếu hụt. 

Thứ năm, dù hàng hóa thiếu hụt nhưng mọi người vẫn có đủ mọi thứ. 

Thứ sáu, dù đã có đủ mọi thứ, mà tất cả mọi người đều cứ thuổng thêm của công.  

Thứ bảy, dù mọi ngưòi đều thuổng của công, nhưng không có  báo cáo bị mất gì cả. 

Ông ấy tiếp lời rằng, nếu không là xã hội chủ nghĩa, thì làm sao có được những điều ưu việt như thế (*).  Nghe được vậy, tôi cũng lặng người mà thôi.

Tôi cũng có gặp gỡ một số người Việt Nam đi qua Nga Sô để huấn luyện nghề cộng sản.  Tôi gọi là nghề, vì theo cộng sản là một cách kiếm ăn mà khỏi lao động cực nhọc. 

Những người nầy, họ có nghe đến tôi, và tìm gặp.  Họ lả những người như ông Phú, ông Thành, cô Khai, tôi đều có mời ăn vài ba lần, và lâu lâu cũng có giúp đỡ một ít tiền bạc, hoặc một cái vé xe lửa đi đường xa. 

Tôi cũng có khuyên họ rằng, sau nầy nếu có thành công trong việc tranh đoạt chính quyền, cũng nên lấy nhân ái làm gốc, đừng khủng bố, áp bức kềm kẹp nhân dân trong gọng kềm chuyên chính, đừng làm suy đồi xã hội bởi lý thuyết dối trá ông Cuội. 

Than ôi, lời khuyên của tôi cũng chẳng khác chi nước xối đầu vịt. Nhưng tôi phải nói, phải dặn dò, dù biết trước mười mươi rằng, sau nầy họ không nghe, không làm theo.

Tôi cũng có gặp và quen biết nhiều, cả ông Lưu Thiếu Kỳ, chủ tịch nhà nước Trung Hoa khi qua Nga học nghe cộng sản.  Tôi cũng có nhắn nhủ ông nầy nhiều lần về đạo làm người, lòng nhân ái.  Bên ngoài, thì ông nầy lễ phép, dễ thương, nhưng làm sao mà đọc được lòng người.

Sau khi thế giới đại chiến lần thứ hai chấm dứt, nhiều quốc gia Âu Châu trở thành cộng sản, và sống trong tai họa tầy đình của sự hà khắc, áp bức ngu xuẩn đó. 

Và về sau, ở bên Trung Hoa, ông Mao, ông Lưu, vớ được vài trang bản sao sách Cuội học được từ đàn anh Liên Xô, mà nắm được chính quyền trong tay.  Cả gần một nửa nhân loại trên hành tinh nầy chịu áp bức, đày đọa, hăm dọa ngày đêm, từ tinh thần đến vật chất. 

Tôi cảm thấy có phần trách nhiệm, tội lỗi đã gây ra khi dịch nửa cuốn sách Cuội cho ông Lê ghi chép lại. Bởi thế cho nên tôi sợ chết, vì chết sẽ bị về địa ngục hành hình. Tôi ráng sống, cố kéo dài ngày đi đền tội ác đã gây ra.  Tội của tôi, tuy gián tiếp, nhưng cũng có thể nặng hơn tội các ông lãnh tụ trực tiếp vấy máu trên tay. 

Nhiều năm tôi ân hận, mất ngủ, và thương xót nhiều trăm triệu người đang bị chủ thuyết Cuội xéo dày”.

Cụ Long nghỉ một lát, chiêu thêm hớp trà, rồi từ tốn nói tiếp: 

“Này anh bạn.  Khi tuổi còn trẻ, thì có một lý tưởng là tốt.  Không có lý tưởng thì như con thuyền không lái, lênh đênh, bơ vơ không biết về bến bờ nào.   Cứ mơ mộng đi, mộng to, mộng nhỏ, mộng nào cũng tốt cả.  Có lý tưởng, để đem mộng vào thực, và đem thực vào mộng. Nhưng đa số những người nuôi mộng, phải cố gắng, đấu tranh cực lực với ngoại cảnh, với bản thân, và sau khi mộng đã thành, thì họ cảm thấy hụt hẫng, như không có gì cả, như phí phạm cả một đời để được cái ‘không’, Mà phải hy sinh không biết bao nhiêu là sức lực, xương máu, và thời gian sống của đời người.  

Bởi vậy, có nhiều kẻ xem những người trẻ có lý tưởng là một lũ ngu ngơ, dại khờ.  Và vì ngu ngơ, khờ dại nên rất dễ bị lợi dụng, bị cho ăn phân gà mà cứ vênh mặt lên hãnh diện.  Đã có rất nhiều người trẻ chết cho lý tưởng, chết vì lý tưởng, và sung sướng đem mạng mình ra để làm một viên gạch xây dựng lý tưởng. Họ cũng không ngờ, cái viên gạch là sinh mạng họ, đem ra để xây nhà tù, giam hãm, nhốt những kẻ hiền lương vào trong đó. Hoặc cái lý tưởng đó, quay lại gây nên khổ đau cho nhân quần xã hội. Kẻ lớn tuổi mà còn hăng say lý tưởng, thì có thể xem như gàn, cứng đầu, khó thỏa hiệp”.

Nghe cụ Long kể chuyện, Tâm chán nản trong lòng, nghĩ rằng, có lẽ ông già đã hoá khùng, lẩm cẩm, kể chuyện hoang đường, không tưởng.

Mấy năm sau, chiến tranh lan tràn khắp đất nước, bom đạn, chết chóc. Tâm được giao phó trách nhiệm làm công tác trí vận tại thành phố Sài gòn.  Tâm hăng say hoạt động trong bí mật, mơ một ngày tươi sáng, toàn dân được sống trong công bằng, no ấm và hạnh phúc.

