NHỮNG DẠNG VI TẾCỦA VIỆC TÔN THỜ NGẪU TƯỢNG

NHỮNG DẠNG VI TẾCỦA VIỆC TÔN THỜ NGẪU TƯỢNG

 Đôi khi trong những giây phút trầm tư hơn, tôi buộc phải tự hỏi: Có phải tôi thật sự mong muốn Chúa không, hay chỉ quan tâm đến những chuyện thuộc về Chúa?Có phải tôi muốn giảng dạy, diễn thuyết và viết về Chúa nhiều hơn là tiếp xúc đích thực với Chúa – chỉ Chúa và tôi, trong cầu nguyện và thinh lặng? Có phải tôi thích làm những chuyện về Chúa và tôn giáo hơn là ẩn mình và thinh lặng trong sự hiện diện của Chúa?

Những câu trả lời cho các câu hỏi này cần phải dễ dàng và rõ ràng. Nhìn bề mặt, rõ ràng có vẻ tôi mong muốn Chúa: Tôi cố gắng cầu nguyện huyện này, không nhất thiết Chúa phải là trọng tâm chú ý thật sự của những hoạt động này. Trọn trọng tâm chú ý có thể dễ dàng ở chỗ khác.

Có thể tất cả chúng ta đều nên tự hỏi câu này: Trong những hoạt động rõ ràng là tôn giáo của chúng ta, có phải chúng ta thật sự muốn có mối quan hệ với Thiên Chúa và với Giê-su không, hay, nếu trung thực nhìn nhận, có phải chúng ta quan tâm làm sao để có nghi thức phụng vụ tốt, thần học tốt, linh hướng hay, trải nghiệm tôn giáo hay, kiếm tìm cầu nguyện giỏi, hoạt động mục vụ, các dự án thành công ở nhà thờ, bảo vệ luân lý tốt, có hướng giải quyết tốt cho các vấn đề công chính, làm dễ dàng việc giữ đạo, hay không? Không phải những điều đó không tốt, những điều đó thật sự tốt, nhưng nghịch lý thay, chúng có thể chính là cách để chúng ta tránh khỏi phải đối diện với tiếng gọi sâu thẳm, đòi hỏi chúng ta có mối quan hệ mật thiết với Chúa. 

C.S. Lewis thích mô tả cuộc vật lộn của chúng ta trong vấn đề này và ông gọi nó bằng chính bản chất thường gặp của nó:tôn thờ ngẫu tượng, hiến dâng cả bản thân mình cho một điều gì đó chỉ là như Chúa, trái với việc hiến dâng bản thân mình cho chính Chúa. Ông mô tả như sau:

Trong quyển sách Cuộc ly dị vĩ đại (The great divorce), Lewis tưởng tượng mười cảnh trong đó người chết được một “thiên thần” gặp ở thế giới bên kia, thiên thần này cố gắng dỗ dành người mới qua đời đồng ý để thiên thần nắm tay dẫn vào thiên đường. Để vào được thiên đường, trong mọi trường hợp, chỉ có một điều kiện duy nhất và đơn giản: Bạn chỉ việc tin tưởng vị thiên thần và để bản thân mình được đưa đi!

Một trong những cảnh này, Lewis hình dung cuộc đối thoại giữa một trong các vị thiên thần này với một họa sĩ danh tiếng vừa mới qua đời.  Vị thiên thần cố gắng thuyết phục ông vào thiên đường, bằng cách tả các cảnh đẹp tuyệt vời của thiên đường.  Ban đầu ông họa sĩ phấn khích và háo hức lắm, nghĩ tới mình sẽ vẽ được các kiệt tác,nhưng ông đâm ra kháng cự và nổi giận khi biết một khi lên thiên đường, chẳng còn ai cần đến ông để vẽ vời và ông cũng chẳng có nhu cầu vẽ vời gì nữa. Thay vào đó, ông chỉ việc đơn giản ở trong lòng thiên đường và tận hưởng thiên đường. Vì thế ông từ chối không vào thiên đường, thà chọn ở lại nơi ông có thể vẽ thiên đường hơn là ở trong thiên đường. Ông phản đối vị thiên thần, lý lẽ là, với tư cách nghệ sĩ, hội họa tự nó là cứu cánh, “vẽ là để vẽ.”

Vị thiên thần đáp: Mực, dây cat-gút và màu ở dưới thế là cần thiết, nhưng chúng cũng chính là chất kích thích nguy hiểm. Trừ phi có ân huệ của Thiên Chúa, mỗi nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ đều bị kéo ra xa khỏi tình yêu của những điều mà quý vị đó sáng tác, mà chỉ yêu thích cái việc kể, cho đến khi, chìm sâu trong Địa Ngục sâu thẳm, họ không thể quan tâm mong muốn Chúa mà chỉ để ý đến những gì họ nói về Người.  Và…, như ông biết đó, họ không dừng lại ở việc quan tâm đến màu vẽ.  Họ chìm sâu hơn – trở nên quan tâm tới cá tính của mình, và rồi chẳng quan tâm tới cái gì khác ngoài tiếng tăm của mình.

Điều mà vị thiên thần này nói về các nghệ sĩ thì cũng cần nên nói với các nhà thần học, tác giả linh đạo, linh mục, giám mục, mục sư, trợ tế, thầy sáu, nhân viên mục vụ, người cổ xúy công bằng xã hội, tất cả mọi dạng người chống đối về luân lý, những vị chủ trì các khóa tu, những vị hướng dẫn linh thao, những nhà lãnh đạo nhóm cầu nguyện, và kể cả những ai đang tích cực và sẵn lòng kiếm tìm chiều sâu trải nghiệm trong cầu nguyện. Mối nguy hiểm luôn luôn là, giống như ông họa sĩ kia thích và cần vẽ cái đẹp hơn là đơn thuần thể nhập với cái đẹp, chúng ta cũng sẽ biến hoạt động tôn giáo mà chúng ta đang làm trở thành cứu cánh trong chính nó hơn là giữ mối quan tâm thật sự và trọng tâm chú ý của chúng ta vào Chúa.

Và điều trớ trêu là các hoạt động tôn giáo, giống như nghệ thuật, có thể là một trong những mối nguy hiểm còn lớn hơn thuộc loại tôn thờ ngẫu tượng này.Chính những vị đi giảng tài năng, nhà thần học vĩ đại, vị tư tế xuất sắc, vị mục sư được công chúng cực kỳ yêu mến, vị giám mục hoặc người quản lý có năng lực tuyệt vời mới là những người sẽ phải gắng gỏi khó khăn nhất để tránh mối nguy hiểm này. Như Lewis nói: Anh biến thành quỷ dữ không phải từ chuột bọ hay chí rận dơ bẩn, mà từ những vị tổng lãnh thiên thần xấu xa.Ngụy tôn giáo của thèm khát thì đê tiện hơn là ngụy tôn giáo đối với tình mẫu tử, lòng ái quốc hay yêu nghệ thuật; nhưng thèm khát thì khó trở thành một tôn giáo.

 Mỗi khi chúng ta cầu nguyện, làm mục vụ, hay làm bất cứ điều gì mang tính cách tôn giáo, chúng ta nên tự hỏi: Việc này thật sự là về ai và về điều gì?

From Đỗ Tân Hưng & Nguyễn Kim Bằng

CHẾT

CHẾT

Quyên Di

Cổ nhân ta nói: “Sinh kí tử quy”, sống là tạm gửi, chết mới là về. Ðó là một nhân sinh quan, và cái nhân sinh quan ấy chi phối đời sống người ta, đến độ có nhiều người nói rằng “sống là chuẩn bị cho cái chết.”

Từ quan niệm ấy, người Việt Nam hình như không sợ hãi khi đối diện với cái chết. Những cụ già xây sẵn phần mộ, mua sắm sẵn cỗ áo quan, ra vào vuốt ve ngắm nghía nó như ngắm một vật thân quí, đôi khi vào nằm thử một cách bình tĩnh. Các cụ còn định sẵn cả chương trình cho đám tang của mình, phải tổ chức ra sao, nghi thức thế nào. Thật đúng là sự chuẩn bị cho một cuộc trở về.
Ðó mới chỉ là những cái bên ngoài biểu lộ quan niệm “sinh kí tử quy”. Một cách sâu xa hơn, người ta chuẩn bị cho chuyến trở về bằng cả một cuộc sống của mình. Ðể cho cuộc trở về tốt đẹp, người ta sống tốt đẹp, cư xử tử tế với mọi người, tạo phúc đức để lại cho con cháu, trả sạch nợ nần để không phải vướng mắc với ai, không tạo ra những ác nghiệp v.v… Thực hiện được những điều đó, người ta thanh thản trở về thế giới bên kia.

“Sinh kí tử quy.” Sống là tạm gửi, chết mới là về. Nhưng về đâu? Ðó là vấn đề. Có phải là về với lòng đất? Có phải là về với hư không? Có phải là về với tổ tiên? Hay là về chốn bồng lai tiên cảnh?… Ðiều đó tùy thuộc quan niệm và niềm tin của từng người. Người Công giáo chúng ta tin rằng con người có linh hồn bất tử, và khi chết, linh hồn của mình sẽ về cùng Thiên Chúa, đấng tạo dựng nên mình. Thiên Chúa là nguồn cội. Từ Thiên Chúa, có muôn loài muôn vật, có chính mình. Bởi thế, chết là một cuộc “lá rụng về cội” lớn lao nhất, quan trọng nhất.

“Lá rụng về cội”. Ðó có thể coi như một nguyên tắc, một lẽ đương nhiên? Thật ra không hẳn thế. Quan sát sự kiện thực tế ngoài đời, ta sẽ biết ngay: có chiếc lá khi rụng, chao đi vài vòng, rồi nhẹ nhàng đặt mình dưới gốc cây. Nhưng cũng có những chiếc lá vừa lìa khỏi cành đã bị trận bão loạn gió cuồng cuốn bay đi xa lắc. Lá rụng, nhưng lá không về cội.

Ðời người ta cũng như những chiếc lá. Như lá được sinh ra và nuôi dưỡng từ chất nhựa từ cội là gốc rễ đưa lên thế nào, con người cũng được sinh ra, lớn lên, sinh hoạt trong dòng đời, từ chính cội nguồn của sự sống là Thiên Chúa như thế. Cái chết của con người cũng giống như chiếc lá lìa cành. Về với Thiên Chúa cũng như “lá rụng về cội”. Nhưng lá rụng chưa chắc đã về cội thì con người khi chết cũng chưa hẳn sẽ được về cùng Thiên Chúa. Về được với Chúa hay không, cái đó tùy ở cách sống của mình, tùy ở chính mình.

Có người ví cuộc hành trình về với Chúa, hay nói khác đi là về Thiên Ðàng, là một chuyến đường. Người đi phải tập làm quen với con đường, hay nói khác đi là phải đi lại nhiều lần trước khi ra đi để về thật. Nếu không quen đường thuộc lối, rất có thể người ta sẽ đi lạc, và như thế chẳng về được nhà.

Con đường về với Chúa là con đường gì? Ðó là đường Tình Yêu, bởi vì Thiên Chúa chính là Tình Yêu. Và Thiên Ðàng là nơi gồm toàn những người biết yêu Chúa và yêu nhau. Như thế, làm quen với con đường về Thiên Ðàng cũng có nghĩa là tập sống yêu thương. Yêu Chúa và yêu người.
Yêu Chúa thì dễ, vì Chúa là Ðấng trọn hảo và rất đáng kính yêu. Chúa không làm cho mình khổ, Chúa không gây ra những rắc rối cho đời mình. Chúa lại yêu mình hết mực. Tuy nhiên, yêu Chúa “khơi khơi” thì dễ, chứ yêu đến nơi đến chốn, yêu với tất cả linh hồn và trí khôn, yêu đến độ sẵn sàng sống chết vì Chúa… điều ấy chưa chắc đã dễ.

Yêu người khó hơn nhiều lắm. Vì đã là người thì có khuyết điểm. Người ta dễ làm cho mình đau khổ, cũng gây cho mình rất nhiều điều rắc rối. Rất nhiều khi người ta không yêu mình, trái lại còn ghen ghét, thù hận mình nữa. Người ta như vậy đó, thế mà mình phải yêu, để làm quen được với cái đường đi về Thiên Ðàng kia.

Nói cho cùng, cuộc sống làm nên ý nghĩa của sự chết. Cuộc sống quyết định cho đích điểm của một chuyến đi. Chuyến đi xa nhất, quan trọng nhất của đời người. Ðây cũng là chuyến đi cô đơn nhất, vì không có ai đồng hành với ta.

Sống Yêu Thương, yêu Chúa và yêu người thật lòng, ta sẽ về được với Ðấng chính là Tình Yêu. Sống không yêu thương, đường đi của ta sẽ ngược chiều, và ta khó lòng gặp được Thiên Chúa Tình Yêu. Ðó là nỗi bất hạnh lớn lao nhất, nỗi cơ cực kinh khủng nhất. Bởi vì hạnh phúc thật của con người, nói cho cùng, là về được, hòa nhập được với chính cội nguồn nơi mình đã xuất phát: Thiên Chúa. Hòa nhập được với Thiên Chúa, Ðông phương gọi là hòa hợp cùng Ðại Ngã, còn chúng ta gọi là được về nước Thiên Ðàng hưởng hạnh phúc vĩnh cửu.
Còn nỗi cô đơn. Ai mà chẳng sợ cô đơn. Muốn tránh cô đơn, chỉ còn cách kết bạn và mời bạn làm kẻ đồng hành. Nhưng bạn nào đồng hành được với ta trên đường về, mà khởi đầu là cái chết phần thân xác? Chỉ có một “người” thôi, đó chính là Thiên Chúa. Hạnh phúc cho ai, trên đường về có chính Thiên Chúa làm bạn đồng hành. Trong tình bạn, cần có thời gian. Bạn thân để có thể đồng hành lại càng cần thời gian dài hơn nữa. Như thế, trong cuộc sống trần gian, nếu ta đã không từng quen với Chúa, thân với Chúa, chia sẻ với Chúa, thì khi ta chết, làm sao ta có được Chúa làm người bạn đồng hành trên đường về?

“Sinh kí tử quy”, “Lá rụng về cội.” Ðó thật là những tư tưởng đẹp và thâm sâu. Ðể hiểu được vẻ đẹp và sự thâm sâu đó, không phải một sớm một chiều. Giá ta phải trả để hiểu được nó và áp dụng nó là cả một cuộc đời, với nỗ lực và với yêu thương.

Quyên Di

Nếu hạnh phúc sẽ khơi nguồn đau khổ,

Suy Tư Tin Mừng tuần 32 thường niên năm A 12/11/2017

Tin Mừng (Mt 25: 1-13)

 Bấy giờ, Đức Giêsu kể dụ ngôn này cho các môn đệ nghe: “Nước Trời sẽ giống như chuyện mười trinh nữ cầm đèn ra đón chú rể. Trong mười cô đó, thì có năm cô dại và năm cô khôn. Quả vậy, các cô dại mang đèn mà không mang dầu theo. Còn những cô khôn thì vừa mang đèn vừa mang chai dầu theo. Vì chú rể đến chậm, nên các cô thiếp đi, rồi ngủ cả. Nửa đêm, có tiếng la lên: “Chú rể kia rồi, ra đón đi!” Bấy giờ tất cả các trinh nữ ấy đều thức dậy, và sửa soạn đèn. Các cô dại nói với các cô khôn rằng: “Xin các chị cho chúng em chút dầu, vì đèn của chúng em tắt mất rồi!” Các cô khôn đáp: “Sợ không đủ cho chúng em và cho các chị đâu, các chị ra hàng mà mua lấy thì hơn.” Đang lúc các cô đi mua, thì chú rể tới, và những cô đã sẵn sàng được đi theo chú rể vào dự tiệc cưới. Rồi người ta đóng cửa lại. Sau cùng, mấy trinh nữ kia cũng đến gọi: “Thưa Ngài, thưa Ngài! mở cửa cho chúng tôi với!” Nhưng Người đáp: “Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô là ai cả!” Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào.

