Sự sống đời sau

Sự sống đời sau

 

Hai chữ “đời sau” là có ý muốn nói đến “sau cái chết”. Người ta tin rằng sau khi chết đi, mình vẫn còn sống theo một cách thức nào đó, chỉ có điều, sự sống ấy như thế nào, giống và khác với sự sống mà ta đang thụ hưởng ra sao, thì chẳng ai biết được cả. Dù không biết chính xác, nhưng trong tận thâm tâm, người ta tin là nó sẽ tuyệt vời hơn bây giờ rất nhiều, rằng “người đã chết” ấy hiện diện trong một trạng thái thuần linh, “người đó” có thể nhìn thấy chúng ta, nghe biết và chứng kiến mọi chuyện đang diễn ra trong thế giới này. Thậm chí, người ta còn tin rằng, “người đã chết”, vì không còn bị kìm kẹp bởi vật chất nữa, nên “thần thông quảng đại” hơn, có thể làm được nhiều điều mà chúng ta không thể làm được. Đó là lý do vì sao chúng ta thường dành một sự cung kính cho người quá cố, chúng ta thắp cho họ nén hương, khấn vái, cầu khẩn… Nhiều người còn dâng cúng đồ ăn thức uống, trò chuyện với người đã khuất.

Ở đây, ta tạm thời không bàn đến những tranh luận và suy tư triết học cũng như thần học, nhưng hãy cùng tìm hiểu xem “ý niệm về sự sống đời sau” muốn nói với chúng ta điều gì.

Nhiều người chắp nối “đời sau” với “đời này” như một kiểu nhân quả. Đời này sống tốt thì đời sau sẽ được hưởng phúc; đời này làm nhiều điều gian ác thì đời sau sẽ chịu khổ gấp trăm ngàn lần. Ở “đời sau”, người ta sẽ hưởng hoặc gánh chịu cái mà người ta làm ở “đời này”. Lối suy nghĩ này cổ võ người ta cố gắng “làm lành lánh dữ”, tích nhiều phúc đức qua các việc bác ái, để có thể được “báo đáp” ở đời sau. Có thể có một kiểu hưởng phúc hay hình phạt nào đó mà ta không thể biết và tưởng tượng được. Những hình ảnh như linh hồn bơ vơ vất vưởng hay những ngục tù đầy rắn rết, tối tăm, lạnh lẽo, những ngọn lửa bạo tàn, hay một chốn bồng lai tiên cảnh, nơi người ta hưởng trạng thái tiêu diêu… có lẽ là những phóng chiếu của ta từ kinh nghiệm của cuộc sống này, dựa trên lối quan niệm nhân-quả ấy. Nhưng dẫu sao, khi nghĩ đến “đời sau”, ta cảm thấy được mời gọi không quá bám víu vào những vật chất ở đời này, thấy được mời gọi để mở lòng mình ra hơn, để trao ban bình thương, đón nhận tình mến. Ý thức về đời sau làm cho ta thấy sự ích kỷ, ghen ghét, mưu toan… thật nhỏ bé và tầm thường quá đỗi. Đời sau đích thực là một đời sống ở tầm cao, ở cái hướng thượng, cái siêu việt, với những giá trị trỗi vượt.

Cũng có người nhìn về “đời sau” trong sự đối lập với “đời này”. Họ cho rằng đời này đầy những khổ đau, còn đời sau là bến bờ hạnh phúc. Họ ráng gắng gượng sống cho qua kiếp này, mong chờ cái chết đến thật nhanh để kết thúc những mệt mỏi và để được hưởng sự an nhiên vô lo. Có lẽ do bị quá nhiều tai ương ập đến, những người ấy coi đời này như địa ngục, hay như một chốn đoạ đày. Không thấy được giá trị của sự sống nên họ cứ vật vờ như cọng cỏ chờ gió cuốn đi. Họ chỉ tồn tại đó thôi, chứ chẳng có gì gọi là sống cả. Có những người bi quan hơn, vội vàng tìm đến cái chết như một sự giải thoát. Niềm tin Kitô giáo cảm thông với những ai đang rơi vào tình cảnh khó khăn tuyệt vọng, nhưng không bao giờ đồng tình với lối suy nghĩ này. Đã đành, sống trong kiếp người thì phải đối diện với những nhiều không mong muốn, nhưng đời này vẫn luôn có một giá trị của nó. Sẽ chẳng thể nào nếm được hạnh phúc đời sau, khi người ta không bắt đầu từ cuộc sống này. Có thể nói, đời này và đời sau không tách biệt nhau, nhưng hoà quyện và nối kết với nhau rất bền chặt. Mọi phần thưởng và hình phạt đã manh nha cách nào đó ngay trong đời sống này rồi. Ta không biết gì về đời sau, nhưng ta hoàn toàn chắc chắn rằng có một cuộc sống ở đời này và nếu không sống nó một cách đầy nhiệt huyết và năng lượng, ta đã hoang phí ơn trời và tự huỷ diệt sự sống mà ta đang thụ hưởng.

“Sự sống đời sau” gợi lên trong chúng ta cảm thức một sự linh thiêng nào đó hiện diện nơi đời sống của con người. Có một thực tại nào đó bao trùm tất cả mọi hiện hữu, mà cái thế giới hữu hình của chúng ta chỉ là một chấm nhỏ. Con người luôn thấy trước mặt mình những mầu nhiệm cao cả vô cùng, nơi đó, họ ý thức được rằng dù họ có giàu sang, quyền lực thế nào, họ cũng chỉ như hạt cát nơi sa mạc. Con người được huyền nhiệm ấy bao trùm lấy mình, để rồi, họ nhận thấy mình cũng là cái gì đó rất linh thiêng và cao cả, vượt trên những giới hạn của bản thân. Ý thức về cái chết giúp cho con người biết rằng ai trong chúng ta cũng đều phải mang một chữ “phận”, phải vâng lời tiếng gọi của Siêu nhiên. Và dù có kinh hãi trước cái chết, con người vẫn có thể khảng khái đối diện với nó vì tin rằng đằng sau nó, vẫn còn cái gì đó khác chào đón mình. Cái chết là bức tường ngăn cản giữa hữu hình và vô hình. Nói theo ngôn ngữ của thánh Phaolo, mọi sự xuất hiện trước mắt ta ở đời này chỉ mờ mờ ảo ảo như nhìn thấy cái gì đó trong tấm gương. Bước qua cái chết, người ta sẽ được chiêm ngưỡng mọi sự như thực tế nó là, với tất cả mọi nét hoàn mỹ và tuyệt đẹp. “Sự sống đời sau” mang đến cho chúng ta một sức mạnh và một niềm hy vọng về sự bất tử của chính mình, trọn vẹn con người mình, chứ không phải chỉ là một phần nào đó của mình.

