NÔ LỆ HAY TỰ DO

NÔ LỆ HAY TỰ DO

Hôm ấy, trời vừa rạng đông, ông hoàng nói với tên đầy tớ: “Xem chừng anh mơ ước giàu có lắm. Vậy từ giờ này cho tới lúc mặt trời lặn, anh có sức ngần nào thì cứ chạy.  Tất cả những ruộng vườn, ao cá anh chạy vòng quanh được, ta cho anh hết.”

Anh vui sướng quá!  Cha chết sống dậy cũng không bằng.  Anh liền cắm đầu chạy, chạy vùn vụt như Hạng Vũ trên con ngựa Ô-Truy.  Chín mười tiếng đồng hồ qua, chàng làm chủ được mấy cánh đồng bao la mù mịt.  Chàng vừa dừng chân, thì một hồ cá mênh mông với mặt nước trong ngần huyền ảo phản chiếu ánh mặt trời đã xế chiều.  Chàng lại chạy tiếp.  Sau cùng, màn đêm buông rơi.  Chàng thở hổn hển quay bước trở về, để làm bậc tỉ phú với “Ruộng vườn cò bay thẳng cánh, ao hồ mặc sức cá đua.”

Nhưng vừa bước chân vào ngưỡng cửa, chàng ngã lăn xuống bất tỉnh.  Vợ con vội vàng thuốc thang săn sóc…  Nhưng vô hiệu.  Nhà tỉ phú đã trút linh hồn sau một ngày dài lao lực quá mức.  Người ta đào cho chàng một chỗ nghỉ trong lòng đất, vừa dài, vừa rộng, nhưng không quá ba tấc đất!

****************

Đó là kết cục của một con người ham mê tiền của, để nó sai khiến như một tên nô lệ, phải vắt cạn kiệt sức lực cho tới chết, mà không được mảy may hưởng dùng!

Đức Giêsu đã cảnh báo cho những con người tôn thờ tiền của ấy như sau: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền của được” (Mt 6, 24).  Tiền của ở đây được viết hoa, tiếng Aram là Mammon, có nghĩa là Thần tiền.  Nếu tiền được thần hóa như thế, thì sức mạnh thống trị của nó không thể coi thường.  Nếu tiền và Thiên Chúa đã được Đức Giêsu đưa lên bàn cân để người ta chọn lựa, thì quyền lực của nó phải là vô song.

Sống là một chuỗi những chọn lựa.  Chính những chọn lựa này sẽ làm cho người ta thành công hay thất bại, trở nên người tốt hay hóa ra kẻ xấu, được hạnh phúc hay phải khổ đau.  Đã chọn lựa điều này thì phải từ bỏ điều kia.  Từ bỏ bao giờ cũng nuối tiếc dằng co.  Đức Giêsu muốn các môn đệ của Người phải chọn lựa dứt khoát, không có thái độ lưng chừng hoặc bắt cá hai tay.  Người bắt cá hai tay bao giờ cũng là kẻ thua thiệt nhất.  Hoặc làm tôi Thiên Chúa hoặc làm tôi tiền của.

Tiền của có một sức mạnh vạn năng, nó giải quyết phần lớn các nhu cầu của con người, nên tiền của hấp dẫn lạ thường.  Việt nam ta có câu: “Có tiền mua tiên cũng được.”  Ngay cả việc đạo cũng phải có tiền mới xong: “Có thực mới vực được đạo.”  Nhưng tại sao Đức Giêsu lại gay gắt với tiền của như thế?  Thật ra, Người không lên án tiền của, Người chỉ cảnh báo những ai ham mê của cải mà thôi.

Tiền của là phương tiện hữu hiệu Chúa ban, để bảo tồn sự sống đời này, và để mua nước Thiên Đàng đời sau.  Tự bản chất tiền của là tốt, nó là hồng ân của Thiên Chúa tặng ban cho con người.  Tiền của chỉ trở nên xấu khi ta quá tôn thờ nó, như một ông chủ sai khiến hành hạ đời ta, thậm chí lấy luôn mạng sống ta như anh đầy tớ trong câu chuyện trên đây.  Tiền của chỉ trở nên đáng ghét khi ta quá tham lam thu tích nó mà quên đi bổn phận chia sẻ với anh em, như người giàu có xử tệ với Ladarô nghèo khó.  Tiền của chỉ trở nên án phạt khi ta quá ham mê nó mà từ bỏ Thiên Chúa, như Giuđa bán Thầy vì mê 30 đồng bạc.  Tiền của chỉ trở nên cạm bẫy khi ta quá bám víu vào nó mà không còn tin cậy nơi Thiên Chúa quan phòng, như người phú hộ ham hưởng khoái lạc không kịp ăn năn.

Vì thế Đức Giêsu thật có lý khi cấm chúng ta không được làm tôi tiền của.  Người còn khuyên chúng ta đừng lo lắng về “của ăn, áo mặc.”  Động từ “lo lắng” được lập đi lập lại 6 lần, chứng tỏ tính cấp bách phải từ bỏ mọi lo âu thái quá, vì cả cuộc sống chúng ta đều ở trước mặt Chúa Cha, Đấng biết rõ mọi thứ chúng ta cần.

Nói như thế, không phải là Người cổ vũ cho sự lười biếng ỷ lại, hay sự vô tâm thụ động, không làm gì để Chúa làm tất cả.  Người khuyên chúng ta đừng lo lắng, chứ không cản chúng ta lo liệu.  Lo lắng vì không tin tưởng vào Thiên Chúa quan phòng.  Mọi lo lắng đều liên hệ đến tương lai, mà tương lai là điều chưa có thật.  Trái lại, lo liệu là vẫn lo làm việc hôm nay, tiên liệu cho ngày mai, nhưng luôn tin cậy phó thác nơi Chúa.

Nếu Chúa đã nói: “Anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngài mai, cứ để ngày mai lo.  Ngày nào có cái khổ của ngày đó” (Mt 6,34) thì chúng ta phải hiểu là: Quá khứ đã qua đi rồi, hãy quên nó đi; hiện tại đang trong tầm tay, phải chu toàn nó; tương là là của Chúa, hãy phó thác cho Người.

****************

Lạy Chúa, Chúa đã dạy: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người trước” (Mt 6,33), xin cho chúng con trong khi bôn ba cho cuộc sống này, vẫn dành ưu tiên cho việc làm sáng danh Chúa và luôn sống theo thánh ý Người.  Amen.

Thiên Phúc

(Trích trong “Như Thầy Đã Yêu”)

Anh chị Thụ & Mai gởi

NỤ HÔN CỦA THIÊN CHÚA LÊN LINH HỒN

NỤ HÔN CỦA THIÊN CHÚA LÊN LINH HỒN

Đâu là gốc rễ thực sự của sự cô đơn trong con người?  Một sai sót trong cấu thành của chúng ta?  Sự bất xứng và tội lỗi?  Hay, như câu nói trứ danh của thánh Âugutinô, “Ngài đã tạo thành chúng con, lạy Chúa, và lòng chúng con khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài.”

Dù rất giá trị, nhưng câu châm ngôn của thánh Âugutinô vẫn không đủ.  Chúng ta là những linh hồn vô hạn bên trong cuộc sống hữu hạn, và chỉ một điều này thôi là đã đủ để giải thích cơn nhức nhối triền miên không thỏa của chúng ta, ngoại trừ một điều là linh hồn chúng ta khi đi vào thế giới đã mang lấy sự bất diệt rồi, và điều này cho toàn bộ cơn nhức nhối của chúng ta một sắc thái đặc biệt.

Có nhiều cách để giải thích cho điều này: Ví dụ như, Bernard Lonergan, triết gia và thần học gia đáng trọng, đã cho rằng linh hồn con người không đến thế giới như thể một tabla rasa, một tờ giấy trắng, không tì vết để có thể viết gì lên đó cũng được.  Với ông, chúng ta được sinh ra với các nguyên tắc tiên quyết ghi tạc vào trong linh hồn không bao giờ phai.  Ý ông là gì?

Thần học và triết học kinh điển, xác định bốn sự mang tính siêu việt, có thể nói là chân tính của mọi sự có tồn tại, chúng là nhất, chân, thiện, và mỹ.  Mọi sự tồn tại đều có bốn phẩm chất này.  Tuy nhiên các phẩm chất này chỉ hoàn hảo nơi Thiên Chúa. Chỉ mình Thiên Chúa là Đấng toàn nhất, toàn chân, toàn thiện và toàn mỹ.  Nhưng theo Lonergan, Thiên Chúa đã ghi tạc 4 sự này, trong tình trạng hoàn hảo, và cốt lõi linh hồn con người.

Do đó, chúng ta đến trong thế giới, thì đã biết, dù còn mập mờ, về sự toàn nhất, toàn chân, toàn thiện và toàn mỹ, vì chúng ta đã có sẵn trong chúng ta, một dấu ấn không phai.  Như thế, chúng ta có thể phân biệt đúng sai, vì đã biết sự thật hoàn hảo và sự thiện hoàn hảo trong cốt lõi linh hồn mình, và cũng nhận biết theo bản năng về tình yêu và vẻ đẹp, bởi chúng ta đã biết chúng một cách hoàn thiện trong bản thân mình.  Trong đời này, chúng ta không học biết sự thật, mà là nhìn nhận sự thật, chúng ta không học yêu mà là nhận ra tình yêu, và chúng ta không học biết nhưng là nhận ra cái gì là tốt lành. Chúng ta nhận ra được vì đã có chúng trong cốt lõi linh hồn mình.

Một vài nhà thần nghiệm đã có một mô tả thế này: Linh hồn con người đến từ Thiên Chúa và trước khi đặt linh hồn vào trong cơ thể, điều cuối cùng Thiên Chúa làm là hôn linh hồn đó.  Rồi linh hồn đi qua đời sống, vẫn luôn nhớ về nụ hôn đó, một nụ hôn của tình yêu hoàn hảo, và linh hồn xác định mọi tình yêu và nụ hôn trong đời qua nụ hôn hoàn hảo ban sơ đó.

Các nhà khắc kỷ Hy Lạp cũng nói về một điều tương tự.  Họ dạy rằng linh hồn đã tồn tại sẵn trong Thiên Chúa, và trước khi đặt linh hồn và trong một cơ thể, Thiên Chúa xóa đi ký ức về hiện hữu của nó.  Nhưng linh hồn luôn hướng về Chúa một cách vô thức, bởi khi đến từ Thiên Chúa, linh hồn luôn nhớ về mái ấm đích thực của mình, và khắc khoải mong được về lại.

Người Hy Lạp cho rằng Thiên Chúa đặt linh hồn vào thân xác chỉ khi đứa bé đã thành hình trọn vẹn trong lòng mẹ.  Ngay sau khi đặt linh hồn vào thân xác, Thiên Chúa liền khóa chặt ký ức tiền hiện hữu của nó bằng cách khóa chặt môi đứa trẻ để nó không bao giờ nói về tiền hiện hữu của mình.  Đây là lý do vì sao chúng ta có một rãnh lõm dưới mũi, ngay trên môi.  Đây là nơi Chúa đặt ngón tay lên để khóa lại.  Đây là lý do vì sao bất kỳ lúc nào cố gắng để nhớ chuyện gì đó, chúng ta vô thức đặt ngón tay lên nơi này.  Chúng ta đang cố gắng phục hồi một ký ức ban sơ.

Có lẽ, tôi cần đưa thêm một ẩn dụ nữa.  Chúng ta thường nói về những sự “đúng rõ ràng” hay “sai rõ ràng.” (ringing true và ringing false).  Nhưng chỉ có chuông mới rung (ring).  Trong chúng ta có một chiếc chuông rung lên khi đúng và sai hay sao?  Về căn bản, thì có!  Chúng ta nuôi dưỡng một ký ức vô thức về một thời từng được biết một tình yêu, sự thiện và vẻ đẹp trọn hảo.  Do đó, mọi sự sẽ ngân lên đúng hay sai, dựa vào việc liệu chúng có theo tiêu chuẩn là tình yêu, sự thiện và vẻ đẹp hoàn hảo vốn đã có nơi cốt lõi linh hồn chúng ta hay không.

Và cốt lõi đó, trung tâm đó, nơi đó trong linh hồn chúng ta, nơi chúng ta được ghi dấu với các nguyên tắc tiên quyết và nơi chúng ta ghi nhớ nụ hôn của Thiên Chúa khi chúng ta được sinh ra, với nỗi khắc khoải không ngơi, trong đời này.  Như lời Henri Nouwen, thì chúng ta mang một ký ức mơ hồ về một thời từng được âu yếm trong đôi bàn tay trìu mến nhiều hơn bất kỳ bàn tay nào từng gặp trong đời.

Linh hồn chúng ta mơ hồ nhớ về một thời từng được biết tình yêu hoàn hảo và vẻ đẹp hoàn hảo.

Nhưng, trong đời này, chúng ta không bao giờ gặp được sự hoàn hảo đó, dù cho chúng ta cứ luôn mãi đau đáu một người hay một sự nào đó đáp ứng được chiều sâu thẳm này trong chúng ta.  Điều này tạo nên trong chúng ta một sự cô đơn tinh thần, một khao khát những gì mà chúng ta xác định là tri kỷ, một người có thể thực sự nhìn nhận, chia sẻ và tôn trọng những gì thâm sâu nhất trong chúng ta.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

CHÂN DUNG VÀ CÂY VIẾT CHÌ

CHÂN DUNG VÀ CÂY VIẾT CHÌ

Trong chuyến Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II viếng thăm Ấn Độ năm 1986, có những chuyện bên lề ít người biết.

Người phụ trách lộ trình cho Đức Giáo Hoàng thăm Calcutta là một Linh Mục Dòng Tên ở thành phố ấy.  Cha ở cùng Nhà Dòng nơi tôi xin trọ, Xavier’s College, 30 Park Street, Calcutta.  Vì thích tìm xem có gì liên quan tới Mẹ Têrêsa không, tôi tò mò hỏi chuyện với ngài, vô tình mới biết ngài là Linh Mục được chỉ định công việc tổ chức lộ trình trong ngày quan trọng đó.  Và câu chuyện bên lề trong chuyến viếng thăm của Đức Giáo Hoàng cũng khá thú vị.

Chuyến đi sau cùng của Đức Giáo Hoàng dự định từ gốc đường Park chạy thẳng ra phi trường.  Nhưng đến ngã tư, xe cảnh sát dẫn đầu không đi thẳng mà lại quẹo trái.  Cha kể với tôi là Linh Mục trưởng đoàn tổ chức, từ Roma qua, không hiểu có chuyện gì.  Tại sao kỳ quặc thế này?  Người ta sợ ám sát ư?  Đoàn xe đi đâu bây giờ?

Xe ngừng trên đường ghé vào Nhà Dòng chính của Mẹ Têrêsa.  Nhà này ngay bên đường, sau này cũng là nơi chôn xác Mẹ.  Đức Thánh Cha ghé thăm một lúc rồi đoàn xe tiến ra phi trường.  Trong chương trình ở Calcutta, Đức Thánh Cha chỉ tới thăm ngôi nhà săn sóc những người hấp hối mà thôi.  Lúc mới tới Calcutta, từ phi trường vào thành phố, Ngài đã ghé thăm ngôi nhà này rồi.  Không có chương trình ghé Nhà Dòng chính.

Tới phi trường, nghe cha kể lại, Linh Mục trưởng đoàn tổ chức kia rất bực mình với viên cảnh sát trưởng tại sao làm vậy mà không cho ngài biết.  Ông cảnh sát trả lời rằng phút cuối, Mẹ Têrêsa xin ông như vậy.  Ông bảo ở Calcutta này có ai là người không nghe lời Mẹ Têrêsa đâu!

Rồi cha kết luận, chính quyền ở đây không từ chối điều gì bà xin.

Chỉ khi đến Calcutta tôi mới biết chính quyền ở đây là đảng Cộng Sản.  Thể chế chính trị ở Ấn gồm nhiều đảng.  Chính phủ tiểu bang hợp thành chính phủ trung ương.  Tiểu bang nào nhiều thành phần của một đảng, đảng ấy thắng thế.  Bấy giờ tôi mới hiểu tại sao trong một khu xóm, ngày nào tôi cũng đi bộ ngang qua đến Nhà Dòng Mẹ Têrêsa, họ treo ngợp cờ đỏ búa liềm.  Nhưng Cộng Sản ở Ấn rất khác Cộng Sản trên thế giới.  Họ chỉ là một đảng trong nhiều đảng của nền chính trị Ấn.  Họ chủ trương đường hướng xã hội giải thoát giới nghèo chứ không đàn áp tôn giáo.

Chưa đến Ấn, tôi chỉ biết Mẹ Têrêsa qua báo chí, qua phương tiện truyền thông là một Nữ Tu nổi tiếng thế giới vì săn sóc người nghèo.  Qua Ấn, tôi hiểu hơn, màu sắc vẽ chân dung người đàn bà này khác lạ lắm.

Bà không nổi tiếng về truyền giáo, về viết sách, về triết học, thần học, người nữ tu này làm việc rất tầm thường.  Công việc của đời bà thật đơn giản.

Qua Ấn tôi mới hiểu cái nghèo ở đây khác mọi nơi.  Nó là kiếp nghèo của định mệnh đẳng cấp do xã hội và tôn giáo tạo ra.  Trong bốn đẳng cấp, đẳng cấp thứ tư thấp nhất, chỉ có lao động, làm cu li.  Nhưng ngoài bốn đẳng cấp này, còn loại người “unclean”, “untouchable”.  Tiếng “untouchable” do Gandhi dùng để chỉ một hạng người khốn khổ nhất.  Nghĩa là họ thuộc hạng người “ô uế”.  Họ không được đụng vào người thuộc đẳng cấp khác.  Họ phải làm những việc như lau cầu tiêu, chôn xác chết.

Tóm lại, họ phải tránh xa người khác trên đường đi.  Ai đụng vào họ đều ra ô uế, phải thanh tẩy.  Vì thế, họ nghèo từ định mệnh nghèo ra, họ phải mang thân phận lầm than.  Tôn giáo và xã hội bắt họ vậy.  Cũng nhờ qua đây, tôi mới hiểu ý nghĩa sâu xa khi Kinh Thánh nói Giavê bảo vệ những người nghèo.  Cái nghèo ở đây là nghèo đến từ con người mất phẩm giá.  Nó không chỉ là cái nghèo kinh tế, nhưng nghèo vì bất công, nghèo vì bị xúc phạm.