 *    *     *

“Nếu hạnh phúc sẽ khơi nguồn đau khổ,”

“Thì xin em đừng tìm đến với nhau.”

(dẫn từ thơ Phạm Ngọc)

 Tìm đến nhau, là để mang lại hạnh phúc, cho nhau. Đó là sự thật. Nhưng, sao nhà thơ lại nói: xin em hãy đừng tìm! Tìm hay không, vẫn là chuyện khôn chứ đâu là dại. Khôn dại/dại khôn, thánh sử nhà Đạo xưa nay vẫn giải khuyên qua dụ ngôn truyện trình thuật có cân nhắc, ngợi khen, tung hô.

Trình thuật thánh Mátthêu hôm nay, cũng ngợi khen/tung hô việc của Chúa, bằng nhiều cách. Cách dễ nhận nhất, là dụ ngôn. Dụ ngôn hôm nay thánh sử đặc biệt kể về các cô phù dâu khôn ngoan đáng cho mọi người nhận biết mà phân biệt dại với khôn. Khôn/dại, ở vào tình huống đợi chờ chàng rể tới, không biết trước. Vì, chàng rể đến bất chợt nên nhiều phù dâu chưng hửng, những vãn than về cảnh đột ngột, khó đoán trước.

Thời Chúa sống, đám cưới là sự kiện lớn trong sinh hoạt làng xã, mỗi một ngày. Sự kiện lớn đến độ người người trong làng đều quan tâm, muốn tham dự. Tiệc tùng lớn, có khi kéo dài nhiều ngày cả tuần lễ và còn tổ chức vui chơi đình đám suốt ngày đêm. Về phù dâu ở dụ ngôn, các cô đều là thôn nữ trẻ phần đông có quan hệ với nhà đám; tức, những người có vai vế quan trọng trong nghi thức tiệc rượu vui chơi, múa hát. Có phù dâu dự cưới, là có dễ vui và chắc chắn tiệc sẽ đạt.

Dụ ngôn, nay kể rằng chú rể đến khá trễ. Đây, là trường hợp rất phá lệ. Thường, thì chú rể nào cũng hăng hái tìm đến với ngày cưới. Vì cứ đinh ninh là phải đợi lâu, nên cánh phù dâu nhà ta mới thiếp đi và ngủ cả. Ngủ nghỉ, tuy thực chất không là vấn đề với đám cưới. Bởi, nhiều người có thể thức trắng đêm, cũng chẳng cần ngủ. Và, các phù dâu còn có thể thức giấc vào bất cứ lúc nào, khi chàng rể chợt đến. Nếu chàng đến vào nửa đêm -thường thì ít khi là thế- tất cả đều cần đèn đóm, ánh sáng, nên rất muốn có dầu để đốt sáng. Muốn vậy, phù dâu phải chuẩn bị cho đủ, để khỏi lỡ mất cơ hội. Bởi, nếu không biết cách mà chuẩn bị, phù dâu ta phải bổ đi lùng tìm cho bằng được dầu đốt để thắp đèn, còn gì là vui nữa.

Dụ ngôn, nay cũng kể về hai nhóm phù dâu. Một, luôn đề cao cảnh giác. Còn nhóm kia, chẳng chuẩn bị hoặc quan tâm gì đến đèn đóm. Dụ ngôn hôm nay, thoạt nghe có vẻ hơi mù mờ. Đọc kỹ, hẳn có người sẽ tự hỏi: làm sao nhóm phù dâu khôn lanh kia, lại không chỉ cách cho nhóm khờ dại biết sớm hơn, để cả hai cùng nhau chuẩn bị cho chu đáo. Tại sao nhóm khù khờ dù có dại cách mấy cũng phải biết cử một hai người đi lùng tìm dầu, chứ sao lại phải đi cả nhóm? Phải chăng, ngay lúc đó đã có căng thẳng, vì chú rể đã mướn toàn bộ số phù dâu để đạt hiệu quả tối đa cho tiệc cưới, nên toàn bộ nhóm phù dâu có thể hụt trọn cả lễ cưới? Nói tóm lại, hốt hoảng ở trường hợp nào cũng thế, thường lấy đi sự suy xét bình thường rất cần thiết của con người.

Sự thật mà nói, ở đời thường người khờ khạo thường là những người luôn chịu thua thiệt. Nên, dễ bị người khác chèn ép coi nhẹ như người không biết gì. Chí ít, là chuyện đạo đức, luân lý, rất trí thức. Chuyện dụ ngôn về người khờ khạo và khôn ngoan có thể áp dụng vào mọi người nói chung. Nói chung, là nói về những người không làm gì nên chuyện, hoặc cho ra hồn, nhưng vẫn muốn đạt lương tiền hậu hĩ, giống “mì ăn liền”. Như người đi tìm việc được gọi đi phỏng vấn, lại cứ khăng khăng theo ý mình đội mũ ngược ngạo, chẳng giống ai. Cũng tựa như đám học trò chẳng chịu học nhưng lại cứ muốn đậu cao, có đủ bằng cấp, nhưng thực chất lại ngu dốt. Như đôi uyên ương nọ chỉ biết lấy nhau để gần nhau mà ăn ở cho vui sướng, chẳng lo gì chuyện tương lại mai ngày, để có con.

Dụ ngôn, nay không chỉ kể, có thế. Nhưng thực sự, còn muốn diễn tả về tình hình Giáo hội mọi thời đang ở vào tình trạng của phù dâu. Chàng rể nói ở đây, là Đức Kitô. Việc “chàng rể đến chậm” là ý nói về ngày quang lâm Chúa lại đến cũng chầm chậm, theo quan niệm của cộng đoàn Hội thánh lúc ban đầu. Dụ ngôn đây, là: truyện dài cốt để kể lại sử hạnh Hội thánh thời ban sơ. Về tiêu chuẩn Chúa phán xét định đoạt về Giáo hội vào ngày Ngài đến lại.

Hình ảnh làm nền ở dụ ngôn hôm nay, là về dầu đốt. Nghe về dầu để đốt, hẳn có người sẽ nghĩ về niềm tin đốt cháy. Tức, lòng siêng chăm, sùng đạo. Về cung cách quản, tài lãnh đạo, hoặc: lòng độ lượng, thứ tha, đùm bọc, rất phục vụ, hoặc những chuyện như thế. Cũng may, là trình thuật hôm nay thực ra chẳng đề cập gì về những chuyện như thế. Vậy thì, về vấn đề gì?

Đoạn cuối trình thuật có nói:“Cửa đóng lại.” Và chàng rể đây, là Đức Giêsu lại muốn bảo: “Ta không biết các người.” Không biết ở đây, là không được Ngài biết đến. Không biết, là: không biết theo cách riêng tư như quan hệ bạn bè, chỗ thân quen. Không biết đến, chẳng phải là: ta không biết đến Ngài. Mà là: Ngài không hề biết ta. “Không biết đến ta”, tức hỏi rằng: không biết Chúa có còn đoái hoài đến ta hoặc mọi người? Phải chăng Ngài vẫn coi ta như dân con của Ngài? “Không biết đến ta”, còn có nghĩa là: ta có làm những việc “đáng làm” như Ngài, không? Đó, là những vấn đề đích thực đặt ra cho những ai tự gọi mình là Kitô- hữu. Tức Kitô khác.

Được Chúa biết, theo cách thế tự do như bạn bè người thân của riêng Ngài. Được Chúa biết, cũng đòi ta phải có cung cách xử thế như dân con được Ngài quang lâm đến lại. Được Chúa biết, là biết vào khoảnh khắc như Ngài từng loan báo vào thời trước. Được Chúa biết, còn diễn tả việc Chúa am tường mọi hành xử của Hội thánh trong quá khứ, hiện tại và mai ngày. Nói tóm lại, câu Chúa nói “Ta không biết các ngươi”, có nghĩa Chúa đã nhận ra được những việc làm “thật không phải”. Không thực tâm làm, như lời Ngài khuyên dạy.

Khi ta làm việc gì tốt lành, chắc chắn Chúa sẽ cảm kích, phấn chấn và cũng ngạc nhiên. Ngài sẽ đưa ta vào với nhóm hội của muôn người ở thế giới, để Ngài sẽ hiện diện trong ta, rất tự do, cởi mở. Và có như thế, ta mới nhận ra thiên đường hạnh phúc Ngài hứa ban bằng vào việc sử dụng sự tự do của chính mình.

Không nên hiểu câu nói của Chúa “Ta không biết các người.” như Chúa biết tất cả về đời ta qua lăng kính của vi tính, dù mọi sự đều hiện ra ở trên đó. Bởi, nếu như thế, chắc Chúa cũng sẽ buồn chán khi phải ngắm nhìn ta chuyển vận. Thật sự thì, Chúa không là Đấng chuyên kiểm soát vũ trụ vạn vật, theo cách đó. Ngài làĐức Chúa tự do, sống động và mật thiết với ta. Ngài cùng làm và cùng vui với ta trong muôn việc, ở đời.

Nếu so sánh Chúa với ta theo kiểu nghệ nhân đầy sinh lực, thì Chúa như nghệ sĩ bộ môn nhạc Jazz, chơi nhạc rất ngẫu hứng với ta, ở mọi thời. Ngài chấp nhận mọi hiểm nguy, cả khi ta tự do đối xử xem ra không ổn, như “người của Chúa”. Cả vào khi ta chơi nhạc Jazz mà lại chơi sai nốt trật nhịp. Ngài tuy biết, nhưng vẫn nhìn thoáng qua trong chốc lát, cứ để ta chơi tiếp. Nhưng, khi ta chơi nhạc đúng cách như người hành xử rất xứng hợp ở đời, thì Ngài sẽ cảm kích, biết ơn. Nói tóm lại, đó là cách thức để “biết đến ta” rất hay và rất thực như sự thực xảy đến trong cuộc đời của con người.

Nói theo kiểu dụ ngôn, thì chính đó là dầu đốt. Bởi thế nên, thể hiện tinh thần của trình thuật, là: sống thực. Sống, như mục đích ta sử dụng tự do của mình, để đem đến cho Chúa một thưởng lãm rất thực, để được Chúa nói ‘đã biết ta’. Đó, là thiệp mời. Là, tấm vé về dự tiệc cưới. Lễ hội của tự do. Giả như ta không làm thế, thì không thể gặp mặt chú rể cách đích thực như phù dâu có đèn mà không có dầu. Không làm được thế, chắc chắn rồi ra Ngài sẽ bảo: “Ta không hề biết các người”, như ngôn ngữ của trình thuật hôm nay.

Cuối cùng, có chuẩn bị chu đáo như thế không, mới là vấn đề. Vấn đề của ta và, mọi người. Trong tâm tình đó, cũng nên ngâm tiếp lời thơ vừa chợt hát, để cảm kích hát mãi: 

“Quỳnh chỉ nở về đêm trong giấc ngủ

Như tình yêu chỉ đẹp lúc ban đầu

Chẳng có gì tồn tại đến ngàn sau

Khi cơn mộng mù loà đêm dâng hiến”

(Phạm Ngọc – Với Quỳnh)

Với quỳnh, thì như thế. Thế còn với Chúa, chắc không hẳn thế. Bởi, Chúa là Tình Yêu, Ngài sẽ cứ tồn tại mãi đến muôn đời. Để, người người ngợi khen Ngài mãi khôn nguôi. Ngợi Tình Chúa. Khen tình người tồn tại mãi chốn thiên thu rất bất tận.

 Lm Kevin O’Shea CSsR biên-soạn –  

Mai Tá lược dịch.

Tôi đi trong nắng thu màu nhớ,

Tà áo cưới (Sơn Tuyền)

httpv://www.youtube.com/watch?v=CvXtiY5einE

Chuyện Phiếm đọc trong tuần 32 thường niên năm A 12/11/2017

“Tôi đi trong nắng thu màu nhớ”,
Ngơ ngẩn vì tiếng gió Thu buồn
Tôi đi trong lá thu vàng úa
Cứ ngỡ là muôn lá tình thư.”

(Hoàng Thi Thơ – Tà Áo Cưới)

(Gioan 16: 4)

 Trích dẫn câu hát này, chẳng phải vì mùa này là mùa cưới của nhiều người. Nhưng là vì, trong bài hát của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, còn nhiều ca-từ rất dễ nhớ như sau:

“Hôm nay sao áo bay nhiều thế
Tôi tưởng ngàn cánh bướm khoe màu
Ô hay! Tiếng pháo đâu buồn quá
Xác đỏ làm xao xuyến đường hoa.

Những tà áo cưới thướt tha bay bay trong nắng chiều
Đưa người em gái bước chân đi đi về bến nao
Ôi buồn làm sao em có nhớ Thu nào

Những tà áo cưới tiễn em đi em đi lấy chồng
Chim trời theo gió biết nơi đâu đâu mà ước mong
Cung đàn thầm rơi rơi mãi tiếng tơ lòng

Bâng khuâng trông gió bay tà áo
Gió hỡi làm sao bớt lạnh lùng
Tôi đi đi mãi theo mầu nắng
Nắng để lòng tôi với quạnh hiu.”

(Hoàng Thi Thơ – bđd)

Lúc đầu thì như thế. Như thế, những là: “thướt tha bay bay trong nắng chiều”, “bước chân đi đi về bến nao”, buồn làm sao…” Để rồi, cuối cùng, lại cũng hát “bâng khuâng trông gió”, “tôi đi đi mãi theo màu nắng” “Nắng để lòng tôi với quạnh hiu.”

 Ôi chà, là đúng quá. Cuộc vui nào chẳng có lúc tàn. Đời người, bao giờ mà chẳng có lúc đi vào ngõ tối, cũng rất cụt. Cụt và tối, như câu chuyện đôi lứa lúc về già có những buổi nằm nghĩ những chuyện vu vơ, khó nghĩ và khó có ý kiến như câu chuyện về “An tử” như sau:

Lãnh đạo các mạng lưới chăm sóc sức khỏe Công Giáo tại Úc cam kết sẽ không tạo dễ dàng cho hình thức trợ tử tại các cơ sở của họ một khi dự luật trợ tử được nghị viện thông qua. Tổng giám đốc tổ chức Health Australia của liên hợp bệnh viện St Vincent trên toàn quốc ông Toby Hall nói với tuần báo Catholic Weekly rằng bệnh viện sẽ tuân hành nghiêm chỉnh nguyên tắc là “không gây hại” một khi dự luật trợ tử trở thành hợp pháp tại tiểu bang NSW và Victoria.

Tổ chức Health Australia của liên hợp bệnh viện St Vincent được coi là mạng lưới cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe phi lợi nhuận lớn nhất nước. Ông Hall xác nhận bất luận kết quả của các cuộc tranh luận tại Victoria và NSW có ra sao, thì không một cơ sở y tế nào của mạng lưới Health Australia sẽ cung cấp hình thức trợ tử.

Trong khi đó, ông Mark Green, tổng giám đốc toàn quốc mạng lưới y tế Calvary Care với 15 bệnh viện trong quyền quản trị của họ – kể cả tại Melbourne và Kogarah – cho biết mạng lưới Calvary Care sẽ không tham gia nếu dự luật trợ tử được thông qua tại Victoria và NSW.

