Cuộc trùng phùng hy hữu của một gia đình HO

Cuộc trùng phùng hy hữu của một gia đình HO

  1. Cuộc Tìm Kiếm Vô Vọng
    Thuận xếp tập hồ sơ lại, nhìn người con gái đối diện, mỉm cười đứng dậy bắt tay cô gái và nói:
    – Chúc mừng cô gia nhập vào Biomedical Research của chúng tôi. Khi nào cô có thể đi làm được?
    – Dạ em cần về công ty cũ báo cho họ biết, có thể cho em 2 tuần để thu xếp được không?
    – Vâng, nếu có trở ngại cô cho tôi biết nhé.
    – Dạ. Xin cám ơn anh nhiều lắm. Chào anh.
    Chờ cho người con gái bước ra khỏi phòng, anh ngồi xuống, băn khoăn tự hỏi, không biết mình còn quên điều gì chưa dặn cô ta không, và còn sót điều gì chưa làm? Sao mình lại có cảm giác hồi hộp và bâng khuâng? Nhìn khuôn mặt cô ta rất quen và dường như thân thiết lắm, không hiểu mình gặp cô ta ở đâu, High School, hay lúc còn học Bio. Anh mở lại hồ sơ, đọc thêm một lần nữa Resume của cô gái, Thái, Thủy-Vi, tốt nghiệp Master of Biomedical Sciences tại DMU (Des Moines University, Iowa)… Thuận giật mình. Cô ta họ Thái, cùng họ với Thuận. Iowa, nơi cô ta học, không phải tiểu bang mình đã học. Vậy là chưa từng gặp, mà sao như linh cảm thấy điều gì lạ lùng. Lúc phỏng vấn, hai ba lần Thuận định hỏi, nhưng rồi lại e ngại, sợ qúa đường đột gây ngộ nhận. Giữ chức vụ này đã 5 năm, Thuận đã interview nhiều người, anh hết sức né tránh những ngộ nhận không cần thiết, nhất là khi phải interview đồng hương của mình, dù có ý muốn nâng đỡ, cũng chỉ ngấm ngầm và để trong lòng, nhưng đây là lần thứ nhất anh có cảm giác này. Đọc mức lương đề nghị, anh như một cái máy, để mức lương tối đa cho phép phỏng vấn viên, anh nghĩ, cô ta thật xứng đáng được như thế. Những suy nghĩ về cô gái làm anh bận rộn và quên mất cả thời gian, cho đển khi tiếng điện thoại reo lên, anh mới biết là đã đến giờ, mở cặp da, bỏ hồ sơ vào và ra về, mà tâm hồn cứ quẩn quanh trong ý nghĩ “không biết có còn sót điều nào chưa bảo cô ấy không, thôi để cô ta đi làm rồi mình sẽ hỏi cho rõ ngọn ngành là đã gặp cô ta ở đâu, có khi là đi lễ Chủ nhật gặp được không chừng” .
    Về đến nhà, lúc ngồi ăn cơm, Thuận kể cho vợ anh nghe về cuộc phỏng vấn một người con gái Việt Nam mang họ Thái và những tình cảm mơ hồ, lạ lùng trong anh, anh thú nhận là giờ này vẫn còn hình dung ra khuôn mặt và dáng dung của cô ấy, anh biết rất rõ ràng, tình cảm ấy không phải là loại tình cảm nam nữ, nhưng thực sự anh lại không hiểu.
    – Có gì đâu, ngày nào cô ấy đi làm thì anh hỏi chuyện cô ấy là được rồi, hay anh lại muốn em giúp? Tại anh nhạy cảm thôi, em hiểu anh đang nghĩ tới điều gì, bên nội hay bên ngoại phải không? Đâu phải là lần đầu anh suy nghĩ như thế. Nhưng anh không có em gái mà.
    – Thì đành như vậy, nhưng anh lại sợ mình vụng về không khéo léo lại gây hiểu lầm.
    – OK, đến ngày đó em tới ăn trưa với anh, rồi giả như tình cờ em gặp cô ấy, chúng ta hỏi chuyện xã giao được không?
    – Được vậy thì tốt lắm.
    – Nhưng mà cô ấy chắc là dễ thương, duyên dáng, mặn mà lắm phải không? Nếu không làm sao ông chồng em lại tơ vương đến như thế.
    – Dạo này hình như tiếng Việt của em giỏi hơn nhiều, nói chuyện nghe văn hoa bóng bẩy quá, phải như ngày xưa em học Văn chương hay Nhân chủng học thì dễ nổi tiếng lắm đó.
    – Đùa anh vậy thôi chứ ngay khi biết cô ta cùng họ với anh, em hiểu ngay điều anh đang bận tâm. Em sẽ giúp anh.
    Thuận nhìn vợ với lòng cảm kích. Loan là bác sĩ ngoại khoa. Hai người lập gia đình đã hơn 15 năm, có hai đứa con gái, nhưng tình cảm vợ chồng lúc nào cũng thân ái mặn nồng, đúng như câu các cụ bảo “vợ chồng lúc nào cũng tương kính như tân“. Phần Loan, nàng hiểu nỗi khắc khoải của người chồng sau bao năm tìm kiếm vô vọng.
  2.  Thuận vượt biển đến Mỹ năm 1978, khi chỉ mới 8 tuổi, được một gia đình người bản xứ không có con nhận nuôi và đón tại phi trường, khi Thuận vừa từ đảo đến. Thuận không nhớ gì về gia đình mình, ngoài tấm hình được bọc plastic, luồn trong lưng quần mà lúc ra đi mẹ Thuận đã để vào, tấm hình ấy gồm có ba mẹ Thuận, Thuận và một người em trai nhỏ hơn Thuận 3 tuổi, mặt sau của tấm hình có ghi là: Thái Ngọc Trác (1947), Chung thị ngọc Hân (1953), Thái Ngọc Thuận (1970), và Thái ngọc Trị (1973).
    Ba má nuôi của Thuận đã kể cho Thuận nghe về tai nạn của chiếc tàu chở Thuận và 48 người khác vượt biển, bị lạc đường trên biển, hết lương thực và nước uống, rất nhiều người đã chết vì đói và khát, chỉ còn Thuận và 5 người khác gồm 3 trẻ em còn sống sót. Đó là những gì Thuận biết về chuyến vượt biển của mình, những người sống sót đó là ai, hiện nay ở đâu anh không hề biết. Ba má nuôi của Thuận cũng đã dùng tấm hình ấy để hỏi thăm tin tức về gia đình Thuận ở các cộng đồng người Việt trên đất nước này, hay hầu hết các nước Pháp, Anh, Canada, Úc … nhưng không hề nhận được một tin tức nào.Tuy là người bản xứ, nhưng giữa anh và ba má nuôi, thật rất gần gủi và thân thiết không khác gì ruột thịt, có lẽ tại từ những ngày đầu anh côi cút, lạc loài, và bơ vơ, được ba má nuôi chăm sóc dưỡng dục, đã cho anh một ấn tượng hoàn hảo về hai ông bà, và làm cho anh trở nên gần gũi với người bản xứ thực sự. Nhất là thời gian anh còn ở tiểu học, lúc nào cũng được má nuôi đưa đón đến trường. Ngày anh tốt nghiệp đại học, ba má nuôi ôm hôn anh trước sân trường làm anh xúc động đến rơi nước mắt.
    Từ nhiều năm qua, Thuận cũng đã cố công tìm lại gia đình ruột thịt của mình. Chàng rất muốn về Việt Nam để tìm lại gia đình, nhưng không biết phải bắt đầu tìm từ chổ nào, hỏi thăm những người hàng xóm cũ, hay hỏi tin tức từ quê của ông bà nội ngoại. Điều không may là lúc ra đi Thuận chưa đầy 8 tuổi, đầu óc non nớt đó không thể nhớ được nơi Thuận đã ở, ngoài con đường Phan Chu Trinh mà Thuận như mang máng nhớ, còn lại chỉ là những hình ảnh mơ hồ. Thuận chỉ biết nhà của gia đình anh ở rất gần chợ, từ nhà có thể đi bộ đến một Tiệm may, gần đó là những quán xá như tiệm chè, quán kem, và vườn sau của nhà là một cây mai rất nhiều cành, mà Thuận nhớ hàng năm khi Tết đến, mẹ vẫn thường hay cắt nhánh đem vào chưng bàn thờ hay là cắm ở phòng khách, ngoài ra Thuận không còn nhớ được gì nữa. Bác Khôi ở cạnh nhà Thuận, hàng xóm mà Thuận thường chui qua vườn sau để cùng chơi đùa với Lân và chị Cúc, cũng đã dọn đi sau khi Sài gòn bị chiếm. Rất nhiều những gia đình khu Thuận ở đã bỏ đi hay bị đuổi khỏi nhà. Ngày Thuận ra đi, căn nhà bác Khôi và chị Cúc đã bị một gia đình bộ đội dọn vào, và gia đình bác Khôi ra sao cũng không nghe mẹ nhắc đến, chính vì thế mà hàng xóm của Thuận đã toàn là những người lạ không ai tiếp xúc . Còn về gia đình nội, ngoại thì Thuận chỉ nhớ trước đây ông bà nội ở Đà Lạt, mất miền Nam, gia đình nội và các cô chú nghe mẹ nói về Phước Tuy và đã mất tin tức liên lạc. Bên ngoại còn cậu Tuấn, đi tù, cậu Hưng đã vượt biên, nhưng không liên lạc được, còn dì Út thì lên ở với gia đình Thuận và đi cùng chuyến tàu với Thuận nhưng đã chết vì đói và khát. Đó là lý do mà Thuận không về Việt Nam để tìm kiếm.
    Với tất cả phương tiện mà Thuận biết và có thể, Thuận đã dùng hết, để hỏi thăm tin gia đình trên các tiểu bang của nước Mỹ hay là tìm đến Canada, theo sự chỉ dẫn của một vị đại tá, nguyên Trưởng phòng II của Quân Đoàn II, “Hãy bắt đầu từ đơn vị ít người nhất, như các Liên đoàn, Sư đoàn, Bộ Tư lênh. Từ nước gần nhất, đến nước xa xôi . . .” và Thuận đã tìm đến Canada, gặp một vị đại tá Hải Quân, Chủ tịch liên Hội người Việt, Ông cư ngụ ở một thành phố ngoại ô của Thủ đô Canada, thành phố Nepean, rồi gặp vị Chủ tịch Hội Cựu Quân Nhân tại Ottawa, nhưng không ai biết tin tức về gia đình anh. Anh lại lần lượt tìm liên lạc với các liên đoàn, như Liên đoàn 21, 22 Biệt động Quân, Liên đoàn 6 BDQ, Liên đoàn công Binh, Liên đoàn Quân Y, các bệnh viện từ Duy Tân, Nguyễn Huệ, đến Tổng Y Viện Cộng Hòa, các Phòng I của các Sư đoàn Vùng Hỏa tuyến, đến 22, 23, 18, 25, 7, 9… Sư đoàn Dù, TQLC, nhưng chỉ là những cuộc tìm kiếm vô vọng.
    Cách đây mấy năm, anh nghe vị cựu Chỉ Huy Trưởng LD 72 Quân Y kể chuyện về đời sống ở Úc, anh đã tìm cách làm quen với những người ở Úc và quen được một ông cụ mà ngày xưa có con làm Phó tỉnh Gia định và Giám sát viện, từ đó, anh liên lạc được với các sở ANQD, Hành Chánh TC, các Trung Tâm HCTV Tiểu khu , và kết quả vẫn là câu “Trời Phật nhất định sẽ không phụ lòng hiếu thuận của cháu đâu, rồi có ngày cha con mẹ con lại đoàn tụ” Anh thất vọng, bỏ cách thức tìm kiếm từ các đơn vị Quân đội, và quay về với đầu mối cũ mà ba má nuôi anh từng tìm, đó là các Trại tù Cải tạo, từ Bắc chí Nam. Anh được tiếp xúc với rất nhiều người tù Cải tạo, chứng kiến cuộc sống của họ, những vất vả và cố gắng của họ làm anh ngậm ngùi và xúc động, những lúc như vậy, anh lại thầm nghĩ đến ba mẹ, “nếu ba mẹ còn sống, con sẽ không để ba mẹ vất vả đâu“.
    Vào năm cuối của Biomedical scientist, Thuận nghe tin có một vị Linh mục ở nhà tù Trại Đưng, Thanh Hóa, biết tin về một Sĩ quan tên Trác, trốn trại bị Việt cộng bắn chết, Thuận đã bỏ nửa chừng để bay đi Nouvelle Calédonie (Tân đảo), nơi cha Stanislas Cosca Hoa đang làm cha xứ, để hỏi thăm tin tức,
    – Thưa cha con là Thái Ngọc Thuận, ở xa đến xin gặp cha để hỏi về tin của ba con là Thái ngọc Trác, đây là hình của gia đình chúng con.
    – Hình mờ quá, tôi nhìn không rõ, nhưng mà tôi cũng không biết gì về ông cụ đâu. Ai nói cho anh biết tin này?
    – Một người quen ở Tân Tây Lan nói cho con, nhưng họ cũng không biết đích xác, họ chỉ bảo con viết thư hỏi tin tức ở cha mà thôi.
    – Thật là tội nghiệp, lòng của con Chúa sẽ biết. Đã đến đây thì hãy ở vài ngày coi cho biết Tân Đảo, người Việt ít có ai đi du lịch tới nơi này.
    – Thưa cha ở đây có bao nhiêu giáo dân.
    – Chừng hơn 500 người, nhưng lòng tin kính Chúa thì rất sốt sắng . . .
    Thuận rời Giáo xứ Nouméa Kitô Vua mà lòng mang đầy nỗi tuyệt vọng mênh mông.Trở về Thuận viết thư nhờ bà Khúc Minh Thơ giúp đỡ, rồi theo dõi Chương trình HO của các người đi tù cải tạo trở về, nhưng vẫn không tìm ra manh mối của gia đình, người thân, nội hay ngoại. Điều đáng tiếc là Thuận không biết cấp bậc của ba, đơn vị của ba, hay của cậu Tuấn, cậu Hưng, để mà dò la, cho nên đến chổ nào, hay viết thư đi đâu cũng không ai biết cách nào giúp đỡ. Hàng năm, kể từ sau khi tốt nghiệp, Thuận xông xáo vào các hoạt động của cộng đồng người Việt, nhất là của các hội Cựu Quân Nhân để làm quen hỏi thăm , nhưng câu hỏi mà Thuận luôn luôn nghe là “ba cháu cấp bậc gì, đơn vị sau cùng ở đâu?” Thuận chỉ lắc đầu không biết, có người thấy vậy còn nghi ngờ Thuận có lòng tới quấy nhiễu đã tỏ thái độ xua đuổi.
    Hình ảnh cuối cùng còn rõ nhất trong đầu Thuận là buổi chiều ra đi, mẹ ôm Thuận và dì Út vừa mếu máo vừa nói, “Gia đình chỉ còn hai dì cháu, em phải lo cho cháu giúp anh chị, rồi mẹ cúi xuống hôn anh và nói, con phải nghe lời dì Út nhé” và Thuận thấy nước mắt chảy đầy trên mặt mẹ khi anh và dì Út bước lên chiếc xe ra đi.Cuộc hành trình vượt biên xảy ra như thế nào thực sự Thuận không hay biết, vì anh và nhiều người khi bước lên tàu, đã bị đưa xuống hầm tàu nằm co ro không biết ngày đêm, chỉ khi nào đói thì kêu dì Út, cho đến một ngày dì Út bảo là đã hết thức ăn, hãy cố ngủ đi, và rồi không biết bao nhiêu ngày Thuận đã mệt lả bất tĩnh cho đến lúc được tàu vớt và đưa lên đảo, tỉnh lại, Thuận mới biết là dì đã chết. Nhờ được ba má nuôi người Mỹ tận tình dưỡng dục, Thuận đã có hoàn cảnh thuận lợi để học hành, thành đạt và anh luôn luôn thương kính ba má nuôi. Khi ông bà còn sinh tiền, vào những ngày lễ như ThanksGiving, Christmas, anh luôn luôn đem vợ con về ở chơi một hay hai ngày với ba má, làm cho ông bà cũng rất hãnh diện và thực sự vui vẻ. Nhưng rồi liên tiếp hai năm, ba nuôi mất rồi má cũng mất. Cuộc tìm kiếm ba mẹ ruột và em trai đã trở thành vô vọng.
    Hàng năm, Thuận lấy ngày 30 tháng 4 làm ngày giỗ cho ba mẹ và em, ngày ấy cả nhà đi lễ cầu nguyện cho gia đình. Điều làm Thuận thương cảm nhất là anh không còn hình dung ra được ba mình như thế nào, trong đầu óc anh khi nghĩ về ba, chỉ là hình ảnh nhạt nhòa trên tấm hình trắng đen mà mẹ trao cho lúc ra đi, và mỗi lần nhìn lại tấm hình, Thuận không làm sao kềm được cảm xúc và các con anh đã bắt gặp rất nhiều lần, những khi như vậy, bao giờ vợ anh cũng chỉ vổ về anh bằng câu nói ” hãy cố quên đi, cố vui với các con, và hãy cầu nguyện cho họ, biết đâu như người ta nói, xa tận chân mây, nhưng gần lại trước mặt, nếu ba mẹ chưa mất, thế nào gia đình mình cũng có ngày đoàn tụ“. Là một y sĩ, Loan hiểu nỗi khắc khoải của Thuận và luôn tìm cách chia sẻ nỗi ưu tư của chàng, nhưng Thuận còn một nỗi niềm riêng, mà không cách nào anh có thể chia xẻ với vợ: cho tới nay, hai vợ chồng chưa có con trai. Nếu ba mẹ và em đã chết, quả là dòng họ Thái đành đứt đoạn, Thuận thấy mình có lỗi với ba mẹ và ông bà nội hay tổ tiên. Tư tưởng này cứ nhậm gấm tâm hồn Thuận mỗi khi nhìn vợ con vui vẻ bên nhau. Câu chuyện xảy ra đã mấy chục năm, và cơ hội tìm gặp ba mẹ và em Thuận đã gần như không nghĩ tới. Đúng lúc ấy thì có cuộc phỏng vấn tuyển chuyên viên Biomedical Sciences và cô gái họ Thái xuất hiện. Khuôn mặt, nụ cười tiếng nói của cô gái họ Thái làm Thuận trằn trọc mãi. Trong bong đêm, Thuận nhắm mắt như cầu nguyện “Ba mẹ ơi, đây là Thành phố Hy Vọng, City of Hope, con và những người làm việc ở đây lúc nào cũng mong ước đem được hy vọng đến cho từng người, và dù chỉ có một tia hy vọng nhỏ nhoi, chúng con và cả những bệnh nhân, cũng không bao giờ dám bỏ lỡ. Ba mẹ hãy chỉ cho con biết phải làm thế nào, nếu quả thật ba mẹ đã về nơi yên nghỉ, xin hãy báo mộng cho con“!
    3.. Như Một Giấc Mơ
    Vi về đến khách sạn mà Biomedical Research đặt cho Vi ở để interview, việc đầu tiên là nàng báo cho ba mẹ biết đã xin được việc làm sau 3 ngày interview liên tiếp, “thật hú vía và bất ngờ”, nàng nói với mẹ qua điện thoại, và báo cho ba mẹ biết đón nàng ở phi trường. Nàng phải trở về công ty cũ để báo nghĩ việc và thu xếp để cùng đem ba mẹ rời tiểu bang lạnh, nơi mà gia đình Vi đã định cư từ ngày đến nước Mỹ cho tới hôm nay. Ước vọng của Vi là làm sao đưa ba mẹ rời được xứ lạnh để không thấy ba còm cỏi, lụ khụ mỗi mùa tuyết đổ. Lạnh và giá buốt làm nhức các khớp xương ngón tay, ngón chân, đầu gối và cổ chân mà ba than phiền mỗi khi đông đến, làm Vi nghe cũng xót xa. Nhất là sau ngày ba mẹ nghỉ hưu, “Ngồi nhà nhìn tuyết rơi thật là chán quá“, đó là câu mẹ Vi vẫn thường than mỗi ngày tuyết đổ. Cái ông anh “nối dõi” của Vi còn ở tận bên Trung đông, làm Vi vừa thương vừa lo, để mặc ba mẹ cho một mình Vi phải bận tâm. Nói thế nhưng thực ra, cuộc sống của ba mẹ và Vi lúc Vi chưa ra trường, anh đã gánh vác rất nhiều. Tiền lương của ba mẹ chỉ đủ chi dùng cho cuộc sống gia đình, còn tiền tiêu của Vi, nhất là những kỳ Vi không lấy được học bổng toàn phần, đều nhờ cả vào anh. “Con trai độc thân đi làm dĩ nhiên là đưa tiền cho mẹ, không lý anh lại đi phấn son hay làm thẩm mỹ để cua người đẹp bên đó, mà có khi cũng phải, vì bên đó con trai được cưới 3, 4 bà vợ, mai mốt mẹ tha hồ có người hầu hạ“. Đó là những câu trêu chọc Vi tặng cho anh, những ngày anh về nghỉ với gia đình.
