httpv://www.youtube.com/watch?v=Fy_wYBON0KM
Lễ Các Đẳng Linh Hồn – Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
Về Công Giáo và Phật Giáo cùng các tôn giáo khác
httpv://www.youtube.com/watch?v=Fy_wYBON0KM
Lễ Các Đẳng Linh Hồn – Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm
GIỮ LINH HỒN
“Các con cứ bền đỗ, các con sẽ giữ được linh hồn các con.”
Vào khoảng năm 538 trước Công nguyên, sau khi được Hoàng đế Ba tư là Kyrô ban sắc chỉ ân xá, con cái Israen rời đất lưu đày Balylon, tiến về thánh điện, khởi công tái thiết quê hương xứ sở giữa muôn vàn gian nan khốn khó.
Đứng trước cảnh đổ nát hoang tàn của đền thờ, đất đai bị ngoại bang lấn chiếm, tinh thần của dân Do thái hồi hương không khỏi lao đao. May nhờ có sự hổ trợ của Ezra và Nêhêmia là hai người giàu có, thế lực dưới triều vua Artaxerxes, dân Israen đã xây lại được một phần nhỏ đền thờ Giêrusalem và thánh hiến nó vào koảng năm 516 trước Công nguyên (BC).
Thế nhưng, chưa hưởng trọn niềm vui tự trị và tự do, người Do thái lại bị các quốc gia hùng mạnh như Ai cập và Hy lạp quấy phá. Đến năm 169 BC, người Xyria do vua Anticô II dẫn đầu, đã tiến vào đánh chiếm cướp phá đền thờ. Một lần nữa đền thánh Giêrusalem lại rơi vào cảnh hoang tàn đổ nát.
Mãi đến năm 63 trước Công nguyên, sau khi người Rôma chiếm đóng Palestine và đặt Hêrôđê làm quan tổng trấn cai trị vùng đất Giuđê, đền thờ mới được tái thiết nguy nga và được thánh hiến vào năm 19 BC.
Biết bao cẩm thạch, vàng bạc, gỗ quí, và công sức được đổ ra cho việc xây cất một đền thờ lộng lẫy, làm nên niềm tự hào và sức sống của cả dân tộc Israen. Trong cuốn sách “Những Cuộc Chiến của Người Do Thái”, sử gia Josephus đã mô tả về “niềm tự hào” đó như sau: “Mặt tiền của Đền thờ đủ làm choáng ngợp tâm trí và đôi mắt người ta. Nó được bọc bằng những miếng vàng lớn. Khi ánh thiều dương vừa tỏa sáng ở chân trời, thì cả đền thờ rực lên bởi những tia sáng phản chiếu, khiến những ai muốn nhìn thẳng vào đó cũng bị lóa mắt, đến nỗi họ phải quay đi. Đối với khách lạ, thì từ đàng xa, Đền thờ nổi bật lên như một núi tuyết trắng xóa. Không có phần nào mà không được chạm trổ hay bọc vàng.”
Đứng trên núi Cây Dầu nhìn xuống đền thờ rực rỡ trong ánh nắng huy hoàng, các môn đệ không khỏi buông lời trầm trồ khen ngợi. Nhưng, thay vì hòa điệu với những rung cảm trước vẻ hoa lệ của Đền thờ, Đức Giêsu lại tiên báo về một sự sụp đổ không tránh khỏi. Những gì thế gian cho là vững chắc và xinh đẹp chỉ là những thứ mỏng dòn và tạm bợ. Tất cả sẽ bị tàn phá. Ngay như công trình và “niềm tự hào” của Israen đây cũng sẽ bị sụp đổ, “không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào” (Lc 21:6). Đức Giêsu đã tiên báo như thế.
Và sự gì đã xảy ra?
Năm 70 sau khi Chúa Giêsu sinh ra, tướng Titô đem đại quân Rôma đến vây hãm thành Giêrusalem. Dân chúng bị đói khát đến nỗi phải ăn thịt lẫn nhau. Kẻ nào tìm cách trốn khỏi vòng vây đều bị giết chết. Tính ra số người bỏ mạng lên đến 1.100.000, và số người bị bắt sau khi thành thất thủ là 97.000. Đền thờ bị lính Rôma phóng hỏa tan tành. Tướng Titô chỉ cho chừa lại một mảng tường thành để sau này con cháu Israen đến đó mà than khóc. Như thế, lời tiên báo của Chúa Giêsu đã ứng nghiệm.
Nhưng sự sụp đổ của thànnh Giêrusalem chỉ là hình bóng của ngày thế tận. Rồi đây, sẽ chẳng còn thứ gì tồn tại. Thời gian sẽ hủy diệt tất cả. Sự sống, sắc đẹp, sức lực, sung sướng… của cuộc đời này đều mỏng dòn và ngắn ngủi. Mọi sự đều tiến về cái chết, dù nhanh hay chậm.
Vì thế, thánh Anphong từng nhắc đi nhắc lại: “Chỉ có một việc ta phải lo là việc rỗi linh hồn, vì mỗi người chỉ có một linh hồn mà thôi.” Thánh Phanxicô Saviê cũng nói: “Mỗi người chỉ có một linh hồn. Nếu được rỗi thì được hưởng thiên đàng, nếu bị mất thì phải sa hỏa ngục.” Xưa Vua Đavít suy về điều này mà thốt lên lời nguyện cầu: “Tôi chỉ ước trông một điều, đêm ngày tôi khấn xin, là cho tôi được vui sống trong nhà Chúa trọn đời” (Tv 26:4)
Nhưng để được ở trong nhà Chúa, tức là để chiếm được Nước Trời, người ta phải nỗ lực chiến đấu. Chính Đức Giêsu đã nói: “Nước Trời ở dưới sức cường bạo, và những kẻ cường bạo chiếm đoạt lấy” (Mt 11:12). Không gắng công chống trả ba thù, thiếu quyết tâm đi vào cửa hẹp, làm sao có thể tìm được thiên đàng đích thực.
Lạy Chúa, xin trợ lực chúng con chống trả ba thù, kiên vững niềm tin, hầu mai kia được hưởng niềm vui trường sinh trong Nước Chúa. Amen.
Lm. Bùi quang Tuấn
Thời kỳ đã đến gần hay Chúa đã đến từ khuya rồi
Khổng Nhuận
Trích Tin Mừng Luca 21 : 5 – 11, 19
Nhân có mấy người nói về Đền Thờ được trang hoàng bằng những viên đá đẹp và những đồ dâng cúng, Đức Giê-su bảo :
6 “Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết,
không còn tảng đá nào trên tảng đá nào.”
7 Họ hỏi Người : “Thưa Thầy, vậy bao giờ các sự việc đó sẽ xảy ra, và khi sắp xảy ra, thì có điềm gì báo trước ?”
8 Đức Giê-su đáp : “Anh em hãy coi chừng kẻo bị lừa gạt, vì sẽ có nhiều người mạo danh Thầy đến nói rằng :
‘Chính ta đây’, và : ‘Thời kỳ đã đến gần’ ; anh em chớ có theo họ.
9 Khi anh em nghe có chiến tranh, loạn lạc, thì đừng sợ hãi. Vì những việc đó phải xảy ra trước, nhưng chưa phải là chung cục ngay đâu”.
10 Rồi Người nói tiếp : “Dân này sẽ nổi dậy chống dân kia, nước này chống nước nọ.
11 Sẽ có những trận động đất lớn, và nhiều nơi sẽ có ôn dịch và đói kém ; sẽ có những hiện tượng kinh khủng và điềm lạ lớn lao từ trời xuất hiện.
19 Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình.
Vấn đề ‘Thời kỳ đã đến gần’
Chuyện ‘Thời kỳ đã đến gần’ đã xưa lắm rồi. Theo Tân Ước, có lẽ thánh Phaolo là người đi tiên phong, qua thư thứ nhất gởi giáo đoàn Thexalonica 4:15-18, ngài đã vẽ ra một cảnh tượng tuyệt vời…làm nức lòng các tín hữu.
15 Dựa vào lời của Chúa, chúng tôi nói với anh em điều này, là chúng ta, những người đang sống,những người còn lại vào ngày Chúa quang lâm, chúng ta sẽ chẳng đi trước những người đã an giấc ngàn thu đâu.
16 Vì khi hiệu lệnh ban ra, khi tiếng tổng lãnh thiên thần và tiếng kèn của Thiên Chúa vang lên, thì chính Chúa sẽ từ trời ngự xuống, và những người đã chết trong Đức Ki-tô sẽ sống lại trước tiên ;
17 rồi đến chúng ta, là những người đang sống, những người còn lại, chúng ta sẽ được đem đi trên đám mâycùng với họ, để nghênh đón Chúa trên không trung. Như thế, chúng ta sẽ được ở cùng Chúa mãi mãi.
18 Vậy anh em hãy dùng những lời ấy mà an ủi nhau.
Thực đáng tiếc, gần 2 ngàn năm trôi qua rồi…mà tiếng kèn của Thiên Chúa vẫn chưa chịu vang lên..
Nhưng âm hưởng tư tưởng những người còn lại vẫn còn được nhiều nhóm tận dụng với ý nghĩa:
Sau biết bao nhiêu tai ương : như động đất, sóng thần, thậm chí chiến tranh nguyên tử, chiến tranh sinh học có thể tiêu diệt hàng triệu người trong nháy mắt…..
thế nhưng, những người trong nhóm ta, trong phong trào ta, trong cộng đoàn ta..trong giáo phái ta…được Chúa gìn giữ…. sẽ vẫn còn sống qua những cơn nguy biến chết người và chúng ta được mệnh danh là những người còn sót lại
Vớ vẩn, Chúa hơi đâu làm những chuyện ruồi bu ấy. Bởi vì, chết trong chiến tranh loạn lạc hay êm thắm trên giường bệnh có gì là ăn thua gì đâu.!!!
Vấn đề quan trọng là tôi có khám phá ra Chúa trong lòng tôi và kiên trì tập sống.. tập sống… tập sống… tập sống… với Chúa ngay trong đời thường hằng ngày của mình..
Không có vấn đề Chúa gọi…mà chỉ có vấn đề :Dù chết vì bất cứ lý do gì..
Sự chết cũng chỉ là cánh cửa để mở ra một cuộc sống thuần túy tâm linh trọn vẹn trong Chúa…không còn bị vướng bận thân xác nữa…
Chính vì thế tôi mới hiểu được Chúa đã đến từ khuya rồi
Chúa đến mỗi khi tôi rước Chúa..chứ không phải rước lễ hình thức.
Chúa đến mỗi khi tôi đọc Kinh Thánh.
Chúa đến mỗi khi tôi tâm sự với Chúa bất cứ lúc nào.
Chúa đến mỗi khi tôi lắng nghe sức sống Thần Linh của Chúa lan tỏa khắp châu thân.
Thực đáng tiếc, tôi còn quá nhỏ… không thể ý thức rằng:
Chúa đến khi tôi chịu phép Thêm sức
Chúa đến khi tôi chịu phép Rửa
Đặc biệt là mãi 35 tuổi tôi mới nhận ra rằng
Chúa đã đến với tôi ngay khi tôi còn trong lòng mẹ
để thánh hiến tôi và sai tôi làm ngôn sứ cho muôn dân…(Gr 1:5)
Quả thực, Chúa đã đến từ khuya rồi.
Tóm lại, Thời kỳ đến gần không quan trọng chút nào
Đừng hù ma thiên hạ với những cảnh báo long trời lở đất…dựng tóc gáy !!!!
Chúa đến gần mình mới quan trọng
Cuối cùng, Chúa sống trong tâm hồn mình
mới thực là quan trọng nhất…trong tất cả mọi sự trên trần gian này.
Kinh Mân Côi Cầu Cho Các Đẳng Linh Hồn
Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt .
Vào thời kỳ Thánh Đaminh (1170-1221) còn sống, có một phụ nữ nổi tiếng trắc-nết sống tại thủ đô Roma. Nàng tên Caterina. Nếp sa đọa của nàng gây ra không biết bao gương mù gương xấu và kéo theo không biết bao nhiêu đàn ông nghiêng ngả vì nàng. Nhưng nhờ nghe lời giảng thuyết của thánh Đaminh và nhất là nhờ vào lòng từ bi vô biên của THIÊN CHÚA, Caterina quyết định từ bỏ lối sống lăng-loàn. Rồi từ thái-cực sự dữ chuyển sang thái-cực sự lành. Caterina trở thành người say mê yêu mến Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Cùng lúc, trái tim nồng cháy tình yêu của nàng giờ đây dành cho Tràng Chuỗi Mân Côi và các Linh Hồn trong Lửa Luyện Hình.
Để cứu giúp các Đẳng Linh Hồn, mỗi ngày Caterina lần không biết bao nhiêu Tràng Chuỗi Mân Côi. Chính Đức Chúa GIÊSU KITÔ đã muốn tỏ lộ ơn lành bao la mà tràng chuỗi Mân Côi có thể mang đến cho các Linh Hồn trong Lửa Luyện Ngục.