Nghị viện NSW hiện đang cứu xét dự luật Voluntary Assisted Dying Bill 2017 được sự đồng bảo trợ của các dân biểu Alex Greenwich, Trevor Khan, Lee Evans, Mehreen Faruqi và Lynda Voltz. Trong khi đó tại Victoria, dự luật Voluntary Assisted Dying Bill 2017 đã được hạ viện thông qua hồi tuần qua với 37 phiếu thuận và 27 phiếu chống. Thế nhưng nay còn chờ quyết định của thượng viện.” (Vũ Nhuận chuyển ngữ từ Nguồn sydneycatholic.org)

Nay thì, mời bạn và mời tôi, ta đi thẳng vào câu truyện kể cũng không kém khôi hài thuộc loại tiếu lâm chay, hơi bị nhạt như sau:

“Một ngày rất ngắn, ngắn đến mức chưa nắm được cái sáng sớm thì đã tới hoàng hôn

Một năm thật ngắn, ngắn đến mức chưa kịp thưởng thức sắc màu đầu xuân thì đã tới sương thu

Một cuộc đời rất ngắn, ngắn tới mức chưa kịp hưởng thụ những năm tháng đẹp thì người đã già rồi

Luôn luôn đến quá nhanh mà hiểu ra thì quá muộn , cho nên chúng ta phải học cách trân trọng, trân trọng tình thân, tình bạn , tình đồng chí, tình bạn học, tình đồng nghiệp …

Vì một khi đã lướt qua, thì khó có thể gặp lại

Sau 20 tuổi thì đất khách và quê nhà giống nhau vì đi đến đâu cũng có thể thích ứng

Sau 30 tuổi thì ban ngày và ban đêm giống nhau vì mấy ngày mất ngủ cũng không sao

Sau 40 tuổi thì trình độ học vấn cao thấp giống nhau , học vấn thấp có khi kiếm tiền nhiều hơn.

Sau 50 tuổi thì đẹp và xấu giống nhau vì lúc này có đẹp đến mấy cũng xuất hiện nếp nhăn và tàn nhang.

Sau 60 tuổi thì làm quan lớn và quan bé giống nhau vì nghỉ hưu rồi cấp bậc giống nhau.

Sau 70 tuổi thì nhà to và nhà nhỏ giống nhau vì xương khớp thoái hóa không thể đi được hết những không gian muốn đi .

Sau 80 tuổi thì tiền nhiều và tiền ít giống nhau vì có tiêu cũng chẳng tiêu được bao nhiêu tiền.”

Sau 90 tuổi thì nam và nữ giống nhau vì không thể làm nổi chuyện ấy nữa.

Sau 100 tuổi thì nằm và đứng giống nhau vì đứng dậy cũng chẳng biết làm gì

 Và những lời bàn “Mao Tôn Cương” của người kể, lại như sau:

 “CUỘC ĐỜI CỦA BẠN VÀ TÔI LÀ NHƯ VẬY KHÔNG KHÁC NHAU NHIỀU NHÌN RA , HIỂU ĐƯỢC , THẤU HIỂU RỒI ,CUỘC ĐỜI LÀ NHƯ THẾ . TRÂN TRỌNG NHỮNG THỨ CÓ ĐƯỢC , TÌM LẠI NHỮNG THỨ ĐÃ MẤT.”(Trích truyện kể ở trên mạng, bạn bè gửi cho nhau để còn đọc).

Đọc truyện rồi, nay mời tôi và mời bạn, ta đi vào mục hỏi đáp rất như sau:

“Thưa cha,

Vừa qua, con có dịp nói chuyện với bầu bạn  về vấn đề mà báo chí lâu nay cứ nói nhiều, đó là vấn đề “An tử” hoặc còn gọi là “Trợ tử”, tức: giúp người bệnh đi vào cõi chết, rất nhẹ nhàng. Vấn-đề này, lại sẽ được quốc hội tiểu bang New South Wales tranh-luận. Nhưng câu hỏi đặt ra là: có người từng bảo: họ cũng không hiểu được lý do tại sao ta không để cho những người đang đau khổ được chết nếu họ muốn thế. Riêng con, lâu nay tự hỏi thế nào là “An tử” và thế nào không phải là “An tử”, xin cha cho con vài giòng chỉ-dẫn”.   

Lại nữa, đã chính-thức viết thư gạn hỏi ông cha/ông cố những điều như thế thì cha/cố dù không am-tường vấn-để luật đời hay Đạo, cũng cố lục lọi sách vở để viết lên câu trả lời như sau:

“Trước nhất, ta phải tìm cách hiểu cho rõ cụm từ “An-tử” hay “Trợ-tử” bên tiếng Anh là “Euthanasia” có nghĩa gì. Cụm-từ này, xuất từ tiếng Hy Lạp có ý nói về cái chết tốt lành hoặc hạnh-đạo. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô đệ Nhị có viết tông thư Evangelium vitae (Đời sống Phúc Âm) vào năm 1995 trong đó ngài định nghĩa “Euthanasia” là “một hành động hoặc quên sót vố dĩ tự nó hoặc có ý-thức, tạo nên cái chết với mục đích loại-bỏ mọi đớn đau, sầu khổ” (Evangelium Vitae đoạn 65).

Điều ngài muốn nói, đơn-giản chỉ thế này: An-tử là việc giết chết một nhân mạng vô tội, như hành động cố sát, nhưng với mục tiêu đặc-thù là loại-bỏ cơn đau của một người. Trong tông-thư, Đức Gioan Phaolô xác-nhận: “An-tử là sự vi-phạm trầm-trọng luật của Chúa, bởi nó vung tay giết chết con người một cách vô đạo-đức, nên không thể chấp-nhận được. 

Tín-điều này dựa trên luật tự-nhiên và trên Lời của Chúa có chữ viết như truyền-thống Giáo-hội chuyển-luân và thường được huấn-quyền ban dạy trên khắp thế-giới. Tuỳ từng hoàn-cảnh, việc thực-thi động tác này thường kéo theo việc cố ý tự sát hoặc giết người rất đích thực. 

Sách Giáo-lý Hội-thánh Công-giáo từng viết rất rõ chuyện này bảo rằng: “An-tử là hành-động cố sát nghiêm-trọng chống lại phẩm-giá con người và phản lại việc tôn-kính Thiên-Chúa hằng sống, Đấng Tạo dựng nên muôn loài. Nếu phán-đoán sai lầm, con người có thể rơi vào tình-trạng cứ yên chí không thay đổi được bản-chất của hành-động giết người là hành-động luôn bị cấm đoán và loại-trừ” (GLHTCG đoạn 2277).

 Dù có là chuyện nên làm và có thể chấp-nhận làm bất cứ thứ gì để giảm bớt sự đau-đớn nơi người bệnh, nhưng theo pháp-luật thì việc này vẫn không được phép làm vì nó chấm dứt sự sống của con người. Cuối cùng thì, Thiên-Chúa là Chúa-tể sự sống và vì thế cũng tuỳ Ngài quyết-định khi nào thì con người sẵn sang đi vào cõi chết. Ta có thể giết con thú đang đau đớn vì nó chỉ là loài thú, nhưng không thể làm thế với con người được bởi con người là hình-ảnh giống Thiên-Chúa.

 Dù sao, ta cũng không được phép quên thực-tại của luyện ngục và sự đau khổ luôn giống như lửa ngọn, rằng linh-hồn chịu đau-đớn ở nơi đó cùng một lúc các linh-hồn cũng thấy vui lòng đến cực độ vì chúng được tinh-luyện cho sạch để đạt chốn thiên-đường. Bởi ta cũng biết, nếu ta kết-thúc sự sống của ai khác một cách quá sớm sủa ngang qua an-tử , cũng có thể là ta chẳng kết-thúc được cơn đau của họ chút nào hết, mà đúng hơn nhận chìm linh hồn họ vào chốn đớn đau nhiều hơn trong luyện ngục. Có thể, Thiên-Chúa muốn họ chịu cực thêm chút nữa ở đời này để rồi họ đem họ đi thẳng vào chốn thiên-được. Nên, ta hãy để Chúa quyết-định xem khi nào là thời-điểm đích-đáng để họ chết.

 Trong thời gian chờ đợi, tốt hơn ta nên làm tất cả điều gì có thể làm được để giảm bớt sự đau khổ của con người bằng sự chăm nom săn sóc cốt làm giảm cơn đau của người bệnh bằng cách sử-dụng moo5c-phin hoặc thuốc thang nào đó cho thích-hợp. Dù việc này chỉ làm ngắn bớt sự sống của một người giảm bớt tầm-mức ý-thức của người bệnh , đây không là an-tử nhưng đúng hơn, lại là chăm sóc rất kiên-trì. (X. GLHTCG đoạn 2279)

 Dù sao đi nữa, ai ai cũng phải duy-trì tầm-mức ý-thức cho đến khi họ làm tròn trách-nhiệm đạo-đức và gia-đình của họ và có cơ-hội chuẩn bị tinh-thần để sẵn sang giáp mặt Thiên-Chúa (X. tông-thư Sự Sống Phúc Âm đoạn 65). Và bao giờ cũng thế, ta có nhiệm-vụ tiếp-tục chăm sóc người ốm đau, bệnh tật trong đó có cả việc tiếp nước và thức ăn cho họ nữa.

 Cũng thế, không phải là an-tử làm đứt đoạn tiến-trình nào đó kéo dài sự sống của một người khi biết rõ là tiến-trình ấy không hoàn-thành mục-tiêu của họ hoặc chúng gây phiền-toái hoặc nguy hiểm cho người bệnh hoặc đưa ra một kết-cuộc thiếu cân-xứng với kỳ vọng. 

Sách Giáo Lý Hội thánh Công-giáo còn cắt nghĩa thêm rằng: “Ở đây, không ai được phép gây nên cái chết. Con người không có khả-năng cản-trở chuyện ấy thì còn có thể chấp-nhận được. Mọi quyết-định phải do người bệnh lập ra nếu người ất có thẩm-quyền và khả năng làm thế; bằng không, việc ấy phải do những ai có thẩm-quyền pháp-lý được hành-động thay cho người bệnh, mà ý-muốn của người này có lợi-ích hợp-pháp đều phải được tôn-trọng.” (X. GLHTCG đoạn 2278)

Một ví dụ cụ thể, là: có thể chấp-nhận việc chấm dứt việc tiêm chích hỗ-trợ người bệnh được tiếp sống khi biết rõ là không làm thế thì người bệnh cũng sẽ chết tốt. 

Tương-tự như thế, có trường-hợp cho phép được buông bỏ các hình-thức chữ-trị cách nào đó nếu thấy không thể chữa lành được nhưng sẽ chỉ kéo dài cơn đau của người bệnh mà thôi. Điều này bao gồm việc hoá-trị và xạ-trị và bất cứ hình-thức chữa chạy nào khác vẫn không tạo hy-vọng chữa lành được căn bệnh.

 Với khoa-học tiến-bộ, ta có nhiều cách chăm sóc khả dĩ làm giảm cơn đau cực-kỳ của người bệnh và việc này khiến người bệnh thấy dễ chịu đủ thì không nên khao khát biện pháp an-tử làm gì. Nhưng, ngay cả khi người bệnh đang phải chịu cơn đau đến độ cực kỳ, ta không thể coi an-tử như phương án cuối cùng để chấm dứt cơn đau của người ấy được.” (Lm Frank Doyle, Euthanasia: Don’t rob people of their suffering, The Catholic Weekly 22/10/2017 tr. 41)

Đọc giòng chảy đầy những chữ ở trên, chắc hẳn có bạn đọc lại sẽ liên tưởng đến câu truyện kể có đầu đề là “Chuyện thắng/thua” của ai đó vừa đăng tải trên trang mạng như sau:

“Có một hòa thượng lên núi chặt củi, trên đường trở về, ông thấy cậu thiếu niên nọ đã bắt được một con bướm và đang cố gắng khom hai bàn tay lại để giữ cho nó khỏi bay.

 Nhìn thấy người tu hành, cậu cất lời: “Hòa thượng, cháu và ngài đánh cược một ván được không?”

Hòa thượng hỏi lại:

-Cược thế nào?”

-Ngài đoán xem con bướm trong tay cháu sống hay chết? Nếu ngài đoán sai, bó củi sẽ thuộc về cháu”, – cậu thiếu niên trả lời.

Vị hòa thượng nọ đồng ý và đoán:

-Con bướm trong tay cháu chết rồi.

Cậu thiếu niên cười lớn đáp:

-Ngài đoán sai rồi.

Nói đoạn, cậu mở tay ra, con bướm từ trong bay lên.

Hòa thượng nói:

-Được, gánh củi này thuộc về cháu.

Nói xong, ông đặt gánh củi xuống, vui vẻ bước đi. Cậu thiếu niên không biết vì sao hòa thượng lại có thể vui vẻ đến như vậy nhưng nhìn gánh củi trước mặt, cậu ta cũng không để tâm lắm mà vui vẻ gánh gánh củi về nhà.

 Nhìn thấy con về, người cha liền hỏi số củi đó ở đâu ra, cậu mới đem chuyện kể lại cho cha nghe. Nghe hết câu chuyện của con trai, đột nhiên ông giơ tay tát con một cái, giọng giận dữ:

-Con ơi là con! Con hồ đồ quá rồi! Con nghĩ là mình đã thắng sao? Ngay cả khi con đã thua, con cũng không hề biết mình đã thua đấy.

Lời cha nói khiến cậu con trai ngơ ngác, không hiểu gì. Người cha liền lệnh cho cậu ta gánh bó củi lên vai, hai cha con mang củi đến trả cho nhà chùa.

Nhìn thấy vị hòa thượng nọ, người cha liền cất tiếng:

-Thưa thầy, con trai tôi đắc tội với thầy, xin thầy lượng thứ.

Hòa thượng gật đầu, mỉm cười nhưng không nói gì. 

Trên đường trở về nhà, cậu thiếu niên sau một khoảng thời gian băn khoăn cuối cùng cũng đã nói ra những nghi vấn trong lòng. Người cha thở dài, nói:

-Vị hòa thượng đó cố ý đoán con bướm chết, như thế con mới thả nó ra và thắng được gánh củi. Nếu ông ấy nói con bướm còn sống, con sẽ bóp chết con bướm và con cũng sẽ thắng cược. Con cho rằng vị hòa thượng đó không biết con tính toán gì sao? Người ta thua một bó củi nhưng đã thắng được thứ giá trị hơn rất nhiều, đó là lòng từ bi. Còn con, con đã thua, đã để mất thứ quý giá đó mà chẳng hề hay biết.”

 Câu chuyện có thể rất đơn giản nhưng đó là bài học cho chúng ta trong cuộc sống. Thắng, thua, thành, bại là những chuyện thường xuyên giày vò cuộc sống của con người. Có những lúc chúng ta tự cho rằng mình đã thắng nhưng trên thực tế, có khi chúng ta đã thua nhiều hơn mà chẳng hay. (Sưu Tầm)

 Nói như người kể truyện ở trên, thì: mọi việc trên đời “có thể rất đơn giản, nhưng đó là bài học cho chúng ta trong đời sống!”

Nghe ra như thể: có người đọc truyện kể ở trên lại cũng nghĩ rằng: “Trong đời sống của chúng ta, nhiều bài học xem ra cũng đơn giản như truyện kể”, thế thôi.

Như thế, nghĩa là: truyện kể hay bài học và bài học hay truyện kể đôi khi cũng giống nhau từng chi tiết. Có những chi tiết chỉ đơn-giản như câu truyện để kể, lại cũng có chi tiết vẫn được coi như bài học  chứ không chỉ là truyện kể, để cho vui.

Xem thế, giống như thể người đi Đạo Chúa lâu nay cứ nghe đi nghe lại nhiều truyện kể trong Tin Mừng, lúc đầu cứ tưởng đơn-giản chỉ là truyện kể, nhưng nghe nhiều lần mới thấy đó là bài học để đời, giúp ta sống. Sống đạo hạnh và đơn giản như truyện kể mà thôi. Một trong các câu nói để đời ấy có thể kể như sau:

“Anh em cứ lấy thí dụ cây vả mà học hỏi.

Khi cành nó xanh tươi và đâm chồi nảy lộc,

thì anh em biết là mùa hè đã đến gần.

Cũng vậy, khi thấy những điều đó xảy ra,

anh em hãy biết là Con Người đã đến gần,

ở ngay ngoài cửa rồi.

Thầy bảo thật anh em:

thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra.

Trời đất sẽ qua đi,

nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu.

“Còn về ngày hay giờ đó thì không ai biết được,

ngay cả các thiên sứ trên trời hay người Con cũng không,

chỉ có Chúa Cha biết mà thôi.”