Khi trực giác về một sự sống bất tử ở đời sau, ta đồng thời cũng được mặc khải cho biết về phẩm giá tuyệt hảo của chính mình. Ta được mời gọi để sống thanh cao, sống những giá trị vượt trên những tầm thường nhỏ nhen. Thật ra, ta đã có thể bắt đầu sự sống đời sau với nhiều hạnh phúc qua từng cái chết nho nhỏ nơi cuộc sống này: chết đi cho cái tôi ích kỷ, chết đi cho những kiêu ngạo, chết đi qua những hy sinh… Thật lạ kỳ: giá trị của cuộc sống hệ tại ở những cái chết như thế; càng chết đi, ta lại càng cảm thấy mình sống cách sung mãn hơn, và sự sống đời sau bắt đầu hình thành từ giây phút ấy.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ,

 dongten.net

Em trở về đây với Bướm Xuân,

Suy Tư Tin Mừng tuần 34 thường niên năm A 26/11/2017

Tin Mừng (Mt 25: 31-46)

 Một hôm, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng: “Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người. Các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê. Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái. 

Bấy giờ Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên phải rằng: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han.” Bấy giờ những người công chính sẽ thưa rằng: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống; có bao giờ đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà cho mặc? 

Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến hỏi han đâu?” Đức Vua sẽ đáp lại rằng: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.” Rồi Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên trái rằng: “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng.” 

Bấy giờ những người ấy cũng sẽ thưa rằng: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói, khát, hoặc là khách lạ, hoặc trần truồng, đau yếu hay ngồi tù, mà không phục vụ Chúa đâu?” Bấy giờ Người sẽ đáp lại họ rằng: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy.” Thế là họ ra đi để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính ra đi để hưởng sự sống muôn đời.”

 &    &   &

“Em trở về đây với Bướm Xuân,”

“Cho tôi mơ ước một đôi lần.”

(dẫn từ thơ Đinh Hùng)

 Mai Tá lược dịch. 

  Hôm nay đây, Bướm Chúa của Mùa Xuân đã trở về với hình dạng của Đức Vua. Vua vũ trụ, Vua của mọi tâm hồn, như tình tự được thánh sử ghi nhanh ở trình thuật.

Trình thuật, nay có thánh sử rất Mát-thêu ghi về đoạn cuối cuộc sống công khai của Đức Kitô, trước khi Ngài vào với nỗi thống khổ, và rồi sau đó, đã Phục Sinh, để vực dậy hết muôn người.Thánh Mát-thêu làm công việc ấy bằng cung cách của người kể dụ ngôn về ngày sau hết, có phán xét. Đọc trình thuật hôm nay, hẳn rằng người nghe lại liên tưởng đến dụ ngôn của những chiên con và dê hiền. Phụng vụ Hội thánh lại dùng trình thuật hôm nay để mừng kính Đức Kitô Vua, tức Vị Chánh Án vào ngày phán xét cuối cùng.

Nhìn vào ngôn ngữ mà người Công giáo thường sử dụng xưa nay, thì chữ “Vua” không là từ ngữ dễ nghe và dễ chấp nhận cho bằng danh xưng khác. Đã có lúc, danh xưng “Vua” của Đức Chúa được coi như một biểu ngữ nhằm nói lên các giá trị đạo đức hầu đối chọi với ý nghĩa rất chúa của các vua quan ở đời. Thời nay, người người thấy mình không dễ gì thấy được sự khác biệt giữa tính chất rất “vua” của tín hữu Đạo Chúa.

Trình thuật thánh Mát-thêu hôm nay, Đức Giêsu được gán tặng bằng nhiều danh xưng như Con Người, Chúa Chiên (tựa như vua Đavít), Đức Vua, Đức Chúa, Người Con ngự trên ngai vàng cùng Thiên Chúa Cha, vv… Bằng vào các danh xưng ấy, Đức Giêsu Kitô được con dân mọi người tôn kính như vị Chánh Án mọi dân tộc. Và hôm nay, người đọc sẽ thấy Ngài sử dụng quyền tài phán của Chánh Án. Đó là lý do mà thánh sử coi Ngài là “Đức Kitô rất Vua”. Và, điều đó ăn khớp với mọi hiểu biết của chúng ta khi nghĩ về vị Vua của vũ trụ. Bởi, Ngài chính là vị Chánh Án có trọng trách phán xét tất cả những gì con người làm, hoặc không làm.

Kinh Tin Kính của Công Đồng Nicêa có nói Ngài sẽ đến để phán xét kẻ sống và kẻ chết. Cũng thế, các bản văn tuyên tín khác cũng có nói dân con mọi người sẽ phải trả lời về những gì mình làm. Thánh Kinh của người Do Thái còn tỏ cho thấy “Ngày của Đức Chúa” là ngày mà vị Chánh án đứng lên để phán và xét. Thêm vào đó, truyền thống giáo hội còn dạy con dân phân biệt việc phán xét vào ngày chung cục cuộc đời của mỗi người với việc phán xét hết mọi người vào ngày thế tận. Nhưng, chẳng một ai, kể cả Đức Kitô, biết được thời điểm với nơi chốn xảy đến công cuộc phán xét chung cuộc ấy. Nên, việc này chỉ được kể bằng ngôn từ rất biểu trưng và thông thường rất dễ sợ.

Kể, bằng biểu trưng hay biểu tượng, là nói trước mọi việc trước khi việc ấy xảy đến. Và, trình thuật về sự việc này được giảng rao khắp nơi và khắp chốn, để người Do thái cũng như dân ngoại sẽ hồi hướng trở về. Cả Enoch lẫn Elijah cũng về lại. Ngày ấy sẽ là ngày Cánh Chung, Phản-Kitô sẽ ngự trị một thời gian.

