“Con nhìn ảnh Chúa rồi con khóc,”

Suy Tư Tin Mừng Tuần thứ 31 thường niên năm C 30/10/2016 

Tin Mừng (Lc 19:1-10) 

Sau khi vào Giêrikhô, Đức Giêsu đi ngang qua thành phố ấy. Ở đó có một người tên là Dakêu; ông đứng đầu những người thu thuế, và là người giàu có. Ông ta tìm cách để xem cho biết Đức Giêsu là ai, nhưng không được, vì dân chúng thì đông, mà ông ta lại lùn. Ông liền chạy tới phía trước, leo lên một cây sung để xem Đức Giêsu, vì Ngài sắp đi qua đó.  

Khi Đức Giêsu tới chỗ ấy, thì Ngài nhìn lên và nói với ông: “Này ông Dakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!” Ông vội vàng tụt xuống, và mừng rỡ đón rước Ngài. Thấy vậy, mọi người xầm xì với nhau: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!” Ông Dakêu đứng đó thưa với Chúa rằng: “Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn.” Đức Giêsu mới nói về ông ta rằng: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Abraham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất.” 

  •    *     *      *

“Con nhìn ảnh Chúa rồi con khóc,”

Trăm thảm nghìn thương mắt mỏi mòn.

Chuông ngọ từng hồi chuông ngọ đổ

Từng hồi chuông ngọ, đổ chơi vơi.

Con nghe chuông ngọ đổ, rồi con khóc.

Cứu rỗi linh hồn con, Chúa ơi!

(Dân từ thơ Nguyễn Bính)

Nhìn ảnh Chúa, có thế thôi, mà sao nhà thơ bật lên thành tiếng khóc? Khóc xong nghe chuông ngọ đổ, thi sĩ họ Nguyễn mới nguyện-cầu Chúa cứu rỗi linh hồn mình. Phải chăng đây, một nghịch-lý của người đời?

Với nhà Đạo, nghịch-lý còn được thấy ở dụ-ngôn “người thu-thuế giàu có rất Da-kêu. Vì xưa nay, Chúa vẫn bảo: “Người giàu có, rất khó mà vào Nước Trời.

Hôm nay, trình thuật-thánh Luca lại đã ghi: “Chúa ghé nhà người thu thuế, không chỉ là người giàu có bình thường, mà là trưởng-ban thu thuế, rất đáng chê. Câu truyện Tin Mừng hôm nay, lại cũng giống nhiều truyện kể ở đời, rất như sau:

“Phú Nguyễn đi dần vào những ngày cuối, trước buổi mãn khoá đại học. Đã từ lâu, anh vẫn đến phòng trưng bày xe của công ty nọ, để mơ ước. Anh vẫn biết, nếu chịu khó học và đậu cao, thế nào ba cũng mua tặng một chiếc, hệt như thế. Nhưng không hiểu, sao đến giờ này vẫn chẳng thấy cha tiếp xúc với người bán để đặt cọc.  

Cuối cùng, ngày “N” cũng đến. Cha cho người gọi anh vào để chúc mừng. Ông bảo: ông rất tự hào về thành quả anh đạt được. Nói rồi, ông trao cho anh hộp quà bọc giấy rất đẹp. Phú Nguyễn mở quà ra xem, chỉ thấy mỗi quyển Thánh Kinh bìa da gáy mạ vàng có khắc tên anh ở trên đó. Giận quá, chẳng buồn lấy sách ra khỏi hộp, anh chỉ kịp ngước nhìn cha, gằn giọng nói: “Thế này, mà Ba gọi là giữ lời hứa hôm trước sao?” Nói rồi, chẳng kịp nghe ba anh phân bua đến một lời, anh chạy một mạch khỏi nhà, lên xe biến mất. Chẳng thèm bốc di động trả lời khi cả nhà tìm anh, hoảng hốt. 

Chiều tối đến, khi cơn giận đã lành, anh trở về thì được bảo cha vừa bị cơn đột quỵ, đã ra đi. Theo bệnh án, ông cũng từng bị nhồi máu cơ tim như thế, rất nhiều lần. Giọng mẹ buồn, bảo anh đi lấy cuốn thánh kinh bằng da cha cho xem ông có để lại đôi giòng nào trong đó không. Tìm được cuốn sách anh đã ném lên bàn của cha, trước khi đi. Giọt vắn giọt dài, anh mở đại cuốn sách, đọc mấy hàng chữ gạch mực đỏ trong đó thánh Mátthêu ghi: “Các ngươi, tuy là ác, mà còn biết lấy của lành làm quà cho con, thì huống hồ là Cha các ngươi, Đấng ngự trên trời, sẽ ban của lành cho những ai xin Người.” (Mt 7: 11) 

Đọc tới đó, tức thì có chùm chìa khoá rơi từ sau Sách. Trên chùm khoá, lại thấy tên và địa chỉ của nhà buôn từng trưng bày chiếc xe anh ao ước, cộng thêm hàng chữ ghi rõ: “Mừng ngày con tốt nghiệp. Mọi lệ phí, cha đã thanh trả hết.” Đọc xong, Phú Nguyễn gục đầu khóc nức nở. Thấy đã muộn. Nghe truyện kể, chắc có người sẽ tự hỏi: đã bao lần, ta để luột mất chúc lành bình an từ Đức Chúa, vì không thấy chúc lành ấy được gói ghém theo cung cách ta vẫn mong. 

Phúc Âm ta vừa nghe hôm nay, cũng nói về “cách đáp trả” của anh hùng người lùn tên Dakêu. Dakêu là tên của anh thu thuế rất nhỏ thó, ở thị trấn Giêrikhô cũng bé nhỏ, nhưng lại cả gan dám rước Chúa về nhà, mà dùng bữa.

Ở đây nữa, theo như trình thuật truyện kể, được đón tiếp Chúa là điều tuyệt diệu vẫn còn lại nơi tâm tưởng, của riêng ông. Tâm và tưởng, chỉ những tưởng được nhìn Chúa đi trên đường làng, đà mãn nguyện. Đâu ngờ, còn được Chúa thân chinh đoái hoài đến ghé thăm, và dùng bữa. Quả là ân huệ, quá mức tưởng tượng.

Với Đức Giêsu thì khác, nhân cơ hội trưởng ban thu thuế Dakêu trịnh trọng đón tiếp Đấng Nhân Hiền, Ngài tỏ bày cùng mọi người chốn Nước Trời về tính hiếu khách, mở rộng vòng tay đón chào ngươi người ghé viếng.Vì tính hiếu khách ít thấy nơi người thu thuế, mà cộng đồng Do Thái nay oán ghét cả đám người phục vụ ngoại bang, trong đó có Dakêu.

Nhưng ở đây, Đức Giêsu đã làm một công đôi việc: thứ nhất Ngài gọi đích thị tên anh. Và, còn cùng bàn với cả đám người thuộc loại “giáo gian”, nữa.

Bằng vào động-thái bước qua ngưỡng cửa nhà của người tội lỗi, Chúa lại đã đem họ ngang qua ngưỡng cửa tình thương, nhà của Ngài. Ngài còn ra tay nâng đỡ, giúp Dakêu tội lỗi đối đầu với chính hiện trạng rất gian manh của ông để rồi đưa ông về với ơn cứu chuộc, thật hy hữu.

Chúa vẫn làm thế, với hết mọi người trong chúng ta. Ngài mở rộng đôi tay thân thương đón nhận hết mọi người bằng vào động thái biết dùng mắt để thấy, dùng tai để lắng nghe. Và, Chúa cũng đến với ta qua những người rất khác thường. Tại nơi chốn rất khác lạ. Và, ở thời điểm không ai ngờ trước.

Là thành viên gia đình chung của Ngài, Chúa vẫn gọi mời hết mọi người đích thị theo tên, để thân hành đến dùng bữa với chúng ta, cũng bình thường như ta vẫn nhận lời ngồi cùng bàn với Ngài.

Tuy nhiên, mọi việc đều có giá của nó. Có giá, nghĩa là: ta vẫn tự coi mình như nhân vật khác biệt trong hội ngộ. Có giá, tức là: cứ nên độ lượng với mọi người. Để có thể mở lòng ra với thế giới.

Để, tỏ bày sự trong sáng trong quan hệ mình vẫn có. Với nhau. Không cần biết mình bị cuốn hút, biệt tăm, xa xăm đến độ nào. Chẳng cần hiểu, mình đã phải trèo lên cây cao cỡ từng mây. Chỉ cần nhớ, rằng: cả vào lúc mình ân hận khi có nhận xét quá đáng đối với người nhận quà tặng Chúa phú ban.

Bởi, khi ban quà tặng, Chúa vẫn gọi danh tánh từng người. Và, ngài vẫn mời gọi mọi người đến tham dự bàn tiệc, đã bày sẵn. Đến tham dự, để còn biết: ơn cứu độ đã nằm trong tầm tay ta, rất gần kề.

Lời Chúa hôm nay, còn được tỏ bày nơi Tiệc Thánh. Có Chúa. Có cả thành viên cộng đoàn Nước Trời. Cả khách lạ/người dưng, từng bị quên sót, bỏ bê, khen chê.

Lm Richard Leonard sj biên-soạn

Mai Tá lược-dịch

MẸ LÀ SAO BIỂN

MẸ LÀ SAO BIỂN

   me-la-sao-bien

Cuộc đời này được sánh ví như đại dương bao la.  Mỗi ngày sống là một ngày vượt trùng khơi, vật lộn với sóng cả ba đào để tới bến bờ.  Có những hành trình êm ả thuận lợi, nhưng cũng có những hành trình vất vả gian nan.  Trong hành trình vượt đại dương cuộc đời, người tín hữu Công giáo có Đức Mẹ là “Đấng chỉ bảo đàng lành”.  Như ngôi sao sáng dẫn chỉ lối giữa đại dương bao la, Mẹ Maria cũng được tôn vinh là “Ngôi Sao Biển – Maris Stella”.

Ai đã từng vượt biển mới cảm nghiệm nỗi kinh hoàng khi đại dương rùng mình dậy sóng.  Khi chuẩn bị bước sang thế kỷ 21, một số nhà nghiên cứu đã tổng hợp các sự kiện đáng ghi nhớ của dân tộc Việt Nam.  Biến cố vài trăm ngàn người Việt bỏ lại đàng sau quê hương xứ sở, vượt biển ra nước ngoài được coi như một sự kiện “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử dân tộc Việt Nam của thế kỷ 20.  Người vượt biển phải đối diện với biết bao nguy hiểm, lằn ranh giữa sự sống và cái chết rất mong manh.  Không ai thống kê được con số người đã bỏ mạng trên biển, vì đói khát, vì bão tố phong ba và vì hải tặc.  Nhiều người may mắn thoát chết đã bị ám ảnh suốt đời vì những gian nan đã trải qua.  Trong hành trình vượt biển này, có nhiều người đã được ơn lạ của Đức Mẹ.  Người viết bài này có dịp tiếp xúc với một số người quen biết hiện sinh sống tại Hoa Kỳ, nghe họ kể về những trường hợp lâm nguy, trên những con thuyền mong manh như chiếc lá giữa đại dương.  Trong giờ phút nguy khốn ấy, họ đã kêu cầu Đức Mẹ.  Trong số đó có những anh chị em ngoài Công giáo.  Có người hứa với Đức Mẹ, nếu thoát mạng, sẽ xin nhập Đạo.  Sau này, khi đến đất nước thứ ba, họ đã giữ lời hứa ấy và trong số đó có người đã làm linh mục.  Họ là chứng từ sống động về tình thương Thiên Chúa và về lời cầu bầu hiền mẫu của Đức Mẹ.  Đức Trinh nữ Maria quả thực đã là ngôi sao biển dẫn đưa những người có niềm cậy trông về bến an toàn.

Khi tôn vinh Đức Mẹ là ngôi Sao Biển, chúng ta thể hiện lòng cậy trông của chúng ta đối với Đức Mẹ.  Bên chân thập giá, Chúa Giêsu đã trối Đức Mẹ cho thánh Gioan, đồng thời Người cũng trao phó Thánh Gioan cho Đức Mẹ.  Cử chỉ ấy muốn nói lên rằng, trong đời sống của người môn đệ Chúa Giêsu, từ nay có Đức Mẹ đồng hành.  Thánh Gioan ghi chú thêm: “Kể từ giờ đó, người môn đệ đón Đức Mẹ về nhà mình” (Ga 19,27).  Hội đồng Giám mục Việt Nam, trong Thư Chung công bố đầu tháng 10-2016 vừa qua, cũng mời gọi các tín hữu Việt Nam hãy “đón Mẹ về nhà” và yêu mến Đức Mẹ với trọn tình con thảo.  Quả thật, có Đức Mẹ hiện diện, chắc chắn đời chúng ta không còn cô đơn.  Trên hành trình vượt biển cuộc đời, Đức Mẹ hiện diện ở đó để hướng dẫn chúng ta biết sống sao cho đẹp lòng Chúa.  Nhờ Đức Mẹ chỉ bảo, con thuyền cuộc đời của chúng ta biết “bát, cạy”, tức là biết lái sang bên phải hoặc bên trái, với mục đích đem lại cho chúng ta hạnh phúc niềm vui trong cuộc sống và ân sủng từ trời.

Trong buổi lễ kết thúc kỳ họp thứ ba của Công đồng Vatican II vào ngày 21-11-1964, Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã chính thức tuyên bố Đức Maria là Mẹ Giáo Hội.  Sau khi tuyên bố Đức Maria là một “thành viên trổi vượt”, là “kiểu mẫu” và “gương sáng” của Giáo Hội, Công đồng viết: “Giáo hội Công giáo, được Chúa Thánh Thần chỉ dạy, dâng lên Người tình con thảo, như đối với người Mẹ rất đáng mến yêu” (LG 53).  Mẹ là Mẹ của Giáo Hội lữ hành đang vượt biển trần gian.  Giáo Hội vẫn được trình bày như con thuyền căng buồm lướt sóng ra khơi, giữa biết bao sóng cả ba đào.  Cờ hiệu của con thuyền Giáo Hội là cây thập giá, dấu chỉ của chiến thắng và hy vọng.  Trên con thuyền Giáo Hội, có Mẹ ở đó, hiện diện âm thầm, để dõi theo từng bước đi của Giáo Hội, như Mẹ đã âm thầm dõi theo từng bước đường truyền giảng Tin Mừng của Đức Giêsu, Con của Mẹ.  Hình ảnh Đức Mẹ hiện diện giữa các tông đồ, chìm sâu trong lời cầu nguyện, được Thánh Luca kể lại trong sách Công vụ Tông đồ, cho thấy, Giáo Hội của Đức Giêsu không cô đơn, vì có Đức Mẹ đồng hành (x.  Cv 1,12-14).  Lịch sử Giáo Hội đã chứng minh điều ấy.  Trên thế giới, có nhiều địa điểm được Đức Mẹ thăm viếng, và nhanh chóng trở thành những linh địa, những điểm hành hương nổi tiếng.  Tuy vậy, người tín hữu luôn tin rằng, dù không được đến những địa điểm hành hương nơi Đức Mẹ đã hiện ra, ở bất cứ nơi nào, nếu họ tin tưởng phó thác và kêu cầu sự bảo trợ của Đức Trinh nữ, thì Đức Mẹ vẫn hiện diện trong cuộc đời của họ.  Đó là sự hiện diện thân thương mà đầy quyền năng, đem lại cho tâm hồn người tín hữu ấm áp và an bình.

Một câu chuyện rất cảm động kể về lòng can đảm của một phụ nữ xóm chài: Trong lúc mọi ngư dân đang đánh cá ngoài khơi, thì bỗng một cơn bão lớn nổi lên.  Chiều đã tới và màn đêm buông xuống mà bão tố vẫn chưa tan.  Những người phụ nữ và trẻ em đều nóng lòng sốt ruột ngóng trông ra biển, vì hầu hết những người đàn ông và thanh niên trai tráng đều ở ngoài khơi, và giờ đây họ đang chống chọi với bão tố để tìm đường về.  Bà con làng chài đốt những bó đuốc lớn với hy vọng những người thân ngoài khơi nhận ra hướng đất liền để trở về.  Một người phụ nữ nhanh trí đã phóng lửa đốt cả ngôi nhà mình, mong tạo lên mội khối lửa khổng lồ, vượt xuyên màn đêm tối.  Nhờ khối lửa khổng lồ này, những ngư dân đã trở về đất liền an toàn.  Người phụ nữ đã hy sinh tất cả, với ước nguyện cứu sống những người thân.