(Mc 13: 28-30)

Và hôm nay, nếu bạn và tôi dám áp-dụng câu nói trên vào cuộc đời người có những chuyện không phải để kể, mà để học và hỏi như chuyện “An tử” hay “Trợ tử” bàn ở trên, thì kết luận có thể rút ra được, hệt như câu trên mà rằng: có những sự việc “ngay cả các thiên sứ trên trời hay người Con cũng không, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi.”

Nói thế, không để phản bác lập-trường của Giáo-hội hay ai đó về vấn đề “Trợ tử” hay “An tử”, nhưng chỉ muốn bảo với tôi và với bạn rằng: có những chuyện hoặc những truyện chỉ để kể chứ không để rút ra một kết luận nào đó, đúng/sai, thực/hư, mà chỉ để cho nhau nghe mà thôi.

Nghe thế rồi, nay mời tôi và mời bạn, ta lại trở về với bài ca ở trên dung làm câu chấm hết hết cho bài “Phiếm” hôm nay, mà rằng:

“Hôm nay sao áo bay nhiều thế
Tôi tưởng ngàn cánh bướm khoe màu
Ô hay! Tiếng pháo đâu buồn quá
Xác đỏ làm xao xuyến đường hoa.

Những tà áo cưới thướt tha bay bay trong nắng chiều
Đưa người em gái bước chân đi đi về bến nao
Ôi buồn làm sao em có nhớ Thu nào

Những tà áo cưới tiễn em đi em đi lấy chồng
Chim trời theo gió biết nơi đâu đâu mà ước mong
Cung đàn thầm rơi rơi mãi tiếng tơ lòng

Bâng khuâng trông gió bay tà áo
Gió hỡi làm sao bớt lạnh lùng
Tôi đi đi mãi theo mầu nắng
Nắng để lòng tôi với quạnh hiu.”

(Hoàng Thi Thơ – bđd)

Tắt một lời, có đi “rong nắng thu màu nhớ” hay không, cũng là cơ hội để ta nhớ lại những gì được Đấng thánh hiền nhà Đạo từng nói ở Tin Mừng, rồi giữ lấy cho đời mình:

“Thầy đã nói với anh em những điều ấy,

để khi đến giờ họ hành động,

anh em nhớ lại là

Thầy đã nói với anh em rồi.”

(Gioan 16: 4) 

Trần Ngọc Mười Hai

Cũng có nhiều lúc

Vẫn nghe và vẫn nhớ nhiều sự việc

Lại nghĩ đó là sự thật

nên mới hoàn hồn. 

VỪA MANG ĐÈN, VỪA MANG DẦU

VỪA MANG ĐÈN, VỪA MANG DẦU

 Chẳng ai nghĩ đi ăn sinh nhật là để chết.  Chẳng ai nghĩ mình sẽ chết vào ngày sinh nhật của mình.  Vụ cháy ở nhà hàng Hoàng Hôn đường Điện Biên Phủ, nhắc cho ta về sự bất ngờ của cái chết.  Cái chết đến khi mọi người đang say ngủ, lúc 3 giờ sáng ngày 17-10, sau bữa tiệc sinh nhật.  Chín người chết vì không thể ra khỏi căn nhà bốc cháy.

Đoạn Tin Mừng hôm nay nhắc ta rằng Chúa đến bất ngờ, như chú rể đến lúc nửa đêm.  Chúng ta phải sẵn sàng như năm cô phù dâu khôn ngoan, hân hoan ra đón chú rể, tay cầm đèn thắp sáng.

Thật ra năm cô dại chẳng phải là hạng vô tích sự.  Chắc họ đã lo trang điểm cho mình.  Khi biết mình hết dầu, họ đã lo vay mượn.  Và khi bị từ chối, họ đã đi mua dầu giữa đêm khuya.  Lúc có đèn sáng, họ đã gõ cửa xin vào dự tiệc cưới.  Nhưng muộn quá!

“Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô!”

Chẳng nên đổ lỗi cho chú rể đến chậm, khiến đèn của mình hết dầu.  Chẳng nên trách móc các cô khôn ngoan, vì họ cần có đủ dầu để thắp sáng cho tiệc cưới giữa đêm khuya.  Chỉ nên nhận mình đã chểnh mảng, không mang dầu dự trữ.

Có đèn.  Không đủ!  Đèn cần phải sáng, sáng lúc Chúa đến bất ngờ.  Như thế cũng có nghĩa là phải luôn luôn sáng.  Mang danh là Kitô hữu.  Không đủ! Tham gia vào một số sinh hoạt tôn giáo.  Không đủ!  Cần phải sống hết mình những đòi hỏi của Chúa.  Đòi hỏi lớn nhất là yêu thương.

Trong Hội Thánh, vẫn có những cô khôn và cô dại, có những người đèn đã hết dầu từ lâu…

Cần chăm chút cho ngọn đèn đời mình.  Cần nuôi dưỡng nó bằng thứ dầu của tình yêu bao dung, của niềm hy vọng vững vàng, của niềm tin sắt đá.  Cần châm thêm dầu mỗi ngày…

Hãy tỉnh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào.  Tỉnh thức không phải là không ngủ… Cả mười cô trinh nữ phù dâu đều đã thiếp ngủ.  Tỉnh thức không phải là suốt ngày đọc Lời Chúa, nhưng là để Lời Chúa chi phối mình suốt ngày.  Chẳng ai biết lúc nào tận thế.  Chẳng ai biết giờ chết của mình.  Chẳng ai biết hôm nay Chúa hẹn mình ở đâu, trong biến cố nào, nơi con người nào.  Chính vì thế phải tỉnh thức luôn, cả trong giấc ngủ.

Người ta biết mình bắt đầu tỉnh thức, khi nhận ra mình đã mê muội.

****************************** **

Lạy Chúa Giêsu, nếu ngày mai Chúa quang lâm, chắc chúng con sẽ vô cùng lúng túng. 

Thế giới này còn bao điều khiếm khuyết, dở dang, còn bao điều nằm ngoài vòng tay của Chúa.

Chúa đâu muốn đến để hủy diệt, Chúa đâu muốn mất một người nào…

Xin cho chúng con biết cộng tác với Chúa xây dựng một thế giới yêu thương và công bằng, vui tươi và hạnh phúc, để ngày Chúa đến thực là một ngày vui trọn vẹn cho mọi người và cho cả vũ trụ.

Xin nuôi dưỡng nơi chúng con niềm tin vững vàng và niềm hy vọng nồng cháy, để tất cả những gì chúng con làm đều nhằm chuẩn bị cho ngày Chúa trở lại.

 Lm Nguyễn Cao Siêu, S.J,

trích trong “Manna”

From Langthangchieutim

NAY ANH MAI TÔI

NAY ANH MAI TÔI

 Lm. Jos Tạ duy Tuyền

Người ta nói: “đời như hoa trước gió” chẳng sai!  Nó sớm nở chiều tàn.  Nó mong manh như kiếp cỏ hoa.  Nó phù du như mây hợp rồi tan.  Theo thống kê của chính phủ thì trong đợt mưa lớn ngày 09 – 10/10 xảy ra ở Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và một số tỉnh miền Bắc, gây nên lũ quét và sạt lở đã cướp cướp đi hàng trăm sinh mạng, phá hủy hàng ngàn ngôi nhà và hàng ngàn gia súc trôi dạt trên dòng nước mênh mông.

Nhìn vào những cái chết tức tưởi ấy ta mới thấy kiếp người thật mong manh.  Cái chết không có tuổi.  Không hẳn tuổi già cái chết mới đến, mà tuổi trẻ cũng có thể phải ra đi, vì “sinh hữu hạn, tử bất kỳ.”  Có khi người trẻ lại ra đi trước người già như trong ca dao xưa đã nói:

Lá vàng còn ở trên cây,

Lá xanh rụng xuống, có hay hỡi trời.

Sự thật này nói lên tính cách mong manh của kiếp sống con người.  Thật mong mang như hoa cỏ đồng nội mà thánh vịnh 102 cũng từng nói tới:

Kiếp phù sinh, tháng ngày vắn vỏi,

Tươi thắm như cỏ nội hoa đồng,

Một con gió thoảng là xong,

Chốn xưa mình ở cũng không biết mình.

(Tv 102,15-16)

Nghĩ đến thân phận mỏng dòn của kiếp người, trong tâm hồn tôi chợt vang lên giai điệu bài hát “Nay anh mai tôi” của Tuấn Kim.  Lời bài hát đã bóc trần sự phù du của kiếp người hòa với giai điệu du dương khi trầm khi bổng như xé nát tâm can vì nó diễn tả quá đúng về kiếp người “nay anh mai tôi” sẽ lần lượt đi qua con đường hẹp là sự chết.

Giai điệu bài hát như dội vào tim, khiến tôi cũng muốn cất lên lời hát:

“Nay anh mai tôi, chung đường chung lối,

xuôi tay ra đi giã từ cuộc đời”.

Nhưng cuộc ra đi này cũng có phần an ủi cho kiếp người lắm truân chuyên nhiều nước mắt, vì nó mở ra cho chúng ta một chân trời mới trong ngôi nhà Cha trên trời tràn đầy an vui.

“Vì trong tiếng cười có nước mắt rơi

Về nơi quê trời, bên Chúa an vui”.

Qua bài hát này ta thấy một chân lý đã được khẳng định:

“Ngày con sinh ra, Chúa đã biết rõ, ngày con qua đời Chúa không cho hay”.

Phận số cuộc đời không tùy thuộc vào ta.  Sự sống hay chết đều nằm trong kế hoạch đầy yêu thương của Thiên Chúa.  Nhưng có sinh có tử dường như là lẽ trời mà ai cũng phải chấp nhận “nay anh mai tôi” mà thôi!

“Dòng đời ngày qua bao kẻ chia xa, mà lòng thầm suy nay người mai ta, thế gian phù hoa.”

Thế nên, sự khôn ngoan như mời gọi ta hãy sống thanh thoát với cuộc đời, đừng quá bon chen thú vui hay lợi danh, vì khi chết có mang theo được gì đâu?

“Cuộc sống mong manh chớ ham lợi danh, ngày mai chết đi sẽ mang được gì?”

Tháng 11 là tháng để nhớ và cầu nguyện cho những người đã chết.  Họ đã về với Chúa, với họ là niềm vui, vì được chuyển đổi từ sự sống tạm trần gian qua sự sống vĩnh cửu quê trời, được chuyển đổi nơi trần đời bi ai đầy nước mắt để tiến vào thiên đàng vĩnh phúc.  Có lẽ, nếu được nghe thì họ sẽ đang nói với chúng ta như nhà văn John Bun-y-an đã nói: “Các bạn đừng than khóc cho tôi.  Tôi sẽ về nhà đời đời nơi Đức Chúa Trời là Cha Đức Giêsu Kytô: Ngài sẽ tiếp rước tôi dù tôi là một tội nhân bởi công lao cứu chuộc của Con Ngài.  Tôi tin rằng, chẳng bao lâu nữa sẽ gặp nhau trên nước sáng láng của Chúa để hát bài ca mới và sống hạnh phúc trong cõi đời đời.”

Thế nhưng, trong thân phận con người ai cũng có yếu đuối cần được ân hưởng máu cứu chuộc của Con Thiên Chúa, vì “ai nên khôn mà không dại một lần.”  Ai cũng cần được thanh luyện trong tình thương của Chúa.  Vì thế, trong tình liên đới giữa người với người, và nhất là trong đạo hiếu Việt Nam luôn mời gọi con cái hãy biết đền ơn đáp nghĩa mẹ cha qua những thánh lễ cầu nguyện cho những người đã khuất, qua những hy sinh bác ái để lập công đền tội cho các tiền nhân.  Nhớ đến công lao cha mẹ không chỉ bằng những giọt nước mắt nuối tiếc mà cần phải tỏ lòng hiếu thảo qua lời kinh cầu hằng đêm và qua những việc lành phúc đức chúng ta làm cho cha mẹ mới là tấm lòng hiếu thảo mà tổ tiên đang cần nơi con cháu chúng ta.

Ước mong khi nhìn về kiếp người mong manh ta hãy cầu nguyện cho những người đã khuất hôm nay để ngày mai sẽ gặp nhau trên quê trời.  Chúng ta hãy tín thác ông bà cha mẹ và những người thân hữu đã qua đời nơi tình thương quan phòng của Chúa.  Amen!

Lm. Jos Tạ duy Tuyền

From Langthangchieutim

HÃY SỐNG TRONG SỰ THẬT

HÃY SỐNG TRONG SỰ THẬT

Đêm kia tại một làng đánh cá bên Ấn Độ, một ngư phủ nghèo lẻn vào trong hồ cá của một người nhà giàu để thả lưới.  Nhưng chưa kịp kéo lưới lên thì bị người giàu phát hiện.  Người này cho gia nhân bủa đi khắp nơi quanh cái hồ mênh mông của mình để bắt cho bằng được tên trộm. 

Đám gia nhân đốt đuốc đi tìm khắp nơi mà không thấy bóng dáng tên trộm đâu cả.  Trong khi đó thì anh ngư phủ nghèo lấy tro rắc lên đầy mình và đến ngồi dưới một gốc cây gần đó y hệt một nhà hiền triết hay một đạo sĩ.

 Sau nhiều giờ tìm kiếm, đám gia nhân không thấy kẻ trộm mà chỉ thấy một đạo sĩ ngồi dưới gốc cây đang đắm mình trong suy tư và cầu nguyện.  Chỉ một ngày hôm sau tiếng đồn đã vang đi khắp nơi rằng có một đạo sĩ đang tu luyện dưới gốc cây bên bờ hồ của nhà phú hộ.

 Thế là thiện nam tín nữ từ các ngã đường đổ xô đến gốc cây để chiêm ngưỡng vị tu hành.  Người thì mang hoa quả, kẻ thì mang tiền bạc.  Không mấy chốc mà quà cáp tuôn đổ tràn lan quanh nhà tu hành bất đắc dĩ.

 Nhà tu hành mới nhủ thầm trong bụng: Thà đánh lừa bà con để sống còn hơn là đánh cá suốt ngày mà chẳng được gì.  Nghĩ như thế rồi, ông ta tiếp tục đóng vai tu hành, ngày đêm tụng niệm và chờ đợi sự tiếp tế của dân làng.

 Anh chị em thân mến, “Chiếc áo không làm nên thầy tu.”  Người đánh cá bất đắc dĩ phải trở thành vị tu hành trên đây có thể là một hình ảnh không xa lạ bao nhiêu đối với chúng ta.  Một cách nào đó, có khi chúng ta cũng sơn vẽ cho mình một nước áo đạo đức để đánh lừa bà con và đánh lừa chính mình như những Luật Sĩ và Pharisêu giả hình mà hôm nay Chúa Giêsu kịch liệt chống đối.  Họ thường phô trương, tự phụ, tranh giành địa vị, tìm kiếm danh vọng.  Họ chép những câu Kinh Thánh đeo lên trán, buộc vào cổ tay, để chứng tỏ họ ghi nhớ và tuân giữ luật hơn bất cứ ai khác.  Khi đi dự tiệc, họ phải ngồi vào chỗ danh dự.  Ở Hội đường, họ phải ngồi chỗ nhất và ở nơi công cộng, họ đòi được chào kính, xưng hô là Thầy.  Họ muốn tôn mình lên cao hơn mọi người.

Ngược lại với thái độ đạo đức giả và kiêu căng tự phụ của những Luật Sĩ và Pharisêu.  Chúa Giêsu đưa ra cho các môn đệ và cũng là cho cộng đoàn Kitô hữu chúng ta, một thái độ sống chân thật: đó là phong cách thể hiện tình huynh đệ, sự bình đẳng và tinh thần phục vụ.  “Anh em chỉ có một Thầy, một vị lãnh đạo, là Đức Kitô.  Anh em chỉ có một Cha, là Cha trên trời.  Còn tất cả anh em đều là anh em với nhau.”  Vì thế, “trong anh em, người làm lớn hơn cả phải làm đầy tớ anh em”.