Một ngày trong khi Caterina đang lần hạt cầu cho các đẳng Linh Hồn đến phần thứ ba của Tràng Chuỗi Mân Côi 150, thì Đức Chúa GIÊSU hiện ra với thánh Đaminh dưới hình dáng một Thiếu Nhi vô cùng khôi ngô. Từ thân mình tuyệt đẹp của Thiếu Nhi phát ra những tia sáng tương đương với 50 Kinh Ave Maria của phần thứ ba của Tràng Hạt Mân Côi. Các tia sáng là tia nước bắn thẳng xuống Luyện Ngục làm dịu mát đau đớn các Linh Hồn đang chịu vì bị các ngọn lửa thiêu đốt. Khi nhận trận mưa hồng phúc này, các Linh Hồn vô cùng sướng và bày tỏ lòng tri ân đối với vị ân nhân đang cứu giúp mình. Các Linh Hồn nói lớn tiếng:
– Cám Ơn! Cám Ơn Caterina nhiều lắm! Vì việc lành làm cho chúng tôi qua tràng hạt Mân Côi, xin THIÊN CHÚA trả công bội hậu bằng ân thưởng nước Thiên Đàng!
… Lời cầu nguyện cho các Đẳng Linh Hồn được các ngài trả ơn và bảo vệ gìn giữ.
Một buổi tối, một chủ tiệm vàng đóng cửa để về nhà. Nhưng vì sợ kẻ trộm lẻn vào ban đêm nên ông quyết định mang về những đồ trang sức quí báu đáng giá nhất. Nỗi lo âu vẫn chưa chấm dứt. Trên đường về, sợ rằng có kẻ gian theo dõi để cướp mất của quí, người chủ tiệm liền khẩn cầu sự trợ giúp của các Đẳng Linh Hồn. Ông sốt sắng lần tràng chuỗi 100 kinh Requiem cầu cho kẻ qua đời.
Đến nửa đêm khi đi vào góc đường dẫn vào nhà, ông chủ tiệm vàng bỗng kinh hãi nhận ra là xa xa có mấy tên gian phi đang đi theo mình. Ông không biết làm gì hơn là tha thiết khẩn cầu sự trợ giúp của các Đẳng Linh Hồn nơi Lửa Luyện Hình. Chính lúc ấy ông trông thấy từ ngôi thánh đường nho nhỏ ở đầu góc đường, lần lượt tiến ra một đoàn rước gồm các tu sĩ mặc áo dòng màu trắng. Các ngài vừa đi vừa hát thánh vịnh giống như đi đưa đám tang một tu huynh quá cố. Người chủ tiệm vàng tức tốc nhập đoàn với các tu sĩ và như thế, ông có thể đi tiếp chặng đường về nhà cách an toàn.
Trong khi đó, người vợ ở nhà lo âu trông ngóng chồng. Vì trời đã khuya mà không thấy bóng dáng chồng đâu nên bà mở cửa sổ ra để nhìn.
Vừa lúc đó thì ông chủ tiệm cũng về đến nhà. Ông vui mừng kể lại cho vợ nghe câu chuyện may mắn ông vừa thoát tay các tên gian phi. Ông nói rằng THIÊN CHÚA Quan Phòng lo liệu cho ông gặp đoàn ngũ các tu sĩ đưa người quá cố đi chôn nên ông nhập đoàn để về nhà. Bà vợ ngạc nhiên cho biết là từ cửa sổ bà chỉ trông thấy ông chứ không hề thấy đoàn thầy dòng đưa đám tang đâu cả! Vã lại, bà vợ nhận xét: đâu có đám tang nào lại tổ chức ban đêm!
Bà vợ nói xong thì cả hai vợ chồng cùng vỡ lẽ ra rằng:
– Đoàn thầy dòng đưa đám tang bí nhiệm ấy chắc hẳn là các Linh Hồn Luyện Ngục đáp lời khẩn cầu kêu xin cứu giúp. Các ngài đích thân tháp tùng ông về nhà bằng an.
Đó cũng là cử chỉ Các Linh Hồn bày tỏ lòng tri ân đối với những ai đọc kinh cầu cho các ngài.
… ”Lạy THIÊN CHÚA, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xóa tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm, tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy. Vâng, con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm. Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài. Như vậy, Ngài thật công bình khi tuyên án, liêm chính khi xét xử. Ngài thấy cho: lúc chào đời con đã vương lầm lỗi, đã mang tội khi mẹ mới hoài thai. Nhưng Ngài yêu thích tâm hồn chân thật, dạy con thấu triệt lẽ khôn ngoan. Xin dùng cành hương thảo rảy nước thanh tẩy con, con sẽ được tinh tuyền; xin rửa con cho sạch, con sẽ trắng hơn tuyết” (Thánh Vịnh 51(50) 3-9).
(”La Mia Messa”, 1 Ottobre 2010 – 31 Dicembre 2010, Anno IV/C, vol.IV, Casa Mariana Editrice, trang 211-212+247-248)
Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt
Anh chị Thụ & Mai gởi
“Khi ấy, các Tông Đồ thưa với Chúa Giêsu rằng: “Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con.” Chúa đáp : “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này : ‘Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc’, nó cũng sẽ vâng lời anh em.”
Thứ Hai tuần thứ 32 Thường Niên: Lc 17, 1-6.
Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con
Tác giả Luca không nói rõ cho chúng ta biết điều gì đã khiến các Tông Đồ phải xin Chúa gia tăng lòng tin cho họ. Hình như họ đang phải đối diện với một nhiệm vụ gì khó khăn và quan trọng lắm, đòi hỏi họ phải hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa chứ không cậy dựa vào sức riêng mình.
Trong thực tế, trực tiếp ngay trước lời xin này này là lời của Chúa Giêsu yêu cầu các đồ đệ của Ngài phải tha thứ không giới hạn cho anh em mình (Lc 17,3-4). Quả thực, nhiệm vụ tha thứ này là vô cùng khó khăn, đòi hỏi sự kiên nhẫn, tình yêu, lòng bao dung và lòng tin mạnh mẽ. Các Tông Đồ ý thức về tính cách khó khăn, quan trọng và nghiêm túc của việc thực hiện yêu sách đó của Chúa Giêsu. Các ông ý thức về sự yếu đuối và thiếu lòng tin của mình.
Trong hoàn cảnh đó, thay vì thoái lui trước những yêu sách của Chúa Giêsu, các ông cầu xin Đức Chúa ban thêm lòng tin cho họ. Và quả thực, chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể ban sức mạnh cho chúng ta để chúng ta có thể sống đúng Tin Mừng của Chúa Giêsu.
Như thế, các Tông Đồ trong bài Tin Mừng hôm nay đã nêu cho chúng ta một gương mẫu rất tốt lành. Hơn một lần chúng ta cảm thấy những nhiệm vụ mà chúng ta phải đảm nhiệm (trong gia đình, trong cộng đoàn, trong Hội Thánh và trong xã hội), những yêu sách của đời sống Kitô hữu, những đòi hỏi của Tin Mừng… là những điều vượt quá sức chúng ta. Hơn ai hết, chúng ta biết mình yếu đuối và giới hạn. Gương của các Tông Đồ trong bài Tin Mừng mời gọi chúng ta đừng buông xuôi hay thoái lui. Hãy chạy đến với Đức Chúa và khiêm hạ xin Ngài ban thêm lòng tin cho chúng ta. Đó là thái độ đúng đắn nhất.
Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải
Đáp lại lời xin của các Tông Đồ, Chúa Giêsu nói: “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: “Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc”, nó cũng sẽ vâng lời anh em” (c.6). Cây dâu được nói đến ở đây là một loại cây lớn (có thể sống đến 600 năm) và có một bộ rễ cắm rất sâu dưới đất, nên không dễ gì bật rễ lên mà xuống mọc dưới biển được. Nói cách khác, sự đối nghịch quá lớn giữa hình ảnh một hạt cải rất nhỏ bé và hình ảnh cây dâu bật rễ mà xuống mọc dưới biển, cho thấy rất rõ tính cách vĩ đại của hiệu quả mà lòng tin có thể đem lại.
Điều Chúa Giêsu muốn nói đến ở đây không phải là sự cần thiết phải có một lòng tin mạnh đủ để có thể làm được những sự lạ cả thể mà mọi người có thể thấy được. Nhưng Ngài muốn nhấn mạnh rằng lòng tin có thể giúp các đồ đệ thực hiện được những điều tưởng như không thể, hay nói cách khác, Ngài muốn các Tông đồ hiểu rằng không có gì là bất khả đối với lòng tin. Chúa Giêsu không muốn đòi hỏi các đồ đệ của ngài phải làm được những điều phi thường, nhưng Ngài muốn họ biết rằng một lòng tin cho dù vô cùng nhỏ bé, dẫu chỉ như hạt cải, miễn là lòng tin đích thực, sẽ luôn luôn có thể làm nên những điều tưởng như là không thể xảy ra.
Vậy, điều quan trọng không phải là độ lớn của lòng tin (điều mà các Tông Đồ đang bận tâm khi xin Chúa tăng thêm lòng tin cho họ) mà là phẩm chất chân thực của lòng tin đó. Lòng tin chân thật sẽ cho phép người ta hoàn toàn mở ra cho Thiên Chúa và để cho quyền năng của Thiên Chúa hoạt động nơi mình.
Sức mạnh và tính hữu hiệu của đời sống các Tông Đồ là thực tại đến từ chính Thiên Chúa và quyền năng của Người.
Đức tin có sức mạnh vô cùng to lớn và có thể giúp chúng ta thực hiện được những điều vốn bình thường là không thể xảy ra. Tại sao? Thưa: bởi lẽ khi tin, chúng ta đặt tất cả sức mạnh của mình nơi Thiên Chúa, hoàn toàn tín thác vào Thiên Chúa và vào sức mạnh, quyền năng… của Người.
Vậy vấn đề không phải là lòng tin lớn đến đâu, mà là sức mạnh và quyền năng của Thiên Chúa được thực thi nơi người có lòng tin. Mà với Thiên Chúa thì không điều gì là bất khả.
Điều quan trọng là sự chân thực và thuần khiết của lòng tin. Miễn đó là lòng tin đích thực, thì cho dù chỉ lớn bằng hạt cải nhỏ bé, lòng tin đó vẫn có thể làm nên được những điều kỳ diệu, hay nói cho chính xác hơn, Thiên Chúa vẫn có thể thực hiện những kỳ công lớn lao không ngờ được nơi những con người có lòng tin chân thực đó.
Lm Giuse Nguyễn Thể Hiện CSsR
SỰ THÔNG CÔNG GIỮA CÁC THÁNH, CÁC LINH HỒN, VÀ LOÀI NGƯỜI Ở TRẦN GIAN

Sự hiệp thông giữa các thánh gồm có tất cả những ai sống trên trái đất, các thánh trên Thiên Đàng và các linh hồn dưới luyện ngục. Ba Hội Thánh Chiến Đấu, Khải Hoàn, và Đau Khổ kết hợp thành một gia đình lớn, và hiệp thông với nhau một cách đặc biệt. Vì thế, sự thống khổ và niềm vui của một người cũng là của tất cả mọi người. Sự khải hoàn của các thánh, sự đau khổ của các linh hồn và sự thử thách của các người còn sống trên thế gian là điều kinh nghiệm của mọi người. Khi chúng ta ở thế gian vui mừng khi nghĩ về các thánh, và buồn cho các linh hồn ở luyện ngục, thì các ngài, dù ở trên Trời hay còn ở luyện tội, cũng đều lo lắng cho số phận của chúng ta trên trần thế. Các ngài thấy và biết rõ các nguy hiểm mà chúng ta đang sống.
Các linh hồn ở Luyện ngục tham dự vào niềm vui huynh đệ với các thánh trên Thiên Đàng, và họ cảm ơn các việc lành thánh mà chúng ta làm để dâng hiến cho họ được sớm giải thoát. Họ xem chúng ta là những ân nhân của họ. Khi từ lửa luyện ngục, họ nhìn lên Thiên Đàng và thấy các thánh đang hạnh phúc, thì họ nghĩ rằng một ngày nào đó, họ cũng sẽ được hạnh phúc như thế. Các linh hồn ở Luyện ngục cũng biết rằng họ có các bạn hữu trên Thiên Đàng đang cầu bầu cho họ trước Ngai Tòa của Chúa. Do đó, sự liên hệ đặc biệt giữa các linh hồn ở Luyện ngục, với nhân loại trên trần gian, và với các thánh nơi Thiên Đàng, không bị quên lãng.
Chúng ta đừng quên các Thiên Thần, vì dĩ nhiên, các ngài rất chăm sóc cho các linh hồn ở Luyện ngục. Nhiều linh hồn phú thác cho các Thiên Thần của Chúa. Các Thiên Thần cho rằng sứ mệnh của họ chưa chấm dứt cho đến khi nào họ đem được các linh hồn lên Thiên Đàng. Toàn thể các Thiên Thần luôn chú ý đến những linh hồn khi còn sống mà biết tôn kính các ngài.
Nghi lễ cho ngày lễ kính Thánh Micae cho ta biết rằng ngài đã được Chúa chỉ định cho việc nhận các linh hồn vào Thiên Đàng, khi họ rời Luyện ngục. Do đó, Thánh Micae như là một vị Hoàng tử của vương quốc thống khổ. Ngài có lòng trắc ẩn với các linh hồn này, và Ngài tiếp tục cầu bầu cho các linh hồn ấy.