Hình ảnh người phụ nữ xóm chài gợi lại cho chúng ta người mẹ đứng dưới chân thập giá trên đồi Canvê năm xưa, đó là Đức Trinh nữ Maria.  Mẹ đã hy sinh tất cả, đã âm thầm cầu nguyện trong đau đớn, để cùng với Con của mình dâng hy tế cứu độ trần gian.  Nhờ cái chết của Đức Giêsu trên thập giá, nhân loại được hưởng niềm vui và hạnh phúc.  Đức Giêsu là tất cả của Mẹ.  Người là sự sống, là niềm vui, là niềm an ủi, là trọn niềm yêu thương.  Đức Maria đã can đảm hiến dâng người con ấy, để cho trần gian được cứu rỗi.

Ý thức được mình đang được ngôi Sao Biển có tên là Maria hướng dẫn, chúng ta không sợ lạc đường, nhưng an tâm bước đi trong cuộc sống mỗi ngày.  Như người lữ hành vượt trùng khơi, chúng ta phải luôn ngước mắt nhìn ánh sao biển để nhận biết phương hướng cho cuộc hành trình.  Cũng vậy, tôn vinh Đức Mẹ là Sao Biển không phải là một khẩu hiệu rỗng tuếch, nhưng đó phải là tâm tình yêu mến cậy trông.  Ngày hôm nay, Mẹ vẫn đang hiện diện giữa chúng ta để dặn dò chúng ta như Mẹ đã dặn dò những người giúp việc trong tiệc cưới ở Cana: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo!” (Ga 2,5).  Đúng vậy, khi chuyên tâm thực thi ý Chúa, chắc chắn chúng ta sẽ tìm được hướng đi cho đời mình.  Đức Mẹ soi sáng cho chúng ta hiểu Lời Chúa, như Mẹ đã chiêm niệm, suy tư và ghi nhớ Lời Chúa trong lòng.

Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, trong Thông điệp “Chúng ta được cứu rỗi trong hy vọng – Spe Salvi” đã tôn vinh Đức Mẹ với tước hiệu “Ngôi Sao Hy Vọng”.  Ngài viết: “Còn ai hơn được Mẹ Maria, là ngôi sao của hy vọng cho chúng ta? Khi Mẹ “Xin Vâng” Mẹ đã mở cửa thế giới của chúng ta cho chính Thiên Chúa; Mẹ trở nên Hòm Bia Thiên Chúa sống động, trong đó Thiên Chúa nhập thể, trở nên một con người như chúng ta, và dựng lều ở giữa chúng ta (x.  Ga 1,14)” (Số 49).

Hành trình vượt biển là một hành trình dài, đầy những sóng xô nghiệt ngã và thử thách gian nan.  Mẹ Maria là ngôi Sao Biển rạng ngời hướng dẫn chúng ta.  Có Mẹ đồng hành, chúng ta không còn sợ nguy biến.  Nghe Mẹ chỉ bảo, chúng ta sẽ cập bến.

  Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Tháng Mân Côi 2016

“Tôi cúi mặt, lời nguyện cầu rất khẽ,”

 Video : Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui  –  Trịnh Công Sơn –

Quốc Thiên, Tiêu Châu Như Quỳnh  –  Gala Nhạc Việt 8

httpv://www.youtube.com/watch?v=tcQURRzBo8s

Suy Tư Tin Mừng Tuần thứ 30 thường niên năm C 23/10/2016

Tin Mừng (Lc 18: 9-14)

Đức Giêsu còn kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác:

“Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pharisêu, còn người kia làm nghề thu thuế.

Người Pharisêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng:

“Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con. Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng:

“Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi. Tôi nói cho các ông biết: người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.”

 *   *    *

“Tôi cúi mặt, lời nguyện cầu rất khẽ,”

Cầu cho người và nguyện ước cho tôi.

Linh-hồn tôi nay đã khác xưa rồi,

Cũng rạo-rực bao đam-mê trần thế.”

(Dẫn từ thơ CV)

Trình thuật hôm nay, Chúa kể về phương-cách nguyện cầu nơi nhà Đạo.

Nhà tỉ phú nọ, có lần bị nhồi máu cơ tim, tưởng đã chết. Sau khi khỏi, ông được đài truyền hình địa phương mời xuất hiện trên chương trình “Chuyện Trò cùng Dân Chúng” để xin ông kể về nỗi niềm người vừa chết. Có một lúc, phóng viên hỏi: ông có kinh nghiệm gì về nỗi chết khi bị nhồi máu cơ tim, không? Nghe hỏi, nhà tỷ phú bèn đứng dậy làm động tác đi đi lại lại rồi bảo: Nói theo nền y học hiện đại, thì tôi như người chết đã đi về phía bên kia, nay trở về phía bên này để nói với quý vị là bên đó, cũng chẳng có gì!”

Sự thực đúng như lời ông nói: ở bên đó, cũng chẳng có gì hết. Câu trả lời của ông làm tôi nhớ về nhóm Biệt Phái, được thánh sử trích trong đoạn Phúc Âm hôm nay đây. Từ đó, tôi “ngộ” ra được một điều là: một trong các bẫy cạm mà sự thành công của con người vẫn đem lại là lòng tự cao/tự đại luôn đính kèm. Người Pharisêu trong trình thuật hôm nay cũng thế. Ông là người thành công trên đưòng đời. Nghĩa là, ông cũng có đời sống dễ chịu. Có lòng thành và sự hăng say của người đam mê/nhiệt nồng. Nhưng, ông lại tự đề cao chính mình để rồi coi mọi người như cỏ rác.

Khi nguyện cầu cũng vậy, “ông” Biệt Phái còn cả gan nhắc nhở Chúa rằng “ông” mới là người tốt lành, so với đám khác. Con người thu thuế, quỳ mọp ở dưới/sau. Có điều lạ, là: làm thân “ông” Biệt Phái rất sáng giá, thế mà “ông” vẫn đến đền thờ, để nguyện cầu. Nguyện cầu đấy, nhưng nào nhớ đến Chúa. Đến Cha. Như nhà tỷ phú nói ở trên, “ông” Biệt Phái lại quá tin vào tài của mình. Vào sự công chính mình vẫn có, khiến trình thuật/truyện kể, nghe hơi lạ. Lạ hơn nữa, là: làm thân anh thu thuế, xưa nay chỉ nể trọng mỗi đám thực dân/quân phiệt người La Mã, cũng đến đền thờ, cùng một lượt với Biệt Phái, để cầu kinh.

Ở Palestine ai cũng rõ: dân thu thuế không được mọi người trọng vọng. Bởi, họ chỉ là đám công chức chuyên khai thác rút rỉa dân hèn địa phương bằng những khoản thuế vô tội vạ. Chẳng thế mà, biết phận, anh thu thuế cứ là quỳ mọp ở phía sau, cuối đền thờ.Có thể là, anh đang ở vào lúc hồi tâm tỉnh trí, nên mới đến. Đến, để nhận ra những sứt mẻ của đời mình. Đến, để thành tâm khẩn nguyện Chúa.

Với cộng đoàn thánh Luca thời tiên khởi, động thái của anh thu thuế hèn mọn kia là mẫu mực để cộng đoàn hành xử. Thành tự cuộc sống, người người đều có niềm say mê sốt sắng mà nguyện cầu, đâu gì xấu. Ngược lại, về đạo đức, vẫn dẫy đầy những hiểm nguy khi thực hiện mọi công việc trong đời, đều phải nhường bước trước áp lực của đường đời, như phần vụ thu thuế đòi hỏi. Thành thử, anh đành chấp nhận làm “giáo gian” phục vụ đám ngoại bang.

Điều Chúa cảnh giác, là những gì mà thực trạng cuộc sống của hai nhóm người kể trên, vẫn đem đến cho chính họ. Thực trạng nói ở đây, là: tính khiêm hạ của kẻ bị đẩy ra khỏi xã hội, mình đang sống, khiến “ông” Biệt Phái càng hợm hĩnh cho mình thuộc giới cao sang, quý phái người người đều biết đến. Từ lâu, ai cũng tưởng tính khiêm hạ khiến ta cứ là khúm núm , ở cấp dưới. Cứ cho rằng mình chẳng là gì cả. Chẳng có công lênh gì. Động thái ấy, chẳng bao giờ là lòng khiêm hạ đích thực, ở Đạo Chúa.

Sống khiêm hạ, không có nghĩa bắt ta phải giấu mình ở ẩn hoặc làm giảm suy mọi quà tặng Chúa ban. Dù, đó có là khả năng hay tài cán rất sáng láng. Khiêm hạ đích thực, chỉ có nghĩa nếu ta biết vinh danh hết mọi người, bằng vào sẻ san cho người, đủ mọi thứ . Sẻ san và nâng nhắc những người đang túng bấn, để họ cũng được hưởng những “hoa thơm cỏ lạ” do Đấng Nhân Lành, vẫn ban phát.

Cụm từ “khiêm hạ” xuất từ tiếng La tinh “humus”, có nghĩa: gần sát địa cầu. Trái đất. Anh thu thuế hèn, là người sống gần cận với trái đất, nhất. Vì thế nên, anh dễ dàng mở lòng mình ra mà hồi hướng. Trở về. Có làm thế, anh mới được Chúa nhấc nân cao. Còn “ông” Biệt Phái lại thành công quá mức trong đời đạo hạnh, ông gần gũi. Cũng là thứ “gần chùa gọi bụt bằng anh”, nên mau chán. Chán khiêm hạ. Nguyện cầu. Chán tinh thần cao. Tức, ở vào thái cực đối đầu với anh thu thuế. Nếu tự kiểm, chắc rằng đa số người người trong chúng ta đang ở giữa hai thái cực ấy.

Tham dự Tiệc Thánh hôm nay, cầu mong sao để ta biết đường mà mở rộng lòng mình để, một lần nữa, hồi hướng trở về, mà đem hết khả năng/tài cán mình nhận lãnh ra mà phục vụ Vương Quốc Nước trời. Làm như thế, ta sẽ ra về mà chứng tỏ rằng mình đích thực khiêm hạ, như Chúa dạy. Làm như thế, để khi nằm xuống, ta sẽ nhận ra cuộc sống tràn đầy hạnh phúc đang chờ đón ta ở đầu phía bên kia. Bên, mà nhà tỷ phú nói ở trên cho là chẳng có gì. Mà thực có rất nhiều. nhiều cái “có” của Đức Chúa.

Lm Richard Leonard sj

ĐGH GIOAN PHAOLO II VÀ BỨC ẢNH MỚI ĐƯỢC CÔNG BỐ

ĐGH GIOAN PHAOLO II VÀ BỨC ẢNH MỚI ĐƯỢC CÔNG BỐ

Vào ngày 13.5.1981, tên khủng bố Mehmet Ali Agca, người Thổ Nhĩ Kỳ, đã cố ý giết chết Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bằng ba phát súng lục trong một cuộc tiếp kiến chung tại quảng trường Thánh Phêrô ở Roma.  Mãi cho đến hôm nay nguyên nhân vụ ám sát Đức Gioan Phaolô II của Ali Agca vẫn chưa được hoàn toàn giải thích một cách rõ ràng, mặc dù người ta đã biết được rằng Agca thừa hành lệnh của mật vụ Bảo Gia Lợi (Bulgarie).  Có sự nghi ngờ cho rằng vụ ám sát Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II là được cơ quan mật vụ Liên Sô KGB ở Mạc Tự Khoa trao cho mật vụ Bảo Gia Lợi thi hành, đã lan rộng ra liền ngay sau vụ ám sát.

Đức Gioan Phaolô II chỉ bị trọng thương qua vụ ám sát.  Và việc ngài sống sót là cà một phép lạ.  Dĩ nhiên, sức khỏe vốn cường tráng trước kia của ngài đã bị ảnh hưởng rất nặng bởi vụ ám sát, khiến ngài phải chịu đau đớn thường xuyên, kéo dài mãi cho tới lúc ngài băng hà năm 2005.

Hai năm sau vụ ám sát, vào ngày 23.12.1983, Đức Gioan Phaolô II đã đích thân vào phòng giam thăm tên khủng bố Ali Agca, nói chuyện với y và nhất là ngài đã tha thứ cho y.

ĐHY Stanislaw Dziwisz tường thuật lại là trong cuộc gặp gỡ và nói chuyện này tại nhà tù, Ali Agca chỉ lặp đi lặp lại với Đức Thánh Cha một câu hỏi duy nhất:

“Tại sao Ngài lại không chết? – Tôi biết chắc chắn là tôi đã nhắm rất trúng đích.  Tôi cũng biết rằng phát đạn tôi bắn ra có hiệu quả tàn phá và gây tử thương một cách chắc chắn.  Nhưng tại sao Ngài lại không bị tử thương?”

Về phần Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II thì hoàn toàn xác tín rằng chính nhờ bàn tay hiền mẫu của Đức Mẹ Fatima che chở nên ngài mới có thể thoát chết một cách lạ lùng như thế.  Bởi vì, ngày ngài bị ám sát tại Rôma – ngày 13 tháng 5 năm 1981 – cũng chính là ngày Đức Mẹ đã hiện ra với ba trẻ chăn chiên năm xưa tại Fatima, ngày 13 tháng 5 năm 1917.  Hơn nữa, theo Đức Gioan Phaolô II, thì vị Giám Mục mặc áo trắng phải chịu đau khổ nhiều mà Đức Mẹ đã cho ba trẻ trông thấy trong một thị kiến khi hiện ra với ba trẻ tại Fatima, chính là ngài.

Do đó, đúng một năm sau vụ ám sát (1982), Đức Gioan Phaolô II đã đích thân đi hành hương Fatima để tạ ơn cứu sống của Đức Mẹ và trong dịp này ngài cũng mang theo một trong các đầu đạn mà Mehmet Ali Agca đã bắn vào ngài để dâng kính Đức Mẹ.  Và kìa một sự lạ lùng đã làm chính Đức Gioan Phaolô II và tất những người chứng kiến không khỏi sửng sốt và kinh ngạc, là đầu viên đạn mà ngài mang theo kia khi được gắn vào một lỗ hổng duy nhất còn sót lại ở mão triều thiên trên đầu tượng Đức Mẹ Fatima, mà các đoàn thể phụ nữ Bồ Đào Nha đã dâng cúng cho Đức Mẹ vào năm 1946, thì hoàn toàn vừa vặn như thể người ta đã cốt ý làm cái lỗ hổng đó sẵn cho viên đạn vậy.

duc-phao-lo-2
Và đây là bức ảnh mới được công bố gần đây, cho thấy sự can thiệp nhiệm mầu của Đức Mẹ Maria vào ngày Đức Giáo Hoàng Gioan Phao-lô bị ám sát, ngày 13 tháng 5 năm 1981

Chúng ta không hiểu tại sao Đức thánh Cha Gioan-Phaolô II đã muốn cất dấu tấm hình chụp nầy trong nhiều năm.  Vatican đã vừa mới công bố tấm hình chụp nầy lần đầu tiên.  Tấm hình được một vệ sĩ của Người chụp ngay chính lúc Đức Thánh Cha bị tấn công và đang ngã xuống trong chiếc xe đặc chế (papamobil) của Người.  Các bạn có thể nhìn thấy đau đớn hiện trên mặt Người.

Joaquin Navarro Valls, phát ngôn nhân Toà Thánh vào thời gian đó, đã tuyên bố người ta mất nhiều năm để nghiên cứu tấm hình chụp khó tin nầy và tất nhiên là về chất lượng rửa hình, vì khi được chuẩn bị kỹ càng, không ai có thể nhìn rõ ràng bởi vì tấm hình không sáng sủa.  Cuối cùng, sau nhiểu kiểm duyệt và tìm tòi, dưới sự kiểm soát của các chuyên gia nhiếp ảnh trên thế giới, họ đã quyết định không hề có “giả mạo’ thuộc thuật nhiếp ảnh và ngày nay họ cho chúng ta món quà đẹp đẽ nầy về Mẹ Thiên Chúa.

Các bạn có thể nhìn thấy Mẹ Thiên Chúa ôm Đức Gioan-Phaolô II trong tay Mẹ.