Thưa anh chị em, đọc đoạn Tin Mừng hôm nay, tất cả Giáo Hội của Chúa Kitô, từ giáo hoàng, giám mục, linh mục, tu sĩ đến giáo dân phải bình tâm suy nghĩ.  Những lời Chúa nói trước các Luật sĩ và Pharisêu ngày xưa phải có tiếng vọng đến chúng ta ngày nay.  Pharisêu không còn, nhưng não trạng pharisêu chưa chết, vẫn còn sống mãi.  Giáo Hội qua các thời đại phải nhìn nhận rằng những phô trương lòe loẹt, chủ nghĩa hiếu thắng trần tục (triomphalisme) đã đi vào trong hàng ngũ Giáo Hội.  Những chức tước, áo mũ cân đai, cờ quạt, kiệu rước… đã làm hoen ố đi hình ảnh một Giáo Hội chân thật, một “Giáo Hội nghèo của người nghèo.”  Công Đồng Vatican II đã bỏ đi nhiều những điều phù phiếm đó và muốn cho Giáo Hội mang khuôn mặt đích thực của Chúa Kitô khiêm tốn, phục vụ.

Đức Cha Bernard Topel (1903-1986) Giám Mục giáo phận Spokane, Wa. Hoa Kỳ, đã viết trên báo của Giáo phận: “Trong thời kỳ họp Công Đồng, các Giám Mục thường hay nói về Giáo Hội như Giáo Hội của người nghèo, tôi nghe mà sinh bối rối, vì tôi chưa thấy chúng ta là Giáo Hội của người nghèo chút nào cả!”  Từ cái bối rối này, Đức Cha Topel đã thực thi Công Đồng cách quyết liệt gần như Thánh Phanxicô Assisi thực thi Tin Mừng: Đức Cha đã bán Tòa Giám Mục, nhẫn vàng, thánh giá, giây đeo và gậy cẩn ngọc thạch để lấy tiền giúp người nghèo.  Với bốn ngàn đô, Ngài mua một căn nhà ở ngõ cụt để làm tư dinh.  Sau giờ làm việc, Ngài về làm vườn, trồng rau, xin đầu cá nấu ăn.  Nhiều người không tán đồng, họ nói: “Vua thì phải sống cho ra Vua, Chúa thì phải sống cho ra Chúa, Giám mục thì phải sống cho Giám mục.”  Nguyên là thạc sĩ toán học, Đức Cha trả lời: “Không phải là kết toán làm thành bài toán.  Bài toán chúng ta là phải trừ, chia và nhân: phải bớt tiêu xài xa hoa, để chia sẻ với những người nghèo khó, và nhân thêm niềm hy vọng sống xứng đáng cho họ.”

 “Trong anh em, ai lớn hơn cả phải là người tôi tớ phục vụ.”  Trong Nước Trời, không ai có quyền thống trị kẻ khác, tất cả chúng ta đều là anh em.  Ngay cả việc hành xử quyền bính, cho dù thuộc phạm vi dân sự hay tôn giáo, cũng chỉ là một hình thức phục vụ, Đức Giáo Hoàng tự nhận là “Tôi tớ của các tôi tớ” (Servus servorum).  Người cha, người mẹ trong gia đình, sở dĩ được các con cái quý mến là vì biết tận tụy phục vụ, hy sinh cho con cái.  Càng cho đi, càng được nhận lại, càng cho đi nhiều, càng được nhận lại nhiều hơn.  Chúa Giêsu đã dạy cho các môn đệ.  Ngài đã tự hạ, vâng phục cho đến chết trên thập giá vì yêu thương loài người chúng ta.  Chính vì thế, Ngài đã được siêu tôn là Đức Chúa: “Ai tự hạ mình xuống, sẽ được tôn lên.  Ai tự tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống”.

Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu tỏ ra thông cảm và khoan dung đối với mọi người tội lỗi, mọi hèn yếu của con người.  Nhưng Ngài lại có thái độ khe khắt đối với thói giả hình của những người Pharisêu.  Ngài không ngừng kêu gọi các môn đệ của Ngài cẩn thận giữ mình kẻo vướng lây phải thói tật đáng ghét này.  Chúng ta giữ đạo, nhưng có lẽ chưa sống đạo.  Có khi chúng ta mang lớp sơn đạo đức bên ngoài mà thiếu thực chất của một lòng đạo đức chân thật bên trong.  Hãy sống trong sự thật trước mặt Chúa và anh chị em.  Nhờ khiêm tốn và phục vụ, chúng ta sẽ sống theo đúng đường lối của Chúa và dễ dàng sống với anh em như đòi hỏi của đức ái: mến Chúa – yêu người.

Trích trong “Niềm Vui Chia Sẻ”

From Langthangchieutim

NÊN THÁNH GIỮA ĐỜI

NÊN THÁNH GIỮA ĐỜI

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Theo giáo lý Công giáo, các thánh là những người sống tốt lành đạo đức trong cuộc sống trần gian, và nay, sau khi đã kết thúc hành trình trần thế, họ đang được hưởng hạnh phúc thiên đàng.  Khi sống ở đời này, họ đã kiên trì cộng tác với ơn Chúa, nỗ lực cố gắng để vượt qua những cám dỗ đời thường và sống trọn lành, thanh tịnh.  Giáo Hội Công giáo tôn những tín hữu này là những đấng thánh, vì họ phản ánh trung thành sự thánh thiện của Thiên Chúa.  Có những vị thánh đã trung kiên theo Chúa và làm chứng cho Ngài, dù phải đổ máu, như trường hợp các thánh tử đạo.  Các vị thánh theo đúng nghĩa là những vị được tôn phong và được tôn kính trên các bàn thờ.  Cũng có những vị thánh, dù không được Giáo Hội phong thánh, nhưng trước mặt Chúa, họ tinh tuyền thánh thiện và đang cùng với triều thần ca ngợi vinh quang của Đấng Tối Cao.  Trong số đó, có những người thân của chúng ta, có những người suốt đời âm thầm gieo hạt công bình bác ái, có những người chỉ đơn giản chu toàn bổn phận của mình một cách trọn vẹn, có những người dù nghèo khổ, cơ hàn, bệnh tật, nhưng vẫn vững một niềm cậy trông.

Từ buổi sơ khai của Giáo Hội, những người tin Chúa và gia nhập Đạo được gọi là “các thánh” hoặc “dân thánh.”  Thánh Phaolô, trong các thư giáo huấn của ngài, đã để lại cho chúng ta những chứng từ này (x. 1Cr 1,2).  Họ hiệp thông với nhau trong kinh nguyện, trong đời sống và trong những nghĩa cử chia sẻ bác ái.  Nhờ lời giảng dạy của các tông đồ, họ say sưa tìm kiếm Đấng quyền năng vô biên mà họ gọi là Thiên Chúa.  Ngài là Đấng ngàn trùng chí thánh, hoặc là Nguồn của mọi cội nguồn.  Đức tin khẳng định với họ, Thiên Chúa là Đấng tạo dựng vũ trụ muôn loài.  Con tim nói với họ, Chúa là Đấng đáng yêu mến và kính tin.  Hành trình đức tin của họ cũng là hành trình tìm kiếm Chúa.  Những con tim khao khát Chúa chẳng bao giờ thỏa mãn, vì càng khám phá ra Chúa, thì lòng ao ước muốn kết hợp lại càng thâm sâu mãnh liệt hơn.  Thánh Augustinô là một ví dụ điển hình.  Ngài đã viết: “Lạy Chúa, Ngài đã dựng nên chúng con để hướng về Ngài và tâm hồn chúng con không nghỉ ngơi cho đến khi nghỉ yên trong Ngài.”

Nên thánh là mục đích của đời sống Kitô hữu. “Chúng con hãy nên thánh, vì Ta là Thánh” (Lv 11,45).  Đó là lời mời gọi từ thời Cựu ước.  Chúa Giêsu không tách biệt khỏi giáo huấn của truyền thống, Người tiếp nối lời mời gọi ấy: “Hãy nên thánh thiện như Cha các con trên trời là Đấng thánh thiện” (Mt 5,48).  Nên thánh vừa là một chuỗi cảm nghiệm sự ngọt ngào của ân sủng, vừa là một cuộc chiến đấu gian nan không ngừng.  Bởi lẽ, con người sống ở trần gian như giữa sóng cả ba đào, phải khôn ngoan bền chí mới có thể đứng vững.  Sống trên đời là đi vào cuộc giao tranh khốc liệt giữa thánh thiện và tội lỗi, giữa cái thanh tao và dung tục, giữa ánh sáng và tội lỗi, giữa chọn lựa Thiên Chúa và chọn lựa thế gian.  Cuộc giao tranh ấy xảy đến mỗi ngày, rất nghiệt ngã cam go.  Trong lịch sử, có nhiều người đã kiên gan trung tín, chiến thắng ba thù (ma quỷ, thế gian, xác thịt) để nên hoàn thiện.  Tuy vậy, cũng có những người không bền tâm vững chí, ngã gục trước những cám dỗ của cuộc đời.  Dù thế nào đi nữa, chúng ta vẫn không mất hy vọng.  Thiên Chúa là Cha yêu thương không bỏ rơi những ai cậy trông phó thác nơi Ngài. “Mỗi vị thánh đều có một quá khứ, mỗi tội nhân đều có một tương lai”, những người đã một thời lầm lỗi, nay nhận ra con đường chân lý để sám hối trở về, sẽ được Chúa yêu thương tha thứ và giang rộng vòng tay thân thương đón nhận.  Dụ ngôn “Người cha nhân hậu” trong Tin Mừng Thánh Luca đã chứng minh điều ấy.  Trong cuộc chiến đấu này chúng ta không đơn lẻ một mình, vì có Chúa luôn ở cùng với chúng ta.  Cùng với ơn Chúa, chúng ta còn sự nâng đỡ của cộng đoàn đông đảo các thánh trên trời, tức là những người đã đạt tới sự hoàn thiện.  Ngoài ra, chúng ta còn có tình hiệp thông huynh đệ của anh chị em tín hữu trong Giáo Hội, điều mà chúng ta gọi là “Mầu nhiệm các thánh cùng thông công.”  Nhờ sự hiệp thông huynh đệ này, chúng ta vững tin bước đi trong cuộc đời mà không còn sợ vấp ngã.

Nếu hiểu các thánh là những người, qua cuộc sống của mình, phản chiếu sự thánh thiện của Thiên Chúa Tối Cao, thì trong cuộc sống xung quanh ta, có rất nhiều vị thánh.  Thiên Chúa là Đấng Chí Thánh.  Ngài là nguồn mạch của sự thánh thiện.  Ngài là khởi nguyên của Chân, Thiện, Mỹ.  Tất cả những gì con người thực thi trong cuộc sống, nếu đó là những việc tốt, nhằm đem lại niềm vui và ích lợi cho mọi người, đều hướng về Thiên Chúa và đang góp phần xây dựng vương quốc của Thiên Chúa nơi trần gian.  Vương quốc của Thiên Chúa là vương quốc tình yêu, công bình, bác ái.  Vì vậy, những việc làm xây dựng công bình bác ái và nối kết yêu thương đều làm cho vương quốc ấy sớm được thực hiện nơi trần thế này.  Xung quanh chúng ta, có những người đang âm thầm làm việc góp phần xây dựng công ích.  Họ là những thiện nguyện viên, tham gia những hoạt động bảo vệ môi trường, giúp đỡ người nghèo, mở mang đường sá, khai thông cống rãnh.  Họ cũng là những chị lao công âm thầm làm việc, những bác xích lô nghèo nhưng chân chính thanh bạch.  Họ là những thày cô giáo, vượt non cao đem cho trẻ em vùng dân tộc thiểu số câu văn cái chữ, nhằm giúp các em hội nhập với thế giới hiện đại và có một tương lai tốt đẹp.  Họ còn là những nghệ sĩ, văn sĩ, thi sĩ, đam mê thể hiện cái đẹp qua các tác phẩm của mình, để rồi, giúp cho độc giả, thính giả và khán giả khám phá vẻ đẹp diệu kỳ của Đấng làm nên vẻ đẹp của thiên nhiên vũ trụ và cuộc sống con người.  Những người này đang cố gắng để diễn tả Chân, Thiện, Mỹ ở nhiều khía cạnh khác nhau.  Người tín hữu tin rằng, vinh quang của Thiên Chúa phản chiếu nơi con người và mọi tạo vật.  Bởi lẽ khi sáng tạo, Thiên Chúa đã nhận định “mọi sự là tốt đẹp” (x St 1,31).  Khi chuyên cần lao động cũng như khi để tâm suy tư và tâm huyết sáng tạo, người lao động nói chung và người nghệ sĩ nói riêng đang cố gắng để làm cho những điều tốt đẹp hiện hữu trong cuộc đời.  Thánh Gioan Phaolô II Giáo Hoàng đã viết: “Đẹp là hình thức bên ngoài của cái tốt, cũng như tốt là điều kiện siêu hình của cái đẹp.  Người Hy Lạp rất hiểu rõ việc này, nên họ kết hợp hai khái niệm ấy, tạo nên một thuật ngữ bao gồm cả hai khái niệm đó là “kalok-agathia” hay “tốt đẹp”(Thư gửi các nghệ sĩ, năm 1999, số 3).  Ngài còn viết: “Bởi đó, Thiên Chúa cho con người hiện hữu, trao cho con người nhiệm vụ của những nghệ nhân.  Chính qua hoạt động sáng tạo nghệ thuật ấy mà hơn bao giờ hết, con người cho thấy mình “giống Thiên Chúa” (Sđd, số 1).  Cái đẹp giúp ta nâng tâm hồn để gặp gỡ Đấng Tối Cao.  Nhà văn người Nga Dostoievski còn khẳng định: “Cái đẹp cứu chuộc thế giới.”  Trong xã hội hôm nay, người ta có khuynh hướng để ý nhiều đến những vụ việc gây ấn tượng mạnh, hay những tin tức giật gân.  Nhiều người cũng thường chú trọng đến những thông tin hoặc vấn đề tiêu cực mà không quan tâm đến những việc tích cực.  Quả vậy, công bằng mà nói, dù cuộc sống này có nhiều xáo trộn, bạo lực, nhưng đây đó vẫn có những cá nhân hay tập thể đang âm thầm làm cho cuộc sống thêm tốt đẹp.  Họ làm việc mà không cần được tôn vinh ca ngợi.  Dù thuộc tín ngưỡng tôn giáo nào, họ đang góp phần phản ánh sự thánh thiện của Thượng Đế.  Họ là những vị thánh giữa đời.

Không có ai sinh ra đã đương nhiên trở thành thánh.  Nên thánh là kết quả của những cố gắng suốt cuộc đời.  Mỗi chúng ta đều được mời gọi đạt tới mục tiêu cao cả ấy.  Hãy nên thánh từ ngày hôm nay, trong hoàn cảnh và bổn phận cụ thể của mỗi người, âm thầm, khiêm tốn, nhưng có giá trị giúp chúng ta nên hoàn thiện.  Hãy trở nên những vị thánh giữa đời, để trần gian này trở thành vương quốc bình an và công chính, là phác thảo của đời sau, nơi chúng ta sẽ được gặp gỡ, chiêm ngưỡng và tôn vinh Thiên Chúa, Đấng ngàn trùng chí thánh.  Ngài là mẫu mực và là Cha Chung của chúng ta.

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

DẤU CHỈ THỜI CÁNH CHUNG

DẤU CHỈ THỜI CÁNH CHUNG

Nhiều người cố gắng xác định thời gian trở lại của Đức Kitô nhưng rồi chẳng ai đoán đúng. Trật lất hết ráo. Chúng ta cũng đã biết tình trạng này trong những năm vừa qua!

Cuộc tái lâm của Chúa Giêsu là lúc Chúa Giêsu trở lại thế gian, sau khi Ngài đã về trời, khi đó Ngài sẽ chiến thắng kẻ thù, tiêu diệt ma quỷ và thiết lập Vương Quốc vĩnh hằng.