            Và, không gian vạn vật sẽ chuyển đổi đến rối mù, lửa từ trong/ngoài địa cầu sẽ bốc cháy. Và rồi, có tiếng loa kèn phát lên báo hiệu sự sống lại của muôn loài và khi ấy Con Người cũng sẽ xuất hiện giữa mây trời, rất bảng lảng. Rồi, người người cứ như thể bảo nhau: ngày thế tận đã kề cận. Thế nhưng, lẽ thường tình của con người lại hay chống đối những chuyện như thế. Và, phần đông sẽ không tin rằng chuyện đó là sự thật như đinh đóng cột. Hay nhất là bảo: ta chẳng hiểu gì về việc ấy.

Chẳng hiểu, vì ngôn từ biểu tượng mà thánh Mátthêu sử dụng chỉ để kể về một gặp gỡ rất riêng tư thân tình giữa Đức Kitô và mỗi một người, khi ta chết. Vào lúc ấy, Ngài muốn biết, không chỉ mỗi việc cuộc sống của ta ra thế nào, nhưng còn nhắn nhủ rằng ta đã làm gì cho lịch sử của con người, tức đóng góp được bao nhiêu cho nhân loại. Lúc thánh Mátthêu viết lên trang sử này, lên giấy, ngài muốn tỏ bày lập trường để ta biết, là: mỗi người chúng ta cũng nên cải thiện lối hành xửc ủa chính mình, ở đây. Bây giờ. Thánh nhân không mô tả những gì sắp đến cho bằng ngài muốn xác chứng những gì phải xảy ra, ngay bây giờ.

Thánh Mátthêu diễn tả việc ấy qua ảnh hình và biểu tượng về chiên lành và dê hiền. Ở Do thái thời xưa, chiên lành chịu đựng cơn lạnh hay hơn dê hiền. Bởi thế nên, dê hiền cần được bảo vệ nhiều hơn. Bằng vào mầu sắc, chiên con thường mầu trắng. Còn, dê hiền lại là mầu đen. Ở dụ ngôn, chiên lành đứng bên phải, tức phía rất phải. Còn, dê hiền ở bên trái tức trái rõ đành rành. Đặc biệt hơn, bằng vào biểu tượng thánh sử viết, thì thú đàn ở phiá bên phải, vẫn phải lẽ. Còn dê hiền, là kẻ xấu nên mới trái. Thế nhưng, dưới tầm nhìn của Chúa, thú đàn dù có trái, vẫn rất phải.

Công việc của Chánh án, là tách chiên khỏi dê theo tiêu chuẩn nào đó. Tiêu chuẩn đây, không là 10 điều giáo luật, vì khi bị phán xét không ai bị cật vấn điều đó. Nhưng tiêu chuẩn phán xét, là phán đoán và xét nét về 6 công tác từ thiện rất cổ điển về lòng thương xót mà người Do thái có thói quen gọi đó là hành xử đầy yêu thương.Cũng chỉ là: lo cho cái ăn, thức uống, đón tiếp mời chào, cho áo mặc, trông nom chăm sóc và viếng thăm đỡ đần. Vấn đề là, người người được hỏi có làm thế trong đời mình không?

Thật ra,đó còn là nội qui cuộc sống cộng đoàn do thánh Mátthêu đặt, ở Tin Mừng chương 18: “Không được để con trẻ lạc lõng, mất mát. Không được để thành viên cộng đoàn bị bỏ rơi, cô độc”. Phán và xét, còn là hỏi: anh/chị có tuân giữ nội qui ấy không? Nếu có, anh/chị là chiên lành. Nếu không, anh/chị sẽ là dê hư. Ở đây, thánh Mát-thêu và -Đức Giêsu- đặt tầm quan trọng vào nội qui giản đơn ấy cho cộng đoàn Kitô hữu thời tiên khởi. Để sau này, sẽ không có ai bị án phạt về những gì mình đã làm hoặc định làm; mà về những gì mình quên làm và không bao giờ chịu làm những việc như thế.

Người tốt lành không làm việc đó vì họ thấy người có nhu cầu như chính người anh, người chị của mình. Đức Giêsu nói: nếu người làm điều tốt lành ít là cho người anh, người chị ấy của mình, thì tức là làm cho Chúa. Họ là người thân của Chúa. Ta làm cho người của Chúa, chứ không phải cho người của ta. Thế nên, phán xét tích cực là phán và xét xem ta có mừng đón vào nhà mình, những người của Chúa, thuộc gia đình Ngài, vì họ nhìn ta như là người trong số họ.

Khi nói đến việc phán xét nói chung, ta bao gộp tất cả mọi người. Vậy thì, “nội qui của cộng đoàn” không chỉ là cho người Do thái hoặc cho cộng đoàn Mátthêu thời tiên khởi hoặc những người thuộc giáo phái nào đó, thôi. Mà là, tất cả. Nội qui ấy, là để mọi người biết mà thực hiện. Nội qui được viết trong tâm khảm của mỗi người. Cho mọi văn hóa, sắc tộc. Mọi thời khắc của lịch sử nhân loại. Nội qui rất chung và sẽ có phán xét cũng rất chung như thế.

Chúa có cách để giáo huấn để họ hiểu rằng cuộc sống đích thực không cần lời nói, hoặc thể chế, dù thể chế ấy là Hội thánh. Chúa thiết lập trong ta bản năng riêng của mội người. Cho mỗi người. Bản năng ấy, giúp ta mở lòng ra với người đang thiếu thốn, có nhu cầu. Dù ta là người thế nào đi nữa, Chúa cũng sẽ phán và xét chính ta, về tất cả điều đó. Phán và xét, xem ta có làm những việc giùm giúp như thếkhông. Chính đó là ý nghĩa của phán xét chung.

Chương 28 cuối Tin Mừng, thánh Mathêu viết: Đức Giêsu truyền lệnh cho nhóm người bé nhỏ của Ngài hãy ra đi mà trở nên đồ đệ của Ngài đến với muôn dân. Không cần biết họ thuộc sắc tộc nào, có lý lịch ra sao hoặc họ từ đâu đến. Ngài dạy họ làm những việc như thế bằng cách quan sát xem họ có làm những điều Ngài dạy trong đời mình hay không. Tức, dạy họ sống biết giữ nội qui đề ra cho cộng đoàn của Ngài, như thánh Mátthêu từng ghi lại. Nếu họ làm theo điều Ngài dạy, thì Ngài sẽ ở với họ suốt mọi ngày, cho đến ngày thế tận.