    Nghĩ tới việc rời xa Life technology, Vi cũng có chút ngậm ngùi. Vi ra trường, tìm được việc ở công ty này, trong lúc rảnh rỗi, Vi vào trang web của Chính phủ, biết được Biomedical Research cần người, Vi liền gởi Resume xin việc. Resume gởi đi gần 2 tháng trời không có tin tức, Vi tưởng là đã chìm xuống Thái Bình Dương rồi, không ngờ lại được thư gọi interview và được nhận. Vi hồi tưởng lại khuôn mặt người interview mình sau cùng, cũng là người quyết định nhận Vi, thấy anh ta thật dễ thương và rất bình dị, không có vẻ kiêu kỳ, lạnh lùng như những người giữ chức vụ đó. Trông anh ấy giống Đại Hàn hơn là người Việt, nếu anh ta không nói câu sau cùng “Chúc mừng cô gia nhập biomedical research … “, thì Vi không thể biết anh là người Việt. Để mai mốt đi làm, mình tìm hiểu về anh ta thử xem là đã đến Mỹ lâu chưa mà giữ chức vụ ấy, không chừng mình gặp được quới nhân cũng nên. Vi mỉm cười với ý nghĩ của mình và vui mừng vì những ngộ nghĩnh, mà may mắn nàng đã gặp.
    Vi theo gia đình đến Mỹ theo Chương trình HO dành cho những tù nhân chính trị như ba Vi, lúc đó Vi mới 7 tuổi. Nàng theo học từ Elementary, đến High School rồi Biomedical sciences. Thời gian đầu nàng thật không thích trường lớp tý nào. Đi học về hôm nào cũng khóc, mãi cho đến khi lên High school nàng mới có bạn và mới thích nghi được sinh hoạt học đường ở Mỹ.Vi có rất nhiều kỷ niệm ở xứ lạnh này. Cuộc đời học trò, thủa chân ướt chân ráo của những ngày đầu bước chân vào lớp học. Nhìn những học sinh Mỹ, Vi sợ nhiều hơn là vui, không dám làm quen, chúng nói gì Vi cũng không nghe, không hiểu, chỉ cầu xin mau mau hết giờ để mẹ đón về, về nhà lại khóc vì sợ phải đi học, phải mất đến mấy tháng Vi mới quen, mới bắt đầu nghe hiểu. Một điều rất may là Vi rất giỏi toán, những bài toán, hay là các bài tập homework Vi chỉ đọc một lần hoặc liếc qua là hiểu và làm rất nhanh và rồi từ từ, Vi lên High school rồi lấy Biomedical Sciences mà đôi khi nghĩ lại, Vi thật cũng không ngờ. Điều may mắn Vi gặp được thời gian ở High school là Vi có một bà cô dạy Bio rất thương Vi, quê bà ở Nhật, lấy chồng Tân Tây Lan, làm việc cho một bệnh viện tại Mỹ, chuyên về Vi trùng học. Bà cô này đã khuyến khích Vi học biomedical, lương cao, dễ xin việc, và không vất vả như các ngành Medicine, hay Pharmacy . . .
    Cuộc đời thật có những việc không ngờ, như việc Vi theo gia đình đến Mỹ. Vi nhớ khi đến đây nhằm vào mùa tuyết, tuyết rơi giống như hoa bông dưới ánh đèn đêm, Vi thích thú vô cùng. Mấy năm đầu, tuyết thật dễ thương, không thấy lạnh gì lắm, nhưng những năm về sau, mùa tuyết bỗng như lạnh hơn, nhất là những khi có ánh nắng, Vi không hiểu được tại sao, chỉ biết là khi tuyết đang rơi, người ta thấy ấm hơn là những ngày tuyết mà có ánh mặt trời. Mười mấy năm sống ở đây, Vi đã quen thân từng dãy phố, góc đường, Tiệm Cafe, bánh ngọt… Những khuôn mặt khả ái mà mỗi khi bắt gặp vẫn dùng một kiểu xã giao trên đất Mỹ “long time no see” bây giờ phải xa họ, Vi không khỏi xao xuyến trong lòng. Tiếc nuối cũng đành ra đi, vì ba má đã già không chịu nổi giá tuyết ở nơi đây, vả lại công việc mới thích hợp với ngành học của nàng hơn, mà đặc biệt là lương cao hơn. Nàng miên man trong dòng cảm xúc của mình, thì tiếng điện thoại reo . . .
    – Vi phải không, mẹ đây, vậy là mấy giờ con sẽ đến phi trường?
    – Nếu không bị trễ là 10 giờ 45, nếu ba mẹ sợ lạnh thì khi nào xuống máy bay con sẽ gọi ba mẹ ra không sao.
    – Ba con bảo hỏi cho chắc thôi, ba con nhờ mấy ông bạn già bên đó tìm nhà thuê giùm, họ bảo nhà cho thuê nhiều lắm, trong hai tuần thế nào cũng tìm ra nhà, mình sang sẽ có nhà ở rồi. Coi bộ ba con vui lắm, vì thoát khỏi mùa Đông ở đậy, mà nhất là gặp lại đám bạn già của ba ở bên đó.
    – Được vậy thì tốt lắm, thôi nha mẹ, để con thu xếp và gọi book vé về khỏi trễ.
    – Bye bye con.
    Vé máy bay đi và về đã được Biomedical Research đặt sẵn cho những ai được mời interview, cả về ăn ở, do vậy Vi chỉ cần báo ngày giờ cho hãng Hàng Không là được. Chuyến bay Vi đi thật đúng giờ, 10:50 Vi rời máy bay, vô quầy nhận hành lý thì đã thấy ba mẹ chờ ở đó, Vi ôm ba mẹ và nói tíu tit như rất vui mừng, niềm vui bộc lộ hẳn ra trên khuôn mặt, nụ cười.
    – Nhìn con thì biết là công việc này con thích thú lắm phải không.
    – Phải rồi mẹ ạ, tiền lương cao hơn Life technology nhiều, nơi làm việc thật khang trang với mấy dãy building vây quanh, đẹp như một thành phố, con thích lắm
    – Thôi về nhà đi rồi hãy nói chuyện, ba Vi xen vào.
    Về nhà, lúc ngồi ăn cơm Vi kể cho ba mẹ nghe cuộc Interview nàng đã gặp,
    – Run lắm ba mẹ biết không, tới 3 người interview con trong ngày đầu, và hơn 6 tiếng liên tiếp, con phải trả lời theo sách vở, những gì đã học, và cứ lo lắng không hiểu những câu mình trả lời đúng hay là sai, nhất là về Immunology và Cellular and molecular Biology, cho đến khi đứng dậy, một trong 3 người họ bảo con, hôm nay cô làm tốt lắm, ngày mai cô có mặt đúng 8 giờ. Ngày thứ 2, con lại gặp 3 người khác, họ hỏi con về những việc con làm tại Life technology và các loại tools hay equipment con đã dùng, những dụng cụ trong phòng lab mà con biết xử dụng, nhưng chưa sử dụng, rồi họ dẫn con đến các departments như là Immunology, Molecular and Cellular Biology, Molecular medicine… Và sau cùng là Molecular Pharmacology. Họ yêu cầu con sử dụng một vài dụng cụ trong lab như Ocular Micrometer, Micropipettor, một vài software dùng trong reseach, tên software mà con đang sử dụng và testing… Nghĩa là họ hỏi con đủ thứ. Con vừa hồi hộp vừa lo sợ mình làm không xong, một lúc con chợt nghĩ tới bỏ cuộc. Rất may là chính lúc ấy họ bảo con “Chắc là cô đã mệt, cô có thể về, và ngày mai Mr.James sẽ gặp cô từ 9:30 đến trưa“. Ngày thứ 3 con có mặt lúc 9 giờ, chờ chừng 15 phút thì Bác sĩ James tới gặp con, ông hỏi về Chemistry và Bio, DNA (DeoxyriboNucleicAcid), RNA, (RiboNucleicAcid), ASO (Alle Specific Oligonucleotide), PCR (Polymerase Chain Reaction) rồi một vài kiến thức về Pharmacology, sau đó ông giới thiệu về Department của ông, Molecular and cellular Biology, công việc chính của Department là nghiên cứu về di truyền (Gene structure), các mẫu của kháng thể (Modeling of antibodies) và lý thuyết của sinh học (Theoretical biology). Sau đó ông đưa con vào phòng họp của Staff và chờ interview lần chót.Con hồi hộp đến muốn khóc khi ngồi chờ ở đây, căn phòng không rộng, nhưng cảm giác vắng vẻ làm con sợ hãi như lần làm bài thi tốt nghiệp cuối cùng. Thật là hú vía, cuối cùng rồi người interview con cũng mở cửa bước vào, con run đến nỗi quên câu chào xã giao khi đưa tay cho ông ta bắt, mà nghệ thuật interview dạy phải làm.Ba mẹ biết không, ông phỏng vấn con cuối cùng là người Việt, cũng là người có thẩm quyền quyết định mướn con hay từ chối mướn. Thoạt nhìn, con cứ tưởng là người Đại Hàn, rất ít nói, nhưng khi nói lại có vẻ nhiệt tình và thân thiện, ông ta luôn luôn nhìn mặt con, làm con rất bối rối, con phải xin phép ra ngoài để bớt căng thẳng, điều mà khi interview không hề cho phép, con nghĩ là fail rồi, nhưng khi trở vào, ông ta chỉ hỏi con OK không, có thể tiếp tục không, và những câu ông hỏi rất nhẹ nhàng, như về antibodies, transgene, Southern blot mothod, và về dược học. Cuối cùng, ông ta đứng dậy bắt tay chúc mừng con tham gia vào Biomedical Research… và cho con biết bác sĩ James muốn con về làm ở Department của ông ta, (Molecular and cellular Biology). Nhờ ông ta chúc mừng bằng tiếng Việt, lúc đó con mới biết ông ta là người Việt.
    -Chắc là còn trẻ và đẹp giai, nên con bối rồi !
    – Hì hì . . . Không phải đâu, ai mà nghĩ như má, lúc đó con rất lo sợ và hồi hộp thôi.
    – Bà làm như con bà đẹp lắm, ba Vi xen vào.
    – Dĩ nhiên con gái tôi thì bảnh rồi.
    Thế là gia đình Vi rời tiểu bang lạnh giữa mùa Đông. Sau hơn 4 giờ bay, gia đình Vi đã đến nơi , và bác Tuân, bạn của ba Vi đã chờ sẵn ở phi trường để đón về nhà bác ấy tạm trú trong lúc chờ mướn nhà. Vi có 3 ngày để chưng diện cho chính mình trong ngày đầu tiên nhận việc và mua tạm một chiếc xe để đi làm. Mẹ nàng cũng đã dặn đi dặn lại phải chưng diện một chút cho tươi tắn, “ở đây nắng ấm, không nên lùi xùi như xứ lạnh nha con“.Vi đến chổ làm trước 15 phút, nàng vào HR để làm các thủ tục cần thiết, và làm thẻ vào cửa, rồi đến thẳng Department of Molecular and Cellular Biology gặp bác sĩ James như HR hướng dẫn, và được bác sĩ James giới thiệu với các đồng nghiệp và chỉ dẫn vắn tắt công việc của nàng, ông cho biết nàng có 4 tuần training, và giới thiệu với nàng Bác sĩ John Martin, người sẽ training và là Lead của nàng. Đến lúc này Vi cảm thấy nhẹ nhàng thực sự, nàng nghĩ thầm, có tới 4 tuần training thì mình đâu có lo gì làm không xong. Bác sĩ John cho nàng biết về thời gian làm việc, giờ cơm và không ấn định giờ nghĩ giữa buổi, giờ nghĩ này có thể là 10 giờ, 10 giờ 30, tùy theo công việc của mỗi người, và có thể không lấy giờ nghĩ cũng không sao. Nhưng giờ làm việc ấn định là từ 8 giờ , có thể trễ một chút, nhưng phải giữ đúng mỗi ngày là 8 giờ làm việc, riêng thời gian training, bác sĩ John yêu cầu nàng đi theo giờ của ông ta là 8 giờ 30 sáng phải có măt.
    Thế là Vi đi làm đã được 4 ngày, Vi rất mong gặp lại người interview nàng lần cuối cùng, để cám ơn ông ta một tiếng, mà lúc đó nàng mừng rỡ quá đã quên mất, nhưng không gặp được ông ta, nàng cũng không dám hỏi người khác vì sợ người ta hiểu lầm là mình o bế giám đốc! Đã hết giờ, Vi vừa thu dọn hồ sơ vừa suy nghĩ, thật là may mắn, mọi người ở đây rất tử tế và thân thiện, chỉ là mình chưa gặp lại anh ấy mà thôi. Vi bước ra khỏi phòng, đi về hướng parking, mà lòng dâng lên một niềm vui nhè nhè… Chợt có tiếng hỏi:
    – Cô là người mới tới làm ở đây phải không? Vi giật mình quay quay lại,
    – Dạ vâng, sao bà biết?
    – Nhà tôi có bảo là mới interview một cô người Việt nên tôi đoán thôi. Ở đây không có nhiều người Việt đâu, bà bắt tay Vi và tự giới thiệu, tôi là bác sĩ Michelle, ở khoa ngoại.
    – Ồ thì ra người mướn tôi là ông nhà, tôi cũng đang mong gặp ông ấy để cám ơn ông ta đã nhận tôi, mà chưa gặp được, thú thật với bà là lúc đó vui mừng quá nên tôi đã quên mất cám ơn.
    – Anh ấy cũng mong gặp cô. Chỉ tiếc là anh ấy phải về trường đại học làm việc đến cuối tuần nên chưa gặp cô đó thôi.
    – Thưa bà, ông bà được mấy cháu?
    – Cám ơn cô, chúng tôi có 2 cháu gái, 8 tuổi và 5 tuổi. Đừng gọi bằng bà, gọi tôi là chị Loan, hay Michelle, tôi sẽ gọi cô là cô hay em cho thân mật, ở đây chỉ có 4 người Việt, một dược sĩ, một bác sĩ mới vào. Để anh ấy về, tôi mời cô tới chơi cho biết nhà, anh ấy quí người Việt lắm, nhất là những người học giỏi như cô.
    – Chị quá khen, anh chị mới giỏi chứ, anh là Scientist, chị là doctor. Chắc anh chị ở gần đây?
    – Cách đây chừng 30 phút lái xe.Hai người còn đang nói chuyện thì tiếng cell phone reo lên,
    – Phone của chị đó,
    – Vâng, xin lỗi tôi nghe phone một chút: ” A lo, Doctor Michelle, . . .“
    Vi không nghe được gì, nhưng một lúc sau, bác sĩ Michelle tắt phone và nói, tôi phải về phòng mổ, không hiểu có chuyện gì, xin lỗi nhé, thế nào tôi cũng gặp lại em, vừa nói vừa bước lên xe và lái đi. Vi nhìn chiếc xe chạy ra khỏi parking mà mang cảm giác như mất một vật gì, lòng bổng nghe buồn buồn và miệng lẩm bẩm “anh ấy hạnh phúc quá.
    Chiều thứ Sáu, xong công việc với trường đại học, Thuận lái xe về nhà mà trong lòng vẫn băn khoăn nghĩ tới cô nhân viên mới tuyển dụng, không hiểu cô ấy có gặp trở ngại gì không, nhất là khi hay tin BS. James đã bảo nàng theo học với John, một vị bác sĩ giàu kinh nghiệm, và thông minh, nhưng lại quá nghiêm túc nên sợ mấy người trẻ sẽ gặp phản ứng. Đã nhiều lần chàng tự hỏi mình là tại sao lại bận tâm tới cô ấy như vậy? Tình cảm này vốn vi diệu hơn bất cứ những mối tình bạn bè, hay chồng vợ, ngay cả đối với ba má nuôi chàng. Khi ba má nuôi mất đi, lòng chàng cảm thấy trống rổng và cô đơn vô cùng, nhưng nỗi đau ấy và tình cảm đó hoàn toàn khác biệt với cái nhẹ nhàng nhưng lại quấn quít và ràng buộc như tình cảm mà Thuận cảm nhận khi nghĩ đến cô nhân viên người Việt này. Nó lại càng không phải là mối tình cảm nam nữ háo hức và luyến ái, hoặc chiêm ngưỡng và mong muốn chiếm hữu. Thật là khó mà phân tích mà không hiểu được tại sao? Chỉ biết một điều là trong những ngày qua, lúc nào Thuận cũng lo sợ cô ấy gặp phản ứng bất lợi từ các vị bác sĩ và chuyên viên kinh nghiệm trong công việc hàng ngày. Thuận đã từng có ý nghĩ cần phải để lộ một vài ưu ái cho mọi người hiểu rằng chàng thực sự cần đến người trẻ này và mọi người cần quan tâm đào tạo cô trở thành một người đảm lược của Departmenh Research. Mà cùng chính vì điều này mà chàng thấy cần phải gặp bác sĩ James và bác sĩ John để hỏi xem khả năng cô ta như thế nào, có mẫn tiệp, và nhạy bén hay năng động với công việc hay không? Về đến nhà, khi ngồi ăn cơm, vợ Thuận đã kế cho anh nghe cuộc gặp gở giữa nàng và cô nhân viên mới,
    – Chỉ tiếc là lúc chúng em đang nói chuyện thì Phòng mổ gọi em về nên chưa hỏi thăm được gì cả, nhận xét của em là cô ấy còn vô tư, nhưng đẹp và dễ thương lắm.
    – Em lại có ý kiến gì?
    – Anh nên để tâm đến cô ấy một chút, nếu cô ấy gặp trở ngại, còn không thì hãy để bình thường là được rồi. Đồng hương ở đây rất ít, mà cô ta lại mang họ của anh, anh hãy tìm cơ hội gỡ đi cái rắm rối trong lòng, để tìm lấy sự thanh tịnh cho tâm hồn mà làm việc, em nghĩ đó là điều tốt nhất
    – Để thứ hai anh sẽ hỏi ý kiến của John và James về khả năng cô ta trước.
    – Vậy là tốt nhất.
    Sáng thứ 2, sau khi họp đầu tuần với các Manager và Lead xong, Thuận đã gặp riêng bác sĩ John và hỏi về khả năng thích ứng với công việc của Vi, ông ta cho biết cô ấy rất thông minh và thích ứng rất mau chóng. Nghe vậy Thuận như bỏ được nỗi ưu tư trong lòng, và bắt đầu lo công việc hàng ngày của chàng. Công việc của Biomedical Research thật ra rất phức tạp và bận rộn, nếu thiếu quan tâm một chút là sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng vô cùng. Từ nghiên cứu (basic research), đến ứng dụng (Applied research), hay việc đánh giá phương pháp chữa trị mới (Evaluation new treatment), cả về an toàn lẫn hiệu quả của phương pháp (Clinical trials), điều nào cũng đòi hỏi khả năng và tính nhẫn nại. Đó là chưa nói đến các nghiên cứu về Hóa Sinh, các cell và gene structure, hay là về Dược học (Pharmacology), các phát minh về thuốc và ứng dụng của nó trong các clinics, vân vân và vân vân… Do vậy, dù đã hỏi ý kiến bác sĩ John, Thuận vẫn muốn gặp Thủy Vi vào chiều nay, để lượng định khả năng cô ta và cũng là để thăm dò những điều còn khúc mắc trong lòng Thuận. Thuận đi ngang qua nơi Vi đang training, anh thấy Vi đang chăm chú vào công việc và có vẻ bận rộn lắm, nên bỏ ý định gặp Vi trong lúc này, hãy để lúc thuận tiện đã, Thuận nghĩ vậy và trở lại văn phòng, vừa lúc vợ gọi điện thoại đến :
    – Hello em đây, con gái anh đòi chiều nay đi ăn món ăn Việt Nam có được không?
    – Được, nhưng anh về đón cả nhà phải không?
    – OK, đúng vậy.
    – Được rồi, 5 giờ anh về.
    Thuận nhìn đồng hồ, còn 30 phút nữa là 5 giờ, chàng thu dọn giấy tờ trên bàn, soát xét lại công việc, ghi lấy những điều cần làm cho ngày mai và đóng cửa ra về. Đến Parking, anh thấy Vi còn mở máy xe, nhưng xe không nổ,
