MƯỜI ĐỊA DANH NỔI TIẾNG TRONG ÂM NHẠC MIỀN NAM – Phạm Văn Duyệt

MƯỜI ĐỊA DANH NỔI TIẾNG TRONG ÂM NHẠC MIỀN NAM – Phạm Văn Duyệt

ĐỒI CHARLIE

Trong vài chục năm ngắn ngủi, các nhạc sĩ thân thương của Miền Nam Tự Do đã dày công sáng tác nhiều bài hát để đời. Một số địa danh được nhắc nhở trang trọng qua những dòng nhạc lãng mạn trữ tình.

Bài này xin nêu lên mười vùng đất quê hương để cùng nhớ lại trang sử “nhạc vàng” từng được ưa chuộng mê say trước cũng như sau 1975.

  1. CẦU ÁI TỬ 

“Mẹ thương con ra cầu Ái Tử

Vợ trông chồng lên núi Vọng Phu”

Chiều chiều trông về biên khu

Lòng căm hờn oán quân thù

Mở đầu là hai câu ca dao mà Nhạc Sĩ Duy Khánh nhắc lại trong bài Lối Về Đất Mẹ.

“Chiều qua giả từ đất Mẹ mà đi

Vì nghe tình quê tình nước đôi bề

Nước chia hai đường nước chưa về

Trót thương cho người lỡ câu thề

Lên đường từ ly, hỏi lòng mình lưu luyến gì”.

Vậy Ái Tử nằm ở đâu ? Vì sao tác giả nói tới địa danh này ?

Để lời lời câu hỏi đó, chúng ta hãy tham khảo wikipedia, lần giở lịch sử nước nhà giai đoạn Trịnh Nguyễn phân tranh.

Năm 1527 Mạc Đăng Dung cướp ngôi Nhà Lê, Nguyễn Kim (1468 – 1545) cùng một số danh tưởng khác chạy sang Ai Lao phù Lê diệt Mạc, lập nên Nhà Lê Trung Hưng (1533).

Vì quý mến tài năng Trịnh Kiểm nên Ông gả con gái Ngọc Bảo cho viên tướng này.

Sau khi Ông mất, Trịnh Kiểm lên nắm binh quyền, liền giết ngay anh vợ Nguyễn Uông. Người em còn lại Nguyễn Hoàng lo âu cho số phận mình. Thỉnh ý Trạng Trình Bỉnh Khiêm thì được lời khuyên “Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân”. Nghe xong Nguyễn Hoàng (1545 – 1613) nhờ Chị xin anh rễ cho vào trấn Thuận Hóa năm 1558. Nơi dừng chân đầu tiên là vùng đất hoang vu Ái Tử, Triệu Phong, Quảng Trị. Chúa Nguyễn đóng đô ở đây cho đến 1626 thì dời đi.

Trong thời chiến tranh Quốc- Cọng, một dạo Hoa kỳ từng sử dụng Ái Tử làm căn cứ quân sự.

Mới nghe qua ai cũng hiểu ái tử là thương con. Nhưng vì sao Duy Khánh lại mượn câu ca dao để mở đầu cho bài hát của mình?

Đây là chuyện kể của một người gốc Quảng Trị: vào giai đoạn toàn dân kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) có người chiến binh ôm mìn ngụy trang trôi theo đám lục bình bơi tới cầu Ái Tử đang thuộc quyền cai quản của Pháp với mưu toan giựt sập. Chẳng may viên lính gác cầu phát hiện bắn chết, có ngờ đâu đó là đứa con trai của mình.

Người Mẹ hay tin vội vã ba chân bốn cẳng chạy tới ôm xác kẻ lìa trần mà đau đớn tột cùng. Suốt mấy tháng trời bà vẫn hay ra cầu Ái Tử vật vã kêu gào thương khóc con. Phải chăng cảnh tượng này làm động lòng nhạc sĩ miền Trung đa tình?

PHÁ TAM GIANG

  1. PHÁ TAM GIANG

Năm 1972, Thi Sĩ Tô Thùy Yên cùng Nhạc Sĩ Trần Thiện Thanh viếng thăm vùng địa đầu giới tuyến. Bay ngang phá Tam Giang thấy cảnh sông nước lửng lờ trong buổi chiều tà, chợt nhớ Saigon đang bước vào mùa thi, Nhà Thơ dạt dào thi hứng làm bài thơ dài đưa cho Nhật Trường xem. Quá xúc động và đồng cảm với thi nhân, Trần Thiện Thanh phổ thành bài Chiều Trên Phá Tam Giang để rồi nhận ngay vòng nguyệt quế. Thi Sĩ nổi tiếng hơn mà Nhạc Sĩ cũng được hâm mộ nhiệt thành. Đã 50 năm trôi qua vẫn còn hằng triệu người khắp nơi ca hát xem như tâm sự của chính mình.

“Chiều trên phá Tam Giang

Anh chợt nhớ em

Nhớ ôi!  Niềm nhớ! Ôi niềm nhớ

Đến bất tận

Em ơi! em ơi!”

Phá Tam Giang rộng 50 km² chạy dài từ Sông Ô Lâu tới Cầu Hai, ngang qua hai huyện Phong Điền và Quảng Điền, Thừa Thiên, với độ sâu 2 – 4 m. Phá này được biết tiếng từ lâu với câu ca dao:

“Thương em anh cũng muốn vô

Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”.

Xưa có gã thư sinh từ xứ Nghệ vô kinh đô ứng thí. Khi ngang qua bến Sông Ô Lâu thì chàng phải lòng cô lái đò duyên dáng dễ thương. Hai người thề non hẹn biển sau khi đỗ đạt sẽ cùng kết tóc xe tơ.

Chàng thi đậu công thành danh toại, nàng ngày ngày ngóng trông tái hợp. Nhờ người nhắn gởi thì chàng mượn câu ca dao đó để thoái thác lời ước thề.

Về sau Nội Tán Nguyễn Khoa Đăng (1690 – 1725) đã điều động dân phu đào bới mở rộng cửa phá cho nên sóng biển không còn. Nhờ vậy mà tai nạn giật thuyền bè giảm hẳn.

“Phá Tam Giang ngày rày đã cạn

Truông Nhà Hồ Nội Tán dẹp tan”.

Còn cô lái đò vẫn giữ lòng chung thủy, mơ màng lặn lội băng rừng vượt núi kiếm tìm.

“Đói lòng ăn nửa trái sim

Uống lưng bát nước đi tìm người thương”.

Tới nơi mới hỡi ơi chàng đã yên bề gia thất. Nàng choáng váng xây xẩm mặt mày. Cố lê lết trở về quê cũ với nỗi niềm chua xót thở than:

“Đi đường những lách cùng lau

Những tràm với chổi bỏ nhau sao đành”.

Thế rồi không chịu nổi nghịch cảnh bị phụ tình, lỡ bước sang ngang, nàng trầm mình theo giòng nước nơi hai người từng tha thiết hẹn hò.

  1. LẦU ÔNG HOÀNG 

“Đường lên dốc đá nửa đêm trăng tà nhớ câu chuyện xưa

Lầu Ông Hoàng đó, thuở xưa chân Hàn Mặc Tử đã qua

Ánh trăng treo nghiêng nghiêng, bờ cát dài hoang vắng”.

Đó là lời trong bài “Hàn Mặc Tử” của Trần Thiện Thanh.

Theo wikipedia, tòa lâu đài này được công tước người Pháp vốn là cháu nội vua Louis xây cất năm 1911 rộng 500 m² cách tháp Chàm Pôshanu vài trăm mét thờ công chúa người Chăm và cách thành phố Phan Thiết 7 km.  Vua Bảo Đại từng mua lại Lầu này làm chỗ nghỉ ngơi, thưởng ngoạn cảnh đẹp hoang dã nên thơ của bãi cát dài trắng xóa cùng tiếng sóng rì rào với gió thổi vi vu từ đại dương.

Về sau người Pháp xây dựng nhiều đồn bót quanh khu vực nên không tránh khỏi chinh chiến điêu linh, danh thắng này trở nên đổ nát hoang tàn chẳng còn để lại dấu tích. Nhưng nơi đây từng là chốn hẹn hò của đôi tình nhân Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) và Mộng Cầm (1917 – 2007) trong những năm 1936 – 1937. Ta hãy nghe Hàn thổn thức khắc khoải nhớ nhung thần tượng bẻ nhỏ tên Nghệ (Mộng Cầm) qua bài Muôn Năm Sầu Thảm:

“Nghệ hỡi Nghệ muôn năm sầu thảm

Nhớ thương còn một nắm xương thôi

Thân tàn ma dại đi rồi

Rầu rầu nước mắt bời bời ruột gan

Thấy gió là ôm ngang lấy gió

Tưởng chừng như trong đó có hương

Của người mình nhớ mình thương

Nào hay gió tạt chẳng vương vấn gì

Nhớ lắm nhớ như si như dại

Nhớ quá nhiều mà bại hoại chân tay

Nhớ hàm răng nhớ hàm răng

Mà ngày nào đó vẫn khăn khít nhiều

Dẫu đau đớn vì lời phụ rãy

Nhưng mà ta không lấy làm điều

Trăm năm vẫn một lòng yêu

Và còn yêu nữa rất nhiều em ơi!”

Thêm nữa, hãy đọc bài Phan Thiết!  Phan Thiết! để nghe Hàn thở than rên xiết:

“Rồi ngây dại nhờ thất tinh chỉ hướng

Ta lang thang tìm tới chốn Lầu Trăng

Lầu Ông Hoàng người thiên hạ đồn vang

Nơi đã khóc đã yêu thương da diết

Ôi trời ơi ! là Phan Thiết ! Phan Thiết!

Mà tang thương còn lại mãnh trăng rơi

Ta đến nơi nàng ấy vắng lâu rồi

Nghĩa là chết từ muôn trăng thế kỷ

Trăng vàng ngọc, trăng ân tình, chưa phỉ

Ta nhìn trăng khôn xiết ngậm ngùi trăng

Ta vãi vung thơ lên tận sông Hằng

Thơ phép tắc bỗng kêu lên thống thiết

Hỡi Phan Thiết! Phan Thiết!

Mi là nơi ta ôm hận nghìn thu

Mi là nơi ta sầu muộn ngất ngư”.

Nghe lời thơ tưởng chừng như không có ai đau thương vì tình hơn chàng thi nhân đoản mệnh. Có biết đâu rằng trong một lúc nào đó song đôi với Mộng Cầm mà nhà thơ họ Hàn đã dịu dàng thỏ thẻ như trong bài Đà Lạt Trăng Mờ:

“Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều

Để nghe dưới đáy nước hồ reo

Để nghe tơ liễu run trong gió

Và để nghe trời giải nghĩa yêu”.

Hiện nay khu vực Lầu Ông Hoàng là địa điểm du lịch của tỉnh Phan Thiết.

  1. ĐỒI THÔNG HAI MỘ

Cạnh Hồ Than Thở, Dalat có ngôi mộ đôi nằm hiu quạnh hoang vu trên đồi

thông. Ngang qua đây mấy ai mà không khỏi chạnh lòng một nỗi u hoài. Trong tâm trạng đó, nhạc sĩ Hồng Vân đắm mình sáng tác bài ĐỒI THÔNG HAI MỘ kể lại cuộc tình bi thương ai oán có một không hai trên cõi đời này.

Chàng tên Tâm, con nhà địa chủ ở Gò Công. Đang theo học khóa Võ Bị Dalat thì gặp Thảo, con một gia đình công chức. Hai người thầm yêu trộm nhớ và thường hẹn hò bên Hồ Than Thở. Mãn khóa ra trường, Tâm xin cưới Thảo nhưng bị cha mẹ từ chối vì vì không môn đăng hộ đối.