Đọc trình thuật hôm nay, có thể có người nghĩ là thánh Mátthêu muốn tách chia chiên khỏi dê, để dễ bề phân biệt. Nhưng sự thật, đó không là phân và tách mà là đến với nhau như đàn trẻ lạc được tìm thấy. Là, ra đi mà tìm đến với họ. Ra đi, để ở giữa những người từng lỗi phạm nay bị bỏ rơi, quên lãng. Ra đi, giang tay mà chào đón tất cả mọi người, đưa họ về với hòa giải và hòa hoãn. Thế đó, không là tách chia, phân biệt. Mà là, thuộc về nhau, ở với nhau. Mà là, tất cả ràng buộc vào với nhau để tiến vào với cộng đoàn Nước Trời Hội thánh.

Trong tâm tình cảm kích những điều thánh sử ghi về Đức Kitô Vua, ta lại ngâm lên lời rằng:

“Em trở về đây để nắng hồng,

Hồn xưa còn đẹp ý xưa không?

Trăng tình chưa nguyện lời Hoa Bướm,

Em chẳng về đây để ngỏ lòng.”

(Đinh Hùng – Bướm Xuân)

Là Bướm Xuân hay Bướm của Mùa Xuân, Ngài vẫn là Vua Vũ Trụ, nơi lòng người. Nay, Ngài trở về để Bướm và Xuân nên một. Một thân. Một mình. Thứ Mình rất thánh của Chúa Xuân.

            Lm Kevin O’Shea CSsR biên-soạn –  

             Mai Tá lược dịch. 

Ghi vào đời hình bóng một người

httpv://www.youtube.com/watch?v=-PAUqh4NV58

Chiều Cuối Tuần – Phương Anh (Á Quân Thần Tượng Bolero 2016)

Chuyện Phiếm đọc trong tuần 34 thường niên năm A 26/11/2017

“Ghi vào đời hình bóng một người 
Đôi lúc chân quen giầy khua lối ngõ
Tâm tư bâng khuâng
Nghe chiều biệt ly theo khuất nẻo người đi…!!!”

(Trúc Phương – Chiều Cuối Tuần)

(Mátthêu 19: 10-11)

 “Ghi vào đời, hình bóng một người”, đây không chỉ là câu hát “trống không” chẳng ghi tên cũng chẳng nhắn nhủ một ai. Nhưng, đối với bần đạo là bầy tôi đây thì, câu hát này lại minh-hoạ một câu truyện kể rất dễ nghe sau đây:

Tôi là một người mẹ 71 tuổi đã nghỉ hưu, còn con gái tôi năm nay 35 tuổi. Khi tôi bắt đầu về hưu cũng là lúc con gái tôi lập gia đình. Với vợ chồng tôi, nó luôn là viên ngọc quý được chúng tôi nâng niu chăm bẵm; bởi vậy khi con thành thân, một cách rất tự nhiên tôi thấy mình có trách-nhiệm phải chăm sóc tổ ấm mới này.

 Ban đầu, tôi hy vọng chúng sẽ về ở cùng vợ chồng tôi, nhưng ông nhà tôi lại cho rằng: “Hai đứa cần có khoảng không-gian riêng biệt để tự-lập”. Thế nên, để tiện chăm sóc các con, chúng tôi dọn tới khu cư-dân gần nhà con mình đang sống. Và cứ mỗi sáng tôi đều chạy qua nhà giúp bọn trẻ chuẩn bị đồ ăn và dọn vệ sinh; chiều đến, lo nấu bữa tối và đợi tới khi hai vợ chồng nó đi ngủ tôi mới về nhà mình. 

Cuộc sống của tôi cứ êm đềm trôi qua như vậy, cho đến một ngày… Hôm ấy, tôi dậy sớm đi chợ mua thức ăn mang tới nhà con, nhưng khi đến nơi lại không thể mở cửa để vào nhà. Không phải tôi mang nhầm chìa khóa, mà đơn giản là con rể đã thay ổ khóa khác. Tôi phải gọi mãi con rể mới ra mở cửa và giải thích: “Gần đây toà nhà xảy ra nhiều vụ trộm, nên…”

 Tối hôm đó con gái qua nhà đưa cho tôi chiếc chìa khóa mới. Lúc ấy, trong tâm tôi có đôi chút khó chịu, nhất là khi con gái tôi nói nhỏ: “Mẹ đừng để chồng con biết nhé!”. Tôi hiểu rằng sự việc không còn đơn-thuần như tôi nghĩ lúc trước.

 Ngày hôm sau, tôi tới nhà con gái sớm hơn mọi ngày, lỉnh kỉnh đồ ăn thức uống. Vừa tới cửa, tôi nghe có tiếng tranh-luận vọng ra: “Chắc chắn là em đưa chìa khóa cho mẹ rồi, phải không?” Rồi một tràng những lời phàn-nàn của con rể vang lên sau cửa, khiến tôi đứng mãi như trời trồng.

 Thật không ngờ, là tất cả công sức và tình yêu thương mà người mẹ vợ như tôi đã dành cho chúng, lại được đền đáp bằng những lời chỉ-trích nặng như vậy. Và tôi thấy chua xót hơn, đó là con gái tôi chỉ biết ậm ừ rồi trả lời rằng: “Bà là mẹ em, vậy anh bảo em phải làm thế nào đây?”

 Tôi lủi thủi xách túi thức ăn thẫn-thờ quay trở về. Nhìn thấy ông nhà tôi, tôi tủi thân đến mức nước mắt cứ lăn tràn lên má: “Ông à, sao tôi cực quá sức? Nó là con gái duy-nhất của tôi, tôi toàn tâm toàn ý lo cho chúng từ bữa ăn tới giấc ngủ, vậy mà những thứ tôi nhận được, là thế này đây, tôi đã làm gì sai/trái hả ông?” 

Ông nhà tôi chỉ bật cười rồi vỗ nhẹ vào vai tôi: “Thật là mấy đứa trẻ không hiểu chuyện, bà cứ để đó, có dịp tôi sẽ nói chuyện với chúng. Mà bà này, bà thử nhìn những người bạn già của chúng ta xem, có mấy ai như bà không? Họ đều thong dong, gần thì đi thăm thú tỉnh thành làng mạc, xa thì ra nước ngoài du lịch. Còn bà, bà chỉ loanh quanh chợ búa cả ngày, lọ mọ cơm nước cho con cái, vì chúng mà tôi với bà đã lạc-hậu so với những người bằng tuổi rồi đấy”. 