    – Xe cô không nổ máy
    – Em không biết nữa, sáng nay đi còn ngon lành.
    – Cô mang từ bên đó sang?
    – Không, em mua ở đây $4,500.00 đó.
    – Để tôi xem thử,
    Vi bước ra khỏi xe, nhường chỗ cho Thuận, anh mở máy liên tiếp hai lần, không có dấu hiệu nạp điện, biết là bình acquy hết điện,
    – Không sao, tại ac quy thôi, cô biết boost không?
    – Không đâu.
    – Được, hãy làm theo tôi dặn,
    Thuận lái xe chàng tới parking lot đối diện, để đầu xe của chàng gần sát đầu xe của Vi rồi lấy cáp nối bình acquy xe chàng và xe Vi,
    – Cô vào xe của cô mở máy thử đi.
    Vi làm theo sự chỉ dẫn của Thuận và chiếc xe nổ máy.
    – Xe cũ là như vậy, bình cũng cũ luôn, hoặc là thay bình, hoặc là cô mua chiếc mới, cô có thể downpayment một vài ngàn rồi trả hàng tháng được mà.
    – Vâng để em thử, cám ơn anh nhiều lắm. Trong lúc đó điện thoại của Thuận lai reo…
    – Em đây, anh ra cửa chưa,
    – Anh ra rồi, nhưng xe cô Vi hết bình, anh vừa boost cho cô ấy,
    – Vậy há, dịp may đấy, anh mời cô ta đi ăn theo nhà mình đi, hãy nói là birthday của con gái anh, may ra cô ta mới chịu đi.
    – Ok để anh thứ nha.
    – Cô Vi ạ, nhà tôi vừa gọi điện thoại tới muốn mời cô đi ăn tối với chúng tôi, chắng có gì quan trọng đâu, chỉ là Birthday của con gái thôi.
    – Ủa Birthday cháu há? Vậy cho em đi theo, nhưng em không chuẩn bị quà gì cho cháu cả, thật ngại lắm.
    – Có gì đâu, coi như cô nợ cháu vậy, mai mốt cô đền cho cháu là được rồi.
    – Birthday mà cũng có thể nợ quà sao?
    – Ở bên này cái gì cũng có thể, huống chi là quà Birthday!
    – Được, vậy thì cho em theo anh.
    Thuận gọi vợ cho biết là có Vi cùng đi, và hỏi tên nhà hàng và địa chỉ, để anh đưa Vi tới mà không muốn ghé về nhà nữa sợ phiền Vi.Thuận và Vi tới nơi thì vợ con Thuận đã tới rồi, vợ Thuận giới thiệu các con với Vi và bảo chúng gọi Vi bằng cô, trong lúc chờ chọn thức ăn, Vi gọi về nhà cho ba mẹ biết là nàng sẽ về muộn vì đi ăn Birthday của con gái boss, và dặn ba mẹ ăn cơm trước. Lấy cơ hội ấy, vợ Thuận liền hỏi Vi,
    – Gia đình Vi có bao nhiêu người, Vi được mấy anh chị em?
    – Em có một ông anh là quân đội, đang đóng ở bên Trung đông, ở đây chỉ còn em với ba mẹ, gia đình em cũng ít người lắm.
    – Cô đang ở đâu, gần đây không?
    – Em nghĩ là cũng gần, tý nữa em phải nhờ anh chị chỉ đường về mới được, gia đình em đang ở tạm nhà của bạn ba em. Còn anh chị thì sao, ông bà nội ngoại cũng ở đây?
    – Ba má tôi đã qua đời, tôi là con một, nhà tôi cũng vậy.
    Hai người đàn bà mải lo nói chuyện, còn Thuận thì vui đùa với hai con, nhưng chàng vẫn để ý theo dõi câu chuyện và biết Vi chỉ có hai anh em và ba má mà thôi, đột nhiên Thuận nghe lòng mình tróng rỗng, và tiếng nói của vợ dường như từ xa xôi đồng vọng dội về .
    – Xin mời quí khách dùng bữa.
    – À quên mất, cô Vi thích món gì? Và uống gì đây, anh gọi thức uống đi.
    – Chị uống gì cho em thứ ấy, còn thức ăn thì em đã thấy trên bàn rồi.
    – Món gì?
    – Cá hấp cuốn bánh tráng.
    – Trời ơi, sao ăn giống ông Thuận nhà này vậy.
    – Anh Thuận cũng thích cá hấp hả?
    – Đúng vây, món ruột của anh ấy đó.
    – Hai người ăn đi chứ, nguội hết rồi, cua và tôm nếu để nguội sẽ mất ngon? Thuận nói.
    – Em xin lỗi, bất ngờ quá, em không mua quà mừng sinh nhật cho cháu được, thật là ái ngại.
    – Vợ chồng Thuận nhìn nhau mim cười, rồi quay sang hai cô con gái, vợ thuận hỏi,
    – Hôm nay sinh nhật ai vậy? Dionne hay Dianna?
    – Đâu có má. Ừm hừm … Ma mi vo gạo, Dionne nói.
    – Mami vo gao. À ha . . . Dianna thêm vào!
    – Con mới vo gạo, con mà không ăn nhanh thì đúng là vo gạo!
    – Vo gạo là sao? Vi nhìn hai đứa nhỏ và hỏi.Dionne và Dianna nhìn mẹ mĩm cười không nói. Thuận vo đầu Dianna giải thích, khi vo gạo, cô nghe âm thanh phát ra xào xạo, nên hai đứa nhỏ bảo là mẹ nói dối.
    – Wow . . . con của anh chị nói tiếng Việt giỏi quá xá, biết cả tiếng lóng.
    – Cũng phải cám ơn sư phụ của hai cháu đấy!
    – Không có đâu, trong nhà tôi chỉ là sư đệ thôi, Thuận trả lời và tiếp, nhà tôi sợ mời cô, cô không đi nên bảo tôi nói dối là sinh nhật của cháu.
    – Ra là thế, thôi hôm nay anh chị đãi em, để mướn nhà xong, em mời anh chị và hai cháu đến ăn tân gia. Nhìn thức ăn ở đây, nhất là rau em thấy ngon quá, mấy tuần nay mẹ em đi chợ toàn mua rau và cá, chả bù cho tiểu bang lạnh.
    – Tôi cũng nghe người ta nói thế. À mà bây giờ cô đang ở đâu? Vợ Thuận hỏi..
    – Cả nhà đang ở tạm nhà bạn của ba em.Đột nhiên bé Dionne cắt ngang câu chuyên,
    – Mẹ ơi, cô đẹp quá ha mẹ.
    – Phải rồi, cô đẹp và dễ thương, lại học giỏi nữa, mai mốt con lớn phải giống cô nha.
    – Dạ mẹ, Dionne trả lời.
    – Hai cháu mới đẹp chứ, mai mốt nhất định là học giỏi giống ba má rồi.
    – Thôi ăn giùm, cô cháu đừng có khen lẫn nhau nữa, người ta nghe thì mắc cở lắm, vã lại hình như trễ rồi, cô phải về kẻo hai bác lo, mà hai con cũng phải về ngủ để mai còn đi học, vợ Thuận nói.
    – Cô về khuya có ngại không? Thuận hỏi.
    – Em không sao, anh chỉ hộ em đường về là được rồi.
    – Cô ở đâu?
    – Em ở . . . ngã tư Poway và Bernard Rd.
    – Ồ gần thôi, tý nữa cô ra thì queo phải, bỏ 2 ngã tư, đèn xanh đèn đỏ, đến ngã thứ 3 queo trái là tới rồi.- Anh rành ở đây quá vậy?
    – Nhà tôi là ông Địa ở đây đó cô.
    – Em à, chúng ta để cô Vi về kẻo hai bác ở nhà đợi, vã lại hai đứa nhỏ cũng phải về ngủ, trễ rồi.
    – Hai con đứng dậy chào cô đi rồi về, và vợ Thuận gọi tiếp viên tính tiền . . .
    Về đến nhà, vợ Thuận bảo, thật tiếc là trong gia đình anh không có em gái. Nếu có thì đúng cô ta phải là em gái anh. Cô ta có những nét rất giống anh, như là khi cười, khi nói, mà nhất là khi cô ấy ăn, kể cả cử chỉ đưa tay lên mà nói cũng giống như anh luôn, lại còn sở thích về ăn nữa chứ. Em thật chưa cam! Sáng hôm sau Thuận đi làm, khi ngang qua nơi Vi làm việc, nhìn sau lưng Vi, anh lại mang cảm giác lạ lùng của ngày đầu mới găp, dường như hình bóng Vi luôn luôn lẩn quất trong đầu anh. Thật là khó mà hiểu, không lý mình yêu thầm cô ta, Thuận chợt nghĩ! Về phần Vi, cô cũng thầm hỏi, tại sao hai vợ chồng họ lại tốt với mình như vậy, phải chi chỉ có anh ấy cư xử tốt với mình thôi thì thật là dễ hiểu. Tuy nhiên Vi dấu kín tình cảm của mình và không kể cho mẹ nghe giống như những lần trước.
    Mấy tuần nay, thứ 7 nào Vi cũng đưa ba mẹ đi tìm nhà.
    – Con thấy căn nhà này ra sao Vi? Câu hỏi của ba Vi đưa Vi rời cơn mộng,
    – Ừ, dạ . . . con thấy cũng tốt lắm.
    – Con có sao không Vi? Bệnh há? Mẹ Vi hỏi,
    – Không có, tại con đang suy nghĩ thôi. Nhà này được đó ba, 3 phòng ngủ 2 phòng tắm, thêm một Restroom, 2 garages, giá phải chăng, được phải không mẹ?
    – Phải có phòng cho anh con khi nó về nữa chứ!
    – Ừ thì anh “nối dõi” 1 phòng, con 1 phòng, ba mẹ 1 phòng.
    Nghe Vi nhắc đến người anh nối dõi, mẹ Vi lại tưởng nhớ đến người con lớn. Đã mấy mươi năm rồi bà vẫn chưa hết ân hận việc bảo em gái của bà dẫn đứa con đi vượt biển, lúc nào bà cũng mang trong lòng cảm giác đưa con và em đi chết, và những lúc nghĩ tới việc này, bà chỉ khóc thầm rồi đấm ngực ăn năn! Thấy Vi nhìn mình, bà vội đánh trống lảng,
    – Nhà này không hiểu có xa chổ con làm không?
    – Để con hỏi chủ nhà xem sao?
    Vi hỏi lại chủ nhà, được biết nhà này cách chợ Việt Nam 20 phút, chỉ 10 phút đi bộ qua bên kia góc đường là nhà Thờ Sainte Gabrielle, còn nơi cô làm việc . . . chắc 25 đến 30 phút. Tôi biết chắc chắn không xa đâu.
    – Tường à, từ nhà này tới ngã tư Albert và Calmet mấy phút lái xe ?
    – Con lái thì 22 đến 25 phút, con đi hàng ngày mà. Con trai ông chủ trả lời.Vừa lúc ấy, người bạn già của ba Vi chạy ngang qua bắt gặp, bác Thụ, bác đậu xe lại và hỏi,
    – Này gia đình tính mướn nhà này há?
    – Vâng, bác cho ý kiến đi.
    – Nhà tôi cách đây một ngã tư, bác đi bộ tới tôi khoảng 10 đến 15 phút, mướn đi, để tôi và bác đi bộ cho vui, khu này an toàn lắm, mấy chục năm tôi ở đây thật không có gì cả.
    – Vi à, vậy mình mướn nha con? Ba Vi lên tiếng.
    Trên đường về, nàng dặn ba mẹ ở nhà cứ gói đồ lại rồi chiều về con chở đi từ từ ngày một ít, hy vọng tuần tới mình sang nhà mới được. Thứ hai nàng đi làm về thì đồ đạc đã chở hết, chì còn đồ dùng hàng ngày của mỗi người mà thôi. Ba nàng và bác Tuân đang nói chuyện tâm tình, thấy Vi về, bác Tuân bảo Vi, đã đi thì để bác chở cho, lại coi xem giường, nệm, bàn ghế phòng khách, phòng ăn nhà bếp . . . cần thứ gì để bác giúp gọi điện thoại đặt mua, không cần khách sáo, rồi quay nhìn ba Vi ông nói, “Tôi vẫn còn một chút tiền có thể giúp bác được. Bạn già như bác và tôi hay ông Thụ, còn được mấy người, nói là bạn thì như mấy đứa chúng mình mới là bạn, làm bạn cũng phải trải qua thời gian, có quá khứ và kỷ niệm, như ông với tôi, chơi với nhau từ thời tiểu học, lên đệ Tam mới gặp ông Thụ, ba đứa thân nhau từ đó đến giờ, đâu phải là bạn bè khi sang đây mới gặp, thấy nhau ở các hội hè, họp mặt hay shoping, . . . Bắt tay bắt chân, nhưng khi xa nơi đó rồi mỗi người một cõi, không liên lạc, không thăm hỏi, có đâu thâm tình, có đâu tri kỷ”.Vâng, bác, tôi và ông Thụ quả thật là tri âm mà cũng là tri kỷ, chỉ là khi đi tù cải tạo, tôi không gặp hai bác, có hỏi vài ngưòi, nhưng không ai gặp, đâu có ngờ hai bác không được “vi hành xuất tuần” thị sát dân tình Hà Bắc, Thăng long, Thanh hóa để được dàn chào ở ga Hàng Cỏ như tôi ! Cứ mặc hai ông già kể chuyện, Vi nhẫm tính túi tiền, nàng thấy vẫn còn đủ chi dùng, vã lại nàng sẽ có lương trong tuần tới, nên khi nghe bác Tuân nói tới tiền bạc Vi dặn mẹ tìm cách từ chối.
    Công việc nhà cửa thế là đã ổn, Vi yên tâm đi làm, hàng ngày ở nhà ba mẹ nàng có thể qua nhà bác Thụ, hay đi bộ dạo chơi cho quen khu phố mình ở, không phải co ro như ngày còn ở tiểu bang lạnh. Hai tuần sau, Vi trang hoàng xong nhà cửa, so với nơi ở cũ quả là khang trang hơn nhiêu, mẹ Vi bảo thế, còn ba thì rất vui thích, ba bắt đầu nghe lại những bản nhạc xưa như ” Chiều mưa biên giới, Tấm ảnh ngày xưa, Hoa soan bên thềm cũ, Sang ngang . . . Ba nghe hoài mỗi ngày làm Vi cũng thuộc luôn. Vi nói với ba mẹ là nàng muốn mời gia đình ông boss của nàng tới nhà ăn cơm, và ba mẹ cũng nên mời các bác Tuân, bác Thụ và mấy bạn già của ba tới chơi cho phải lễ, khi mình tới đây được họ ân cần đón tiếp. Dì nhiên là ba Vi mong muốn như thế rồi, và Vi muốn là tối thứ 7 tuần tới, để sáng thứ 7 nàng cần mua sắm chút ít đồ trang trí cho ra vẻ thanh tân. Nhưng một chuyện bất ngờ đã xảy ra, mà sau này Vi cứ gọi đùa ba mẹ là” những vĩ nhân tạo ra kỳ tich”! Sáng thứ 7 của hôm mời khách, Ba đưa Vi và mẹ tới chợ Vons mua khăn giấy, đĩa, muổng, nĩa, khăn bàn . . . để dùng cho tiện, không mất công rửa. Khi đi ngang qua mấy người bán bông, Vi nói với mẹ nàng muốn mua bông, và xuống xe, còn ba mẹ thì đưa xe vô parking đậu, nhưng có lẽ xe chưa nằm gọn trong lằn ranh, ông de lui de tới, đụng phải chiếc Hummer ở hàng phía sau, ông nghe tiếng đụng rồi tiếng khóc của trẻ con, nên hốt hoảng đậu xe nguyên chổ, bước ra xe cùng với vợ chạy tới xin lỗi chủ xe và coi tình hình đứa nhỏ,
    – Không sao, không sao, ba mẹ đây. Người đàn bà dỗ con.
    – Xin lỗi, tôi vô ý, hai cháu có sao không? Ba Vi nói.
    Người đàn bà ngước nhìn ông có vẻ không hài lòng, còn người đàn ông thì hỏi lại,
    – Bác có sao không? Hai cháu không sao đâu, xe đậu mà, chúng chỉ hoảng sợ thôi,
    – Anh à, hãy thăm chừng xem các con đã, cẩn thận vẫn hơn.
    – Để anh xem, anh trả lời vợ và hỏi các con,
    – Dionne con đau chổ nào, ghế có đụng con không?
    – Không có, con sợ thôi, ba hỏi em đi.
    – Em đâu có sao, I’m sure!
    Anh nhìn lại chiếc xe đụng xe mình bổng thấy chiếc xe quen quen, bảng số cũng quen quen hình như thấy chổ nào, nhưng thoạt nhiên anh không nhớ được.
    – Anh à, hỏi bảo hiểm của bác ấy đi, xe bác bị hư, đề phòng bất trắc,
    ý của người đàn bà là sợ ông bà này thưa ngược lai, người đàn ông ngần ngại một lúc, rồi hỏi ,
    – Bác có thể cho cháu xem giấy bảo hiểm của bác được không, hay bằng lái xe cũng được?
    – Vâng, ông già trả lời và móc ví lấy bằng lái xe đưa cho người đàn ông và nói,
    – Giấy bảo hiểm con gái tôi giữ, nó đang mua bông đằng kia, ông quay sang vợ,
    – Bà gọi con Vi tới đây đi.
    Nghe vậy người đàn ông chưa kịp coi bằng lái xe đã vội hỏi,
    – Xe này của cô Vi phải không? Cô Vi làm ở Biomedical Research? Vậy bác là ba cô Vi?
    – Vâng, Vi là con tôi. Hai vợ chồng chủ chiếc Hummer cùng nhìn nhau cười, rồi cùng nhìn bằng lái xe, Thái, Trác-Ngọc, DOB 1947.
    Bằng lái xe rơi khỏi tay người chồng, rớt xuống đất, khuôn mặt anh nhợt nhạt, bà vợ hiểu tình trạng chồng mình liền ôm anh và bảo, hãy bình tĩnh, anh hãy bình tĩnh … Vừa lúc đó Vi và mẹ chạy tới, thấy vợ chồng Thuận, Vi sửng sốt, vội hỏi?
    – Anh có sao không chị?
    – Chỉ xúc động thôi, để tôi xoa bóp thái dương cho anh ấy một lúc sẽ không sao. Nhìn ba mẹ, Vi bảo,
    – Đây là bác sĩ Michelle, vợ anh Thuận, anh Thuận là Giám đốc của con.
    Lúc ấy Thuận mở mắt và bảo nhỏ vợ, anh hơi mệt, em hỏi thử bác ấy đi,
    – Vâng, vợ Thuận trả lời, và hỏi,
    – Xin lỗi, tên bác là Thái Ngọc Trác, sinh năm 1947, Thái Ngọc Trác hay Thái Trác Ngọc?
    – Thái Ngọc Trác,
    – Vậy bác có thể cho nhà cháu biết tên bác gái được không?
    Nghe vậy Vi hơi ngạc nhiên, nhưng cũng thay mẹ trả lời,
    – Mẹ em là Chung Thị Ngọc Hân.
    Thuận lẩm bẩm một mình, Thái Ngọc Trác, Chung Thị Ngoc Hân, Thái Ngọc Trác, Chung thị Ngọc Hân . . . Và vội vàng lấy trong ví ra tấm hình mà 32 năm trước đây mẹ đưa cho anh, rồi hỏi,
    – Hai bác có nhận ra tấm hình này không?
    Ông già nhìn tấm hình còn phân vân, người vợ vội dành lấy tấm hình xem rồi lật mặt sau ra đọc, Thái Ngọc Trác (1947), Chung Thị Ngọc Hân (1953), Thái Ngoc Thuận (1970), Thái Ngọc Trị (1973) bà vô cùng xúc động vì nhìn ra tấm hình gia đình và nét chữ của mình, bà run run giọng hỏi,
    – Đây là hình gia đình tôi, tại sao anh có?
    Thuận vươn tới ôm bà cùng với ông già mà nói với giọng đầy cảm xúc, gần như đứt đoạn,
    – Ba mẹ ơi, con là thằng Thuận đây, con tìm ba mẹ và em hơn 30 năm rồi, tìm khắp nước Mỹ, Úc, Canada, cả Tân Đảo… Và òa lên khóc như một đứa trẻ.
    – Thuận, con là Thuận đây sao?
    bà ôm Thuận và khóc trong nỗi vui mừng lẫn xúc động. Vi và Vợ Thuận cũng bước tới ôm lấy mọi người và kêu lên “Ba… mẹ…“. Ba Vi với tay choàng lấy nàng và nói,
    – Đây là em gái con, ba đi tù về mẹ con mới sinh nó.
    Vợ Thuận quay lại mở cửa xe bảo hai đứa con ra chào ông bà nội, khi hai đứa nhỏ bước tới, Thuận lấy tay lau nước mắt và nói,
    – Đây là hai đứa con gái của con, đây là vợ con, tên Loan. Vợ Thuận bảo Vi,
    – Em xem xe còn lái được không thì đưa về rồi hẳn hay.
    – Vâng để em thử.
    Cả nhà đưa nhau về căn nhà Vi mới dọn vào, rồi bao nhiêu tâm tình hơn 30 năm Thuận và ba mẹ ngồi kể lại cho nhau, mà lòng không hết bi ai lẫn mừng rỡ .Chiều nay, gia đình Vi không những mời bạn bè tới dự bữa cơm tân gia, mà còn là bữa ăn chúc mừng sự đoàn tụ sau hơn 30 năm chia lìa và lưu lạc.                                                          Du Tử Nguyễn Định