Thánh Frances thành Roma rất vui thích khi nói đến các Thiên Thần chăm lo cho mọi người trong suốt đời sống của họ. Bà nói rằng: “Khi một người chết, tùy theo mức độ công trạng của họ, vị Thiên thần Bản mệnh dẫn đưa người ấy tới phần sâu của Luyện ngục, và ở lại bên phía tay phải của người ấy, trong khi ma quỷ ở phía tay trái người ấy. Thiên Thần dâng lên Chúa Giêsu các lời cầu nguyện để cầu bầu cho linh hồn ấy được giảm bớt sự đau đớn. Trong khi ấy, ma quỷ thì chịu sự điều khiển của Lucifer, nên bị hành hạ một cách đặc biệt vì không thể dụ dỗ linh hồn ấy vào Hỏa ngục. Khi giờ đền tội của một linh hồn đã hoàn tất, người ấy được chuyển qua một nơi chốn cao hơn, và ma quỷ rời linh hồn ấy để trở về với đồng bọn của hắn, những tên ma quỷ khác sẽ chỉ trích hắn vì hắn đã thất bại trong việc dụ dỗ linh hồn ấy.
Như vậy, các Thiên Thần Bản Mệnh thăm viếng các linh hồn nơi Luyện ngục và cầu bầu cho họ trước Tòa Chúa.
Trong chuyến thăm viếng Luyện nguc dài 2 tiếng đồng hồ của Thánh Nữ Mary Magdalen Dei Pazzi, bà thánh đến thăm một nhà tù mà người ta phạm tội vì sự ngu dốt hay yếu kém, và bà thấy các Thiên Thần Bản Mệnh của các linh hồn ấy ở ngay bên cạnh họ để an ủi.
Thánh Nữ Margaret Mary Alacoque cũng vậy, trong khi bà bị bịnh, Thiên Thần Bản Mệnh của bà mời bà đến thăm Luyện ngục với Ngài. Ngài đưa bà đến một nơi rộng lớn đầy những lửa và than đá. Tại đó, Ngài cho bà thánh thấy rất nhiều linh hồn trong hình dáng con người, đang giơ tay ra để cầu xin lòng thương xót, và bên cạnh họ là các Thiên Thần Bản Mệnh đang an ủi họ với những lời yêu thương.
Các mặc khải trên đây đúng theo lời giảng dạy về Thần Học và hợp với đại đa số các Tiến sĩ Hội Thánh. Các ngài nói rằng các Thiên Thần Bản Mệnh đưa các linh hồn vào Luyện ngục, và để cho họ liên lạc với chúng ta, linh hứng để ta cầu nguyện cho các linh hồn ấy, và rồi báo tin cho các linh hồn xem ai là người cầu bầu cho họ. Khi thời kỳ đền tội đã hoàn tất, các Thiên thần đưa họ lên Thiên Đàng và đến với chúng ta để báo cho ta biết về sự giải phóng của họ. Chúng ta đoan chắc rằng các Thiên Thần hành động như người trung gian giữa Luyện ngục và Trần gian.
Ngoài ra, các Thiên Thần còn là người trung gian giữa Luyện ngục và Thiên Đàng. Chúng ta đã nhắc đến việc họ dâng lên Chúa các lời nguyện và sự hy sinh mà chúng ta dâng lên để cầu cho các linh hồn ở Luyện ngục, và các ngài đem những an ủi mà Chúa ban đến cho các linh hồn.
Mỗi khi Chúa hay Đức Mẹ Maria ngự xuống Luyện ngục thì đều có các Thiên thần bao quanh, sự huy hoàng và sáng láng của các Ngài đem lại nhiều an ủi và niềm vui cho các linh hồn ấy. Nếu các Thiên Thần đã chăm sóc cho các linh hồn ấy khi ở trần gian, tại sao lại không chăm lo cho họ trong thời gian họ ở trong Luyện ngục chứ?
Để kết luận, và để hiểu rõ sự lưu tâm của các Thiên thần ở trong Luyện ngục, chúng tôi kể một câu chuyện do nhà văn Rossignoli kể trong tác phẩm của ông:
“Trong tu viện của Thánh Catherine ở vùng Naples, các tu sĩ có thói quen đạo đức là đọc kinh chiều cho các linh hồn vào mỗi buổi tối, trước khi đi ngủ. Như vậy, trước khi nghỉ ngơi, người tu sĩ có thể đem lại chút ủi an cho các linh hồn. Một tối kia, các nữ tu vì quá mỏi mệt vì lao động mệt nhoài, nên họ không đọc kinh chiều cầu cho các linh hồn. Do đó, một ca đoàn Thiên Thần từ Thiên Đàng đi xuống và bắt đầu đọc kinh chiều cho các linh hồn trong cung ca đoàn của tu viện. Nhờ vậy, các linh hồn không lo buồn vì sự thiếu kinh nguyện. Như vậy chúng ta có cần thêm chứng từ nữa không?”
Vậy chúng ta hãy luôn nhớ rằng niềm vui và hạnh phúc của các thánh, sự đau đớn và thống khổ của các linh hồn ở Luyện ngục và các thử thách và phiền muộn của các người đang sống ở thế gian đều hợp thông với nhau. Các thánh ở trên Thiên Đàng rất cảm động khi nhìn thấy sự nguy hiểm mà loài người trên trần gian phải đi qua, và các ngài nhìn xuống Luyện ngục với lòng thương xót và trắc ẩn. Họ cầu bầu cho các anh chị em của họ sớm hưởng hạnh phúc trên Thiên Đàng. Còn các linh hồn thì cảm ơn các ân nhân ở trần gian, và ngước mắt lên trời để chiêm ngắm các thánh đang hưởng hạnh phúc vĩnh cửu. Họ vui mừng và đầy hy vọng khi biết rằng lời cầu bầu của các anh chị em trên trời cũng như trên thế gian sẽ giúp rút ngắn thời gian thống khổ. Thật là một tương quan đẹp đẽ và thân thiện giữa Luyện ngục, Thiên Đàng và Trần gian, và đó chính là di sản quý báu và đẹp đẽ của Giáo hội Công giáo.
Trích trong tác phẩm The Holy Souls, của Lm Alessio Parente
Kim Hà dịch thuật
Anh chị Thụ & Mai gởi

Nhớ đến các linh hồn, cầu nguyện cho họ và cầu nguyện với họ giúp mình nhớ về nhiều điều.
– …nhớ về thân phận của mình. Ai trong chúng ta rồi cũng sẽ đến lúc trở về cát bụi và đến với Chúa. Mình sống tiếp phận người của mình ra sao đây?
– …nhớ về những người thân yêu, thân quen đã qua đi…nhớ lại những kỷ niệm thật đẹp với họ. Cuộc sống mình là chuỗi những tình thương yêu mình nhận lãnh từ họ. Mình làm cho tình thương yêu đó tiếp nối trong cuộc đời mình thế nào đây?
– …nhớ về những người đã khuất nhưng vẫn còn đó nỗi buồn hay đổ vỡ mà mình chưa hàn gắn được. Mình cũng đã góp phần làm ra những đổ vỡ đó, mình hàn gắn lại thế nào và không lập lại kinh nghiệm đó trong cuộc sống hiện tại ra sao?
-…và sâu nhất là nhớ về Tình Yêu Chúa đang dành cho mỗi người. Hỏa ngục không phải do Chúa làm ra, vì Chúa là Sự Sống sao lại muốn con người phải chết. Luyện ngục không phải là hình phạt của Chúa, vì Chúa là Sự Sống luôn tạo cơ hội để mỗi người có được sự sống của Chúa; nên khi các linh hồn chưa chia sẻ trọn vẹn sự sống của Chúa như các Thánh thì họ có cơ hội Chúa ban nơi thanh luyện. Chúa yêu mỗi chúng ta thế đó.
Chúng ta cầu nguyện cho các linh hồn không phải để thay đổi Chúa theo ý mình mong. Chúng ta cùng cầu nguyện với và cho các linh hồn để mỗi chúng ta và các linh hồn nơi thanh luyện tiếp tục mở lòng nhận tình yêu của Chúa để thay đổi.
Ước mong bạn và tôi được thanh luyện mỗi ngày trong tình yêu của Chúa, và nhớ hiệp ý cầu nguyện cho/với các linh hồn trong tháng 11 này.
Sĩ Nghị, SJ
Suy Tư Tin Mừng Tuần thứ 32 thường niên năm C 06/11/2016
Tin Mừng (Lc 20: 27-38)
Có mấy người thuộc nhóm Xađốc đến gặp Đức Giêsu. Nhóm này chủ trương không có sự sống lại. Mấy người ấy hỏi Đức Giêsu: “Thưa Thầy, ông Mô-sê có viết cho chúng ta điều luật này: Nếu anh hay em của người nào chết đi, đã có vợ mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình. Vậy nhà kia có bảy anh em trai. Người anh cả lấy vợ, nhưng chưa có con thì đã chết. Người thứ hai, rồi người thứ ba đã lấy người vợ goá ấy. Cứ như vậy, bảy anh em đều chết đi mà không để lại đứa con nào. Cuối cùng, người đàn bà ấy cũng chết. Vậy trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy đều đã lấy nàng làm vợ? “
Đức Giêsu đáp: “Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại. Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, thì chính ông Môsê cũng đã cho thấy trong đoạn văn nói về bụi gai, khi ông gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Abraham,Thiên Chúa của tổ phụ Isaác, và Thiên Chúa của tổ phụ Giacóp. Mà Ngài không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Ngài, tất cả đều đang sống.”
“Tôi tưởng như mình vừa sống lại”,
“tự nghìn kiếp trước nỗi oan-khiên.
Oằn lưng gánh lấy hồn sông núi,
Hiu-hắt trong lòng, đóm lửa thiêng”
(Dẫn từ thơ Sông Nhị)
Mai Tá lược-dịch
Với nhà thơ Song Nhị hôm nay, loài người như đã đổi lốt. Vừa đổi lốt, sống lại tự nghìn kiếp. Với nhà Đạo xưa rày, Người từ cõi chết đã sống lại, rất yêu thương. Tất cả, đều đáp-ứng lời dạy của Đức Chúa. Thiên-Chúa của tình-yêu. Thiên-Chúa của sự sống, diễn-bày nơi sự-kiện Cung Hiến Thánh Đường Thân Mình Ngài, rất hôm nay.
Hôm nay, nhiều người thường hay tỏ bày nỗi ngạc nhiên rất mực, khi khám phá ra rằng Đền thánh Phêrô không phải là Nhà Thờ Chánh Toà của Giáo phận La Mã. Thậm chí, có khách hành hương còn đến đây, để tìm cho ra ngai triều của Đức Giáo Hoàng, tức Giám Mục thành Rôma, vẫn không thấy.
Có người lại cứ tưởng chiếc ghế chạm trổ công phu của thánh Phêrô đặt sau bàn thờ trên cao là ngai triều chính hiệu của ngài, nhưng vẫn lầm. Có người lại nghĩ rằng chiếc ghế di động mà Đức Giáo Hoàng vẫn ngồi, là chính ngai triều. Nhưng, vẫn không đúng.
Thánh đường Latêranô đích thị là Vương Cung Thánh Đường, của La Mã. Ở nơi đây, có đặt ngai triều của Đức Giám Mục thành Rôma, rất đích thật. Từ thế kỷ IV, Giáo hội dùng nơi này để cung hiến thành chốn thánh dâng Chúa. Ở nơi đây, mỗi năm Đức Giáo Hoàng thường thân hành đến chủ sự các nghi lễ phụng tự, rất long trọng. Và chính ở thánh đường này, ngài uy nghi ngồi trên ngai toà mình để ban huấn từ, giãi bày nhiều điều, cho dân Chúa.
Trong cuộc sống của Giáo hội, nhiều giáo hội ở địa phương cũng đã dùng kỷ niệm cung hiến thánh thiêng trong giáo phận mình, như lễ trọng. Việc cung hiến thánh đường Latêranô, chính là lễ hội toàn cầu, nhằm để nhắc ta nhớ mà hiệp thông với Đức Giáo Hoàng, trên cương vị ngài là Giám Mục thành La Mã. Qua cử chỉ này, ta chứng tỏ rằng giáo hội mình là Giáo hội của chung, tức Hội thánh Công giáo.
Điều đáng buồn, là: đôi khi ta thấy có nhiều người nghĩ họ được phép chọn lựa giữa Giám mục địa phận của mình với Giám mục La Mã. Điều này cũng có ý nghĩa, nhưng không phải tính cách chung, Công giáo.
Nói cho cùng, dù ta có lòng mến mộ Đức Giáo Hoàng riêng biệt nào đi nữa, thì tình cảm riêng tư của ta vẫn không dẫn đến kết quả như một hiệp thông với ngài. Bởi, chỉ có thể hiệp thông với Đức Giáo Hoàng khi có được sự thông hiệp ngang qua Giám mục sở tại của mình, mà thôi. Và, Đức Giám mục địa phận sở tại của ta cũng chủ sự cùng một tiệc Thánh Thể như và với Đức Giám Mục, thành La Mã là Đức Giáo Hoàng.