Cuộc tái lâm của Chúa Giêsu đã được mô tả trong sách Khải Huyền: “Bấy giờ tôi thấy trời rộng mở: kìa một con ngựa trắng, và người cỡi ngựa mang tên là ‘Trung thành và Chân thật’, Người theo công lý mà xét xử và giao chiến. Mắt Người như ngọn lửa hồng, đầu Người đội nhiều vương miện, Người mang một danh hiệu viết trên mình, mà ngoài Người ra chẳng ai biết được. Người khoác một áo choàng đẫm máu, và danh hiệu của Người là: ‘Lời của Thiên Chúa’. Các đạo quân thiên quốc đi theo Người, họ cỡi ngựa trắng, mặc áo vải gai mịn trắng tinh. Từ miệng Người phóng ra một thanh gươm sắc bén để chém muôn nước. Chính Người sẽ dùng trượng sắt mà chăn dắt chúng. Người đạp trong bồn đạp nho chứa thứ rượu là cơn lôi đình thịnh nộ của Thiên Chúa Toàn Năng. Người mang một danh hiệu viết trên áo choàng và trên vế: Vua các vua, Chúa các chúa” (Kh 19:11-16).

Là Kitô hữu, chúng ta tin Chúa Giêsu sẽ trở lại để hoàn tất lời hứa của Ngài và các lời tiên tri đã nói về Ngài. Mt 24:30 cho biết về lời hứa này: “Bấy giờ, dấu hiệu của Con Người sẽ xuất hiện trên trời; bấy giờ mọi chi tộc trên mặt đất sẽ đấm ngực và sẽ thấy Con Người rất uy nghi vinh hiển ngự giá mây trời mà đến”. Chúng ta không biết chi tiết về cuộc tái lâm của Chúa Giêsu, nhưng Kinh Thánh cho chúng ta biết thông tin chủ yếu về điều đó, tức là lời hứa Chúa Giêsu đã dành cho chúng ta.

Đây là 7 dấu chỉ về cuộc tái lâm của Chúa Giêsu:

  1. CÁC TIÊN TRI GIẢ

Đừng để bị lừa. Chính Chúa Giêsu đã cho biết chiều hướng và dấu chỉ tiên báo cuộc tái lâm của Ngài. Một trong các dấu chỉ là thế lực của một tôn giáo giả dối có ảnh hưởng mạnh. Chúng ta có thể biết hệ thống này trong chương 17 của sách Khải Huyền, nó được gọi là “Con Điếm khét tiếng”.

Một trong bảy thiên thần nói với Thánh Gioan: “Lại đây, tôi sẽ chỉ cho ông thấy Con Điếm khét tiếng, đang ngồi bên những làn nước mênh mông, bị xét xử như thế nào. Vua chúa trần gian đã làm chuyện gian dâm với nó, và những người sống trên mặt đất đã say vì thứ rượu là sự gian dâm của nó” (Kh 17:1-2). Tiên tri giả này sẽ hướng dẫn hệ thống đó. Thánh Phaolô cũng cảnh báo: “Nếu có ai bảo rằng chúng tôi đã được thần khí mặc khải, hoặc đã nói, đã viết thư quả quyết rằng ngày của Chúa gần đến, anh em đừng vội để cho tinh thần dao động, cũng đừng hoảng sợ” (2 Tx 2:3).

Chúa Giêsu đã cảnh báo chúng ta rằng trong những ngày cuối cùng, các Kitô giả sẽ nổi dậy, giả danh là Mêsia và tự xưng là người cứu độ thế giới. Thánh sử Mátthêu cho biết: “Đức Giêsu đáp: ‘Anh em hãy coi chừng, đừng để ai lừa gạt anh em, vì sẽ có nhiều kẻ mạo danh Thầy đến nói rằng: ‘Chính Ta đây là Đấng Kitô’, và họ sẽ lừa gạt được nhiều người” (Mt 24:4-5). Ngay trước khi chịu đóng đinh, Chúa Giêsu đã đã có sứ điệp quan trọng nói về các sự kiện sẽ xảy ra vào cuối thời, ngay trước khi Ngài tái lâm. Trong các sự kiện đó là sự xuất hiện của các tiên tri giả và và các Kitô giả. Chúa Giêsu cũng đã nhấn mạnh rằng các Kitô giả này sẽ làm các điềm thiêng dấu lạ, các phép lạ, và lừa bịp người ta.

  1. CHIẾN TRANH KHẮP NƠI

Chúa Giêsu nói trước rằng trước khi Ngài trở lại sẽ xảy ra “chiến tranh và tin đồn về chiến tranh”. Những người đa nghi và những người nhạo báng có thể nói: “Ôi dào! Chẳng lúc nào không có chiến tranh!”. Đúng vậy, hiếm khi người ta sống trong an bình. Nhưng trong thời buổi hiện đại ngày nay, có sự khác biệt – chỉ mới khoảng 70 năm qua mới có kỹ thuật, nhưng người ta lại tìm cách hủy diệt nhau bằng vũ khí hạt nhân, vũ khí hóa học, vũ khí sinh học.

Khi đọc cách mô tả về chiến tranh thời cuối cùng trong sách Khải Huyền, chúng ta thấy rằng trong thời cuối cùng, chiến tranh không chỉ là mối quan ngại của vùng miền, mà là cả thế giới. Chúng ta hy vọng Đức Kitô trở lại để cứu thoát chúng ta khỏi sự hủy diệt đó và mở ra một vương quốc mới trên trái đất.

  1. NGÀI TỪ TRỜI TRỞ LẠI

Chúa Giêsu đã nói về sự trở lại của Ngài khi Ngài thi hành sứ vụ trên trái đất này. Theo Ngài, mục đích của việc Ngài lên trời là để tiếp nhận Vương Quốc từ Chúa Cha, Ngài sẽ trở lại với quyền cai trị toàn cõi đất. also tells us that Jesus will not return alone. Kinh Thánh cho biết: “Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người” (Mt 25:31). Không chỉ có một số ít thiên thần mà có “tất cả các thiên thần” theo hầu khi Ngài tái lâm.

  1. NGÀI XUẤT HIỆN TRÊN TRỜI

Kinh Thánh cho chúng ta biết về cuộc tái lâm của Chúa Giêsu, nhưng chúng ta không biết lúc nào Ngài trở lại và xuất hiện trên trời. Nhiều người đã cố gắng xác định thời điểm trở lại của Đức Kitô nhưng tất cả đều sai bét. Trên Núi Ô-liu, Chúa Giêsu đã nói với các tông đồ rằng “không ai biết ngày giờ đó, kể cả chính Con Người và các thiên sứ” (Mt 24:36), thế thì không ai có thể biết thời điểm Chúa Giêsu tái lâm.

Tuy nhiên, Chúa Giêsu cho chúng ta biết rằng Ngài sắp trở lại: “Ngay sau những ngày gian nan ấy, thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống và các quyền lực trên trời bị lay chuyển. Bấy giờ, dấu hiệu của Con Người sẽ xuất hiện trên trời; bấy giờ mọi chi tộc trên mặt đất sẽ đấm ngực và sẽ thấy Con Người rất uy nghi vinh hiển ngự giá mây trời mà đến” (Mt 24:29-30). Đó là dấu chỉ chính xác lúc Chúa Giêsu quang lâm, thời điểm tận thế.

  1. KẺ NHẠO BÁNG XUẤT HIỆN

Thánh Phêrô đã nói tiên tri: “Trước tiên, anh em hãy biết điều này: trong những ngày sau hết, sẽ xuất hiện những kẻ nhạo báng chê cười, sống theo những đam mê riêng của họ. Họ nói: ‘Đâu rồi lời Người hứa sẽ quang lâm? Vì từ ngày các bậc cha ông an nghỉ, mọi sự vẫn y nguyên như khi trời đất mới được tạo thành’. Thật vậy, họ không muốn biết rằng từ lâu đã có trời và đất, và đất từ nước mà ra và nhờ nước mà đứng vững do lời của Thiên Chúa. Cũng vì các nguyên cớ ấy, thế gian thời đó đã tiêu vong trong cơn hồng thuỷ. Còn trời và đất hiện nay, cũng chính lời ấy giữ lại, dành cho lửa trong ngày phán xét, ngày những kẻ vô luân phải diệt vong” (2 Pr 3:3-7).

Thánh Phêrô cho biết thêm: “Anh em thân mến, một điều duy nhất, xin anh em đừng quên: đối với Chúa, một ngày ví thể ngàn năm, ngàn năm cũng tựa một ngày. Chúa không chậm trễ thực hiện lời hứa, như có kẻ cho là Người chậm trễ. Kỳ thực, Người kiên nhẫn đối với anh em, vì Người không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người đi tới chỗ ăn năn hối cải. Nhưng ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm. Ngày đó, các tầng trời sẽ ầm ầm sụp đổ, ngũ hành bốc cháy tiêu tan, mặt đất và các công trình trên đó sẽ bị thiêu huỷ” (2 Pr 3:8-10).

  1. KHẢ THỊ và KHẢ THÍNH

Khi Chúa Giêsu trở lại, mọi thứ đều khả thị và khả thính. Mt 24:31 nói về các thiên thần “thổi loa vang dội từ chân trời này tới chân trời kia”, đó là tiếng loa “tập hợp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương”. Thánh Phaolô cũng nói về tiếng loa vang dội đó: “Vì khi hiệu lệnh ban ra, khi tiếng tổng lãnh thiên thần và tiếng kèn của Thiên Chúa vang lên, thì chính Chúa sẽ từ trời ngự xuống, và những người đã chết trong Đức Kitô sẽ sống lại trước tiên”(1 Tx 4:16). Sách Khải Huyền cho chúng ta biết rằng Ngài sẽ được cả thế giới nhìn thấy: “Kìa, Người ngự đến giữa đám mây. Ai nấy sẽ thấy Người, cả những kẻ đã đâm Người. Mọi dân trên mặt đất sẽ đấm ngực than khóc khi thấy Người. Đúng thế! A-men!” (Kh 1:7).

Chúng ta đã được Chúa Giêsu cảnh báo về các tiên tri giả, điều này được Thánh Mátthêu ghi lại: “Vậy, nếu người ta bảo anh em: ‘Này, Người ở trong hoang địa’, anh em chớ ra đó; ‘Kìa, Người ở trong phòng kín’, anh em cũng đừng tin. Vì, như chớp loé ra từ phương đông và chiếu sáng đến phương tây thế nào thì cuộc quang lâm của Con Người cũng sẽ như vậy. Xác chết nằm đâu, diều hâu tụ đó” (Mt 24:26-28).

  1. KHÁC LẦN THỨ NHẤT

Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng cuộc tái lâm của Chúa Giêsu sẽ đầy quyền năng và vinh quang rực rỡ. Khi Chúa Giêsu đến thế gian lần thứ nhất, Ngài tự hạ, sinh nơi Belem và sống nghèo khó. Tuy nhiên, khi Ngài trở lại, Ngài sẽ là Vua của các vua và Chúa của các chúa. Vào ngày Ngài tái lâm trong vinh quang hiển hách, cả thế giới sẽ nhận biết Chúa Giêsu là ai. Sự khiêm nhường nổi bật trong khi Chúa Giêsu đến thế gian lần thứ nhất, vẻ vinh quang chói lọi nổi bật trong khi Ngài đến thế gian lần thứ hai. Cuộc tái lâm của Ngài sẽ hiển hách, có các thiên thần và các thánh hộ tống.

TRẦM THIÊN THU

 (chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

Đêm 8-10-2017

Phúc cho những người chết trong Chúa

Buổi tiếp kiến chung của Đức Thánh Cha, 18-10-2017
 

 

VATICAN. Trong buổi tiếp kiến chung 30.000 tín hữu hành hương, sáng ngày 18-10-2017, ĐTC mời gọi các tín hữu giữ vững hy vọng đứng trước cái chết.

Mở đầu buổi tiếp kiến, mọi người nghe đọc bài Tin Mừng theo Thánh Gioan (11,23-27) kể lại đối thoại giữa Chúa Giêsu và hai bà chị của ông Lazarô mới qua đời và được Chúa cho sống lại. “Tôi là sự sống lại và là sự sống…!”

Trong bài huấn dụ, ĐTC nói về đề tài “Phúc cho những người chết trong Chúa”. Đây là bài thứ 37 trong loạt bài giáo lý về đức hy vọng Kitô giáo.

Bài giáo lý của ĐTC

“Hôm nay tôi muốn đối chiếu niềm hy vọng Kitô với thực tại sự chết, một thực tại mà nền văn minh tân tiến ngày nay ngày càng có xu hướng xóa bỏ. Vì thế, khi cái chết đến, những người ở cạnh chúng ta hoặc chính chúng ta không được chuẩn bị và thiếu cả những kiến thức sơ đẳng thích hợp để nói lên những lời ý nghĩa về mầu nhiệm sự chết, mầu nhiệm này dầu sao đi nữa vẫn còn nguyên. Tuy nhiên, những dấu chỉ đầu tiên của nền văn minh nhân loại được diễn tả qua mầu nhiệm cái chết. Chúng ta có thể nói rằng con người đã sinh ra cùng với sự tôn kính người chết.

Các nền văn minh khác, cổ kính hơn nền văn minh chúng ta, đã có can đảm nhìn thẳng vào cái chết. Đó là một biến cố được những người cao niên kể lại cho các thế hệ trẻ, như một thực tại không thể tránh né được, buộc con người phải sống một cái gì đó tuyệt đối. Thánh vịnh thứ 90 nói: “Xin dạy chúng con đếm những ngày đời và chúng con sẽ được một tâm hồn khôn ngoan.” (c. 12). Những lời này đưa chúng ta đến một thái độ thực tiễn lành mạnh, xua đuổi sự ham ước được toàn năng. Chúng ta “hầu như là hư vô”, như một thánh vịnh khác vẫn nói (x. 88,48); những ngày đời chúng ta qua mau: giả sử chúng ta sống trăm tuổi đi nữa, nhưng rốt cuộc chúng ta thấy tất cả chỉ là một hơi thở thoáng qua.

Vì thế, cái chết vạch trần cuộc đời chúng ta. Làm cho chúng ta khám phá thấy rằng những hành động kiêu hãnh, giận dữ và oán ghét chỉ là hư vô. Chúng ta cay đắng nhận thấy mình đã không yêu thương cho đủ và đã không tìm kiếm những gì là thiết yếu. Và trái lại, chúng ta thấy điều thực sự tốt lành mà chúng ta đã gieo vãi: đó là những tình cảm quý mến đối với những người mà chúng ta hy sinh cho, và giờ đây họ đang cầm tay chúng ta.

Thái độ của Chúa Giêsu trước cái chết

Chúa Giêsu đã soi sáng mầu nhiệm cái chết của chúng ta. Qua cách cư xử của Ngài, Chúa cho chúng ta cảm thấy đau khổ khi một người thân ra đi. Ngài cũng cảm thấy sao xuyến sâu xa trước ngôi mộ người bạn Lazarô của ngài, và bật khóc (Ga 11,35). Qua thái độ đó, chúng ta thấy Chúa Giêsu rất gần gũi, như người anh của chúng ta.

Và lúc đó Chúa Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha, là nguồn mạch sự sống, và truyền cho Lazarô ra khỏi mồ. Và đã xảy ra như vậy. Niềm hy vọng Kitô kín múc từ thái độ của Chúa Giêsu đối với cái chết của con người: tuy cái chết ấy hiện diện trong chương trình tạo dựng, nhưng nó không phải là vệt làm ô danh kế hoạch tình thương của Thiên Chúa, Đấng Cứu Thế muốn chữa chúng ta khỏi điều ấy.