‘Đèn Cù’ và tác giả Trần Đĩnh

‘Đèn Cù’ và tác giả Trần Đĩnh

10:12 | Posted by BVN1

Nguyễn Văn Tuấn

Tôi nghiệm ra rằng lịch sử Việt Nam mình thời XHCN qua giai thoại và những phát biểu riêng tư có ý nghĩa hơn là qua văn bản. Đèn Cù là một cuốn sách có rất nhiều giai thoại, và qua đó cung cấp cho chúng ta một cái nhìn khác về những người lãnh đạo ở miền Bắc.

Có khi nào các bạn để ý đến các bài nói chuyện của giới lãnh đạo chánh trị ở Việt Nam? Tôi không nói đến những bài diễn văn mà họ đọc trước công chúng hay các buổi lễ lạc; tôi nói đến những buổi tiếp xúc mang tính riêng tư hay giữa những người trong cùng hội. Nội dung của những bài nói chuyện trong các buổi họp mặt như thế, mặc dù là khách mời – guest speaker – nhưng thường là những chuyện có vẻ tầm phào, chẳng có hàm lượng tri thức gì cả.

Có lần, trong một buổi họp mặt các phóng viên mảng khoa học, họ mời một ký giả kỳ cựu đến chia sẻ kinh nghiệm. Tựa đề bài nói chuyện được ghi trong giấy mời là “Báo chí và vai trò truyền tin khoa học” làm cho tôi chuẩn bị lắng nghe. Thế nhưng suốt buổi nói chuyện, ông chỉ nói về những trải nghiệm cá nhân (như cá tánh, nhậu nhẹt), những câu chuyện rời rạc (ví dụ như tai nạn nghề nghiệp), hay nói chung là những câu chuyện chẳng đâu vào đâu, thậm chí chuyện tiếu lâm liên quan đến các nhân vật quan trọng mà ông có dịp tiếp xúc. Ông nói không có note, mà giống như kể chuyện. Mọi người khen ông ‘nói hay’.

Nghe xong tôi không biết mình học được gì từ bài nói chuyện. Nhưng nếu ghép những ‘ký ức vụn’ đó vào những câu chuyện của các tác giả khác thì chúng ta có một bức tranh tương đối rõ nét về mấy vị lãnh đạo ngoài đó. Các tác giả khác đó là Bùi Tín, Vũ Thư Hiên, Nguyễn Minh Cần, Trần Quốc Vượng, Dương Thu Hương, Tô Hải, Lê Phú Khải, và đặc biệt là Trần Đĩnh.

Ký ức của những người trong cuộc

Nếu là người bình thường đọc những sách của các tác giả trên, người ta thoạt đầu sẽ thấy… khó tin. Chính tôi cũng ở trong tâm trạng đó khi đọc ‘Đêm Giữa Ban Ngày‘ của Vũ Thư Hiên và Hoa Xuyên Tuyết của Bùi Tín. Khó tin vì tôi nghĩ chẳng lẽ mấy vị như HCM, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, v.v. trông có vẻ rất uy nghi mà lại có những hành xử rất ‘trần ai’ như mô tả trong sách. Nhưng sau này, đọc nhiều sách của những nhân vật trong cuộc ngoài Bắc mới thấy những sự kiện họ kể lại trong sách là rất khả tín. Những cuốn sách của các tác giả đó có tác động như mở mắt cho tôi.

Tác giả Trần Đĩnh (tên thật là Trần Kim Đĩnh) mới qua đời tuần vừa qua (ngày 12/5/2022) tại Sài Gòn. Ông thọ 93 tuổi. Các bạn trẻ có lẽ không nghe hay biết đến ông, nhưng ông là một chứng nhân quan trọng. Ông là người từng chấp bút viết tiểu sử cho Hồ Chí Minh và từng tiếp xúc với nhiều nhân vật cộng sản cao cấp trong An Toàn Khu ở miền Bắc trong thập niên 1950. Trong vai trò đó, ông biết rất nhiều chuyện ‘thâm cung bí sử’ của các nhân vật lãnh đạo miền Bắc. Những câu chuyện được ông ghi chép lại khá cẩn thận, nhưng không thể in được ở trong nước. Năm 2014, Nhà xuất bản Người Việt Books ở California ấn hành cuốn ‘Đèn Cù‘ cho ông.

Đèn Cù không hẳn là hồi ký, mà là những mảnh ký ức vụn của ông trong vai trò một ký giả kỳ cựu. Trong sách, ông giãi bày những cảm tưởng, ghi lại những sự kiện lịch sử, và những câu chuyện mà sách giáo khoa và văn bản chánh thức của đảng không bao giờ đề cập đến.

Chuyện tử hình bà Nguyễn Thị Năm

Chẳng hạn như chuyện ông HCM cải trang đi xem buổi hành hình bà Nguyễn Thị Năm được mô tả rất chi tiết. Trần Đĩnh kể rằng hôm đấu tố bà Nguyễn Thị Năm, “Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt”. Khi bà Năm bị bắn chết và người ta phải đưa thi thể bà vào cái hòm, nhưng cái hòm thô sơ và nhỏ nên không vừa với thi thể của bà. Thế là các “Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô…” Sau đó người ta đem thi hài của bà đi đâu chẳng có thân nhân nào biết (nghe nói sau này năm 1993 thân nhân tìm được mộ qua một nhà ngoại cảm). Đọc mà hình dung cảnh đó sao tôi thấy rợn người.

Cần nói thêm rằng bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long) như chúng ta biết là một ‘đại gia’ (nói theo ngôn ngữ ngày nay), nhưng cũng là một ân nhân của ông Hồ và những người lãnh đạo cao cấp trong đảng. Bà đóng góp 700 lạng vàng cho Việt Minh. Con trai của bà theo Việt Minh và làm sĩ quan trong quân đội. Các lãnh đạo Việt Minh thời đó như Trường Chinh và Hoàng Quốc Việt đều tá túc hay được bà giúp đỡ. Nói chung, bà là người tư sản và là người tốt bụng.

Nhưng Nhà văn Trần Đĩnh kể trong “Đèn cù” rằng trước khi đem bà đi bắn, ông HCM qua bút danh “C.B” viết bài “Địa chủ ác ghê” trên báo Nhân Dân tố cáo bà Nguyễn Thị Năm từng giết chết 14 nông dân, làm chết 32 gia đình, phản cách mạng, v.v. Bài viết đậm chất đấu tố cũng là bản án dành cho bà Nguyễn Thị Năm: tử hình.

Ông Đỗ Mười bị bệnh tâm thần?

Một trong những tiết lộ thú vị nhứt của Đèn Cù là ông Đỗ Mười, theo Trần Đĩnh, là người có vấn đề tâm thần. Ông viết rằng có lúc ông Đỗ Mười phải nhập viện khoa tâm thần Việt – Xô. “Khi lên cơn, ông leo lên cái cây cạnh cổng đứng xoạc chân cành cao cành thấp giơ tay hét xung phong. Các cô y tá ra dỗ bác xuống đều ù té chạy. Bác mặc quần đùi, trận địa pháo đài bày ra hết. Mà các cô thì không ở nam khoa, nội tiết. Sau gien điên của Đỗ Mười đã bền bỉ truyền sang cả con trai và cháu. Đồn rằng đặc điểm là thạo ăn người“.

Tôi không hiểu “thạo ăn người” có ý nghĩa gì. Nhưng trong sách có nhiều chỗ ông viết rất khó hiểu như thế.

Nhà tư tưởng Lê Duẩn và rau muống

Trần Đĩnh kể rằng ông Lê Duẩn thích thể hiện như là một nhà tư tưởng. Một hôm ông soạn một cương lĩnh về con người và phụ tá lái xe mời GS Trần Đức Thảo đến để nghe ông thuyết trình. Khi nói xong, GS Thảo ngồi yên, không có ý kiến. Khi phụ tá của ông Duẩn nhắc nhở, GS Thảo buông một câu rằng ông chẳng hiểu gì cả. Thế là Duẩn nổi nóng “thượng cẳng tay hạ cẳng chân” cho GS Thảo một phen suýt chết. Lê Duẩn còn ‘phạt’ để cho GS Thảo đi bộ vài cây số về nhà.

Ông Lê Duẩn đề nghị BS Phạm Ngọc Thạch nghiên cứu xem một chén cơm ăn với rau muống luộc và rau muống xào thì bên nào giàu dinh dưỡng hơn. Tác giả viết “Tôi nghĩ ngay việc gì phải Phạm Ngọc Thạch nghiên cứu, cứ bày lên bàn ông Duẩn hai dúm cơm, một rang mỡ, một không là kiến nó cho ý kiến ngay không phải chờ Phạm Ngọc Thạch chỉ thị cho ngành y tế“.

Chuyện BS Phạm Ngọc Thạch

BS Phạm Ngọc Thạch là dân Nam Bộ, Tây học, và người có cá tánh. Ông tự lái xe hơi chứ không cần tài xế. Trong Đèn Cù, Trần Đĩnh kể rằng khi một đồng nghiệp Nam Bộ của ông là BS Nguyễn Văn Cương qua đời ở Hải Phòng, ông tự lái xe xuống Hải Phòng để đưa đám. Khi tới nơi, ông thấy tượng Phật và chuông mõ còn trong nhà mà không đưa theo linh cữu, nên ông nổi nóng nói: “Tin hay không là chuyện riêng của các anh; còn tất cả chúng ta đều phải tôn trọng tín ngưỡng của người thân đã khuất’”.

Chuyện về những “Thằng”

Chữ ‘thằng’ bây giờ rất nổi tiếng, nhứt là sau chuyến công du của ông thủ tướng PMC. Nhưng nếu đọc Đèn Cù, các bạn sẽ gặp rất nhiều ‘thằng’ được đề cập đến trong những buổi gặp mặt riêng tư. Trần Đĩnh kể rằng ông Nguyễn Chí Thanh (đại tướng) rất mê Tàu và hay nói chuyện bỗ bã. Có lần ông Thanh lý giải rằng bún là món ăn xa xỉ, rằng “thịt chó phải đi với thằng bún và “thằng mắm tôm”.

Nhưng ngạc nhiên là ‘thằng’ còn được dùng cho một tổ chức quốc tế. Đọc Đèn Cù, thấy có đoạn tác giả trích lại câu nói của ông Đỗ Mười nói về Liên Hiệp Quốc như sau:

“Anh có biết Liên Hợp Quốc là gì không? Nó là thằng địch phản động, thế mà anh lại giúp nó vu cáo ta, gây sức ép với ta bằng lá thư của anh. Nó đang chửi ta vi phạm nhân quyền kia kìa”.

Có một điều đáng chú ý là các nhân vật như ông HCM, Võ Nguyên Giáp, và cả Phạm Văn Đồng không thấy họ dùng chữ ‘thằng’. Chỉ có mấy người như Đỗ Mười, Lê Duẩn, Nguyễn Chí Thanh, v.v. hay dùng chữ ‘thằng’. Cái khác biệt giữa hai nhóm này là một bên là nhóm có học thức và một bên là hơi kém học thức.

Nói chung, trong Đèn Cù, Trần Đĩnh vẽ chân dung của những người trong vai trò lãnh đạo ngoài Bắc rất ư là… ‘trần ai’. Khó biết được bao nhiêu những gì kể trong sách là thật, nhưng nhiều điều được viết ra trong sách có vẻ nhứt quán với, và giải thích được, những gì xảy ra ngày nay. Tác giả Trần Đĩnh đã ra người thiên cổ nhưng những gì ông kể lại sẽ là chất liệu và chứng từ để thế hệ sau nghiên cứu về lịch sử cận đại của Việt Nam.

TRẦN ĐĨNH 1930 – 2022. Ảnh: Phạm Đình Trọng

N.V.T.

Nguồn: FB Nguyễn Tuấn

Tham nhũng, bệnh thành tích, hư danh do đâu mà ra?

Tham nhũng, bệnh thành tích, hư danh do đâu mà ra?

10:27 | Posted by BVN1

Trương Quang Đệ

Hiện nay những tật xấu nói trên đã thành mãn tính, làm xói mòn niềm tin của dân chúng về đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn. Hình như mọi nơi mọi cấp đều thấy tham nhũng, thành tích dỏm, tiến sĩ cầu lông, giáo sư nửa chữ không thông.

Về bề mặt, những tật xấu này xuất hiện ở những khâu yếu kém về cơ chế quản lý, giám sát, về công tác nhân sự; thiếu vắng dư luận xã hội. Về chiều sâu những tật xấu ấy sản sinh từ một nền giáo dục không đủ tầm nhân bản.

Có một thời, tuy sống dưới chế độ thực dân phong kiến, học sinh các cấp vẫn được học trong sách Quốc văn giáo khoa thư những bài về ứng xử cao đẹp của con người, rồi đọc thêm bên ngoài những sách như “Cổ học tinh hoa”, “Những tấm lòng cao cả”, v.v. Ngày nay nói chung tài liệu học tập các cấp không đủ tầm nhân bản mà thiên về kiến thức khoa học cao siêu, chẳng hạn dạy đánh vần theo âm vị, âm tiết trong sách Tiếng Việt. Không biết chuyện tôi sưu tầm sau đây có thầy cô nào quan tâm dạy cho trẻ không?

“Một cậu bé ngồi chơi bên đường bắt được một con bướm. Vừa lúc ấy một nhà sư đi ngang qua, mang nặng trên vai một bó củi thu lượm trong một khu rừng gần đó. Cậu bé ra hiệu cho nhà sư dừng lại, đặt bó củi xuống đất rồi nói:

– Trong tay cháu có một con bướm, đố sư ông biết nó sống hay chết? Nếu sư ông nói sai, bó củi thuộc về cháu đó.

Sư ông mỉm cười, không chút do dự, nói ngay:

– Nó chết rồi!

Cậu bé cười đắc thắng, xòe tay ra, con bướm sống bay vút lên không.