Giữa lúc tôn giáo và xã hội xa tránh họ thì Mẹ Têrêsa đến ôm những người này!  Bà không sợ bị ô uế phải đi thanh tẩy ư?

Mãi đến năm 1957 hiến pháp Ấn mới xoá bỏ chế độ đẳng cấp.  Trong thực tế, các vùng xa xôi nó vẫn như chiếc cối đá choàng trên cổ đẳng cấp này.  Năm 1948, Gandhi bị giết do một tín đồ Ấn Giáo cực đoan vì ông chủ trương mọi người phải bình đẳng.

Trong bối cảnh xã hội và tôn giáo như thế Mẹ Têrêsa xuất hiện.

Người Nữ Tu này chủ trương một Dòng Tu đi tìm những người bất hạnh mà phục vụ.  Thế kỷ này thế giới không còn chế độ nô lệ.  Không quốc gia nào có thể chấp nhận giai cấp người nô lệ người.  Hiến pháp Ấn Độ không chấp nhận đẳng cấp, nhưng trong thâm tâm thành phần thống trị có muốn thay đổi không, đó là một chuyện khác.

Trong hoàn cảnh như thế Mẹ Têrêsa xuất hiện.

Người Nữ Tu này không là nhà cải cách tôn giáo, bà không là nhà cải tạo xã hội.  Mẹ chỉ đến với những kẻ mà người khác sợ đến gần bị ô uế.  Các Nữ Tu thuộc Dòng của Mẹ không đi truyền giáo.  Người ta không thể vì Mẹ mà sợ mất tín đồ.  Mẹ không truyền đạo để đông người, để cạnh tranh tôn giáo.  Ai lạm dụng tôn giáo và kinh tế để nắm chính trị, không thể kết án người Nữ Tu này được điều gì ngoài điều họ không dám làm là đến với những người bị bỏ rơi.

Thông tin đóng một vai trò chính yếu trong việc vẽ chân dung Mẹ Têrêsa.  Hơn một tỷ người Ấn biết đến Mẹ.  Công việc và đời sống mẹ được thông tin truyền đi.  Toàn dân Ấn biết đến một con người mà truyền thống xã hội, tôn giáo của họ đi ngược lại.  Đó là Mẹ đến với người nghèo.

Nhiều người Ấn không biết đến Giáo Hoàng.  Có thể có kẻ chống đối Vatican nữa.  Nhưng Mẹ Têrêsa đi đến đâu, người ta xếp hàng xin chúc lành.  Mẹ đã vẽ một chân dung rất trung thực về Thiên Chúa cho nhân loại.  Thiên Chúa của Tình Thương.  Công việc và đời sống của người đàn bà này rất giản dị.

ME TERESA

Đối với tín đồ Bà La Môn, không chỉ người chết mới là thánh.  Ngay người sống cũng là thánh.  Các nhà Sadhu khổ hạnh, các bậc thiền tu, họ là thánh.  Có danh từ “Phật sống” là thế.  Bởi đó, chân dung Mẹ Têrêsa là chân dung “Phật sống”, chân dung đầu thai của một thánh nhân.

Thiên Chúa đã dùng người đàn bà này để vẽ chân dung Thiên Chúa bằng ngôn ngữ thật tuyệt vời.  Một người đàn bà thấp lùn, không có tướng mạo duyên sắc.  Một người đàn bà không bằng cấp nói về chân dung rất chân thực của Chúa cho một tỉ người trên đất Ấn Giáo với không biết bao nhiêu nghìn năm bám vào đẳng cấp hệ luỵ.

Khi để Thiên Chúa dùng, chẳng ai trong chúng ta là người nhỏ bé.  Tất cả chúng ta được dựng nên trong ân sủng phi thường của Ngài.

Phải chăng vì thế Mẹ Têrêsa đã nói: “Tôi là cây viết chì trong tay Chúa, Ngài muốn vẽ gì tùy ý Ngài”.  Phải chăng vì thế, Chúa đã lấy tình thương trong trái tim Mẹ để vẽ chân dung Giáo Hội trong thế kỷ hôm nay.

Lm. Nguyễn Tầm Thường, SJ

****************************** ******

Con chỉ là một Cây bút chì, rất nhu mì chẳng có là chi.
Trong tay Chúa, Chúa vẽ muôn diệu kỳ.  Quá diệu kỳ
Khi con mọn thực thi thiên ý, khiêm hạ xóa bỏ mình đi.
Trong tay Chuá, Chúa vẽ muôn diệu kỳ, rất diệu kỳ
***
Trong tay đấng toàn năng, thượng trí, con xin được làm cây bút chì
Một cây bút chì cỏn con, thật ngoan ngoãn và dễ thương
Trong tay Chúa, tài hoa tuyệt mỹ, bút phóng họa trường thiên trác tuyệt
Ngợi ca Chúa Trời hiển vinh, cảm mến phúc lộc Thiên đình

“Cây Bút Chì Trong Tay Chúa”– Hải Triều

langthangchieutim gởi

Nếu địa đàng, chẳng còn gì để nhớ

Suy Tư Tin Mừng Trong tuần thứ 7 thường niên năm A 19/02/2017

 Tin Mừng: (Mt 5: 17-37)

 Hôm ấy, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành. Vậy ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân hành và dạy làm như thế, thì sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời.

 “Vậy, Thầy bảo cho anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời. “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng: Chớ giết người; ai giết người, thì đáng bị đưa ra toà. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì đáng bị lửa hoả ngục thiêu đốt. Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình. Anh hãy mau mau dàn xếp với đối phương, khi còn đang trên đường đi với người ấy tới cửa công, kẻo người ấy nộp anh cho quan toà, quan toà lại giao anh cho thuộc hạ, và anh sẽ bị tống ngục. Thầy bảo thật cho anh biết: anh sẽ không ra khỏi đó, trước khi trả hết đồng xu cuối cùng.

  “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi. Nếu mắt phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân bị ném vào hoả ngục. Nếu tay phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân phải sa hoả ngục.

 “Luật còn dạy rằng: Ai rẫy vợ, thì phải cho vợ chứng thư ly dị. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ là đẩy vợ đến chỗ ngoại tình; và ai cưới người đàn bà bị rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình.

  “Anh em còn nghe Luật dạy người xưa rằng: Chớ bội thề, nhưng hãy trọn lời thề với Đức Chúa. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: đừng thề chi cả. Đừng chỉ trời mà thề, vì trời là ngai Thiên Chúa. Đừng chỉ đất mà thề, vì đất là bệ dưới chân Người. Đừng chỉ Giêrusalem mà thề, vì đó là thành của Đức Vua cao cả. Đừng chỉ lên đầu mà thề, vì anh không thể làm cho một sợi tóc hoá trắng hay đen được. Nhưng hễ “có” thì phải nói “có”, “không” thì phải nói “không”.Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.”

                                  &    &   &

Nếu địa đàng, chẳng còn gì để nhớ”

“Hạt bụi rớt xuống đời, xin lẫn vào nhau…”

(dẫn từ thơ Bùi Thanh Tuấn)

 Mt 5: 38-48 

  Mai Tá lược dịch

Địa đàng cuộc sống, là chốn miền để gợi nhớ. Hạt bụi tình người, là chất liệu để yêu thương. Thương yêu, điều Chúa nhắc nhở, ở Tin Mừng, vẫn được thánh sử ghi chú, vẫn lâu nay.

Nhiều người, rất lấy làm lạ khi được bảo: Tin Mừng thánh sử viết, là bản văn viết không vào thời Chúa hoạt động, hoặc ngay sau ngày Chúa sống lại, nhưng được viết vào nhiều thập niên sau, như: “Tin Mừng theo thánh Mátthêu” chẳng hạn, đã chỉ được ghi chép vào giữa thập niên ’80, ở thế kỷ đầu. Và, người ghi chép “Tin Mừng” này không phải là Mát-thêu-thu-thuế thời Chúa sống. Cũng không là một trong số mười hai tông đồ, gần gũi Chúa. Mátthêu đây là học giả Do thái hiểu biết nhiều tiếng Hy Lạp, xuất thân sinh sống tại một quận ở ngoại ô Giêrusalem, mà người thời ấy có thói quen gọi là “thày dạy”, hoặc đấng bậc “tư tế”.

Tác giả “Tin Mừng theo thánh Mátthêu”, là vị thức giả từng hồi hướng về với Đạo Chúa, ngang qua các thừa sai của Chúa.Thánh sử Mát-thêu học được nhiều điều, qua hành động và cuộc sống từ các Đạo hữu theo chân Chúa. Đặc biệt, là các vị có liên hệ mật thiết với thánh Phêrô tông đồ, thời tiên khởi. Khi ghi chép Tin Mừng theo thánh Mát-thêu, tác giả đã ở vào độ tuổi cao niên khá cứng, nhưng ông lại là người có tầm nhìn thông thoáng, thi vị. Ông đề cập nhiều đến những con người và người con có tâm tư chân phương, bình dị nhưng có tư cách.

Sử gia Mátthêu, là cây viết rất sáng giá. Thánh nhân, tuy chung đụng nhiều với người Do thái, nhưng dùng tiếng Hy Lạp để ghi chép Tin Mừng. Và, qua văn phong văn thể cùng lập trường chuyên chính rất Kitô, nên các nhà chú giải cho rằng tác giả là một trong các Kitô-hữu đầu tiên, ở thời ấy.

Tin Mừng do tác giả viết, lại gồm lời lẽ ân cần, gửi đến các đấng bậc khôn ngoan/thông thái ở Israel. Nên, nhờ đó ta học được rất nhiều điều qua các dạng thức, như: lời sấm, dụ ngôn, phương châm, hoặc tư vấn, nhất nhất đều nhấn mạnh đến điều Chúa giảng rao cho mọi người. Bởi thế nên, người đọc nhận ra những 73 lần tác giả lập đi lập lại cụm từ “tông đồ”, ở “Tin Mừng” này.

Và vì thế, người đọc cũng nên hiểu cụm từ “tông đồ” theo nghĩa các “đấng bậc khôn ngoan/uyên bác” chuyên học hỏi những điều hay lẽ phải, do từ Chúa phán ra. Và cũng vậy, người đọc đừng nên hiểu rằng tác giả “Tin Mừng” là nhà thức giả thuộc tầm cỡ đại học, chuyên ngồi trong phòng lạnh để viết. Hãy cứ tưởng tượng rằng: khi ghi chép “Tin Mừng theo thánh Mát-thêu” tác giả đã suy tư dưới ánh đèn dầu leo lét, với tâm tình nguyện cầu trong bầu khí ẩm ướt, nặc mùi khô cháy có lưới cá đang hơ hóng, ở đâu đó…

Nay có người hỏi: thánh sử Mát-thêu muốn chuyển tải điều gì mới mẻ, khi ghi chép Lời Chúa?

Hầu hết các cộng đoàn tin theo Chúa sống ở Giêrusalem, đều mang tính chất rất “Do thái”. Hết thảy đều thấy nơi Đức Giêsu một Môsê rất mới để các vị nghe lời. Vì, xét cho cùng, Ngài còn mới hơn cả chính tiên tri Môsê, bởi Ngài là Đấng luôn chủ trương những điều mới mẻ, nơi Lề Luật. Và, điều mới mẻ khác nữa, là: Ngài không cất bỏ đi yếu tố quan trọng sẵn có từ hậu duệ của Đavít. Và, mọi người còn nhận ra nơi Đức Giêsu, hệt như ở Môsê và Đavít, ảnh hình của Đấng Bậc Hiền Từ, rất đặc biệt. Đặc biệt, là bởi người người đều nhận thấy rằng: qua Ngài và ở nơi Ngài “Ơn Cứu Độ” đã đến, là đến với cả Dân ngoại nữa. Ngài đến, qua trung gian Israel hoặc những người Do thái, tức: những người lúc ấy vẫn ở trong tư thế cách xa và tách rời khỏi dân-được-chọn.

Và, họ coi đó như ân sủng riêng tư, nhận từ Chúa. Bởi thế nên, trở thành người hết lòng tin tưởng vào Đức Giêsu, phải là người Do thái tích cực, phóng khoáng, những người chủ trương tuân giữ Luật Torah rất Đạo. Từ đó, cộng đoàn dân Chúa đã thấy mọi người tập trung nhấn mạnh đến Luật Torah. Quyết tuân giữ Lề Luật cách kiên trì, nhưng thông thoáng. Tuân và giữ, theo tinh thần tự do của người con Đức Chúa, mới đúng.

Vốn đặt nền tảng vững vàng lên truyền thống rao giảng kiểu thánh Phaolô Tông đồ, Hội thánh Chúa khi ấy đã có tầm nhìn rất khác lạ về Lề Luật. Và, Hội thánh đã coi Đức Giêsu là Đấng Bậc rất Do thái, chủ trương giữ Luật Torah thật đúng qui cách nhưng tự do, phóng khoáng, cho đúng nghĩa. Kể từ đó, Hội thánh vốn có sẵn tinh thần giảng rao của thánh Phaolô, lại đã khám phá ra rằng: tự do con cái Chúa là một hiện hữu rất đích thực, khi ta tuân thủ Lề Luật, rất Torah.

Là người Do thái sống ở miền Bắc xứ Palestin thời tiên khởi, thánh sử Mát-thêu xuất xứ từ một quá trình cuộc sống, có lập trường khá bảo thủ. Chí ít, là truyền thống giữ luật đúng qui cách, như Chúa dạy. Thánh sử cũng lo rằng nhiều truyền thống có thể sẽ mai một đi nếu không có người bận tâm lo duy trì nó. Và, thánh sử còn một mối lo ngại nữa, cứ e rằng: rồi ra sứ vụ tông đồ rao giảng kiểu Phaolô thánh nhân, có thể sẽ khiến truyền thống của người Do thái trở thành thứ yếu, mất đi tầm quan trọng. Do đó, thánh sử gia đã cảm thông với tình huống mà cộng đoàn Hội thánh ở Giêrusalem đang sống, dù cho thánh sử không thuộc về cộng đoàn này.

Cũng vì thế, tác giả quyết tâm tái cấu trúc cộng đoàn theo kiểu cộng đoàn dân Chúa ở Giuđêa, nghĩa là: không chỉ rập theo khuôn phép cũ của người Do thái, nhưng còn phổ biến lối sống của cộng đoàn Hội thánh Giêrusalem, hoặc có khuynh hướng mục vụ rao giảng theo kiểu của thánh Phaolô. Bởi thế nên, người đọc nhận ra rằng: “Tin Mừng theo thánh Mát-thêu” cũng mang dáng vẻ bảo thủ qua việc đòi mọi người giữ luật cho đúng qui cách. Chí ít, là cải cách niềm tin của người Do thái theo khuôn khổ “chiên lạc rời khỏi ràn nhà Israel”. Thành thử, tinh thần của thánh sử và của cộng đoàn nơi thánh nhân sinh hoạt vẫn có khả năng duy trì mối liên kết chặt chẽ với đền thờ người Do thái.

Tuy nhiên, thánh sử Mát-thêu không quên rằng: chính Đức Kitô mới là Đấng ta cần tin vào Ngài. Thánh sử diễn tả lập trường này theo lối viết giản đơn, rất thông thường, rằng: thay vì ta áp dụng nguyên tắc đền và bù như: “mắt đền mắt”, “răng đền răng”, tác giả lại khuyên người đọc Tin Mừng của ngài, hãy nên sử dụng đường lối bất-bạo-động. Và, thay vì phòng thủ hoặc trả thù, thánh sử đề nghị ta nên khoan dung, độ lượng.

Thay vì lo cho riêng mình, hãy quan tâm ái ngại đến người khác. Với thánh sử Mát-thêu, đây không phải là lạc quan sáng suốt, cũng chẳng là đường lối tư riêng độc quyền của người Hy Lạp, nghĩa là đường và lối chỉ chú trọng vào cuộc sống tư riêng của người khác, thôi. Nhưng, là: hãy áp dụng luật Torah theo qui cách thương yêu, như Chúa đã khuyên dạy.

Điều cốt thiết mà thánh sử nhận ra nơi lời dạy của Chúa, là: Ngài là người giữ luật Torah, rất đúng cách. Tuy nhiên, Ngài chú trọng đến tinh thần, chứ không phải chữ viết của Luật. Nói cách khác, người đọc “Tin Mừng theo thánh Mát-thêu không thể hiểu Luật Torah cho đúng cách, nếu không thi hành lời dạy của Đức Giêsu cũng như cộng đoàn nhỏ bé của Ngài, là Hội thánh thời tiên khởi. Bởi, cộng đoàn Hội thánh mới là người sống thực Luật Torah theo tinh thần Chúa đề ra. Và, thánh sử lại thêm rằng: dân con thành thánh Giêrusalem không chắc đã nhận ra được điều này. Vì thế nên, người đọc “Tin Mừng” có thể kết luận rằng: tác giả “Tin Mừng theo thánh Mát-thêu” quả là phóng khoáng cũng rất đúng.

Vậy, người đọc hôm nay học hỏi được điều gì qua sự việc này?

So sánh kinh nghiệm của các thừa sai tông đồ thời tiên khởi với kinh nghiệm thời Hậu-Công Đồng Vatican II, dân con Hội thánh nhận ra được điều gì? Ta có nhận ra được năng lực và tự do con cái Chúa nơi cộng đoàn Hội thánh tiên khởi theo kiểu thánh Phaolô không? Phải chăng, so sánh kinh nghiệm về cố gắng ‘tái lập’ di sản được bảo tồn, đáng yêu từ một truyền thống rất đúng đắn? Truyền thống, có là qui cách mà tác giả “Tin Mừng theo thánh Mát-thêu” hằng cảnh báo Hội thánh hãy trở về với tính chất Do thái, ở lai thời không?