Lm Nguyễn Hữu Thy

Langthangchieutim gởi

TÊRÊSA AVILA, TÂM HỒN NHẠY CẢM

TÊRÊSA AVILA, TÂM HỒN NHẠY CẢM

Vũ Duy Thống, Gm 

Trong kho tàng truyện kể về đời thánh nữ Têrêsa Avila, có một truyện được nhiều tác giả nhắc đến, vừa như một điển hình đời sống thiêng liêng, vừa như một tính cách rất riêng của thánh nữ.  Đó là truyện “Hèn chi Chúa có ít bạn.”   Chắc nhiều người đã biết?  Truyện kể: Trong lần xuất thần, thánh nữ nhìn thấy tình trạng tội lỗi con người xúc phạm đến Chúa ghê gớm quá, nặng nề quá.  Thế là thánh nữ buồn bã vật vã ba ngày liên tiếp không ăn uống gì.  Cuối ngày thứ ba, Chúa Giêsu hiện ra, dáng vẻ dịu hiền, an ủi bằng cách trao cho thánh nữ một miếng bánh và một ly nước.  Nhưng thánh nữ làm mặt giận chối từ.  Chúa Giêsu dỗ dành: “Con không biết rằng Cha thường đối xử với bạn bè bằng cách gửi cho họ Thánh giá sao?” Và thánh nữ trả lời: “Hèn chi Chúa có ít bạn.”   Vâng, chỉ với mẩu truyện đó thôi, có lẽ người ta cũng nhận ra tính cách của Têrêsa Avila.  Đó là sự nhạy cảm.

  1.  Nhạy cảm trước tình yêu bao la của Thiên Chúa.

Đọc Phúc Âm, ai trong chúng ta cũng biết định nghĩa nổi tiếng của thánh Gioan “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4,8), nhưng để cảm nghiệm thế nào là sức nặng của định nghĩa vắn gọn và tầm cỡ này, đó lại là chuyện không chỉ dừng lại trong ngôn từ sách vở một thời, mà còn cần đến cả một đời dấn bước kiếm tìm, thậm chí vào sinh ra tử nữa kìa.  Thánh Gioan Tông đồ được Chúa Giêsu yêu dấu, nên từ cảm nhận tới cảm nghiệm có thể là vắn gọn như chính định nghĩa về Thiên Chúa của ông, nhưng với Têrêsa Avila lại là cả một sự vật lộn giữa sóng gió cuộc đời vừa hoạt động để kiếm tìm, vừa chiêm niệm để chiêm ngưỡng.

Trên bức tượng “Ecce Homo – Này là Người” (Ga 19,5) trình bày Chúa Giêsu vì yêu thương loài người mà chịu khổ nạn, để nên tình yêu lớn nhất của người dám chết vì người mình yêu, Têrêsa đã gặp được “tiếng sét ái tình” vào năm 1545, để nghiệm ra rằng: nếu Chúa vì yêu con người mà phải chịu khổ, thì con người cũng phải làm sao đáp lại cho cân xứng, với tình yêu của Chúa dành cho mình.  Và thế là khởi đi từ sự nhạy cảm trong nhận thức ấy, thánh nữ đã tìm ra nẻo đi của riêng mình là “lấy tình yêu đáp trả tình yêu,” và cứ thế, như ngọn lửa một khi đã bừng lên thì không gì có thể dập tắt được nữa, thánh nữ làm tất cả mọi sự do tình yêu thúc đẩy và dâng hiến tất cả cho tình yêu.

Chả thế mà người ta vẫn bảo: đường nên thánh của Têrêsa là con đường “bốc lửa”: lửa chiêm niệm tìm ra ý Chúa mãnh liệt đến độ thường xuyên xuất thần mỗi khi cầu nguyện, và lửa yêu thương tìm gặp gỡ Chúa khít khao như lòng với lòng, đến nỗi có cảm tưởng rằng cuộc đối thoại giữa thánh nữ với Chúa không khác chi những lời gần gũi giữa cánh bạn bè, của người bạn dành cho bạn mình.

  1.  Nhạy cảm trước tội lỗi của con người.

Một khi đã coi “phải làm sao cho xứng với tình yêu của Chúa” như một hướng sống, một hướng nên thánh, một hướng cải cách đời tu, thì tâm hồn Têrêsa Avila bỗng trở nên nhạy cảm vô cùng trước những gì được xem là không xứng với tình yêu ấy, trong đó tội lỗi là điều đáng buồn nhất, không phải vì nó xúc phạm tới Thiên Chúa tối cao cho bằng nó phản bội lại Thiên Chúa tình yêu, Đấng đã làm tất cả vì con người và cho con người.

Phản bội trong chính trường được xem là mưu mô, phản bội trong thương trường được coi là mánh mung, nhưng phản bội trong tình trường, dù là tình Chúa hay tình người đi nữa, cũng vẫn là điều đáng buồn nhất.  Chính Chúa Giêsu đã buồn rầu hỏi Giuđa trong vườn Cây Dầu là “anh lấy cái hôn mà nộp Con Người sao?” (Lc 22,48) vì Giuđa là kẻ phản bội.  Và trong truyện “Hèn chi Chúa có ít bạn” kể trên, Têrêsa buồn bã những ba ngày liền, không phải vì tội mình mà vì tội tình của người khác, đã cho thấy một con tim nhạy cảm, không rỗi hơi thương vay khóc mướn, mà chỉ vì tê tái quặn đau thấy người ta phản bội tình yêu của Chúa, còn mình trong tư cách là bạn tâm giao lại chẳng có cách nào mà can ngăn.

Rõ ràng, Têrêsa là một tâm hồn nhạy cảm.  Từ nhạy cảm ngây ngất trước tình thương xót khôn cùng của Chúa, một tình yêu dám từ bỏ “lá ngọc cành vàng” để đành đoạn ôm lấy “phận cỏ mình rơm” cho rặm bụng một đời cứu thế, Têrêsa tự nhiên nhạy cảm khổ đau trước sự khốn cùng của tội lỗi nhân sinh, tội bạc tình, một thứ tội làm tê dại cõi lòng.  Hoá ra, ai càng nhạy cảm với tình thương xót của tấm lòng Thiên Chúa, càng nhạy cảm hơn với sự khốn cùng của tội lỗi con người.

  1.  Nhạy cảm trước đường nên thánh là đường Thánh giá.

Đã có lần Chúa Giêsu bảo “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người dám thí mạng sống vì người mình yêu” (Ga 15,13), để rồi từ đó trở thành quy luật của muôn đời cho những ai dám gán đời mình cho tình yêu Thiên Chúa hoặc mon men muốn nên bạn hữu của Ngài.  Vâng, “yêu ai yêu cả đường đi”, yêu Chúa cũng yêu cả con đường Chúa đi năm xưa là đường Thánh giá, không phải là “mười bốn chặng đường” ngắn ngủi êm ả dễ chịu trong giáo đường, mà là những cảnh đời thường lặp đi lặp lại mỗi ngày, ở đó ý Chúa như búa đập trên ý mình và ý mình như kình chống lại ý Chúa.

Nếu “yêu là chết ở trong lòng một ít”, thì yêu Chúa cũng là phải chết đi ít một trong ý riêng để ý Chúa được thể hiện từng ngày.  Như lương thực hằng ngày của “Kinh Lạy Cha” mà người theo Chúa phải làm quen dần dần từ những bước chập chững đầu tiên cho đến khi thuần thục nhuần nhị để có thể hiên ngang tiến tới trên đường trọn hảo.  Đó là đường tình yêu.  Mênh mông tình Chúa, mong manh tình người, nên cũng là đường Thánh giá, đường Thương khó.

Đó, “yêu Chúa” nói và hát thì dễ, nhưng khi dấn bước vào, người ta mới thấy những nỗi đa đoan vất vả không bao giờ hết, mà chỉ có những tâm hồn nhạy cảm mới có thể dự đoán và an tâm bước đều.  Chúa chúng ta kỳ lắm.  Người yêu những kẻ đóng đinh Người và tha thứ cho họ dễ dàng, nhưng Người lại đóng đinh những kẻ Người yêu và tặng những kẻ yêu Người Thánh giá, không chỉ một lần mà xem ra còn dai dẳng hoài hoài trong đời.  Bằng một tâm hồn nhạy cảm thánh đức, Têrêsa đã hiểu đó là lộ trình nên thánh cho bất cứ ai chọn đi theo Chúa.

Tóm lại, ba nét nhạy cảm: với tình yêu vô biên của Thiên Chúa, với tội lỗi thấp hèn của nhân loại và với bước đường Thánh giá, với tội lỗi thấp hèn của nhân loại và với bước đường Thánh giá, hy vọng đã một phần nào phác vẽ lên cách đơn giản chân dung của một vị thánh lớn, thánh Têrêsa mẹ, vị anh thư cải cách dòng Cát Minh thế kỷ XVI tại Tây Ban Nha, vị tiến sĩ đã để lại cho Hội Thánh bí quyết chinh phục đỉnh cao tình yêu Thiên Chúa, và cũng còn là vị thánh thân thương có một tâm hồn nhạy cảm phi thường muốn đem tình yêu Thiên Chúa nhân rộng đến hết mọi người.

Xin nhờ lời chuyển cầu của ngài, cho cộng đoàn Cát Minh và cho những ai chân thành yêu mến thánh nữ, được luôn nhạy cảm bền bỉ khơi lên ánh lửa yêu mến trước tình yêu Chúa, để đến khi Chúa muốn, Người sẽ cho biến thành những đám cháy kỳ diệu có khả năng thiêu huỷ tội lỗi, thanh tẩy tâm hồn và lôi cuốn người ta đến với tình yêu thánh hoá, cho dẫu trước mắt vẫn còn là ngổn ngang những Thánh giá của mùa xây dựng, nhưng trong lòng đã nóng bừng hy vọng.  Mong rằng câu nói “Hèn chi Chúa có ít bạn” không phải là một chân lý bất biến, nhưng là một câu nói đang chờ sự đáp ứng, để một khi mọi người đều nhạy cảm quan tâm trở nên bạn hữu của Chúa, thì thay vì ba ngày buồn bã, có lẽ Têrêsa Avila sẽ có nhiều lần ba ngày vui vẻ vì ngỡ ngàng thấy Chúa luôn có nhiều bạn mới.

Vũ Duy Thống, Gm 

Langthangchieutim gởi

Ban điều hành mới của Hội đồng Giám mục VN

Ban điều hành mới của Hội đồng Giám mục VN

Xuân Nguyên, thông tín viên RFA
2016-10-10

Đại Hội lần thứ XIII Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGM VN) diễn ra tại Trung tâm Mục vụ Tổng giáo phận Tp.HCM.

Đại Hội lần thứ XIII Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGM VN) diễn ra tại Trung tâm Mục vụ Tổng giáo phận Tp.HCM.

Photo courtesy of tinconggiao.org

Hội đồng Giám mục Việt Nam vừa ra mắt Ban Thường vụ và các Chủ tịch của các Uỷ ban mới cho nhiệm kỳ 2016–2019.

Niềm hy vọng cho Giáo dân

Từ ngày 3 đến ngày 7 tháng 10 năm 2016, Đại Hội lần thứ XIII Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGM VN) diễn ra tại Trung tâm Mục vụ Tổng giáo phận Tp.HCM đã thành công tốt đẹp. Ban Thường vụ và các Chủ tịch của các Uỷ ban cho nhiệm kỳ 2016–2019 đã được công bố.

Ban thường vụ mới bao gồm Đức Cha Giuse Nguyễn Chí Linh đảm nhiệm vai trò chủ tịch; Đức Cha Giuse Nguyễn Năng giữ vai trò Phó chủ tịch; Đức Cha Phê rô Nguyễn Văn Khảm đảm nhận vai trò Tổng thư ký; và Phó tổng thư ký là đức Cha Vũ Văn Thiên, và Chủ tịch các Ủy ban thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam cũng được bầu lại. Đáng chú ý là Đức cha Phaolo Nguyễn Thái Hợp tiếp tục đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Ủy ban Công lý và Hòa bình.

Từ Giáo xứ Đức Lân, giáo phận Vinh, tỉnh Nghệ An anh Chu Mạnh Sơn cho biết, Anh luôn tin tưởng vào HĐGM VN, đặc biệt qua kết quả bầu cử vừa rồi anh càng thêm vững tin và hy vọng về một giáo hội Công giáo Việt Nam đang dần khởi sắc, Anh chia sẻ:

“Đức cha Giuse Nguyễn Chí Linh được tín nhiệm, làm chủ tịch Hội đồng Giám mục, và Đức Giám mục Phao Lô Nguyễn Thái Hợp tiếp tục đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ủy ban Công lý và Hòa bình. Qua đó để thấy rằng Giáo hội đứng về phía người dân, đồng hành cùng với người dân, cách riêng là với con cái Kitô hữu. Tôi nhận thấy đây là dấu hiệu khởi sắc, để rồi Giáo hội phải là người dẫn thân, phải là người chịu đau khổ. Ta không thể định nghĩa khởi sắc là gì, nhưng ta hy vọng Giáo hội Công giáo, nhất là người mục tử phải là người sát cánh cùng đoàn chiên, chịu đau khổ cùng đoàn chiên, đó mới là Giáo hội.”

Đức cha Giuse Nguyễn Chí Linh được tín nhiệm, làm chủ tịch Hội đồng Giám mục, và Đức Giám mục Phao Lô Nguyễn Thái Hợp tiếp tục đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ủy ban Công lý và Hòa bình.
– Anh Chu Mạnh Sơn

Là một người con thuộc giáo phận Thanh Hóa, nhà hoạt động Lê Văn Sơn thấy rằng, việc có ban điều hành HĐGM VN mới sẽ đem lại sự gần gũi giữa người mục tử và cộng đồng dân Chúa, người mục tử sẽ đồng hành, chịu đau khổ cùng với người dân Việt Nam, đặc biệt là những ki tô hữu. Anh nhận định:

“Có Đức cha Linh, Đức Cha Hợp, Đức Cha Thiên, Đức Cha Năng… Chúng ta nhớ lại một chút, từ lâu nay những quý Đức Cha này đã lên tiếng cho những sự việc xảy ra trong Giáo hội, cũng như xã hội ở Việt Nam. Các Đức cha đều luôn luôn lên tiếng bênh vực cho người nghèo, người bị áp bức và bất công… Đoàn dân Chúa đang chờ đợi các Đức Cha giải phóng con cái của mình khỏi ách xiềng gông của tội lỗi và thế lực vô thần”.

Khi biết được tin HĐGM VN có ban điều hành mới và Đức Cha Phaolo Nguyễn Thái Hợp tiếp tục được làm chủ tịch Ủy ban Công lý và Hòa bình. Không giấu được cảm xúc, ông Nguyễn Thành Lạng – Hội đồng Mục vụ giáo xứ Quý Hòa, Kỳ Anh chia sẻ:

“Bác là một người giáo dân, một người con cái của Ngài, bác rất mừng. Bác vẫn dâng lời cầu nguyện, dâng kinh nguyện cầu xin Chúa soi sáng cho các Ngài sáng suốt, dẫn đường cho con cái trong giáo phận nói riêng, cũng như người Công giáo Việt Nam nói chung để đưa Giáo hội Công giáo đi lên, để có tiếng nói của Ngài, Ngài bảo vệ công lý và hòa bình, Ngài giúp đỡ con cái Giáo hội Việt Nam”.

Từng bị tù đày vì bày tỏ quan điểm, cựu tù nhân Lê Văn Sơn cho biết, khi anh và 14 Thanh niên Công giáo bị bắt, Đức cha Nguyễn Chí Linh đã tìm mọi cách để lên tiếng cho anh bạn bè. Cho nên anh rất tin rằng, Đức cha Nguyễn Chí Linh sẽ luôn đứng về phía những người nghèo khổ, những người cùng cực trong xã hội, bởi vì Ngài là một người con của xứ Ba Làng, và đã từng bị tù đày dưới chế độ này chỉ vì dạy Giáo lý, và vì thế nên Ngài quá hiểu bản chất của chế độ Cộng sản. Anh Lê Văn Sơn chứng minh điều đó qua lá thư chung của HĐGM VN mà Đức cha Nguyễn Chí Linh đảm nhiệm vai trò chủ tịch:

“Thư chung của HĐGM VN gửi Cộng đồng dân Chúa nói rằng, HĐGM VN ước mong được chia sẻ trong sự ưu tư và lo lắng của cộng đoàn dân Chúa và người dân Việt Nam nói chung. Và chỉ ra được những hiện tình của đất nước, tức là những lo lắng, băn khoăn, âu lo trước tình hình đạo đức xuống cấp trầm trọng, tội ác gia tăng, rồi nạn phá thai, nghiện ngập, rồi quốc nạn tham nhũng đang trở nên trầm trọng, tiếp đến là hạn hán, ô nhiễm môi trường biển tại miền Trung… Tôi thiết nghĩ rằng đây là một bức thư chung (sau năm 1975 đến bây giờ) rất là cụ thể, tỉ mỉ để nói lên thực trạng của xã hội và các ngài đã can đảm nhiều hơn, đã truyền tải tinh thần của các ngài đến cộng đồng dân Chúa nhiều hơn”.