– Sư ông thua rồi!

Sư ông mỉm cười chấp nhận thua rồi lững thững đi tay không về chùa.

Về đến nhà, cậu bé thích thú kể cho cha nghe chuyện con bướm và bó củi. Nghe xong người cha hoảng hốt, vác bó củi và dắt cậu bé đi đến chùa gặp nhà sư. Người cha trả lại củi cho nhà sư, nói ngắn gọn lời xin lỗi thay cho con. Nhà sư chỉ mỉm cười xoa đầu cậu bé rồi trao đổi vài lời với người cha về thời tiết, về công việc đồng áng. Hai cha con từ biệt nhà sư ra về. Dọc đường cậu bé thắc mắc hỏi cha:

– Nhà sư thua con mà, sao cha lại trả bó củi?

Người cha giải thích:

– Nhà sư biết con bướm còn sống, nhưng sợ rằng nếu ông nói đúng, con sẽ bóp chết con bướm. Vì vậy nhà sư cố nói sai để cứu sinh mạng con bướm. Con biết không? Đó là lòng từ bi của nhà sư. Con nhớ lấy chuyện này để tâm niệm cả đời làm việc thiện, tránh làm điều ác”.

Muốn có một nền giáo dục nhân bản phải có một tầng lớp tinh hoa trong xã hội làm nền tảng. Tiếc thay hiện nay tầng lớp đó bị xóa bỏ. Ngày trước “Đã là con nhà thì không làm điều sai trái”, đã là nhà giáo, sinh viên thì dân chúng tin tưởng tuyệt đối về phẩm hạnh.

Ngoài nhà trường ra, dư luận xã hội cũng là môi trường giáo dục. Một thứ “chế tài” hiệu quả đối với những kẻ xấu là bạn bè xa lánh.

Nhưng trong xã hội vẫn có thể lưu truyền những điều tai hại ẩn náu dưới dạng những kinh nghiệm sống. Tôi ngán nhất là thường nghe ai đó nói một cách chắc nịch:

– Tham nhũng là chuyện phổ biến không riêng gì ở nước ta mà khắp mọi quốc gia trên thế giới.

– Không ai làm việc tốt một cách vô tư cả, ai cũng có động cơ về lợi ích cá nhân.

– Thương trường là chiến trường.

…

Đó là những điều ngụy biện nhằm thanh minh cho nạn tham nhũng, những cách làm ăn chụp giựt, những lối cạnh tranh không lành mạnh, những việc thiếu trách nhiệm trong quản lý.

Nói tham nhũng là tật chung cho mọi quốc gia thì coi như bỏ cùng một rọ nhà nước dân chủ với nhà nước chuyên chế. Trong một nhà nước dân chủ, hệ thống luật pháp và việc tự do ngôn luận luôn nhanh chóng phát hiện các hiện tượng tham nhũng và xử lý kịp thời. Trong một nhà nước chuyên chế, việc chống tham những rất khó vì không ai dám nói gì, do đó nó chỉ được bó hẹp vào nhóm nắm quyền lực cao nhất, mọi việc vì vậy mà thường chậm trễ và hiệu quả thấp.

Nói không ai làm việc tốt mà không có động cơ cá nhân là phủ nhận biết bao người vô tư, trung thực, thiện chí; coi ai cũng xấu, xấu nhiều xấu ít mà thôi. Quả là một nhận định thê thảm cho loài người. Còn câu “thương trường là chiến trường” chỉ đúng cho các nền kinh tế thị trường sơ khai, hoang dã, chưa có thói quen làm ăn chính đáng, chưa biết cách hợp tác trong kinh doanh.

Bệnh thành tích và thói hư danh là sản phẩm của các xã hội không lấy thực chất con ngườì làm trọng mà chỉ dựa vào các con số thống kê, dựa vào những nhãn mác hình thức như bằng cấp, chức danh, học hàm học vị. Ở các nước tiên tiến người ta tuyển dụng nhân sự bằng các cuộc phỏng vấn, những ngày thử việc, chứ không dựa vào một mớ giấy tờ hỗn độn như các cấp quản lý ở các nước chậm tiến.

T.Q.Đ.

Nguồn: FB Truong Quang De

THỜI GIAN

THỜI GIAN

… Có thể đi qua những nông sâu của cuộc sống, rồi quay nhìn lại để hiểu lòng người.

Có thể đi qua những khó khăn, rồi quay nhìn lại để hiểu lòng mình.

Nhưng không thể đi qua cái chết, rồi quay nhìn lại để hiểu cuộc sống. Cách duy nhất để hiểu cuộc sống là “sống”.

Thời gian đẩy mỗi người đi về phía hư vô, rồi không quên xóa hết từng dấu chân phía sau lưng họ. Thời gian như con đường một chiều, không cho người quay lại.

Khi càng sống trọn vẹn, tiếc nuối càng ít, nỗi lo sợ cái chết càng nhỏ.

Thời gian là con đường một chiều, không quay lại, không cho phép ai quay lại.

Cách duy nhất để hiểu được cuộc sống là “sống”.

Mong người luôn an.

Bài trích một đoạn từ

Cuộc Sống Nhìn Từ Ô Cửa Thiền

Bao giờ Chiến tranh Ukraine chấm dứt?

Ngô Nhân Dụng

Ukraine với Nga cũng giống như Việt Nam đối với Trung Quốc. Trong thế kỷ đầu tiên sau khi người Việt tuyên bố độc lập (Ngô Quyền, 939), quân Trung Quốc cũng tính chiếm lại thuộc địa cũ nhiều lần.

Theo lời Tướng Kyrylo Budanov, chỉ huy trưởng Tình báo Quân đội Ukraine nói với nhật báo The Wall Street Journal thì cuộc chiến sẽ chỉ chấm dứt khi nào Ukraine tái lập lại biên thùy năm 1991, là năm Ukraine tuyên bố độc lập khi Liên Xô tan rã. Muốn vậy, quân Ukraine phải chiếm lại hết các vùng đất đã bị Nga cướp từ năm 2014, gồm bán đảo Crimea và hai “nước Cộng Hòa Nhân Dân” ly khai trong vùng Donbas ông Vladimir Putin đã công nhận.

Tướng Budanov hy vọng Ukraine được viện trợ thêm các hệ thống Himars có thể bắn nhiều hỏa tiễn đủ loại, cùng với trọng pháo tầm xa và máy bay chiến đấu, để đấu với quân Nga. Điều này không chắc chắn. Vì Mỹ và các nước NATO không muốn quân Ukraine dùng các vũ khí mới này đánh thẳng vào nước Nga; là cách duy nhất nếu muốn đạt được mục tiêu của ông Budanov. Hiện quân Nga đã thất bại phải rút lui, ngưng bao vây thành phố Kharkiv, rút quân về vùng Donbas. Theo ước tính của NATO, đến cuối tháng Ba, Nga đã mất 40,000 lính, bị thương, tử trận hoặc bị bắt. Nhưng ông Budanov biết Nga vẫn còn 93 tiểu đoàn chiến đấu, với khoảng 141,500 quân. Cuộc chiến có thể kéo dài cho đến khi ông Putin bị lật đổ.

Tướng Kyrylo Budanov, 36 tuổi là một trong những người quyết định chiến lược chống Nga của chính phủ Zelensky. Cơ quan tình báo GUR không những thâu lượm tin tức mà còn chỉ huy những toán biệt kích. Các điệp viên gài trong nước Nga theo dõi các hành động của ông Putin và giới lãnh đạo Nga. “Chúng tôi biết hết các kế hoạch của họ,” ông nói, “Putin đang lâm vào ngõ bí. Ông ta không thể thắng mà cũng không thể ngưng chiến.”

Sau khi thất bại không chiếm được thủ đô Kyiv và thành phố lớn thứ nhì Kharkiv, quân Nga tập trung vào việc bảo vệ các vùng đã chiếm được ở phía Đông và Nam Ukraine; chiếm thành phố Mariupol sau gần ba tháng vây hãm, nối liền được hai tỉnh ly khai với Crimea. Bộ trưởng quốc phòng Ukraine, ông Oleksii Reznikov nói với các đồng sự Âu châu rằng chiến cuộc đang bước vào giai đoạn cầm cự. Nga đang chuẩn bị cho một cuộc chiến lâu dài, củng cố các địa điểm họ đã chiếm gần đây như vùng Kherson và Zaporizhya.

Trong mặt trận cầm cự bây giờ, trọng pháo đóng vai trò quan trọng, thay cho chiến xa. Quân đội Ukraine đã bắt đầu sử dụng các đại pháo 155 ly do Mỹ viện trợ. Quân Nga cố gắng vây hãm các lực lượng Ukraine đang chiến đấu trong vùng Donbas nhưng có vẻ không thành công. Thành tích đáng kể nhất của quân đội Nga là vẫn chưa phải rút về nước. Nhưng họ còn đứng vững được bao lâu là điều không biết chắn.

Tình báo các nước Tây phương thấy dấu hiệu nhiều lính Nga đã từ chối chiến đấu, theo Eliot Cohen, thuộc Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế ở Washington. Nhiều binh sĩ đi trốn, hoặc tự ý rút lui khi đụng trận. Tình báo quân sự Mỹ thấy Nga không thể phối hợp các chiến binh mới được đưa từ miền Đông hoặc từ Chechnya qua Ukraine. Cuộc chiến sẽ đi đến tình trạng bất phân thắng bại “nếu quân Nga cố thủ và thêm quân tiếp viện bù vào số tổn thất đáng kể.” Nhưng quân đội Ukraine tận dụng khả năng di động và ưu thế chiến thuật, họ chủ động chọn khi nào thì tấn công địa điểm nào.

“Chiến tranh nhiều khi là một cuộc chạy đua coi bên nào kiệt sức trước. Mặc dù cả hai bên đều khốn khổ nhưng bên nào đứng vững được lâu thì sẽ thắng; như năm 1918” khi Đại chiến Thứ nhất kết thúc.”

Michael Clarke, cựu giám đốc Royal United Services Institute, ở London thấy quốc hội Mỹ thông qua dự luật viện trợ ($40 tỷ đô la) chứng tỏ Mỹ sẽ giúp Ukraine đến cùng. Quân Ukraine trong vùng Donbas có thể chịu đựng được các cuộc tấn công của quân Nga, và sẽ phản công với các vũ khí mạnh hơn. Quân Nga có thể cầm cự nếu được tăng viện từ 150 ngàn đến 180 ngàn người. Số quân này cần được huấn luyện, đến cuối năm mới có thể ra mặt trận. Cohen nhận xét: “Trên căn bản, ông Vladimir Putin đã thất bại.”

Ông Putin có thể dùng vũ khí nguyên tử chiến thuật và vũ khí hóa học để thay đổi cuộc cờ hay không? Eliot Cohen nghĩ rằng nếu nhận được lệnh đó các tướng lãnh Nga sẽ cố tình trì hoãn. Muốn điều động vũ khí nguyên tử của Nga, cần ít nhất năm người đồng ý; chỉ một người cũng có thể ngăn cản.

Nhưng dùng vũ khí nguyên tử chiến thuật rất khó vì quân Ukraine không tập trung đông đảo trên một trận địa nào; trong khi các vũ khí hóa học và nguyên tử sẽ làm cho quân đội cả hai bên bị hại. Rất khó điều khiển vũ khí hóa học để tránh không giết quân mình.

Nếu ông Putin dùng bom đạn nguyên tử và hóa học, Mỹ và NATO sẽ không trả đũa với các thứ tương tự. Nhưng họ sẽ tiếp viện Ukraine với các vũ khí mạnh hơn, cấm vận kinh tế nặng nề hơn. Họ sẽ dùng biện pháp “cấm máy bay” (no-fly zone), đưa phi cơ chiến đấu ngăn chặn không quân Nga. Hạm đội Nga ở Hắc Hải có thể bị tấn công. Đó là điều họ sẽ không ngần ngại sử dụng nếu ông Putin bước qua lằn ranh cấm.

Cứ như thế, cuộc chiến Ukraine sẽ giằng co, kéo dài, không bên nào có thể toàn thắng, trong một, hai năm tới.

Nhưng chính phủ Ukraine có theo đuổi cuộc chiến cho đến khi chiếm lại được toàn thể vùng Donbas và Crimea, như Tướng Kyrylo Budanov chủ trương hay không?

Tổng thống Volodomyr Zelensky có thể chấp nhận một thắng lợi tối thiểu, là thu hồi lại những phần lãnh thổ do Kyiv kiểm soát trước ngày 24 tháng Hai, ngày Putin tiến quân.

Các tướng lãnh như ông Budanov có thể phản đối. Họ sẽ phải đối diện với thực tế, là một cuộc hành quân tấn công sẽ khó khăn gấp bội so với công cuộc phòng thủ mà quân Ukraine đã thắng lợi. Trong những vùng ở Donbas và Crimea, quân Nga đã củng cố vị trí từ khi chiếm đóng năm 2014, việc tái chiếm sẽ khó khăn. Hơn nữa, các nước Âu châu có thể muốn giữ thể diện cho ông Putin, không muốn khuyến khích ông Zelensky đánh tới cùng. Họ mong chấm dứt chiến tranh, còn người Ukraine mới muốn chiến thắng!

Người ta có thể chờ ông Putin sẽ bị lật đổ, như có nhiều dấu hiệu bất mãn trong nội bộ. Tuần này, Mikhail Khodaryonok, một đại tá hồi hưu, đã lên đài truyền hình “Kênh Số Một” thú nhận rằng cuộc “hành quân đặc biệt” ở Ukraine càng ngày càng tệ hơn” trong khi các nước Tây phương gia tăng tiếp viện cho Kyiv. “Điều quan trọng nhất đối với chúng ta,” Khodaryonok nói, “là cố thủ trên mặt quân sự cũng như chính trị. Nếu thất bại, lịch sử sẽ phê phán nặng nề, và chúng ta không thể biết chuyện gì sẽ xảy ra!”

Cũng trên “Kênh Số 1,” Igor Markov, một đại biểu quốc hội Ukraine theo Nga cũng thú nhận quân Nga có thể sẽ thất trận. “Chúng ta đang tranh đấu cho chính mạng sống của mình, và chỉ có một lựa chọn: Phải chiến thắng!” Markov lại nói tiếp, “Như tình hình hiện nay thì, tôi không biết làm thế nào để đạt mục đích đó.”

Số phận ông ông Vladimir Putin để cho dân Nga lo. Còn ông Volodomyr Zelensky, ông có thể học óc kiên nhẫn của người Việt Nam.

Ukraine với Nga cũng giống như Việt Nam đối với Trung Quốc. Trong thế kỷ đầu tiên sau khi người Việt tuyên bố độc lập (Ngô Quyền, 939), quân Trung Quốc cũng tính chiếm lại thuộc địa cũ nhiều lần. Năm 1076, quân nhà Tống tấn công, bị Lý Thường Kiệt chặn lại. Vua nhà Tống phải rút quân về sau khi thiệt hại quá nửa (phần lớn vì bệnh) nhưng vẫn chiếm đóng châu Quảng Nguyên (các vùng Cao Bằng, Lạng Sơn), đổi tên thành Thuận Châu. Không khác gì quân Nga đang chiếm Crimea và một phần vùng Donbas bây giờ, cũng đổi thành hai nước mới. Hai nước thương thượng, trao đổi tù binh, tặng quà qua lại, mãi đến năm 1084 nhà Tống mới trả lại châu Quảng Nguyên cho nước Đại Việt, sau chuyến đi ngoại giao của Trạng Nguyên Lê Văn Thịnh, Binh bộ Thị Lang (tương đương với chức thứ trưởng bộ quốc phòng).

Chắc ông Volodomyr Zelensky sẽ không phải chờ lâu đến 8 năm mới lấy lại được vùng Donbas. Thế giới bây giờ thay đổi nhanh lắm!

VOATIENGVIET.COM

Bao giờ Chiến tranh Ukraine chấm dứt?

Ukraine với Nga cũng giống như Việt Nam đối với Trung Quốc 

Ukraine: 200 thi thể được tìm thấy dưới tầng hầm đống đổ nát ở Mariupol

VOA Tiếng Việt 

Các công nhân đào bới đống đổ nát của một tòa nhà chung cư ở Mariupol đã tìm thấy 200 thi thể trong tầng hầm, chính quyền Ukraine cho biết hôm 24/5, khi ngày càng nhiều điều kinh hoàng được đưa ra ánh sáng trong thành phố đổ nát đã chứng kiến những đau khổ tồi tệ nhất của cuộc chiến đã kéo dài 3 tháng.

Petro Andryushchenko, cố vấn của thị trưởng cho biết các thi thể đang phân hủy và mùi hôi thối bao trùm cả khu phố. Ông không biết các thi thể được phát hiện từ khi nào, nhưng số lượng nạn nhân đã làm cho vụ việc trở thành một trong những cuộc tấn công chết chóc nhất được biết đến trong chiến tranh.

Trong khi đó, giao tranh ác liệt vẫn tiếp diễn tại Donbas, khu vực công nghiệp phía đông mà lực lượng của Moscow đang có ý định chiếm giữ. Quân Nga tăng cường bao vây, đánh chiếm Sievierodonetsk và các thành phố lân cận.

Mariupol đã bị pháo kích liên tục trong cuộc vây hãm kéo dài gần ba tháng kết thúc vào tuần trước sau khi khoảng 2.500 chiến binh Ukraine từ bỏ một nhà máy thép nơi họ đã cố thủ. Các lực lượng Nga đã chiếm phần còn lại của thành phố, nơi ước tính vẫn còn khoảng 100.000 người trong số 450.000 cư dân trước chiến tranh. Nhiều người trong số họ bị mắc kẹt trong cuộc bao vây với rất ít thức ăn, nước uống, lò sưởi hay điện.

Ít nhất 21.000 người đã thiệt mạng trong cuộc bao vây, theo các nhà chức trách Ukraine, những người đã cáo buộc Nga cố che đậy sự thật kinh hoàng bằng cách đưa vào các thiết bị hỏa táng di động và chôn người chết trong các ngôi mộ tập thể.

Trong cuộc tấn công vào Mariupol, các cuộc không kích của Nga đã đánh vào một bệnh viện phụ sản và một nhà hát nơi thường dân đang trú ẩn. Một cuộc điều tra của AP cho thấy gần 600 người đã chết trong vụ tấn công rạp hát, gấp đôi con số mà chính quyền Ukraine ước tính.

Tổng thống Ukraine, Volodymyr Zelenskyy, cáo buộc người Nga tiến hành “chiến tranh tổng lực” và tìm cách gây ra nhiều chết chóc và tàn phá nhất có thể cho đất nước của ông.

Ukraine: 200 thi thể được tìm thấy dưới tầng hầm đống đổ nát ở Mariupol
VOATIENGVIET.COM

Ukraine: 200 thi thể được tìm thấy dưới tầng hầm đống đổ nát ở Mariupol

Các công nhân đào bới đống đổ nát của một tòa nhà chung cư ở Mariupol đã tìm thấy 200 thi thể trong tầng hầm, chính quyền Ukraine cho biết hôm 24/5.  