Nếu tác giả “Tin Mừng theo thánh Mátthêu” nay còn sống, hẳn ông sẽ yêu cầu các đấng bậc vị vọng trong Hội thánh hôm nay, hãy quan tâm nhiều hơn nữa đến việc tái tục truyền thống đã có từ thời tiên khởi? Và, Hội thánh cũng nên nhìn vào Đức Giêsu hơn là các truyền thống mà các ngài muốn duy trì, bảo vệ. Hẳn rằng thánh sử Mát-thêu cũng sẽ yêu cầu mọi thành viên Hội thánh hôm nay hãy có tầm nhìn phóng khoáng và cởi mở, tốt hơn là ở lại với truyền thống xưa/cũ. Như Đức Giêsu khi xưa, vẫn đứng về phía những người duy trì Luật Torah, bằng tinh thần chứ không theo từng chữ. Và, ảnh hình Chúa chấp nhận dìm mình thanh tẩy nơi sông Giođan, sẽ là bằng chứng điển hình cho việc tuân giữ Luật Torah, rất tự do lại có tinh thần thương yêu đúng qui cách.

Thật khó mà thiết-lập được quân bình cho cơn sóng dồn và sức ép từ Lề Luật, thế mà Ngài vẫn chấp nhận dầm mình dưới giòng sông Giođan để chứng tỏ tinh thần giữ Luật đúng cách. Nhưng, tác giả “Tin Mừng theo thánh Mátthêu” vẫn sẽ là vị học giả cao niên, chín chắn. Là vị thức giả hiểu rõ hơn ai hết tinh thần của người Do thái. Hiểu Đức Kitô và người nghèo, hơn ai hết. Tác giả “Tin Mừng theo thánh Mátthêu” chính là người có được nhận thức mới về sự khôn ngoan, thông suốt cho mỗi người chúng ta.

Lm Kevin O’Shea CSsR biên-soạn

  Mai Tá lược dịch

Từng ngày nao, nồng-nàn từng câu ca dao,

httpv://www.youtube.com/watch?v=cJIScRWJcQY

Dòng thời gian – Phan Đình Tùng (st: Nguyễn Hải Phong)

Chuyện Phiếm Đọc Trong Tuần thứ 7 mùa Thường niên năm A 19/02/2017

“Từng ngày nao, nồng-nàn từng câu ca dao”,

Từng ngày lặng-lẽ sống với kỷ-niệm ngọt ngào.

Mình quên những giấc chiêm bao.

Qua rồi một thời yêu đương sớm tối

Giữa thênh-thang bầu trờ, nắng gió muôn nơi.”

(Nguyễn Hải Phong – Giòng Thời Gian)

(Mt 5: 12)

 Trần Ngọc Mười Hai

Với nhiều người, quả y như rằng: đời mình là như thế đấy. Với một số người khác, thì: cũng qua rồi “một thời yêu đương sớm tối giữa thênh-thang bầu trời”, rất khôn nguôi.

Với tất cả mọi người, thì: cuộc đời người thường có nghĩa: “giữa thêng-thang bầu trời”, người thời nay không còn nhìn thấy “một thời yêu thương sớm tối” nữa, thì làm sao thấy được cuộc sống xã hội hôm nay, ngày ngày gặp toàn chuyện trái khuấy, kỳ lạ như nhận-định của ai đó trên mạng vi-tính có những lời lẽ sau đây:

“Xã hội này lạ lắm! Con người nay vui lắm. Giới bác-sĩ, thì chỉ muốn con bệnh mình cứ bệnh mãi, bệnh hoài để còn tìm đến mà chữa-trị. Lớp kỹ-sư, lại cứ muốn đồ đạc trong nhà/ngoài ngõ cứ bị hư. Thợ làm răng, lại những muốn người bị bệnh rang sâu, sứt mẻ hoặc vỡ/bể để còn làm những bộ rang giả khá đắt tiền. Đến như thày/cô, lại vẫn cứ mong sao cho đám trẻ mãi mãi khờ-khạo cứ là dễ bảo, để dạy kèm tăng học-lực. Thợ xây-dựng, thì cứ muốn nhà cửa hư-hỏng suốt, để còn xây thêm và chữa mãi không thôi. Chủ tiệm áo quan vẫn muốn nhiều người chết tốt, để bán hòm. Duy, có mỗi tay ăn trộm lại cứ muốn mọi người khấm khá hơn xưa để có cơ-hội mà thăm viếng, kiếm chút cháo… Thế đó, là xã hội thời hôm nay và mai ngày, cứ thế mãi.”

 Thế, Giáo hội phụng thờ Đức Chúa, thì sao?

Vâng. Đây là câu-hỏi tuy nghe nhiều vẫn thấy hay hay, nên trả lời cho đúng đắn! Trả lời vấn-nạn ở đây, quả thật không dễ. Không dễ chút nào, bởi: hôm nay đây, trong lòng Hội thánh Công-giáo được tiếng là “Giáo-hội duy-nhất, thánh-thiện và tông-tryền”, rày đã thấy có dấu-hiệu rạn-nứt/bất-đồng giữa một số hồng-y giáo-chủ và Giáo-hoàng cùng một gốc gác với Giáo Tông, Giáo . Không tin ư?

Vậy thì, mời bạn và tôi, ta cứ để mắt nhìn vào một vài sự-kiện mới xảy ra ở La Mã, rất Vaticăng.

 Nhưng, trước khi đi vào tìm hiểu chi-tiết về một “rạn-nứt/bất-đồng trong Giáo hội, cũng mời bạn và tôi, ta nghe tiếp nhạc-bản vừa trích-dẫn để có hứng mà bàn cho kỹ. Nhạc bản “Giòng Thời-gian” lại có những ca-từ đầy thi-tứ như sau:

Thời gian qua đi… bộn bề nhiều lần suy nghĩ…

đời ngọt ngào thì đôi khi…
Tình yêu nơi đâu…

vội vàng tìm hoài không thấu…
Thôi… dừng làm chi… rồi lại đi…
Bao nhiêu năm rồi làm gì và được gì…

ngày tháng sao vội đi đôi khi không như ý…

trôi qua bao nhiêu năm nữa có lẽ ta không ngây ngô… như bây giờ…
Bao nhiêu cho vừa, từng ngày và từng giờ…

cành lá sao lặng im như thôi…
không mong nhớ…

cho ta bao nhiêu năm nữa có lẽ bao nhiêu đây thôi…
Cho ta nhìn thời gian trôi… “

(Nguyễn Hải Phong – bđd)

Rồi cứ thế, ca từ của bài hát cứ nhẩn nha đưa ta về cõi đường dài, “nhiều chông gai” có những“tháng ngày buồn ở lại”, ngày vui mau phai” có “cơn đau nặng nề”, “khốn khó lê thế”… rất như sau:

 “Đường còn dài… và còn nhiều hơn chông gai…
Rồi thì lặng lẽ những tháng ngày buồn ở lại…

ngày vui dễ lắng… mau phai…
Mai về nhìn lại cuộc đời vui ghê…

về nhìn lại yêu thương vẫn thế…

giữa cơn đau nặng nề…

khốn khó lê thê…
Thời gian qua đi…

bộn bề nhiều lần suy nghĩ…

đời ngọt ngào thì đôi khi…
(Nguyễn Hải Phong – bđd)

Vâng. Cuộc đời người là như thế. Thế nhưng, bên trong Giáo hội Công giáo hôm nay, cũng thấy xuất-hiện “nhưng cơn đau nặng nề, lê thê, khốn khó. Khốn và khó, nhưng bài viết bên dưới từng bật mí những bí mật sau đây:

“Một lần nữa, Đức Giáo Hoàng Phanxicô lại khiến cho các viên chức Vaticăng ngỡ ngàng khi ngài chúc mừng Giáng sinh 2016 bằng lời loan báo sẽ có cải-tổ Giáo-triều Rôma và cái-gọi-là “những hành-xử đầy cởi mở”, “việc giấu diếm” và các loại ảnh-hưởng xấu xuất tự chống-đối đang gặp.

 Ngỏ lời với các hồng-y và giới chức lão-thành của Giáo-triều Rôma tập-họp tại Vaticăng hôm ấy, Đức Phanxicô nói: sở dĩ có sự cải-tân Giáo triều này là do yêu-cầu của các hồng-y từng bàn-thảo trước mật-hội năm 2013. Đức Giáo-hoàng có liệt-kê 12 tiêu-chuẩn hướng-dẫn công-cuộc cải-tổ này và ngài cũng nói đến “ba thể-loại phản-chống” mà Giáo-hội đang gặp. Và, để trả lời với những người cho rằng cuộc cải-tổ này sẽ thành-tựu một cách không đáng kể và các vị ấy cũng chỉ đưa ra một số tiến triển không là bao.

 Đây là năm thứ 3 qua đó vị Giáo Hoàng người Argentina này đi sâu vào khía cạnh chính cuộc sống của Giáo triều Rôma, tức dịch-vụ dân-sự của Giáo hoàng. Năm 2014, ngài có vạch ra “15 căn bệnh” hoặc “yếu điểm” mà các giới chức trong Giáo triều đang gặp. Năm 2015, ngài lại đưa ra các phương thuốc giải-trừ cho các tật bệnh này bằng cách liệt kê danh-sách các đặc-tính thiết-yếu mà Giáo-triều cần nắm vững để trau-dồi.

 Năm nay 2016, Đức Phanxicô lại đóng khung cuộc nói chuyện của ngài quanh vấn-đề linh-đạo nhập-thể. Nhân lúc diễn-tả Giáng Sinh như lễ hội của “tình thương yêu khiêm-hạ của Thiên Chúa” đặt nặng lên lập-luận đầy khoa-học-tính của con người, ngài nhắc mọi người rằng: Thiên Chúa chọn sinh ra trong cảnh thấp hèn, vì Ngài muốn mọi người yêu mến Ngài” và vốn dĩ là người bé nhỏ, mỏng dòn, yếu ớt nên không ai cảm thấy xấu hổ khi đến với Ngài, không ai hãi sợ Ngài hết.

 Đức Phanxicô nói: lập-luận đầy khoa-học của Thiên-Chúa hối-thúc lập-luận đầy lý lẽ của thế-gian, thứ lập-luận của quyền-lực, đội binh, rất Pharisêu, đầy cơ-hội hoặc xác-định. Đức Giáo hoàng còn nói rõ rằng đây là thứ lập-luận thật sự tạo sức sống cho Giáo-triều Rôma và củng-cố việc cải-tổ rất cần-thiết…    

      Ngài nêu rõ: “Cải tổ” có nghĩa “thuận theo” tin vui an bình của Lời Chúa trong Phúc Âm vốn dĩ phải được công-bố một cách vui tươi đầy can-đảm cho hết mọi người, đặc-biệt là người nghèo và những người bị loại trừ khỏi xã-hội họ đang sống, “phù hợp với các dấu chỉ của thời-đại để ta có thể đáp trả một cách tốt đẹp với nhu-cầu của nam nhân và nữ phụ hôm nay. Điều đó còn có nghĩa “phù hợp” với thừa-tác-vụ của người kế vị thánh Phêrô và hỗ trợ ngài trong chức vụ quan-yếu này…

 Đức Phanxicô còn cho biết: công-cuộc cải-tổ chỉ thành-tựu một cách hiệu-năng nếu được các giới chức đã “cải-tân” chứ không phải các quan-chức mới vào làm. Bởi lẽ, thay đổi nhân-sự không thôi cũng chưa đủ. Cần thiết phải “cải-tân các thành-viên của Giáo-triều cả về mặt linh-thiêng, nhân-bản lẫn chức-nghiệp” nữa. Nếu không có sự “hồi hướng trở về của các vị” này và nếu không chịu “thanh-sạch-hoá thường-xuyên”, thì không thể có cải-tổ được.

 Trong cải tổ, ta luôn gặp các khó khăn, đó là chuyện bình thường và cũng an lành nữa; và ngày hôm nay những việc như thế đều gặp phải “nhiều thể-loại chống-đối” vừa theo cách cởi mở, công khai hoặc có ác ý cũng không chừng…” (X. Gerard O’Connel, Pope Francis speaks about the Reform of the Roman Curia and the Resistance to it, Dispatched 22/12/2016).

Nói cho cùng, thì: cải-tổ nào cũng gai góc, sơ cứng và đôi khi rất khó chịu. Riêng với Giáo hội Công-giáo, 50 năm về trước cũng đã có một cải tổ khá lớn rộng cả một giáo hội qua cái-gọi-là “Công Đồng Vaticăng 2”, chứ không chỉ mỗi Giáo triều Rôma mà thôi; thế nhưng, sau 50 năm có lẻ, mọi chuyện cứ “y nguyên”, vẫn như cũ.

Thành thử, cứ như ca từ của nhạc-bản ta vừa hát, cũng nên lập lại đôi ý-từ cùng ý-tứ những nhắn nhủ mọi người bằng giòng nhạc, cứ hát rằng:

“Tình yêu nơi đâu…

vội vàng tìm hoài không thấu…
Thôi… dừng làm chi… rồi lại đi…
Bao nhiêu năm rồi làm gì và được gì…

ngày tháng sao vội đi đôi khi không như ý…

trôi qua bao nhiêu năm nữa có lẽ ta không ngây ngô… như bây giờ…
Bao nhiêu cho vừa từng ngày và từng giờ…

cành lá sao lặng im như thôi
không mong nhớ…

cho ta bao nhiêu năm nữa có lẽ bao nhiêu đây thôi…
Cho ta nhìn thời gian trôi…”

(Nguyễn Hải Phong – bđd)

Cứ “nhìn thời gian trôi”, rồi sẽ thấy nhiều thay-đổi. Cứ tìm “Tình yêu nơi đâu”, “vội vàng tìm hoài không thấu”, rồi cũng thấy “bao nhiêu năm rồi làm gì và được gì…” và cứ thấy “ngày tháng vội đi khi không như ý”,… Bởi, Giòng thời gian cứ thế trôi qua, dù con người có phản-chống, cải-tổ hoặc làm gì đi nữa.

Nói thế không để bảo rằng: ta cứ thế mặc kệ mọi chuyện ciễn tiến trong/ngoài xã-hội và giáo-hội. Nói thế, chỉ để nói rằng: thời gian cuộc đời người còn trôi nhanh hơn mọi người tưởng. Thế nên, hay nhất là ta cứ vui hưởng cuộc sống rất hiện tại, dù mai ngày có ra sao, tích-cực hoặc tiêu-cực.

Nói thế, để đề-nghị với bạn và với tôi, ta lại sẽ đi vào vùng trời thánh-hiến có những Lời Vàng của đấng thánh-hiền từng bảo ban như sau:

“Anh em hãy vui mừng hớn hở,

vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời

thật lớn lao.”

(Mt 5: 12)

Hãy vui mừng và hớn hở, còn là và sẽ là những gì ta gặp không chỉ là phần thưởng ở trên trời mà thôi. Nhưng đã tỏ hiện ngay tại đây, lúc này ở Nước Trời Hội thánh hôm nay, trong đó mọi người không còn “đi tìm” tình-yêu nữa. Nhưng đã thấy và thực hiện tình yêu ấy cho nhau, suốt mọi ngày, trong đời.

Quyết thế rồi, nay mời bạn và mời tôi ta đi vào vườn hoa châm ngôn và truyện kể để sẽ thấy rằng “giòng thời gian” từng làm cho con người sống vui tươi, hớn hở dù lâu nay trải qua nhiều đoạn đường dài khắc khổ, sầu muộn đến chán nản.

Châm ngôn và truyện kể ở trong đời là những kinh nghiệm từng trải mà người đi trước viết lại cho người đi sau để thưởng lãm, suy-tư hầu có quyết-tâm sống những ngày dài sắp xảy đến. Châm ngôn và truyện kể, còn là những kể lể về thời gian trải dài trong cuộc sống, vẫn “cần đến một chữ duyên” như sau:

 “CUỘC SỐNG CŨNG CẦN MỘT CHỮ DUYÊN

1. Giữa người với người, có thể gần, cũng có thể xa.
Giữa việc với việc, có thể phức tạp, cũng có thể giản đơn.
Giữa tình cảm với nhau, có thể sâu, cũng có thể cạn.
2. Đừng mong cầu mọi người đối xử với mình đặc biệt, cũng chẳng nên hy vọng họ sẽ bớt đi những toan tính.
3. Cuộc sống có người nói ít làm nhiều, cũng sẽ có kẻ chỉ biết hoa chân múa tay. Bạn không nên quá bận lòng, chỉ cần quản tốt việc của bản thân, còn lại mọi việc hãy thuận theo nhân duyên.
4. Đức Phật từng nói: Với người không có duyên, dù bạn nói bao nhiêu lời cũng là thừa; còn như đã hữu duyên thì chỉ cần xuất hiện, bạn cũng có thể đánh thức mọi giác quan của họ.
5. Có một số việc, vừa phân trần trắng đen đã trở thành quá khứ.
Có một số người, giận hờn vài ngày đã trở thành dĩ vãng.
Có những nỗi đau, vừa cười lên đã tan thành bọt nước.
Có những hoàn cảnh, nhờ chịu chút thương đau mà trở nên kiên cường.
Cuộc sống cũng cần một chữ Duyên
6. Đôi khi hôm nay là việc lớn, ngày mai nhìn lại chẳng có gì đáng kể. Năm nay quan trọng, sang năm sẽ trở thành thứ yếu. Chuyện vĩ đại đời này, đời sau người ta gọi là truyền thuyết.
7. Chúng ta, nhiều nhất cũng chỉ là câu chuyện của một người. Vì thế trong cuộc sống hay công việc, nếu gặp chuyện không vừa ý, hãy nói với bản thân: “Hôm nay sẽ qua đi, ngày mai rồi cũng đến, hãy buông bỏ tất cả để bắt đầu ngày mới!”
8. Trên đời, có một số việc không phải không để tâm, mà để tâm cũng không làm được gì hơn.
9. Cuộc sống không có “Nếu Như”, chỉ có “Hậu Quả” và “Kết Quả”
10. Đón nhận đời mình như thế nào là do bản thân lựa chọn, người khác không thể quyết định thay.
11. Trưởng thành rồi, bạn sẽ biết cách lấy nụ cười đối diện với tất cả.” 
(tác giả ST Sưu tầm)

Nói cho cùng, thì “Giòng thời gian” là giòng chảy gồm nhiều giai-đoạn của cuộc đời làm nên đời người. Giòng chảy ấy, có tốt có xấu, có cả những sự và việc khiến mọi người như bạn và tôi đồng ý hay bất ưng, vui vẻ hay sầu buồn. Tất cả, vẫn chỉ là một quyết tâm. Quyết tâm sống những chuỗi ngày còn lại sau khi gặp nhiều sự việc diễn tiến trong đời mình.