Ở một số nơi khác, các sách Tin Mừng kể lại một người cha có một đứa con cái bị bệnh nặng, và với lòng tin, ông cầu xin Chúa Giêsu chữa con ông (x. Mc 5,21-24.35-43). Không có hình ảnh nào cảm động hơn hình ảnh một người cha, hoặc một người mẹ với đứa con bị bệnh. Và tức khắc Chúa Giêsu lên đường với người ấy, ông tên là Giairo. Trên đường đi, có một người từ nhà ông Giairo đi tới nói rằng con gái của ông đã chết nên không cần phải làm phiền Thầy nữa. Nhưng Chúa Giêsu nói với ông Giairo: “Ông đừng sợ, nhưng hãy tin tưởng!” (Mc 5,36). Chúa Giêsu biết rằng người ấy bị cám dỗ phản ứng giận dữ và tuyệt vọng, và ngài khuyên ông giữ nguyên ngọn lửa nhỏ đã được đốt lên trong tâm hồn ông, đó là đức tin: “Đừng sợ, nhưng hãy giữ cho ngọn lửa ấy tiếp tục cháy sáng!” Rồi khi đến nhà, Chúa đã đánh thức em bé gái từ cõi chết và trở lại em bé còn sống cho những người thân của em.

Giêsu đặt chúng ta trên lằn ranh này của đức tin. Với bà Marta đang khóc vì em bà là Lazarô đã chết, ngài nêu lên ánh sáng của một tín điều: “Tôi là sự sống lại và là sự sống; ai tin tôi, thì dù có chết, cũng sẽ sống; ai sống mà tin tôi, thì sẽ không chết đời đời. Con có tin điều này không?” (Ga 11,25-26). Đó là điều Chúa Giêsu lập lại với mỗi người chúng ta mỗi khi cái chết xảy đến tước mất sự sống và những tình cảm quý mến. Toàn thể cuộc sống của chúng ta diễn ra giữa một bên là đức tin và bên kia là vực thẳm sợ hãi. “Tôi không phải là sự chết, tôi là sự sống lại và là sự sống, con có tin điều này không?”

Giữ vững đức tin trước cái chết

Tất cả chúng ta đều bé nhỏ và yếu đuối trước mầu nhiệm sự chết. Nhưng thật là hồng phúc nếu trong lúc ấy chúng ta giữ trong tâm hồn ngọn lửa đức tin! Chúa Giêsu sẽ cầm tay chúng ta, như ngài đã cầm tay con gái ông Giairô, và lặp lại một lần nữa “Talità kum” (Hỡi con nhỏ, hãy trỗi dậy!) (Mc 5,41). Chúa sẽ nói với chúng ta, với mỗi người chúng ta “Con hãy trỗi dậy, hãy sống lại!”

Đó là niềm hy vọng của chúng ta trước cái chết. Đối với người tin thì đó là một cánh cửa hoàn toàn mở toang; đối với người nghi ngờ, thì đó là một tia sáng lọt qua một cửa hé mở, không bị khép kín hoàn toàn. Nhưng đối với tất cả chúng ta đó sẽ là một ân phúc, khi ánh sáng này soi sáng cho chúng ta.

Chào thăm

Sau bài giáo lý bằng tiếng Ý trên đây, các LM thông dịch viên lần lượt tóm lược trong các sinh ngữ khác nhau cùng với những lời chào thăm và nhắn nhủ của ĐTC.

Bằng tiếng Pháp, ngài đặc biệt chào thăm các học sinh thuộc nhiều trường học ở Pháp, cũng như các tín hữu hành hương đến từ Thuỵ Sĩ. Ngài nói: Khi cuộc sống chúng ta gặp phải những thử thách và đau khổ, chúng ta hãy nhớ rằng Chúa Giêsu đã nói với chúng ta: “Thầy là sự sống lại và là sự sống.” Tôi cầu nguyện để cuộc hành hương của anh chị em ở Roma giúp anh chị em luôn giữa cho ngọn lửa đức tin và hy vọng luôn cháy sáng trong tâm hồn anh chị em.

Bằng tiếng Anh, ĐTC nhắc đến các tín hữu đến từ nhiều nước như Anh quốc, Ecosse, Malta, Hoà Lan, Na Uy, Thuỵ Điển, Nga, Trung Quốc, Hoa Kỳ và nhiều nước khác, đồng thời ngài nói: Xin Chúa Kitô củng cố anh chị em và gia đình trong đức tin, biến anh chị em thành những chứng nhân hy vọng trong thế giới ngày nay, đặc biệt đối với những người đang sống trong đau khổ.

Bằng tiếng Ý, Đức Thánh Cha chào thăm các tín hữu thuộc Giáo phận Conversano-Monopoli đến đây hành hương cùng với Đức GM giáo phận, nhân kỷ niệm Năm Thánh Mẫu của giáo phận.

Ngài cũng nhắn nhủ các bạn trẻ, các bệnh nhân và các đôi tân hôn: “Hôm nay là lễ kính Thánh Luca, Thánh sử Tin Mừng và là y sĩ. Hỡi các bạn trẻ quý mến, ước gì chứng tá cuộc sống của Thánh Luca thúc giục chúng con có những chọn lựa can đảm về tình liên đới và dịu dàng. Hỡi anh chị em bệnh nhân, dựa theo giáo huấn của Thánh Luca, anh chị em có thể tìm thấy nơi Chúa Giêsu phương dược cho những đau khổ của anh chị em. Và hỡi anh chị em tân hôn, anh chị em hãy xin thánh Luca cầu bầu cho để cuộc sống gia đình mới của anh chị em không bao giờ thiếu sự quan tâm tới những ngừơi đau khổ.”
 

 
G. Trần Đức Anh OP
Nguồn: RV

C MARIA, MẪU GƯƠNG TRUYỀN GIÁO

ĐỨC MARIA, MẪU GƯƠNG TRUYỀN GIÁO

Đôi khi tôi tự hỏi, tại sao Chúa Nhật Truyền Giáo lại được nhắc đến trong tháng Mân Côi, tháng dâng kính Đức Mẹ, cùng với Đức Mẹ chiêm ngắm tình thương của Thiên Chúa, bằng những tràng chuỗi đơn sơ và thành kính nhất qua lối cầu nguyện theo Tin Mừng.  Những dòng suy niệm này trả lời cho tôi câu hỏi đó.

Những trang Tin Mừng về Đức Maria thật là phấn khởi cho trần thế chúng ta.  Có một người phụ nữ, mang trọn vẹn sứ điệp Tin Mừng của Thiên Chúa vào trong lòng nhân thế.  Nhân loại vui mừng bởi sự đón nhận này của Mẹ Maria, “để từ nay mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc.”  Thiên Chúa đã làm những kỳ công lớn lao nơi Mẹ, và còn làm những điều lớn lao ấy cho nhiều tâm hồn nhân thế chúng ta.

Sự chuẩn bị một tâm hồn vô tì tích là nhờ sự chuẩn bị của Thánh Thần, Chúa Thánh Thần thực hiện nơi Đức Maria những điều lớn lao, bởi Mẹ là người đã để Chúa Thánh Thần hoạt động và làm phát sinh hoa trái của Người.  “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ ngự xuống trên Bà” (Lc 1, 35), hoa trái của Chúa Thánh Thần là hoan lạc và bình an.  Mẹ đã mang hoan lạc và bình an của Thiên Chúa cắm rễ vào trong trái đất.  Maria, công trình tuyệt diệu của Chúa Thánh Thần thực hiện cho nhân loại, nhân thế có một con người được Chúa Thánh Thần chuẩn bị cho sự toàn vẹn để xứng đáng đón nhận Đức Giêsu, Con thiên Chúa vào trong lòng nhân thế, lịch sử đã đổi hướng đi về nguồn ơn cứu độ, về niềm vui của Thiên Chúa đã hứa từ ngàn xưa, và trở nên hiện thực trong sự cưu mang này.

Maria là người Mẹ truyền giáo đúng nghĩa nhất, bởi sự tinh tuyền của Mẹ, bởi Mẹ là kỳ công của Chúa Thánh Thần hoạt động trên trái đất này.  Mẹ đã đón nhận Con Thiên Chúa cho thế gian, và đưa Con Thiên Chúa vào trong thế gian, và đó là Tin Mừng đúng nghĩa nhất cho trần thế.  Từ nay, nhân loại nhận ra rằng: Sứ vụ truyền giáo là sứ vụ của người mang tin vui, tin cứu độ, tin được Thiên Chúa đoái thương.  Đức Giêsu Con lòng Mẹ, một Người Con của nhân loại, một người Con của Thiên Chúa là nguồn ơn cứu độ, suối trào niềm vui cho nhân thế.

Người loan báo Tin Mừng là người được Chúa Thánh Thần tác động cách đặc biệt trên cuộc đời của họ. “Đức Maria lên đường vội vã” (Lc 1, 39).  Sự vội vã của con người mang niềm vui khôn tả, thúc đẩy mau mắn lên đường, nhắc lại hình ảnh xưa Isaia đã tiên báo: “Đẹp thay trên núi đồi bước chân người loan báo tin mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ và nói với Sion rằng: “Thiên Chúa ngươi là vua hiển trị.” (Is 52, 7).  Đức Maria mang trọn niềm vui Đấng Cứu Độ mà nhân loại đón đợi, không thể không vui và niềm vui chất ngất, thúc đẩy lên đường loan báo tin vui.  Nếu trong lòng tôi và trong lòng bạn mang niềm vui ngập tràn như thế, tôi và bạn cũng sẽ vội vã lên đường loan báo.  Đức Maria trở nên người loan báo Tin Mừng đúng nghĩa bởi vì Mẹ mang trọn niềm vui Chúa Thánh Thần.  Ai để cho Chúa Thánh Thần hoạt động trong cuộc đời của mình cũng là người mang trọn niềm vui loan báo.

Không chỉ là loan báo mà thôi, Đức Maria còn là người công bố Tin Mừng.  Người công bố là người đã xác tín một cách chắc chắn về những gì Thiên Chúa đã làm cho mình.  Đức Maria đã nghiệm thấy như thế trong cuộc đời của Mẹ: “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi những điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn” (Lc 1, 49).  Thấy được tình thương Thiên Chúa thể hiện trong cuộc đời mình, người loan báo sẽ đi xa hơn nữa để công bố Tin Mừng Thiên Chúa đã làm cho mình.  Sự công bố mang một niềm tin xác tín, đã gặp và đã thấy.  Sứ vụ loan báo Tin Mừng hôm nay, cần chứng nghiệm nơi người loan báo Tin Mừng như thế, bởi vì người ta đang cần chứng nhân hơn thày dạy.  Đức Maria nhận ra bàn tay Toàn Năng của Thiên Chúa thực hiện trong cuộc đời của Mẹ, nên Mẹ là người công bố sứ điệp chắc chắn về Ơn Cứu Độ của Thiên Chúa cho nhân loại.

Niềm xác tín của Đức Maria mang một chiều kích rất riêng tư, nhờ Mẹ đã “hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 3, 51).  Cầu nguyện là chiêm ngắm những điều Thiên Chúa đã thực hiện nơi mình, là cuộc trao đổi, đối thoại giữa nhưng khó khăn, thử thách.  Đức Maria trở thành người công bố Tin Mừng, bởi Mẹ đã chiêm ngắm công trình của Thiên Chúa thực hiện cho dân tộc, cho chính Mẹ.  Sự chiêm ngắm, đối thoại dẫn đến một xác tín riêng tư chắc chắn để đi đến một công bố cho muôn người.  Con đường cầu nguyện của Đức Maria đã đi qua là con đường mời gọi những người truyền giáo hôm nay thực hiện.

Truyền giáo không là công cuộc cày xới những mảnh đất hoang, cũng không là công cuộc cải đạo cho những người khác niềm tin.  Đối với Đức Maria truyền giáo có nghĩa là đem chính Đức Giêsu cho nhân loại.  Đức Giêsu có là niềm vui cho bạn không?  Trước khi là niềm vui công bố cho người chung quanh bạn, trở lại niềm xác tín này chúng ta trở lại niềm xác tín của Đức Maria, khi Mẹ xác tín: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa” (Lc 1, 46).  Tràn ngập niềm hân hoan bởi Mẹ đã gặp thấy và cưu mang chính niềm vui của Đức Giêsu trong lòng Mẹ.  Đức Maria không mang niềm vui nào khác ngoài niềm vui: “Thần trí tôi hớn hở vui mừng trong Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi” (Lc 1, 47).  Niềm vui của Thiên Chúa trong ngày Thiên Chúa đoái thương, ngày nào không là ngày Thiên Chúa đoái thương, nhưng đôi lúc chúng ta lại quên mất cảm nghiệm thực sự điều này, để rồi sứ vụ truyền giáo của mỗi thành viên chúng ta cứ hoài dang dở.  Đức Maria đã mang chính Đức Giêsu, quà tặng tuyệt hảo nhất của Thiên Chúa, nguồn ơn cứu rỗi duy nhất, công bố, trao tặng cho nhân loại.

Dù là người loan báo, dù là người công bố Tin Mừng đi chăng nữa, Đức Maria luôn đặt mình dưới sự bảo trợ hoạt động của Chúa Thánh Thần.  Không thể tách rời Đức Maria khỏi hoạt động của Chúa Thánh Thần, dù Đức Maria có được như thế nào chăng nữa, Mẹ cũng luôn đặt mình trong tâm khảm của người: “phận nữ tỳ hèn mọn, Người đã đoái thương nhìn tới” (Lc 1, 48).  Người truyền giáo cũng thế, không thể tách rời Chúa Thánh Thần với hoạt động của mình được.  Ai có thể chinh phục sự sâu thẳm của lòng người quy hướng về Thiên Chúa, nếu đó không phải là tác động của Chúa Thánh Thần.  Chúa Thánh Thần mời gọi con người theo nhiều nẻo đường khác nhau, để quy tụ cho Thiên Chúa một Dân được thánh hiến.  Chúng ta là những dụng cụ Thiên Chúa dùng, và hãy đặt cuộc đời mình vào bàn tay của Thiên Chúa.

Không có công trình nào là thua mất cả với ánh mắt nhìn đức tin của Đức Maria, đôi khi gặp những người cứng cỏi quá sức, hãy phó dâng cho Thiên Chúa, như người gieo giống chỉ biết chờ đợi cho hạt giống nảy mầm.  Đức Maria đã nghiệm thấy điều này trong cuộc đời của Mẹ: “Chúa biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng” (Lc 1, 51).  Chúng ta cần biết chờ đợi điều Thiên Chúa sẽ cho mọc lên, sự chờ đợi là một bài học cuối kết thúc cho sứ vụ truyền giáo chúng ta học nơi Đức Maria.

Kính dâng Mẹ những suy nghĩ này, bởi hơn ai hết Mẹ là vị Thày tốt nhất dạy chúng con sống sứ vụ truyền giáo.

Lm Hoàng Kim Toàn

Kinh Mân Côi – Cuốn Kinh Thánh của Đời Ta

Kinh Mân Côi – Cuốn Kinh Thánh của Đời Ta

Lm. Giuse Trần Thanh Trung, O.Carm. 

Chúng ta đang ở trong tháng 10, là tháng Mân Côi. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng Hội Thánh đang mời gọi con cái mình đi sâu vào việc thực hành đạo đức bổ ích này qua việc dành riêng tháng 10 để kính Mẹ Mân Côi.

   Vì nơi việc cầu nguyện và suy ngắm Kinh Mân Côi chúng ta  khám phá được những mầu nhiệm lớn lao mà Thiên Chúa muốn tỏ cho chúng ta.

   Kinh Mân Côi được gọi là cuốn Kinh Thánh thu nhỏ thật cũng không quá! Vậy, nhân dịp lễ kính Đức Mẹ Mân Côi hôm nay, chúng ta hãy thử cùng chia sẻ đôi điều về những mầu nhiệm tình yêu diệu vợi trong lời kinh đơn sơ giản dị và có vẻ bình thường này. Trong bài chia sẻ ngắn này, chỉ xin được cùng đọc lại phần đầu của lời nguyện đơn sơ này: Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng bà. Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giêsu con lòng bà gồm phúc lạ.