Buồn tình trắc trở, chàng xin ra tiền tuyến. Phần Thảo còn đau khổ hơn khi biết song thân người yêu khước từ và chàng vì phẩn chí mà tình  nguyện xông pha ngoài biên ải. Tuy vậy nàng luôn một lòng chung thủy đợi chờ, lấy niềm vui qua những giờ phút trông ngóng thư người tình từ nơi phương trời lửa đạn.

Bỗng một hôm có thư báo về cái tin sét đánh ngang tai: Tâm vừa anh dũng hy sinh ngoài trận tuyến.  Trời đất quay cuồng sụp đổ.

“Rồi nàng buồn thơ thẩn chẳng còn ngồi trang điểm qua màu phấn

Để phai úa đến tàn cả hương sắc

Tháng ngày luôn héo hon”.

Chờ ai đây đợi ai đây khi mà người thương vĩnh viễn ra đi. Thế rồi tuyệt  vọng tình, nàng nhảy xuống bờ hồ quyên sinh theo người yêu. Gia đình thương tiếc cho lập mộ trên đồi thông.

Ngang trái thay lá thư báo tử là lá thư lầm lẫn chết người. Tâm không tử trận mà vẫn còn chiến đấu dưới cờ. Tám tháng sau chàng trở về thăm thì nghe hung tin Thảo không còn.

“Sao người về đây để tìm nhưng thôi đã mất còn đâu

Ôi buồn làm sao đồi thông xưa nay vắng bóng người yêu

Đời hợp tan, hợp rồi tan như mây kia gặp gió”.

Thật đắng cay chua xót, đồng cảnh ngộ của Thi Bá Vũ Hoàng Chương thuở nào: Đời vắng em rồi say với ai !

“Sóng dậy đìu hiu biển dấy sầu

Lênh đênh thương nhớ dạt trời Âu

Thôi rồi tay nắm tay lần cuối

Chia nẻo giang hồ vĩnh biệt nhau

“Gặp gỡ chừng như chuyện Liêu Trai

Ra đi chẳng hẹn một ngày mai

Em ơi ! lửa tắt bình khô rượu

Đời vắng em rồi say với ai?”.

Nghĩ mình đã tới đường cùng. Chàng quẩn trí tự vẫn với ước nguyện mồ chôn nằm bên cạnh người yêu. Cha mẹ chấp nhận và cho mai táng gần Thảo.

“Rồi mộ chàng được ở bên cạnh nàng như lời xưa thề ước

Nằm hiu hắt đến ngàn thu an giấc dưới mộ sâu đất khô”.

Nhưng từ sau 1975, do tuổi già sức yếu, đường sá đi lại quá khó khăn nên cha mẹ phải đành đoạn di dời mộ chàng về quê quán. Còn Thảo tuy xa Tâm nhưng vẫn nằm yên nghỉ bên cạnh ngôi mộ trống của chàng. Ai qua đây mà không khỏi bùi ngùi cho số kiếp người bạc mệnh.

  1. ĐỒI CHARLIE

Dựa theo bút ký Người Ở Lại Charlie của Nhà Văn Phan Nhật Nam, Nhạc Sĩ Trần Thiện Thanh đã soạn thành ca khúc cùng tên.

Charlie với cao độ gần 1000 m là dãy đồi nằm cạnh huyện Dakto, Kontum.

Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 khởi đầu giai đoạn chiến tranh khốc liệt nổ ra khắp các chiến trường miền Nam. Binh sĩ Cọng Hòa hành quân liên miên không một ngày thư thả.

Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù của Người Anh Cả Nguyễn Đình Bảo đã quần thảo ở Toumorong, Dakto, Dambe, Krek, Snoul, Đức Cơ, Khe Sanh, Hạ Lào… Có nơi chỉ đáo qua vài ngày rồi phải vội vàng từ giả theo tình hình chiến sự nóng bỏng trên bốn vùng chiến thuật.

Tháng 4.1972 được lệnh trấn đóng đỉnh đồi Charlie với nhiệm vụ án ngữ và kiểm soát ngã 3 biên giới Việt Miên Lào. Chừng 500 binh sĩ nhảy dù đối đầu lực lượng địch hùng hậu cấp sư đoàn. Chúng vẫn sử dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung quen thuộc, cường tập pháo kích hàng ngàn hỏa  tiễn suốt ngày đêm nhằm uy hiếp tinh thần và làm tiêu hao quân số trú phòng.

Sau hơn mười ngày đêm tử thủ dưới làn mưa pháo, Trung Tá Bảo bị sập hầm trúng đạn tử thương. Ngay sau đó Thiếu Tá Tiểu Đoàn Phó Lê Văn Mễ lên thay thế khi mà đơn vị gần như cạn kiệt vũ khí và lương thực.

Tình hình quá khẩn trương không thể cầm cự lâu hơn. Nếu chậm trể sẽ bị bao vây tràn ngập.Thiếu Tá Mễ cùng một số đồng đội phải gấp rút kiếm đường thoát thân, tìm cái sống trong cái chết rồi kêu gọi thượng cấp cho

pháo đài bay B52 dội bom ngay ngọn đồi vừa rút đi. Hàng ngàn cán binh sinh bắc tử nam bị tiêu diệt. Còn theo Nhà Văn Phan Nhật Nam, bên ta thiệt mất 400 binh sĩ đền nợ nước.

Trong số sĩ quan thoát ra từ tử địa có Y Sĩ Tô Phạm Liệu. Tuy thương tích ở chân nhưng Anh vẫn không nản chí ngã lòng. Rán điều trị rồi chờ đơn vị tái bố sung để cùng ra trận trong tháng 6 nơi vùng hỏa tuyến.

Tới tháng 9.1972 tất cả quân cọng sản xâm lăng phải tháo chạy về phương bắc. Y Sĩ Phạm Anh Dũng cho hay Đại Úy Tô Phạm Liệu được tuyên dương sĩ quan xuất sắc nhất của Sư Đoàn Dù.

Hy sinh vì đại nghĩa, Trung Tá Bảo được truy thăng Đại Tá, để lại bao tiếc thương cho hình ảnh người chỉ huy tài ba, gan dạ, luôn hết lòng thương yêu thuộc cấp. Ông giả biệt vợ trẻ và 3 con thơ lúc mới 36 tuổi đời. Bà Nguyễn Đình Bảo là cựu chiêu đãi viên hàng không vẫn ở vậy thờ chồng nuôi con ăn học thành tài.

“Anh! Anh! hỡi Anh ở lại Charlie

Anh! Anh! hỡi Anh giả từ vũ khí

Vâng, chính Anh là ngôi sao mới

Một lần này chợt sáng trưng

Là cánh dù đan bằng tiếc thương vô cùng

Anh! cũng Anh vừa ở lại một mình

Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành

Xin một lần thôi, một lần thôi

Vẫy tay tạ từ Charlie

Xin một lần nữa, một lần nữa

Vẫy tay chào buồn Anh đi”.

Vời lòng cảm phục vô biên những Người Anh Hùng Mũ Đỏ, nhiều cựu binh và dân thường đã lặn lội tìm đường tới Charlie thăm chiến trường xưa. Trong tận sâu thẳm đáy lòng, ai ai cũng đều ngậm ngùi khi nhìn lại ngọn đồi nơi mà 50 năm về trước những người con thân yêu của Tiểu  Đoàn 11 Nhảy Dù oanh liệt ra đi chẳng hẹn ngày về.

  1. PLEIME

Trại Lực Lực Lượng Đặc Biệt Pleime nằm giáp ranh vùng 3 biên giới, cách Pleiku 40 km về hướng nam.

Pleime được Phạm Duy nhắc tới trong nhạc phẩm Kỷ Vật Cho Em, phổ từ bài thơ Để Trả Lời Một Câu Hỏi của Thi Sĩ Linh Phương với lời lẻ vô cùng áo não tang tóc bi ai dễ làm nao lòng chiến sĩ. Chính vì vậy mà từng bị xếp vào loại nhạc phản chiến và cấm hát một thời gian.

“Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại

Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về

Anh trở về có thể bằng chiến thắng Pleime

Hay Đức Cơ Đồng Xoài Bình Giả

Anh trở về, anh trở về hàng cây nghiêng ngả

Anh trở về có khi là hòm gỗ cài hoa

Anh trở về trên chiếc băng ca

Trên trực thăng sơn màu tang trắng”.

Nhạc Sĩ Trúc Phương cũng nhắc đến Pleime trong bài Trên Bốn Vùng Chiến Thuật:

“Tôi thường đi đó đây

Bùn đen in dấu giày

Chân nghe lạ từng khu chiến thuật

Áo nhà binh thương lính, lính thương quê

Vì đời mà đi

Pleime gió mưa mùa

Bốn vùng nghe lưu luyến bước bâng khuâng của vạn người thân”.

Tại Pleime từng xảy ra hai trận đánh  khốc liệt.

* Trận đầu ở Thung lũng Ia – Drang:

Theo lời kể của Thiếu Úy Trần Quốc Cảnh (khóa 19 Võ Bị Dalat) thì cuối tháng 10.1965 Việt Cọng bao vây Trại Pleime. Lực lượng tham chiến bên ta

có trung đoàn 3 thiết giáp, tiểu đoàn 21 biệt động quân, tiểu đoàn 1/42, 400 dân sự chiến đấu và một bộ phận của lữ đoàn dù cùng chống trả chiến thuật công đồn đả viện của 3 trung đoàn cọng quân.

Mặc dù quân số đông đảo cọng thêm trang bị vũ khí tối tân nhưng sau 7 ngày giao tranh ác liệt, phía bắc phương thiệt hại nặng nề phải rút chạy vào rừng. Ta bẻ gãy kế hoạch cắt đôi Tây Nguyên của chúng.

Đó là nhờ tinh thần chiến đấu gan dạ cùng sự phối hợp nhịp nhàng hoàn hảo giữa quân đội Cọng Hòa và Không Lực Hoa Kỳ.

Theo Time Magazine ngày 5.11.1965, trong số 6000 quân cọng phỉ, ước chừng 1000 tử vong và 2000 thương tích.

* Trận thứ nhì: sau trận đầu, trại Pleime cũ bị phá hủy và trại mới được xây dựng. Đầu năm 1974, Thiếu Tá Vương Mộng Long nhậm chức Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân Biên Phòng phụ trách bảo vệ vùng núi rừng rộng lớn bao quanh Pleime.

Đây là hành lang chiến lược cho cọng quân di chuyển từ bắc vô nam, từ đồng bằng lên Tây Nguyên và vận hành binh lính vũ khí quân lương qua các tỉnh vùng 3 biên giới. Vì vậy mà  chúng quyết tâm nhổ sạch Trại để rộng đường cho giấc mộng xâm lăng. Cuộc chiến khởi đầu từ cuối tháng 7.1974.

Theo Thiếu Tá Long về tương quan lực lượng đôi bên thì địch có quân số gấp mười lần, chưa kể cơ giới, pháo binh, chiến xa và phòng không.

Biết mình sức yếu thế cô phải một chọi mười, thật là không cân sức. Nhưng cả Tiểu Đoàn quyết tử để quyết sinh. Chiến đấu đến người lính cuối cùng. Thề sống chết có nhau đồng lòng bảo vệ quê hương tự do và đời sống ấm no cho đồng bào. Nhiều ngày bị cô lập với bên ngoài và lương thực đạn dược gần như cạn kiệt. Nhưng Trời luôn phù hộ người chính nghĩa. Bất chấp hàng loạt mưa pháo  hoặc cái lạnh cắt da của núi rừng trùng điệp. Thiếu Tá Long khóa 20  Võ Bị Dalat luôn điều động binh sĩ vững lòng chống trả các đợt tấn công biển người của giặc thù. Nhờ vậy mà chúng không thể tràn ngập tiêu diệt căn cứ kể cả cho tank 54 lồng lộn  xung trận nhưng cũng đành thúc thủ rút lui vào cuối tháng 8 sau 33 ngày đêm tử thủ kiêu hùng của Tiểu Đoàn. Quốc Kỳ Việt Nam Cọng Hòa lại phất phới tung bay trên cột cờ cao vào sáng ngày 2.9.1974.