Năm 1975, chiến tranh chấm dứt.  Tâm được đi thăm trái tim tổ quốc Hà Nội.  Được thực sự thấy và sống trong thiên đàng xã hội chủ nghĩa mà bao năm nay anh hằng mơ ước.

Tâm đã tìm về mộ cụ Long, thắp hương và nước mắt dầm dề ân hận. Mấy năm sau, Tâm đã cùng bạn là An lén lút dong thuyền ra khơi

Trước khi nhắm mắt vì đói và khát trên biển, Tâm đã thì thầm cùng An: “TÔI TƯỞNG NỮA CUỐN SÁCH CUỘI LÀ CHUYỆN HOANG ĐƯỜNG, KHÔNG NGỜ CÓ THẬT” ./.

TramCaMau

(*)  theo truyện tiếu lâm Ba Lan

ĐÊM KỊCH TẤT NIÊN

ĐÊM KỊCH TẤT NIÊN

Đoàn Dự

HỒI NHỎ, học xong tiểu học tôi thi vào lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ) trường Nguyễn Trãi Sài Gòn. Hai năm sau, bắt đầu lên Đệ Ngũ thì tôi đi học tư thêm lớp Đệ Tứ ở trường Cộng Hòa đường Pasteur và mua sách về nhà tự học để đi thi Trung học. Đậu xong trung học, tôi thi vào lớp Đệ Tam (lớp 10) trường Hồ Ngọc Cẩn đặng quay trở lại trường công nhưng nhanh hơn được một năm.

Đang học Đệ Tam trường Hồ Ngọc Cẩn vừa được đúng một tuần lễ thì tôi thấy người ta phát quảng cáo là trường Trung học tư thục Tân Phương của ông Phan Ngô cho thi học bổng vào lớp Đệ Nhị (lớp 11). Người hạng nhất và người hạng nhì sẽ được miễn học phí, người đậu hạng ba chỉ phải đóng một nửa còn các học sinh khác nghèo thì sẽ được nhà trường cứu xét.

Đây là một hình thức quảng cáo nhưng tôi cũng nộp đơn, xách bút đi thi thử xem sức mình ra sao, nếu may ra đậu hạng cao, được miễn hay giảm học phí là tôi sẽ bỏ Hồ Ngọc Cẩn, nhảy thẳng lên lớp Đệ Nhị, đi thi Tú tài phần I, nhanh thêm được một năm nữa.

Đúng là chó ngáp phải ruồi, may sao tôi đậu hạng nhì còn một người tên Trần Thị Phi Vân thì đậu hạng nhất, vậy là được miễn học phí. Tôi bỏ Hồ Ngọc Cẩn, học trường Tân Phương.

o0o

Hồi ấy các trường trung học công lập như Petrus Ký, Trần Lục, Võ Trường Toản, Nguyễn Trãi, Chu Văn An…là trường nam sinh, gồm toàn con trai, còn con gái thì thi vào trường Trưng Vương hoặc Gia Long tức nữ trung học.

Tiểu học tôi học trường con trai, thi vào Nguyễn Trãi cũng trường con trai, bây giờ ra trường tư, học chung với con gái tôi thấy hay hay, lạ lạ nhưng cũng thú vị.

Từ nhỏ đi học tôi thường ngồi đầu bàn thứ ba ở phía giữa lớp ngay chỗ lối đi. Ngồi bàn thứ ba là vừa vặn nhất, không xa đến nỗi không nghe rõ lời thầy giảng mà cũng không gần đến nỗi bị bụi phấn bay vào mặt. Còn ngồi đầu bàn ở phía giữa lớp thì tiện, ra vô không phải leo qua lưng các bạn, và thầy cũng hay đi tới đi lui, có gì không hiểu mình dễ hỏi thầy.

Vào trường Tân Phương tôi cũng “tranh thủ” ngồi đúng như thế. Cách tôi lối đi, ở phía bên kia là các dãy bàn con gái, mỗi bàn ngồi sáu người. Người ngồi ngoài cùng, cũng đầu dẫy bàn thứ ba ngang với tôi trông rất xinh, đôi mắt đen lay láy và nụ cười thật tươi. Tôi bí mật coi trộm trong bản đồ lớp thì thấy “nàng” tên Ngọc Điệp – Nguyễn Thị Ngọc Điệp – một cái tên rất đáng mơ mộng!

Chị Điệp xinh lắm, cặp mắt đen, ướt át nhưng chắc chắn học không bằng tôi. Tôi biết. Bởi vì ở trường tư học sinh thường học theo kiểu thụ động, không chịu giơ tay xung phong lên bảng mà cũng ít khi tự mình làm bài thêm ở nhà trong khi nhà trường rất chiều học sinh, không dám đụng tới, “hễ lười là chết” như trong trường công. Riêng tôi, tôi quen lối học trong trường công, ra trường tư tôi vẫn giữ lối học chủ động, hễ có bài toán nào khó là tôi giơ tay lên bảng, kể cả tiếng Anh hoặc toán lý hoá, các thầy thích lắm, coi tôi như một học sinh đặc biệt và các bạn cũng nể, nhất là chị Điệp, chị phục tôi lắm.

Chẳng những ham học mà tôi còn ham hoạt động thể dục thể thao, như đánh bóng chuyền ở trong sân trường trong giờ ra chơi và thích văn nghệ. Tôi hay làm thơ, mặc dầu thơ thẩn của tôi có lẽ thuộc loại thơ… con cóc:

Chàng trai gối mộng trên trang sách

Cô gái bên song gắng đợi chờ

Mây trời lững thững mà vương vấn

Vương cả lòng ta lẫn ước mơ…

Có lần chị Điệp với tay sang mượn tôi quyển vở. Thấy mấy câu thơ, chị chăm chú đọc, có vẻ ngạc nhiên:

– Thơ ai làm vậy?

– Tui.

– Thiệt không? Anh làm được thơ?