Tương tự, anh Chu Mạnh Sơn cũng từng bị nhà cầm quyền Hà Nội bỏ tù vì bày tỏ quan điểm của mình, trong thời gian bị giam giữ, Đức Giám mục Phaolo Nguyễn Thái Hợp, Ủy ban Công lý và Hòa bình giáo phận đã nhiều lần lên tiếng cho anh và những người bạn. Đặc biệt qua sự kiện Formosa Hà Tĩnh, anh càng mong muốn được đồng hành với Ngài nhiều hơn. Anh nói:

“Thời gian gần đây, khi Ngài hiểu về bản chất cộng sản, và bản chất của nhà cầm quyền, nên Ngài đã có thái độ cứng rắn, yêu cầu nhà cầm quyền phải tôn trọng người dân, tôn trọng những đàm phán giữa hai bên và bắt buộc họ phải thực thi. Với tư cách là giáo dân Giáo phận Vinh, tôi luôn ủng hộ trước những phán quyết của Ngài”.

Giáo dân hy vọng gì?

Chia sẻ về những mong muốn HĐGM VN sẽ làm gì cho Giáo hội Công giáo Việt Nam và người dân Việt Nam?

Từ trung tâm ‘thảm họa ô nhiễm môi trường biển’ Vũng Áng, Kỳ Anh, ông Nguyễn Thành Lạng mong muốn:

Có Đức cha Linh, Đức Cha Hợp, Đức Cha Thiên, Đức Cha Năng… Chúng ta nhớ lại một chút, từ lâu nay những quý Đức Cha này đã lên tiếng cho những sự việc xảy ra trong Giáo hội, cũng như xã hội ở Việt Nam
– Anh Lê Văn Sơn

“Chẳng những bác nói riêng mà tất cả mọi người Công giáo trong nước Việt Nam nói chung đều mong muốn Đức Cha, rồi các Cha đứng lên để làm sao cho Formosa: Một là rời khỏi Việt Nam, hai là đóng cửa Formosa. Ai cũng mong muốn như vậy. Đức Cha và các cha chắc chắn sẽ thực hiện ý muốn của giáo dân.”

Còn nhà hoạt động Lê Văn Sơn ước mơ:

“Chúng ta biết rằng Giáo hội Công giáo là Giáo hội sống và xây dựng Giáo hội thực tại nơi trần thế, mục đích duy nhất là phục vụ nhân vị và phẩm giá của con người. Chính vì thế, HĐGM VN đã có những hướng đi, có những suy nghĩ trăn trở đối với xã hội thì tôi tin rằng HĐGM VN truyền tải những trăn trở đó thành hiện thực. Đó chính là sự gần gũi của HĐGM VN, của các Đức Cha đối với cộng đồng dân Chúa và đối với người dân ở Việt Nam nói chung.”

Những giáo dân mà chúng tôi có cơ hội tiếp xúc đều cho biết, họ tin tưởng vào Ban điều hành mới của HĐGM VN nhiệm kỳ 2016 – 2019, và họ hy vọng rằng, HĐGM VN sẽ luôn đồng hành với giáo dân, sống và chịu đựng nỗi đau cùng với giáo dân và người dân Việt Nam, đặc biệt là ngư dân trong vùng thảm họa, bởi họ đang phải đối đầu với thủ phạm Formosa và cả lực lượng công an, quân đội hùng hậu đang ngày đêm canh giữ, bảo vệ cho công ty Formosa xả thải chất độc ra môi trường biển miền Trung.

“Tình đã len trong mầu nắng mới,”


“Tình đã len trong mầu nắng mới,”
Lòng anh buồn vời vợi em ơi
Niềm ái ân rung động trên môi
Tình đâu khôn lựa nên lời thắm tươi.”

(Nhạc: Phạm Duy/Lời: Lưu Trọng Lư – Thú Đau Thương)

(Rm 5: 2-5)

 Trần Ngọc Mười Hai

Vào lúc bần-đạo ngồi viết những giòng chữ này, thì bên ngoài trời đất rất Sydney đang đi vào những ngày đầu Xuân, tiết trời thật dễ chịu có ánh nắng chan-hoà với không khí nhẹ êm mà lại phải nghe đi nghe lại, dù rất hay, những lời ca về một Thú đau thương” tơi bời dù thật tuyệt ở đêm nhạc “Hát Cho Nhau nghe” ở Sydney hôm 03/7/2016 như sau:


“Ðã héo lắm nụ cười trong mộng

Ðã mờ dần hình bóng thân yêu

Ðã lam tím cả cảnh chiều

Trong hồn lặng đã hiu hiu mộng tàn

Ðể gối chăn nằm yên chốn cũ

Hãy lịm người trong thú đau thương.


Tình đã không một lần nữa tới

Nhìn nhau buồn vời vợi em ơi

Rượu ái ân em cạn trên môi

Lệ anh xin nhỏ nên lời đắng cay.

 

Hãy xếp lại muôn vàn ân ái

Ðừng thương nhau đừng ái ngại nhau

Thuyền yêu không ghé bến sầu

Như đêm thiếu phụ bên lầu không trăng

Thành kiếp sao còn băng mãi mãi

Ðể lòng buồn mãi mãi không thôi.”

(Phạm Duy/Lưu Trọng Lư – bđd)

“Kiếp sau không còn băng mãi mãi, để lòng buồn mãi mãi không thôi” ư? Khiếp! Sao mà buồn đến thế? Phải chăng là, “thú đau thương” vẫn là cái thú rất buồn sầu của đời người, rất nên nỗi?

Vâng. Thú gì thì thú, có đau thương mãi mãi hay “thuyền yêu không ghé bến sầu” đi chăng nữa, vẫn chỉ là những chuyện ở tiểu-thuyết hoặc truyện kể về cuộc đời chứ chẳng phải là cuộc đời chính-hiệu, mãi thế đâu. Không tin ư? Mời bạn và mời tôi, ta cứ ghé mắt nhìn vào Lời Vàng bậc thánh-hiền từng khẳng-định, như sau:

“Nhưng không phải chỉ có thế;

chúng ta còn tự hào khi gặp gian truân, vì biết rằng:

ai gặp gian truân thì quen chịu đựng;

ai quen chịu đựng, thì được kể là người trung kiên;

ai được công nhận là trung kiên, thì có quyền trông cậy.

Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng,

vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Ngài vào lòng chúng ta,

nhờ Thánh Thần mà Ngài ban cho chúng ta.”

(Rôma 5: 2-5)

Tương-quan ta có đối với nhau, không chỉ là các giao-dịch qua đó ta chuyển-tải cho nhau các sự/việc cùng lợi ích rất tích-cực mà thôi. Nhưng còn là chốn miền trong đó người người hành-xử với nhau và cho nhau rất độ-lượng theo cung-cách cho đi chính con người mình. Và, người người còn đại-độ đến mức-độ tha-thứ cho nhau khi gặp sự xấu mình vẫn áp-đặt vào nhau và cho nhau như thế.

Tương-quan ta có với nhau như thế, sẽ là và vẫn là những gì duy-trì được tình-yêu thương/mẫn cảm của con người đối với con người, trong mọi tình-huống cuộc đời, rất hôm nay.

Có tương-quan là có đời sống chung-đụng giữa người cận thân và cận lân, không phải lúc nào cũng tốt đẹp, hoặc trôi chảy như truyện kể ở bên dưới:

“Tôi đón cha lên thành phố. Nếu nói là đón mẹ lên thì thích hợp với hoàn cảnh hơn. Nhưng mẹ tôi đã xa cõi đời từ lúc tôi lọt lòng. Sự ra đi của mẹ, trong thâm tâm tôi vẫn luôn là một sự đánh đổi quá khắc nghiệt của tạo hóa, mà nỗi đau đớn còn dành lại một vị đắng ở đầu môi. Và người ở lại phải sống tốt cho cả hai phần đời. Tôi đã có thật nhiều cố gắng.


Cha tôi, người đàn ông lam lũ. Cha gầy, gầy lắm, mà không phải chỉ gầy do sức khỏe, mà thời gian đã ngấm dần trong từng thớ thịt cha, già cỗi và yếu ớt. Người đàn ông cô độc ngần ấy tháng năm của tôi.


Bao nhiêu lần ôm cha ngủ. Từ bé, lúc lớn lên đi xa trở về, hay khi tôi đi làm có tiền thường gọi điện cho ông:“cha, lên thành phố với con, con lo được mà”. Ông hỏi dò “có thiệt không đó, cu con, không để tiền cua gái hả?” Rồi ông cười khà khà. Hôm sau đã có mặt ở nhà tôi. Mang nào gà, nào vịt, nào trái cây. Và không quên mang theo một cúc rượu để cha con nhâm nhi.

 Nhưng sao lần này, nằm cạnh ông, nhìn ông ngủ, tôi …tôi không diễn tả nỗi cảm xúc của mình. Nước mắt ở đâu cứ như nước sôi đang đun trào, cứ thế đẩy vung mà ra. Chắc vì tôi mới được làm cha, chắc lẽ thế.


Tôi lấy vợ rất muộn. Vợ là người thành phố, con nhà danh giá. Nhưng với nỗ lực và cố gắng của mình, tôi độc lập về kinh tế, không phải dựa bóng nhà vợ.


Khi mọi người quây quần quanh thằng Mỏ(con trai yêu quý của tôi), nhìn nó kháu khỉnh đáng yêu quá. Nhà vợ rất đông người tới. Ai cũng đòi được bế thằng Mỏ nụng nịu. Bà ngoại thằng Mỏ (là người rất khó tính) nói “ông Nội bế cháu đích tôn một chút này”, cha đưa tay ra định bế thì bà ngoại khựng lại.


“Trời ơi, tay ông nội sao thế, thế thì hỏng da của cháu mất….”. Bà ngoại giữ thằng Mỏ lại trong lòng, vừa nói vừa nhìn bàn tay cha tôi dò xét.


“Ờ….vâng, tôi lỡ…để tôi…đi rửa..”. Cha tôi ấp úng rồi đi ra nhà sau để rửa tay.


“À, chắc ông mới làm than đó má”. Tôi nói đỡ, rồi theo cha ra sau. Mọi người lại xúm lại đòi bế thằng Mỏ. Cha tôi rửa tay, và đúng là ông làm than thật. Tức là ông phơi mớ than củi mang từ quê lên để cho vợ tôi nằm hong, khỏi nhức mỏi đau lưng sau này. Nhưng ông làm xong từ sáng sớm rồi kia mà, lẽ nào cha tôi đã già nên lẫm cẫm rồi, chẳng còn nhớ mà rửa tay nữa. Cha ơi…


Thấy ông đứng cặm cụi rửa tay, khó nhọc. Tôi tiến lại “cha, để con rửa cho cha”.

 “Thôi đi cu con, hồi bé cha rửa tay rửa chân cho mày, giờ học đòi à, nhưng chưa đến lúc đâu….”.
“Đưa con coi nào”, tôi giằng lấy tay ông. Trời ơi, hai bàn tay ông chai sần, những lớp da bị tróc mẻ, nham nhỡ đỏ lừ.


“Cha bị sao thế, cha đừng rửa bằng xà bông nữa”…Tôi nói.

“Ờ, hồi trước, hồi trẻ ấy, cha mày đi xây, bị xi ăn, bị dị ứng. Hôm qua tao thấy trước sân nhà mày có chỗ bị hỏng, tao hòa ít xi gắn lại. Ai ngờ lâu thế mà nó cũng bị lại…”


Ông nói rồi lững thững đi vào. Vừa đi vừa chùi chùi hai bàn tay vào áo, cái dáng còng còng như oặn trĩu bởi yêu thương. Cha bước đi không còn vững nữa rồi, năm tháng ơi.…..


Là trưởng phòng kinh doanh một công ty, tôi đi tối ngày, tranh thủ chạy về lúc trưa, lúc tối muộn. Nên cha làm gì, mọi người làm gì tôi cũng không rõ hết. Nhà tôi ở ngoại ô. Có một khoảng sân nhỏ, trồng một ít cây cối. Trong những tháng ngày này, được làm cha, được sống trong cảnh gia đình sum vầy thế này. Tôi ngỡ cuộc đời như một giấc mơ. Hay đúng hơn là cuộc đời ai rồi cũng đến lúc sống đúng như một giấc mơ, khi đã cố gắng thật nhiều.


Từ chuyện bàn tay, mà cha chưa bế cháu Mỏ một lần nào. Không chỉ vì ánh mắt e dè của bà ngoại thằng Mỏ. Mà có lẽ ông tự ái(bệnh người già mà), ông muốn mọi người được vui. Và hơn hết ông thương thằng Mỏ, như bà ngoại nói “da cháu còn nhạy cảm, như thế là không tốt”. Tôi cũng chỉ im lặng. Vì nghĩ mọi thứ đều hợp lý. Hay tại vì cha là đàn ông(yêu thương để trong lòng), ít ra cha cũng không như bà ngoại, khi một ngày không ẵm thằng Mõ vài lần nũng nịu là ăn cơm không nổi.


Thế là cha tôi, ngày ngày lầm lũi ngoài khoảng sân nhỏ. Ông nấu nước Vằng (một loại lá cho người đẻ uống rất tốt), ông quét sân, thỉnh thoảng qua chỗ mấy ông già cùng khu phố ngồi chơi. Rồi lại thỉnh thoảng về ngắm thằng Mỏ. Vợ tôi còn bảo “ở nhà ông còn giặt cả tả, quần áo cho Mỏ”.

 Mặc dù có bà ngoại, hay mấy cô em vợ tôi, mà họ toàn giặt máy. Nhưng khi chưa kịp bỏ vào máy là ông lại bê đi giặt tay. Bà ngoại cũng không muốn ông phiền lòng, nên cũng đành im lặng. Nhưng tôi biết sau đó bà ngoại lại lén bỏ vào máy giặt lại, may mà bà không để cha biết….


Thời gian cứ thế trôi đi, cuộc sống bình lặng êm đềm. Nhưng tình cảm trong tôi đang dậy sóng, vì từ Cha thiêng liêng, mỗi lúc vợ hay bà ngoại bế thằng Mỏ đều chỉ vào tôi bảo “gọi ba đi, ba ba, ba ba”. Thằng bé chỉ nhìn rồi cười, đáng yêu vô vàn vô tận.


Cho đến một ngày, khi tôi đang đi công tác tỉnh, vợ gọi điện “chồng, về nhà đi, ông nội vào viện rồi”. Tôi về ngay, về liền. Cha tôi đứng lên chiếc ghế đẩu để phơi tả cho thằng Mỏ, bị trượt ngã. Khi tôi về đến nơi ông đã tỉnh, bác sĩ bảo chỉ bị chấn thương nhẹ, cần điều trị vài ngày là hết. Tôi thở phào. Bà ngoại và vợ nhìn tôi ái ngại.


Tôi về nhà lấy đồ cho cha. Tôi lục túi của ông. Một ít quần áo, một tút thuốc quê đã hút phần nữa (cha tôi nghiện thuốc lá). Và…một cuốn sổ, nhỏ bằng lòng bàn tay, màu nâu cũ kỹ, một chiếc bút được kẹp ở giữa. Tôi tò mò, tôi mở nó ra, mở ngay trang đang kẹp bút. Tôi đọc:


“Vậy là cháu nội tôi đã chào đời được một tuần. Nhìn con trai vui, mới biết mình đã già, đã sống hết phần đời mình mất rồi. Buồn vui lẫn lộn. Khi về bên kia gặp vợ, có thể an lòng. Nhưng mà sao già này buồn quá. Muốn được ôm thằng Mỏ vào lòng quá. Mà….Già này nhớ những tháng ngày xưa, khi vợ bỏ lại hai cha con ra đi, một mình nuôi con trai. Một mình bế nó trên tay, một mình cho nó uống sữa, một mình ru nó ngủ, trong đêm thâu. Ôi mới như hôm qua đây thôi, mà sờ lên mái tóc đã bạc trắng mất rồi. Con trai à, cháu Mỏ à, già này yêu hai cu lắm….Bàn tay chết tiệt này,sao mày lại giở chứng đúng lúc thế….”


Tôi lật tiếp những trang viết đầu, những ngày tháng đầu đời:

“Vợ anh nhớ em, nhớ nhiều…anh không có gì để ví được”….

“Em yên lòng, anh sẽ nuôi con, anh sẽ sống cho cả hai cuộc đời, anh sẽ làm được…”
“Vợ, anh không chịu được nỗi đau này…..”