Hai dãi băng trắng chữ sơn đỏ căng ngang trước tư dinh Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn 2: “Toàn dân Pleiku ghi ơn Thiếu Tá Vương Mộng Long và  các chiến sĩ Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân”. Hàng ngàn quân dân cán chính long trọng làm lễ khao quân suốt mấy ngày. Đâu đâu cũng nghe vang dội khúc quân hành: “Kìa đoàn quân chiến thắng trở về trong nắng hồng…” (Bài Ca Chiến Thắng, Minh Duy).

  1. THA LA XÓM ĐẠO 

Tha La là xóm nhỏ ở vùng Trảng Bàng Tây Ninh.

Gần 200 năm trước một số con chiên từ Huế do bị Vua Minh Mạng cấm theo Thiên Chúa Giáo nên chạy trốn vào ẩn trú ở vùng đất hẻo lánh này. Họ chung tay khẩn hoang lập ấp, xây dựng thôn xóm để bảo tồn niềm tin tôn giáo.

Năm 1950, Nhà Thơ Vũ Anh Khanh (1930 – 1956) tình cờ ghé thăm nơi đây. Duyên nợ đẩy đưa Anh sáng tác bài thơ dài Hận Tha La:

“Đây Tha La xóm đạo

Có trái ngọt cây lành

Tôi về thăm một dạo

Giữa mùa nắng vàng hanh”.

Nhạc Sĩ Dzũng Chinh đã phổ thành bài hát Tha La Xóm Đạo:

“Đây Tha La, đây xóm đạo tiêu điều

Cây buồn quanh hận thù dâng ai oán” Người Tha La rất hãnh diện hát bài quê hương mình để ghi nhớ một thời đao binh:

“Đây Tha La, đây xóm đạo hoang tàn

Mây trời vây quanh màu tang khói  lửa

Bao năm qua Tha La còn trơ đó

Đoàn người đi giết thù đã hẹn thề từ dạo ấy

Lòng viễn khách bồi hồi như thương tiếc mùa xuân nắng hanh vàng”.

Nhà Văn Xuân Vũ gặp Anh Khanh tại miền Tây năm 1950 khi cùng tham gia kháng chiến. Xuân Vũ cho biết: “Nhà thơ tốt nghiệp khóa lục quân 12 tháng. Anh hay mặc áo nhà binh xập xệ, quần ống cao ống thấp, miệng cười xề xề. Lúc nào có liên hoan thì bạn bè hay bắt Anh lên ngắm thơ”.

Tới hiệp định Geneve 1954 cả hai cùng tập kết ra bắc. Vài năm sau Anh được cử đi dự hội nghị văn chương quốc tế ở Ấn Độ. Khi về Anh kể chuyện thăm ngôi đền lạ lùng thờ “cái đó” và “cái ấy”. Bạn bè thắc mắc một hồi thì Anh cho biết “cái đó” dài bằng cây cột còn “cái ấy” to bằng cái nia. Ai nghe cũng ôm bụng cười sặc sụa.

Bữa ấy Anh khao anh em một chai rượu ngoại vừa mang về từ hội nghị.

Thế rồi Anh xin đi công tác. Giấy phép ghi tới Vĩnh Phúc nhưng anh sửa thành Vĩnh Linh để tìm cách vượt tuyến vào Nam. Gần Cầu Hiền Lương anh nhìn lui nhìn tới rồi vội vàng lặn hụp cố bơi qua bờ. Rủi thay bị công an biên phòng phát hiện. Chúng dùng mũi tên tẩm độc bắn chết anh rồi vùi thây ngay đụn cát ven sông. Thế là mộng ước của bao nhiêu người Tha La đành trở thành tuyệt vọng, cho dù ai nấy đều thầm ca bài  Chuyến Đò Vỹ Tuyến của Lam Phương như bày to niềm khát vọng một ngày Anh Khanh trở lại:

“Bùi ngùi nhìn cách xa ngàn trùng

Giờ đây em điêu linh nơi quê nhà đang chìm đắm

Bao đêm thổn thức dưới trăng ngà

Hồn đắm say chờ đón ngày anh về sưởi lòng nhau”.

Xuân Vũ từng đóng vai phóng viên  thăm vùng giới tuyến. Ngang khúc sông Anh Khanh gặp nạn, Vũ âm thầm muốn trốn nhưng quan sát kỹ thấy nguy hiểm không an toàn nên đành thối lui. Khi về Nhà  Văn Đoàn Giỏi hỏi:

“Mày vô đó có thấy mộ Anh Khanh không?

– Chẳng biết mộ anh ấy nằm ở đâu vì gặp quá nhiều nắm đất dọc bờ cát trắng.

Đoàn Giỏi buồn rầu nói thêm: Phải chi biết ngày nó chết tụi mình cơm canh cúng giỗ một bữa cho nó bớt tủi vong hồn”.

Anh Khanh là văn nghệ sĩ hăng say theo cọng sản rồi bỏ hàng ngũ trở về với chính nghĩa tự do sớm nhất. Sau Anh có nhiều người vượt thoát thành công như Xuân Vũ, Ca Sĩ Bùi Thiện… Một số manh nha ly khai nhưng chưa kịp đào tị thì bị trù dập tả tơi. Điển hình là Nhà Thơ Trần Vàng Sao đang là sinh viên đại học Huế lại thoát ly lên rừng núi Trường Sơn “chống Mỹ cứu nước” rồi chợt hiểu rõ bộ mặt giả nhân giả nghĩa của cọng sản liền thức tỉnh viết ra những nhận thức phê phán chân thành. Hậu quả là không những bị hạch hỏi trừng trị mà còn hết tin dùng. Ai đọc bài thơ “Tau Chửi” nguyền rủa lên án việt cọng tàn ác gian manh vắt chanh bỏ vỏ mới hiểu thấu nỗi uất hận cay đắng của kẻ trót dại lầm đường như Ông.

  1. ĐƯỜNG DUY TÂN 

là đoạn đường nối Nhà Thờ Đức Bà và Hồ Con Rùa thuộc quận 3 Saigon. Hai bên đường có hàng cây sao cổ thụ cao vút, vài cây tồn tại cả trăm năm, xen lẫn nhiều ngôi biệt thự uy nghi kín cổng cao tường che phủ bởi những giàn bông giấy sắc màu rực rỡ.

Đường Duy Tân mang tên Nhà Vua thứ 11Triều Nguyễn là Thái Tử Vĩnh San lấy niên hiệu Duy Tân (1900 – 1945) với hoài vọng đổi mới cải cách cho đất nước. Năm 16 tuổi do chống Pháp nên Ngài bị đày sang Đảo Reunion (Phi Châu) và tới 1945 thì tử thương trong một tai nạn phi cơ.

Con đường này trở nên nổi tiếng từ khi nhạc phẩm Trả Lại Em Yêu của Phạm Duy ra đời.

“Trả lại em yêu khung trời đại học

Con đường Duy Tân cây dài bóng mát

“Trả lại em yêu con đường học trò

Những chiều Thủ Đô tưng bừng phố xá

Chủ nhật uyên ương hẹn hò đây đó

Uống ly chanh đường uống môi em ngọt”.

Duy Tân là con đường tình yêu học trò, con đường hẹn hò đưa đón, con đường tạ từ chia biệt, con đường gặp gỡ lứa đôi, con đường hạnh phúc thiết tha, con đường ngọt ngào âu yếm, con đường giận hờn đổ vỡ, con đường đau khổ ly tan…

Đường này có Đại Học Luật Khoa với hàng chục ngàn sinh viên ghi danh. Trong 20 năm trời lắm cuộc tình diễn ra ở đó để lại bao nhiêu dư âm buồn vui suốt cả cuộc đời. Ai có chút tâm hồn mơ mộng mà không bày tỏ nỗi niềm thi nhân khi mỗi chiều ngang qua đây tình cờ bắt gặp những đôi tình nhân sánh bước chung đôi dưới hai hàng cây xanh mát.

Khung cảnh thơ mộng tưởng chừng Lưu Thần Nguyễn Triệu đáo Thiên Thai. Nhưng xa rồi những ngày xưa thân ái. Không chỉ tên đường thay đổi mà cảnh vật xung quanh cũng đổi thay. Không còn hai hàng cây thẳng tắp quen thuộc. Chủ nhân mấy ngôi nhà cổ kính bỏ đi xa, thay vào đó là lớp người mới giàu có từ đâu tới xây cất những biệt thự cao tầng nguy nga tráng lệ. Vừa chật hẹp mà lưu lượng quá đông nên nạn kẹt xe xảy ra hằng ngày.

Chính tại đường Duy Tân đã chứng kiến bản chất côn đồ giết người không gớm tay của việt cọng.

Mùa hè 1971 diễn ra cuộc bầu cử Ban Chấp Hành Sinh Viên Đại Học Luật Khoa giữa hai liên danh Lê Khắc Sinh Nhật và Trịnh Đình Ban. Kết quả  Sinh Nhật thắng cử vẻ vang. Phe thất bại là nhóm thân cọng đã điên cuồng tức giận trả thù hèn nhác và ra tay bắn chết đối thủ trước cổng trường ngay giữa ban ngày. Từ đó con đường cây dài bóng mát trở thành con đường đau buồn tan nát.

Ai gây ra thảm cảnh này?

  1. PHÀ HẬU GIANG (Phà Cần Thơ)

Băng qua Sông Hậu nối liền Cần Thơ và Vĩnh Long dài 1840 mét.

Trong một chuyến về quê vợ ở miền Tây có công việc nhà, Nhạc Sĩ Nhật Ngân đang thơ thẩn đi tới đi lui ngóng chờ phà Hậu Giang thì chợt nghe văng vẳng đâu đây tiếng hát mượt mà của ai đó giữa đám đông người lũ lượt chen chúc trên bến sông.Tiến lại gần thì Ông thấy người thương binh chống nạn, cụt mất một chân bận bộ đồ treillis rách nát bạc màu đang ca bài Xuân Này Con Không Về.

“Con biết bây giờ Mẹ chờ mong con

Khi ánh mai đào nở vàng bên nương

Năm trước con hẹn đầu xuân sẽ về

Nay én bay đầy trước ngõ mà tin con vẫn xa nghìn xa

“Con biết không về Mẹ chờ em trông

Nhưng nếu con về bạn bè thương mong

Bao lứa trai hùng chào xuân chiến trường

Không lẻ riêng mình êm ấm

Mẹ ơi! con xuân này vắng nhà”.

Nghe xong Nhạc Sĩ quá xúc động, đâu ngờ ở nơi chốn chợ đời đua chen này lại có người hát thành thạo bản nhạc của mình mà không cầm được nước mắt.

Ông chạy tới chuyện trò hỏi han, bỗng nhận ra người bạn cùng lớp thời trung học sau gia nhập Võ Bị Dalat. Ra trường một năm thì bị thương gãy chân phải giải ngũ. Trở lại Mỹ, Nhật Ngân cùng Trần Trịnh hợp soạn ca khúc Chiều Qua Phà Hậu Giang để nói lên tâm sự của người thương binh quân lực Việt Nam Cọng Hòa sau cuộc chiến:

“Chiều qua phà Hậu Giang, tiếng ai hát dạo buồn thay

Tiếng ca sầu mênh mang như khơi  niềm đau năm tháng xưa

Chân nạng gỗ thấp cao kéo lê đời theo dòng nhạc đưa

Mãnh chiến y phai màu khúc ca nào gợi sầu không nguôi”.