Thiệt chứ, thiếu gì, cứ hứng là làm. Đây này…

Tôi mở mấy trang phía sau cuốn tập chỉ cho chị thấy. Chị Điệp tấm tắc:

Hay quá ta, chép tặng tui đi. Anh chép tặng tui làm kỷ niệm.

Tôi viết những câu thơ ra giấy, chị Điệp coi lại, cám ơn rồi mở cặp táp bỏ sang cho tôi mấy cục kẹo:

– Mần thơ hay tui thưởng cho đó.

Lại một lần khác, chị thấy mấy câu tôi viết trong tập :

“Em đi rừng núi vào xuân

Áo thiên thanh dệt trắng ngần hoa lan”

– Thơ của ai vậy?

– Tui không nhớ, viết thì viết vậy thôi, không phải của tui.

Chép cho tui đi!

Tôi lại chép và nàng lại tặng tôi mấy cục kẹo. Cứ như thế hai đứa chúng tôi chơi với nhau rất thân qua những câu thơ tôi ghi trong tập. Mãi sau này tôi mới biế đó là hai câu thơ của thi sĩ Đinh Hùng.

Tôi quên chưa kể là trong lớp tôi, ở khu “xóm nhà lá” tức mấy bàn cuối có một anh tên Thạnh, chơi đàn ghi-ta rất giỏi, được thầy hiệu trưởng Phan Ngô cho làm trưởng ban văn nghệ của lớp. Ngày trước anh Thạnh học ở trường Tân Thịnh, tiền thân của trường Tân Phương ở trên Tân Định. Hai anh em giáo sư Phan Ngô, Phan Thuyết mở trường này, làm ăn hết sức phát đạt. Đùng một cái, hai vị chia rẽ, không thể hàn gắn lại được, bèn bán trường, ông Phan Thuyết sang Gia Định mở trường Đạt Đức, còn thầy Phan Ngô mở trường Tân Phương cũng ở Gia Định. Giáo sư Phan Ngô là người ăn nói giỏi, làm hiệu trưởng nhưng cư xử rất thân thiết với học sinh nên khi ông chuyển trường sang Gia Định, đa số các học sinh cũ ở Tân Thịnh đều đi theo, trong đó có anh Thạnh, chị Ngọc Điệp, chị Phi Vân và nhiều người khác nữa. Đối với những người này thầy Phan Ngô có nhiều ưu ái, luôn luôn hỏi han, gần như biết rõ từng người nên họ rất thích.

o0o

Quay đi quay vậy mà đã gần tới tết. Nhà trường ra thông báo chuẩn bị kế hoạch liên hoan, văn nghệ, cắm trại ở trong sân trường và mời tất cả các trưởng ban văn nghệ lên họp để phổ biến cho lớp.

Họp xong, trong giờ ra chơi, anh Thạnh lên mời các bạn ngồi lại, giữ trật tự để anh phổ biến kế hoạch:

“Thưa các bạn, mùa xuân sắp tới. Mỗi khi mùa xuân tới hoa xuân lại nở trên cành…”.

Tụi tôi cười, nhiều anh vừa cười vừa suỵt : “Nói gì thì nói đại đi cho rồi…”

“Theo thông lệ hàng năm như các bạn đã biết, trước khi nghỉ tết nhà trường sẽ tổ chức một đêm văn nghệ tất niên. Thầy hiệu trưởng ra lệnh cho mỗi lớp đóng góp một số tiết mục. Riêng lớp ta, vì là lớp lớn đứng đầu trong trường nên thầy đề nghị ngoài các tiết mục đơn ca, song ca, hợp ca, chúng ta nên diễn một vở kịch cho chương trình văn nghệ thêm phần đặc sắc …”.

– “Không có vở thì lấy gì mà diễn?”.

– “Có, ban văn nghệ sẽ kiếm”.

Tuy hứa sẽ kiếm nhưng anh Thạnh là người làm việc lộn xộn, không có phương pháp, cứ đến giờ ra chơi là lo đệm đàn cho nhóm này hát, nhóm kia hát nên rất bận rộn, quên việc tìm kịch bản. Thầy Phan Ngô nhắc nhở dữ lắm. Thầy là người Trung, thích kịch thơ. Nhân được người bạn thân là thi sĩ Vũ Hoàng Chương cho người đem đến tận trường tặng tập thơ “Say” vừa mới xuất bản, thầy cao hứng mở ra, vừa làm điệu bộ vừa nhắm mắt nhắm mũi đọc những câu thơ mà thầy cho là xuất sắc:

Lui đôi vai, tiến đôi chân

Sàn mờ nhạt, chập chờn như ảo ảnh

– “Đó, các em thấy không, tuyệt diệu! Hết sức tuyệt diệu! Thơ là nhứt, chúng ta phải diễn kịch thơ mới được…”

Tôi về nhà tìm kiếm, lục ra được vở kịch thơ “Trai Thời Loạn” của Giang Quân đăng trên báo Ngày Nay của Tự Lực Văn Đoàn từ năm 1942, bèn chép nguyên văn, đem đến lớp đưa cho chị Điệp coi trước.

– Chị thấy hay không?

Hay, tụi mình diễn đi.

Chị biết diễn kịch?

Biết.

Nếu vậy thì tốt. Trong này có vai ông Đồ Trần, bà Đồ Trần với vai Khóa Vũ, ba người tất cả. Tôi giữ vai ông Đồ Trần, chị giữ vai bà Đồ Trần, chỉ còn kiếm thêm một người nữa là đủ.

Chị Điệp bàn nên rủ anh Thạnh, vì hồi trước anh Thạnh vẫn quen diễn với chị ở trường Tân Thiïnh. Tôi mừng lắm, bàn với Thạnh, anh ấy rất thích, nhận lời liền. Vậy là chúng tôi bèn đem vở kịch lên cho thầy Phan Ngô kiểm duyệt rồi bắt đầu tập. Thầy khen vở kịch hay, có nhiều ý nghĩa, khuyến khích chúng tôi tập dượt.