 Breaking News: Xả súng tại trường tiểu học Texas, 14 học sinh và 1 giáo viên thiệt mạng

 Breaking News: Xả súng tại trường tiểu học Texas, 14 học sinh và 1 giáo viên thiệt mạng

May 24, 2022 

UVALDE, Texas (NV) – Mười bốn học sinh và một giáo viên thiệt mạng trong vụ xả súng tại trường tiểu học ở Uvalde, Texas, hôm Thứ Ba, 24 Tháng Năm, Thống Đốc Greg Abbott loan báo, theo đài ABC News.

Nghi can 18 tuổi, học sinh Uvalde High School, cũng thiệt mạng, ông Abbott cho hay.

Cảnh sát vẫn đang điều tra vụ nổ súng này. (Hình minh họa: Uvalde Police)

“Anh ta bắn chết 14 học sinh và một giáo viên một cách kinh hoàng và khó hiểu,” ông Abbott cho biết trong buổi họp báo.

Nghi can còn bắn bà của anh ta trước khi đến Robb Elementary School xả súng, ông Abbott cho hay, nhưng không nói rõ bà ta bị thương ra sao.

Nghi can có một khẩu súng lục và cũng có thể có một khẩu súng trường, theo ông Abbott. Nguồn tin cảnh sát và ông Abbott xác nhận anh ta là Salvador Ramos.

Hai cảnh sát viên đến hiện trường nằm trong số những người bị thương, ông Abbott thông báo. Họ dự trù sẽ sống sót, ông cho biết thêm.

Trước đó, Uvalde Memorial Hospital loan báo 15 học sinh đang nằm khoa cấp cứu bệnh viện này sau khi xảy ra sự việc, bệnh viện này cho biết. Một người 45 tuổi cũng được đưa vô đây sau khi bị đạn sượt qua, theo bệnh viện này.

Bệnh viện University Health ở San Antonio cho biết họ nhận hai bệnh nhân từ vụ xả  súng này, gồm một bé gái 10 tuổi và một phụ nữ 66 tuổi – cả hai đều nguy kịch.

Bệnh Viện Nhi Đồng San Antonio cũng thông báo họ nhận nhiều bệnh nhân từ vụ xả súng này.

Ông Don McLaughlin, thị trưởng Uvalde, không xác nhận số người thương vong, nhưng nhắn tin cho ABC News hay “vụ này rất nghiêm trọng.” Ông nói văn phòng ông đang cố liên lạc với phụ huynh rồi mới công bố bất kỳ thông tin nào.

Trước đó, Học Khu Uvalde thông báo có kẻ nổ súng tại Robb Elementary School, và yêu cầu mọi người tránh xa khu vực đó.

“Đang có kẻ nổ súng tại Robb Elementary,” học khu này loan báo trên Twitter. “Cảnh sát đang có mặt ở hiện trường. Chúng tôi kêu gọi mọi người đừng đến trường này.”

Ban đầu, giới chức Robb Elementary School xác nhận với ABC News rằng vụ nổ súng xảy ra bên ngoài trường và trường đang được phong tỏa.

Không lâu sau 2 giờ trưa, trường thông báo với phụ huynh rằng học sinh đã được di tản sang trung tâm hội nghị gần đó để phụ huynh đến đón.

Uvalde cách San Antonio khoảng 90 lái xe về hướng Tây.

Sở Cảnh Sát Bexar County và Sở Cảnh Sát San Antonio gửi nhân viên đến hỗ trợ cảnh sát địa phương. FBI cũng có mặt ở hiện trường.

Văn phòng Houston của Cơ Quan Rượu, Thuốc Lá, Súng và Chất Nổ cũng loan báo đang hỗ trợ điều tra.

Bộ Trưởng Nội An Alejandro Mayorkas đã nghe báo cáo về vụ này và Bộ Nội An (DHS) “đang tích cực phối hợp với đối tác liên bang, tiểu bang và địa phương,” theo phát ngôn viên DHS. Giới chức Cơ Quan Quan Thuế và Biên Phòng (CBP) ở vùng đó cũng đến hiện trường.

Trung Tâm Chống Khủng Bố Quốc Gia tin rằng, đến lúc này, vụ xả súng ở Uvalde “không có mối liên hệ nào với khủng bố,” theo bản tin công lực mà ABC News có được. (Th.Long)

Sài Gòn và Hà Nội hay “Singapore & Paris Việt Nam”…- Tạp Ghi Huy Phương

Van Pham

Tạp Ghi Huy Phương

Sài Gòn và Hà Nội hay “Singapore & Paris Việt Nam”….

(Văn hóa của kẻ “thắng cuộc với văn hóa của người “thua cuộc”!!!)

Sau khi đi tù về vài năm, khoảng 1985, tôi có mở một tiệm làm hình và tráng phim gia công trên đường Lý Thái Tổ, Sài Gòn. Nhờ vậy, ở đây tôi có dịp tiếp xúc với nhiều người đủ mọi tầng lớp xã hội và ở khắp mọi miền, nhất là dân miền Bắc, sau Tháng Tư, 1975, đổ xô vào Nam kiếm ăn rất nhiều. Vì dù miền Nam sau ngày “giải phóng” đã xuống cấp tột cùng, trông cũng còn khá giả, tươm tất hơn ở miền Bắc sau 20 năm dưới chế độ cộng sản.

Một ngày nọ, tôi gặp một người trung niên miền Bắc, trông mặt mày cũng khôi ngô, nhưng áo quần nhàu nát, làn da xanh mét như người thiếu ăn, anh vào tiệm, ngửa tay ra, nói mấy câu. Nghe giọng nói tôi biết ngay là người này ở ngoài Bắc mới vào, đang hành nghề xin ăn.

Tôi hỏi anh:

– “Tận ngoài Bắc, sao anh vào đây đi ăn xin?”

Không hề ngượng nghịu, anh nói rõ:

– “Vào đây xin 10 người cũng có được 6 người móc túi cho, lại chẳng bao giờ bị chửi bới. Ngoài Bắc, nhất là Hà Nội, thì đừng hòng! Có mà chết đói.”

Ðó là điều tôi nhận ra, như vậy là có sự khác biệt nhau giữa Sài Gòn và Hà Nội. Hà Nội đại diện cho miền Bắc và Sài Gòn phản ánh cho những đặc tính của miền Nam.

Cộng Sản vào không phải làm điện khí hóa cho nông thôn trở thành thành thị, nhưng thật tình đã “nông thôn hóa” thành thị, nên dân Sài Gòn thường trực bị cúp điện, nhiều nơi tìm cách đào giếng để kiếm nước và sẵn sàng bới sân gạch lên để trồng khoai lang cải thiện, hay như ông bạn tôi ở chung cư Thanh Ða, bớt chỗ sinh hoạt để nuôi hai con heo nái trên sân thượng.

Sài Gòn sau thời gian đổi tên, nguyên do chỉ vì cái bến Nhà Rồng chết tiệt, chẳng mấy chốc xuống gần bằng Hà Nội. Bằng Hà Nội hơn, nhất là sau khi họ ồ ạt “vào thành phố” như một câu hát của Trịnh Công Sơn, với những “cửa hàng thịt phụ nữ,” “cửa hàng chất đốt thanh niên” mọc ra. Cái cảnh phơi áo quần trên cửa sổ, treo khăn lông trong “xe con,” nuôi heo, trồng rau ngay trong sân nhà, hay hai anh bộ đội lái xe khác chiều dừng xe ngay giữa lộ để nói chuyện với nhau, bất cần tiếng chửi của thiên hạ.

Mới thoạt nhìn, Sài Gòn bỏ ngỏ và bắt đầu nhếch nhác giống Hà Nội, nhưng sự thật trong gan ruột, hai thành phố đối cực, đối đầu này đang có những điều khác biệt, một bên là “nơi hang ổ cuối cùng và đâu cũng thấy tàn dư Mỹ Ngụy,” và Hà Nội, “thủ đô của lương tri, phẩm giá con người!” Vì vậy mà ngày nay, sau gần 40 năm “thống nhất” người ta còn đi tìm và thấy ra có quá nhiều khác biệt giữa Sài Gòn, Hà Nội.

Cách biệt vì cách đối xử chính trị như vậy, trách sao Sài Gòn và Hà Nội không cách biệt về văn hóa, mặc dầu lúc nào hai bên cũng cho bên kia là “quê hương tù dày!” Tuy vậy, Hà Nội thắt lưng, buộc bụng, tẩy não, “dốc hết hạt gạo, cục muối cho miền Nam đánh Mỹ,” làm sao so được với Sài Gòn “bơ thừa sữa cặn!”

Nói về giáo dục, sau Tháng Tư, 1975, đồng bào và thầy cô giáo miền Nam hẳn đã biết loại văn hóa ăn nói vô lễ, thô tục của lũ trẻ miền Bắc mới vào Nam, vì miền Bắc không có khẩu hiệu “tiên học lễ, hậu học văn” treo trong các lớp tiểu học. Ngày ra Bắc, lên tận Hoàng Liên Sơn, tôi đã trông thấy những nét văn hóa tiêu biểu, được viết bậy lên vách tường nhà trường tiểu học, chưa kịp xóa sạch, nói đến sự quan hệ của ngành công an và giáo dục: “Công An (đ.) Cô Giáo!”

Trên đường làng Cẩm Nhân, Yên Bái, chúng tôi đi ngang một nhà giữ trẻ của hợp tác xã, nghe tiếng trẻ khóc la và tiếng quát của một phụ nữ: “Bố mẹ chúng mày đéo cho lắm vào, để chúng mày làm khổ thân bà!” “Bà” đây là người giữ trẻ của hợp tác xã nông nghiệp, bà có nhiệm vụ giữ trẻ thì khỏi ra đồng như các hợp tác xã viên khác. Liệu lũ trẻ này lớn lên dưới sự chăm sóc của những người này này, ngôn ngữ của chúng sẽ ra sao?

Trên các blog và báo chí trong nước, đề tài “những sự khác biệt giữ Sài Gòn và Hà Nội” tương đối là một đề tài hấp dẫn.

Tôi dẫn một vài ví dụ:

Giao tiếp:

– Ở Sài Gòn, bạn dửng dưng khi thấy cô bán hàng cúi gập người chào bạn.

– Ở Hà Nội, bạn xúc động đến sững sờ khi thấy ai đó nói lời cảm ơn.

Hàng quán:

– Tô hủ tíu mì Sài Gòn được bưng ra với tô được đặt trên chiếc đĩa.

– Bát phở gà Hà Nội được khuyến mại với ngón tay cái của con bé bưng bê!

Ca ve:

– Khi bạn vừa thanh toán xong tiền cho cave…

Cave Hà Nội: “Cho em xin thêm 10 nghìn để còn đi xe ôm về.”

Cave Sài Gòn: “Em bớt cho anh 10 ngàn, lần sau nhớ kiu em nha!”

Nhà sách:

– Hà Nội: Nhân viên hách dịch.

– Sài Gòn: Vào đọc chùa thoải mái, nhất là các em bé, có thể ngồi tại chỗ đọc mà không sợ bị đuổi!

Trong quán ăn:

– Sài Gòn: “Vâng em làm ngay đây.”

– Hà Nội: “Làm gì mà cuống lên thế! Muốn nhanh thì xéo sang hàng khác!”

Bạn bè:

– Hà Nội: Hay để bụng, ghét mà trước mặt vẫn chơi, về nhà nói xấu.

– Sài Gòn: Mau huề, ghét là biến, không chạm mặt!

Nhưng liệu những sự khác biệt này kéo dài được bao lâu nữa? Bây giờ, Sài Gòn và Hà Nội đã bắt đầu đầu giống nhau, ảnh hưởng và bị đồng hóa, vì người Nam ra Bắc thì ít mà người Bắc vô Nam càng ngày càng đông, như một người tên Jor Dan viết trên blog: “Mỗi người có một cách suy nghĩ riêng. Nhưng đa phần chỉ nói yêu Hà Nội, nhưng lại thích được sống ở Sài Gòn. Ca sĩ Hà Nội vào Sài Gòn lập nghiệp nhiều quá còn gì!”

Sau 42 năm bây giờ hai thành phố này đã có những chuyện giống nhau. Ở đâu cũng kẹt xe kinh khủng, và sau một trận mưa, không chỉ ở thành phố “Singapore của bác” mà ở Hà… Paris… cũng lội!

Vô kỷ luật:

Sinh viên:

– Hà Nội: Nhiều em cave trông như sinh viên.

– Sài Gòn: Nhiều em sinh viên trông như cave.

Giao thông:

– Sài Gòn: Bạn có thể vượt đèn đỏ thoải mái.

– Hà Nội: Bạn có thể lượn lờ trước mũi xe hơi.

Chúng ta không hy vọng gì Hà Nội Paris và Sài Gòn Sing sẽ mãi mãi khác nhau vì chúng ngày càng gân hơn. Sự đồng hóa và việc di dân ồ ạt sẽ làm cho Sài Gòn càng ngày càng gần với Hà Nội. Ðiều rõ nhất là Hà Nội trước năm 1954 và Hà Nội bây giờ hoàn toàn khác nhau. Năm 1954, sau Hiệp Ðịnh Geneva, một số người đã mang sự thanh lịch của Hà Thành năm xưa đi xa, để “Hà Lội Paris” ngày nay cho những người mới vào tiếp thu, từ giọng nói đến văn hóa cư xử đã hoàn toàn khác biệt.

Người Sài Gòn hôm nay sẽ không còn là người Sài Gòn của những ngày tháng cũ, tất cả chỉ còn là chuyện thời gian. Chỉ sợ sau ngày Sài Gòn trở lại tên cũ, chất Sài Gòn sẽ không còn nữa.

Chúng ta yêu Sài Gòn chính là yêu chính chúng ta, cái bóng của dĩ vãng. Muốn Sài Gòn không đổi thay, chính lòng mình phải không thay đổi.

Hình minh họa: – Một xã hội đè lên nhau để chụp giựt…

Người con nuôi

Người con nuôi

VĨNH-HẦU

Khoảng trung tuần tháng Tư, năm 2009, gia đình tôi ở Cali có nhận được một phong thư dày, gởi từ tiểu bang Virginia, của Laurie, một quân nhân Mỹ, người tự nhận là con nuôi của bố mẹ tôi hồi còn ở Việt Nam trước 1975. Phong thư gồm một lá thư mới viết, giấy trắng tinh, và một bì thư cũ, trong đó có 5 trang giấy, viết đầy cả 2 mặt, công thêm một tấm ảnh căn cước (4×6), chụp Laurie lúc Chàng còn là một quân nhân trẻ trung, gầy và cao. Cả thư và phong bì đều ngả sang màu vàng úa. 

Laurie Watson

Nhìn kỹ bì thơ, tôi rất ngạc nhiên, vì thấy tên và địa chỉ của Ba tôi ở Saigon, và dấu Bưu Điện ở Mỹ đề ngày 28/4/1975, lại có thêm hàng chữ in, còn rõ nét, nội dung nói công việc đưa thư tạm thời đình chỉ, thư được trả lại cho người gởi- ‘Service temporarily suspended, returned to sender’. Hoá ra, bức thư này đã viết từ Tháng Tư 1975, được bưu điện Mỹ trả lại cho người gửi.

Kèm theo phong bì vàng úa của lá thứ năm xưa, Laurie giải thích trong một tờ note mới viết trên giấy trắng, đề ngày 2/9/09:

“Dear Mom + Pop, Cuc,
You will be no more surprised than me to see this 34 year old letter I wrote You.
‘I discovered it last night, while shredding some of my old military forms which have been stored in the attic for years. / Mẹ và Ba Cúc thân mến, Bố mẹ sẽ không ngạc nhiên hơn con khi thấy lá thư con viết gửi Bố Mẹ từ 34 năm trước. Hôm qua, trong khi dùng máy cắt giấy để hủy bỏ một số tài liệu nhà binh xưa cũ, cất trên gác xép lâu năm, con tình cờ phát hiện bức thư.’ 

Laurie viết tiếp:

 ‘To me, it is a mystery, because I do not recall getting it returned. I have no idea what I wrote in this letter, but hope you will still enjoy it 34 years later. / “Đối với con, nó là một sự huyền bí, bởi vì con không hề nhớ ra bức thư bị trả lại. Con  cũng chẳng biết con đã viết những gì trong thư nữa, nhưng hy vọng Bố Mẹ vẫn thích thú đọc nó  34 năm sau.”

Sau đây là câu chuyện chung quanh lá thư Tháng Tư 1975 gửi từ Mỹ về Việt Nam.

***
 Laurie G. Watson là một Trung Sĩ Không Quân trẻ, từ Tiểu Bang Virginia, được biệt  phái đến Nha Trang làm chuyên viên về ngành Điều Khiển Không Lưu, từ năm 1967 cho đến giữa tháng 2/75, mới trở về nước. Từ đó chúng tôi mất liên lạc, cho đến khi thư từ qua lại giữa VN và Mỹ hoat động trở lại, chúng tôi mới có tin tức lẫn nhau.

Một sự tình cờ ngẫu nhiên, khi chàng lính trẻ Laurie vui tính, đầy nhiệt huyết, lại thuê một căn phòng ở kế cận nhà chúng tôi, gần bờ biển của miền quê hương cát trắng, hiền hòa và thơ mộng.  Không có gì đáng ngạc nhiên, chỉ sau một thời gian vài tháng, qua những câu chào hỏi đơn sơ, ‘Good morning’, ‘How are you”‘, ‘Happy Holiday’…chúng tôi đã xích lại gần nhau, rất nhanh, nhất là hôm mà Laurie được mẹ tôi biếu một dĩa chả giò mới chiên dòn, còn nóng hổi. Không ngờ món ăn thuần túy VN này lại là sợi dây nối kết tình thân giữa gia đình chúng tôi và chàng lính trẻ cô đơn, thèm muốn không khí gia đình.

 Laurie là một quân nhân độc thân, nhưng lại có nếp sống rất đạo đức, hiếu thảo và có tâm hồn rất nhân bản. Tình thân suốt 7-8 năm sống gần chàng ta, cho phép tôi kết luận như thế. Lần đầu tiên được Mẹ tôi biếu món chả giò, chàng có vẻ cảm động, rối rít cám ơn, và sáng Chủ Nhật ngay sau đó, chàng ta đã khệ nệ mang qua nhà chúng tôi một thùng đồ hộp đủ các loại, mua ở P.X (Post Exchange), hồi đó được xem như là một ‘Big Shopping Center’, dành riêng cho Quân Nhân.

Món chả giò quá ngon đối với Laurie, đến nỗi chàng ta phải mang giấy bút ghi chép rất tỉ mỉ cách làm từ đầu cho đến khi món ăn được dọn lên bàn, để sau này có dịp cho gia đình và Evelyn, vợ chưa cưới của chàng được thưởng thức, do chính tay chàng làm lấy! Lui tới với gia đình, thấy  chúng tôi chơi môn ‘mạt chược’ vui quá,  chàng ta cũng đòi học cho được, nói là học để sau này về chỉ lại cho gia đình! Không biết chàng ta lãnh hội được mấy phần về môn chơi ‘mah jon’ này, qua sự hướng dẫn cực kỳ luộm thuộm của tôi! Con người Laurie là thế đó!  Luôn luôn nghĩ đến gia đình.