Sự hy sinh tuổi thanh xuân và một phần thân thể của hàng vạn thanh niên trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam là vô bến bờ, không lấy gì đền đáp được. Bao năm qua nhiều nơi tổ chức Đại Nhạc Hội Cảm Ơn Anh nhằm vinh danh Người Thương Binh, gây quỹ giúp Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ Việt Nam Cọng Hòa còn kẹt lại ở quê nhà. Trong nước có Dòng Chúa Cứu Thế, Chùa Liên Trì…đã tận tay trao phát nhiều đợt quà tình nghĩa cho thành phần thiệt thòi này.

Nhưng nghĩa cử đó thực ra cũng quá nhỏ nhoi. Chỉ ước mong may ra có thế làm ấm lòng các gia đình kém may mắn trong một chừng mực nào đó mà thôi.

Về phần bến phà, sau khi Cầu Cần Thơ khánh thành năm 2010, tuy đường sá được thông xe, phà Hậu Giang kết thúc sứ mạng sau 100 năm hoạt động nhưng hiện nay vẫn còn bến đò vận hành loại phà nhỏ hơn cho người và xe mô tô qua lại vì nhanh và ít tốn phí hơn so với lưu thông bằng xe. Không biết có còn ai sống đời hát dạo như trước không?

  1. LĂNG MẠC CỬU 

Nhạc Sĩ Lê Dinh một lần ghé thăm  đã cảm tác ca khúc dễ thương Hà Tiên Mến Yêu.

“Tôi nhớ hoài một chiều

Dừng chân ghé qua thăm miền ước mơ

Tôi qua Lăng Mạc Cửu

Nằm trên con voi phục

Tôi vô thăm Thạch Động

Trời bát ngát mênh mông”.

Mạc Cửu (1655 – 1735) là thủy tổ dòng họ Mạc ở Hà Tiên. Do không thần phục Nhà Thanh nên Ông rời bỏ Quảng Đông trốn qua Nam Vang năm 1668 hành nghề thương nhân quanh các nước Đông Nam Á. Đến 1699 Ông khai khẩn nhiều khu vực hoang địa của Hà Tiên lập thành 7 xã thôn. Năm 1708 chịu thần phục Chúa Nguyễn, được phong Tổng Trấn Hà Tiên, cai quản như một Tiểu Vương theo truyền thống cha truyền con nối. Liên tục 7 đời, con cháu họ Mạc cải biến Hà Tiên từ vùng đất ít người biết đến thành cửa ngõ giao thương sầm uất của Đại Việt.

Di tích Lăng được xây dựng từ năm 1739. Trên cổng nhà thờ có câu đối Hán Nôm do chính Nhà Nguyễn ban tặng:

“Một nhà trung nghĩa danh thơm cả họ

Bảy lớp giậu che, cả nước mến yêu”.

Quanh mộ phong cảnh mây, nước, biển, trời quyện vào nhau thành bức tranh thủy mạc hữu tình, ngắm trông hoài tưởng chừng như lạc vào tiên giới.

Người Việt cảm hoài tấm lòng của dòng họ Mạc tận tụy mở rộng bờ cõi phương Nam cho cả nước. Nhớ ơn Mạc Cửu, thiết tưởng chúng ta không thể quên hai nhân vật gốc Hoa khác từng đóng góp nhiều cho sự phồn vinh của Miền Nam.

* Chú Hỏa (1851 – 1901)

Người gốc Phúc Kiến, Trung Quốc, mang quốc tịch Pháp. Di cư tới Saigon sống bằng nghề bán ve chai mà trở nên giàu có nhanh chóng.

Khoảng nửa đầu thế kỷ 20 đã là một trong tứ đại phú hào của Saigon: nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa (Huyện Sĩ – Lê Phát Đạt, Tổng Đốc Phương – Nguyễn Hữu Phương, Bá Hộ Xường – Lý Tường Quan, Chú Hỏa – Hui Bon Hoa).

Tuy xếp thứ tư nhưng Chú vẫn để lại tiếng thơm muôn đời nhờ tấm lòng không chỉ làm giàu cho riêng mình mà còn quan tâm giúp đỡ cộng đồng xung quanh.

Suốt thời gian dài gia đình Chú đóng góp lớn lao cho sự phát triển của thành phố về vật chất lẫn tinh thần, hiến tặng nhiều công trình phúc lợi như Bệnh Viện Từ Dũ, Bệnh Viện Đa Khoa Saigon, Bệnh Viện Nguyễn Trãi, Trường Tiểu Học Minh Đức…

* Mã Tuyên (1909 – 1994)

Bang Trưởng và Chủ Tịch 11 bang Hoa Kiều Chợ Lớn. Với chức vụ này Ông từng có dịp gặp Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Chính mối tương giao đó mà tối ngày 1.11.1963 lúc đang bị quân đảo chánh bao vây, Tổng Thống và Cố Vấn Ngô Đình Nhu theo xe ra khỏi Dinh Gia Long rồi chọn nhà Ông để ẩn mình trong đêm định mệnh.

Đón chào Anh Em Tổng Thống tới tá túc. Ông hết mực ân cần chăm sóc tiếp đãi. Một lòng nồng hậu cung kính. Lo chu toàn mọi chuyện mà Tổng Thống cậy nhờ. Căn dặn gia nhân kín đáo bảo mật sự hiện diện của hai Ngài.

Thế rồi tình hình vẫn không sáng sủa. Trong bối rối lo âu Anh Em Tổng Thống phải giả biệt Người Bang Trưởng trung hậu hiếu khách để sang Nhà Thờ Cha Tam rồi bị thảm sát trên đường đến Bộ Tổng Tham Mưu.

Liền sau đó phe đảo chánh kết án Ông 3 năm tù và tịch biên tài sản. Nhưng đời vẫn chưa yên. Sau 30.4.75, việt cọng lại bỏ tù Ông 4 năm ròng.

Thật đáng thương cho Vị ân nhân Việt gốc Hoa chơn chất hào hiệp. Chỉ vì che chở cho Người Lãnh Tụ lâm nạn mà chịu thiệt thân. Xin cầu nguyện Ông yên nghỉ.

Do đâu mọi người bình đẳng với nhau?

Do đâu mọi người bình đẳng với nhau?

Con Cọp thở hơi ra lạnh quá đi thôi! Mến chúc bạn một ngày thật ấm áp trong Thánh Tâm Chúa và Trái Tim Vẹn Sạch của Đức Mẹ. Nhớ mặc đồ đủ ấm nhé kẻo ho làm người xung quanh lại tưởng là bị COVID đấy.

Cha Vương

Thứ 6: 04/02/2022

GIÁO LÝ: Do đâu mọi người bình đẳng với nhau? Mọi người đều bình đẳng với nhau, vì họ có cùng một nguồn gốc, trong Tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa. Mọi người đều có cùng một Đấng Cứu chuộc là Chúa Giêsu Kitô. Mọi người đều có thể tìm kiếm và được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trong Thiên Chúa. (YouCat, số 61)

SUY NIỆM: Mọi người đều là anh chị em với nhau. Kitô hữu không được chỉ liên đới với các Kitô hữu khác nhưng với tất cả mọi người để chiến đấu mạnh mẽ chống các thứ chia rẽ vì kỳ thị chủng tộc, kỳ thị giới tính, kỳ thị kinh tế trong gia đình nhân loại. (YouCat, số 61 t.t)

❦Hãy mở miệng bênh vực người câm, vì quyền lợi của mọi kẻ bị bỏ rơi. (Cn 31:8)

❦Ngày nay: rất nhiều người trên thế giới, rất nhiều, hàng triệu người, không có quyền ăn, không có quyền học hành, không có quyền làm việc: họ là những nô lệ mới, những người ở ngoại vi cuộc sống, những người bị bóc lột khai thác bởi tất cả mọi người. Ngay cả ngày nay vẫn có chế độ nô lệ: chúng ta hãy nghĩ về điều này một chút. Chúng ta phủ nhận nhân phẩm của những người này. Họ là nô lệ. (Nhận định của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô trong bài giáo lý tại buổi tiếp kiến chung, 8/9/2021)

LẮNG NGHE: Căn tính mới này vượt qua mọi khác biệt về sắc tộc, xã hội và tôn giáo: trong Đức Kitô, “không còn phân biệt người Do Thái hay người Hy Lạp, nô lệ hay tự do, nam hay nữ” (Gl 3:28).

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, trong ánh mắt Chúa nam nữ, già trẻ, giàu nghèo, mọi sắc tộc, tất cả đều có một phẩm giá cao trọng như nhau, xin ban thêm lòng mến cho con để con biết tôn trọng phẩm giá con người trên khuôn mặt những người con gặp hôm nay, nhất là thể hiện phẩm giá của mình bằng cuộc sống quảng đại, phục vụ và yêu thương.

THỰC HÀNH: Tập đối xử với tất cả những người xung quanh với một tấm lòng khoan dung yêu mến như Chúa vậy.

From: Đỗ Dzũng

ĐÊM TẠ ƠN  

ĐÊM TẠ ƠN

Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền

Một năm cũ sắp trôi qua và một năm mới sắp đến.  Trong khoảnh khắc giao thừa giữa cũ và mới này, chúng ta đến với Chúa, Đấng Tạo dựng muôn loài, Đấng làm chủ thời gian, để tạ ơn Ngài về 365 ngày sắp qua, và xin Ngài giúp chúng ta biết sử dụng 365 ngày sắp đến theo đúng thánh ý Ngài.

Đêm nay người ta vẫn gọi là đêm giao thừa, là nhịp cầu chuyển tiếp giữa cũ và mới.  Ai ai cũng mong muốn trút khỏi lòng mình mọi lo âu phiền muộn, không ai dám nhắc tới những rủi ro bất hạnh của ngày hôm qua, dường như ai cũng thầm mong ước cho đêm nay như là một khởi đầu tốt đẹp cho hành trình mới của tương lai.  Ai cũng gác lại quá khứ để bước vào năm mới trong niềm vui và hy vọng như câu ca dao xưa:

“Đêm ba mươi co cẳng đạp thằng bần ra cửa.

Sáng mồng một giang tay bồng ông phước vào nhà.”

Thực vậy, mùa xuân, ngày tết, ai cũng mong nhận được nhiều phước lộc, nên ai cũng chúc cho nhau nhiều tài lộc, nhiều tiền, nhiều của.  Những người có tín ngưỡng thì tin rằng may mắn, tiền của là ân lộc trời ban.  Nhưng phước hạnh đời người mà chúng ta cầu chúc cho nhau không chỉ là nhắm đến tài lộc mà là hạnh phúc miên trường, hạnh phúc của người có tâm hồn bình an.

Nhìn lại một năm qua, có những người được hạnh phúc vì làm ăn thuận buồm xuôi gió, công thành danh toại, có những người hạnh phúc vì tìm được chân lý, tìm được lẽ sống, tìm được bình an trong tâm hồn.  Nhưng vượt lên trên tất cả cái may mắn đó, chính là sự sống, là sự bình an của đời người. 

Sự sống luôn ở bên ngoài khả năng của chúng ta, sự sống của chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào Chúa.  Hạnh phúc là ân ban của Thiên Chúa.  Con người không thể kiến tạo hạnh phúc cho mình bằng thủ đoạn, bằng gian dối hay sự ác.  Con người phải sống ngay lành nhờ đó mà Thiên Chúa mới ban phúc lành là bình an.  Một năm qua với những vụ trọng án cho ta thấy con người không thể tạo dựng hạnh phúc cho mình bằng quyền lực để tham nhũng hại dân mà phải bằng tấm lòng luôn đi theo chân thiện mỹ.  Đâu ai ngờ một ông Đinh La Thăng dám nói dám làm đầy quyền thế lại phải hầu tòa?  Đâu ai ngờ một Trịnh Xuân Thanh luôn sống trong nhung lụa giầu có quyền thế lại phải thân tàn ma dại?  Đâu ai ngờ một đại gia Vũ Nhôm khuynh đảo thành phố đáng yêu Đà Nẵng lại có kết cục trong tù tội…?