Vở “Trai Thời Loạn” không dài lắm, nội dung gồm ông Đồ Trần sống trong thời loạn, muốn vào Phú Xuân theo Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ chống lại quân Tàu, bèn gửi vợ con cho người bạn tên Khóa Vũ để đi cho được yên tâm. Nhưng Khóa Vũ là người hèn nhát, không dám nhận lời, bất đắc dĩ Đồ Trần phải nghĩ đến việc giết vợ con để ra đi giết giặc:

Giết vợ con

Ha ha ha

Giết vợ con để mưu đồ đại sự

Cũng là thường khí phách kẻ nam nhi!…

Khoá Vũ :

Thôi bác ạ cuộc đời này ngắn ngủi

Sức thư sinh sao lấp nổi biển Đông?

Bác nén giận, Vũ này xin phân tỏ…

Khoá Vũ không dám nhận trông nom giùm vợ con cho Đồ Trần. Đúng lúc Đồ Trần vung gươm định giết vợ con thì tiếng chiêng trống nổi lên dồn dập. Khóa Vũ xách kiếm chạy ra báo tin vua Quang Trung đã ra tới Thăng Long, đại phá quân Thanh ở đồn Hà Hồi. Nhiều người cũng chạy đến nữa báo tin thắng trận. Đồ Trần mừng rỡ dừng tay, thôi không giết vợ con nữa. Tất cả chạy đi tiếp ứng, làm hậu thuẫn cho quân vua Quang Trung. Màn hạ.

Tất nhiên tôi đóng vai Đồ Trần, còn Thạnh đóng vai Khóa Vũ. Chị Điệp thân với tôi lắm, những buổi chiều sau giờ tập dượt, chị rủ tôi đi uống nước. Tôi đã chiếm được cảm tình của chị trong vai Đồ Trần anh hùng và lại càng được dịp mơ mộng, làm thơ…con cóc:

Ta mơ thấy em hong suối tóc

Ta mơ thấy ta có hai bàn tay

Mắt em xao xuyến tình hoang dại

Và tóc em mềm theo gió bay…

Hôm tổng dượt, thầy Phan Ngô hân hoan bắt tay chúng tôi:

Vở kịch rất hay, các em diễn rất xuất sắc!

Sau đó, ông tiếp:

– Nhưng có điều thầy có ý kiến như thế này…

Ông nhận xét rằng tôi là người Bắc, nói tiếng Bắc vậy nên đóng vai người bạn tức Khoá Vũ, còn chị Điệp với anh Thạnh đều là người Nam, nói giọng Nam, đóng vai vợ chồng thì hạp hơn.

– Thưa thầy…

– Không, thầy đã nghĩ kỹ, các giáo sư cũng nhận xét như vậy. Chúng ta nên thay đổi lại.

– Nhưng thưa thầy tụi con đã học thuộc, lại sắp tới ngày trình diễn…

– Không sao, còn mười ngày nữa mới tới ngày trình diễn. Vai của Ngọc Điệp không có gì thay đổi, còn vai của em với Thạnh cứ chịu khó học lại sẽ thuộc. Chúng ta làm việc một cách lôgích kẻo thiên hạ lại cười là thầy trò không biết bảo nhau. Em hiểu không nào?

– Dạ hiểu.

Mặt tôi tiu nguỷu. Từ hôm ấy tôi bắt đầu học lại vở, đóng vai người bạn hèn nhát còn Thạnh thì đóng vai người chồng anh hùng. Tính Thạnh bơ bơ, muốn đóng vai nào cũng được và anh ta tự nhiên lắm, rất thân với Ngọc Điệp. Nhiều khi Thạnh nửa đùa nửa thật gọi Ngọc Điệp là bà đồ, xưng mình là ông đồ chứ không giữ gìn như tôi. Xem ra, tôi thua rõ rệt và “bà đồ” không thèm để ý đến tôi nữa. Sau những buổi tập dượt, họ thường rủ nhau đi uống nước :

– Bà đồ ơi, lợi đây qua biểu…

– Ơi, bà đồ đây, ông đồ kêu chi?

– Tập xong rồi, ông đồ mời bà đồ đi uống nước, ông đồ trả tiền.

– Ừa, đi liền.

Họ nắm tay nhau, vui vẻ, thân mật, bỏ lại mình tôi sớ rớ nhìn theo, trong lòng trống trải. Văn nghệ, văn nghệ, mi đã phụ ta rồi! Và tôi bắt đầu làm những câu thơ yếm thế khác với bản tính “quyết chiến quyết thắng” của tôi:

Sầu mỗi ngày một đọng

Tóc mỗi ngày một dài

Tóc dài còn cắt được

Sầu dài bỏ cho ai

o0o

Nên mắt khơi vực thẳm

Nên hồn nhuộm đêm đen

Nên lòng như sa mạc

Nên cắn răng chịu “hèn”!

“Hèn” quá đi mất ấy chứ! “Kịch” là như thế, tôi đóng vai hèn, càng hèn bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu và bà đồ lại càng lãnh đạm với tôi, chỉ biết có “ông đồ”. Đau không chịu nổi!

Đêm liên hoan. Mẹ tôi và em gái tôi biết tôi được đóng kịch trong nhà trường thì mừng lắm, suốt ngày cứ tính toán xem nên mượn ở đâu, mượn của ai chiếc áo the dài cho tôi mặc thật vừa vặn, chiếc khăn xếp kiểu Bắc cho tôi đội trên đầu. Mẹ tôi còn mượn được cả đôi giày Gia Định, chiếc quần đàn ông trắng và một giải khăn đỏ cho tôi cột ngang bụng để đeo kiếm nữa. Kiếm thì nhà trường đã mượn tại các đoàn cải lương nhỏ.

Suốt ngày hôm ấy chúng tôi dự hội chợ trong sân trường. Buổi chiều về, ăn cơm xong lại mau mau đi.