Trong cuộc sống thường ngày, nhiều người cũng mắc phải những sai lầm như thế, cũng dễ hiểu thôi. Nhiều năm qua, Hội thánh vẫn tập trung vào vai trò của Đức Giáo Hoàng mạnh đến độ chúng ta có thể được tha thứ nếu nghĩ rằng Đức Giáo Hoàng chỉ là Cán bộ Cấp Cao của Giáo triều, và Đức Giám Mục sở tại là Giám đốc hay Thủ trưởng, một chi nhánh. Cho nên, khi Đức Giáo Hoàng ra lệnh “nhảy lên”, thì ta lại hỏi: “Thưa, cao cỡ nào cơ?”. Vấn đề này xem ra hơi giống thái độ của những người bảo hoàng hơn vua, có lịch sử của Hội thánh, tương tự như thế.
Chính vì thế, Công Đồng Vatican II đã làm sáng tỏ vai trò của Đức Giáo Hoàng trong việc cai quản, giáo huấn và thi hành luật pháp, trong Giáo hội. Minh định của Công Đồng đã thận trọng nhằm hồi phục chức năng đúng đắn khi xưa về cương vị lãnh đạo của Đức Giáo Hoàng. Công Đồng cho thấy, việc cai quản, giáo huấn và thi hành giáo luật luôn chứa đựng một bối cảnh, có từ trước.
Công Đồng dạy rằng Đức Giáo Hoàng thực thi cương vị lãnh đạo như vị thủ lĩnh tối cao trong số các Giám mục. Ngài là vị mục tử mang tính toàn cầu. Là, dấu chỉ của sự hiệp nhất trong Hội thánh.
Và, là người có trọng trách giáo huấn, duy trì và bảo vệ niềm tin của toàn thể Hội thánh, ngang qua phương cách mà ngài xác nhận với những người anh em Giám mục có cùng một trọng trách trong giáo hội địa phương của các ngài. Chính từ đó, nguồn cội của cụm từ “vâng phục” có ý nghĩa của sự việc “lắng nghe một cách cẩn trọng”.
Vì thế nên, trong tiệc thánh hôm nay ta cử hành sự hiệp nhất trong đa dạng, khi ta tập trung nhấn mạnh đến Mẹ thánh Giáo hội đối với các giáo hội Công giáo La Mã, ở địa phương. Cầu mong sao, từ đó ta lĩnh hội được điều tốt đẹp để có quyết tâm với Đức Giám Mục sở tại nơi ta sống. Bởi, ngài cũng là đấng kế vị của các thánh tông đồ. Và, ngài cũng đáp ứng với lời kêu gọi của Đức đương kim Giáo Hoàng giúp ngài nghĩ ra các phương cách khả dĩ thực hiện công việc phục vụ Hội thánh. Đó, sẽ là dấu chỉ lớn lao hơn cho sự hiệp nhất Kitô giáo đối với thế giới nhân trần, trong lai thời.
Cũng cầu mong, cho mỗi người chúng ta nhớ được rằng tinh thần mà Tin Mừng hôm nay muốn tỏ bày chính là sự việc Giáo hội được dựng xây bằng gạch hồ thật đấy; nhưng, Thân Mình Rất Hiển Vinh của Đức Kitô được đúc kết bằng những người con biết sống thực tình yêu thương cứu độ Ngài ban cho thế giới, rất hôm nay.
Lm Richard Leonard sj biên-soạn
Mai Tá lược-dịch
“Ôi ơn đời chói vói”,
Nhớ khi thân tròn ôm gối
Ba trăm ngày trong gói
Ngóng trông ra đời góp mối chung vui
Ôi ơn đời mãi mãi
Thoát thai theo đời vun xới
Bao nhân tình thế giới
Lớn lên trong vườn ân ái muôn đời.”
(Phạm Duy – Tạ Ơn Đời)
(Ga 1: 14)
Trần Ngọc Mười Hai
Đành rằng “Ơn đời (bao giờ) cũng chói vói”. Đó là chuyện đương nhiên, không cần cãi vã làm chi cho tốn “calôri”. Thế còn, “Ơn Người” thì sao? “Ơn Người” có kể rõ ra là: ta chỉ có mỗi “300 ngày ôm gối” mà thôi không? Đó, mới là vấn-đề mà nhiều người và tôi, hôm nay từng lên tiếng hỏi. Hỏi hết mọi người, cả những người trong Đạo/ngoài đời, đại loại những lời như thế.
Bần đạo bầy tôi hôm nay, có đưa ra đôi ba câu hỏi tương-tự cũng chỉ vì mới được đọc lại đoạn trích-dẫn ở cuốn sách bàn về “Niềm tin, nỗi niềm xuất tự con tim”, nên mới hỏi. Hỏi, là hỏi rằng: Thiên-Chúa đã ban nhiều ân-huệ cho bạn và cho tôi, Ngài có dựa vào công-lênh, tài-cáng gì của tôi hoặc của bạn không? Và, câu trả lời lại đã do cha giáo Kevin O’Shea CSsR từng giảng dạy ở bài giáo-án ngày hôm ấy, vẫn bảo rằng:
“Thiên-Chúa phú ban chính mình Ngài, chẳng vì ta có được cung-lòng hoàn-hảo để đón tiếp Ngài vào nơi đó mà ngự đâu. Bởi, chẳng ai có được khả-năng đón-nhận Ngài hết. Bản thân ta, chẳng khi nào có được cung lòng tốt lành để làm như thế.
Thiên-Chúa, Ngài ban chính Mình Ngài bằng vào thân-phận chưa từng có ai đón tiếp cái quyền-hạn được ở lại nơi đó cho đến khi ta chấp-nhận sự việc ấy mà thôi. Và, nếu có ai ngạc-nhiên sửng-sốt về chuyện này thì cũng tựa hồ như ta đây luôn có mặt ở nơi đó, kể từ ngày mình sinh ra và Chúa lại cũng ban cho ta ân-huệ tuyệt-vời, theo qui-cách vào nơi này/lúc ấy, thôi.
Tôi vẫn muốn thêm thắt ở đây đôi điều, để nói lên rằng: có lẽ ta sẽ nói với nhiều người tốt lành/hạnh đạo là: ta vẫn muốn kiếm tìm Chúa. Nhất thứ, là khi ta lại cứ coi như mình lâu nay tìm kiếm một Đức Chúa mà chẳng bao giờ thấy được Ngài.
Thay vào đó, tôi đề nghị: ta hãy thay thế chuyện ấy bằng việc nhận ra rằng: chính Chúa mới là Người hằng đi tìm ta, đã thấy ta và rồi Ngài lại đã công-nhận ta là dân/con của Ngài. Thế nên, ta lại cũng hiểu rằng: việc này có thể chiếu rọi một vài lằn sáng lên nhiều sự việc.
Nền thần-học của ta có nguyên-tắc căn-bản được mọi người gọi đó là tính ưu-việt của ân-huệ. Chính ra, ta phải gọi đó là tính ưu-việt của ân-huệ Ngài từng ban cho ta, mới đúng. Bởi, ân-huệ sẽ là chuyện trừu-tượng không thể có, nếu nó không được ban/tặng, riêng mình ta. Nỗi kinh-ngạc về chuyện này nằm ở điểm: Ân-huệ ấy “đã” được ban cho ta từ lâu rồi.
Thành thử, sống trong trời đất, chẳng có gì gọi là bản-chất vô-huệ, hết. Tự thân, ta chẳng có được tính chất khả-thi vốn dĩ là của Chúa. Nhưng thật ra, ta không có khả-năng đến với Chúa -và như thế, ta cần được Ngài ban thêm huệ-lộc cộng thêm vào với những gì hiện giờ ta không có. Nếu sự thể là như thế, thì huệ và lộc Trời ban, lại sẽ là “tư-duy” ta có sau này về phần riêng của Thiên-Chúa, mà thôi.
Nói cách khác, có lẽ Chúa cũng chẳng tạo nên ta một cách đúng-đắn, ngay từ đầu. Ân và huệ theo sử-tính, cũng chẳng là món quà và là thứ tặng-dữ Ngài ban cho ta, mãi về sau; mà Thiên-Chúa đã cưu-mang ta ngay trong ân và huệ của Ngài, ngay từ đầu rồi. Rõ ràng là thế.
Ân và huệ, không là thứ gì đó tuyệt-đối ta không ngờ từ trước. Tất cả, chẳng phải vì Ngài đã có món nợ đó đối với ta, mà về phần mình, ta chẳng xứng-đáng được như thế. Và có lẽ, ân và huệ cũng chẳng ban cho một số đấng bậc của ta, nơi ta sau này, nếu như ta chứng-tỏ được mình là kẻ tốt lành/hạnh đạo. Nhưng, ân và huệ, tự nó, vẫn có đó nằm sẵn trong bản-thể của ta là con người bằng xương bằng thịt, ở đời.
Bản-chất con người, lúc nào/bao giờ cũng gồm tóm ân và huệ, rất tự-thân. Và, ta được tặng ban, hoặc có được khả năng “thấy” Chúa, ngay từ đầu. Thật ra thì, không thể có cái-gọi-là “nhân-loại bình thường” vô ân-huệ. Bản-chất “người”, theo định-nghĩa, bao gồm ân và huệ cũng như khả-năng thực-thụ được phép “thấy” Chúa. Những gì vừa nói ở trên, không phải là thi-ca/thi-ảnh, mà là cung-cách Chúa tạo-dựng nên ta, con người của chính ta.
Tính-chất “người” là ân và huệ. Đó là theo định-nghĩa Thiên-Chúa tỏ-bày/mặc-khải cho ta biết như thế. Ta được cưu-mang một cách không tì-vết ngay trong tâm-tưởng của Chúa. Thiên-Chúa, Ngài đã thẩm-thấu vào bên trong con người của ta ngay trước khi ta hiện-hữu, nữa. Chất “người” là sự hội-nhập và thẩm-thấu tính-chất rất “Thiên-Chúa”.
Nói cách khác, ta không bắt đầu sự việc như thế một cách tách-biệt và tự-lập hoặc tự mình có thể tìm kiếm Chúa. Và, cả vào khi kiếm-tìm Ngài đi nữa, đôi lúc ta cũng ở trong tình-trạng đã có ân và huệ và đôi khi, cũng lại không thế. Ta đã bắt đầu sự sống có ân và huệ, đã ở trong ân và huệ rồi. Chính Thiên-Chúa đã công-nhận và sở-hữu ta ngay từ lúc đầu mà ta chẳng biết, đấy thôi..
Ngay từ đầu, Ngài đã thương-yêu ta. Chính vì lý-do này, mà bản-chất của vật tạo-thành (nói theo ngôn-ngữ tạo-dựng là hành-động của Thiên-Chúa) không chỉ là hiện-hữu hoặc sự việc đang kiếm tìm, nhưng là: “đã ở trong Chúa”. Nói như thế, tức bảo rằng: ta đã được Chúa gặp ta và thấy ta ngay trong bản-chất Ngài, rồi. Thiên-Chúa và tạo-vật, lúc nào cũng ở trong nhau, quyện lẫn vào nhau. Ta có mặt ở đây, không phải để “kiếm tìm” một Thiên-Chúa-đã-có-đó, nhưng là để cảm-tạ Chúa vì ngay từ đầu, Ngài đã đi tìm ta và thấy ta, trong tạo-dựng.
Có thể nói: Thiên-Chúa là Người đầu-tiên kiếm-tìm và gặp-gỡ ta, từ ngàn đời rồi. Mỗi thế thôi.” (X. Lm Kevin O’Shea CSsR, Niềm Tin, Nỗi Niềm Xuất Tự Con Tim”, www.giadinhanphong.com” nxb Hồng Đức 2016-2017)
Vậy thì, theo tác-giả đây, ta có mặt ở thế-gian này là để cảm tạ Thiên-Chúa chứ không để kiếm/tìm Ngài. Bởi, Ngài đã tìm và gặp ta và ở trong ta ngay vào lúc tạo-dựng nên ta rồi.
Nghe dạy/bảo như thế, bần đạo bầy tôi đây, bèn thấy mình nên quay về lại với nhạc-bản của nghệ-sĩ họ Phạm từng hát về “Ơn đời”, như sau:
“Tim vang còn giây lát.
Hơi run còn thơm ngát.
Dương gian còn trong mắt.
Nghe tiếng hát chưa nhạt tan.
Bao nhiêu là thương mến.
Bao nhiêu là quyến luyến.
Với bao nhiêu niềm xao xuyến.
Đời vắng xa như mẹ hiền.
Ôi một lần nương náu.
Đi trên đời chẳng lâu.
Trong trăm mùa xuân héo.
Tay hái biết bao niềm yêu.
Dăm em sèo nhân thế.
Chưa phai lòng say mê.
Với đôi ba lần gian dối.
Đời vẫn ban cho ngọt bùi.
(Phạm Duy – bđd)
Ơn đời, thì như thế. Ơn Người, sẽ ra sao? Thôi thì, ngay lúc này đây, ta hãy đi vào vườn thượng-uyển có ý/lực của bậc thánh-hiền vẫn từng giảng-dạy và nhủ-khuyên, như sau:
“Chúng tôi đã được nhìn thấy
vinh quang của Ngài,
vinh quang mà Chúa Cha ban cho Ngài,
là Con Một
đầy tràn Ân-sủng và sự thật.”