 Những ngày nghỉ, hoặc chiếu tối đến, chúng tôi không hề thấy chàng ta la cà say sưa ở những chốn ăn chơi, như một số những quân nhân khác, mà chỉ ở nhà đọc sách hoặc qua chơi bên nhà chúng tôi mãi đến khuya, vì lúc này chàng ta xem gia đình chúng tôi như là gia đình thứ hai của chàng. Rất tự nhiên, Laurie gọi Ba Mẹ tôi là Mom và Pop một cách ngọt xớt, không hề e dè hay mắc cỡ.

 Và cứ như thế, tình bạn giữa Laurie và gia đình tôi càng ngày càng sâu đậm. Ba Mẹ tôi xem chàng ta như là ‘con cái trong nhà’, và chàng ta cũng có vẻ khoái chí, hài lòng về điều này.  Những ngày cuối tuần, Laurie luôn luôn mang nhiều đồ hộp, trái cây, cả đồ dùng linh tinh về nhà chúng tôi, và ở đây dùng cơm, trò chuyện, vui đùa, dạy tiếng Anh cho chúng tôi suốt cả ngày không biết chán! Chúng tôi đã trải qua  những ngày tháng hạnh phúc bên nhau, và thực sự quý mến nhau như ruột thịt vậy. Laurie cũng tập ăn những món ăn ‘nặng mùi hương vị Viêt Nam’ như nước mắm, ngay cả mắm nêm khi ăn Bò Nhúng dấm, và chàng ta cũng rất chịu khó học nấu mấy món đặc biệt như bún bò, xôi vò, nem nướng…do Mẹ tôi, ‘đầu bếp trứ danh’ chỉ dẫn.

Thời gian trôi nhanh với nhiều kỷ niệm êm đềm, thú vị đối với gia đình tôi và người lính tha phương,  nhưng chiến cuộc cũng bắt đầu leo thang, ngày càng  khốc liệt, Laurie bị cấm trại liên miên, một vài tuần mới được về phép, và nơi nghỉ phép độc nhất là tổ ấm của Ba Mẹ và mấy anh em tôi. Lúc này, ông anh, đứa em và cả chính tôi cũng đều nhập ngũ, chỉ trừ đứa em gái là được yên phận ở nhà. Chúng tôi không còn gặp mặt đầy đủ, để cùng nhau ăn uống, vui đùa trò chuyện như xưa nữa, không khí chiến tranh đã đánh mất những gì đầm ấm, thân tình, thay vào đó là những lo âu, phiền muộn.

 Vào giữa tháng 2/75, mặc dầu đang ở trong tình trạng khẩn trương, chuẩn bị chờ di tản về nước, Laurie cũng đã ráng trốn trại, ra thăm chúng tôi lần chót, trước khi quay về cố hương, không biết ngày nào mới gặp lại. Hôm đó chỉ có Ba Mẹ, em gái, và tôi gặp được Laurie lần cuối trước khi anh về nước. Chàng ôm Ba Mẹ tôi, mặt buồn thiu như muốn khóc, rất tiếc không giúp gì được cho chúng tôi, chỉ để lại địa chỉ bên Mỹ, sau này, nếu liên lạc được, thì hãy viết thư cho hay, anh ta sẽ làm tất cả những gì có thể làm được, để giúp đỡ chúng tôi trong hoàn cảnh khó khăn, ngặt nghèo.  Ba Mẹ tôi đã rơm rớm nước mắt, muốn nói rất nhiều, nhưng chẳng được bao nhiêu, ngoài 2 chữ ‘good bye’! Tôi cảm thấy xốn xang trong lòng, cũng không biết nói gì, chỉ thốt ra được câu, ‘we love you, see you again someday’.

 Thế rồi, chúng tôi chia tay.
Chỉ vài tháng sau khi Laurie về Mỹ, Miền Nam bị xô đến bờ vực thất trận, cực kỳ hoang mang và hỗn loạn. Người trong nước tìm đường ra ngoại quốc, các tỉnh nhỏ ùa về thành phố Sàigon dung thân. Gia đình tôi chia 2 nhóm, ông anh thì lên tàu thủy quen biết ra khơi, đứa em không quân thì có tên nằm trong danh sách di tản ra Hạm Đội thứ 7, còn lại chúng tôi, thì từ Nha Trang chạy vào Saigon, tá túc tại nhà em gái ruột Mẹ tôi, đã bỏ của, chạy lấy người từ trước, để lại căn nhà lầu 4 tầng ở đường Hai Bà Trưng.

Lúc mọi liên lạc từ VN qua Mỹ đều bế tắc, trong hoàn cảnh cấp bách này, chúng tôi đã cố tìm cách liên lạc với Laurie, để hỏi xem anh có cách gì giúp đỡ, hoặc can thiệp, để cho chúng tôi di tản qua Mỹ theo diện bảo lãnh! Đúng là vào  lúc tuyệt vọng, con người có những hành động, biết là vô vọng, nhưng vẫn cứ làm. Ba tôi đã viết một bức thư gởi qua Pháp (lúc này Bưu Điện 2 bên vẫn còn hoạt động), nhờ bà chị ruột (có chồng Pháp), gởi bức thư qua Mỹ, đến địa chỉ của Laurie, để hỏi chàng có cách nào can thiệp hay bảo lãnh theo diện nào đó. Thật ngây ngô hết chỗ nói! Thế mà bức thư cũng tới tay chàng mới lạ đời! Và cũng vì thế, tôi mới có chuyện để  hôm nay kể lại, về một bức thư đã viết cách đây hơn 1/3 thế kỷ!.

Trở lại phong thư ‘two in one’, đề cập ở đầu bài, chúng tôi đã rất xúc động khi đọc bức thư 34 năm trước của Laurie, nói lên tâm trạng ‘đứa con nuôi’ của Ba Mẹ tôi, lúc đó, cũng hoang mang, khắc khoải, lo sợ không kém gì chúng tôi, mặc dầu anh đang ở trong một đất nước giàu mạnh và an bình. Đoạn mở đầu của anh, khi nhận được thư của Ba tôi, tuy biết được chúng tôi đang ở trong tình cảnh ‘giăc đã đến nhà’, nhưng ít ra chúng tôi vẫn còn sống sót, nên anh đã thực sự hân hoan mừng rỡ!

 Tôi xin trích nguyên văn:
‘Trước tiên, tôi muốn các bạn biết rằng khi nhận được thư của các bạn trưa hôm nay, việc làm đầu tiên là tôi cám ơn Thượng Đế về sự bình an của các bạn! Tôi đã cầu nguyện nhiều lần vì đã quá lo sợ cho tính mạng của Ba, Má, các anh trai và em gái nuôi, khi không được tin tức gì bên ấy cả, vô cùng lo sợ, nhưng nay thì quá đỗi sung sướng khi biết được tất cả bình an vô sự. Tôi yêu các bạn như yêu chính gia đình của tôi, và cầu nguyện Chúa ban phép lành cho tất cả các bạn cũng như Ngài đã ban cho gia đình tôi vậy’.

 Hóa ra bức thư Ba tôi gởi gián tiếp từ VN qua Pháp, rồi từ Pháp qua Mỹ lại có một kết quả tốt đẹp về tinh thần như thế đối với Laurie, mặc dầu lời yêu cầu của Ba tôi ngoài khả năng giúp đở của đứa con nuôi đầy tình cảm này.

Ở một đoạn khác của bức thư khá dài này, Laurie đã nhận định: ‘America is a great and wonderful country… I’m sorry to say many of our people do not understand clearly the problems of people in the other countries” /  ‘Nước Mỹ là một Quốc Gia vĩ đại và tuyệt vời. Tuy nhiên chúng tôi vẫn có những vấn đề khó khăn như những Quốc Gia khác, nhưng chúng tôi biết cách lèo lái để vượt qua những khó khăn đó. Cũng như thế, nước chúng tôi có nhiều người tốt, nhưng vẫn có những thành phần xấu.

Nhưng tôi phải thành thật mà nói rằng, nhiều người Mỹ đã không hiểu được dân tình của những nước khác một cách rành rẽ’. (Có lẽ Laurie muốn ám chỉ, nước Mỹ đã bỏ rơi Miền Nam VN chăng”). 

Một đoạn nữa: ‘I had hoped that I could come to your home in Vietnam again. I am so sorry that you lost your beautiful home. I know your hearts are heavy. You are a strong and loving family though and together you will survive ‘/  Tôi đã hy vọng rằng, tôi sẽ trở lại căn nhà của các bạn ở VN một lần nữa. Thật đáng tiếc các bạn đã bị mất căn nhà đẹp đẽ ấy rồi.Tôi biết các bạn buồn khổ lắm. Tuy nhiên các bạn là một gia đình mạnh mẽ và yêu đời và tay trong tay, các bạn sẽ vươn lên để sống còn…’

Còn nhiều đoạn văn viết ra với một tấm lòng tình nghĩa của chàng quân nhân hiền hậu này, nhưng tôi không thể phô bày hết được, vì đây cũng chỉ là một bức thư bình thường.
Trong lá thư mới viết kèm theo thư cũ, Laurie đã rất thành thật khi bảo rằng không biết hoặc không nhớ gì hết về nội dung cũng như nơi chốn mà bức thư đã ‘nằm ngủ’ 34 năm trời! Ngay chính tôi đây, đã mò mẫm viết bức thư tiếng Anh ngắn cho Laurie, đi kèm với bức thư của Ba tôi gởi qua Pháp cho người chị ruột, mà bây giờ hỏi tôi đã viết gì, thì xin thưa là ngay nửa chữ, tôi cũng không nhớ ra, nói gì đến nội dung bức thư!

Ông anh và đứa em tôi qua Mỹ năm 75, nhưng mãi 2-3 năm sau mới liên lạc được với gia đình Laurie. Gia đình em gái tôi, 8 năm sau đó cũng sang được Mỹ theo diện ‘ô-đi-ghe’. Còn Ba Mẹ tôi thì ở lại chờ tôi lấy bằng “tiến sỹ 8 năm học tập” rồi mới chính thức lên máy qua Mỹ theo diện H.O + Bảo Lãnh của ông anh.

Trước khi Ba Mẹ và tôi qua Mỹ, gia đình mấy anh em gái tôi đều đã từng thay phiên nhau (vì công việc, nên không thể đi cùng một lần), qua Virginia Beach (thành phố của Tiểu Bang Virginia), thăm gia đình Laurie theo sự ân cần mời mọc của chàng. Laurie và vợ, lúc này đã trở thành Ba Má bầy trẻ, sống hạnh phúc trong một căn nhà rất đẹp, bên cạnh bờ sông, ở Tiểu Bang Virginia. Laurie rất say mê thú sông nước và nghề chài lưới.

Chàng sở hữu một chiếc ca-nô với đầy đủ dụng cụ ngư nghiệp để đánh bẫy cua,  cá, tôm. Suốt ngày, và đôi khi cả đêm, chàng ta mê mãi, lênh đênh trên chiếc tàu nhỏ một mình, như một ngư phủ chuyên nghiệp, đặt những chiếc lồng rải rác dọc bờ sông, thu hoạch khá bộn bàng để có thể đem ra chợ bán, như là một ‘business’ đầy thú vị, lại kiếm được khá tiền!

Em tôi kể chuyến đi thăm Laurie là một cuộc du lịch đầy lý thú, khi được cư ngụ vài ngày  trong một căn nhà đầy thơ mộng, bên cạnh bờ sông, lại được tập sự làm ngư phủ, tha hồ thưởng thức hàng đống tôm, cua, cá tươi rói, ăn mệt nghỉ! Có khi em gái tôi, lại câu được cả một chú cá khá bự, khiến cô nàng khoái chí quá, muốn đổi qua ở luôn bên này cho tiện  việc sông nước!…

Với Ba Mẹ chúng tôi, Laurie không những kính trọng vì tuổi tác, mà còn thương yêu như cha mẹ ruột, vì tánh cách niềm nở, rộng rãi và thân tình đối với tất cả mọi người, không riêng gì chàng ta, lúc còn là một người lính trẻ, bơ vơ giữa xứ lạ quê người, thiếu tình yêu của mái ấm gia đình.
Khi hay tin gia đình tôi đã sum họp đầy đủ, Laurie đã vui mừng khôn xiết, liền háo hức lên kế hoạch, thuê một chiếc xe ‘mobile home’, cùng Evelyn, cô vợ yêu dấu, khởi hành từ Virginia, ngày đi đêm nghỉ, vượt hàng ngàn dặm đường đến thành phố Trân Châu Las Vegas, Tiểu Bang Nevada (nơi cư ngụ của ông anh),  để gặp Ba Mẹ nuôi và mấy anh em chúng tôi, sau gần 15 năm xa cách.

Từ San Diego, gia đình em gái tôi, gồm 2 vợ chồng và hai con, một trai một gái, gia đình đứa em trai, chưa có con, cùng Ba Mẹ và tôi, còn độc thân, lên hai chiếc xe thẳng tiến về Las Vegas, Tiểu Bang Nevada trước vài ngày để chờ đón hai nhân vật thân yêu.

Khi được báo tin chiếc xe mobile home sắp tiến về nơi cư ngụ của ông anh chúng tôi, mọi người ai nấy đều có cảm giác nôn nao, hồi hộp một cách kỳ lạ, như thể sắp được đoàn tụ với người thân của chính gia đình mình sau bao năm xa cách. Rồi giờ phút trông ngóng cũng chấm dứt, khi chúng tôi thấy một chiếc xe to đùng từ từ đổ xịch trước cửa nhà, lúc này toàn thể gia đình chúng tôi đã hiện diện đông đủ trước sân, đang lóng ngóng chờ đợi sự xuất hiện của hai vị thượng khách, đang mở cửa xe bước xuống.

Khỏi phải nói nhiều, cuộc tái ngộ đầy cảm động và ấm cúng tình người giữa 2 gia đình Việt-Mỹ lần này diễn ra như một câu chuyện trong mơ có hậu, khiến chúng tôi cảm thấy, ít ra cuộc đời tị nạn, phải chịu nhiều mất mát, thương đau cũng còn có những thời điểm chan hòa  hạnh phúc như hiện tại. Hai vợ chồng Laurie và Evelyn thay phiên nhau ôm chầm lấy Ba Mẹ chúng tôi, cả bốn người đều không nói nên lời, mà có nói thì cũng chả ai hiểu ai nói gì, vì cảm giác mừng rỡ, xúc động cũng đủ nói lên bằng vạn ngôn từ!

Sau giây phút giao cảm giữa 2 cặp ‘người lớn’, đến phiên chúng tôi, cũng thay phiên nhau, ôm nhau mà ‘hug’ từ anh đến em, tư cha đến con, không bỏ sót một ai, muốn được bày tỏ tình cảm chân tình đối với hai vị thượng khách. Thủ tục ‘im lặng, ôm nhau mà hug’, vừa chấm dứt, bỗng tiếp theo là sự vỡ oà âm thanh của ngôn ngữ, biến cái không gian trầm lắng, đầy cảm xúc vừa qua, thành một bầu không khí vui nhộn, ồn ào của những tràng câu hỏi không cần trả lời, và những câu trả lời không cần biết có được hiểu hay không!

Thật sự, đây là một cuộc hội ngộ chân tình và thắm thiết nhất đối với hai gia đình có hai nền văn hoá hoàn toàn khác hẳn nhau của hai quốc gia ở cách xa nhau nửa vòng trái đất! Một danh hào, mà tôi đâ quên tên, đã từng nói, đại khái là ‘ Đông là Đông, Tây là Tây, hai nền văn hoá không bao giờ gặp nhau…’ xem ra, có vẻ không đúng lắm trong trường hợp này.

Một buổi tiệc đã dọn sẵn, trong đó gồm những món ăn mà cách đây mấy chục năm, đã khiến chàng quân nhân trẻ tuổi, đã mê tơi, đến nỗi phải ghi chép kỹ càng, để có thể tự tay nấu lấy, cho gia đình và chính mình được thưởng thức. Thực đơn gồm chả giò, nem nướng cuốn bánh tráng, bánh bèo, bánh bột lọc, bún bò…nói chung món ăn Huế rất được gia đình Laurie thật sự hâm mộ.

Me tôi hỏi Evelyn, qua thông dịch viên, rằng chàng có nấu cho gia đình ăn mấy món đã học từ Việt Nam không, thì nàng bảo có, nhưng bây giờ ăn lại, do chính tay người Việt Nam nấu thì nàng thấy hoàn toàn khác hẳn, nhất là nước chấm. Để so sánh ngon dở một cách cụ thể, thì Evelyn cho chồng được 3 điểm, so với 10 điểm của các món ăn đang ở trước mặt nàng!

Cả nhà phá lên cười. khiến Laurie phải che mặt, làm bộ mắc cở! Nhưng sau đó, chàng lại ôm vợ hôn một cái, khi nghe nàng ‘nâng bi’ chàng bằng câu nói gỡ gạt rất tình ‘ tôi cho chồng tôi 3 điểm về cách nấu nướng, nhưng quên cộng thêm 7 điểm về sự chung tình của ảnh, vị chi là 10 điểm!’ Cả nhà lại vỗ tay khen ngợi cả hai người, đồng thời nâng ly chúc mừng ngày họp mặt đầy hạnh phúc. Quả thật, Evelyn là một người đàn bà rất tế nhị và có óc khôi hài.

Tiếp theo sau là một tuần lễ vui chơi, ăn uống, chuyện trò vô cùng ấm cúng, thân mật bên nhau, khi thì tại gia, khi thì tại một nhà hàng, hoặc một Casino nào đó, ăn ‘buffet’, kéo máy hoặc xem các màn trình diễn đặc biệt. Tối đến lại quây quần bên nhau, ôn lại những chuyện ‘ngày này năm xưa’, hồi còn ở Việt Nam với nhiều kỷ niệm vui buồn thời còn trẻ trung.

Trong cuộc viễn du, đi từ cuối Đông (Virginia) sang cuối Tây (California) để thăm gia đình chúng tôi, hai vợ chồng đã trải qua một đoạn đường dài khoảng 10,000km, cả đi lẫn về, trên chiếc xe khổng lồ, uống xăng như nước, và trong nửa tháng trời lang bạc giang hồ, từ Tiểu Bang này sang Tiểu Bang khác, mọi sinh hoạt như ăn uống, ngủ nghĩ, tắm rửa, vệ sinh v.v..đều xảy ra trên chiếc R.V, xem như một căn nhà di động, với đầy đủ tiện nghi, không cần phải tốn tiền để thuê khách sạn.

   Hai vợ chồng Laurie

Hai vợ chồng đã kể cho chúng tôi nghe những chuyện kỳ thú gặp ở dọc đường, và mô tả nhiều phong cảnh tuyệt vời, mỗi nơi mỗi vẻ của từng Tiểu Bang, gộp lại thành một Châu Mỹ giàu mạnh và hùng vĩ. Có những Tiểu Bang rất văn minh hiện đại, nhưng cũng có một số Tiểu Bang vẫn còn giứ nét đơn sơ mộc mạc, nhất là Tiểu Bang còn có một số Bộ Lạc da đỏ còn hiện diện rải rác đó đây, khi chiếc xe băng qua những cánh đồng hoang, hay những sa mạc khô cằn, trên đó xuất hiện lèo tèo dăm ba căn lều vải, hoặc một cái quán nhỏ, với vài ba tên da đỏ, ngồi trước quán, trên chiếc băng, đang uống rượu, và trông họ có vẻ đang say.