Ôi chao, đèn màu lấp lánh, tiếng nhạc xập xình, đèn chiếu sáng rực. Vào cửa tự do nên khán giả đông lắm, cả khu sân trường Tân Phương rộng như thế mà đầy ắp toàn người là người, họ đứng cả ra đến ngoài lề đường.

Tôi không biết gì hết. Người tôi như ngây như say. Người ta lôi tôi ra đánh phấn, thoa son, vẽ mày vẽ mặt và cài kiếm vào cạnh sườn tôi. Tôi thấy “ông đồ” oai hơn tôi, đứng bên cạnh, hết sức đẹp trai, đang âu yếm trang điểm thêm cho “bà đồ”!

– “Đây, vở kịch nòng cốt ‘Trai Thời Loạn’ của học sinh lớp Đệ Nhị trường Tân Phương bắt đầu!”.

“Cọc, cọc, cọc…”, ba tiếng búa long trọng gõ xuống mặt sàn. Màn từ từ mở. Chị Điệp ăn mặc theo kiểu Bắc, ngồi trên chiếc chõng tre nhỏ, ru con ạ ời cũng theo lối Bắc. Chị người Nam, bắt chước giọng Bắc rất giỏi khiến các bạn bè vỗ tay vang dội. Rồi anh Thạnh ra. Sau đó tôi ra. Thầy Phan Ngô đích thân đứng chỉ huy phía sau cánh gà, nét mặt hân hoan thấy rõ. Rồi tiếng trống trận đùng đùng, vua Quang Trung kéo quân ra Bắc, đại phá quân Thanh…

– “Hay quá, hay quá! Tuyệt diệu, tuyệt diệu!”

Các giáo sư đứng dậy, vào tận hậu trường bắt tay chúng tôi. Cả thầy Thiên Giang già và cao lớn cũng vào bắt tay nữa.

Đêm kịch tất niên chấm dứt, khán giả ra về hể hả. Mọi người và toàn ban giáo sư ở lại dự tiệc liên hoan ăn mừng “chiến thắng”. Cháo gà, gỏi gà bày ra la liệt trên những dãy bàn trải khăn trắng trên lối đi ở phía sân sau. Đến lúc sắp ăn thì không thấy “ông đồ, bà đồ” đâu cả, thầy Phan Ngô bảo tôi:

– Em chạy đi kiếm coi hai đứa tụi nó đâu…

– Dạ

Tôi ra tới gốc cây vú sữa thì thấy “bà đồ” đang ngồi ru con tưởng tượng trên chiếc ghế đá góc vườn, còn “ông đồ” thì đã thay đổi y phục nhưng vẫn say men “chiến thắng”, tuốt gươm tưởng tượng, đặt tay lên vai bà đồ. Họ áp mặt lên nhau và…và… họ “hun” nhau, cái này không hề có trong kịch bản!

Nghỉ tết xong tôi bắt đầu lao đầu vào học. Phải học nếu không sẽ bị thi rớt. Tôi không thích rớt, tôi muốn chiến thắng. Thôi kệ ông đồ bà đồ, muốn đồ muốn đạc gì cũng được. Và tôi cũng không thèm làm thơ nữa. Thơ với thẩn là thứ xa hoa, không đúng sự thật, chẳng có người con gái nào cư xử đẹp với mình.

“Em đi rừng núi vào xuân

Áo thiên thanh dệt trắng ngần hoa lan”

Vào xuân cái con mẹ! Vào xuân, đi diễn kịch, hoạt động liên hoan, văn nghệ chỉ tổ người ta đá đít, nếu thi rớt nữa thì nhục nhã lắm, tức như bò đá!

Vào lớp, tôi vẫn ngồi đầu bàn ba nhưng “bà đồ” thì đã tự ý đổi xuống phía mấy bàn dưới, gần với “ông đồ”. Bà không còn biết trên đời này có một thằng ngu, rất hay làm thơ mà hồi trước bà rất thân, cứ mỗi lần bảo nó chép thơ thì lại tặng cho nó mấy cục kẹo.

Thời gian lặng lẽ trôi đi, dần dần lại tới thi Đệ nhị lục cá nguyệt. Tôi vượt lên trên, được xếp hạng nhất trong cả năm học đồng hạng với chị Phi Vân, sau này chị đậu thủ khoa vào trường Nữ Hộ sinh Quốc gia, được phần thưởng của Bộ Y tế do chính ông Bộ trưởng đích thân trao tặng.

Hôm nhà trường làm lễ phát thưởng rất lớn tại rạp Văn Hoa Đa Kao có phần phụ diễn văn nghệ. “Ông đồ bà đồ” và thêm hai người nữa có lẽ học lớp Đệ Tam, tập tành cả tháng, diễn vở Lưu Bình Dương Lễ. Bạn bè ngạc nhiên lắm, nhiều người hỏi tôi sao, bị cho ra rìa rồi hả, nhưng cũng người thông cảm, bảo tôi khôn như con chồn, bây giờ lo học. Trong lễ phát thưởng, thầy Phan Ngô đặt thêm giải thưởng cho ban văn nghệ. Anh Thạnh với chị Ngọc Điệp ở trong hậu trường bước ra lãnh, họ còn mặc nguyên bộ đồ đã mướn của rạp cải lương, mũ cao áo dài trong vở Lưu Bình Dương Lễ.

Đúng một tuần lễ sau thì chúng tôi đi thi Tú tài phần I. Hôm có kết quả, nhà trường theo dõi danh sách và đem kết quả về giùm: lớp có 83 người, đậu 12 người. Tỉ lệ thi đậu như vậy cũng đỡ bởi vì trường tư thường thường chỉ đậu vào khoảng mười phần trăm, ngoại trừ những trường danh tiếng nhất, học đắt tiền nhất. Tất nhiên “ông đồ bà đồ” không đậu, họ bỏ dở ngay sau khi chỉ mới”thử lửa” ngày đầu tiên!