   Ngay chương đầu của Tin Mừng Luca, chúng ta đã được thánh sử tường thuật lại cho biết một biến cố hết sức quan trọng: biến cố Truyền Tin. Phần đầu của Kinh Mân Côi được trích ra từ chính biến cố này.  Khi suy niệm về biến cố Truyền Tin này, chúng ta được biết sứ thần Gabriel của Thiên Chúa đã đến và công bố rằng: Con Thiên Chúa sẽ đến và mang lấy nhân tính, mang lấy xác phàm từ chính xác phàm của Mẹ Maria, nơi cung lòng của Mẹ Maria.  Và Mẹ đã thưa xin vâng. Hay nói một cách khác, sứ thần của Thiên Chúa hôm nay muốn kể cho chúng ta ba câu chuyện.

    Sứ thần của Thiên Chúa muốn kể cho chúng ta câu chuyện thứ I: Đó là có một cuộc hoán chuyển nhiệm mầu đã xảy ra vào biến cố Truyền Tin hôm đó. Cuộc hoán cải đó nhiệm mầu đến nỗi, khi suy niệm về nó Đức Giáo Hoàng Lêô Cả đã phải thốt lên: “Thật không thể nào hiểu thấu được mầu nhiệm Con Thiên Chúa làm người.

   Đấng tạo dựng nên đất trời và con người nay lại làm con của loài người. Đấng Tạo Hóa nay lại làm con của thụ tạo mình.” Cũng trong cùng một dòng suy tư đầy ngưỡng mộ đó, Thánh Âugustinô đã viết: “Đấng mà muôn loài phải vâng phục, nay lại vâng phục chính loài thụ tạo của mình.” Thật là một cuộc hoán chuyển lớn lao! Một Thiên Chúa nay lại hoán đổi vị trí để được trở nên con của thọ tạo của chính mình.

    Hãy thử quay về với sách Sáng Thế và tìm xem ở đó viết gì. Ngay từ những chương đầu, sách Sáng Thế ghi lại khi Thiên Chúa tạo dựng chúng ta, trong đó có đoạn như thế này: “Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh Thiên Chúa. Thiên Chúa tạo dựng con người giống Thiên Chúa. Thiên Chúa tạo dựng con người có nam có nữ” (St 1:27) Trong một trình thuật khác kể rằng: “Thiên Chúa lấy đất rồi nắn lên con người theo hình ảnh của Ngài. Thiên Chúa thổi sinh khí vào lỗ mũi của con người và con người trở thành sống động” (St 2:7). Như thế Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, là Đấng nắn đúc nên con người; Ngài là cha, là mẹ của con người và Ngài ban cho con người sự sống.

    Nhưng nay, trong biến cố Truyền Tin, đã có một khoảnh khắc, trong thời gian và không gian lịch sử này, đã có một cuộc hoán chuyển nhiệm mầu. Đấng Hóa Công đó nay lại trở thành con của thọ tạo của mình. Con Thiên Chúa xuống thế làm người được nắn đúc thành hình trong cung lòng của một thụ tạo của Ngài. Và thụ tạo ấy, theo một góc nhìn nào đó đã trở thành như  “Đấng Tạo Hóa” đối với Thiên Chúa của mình. Trở thành cha mẹ của chính Thiên Chúa của mình. Một sự hoán chuyển nhiệm mầu và điều đó xảy ra cách cụ thể nơi con người, cung lòng và tâm hồn của Mẹ Maria.

   

     Sứ thần lại kể cho chúng ta nghe câu chuyện thứ II:

Đó là đã có một sự kết hiệp mật thiết, nên một giữa Thiên Chúa và con người cho đến nổi không thể và không gì có thể tách rời.

Chúng ta hãy một lần nữa lại trở về với sách Sáng Thế. Khi ở đó tường thuật lại cho ta việc Thiên Chúa tạo dựng Adam và Evà. Khi Thiên Chúa tạo dựng Adam xong, Ngài thấy ông này ở một mình buồn quá. Chúa bảo ông này ở một mình không tốt.  Thế là Ngài rút một cái xương sườn (tuy đây chỉ là hình ảnh biểu tượng) và tạo dựng nên Evà. Sau đó Ngài dắt Evà đến với Adam. Ngay khoảnh khắc gặp mặt đầu tiên đó thì Adam reo vui lên và nói “đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi” (St 2:23); nàng và tôi là một xương một thịt.

   Hôm nay trong biến cố Truyền Tin câu chuyện nên một thân xác đó lại xảy ra với Adam mới và với Evà mới là tất cả nhân loại này. Trong biến cố Truyền Tin và khi cung lòng và tâm hồn của Mẹ mở ra để thưa xin vâng với Thiên Chúa, thì ngay lập tức Con Thiên Chúa xuống thế làm người nơi cung lòng của Mẹ và trở nên “một xương, một thịt với con người.” Ngài trở thành một con người đích thực mang một thân thể, một dòng máu, một tâm hồn và một nhân tính giống như mỗi người chúng ta hoàn toàn, cho đến nỗi chúng ta có thể chiêm ngắm Đức Giêsu Kitô và thân thưa với Ngài rằng: Chúa là xương bởi xương con, Chúa là thịt bởi thịt con. Chúa và con là một.

    Kể từ giây phút nhiệm mầu đó, kể từ cái hôm nay đó, cái giờ khắc thiêng liêng đó, nhân loại này đã thuộc trọn vẹn về Thiên Chúa. Một sự nên một không thể tách rời, cho dẫu là tội lỗi, cho dẫu là sự dữ. Không có bất cứ một quyền lực nào ở thế gian này cũng như trên trời và dưới đất giờ đây có thể tách con người ra khỏi Thiên Chúa được nữa. Bởi vì Thiên Chúa và con người đã nên một với nhau gần cho đến nỗi không thể gần hơn và ở trong nhau sâu cho đến nỗi không thể sâu hơn được nữa. Như chính thánh Phaolô quả quyết trong thư gửi tín hữu Rôma: “tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, chiều cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Ðức Kitô Giêsu” (Roma 8: 38 – 39). Quả là một sự kết hiệp nên một diệu kỳ!

    Sứ thần còn kể cho chúng ta nghe câu chuyện thứ III: Đó là câu chuyện về Đấng Đầy Ẩn Sủng.

    Chúng ta hãy trở về với thời Xuất Hành. Ở đó chúng ta đọc thấy câu chuyện Xuất Hành và trong biến cố Xuất Hành đó, dân Chúa đã ở trong sa mạc 40 năm. Trong cuộc hành trình đó, Thiên Chúa luôn đi giữa dân người và cách thế để Thiên Chúa hiện diện ở giữa dân Người là gì: – Thưa, Thiên Chúa truyền cho họ dựng nên một cái Nhà Tạm và gọi là Lều Hội Ngộ. Trong Lều Hội Ngộ đó đặt Hòm Bia của Thiên Chúa. Trong Hòm Bia đó có Mười Giới Răn mà chính Thiên Chúa đã viết bằng lửa và trao cho Môisê.

    Cứ mỗi lần Môisê và dân của Thiên Chúa muốn gặp Ngài để thỉnh ý của Ngài, thì Môisê đại diện cho dân bước vào Lều Hội Ngộ, nơi có để Hòm Bia Thiên Chúa. Khoảnh khắc đó, với hình một đám mây bao phủ lấy Lều Hội Ngộ, và Thiên Chúa xuống và đàm đạo với con người.

     Biến cố đó nay lại xảy ra trong lịch sử một lần nữa vào cái giờ khắc mà ta gọi là huyền diệu kể trên, vào giây phút mà người thiếu nữ Maria thưa Xin Vâng. Cái Hôm Nay đó của lời Xin Vâng đã trở thành Hôm Nay Vĩnh Cửu. Kể từ cái Hôm Nay đó thì giờ đây Thiên Chúa không chọn một cái lều vải để mà ngự xuống.

   Không chọn một cái Hòm Bia bằng gỗ Bá Hương để ngự vào nữa, nhưng Thiên Chúa chọn một thân xác với một tâm hồn tinh khiết của Đức Maria và Ngài ngự vào trong đó. Đức Maria trở thành Hòm Bia Giao Ước mới của Thiên Chúa. Đức Maria trở thành Lều Hội Ngộ của Thiên Chúa. Chính nơi Mẹ, Thiên Chúa hiện diện cách trọn vẹn và cụ thể cho đến nỗi ai đến với Mẹ, ai bước vào trong Lều Hội Ngộ, trong tương quan với Đức Maria, thì chắc chắn người đó sẽ gặp thấy Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa và Con của Mẹ Maria; mà hễ ai thấy Ngài là Thấy Chúa Cha.

   Đó cũng là một nét rất đặc biệt của bức ảnh Đức Mẹ Núi Cát Minh mà chúng ta vẫn thấy.  Đức Mẹ bồng Chúa Giêsu, ánh mắt của Mẹ nhìn chúng ta mỗi người, bàn tay của Mẹ giới thiệu Đức Giêsu, và áo choàng của Mẹ như muốn ôm trọn tất cả chúng ta; như thể một lần nữa Mẹ muốn trở nên Lều Hội Ngộ để chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa.       Mẹ như thể đang tiếp tục  mời gọi mỗi người chúng ta: Con ạ! Hãy đến đây, hãy bước vào trong lều hội ngộ này, hãy đi vào tương quan yêu mến với Mẹ. Con sẽ được gặp chính Thiên Chúa và con sẽ được đàm đạo với Ngài. Qua việc sùng kính Đức Mẹ với kinh Mân Côi, là chúng ta đang chiêm ngắm những mầu nhiệm như thế đó. Chúng ta đang được mời gọi hãy lại gần Mẹ, đi vào Lều Hội Ngộ với Mẹ để gặp gỡ Thiên Chúa cùng Mẹ.

   Xong Lều Hội Ngộ không chỉ dừng lại ở đó, vì chính chúng ta cũng có thể trở thành lều hội ngộ, trở thành hòm bia để chính Thiên Chúa ngự nơi tâm hồn và nơi con người, nơi thân xác của chúng ta, để ân sủng của Chúa sinh hoa kết trái nơi chính những chọn lựa sống của chúng ta.

   Nói đến đây tôi nhớ đến hình ảnh rất đẹp mà trong dịp hè vừa qua tôi đã được chứng kiến trong một lần đi giảng tĩnh tâm tại một cộng đoàn dòng tu. Tại cộng đoàn này các sơ có chăm sóc các cháu bị rối loạn nhiễm sắc thể hay chúng ta thường gọi là bệnh Down. Cứ mỗi buổi chiều khi gia đình đến đón các cháu. Tôi cứ quan sát những người cha, người mẹ chăm chút cho những đứa con thiểu năng của họ. Lạ một nỗi là dường như có một điểm chung là họ tỏ ra thương yêu các cháu cách đặc biệt. Ở đó, nơi tình thương của họ như một sự bù đắp, như có cái gì đó bao trùm lên cả cuộc đời các cháu. Vì khi quan sát như vậy, tôi tự hỏi: – các bậc cha mẹ này mong gì nơi những đứa con khiếm khuyết của mình? Họ hy vọng gì và chờ đợi gì nơi các cháu? Chắc chắn họ không chờ đợi và hy vọng các cháu sẽ lớn và sẽ trở thành ông nọ bà kia như những đứa trẻ bình thường. Nghĩ tới đó tôi đã thực sự thấy thấm thía cái gọi là: – một tình yêu cho đi mà không đòi lại bao giờ!

   Tình cha nghĩa mẹ là thế đó! Điều đó ta gọi là gì, nếu không phải là TIN! điều đó ta gọi là gì, nếu không phải là XIN VÂNG!

    Thiên Chúa đã cho người những người cha người mẹ ấy những khoảnh khắc để dọn lòng, để đón nhận. Họ đã đón nhận với tất cả lòng tin và lời xin vâng quyết liệt nhất. Họ đã nên điểm tựa, nên sự kết hiệp, nên lều hội ngộ của tình thương. Họ đã nên dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa. Khoảnh khắc họ xin vâng với tất cả niềm tin đó, Thiên Chúa  bước vào cuộc đời. Thế nên, khi chúng ta biết thưa xin vâng để đón nhận tất cả; để xin Chúa hãy thực hiện tất cả những gì mà Chúa muốn trên cuộc đời của mình. Thì ngay lập tức ánh sáng được chiếu tỏa, vì chính  Thiên Chúa là ánh sáng thế gian. Và nơi đâu có ánh sáng của  Thiên Chúa thì nơi đó bóng tối của sự dữ, của tội lỗi, của bệnh tật bị xóa tan. Như thế, cung lòng của mỗi chúng ta có thể trở thành nhà tạm, lều hội ngộ, hòm bia của  Thiên Chúa Hằng Sống. Nơi đó Con  Thiên Chúa ngự trị. 

   Bàn Tiệc Thánh Thể và khoảnh khắc khi chúng ta thưa “Amen” là giây phút mà Đức Chúa Trời ở cùng bà, cùng ông, cùng anh, cùng chị, và cùng em. Đó là giây phút quyền năng của Đấng Tối Cao rợp bóng trên chúng ta. Đó là giây phút mà Đức Giêsu Kitô – Ngôi Lời của  Thiên Chúa – lại được sinh ra một lần nữa vào trong cung lòng mỗi người chúng ta. Và chúng ta trở thành đền thờ của  Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh.

    Nơi Bàn Tiệc Thánh Thể chúng ta được nên một trọn vẹn với Ngài, cho đến nỗi có thể nói rằng thân xác, máu thịt của mỗi chúng ta là thân xác, máu thịt của Đức Giêsu Kitô, bởi Máu Thánh và Mình Thánh của Ngài tan chảy vào, hòa vào làm một nơi con người cụ thể, nơi tâm hồn của chúng ta cho đến nỗi khi rước Chúa, chúng ta có thể nói với Chúa rằng, Chúa là “xương bởi xương con, thịt bởi thịt con”. Và Chúa cũng sẽ nói với mỗi người chúng ta “con là xương bởi xương Thầy, thịt bởi thịt Thầy”. Một sự hoán chuyển nhiệm mầu! Chúa và con nên một. Cũng từ giây phút đó, chúng ta cũng trở nên cha mẹ, anh chị em và là người nhà của  Thiên Chúa. Vì Chúa nói : “Ai lắng nghe và cưu mang lời Chúa là anh chị em Ta, là Cha Ta và là Mẹ Ta.”

    Vì thế khi chúng ta quây quần cầu nguyện bằng lời kinh Mân Côi là chúng ta đang cử hành mầu nhiệm Thiên Chúa ở giữa loài người chúng ta. Ở đó, chúng ta đang dần trở nên những người đầy ân sủng, và dần ý thức mình là những người có Thiên Chúa ở cùng. Sâu sa hơn nữa, chúng ta cũng được mời gọi trở Maria mới đón nhận Lời Chúa, cưu mang Lời Chúa và sinh hạ Lời Chúa cho thế giới chúng ta.

Niềm vui của việc cử hành Kinh Mân Côi chính là việc chúng ta được thần hóa dần trong việc dự phần vào mầu nhiệm tình yêu. Và theo cách đó thì chúng ta cũng có thể bắt chước  thánh Phaolô và có thể chào nhau là: các thánh của  Thiên Chúa. Chúng ta cũng có thể nói theo cách của sứ thần chào Mẹ Maria và chào nhau là: kính chào những người đầy ân sủng của Thiên Chúa. Đó là bởi vì chúng ta tin rằng Đức Chúa Trời ở cùng mỗi chúng ta, và ơn sủng của Thánh Thần  Thiên Chúa rợp bóng trên chúng ta cùng với sự hiện diện Đức Giêsu Kitô mà chúng ta tiếp rước vào trong tâm hồn và cuộc đời của mình mỗi ngày. Và tất cả mọi người chúng ta đều trở thành những người đầy ân sủng.

    Nguyện xin Chúa giúp chúng ta qua lời chuyển cầu của Mẹ Maria để tháng 10 này sẽ là tháng của những bông hoa Mân Côi đẹp xinh trang điểm thêm vào cuộc đời mỗi người chúng ta.

Lm. Giuse Trần Thanh Trung, O.Carm. 

From chị Nguyễn Kim Bằng