(Ga 1: 14)
Ân và huệ Ngài ban, bao giờ cũng tràn-đầy sự thật. Cái sự rất thật, lại được nghệ-sĩ ở ngoài đời trau-chuốt bằng lời thơ/tiếng nhạc, rất như sau:
“Ôi ơn đời chói vói.
Nhớ khi thân tròn ôm gối.
Ba trăm ngày trong gói.
Ngóng trông ra đời góp mối chung vu.
Ôi ơn đời mãi mãi.
Thoát thai theo đời vun xới.
Bao nhân tình thế giới.
Lớn lên trong vườn ân ái muôn đời.
Mang ơn đời chăn vỗ.
Dâng cho người yêu goá.
Dâng cây đàn bơ vơ.
Dâng biết bao ân tình xưa.
Mang ơn đời nâng đỡ.
Dâng nấm mồ thô sơ.
Với dâng hương hồn thương nhớ.
Còn vấn vương trong chiều tà.
(Phạm Duy – bđd)
Ân và huệ, vẫn là thứ gì rất quí-báu đáng vấn-vương trong đời. Một đời, có rất nhiều chuyện. Từ, chuyện tình-yêu, hạnh-phúc đến chuyện khổ đau/sầu buồn, đầy-đủ cả. Mỗi chuyện, đều mang ý-nghĩa nào đó cũng sắc bén. Mỗi sự việc xảy đến, như ân và huệ từ trên ban tặng. Có khi, là một cảnh báo. Có lúc, là một phản-hồi khi câu chuyện đà xảy đến.
Để xác-chứng và minh-hoạ những ý/tứ và ý/từ ở trên, thiết tưởng không gì bằng ta hãy mời nhau đi vào vùng trời truyện kể, với ý/lời tưởng chừng như trách-móc, khiếu-nại vì đời mình không như đời người.
Nhưng cuối cùng, có lẽ cũng phải công-nhận với ai đó rằng: “Tất cả là ân-huệ”dù ân đó/huệ đây mang dáng-vẻ của tủi-nhục, hờn đau, cần cố-gắng hơn nữa, để vượt qua.
Cuối cùng, ta cũng phải nhận-chân rằng: ân đâu/huệ đó, có chăng chỉ là ảnh-hình về một đặc-trưng/đặc-thù của huệ/của ân ấy, rất như sau:
“Truyện kể về một bệnh SID xảy ra với một em bé không thoát khỏi lưỡi hái của tử thần, vẫn được mọi người chung quanh tận tình giúp đỡ đến khi chết.
“Có lẽ trong suốt cuộc đời làm phiên-dịch của mình, gần 20 năm, chưa lần nào tôi thấy khó như lần này và cũng chưa bao giờ tôi không thể dịch được, mặc dù tôi hiểu hết ý bác sỹ nói gì. Một ca hóc-búa. Hôm nay, là ngày ra đi của bé Lam. Tôi chưa một lần được biết cháu, nhưng tôi có duyên may được đưa-tiễn cháu về phía “chân mây cuối trời”. Cuộc đời cháu quá ngắn-ngủi, chỉ 4 tháng, nhưng cháu đã mang đến biết bao cảm-xúc, nỗi-niềm và cháu đã nối biết bao người xa lạ lại với nhau và vào nhau.
Bé Lam là một ca tôi khó quên.
Tôi đang ngồi làm việc thì chuông điện-thoại reo. Một ca cấp-cứu cần tôi phải đến bệnh-viện ngay lập-tức. Lúc đó là 8 giờ tối. Hình như có vụ gì đó liên-quan đến cảnh-sát nên không thể dịch qua điện-thoại như tôi vẫn làm khi có chuyện xảy ra đột-ngột, hoặc vào ban đêm.
Tôi nghĩ, chắc là đánh nhau, hoặc các tội phạm đâm chém nhau đây. Thói-quen nghề-nghiệp của tôi là: đi cho nhanh để kịp giờ, không mảy may lo sợ. Thấy tôi, cô y-tá trực đêm vui mừng kéo tôi ra một góc báo trước sự việc.
Một cháu bé 4 tháng tuổi đã tắt thở, tim ngừng đập, được chuyển từ bệnh-viện địa-phương bằng máy bay trực-thăng lên Bệnh-viện Nhi-Đồng Boston, Massachusetts. Cháu được các bác-sĩ hồi-sức cấp-cứu cho tim đập trở lại, nhưng đang ở trạng-thái nguy-kịch, khả-năng tử-vong rất cao. Tôi được đưa vào phòng bệnh-nhân.
Bác-sĩ trực-tiếp cấp-cứu cháu, với gương mặt mệt-mỏi, buồn-phiền báo cho tôi biết có nhiều khả-năng cháu mắc bệnh đột-tử ở trẻ sơ sinh (Sudden Infant Death- viết tắt là SID), hiện nay y-học chưa tìm ra nguyên-nhân căn bệnh này. Bác sĩ đang cố gắng tìm tiếp khả năng khác, liệu có thể cứu-chữa cháu được không. Nhưng kết-luận của ông gần như 99% là cháu không thể qua khỏi.
Bên giường bệnh, người mẹ trẻ khóc-lóc, lo-âu và hy-vọng. Câu hỏi duy-nhất ba mẹ cháu hỏi trong tiếng nghẹn-ngào là: “Hy vọng được bao nhiêu, thưa bác-sĩ?” Câu trả lời của bác-sĩ: “Cháu khó lòng qua khỏi, tôi chưa thấy được tương-lai của cháu trong lúc này”. Dù vậy, hai y-tá vẫn miệt-mài làm việc, bốn màn hình máy tính treo bốn góc theo-dõi toàn-bộ hoạt-động cơ-thể của cháu bé. Mỗi tiếng “tít, tít” kêu lên, là họ lại liên-tục thao-tác hoạt-động theo chuyên-môn để giữ nhịp tim và nhịp thở của cháu bé.
Trên đầu cháu, là các loại dây nhợ, dày đặc các ống dẫn bằng nhựa/mủ, tiếng máy chạy ào ào. Tôi căng hết cả cái đầu mình ra để nghe bác-sĩ nói rồi dịch. Tiếp theo đó, bác-sĩ trực đêm đến hỏi thăm tin-tức hồ-sơ bệnh-án của cháu. Về sau tôi mới biết, họ đã biết kết-cục nhưng vẫn cứ hỏi để cho cha mẹ được yên-tâm về mặt tâm-lý.
Nhằm giúp-đỡ cha mẹ trong hoàn-cảnh đó, “nhân-viên xã-hội” đến thăm-hỏi, động-viên gia-đình bệnh-nhân. Nhiệm-vụ của họ, là chăm-sóc cả vật-chất lẫn tinh-thần cho gia-đình, chí ít là trong hoàn-cảnh bệnh-nhân đang trong cơn nguy-cấp, hiểm nghèo. Họ cung-cấp phiếu ăn miễn-phí, lo chỗ ngủ cho người nhà của con bệnh. Lúc đó đã 10 giờ đêm, nhà ăn bệnh-viện đã đóng cửa, nên họ cử y-tá ra phố mua đồ ăn về cho bố mẹ cháu bé. Họ hỏi rất kỹ là quí vị thích ăn món gì và họ tận-tình đi mua rồi mang đến.
Gần 1 giờ sáng, hai cô y-tá mắt đỏ ngầu, vẫn luôn chân/luôn tay chăm-sóc toàn-bộ hệ-thống máy móc đảm-bảo cho cháu bé thở được, theo-dõi nhịp tim. Ba xét-nghiệm não (chụp cắt lớp, đo điện não đồ và chụp MRI toàn-thân người bệnh) liên-tục được tiến-hành. Kết-luận thật đáng buồn: cháu bé mắc chứng đột-tử ở trẻ sơ-sinh, y-khoa thế-giới lâu nay đành bó tay, chưa tìm ra nguyên-nhân của căn-bệnh.
Cuộc họp đầu-tiên với bố mẹ để chuẩn-bị tâm-lý rằng: tình-thế hết sức nguy-kịch. Nhóm y/bác-sĩ mắt đỏ hoe, đầy cảm-thông, ngồi im lặng lắng nghe một người nói nhỏ nhưng dứt khoát: “Chúng tôi rất tiếc phải thông-báo rằng: tình-trạng của cháu ngày càng xấu, nhưng chúng tôi không đầu hàng, chúng tôi vẫn chiến-đấu để giành giật sự sống cho cháu. Cháu cũng là một “chiến-binh dũng cảm” đang đồng-hành với chúng tôi”.
Họ lặng lẽ mang giấy lau nước mắt cho người mẹ. Họ cảm-thông chia-sẻ bằng sự im-lặng và sự tận-tụy với công việc. Họp xong, họ trở lại chăm-sóc cháu bé, với hàng nắm dây nhợ, máy móc quanh đầu, quanh người cháu. Lúc đó là 2 giờ sáng.
Cuộc họp thứ hai vào sáng hôm sau, gồm bác-sĩ trưởng Khoa Cấp cứu, bác-sĩ chuyên về não-khoa, bác-sĩ và y-tá trực-tiếp điều-trị cho cháu. Cuộc họp này thật khó-khăn. Sau khi giải-thích tình-trạng của cháu bé, nguyên-nhân không xác-định, bác-sĩ nói: “Mặc dù cháu nằm đó, tim còn đập, nhưng cháu không còn nữa. Khả-năng cứu-chữa cho cháu là vô vọng. Bệnh-viện đề-xuất chuyện rút máy trợ thở. Tiếp đó, cháu sẽ hoàn toàn ra đi.” Người mẹ bật lên tiếng nức nở. Họ lại ngồi yên-lặng, cùng bật lên một câu: “Chúng tôi xin chia-sẻ với gia-đình”.
Cuộc họp cuối cùng sau đó 24 giờ đồng hồ. Vẫn một thông-tin giống như trước. Bác-sĩ chỉ trên màn hình hoành-đồ của não trông gần như một đường thẳng cho thấy: não-bộ đã hoàn-toàn tê-liệt. Bác sĩ giảng giải kỹ lưỡng về căn bệnh SID và đi đến kết luận: hy vọng chỉ là zero. Tiếp theo là ý-kiến gia-đình có chấp-nhận rút máy trợ thở hay không? Nếu có, thì giờ nào sẽ rút máy cho cháu để cháu ra đi được thanh-thản.
Y-tá đã tìm-hiểu biết được là gia-đình theo Đạo Phật, và họ tìm đọc trên mạng về Đạo Phật, nghi-lễ chôn-cất, hoặc mời thày tới làm lễ ngay tại bệnh-viện. Rồi bàn về qui-trình rút máy trợ thở, bác-sĩ sẽ trao cháu bé cho bố mẹ, cháu sẽ thở hắt ra, hoặc ho lên, rồi tắt ngụm hẳn, da sẽ chuyển sang màu tím tái. Có gia-đình không muốn chứng-kiến cảnh-tượng này, thường đợi bác-sĩ làm xong rồi nhận cháu bé với thân-xác đã bọc kín.
Y-tá còn đề-xuất nếu bố mẹ muốn được nằm cạnh con, họ sẽ tìm cho một cái giường, để có thể nằm ôm cháu. Nghe đến đó, thông-dịch đến đó, tôi nghẹn-ngào, vì chỉ mới 4 tháng trước, mẹ cháu cũng đón cháu từ tay bác-sĩ, nhưng là lúc cháu chào-đời. Còn nay, bác-sĩ đưa cháu để bố mẹ được ôm cháu vào những giây phút cuối. Bố mẹ cháu đã từ-chối vì không thể chịu nổi.
Bác-sĩ dành cho gia-đình mọi sự ưu ái. Khi nào gia-đình sẵn-sàng thì rút máy, cần hỏi gì thì bác-sĩ ở xung quanh sẵn-sàng trả-lời mọi câu hỏi. Việc rút máy trợ thở có thể tiến-hành trong buổi chiều hoặc đêm, hoặc sáng hôm sau. Gia-đình có nhiều thời-gian để bàn tính và định-liệu.
Cuối cùng, giờ tốt đã chọn, thầy chùa cũng được mời tới. Thời-gian chỉ tình bằng phút và bằng giây thôi. Tôi ra về, khi mọi việc đã bàn-định xong xuôi.
Tôi nhìn cháu bé lần cuối, nói với cháu rằng: “Lam ơi, cháu sống ở trên đời này quá ngắn, nhưng cháu đã làm được một sứ-mạng lớn-lao là gắn kết mọi người lại với nhau, cháu làm tôi yêu quý cuộc sống này, cháu là lý-do để tôi nhìn thấy những điều tốt-đẹp còn hiển-hiện quanh tôi, để tôi thấy rõ tính chuyên-nghiệp trong công việc, tính nhân-văn trong lời nói và cách ứng-xử của các bác-sĩ, y-tá và tình người tồn-tại trong mỗi chúng ta. Cám ơn cháu, cầu mong cháu được siêu-thoát. Cháu hãy phù-hộ cho bố mẹ cháu và người thân của cháu nhé”.