Quyết thế rồi, nay mời bạn và tôi, ta cứ hiên ngang ngẩng đầu nhìn về đằng trước rồi se sẽ hát những ca-từ vừa trích dẫn ở trên mà rằng:

“Đường còn dài… và còn nhiều hơn chông gai…
Rồi thì lặng lẽ những tháng ngày buồn ở lại…

ngày vui dễ lắng… mau phai…
Mai về nhìn lại cuộc đời vui ghê…

về nhìn lại yêu thương vẫn thế…

giữa cơn đau nặng nề…

khốn khó lê thê…
Thời gian qua đi…

bộn bề nhiều lần suy nghĩ…

đời ngọt ngào thì đôi khi…
(Nguyễn Hải Phong – bđd)

Vâng. Đường đời vẫn còn dài, nhiều chông gai. Dù đó có là “những tháng ngày buồn” gì đi nữa, hãy cứ trông cậy vào “Giòng thời gian” cứ tuôn chảy mãi không thôi. Tuôn chảy rồi, sẽ thấy cuộc đời vẫn êm ả như những tháng ngày buông trôi thời thơ ấu, rất nên thơ.

 Trần Ngọc Mười Hai

Và ý-nghĩ thoáng qua

Khi kịp nghe bài hát Giòng thời gian

Của Nguyễn Hải Phong

Rất thường tình.

TÌNH YÊU BIẾN KẺ THÙ THÀNH BẠN HỮU

 TÌNH YÊU BIẾN KẺ THÙ THÀNH BẠN HỮU

 Tin Mừng các Chúa Nhật liên tiếp trình bày những giáo huấn mới mẻ của Chúa Giêsu so với luật cũ của Cựu ước.

 Chúa Nhật IV, Chúa Giêsu là Môisen mới, đứng trên núi Sinai mới (núi Bát Phúc) công bố luật mới của Nước Trời (Tám mối Phúc thật).

 Chúa Nhật V, sau khi công bố Hiến Chương Nước Trời, Chúa Giêsu khuyến khích các môn đệ, những công dân mới của Nước Trời, hãy đem những giáo huấn của Người ra thi hành.  Sứ mạng cao cả của người công dân Nước Trời là muối cho đời, ánh sáng thế gian.

 Chúa Nhật VI, Chúa Giêsu so sánh luật mới của Người với luật cũ của Môisen.  Luật mới kiện toàn luật cũ.  Chúa Giêsu đưa ra 4 trường hợp cụ thể:

 –      Luật cũ cấm giết người.  Luật mới dạy, phải coi người khác là anh em.  Thương yêu nhau, nếu có gì bất hòa thì hòa giải với nhau.

–      Luật cũ cấm hành vi ngoại tình.  Luật mới ngăn chặn ngoại tình từ ước muốn.  Cần chặn đứng những gì gây nên ước muốn xấu xa như con mắt, cái tay, cái chân…

–      Luật cũ quy định thủ tục li dị.  Luật mới triệt để cấm li dị.

–      Luật cũ cấm thề gian.  Luật mới dạy sống chân thực.  Khi đã sống chân thực rồi thì không cần thề nữa.

 Chúa Nhật VII, Chúa Giêsu tiếp tục giáo huấn hoàn thiện luật cũ.

–           Luật cũ dạy yêu thương, nhưng lòng yêu thương ấy chỉ giới hạn trong những người Israel với nhau.  Luật mới dạy phải mở rộng yêu thương đến kẻ thù nữa.

–          Tinh thần luật cũ “mắt đền mắt, răng đền răng”.  Pháp lý của Chúa Giêsu hoàn toàn mới mẻ.  Chúa mở ra con đường mới: thiện thắng ác, tình yêu thắng hận thù.

–          Tinh thần luật cũ là chỉ yêu thương người đồng bào.  Giáo huấn mới là hãy yêu thương thù địch và làm ơn để báo oán.

 1.  “Hãy yêu kẻ thù”

“Hãy yêu kẻ thù” là giáo huấn độc đáo nhất của Chúa Giêsu.  Người đã cắt nghĩa rất cụ thể.  Yêu thương kẻ thù là:

–          Làm ơn cho kẻ ghét mình.

–          Chúc phúc cho người nguyền rủa mình.

–          Cầu nguyện cho kẻ vu khống mình.

–          Ai vả má nầy thì đưa cả má kia.

          Ai lột áo ngoài thì cho cả áo trong.

–          Ai lấy gì thì đừng đòi lại…

 Lý do của thái độ nhân ái, lòng yêu thương bao la ấy là con cái phải noi gương Thiên Chúa là Cha ngự trên trời“Người làm cho mặt trời mọc lên trên người lành cũng như kẻ dữ, làm cho mưa xuống trên kẻ lành cũng như người bất lương…”.  “Yêu thương kẻ thù” là một nghĩa cử anh hùng, một nỗ lực vượt thắng tình cảm tự nhiên, vượt trên phản ứng thường tình của con người.  “Yêu thương kẻ thù” là bước vào thế giới siêu nhiên của con cái Chúa, sống nhân hậu và hoàn thiện như Cha trên trời.  Khi dạy “Hãy yêu kẻ thù”, Chúa Giêsu không có ý cổ võ sự nhu nhược, nhát đảm nhưng là để nêu cao tinh thần khoan dung hiền từ quảng đại tha thứ.

 “Hãy yêu kẻ thù”, đó là lệnh truyền khó thi hành nhất trong các lệnh truyền của Chúa Giêsu.  Khó nhưng không phải là không có thể.  Chính Chúa đã làm gương khi xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ hành hạ, đóng đinh mình trên thập giá.  Chính hành vi cao cả này đã thể hiện trọn vẹn tình yêu của Thiên Chúa.  Đó cũng là nét cao quý nhất trong dung mạo Đấng Cứu Thế.  Người đến để yêu thương và cứu chuộc con người.  Người đến để tha thứ và đem lại cho con người cơ may để sám hối và canh tân.  Như vậy Chúa Giêsu mở ra con đường mới cho nhân loại.  Con đường lấy thiện thắng ác, lấy tình yêu vượt thắng hận thù.  Chỉ có yêu thương mới làm cho thù hận tiêu tan.

 2.  Tại sao phải yêu kẻ thù?

Yêu người yêu mình thì dễ.  Yêu kẻ làm hại mình thật khó biết bao!  Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy: “Lấy oán báo oán, oán chập chùng.  Lấy đức báo oán, oán tiêu tan.”  Lấy oán báo oán chỉ thêm hận thù mà thôi.  Bạo lực sẽ kéo theo bạo lực.  Câu chuyện tình bất hủ Roméo và Juliette đã đi vào lịch sử nhân loại.  Nhiều thi sĩ, nhạc sĩ đã viết thi ca âm nhạc ca tụng tình yêu.  Những vở kịch những cuốn phim diễn tả hấp dẫn mối tình lãng mạn của đôi tình nhân trẻ.  Nếu câu chuyện tình của họ được kết thúc một cách tốt đẹp và bình thường, chắc sẽ không có ai nhắc đến.  Nhưng Roméo Juliette là nạn nhân của sự thù hận giữa hai gia tộc.  Không ai có thể tìm cách để giải hòa được sự thù hận ấy.  Sự thù hận dẫn đến mất mát cho cả hai bên.  Sự thù hận đã cướp đi mạng sống của đôi bạn trẻ yêu nhau tha thiết.  Sự thù hận giết chết một mối tình đẹp, nhân loại ngàn đời xót xa nuối tiếc.  Sự thù hận khởi đi từ tâm hồn ích kỷ.  Bảo vệ mình bằng sự trả thù, thì càng mất mát hơn và hận thù hận ngày càng dâng cao.

 Nhạc sĩ Phạm Duy viết trong một ca khúc: Kẻ thù tôi đâu có phải là người.  Giết người đi thì ta ở với ai?  Đã là người thì ai cũng có những sai lỗi.  Nhân vô thập toàn.  Hơn nữa, mỗi người lại có những tính tình và sở thích riêng biệt, bá nhân bá tánh.  Vì vậy, đã sống chung cùng nhau chúng ta không thể nào tránh đi cho hết những va chạm, những bực bội và những buồn phiền.  Vậy nếu hễ tức giận là báo thù, thì tôi sẽ phải báo thù kẻ lạ cũng như người quen, kẻ ngoài xã hội cũng như người trong gia đình, kẻ bên trái cũng như những người bên phải, kẻ đàng trước cũng như người đàng sau, nghĩa là phải tẩy chay, phải thanh toán hết mọi thứ người trên mặt đất này.  Phạm Duy khuyên đừng giết người vì tuy là kẻ thù, nhưng họ vẫn là người, vẫn giống chúng ta.

 3.  Tình yêu biến kẻ thù thành bạn hữu.

Trong cuộc sống, chúng ta va chạm nhau rất nhiều qua lời nói vô tình, cử chỉ vô ý, một câu truyện bịa đặt thêm nếm cũng có thể là nguyên nhân của chuyện thù ghét oán hờn.  Chúng ta cố gắng xây dựng hòa bình bằng sự chân thật và tình yêu thương tha thứ.  Thánh Phaolô khuyên dạy chúng ta: Anh em nổi nóng ư?  Đừng phạm tội: chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn (Ep 4,26).

 Thiên Chúa tạo dựng nên con người giống hình ảnh Chúa, lẽ nào Người lại tiêu diệt nó chứ?  Chúa Giêsu đến để đẩy lui sự ác, xóa bỏ tội lỗi.  Chúa không đến để tiêu diệt người tội lỗi mà để cứu vớt.  Tình yêu là vũ khí mạnh nhất để đẩy lui tội lỗi nơi con người, làm thay đổi một con người.  Chỉ có ánh sáng mới xóa tan được bóng tối.  Chỉ có tình thương mới xóa bỏ hận thù ghen ghét.  Tình yêu có phép mầu biến kẻ thù thành bạn hữu.  Tình yêu có sức mạnh sáng tạo và cứu độ.  Đối với người Kitô hữu, lý do căn bản để yêu thương kẻ thù chính là Lời Chúa: “Anh em hãy yêu kẻ thù…  Như vậy phần thưởng dành cho anh em sẽ lớn lao và anh em sẽ là con Đấng Tối Cao” (Lc 6,35).

 Câu chuyện ngụ ngôn kể rằng: Sư tử ốm đã một tuần nay và nằm trong hang không dậy được.  Nó buồn lắm vì là chúa tể sơn lâm mà chẳng con vật nào đến thăm hỏi hay mang cho nó chút quà gì cả.  Nhìn cây hoa hồng bên cạnh, lúc nào cũng có bướm, có ong, có chim chóc ríu rít, đến bay lượn vui vẻ.  Sư tử bèn hỏi cây hoa hồng: Hoa hồng ơi, vì sao ngươi mảnh dẻ yếu ớt như thế, mà lúc nào cũng có bạn bè đến thăm vui vẻ, còn ta là chúa tể sơn lâm mà chẳng có con vật nào đến thăm ta cả?

 Hoa hồng trả lời: Vì tôi luôn tặng cho mọi loài màu sắc tươi đẹp và hương thơm ngào ngạt khi mọi loài đến với tôi.  Còn ngài là chúa tể sơn lâm uy quyền, nhưng ngài có tặng cho những con vật bé nhỏ thuộc hạ của ngài cái gì đâu?

 Hoa hồng là hình ảnh của con người biết yêu thương.

 Lạy Chúa, trên thập giá, Chúa đã nêu gương tha thứ cho những kẻ giết Chúa.  Xin thương củng cố tình thương của Chúa trong trái tim con, để mỗi ngày con được tiến thêm và kiên trì đi trên con đường yêu thương của Chúa cho đến cùng.  Xin thánh hóa tình yêu trong con, cho con biết yêu mến mọi người.  Amen.

 LM Giuse Nguyễn Hữu An

Langthangchieutím gởi

Ðức Mẹ Lộ Ðức

Ðức Mẹ Lộ Ðức

Buổi sáng ngày 11 tháng 2 năm 1858 tại Lộ Ðức, một thị trấn nhỏ nằm ở miền Nam nước Pháp, trời lạnh như cắt. Cô Bernadette Soubirous cùng với hai người em khác tự nguyện ra phía rừng cạnh bờ sông Gave để nhặt củi. Bernadette vừa lên 15 tuổi. Nhưng cô chưa biết đọc và biết viết. Cô vừa mới cắp sách đến trường của các sơ được một thời gian ngắn để học tiếng Pháp, bởi vì trong miền cô đang ở, mọi người đều nói một thứ thổ ngữ khác với tiếng Pháp. Hôm đó là ngày thứ năm, cô được nghỉ học. Mặc dù bệnh suyễn đang hoành hành, nhưng nghĩ đến cảnh nghèo túng của gia đình, nên Bernadette đã xin phép mẹ được đi nhặt củi.

Bình thường theo dọc bờ sông Gave, có rất nhiều cành cây khô. Nhưng suốt buổi sáng thứ năm đó, dường như chị em của Bernadette không nhặt được bao nhiêu. Bernadette mới lần mò tiến về một hang động gần đó mà dân làng có thói quen gọi là Massabielle. Cô đang loay hoay với công việc nhặt củi, thì kìa từ trong hang: một thiếu nữ cực kỳ diễm lệ xuất hiện. Theo lời mô tả của Bernadette, thì người thiếu nữ chỉ trạc độ 16, 17 tuổi. Bernadette tưởng mình như đang mơ. Cô bước thêm bước nữa. Người thiếu nữ cực kỳ diễm lệ đó chỉ mỉm cười.

Trong cơn xúc động bồi hồi, như một cái máy, Bernadette đã lôi tràng hạt từ trong túi áo ra và cô bắt đầu đọc kinh Kính Mừng trong ngôn ngữ quen thuộc của cô. Trong ánh sáng chan hòa giữa mùa đông vẫn còn lạnh đó, người thiếu nữ chỉ mỉm cười. Khi Bernadette vừa lần xong chuỗi mân côi, người thiếu nữ làm dấu cho cô tiến lại gần hơn. Nụ cười vẫn chưa tắt trên môi người thiếu nữ. Bernadette say sưa ngắm nhìn và tiếp tục đọc kinh cho đến khi ánh sáng bao trùm người thiếu nữ nhạt dần và tắt hẳn…

Ba ngày sau đó, sau khi đã có những tiếng xì xầm về hiện tượng lạ đó, bà mẹ của Bernadette nghiêm cấm không cho con gái mình trở lại hang Massabielle nữa. Nhưng do một sự thúc đẩy không thể cưỡng bách được, Bernadette đã trở lại chỗ cũ cùng với mấy chị em của cô. Lần này, khi người thiếu nữ mặc áo trắng xuất hiện Bernadette đã mạnh dạn hô lớn: “Nếu người đến từ Thiên Chúa, xin người hãy ở lại”. Người thiếu nữ mỉm cười gật đầu. Ðây là lần thứ hai người áo trắng hiện ra với cô. Lần thứ ba cũng xảy ra như thế vào ngày 18 tháng 2 và liên tiếp trong vòng 15 ngày, Bernadette đã được diễm phúc gặp Ðức Maria hiện ra và tỏ lộ cho cô một danh tánh vô cùng kỳ lạ: “Ta là Ðấng Vô Nhiễm Nguyên Tội”.

Từ nơi cô đang quỳ cầu nguyện mỗi khi Ðức Mẹ hiện ra, một dòng suối nhỏ đã vọt lên có sức chữa trị mọi tật bệnh.

Ðó là nguồn gốc của hang Ðức Mẹ Lộ Ðức. Ngày nay, từng giờ từng phút, khách hành hương từ khắp nơi trên thế giới tuôn đến để cầu nguyện và xin ơn. Ðến đó, dù tin hay không tin, mọi người đều cảm thấy có một sức mạnh lạ lùng lôi kéo để đốt lên một ngọn nến và quỳ gối cầu nguyện.

Hiện nay, khắp nơi trên thế giới, đều có những hang Lộ Ðức được thiết kế một cách tương tự để nhắc nhớ biến cố này cũng như kêu gọi lòng tôn sùng Mẫu Tâm.

Nhưng có lẽ ai trong chúng ta cũng có một lần mơ ước đến tận nơi để cầu nguyện. Mẹ Maria đã không hiện ra với tất cả mọi người. Phép lạ cũng không hiện ra một cách tỏ tường với tất cả mọi người đến cầu khấn. Ðiều quan trọng không phải là hành hương đến tận nơi Thánh, nhưng chính là sứ điệp mà Mẹ muốn nhắn gửi với chúng ta qua những người được diễm phúc thấy Mẹ hiện ra. Sứ điệp đó vẫn luôn luôn là hy sinh, là phục vụ và nhất là cầu nguyện

11Tháng Hai

Trích sách Lẽ Sống

Anh chị Thụ & Mai gởi

ĐTC – Sứ Điệp Mùa Chay 2017

ĐTC – Sứ Điệp Mùa Chay 2017

Pope writing a letter

ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ – SỨ ĐIỆP MÙA CHAY 2017

“Lời Chúa là một tặng ân, Những Con Người Khác cũng là một tặng ân”

Anh Chị Em thân mến,

Mùa Chay là một khởi đầu mới, là một đường lối dẫn đến đích điểm chắc chắn Phục Sinh, cuộc vinh thắng của Chúa Kitô trên sự chết. Mùa này khẩn thiết kêu gọi chúng ta hãy ăn năn hoán cải. Kitô hữu được kêu xin hãy trở về cùng Thiên Chúa “bằng tất cả tấm lòng của họ” (Joel 2:12), hãy đừng an phận với những gì là tầm thường và hãy gia tăng mối liên hệ thân tình với Chúa. Chúa Giêsu là người bạn trung thành không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Ngay cả khi chúng ta vấp phạm tội lỗi, Người vẫn nhẫn nại đợi chờ chúng ta trở về; bằng niềm trông đợi nhẫn nại ấy Người cho chúng ta thấy rằng Người sẵn sàng thứ tha cho chúng ta (xem bài giảng ngày 8/1/2016).