Hạnh phúc đến từ lộc Trời ban xuống thì con người phải sống theo lẽ Trời.  Phải sống ăn ở ngay lành và làm việc thiện phúc đức.  Quy luật của trời đất là “Xởi lởi trời gửi của cho – Co ro trời co của lại.”   Càng gieo nhân nghĩa con người lại càng tìm được niềm vui hạnh phúc tự trong tâm hồn.  Đây gọi là tích đức để Trời sẽ ban hạnh phúc cho bản thân, cho gia đình và cho mọi người thân nhờ công đức của ta.

Nếu hiểu rằng hạnh phúc – bình an là lộc ban từ Trời thì giây phút này là giây phút tạ ơn về quá khứ đã qua.  Tạ ơn Chúa đã ban cho chúng ta 365 ngày bình an.  Tạ ơn Chúa vì những biến cố xảy ra trong cuộc đời giúp ta nhận ra tình yêu của Chúa luôn bao bọc gìn giữ chúng ta.  Có thể đó là những đau khổ, là những mất mát nhưng chúng ta lại được bàn tay Chúa dìu dắt và bồng ẵm chúng ta qua những thăng trầm cuộc đời.  Tạ ơn Chúa đã cho chúng ta niềm tin tưởng vào Chúa, nếu không, biết đâu giờ này chúng ta đang rơi vào tâm trạng tuyệt vọng vì không đủ can đảm đối diện trước gian nan.

Nguyện xin Chúa Xuân đang về trên quê hương ban cho chúng ta những giây phút đầu xuân tràn đầy bình an và hoan lạc.  Xin Chúa Xuân chúc lành cho giây phút giao thừa này được vơi đi những ưu phiền để người người hưởng một mùa Xuân thánh ân hạnh phúc dư tràn.  Amen!

Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền

From: KittyThiênKim & KimBang Nguyen

Bức Thư 6 Chữ Của Cô Bé 6 Tuổi Đã Làm Thay Đổi Cuộc Đời Tôi

Van Pham

GÓC SUY GẪM…

Bức Thư 6 Chữ Của Cô Bé 6 Tuổi Đã Làm Thay Đổi Cuộc Đời Tôi

Ngày hôm ấy, nếu tôi niềm nở hơn với cô bé thì có lẽ mọi chuyện đã khác. Phía dưới bức tranh của cô bé 6 tuổi gửi tặng tôi chỉ có 6 từ, nhưng chúng đã thay đổi cuộc đời tôi.

Cứ mỗi lần cảm thấy khó chịu hay bức bối, tôi lại thường lái xe đến nơi này, đó là một bãi biển vắng, cách nhà tôi 5 – 6 km bởi khi được ngắm biển, lòng tôi cảm thấy nhẹ nhõm và mọi muộn phiền dường như đều tan biến.

Lần ấy, khi đang đi dạo, tôi thấy một cô bé đang ngồi xây lâu đài trên cát hay cái gì đó, bỗng nhiên cô bé ấy ngẩng lên, đôi mắt xanh như màu nước và mở lời:

– “Chào chú”.

Tôi gật đầu, không muốn bị một đứa trẻ làm phiền

– “Cháu đang xây đây này!”, cô bé nói tiếp.

– “Chú thấy rồi! cháu xây gì vậy…”, tôi hỏi, dù chẳng quan tâm là mấy.

– “Cháu có biết đâu, cháu chỉ thích cảm thấy cát trong lòng bàn tay thôi!”.

Tôi nghĩ thầm “Nghe có vẻ hay đấy!”. Ngay lập tức, tôi cởi giày đi chân trần và cảm nhận những hạt cát li ti mát lạnh đang dưới chân mình.

– “Đó là niềm vui đấy!”, cô bé nói .

– “Mẹ cháu bảo cát mang niềm vui đến”.

Trong đầu tôi chợt nhớ đến câu nói: “Tạm biệt niềm vui, quay lại với nỗi buồn”.

Cuộc sống tôi đang bấp bênh, lòng tôi đang xao động và mọi thứ đối với tôi dường như là một sự mất cân bằng.

– “Tên chú là gì…?”, con bé này đúng là không chịu tha cho người ta!

Tôi đáp:

– “Ruth…Ruth Peterson”.

– “Cháu là Wendy, cháu 6 tuổi!”, cô bé nhanh nhảu tiếp lời tôi.

– “Ừ! Chào Wendy”.

– “Chú vui tính thật!”, cô bé cười một cách giòn giã rồi nói nhỏ:

– “Lần sau chú lại đến đây nhé, chú sẽ vui cho xem”.

Những tuần sau đó tôi bận rộn với nhiều việc khác, họp hành, bạn bè và mẹ tôi ốm. Đau đầu và mệt mỏi. Một buổi sáng, tội tự thấy mình cần có lại cảm giác của cát và tiếng sóng biển. Tôi lái xe đến bãi biển quen thuộc.

– “Chào chú!” (Không biết tự bao giờ cô bé cũng có mặt ở đó)

– “Chú có muốn chơi cát không…?”.

– “Cháu nghĩ gì thế…?”, tôi hỏi, cảm giác hơi khó chịu vì cứ bị làm phiền.

– “Cháu không biết”.

– “Cháu sống ở đâu…?”.

– “Đằng kia ạ!”, cô bé chỉ tay về phía những nhà nghỉ mùa hè.

– “Lạ thật!”, tôi nghĩ (vì bây giờ là mùa đông).

– “Thế cháu không đến trường à….?”.

– “Không ạ, mẹ nói cháu đang được nghỉ”.

Sau khi nói chuyện với cô bé tôi ra về. Trước khi tạm biệt, Wendy chia sẻ rằng cô bé rất vui, và đúng là chính bản thân tôi cũng thấy nhẹ nhõm hơn nhiều.

Ba tuần sau đó, tôi lại đến bãi biển trong tâm trạng tồi tệ, thậm chí không muốn chào Wendy. Tôi nghĩ nếu tôi gặp mẹ cô bé, tôi sẽ bảo bà ấy giữ cô bé ở nhà cho tôi nhờ.

– “Hôm nay chú muốn ở một mình!”, tôi nói ngay khi Wendy thấy tôi và chạy lại gần.

– “Tại sao ạ… mặt cô bé có vẻ tái xanh”.

Tôi quay sang gào lên:

– “Mẹ chú mất rồi!”.

– “Ôi!!!”, Wendy lẩm bẩm: “Thế thì hôm nay là một ngày xấu!”.

– “Đúng, cả hôm qua và hôm kia và …thôi cháu đi đi”.

Tôi không hiểu sao lại nổi giận với cô bé và chính bản thân mình.

– “Điều đó có buồn không ạ?”, Wendy vẫn hỏi.

– “Cái gì có buồn không…?”. Tôi nổi cáu khi không hiểu cô bé đang cố gắng hỏi điều gì.

– “Khi mẹ chú mất ấy!”.

– “Tất nhiên là có chứ!”. Tôi thở dài, đứng dậy ra về bỏ mặc lại cô bé nhỏ.

Một tháng sau tôi quay lại bãi biển, cô bé không còn ở đó chờ tôi nữa. Cảm thấy có chút xấu hổ vì lần nóng nảy trước và tự thừa nhận là tôi rất nhớ cô bé, tôi đi về phía mấy cái nhà nghỉ.

Sau khi hỏi được nơi cô bé ở, tôi gõ cửa và một phụ nữ bước ra. Tôi chắc mẩm là mẹ của Wendy.

– “Chào chị!”, tôi nói. “Tôi là Peterson. Bé Wendy đâu rồi ạ…?”

– “À! Anh Peterson, mời vào. Wendy hay nhắc đến anh. Tôi sợ rằng nó làm phiền anh, rất xin lỗi anh”.

– “Không ạ! Wendy là một cô bé tuyệt vời”.

Trong vài giây im lặng, mẹ cô bé bỗng rơi nước mắt và nói:

– “Wendy mất tuần trước rồi anh Peterson ạ. Nó bị bệnh bạch cầu. Chắc nó không nói với anh”.

Quá hụt hẫng, tôi phải tìm ngay một cái ghế để ngồi xuống. Tôi phải cố gắng để thở.

– “Nó rất thích bãi biển này nên tôi đưa nó đến đây. Nó khỏe lên, và nói là nó đã có những ngày vui vẻ. Nhưng vài tuần trước, nó đã nói về một ngày xấu và từ hôm ấy suy sụp rất nhanh”. Giọng người phụ nữ chùng xuống:

– “Nó có gửi lại một bức tranh cho anh, để tôi đi tìm. Anh chờ một chút”.

Một lát sau, người phụ nữ đưa cho tôi một chiếc phong bì nhỏ, ở ngoài viết chữ: “Gửi chú Peterson” bằng nét chữ trẻ con.

Bên trong là một bức tranh: Bãi biển, trời xanh và cát. Dưới bức tranh có viết: “Cát mang niềm vui cho chú!”. Tôi khóc.

Tôi nắm lấy tay mẹ Wendy nói: “Tôi xin lỗi, tôi xin lỗi!”, và chúng tôi cùng khóc, nước mắt dường như thay cho lời nói, tôi cảm thấy trái tim mình như chết lặng. Thì ra cô bé bị mắc bệnh bạch cầu và sự sống chỉ còn tính bằng ngày, ấy vậy mà nó vẫn vui vẻ và lạc quan quá!

Bức tranh nhỏ, quý giá ấy bây giờ đã được lồng vào khung và treo trong phòng tôi. Sáu từ mà Wendy viết trong bức tranh – mỗi từ như một năm tuổi của cô bé – luôn nhắc nhở tôi bình tĩnh và luôn động viên tôi.

Một món quà từ cô bé mắt màu xanh biển và tóc màu cát đã dạy tôi biết coi trọng thời gian của cuộc sống và biết nhận thấy sự yêu thương.

Trích dịch từ tạp chi Mama’s Journey

Thánh Blase (Biagio)

Thánh Blase (Biagio)

 Trong tâm tình của ngày mùng 3 Tết là ngày cầu xin Chúa thánh hoá công ăn việc làm. Chúc Tết! Chúc Tết! Mời bạn hãy dâng lên Chúa tất cả những công việc sẽ làm trong năm mới này, cùng với những lao nhọc cực khổ bạn sẽ gặp.

* Xin Chúa giúp bạn có việc làm để nuôi sống bản thân và gia đình.

* Xin Chúa giúp bạn cảm thấy hạnh phúc trong công việc của mình.

* Xin Chúa mở rộng con tim của bạn để bạn biết chia sẻ cho những người túng thiếu.

* Nhất là, xin Chúa giúp bạn được nên thánh trong công việc hằng ngày—bằng cách khi làm việc, bạn không quên Chúa, nhưng luôn nhớ đến Chúa và cậy nhờ vào Ngài.

Cha Vương

Thứ 5: 03/02/2022

Hôm nay cũng là ngày Giáo hội mừng kính Thánh Blase (Biagio), mời Bạn suy niệm về đời sống nhân đức của Ngài nhé.

Chúng ta biết nhiều về sự sùng kính của Kitô Hữu đối với Thánh Blase hơn là tiểu sử của ngài. Trong Giáo Hội Ðông Phương, ngày lễ kính ngài được coi là một ngày lễ lớn. Công Ðồng Oxford, vào năm 1222 đã cấm làm việc xác trong ngày lễ Thánh Blase (hay còn gọi là Thánh Biagio). Người Ðức và người Ðông  Âu rất kính trọng thánh nhân, và trong nhiều thập niên, người Công Giáo Hoa Kỳ thường chạy đến với thánh nhân để xin chữa bệnh đau cổ họng.