Từng lời lẽ của ông chồng như cơn mưa mùa hạ trút xuống khiến tôi bừng tỉnh. Chẳng lẽ, tôi lại không muốn ra ngoài du-lịch thăm thú đó đây sao? Nghĩ vậy, tôi gật đầu thuận đồng tình với ông chồng tôi. Sau đó, ông nhà tôi sắp xếp đưa tôi tới một vùng toàn cây cỏ rộng lớn để nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng ít là vài ngày. Ông còn dẫn tôi tới thăm trang-trại nuôi dê và bò lấy sữa. Được xem tận mắt chứng kiến quá-trình dê mẹ sanh con và cho bú, tôi bất giác thấy lòng mình xúc động, nghẹn ngào.

 Chồng tôi vừa nhìn vừa chỉ vào đàn dê đang gặm cỏ. “Dân du-mục quanh năm di-chuyển chỗ này sang chỗ khác. Nếu dê mẹ đây lại giống như bà, việc gì cũng quán-xuyến, không rời tay thì dê con làm sao sống nổi? Hơn nữa, có ai lại muốn gả chồng chú dê chưa cai sữa tinh thần không đấy?”

 Tôi quay sang, thấy ông nhà tôi cười một cách đầy hậu ý, chỉ một câu nói độc-nhất của ông đã giúp tôi hiểu ra được nhiều điều. Chồng tôi tiếp tục: “Tình mẫu-tử chân-chính là quá-trình tự rút lui một cách khéo léo”, nói xong ông mở điện thoại di-động ra xem rồi đọc cho tôi nghe một bài viết có ghi những câu như sau: “Là bậc cha mẹ, không ai muốn tách rời con cái khi chúng trưởng thành. Họ lầm tưởng làm thế là vì yêu con, nhưng thực tế lại đã vô tình điều-khiển con cái một cách toàn-diện…”

 Tôi liếc mắt lườm ông chồng rồi nói: “Có phải ý ông muốn bảo tôi là người mẹ như vậy phải không?” Chồng tôi bật cười vỗ nhẹ lên vai tôi rồi nói: “Bà ý hả, bà thuộc loại có thể còn cứu vãn được!”

 Sau chuyến du-lịch trở về, việc đầu tiên tôi làm là: gọi điện cho con gái và nói với nó rằng: tôi muốn tới nhà nó một chuyến. Hôm ấy, tôi đã chia-sẻ với cháu hành-trình ý-nghĩa nhất trong đời mình, rồi nghiêm túc bảo chúng: 

-Mẹ chuẩn bị lui về nhà để vui hưởng hạnh-phúc vào tháng ngày cuối của tuổi già. Sau này, có lẽ mẹ sẽ không thường-xuyên tới nhà con nữa đâu, mà dù cho mẹ có tới, thì mẹ cũng sẽ gọi điện báo trước cho các con biết.

 Con gái nhìn tôi, lúng túng một hồi lâu rồi hỏi:

-Mẹ, mẹ giận chúng con à?

 Mẹ đâu có giận, chỉ là mẹ đang học cách tận-hưởng tuổi già thôi con à. Con gái ôm chầm lấy tôi làm mắt tôi ươn-ướt, bùi ngùi. Có người đặt ra câu hỏi: 

-Cha mẹ sinh con ra để làm gì? Để có người nối dõi tông đường hay có người chăm sóc khi về già? Có rất nhiều câu trả lời khác nhau, nhưng câu trả lời cuối cùng khiến nhiều người suy nghĩ là: “để trả giá và tận hưởng”.

 Xin các bậc cha mẹ đừng coi con cái mình là mối quan-tâm duy-nhất trong đời; đừng vì con cái mà khép lại cánh cửa giao tiếp xã hội, cũng đừng vì con mà bỏ lỡ các đam mê sở thích của bản thân.

 Có người còn nói:

-Có một kiểu cha mẹ làm tôi vô cùng kính-phục, đó là: những người từng dành cho con mình tình-thương yêu mạnh mẽ khi con còn bé, rồi khi con lớn lên lại học cách buông tay một cách khéo-léo. ‘Chăm sóc’ và ‘chia xa’ đều là nhiệm vụ mà bậc làm cha mẹ cần hoàn thành với con mình”.

 Làm cha mẹ, là cả một chặng dài hành-trình mà đám phụ-huynh chúng ta cần cả lòng bao-dung và trí tuệ nữa, mới phải. Làm cha mẹ, không đơn thuần chỉ mỗi một việc là nuôi dạy con, mà trong hầu hết mọi thời khắc của cuộc sống, ta cần biết lúc nào nên tiến, lúc nào nên thoái lui.

 Ta không mong cầu con cái mình trở nên hoàn-hảo, cũng không cần chúng phải nuôi-dưỡng khi mình về già, mà chỉ cần chúng có thể sống độc-lập và giữ trọn lòng hiếu-thảo với mẹ cha, vậy là bạn đã làm cha, làm mẹ thành-công rồi đó.” (Trích truyện kể có đầu đề: “Câu chuyện buông bỏ”)

Buông bỏ hay giữ rịt, vẫn là tâm-trạng khác-biệt của nhiều người. Có người lại chỉ nhớ giữ “rịt” như ca-từ bài hát trích ở trên, nên trích thêm như sau:

 “Anh ơi tôi lên đường phố cũ tìm anh chiều hẹn hò
Cho nhau niềm vui cuối tuần
Vì hơn mấy lần
Vắng anh trời kinh đô nghe xao xuyến bước cô đơn…
Ai quên ai khi bàn tay trót nằm trong lòng tay rồi
Anh ơi chuyện hai đứa mình mộng xưa khó thành
Biết nhau chiều hôm nay xin nhớ mãi về sau này…
(Trúc Phương – bđd)

Hệt như thế, đấng bậc nhà Đạo ở Sydney này, lại cũng có luồng tư-tưởng trải dài một nhận-định qua lời hỏi/đáp sau đây:

“Thưa cha,

Vừa qua, con có dịp nói chuyện với một người bạn về sự an-sinh của đám con cái trong các mối tương-quan giữ người cùng phái tính và chị ta lại cứ nói rằng chị thích chọn có con được cặp hôn-phối cùng phái tính nuôi-dưỡng hơn là những đứa co cha mẹ khác phái tính tận tình nuôi nấng nhưng lúc nào cũng xảy ra chuyện bạo-động trong gia-đình. Nghe thế, con đây chẳng biết trả lời sao cho hợp lẽ. Xin cha giúp con một tay.” (câu hỏi nhặt được trên báo đạo ở Sydney)

 Giúp con một tay hoặc hai tay một lượt, thì đấng bậc nào lại chẳng muốn giúp. Chí ít, là đấng bậc từng có quá nhiều kinh-nghiệm trong hỏi/đáp thắc mắc của giáo-dân. Và, trợ-giúp của đấng bậc vị vọng hôm nay, như thế này:

“Nếu những điều nói ở trên là biện-pháp duy nhất để thay-thế, thì tốt nhất nên để cho cặp phối-ngẫu nào biết yêu thương nhau nhiều hơn là để những cặp cứ cãi vã hoặc đánh lộn nhau suốt ngày  dài nhiều năm tháng. Thế nhưng, khi đất nước ta đang sống lại tính chuyện thông qua đạo luật hợp-pháp-hoá hôn-nhân đồng phái tính không chỉ cho cá nhân cặp phối ngẫu nào đó, mà cho toàn thể dân nước, mới thành chuyện.

 Và trong đất nước ta đang sống, đã có rất nhiều cuộc khảo sát hoặc nghiên-cứu cho thấy rằng: con cái sống tốt đẹp hơn khi chúng được cha mẹ khác giới tính nuôi dưỡng, hơn các cặp phối ngẫu đồng tính. Giáo sư Augusto Zimmerman có viết một bài báo nói về vấn-đề này trong tờ “Quadrant” số tháng 8 vừa qua. Tôi xin phép sử-dụng bài này làm nền để đưa ra 5 lý-chứng có liên-quan mà luận-bàn.

 Thứ nhất, mối tương-quan đồng tính luyến ái dính-dự nhiều đến chuyện thất-trung ở các cặp phối ngẫu đồng tính nhiều hơn ở hôn-nhân nam-nữ. Bên Hoa-kỳ, giới chức trong nghề có lập một khảo sát gửi đến 159 cặp phối-ngẫu đồng tính bèn nhận ra rằng phần lớn các cặp này không thể sống chung thuỷ với nhau được đến một năm.

 Và, không cặp nào lại có thể sống bền-bỉ với nhau được 5 năm. Ai cũng biết, con cái chúng có cảm giác bất an khi phải chịu đựng chung sống với người cha hoặc người mẹ, hoặc cả hai không có sự thuỷ-chung.

 Thứ hai, tương-quan đồng tính luyến ái vẫn nổi tiếng là mối tương-quan rất yểu mệnh. Có một khảo sát thiết-lập vào năm 2010 cho thấy là: tính bình-quân thì tương-quan đồng tính chỉ kéo dài được 3 năm mà thôi. Vậy nên, làm sao trở thành chuyện tốt đẹp cho con cái khi bậc “sinh thành” của chúng cứ không ngừng đổ vỡ.

 Thứ ba và có lẽ cũng là điều đác ngạc-nhiên, là: bạo-hành trong gia-đình càng xảy ra cách thường xuyên hơn đối với các cặp phối ngẫu đồng tính hơn các cặp hôn-nhân khác giới tính. Năm 1991, ở Hoa kỳ các nhà nghiên-cứu có mở cuộc khảo-sát dành cho 1099 phụ-nữ đồng tính cho biết những vị này bị đối tác xách-nhiễu thể-xác hơn các phụ nữ có tương-quan khác giới tính.

 Một khảo-sát khác lập ra với 350 phụ nữ đồng tính, khi trước từng có quan-hệ với nam-nhân cho thấy chuyện xách-nhiễu về thể xác và môi miệng cao hơn mối tương-quan đồng tính của họ tính theo tỷ lệ thì: 57% người từng bị phụ-nữ đồng tính lạm-dụng tình dục, 45% trải-nghiệm các vụ xâm-phạm thể xác và 65% trải-nghiệm xâm-phạm thể xác hoặc xúc cảm.

 Một tập-san văn-chương phổ-thông phát hành vào năm 2014 tiết lộ rằng: các vụ bạo-hành trong gia-đình đã ảnh-hưởng lên 75% phụ-nữ đồng tính, nam-nhân đồng-tính và lưỡng tính luyến ái; và một tập san khác xuất bản vào năm 2015 cho thấy chuyện bạo-hành trong gia-đình càng thấy xảy ra nhiều đối với các cặp phối-ngẫu đồng tính hơn các cặp khác. Một lần nữa, ảnh-hưởng trên con cải càng thảm-khốc hơn, thôi. 

Thứ tư là, con cái sống với các cặp phối ngẫu đồng tính càng bị các “bậc sinh thành” của chúng lạm-dụng tình-dục nhiều hơn. Chỉ cần ghi lại một ví dụ tiêu biểu lập vào năm 1996 cho thấy rằng: dù con số nam-nhân ở các cặp hôn nhân khác phái nhiều nhặn hơn giới đồng tính là 36 trên 1, các vụ mơn-trớn/gạ gẫm ở các cặp phối-ngẫu đồng tính xảy ra ở mức 11 trên 1, điều đó có nghĩa là các vụ ấu dâm xảy ra nhiều gấp ba lần ở các cặp phối-ngẫu đồng tính, là chuyện thường.

 Tê hơn nữa, trong nhật báo mang tên The Journal of Homosexuality đăng tải hồi năm 1990 có bài viết cho thấy các tương-quan dục-tình giữa nam-nhân và các bé trai gọi là “tương-quan nhân-ái” đã coi ấu-dâm như chuyện bình thường và tốt lành. Cũng thế, ta đều biết tai-hại về lâu về dài từ các vụ ấu dâm đã ảnh-hưởng lên con trẻ vẫn rất nhiều.

 Thứ năm nữa là, con cái sống chung với các cặp phối ngẫu đồng tính lại cũng lôi cuốn hấp dẫn lẫn nhau cùng một phái tính. Một nghiên-cứu/khảo-sát cho thấy là: trong khi chỉ có 3% người dân sống ở Hoa kỳ là có động-thái lôi cuốn hấp-dẫn người đồng tính, 75% nam-nhân trưởng-thành và 57% nữ-giới trưởng-thành được các cặp hôn-nhân khác phái dưỡng-dục đã phát-triển hành-xử lưỡng phái hoặc đồng tính luyến ái. 