Mùa Chay là một thời điểm thuận lợi để đi sâu vào đời sống thiêng liêng của chúng ta bằng phương tiện thánh hóa được Giáo Hội cống hiến cho chúng ta, đó là chay tịnh, cầu nguyện và làm phúc. Căn bản của hết mọi sự là lời Chúa, mà trong mùa này chúng ta được mời gọi để nghe và suy niệm một cách sâu xa hơn. Giờ đây chúng ta hãy lưu ý tới dụ ngôn về người phú hộ và Lazarô (xem Luca 16:19-31). Chúng ta hãy tìm thấy cái cảm hứng nơi câu chuyện ý nghĩa này, vì nó cống hiến cho chúng ta cái then chốt để hiểu được những gì chúng ta cần phải làm hầu đạt tới hạnh phúc chân thực và sự sống đời đời. Nó khuyên chúng ta hãy thành tâm hoán cải.

1- Người khác là một tặng ân

Dụ ngôn này mở đầu bằng việc giới thiệu hai nhân vật chính. Con người nghèo được diễn tả một cách chi tiết hơn: người ấy là một con người quá tệ thậm chí không còn sức mà đứng lên được nữa. Nằm ở trước cửa nhà của người phú hộ, người này sống bằng các mảnh vụn rơi xuống từ bàn của người phú hộ. Thân thể của người ấy đầy những ghẻ lở và bị các con chó đến liếm các vết thương trên mình (xem các câu 20-21). Hình ảnh này là hình ảnh về một tình trạng thật là cùng khốn bất hạnh; nó phác tả cho thấy một con người khổ nhục và đáng khinh.

Cảnh tượng này lại càng thế thảm hơn nữa nếu chúng ta lưu ý tới con người nghèo này được gọi là Lazarô: một cái tên đầy hứa hẹn, theo nghĩa đen là Thiên Chúa phù giúp. Nhân vật này không phải là một con người vô danh. Các đặc tính của con người ấy được miêu tả một cách rõ ràng và tỏ ra như là một cá nhân sống câu chuyện đời tư của mình. Trong khi con người này thực tế trở thành vô hình đối với nhà phú hộ thì chúng ta lại thấy được và biết được con người ấy như là một ai đó quen thuộc. Con người này trở thành một khuôn mặt, và như thế, là một tặng ân, một kho tàng vô giá, một con người được Thiên Chúa yêu thương và chăm sóc, bất chấp thân phận thực tế của con người này như là một kẻ bị loại trừ (xem bài giảng ngày 8/1/2016).

Nhân vật Lazarô dạy chúng ta rằng những con người khác là một tặng ân. Mối liên hệ đúng đắn với con người ta là ở chỗ ưu ái nhìn nhận giá trị của họ. Ngay cả con người nghèo khổ ở ngay cửa nhà của nhà phú hộ này không phải là những gì rầy rà phiền toái mà là lời hiệu triệu hoán cải cùng đổi thay. Dụ ngôn này trước hết mời gọi chúng ta hãy mở cửa lòng mình ra cho người khác, vì mỗi một người là một tặng ân, dù là người hàng xóm láng giếng của chúng ta hay là một kẻ ăn xin vô danh tiểu tốt. Mùa Chay là một thời điểm thuận lợi cho việc mở cửa ra cho tất cả những ai đang thiếu thốn và nhận biết nơi họ dung nhan của Đức Kitô. Mỗi người chúng ta gặp gỡ con người ta hằng ngày như thế. Mỗi một cuộc sống chúng ta gặp gỡ là một tặng ân đáng chấp nhận, trân trọng và yêu thương. Lời Chúa giúp chúng ta mở mắt của chúng ta ra để đón nhận và yêu thương sự sống, nhất là khi sự sống đó yếu đuối và mỏng dòn dễ bị tổn thương. Thế nhưng, để làm điều ấy, chúng ta cần phải cẩn trọng lưu ý tới những gì Phúc Âm nói với chúng ta về nhà phú hộ.

2- Tội lỗi làm chúng ta mù quáng


Dụ ngôn này không tiếc lời diễn tả về những cái đối nghịch liên quan đến nhà phú hộ (xem câu 19). Không giống như Lazarô nghèo khổ, nhà phú hộ không có tên gọi; mà chỉ được gọi là “một người giầu có”. Cái giầu sang phú quí của nhà phú hộ này được thấy nơi những chiếc áo quá ư là mắc tiền của mình. Vải điều thậm chí còn quí hơn cả bạc và vàng, và vì thế được giành cho các bậc thần thánh (xem Giêrêmia 10:9) và vua chúa (xem Quan Án 8:26), trong khi vải lanh tốt cống hiến cho người ta một tính chất hết sức linh thánh. Con người này rõ ràng là muốn phô trương cái giầu sang phú quí của mình, và tỏ bày nó ra hằng ngày theo thói quen: “Hằng ngày yến tiệc linh đình” (câu 19). Nơi con người ấy chúng ta có thể thấy ngay được cái thê thảm của tình trạng băng hoại tội lỗi là tình trạng tiến triển theo 3 giai đoạn liên tục là yêu thích tiền của, phù du và kiêu kỳ (xem bài giảng ngày 20/9/2016).

Tông Đồ Phaolô đã nói với chúng ta rằng “lòng yêu thích tiền của là nguồn gốc của tất cả mọi sự dữ” (1Timôthêu 6:10). Nó là nguyên do chính yếu của tình trạng băng hoại và là nguồn gốc của ghen tị, xung đột và ngờ vực. Tiền của có thể đi đến chỗ thống trị chúng ta, thậm chí cho đến độ trở thành một thứ ngẫu tượng chuyên chế tàn bạo (xem Tông Huấn Niềm Vui Phúc Âm, 55). Thay vì là một phương tiện giúp chúng ta làm lành và tỏ tình đoàn kết với những người khác thì nó có thể trói buộc chúng ta và toàn thế giới vào cái lý lẽ vị kỷ không còn chừa chỗ cho yêu thương và trở thành cản trở hòa bình.

Vậy dụ ngôn này cho thấy rằng lòng tham lam của nhà phú hộ biến con người này thành hư ảo. Nhân cách của con người ấy ở nơi các dáng vẻ bề ngoài, nơi việc tỏ cho người khác thấy những gì con người ấy có thể làm. Thế nhưng, cái dáng vẻ bề ngoài ấy là những gì che đậy một thứ trống rỗng nội tâm. Đời sống của con người này là một tù nhân cho những dáng vẻ bề ngoài, cho những khía cạnh hiện hữu nông nổi và mau qua nhất (xem Tông Huấn Niềm Vui Phúc Âm, 62).

Cái thanh ngang thấp nhất của tình trạng thoái hóa về luân lý này là tính kiêu hãnh. Nhà phú hộ phục sức như là một ông vua và tác hành như một vị thần, quên rằng mình chỉ là loài chết chóc. Đối với những ai bị băng hoại bởi lòng yêu thích giầu sang, thì không có gì hiện hữu ngoài bản ngã của họ. Những gì ở chung quanh họ đều không ở trong tầm nhìn của họ. Hậu quả của việc gắn bó với tiền của là một thứ mù lòa. Nhà phú hộ đã không nhìn thấy con người nghèo đang đói khổ, đớn đau, nằm ngay ở cửa nhà của mình.

Khi nhìn vào nhân vật này chúng ta có thể hiểu tại sao Phúc Âm đã rất ư là thẳng thừng lên án lòng yêu thích tiền của: “Không ai có thể làm tôi hai chủ: họ một là ghét chủ này mà thương chủ nọ, hay gắn bó với chủ này mà khinh thường chủ kia. Các con không thể làm tôi cho cả Thiên Chúa lẫn tiền của được” (Mathêu 6:24).

3- Lời Chúa là một tặng ân

Phúc Âm về nhà phú hộ và Lazarô giúp chúng ta thực hiện việc sửa soạn tốt đẹp để tiến tới Lễ Phục Sinh. Phụng vụ của Thứ Tư Lễ Tro mời gọi chúng ta đến với một cảm nghiệm rất giống với cái cảm nghiệm của nhà phú hộ. Khi vị linh mục xức tro trên đầu chúng ta thì ngài lập lại những lời: “Hãy nhớ rằng mình là tro bụi và sẽ trở về bụi tro”. Cuối cùng thì nhà phú hộ và con người nghèo khổ đều chết, và phần quan trọng hơn của dụ ngôn xẩy ra ở đời sau. Cả hai nhân vật đều đột nhiên khám phá ra rằng “chúng ta chẳng mang gì vào thế gian và chúng ta cũng không thể nào mang gì ra khỏi đó” (1Timôthêu 6:7).

Chúng ta cũng thấy cả những gì xẩy ra ở đời sau nữa. Ở đó người giầu nói dài dòng với tổ phụ Abraham, vị mà người này gọi là “cha” (Luca 16:24,27), như một dấu hiệu chứng tỏ con người ấy thuộc về dân Chúa vậy. Chi tiết này lại càng khiến cho đời sống của người này lại càng tỏ ra hoàn toàn trái ngược, vì cho đến lúc ấy vẫn chẳng có chuyện đề cập đến mối liên hệ của mình với Thiên Chúa. Thật vậy, chẳng có chỗ nào cho Thiên Chúa trong đời sống của con người ấy. Vị thiên chúa duy nhất của con người này là chính bản thân mình.

Nhà phú hộ chỉ nhận ra Lazarô khi ở giữa những cực hình đời sau. Con người ấy muốn con người nghèo kia làm giảm bớt cái khổ đau của mình bằng một giọt nước. Những gì con người ấy xin Lazarô giống như những gì con người này có thể làm được nhưng lại chẳng bao giờ làm. Abraham bảo con người ấy rằng: “Trong đời sống của mình nhà ngươi đã được đầy những cái may lành, còn Lazarô thì đầy những cái tồi tệ. Giờ đây nó được an ủi ở nơi đây trong khi ngươi đang phải chịu thống khổ” (câu 25). Ở đời sau sự công bằng sẽ được phục hồi và những cái xấu trong đời sống sẽ được quân bằng lại bằng sự thiện.

Dụ ngôn này tiếp tục cống hiến cho tất cả mọi Kitô hữu một sứ điệp. Nhà phú hộ xin Abraham sai Lazarô về cảnh báo cho anh em của mình là những kẻ còn đang sống. Thế nhưng Abraham đã trả lời rằng: “Họ đã có Moisen cùng các vị tiên tri, họ hãy lắng nghe các vị ấy” (câu 29). Đụng phải những kháng cự của nhà phú hộ, Abraham nói thêm rằng: “Nếu họ không lắng nghe Moisen hay các vị tiên tri thì họ cũng sẽ chẳng tin cho dù có ai sống lại từ kẻ chết” (câu 31).

Như thế thì cái vấn đề thực sự của nhà phú hộ đã hiện lộ. Ở căn gốc về tất cả mọi thứ bệnh hoạn của con người này là không nghe lời ChúaDo đó con người này đã không còn kính mến Thiên Chúa và gia tăng việc khinh khi tha nhân của mình. Lời Chúa là những gì tồn tại và quyền năng, có thể hoán cải các tấm lòng và dẫn chúng về với thiên Chúa. Khi chúng ta khép lòng mình lại trước tặng ân lời Chúa thì chúng ta đi đến chỗ khép mình lại trước tặng ân anh chị em của chúng ta.

Các bạn thân mến, Mùa Chay là thời điểm thuận lợi để tái tấu việc chúng ta gặp gỡ Chúa Kitô đang sống động nơi lời của Người, nơi các Bí Tích cũng như nơi tha nhân của chúng ta. Lạy Chúa, Đấng đã chiến thắng các mưu mô lừa đảo của Tên Cám dỗ trong 40 ngày ở sa mạc, xin cho chúng con thấy đường lối chúng con phải theo. Xin Thánh Linh dẫn chúng con thực hiện cuộc hành trình hoán cải thực sự, nhờ đó chúng con có thể tái khám phá ra tặng ân lời Chúa, có thể được thanh tẩy khỏi tội lỗi làm cho chúng con bị mù quáng, và có thể phục vụ Chúa Kitô hiện diện trong anh chị em thiếu thốn của chúng con. Tôi khuyến khích tất cả mọi tín hữu hãy thể hiện cuộc canh tân thiêng liêng này bằng cả việc tham dự vào các Chiến Dịch Mùa Chay được nhiều tổ chức Giáo Hội phát động ở các phần đất khác nhau trên thế giới, và như thế hướng về nền văn hóa gặp gỡ trong gia đình nhân loại duy nhất của chúng ta. Chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau để, nhờ được tham dự vào cuộc vinh thắng của Chúa kitô, chúng ta có thể mở cửa của chúng ta ra cho thành phần yếu kém và nghèo khổ. Để rồi chúng ta mới có thể cảm nghiệm thấy và chia sẻ trọn vẹn niềm vui Phục Sinh.

Tại Vatican ngày 18/10/2016

Phanxicô

http://w2.vatican.va/content/f rancesco/en/messages/lent/docu ments/papa-francesco_20161018_ messaggio-quaresima2017.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo những chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu                                                                          

Anh chị Thụ & Mai gởi

CUỐN SÁCH HAI CHỮ

CUỐN SÁCH HAI CHỮ

LM Giuse Nguyễn Hữu An

Chúa Giêsu khẳng định: “Đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Môsê hay lời các Ngôn sứ.  Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn.

Luật Môsê là Luật của Thiên Chúa ban.  Môsê đã làm nhiệm vụ trung gian trao lại cho dân Do thái và giải thích Luật ấy.  Người Do thái từ bao đời đã giữ Luật theo lời giải thích của Môsê.  Lề Luật là khuôn vàng thước ngọc để đánh giá một con người.  Lề Luật có tầm quan trọng số một đối với người Do thái.

Không ai có quyền bãi bỏ luật lệ, trừ chính vị ra luật hay nhà lập luật.  Trong Israel, chỉ mình Đức Chúa có quyền này, ngay cả Môsê cũng không, vì ông chỉ là trung gian truyền đạt.

Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa.  Ngài không gạt bỏ Luật của Thiên Chúa được trao cho Môsê, nhưng Ngài giải thích lại Luật ấy cho đúng với ý Thiên Chúa, Ngài làm cho mọi luật được nên trọn hảo.  Chúa Giêsu công bố lại ý hướng nguyên thuỷ của Thiên Chúa diễn tả qua Lề Luật, đó là Tình Yêu.  Ngài muốn đặt tình yêu làm nền tảng cho mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau : “Yêu mến Thiên Chúa hết lòng và yêu thương tha nhân như bản thân mình.

Chúa Giêsu khẳng định: “Thầy đến để kiện toàn lề luật.”  Lời tuyên bố quả quyết dứt khoát đến nỗi: trời đất qua đi thì lời Ngài nói vẫn tồn tại, và tất cả những ai tuân giữ lời Ngài cũng được tồn tại muôn đời trong Nước Trời.  Lời tuyên bố như đinh đóng cột làm: “thiên hạ sửng sốt vì Ngài giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền” (Mt 7,28; Mc 1,22; Lc 4,31).  Kiện toàn Luật Môsê và các Ngôn sứ là kiện toàn và thực hiện toàn bộ Kinh Thánh.

CUON SACH 2 CHU
Chúa Giêsu kiện toàn nội dung của Luật gồm luật Sabát, luật thanh sạch, luật hôn nhân, luật báo oán…  Đối với Chúa Giêsu, tất cả các khoản luật được lập ra là nhằm mục đích phục vụ con người, chứ không phải phục vụ cơ chế hay quyền lợi của một nhóm người nào.  Luật phải vì con người chứ không phải con người vì luật.  Luật quan trọng nhất được khắc ghi trong tâm hồn mà mọi điều luật khác phải qui về, đó là luật bác ái yêu thương.  Luật nào không còn phục vụ và làm thăng tiến con người trên phương diện tình yêu đều không còn lý do để tồn tại.

Chúa Giêsu kiện toàn tinh thần giữ luật.  Giữ luật vì lòng yêu mến chứ không phải vì hình thức vụ luật.  Óc nệ luật, vụ hình thức làm tê liệt sáng kiến và cầm chân con người trong thái độ tiêu cực, máy móc, cằn cỗi.

Như vậy, Chúa Giêsu kiện toàn lề luật bằng cách đặt cho nó một linh hồn là yêu thương.  Tất cả lề luật trong đạo đều qui về một giới răn nền tảng và duy nhất, đó là yêu thương.

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu làm hoàn hảo điều răn thứ 5, điều răn thứ 6 và thứ 9, điều răn thứ 2 và thứ 8.

Chúa Giêsu kiện toàn điều răn thứ 5

Điều răn thứ 5 dạy “chớ giết người.”  Giết người là có tội.  Luật của Chúa Giêsu thì chi tiết hơn: giận ghét, mắng chửi người khác đã là xúc phạm đến người khác, đã là lỗi luật rồi: “Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà.  Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng.  Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì đáng bị lửa hoả ngục thiêu đốt” (Mt 5, 22-23).

Chúa Giêsu dạy cho con người biết yêu thương và tôn trọng nhau.  Yêu thương thì bao dung nhân hậu, thứ tha cảm thông, hòa nhã lịch sự.  Yêu thương thì không giận không ghét, không mắng chửi.  Ngài cụ thể về đức công chính là làm hòa với tha nhân trước đã, dâng lễ cho Thiên Chúa sau.  Như thế, lễ dâng cho Thiên Chúa chỉ có giá trị khi lòng người ngập tràn niềm yêu mến và tôn trọng nhau.  Không đợi đến mức giết người mới thành khung tội nặng, khung án nặng, mà theo Chúa Giêsu thì chỉ cần giận ghét chửi mắng anh em là đã liệt vào khung hình phạt cao nhất rồi.

Luật của Chúa Giêsu thật chí lý.  Vì nếu, con người ta giữ được lòng yêu thương, tôn trọng, không giận ghét, không mắng chửi thì không có nguyên nhân dẫn đến việc giết người.