Có một hôm hai vợ chồng đi lạc vào một vùng, mà họ tin rằng, nơi đây là khởi điểm của những người tiền phong đi lập nghiệp, vì họ thấy vô số đường rầy cũ kỹ, hình như đã được thiết lập từ lâu lắm rồi, và bây giờ vẫn còn được xử dụng. Laurie bảo rằng, trong suốt cuộc đời, chàng chưa bao giờ nghe  nhiều tiếng còi tàu như chàng nghe ở khu vực này.

Cuộc hành trình băng qua tất cả 30 Tiểu Bang, 19 lúc đi, và 11 lúc về, vẽ thành hình vòng cung, như cái môi, từ khoé môi bên phải (khởi điểm ở Virginia), hướng về phía Trung-Bắc, theo môi trên, gồm những Tiểu Bang Ohio, Indiana, Illinois, Iowa, … lên đến đỉnh cao nhất là Tiểu Bang South Dakota, vòng xuống khoé môi trái, băng qua Wyoming, Utah, dừng lại ở Tiểu Bang Nevada (giáp ranh với Tiểu Bang Cali), là điểm sum họp của chúng tôi. Vòng về, lại đi ngược từ khoé môi trái, hướng về phía cực Đông, theo môi dưới, từ Nevada trở lại khoé môi phải, băng qua Arizona, New Mexico, đụng đáy môi dưới là Texas, vươn lên Arkansas,Tennessee…trở về khởi điểm Virginia, xem như ‘bờ môi khép kín’, hoàn thành một chuyến đi cực kỳ thú vị của hai tâm hồn hiền hậu, nhưng thích phiêu lưu, mạo hiểm.

Chúng tôi có quá nhiều chuyện thú vị  để nói và để nghe, mà thời gian thì quá vô tình, không chịu dừng lại để nghe chúng tôi nói, lại có vẻ  trôi nhanh hơn thường lệ, như thể là ghen ghét cái hạnh phúc nồng nàn hiện hửu giữa hai gia đình!

Thế rồi, cuộc vui cũng phải tàn, một tuần lễ qua nhanh như gió thoảng, đến lúc mọi người phải chia tay, ai về nhà nấy để rồi lại tiếp tục phấn đấu vất vả cho cuộc mưu sinh thường nhật. Mẹ tôi đã tặng cho Evelyn một chiếc áo len đan tay, mua từ Việt Nam rất khéo mà cô nàng cũng rất thích vì thấy lạ mắt và mặc cũng rất ấm, ngoài ra, mẹ tôi còn tự tay làm lấy 100 cuốn chả giò chưa chiên để ăn dần, khi hai vị khách quý trở về lại Virginia. Hình như hai vợ chồng Laurie có mang một số quà tặng đế biếu chúng tôi, nhưng lâu ngày quá, tôi không còn nhớ là những món gì (có lẽ là đặc sản địa phương).

Cuộc chia tay lần này, tuy để lại nhiều luyến tiếc, nhưng không bi đát như buổi chia tay cách đây mấy chục năm, vì chúng tôi đều đã ở cùng một quốc gia, tuy bao la bát ngát, nhưng ngày nay, với nền văn minh hiện tại, khoảng cách không gian chỉ là chuyện nhỏ. Sau đó hai vợ chồng Laurie còn ghé thăm chúng tôi vài lần nữa, và hai bên cũng thường xuyên liên lạc nhau bằng điện thoại, thư từ, chúc mừng hoặc chia buồn cùng nhau trong những ngày lễ lạc, hoặc có những biến cố gì quan trọng.

Evelyn đã  sinh cho Laurie 8 đứa con, trong đó có 2 đứa sinh đôi, điều này cũng là một yếu tố đặc biệt hiếm có đối với người Mỹ, thường chỉ sanh 1, hoặc 2 đứa là ‘khóa sổ’. Laurie thường khoe với chúng tôi, anh có một ‘Đại Gia Đình’ rất vĩ đại, ông bà, cha mẹ, anh em, con cháu… lên đến cả 100! Tất cả điều sống hạnh phúc, khỏe mạnh, đoàn kết, và rất thương yêu nhau. Thật là một gia đình gương mẫu. Điều này chúng tôi đã thấy rõ qua bản thân Laurie khi còn làm việc ở Nha Trang. Chúng tôi đã may mắn gặp được một người bạn Mỹ đặc biệt có nhiều đức tính kết hợp cả Âu lẫn Á rất hiếm có trong thời kỳ loạn lạc, cũng như trong giai đoạn hòa bình.

Gia đình chúng tôi, gặp nhiều may mắn, kẻ trước người sau đều qua Mỹ đầy đủ, ba anh em chúng tôi hiện nay đều ở Quận Cam, gia đình em gái, vì công việc làm ăn, lại dời qua Las Vegas, theo con gái, là một Dược Sĩ, đang làm việc tại đây, đứa con trai cũng đã đi làm về ngành Điện Tử. Ông anh tôi cũng được hai cháu, cô con gái cũng đã tốt nghiệp Bác Sĩ Nha Khoa, hiện đang hành sự ở L.A, đứa con trai còn học năm thứ ba Đại Học. Riêng hai cặp vợ chồng tôi và đứa em út thì vẫn còn hiếm muộn, nếu có ai dư thì chúng tôi sẵn sàng ‘nâng trứng hứng hoa’, xin một đứa về làm ‘của hồi môn’ lúc tuổi già!

Một điều may mắn và hạnh phúc nhất cho anh em chúng tôi là Ba Mẹ chúng tôi vẫn còn sống, và vẫn còn ‘khoẻ mạnh theo tuổi già’!

Khi tôi ngỏ ý với Laurie muốn xin một số hình ảnh về gia đình và một vài chi tiết về cuộc hành trình để bổ túc cho bài viết này thêm sống động, anh ta đã vui vẻ gởi ngay cho tôi một bức thư dài và một số hình ảnh xưa cũ, cùng lời chúc tốt lành gởi đến toàn thể gia đình tôi, một công việc không có năm nào bị bỏ quên, mặc dù ông đang rất bận công việc sửa chữa nhà cửa và chuẩn bị cây Noel trong mùa Giáng Sinh sắp tới. Bức thư mới nhất này đến tay tôi vào ngày 16/12/09, kịp lúc để tôi có thể hoàn thành bài viết về một người Mỹ tử tế, thuỷ chung suốt 35 năm qua.

Tôi viết câu chuyện tình nghĩa giữa Laurie G. Watson và gia đình chúng tôi để nói lên phần nào lòng tri ân những chiến sĩ  đã chiến đấu gian khổ để bảo vệ hòa bình, tự do. Đặc biệt để kính tặng Song Thân, những tâm hồn nhân ái đã chiếm được trái tim thương yêu và kính trọng của người lính Mỹ tử tế, khiến anh tự nguyện xin làm con nuôi của hai Người.

VĨNH-HẦU

From: TU-PHUNG

VỊ KHÁCH NGỌT NGÀO CỦA LINH HỒN

VỊ KHÁCH NGỌT NGÀO CỦA LINH HỒN

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế 

“Thầy sẽ sai Ngài đến với các con!”

Dwight Morrow, cha của Anne Morrow Lindbergh, sau này là một nhà văn rất nổi tiếng, từng tổ chức một bữa tiệc tối mà Calvin Coolidge được mời.  Sau khi Coolidge rời đi, Morrow nói với những khách còn lại, “Coolidge sẽ trở thành một tổng thống tốt.”  Những người khác không đồng ý; họ bảo, Coolidge quá trầm lặng và thiếu cá tính.  Anne, lúc đó sáu tuổi, lên tiếng, “Cháu thích ông ấy.”  Sau đó, cô bé đưa một ngón tay lên với một miếng băng nhỏ chung quanh.  “Ông ấy là người duy nhất trong bữa tiệc hỏi về ngón tay bị đau của cháu”; “Đó là lý do tại sao ông ấy sẽ là một tổng thống tốt.”  Anne nói thêm, “Với cháu, ông ấy là vị khách ngọt ngào của linh hồn!”

Kính thưa Anh Chị em,

“Ông ấy là vị khách ngọt ngào của linh hồn!”  Một sự trùng hợp thú vị khi Lời Chúa hôm nay cũng nói đến một vị khách mà lắm lúc chúng ta bỏ lỡ trong cuộc sống!  Đây không phải là một vị khách bình thường, hoặc như Coolidge, sau này là tổng thống thứ 30 của Mỹ, nhưng là “Vị Khách” Chúa Phục Sinh sai đến; đó là Chúa Thánh Thần, ‘Vị Khách Ngọt Ngào Của Linh Hồn!’

Chưa bao giờ có ai trong chúng ta được đặc ân thấy Chúa Giêsu theo cách các tông đồ thấy; nhưng như các ngài, chúng ta có Chúa Giêsu luôn ở bên mình; đồng thời, có cùng một đặc ân khác nữa, là nhận được dẫy đầy sự hiện diện của Chúa Thánh Thần.  Điều này thật là tốt; rất tốt.  Nhưng đó là một điều tốt mà chúng ta thường bỏ lỡ; ‘Vị Khách Ngọt Ngào Của Linh Hồn’ xem ra chưa có một nơi cư ngụ xứng đáng trong mỗi người chúng ta.  Bằng chứng là cuộc sống của chúng ta chưa được Ngài biến đổi; và dường như Ngài vẫn còn xa lạ với linh hồn. 

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói đến Đấng Bảo Trợ mà Ngài sẽ sai đến với các tông đồ.   Qua đó, Ngài mời gọi chúng ta thông phần một tình bạn mật thiết với Chúa Thánh Thần.  Chúa Thánh Thần được ban cho chúng ta ngày chúng ta lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, hầu mỗi người trở nên một tạo vật mới; ngày chúng ta lãnh nhận Bí Tích Thêm Sức để trở nên một dũng sĩ mới.  Chúa Thánh Thần là người thợ tạo nên sự thánh khiết nơi chúng ta; là Thầy Dạy và là Đấng ủi an nhất là khi chúng ta gặp gian truân.  Chính Ngài, ‘Vị Khách Ngọt Ngào Của Linh Hồn’ sẽ là bạn đồng hành với chúng ta suốt cả cuộc đời; đặc biệt trong những lúc tăm tối.

Câu chuyện của bài đọc thứ nhất hôm nay là một bằng chứng về sự hiện diện của Chúa Phục Sinh và Thánh Thần của Ngài.  Sau một trận đòn chí mạng, Phaolô và Sila bị giam vào ngục sâu nhất, nhưng “Vào quãng nửa đêm, hai ông hát thánh ca, cầu nguyện với Thiên Chúa; các người tù nghe hai ông hát.”  Bỗng, động đất xảy ra, xiềng xích vỡ tung.  Viên cai ngục chạy vào, toan tự vẫn vì tưởng hai ông đã trốn thoát; nhưng Phaolô và Sila kịp trấn an.  Câu chuyện kết thúc một cách thần diệu với việc viên cai ngục và gia đình ông đáp lại lời giảng của Phaolô!  Ông đưa hai ngài lên nhà, dọn bữa; ông và cả nhà vui mừng vì đã tin Thiên Chúa.  Như thế, rõ ràng, Chúa Phục Sinh và ‘Vị Khách Ngọt Ngào Của Linh Hồn’ đã viếng thăm những kẻ Ngài yêu thương ngay trong hoàn cảnh nghiệt ngã nhất của họ.  Từ đó, Phaolô và Sila có thể tiếp tục tán tụng Chúa như tâm tình Thánh Vịnh đáp ca, “Lạy Chúa, tay hữu Chúa khiến con được sống an lành!”

Anh Chị em,

“Thầy sẽ sai Ngài đến với các con!”  Còn chưa đầy hai tuần nữa, chúng ta sẽ cử hành trọng thể lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống.  Đây là lễ kỷ niệm hàng năm về việc Chúa Giêsu thực hiện lời hứa của Ngài.  Hôm nay và những ngày sắp tới, hướng về ngày lễ Chúa Thánh Thần, ước gì chúng ta biết dành thời giờ nhiều hơn để suy gẫm và tỏ lòng biết ơn đối với Chúa Thánh Thần.  Hãy khiêm tốn thừa nhận, bạn đang rất cần Ngài; Ngài phải trở nên sống động hơn trong cuộc sống bạn.  Hãy xác tín, Chúa Giêsu muốn bạn tiếp nhận Chúa Thánh Thần trong sự sung mãn của Ngài; đừng ngần ngại để sự kết hợp này diễn ra.  Được như thế, chắc chắn ‘Vị Khách Ngọt Ngào Của Linh Hồn’ sẽ biến đổi bạn, Ngài sẽ tạo nên một sự khác biệt cho linh hồn bạn!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến!  Xin thổi bùng ngọn lửa yêu mến trong con; đốt cháy những gì là bợn nhơ, hầu linh hồn con trở nên thánh khiết, xứng đáng làm nơi Ngài ngự!” Amen!

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế 

PHÁT ÂM CỦA NGƯỜI NAM KỲ

 PHÁT ÂM CỦA NGƯỜI NAM KỲ

Bài post tối nay dành cho dân Nam Kỳ và những ai chưa biết về dân Nam kỳ

– Có những phương ngữ rất đặc trưng của vùng :

Nếu bạn hỏi người Long An:

“Năm nay lúa má sao anh?”

Long An trả lời:

“Hằng hà!”

Còn người Vĩnh Long sẽ trả lời:

“Nhóc luôn!”

Dân Nam Kỳ cũng lãng man lắm, gọi nước lên xuống ngày 2 lần bằng mấy chục từ diễn tả, như:

– Nước lớn, nước ròng, nước rong, nước kém, nước đứng, nước nhửng, nước ương, nước đổ, nước ngập, nước nổi, nước quay, nước lụt, nước giựt, nước rút, nước chảy, nước trôi, nước nhảy, nước bò…

Khúc sông bên lở bên bồi

Bên lở lở mãi, bên bồi bồi thêm.

Nước ròng còn chia ra:

– Nước ròng cạn, nước ròng sát, nước ròng rặc, nước ròng kiệt; hay còn gọi tắt là nước cạn, nước sát, nước rặc, nước kiệt…

Thời điểm nước đứng gọi là :

“Nước nhửn”.

Nước lớn rồi lại nước ròng,

Đố ai bắt được con còng trong hang.

Dân Bắc Kỳ, Trung Kỳ gọi thuyền hay đò thì ở Nam Kỳ gọi ghe và chia ra hàng chục loại:

– Ghe chài, ghe đục, ghe be, ghe bầu, ghe cui, ghe cửa, ghe giàn, ghe lồng, ghe lườn, ghe ngo, ghe tam bản…

Ghe bầu trở lái về đông

Làm thân con gái theo chồng nuôi con.

Người Nam Kỳ viết không sai chánh tả nhưng trong văn nói có nhiều đặc trưng của vùng, gọi là phát âm sai nếu theo lý thuyết chữ quốc ngữ.

Phát âm phụ âm cuối không phân biệt “n” và “ng”, “c” và “t”, “y”và “I”.

Ví dụ:

– Cục than thành cục thang, liên thành liêng, lan thành lang, mái và máy, lụt và lục, mát và mác, thước và thướt…

Phát âm “ê” thành “i”.

– Chẳng hạn cơm nếp, cái đệm thành cơm níp, cái địm. “ươ” thành “ơ”; trái mướp thành trái mớp, ăn cướp thành ăn cớp, đám cưới thành đám cứi, tức cười thành tức cừi.

Phụ âm “r” “g”, như rau răm thành gau găm, cá rô thành cá gô.

Phụ âm “r” thành “d”. Ví dụ: rau răm thành dao dăm, cá rô thành cá dô.

Vùng Gò Công cũ (Chợ Gạo, Gò Công Đông, Gò Công Tây, thị xã Gò Công [tỉnh Tiền Giang], và Cần Đước, Cần Giuộc [tỉnh Long An]), ở trong quê sâu có cách phát âm “ng” thành “qu”.

Ví dụ:

– Ông ngoại thành ông quại.

Thành ra nói kêu ” ông quại” cho toàn Nam Kỳ là không trúng.

Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh có cách phát âm “th” thành “kh”.

Ví dụ:

– Cái thùng thành cái khùng.

Dân Bến Tre (trừ Chợ Lách và Bình Đại) đọc phụ âm “tr” thành “t”.

Ví dụ:

– Cây tre, cây trúc thành cây te, cây túc; Bến Tre thành Bến Te; Ba Tri thành Ba Ti; Giồng Trôm thành Giồng Tôm.

Chợ Ba Ti thiếu gì cá biển

Anh thương nàng anh nguyện về đây.

Theo Nguyễn gia Việt

Chúa Thánh Thần hoạt động thế nào trong đời tôi?-Cha Vương

Chúa Thánh Thần hoạt động thế nào trong đời tôi?

Nguyện xin bình an và tình yêu của Thiên Chúa luôn ở cùng bạn và gia quyến hôm nay nhé. Xin bạn một lời kinh cầu nguyện cho linh hồn Bà Cố Maria, bà Bác của mình mới qua đời tại Việt Nam. Xin đa tạ.

Cha Vương

Thứ 2: 23/05/2022

GIÁO LÝ: Chúa Thánh Thần hoạt động thế nào trong đời tôi? Chúa Thánh Thần mở lòng tôi đón nhận Thiên Chúa. Người dạy tôi cầu nguyện, và giúp tôi thực hành bác ái với tha nhân. (YouCat, số 120)

SUY NIỆM: Theo thánh Augustinô, Chúa Thánh Thần là vị khách thầm lặng của hồn tôi. Muốn cảm nghiệm được Người có mặt, cần phải thinh lặng. Vị khách này thường tỏ mình ra một cách rất êm đềm trong ta và với ta, qua tiếng lương tâm hoặc qua tiếng thúc giục bên trong hay bên ngoài. Là “đền thờ của Chúa Thánh Thần” có nghĩa là luôn có mặt sẵn sàng cả hồn xác để tiếp đón vị khách là Thiên Chúa trong ta. Xác ta là như nhà ở của Chúa. Ta càng mở rộng lòng cho Chúa Thánh Thần, Người càng trở nên Thầy dạy ta sống và càng mau mắn ban các đặc sủng để xây dựng Hội Thánh. Nhờ đó thay cho các công việc của xác thịt, các hoa quả của Thần Khí sẽ tăng trưởng. (YouCat, số 120 t.t.)

❦ Các hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ. (Ga 5:22)

LẮNG NGHE: Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ, đó là: dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tương, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, rượu chè, và những điều khác giống như vậy. (Ga 5:19-21)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Thánh Thần, là vị khách thầm lặng của hồn con, xin hướng dẫn và bảo vệ tâm hồn con khỏi những cạm bẫy của ma quỷ đang xúi dục con làm những điều bất chính, và xin thêm sức mạnh cho con để con trung thành với Chúa cho đến cùng.

 THỰC HÀNH: Hôm nay mời bạn bỏ ra 15 phút thinh lặng để lắng nghe tiếng thì thầm của “vị khách thầm lặng” đang muốn nói với bạn điều gì nhé.

From: Đỗ Dzũng