Chúng ta được biết Ðức giám mục Blase chịu tử đạo năm 316 ngay trong giáo phận của ngài ở Sebaste, Armenia. Mãi cho đến 400 năm sau mới có huyền thoại viết về ngài. Theo đó, Thánh Blase là một giám mục tốt lành, làm việc vất vả để khuyến khích giáo dân sống lành mạnh về tinh thần cũng như thể xác.

Mặc dầu chỉ dụ Toleration, năm 311, đã cho phép tự do tôn giáo ở Ðế Quốc Rôma hơn năm năm, nhưng ở Armenia, việc bách hại vẫn còn dữ dội. Hiển nhiên là Thánh Blase buộc phải rời bỏ giáo phận và sống trong rừng núi. Ở đó ngài sống trong cô độc và cầu nguyện, làm bạn với thú rừng.

Một ngày kia, có nhóm thợ săn đi tìm thú dữ để dùng trong đấu trường và tình cờ họ đã thấy hang động của Thánh Blase. Từ kinh ngạc cho đến sợ hãi, họ thấy vị giám mục đi lại giữa đám thú dữ một cách điềm tĩnh để chữa bệnh cho chúng. Nhận ra ngài là giám mục, họ bắt ngài về để xét xử. Trên đường đi, ngài ra lệnh cho một con sói phải thả con heo nó đang cắn giữ vì đó là của người đàn bà nghèo. Khi Thánh Blase bị giam trong tù và bị bỏ đói, người đàn bà này đã đền ơn ngài bằng cách lẻn vào tù cung cấp thức ăn cho thánh nhân.

Ngoài ra, truyền thuyết còn kể rằng, một bà mẹ có đứa con trai bị hóc xương đã chạy đến ngài xin cứu giúp. Và sau lời truyền của Thánh Blase, đứa bé đã khạc được chiếc xương ra khỏi cổ.

Agricolaus, Thủ Hiến xứ Cappadocia, tìm mọi cách để dụ dỗ Thánh Blase bỏ đạo mà thờ tà thần. Lần đầu tiên từ chối, ngài bị đánh đập. Lần kế tiếp, ngài bị treo trên cây và bị tra tấn bằng chiếc lược sắt cào vào thân thể. Sau cùng ngài bị chém đầu năm 316. Người được tôn kính như quan thầy các thợ chải len, những người bị đau cuống họng. (Nguồn: Người Tín Hữu online)

Sau đây là Kinh cầu Thánh Blase được dùng để khẩn cầu cho những ai mang bệnh của cổ họng: “Qua lời cầu bầu của Thánh Blase, là giám mục và là vị tử đạo, xin Thiên Chúa chữa con khỏi bệnh tật của cổ họng và khỏi mọi sự dữ. Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần” (Kinh cầu Thánh Blase). Xin Thánh Blase, cầu cho chúng con!

From: Đỗ Dzũng

THÁNH THIỆN VÀ TỘI LỖI

THÁNH THIỆN VÀ TỘI LỖI

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Thánh thiện và tội lỗi là hai phạm trù đối lập nhau.  Thánh thiện thuộc về Thiên Chúa và tội lỗi là bản chất của con người.  Hai nhân vật được nêu trong Lời Chúa hôm nay, một trong Bài Cựu ước và một trong Bài Tin Mừng, đã khẳng định sự tách biệt này.  Khi được chiêm ngưỡng vinh quang của Thiên Chúa với lời tung hô ba lần “Thánh!  Thánh!  Thánh”, ngôn sứ Isaia đã thốt lên: “Vô phúc cho tôi!  Tôi chết mất, vì lưỡi tôi nhơ bẩn, tôi ở giữa một dân tộc mà lưỡi họ đều nhơ nhớp, mắt tôi đã trông thấy Đức Vua, Người là Chúa các đạo binh.”  Về phần ông Phêrô, khi chứng kiến mẻ lưới lạ, đã khiếp đảm thú nhận: “Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con, vì con là người tội lỗi.”  Phản ứng của hai nhân vật trên đây cho thấy quan niệm của Do Thái giáo về sự cách biệt giữa Thiên Chúa và con người, vì Thiên Chúa là Đấng Chí thánh và con người là kẻ phàm hèn tội lỗi.  Sự khác biệt này đã tạo một khoảng cách giữa Thiên Chúa và con người.  Khoảng cách ấy ngặt nghèo đến nỗi, nếu con người lỡ nhìn thấy Chúa, thì phải chết.

Nếu con người lo sợ và mặc cảm về thân phận tội lỗi của mình, thì Thiên Chúa lại chủ động đến với họ.  Thiên Chúa trong Cựu ước đã trấn an ông Isaia: “Hãy nhìn xem, than lửa này đã chạm đến lưỡi ngươi, lỗi của ngươi được xoá bỏ, và tội của ngươi được thứ tha.”  Đức Giêsu trong Tân ước thì lại nói với ông Phêrô: “Đừng sợ hãi: từ đây con sẽ là kẻ chinh phục người ta.”  Thật lạ lùng!  Thiên Chúa không những bỏ qua thân phận tội lỗi của con người, mà còn chọn gọi họ như những cộng sự viên thân cận của Ngài.  Ông Isaia và ông Phêrô không những không phải chết, mà còn được gọi và sai đi để loan truyền giáo huấn của Thiên Chúa, giúp cho nhiều người nhận biết Ngài.  Quả thật, ông Isaia và ông Phêrô đã nhiệt thành đáp lại lời mời gọi của Chúa, trở nên ngôn sứ và tông đồ của Ngài.

Thiên Chúa đã lấp đầy khoảng cách giữa Ngài với chúng ta.  Không chỉ chủ động đến gần con người tội lỗi, Chúa Cha còn sai Con Một của Ngài là Đức Giêsu Kitô đến trần gian để sống thân phận con người.  Người thánh thiện, mà chấp nhận hòa mình vào đám đông tội nhân đang xin ông Gioan Tẩy giả làm phép rửa.  Người là Đấng vô tội mà bị kết án như một kẻ bất lương.  Người là nguyên lý của sự sống mà đã phải mang lấy cái chết trên thập giá.  Qua Đức Giêsu, nhờ Đức Giêsu và trong Đức Giêsu, con người tội lỗi được trở nên con Thiên Chúa là Đấng Chí Thánh.  Đây là sự trao đổi nhiệm màu: Con Thiên Chúa mang lấy tội lỗi của con người để con người được làm con Thiên Chúa.

Con Thiên Chúa đã làm người để giao hòa nhân loại với Thiên Chúa.  Từ nay, không ai còn mặc cảm thân phận tội lỗi nữa.  Hết thảy đều được Thiên Chúa yêu thương và mời gọi làm sứ giả của Ngài giữa lòng thế giới.  Thánh Phaolô là một bằng chứng: ông thú nhận mình đã từng giết hại các tín hữu, nhưng khi được Chúa quy phục, ông đã ăn năn sám hối và cuộc đời của ông đã sang trang.  Ông tâm sự: “Tôi vốn là kẻ hèn mọn nhất trong các tông đồ, và không xứng đáng được gọi là tông đồ, vì tôi đã bắt bớ Hội Thánh của Thiên Chúa.  Nhưng nay tôi là người thế nào, là nhờ ơn của Thiên Chúa, và ơn của Người không vô ích nơi tôi, nhưng tôi đã chịu khó nhọc nhiều hơn tất cả các Đấng: song không phải tôi, nhưng là ơn của Thiên Chúa ở với tôi” (Bài đọc II).  Đó là điều kỳ diệu của tình thương.  Phaolô luôn tâm niệm điều này và ông thấy có bổn phận làm cho vương quốc của Chúa sớm được thực hiện nơi trần gian.

Isaia, Phêrô, Phaolô, ba con người xuất thân từ ba hoàn cảnh xã hội khác nhau, nhưng có chung một lý tưởng và một ơn gọi: làm sứ giả của Chúa và nhiệt thành loan báo lời Ngài.  Hôm nay, Chúa vẫn đang kêu gọi chúng ta.  Đừng mặc cảm cho rằng mình bất xứng hay bất tài.  Ơn của Chúa sẽ phụ giúp và ban cho chúng ta sức mạnh.  Về phía chúng ta, chúng ta cần đáp lại lời mời gọi của Chúa, bằng tâm tình yêu mến, nhiệt thành và thiện chí.  Chúa sẽ làm cho chúng ta trở nên những dụng cụ hữu ích trong Giáo Hội của Người.  Qua những dụng cụ bé mọn ấy, Chúa tiếp tục làm nên những mẻ cá kỳ diệu, và làm cho cuộc sống này nở hoa.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

Người Ăn Thì Còn… 

Người Ăn Thì Còn… 

– Sông Hương –

Năm đó cả miền Nam đói meo sau lần đổi tiền kinh thiên động địa. Qua một đêm toàn dân thức dậy thấy mình trắng tay. Nhà nhà cầm cự bằng cách ôm đồ ra chợ trời, khi cần đong gạo thì giá nào cũng bán. Gần Tết. Nghĩ tới bầy con, làm sao để may cho mỗi đứa một bộ đồ mới. Nghĩ tới Tết nhất với mâm cúng gia tiên. Ít ra cũng phải có cái bánh chưng, đòn bánh tét, hủ dưa hành củ kiệu, chút ít thịt kho với trứng. Nghĩ tới nghĩ lui, bấn cả ruột gan, biết bán cái gì nữa đây cho đủ chi tiêu ba ngày Tết.

Rốt cuộc sau nhiều màn “chà đồ nhôm” thì năm đứa trẻ trong nhà, đứa lớn nhất 13 đứa nhỏ nhất 4 tuổi cũng được tíu tít, rộn ràng bên thau đậu, thau nếp và mấy miếng thịt heo mỡ và da nhiều hơn nạc. Mấy mẹ con “hồ hỡi” xúm nhau rửa lá, đãi đậu, ngâm nếp, rộn ràng xếp xếp, gói gói được 6 cái bánh chưng lớn, 4 đòn bánh tét và 5 cái bánh chưng nhỏ xíu đặc biệt phần mỗi đứa một cái.

Thấy bầy con lăng xăng sung sướng, đứa bé nhất cũng ngoan ngoãn ngồi bên cạnh đưa dây cho mẹ cột bánh, nhìn bàn tay bé xíu, ốm nhom vì không đủ dinh dưỡng, thỉnh thoảng sờ sờ, vuốt ve những cái bánh với đôi mắt sáng trưng thèm thuồng mà lòng đau như cắt. Chỉ mới mấy năm tuyệt đại đa số dân miền Nam đã rơi xuống gần chạm đáy vực thẳm thê thảm đến vậy rồi!!!

Tối đó cơm nước xong bầy trẻ nhất định xin thức để cùng canh nồi bánh. Nhà không có vườn sau, chỉ có sân trước với cây ngọc lan, cây khế ngọt và chỗ đậu của chiếc xe hơi chưa bán được. Hai đứa lớn lăng xăng bên nồi bánh được đào lỗ bắt ông táo dưới gốc ngọc lan, ba đứa nhỏ ngồi xích đu trên thềm nhà chọc ghẹo nhau nói cười như nắc nẻ, cả nhà hân hoan bên nồi bánh cho tới gần nửa đêm thì bầy trẻ bắt đầu ngủ gục. Cả ngày vất vả tới một giờ sáng cha mẹ cũng nhíp mắt. Lửa đang cháy liu riu, cổng đã khóa kỹ, tự nhủ mình chợp mắt một chút cho đỡ mệt rồi ra canh tiếp. Vậy nhưng ngủ quên cũng gần 2 tiếng đồng hồ.