Mười hai người thi đậu chúng tôi một số xin vào lớp Đệ Nhất trường Chu Văn An, một số vào Petrus Ký còn một số thì do hoàn cảnh gia đình thiếu thốn, gặp ngành gì thi ngành nấy, đi làm. Chúng tôi còn phải qua kỳ thi Tú tài phần II, nếu đậu bấy giờ mới được thi vô các trường Đại học.

Một hôm, gặp Phong, người bạn bây giờ đang học bên Petrus Ký, anh ta hỏi tôi:

– Ê, sao bữa hổm mày không đi dự đám cưới thằng Thạnh với con gì diễn kịch? Hồi tất niên tụi nó diễn với mày mà?

– Ủa, họ lấy nhau rồi hả? Sao lập gia đình sớm quá vậy? Học hành chưa đâu vào đâu…

– Thì tại hai đứa tụi nó thương nhau. Nghe nói ông già bà già tụi nó không bằng lòng nhưng nó cứ nhứt định định lấy nhau nên phải chìu.

Tụi bay đi có đông không?

Không, có mấy đứa thôi. Đứa nào biết thì đi, đem quà tới mừng gọi là chỗ bạn bè chớ tụi nó cũng làm nhỏ xíu, không đưa thiệp mời.

Ừ, tội nghiệp!

Không hiểu sao tôi lại thốt ra hai tiếng tội nghiệp. Theo tôi nghĩ, cuộc sống quá nhiều khó khăn, phức tạp, cái tuổi mười bảy, mười tám và ngay cả mười chín, đôi mươi nữa của Thạnh và Điệp cũng chưa phải là tuổi lấy vợ lấy chồng, có con có cái.

Năm sau, tôi đậu Tú tài II rồi thi vào Đại học Sư Phạm, bốn năm sau ra trường. Lúc ấy tôi 22 tuổi, vẫn chưa phải cái tuổi đủ khả năng và đủ bản lãnh cá nhân để tính tới chuyện lập gia đình.

Tám năm sau, tôi ba mươi tuổi. Một lần, ngày tết, tôi đến đường Trương Minh Giảng, vào hẻm Chuồng Bò để tìm địa chỉ một người bạn. Kỳ lạ, anh ta ghi địa chỉ đàng hoàng mà ngõ này lại cứ ngoắt ngoéo, ăn thông sang ngõ khác và các số nhà loạn xà ngầu tìm không sao thấy.

Những người thanh niên ở trần ngồi đánh bài cào hay binh xập xám gì đó ngay trên đầu ngõ chật hẹp. Những chiếc pháo xì vứt trên rãnh nước đen ngòm, bẩn thỉu. Những con ruồi bu trên các đống xác mía nằm rải rác lẫn với những chiếc vỏ dưa. Một người đàn bà ngồi bán hàng đang cho con bú bên cạnh một chiếc tủ nhỏ đựng thuốc lá và chiếc mẹt kê trên chiếc ghế đẩu, bày sơ sài vài băng pháo tép, vài miếng dưa hấu, vài chiếc bánh ú, bánh tét. Kỳ lạ thật, ngày tết ngày nhất mà bán những thứ này thì ai mua? Có lẽ họ bán cho những người thanh niên đánh bài, đói bụng ăn ẩu ăn tả không cần biết đến vệ sinh. Đằng sau lưng chị có hai đứa trẻ con trai cũng ở trần, đứng bám trên vai chị, thân hình lem luốc.

– Xin lỗi, chị làm ơn chỉ giùm tôi cái số nhà này…

Người đàn bà ngửng lên, tay cầm lấy mảnh giấy ghi địa chỉ, nhíu mày coi qua một cách thành thạo. À thì ra chị này cũng có học, không phải mù chữ.

Chợt, chị ngạc nhiên:

– Ủa, xin lỗi, ông là… anh Dự, hồi trước học trường Tân Phương của thầy Phan Ngô phải không?

Tôi cũng ngạc nhiên :

– Vâng, xin lỗi, chị là…?

Người đàn bà mỉm cười, có vẻ hơi ngượng:

– Tui là Ngọc Điệp, hồi đó đóng kịch anh không nhớ sao? Anh đi đâu lại lạc tới đây?

– Tôi đi kiếm nhà người quen. Tại mười mấy năm nay rồi không gặp nhau. Sao, anh Thạnh khoẻ không chị?

Chị Điệp nhíu mày, nét mặt hơi buồn:

Cũng không khỏe lắm đâu anh. Tại ảnh phụ chạy xe đò, tiền bạc kiếm hổng bao nhiêu mà cứ phải ở lợï tỉnh hoài, gặp gỡ ba thứ trời ơi đất hỡi, có đồng nào nó bòn hết trơn. Chúng tôi lấy nhau sớm quá…

Anh chị được mấy cháu?

Năm. Năm đứa con trai. Đứa nầy nhỏ nhứt, lúc có bầu cứ tưởng sẽ sanh con gái không ngờ vẫn sanh con trai. Năm đứa, “ngũ quỷ” anh biểu hổng nghèo sao được? Phải chi sanh đứa con gái cho đỡ xui.

Tôi im lặng. Năm nay chị cỡ hăm chín hay ba mươi tuổi, bằng với tuổi tôi, nếu muốn sanh thì còn có thể sanh thêm hàng chục đứa nữa.

– Anh lập gia đình chưa? Được mấy cháu?

Tôi cười, hơi mắc cỡ:

– Dạ, chưa đâu chị, tôi hơi trễ.

– Trễ chưa lập gia đình hay chưa có con?

– Cả hai.