“Vợ ơi…”


Dài lắm, tôi đọc mãi, đọc mãi, đến lúc những dòng chữ ngoệch ngoạc của cha nhòa đi bởi nước mắt tôi nhỏ xuống. Tôi mới dừng lại. Cha viết nhật ký. Ông giấu tôi kỹ quá, giấu tài quá. Đàn ông như cây Lim cây Táu, mà tâm hồn ông như Liễu như Mai, rũ xuống vì yêu thương, rũ xuống vì tình cảm, rũ xuống vì cô độc. Ôi, cha già của con!


“Anh ơi làm gì lâu thế, làm đưa đồ vào cho nội thay đi, anh còn ngủ ư”. Vợ tôi kêu vọng lên lầu.

“Ờ…anh biết rồi….”. Tôi quẹt nước mắt. Gấp nhật ký của cha, bỏ lại cẩn thận.


Tôi phải lén đi ra, bởi không muốn ai nhìn thấy mình đang khóc, rồi phi ngay xe tới bệnh viện. Cứ tưởng được làm cha, cảm thấu được nổi thương xót khi cha mình đã ở tuổi xế chiều. Nhưng mà, thực sự giờ tôi mới nghiệm ra một điều, là với cha mẹ, dù mình có đi mòn cả lối đời cũng không thể nào thấu hết những tình thương yêu mà họ dành cho con cái. Không thể hết được đâu. Cho nên, dù ở vị trí nào, cũng chỉ biết sống cho tốt, cho thật tốt, thế mà vẫn cảm tưởng như tình cảm mình đáp lại cho mẹ cha cũng chỉ là gáo nước giữa đồng khô nắng cháy mà thôi. Những hình ảnh về cha hiện lên trong đầu, mắt tôi đỏ ngầu hoen lệ, chứa chan.


“Cha…”, tôi mở cửa phòng bệnh viện.

“ Gì đấy cu con, cha đây mà, cha có trốn đi đâu chớ, cái thằng này”. Cha vẫn gọi tôi như thế. Cả phòng bệnh đông lắm. Cha tôi ngồi dựa vào tường, tay đưa gói bánh cho đứa trẻ con ai ở giường bên, cha bụm bụm vào má nhóc con đó.


Tôi chạy lại, mặc kệ ai nhìn, mặc kệ là gì đi nữa, tôi ôm lấy cha. Tôi quay mặt vào tường, cho những giọt nước mắt lăn chảy không ai thấy, tôi nói trong tiếng nấc:


“Cha, xin lỗi cha, con đã quên……”.

Bệnh viện, âm thanh ồn ả vốn dĩ, mà sao tôi nghe yêu thuơng đập đầy nơi tim. …….

 

Đúng thế. Có trở-thành người cha, mới thấu-hiểu được lòng của Ông/Bà như câu truyện ở trên. Về lại với Đạo Chúa, niềm tin chỉ có được cách vững-chãi một khi ta nếm trải và thấy được Thiên-Chúa ngang qua các ẩn-dụ như thể Chúa đang đi cạnh ta, kể truyện và nếm được mùi vị ngọt-ngào của Ngài và ta được tháp-nhập vào với Chúa, như đoạn trích-dẫn dưới đây:

“Rất nhiều lần, ta cứ bị rơi vào bẫy-cạm của ngôn-ngữ nên đã sử-dụng đường lối rất thân quen về những chuyện đại loại như thế. Nhưng, tất cả vẫn là giòng chảy, không đổi thay. Và, ta không thể bắt chụp hoặc giữ chặt nó được. Đó, là thứ không-gian lưng chừng ở ngưỡng cửa phía dưới thấp, tục gọi là Chora (tức chốn miền thị-trấn rất quê nhà). Và khi đó, lại như thể có người đi bên cạnh cứ nói chuyện dụ-ngôn cho mình thưởng-lãm. Đây, là cảm-nghiệm về sử-dụng ngôn-ngữ một cách rất khác hẳn. Kiểu cách này, thường khiến ta bị xúc-động đến độ phải ngồi xuống một chốc lát, chẳng nói gì.

 Thế đó, là phản-ứng “nội-tại”, rất chức-năng. Người kể, lại sử dụng từ-vựng hoặc tuyên ngôn cùng dấu hiệu theo cung-cách riêng-tây của họ. Tức, đã ngưng không còn theo kiểu-cách của người kể hoặc sử-dụng ngữ-pháp theo phương-thức bình-thường nữa, nhưng lại nhìn thẳng mặt vào nữ-thần Medusa để thấy như thể bà ta vẫn chưa chết, nhưng rất đẹp. Và, miệng bà cười rất tươi, như reo vui thật diễm kiều… (x. Helene Cixous,The Laugh of Medusa). Kể truyện dụ-ngôn theo kiểu như thế, sẽ đặt mọi người vào trạng-thái có chút “nếm trải” cũng rất hay.” (X. Lm Kevin O’Shea CSsR, Niềm Tin: Nỗi-Niềm của Con Tim, Chương 2 Phần Iwww.giadinhanphong.com)

Và, nếm trải niềm tin-tưởng như một cảm-nghiệm khác theo nhận-định của đấng bậc trên ghi như sau:

“Các sử-gia xưa nay thường triển-khai ý-nghĩa của “viễn cảnh”. Đó là ảnh-hình mang tính thị-giác bao hàm một luận-cứ rất ưu-việt. Đôi lúc, nó rất xa vời lại không có rào cản nào xuất hiện ở chính giữa. 

Thật ra thì, sử-gia nhà ta lại ưa-thích lối viết đầy ẩn-dụ nhằm nắm-giữ sự vật xa vời qua một chọn-lựa mang sắc-mầu riêng-tư, đầy ẩn-dụ ức. Đó, là thực-tại khác hẳn tầm-nhìn của người ở vị-thế đứng trụ mà quan-sát. Tất cả, đều nhận ra điều này khi xem xét sự-việc theo “viễn cảnh” cũng rất thật. 

Có vị coi đó là chuyện “nếm trải”, tức: sử-dụng thứ ẩn-dụ khác hẳn. Bởi, “nếm trải” chẳng làm sao có được nghĩa đúng-đắn của thứ ngôn ngữ ta thường dùng. Xưa nay, ta vẫn ưa vẫn thích “mùi ngon/vị ngọt”, nhưng không “nếm trải” được gì, nếu không đưa nó vào miệng rồi nuốt ực, ngõ hầu thưởng thức nó cách tận tình. Và khi đó, ta lại sẽ kêu lên: “Ôi chao là ngọt!” hoặc: “Úi chà! Sao mà đắng thế?” Hoặc: “Cay ơi là cay!”… Cũng có thể, chất ta “nếm trải” lại không thuận/hợp với ta; hoặc: ta chẳng ưa thích nó chút nào. Vấn đề là: mùi ngon/vị ngọt ấy, sẽ loại bỏ mọi khoảng cách, để rồi có người lại dõng-dạc tuyên-bố: “Ăn gì, bạn sẽ là người ấy!” 

Thời Trung-cổ, truyền-thống phổ-đại chuyên sử-dụng ngôn-ngữ ẩn-dụ, như từ-vựng “nếm trải” ta nghe/biết về Chúa. Đây, là khía-cạnh phổ-cập cũng rất thường, vào buổi trước; tức: thời, mà con người có “cảm-giác linh-thiêng” như vật-thể hữu-hình, tựa hồ như thế. “Cảm-giác linh-thiêng”, điều-động bằng giác-quan tổng-thể hệt như một giao-hưởng-khúc gồm đủ mọi giác-quan thay cho ẩn-dụ. Chìa khoá chính cho giác-quan tổng-thể này, không là thị-kiến tạo nên vị-giác tổng-hợp, nhưng là thứ vị-giác thiêng-liêng linh-đạo. Xem như thế, ta trở thành bản-vị có đính-kèm vật-thể mà ta lĩnh-hội được theo cung-cách linh-thiêng giống hệt như thế. 

Nói tóm lại, Chúa để lại “mùi ngon/vị ngọt” nơi ta. Chúa có “mùi vị ngon ngọt” của riêng Ngài, ở mọi thời. Truyền-thống nhận định theo giác-quan như thế lại rực-sáng hơn, khi các đan-sĩ khổ-hạnh như người anh em hèn mọn Dòng Xitô lưu ý (đặc biệt là thánh Bernađô thành Clairvaux, đấng thánh hiền lành được biết nhiều dưới danh hiệu là “Tiến-sĩ-Mật” rất nổi cộm mà anh em đồng môn gọi ngài bằng danh-xưng rất gọn như: “Mật Huynh” cho “tiện bề sổ sách”; và truyền thống này, lan tràn sang các nữ-tử dòng Bê-ganh cũng như các tu-sinh dòng nữ ở mạn Bắc nước Đức, rất đặc biệt.” (Nguồn:“Hãy nếm và xem Thiên Chúa ngọt ngào dường bao.”(Tv 33: 9): The flavour of God in the monastic West,Rachel FultonJournal of Religion vol. 86, N.2, p. 169-ff)

Và, thêm một “nếm trải” khác cũng lạ-kỳ không kém, vẫn được đấng bậc ở trên khẳng-định rằng:

“Ẩn-dụ “nếm trải” được diễn-tả như vui thích, thoải mái mang tính-chất rất chữa lành ngõ hầu dẫn đưa người hiệp-thông rước Chúa sẽ được tháp-ghép vào cơ thể Ngài để gắn bó cho chặt. Tin như thế, là hiểu rằng: để được sống còn, ta cần có và cần chọn cảm-giác ngọt ngào, vẫn rất ngon. Ta còn tiến xa nhiều hơn là chỉ “nếm trải” Chúa rất đích thực, đến độ ta trở nên giống như Chúa. Trở nên con cái của Chúa. Bởi, khi có được sự khai sáng ấy, đã thấy nhiều người có được chọn lựa cả về thị giác lẫn vị-giác, tức tập trung không chỉ vào “nhãn quan”, mà thôi. Một khi ta gặp loại hình thực phẩm mới mẻ nào đó và được mời ăn thử, thì cũng sẽ có đổi thay cũng rất mới.

 Như thế là, ta có thể tháp-ghép vào chính con người mình những gì khả dĩ giết chết hoặc chữa lành, những gì làm cho ta thêm bệnh hoạn hoặc nuôi ta cho tốt. Có chuyện ngộ nghĩnh là chất đường ngọt ngào lần đầu tiên được sản xuất theo số lượng lớn lao, là vào thế kỷ thứ 19-20 tại Anh quốc và nước Mỹ: cũng vào thời bấy giờ người người đã thấy mất mát đáng kể về tôn-giáo, lẫn niềm tin.

 Ngôn-ngữ sử dụng cho giòng chảy ở dưới mang một chút dáng dấp có hơi Mỹ-quốc, nhưng cũng là lập trường đáng để ta quan tâm.” (X. Lm Kevin O’Shea CSsR, bđd)

Thế đó là những ví-dụ cụ-thể về tương-quan có “nếm trải” ở cuộc đời con người. Tương-quan giữa người với người được diễn-tả bằng những lập-luận về đạo-đức, triết-lý, và cả đến truyện kể ở chốn dân-gian phàm trần nhiều trải-nghiệm. Tương-quan ấy, còn được toả-lan rộng khắp bằng 4 bộ-môn nghệ-thuật như cầm, kỳ, thi, hoạ. Chí ít là, thi-ca và âm-nhạc như ca-từ được dẫn sau đây:

“Tình đã len trong mầu nắng mới,”
Lòng anh buồn vời vợi em ơi.
Niềm ái ân rung động trên môi,
Tình đâu khôn lựa nên lời thắm tươi.

Ðã héo lắm nụ cười trong mộng

Ðã mờ dần hình bóng thân yêu

Ðã lam tím cả cảnh chiều

Trong hồn lặng đã hiu hiu mộng tàn

Ðể gối chăn nằm yên chốn cũ

Hãy lịm người trong thú đau thương.


Tình đã không một lần nữa tới

Nhìn nhau buồn vời vợi em ơi

Rượu ái ân em cạn trên môi

Lệ anh xin nhỏ nên lời đắng cay.

 Hãy xếp lại muôn vàn ân ái

Ðừng thương nhau đừng ái ngại nhau

Thuyền yêu không ghé bến sầu

Như đêm thiếu phụ bên lầu không trăng

Thành kiếp sao còn băng mãi mãi

Ðể lòng buồn mãi mãi không thôi.”

(Phạm Duy/Lưu Trọng Lư – bđd)

 Quyết thế rồi, nay mời bạn/mời tôi, ta cứ thế mà hiên-ngang tiến về phía trước mang theo trong mình những quan-điểm/lập-trường mình sẵn có. Để rồi, sẽ cùng người anh người chị ở thánh-hội Nước Trời mãi mai vui tươi thực-hiện một sống đạo rất tuyệt vời.

Thế đó, là ý/lực xin được gửi tới mỗi người và mọi người thích đọc những giòng chảy rất phiếm, hôm nay và mai ngày, trong cõi thế.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn chỉ muốn chuyển-tải

Những gì mình tâm-niệm

Bấy lâu nay

Mà thôi.

Đạo tại Tâm

Đạo tại Tâm

Dongten.net

dao-tai-tam

“Đạo Tại Tâm” là câu nói cửa miệng của nhiều người xưa nay, nó đã trở nên một thành ngữ phổ biến trong dân gian, từ người bình dân cho đến người có học. Nó quá quen thuộc đến nỗi người ta đã hiểu sai cái ý nghĩa đích thực của nó, rồi mỗi người hiểu theo ý riêng của mình, sinh nhiều lạm dụng và tranh cãi, cho cả người ủng hộ lẫn người phản đối.

CÁCH HIỂU ĐẠO TẠI TÂM NƠI MỘT SỐ NGƯỜI

Người ta hiểu “đạo tại tâm” nhiều cách khác nhau, đôi khi trái ngược nhau. Có người hiểu Đạo là giữ trong lòng chứ không cần thiết phải phô trương bên ngoài. Người khác lại hiểu giữ đạo cốt ở tâm hồn, còn cái bề ngoài chỉ là phụ thuộc, có cũng được, không có cũng chẳng quan trọng. Lại có cách hiểu Đạo là cái lõi, kiểu giữ đạo là vỏ, chỉ là phụ, nên cái vỏ chỉ có giá trị nhất thời. Cũng có người hiểu Đạo Tại Tâm là cách ngụy biện của kẻ “vô đạo”, cho rằng giáo lý tôn giáo của họ không có chuyện Đạo Tại Tâm. Một cách hiểu dung hòa cho rằng Đạo (tại tâm) là nội dung, còn giữ đạo là hình thức, đạo chú trọng về nội dung nên nói vậy, nhưng cần có cả nội dung lẫn hình thức mới được hoàn hảo. Và còn nhiều cách hiểu khác nhau, tùy theo ý niệm hoặc thành kiến để hiểu Đạo và Tâm theo nhãn quan của mỗi người .

Người đả phá việc theo “đạo tại tâm” cũng tìm những lý lẽ, viện những câu chuyện ví dụ làm luận cứ cho cái tiền đề khá mơ hồ theo cách hiểu của họ. Khái niệm hoặc định nghĩa về Đạo Tại Tâm không được đề ra một cách thỏa đáng, không dựa trên nguồn gốc có cơ sở trên lãnh vực đạo học và văn hóa tư tưởng, nên cách giải thích và phản bác của mỗi người khác nhau, cái lý đưa ra khiến người nghe không thỏa mãn, dù họ khó phản biện được.

Như vậy nếu hiểu Đạo, hiểu Tâm theo ý mỗi người thì không còn biết chân lý nằm ở chỗ nào, cũng chẳng nhận ra bản thể của Đạo, và cũng không tìm thấy cái Tâm Nguyên Bản của nó.

Vậy Đạo và Tâm từ đâu và bản chất của nó như thế nào?

ĐẠO VÀ TÂM

Ngoài Ấn Độ theo Ấn giáo, Do Thái giáo của Israel và một số quốc gia theo Hồi giáo, hầu hết các nước Á châu đều thấm nhiễm triết lý, tư tưởng và luân lý của Khổng, Lão và Phật. Vì vậy muốn hiểu Đạo và Tâm theo nghĩa “đạo tại tâm”, không gì hơn là tìm đến Đạo học Đông phương, nơi xuất xứ ra thành ngữ này. Nơi đây, cái gốc được căn cứ trên cơ sở của “Tam giáo Đồng nguyên”, tức Khổng, Lão và Phật.

– Nho Giáo:

Đức Khổng Tử nói: “Thiên mệnh vị chi Tánh, suất tánh vị chi Đạo, tu Đạo vị chi Giáo” (Cái mệnh Trời phú cho gọi là Tánh, theo Tánh gọi là Đạo, sửa mình cho đúng Đạo gọi là Giáo –  sách Trung Dung).