Giật mình choàng dậy nhớ tới nồi bánh, thôi chết không biết lửa củi ra sao rồi. Ra sân thật mừng thấy than vẫn còn hồng dưới bếp dã chiến, vừa quay qua hông nhà lấy thêm củi khi ông xã dở nắp nồi định châm thêm nước thì bỗng nghe “ủa” một tiếng thật to, tiếp theo là tiếng nắp nồi rơi loảng xoảng trên sân xi-măng – Sao vậy bố?- Em coi nè, bánh mất tiêu hết rồi.- Trời đất ơi, thiệt không?- Thiệt, cái nồi trống rỗng.

Nồi bánh, công trình và tâm huyết của cả nhà, có cả 5 chiếc bánh chưng be bé xinh xinh của năm đứa trẻ đã không cánh mà bay. Hai vợ chồng ngồi xẹp xuống hiên, nghĩ tới gương mặt thất vọng của các con mà đau thắt ruột. Phải chi mình đừng vô ý ngủ quên. Phải chi người ta vớt hết bánh lớn, làm ơn làm phước chừa lại 5 cái nhỏ xíu cho bầy con nít. Đã ba mươi rồi, chỉ còn một ngày nữa là Tết, đào đâu ra bánh chưng bánh tét cho con ăn tết. Thời gian đó làm gì có hàng quán bình thường, cái gì cũng hợp tác xã, cũng nhà nước, từ cây kim sợi chỉ, từ cọng rau cho tới củ hành, chút tiêu chút muối nhất nhất đều phải sắp hàng trước cửa hợp tác xã …Cả đời chưa hề tưởng tượng có ngày chỉ vì mất chục cái bánh chưng mà mình phải rơi nước mắt. Cả đời chưa hề nghĩ tấm bánh, miếng ăn, lại trở thành quan trọng nhường ấy. Vậy mà khuya đó, giữa đất Saigon, giữa một xã hội dở tờ giấy nào ra cũng thấy đập vào mắt “độc lập, tự do, hạnh phúc” có người ngồi trước bếp lửa, than vẫn còn hồng, trước cái nồi đen thui trống rỗng mà khóc ngon lành.

Khóc chán. Lửa tàn. Muỗi bắt đầu tấn công. Thì cũng phải thất thểu đứng dậy vào nhà. Cũng may là người ta không lấy luôn cái nồi. Mà cũng đâu phải may mắn gì, người ta không lấy vì nó chỉ là nửa cái thùng phuy nhỏ cắt ra một năm chỉ dùng một lần để nấu bánh. Thôi thì tự an ủi bằng câu nói của người xưa “Người ăn thì còn, con ăn thì hết”, chắc con người ta còn đói hơn con mình … nghĩ thì nghĩ vậy nhưng cả cha lẫn mẹ lại nhìn nhau ngơ ngẩn, sáng ra biết an ủi các con bằng cách nào đây?

Cái Tết năm đó thật là xui hết biết. Mất nồi bánh làm lũ trẻ chưa hết buồn thì sáng mùng ba mới bảnh mắt đã nghe con gái lớn kêu hoảng “Bố mẹ ra coi nè”. Bước ra trước thềm thấy con gái đang chỉ tay vào chiếc xe Ford Taurus từ lâu nay vẫn nằm một chỗ chờ được bán. Thoáng nhìn thấy có gì kỳ kỳ, nhìn kỹ thì ra cái xe bỗng nhiên lùn tịt … 4 bánh xe đã bị gỡ mất tiêu. Kẻ trộm rành nghề chắc tay chân không hề bối rối trong khi chủ nhân của chiếc xe thật tình bối rối không biết giải thích với con trẻ ra sao trước những hành vi “bần cùng sinh đạo tặc” của một xã hội mới mẻ, hết mất mát này đến mất mát kia, với cuộc sống hoàn toàn đảo ngược mà những tâm hồn non trẻ chưa thể nào hiểu được.

Bầy trẻ năm đứa mặt mũi buồn hiu một ngày Tết năm nào bây giờ đã là những trung niên với đời sống vui vẻ thoải mái nhờ bao nhiêu năm được hấp thụ không khí “độc lập, tự do, hạnh phúc” thật sự chứ không chỉ trên những mảnh giấy. Những gương mặt trẻ thơ mếu máo ngày nào bây giờ mỗi lần nhắc lại kỷ niệm cũ ở Saigon không bao giờ quên được “chiếc xe cụt bốn giò” và “nồi bánh chưng không bánh” mùa Tết năm đó. Có khi chúng còn đùa đùa đổ lỗi cho cha mẹ, phải chi bố mẹ cho tụi con thức canh lửa thì mình đã không mất tiêu nồi bánh chưng bánh tét ít thịt nhiều đậu đó rồi!!!

Sông-Hương

From: TU-PHUNG

Lễ Dâng Chúa Giê-su vào Đền Thánh

Lễ Dâng Chúa Giê-su vào Đền Thánh

Mùng 2 Tết, mọi người thường đi chúc Tết anh em nội ngoại gần xa. Nào ta hãy tiếp tục tạ ơn Chúa và xin dâng hai chữ “tôn vinh” lên Ngài! Hôm nay cũng là ngày Giáo Hội mừng kính Lễ Dâng Chúa Giê-su vào Đền Thánh ta hãy xin cho được vâng lời chịu lụy nhé.

Cha Vương

Thứ 4: 02/02/2022

TIN MỪNG: Si-mê-ôn ẵm lấy Hài Nhi trên tay, và chúc tụng Thiên Chúa rằng: “Muôn lạy Chúa, giờ đây theo lời Ngài đã hứa, xin để tôi tớ này được an bình ra đi. Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ. (Lc 2:29-30)

SUY NIỆM: Cách đây bốn mươi ngày, chúng ta đã hân hoan cử hành lễ Chúa Cứu Thế giáng sinh. Hôm nay chúng ta mừng ngày Chúa Cứu Thế được Thân Mẫu và thánh Giuse dâng cho Thiên Chúa Cha trong đền thánh. Nhìn từ bên ngoài, ta thấy Người làm theo luật dạy, nhưng thực ra, qua biến cố này, Người đến gặp dân  Người. Quả vậy, cụ già Si-mê-on và nữ ngôn sứ An-na, được Chúa Thánh Thần thúc đẩy, đã tới đền thánh. Cũng chính nhờ Chúa Thánh Thần soi sáng mà các ngài đã NHẬN  ra em bé Giêsu chính là Chúa của mình và hoan hỷ loan báo cho những người khác. (Sánh Lễ Rôma, lời dẫn) Việc gì xảy ra qua biến cố này? Họ đã (1) NHẬN RA em bé Giêsu chính là Chúa của mình và (2) HOAN HỶ loan báo cho những người khác. Nhìn lại những khoảnh khắc trong cuộc đời Bạn, có bao giờ Bạn NHẬN RA hay gặp được Chúa chưa? Bạn đã làm gì sau khi gặp được Ngài? Có phải Chúa Giêsu khi đồng bàn với hai môn đệ trên đường Em-mau thấy “Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người.”? (Lc 24:30-31) Tâm tư của Bạn thế nào khi Bạn rước Chúa vào lòng trong Thánh Lễ?

LẮNG NGHE: Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết. (Ga 6:54)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giêsu là Chúa của con, rao giảng Lời Chúa thì dễ nhưng làm chứng cho Chúa thì rất khó vì nó đòi hỏi con phải dấn thân và hy sinh nhiều hơn, xin cho con dám mạnh dạn làm chứng cho Chúa bằng cách chia sẻ niềm vui và bình an cho tha nhân bất chấp thiệt thòi nguy hiểm.

THỰC HÀNH: Hãy chia sẻ khoảnh khắc gặp Chúa (God’s moment) của Bạn cho một người nào đó hôm nay nhé.

From: Đỗ Dzũng

Vụ chém chết linh mục lúc giải tội được BPSOS báo động

Đài Á Châu Tự Do 

Ông Nguyễn Đình Thắng cho rằng việc Chính phủ Việt Nam dung dưỡng sự phỉ báng và phát biểu hận thù nhắm vào các vị lãnh đạo tôn giáo không phục tùng chính quyền có thể dẫn đến bạo lực.

Báo động của ông Nguyễn Đình Thắng được nêu ra cho hơn 100 người tham dự cuộc họp của nhóm Bàn tròn Tự do Tôn giáo Quốc tế. Ông này còn cho biết BPSOS đã tiến hành thành lập tổ công tác để theo dõi diễn tiến vụ việc, lập báo cáo và vận động quốc tế.

BPSOS cho biết, trong năm 2021, BPSOS đã tiến hành nhiều cuộc họp với các giới chức Liên Hiệp Quốc, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và các tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế để nêu ra tình trạng những người gọi là ‘dư luận viên’ dùng mạng xã hội để kích động hận thù tôn giáo tại Việt Nam.

Vụ chém chết linh mục lúc giải tội được BPSOS báo động
RFA.ORG

Vụ chém chết linh mục lúc giải tội được BPSOS báo động

Việc Chính phủ Việt Nam dung dưỡng sự phỉ báng và phát biểu hận thù nhắm vào các vị lãnh đạo tôn giáo không phục tùng chính quyền có thể dẫn đến bạo lực. 

Tại sao người Việt khó hòa giải

Bauxite Việt Nam

Tại sao người Việt khó hòa giải

Nguyễn Quang Dy

“Đoàn kết ta đứng vững, chia rẽ sẽ thất bại” (United We Stand Divided We Fall).

Tết đang đến rất gần, như chỉ còn mấy gang tay. Tết là dịp để người Việt đến với nhau theo truyền thống “nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng”. Nhưng Tết này buồn vì nhiều người vẫn chưa có lương, hay không được về quê ăn Tết vì dịch. Tết này còn buồn hơn vì “đám mây đen Việt Á” vẫn đang ám ảnh.

Sinh thời, cụ Hồ rất thích bài hát “Kết Đoàn”, vì đó là nguồn gốc của sức mạnh, như “con ngươi của mắt mình”. Không chỉ ở Châu Á mà ở Phương Tây người ta cũng coi trọng đoàn kết (unity) như quy luật sinh tồn của loài người. Nhưng đáng tiếc, nhiều người Việt đã làm ngược lại các giá trị truyền thống và phổ quát. Tội ác và lừa đảo ngày càng tăng.

Gần đây, khi đọc bài “Người Việt Mới” của Lê Kiên Thành (Tiếng Dân, 13/1/2022) tôi muốn viết một cái gì đó để chia sẻ với anh và bạn đọc vào dịp Tết. Chắc nhiều người cũng có tâm trạng tương tự như vậy. Đó là tâm trạng của thế hệ người Việt bị xô đẩy vào cuộc chiến tranh tương tàn, nay dù đất nước đã thống nhất nhưng vẫn khó hòa giải.

Cũng là người Việt, nhưng người Miền Bắc hơi khác Miền Nam hay Miền Trung. Sự khác biệt về tập quán văn hóa và phương ngữ vùng miền là điều bình thường tại nhiều nước. Nhưng người Việt còn bị phân hóa thành hai phe Bắc-Nam hay “bên thắng cuộc” và “bên thua cuộc”. Kết cục năm 1975 làm “hàng triệu người vui, và hàng triệu người buồn”.

Chiến tranh Việt Nam đã kết thúc cách đây 47 năm. Hai kẻ thù là Mỹ và Việt Nam đã trở thành “đối tác toàn diện”, nay thực chất là “đối tác chiến lược”. Nhưng người Việt vẫn chưa hòa giải với nhau, giữa “bên thắng cuộc” và “bên thua cuộc”. Nay trong cùng “bên thắng cuộc”, người Việt lại phân hóa thành “người Việt mới” và “người Việt cũ”.