Điều nay lại cũng kéo theo các hệ-luỵ tiêu cựa. Năm 2001, có khảo-sát nghiên cứu gửi đến 6,000 cư-dân sống ở Hoà Lan là đất nước từng nương tay với các vụ đồng tính luyến ái , phát giác ra rằng giới trẻ đồng tính chịu cảnh trầm thống lên gấp 4 lần, con số người đồng tính chịu cảnh rối loạn lo âu lên gấp ba lần, và số người đồng tính này tự-sát lên gấp bốn và số người tuỳ thuộc chất nicôtin lên gấp năm, mắc nhiều chứng bệnh rối loạn khác nhau lên gấp sáu lần, và số những người đồng tính có ý-dịnh tự tử ít là một lần trong đời lên gấp sáu. 

Chẳng thế mà, vào năm 2017, các Trung học y-khoa của Hoa Kỳ có đưa ra một chính-sách nói rõ rằng “thật không thích-hợp và rất nguy hiểm đối với con trẻ và là hành-xử vô trách-nhiệm một cách đầy hiểm nguy để ta có thể thay đổi việc nghiêm cấm kéo dài biết bao năm nay không cho giới đồng tính được phép làm cha làm mẹ trẻ con dù qua hình thức nhận con nuôi, bảo-dưỡng hoặc sinh-sản qua phương-pháp nhân tạo.” (Lm John Flader, Figures show major flaws in same-sex parenting, The Catholic Weekly 15/10/2017 tr. 25)

Hệt như thế, có nghiên-cứu khảo-sát cho nhiều về tệ-hại của hôn-nhân đồng tính đến thế nào đi nữa, tưởng cũng nên nghe lại đôi ca-từ khá da-diết ở bài hát vẫn đánh động nhiều người, rằng:

“Ghi vào đời hình bóng một người.
Đôi lúc chân quen giầy khua lối ngõ.
Tâm tư bâng khuâng.
Nghe chiều biệt ly theo khuất nẻo người đi…!!!

Khi tôi đưa chân người tôi mến tạm xa biệt kinh thành
Mong sao đừng quên mỗi lần chiều qua cuối tuần
Có tôi về trông anh khi phố cũ vừa lên đèn… “

(Trúc Phương – bđd)

“Ghi vào đời hình bóng một người”, phải chăng điều đó vẫn là lời nhắn nhủ từ ai đó, để còn ghi đi ghi lại mãi, những chẳng bao giờ nghĩ chuyện đứng-đắn trong đời, như lời bậc thánh hiền từng biể-tỏ hôm nào ở lời kinh, sau đây:

“Các môn đệ thưa với Ngài:

“Nếu làm chồng mà phải như thế đối với vợ,

thì thà đừng lấy vợ còn hơn.”

Nhưng Đức Giêsu nói với các ông:

“Không phải ai cũng hiểu được câu nói ấy,

nhưng chỉ những ai được Thiên Chúa cho hiểu

mới hiểu, mà thôi!”

(Mt 19: 10-11)

Nói cho cùng, đã hoặc sẽ là vợ chồng chung sống với nhau nhiều năm tháng, tưởng cũng nên nghiên-cứu nhiều lời lẽ của đấng thánh hiền từng bảo ban, để rồi sẽ hiên ngang tiến về phía trước mà sống hung, sống rất mạnh. Như bao giờ.

Trần Ngọc Mười Hai

Luôn chẳng dám

Có ý-nghĩa gì là trái khuấy

Khác-lạ truyền thống

Của cha ông

Rất trong đời.

Mai Tá

NHÂN QUẢ

NHÂN QUẢ

  Lm. Giuse Trần Việt Hùng

“Chiên thì Người cho đứng bên phải, còn dê ở bên trái” (Mt 25,33).

 “Nhân” là nguyên nhân, “Quả” là kết quả.  Nhân là cái mầm.  Quả là cái hạt do mầm ấy phát sinh.  Trong nhân có quả và trong quả có nhân.  Chính trong Nhân hiện tại có hàm chứa cái Quả tương lai.  Nhân thế nào thì Quả thế ấy.  Thưởng phạt ngày sau đều tùy thuộc vào những hành động tốt hoặc xấu của chúng ta thực hiện ngày hôm nay.  Nói chung, ai trong chúng ta cũng muốn được hưởng hạnh phúc cả đời này lẫn đời sau.  Chúng ta biết con đường lên thiên đàng là thiên đàng mà.  Nếu chúng ta muốn được hưởng an lạc ngày sau, chúng ta phải sống vui tươi và an bình ngày nay.  Biết rằng cuộc đời ai cũng có những sự chen lẫn giữa vui sướng và khổ sầu.  Sự khổ đau trong cuộc sống không phải luôn luôn là sự tiêu cực.  Vì sự đau khổ cần thiết như là những thử thách để giúp ta tinh luyện cho cuộc đời sáng thêm.  Ví như lửa thử vàng, gian nan thử đức vậy.

Kết thúc Năm Phụng Vụ, Giáo Hội mừng Đại Lễ Chúa Kitô Vua, Vua Các Vua, Chúa Các Chúa.  Chúa Giêsu là trung gian giao hòa giữa trời với đất.  Ngài đã nhập thể để rao truyền tin mừng cứu độ.  Chính Ngài là trung tâm và là cốt lõi của tất cả mọi sự hiện hữu.  Ngài mở lối dẫn chúng ta vào hưởng niềm vui hạnh phúc Nước Trời.  Con đường Chúa đi là con đường yêu thương trong khổ giá.  Muốn lãnh nhận ơn cứu độ, chúng ta phải dõi theo lối bước của Ngài.  Hai giới răn nồng cốt tóm kết tất cả lề luật là yêu mến Thiên Chúa hết lòng, và yêu thương anh chị em như chính mình.  Đức yêu thương được thể hiện qua sự giúp đỡ, chia sẻ, thăm viếng và sống tình bác ái với nhau.  Con đường đức ái là con đường tuyệt hảo dẫn vào quê trời.