Nho giáo cho rằng theo Đạo là tuân thủ theo Thiên lý, mà Thiên lý với bản tánh con người là một, cho nên theo Đạo là cốt để sửa cái tính con người cho hợp với Thiên lý. Nên Đạo với con ngưòi là một.

Đức Khổng nói rằng: “Đạo bất viễn nhân, nhân chi vi Đạo nhi viễn nhân, bất khả dĩ vi Đạo” (Đạo không xa rời bản tánh con người, nếu theo Đạo mà để xa cái bản tánh con người, thì không phải là Đạo –  sách Trung dung).

Cũng như: “Đạo tại nhĩ nhi cầu chư viễn, sự tại dị nhi cầu chư nan” (Đạo ở gần sao lại đi tìm ở xa, sự việc dễ sao lại làm cho nó khó – Mạnh tử). Ở gần là ở trong ta (tâm), việc dễ vậy mà lại tự gây (khi hành đạo) cho nó phức tạp.

Do đó Đạo luôn gắn bó với con người, nằm trong con người, đó chính là lương tâm, thiện tánh.

Cho nên:  “Đạo bất khả tu du ly dã, khả ly phi Đạo dã” (đã là Đạo thì không giây phút nào xa lìa được, nếu xa lìa được thì không phải là đạo – sách Trung dung).

Theo Nho giáo thì Tâm và Tánh là thần minh, là linh giác của con người, cũng còn gọi là linh tâm, giác tánh.

Nho giáo xem Tâm và Tánh ban đầu vốn lành, nhưng sở dĩ con người có tâm tánh độc ác, là do càng ngày càng tập nhiễm những điều xấu, mà xa dần cái tánh bổn thiện. Nên bài học vỡ lòng của đạo Nho là: “Nhơn chi sơ, tánh bổn thiện; Tánh tương cận, tập tương viễn ” (Tánh thuở ban đầu của con người vốn lương thiện, luôn gần gũi với điều lành, nhưng vì tập nhiễm tánh xấu, nên xa dần điều lương thiện – Tam Tự Kinh).

Cũng như thuyết “Tri Hành Hợp Nhất” của Vương Dương Minh  (14721528), một nho gia nổi tiếng đời nhà Minh, Trung Quốc, nói cái Tâm là cái “Trí lương tri” của con người đã được phú bẩm, cần quay về mình (tâm) để tìm lại nó, nhờ sự soi sáng và dẫn dắt của nó mà thi hành đạo.

Vì vậy phương châm tu hành của Nho giáo dạy phải: “Tồn Tâm Dưỡng Tánh”, tức là giữ cái thiện tâm luôn tồn tại, và nuôi dưỡng cái tánh vốn lành của mình, đừng cho tiêm nhiễm những điều xấu. Nó được căn cứ trên LÒNG NHÂN (cái tâm), thể hiện qua TAM CƯƠNG và NGŨ THƯỜNG (thực hành đạo).

– Lão Giáo:

Đức Lão Tử cho Đạo là tinh thần, là Bản Nguyên của trời đất, vạn vật, nên trời đất vạn vật là bản thể của đạo, vì thế Đạo lưu hành trong vũ trụ, tàng ẩn trong muôn vật, cho nên vật nào cũng có phần linh diệu của Đạo bên trong để điều hòa, trưởng dưỡng cho nó. Đạo không có hình tướng, rất khó diễn tả, nên con người chỉ lấy Tâm để cảm nhận và hình dung Đạo mà thôi.

Còn Tâm Tánh là Thiên lương (Tâm nguyên thủy), có sẵn trong con người, còn gọi là Lương tâm và Thiện tánh, cứ nhìn thẳng trở vào Tâm Tánh của chính mình thì sẽ thấy Đạo.

Tâm Tánh có sẵn trong mỗi người ban đầu, nó hồn nhiên, vô tư vô dục, lương thiện như tâm hồn của đứa trẻ con mới sinh ra, nên Lão Tử so sánh cái Thiên lương của con người như là tâm của đứa con đỏ, gọi là “Xích tử chi tâm”. Cái Tâm phát sinh ra các tư tưởng, làm chủ cái thân, là cái hồn của con người. Nhưng trong tâm lại có động, có tịnh. Ý động thì khí hành, ý tịnh thì khí lặng, cho nên khí hành hay lặng đều từ cái Ý của Tâm mà ra.

Nhưng sở dĩ có sự biến dạng thành hung ác, là do tập nhiễm vật dục làm thay đổi từ tốt trở nên xấu. Vì vậy con người trở thành thánh nhân cũng do bởi Tâm, mà sống như thú vật cũng do cái Tâm sai khiến. Nên đường hướng tu hành của Lão giáo lấy sự hư tĩnh để tu luyện đó là: “Tu tâm luyện tánh” (sửa tâm và trau dồi tánh).

Tu Tâm là sửa lòng cho trong sạch, cốt làm cho tâm con người luôn thanh tịnh, làm chủ được bản thân mình, không để thất tình lục dục dẫn dắt. Luyện Tánh là tập cái tánh trở thành không không, đừng để ảnh hưởng bởi thất tình (hỉ, nộ, ái ố, ai, cụ, dục), lúc đó con người sẽ được cái Tâm sáng tỏ soi dẫn, hành động sẽ theo sự tự nhiên của cái lý Vô Vi, có nghĩa là không làm, tức là không can thiệp vào quy luật tự nhiên, để con người sống theo tự nhiên, để cùng với tự nhiên mà tiến hóa (vô cầu, vô tranh, vô đoạt, vô chấp).

– Phật Giáo:

Đạo đối với Đức Phật rất đơn giản, đó là “Không được bám víu vào bất cứ gì cả”, nghĩa là để cho cái Tâm trở nên hư không. Trong quá trình tu tập, Phật tử phải quay về tìm cái “Tâm Phật” của mình. Nhà Phật gọi Tâm và Tánh là Chân như, Chân tâm, Phật tánh… Trong mỗi chúng sanh đều có Chân tâm và Phật tánh. Cái Tâm Chân bất sanh bất diệt, nên cũng gọi là Thường trụ Chân tâm. Vì vậy phương hướng tu hành của Phật giáo dạy phải: “Minh Tâm Kiến Tánh”, nghĩa là làm cho sáng cái Tâm thì sẽ thấy rõ cái Tánh.

Về cái Tâm, Ðức Phật khuyên dạy chúng sinh hãy lo tu tập “Tứ Vô Lượng Tâm”, tức là “bốn thứ tâm rộng lớn không đo lường được”. Đó là các Tâm: “Từ, Bi, Hỷ, Xả”. Phật dạy hãy mở rộng bốn Tâm này, không hạn chế, cho tất cả các loài hữu sinh ở khắp bốn phương. Đây là những đặc tính giúp con người trở nên tốt đẹp, hoàn thiện, là lối sống của bậc thánh. Nếu mỗi người tự cố gắng thực hành “Tứ Vô Lượng Tâm”, không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, thành phần, đẳng cấp trong xã hội thì mỗi người sẽ trở thành một “thánh nhân” trong một thế giới hòa bình, an lạc.

Người Phật tử lấy Từ, Bi, Hỷ, Xả làm nền tảng cho sự phát triển thánh hạnh. Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị.

Người phật tử thực hành giáo lý nhà Phật gọi là “hành giả”, dù niệm Phật để thanh tịnh hư không – gỡ khỏi mọi ràng buộc – dù  hành giả ra đi để cứu nhân độ thế, cũng đều là thực hành tâm linh tìm về Chân tánh để gặp Đạo. Như vậy Đạo với đời sống tâm linh cũng chỉ là một chứ không có sự tách biệt.

– Hệ kết:

Tóm lại các pháp môn tu luyện để ngộ đạo và đắc đạo của Tam giáo tuy danh xưng và phương tiện thể hiện có khác nhau, nhưng tựu trung cũng khuyên người thực hành đạo phải:

– “Tồn tâm dưỡng tánh” đối với Nho giáo

– “Tu tâm luyện tánh” đối với Lão giáo

–  “Minh tâm kiến tánh” đối với Phật giáo

Đạo chẳng phải nơi lời nói, mà nơi kết quả sự thật mình làm, chẳng phải nơi câu kệ câu kinh mà phải thể hiện ra. Nếu chỉ nghiên cứu suông kinh điển để làm một kẻ trí đạo “năng thuyết bất năng hành” thì cũng chẳng khác gì người ngồi đó chỉ biết diễn tả phân tích đủ thứ món ăn tuyệt diệu trên đời, nhưng rốt cuộc bụng họ vẫn đói meo, hoặc như con lạc đà trên lưng mang nặng trĩu gỗ trầm hương, nhưng chẳng bao giờ nó thưởng thức được hương thơm của trầm cả. Phải biến nhận thức của mình thành hành động cụ thể. Có như vậy mới đi đúng đường và mang lại lợi ích thực sự.

Để đi vào đạo, con người chỉ cần biết thức tỉnh quay vào chính mình thì sẽ nhận ra “Chân tánh”, được “Tính bản thiện”, được cái “Thiên lương”, lúc đó sẽ được nó soi tỏ và dẫn dắt, đồng thời sẽ gặp được Đạo.

Như vậy Đạo với đời sống tâm linh là một, mà hoạt động tâm linh không hề tách biệt với đời sống thực tại, cũng như tâm linh luôn gắn liền với thể chất như bóng với hình, vì Tâm và Vật không thể phân chia. Nói cách khác, hoạt động tâm linh luôn hiện hữu trong đời sống con người, tức là đạo không lìa xa cuộc sống. Vì thế người theo đạo không có nghĩa là phải từ bỏ các hoạt động hằng ngày, để theo đuổi một cái gì xa vời ngoài cái thực tại. Sống theo đạo là sống một cuộc sống cho ra sống, đáng sống với cuộc đời, sống một cách có ý thức và chủ động trong mọi sinh hoạt, chứ không phải sống một cách máy móc thụ động.

Muốn được vậy thì con người phải lấy Tâm làm gốc, Đạo làm nền, là trung tâm trong đời sống tâm linh, mà cũng là trung tâm của tất cả hoạt động của đạo được thể hiện ra bên ngoài. Nên Đạo Nho mới nói: “Đạo bất khả tu du ly dã” (đạo không giây phút nào xa lìa được), và “Đạo tại nhĩ nhi cầu chư viễn” (đạo ở gần đừng tìm nơi xa).

“Tam giáo đồng nguyên” chính là vậy.

CÔNG GIÁO VỚI ĐẠO TẠI TÂM

Căn cứ trên Kinh Thánh và Giáo lý Hội thánh Công giáo (GLHTCG), “Thuở ban đầu con người đơn sơ trong trắng như trẻ thơ vô tội, chưa bị rối loạn vì tội lỗi. Con người sống an bình hoà hợp với Thiên Chúa, với mọi người, và với bản thân mình” (St 2).

Cũng như: “Con người đầu tiên không những được tạo dựng là tốt lành, mà còn được sống trong tình thân nghĩa với Đấng Tạo Hóa của mình, trong sự hài hòa với chính mình và với vạn vật xung quanh. Tình thân nghĩa và sự hài hòa này chỉ thua kém vinh quang của công trình tạo dựng mới trong Đức Kitô” (GLHTCG số 374).

Và: “Hội Thánh, khi giải thích một cách chính thống ngôn ngữ biểu tượng của Thánh Kinh dưới ánh sáng của Tân Ước và Truyền Thống, dạy rằng: nguyên tổ chúng ta, ông Ađam và bà Evà, đã được tạo dựng trong tình trạng thánh thiện và công chính nguyên thủy. Ân sủng của sự thánh thiện nguyên thủy đó là được tham dự vào sự sống của Thiên Chúa” (GLHTCG số 375).

Đặc biệt hơn, Sách Sáng Thế 1, 26 – 27 nói: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa. Trong các loài Chúa đã dựng nên, chỉ có con người được Thiên Chúa ban cho linh hồn thiêng liêng, bất  tử.  Nhờ đó, con người có khả năng hiểu biết, chọn lựa điều hay lẽ phải và quyết tâm loại trừ điều xấu để hướng đến hạnh phúc đích thực và trọn vẹn”. Vì linh hồn thiêng liêng, có trí tuệ, ý chí và tự do, nên con người có khả năng hướng về sự thiện đích thực và hạnh phúc muôn đời.

Cái Tâm của con người được hiểu là toàn thể cõi lòng, đó là lương tâm ngay lành, là ý chí (ý muốn), là sự tự do, trong đó có cả sự nhận thức thông qua trí tuệ của con người – vì không thể tách trí tuệ ra khỏi cái Tâm được – đã được Thiên Chúa phú bẩm trong linh hồn. Đó là hình ảnh của Thiên Chúa, dù một thai nhi hay trẻ sơ sinh cũng hội đủ tố chất của cái Tâm này.

Kinh Thánh và GLHTCG nêu trên cho biết, cái Tâm nguyên thủy của con người hoàn toàn tốt lành, thiện hảo chứ không yếu đuối, mê muội, nhiều dục vọng xấu xa… Nó được hòa nhập vào thân xác không thể phân chia, trở thành một bản tính, như GLHTCG số 365 nói: “Sự thống nhất xác hồn thâm sâu đến độ linh hồn phải được coi là “mô thể” của thân xác; nghĩa là, nhờ linh hồn thiêng liêng mà thân xác, vốn được cấu tạo bằng vật chất, là một thân xác nhân linh (corpus humanum) và sống động; tinh thần và vật chất nơi con người không phải là hai bản tính được nối kết lại, nhưng sự kết hợp của chúng tạo thành một bản tính duy nhất”.

Tình trạng ban đầu của vạn vật là tốt lành, không có đau khổ và sự dữ. Chính tội lỗi của con người đã làm hỏng sự tốt lành nguyên thuỷ và làm con người mất hạnh phúc. Tuy nhiên tình trạng đau khổ của con người không đến nỗi tuyệt vọng như người ta đáng phải chịu, bởi vì Thiên Chúa nhân từ sẽ tìm cách cứu vớt. (St 1)

Công giáo là đạo được Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa Làm Người mạc khải, gọi là Đạo Từ Trời. Thiên Chúa Là Tình yêu (Ga 4, 16), Người đã hoàn tất trong lề luật “Mến Chúa yêu Người”, nên cũng được gọi là Đạo Yêu Thương, Bác Ái. Vì vậy Đức Ái là trung tâm điểm của đạo, xuất phát từ cái Tâm yêu thương, thể hiện qua hành vi bác ái. “Nếu tôi nói được các tiếng của loài người và thiên thần, mà tôi không có bác ái, thì tôi chỉ là tiếng đồng la vang dội hoặc não bạt vang động. Và nếu tôi được nói tiên tri, thông biết mọi mầu nhiệm và mọi khôn ngoan; nếu tôi có đầy lòng tin, đến nỗi chuyển dời được núi non, mà không có bác ái, thì tôi vẫn là không. Nếu tôi phân phát mọi của cải tôi có để nuôi kẻ nghèo khó, nếu tôi nộp mình để chịu thiêu đốt, mà tôi không có bác ái, thì không làm ích gì cho tôi” (1 Cr 13, 1-3).

Cũng như, “Nước Thiên Chúa đang ở giữa các ông” (Lc 17, 21), ngoài ý nghĩa cho mọi người, còn nói lên ở trong lòng, trong tâm mỗi người nữa, nơi đó tình yêu ngự trị  trong tâm hồn mỗi người. Nước Thiên Chúa chính là mọi người yêu thương và sống bác ái với nhau, trong Đức Kitô.

Bác ái được căn cứ và xuất phát từ cái Tâm, nên câu nói “Đạo tại tâm” xuất phát từ Đạo học Đông Phương không những không mâu thuẫn hay trái với đạo Công giáo, mà nó còn am hợp một cách diệu kỳ, khá thú vị.

KẾT LUẬN

Có thể nói trong suốt dòng thời gian xưa nay, vấn đề “đạo tại tâm” luôn được nhiều người nhắc tới  như một sự “cảnh tỉnh” về đạo, với nỗi suy tư khác nhau, tùy theo góc độ nhìn nhận và hiểu biết nơi mỗi người, nhiều khi vô tình đi đến sự lệch lạc mà không biết. Chính vì vậy mới có tình trạng tự mâu thuẫn trong lý do của những người ủng hộ “đạo tại tâm”, cũng như nơi những người đả phá nó. Nếu sự nhận thức về đạo mà thiếu thành tâm thiện chí thì dễ dẫn đến cực đoan, đưa đến những ngõ ngách, sinh ra sự cố chấp vô lối, như “bốn người mù xem voi” vậy.