Tôi bị ám ảnh bởi bao nhiêu phức-cảm: đau-thương, ưu-phiền, lành-thánh, tình người và phong-cách làm việc chuẩn-mực và chuyên-nghiệp đến mức khó tin của tập-thể y/bác-sĩ trong một bệnh-viện có lẽ tốt nhất thế-giới. Tôi cứ suy ngẫm làm sao họ có thể có được cách ứng-xử như thế đối với người đồng-loại. Tôi cứ tần-ngần nghĩ đến những lần đi bệnh-viện ở Việt Nam, bị bác sĩ, y-tá đối-xử thiếu tôn-trọng. Tôi băn-khoăn không biết bao giờ xã-hội Việt Nam mình, nhất là những nơi cung-cấp dịch-vụ giáo-dục và y-tế, có được tính-chất chuyên-nghiệp như thế này.
Ba tháng sau, bệnh viện gọi điện cho tôi, nhờ tôi dịch qua điện-thoại cho họ với cha của bé Lam. Họ thăm hỏi, chia buồn một lần nữa và thông báo là gia đình được miễn hoàn-toàn viện phí và bệnh-viện cũng hỗ-trợ tiền mai-táng cho cháu. Họ cầu chúc cháu an-nghỉ và chia buồn cùng cha mẹ cháu.” (Le Phan theo vietbf.com)
Vâng. Tình người hoặc cung-cách cảm-tạ ân-huệ Chúa ban đã thể-hiện qua nhóm bác-sĩ đã săn-sóc bé Lam rồi. Vâng. Có rất nhiều dấu-hiệu nêu rõ ân và huệ trong đời người. Một đời có nhiều thứ để nhớ, nhưng vẫn quên. Và đời người, vào hôm trước lẫn ngày nay, vẫn còn rất nhiều thứ lại cứ hay quên cả những điều hệ-trong trong đời, vẫn rất ân và rất huệ.
Ân và huệ, là những thứ tạo nên cốt-cách cuộc đời, cho con người. Cho cả tôi lẫn bạn, suốt một đời. Trong cõi nghìn thu, mãi mãi vẫn cứ trôi.
Trần Ngọc Mười Hai
Có nhiều thứ rất hay quên,
nhưng sẽ cố không quên
những ân và huệ
mà bạn từng làm cho tôi
cho mọi người.
Ở đời này.
Nhà tu đức học nổi tiếng là Cha Anthony de Melo có viết một bài thơ ngụ ngôn nội dung như sau:
Một hôm lang thang trên đường phố, tôi bỗng thấy có một cửa hiệu với hàng chữ: “Tại đây có bán Chân lý”. Tôi tò mò bước vào hiệu, cô bán hàng niềm nở tiếp đón tôi và hỏi:
– Ông muốn mua loại chân lý nào? Chân lý từng phần hay chân lý toàn diện?
Tôi trả lời:
– Dĩ nhiên là tôi đi tìm thứ chân lý toàn diện. Một thứ chân lý không pha trộn giả dối, một thứ chân lý mà lý trí tôi hoàn toàn đầu hàng vô điều kiện. Tôi muốn có chân lý đơn thuần và toàn diện.
Cô bán hàng nhìn tôi lắc đầu và chỉ sang một cửa tiệm khác, nơi có bán thứ chân lý mà tôi đang tìm kiếm. Người đàn ông đứng coi hàng nhìn tôi với tất cả thương cảm, ông chỉ cho tôi giá biểu món hàng mà tôi muốn mua rồi nói với tôi với một giọng đầy ái ngại:
– Thưa ông, giá của món hàng rất cao.
Đã cương quyết mua cho bằng được chân lý toàn diện tôi liền hỏi:
– Giá bao nhiêu, xin cho tôi biết?
Người bán hàng trả lời:
– Nếu ông muốn mua chân lý này ông phải trả bằng cả cuộc sống của ông.
Tôi ra khỏi tiệm, lòng buồn rười rượi. Tôi nghĩ rằng: Tôi có thể mua chân lý toàn diện bằng một giá rẻ mạt. Thì ra, tôi chưa sẵn sàng để đón nhận chân lý. Tôi vẫn chưa muốn cho đi cuộc sống của tôi. Tôi vẫn còn bám chặt vào những xác tín của tôi.
***
Qúy vị và các bạn thân mến,
Bài thơ ngụ ngôn trên đây hẳn nói lên thái độ của nhiều người trong chúng ta đối với Đấng tự xưng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Chúng ta chưa tin tưởng đầy đủ và sống trọn vẹn cho Ngài. Là chân lý nhập thể, Chúa Giêsu đòi hỏi nơi con người một sự gắn bó mật thiết với Ngài bởi vì chỉ trong Ngài con người mới có thể biết được mọi mầu nhiệm về Thiên Chúa và về con người.
Là con đường duy nhất, Chúa Giêsu đòi hỏi nơi con người một niềm tin tuyệt đối. Bởi vì chỉ trong Ngài con người mới có thể tìm được cứu cánh của mình.
Là sự Sống đích thực, Chúa Giêsu đòi hỏi nơi con người một tình yêu không chia sẻ. Bởi vì chỉ trong Ngài, con người mới tìm được sự sống, niềm hạnh phúc đích thực.
Được tạo dựng cho Thiên Chúa vốn khát khao chân lý, Thiên Chúa của Tình Yêu và Hạnh Phúc, nhưng con người lại lầm lạc và khốn khổ. Chinh phục được vũ trụ, nhưng con người vẫn lạc lối chưa biết đường về cõi sống. Có được tiền rừng bạc bể nhưng con người vẫn không mua được niềm hạnh phúc đích thực. Chúa Giêsu đã tuyên bố: An tin vào Ngài thì được sống đời đời. Ta là bánh từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống đời đời.
Đi theo Chúa Giêsu để xin Ngài chỉ bảo làm cách nào để được sự sống đời đời, nhưng khi nghe Ngài tuyên bố về bán của cải cho người nghèo rồi đi theo Ngài thì chàng thanh niên nhiệt tình, tốt lành kia đã buồn rầu bỏ về.
Con người khao khát chân lý toàn diện, nhưng khi phải đón nhận chân lý ấy con người lại chùn bước vì không muốn chấp nhận những đòi hỏi của chân lý. Chân lý không chỉ để tin mà còn để sống và thực thi.
***
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã dạy chúng con, không phải những ai nói: Lạy Chúa, lạy Chúa là đương nhiên được vào Nước Trời mà chỉ có những ai thực thi ý Chúa Cha. Xin cho chúng con luôn biết tìm kiếm và sống theo ý Chúa cho dẫu có phải chịu thiệt thòi mất mát. Xin cho chúng con không chờ đợi một phần thưởng nào khác hơn là biết rằng: Chúng con đang thực thi thánh ý Chúa. Amen!
Ngọc Nga sưu tầm
Anh chị Thụ & Mai gởi
SỐNG LẠI
Trong chương trình “Những điều bạn có thể chưa biết” của đài VTV3 có tường thuật một trường hợp lạ lùng: Một phụ nữ bị nhồi máu cơ tim. Chị tắt thở. Chị đã chết. Nhưng nhiều giờ sau, chị tỉnh lại. Các bác sĩ hỏi chị đã thấy gì trong thời gian ấy. Chị trả lời: chị thấy mình như bay bổng lên cao, và từ trên cao chị nhìn xuống thấy các bác sĩ, các y tá đang chăm sóc cho mình, nhìn thấy thân xác mình nằm bất động, nhìn thấy thuốc men, dụng cụ y tế. Chị cũng nhìn thấy một chiếc giày tennis cũ màu xanh da trời, đế giày bị mòn ở mép trong bàn chân, giây giày màu trắng, đầu một sợi dây thòng xuống dưới đáy giày. Nghe lời tả rất chi tiết của chị, vị bác sĩ chuyên điều tra băn khoăn để ý tìm kiếm. Một hôm vị bác sĩ đi qua tòa nhà đối diện nhìn sang bệnh viện, bà giật mình kinh hãi vì thấy ở tầng ba của tòa nhà, trên một gờ xi măng rất cheo leo, có một chiếc giày tennis cũ ai đã đặt ở đó tự hồi nào. Vị bác sĩ quan sát kỹ lưỡng và thấy chiếc giày giống từng chi tiết với chiếc giày mà người chết kể lại: chiếc giày vải cũ màu xanh, đế giày mòn ở mép trong, dây giày màu trắng, đầu một dây thòng xuống nằm ở dưới đáy giày.
Đó là một trong 1370 trường hợp trở về từ cõi chết mà các bác sĩ Đức và Mỹ đã điều tra. Theo những người có kinh nghiệm về cái chết này thuật lại thì: Cuộc sống ở “cõi bên kia” hạnh phúc hơn cuộc sống ở đời này. Và sau khi “chết đi sống lại”, không ai còn sợ chết nữa, không ai muốn kiếm tiền bạc, danh vọng, lạc thú gì nữa. Điều duy nhất mà họ quan tâm là sống yêu thương, quảng đại, phục vụ mọi người. Tất nhiên đây chưa phải là bằng chứng chắc chắn về việc người chết sống lại. Nhưng nó rất gần với mặc khải của Lời Chúa hôm nay. Và kinh nghiệm hiếm có của họ rất có thể hữu ích cho ta. Kinh nghiệm của họ nói với ta hai điều:
1) Có cuộc sống khác ở bên kia cái chết. Kinh nghiệm của họ phù hợp với niềm tin dân gian, nhất là của người Việt Nam vẫn tin rằng: thác là phế thách, còn là tinh anh. Vì tin có sự sống ở bên kia cái chết mà chúng ta mới thờ kính tổ tiên, cúng quảy, giỗ chạp.
Niềm tin ấy phù hợp với giáo lý của Chúa. Khi Môsê thấy Chúa hiện ra trong bụi gai cháy đỏ. Ông hỏi Chúa là ai. Chúa trả lời: “Ta là Thiên Chúa của Abraham, Isaác, Giacóp”. Vào thời của Môsê, Abraham đã qua đời được 5, 6 trăm năm. Vậy mà Chúa vẫn tự giới thiệu là Thiên Chúa Abraham, tức là Abraham vẫn sống, đang sống bên Chúa. Vì Thiên Chúa là Thiên Chúa của người sống chứ không phải Thiên Chúa của kẻ chết.
Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu nhiều lần nhắc đến cuộc sống sau cái chết như dụ ngôn người giàu có và Lagiarô, trong dụ ngôn về ngày phán xét, dụ ngôn lúa đồng và cỏ dại.
Theo thánh Phaolô, cuộc sống đời sau mới là đích điểm mà mọi tạo vật nhắm tới. Trong thư Rôma, Ngài viết: “Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng chờ ngày Thiên Chúa mạc khải vinh quang của con cái Người. Quả thế, muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt phải chịu vậy. Thật vậy, chúng ta biết rằng: cho đến nay, muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở” (Rm 8,19-23).
Chúng ta rên siết vì cuộc sống hiện tại đầy khổ ải. Chúng ta mong chờ cuộc sống đích thực ở mai sau. Đời sống này là thời kỳ thai nghén. Ta phải chịu đau đớn để sinh vào đời sau.
2) Cuộc sống ở bên kia rất khác với cuộc sống hiện tại. Khi Chúa Giêsu trả lời người Sadducêô, Chúa Giêsu đã mặc khải ba chân lý.
Chân lý thứ nhất: Chỉ những ai được tuyển chọn mới được vào Nước Chúa. Sự sống đời sau có đó. Nhưng không phải ai cũng vào được. Chỉ có những người được xét là xứng đáng mới được vào. Trong Phúc Âm, nhiều lần Chúa đã nói tới việc tuyển chọn này. Chúa sẽ loại chiên ra khỏi dê, lúa tốt ra khỏi cỏ dại, cá tốt ra khỏi cá xấu. Tiêu chuẩn để chọn lựa là Tám mối phúc, nhất là giới răn bác ái yêu thương.
Chân lý thứ hai: Người ta sẽ giống như thiên thần. Đời sống trên trời sẽ không có gì giống với đời sống dưới đất. Sẽ không còn đói khát nên sẽ không cần ăn uống. Sẽ chẳng có lấy vợ lấy chồng, sẽ chẳng cần sinh con để nối dõi vì người ta không bao giờ chết nữa. Nếu vậy, trên trời ta có còn là ta nữa không hay ta trở thành một người khác, một kiếp khác? Thưa, tuy có khác nhưng ta vẫn là ta. Đứa bé bụ bẫm hôm nay chẳng có gì giống với cái bào thai ngọ nguậy trong bụng mẹ hôm qua. Nhưng cả hai chỉ là một. Bà cụ 90 tuổi hôm nay chẳng còn gì giống với cô thiếu nữ mà bà đã là cách nay 70 năm. Nhưng cả hai vẫn là một. Chú bướm xinh đẹp nhởn nhơ bay lượn trên khóm hoa hôm nay chẳng có gì giống với gã sâu xấu xí lê la trên đất hôm qua. Nhưng cả hai vẫn chỉ là một.
Trên trời, ta sống một cuộc sống khác, không ăn uống, không lấy vợ lấy chồng. Nhưng ta vẫn là ta. Có khác biệt nhưng vẫn có liên tục.