Chúa Giêsu kiện toàn điều răn thứ 6 và thứ 9

Điều răn thứ 6 dạy: “Chớ dâm dục“, và điều răn thứ 9 dạy: “chớ ngoại tình.”  Chúa Giêsu dạy tích cực hơn: Giữ tâm hồn trong sạch, cả cho mình lẫn cho người.

Không đợi đến lúc vở lỡ, không đợi phải bắt quả tang những chuyện tình vụng trộm thì tội mới thành danh tội “dâm dục” hay “ngoại tình”, nhưng ngay khi nhìn người phụ nữ mà thèm muốn làm chuyện xác thịt thì đã thành tội rồi.  Chúa Giêsu rất có lý, vì nếu không giữ cho tâm hồn trong sạch, không kềm chế những ước muốn thấp hèn, sớm muộn con người ta cũng không tránh khỏi cái vòng tục lụy kia nó cuốn vào chỗ phạm tội làm mất đi nhân phẩm cao quí là con cái của Thiên Chúa, là Đền Thờ Chúa Thánh Thần.  Mọi người sống trong sạch với cái nhìn đơn sơ như chim bồ câu, sống vui tươi với nhau thật hồn nhiên như trẻ thơ, làm cho cuộc đời hạnh phúc biết bao!
Chúa Giêsu kiện toàn điều răn thứ 2 và thứ 8

Chúa Giêsu còn dạy thêm về sự ngay chính thật thà: “có” thì phải nói “có”, “không” thì phải nói “không.”  Thêm điều đặt chuyện là bởi ma quỷ mà ra” (Mt 5,37).  Lòng ngay chính thật thà hỗ trợ tốt cho việc chu toàn luật yêu thương, tôn trọng tha nhân.  Yêu thương chân thành là nền tảng vững chắc ngăn chận mọi âm mưu gian tà của lạc thú xác thịt, của chia rẽ hận thù báo oán.

Cuốn sách hai chữ : Yêu Thương

Một câu chuyện kể rằng, có nhà vua kia lệnh cho các nhà thông thái trong đất nước của ông là hãy tóm gọn tất cả mọi chân lý vào trong một cuốn sách.  Thời gian trôi qua hàng chục năm mà chưa ai thực hiện được.  Vị quan được trao phó trách nhiệm công việc này đến thưa với vua, xin vua khất cho thời hạn.  Một năm sau, vua hỏi, vị này vẫn chưa làm được điều gì.  Vì kiến thức là một biển cả mênh mông, không thể tóm trong một cuốn sách, phương chi là một vài chục năm.  Không may, nhà vua bị bệnh, mỗi ngày một suy yếu.  Thời gian không còn tính theo năm nữa mà tính theo tháng.  Rồi bệnh của vua càng ngày càng trầm trọng.  Nhà vua hối thúc vị quan được trao phó trách nhiệm.  Vị quan này gấp rút dồn lại trong một cuốn sách.  Nhưng nhà vua nói: Bây giờ thì ta không thể đọc được nữa rồi, ngươi hãy thu ngắn lại nữa.  Cuối cùng một cuốn sách chỉ còn lại một chương.  Một chương, nhà vua cũng không còn sức để đọc được nữa.  Bệnh đã nặng, hết hơi, sức đã tàn.  Sau cùng, nhà vua nói với viên quan kia: ngươi hãy tóm lại trong một chữ thôi.  Viên quan đã tận tâm và thưa: muôn tâu hoàng thượng, nếu tất cả chân lý chỉ tóm lại trong một chữ thì thần xin bệ hạ hai chữ là: Yêu Thương.
 
Thánh Phaolô biết rõ hơn ai hết sự cao đẹp của Luật Môsê, nhưng chính vì thế mà ngài càng xác tín hơn ai hết về giới hạn của nó so với Tin Mừng Chúa Giêsu (x. Gl 3,25-26).  Đối với Phaolô: “Yêu thương là chu toàn lề luật” (Rm 13,10).  Sống yêu thương là dấu ấn Thiên Chúa đã ghi khắc trong tâm hồn con người.  Mỗi người là tạo vật duy nhất được Thiên Chúa tạo dựng theo và giống hình ảnh Ngài.  Thiên Chúa là Tình Yêu cho nên con người cũng chỉ có một ơn gọi duy nhất, đó là sống yêu thương. Tất cả lề luật Giáo Hội ban hành là chỉ nhằm giúp con người sống yêu thương nhau.

Chúa Giêsu tha thiết kêu mời: Hãy yêu nhau “Như Thầy đã yêu anh em” (Ga 15,12).  Chúa đã yêu bằng hành động cụ thể là hy sinh cho người mình yêu.  Khi yêu nhau, người ta có thể hy sinh cho nhau thời giờ, tiền bạc, sức khỏe, công việc…  Hy sinh cao cả nhất là hy sinh mạng sống: “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.”  Chúa đã thực thi sự hy sinh cao độ ấy: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta” (x. Rm 5,6; Ep 5,2; 1Ga 3,16), để chúng ta yêu thương: “Nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế thì chúng ta phải thương yêu nhau” (1 Ga 4,19), nhờ đó mà “niềm vui được nên trọn vẹn” (Ga 15,9).  Đối với Chúa Giêsu, tình yêu là giới răn đứng hàng đầu trong các giới răn.  Mọi lề luật đều phải hướng đến tình yêu.  Ai chu toàn tình yêu là chu toàn lề luật.

Lề luật của Chúa thật nhẹ nhàng vì lề luật chính là tình yêu.  Nếu yêu mến Chúa và yêu mến anh em, chúng ta sẽ thấy việc giữ luật không còn gì khó khăn nữa.  Tình yêu sẽ làm cho chúng ta cảm nếm sự ngọt ngào trong việc tuân giữ lề luật.  Tình yêu thật vĩ đại cho những ai sống theo gương Chúa Giêsu trong hành trình cuộc đời mình.

Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa giúp chúng con biết làm tất cả mọi việc chỉ vì lòng mến Chúa và yêu người. Amen.

LM Giuse Nguyễn Hữu An

LỜI CHÚC HẠNH PHÚC ĐẦU XUÂN: TÁM MỐI PHÚC THẬT

LỜI CHÚC HẠNH PHÚC ĐẦU XUÂN: TÁM MỐI PHÚC THẬT

Tác giả:  Lm. Đan Vinh, HHTM

HIỆP SỐNG TIN MỪNG

LỄ ĐÓN GIAO THỪA ĐẦU XUÂN

Mt 5,1-10

  1. LỜI CHÚA:“Phúc thay ai có tâm hồn  nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3)
  2. CÂU CHUYỆN:

1) HẠNH PHÚC ĐÒI TA LUÔN PHẤN ĐẤU:

Vào một buổi sáng đẹp trời, chú cún con chạy đến bên mẹ và hỏi: 
– Mẹ ơi, hạnh phúc ở đâu?
Mẹ cún con mỉm cười đáp: 
– Hạnh phúc nằm ở chiếc đuôi xinh xắn của con đó!
Cún con thích lắm, ngày nào chú cũng ngắm nghía chiếc đuôi của mình, vừa nhảy vừa vẫy vãy chiếc đuôi! Nhưng rồi bỗng một hôm, chú cún con buồn bã chạy đến bên mẹ: 
– Mẹ ơi, tại sao con chẳng bao giờ nắm giữ được hạnh phúc vậy?
Mẹ khẽ vuốt ve cún con và đáp: 
– Chỉ cần con tự tin bước về phía trước, hạnh phúc sẽ tự đi theo con thôi!!!

2) HẠNH PHÚC Ở TRONG LÒNG CHÚNG TA:

Ngày xưa, có một bầy yêu tinh tập hợp lại với nhau để lên kế hoạch làm hại con người. Một con yêu tinh lên tiếng: “Chúng ta nên giấu cái gì quý giá của con người. Nhưng mà cái đó là cái gì?”

Một con yêu tinh khác lên tiếng: “Chúng ta nên giấu hạnh phúc của con người. Không có nó, ngày đêm con người sẽ phải khổ sở. Nhưng vấn đề là chúng ta sẽ giấu hạnh phúc nơi nào mà con người không thể tìm thấy được.”

Một con yêu tinh cho ý kiến: “Chúng ta sẽ quẳng hạnh phúc lên đỉnh núi cao nhất thế giới.”

Con yêu tinh khác phản đối: “Con người rất khỏe mạnh, chuyện trèo lên đỉnh núi đối với họ không có gì khó khăn.”

“Vậy thì chúng ta sẽ đem hạnh phúc ném xuống đáy biển sâu.”

“Không được, con người rất tò mò. Họ sẽ chế tạo ra những con tàu hiện đại để đi xuống tận đáy biển. Rồi tất cả mọi người sẽ biết.”

Một con yêu tinh trẻ có ý kiến: “Hay là chúng ta đem giấu hạnh phúc ở một hành tinh khác.”

Con yêu tinh già phản đối: “Không được, con người rất thông minh. Càng ngày họ càng thám hiểm nhiều hành tinh khác đấy thôi.”

Suy nghĩ hồi lâu, có một con yêu tinh già lụ khụ lên tiếng: “Tôi biết phải giấu hạnh phúc ở đâu rồi. Hãy giấu nó ở chính bên trong con người. Đa số con người đi tìm hạnh phúc ở khắp chốn, khắp nơi và bao giờ họ cũng thấy người khác hạnh phúc hơn mình. Bản thân họ thì chẳng bao giờ quan tâm. Giấu nó ở đó thì con người không bao giờ tìm thấy!!!”

Tất cả các con yêu tinh đều đồng ý. Và kể từ đó, rất nhiều người mãi miết kiếm tìm hạnh phúc mà không biết rằng nó được giấu ngay trong tâm hồn của chính mình.

3) NGƯỜI GIÀU CŨNG KHÓC:

PAUL GETTY là ông chủ một hãng dầu lớn nhất tại Anh Quốc. Khu đất ông ở rộng bốn mươi mẫu tây. Tài sản của ông trị giá hàng tỷ mỹ kim. Thế mà mỗi ngày ông đều phải thức dậy làm việc từ lúc ba giờ sáng. Chung quanh ông lúc nào cũng có tới mười cảnh sát bảo vệ. Mỗi ngày, ông nhận được hàng trăm cú điện thoại và những lời đe dọa ám sát… Ông đã phải thốt lên rằng: “Tôi là người chẳng bao giờ biết đến hạnh phúc!”.

  1. THẢO LUẬN: 1) Hạnh phúc thực sự là gì? 2) Làm thế nào để đạt được hạnh phúc thực sự trong cuộc sống hiện tại và mai sau?
  2. SUY NIỆM:

Năm cũ sắp qua nhường chỗ cho năm mới đang tới. Trong dịp này, chúng ta thường chúc cho nhau những điều tốt đẹp. Chẳng hạn: Chúc cho đông con nhiều cháu, phát tài phát lộc, khỏe mạnh sống lâu… Những lời cầu chúc thường qui về ba chữ: Phúc, Lộc, Thọ. Tóm lại là chúc nhau được hạnh phúc trong Năm Mới. Nhưng thế nào là hạnh phúc thực sự?

1) Hạnh phúc là gì?

Hạnh phúc là tình trạng thỏa mãn khi đạt được những điều mong ước mà người đời thường mong ước như Phúc, Lộc và Thọ. Tuy nhiên không nhất thiết cứ có đông con nhiều cháu, cứ sở hữu nhiều nhà cửa tiền bạc, chức cao quyền trọng hoặc được sống lâu trăm tuổi là đương nhiên có hạnh phúc… Vì lòng tham con người vô đáy như người đời thường nói: “Được voi đòi tiên”, “Đứng núi này trông núi nọ”…

Người ta cũng thường chúc nhau khỏe mạnh. Nhưng khỏe mạnh vẫn chưa phải là thứ hạnh phúc thực sự. Vì nếu sức khỏe là hạnh phúc, thì chắc hẳn những nhà lực sĩ sẽ hạnh phúc nhất. Thế nhưng, không phải như vậy. Bởi vì có những người dù đau yếu, sức khỏe èo uột, thế mà nụ cười vẫn tươi nở trên đôi môi, đang khi những nhà vô địch Ô-lim-pic có sức khỏe vô địch lại thường âu lo bị soán ngôi như người ta thường nói: “Cao nhân tất hữu cao nhân trị”.

Rất nhiều người đã mong ước kiếm nhiều tiền để được sống an nhàn như người ta thường nói: “Có tiền mua tiên cũng được: Đồng tiền là Tiên là Phật; Là sức bật của tuổi trẻ; Là sức khỏe của tuổi già; Là cái đà của danh vọng; Là cái lọng để che thân; Là cán cân của công lý; Là triết lý của cuộc đời”…

2) Hạnh phúc thực sự do đâu ?

Hạnh phúc thật sự không nhất thiết do tiền bạc, chức quyền, sắc đẹp, sức khỏe… dù rằng những điều đó đều là ưu điểm có thể mang lại cho chúng ta niềm vui trong một lúc nào đó. Vậy hạnh phúc đích thật ở đâu?

Thực ra: Con người chúng ta không những gồm thân xác mà còn có linh hồn nữa. Cơm áo gạo tiền hay tiền bạc vật chất, địa vị chức quyền, sắc đẹp, tài năng, sức khỏe, sống lâu…  chỉ đáp ứng được những nhu cầu về thể xác bên ngoài và không bền lâu, nên không mang lại hạnh phúc thực sự. Điều quan trọng để có hạnh phúc thực sự là một tâm hồn bình an, luôn tìm thấy niềm vui như Đức Ma-ri-a, sau khi được bà chị Ê-li-sa-bét ken là có phúc, đã dâng lời ca tụng Thiên Chúa: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa. Thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi” (Lc 1,46-47).

Dù thân xác chúng ta có gặp những tai nạn rủi ro và những điều trái ý, nhưng người có đức tin vẫn luôn phó thác vào Thiên Chúa và gặp được niềm vui hạnh phúc trong sự nhẫn nhịn chịu đựng, quảng đại tha thứ chỏ kẻ thù ghết bách hại mình, như Phó tế Tê-pha-nô khi bị thù ghét ném đá sắp chết, vẫn mở miệng cầu xin: “Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này” (Cv 7,60), hoặc như Đức Giê-su khi bị treo trên thập giá sắp chết đã cầu xin với Chúa Cha: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34).

Như thế, hạnh phúc chúng ta nhận được phải bắt nguồn từ Thiên Chúa là nguồn mạch mang lại hạnh phúc đích thực. Nơi nào có Chúa Giê-su hiện diện thì nơi ấy sẽ có sự bình an hạnh phúc như Người đã hứa: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi. Tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28-29).

3) Cho thì có phúc hơn là nhận (Cv 20,35):

Trong một buổi hội thảo về hạnh phúc gồm 50 người tham dự. Diễn giả khởi đầu bằng một hoạt động tập thể. Ông đưa cho mỗi người một quả bóng và yêu cầu họ viết tên của mình lên trái bóng bằng bút lông. Sau đó, số bóng được thu hết lại rồi bỏ sang một phòng khác.

Rồi 50 người này được tập trung tại phòng chứa bóng và được yêu cầu tìm quả bóng ghi tên của mình trong thời gian 5 phút. Mọi người đều lao vào giỏ xô đẩy nhau để tìm kiếm và căn phòng trở nên hỗn loạn, nhưng khi hết 5 phút mà không mấy ai tìm thấy trái bóng tên mình.

Sau đó, vị diễn giả lại yêu cầu mỗi người tự nhặt lên một quả bóng bất kỳ rồi tìm chuyển cho người có tên ghi trên bóng. Chỉ trong vòng 5 phút, ai nấy đều đã có được quả bóng của mình.

Lúc này, vị diễn giả mới dẫn vào đề tài về hạnh phúc: Trong cuộc sống, mỗi người đều hối hả đi tìm hạnh phúc của mình, nhưng thực ra lại không biết chúng nằm ở đâu.

Hạnh phúc của chúng ta nằm trong hạnh phúc của người khác. Hãy tìm cách làm cho người xung quanh có được hạnh phúc của họ, rồi chúng ta cũng sẽ được người khác mang lại hạnh phúc cho ta. Cũng như câu chuyện trên cho thấy: khi náo loạn đi tìm bóng mà không thấy. Họ chỉ cần trao bóng hạnh phúc cho kẻ khác là chính họ cũng sẽ tìm được hạnh phúc của chính mình. Hãy cứ cho đi rồi sẽ được nhận lại:  Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy” (Lc 6,38).

 

4) Phương thế để được hạnh phúc thực sự là sống Tám Mối Phúc:

Hạnh phúc không ở đâu xa, nó luôn ở trong lòng mình và ở bên cạnh mình. Có điều chúng ta quên điều này mà đi tìm ở nơi đâu khác và cuối cùng đã bị mất hạnh phúc.

Để luôn có hạnh phúc nghĩa là có Chúa ở cùng, là luôn có tình yêu của Chúa trong lòng mình. Muốn được như vậy, mỗi người chúng ta phải quyết tâm thực hành Tám Mối Phúc trong cách ứng xử quên mình vị tha, công bình nhân ái, như lời Chúa dạy trong Tin Mừng hôm nay: Sống khiêm hạ nghèo khó, luôn ứng xử hiền lành, chấp nhận con đường qua đau khổ vào vinh quang, luôn khát khao nên người công chính, có lòng chạnh thương những kẻ bất hạnh, có tâm hồn trong sạch, luôn ăn ở thuận hòa, sẵn sàng chịu bách hại vì sống công chính, chấp nhận bị sỉ nhục vì danh Chúa…

Niềm hạnh phúc của một tâm hồn luôn có Chúa ở cùng, cũng chính là niềm hạnh phúc mà chúng ta cần phải cầu chúc cho nhau trong giờ phút đón Giao Thừa và trong Năm Mới này. Dù chúng ta ít nhiều vẫn còn chịu đau khổ và gặp những điều trái ý, nhưng nếu thực sự có Chúa ở cùng, chắc chắn chúng ta vẫn cảm thấy vui mừng và hy vọng, bình an và hạnh phúc như thánh Phao-lô đã chia sẻ kinh nghiệm: “Tâm hồn tôi chứa chan niềm an ủi và tràn ngập nỗi vui mừng trong mọi cơn gian nan khốn khó” (2 Cr 7,4b).