Như đã trình bày, Đạo và Tâm gắn liền với nhau như hình với bóng, như xác với hồn chứ không thể tách biệt. Bởi vì cái Tâm (心) mới là nơi ở (tại – 在 ) của cái Đạo (道). Mà đạo là sống, là hành, là thi thố ra bên ngoài, gọi là hành đạo (hành giả).

Còn theo sự nhận thức bình dị nhất, đạo là việc đạo đức, còn tâm là lòng dạ, nó được thể hiện trong cuộc sống. Nó cũng đúng, vẫn thuận hợp và có ý nghĩa với cụm từ “đạo tại tâm”, vì phải có lòng mới làm việc đạo đức được.

Con người theo đạo dễ lâm vào một số trường hợp, như giữ đạo theo kiểu giả hình, kiêu kỳ, vụ lợi, hình thức, lập dị, đồng bóng… Vì vậy dễ bị người khác chống đối, mà cách lên án thông thường nhất là nại vào câu nói “đạo tại tâm” để phản kháng. Cũng có những người lợi dụng câu này để che lấp, bào chữa cho những cái vô tâm và bê bối trong việc sống và giữ đạo.

Thực ra ít có người xuyên tạc hay hiểu lầm câu “đạo tại tâm” một cách thành tâm, thành thật với bản thân. Vì một khi có sự thành tâm thành ý tìm Đạo thì tự nhiên trong Tâm của con người sẽ thấy cái Đạo ló dạng, và họ sẽ không ngần ngại thi hành đạo đã chiếu soi trong tâm hồn của họ.

Như vậy, ĐẠO TẠI TÂM  (道 在 心) đã được trình bày khái quát trên cơ sở từ nguồn gốc của nó (tam giáo), cũng như xem xét qua mạc khải trong Thánh Kinh của Kytô giáo. Vấn đề đã tạm ổn trong sự nhận thức và hiểu biết hạn hẹp về Đạo và Tâm. Đây là vấn đề mà con người khó thấu triệt, dành cho các vị đã “đắc đạo” và những thánh nhân mới có thể quán thông được nó. Tuy vậy ai cũng có thể dùng cái Tâm của mình để gặp được Đạo, tùy theo cơ duyên tu dưỡng nơi mỗi người để được nhiều hay ít. Như trong Công giáo là tùy thuộc vào ân ban của Thiên Chúa, nhờ Đức Kitô, với điều kiện là phải thành tâm với chính mình để tìm đạo, sẽ gặp được hình ảnh củaThiên Chúa trong chính mình và nơi tha nhân.

Hàn Cư Sĩ

(Bài viết được tác giả gửi đến dongten.net)

Sách tham khảo:

-Tứ Thư trọn bộ (Dịch giả: Đoàn Trung Còn)

– Đạo Đức Kinh (Dịch giả: Nguyễn Hiến Lê)

– Phật Học Tinh Hoa (Nguyễn Duy Cần)

– Sách Giáo Lý Công Giáo và nguồn internet.

MẸ MÂN CÔI – MẸ CHIẾN THẮNG

 MẸ MÂN CÔI – MẸ CHIẾN THẮNG

 ĐGM Vũ Duy Thống

Lễ Đức Mẹ Mân Côi gợi nhớ về một trận chiến. Năm 1571, trước sức mạnh đe dọa của Hồi Giáo trên phần đất nước Ý, Đức Giáo Hoàng Piô V đã kêu gọi con cái mình chung sức bảo vệ.  Các vua chúa Công Giáo Châu Âu đáp lời.  Đạo binh Thánh Giá lên đường ra tiền tuyến.  Hậu phương yểm trợ bằng Kinh Mân Côi.  Ngày 7 tháng 10, kết thúc binh lửa ở vịnh Lépante, với phần thắng nghiêng về phía Công Giáo.  Người ta mở lễ ăn mừng.  Mẹ Mân Côi từ đó có thêm danh hiệu là Mẹ Chiến Thắng.

kinh-man-coi

Ngày nay, cuộc chiến mang màu tôn giáo ấy đã lùi xa vào dĩ vãng.  Đạo binh Thánh Giá cũng chẳng còn.  Nhưng vẫn còn đó danh hiệu Mẹ Chiến Thắng.  Vì thế, vấn đề không phải là mặc cảm để mà nhức nhối, hoặc háo thắng với nhiều hời hợt, mà chính là bình tĩnh chiêm ngắm chân dung Đức Maria Chiến Thắng đã được ghi dấu hiền hòa qua Kinh Mân Côi.

1) Mẹ chiến thắng trên chính phận mình.

“Kính mừng Maria đầy ơn phúc”.  Lời thiên sứ truyền tin ngày nào được đưa vào phần đầu của Kinh Kính Mừng như muốn làm nổi bật lên sáng kiến của Thiên Chúa đã thương chuẩn bị Mẹ từ thuở ban sơ cho mầu nhiệm Con Chúa làm người.  Điều này thật quan trọng và chính yếu.  Nhưng ở phần chìm của Kinh Kính Mừng, như bài Phúc Âm ghi lại, là một thái độ đáp ứng không kém quan trọng của Đức Maria đối với thánh ý Chúa.  Phần chìm ấy là tiếng “Xin Vâng”.

“Xin Vâng” là tiếng nói của một tâm hồn rộng mở vốn đã quen tìm trong suy niệm tiếng nói muôn thuở của Thiên Chúa.  “Xin Vâng” là tiếng vắn gọn như phản ứng xuất thần, mà thực ra là cả một tiến trình đòi hỏi hy sinh chính bản thân mình để đánh đổi.  “Xin Vâng” là tiếng một lần dâng lên sẽ không bao giờ rút lại, một lần đoan hứa sẽ có giá trị suốt đời, một lần cúi đầu đáp tiếng là sẽ cúi đầu chấp nhận tất cả, cho dẫu đó là bất trắc của dịp Giáng Sinh, hay là lưỡi gươm của ngày Dâng Con, hoặc là đắng cay nghiệt ngã nhất của chiều Tử Nạn.  “Xin Vâng” là tiếng hiền hòa của người khiêm nhường, chỉ dám nhận mình là tôi tớ, nhưng lại là tiếng vinh quang đưa người khiêm nhường ấy bước lên thiên chức làm Mẹ Thiên Chúa.

Rõ ràng tiếng “Xin Vâng” đã thay đổi phận đời Đức Maria.  Và ở đây, xin được gọi đó là một chiến thắng: chiến thắng của thánh ý Chúa trên cuộc đời Đức Maria đã trở nên chiến thắng của Đức Maria trên chính số phận đời thường của mình.

Vì thế, hôm nay, nếu đọc lên kinh “Kính mừng Maria đầy ơn phúc”, thì hãy vui mừng thêm nữa để nhận ra rằng ơn phúc của Thiên Chúa dẫu đã tiềm ẩn nơi Đức Maria, nhưng chỉ thực sự tỏ hiện qua tiếng “Xin Vâng”, để nhớ mãi hình ảnh Đức Mẹ chiến thắng trên chính phận mình.

2) Mẹ chiến thắng trên mỗi phận người.

“Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội”.  Phần sau của Kinh Kính Mừng là lời cầu nguyện xem ra độc lập với phần trước, mà thực ra chỉ là một tâm tình duy nhất.  Nếu phần trước là lời kính mừng Đức Mẹ Chiến Thắng trên chính phận mình để trở nên “Đức Mẹ Chúa Trời”, thì phần sau là lời kính mừng Đức Mẹ Chiến Thắng trên mỗi phận người tín hữu, qua mẫu gương trinh trong thánh đức.  Do đó, danh hiệu “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời” chính là lời kính mừng trang trọng và cao quý Giáo Hội dành cho Đức Maria.  Đó cũng là chiến thắng chung cuộc Đức Maria đã đạt được trong đời mình.

Nhưng chiến thắng vinh quang ấy chẳng những không đẩy Đức Mẹ lên cao để xa cách cuộc đời dương thế, mà ngược lại, còn đem Mẹ đến gần gũi nhân loại hơn cả bao giờ.  Vì thế, không lạ gì khi kính mừng Đức Mẹ trong vinh quang, tín hữu bỗng dưng nghĩ về đời mình, không phải để xót xa phận mình tội lỗi cho bằng cảm nhận mối tương quan “Mẹ Thiên Chúa – Mẹ Giáo Hội” một cách chân tình với lòng trông cậy.

Bên kia lời “cầu cho chúng con là kẻ có tội” là cả một tình mẫu tử thiêng liêng.  Là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ có dư thánh đức để mà chiến thắng tội lỗi, nhưng là Mẹ Giáo Hội, Mẹ vẫn liên hệ với đời tín hữu như là phần đời của Mẹ.  Nếu tín hữu nhận mình là kẻ có tội mà vẫn dám cầu xin “Thánh Maria”, và nếu ngước trông lên Mẹ thánh đức mà vẫn không ngại trình bày cuộc đời tội lụy, thì đó là vì đã tín nhiệm và cậy trông vào tấm lòng người mẹ.

Mẹ đã chiến thắng phận mình, Mẹ cũng sẽ chiến thắng trên mỗi phận người tín hữu bằng cách khơi lên sự thánh thiện cho lui xa dần những phần tội lụy.

3) Mẹ Chiến Thắng – Mẹ Mân Côi

Phác vẽ chân dung Đức Mẹ Chiến Thắng qua Kinh Mân Côi như trên, thiết tưởng cũng một phần nào đó khơi lối đi vào ngày lễ hôm nay, đồng thời muốn xác tín về vị trí Đức Maria trong mầu nhiệm Hội Thánh, và nhắc nhở gián tiếp về vai trò của Kinh Mân Côi trong đời sống mọi kẻ tin.

Mừng lễ Mẹ Mân Côi không còn là mừng về một chiến thắng quân sự nào, mà chính là mừng về một chiến thắng còn lớn lao và cốt thiết hơn ở trong tấm lòng của Đức Maria và ở trong nỗi lòng của mỗi người con của Mẹ.  Đó là chiến thắng của ơn thánh trên tội lỗi, để gợi mở những chiến thắng khác của những điều thiện hảo tốt lành trong đời sống mọi người.  Mừng lễ Mẹ Mân Côi cũng không chỉ mừng cho Mẹ mà thực ra là mừng cho mọi kẻ tin, bởi lẽ Đức Mẹ trong mầu nhiệm Giáo Hội chính là kẻ đi trước bước lên chiến thắng và vì thế, trong Chúa Kitô, Mẹ trở thành Đấng che chở cầu bầu, phù trợ cho mọi tín hữu biết cậy nhờ Mẹ khi khao khát chiến thắng của ơn cứu độ trên chính phận mình.

Và mừng lễ Mẹ Mân Côi hôm nay chính là khẳng định mối liên hệ sâu bền giữa hai danh hiệu “Mẹ Mân Côi – Mẹ Chiến Thắng”, để thấy được rằng muốn có chiến thắng không thể xao lãng lần hạt Mân Côi; và nếu yêu mến lần hạt Mân Côi, sẽ có ngày bước vào chiến thắng.  Kinh Mân Côi là một vũ khí, nhưng là vũ khí hòa bình luôn đem lại hiệu quả tích cực.  Ai yếu đuối, Kinh Mân Côi đem cho sức mạnh; ai tội lỗi, Kinh Mân Côi dắt về ơn thánh; ai bất hạnh, Kinh Mân Côi giúp bình tĩnh tìm ra hướng lối vươn lên; ai khô khan, Kinh Mân Côi giúp khám phá ra những ánh lửa vẫn còn ẩn giấu trong những đám tro tưởng như nguội lạnh.  Chỉ vì một lẽ, trong Kinh Mân Côi là hiện diện của Đức Mẹ Chiến Thắng.

Có một truyện kể lâu lắm rồi: hai thôn đạo tranh chấp nhau về một mảnh đất giáp ranh mà thôn nào cũng nhận là của mình.  Chiến tranh lạnh, chiến tranh nóng nổ ra.  Khối kẻ u đầu sứt trán.  Cuối cùng cha xứ phải giải hòa và đem miếng đất giáp ranh ấy vào làm của chung gọi là “đất Đức Bà”, đồng thời cho dựng một tượng đài Đức Mẹ ở đấy.  Hết tranh chấp, thôn trên thôn dưới mỗi tối quây quần lần hạt vui vẻ.  Người ta gọi đó là đài Đức Mẹ Hòa Bình, nhưng cha xứ lại rất tâm đắc: đó là đài Đức Mẹ Chiến Thắng: thắng chia rẽ, thắng hận thù, thắng tội lỗi.

Lạy Đức Mẹ Chiến Thắng, xin cầu cho chúng con. Amen.

 ĐGM Vũ Duy Thống

(trích trong “Với Cả Tâm Tình”)

Langthangchieutim gởi

Đam mê của thánh Phanxicô Assisi

Đam mê của thánh Phanxicô Assisi

 Dongten.net

thanh-fanxico

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Khi nói đến thánh Phanxicô, chúng ta nghĩ ngay đến Kinh Hòa Bình và Bài Ca Tạo Vật. Có thể nói, từ những tư tưởng này, ngài được mệnh danh là Sứ giả hòa bình bởi vì chúng là điểm qui chiếu cho đời sống an hòa nơi ngài.

Thiên thời, địa lợi và nhân hòa, cả ba chiều kích này được thánh nhân sống rất triệt để. Chính thái độ sống hòa đồng và hòa điệu với mọi chiều kích mà thánh nhân đáng được gọi là Sứ giả hòa bình.

Năm 1979, ĐGH Gioan Phaolô II đã công bố: Thánh Phanxicô là quan thầy của những người bảo vệ môi sinh. Chắc hẳn, đây không phải là một quyết định dựa trên tình cảm nhất thời, nhưng dựa vào đời sống của ngài được thể hiện cụ thể trong Bài ca Tạo Vật. Trong đó, chim trời mây nước và cả vũ trụ này đều có chỗ đứng và giá trị nào đó trong cuộc đời của ngài; tất cả nên chị nên anh, cả đến cái chết như là sự dữ tuyệt đối cũng được ngài gọi bằng một tên thân thương: chị chết. Như thế, không một thực tại nào mang màu sắc u tối, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống thánh nhân. Chính sự huyền đồng này (hòa điệu một cách huyền nhiệm) đã giúp ngài chinh phục cả những kẻ thù giết hại. Xin đơn cử giai thoại kể về cuộc gặp gỡ giữa ngài và con chó sói hung bạo tại Agodio Gubio.

Khi thánh nhân cư ngụ tại Agodio thì có một con chó sói hung dữ đã xuất hiện, nó quấy nhiễu và gieo rắc tại họa cho mọi người. Mỗi lần đi ra ngoài, ai ai cũng trang bị khí giới sẵn sàng chuẩn bị giao chiến với con thú dữ; có người sợ đến nỗi không dám ra khỏi nhà. Thấy vậy, ngày nọ ngài quyết định đến chạm trán với con thú, ngài làm dấu Thánh giá, đặt tất cả tin tưởng vào Chúa, rồi tiến thẳng đến trước mặt con vật. Vừa thấy thánh nhân, con vật nhe răng và chuẩn bị tấn công, nhưng ngài không lùi bước, ngài tiến lại gần, làm dấu Thánh giá và gọi nó lại. Ngài nói cùng nó với tất cả sự trân trọng vì nó cũng là một tạo vật của Chúa: “Này anh sói, anh lại đây, nhân danh Chúa Kitô, tôi truyền cho anh đừng hãm hại ai nữa”. Như một phép lạ, con chó sói hung dữ giờ đây ngoan ngoãn khép miệng lại và quấn quýt bên ngài, ngài lại tiếp tục nói như sau: “Này anh sói, anh đã gây không biết bao nhiêu thiệt hại cho vùng này, anh giết hại những tạo vật của Chúa mà không có phép Ngài. Anh không những sát hại súc vật mà còn giết hại cả loài người là hình ảnh Thiên Chúa nữa; anh đáng phạt vì những tội ấy… Nhưng tôi muốn giàn hòa giữa anh và họ để anh không còn hãm hại ai nữa”.

Thánh nhân vừa nói xong những lời đó thì con chó sói vặn mình ra điều biết lỗi và chấp nhận đề nghị của ngài. Ngài nói tiếp: “Này anh sói, hẳn anh thích làm hoà với mọi người, tôi hứa rằng: bao lâu còn sống, anh sẽ không bị đói khát nữa, anh có hứa với tôi là sẽ không hãm hại bất cứ người và vật nào nữa không ?”. Con vật cúi đầu như đoan hứa, thánh nhân đặt tay trên nó và đại diện cho thị dân Agodio long trọng cam kết những lời ngài vừa hứa với con sói. Giai thoại kể tiếp rằng: con vật tiếp tục sống hai năm tại đó, ngày ngày ra vào bất cứ nhà nào cũng như chính nhà của nó. Nó không làm hại ai và cũng không ai hãm hại nó, cuối cùng, con vật chết đi giữa tiếng khóc của dân làng.