Chân lý thứ ba: Ta sẽ trở thành con Thiên Chúa. Sống lại rồi, ta như đứa con bấy lâu phiêu bạt xa quê nay được trở lại nhà cha mẹ. Tâm hồn luôn bị dằn vặt vì niềm khao khát vô biên, nay mới được no thỏa: Thiên Chúa chính là hạnh phúc lấp đầy được vực thẳm khao khát vô biên của ta. Thánh Augustinô đã nói: “Lạy Chúa, Chúa dựng nên con cho Chúa, nên lòng con mãi khắc khoải băn khoăn cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa”. Là con Thiên Chúa, hạnh phúc lớn nhất của ta là được tham dự vào sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi. Sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi là cội nguồn hạnh phúc, nên thánh Phaolô đã nói: “Những đau khổ ta chịu bây giờ không thấm gì so với hạnh phúc sau này ta sẽ được. Và mọi tạo vật mong tới ngày được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, để được cùng con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang” (Rm 8,22). Vì hạnh phúc ấy mà tám mẹ con trong bài đọc thứ nhất đã cam chịu mọi khổ hình.
Lời Chúa hôm nay đem lại cho ta bao niềm hy vọng. Chúa cho ta biết, đời ta sẽ không đi trong bất định, lạc vào hư vô, nhưng đời ta có một cùng đích, đó là trở về với Thiên Chúa là cội nguồn của ta. Đời ta sẽ không chìm đắm trong đau khổ, nhưng sẽ vươn lên hạnh phúc, hạnh phúc làm con Thiên Chúa, hạnh phúc chia sẻ sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi. Đời ta như vậy sẽ không đi vào mạt kiếp lụi tàn, nhưng sẽ triển nở trong vinh quang tự do. Đúng như lời thánh Phaolô nói: “Gieo xuống thì hư nát, mà chỗi dậy thì bất diệt; gieo xuống thì hèn hạ, mà chỗi dậy thì vinh quang; gieo xuống thì yếu đuối, mà chỗi dậy thì mạnh mẽ; gieo xuống là thân thể có sinh khí, mà chỗi dậy là thân thể có thần khí” (1Cr 15,43-44)
Lạy Chúa, xin cho con biết sống ở đời này theo đúng Lời Chúa dạy, để mai sau con xứng đáng được trở nên con của Chúa. Amen.
ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt
Một trong những trường hợp trở về từ cõi chết, đó là trường hợp của mục sư Don Piper, tác giả cuốn sách “Khi Đức Tin Chiến Thắng: Câu Chuyện Có Thật Về Sự Sống Và Cái Chết”, New Yor Times Best Seller, kể về trải nghiệm của mình về những khoảnh khắc của “cuộc sống sau cái chết”. Mời bạn đón đọc tại đường link:
http://suyniemhangngay.net/ 2016/10/16/khi-duc-tin-chien- thang/
Langthangchieutim gởi
“Vẫn biết trên cõi đời thường yêu thường mơ lứa đôi”
Nếu biết sống giữa trời tình yêu là con nước trôi
Trôi lang thang qua từng miền
Lúc êm ái xuôi đồng bằng.
Cũng có lúc thác gập ghềnh chia từng con nước xuôi
Mời bạn nghe chuyện thê lương
Khóc cho người lỡ yêu đương
Trời già nhưng còn ghen tương
Cách chia người trót thương.”
(Trần Thiện Thanh – Chuyện Tình Mộng Thường)
(Tôbia 12:15)
Trần Ngọc Mười Hai
Đây là chuyện tình thời chinh-chiến khói lửa của thiếu-uý Biệt Động Quân tên là Phạm Thái với người con gái nhỏ phương xa là tiếp viên hàng không Air Vietnam xinh đẹp tên là Nguyễn Thị Mộng Thường.
Thôi thì, trích dẫn bài ca nói về chuyện tình da diết thời chiên-chinh cũng để mời bạn và cũng mời tôi, ta nghe thêm đôi giòng nhạc khá lỉnh kỉnh kiểu Nhật-Trường/Thiên-Thanh ở một thời cũng rất “chiến”, như sau đây:
Em xinh em tên Mộng Thường Mẹ gọi em bé ngoan.
Em xinh em tên Mộng Thường cha gọi em bé xinh.
Đến lúc biết mơ mộng như những cô gái xuân nồng.
Nàng yêu anh quân nhân Biệt Động trong một ngày cuối đông.
Chuyện tình trong thời giao tranh vẫn như làn khói mong manh.
Chàng về đơn vị xa xăm nàng nghe nặng nhớ mong.
Yêu nhau lúc triền miên khói lửa.
Chuyện vui buồn ai biết ra sao.
Nhìn quanh mình sao lắm thương đau.
Khi không thấy người yêu trở lại.
Tình không tìm ra dấu ban mai.
Người không tìm ra dấu tương lai.
Nhưng không chết người trai khói lửa.
Mà chết người em nhỏ phương xa.
Một đêm buồn có gió đông qua.
Xin cho yêu trong Mộng Thường
nhưng mộng thường cũng tan.
Xin cho đi chung một đường
sao định mệnh chắn ngang.
Xin ghi tên chung thiệp hồng
bỗng giây phút nghe ngỡ ngàng.
Cô dâu chưa về nhà chồng
Ôi lạnh lùng nghĩa trang.
Chàng thề không còn yêu ai
dẫu cho ngày tháng phôi phai.
Nhiều lần chàng mộng liêu trai
Chàng hẹn nàng kiếp mai…”
(Trần Thiện Thanh – bđd)
Khởi đầu chuyện phiếm hôm nay, có vị gửi về bần đạo một đề-nghị cho đăng bài viết của một bé học sinh lớp 9b ở Hải Dương Việt Nam là Nguyễn Thị Thu Trang, viết bài đoạt giải như sau:
“Thiên đàng, ngày 1/1/2016.
Xin gửi lời chào tới anh bạn tương lai của tôi!
Vậy là đã gần bốn tháng kể từ ngày tôi rời xa dương thế. Có lẽ sự từ giã trần thế quá sớm khiến tôi trưởng thành hơn để hôm nay tôi viết bức thư này cho anh. Tôi – bé Aylan Kurdi 3 tuổi người Syria – được cả thế giới biết đến với giấc ngủ vĩnh hằng trên bờ biển Bodrum Thổ Nhĩ Kỳ, viết cho anh – là tôi của tuổi 45 còn sống nơi trần thế.
Nghe có vẻ vô lý anh nhỉ? Tôi đã chết thì làm gì có anh! Nhưng tại sao lại không thể khi mọi thứ đều trong một giấc mơ – cả tôi và anh. Những thiên thần sẽ giúp tôi gửi bức thư này đến anh.
Anh bạn thân yêu! Giờ đây tôi đang ở trên thiên đàng – một thế giới kì diệu lung linh biết mấy. Nơi này chẳng có ngày hay đêm. Mặt trời, vầng trăng và cả những vì sao lấp lánh cùng nhau tỏa sáng, không gian lúc nào cũng trong veo như pha lê. Mẹ và anh trai tôi đang mỉm cười cùng những linh hồn khác. Chúng tôi không có quốc gia, không phải di cư, không phân biệt tôn giáo, không có khủng bố hay bạo lực… Tất cả đều như nhau – những linh hồn bay nhẹ nhõm, thanh thản và bình yên.
Giờ đang là giao thừa. Từ trên đây, chúng tôi có thể ngắm nhìn cả trái đất. Ngắm nhìn những chùm pháo hoa lộng lẫy bung nở trong màn đêm và lắng nghe tiếng chuông ngân vang. Dưới đó là những mảng màu tương phản. Có những nơi rực rỡ trong ánh sáng, lại có những mảng tối im lìm đâu đó. Tiếng chuông lẫn trong tiếng súng, hạnh phúc ở cùng với bất hạnh, thù hận đi liền với tình yêu… Chao ôi, cuộc sống nơi trần thế! Giờ thì tất cả đã quá xa vời.
Anh bạn tuổi 45 ơi, anh còn nhớ chứ! Chúng ta theo cha mẹ chạy trốn khỏi chiến tranh và bạo lực đẫm máu nơi quê nhà Kobani với giấc mơ về “miền đất hứa” ở trời Âu. Vậy mà, giấc mơ ấy chấm dứt chỉ 20 phút sau khi chiếc thuyền khởi hành. Biển dậy sóng, thuyền lật úp, bàn tay bé nhỏ của tôi buông rời tay mẹ. Tôi đã hét lên: “Bố ơi, xin đừng chết!”. Tôi đã vật lộn với những con sóng, đã cố bấu víu lấy sự sống mong manh, đã vẫy vùng trong tuyệt vọng.
Nhưng đứa bé ba tuổi thì có thể làm gì được giữa biển cả mênh mông trong đêm tối mịt mù? Và rồi… biển cả rộng mở đón tôi vào lòng. Biển cả cũng rất khoan dung khi thay vì nhấn chìm tôi đã đưa tôi vào bờ, nằm yên trên nền cát. Hẳn anh còn nhớ hình ảnh của tôi khi ấy. Bé bỏng. Áo màu đỏ và quần xanh lam. Chân đi giày. Hai tay xuôi theo chiều chân. Tôi nằm yên trên bãi biển. Mặt úp xuống bờ cát hiền hòa như đang say ngủ. Xung quanh, những con sóng vỗ về. Một giấc ngủ dài. Vĩnh viễn.
Hình ảnh tôi được chia sẻ rộng rãi trên các trang mạng xã hội và các phương tiện truyền thông. Họ đã nói những gì? “Thảm họa nhân đạo mang tính toàn cầu”, “Biểu tượng của nỗi đau mà người dân Syria phải hứng chịu cũng như nỗ lực tuyệt vọng để thoát khỏi nỗi đau ấy” rồi “khiến thế giới câm lặng” hay “thức tỉnh lương tri”.
Và người ta còn vẽ lên bức hình tôi đôi cánh của thiên thần. Đây, dĩ nhiên không phải là cách người ta “cường điệu hóa” hay “thi vị hóa” một cái chết. Đây là sức lay động từ một cái chết và là cách người ta làm dịu lại nỗi đau. Nhưng dù thế nào đi nữa thì một sự thật vẫn luôn hiện hữu. Một cuộc đời đã chấm dứt. Đứa trẻ mãi mãi tuổi lên ba. Tôi và gia đình đã sống sót qua mưa bom bão đạn ở Syria bất ổn, nhưng lại bỏ mạng khi đang trên đường tìm một nơi bình yên khác để sống. Cái chết quá sức đau đớn và quá sức vô lý.
Chao ôi, 3 năm – một cuộc đời! Giá không có chiến tranh và bạo lực; giá tôi được đi trên chiếc thuyền chắc chắn hơn; giá bố mua được cho tôi chiếc áo phao; giá các nước châu Âu mở rộng đường biên giới; giá như… thì có lẽ tôi đã không phải chết!
Giờ thì thân xác tôi đã được trở về nơi quê nhà. Một hành trình trở về đất mẹ gian truân, nhọc nhằn. Nhưng là trở về sau khi đã chết. Trở về cái nơi tôi đã tháo chạy. Trở về chỉ đề nằm dưới lòng đất. Đúng là một kiếp người dạt trôi, một phận người bèo bọt!
Nhưng anh ạ, dù sao thì tôi cũng được nhiều người biết đến, được an ủi. Còn hàng nghìn, thậm chí hàng triệu cái chết khác thì sao? Hàng nghìn người di cư đã bỏ mạng khi vượt Địa Trung Hải, hàng nghìn đứa trẻ đã chết vì đói, vì rét, vì bệnh tật, hàng trăm người đã chết vì khủng bố. Có những người biết là sẽ chết khi phải vượt biển di cư nhưng không làm khác được.
Một người đồng hương Syria của tôi đã viết thế này trước khi chết chìm anh ạ “Cảm ơn biển cả đã chào đón chúng tôi mà không đòi hỏi visa… mà không hỏi tôn giáo của tôi là gì…”. Thế đấy, có những cái chết được người ta xoa dịu. Có những cái chết được người ta tưởng nhớ. Nhưng cũng có cái chết bị bỏ rơi, quên lãng. Chao ôi, chỉ có chết mới hết bất công sao? Hay đến chết cũng chưa hết bất công?
Và từ nơi đây, từ trong đau đớn, tột cùng của một đứa trẻ đã chết, từ trong yên bình, nhẹ nhõm nơi thiên đàng, tôi viết thư cho anh – là tôi, 45 tuổi còn sống nơi trần thế. Anh sẽ hỏi sao không phải một độ tuổi nào khác? Anh bạn, tôi chọn anh – tuổi 45 – là bởi khi ấy ta đã định vị được bản thân trong cuộc đời. Khi tôi 45 tuổi, còn sống – là anh – ta sẽ thế nào nhỉ? Một ông bố? Một công chức bình dân? Hay một nhân vật có khả năng thay đổi thế giới?
Anh biết đấy, Steve Jobs của Apple cũng là con một người di cư. Và ta sẽ sống ở đâu? Trở về quê hương Syria hay ở miền đất hứa trời Âu? Thế giới khi ấy sẽ ra sao? Có như thiên đàng tôi đang sống không? Tuổi 45 ngỡ sẽ đến như một lẽ tự nhiên ư?