  1. LỜI CẦU:

Lạy Chúa Giê-su. Xin cho chúng con quyết tâm thực thi tinh thần Tám Mối Phúc của Chúa trong bài Tin Mừng hôm nay, thể hiện qua cách suy nghĩ, nói năng và cách ứng xử khiêm tốn, vị tha, luôn nhẫn nhịn chịu đựng, từ bi nhân hậu sẵn sàng tha thứ cho tha nhân noi gương Chúa khi xưa, để tâm hồn chúng con được bình an, vui vẻ từ ngày hôm nay, là dấu chỉ sau này chúng con cũng sẽ được hưởng an bình hạnh phúc trên Thiên Đàng với Chúa.- AMEN.

LM ĐAN VINH-HHTM

THÔNG ĐIỆP CỦA MÙA XUÂN

THÔNG ĐIỆP CỦA MÙA XUÂN

GM Giuse Vũ Văn Thiên

MUA XUAN

Mùa xuân Đinh Dậu đang về.  Vẫn biết rằng, đông qua thì xuân tới, mà lòng người vẫn thấy xốn xang, khi những tín hiệu đầu tiên của mùa xuân xuất hiện.  Thì ra, mùa xuân không chỉ là một khoảnh khắc thời gian tiếp nối xoay vần, mà còn là thời điểm mang nhiều ý nghĩa sâu sắc đối với cuộc sống con người.  Tiết trời, thiên nhiên, lòng người đều như muốn gửi đến với chúng ta những thông điệp có ý nghĩa đối với cuộc sống hằng ngày.

Mùa xuân đến mời gọi chúng ta canh tân đổi mới.  Trong suốt mùa đông, thời tiết u ám, giá lạnh.  Khi mùa xuân đến, vũ trụ thiên nhiên như bừng tỉnh và khoác trên mình một chiếc áo mới, huy hoàng lộng lẫy.  Mặt trời sau những ngày vắng bóng, nay trở lại sưởi ấm lòng người, chiếu soi vũ trụ.  Nếu tiết đông là biểu tượng của sự chết, thì mùa xuân là hình ảnh của sự sống.  Cùng với muôn loại cỏ cây, chúng ta được mời gọi canh tân cuộc đời, sang một ngã rẽ mới.  Đoạn tuyệt với mùa đông, cũng là đoạn tuyệt với lối sống cũ, còn vương nhiều khiếm khuyết, để vươn tới một tương lai tươi sáng huy hoàng hơn.  Bước sang xuân mới, người ta khép lại quá khứ, để sống cho hiện tại và hướng về tương lai với những dự phóng mới.  Lời mời gọi canh tân là một trong những sứ điệp quan trọng của Tin Mừng.  Chúa Giêsu đã khởi đầu sứ vụ bằng lời gọi sám hối vì “Nước Trời đã đến gần” (x. Mc 1,15).  Sám hối canh tân luôn gắn liền với đời sống Kitô hữu, bởi con người sống giữa trần gian luôn bị giằng co giữa nhiều khuynh hướng.  Có những khuynh hướng tốt đưa họ hướng thượng để gặp gỡ Đấng Tối cao, nhưng cũng có những lôi kéo làm cho con người chìm trong biển đam mê sa đọa.  Giữa hai ngả đường, người khôn ngoan chọn cho mình hướng đi đem lại bình an và thăng tiến; người thiển cận lại chỉ chú ý đến những niềm vui hào nhoáng nhất thời.  Mùa xuân gửi đến cho chúng ta thông điệp: hãy đổi mới cuộc đời và hãy khôn ngoan chọn lựa cho mình một hướng đi.  Người tin Chúa nhận ra nơi Đức Giêsu là sự khôn ngoan của Thiên Chúa.  Người là Đường, là Sự thật và là Sự sống.  Ai tin nơi Người sẽ tìm thấy hạnh phúc và niềm vui.  Nếu người tín hữu thành tâm sám hối, là vì họ tin vào lòng thương xót của Thiên Chúa.  Ngài sẵn sàng tha thứ những lỗi lầm, dù nghiêm trọng đến đâu chăng nữa, bởi Ngài là Cha nhân hậu.  Thiên Chúa vui mừng khi một tội nhân từ bỏ tội lỗi.  Cả triều thần thiên quốc cũng chung vui niềm vui ấy (x. Lc 15,7).  Nếu chúng ta luôn sống trong tinh thần canh tân đổi mới, cuộc đời của chúng ta sẽ trở nên thánh thiện vẹn toàn, vì cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời, nhờ đó, tâm hồn chúng ta sẽ thư thái và bình an.

Những mầm non mới nhú của mùa xuân mang đến cho chúng ta thông điệp hy vọng.  Ở các xứ lạnh, cây cối khẳng khiu dường như đã chết hẳn trong tiết lạnh của mùa đông, nhưng khi mùa xuân về, từ những thân cây tiêu điều ấy, lại trỗi dậy những tín hiệu của sự sống.  Cuộc sống không phải lúc nào cũng êm trôi, nhưng luôn có những khó khăn thử thách.  Có những người can đảm trỗi dậy sau những vấp ngã; nhưng cũng có những người bi quan chán nản buông trôi theo dòng sông định mệnh.  “Lửa thử vàng, gian nan thử đức,” mùa xuân gọi mời chúng ta hãy có cái nhìn lạc quan về cuộc sống, để vươn tới tương lai.  Quả vậy, phần lớn những vĩ nhân và những người thành đạt trong cuộc sống, là những người đã thất bại nhưng không chùn bước, đã vấp ngã nhưng không bi quan.  Cùng với nỗ lực phấn đấu của bản thân, người tín hữu còn tin vào ơn phù trợ của Thiên Chúa.  Ngài luôn che chở giữ gìn và chúc lành cho những ai trông cậy Ngài.  Chúa Giêsu đã trấn an các môn đệ đang kinh hoàng lo lắng: “Thày đây, đừng sợ!” (Mc 6,50).  Chúa cũng hứa: Ai xin thì sẽ được, ai tìm thì sẽ thấy và ai gõ cửa thì sẽ mở cho.  Tác giả Helen Keller đã viết: “Hãy quay về hướng mặt trời, và bạn sẽ không thấy bóng tối.”  “Quay về hướng mặt trời” chính là nhìn cuộc đời một cách lạc quan.  Hơn nữa, mặt trời là chính Đức Kitô, Đấng đang soi chiếu và hướng dẫn chúng ta.  Ai tin tưởng phó thác nơi Người sẽ không phải thất vọng.

Mùa xuân còn mang đến cho chúng ta thông điệp yêu thương.  Có dịp chứng kiến bầu khí xuân ở Việt Nam, những người bạn nước ngoài rất ngạc nhiên và thán phục trước nét đẹp văn hóa của ngày tết cổ truyền.  Ngày tết có ý nghĩa thiêng liêng tuyệt vời đối với người dân Việt.  Những người đi làm ăn xa, dù nghèo nàn cũng cố gắng trở về sum họp hội tụ với gia đình.  Sau những tháng ngày làm việc vất vả, về với người thân trong những ngày tết đến xuân về, họ quên hết mọi nhọc nhằn.  Tình yêu thương hài hòa cũng được thể hiện qua thói quen kiêng cữ không làm người khác buồn trong ba ngày tết.  Dịp tết đến xuân về cũng là cơ hội để hàn gắn những rạn nứt mâu thuẫn giữa các thành viên trong một dòng họ, một gia đình, hay lối xóm, để rồi, khi tiễn năm cũ, mọi người cũng “tiễn” luôn những xui xẻo, mâu thuẫn hận thù, để cùng sang một trang mới với mùa xuân.  Gặp nhau trong những ngày xuân mới, mọi người đều trở nên thân thiện, cầu chúc cho những điều tốt lành và mong cho mọi người hạnh phúc.   Tình yêu thương không chỉ dừng lại nơi những người còn sống, nhưng ngày cuối năm và đầu xuân mới cũng là những ngày thể hiện lòng hiếu thảo tri ân đối với những bậc sinh thành và những người đã khuất.  Vì vậy, trước tết, các phần mộ của tổ tiên đều được quét dọn sạch sẽ, được trưng bày hoa nến.  Với tấm lòng thành kính tri ân, người ta tin rằng ông bà cha mẹ và những người thân đã khuất luôn hiện diện với con cháu, và cùng về “ăn tết” với họ.

Nếu tinh thần của những ngày đầu xuân được trân trọng và phát huy trong suốt cả năm, thì cuộc sống của chúng ta sẽ rất tốt đẹp.  Những thông điệp của mùa xuân được gửi đến chúng ta như lời mời gọi hãy làm cho tinh thần của mùa xuân lan tỏa hằng ngày và khắp nơi trong cuộc sống.  Cho dù ngày mai còn nhiều khó khăn thử thách, bạn và tôi, hãy đón mùa xuân mới trong tâm tình phó thác cậy trông vào Đấng Tối Cao, vì biết rằng, không có gì mà Ngài không làm được (Lc 1,37).

Với tâm tình trân trọng quý mến, xin kính chúc quý Độc Giả một mùa xuân an lành, tràn đầy tình Chúa, thấm đượm tình người, ngàn muôn phúc lộc và may mắn bình an.

GM Giuse Vũ Văn Thiên

Xuân Đinh Dậu 2017

Langthangchieutim gởi

Đêm, mùa trăng úa …làm vỡ hồn ta.

Chuyện Phiệm Đọc Trong Tuần thứ 5 mùa Thường niên năm A 05/02/2017

“Đêm, mùa trăng úa …làm vỡ hồn ta.”
Ngập ngừng xa…suối thu dồn lá úa trôi qua.
Sầu thu, sầu lên vút mịt mù, mà e nhớ hương mùa thu.
Trăng Tầm Dương lung linh bóng sáng,

từng thoáng lệ ngân, mà hồn phân vân cuồng điên nhớ.
Long lanh tiếng Nguyệt Cầm, tiếng đàn trầm.
Ai nhớ nương tử một đêm nao trăng thanh trong lời hát…

chết theo nước xanh…Chết theo nước xanh…
Ôi, đàn trăng cũ làm vỡ hồn anh…”

(Cung Tiến – Nguyệt Cầm)

(Mt 10: 8-10)

Trần Ngọc Mười Hai

“Ôi, đàn trăng cũ làm vỡ hồn anh!” Chao ôi là lời hát, rất âm-nhạc! “Long lanh tiếng Nguyệt cầm, tiếng đàn trầm”, “chết theo nước xanh”, Ối chà là thi ca, rất ấn-tượng!

Vâng. Quả có thế. Thi-ca và âm nhạc, bao giờ cũng gây ấn-tượng cả nơi người hát lẫn người nghe. Chẳng thế mà, người người lại cứ mời bạn/mời tôi ta cứ nghe câu hát để đời, tiếp theo đây:

“Long lanh long lanh … trăng chiếu một mình,
chơi vơi chơi vơi … nhạc lắng tơ ngơi
Nguyệt cầm ơi! từng lệ ngân, chết từng mùa Xuân…
Đêm, ngời men nhớ…Nhạc tê ngời thuở xưa.
Trăng sầu riêng chiếc…

Trăng sầu riêng chiếc, sầu cho tới bao giờ?
Hồn ghê bốn bề sao ngợp hồn xanh biếc trời cao.
Kià thuyền trăng, trăng nhớ Tầm Dương, nhớ nhạc vàng,

đêm ấy thuyền neo bến ấy.
Nguyệt Cầm nghe nấc từng câu…
Có hàng mây trắng về đâu?
Mắt chìm sâu, đêm lắng đời sâu.
Nguyệt Cầm khơi mãi tình sầu .
Khơi mãi nguồn đêm …Mùa trăng úa làm vỡ hồn ta…

Ngập ngừng xa suối thu dồn lá úa trôi qua .
Sầu Thu sầu lên vút mịt mù, mà e nhớ hương mùa Thu .
Trăng Tầm Dương, lung linh bóng sáng từng thoáng lệ ngân,

mà hồn phân vân cuồng điên nhớ.
Long lanh tiếng Nguyệt cầm, tiếng đàn trầm.
Ai nhớ! Nương Tử một đêm nao trăng thanh trong lời hát,

chết theo nước xanh.. chết theo nước xanh.
Ôi, đàn trăng cũ làm vỡ hồn anh.”

(Cung Tiến – bđd)

Vâng. Hôm nay đây, lại cũng thấy “tiếng đàn trầm” của những “Nguyệt cầm” cũng khá buồn ở đời và trong Đạo, được đấng bậc thuộc Giáo hội Chính thống Nga, phát biểu như sau:

“Hôm rồi, Thượng Phụ Chính Thống Nga đã có buổi phỏng vấn với ký-giả của “Russia Today” bàn về một số vần-đề thời-thượng, trong đó có chuyện hôn-nhân đồng-tính và chuyện nghiêm-túc chính-trị. Đến từ đất nước, trong đó chính quyền nhiều lần tìm cách xoá bỏ Đạo Chúa suốt 70 năm liền, Thượng Phụ Kirill nay lại đưa ra một tầm-nhìn lịch-sử khá dài ngõ hầu đối-đầu với giới thù-địch ở nước này. Và dưới đây, là vài trích-đoạn rút từ cuộc phỏng-vấn hiếm có này:

 Nếu hỏi tại sao các chính-trị-gia Phương Tây lại cứ hay bài-bác chuyện chính-trị nghiêm-túc? Thì: câu trả lời, đại loại sẽ bảo rằng: chừng như cụm từ “chính-trị nghiêm-túc” có nghĩa là hạn-chế tự-do của người đi Đạo, không cho họ tiếp tục thực-thi niềm tin sắt đá nơi họ, mà thôi. Người xưa cứ bảo với ta rằng: Âu Châu chịu ảnh-hưởng cả từ Hy-Lạp cổ và La Mã xưa nữa. Điều đó, có thật. Nhưng nếu tính theo cân-lượng, thì ảnh-hưởng này không thể so với tầm quan-yếu của các giá-trị đạo-đức ở Đạo Chúa và các luật-lệ từ đó kéo dài hằng nhiều thế-kỷ.

 Thành thử, giả như Âu-Châu nay bị cắt đứt mọi mối liên-kết với nguồn gốc của nó, thì tự nó sẽ nảy sinh vấn-đề là nó có bị lôi kéo vào vào một thứ chính-trị nghiêm-túc hoặc thứ gì khác không? Đó mới là vấn-đề mà chúng là những con người lâu nay từng trải qua biết bao cuộc bách-hại ở Liên-xô, vẫn thắc mắc. Trở về với quá-khứ khi mọi sự được giải-quyết nhân-danh nhân-quyền và tự-do, mọi sự để lo cho một tương lai tươi sáng hơn.

 Thế nhưng, chỉ những người tin-tưởng nào ở vào tình-huống bị áp-lực mãi cho đến thời Đổi mới là cảm-thông được. Còn thì, giới tư-bản, trưởng-giả và chủ-đất mà các lãnh-đạo người Sô-viết mới ngưng không còn chiến-đấu chống lại tất cả những người như họ và ngay đến nền kinh-tế Sô-viết cũng chỉ giống phân nửa nền kinh-tế thị-trường mà thôi; đó là chưa kể về Chính-sách Kinh-tế Mới vào thập niên 1920; nhưng, họ đã chiến-đấu chống lại Đạo Chúa mãi đến cùng. Chẳng ai hiểu tại sao họ lại làm thế.

 Thành thử, chúng ta đã tỏ ra lo-lắng cả vào khi, dưới danh-nghĩa của một “chính-trị nghiêm-túc” và mọi quyền lợi cũng như tự-do trên hoàn-vũ, chúng ta thoáng thấy có dấu-hiệu về sự kỳ-thị chống lại những người muốn sống cởi mở đối với các xác-tín về Đạo của họ…

 Theo tôi, mẫu mã của chủ thuyết đa-sắc-tộc hoạt-động tốt hơn triết-thuyết đa-văn-hoá của phương Tây. Do bởi nước Nga là một quốc-gia đa-chủng, nhưng ý-tưởng về một chủ-thuyết đa-văn-hoá lại chẳng bao giờ được đề-bạt ở đây hết, cả vào lúc đất nước của chúng tôi chìm ngập với chủ-nghĩa Sô-viết cũng thế. Khi ấy, có người lại đã nghĩ về chuyện tuyên-bố rằng chúng tôi từng có lai-lịch một đất nước tân-kỳ nếu giữ nguyên là những người thuộc giới Sô-viết. 

Nhưng, ai cũng đều hiểu là: người Turks vẫn muốn giữ nguyên tình-trạng của người mình, là Turk, người Tajik cũng thế vẫn chỉ muốn ở thế nguyên-trạng là Tajik, người Ubeks cũng vậy và người Nga cũng không ra khỏi hiện-trạng của Nga và người Do-thái-giáo cũng thế nốt…

 Được như thế, không có nghĩa bảo rằng: chúng tôi muốn trộn lẫn sắc-tộc thành một thứ cocktail, mà mỗi người cùng mọi người vẫn phải được ở nguyên-si là mình. Nhưng, tất cả mọi người chúng tôi đều chung sống trong cùng một đất nước, nên chúng tôi phải tuân-giữ luật-lệ cũng như tỏ ra tử-tế với nhau.

 Và chính sách nghiêng về chuyện này phải được nhắm đến, tức là: không được xoá bỏ đường ranh vạch giữa các nền văn-hoá cũng như đạo-giáo khác nhau và làm nên một khối “xa-bần/hổ lốn” rút từ đó. Trái lại, chúng ta phải đoan chắc hỗ-trợ cho nhau, để mọi người có được quyền-hạn và tự-do ban-bố cho tất cả, mỗi người một cách để rồi mỗi nhân-vị có bất cứ niềm tin nào dù khác nhau vẫn có thể cảm thấy thoải mái như ở nhà mình khi sống trong đất nước của mình, chứ không như người sống cạnh người lạ…

 Nếu hỏi rằng: tương-lai của Đạo Chúa tại Âu-Châu mai ngày sẽ ra sao? Thì, câu trả lời của tôi là: Ngày nay, người đi Đạo chỉ là thiểu-số. Các giá-trị đạo-đức lâu nay ta truyền-bá đang biến dần hoặc bị lãng quên. Tại sao thế? Lý do, là vì ta cứ khuyến-khích mọi người hướng thượng, leo lên đồi cao, trong khi văn-hoá của người thường lại cứ yêu-cầu mọi người đi về hướng ngược lại, tức là: tụt xuống dưới.