Đó là hiện tượng “phân hóa đa chiều” (multiple polarization) đang làm cho quá trình hòa giải dân tộc vốn đã phức tạp lại càng thêm phức tạp và khó khăn hơn. Không thể đổi mới và chấn hưng đất nước nếu thiếu đồng thuận quốc gia. Các vụ đại án như Việt Á chứng tỏ “đốt lò” không đủ răn đe chống virus tham nhũng, mà còn làm “nhờn thuốc”.

Con trai Tổng bí thư

Bài viết “Người Việt Mới” của Lê Kiên Thành tuy ngắn gọn (có 477 từ), nhưng ẩn chứa tâm trạng của một thế hệ như “phần nổi của tảng băng chìm”. Trước khi viết bài này, tôi đã tìm đọc lại các bài viết hoặc trả lời phỏng vấn của Thành. Tuy anh luôn tự hào về người cha của mình, nhưng Thành không hay khoe khoang và dựa dẫm vào ông.

Tôi quen biết Thành đã lâu, từ những năm đầu thập niên 1990 khi anh mới khởi nghiệp với TMC, một công ty nho nhỏ, có một văn phòng nho nhỏ ở phố Cao Bá Quát (Hà Nội). Tuy lâu ngày không gặp, nhưng tôi vẫn đọc các bài viết và trả lời phỏng vấn của Thành. Đó là một người chính trực, dám nói thẳng cả những chuyện nhạy cảm.

Tuy Thành “không làm chính trị” (hơi đáng tiếc) nhưng anh vẫn quan tâm đến chính trị và thời cuộc “như một người yêu nước”. Điều đó thể hiện qua các bài viết khi Thành kể lại thời kỳ đầu đổi mới như chuyện “tại sao làm kinh tế tư nhân” hay chuyện “suýt nữa phải ra khỏi đảng vì làm kinh tế”, (trong loạt bài “Đêm trước Đổi mới” của báo Dân Trí).

Tuy là con trai cố Tổng bí thư, nhưng Lê Kiên Thành cũng “lên bờ xuống ruộng” như nhiều người khác khi khởi nghiệp. Với mối quan hệ bạn bè ở Liên Xô cũ, Lê Kiên Thành và Nguyễn Duy Tộ đã có sáng kiến mua giúp quân đội khí tài cho không quân (trước khi có Công ty Vạn Xuân). Ngày nay người ta hay gọi việc đó là “buôn vũ khí”.

Sau khi có vốn, Thành và bạn bè đã lập ra Ngân hàng Kỹ Thương (Techcombank), một trong những ngân hàng TMCP đầu tiên thành công, sau đó bán lại cho người khác. So với những doanh nhân khác cùng thời, tuy Thành không trở thành “đại gia”, nhưng anh thường tự hào vì coi trọng nhân cách hơn tiền, không “làm giàu bằng mọi giá”.

Lê Kiên Thành khác Trương Gia Bình (FPT), tuy cùng thời và “con ông cháu cha” (princelings). Bình là con rể Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tuy sau này ly dị vợ. Có lẽ Thành không hợp với triết lý khởi nghiệp của Bình như lời chế trong bài “Đoàn FPT”: “Thằng Tây nó tiến thì mình giật lùi, thằng Tây nó lùi thì mình giật tiền”. Thành không chụp giật.

Thành không trực tiếp “làm chính trị” (như quan chức) nhưng anh vẫn tham gia Mặt trận Tổ quốc Thành phố, tuy biết khộng có quyền lực. Đã có lần Thành tranh cử vào Quốc hội tuy biết “99% sẽ thất bại”. Thành là con trai của cố Tổng bí thư nổi tiếng, nhưng điều đó chưa chắc đã đem lại lợi thế chính trị, vì anh có đầu óc đổi mới cấp tiến.

Người Việt mới là ai

Sau chiến tranh, đất nước đã đổi mới và phát triển kinh tế thị trường, nhưng chưa hoàn chỉnh, làm cho khoảng cách giàu-nghèo trong xã hội ngày càng tăng. Một số người (cả quan chức và doanh nhân) đã câu kết thành các nhóm lợi ích, thao túng thể chế để vơ vét làm giàu nhanh, trở thành “tư bản đỏ”, trong khi đa số người dân ngày càng nghèo.

Với nền kinh tế thị trường “định hướng XHCN”, xã hội Việt Nam bị phân hóa thành thiểu số có đặc quyền, được hưởng nhiều đặc lợi nên “có tài sản” (the haves) và những người không có đặc quyền và thất thế bị gạt ra ngoài lề nên “không có tài sản” (the haves not). Nói cách khác, đó là sự phân hóa giữa những “người Việt mới” và “người Việt cũ”.

Trong bối cảnh đó, những khẩu hiệu như “uống nước nhớ nguồn” hay “đền ơn đáp nghĩa” ngày càng sáo rỗng và vô nghĩa. Nhiều người thuộc thế hệ có đóng góp nhiều cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước, nay cũng bị gạt ra ngoài lề vì không thích hợp với những nhóm lợi ích thân hữu đang thao túng thể chế để làm giàu nhanh.

Mâu thuẫn bùng phát thành các chiến dịch “đốt lò” (chống tham nhũng). Gần đây, vụ Phan Quốc Việt (Việt Á), Trịnh văn Quyết (FLC), và Đỗ Anh Dũng (Tân Hoàng Minh) chỉ là “phần nổi của tảng băng chìm”. Việt Á đã nhập ba triệu bộ kit xét nghiệm của Trung Quốc giá 21,560 đồng về thổi giá lên 470,000 đồng, bán cho 62/63 tỉnh thành để trục lợi.

Muốn biết xu hướng “đốt lò” sắp tới, hãy chờ xem cách xử lý các vụ đại án (như Việt Á) liệu có triệt để không, hay “đầu voi đuôi chuột” vì “sợ vỡ bình”. Trong thời đại dịch, Việt Nam đứng trước “nguy cơ kép” (double dangers): tham nhũng đang “lũng đoạn nhà nước” (nội xâm) và Trung Quốc đang đe dọa chủ quyền tại Biển Đông (ngoại xâm).

Có thể nói các nhóm lợi ích thân hữu đã làm giàu nhanh trên mồ hôi, nước mắt, và cả sinh mạng của hàng triệu đồng bào, ngay trong đại dịch. Đó không chỉ là tội về kinh tế và hình sự mà còn là “giặc nội xâm”, nguy hiểm không kém virus Corona. Vì lòng tham, họ có thể tiếp tay cho “giặc ngoại xâm” trong cuộc chiến âm thầm không tiếng súng.

Vậy ai là chủ nhân thật sự của đất nước? Những “người Việt cũ” thường phàn nàn rằng họ giống những người “ngồi ghé trên một chuyến tàu không phải của mình”. Thực ra đó chính là chuyến tàu của họ, nhưng đã bị “những kẻ cướp tàu” (train hijackers) bắt cóc và bẻ ghi chạy theo hướng có lợi cho các nhóm lợi ích thân hữu – những “người Việt mới”.

Nếu nhà nước không cải tổ thể chế kịp thời để kiểm soát quyền lực, thì các nhóm lợi ích thân hữu sẽ lớn mạnh và biến tham nhũng chính sách thành “lũng đoạn nhà nước” (state capture). Thay vì nhà nước kiểm soát quyền lực của các nhóm lợi ích, thì chính họ sẽ lũng đoạn chính sách và kiểm soát nhà nước. Đó là nguy cơ từ “người Việt mới”.

Trong giai đoạn quá độ đi lên CNXH (hay CNTB), xã hội Việt Nam đứng trước nhiều thách thức và khủng hoảng, như khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng giáo dục, khủng hoảng lòng tin. Khủng hoảng nhân cách tuy ít được nói đến nhưng rất hệ trọng. Người ta nói đánh mất lòng tin rất khó lấy lại, và đánh mất nhân cách dễ trở thành thú hoang.

Việt Nam là một xã hội “đang chuyển đổi” (transitional) vẫn chưa công nghiệp hóa, trong khi thế giới đã bước sang giai đoạn “hậu công nghiệp” (post-industrial). Quá trình “tích tụ tư bản” theo “kinh tế thị trường” thường dễ méo mó vì người ta có thói quen duy ý chí hoặc ngộ nhận nên bất chấp quy luật. Vì vậy, người Việt vẫn cần “khai dân trí”.

Trong thế giới đa dạng và “tùy thuộc lẫn nhau” (inter-dedendance), người ta không thể trục lợi cho mình mà không nghĩ đến người khác, và không thể làm theo cách của mình (exceptionalism) mà không hợp tác với người khác. Ngày nay, không một nước nào có thể sống biệt lập trước những mối đe dọa toàn cầu như biến đổi khí hậu và dịch bệnh.

Lời cuối

Cách đây đã lâu lắm, khi trao đổi với Giáo sư của mình trong văn phòng của ông ấy tại đại học ANU, tôi thấy trên bức tường có treo một đoạn trích dẫn diễn ngôn của triết gia Plato. Tôi đã lặng lẽ nhẩm thuộc lòng đoạn đó và nhớ đến tận bây giờ, như một kỷ niệm của thời sinh viên. Tôi hiểu từ xa xưa, giới trí thức đã chịu nhiều bất cập.

Plato đã mô tả những nghịch cảnh của giới trí thức: “We the willing, guided by the unknowing, are doing the impossible for the ungrateful. We have done so much for so long with so little that we are now qualified to do anything with nothing, while the unknowing and the ungrateful are being congratulated for doing nothing, for so long, so well”.

Tạm dịch: “Chúng tôi là những người tâm huyết, được chỉ đạo bởi những kẻ dốt nát, đang làm những việc bất khả thi cho những kẻ vô ơn. Chúng tôi đã làm quá nhiều, quá lâu, với nguồn lực quá ít, nên bây giờ có thể làm bất cứ điều gì mà chẳng có gì, trong khi những kẻ dốt nát và vô ơn được chúc mừng vì không làm gì, quá lâu và quá giỏi”.

Trong đám tang anh Phạm Xuân Ẩn (2006) tôi bỗng nhớ tới lời Plato và chạnh lòng khi vĩnh biệt “người anh hùng thầm lặng” đã cống hiến cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng, nhưng vẫn mong đến ngày Mỹ và Việt Nam trở thành bạn bè. Đó là một nhân cách lớn được cả bạn và thù quý mến. Tôi đã lặng lẽ ghi vào sổ tang cảm xúc của mình.

Sau đó Larry Berman đã tìm thấy đoạn tôi viết trong sổ tang của gia đình và đưa vào chương Epilogue trong cuốn “Perfect Spy”: “Final farewell to our dear brother, teacher and colleague, Hai Trung, ‘a quiet Vietnamese’ hero, who is so uncommon in qualities yet so human in nature that he is well respected by both friends and foes alike, and standing out larger than life, almost a myth. Now that it’s all over, may his soul rest in peace in the next life, with all the pains and ironies, all the mysteries and memories of the good old days that not all is well understood, that he could quietly bring with him to the other world”.

Tạm dịch: “Giã từ người anh, người thầy và đồng nghiệp Hai Trung kính mến, ‘một người Viêt Nam thầm lặng’ và dũng cảm, mà phẩm chất và nhân cách đặc biệt đã làm cho cả bạn lẫn thù đều quý trọng, vượt lên trên cuộc đời thường, như một huyền thoại. Giờ đây khi mọi chuyện đã qua, cầu mong cho linh hồn anh được yên nghỉ trong kiếp sau, với tất cả những nỗi đau và oan trái, với tất cả những bí ẩn và ký ức của một thời xa vắng mà không phải ai cũng hiểu được, mà nay anh có thể lặng lẽ đem theo sang thế giới bên kia”.

28/01/2022

N.Q.D.