Không! Có những tuổi 45 mãi mãi chỉ là ước mơ không thành hiện thực. Ai sẽ cho tôi và những đứa trẻ như tôi tuổi 45? Ai sẽ cho chúng tôi cuộc đời? Làm sao để tất cả mọi người đều có tuổi 45, tuổi 55 và hơn thế nữa? Câu hỏi ấy ai sẽ trả lời cho tôi – thưa anh!
Thân ái!
Tôi – là anh từ trên thiên đàng”. (Theo Infonet)
Bài viết của người trẻ hôm nay, thoạt nghe đã thấy lạ. Lạ ở chỗ, bé em học trò đây viết không thua gì người lớn cả xác lẫn hồn và lớn cả tư-tưởng lẫn những tư-duy tưởng chừng chừng như đã mai một dần với thế-hệ cao niên dần dà biến mất. Không phải thế. Phải nói rằng thế-hệ già trẻ một ngày kia rồi cũng sẽ biến mất, nhưng tử-tưởng chín mùi sẽ còn tồn tại mãi mãi, chẳng biến dạng.
Suy-tư những giòng chảy như thế, lại khiến bần đạo bầy tôi đây nghĩ nhiều về các thế hệ trẻ mãi đến sau này. Một thế-hệ không còn tin vào những chuyện tưởng chừng như “không tưởng”, như không còn tưởng-nghĩ như người xưa nữa.
Cũng thế, ở nhà Đạo thời hôm nay, còn ai đâu mà tin vào chuyện thiên-thần với thần-sứ mà đức thày John Flader lại đặt vấn-đề “Thế nào là thiên-thần và tổng-lãnh thiên-thần giữa các thánh”! Thôi thì, đức thày có viết lách cũng chỉ để phục-vụ các vị nay đã hết thời tin-tưởng vào những chuyện “không tưởng” tượng được như lời hỏi/đáp ở bên dưới:
“Thưa Cha,
Sao ta cứ gọi thần-sứ Gabriel và Raphael là “tổng-lãnh thiên-thần” mãi vậy? Và, tại sao Giáo-hội lại vẫn cử-hành mừng lễ các vị ấy mỗi năm, vậy chứ?”(Câu hỏi của một vị không ghi danh tánh)
Có ghi tên không, thì bạn và tôi ta cũng nghĩ là Đức Thày John Flader của The Catholic Weekly chế ra cho đầy mặt báo, chứ giờ này làm gì có ai thắc-mắc với vấn-nạn chuyện thần-thoại như thế. Thôi thì, các cụ đã tự hỏi, thì nay ta cứ xem các cụ trả lời/trả vốn ra sao, là được.
Và, đấng bậc vị vọng là Đức thày John Flader trả lời nhưng không trả vốn, như sau:
“Hệt như anh/chị vừa đề-cập ở câu hỏi, thường thì ta dung cụm-từ “thánh” là cho các vị sống lành/thánh hạnh-đạo rất gương mẫu, được Giáo-Hội công-nhận là bậc thánh-hiền, mà thôi. Nhưng, nếu hỏi: sao ta đưa cả các đấng bậc thiên thần nói ở trên vào cùng hàng với bậc lành/thánh như thế được? Câu trả lời chỉ chấp-nhận được nếu ta quay về với truyền-thống Giáo-hội kéo dài nhiều thế-kỷ, trong đó lại kể đến thần-sứ hoặc thiên-thần cùng bậc hiển-thánh có danh-xưng như thế cũng dễ hiểu.
Nếu gọi là thánh, tức: ám-chỉ các vị có cuộc sống thánh-thiện thì đương nhiên là các thần-sứ còn gọi là “tổng-lãnh thiên-thần” thì không thể thích-hợp như thế được. Điều này, lại càng không thể để ta bắt chước cuộc sống giống với thiên-sứ được. Bởi lẽ, các ngài chỉ là bậc linh-thiêng vốn có khả-năng làm những việc mà con người chúng ta không thể làm được. Tuy nhiên, ta vẫn có thể khẩn cầu các đấng can-thiệp cầu-bàu cho ta mỗi khi cần.
Thế còn, hỏi rằng tại sao ta lại mừng lễ các vị ấy mỗi năm, là làm sao? Thì, có thể trả lời rằng: mỗi vị như thế đều được nêu tên trong Kinh thánh, nên ta cũng nên đem lòng sùng kính các ngài như Giáo-hội có thói quen làm thế biết bao nhiêu năm trời nay.
Nói chung thì, các vị này đều là bậc lành thánh từng chống trả ma quỷ như sách Cựu Ước từng diễn-tả, bấy lâu nay. Đặc-biệt là thánh Mi-ca-e từng được nhắc đến nhiều lần ở sách Đanien đoạn 12 câu 1.
Ở Tân-Ước, thư thánh Giuđê gọi ngài là Tổng-lãnh thiên-thần từng đánh chống ác-thần quỷ dữ. Và, sách Khải-Huyền ở nhiều đoạn như đoạn 12 câu 7-9 còn kể chuyện thánh thiên-thần đây đạp dẹp loài rồng/rắn hãm hại cả và thế-gian nữa.
Riêng thánh Gabriel là Đấng thánh mang tên có nghĩa là “Quyền-uy sức mạnh của Thiên-Chúa” xuất-hiện cả ở Cựu Ước lẫn Tân-Ước, khi ngài cắt-nghĩa thị-kiến của tiên-tri Đanien như sách này từng nói ở các đoạn 8 câu 15-26 và đoạn 9 câu 20-27,vv… Đặc-biệt là ở Tân-Ước thán thiên thần này từng xuất-hiện với ông Zakaria để loan-báo việc sinh-hạ ra ông Gioan Tẩy Giả là do Chúa sắp-đặt.
Danh tánh của thánh thiên-thần Raphael có nghĩa “Thiên-Chúa chữa cho mọi người được lành/sạch” hoặc còn gọi là “Thuốc chữa của Thiên-Chúa”. Thánh thiên thần này xuất-hiện ở sách Tôbia từng tháp-tùng trê Tôbia trong hành-trình hoàn-trả tiền bạc còn thiếu nợ người cha của ông. Để rồi, cuối cùng bèn thốt lên những lời rằng:
“Tôi đây là Raphaen,
một trong bảy thiên-sứ luôn hầu-cận
và vào chầu trước nhan vinh-hiển
của Đức Chúa.” (Tôbia 12:15)
Vì được coi là thánh, nên đấng bậc đây cũng được mừng vào thế-kỷ thứ 16 ở nhiều địa-điểm được coi là nơi các ngài xuất-hiện. Theo lịch La Mã, thánh-nhân được mừng kính từ năm 1921. Mãi cho đến năm 1969, lễ này được mừng vào ngày 24 tháng 10. Và sau đó, được dời vào ngày 29/9 mỗi năm. Tắt một lời, truyền-thống Giáo-hội xưa nay vẫn trân-trọng sự thánh/thiêng của mỗi đấng, là như thế. (X. Lm John Flader, Why do we include angels and archangels among the saint, The Catholic Weekly 02/10/2016, tr. 26)
Nói cho cùng, thì: Giáo-hội có thói-quen sùng-kính/nguyện-cầu cùng các đấng bậc lành-thánh từng sống hoặc chết theo cung-cách hạnh-đạo, dù chỉ một số ít các ngài là người dấn bước theo chân Đức Kitô. Thế nhưng, theo Kinh/Sách, thì tất cả mọi tín-hữu đều được gọi là thánh, dù có vị thiếu trưởng thành về mặt thiêng-liêng hoặc kiến-thức lành/thánh nữa. Chẳng thế mà thánh Phaolô tông-đồ mỗi lần viết cho thành-viên giáo-đoàn khác nhau ở Rôma, Êphêsô hoặc Côrinthô hoặc nhiều nơi khác vẫn gọi tất cả tín-hữu Đức Kitô là các “thánh”.
Nói cho cùng, thì “thánh-nhân phải là những người đang còn sống thánh-thiện, hạnh-đạo chứ không thể là các đấng đã chết rồi, hoặc thần-sứ trên trời xuất-hiện ở nhiều nơi, như ta vẫn gọi. Nói cho cùng, thì tập-tục này khi xưa bắt nguồn từ đạo-giáo bên ngoài Đạo Chúa hoặc Do-thái-giáo dù có truyền-thống rất lâu đời.
Xem thế thì, ngoài Đạo Chúa ra, cũng có rất nhiều vị, nhiều đấng bậc từng sống rất hạnh-đạo, làm gương cho người đồng thời hoặc sau này theo đó mà bắt chước.
Bên ngoài Đạo Chúa của ta, lại cũng có rất nhiều truyện kể về nhân-sinh, cuộc sống mỗi con người đều khác nhau. Khác rất nhiều, dù chữ “thánh/thiêng” hoặc “thánh/thiện” “hạnh-đạo vẫn có nơi họ. Người đời gọi đó là cái “tâm” rất lành và cũng “mạnh”, như truyện kể để hầu người đọc tìm ra ý-nghĩa của mỗi sự việc trong đời người, như sau:
“Người phụ nữ nọ phải làm việc 8h/ngày lại còn chăm sóc gia đình và làm hết mọi công việc của một người nội trợ! Một ngày nọ cô mệt nhoài với hàng tá công việc ở cơ quan khiến cô có cảm giác như kiệt sức! Về nhà cô còn phải dọn dẹp nhà cửa và nấu ăn cho chồng và con của cô! Khi người chồng đón con từ trường về, cũng là lúc cho nướng xong mẻ bánh quy trong lò! Thế nhưng vì quá mệt nên cô đã để quên nó một lúc khiến cho một vài chiếc bị cháy!
Lúc ăn tối, đứa con quan sát xem có ai nói gì về những chiếc bánh cháy đó không nhưng chẳng có ai lên tiếng cả! Khi dọn bắt đĩa, người vợ ngỏ ý xin lỗi về những chiếc bánh cháy nhưng người chồng dịu dàng nói: có gì mà em phải xin lỗi chứ, hơn nữa mùi vị nhưng chiếc bánh ấy rất ngon! Người vợ mỉm cười hạnh phúc!
Khi đưa con đi ngủ, nó thì thầm hỏi bố nó:
-Có thật bố thích ăn bánh quy cháy không?
-Không con ạ, anh ta nói với con! Nhưng hôm nay mẹ con rất mệt mà vẫn phải chuẩn bị bữa ăn cho bố con chúng ta! Không nên làm mẹ buồn mà một vài chiếc bánh cháy có ảnh hưởng đến ai đâu. chứ!
Thế đấy, có bao nhiêu người không để ý đến một vài chiếc bánh cháy trên đĩa bánh? Không nhiều lắm phải không bạn! Cũng như vết mực đen trên tờ giấy trắng! Có lúc chúng ta chỉ biết nhìn vào những sai lầm, khuyết điểm của người khác để rồi lên tiếng chỉ trích mà quên rằng họ đã cố gắng rất nhiều! (Truyện kể trích từ điện-thư vi-tính)
Lại một truyện kể khác, nói rõ hơn về tâm-tánh cũng “rất thánh” của mỗi người, như sau:
“Một thanh niên trẻ nọ đang muốn tìm kiếm sự thành công liền đến thỉnh-giáo vị thiền-sư từng dạy mình. Thiền sư liền đưa cho anh một hột đâu phộng rồi bảo:
– Con hãy dùng sức mà vê nát nó ra!
Người thanh niên dùng sức vê nát hạt lạc, vỏ hạt lạc bay ra và còn lại cái nhân.
Vị thiền sư lại nói với người thanh niên trẻ tuổi:
– Con hãy dùng tay chà xát hạt lạc này ra.
Người thanh niên lại làm theo và kết quả vỏ hạt lạc lại rơi ra và còn lại một hạt lạc trắng không có vỏ. Vị thiền sư lại bảo người thanh niên hãy dùng tay vê nát hạt lạc trắng đó ra, và bất luận anh ta dùng sức thế nào cũng không vê nát được nhân của hạt lạc ra.
Lúc này vị thiền sư mới nói:
– Mặc dù nhiều lần gặp phải trắc trở, và cũng bị mất mát rất nhiều, nhưng phải có một cái tâm không bị khuất phục mới mong thành công được!
Người thanh niên nghe xong và vui mừng vì hiểu được ý tứ của vị thiền-sư.”(Truyện kể cũng ráu từ một nguồn-gốc)
Xem thế thì, cứ gì phải là thiền-sư hay đấng bậc lành/thánh mới hạnh-đạo, đáng kính nể, để mọi người bắt-chước như đấng thánh. Xem thế thì, từ nay, hẳn cũng nên gọi nhau bằng các cụm-từ như: “Đấng thánh họ Nguyễn” “Thánh-nhần họ Trần”, chứ đâu chỉ mỗi Giuse hoặc Maria gì đó, mới là thánh-nhân hiền-lành trong Đạo!
Vậy thì, nay xin phép các thánh-nhân nam/nữ đang đọc mấy giòng chữ còn con này cho phép bần đạo được kết thúc ở đây với lời chào “rất thánh”, mãi mọi thời.
Trần Ngọc Mười Hai
Có những thời những buổi
Chẳng thấy mình thánh-hoá
hoặc “thánh goá” gì hết
Thế có chết không cơ chứ.