– Vậy cũng đỡ chớ như tui với anh Thạnh…

Ngay lúc ấy một đứa trẻ ở trần mặc quần xà lỏn, theo sau lại một đứa khác chạy tới có vẻ vội vã:

– Má, ba biểu má có tiền đưa ba mượn đỡ vài ngàn, trưa gỡ được dìa ba trả!…

– Bài bạc mà gỡ cái gì? Tao đâu có đồng nào!…

– Ba binh xập xám, đang đỏ, mới ăn được hai cây lợi thua lợi, hết tiền phải mượn chú Ba Đực hết mười mấy ngàn.

– Má không có tiền! Nói ba dìa ngay, nhà có khách!…

– Thôi chị ạ, cũng gần trưa rồi có lẽ tôi cũng phải đi, lúc khác sẽ đến thăm anh chị.

– Dạ, cám ơn anh. Đó, anh coi, ảnh mần không ra tiền nhưng máu mê cờ bạc đủ thứ. Hễ thua là cho con về đòi tui phải đưa. Mà tui hổng có là chết với ảnh, gia đình lại lộn xộn, gây gổ um xùm điếc tai hàng xóm.

– Thôi tôi đi chị nhé.

– Dạ, anh đi. Tụi tui ở căn nhà tôn đàng kia, cách đây ba căn. Lúc nào rảnh mời anh tới chơi…

Tôi nhìn theo tay chị. Căn nhà bé tí, lụp xụp, vách đóng bằng gỗ, khóa cửa.

– Vâng, lúc khác tôi tới.

Thằng bé đứng bụng xịu, ngón tay gạy gạy những vôi vữa trên bức tường ở bên cạnh:

– Má, ba kiu má cho ba mượn tiền. Ba đang đỏ, má hổng chịu đưa cho ba gỡ…

Người mẹ hơi ngượng, mở chiếc gói nylông cất trong túi áo:

– Đây, còn mấy ngàn, biểu ba mày xài hết đi rồi nhịn đói!

Hai đứa trẻ hí hửng kéo nhau đi. Đợi chúng chạy khỏi, tôi móc bóp lì xì cho hai đứa đứng bám vai mẹ và đứa còn ẵm ngửa:

– Năm mới bác lì xì hai cháu…

– Thôi anh, ba nó lại lấy đánh bạc chớ đâu có giữ được.

– Không sao đâu chị, chút đỉnh mà!

Và tôi nhắc lại một kỷ niệm nay đã xa xưa:

– Không bằng cái ơn ngày trước thỉnh thoảng chị lại liệng cho tôi mấy cục kẹo!

Người bạn học cũ bật cười:

– Anh còn nhớ mấy câu trong vở kịch thơ Trai Thời Loạn không?

– Câu gì hả chị? Nhiều quá tôi không nhớ hết…

– “Ha ha ha… Giết vợ con để mưu đồ đại sự, cũng là thường khí phách kẻ nam nhi…”

– Có, tôi nhớ.

– Anh Thạnh đang giết vợ con đó anh. Nhưng đáng tiếc là cái “đại sự” ảnh mưu đồ quá nhỏ, không lớn như trong vở kịch.

Tôi cười, chào từ giã lần nữa rồi dắt xe đi.

Sau tết, tôi có chút việc phải trở lại, đến nhà gặp người bạn. Lúc về, đi ngang qua phía trước căn nhà tôn tôi nghe có tiếng võng đưa kẽo kẹt và một giọng đàn bà hát ru trầm trầm, xa vắng:

“Ầu ơ… Bướm vàng đậu trái mù u

Lấy chồng càng sớm lời ru thêm buồn…”

Lúc ấy là ba giờ chiều, trời nắng chang chang mà trong lòng tôi giá lạnh như người chết rồi. Phải chăng từ đáy tâm hồn, tôi vẫn còn yêu một cái gì đó đã mất?

May be an image of flower, body of water and nature

2 triệu liều Mordena đã về tới Nội Bài…

 

Mỹ nói là làm rốp rẻng luôn! 3 ngày sau khi Nhà Trắng tuyên bố thì 4g30 sáng nay 10/7, 2 triệu liều Mordena đã về tới Nội Bài và Bộ Y tế vừa cho hay sẽ chuyển gấp vào TP HCM 1 triệu liều.

Mỹ thông báo viện trợ vắc xin cho Việt Nam nằm trong chiến lược nhằm “chấm dứt đại dịch ở mọi nơi”, chứ không phải “ngoại giao vắc xin” để đối phó với Trung Quốc và Nga. Mỹ nói rằng họ chia sẻ vắc xin mà không kèm theo điều kiện nào.

Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) chia sẻ: “Chúng tôi tự hào hỗ trợ Việt Nam trong cuộc chiến chống đại dịch này và chúng tôi tin tưởng rằng phối hợp cùng nhau, chúng ta sẽ chiến thắng COVID-19”.

Theo thông tin tôi được biết thì trong số gần 1,6 triệu liều gồm 1 triệu liều AstraZeneca của Nhật viện trợ thêm vừa về VN hôm qua 9/7 hay trươc đó ít ngày cũng sẽ dành phần lớn cho TP HCM.

Trong tháng này nếu không có gì thay đổi giờ chót thì tổng cộng 7-8 triệu liều sẽ về đến VN và TP HCM là nơi được ưu tiên cao nhất.

Giờ đây thì chỉ có vắc xin, vắc xin và vắc xin mới là giải pháp tốt nhất để dập nhanh cúm Tàu cho nên những nghĩa cử như của các bạn Mỹ hôm nay hay Nhật thời gian qua tôi và có lẽ nhiều đồng bào sẽ luôn ghi nhớ với lòng biết ơn chân thành!

– Fb Hà Phan 

Hành trang người môn đệ

 Hành trang người môn đệ

Điều gì quan trọng nhất??

CN 15 Thường niên – năm B. 

Lung Linh

Tin Mừng Chủ nhật 15 B Thường niên nói về việc rao giảng mà hiện nay chúng ta gọi là Loan báo Tin Mừng.