 Giả như có người nào đó cứ để bản-năng của mình hướng-dẫn, và giả như văn-minh/văn-hoá nhân-loại được dựng-xây trên nền-tảng như thế đó, thì đa số mọi người sẽ theo đường lối này, lý do là vì làm thế dễ hơn, nó không đòi nhiều cố-gắng hoặc phải làm cho thật nhiều. Người nào cũng chỉ muốn có đời sống dễ chịu, thôi.

 Thế nhưng, Kinh thánh lại cứ bảo rằng” con đường chật hẹp sẽ dẫn ta đi vào sự sống”. Và, con đường chật hẹp dẫn đến ơn cứu-độ đòi phải có sự can-đảm. Nhưng, giả như con đường này biến-dạng, thì toàn-thể nhân-loại sẽ rơi tọt xuống hố. Đức Giêsu đã không thuyết-phục mọi người bằng lời rao giảng. Thật ra, cuộc sống của Ngài dưới trần-thế lại đã chấm-dứt trên Thập-giá là nơi con người đóng chặt Ngài ở trên đó. Đành rằng Ngài đã trỗi-dậy khỏi cõi chết… Thế nhưng, cũng có một số người coi là Ngài đã thất-bại.

 Giả như chúng ta không tin vào sự sống lại của Đức Kitô, thì khi đó sự sống vào cuối đời của Ngài sẽ không gây ấn-tượng gì cho lắm, cũng chỉ như thể Ngài bị xử trảm, thế thôi. Các tông-đồ cũng như thế, ngoại trừ thánh Gioan. Còn thì tất cả đều bị xử trảm. Thành thử, điều căn bản xem ra tất cả đều là người thua thiệt, thua và để mất mọi sự.

 Nhưng, thông-điệp của Đức Kitô và các tông-đồ theo Ngài đã tồn-tại suốt 2000 năm, vẫn còn đó kích-động nhiều người. Nó tạo-hứng cho các nghệ-nhân và văn-sĩ là những người sáng-tạo nhiều công-trình tuyệt-tác dù bên ngoài vẫn tạo áp-lực nghịch-ngạo. Thế nhưng, điều còn quan-trọng hơn là bảo rằng: Đức Kitô đã và đang đi vào tâm-can của rất nhiều người, dù có muốn hay không, cũng vậy…” (Xem Patriarch Kirill, Russian Orthodox Patriarch on Gay Marriage, secularisation, the future of Christianity, MercatorNet 29/11/2016)

 Đọc bài phỏng-vấn đấng bậc vị vọng ở trên, bần đạo bầy tôi đây lại nhớ đến những câu truyện kể cùng nhận-định về lập-trường sống cho nhân-sinh-quan rất dễ thấy như sau:

“Trên thế gian này, có một quy luật đã được định ra rất rạch ròi là: có gieo sẽ có gặt. 

Dưới đây là 11 điều để bạn bắt đầu:

 Cho đi một nụ cười

Nở một nụ cười và trao nó đến cho mỗi người bạn gặp, và bạn sẽ nhận được những nụ cười đáp lại.

 Cho đi những suy nghĩ tích cực

Hãy đưa ra những suy nghĩ tích cực về những người khác chung quanh bạn, và ngay cả về những thứ mà bạn đang làm, bạn sẽ có một cuộc sống tốt và những ý nghĩ tốt đẹp cũng sẽ được dành cho bạn.

 Cho đi lời tử tế

Hãy nói những điều tử tế với mọi người và lời thân ái của bạn sẽ được đáp trả bằng những lời thân ái. Nhân chi sơ, tánh bản thiện mà.

 Cho đi một thái độ lạc quan

Luôn tỏ ra lạc quan với cuộc sống, và sự vui vẻ của bạn sẽ được hoan nghênh.

 Cho đi sự cảm kích

Hãy biết ơn, cảm kích, cuộc sống của bạn sẽ có thêm những giá trị, và đến lượt bạn cũng sẽ được tưởng thưởng xứng đáng.

 Cho đi sự khích lệ

Hãy khích lệ, bạn cũng tràn ngập dũng khí tươi mới để đối mặt (với thử thách) từng ngày, và hãy chuẩn bị để thu hút những người động viên cổ vũ bạn.

 Cho đi sự kính trọng

Hãy luôn kính trọng những người, những điều xứng đáng, cho đây là điều đáng để bạn phải làm và bạn sẽ nhận được những tràng pháo tay tán thưởng.

 Cho đi niềm hạnh phúc

Chia sẻ niềm hạnh phúc, đồng thời bạn cũng sẽ cảm thấy sung sướng, và nó cũng sẽ mang lại cho bạn niềm hạnh phúc.

 Cho đi thời gian của bạn

Hãy dành thời gian của bạn cho những mục tiêu lớn lao hơn mục tiêu cá nhân, và bạn sẽ nhận được những phần thưởng mà bạn không ngờ tới.

 Cho đi niềm hy vọng

Hãy luôn hy vọng và hãy xem nỗi tuyệt vọng sẽ biến mất, đức tin và niềm vui sẽ dâng lên bội phần.

 Cho đi lời cầu nguyện

Hãy cầu nguyện cho bạn bè của mình, và cho cả những người mình xem là kẻ thù. 

Bởi trên đời này, trong cuộc sống này đã có quá nhiều hận thù, hiềm khích rồi. 

Những lời nguyện cầu sẽ vượt quãng đường dài để mang điều kỳ diệu đến những nơi u tối, xóa bỏ lòng thù hận.

“Cho đi lời cầu nguyện” nghe sao thấy quen quen như các dặn dò ở Kinh Sách. Dặn dò, là vừa dặn và vừa dò để rồi hãy cứ cho đi mà chẳng cần gì đến sự thận-trọng hoặc suy-tính rất lâu ngày. Bởi, đấng thánh nhân-hiền của Đạo mình, vẫn luôn dặn-dò và khuyên nhủ như sau:

“Hãy đến với chiên lạc nhà Israel,

dọc đường hãy rao giảng: Nước Trời đã gần kề.

Anh em hãy chữa lành người đau yếu,

làm cho kẻ chết sống lại,

cho người phong hủi được sạch,

và khử trừ ma quỷ.

Anh em đã không công mà được,

thì cũng hãy cho không như vậy.

Đừng chuốc lấy vàng lấy bạc hay tiền đồng hòng vặn thắt lưng.

Không bao bị đi đàng,

cũng đừng có hai áo, giày dép, gậy gộc.

Vì làm thợ thì đáng được của nuôi thân.”

(Mt 10: 8-10)

Vâng. Đúng thế. Thợ gặt đến với chiên nhà Israel mà còn thế, huống chi là người nghèo chỉ cần những gì là tối thiểu cho cuộc sống. Một cuộc sống chỉ biết cho đi chứ không biết chuốc vào người dù nhiều thứ.

Thời hôm nay, cho đi không chỉ có nghĩa là: bố thí, vứt bỏ những gì mình có dư hoặc thừa mứa, không dùng đến. Cho đi, còn là và vẫn là tặng ban cả những gì mình đang cần hoặc túng bấn không biết được tương-lai mai ngày, sẽ ra sao.

Cho đi, hôm nay, là cho mà không nghĩ chuyện đòi lại vào một ngày rất gần, dù từ người nhận hoặc ai khác. Cho đi, hôm nay và mai rày, lại là quyết-tâm kéo dài suốt cuộc sống, dù thiếu thốn. Cho đi, còn là và sẽ là động-thái gắn liền với sinh-hoạt hằng ngày ở mọi nơi, vào mọi lúc cả những lúc và những thời không có gì để cho, chỉ muốn nhận mà thôi.

Cho đi, lại vẫn là ý-nghĩa của cuộc đời không bon chen/giành giựt, cũng rất bận. Và cho đi, chính là mục-tiêu mọi người đều nhắm đến khi quyết-tâm thực-hiện một đổi thay cho tương-lai con người ở trần-thế. Cho đi, còn đồng-nghĩa với sống hùng, sống mạnh, sống viên-mãn với người nhận mà mình không biết đang ở đâu.

Nói cách khác, cho đi là cứu-cánh của cuộc sống nơi con người ở mọi thời. Thế-trần này, phải bao gồm toàn những người cho đi chứ không chỉ mỗi nhận vào. Đó, chính là niềm tin của người đi Đạo. Bởi, niềm-tin đồng-nghĩa với thương-yêu, giùm giúp, tức “cho đi.” Tin, là cho đi và cho hết cả con người mình, tinh-thần lẫn vật-chất, chứ không chỉ mỗi của ăn nuôi dưỡng xác thể của mình.

Để minh-hoạ cho động-thái quyết cho đi vào mọi lúc, không gì hay/đẹp và khích-lệ cho bằng truyện kể ở đời có những lúc người đời cứ quên lãng mục-tiêu của đời người. Thế nên, nay mời bạn và mời tôi, ta nghe thêm câu truyện kể về động-thái “cho” làm đoạn kết cho chuyện phiếm khô-khan, nghèo-nàn ít hứng thú, như sau:

“Có ai đó nói rằng, khi quay ngược trái tim mình lên, trái tim sẽ có hình ngọn lửa. Có phải đó là ngọn lửa của yêu thương, của tình người ấm áp ? Ngọn lửa ấm áp cho tình yêu đến phút cuối của cuộc đời. Tôi cũng từng nghe người ta nói rằng, tuổi trẻ thường mang trái tim màu đỏ với tình yêu đầy nhiệt huyết, có thể cống hiến hết  tất cả những gì mình có cho tình yêu và lý tưởng. Nhưng phải chăng chính vì trái tim nhiệt huyết ấy mải mê chạy theo nhng đam mê hoài bão, mà vô tình quên mất đi ngọn lửa yêu thương?

 Có lần về Việt nam, tôi đã từng chứng kiến cảnh một bà già mù lòa đi ăn xin, trong cơn mưa lạnh căm căm, không một manh áo ấm. Nhưng đi đến đâu người ta cũng xua đuổi. Người bán hàng sợ “xui”, sợ hôi, sợ dơ, sợ cả một ngày bị bà già “ám” mà không bán được hàng. Người qua  đường thì muốn đi thật nhanh, tránh đụng phải bà già mà sẽ bị bẩn những bộ quần áo đắt tiền. Có người còn ra vẻ am hiểu sự đời “Thời nay người giả ăn mày không hiếm. Đừng hòng giả dạng mà qua mặt được ta”…

 Một đám đông xúm lại trên đường quây quanh một cô gái trẻ đang bị hai thanh niên côn đồ đánh đập dã man. Cuối cùng cô bị ngã nằm sống soài trên đường, máu bê bết, quần áo bị xé nát tả tơi, ánh mắt cầu cứu van xin. Nhưng không ai thèm để ý. Họ tụ  năm tụm bảy tại đây không gì hơn ngoài sự hiếu kỳ. Mọi người đang thưởng thức một bộ “phim  kiếm hiệp”. Người ta không muốn dây dưa, chẳng muốn dính vào. Cả mấy chục thanh niên trai tráng bu quanh vẫn sợ hai thằng lưu manh kia mới lạ. Không ai phí công gọi điện cho cảnh sát. Chẳng kẻ nào muốn xắn tay đưa cô gái đến bệnh viện vì nghĩ sẽ gặp rắc rối nếu nạn nhân chết trên đường. Có người độc miệng còn nói “ Chắc cũng là trai gái làng chơi thanh toán với nhau thôi”.

 Tôi cũng đã từng trông thấy cảnh một em bé gái mặt nhễ nhãi mồ hôi, giữa trưa nắng hè ở trước cổng trường đại học, cầu xin sự ban ơn của các anh chị sinh viên, để có thêm chút tiền đóng viện phí cho nhà thương, nơi ba em đang nằm điều trị. Em ngây thơ nên cứ tin rằng các anh chị sinh viên, với trái tim thanh niên đầy tình yêu và nhiệt huyết, sẽ có thể làm giảm bớt nỗi đau đang cào cấu ba em – nằm chờ chết trong bệnh viện. Nhưng mọi người đứng đó nghe em trình bày rồi lại lắc đầu bỏ đi. “Bọn lừa đảo bây giờ đâu có thiếu! Ai mà ngu đi tin những câu chuyện “bịa đặt” như vậy kia chứ ?”.

 Một anh chàng giám đốc trẻ gọi điện thoại về cho mẹ nói rằng, anh đang bận công việc tại sở làm khi được biết tin mẹ bệnh. Có lẽ cũng còn sót lại “chút tình người”, nên anh gửi cho mẹ một số tiền để lo thang thuốc.

 Nhưng sự thật phũ phàng, là anh ta đang bận dự lễ sinh nhật của người yêu. Bữa tiệc linh đình mà anh chiêu đãi hằng trăm bè bạn ở một nhà hàng sang trọng, để người yêu anh nở mày nở mặt. Chỉ tiền rượu thôi cũng đã tính bằng trăm triệu. Giây phút đó, nào anh có nhớ chính nhờ mẹ đã ban cho anh sự sống, và cũng chính nhờ có cái lưng còng của mẹ, nên ngày nay anh mới có thể  đứng thẳng nghênh mặt nhìn đời?

 Có thể cuộc sống ngày nay với những gian dối dẫy đầy, đã khiến bạn mất niềm tin vào con người, và từ đó dễ dàng khiến chúng ta lo sợ rằng tình thương của mình sẽ cho nhầm chỗ? Nhưng đâu phải trên thế giới này, tất cả đều là những toan tính, dối lừa …

 Bà cụ mù đi ăn xin trong trời rét căm căm, cô gái lỡ lầm bị đánh đập không thương tiếc, bé gái trước cổng trường đại học cầu xin ai đó giúp ba em: Họ đã lầm khi họ van xin không đúng chỗ, để rồi họ chỉ nhận được những cái xua tay, những cái lắc đầu quây quẩy.  Họ quá ngây thơ nên cứ hy vọng mà cầu xin một “món hàng” mà từ lâu đã trở thành “quý hiếm”: Tình thương … 

 Có ai đó nói gia đình là tất cả, nhưng bạn đã làm được gì cho gia đình ấy ? Một câu nói ân cần nhắc mẹ uống thuốc, một  chén cháo nóng lúc ba đau, đó là tình yêu không lời bạn dành cho họ. Chúng ta đã NHẬN, quá nhiều –  từ gia đình, bạn bè, từ cuộc sống, và từ cả những người không quen biết, thì cũng đến lúc mình cần phải biết CHO đi, biết ban tặng. Bạn phải biết sẵn sàng chia sẻ, sẵn sàng ban phát tình thương, như đã có rất nhiều lúc trong cuộc đời, mà bạn đã rất cần sự chia sẻ và tình thương vậy …

 Khi xưa, thời trai tráng, tôi cũng đã từng như các bạn trẻ ngày nay, đã từng chạy theo tình yêu mà quên đi ba mẹ. Tôi cũng đã từng quay mặt làm ngơ trước bao cảnh thương tâm, chỉ vì sợ bị gạt gẫm, bị chê cười. Giờ đây khi mái tóc đã lắc rắc muối tiêu, tôi mới thật sự hiểu hết ý nghĩa của hai chữ “CHO và NHẬN “. Dẫu muộn màng, nhưng vẫn còn hơn không …

 Tuy biết rằng ngọn lửa nào rồi cũng có lúc tàn. Nhưng hãy để cho ngọn lửa trong trái tim chúng ta mãi sưởi ấm – đến khi còn có thể. Đừng thắc mắc, đừng đặt quá nhiều câu hỏi. Đừng sợ người, sợ ta, sợ thị phi, đàm tiếu. Hãy sống với trái tim mang dòng máu đỏ đầy yêu thương và nhiệt huyết. Nguyên tắc cuộc sống vốn vô cùng đơn giản: có CHO thì có NHẬN.

 Tôi vẫn nhớ mãi câu chuyện nhỏ ngày xưa khi còn bé. Có một buổi sáng nọ, bà ngoại tôi dắt một người ăn xin vào nhà, và đem cả một phần cơm điểm tâm ra cho người nghèo đói ấy. “Cô bé  tôi” khi ấy, mặc dù đã được ăn no căng đầy bụng, vẫn ganh tỵ mà hỏi ngoại  “Tại sao mình phải cho bà cụ đó nhiều quá vậy? Ngoại chỉ cho một miếng bánh mì là bả đã mừng lắm rồi “. Ngoại tôi cười móm mém “Con à, cuộc đời này có vay thì có trả, có cho thì có nhận. Mai này lớn lên con sẽ thấy lời ngoại dạy là đúng .. “

 Và vì thế mà đến giờ tôi vẫn luôn tâm đắc với câu “châm ngôn cuộc đời” của Ngoại: “ Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình ”… (Hoàng Thanh kể).

 Kể thế rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta quay về với nhạc-bản ở trên hát lên đôi câu ca khiến ta hăng hái tiến bước về phía trước để rồi sẽ quyết tâm làm việc gì đó mang ý-nghĩa của một nhân-sinh-quan tích-cực, không bao giờ chán nản. Bởi có cho hoài và cho mãi mới thấy cuộc đời này, đầy ý-nghĩa.

Vậy nên, ta cứ hát lên những lời ở trên, rằng:

“Đêm mùa trăng úa làm vỡ hồn ta…”
Ngập ngừng xa…suối thu dồn lá úa trôi qua.
Sầu thu, sầu lên vút mịt mù, mà e nhớ hương mùa thu.

Trăng Tầm Dương lung linh bóng sáng,

từng thoáng lệ ngân, mà hồn phân vân cuồng điên nhớ.
Long lanh tiếng Nguyệt Cầm, tiếng đàn trầm.
Ai nhớ nương tử một đêm nao trăng thanh trong lời hát…

chết theo nước xanh…Chết theo nước xanh…
Ôi đàn trăng cũ làm vỡ hồn anh…”

(Cung Tiến – bđd)

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn phiếm lai rai

nhân-sinh-quan/lập trường

cần nhắc mãi

với mình và với người

để khỏi quên.