Theo thánh nhân, chúng ta cần tỏ ra bất bạo động với thiên nhiên, với chim trời núi rừng, với không khí nước non. Chỉ với một tâm hồn thanh thản và hài hoà như thế, con người mới có thể xây dựng hoà bình trên thế giới.

Sự hoà giải này không dừng lại với tương quan thú vật nhưng còn mở ra với người khác. Chính ý hướng ngay lành này góp phần hoán cải các tâm hồn đối nghịch. Chúng ta thấy nỗi đam mê hoà giải không chỉ được phát huy lúc thời trai trẻ mà ngay cả lúc trên giường bệnh ngài vẫn dấn thân phục vụ hoà bình vì ích chung.

Điều này được cha Nguyễn Hồng Giáo [1] biên soạn khi ghi lại lịch sử cuộc đời thánh nhân: Năm 1226, vào những ngày cuối đời nằm trên giường bệnh, thánh nhân rất đau lòng khi nghe tin Đức giám mục và ông trị trưởng ở Assisi kình địch nhau. Vị Giám mục thì ra vạ tuyệt thông cho ông thị trưởng, còn ông này thì cấm không cho ai được mua bán và ký kết khế ước gì với Đức Cha.

Thánh nhân nói với anh em trong dòng: “Thật xấu hổ cho chúng ta, những người làm tôi Chúa, vị Giám mục và ông thị trưởng thù ghét nhau như thế mà chẳng ai đứng ra hoà giải”.

Chúng ta cũng có thể hỏi: thế bản thân ngài làm được gì khi mắt đã gần mù và thân xác kiệt quệ phải nằm một chỗ ? Có chứ ! Thánh nhân đã làm một việc quá sức tưởng tượng của mọi người, và có thể nói “rất Phanxicô”, đó là thêm vào Bài ca tạo vật mà ngài đã sáng tác trước đó ít lâu, một phiên khúc ca ngợi hoà bình và tha thứ, rồi cử anh em đi mời ông thị trưởng tới Tòa Giám mục. Khi ông tới nơi và hai người gặp nhau, các môn đệ nhân danh ngài, cất tiếng hát Bài ca tạo vật cùng với phiên khúc mới. Khi tiếng hát vừa dứt, hai người nắm tay nhau nói lời hoà giải và ôm hôn tỏ tình thân mật.

Chắc hẳn, thánh nhân không bao giờ tự coi mình có khả năng hoà giải nhưng luôn là khí cụ bình an của Chúa. Điều này được chứng thực trong lời Kinh Hoà Bình.

Lạy Chúa, xin hãy dùng con

Như khí cụ bình an của Chúa

Để con đem yêu thương vào nơi oán thù

Đem thứ tha vào nơi lăng nhục

Đem tin kính vào nơi nguy nan

Đem trông cậy vào nơi thất vọng

Dọi ánh sáng vào nơi tối tăm

Đem niềm vui đến chốn ưu sầu.

Lạy Chúa, xin hãy dạy con

Tìm an ủi người hơn được người ủi an

Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết

Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu

Vì hiến thân chính là nhận lãnh

Tha thứ cho người chính là được thứ tha

Cam lòng chịu chết là được sống muôn đời.

Thật ra, nhiều nhà chuyên môn nhìn nhận rằng kinh này không do thánh nhân trước tác nhưng được gán cho ngài vì tinh thần hoà bình của tác giả theo chủ trương của thánh nhân vào thời bấy giờ. Nhưng dù sao, chúng ta cũng có thể rút ra một kết luận tác giả đã khôn khéo khi truyền đạt điểm giáo lý này với một văn phong hết sức đạo đức trong bầu khí cầu nguyện. Thật vậy, tác giả ý thức hoà bình không phải là hoa trái của riêng nỗ lực cá nhân người nào mà có được nhưng phát xuất ơn hoán cải tâm hồn đến từ Thiên Chúa. Như thế, bầu khí cầu nguyện của lời kinh giúp mọi người ý thức sự yếu đuối của bản thân, từ đó, trông chờ ơn Chúa giúp. Ở đây chúng ta cảm nhận một thái độ sống đam mê xây dựng hoà bình, nhờ ơn Chúa và khởi đi từ chính bản thân sẽ mang lại hoa trái tốt đẹp cho các linh hồn. Khi chúng ta đặt lời kinh này trong bối cảnh thời ấy, mới nhận ra sự tranh chấp quyền lợi, tranh giành quyền bính… đã huỷ hoại bầu khí hoà bình; đồng thời, xác định tầm quan trọng về sự hiện diện của thánh nhân và sự quan phòng tốt đẹp của Chúa nhằm tái lập tinh thần Kitô giáo trong thời Trung cổ.

Ở đây, chúng ta cần xác tín lại điều đã khẳng định từ trước, môi trường là một trong những yếu tố làm phát sinh đam mê. Cụ thể hơn, chính môi trường rối loạn tranh chấp, bất hoà làm phát sinh niềm đam mê xây dựng hoà bình nơi thánh nhân và những người thiện chí đương thời. Bài ca tạo vật và Kinh hoà bình là những bằng chứng sống động cho một thời đen tối trong xã hội và Giáo hội.

Chúng ta vừa bàn qua tương quan giữa thánh nhân với thiên nhiên và tha nhân, xét cho cùng, hai chiều kích này chỉ là hệ quả tất yếu, hoa trái của một thực tại cao sâu hơn. Thiết nghĩ, chính tương quan giữa ngài với Thiên Chúa mới tạo nên nhựa sống trào tràn nuôi dưỡng cây sinh trái là hoà bình.

ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận kể lại giai thoại về thánh Phanxicô rằng[2]: Vào dịp thánh nhân qua Toà thánh để xin phê chuẩn luật dòng anh em hèn mọn, ĐTC thân mật hỏi ngài:

– Con có bao giờ thấy Chúa chưa?

+ Con vừa thấy đêm qua.

– Người có nói gì với con không?

+ Người và con bên nhau suốt đêm không nói gì. Tuy nhiên, cứ mỗi lúc con nói “Cha” với Người thì Người trả lời lại với con: “Con của Ta”. Cứ thế, chẳng có gì hơn cho đến lúc trời sáng.

Qua đó, chúng ta thấy thánh nhân có những khoảnh khắc nên Một với Chúa; thao thức của Chúa cũng là thao thức của ngài, đam mê của Chúa cũng là đam mê của ngài. Chúa đã chịu đóng đinh và chịu chết khả dĩ giao hoà nhân loại với Thiên Chúa. Qua thánh nhân, Chúa tiếp tục thân hành lên đường tìm kiếm những con chiên lạc để đưa về ràn. Có thể nói, qua thánh nhân, Chúa tiếp tục chịu đóng đinh và chết cho con người. Sự chia rẽ của con người cách nào đó in đậm 5 dấu thánh trên thân thể ngài. 5 dấu thánh là dấu chỉ sống động cụ thể thay cho lời mời gọi nhân loại: Hãy sống và xây dựng hoà bình, hãy sống và đam mê hoà bình vì bạn sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

EYMARD An Mai Đỗ, O.Cist.

(Bài viết được tác giả gửi đến dongten.net)

[1] X. Nguyệt san Công giáo và dân tộc, số 58.

[2] X. ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, Những người lữ hành trên đường Hy vọng, tr.44.

Chết chưa chắc là hết .

Chết chưa chắc là hết.

Nhiều ý kiến lại cho rằng, chết là hết, mọi thứ sẽ trở về với “cát bụi”…Mọi thắc mắc sẽ chỉ được giải đáp khi con người chết đi và tự mình “trải nghiệm”. Song, vẫn có những người trở về từ cõi chết, và họ đã kể lại cho người trên “trần gian” nghe những câu chuyện ly kỳ, mang chút màu sắc huyền bí và đáng sợ.

1. Thoát xác, hồn lìa khỏi xác

hon-lia-khoi-xac

 

“Tôi chợt tỉnh dậy sau giấc ngủ dài, bỗng thấy cơ thể thật nhẹ nhàng như có thể bay lên bất cứ lúc nào. 

Nhưng nhìn lại dưới chân mình, một ai đó giống mình quá đỗi, nằm bất động, mắt nhắm nghiền, mặc cho mọi người than khóc xung quanh…Cho đến lúc ấy, tôi mới biết mình đã chết.” – Lời kể của một người trở  về từ cõi chết.

  1. Vẫn nhìn thấy được mọi người xung quanh và nghe thấy những gì họ nói

van-nhin-thay-moi-nguoi

 

Nhiều người kể lại rằng, họ vẫn có thể nhìn thấy, nghe thấy người thân đang than khóc vì họ, gọi họ tỉnh dậy, nhưng chính bản thân họ lại vô cùng tỉnh táo và cố gắng tương tác, gọi những người thân, nhưng mọi nỗ lực đều vô ích. “Tinh thần vô hình ấy” dần dần được cuốn đi theo chiều gió.

  1. Về thăm mẹ của mình

ve-tham-me-minh

Giờ đây trước mắt họ là hình ảnh của người mẹ thân yêu, văng vẳng bên tai là tiếng ru hời, “con yêu ngủ ngoan nhé”,  cho đến ánh mắt buồn rầu, lo lắng của người mẹ chăm sóc con nhỏ bên giường bệnh…tất cả ký ức về mẹ dần hiện về.Một người kể lại: “Tôi đã đến bên phần mộ của mẹ tôi, và ẩn sâu dưới lòng đất kia, tôi nhìn thấy mẹ đang mĩm cười, bà ấy còn vẫy tay gọi tôi.”

  1. Tiếp tục nhìn thấy tổ tiên, ông bà, những người thân quá cố

ong-ba-to-tien

Ai cũng có gia đình, thậm chí là một đại gia đình, và tổ tiên, ông bà đã sẵn sàng đợi bạn ở thế giới bên kia. Nhiều người thậm chí còn không biết rõ mặt của ông bà của mình, nhưng trong khoảnh khắc ấy một cảm giác thân thiết kỳ lạ, cùng những bàn tay vẫy gọi vô hình đã kéo bạn đến để cùng đoàn tụ.

  1. Hoài niệm lại cuộc sống trần gian

hoai-niem-cuoc-song-tran-gian

 

Toàn bộ cuộc sống mấy mươi năm trên thế gian sẽ được “trình chiếu” trước mắt bạn thêm một lần nữa. Một kỉ niệm vui, buồn trong cuộc sống, nhất là những khoảnh khắc in sâu trong tâm khảm của bạn nhất sẽ được dừng lại lâu thêm một chút ít.

  1. Bay trong cảm giác êm dịu, bình yên vô cùng

bay-trong-em-diu

Nhiều người kể lại, sau khi biết mình đã chết, họ nhận thấy mình biết bay, và bay một cách hết sức nhẹ nhàng, họ vươn mình vút lên tận 9 tầng mây xanh, thấy mọi thứ xung quanh thật mầu nhiệm, họ ngập trong cảm giác êm dịu và bình yên đến tận cùng.

  1. Bất giác tiến về phía ánh sáng mờ ảo cuối đường hầm

duong-ham

 

Bạn bất giác nhìn thấy một luồng ánh sáng mờ ảo phía cuối đường hầm, và bạn cứ đi, đi mãi theo luồng ánh sáng đó…

  1. Được dẫn dắt bởi những vị thần giám hộ.

than-giam-ho

 

Khi đến cuối đường hầm đố, nơi luồng ánh sáng mạnh mẽ nhất, bạn sẽ nhìn thấy những vị thần giám hộ, đó có thể là một thiên thần với đôi cánh cùng vòng tròn hào quang trên đỉnh đầu, có thể là vị thần Chết đầy quyền năng với tấm áo choàng đen, và cũng có thể là Hắc Bạch Vô Thường – Tay sai của Diêm Vương sẽ dẫn bạn đến một nơi xa xăm nào đó….Và lẽ dĩ nhiên, những người sống sót, trở về từ cõi chết kể lại rằng họ đã được giải thoát khỏi những vị thần giám hộ, sau đó đi ngược trở lại đường hầm, nhảy vút lên rồi nhẹ nhàng hạ cánh xuống cơ thể chính mình, có nhiều trường hợp, thi hài chính họ đã liệm yên trong chiếc quan tài tối tăm.

chet-khong-phai-la-het

Chết là hết?

From:  Kimtrong Lam
Chết là hết?

Liệu bạn có thật sự sợ chết không? Khoa học chứng minh linh hồn con người sẽ luôn tồn tại trong thế giới này

Có phải chúng ta vẫn lầm tưởng rằng chết là hết.

Gần đây, giáo sư Lanza tại trường đại học Wake Forest University tại North Carolina, đã đưa ra một kết luận gây sốc rằng: “Con người không thực sự chết đi!”

Khi một người chết đi, cái mất đi chỉ là cơ thể bên ngoài bằng da bằng thịt, còn ý thức của họ vẫn tiếp tục tồn tại! Kết luận của ông được đưa ra đứng từ quan điểm của vật lý lượng tử, đồng thời tuyên bố ông đã có đủ bằng chứng để chứng minh điều đó.

Khi người chết, ý thức của con người sẽ không vì thế mà biến mất. Con người còn có tồn tại “ tín tức lượng tử” siêu việt khỏi thân xác thịt, nó cũng chính là cái mà người thường chúng ta hay gọi: “Linh hồn”.

Vị giáo sư này cho biết, có rất nhiều bằng chứng trong cơ học lượng tử chứng minh “con người không thực sự chết đi”. Đứng từ quan điểm “Luận thuyết trung tâm của sinh học phân tử” mà xét, vũ trụ được cấu thành từ những sinh mệnh có ý thức tạo thành, không gian và thời gian chỉ là công cụ ý thức của con người. Nhưng ý thức của con người cũng là một chủng vật chất.

Ông cũng phát hiện rằng, khi máu của người ngừng chảy, trái tim ngừng đập, cơ thể sẽ tiến nhập vào trạng thái tạm dừng nhưng ý thức của con người thì không ngừng vận động. Cái chết chỉ là một hiện tượng biểu hiện mà ý thức của con người cảm nhận được, nó cũng có thể được gọi là sự tưởng tượng.

Giáo sư Lanza nói, luận thuyết trung tâm của sinh học phân tử và các vũ trụ song song có một chút tương đồng, điều đó cũng nói mỗi sự việc phát sinh xung quanh chúng ta sẽ đồng thời diễn ra trong một vũ trụ song song. Khi chúng ta nghĩ về thời gian và vấn đề ý thức, trong một không gian khác ý thức của chúng ta cũng sẽ bị ảnh hưởng. Khi các cơ năng thân thể xác thịt của chúng ta ngừng hoạt động, nó sẽ bắt đầu trở lại trong một thời gian và không gian song song.

Cơ học lượng tử được hình thành vào nửa đầu thế kỷ 20 do Max Planck, Albert Einstein, và một số người khác tạo nên. Các nhà khoa học thường sử dụng nó để quan sát thế giới vật chất vi quan, đồng thời dùng lượng tử tính toán để giải thích những gì chúng ta không thể trực tiếp nhìn thấy.

Từ những kết luận của giáo sư này có thể rút ra một kết luận: Con người không thật sự chết đi, khi cơ thể xác thịt của con người chết, họ sẽ đến với một thời không song song (gồm cả không gian và thời gian) và lại tiếp tục cuộc sống này. Điều này quả là một phát hiện gây sốc, nhưng nó cũng mang lại một ý nghĩa tuyệt vời. Nó khiến cho người ta cảm thấy cái chết không còn là một điều gì đáng sợ nữa.

Vậy nếu chết không phải là hết thì những điều tốt hay không tốt mà chúng ta đã làm liệu có đi theo chúng ta sang thế giới bên kia không? Dù câu trả lời là thế nào thì việc chúng ta nên làm đó là sống một cuộc sống thật tốt đẹp, luôn luôn từ bi, lương thiện, giúp đỡ mọi người để tích phúc đức cho chính chúng ta và con cháu, đó là điều chúng ta nên làm và hướng tới. Bạn sẽ không bao giờ bị mất thứ gì khi làm những điều tốt như vậy, thậm chí cái bạn nhận được còn nhiều hơn những gì bạn mong đợi nhiều. Vì vậy nhất định phải sống một cuộc sống vui vẻ, hoà ái nhé.

Image may contain: one or more people