Trên internet chúng ta nhận được những lời khuyên thật chí tình:

Đây là những lời khuyên điển hình và giá trị nhất

Hành trang của người môn đệ là sự gắn bó mật thiết với Đức Giêsu.

Sự gắn bó ấy giúp Người hoàn toàn kết hiệp với Đức Chúa Cha, trở nên một lòng một ý với Đức Chúa Cha, luôn cầu nguyện, luôn từ bỏ ý riêng để làm theo ý Chúa Cha. Chính vì thế, sứ vụ của Người đã thành công tốt đẹp.

Hành trang của người môn đệ là tâm hồn đơn sơ phó thác.

Không mang theo gì của loài người, chỉ mang theo niềm tin yêu phó thác vào Thiên Chúa, đó chính là mang theo tất cả.

Hành trang của người môn đệ là tình liên đới. 

Tình liên đới không những cần thiết để giúp các ngài làm việc tông đồ một cách hữu hiệu. Chính qua tình liên đới mà Tin Mừng dễ dàng được đón nhận.

Hành trang của người môn đệ là trái tim biết cảm thương.

Một tay nắm lấy tay Chúa, một tay nắm lấy tay anh em. Một tình yêu anh chị em trong tình yêu mến Chúa. Liên kết mọi người trong tình yêu mến. Với tình yêu mến, chắc chắn việc tông đồ của ta sẽ đi đúng đường hướng của Chúa. Với tình yêu mến, chắc chắn việc tông đồ sẽ có kết quả tốt đẹp.

***

Nhưng thực tế thì thế nào?

Từ lời khuyên tới thực hiện…từ lý thuyết tới thực hành..có một khoảng cách cả chục cây số!!!

Như vậy, chúng ta tha hồ khích lệ nhau..Hãy cố gắng mà chuẩn bị hành trang thật tốt để lên đường loan báo Tin Mừng…

Nhưng công cuộc Loan báo Tin Mừng dường như vẫn dậm chân tại chỗ

Hay nói u buồn hơn: công cuộc Loan báo Tin Mừng dường như bị chết yểu từ trong trừng nước..

Tại sao lại nói kiểu “Bùi Lan” – bàn lui hoặc ‘đâm sau lưng chiến sĩ’ như thế???

Vì những lý do sau:

Có tới hơn 90 % chúng ta vẫn nghĩ rằng:

Hoàn toàn kết hiệp với Đức Chúa Cha Là chuyện không tưởng.

Chúa thì thánh đức ngàn trùng, tôi thì thội lỗi phàm hèn…

Làm theo ý Chúa Cha Là chuyện mò kim đáy biển.

Làm sao biết chắc rằng đây là ý của Chúa Cha??? Toàn là đoán mò…!!!

Đây là 2 yếu tố nền tảng mà chúng ta không nắm được coi như chúng ta đã xây tòa nhà Loan Báo Tin Mừng trên cát mất rồi!!!

Sao lại xây trên cát: Vì lý do sau:

Dù tôi dụ được hàng ngàn người vào cộng đoàn..

Dù tôi thuyết trình hàng trăm lần trước hàng trăm cử tọa

Dù tôi đi Đông đi Tây, ra Bắc vào Nam để Loan Báo Tin Mừng

Dù tôi giúp cho nhiều người cảm thấy sống tốt hơn, vui vẻ hơn…

Nhưng còn chính mình thì sao nhỉ??? Chúa vẫn là người khách lạ ngay trong ngôi nhà tâm hồn mình.

Khi đi Loan Báo Tin Mừng, tôi lên kế hoạch thật hoàn hảo để đạt được hiệu quả cao. Đó chính là mục đích mà tôi phải đạt cho bằng được.

Còn chuyện Hoàn toàn kết hiệp với Đức Chúa Cha … Tôi chẳng bao giờ nghĩ tới. Tôi chỉ thấy  tôi và một số anh chị em trong ban điều hành cùng nhau thực hiện thế nào cho thật hoành tráng.

Quả thực Hoàn toàn kết hiệp với Đức Chúa Cha Là chuyện không tưởng.

Kết luận:

Tới đây câu hỏi tựa để nêu ở trên cùng

Hành trang người môn đệ… Điều gì quan trọng nhất?

Đã có câu trả lời:

Nhận ra Chúa sống trong mình và tập sống kết hiệp với Ngài ngay trong đời sống hằng ngày của mình…

Làm sao nhận ra Chúa sống trong mình?

Thánh Phaolo nhắc nhở chúng tôi:

Thật vậy, chính ở nơi Người mà chúng ta sống, cử động, và hiện hữu. (Cv 17:28)  

Một ngày nào đó tôi có thể chọn một cử động nào đó như: lên xuống cầu thang; chạy xe đi làm, nhai cơm một mình…

Vừa cử động vừa lên xuống từng bậc thang, hay vừa vặn ga, hoặc vừa từ từ nhai cơm… vừa nhử lòng mình….từng cử động này đang được thực hiện trong Chúa…. Chúa Cha, Chúa Kitô, Chúa Thánh Thần đều được..

Kiên trì tập ngày này qua ngày khác…tháng này qua thánh khác..năm này qua năm khác…Mỗi ngày khởi đầu khoảng  10 phút…30 phút…rồi 1 tiếng…đã là quý lắm rồi…

Chắc chắc một ngày đẹp trời nào đó.. tôi chắc chắn sẽ dần dần cảm nhận rằng mình quả thực đang sống từ nguồn sống của Ngài..

Lúc đó mới nói tới chuyện  Hoàn toàn kết hiệp với Chúa Cha.

Tất nhiên đây cũng chính là hành trang quan trọng nhất trong công cuộc loan báo Tin Mừng,

Thiếu điều này, tôi chỉ là một thùng rỗng… kêu hết sức to!!!

Nguồn  https://tramtubensuoi.blogspot.com/2021/07/hanh-trang-nguoi-mon-e-ieu-gi-quan.html

From: Kim Bang Nguyen