Chúa Giêsu dẫn bước chúng ta vào cuộc sống thật ngày sau qua dụ ngôn phân định Chiên và Dê.  Chiên và Dê chỉ là hình ảnh tượng trưng gởi theo một sứ điệp nói về sống bác ái vị tha.  Chiên Dê, phải trái, bên này bên kia, hay thiên đàng hỏa ngục là ranh giới để phân biệt tốt xấu, lành dữ và thưởng phạt.  Phúc thay những ai được xếp vào hàng bên phải: Hãy đến, hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy lãnh lấy phần gia nghiệp là Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi từ khi tạo dựng vũ trụ (Mt 25, 34).  Không phải tự nhiên hùa theo đám đông mà được ơn cứu độ.  Mỗi người phải phấn đấu từng ngày để nên trọn lành.  Chúng ta có thể quan sát hình ảnh một thửa ruộng trong đó có lúa và cỏ dại.  Khi chủ ruộng vun xới chăm sóc cả hai lúa và cỏ đều được hưởng phân bón và tưới gội đồng đều.  Lúa và cỏ cùng chung hưởng nắng ban mai, sương sớm và mưa nguồn.  Phát triển tốt nhưng kết quả thì khác nhau, lúa trổ sinh bông hạt, và được thu hoặch cho vào kho lẫm.  Còn cỏ dại bị người ta chà đạp và thu gọn đem thiêu đốt.

Theo giáo lý Nhà Phật, nhân là năng lực phát động, Quả là sự hình thành của năng lực phát động ấy.  Nhân và quả là hai trạng thái tiếp nối nhau mà có.  Nếu không có Nhân thì không có Quả và nếu không có Quả thì không có Nhân.  Cũng chính trong cái Quả hiện tại, đã có hình bóng của Nhân quá khứ.  Vì thế, mỗi vật đều có thể gọi là nhân hay quả: Đối với quá khứ, thì nó là quả, nhưng đối với tương lai thì nó là nhân.  Nhân và quả tiếp nối nhau và đắp đổi nhau như những vòng trong sợi dây chuyền.  Nhân quả đi đôi và ảnh hưởng tới nhau như gieo gió thì gặt bão.  Việc lành hay việc dữ đều có quả báo, chỉ khác nhau đến sớm hay muộn mà thôi.  Đôi khi chúng ta tự hỏi rằng tại sao những người làm ác mà họ vẫn sống phây phây lại giầu có sung sướng, trong khi những người hiền lành, đạo đức lại rơi vào cảnh túng quẫn và khổ đau.  Câu trả lời là đời sống tạm này chưa kết thúc, chúng ta chưa thể kết luận thế nào là hạnh phúc thật.

Một Nhân không thể sinh ra Quả, mà phải nhờ vào môi trường vạn vật chung quanh.  Sự vật trong vũ trụ nầy đều là sự tổ hợp của nhiều nhân duyên.  Cho nên không có một Nhân nào có thể tự tác thành kết quả được, nếu không có sự giúp đỡ của nhiều Nhân khác.  Sự liên đới trùng trùng điệp điệp giữa muôn loài làm thành bước tiến của thiên nhiên vạn vật.  Không có thụ tạo nào đứng riêng biệt một mình trong vũ trụ.  Nói rằng hạt lúa sanh ra cây lúa, là nói một cách giản dị cho dễ hiểu, chứ thật ra hạt lúa không thể sanh ra gì được cả, nếu để một mình nó giữa khoảng trống không, thiếu không khí, ánh sáng, đất nước và nhân công.  Có biết bao nhiêu yêu tố để hình thành một chuỗi Nhân Quả.  Trong bất cứ một loài thụ tạo nào cũng có mỗi liên hệ chằng chịt với thế giới hiện hữu chung quanh.

Về phương diện tinh thần, những tư tưởng và hành vi trong quá khứ, tạo cho ta những tính tình tốt hay xấu trong hiện tại.  Tư tưởng và hành động quá khứ là Nhân, tính tình và nếp sống trong hiện tại là Quả.  Tính tình và nếp sống hiện tại là Nhân, để tiếp tục tạo ra hành động trong tương lai là Quả.  Nhân Quả tiếp nối không ngừng qua những hành vi chúng ta thực hiện hằng ngày.  Chúng ta có thể thay đổi và sửa sai những lầm lỡ trong qúa khứ để tạo thành Nhân tốt.  Không bao giờ trễ, nếu chúng ta biết bắt đầu lại.  Mỗi ngày chúng ta có thể tạo nhân tốt, hậu quả sẽ tốt.  Sống trong xã hội, con người phải tương trợ và có ảnh hưởng lẫn nhau.  Tục ngữ nói: Gần mực thì đen, gần đèn thị rạng.  Một người làm phúc, muôn người đều được hưởng nhờ.  Một cây trổ hoa, cả vườn cây thơm hương.

Sống bác ái vị tha là một bổn phận cao quý của con người.  Chúng ta thường gặp thấy các Tăng Ni Phật Giáo đi khất thực.  Các Tỳ-kheo đi một mình hay từng nhóm, không đứng trước cửa chợ mà đi theo thứ tự, từ nhà này sang nhà khác, không phân biệt, mắt nhìn xuống và yên lặng đứng đợi trước mỗi cửa nhà để xem thức ăn có được đặt vào bình bát không.  Khất thực là xin vật thực của người đời để nuôi thân mà cũng còn có bổn phận nhắc nhở chúng sinh làm việc phúc đức.  Trong Đạo Công Giáo, Kinh Bổn có dạy thương người có mười bốn mối, thương xác bảy mối: Cho kẻ đói ăn.  Cho kẻ khát uống.  Cho kẻ rách rưới ăn mặc.  Viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc.  Cho khách đỗ nhà.  Chuộc kẻ làm tôi.  Chôn xác kẻ chết.  Thương linh hồn bảy mối: Lấy lời lành mà khuyên người.  Mở dạy kẻ mê muội.  Yên ủi kẻ âu lo.  Răn bảo kẻ có tội.  Tha kẻ dể ta.  Nhịn kẻ mất lòng ta.  Cầu cho kẻ sống và kẻ chết.  Đây là những mối phúc quan trọng giúp đỡ tha nhân về vật chất và tinh thần.  Thật ngạc nhiên khi chúng ta nghe Chúa Giêsu dùng dụ ngôn nói về ngày phán xét.  Ngài phán xét về thực hành đức yêu thương hơn là về những sa ngã phạm tội khác.  Được thưởng hay bị phạt đều tùy thuộc vào việc thực hành mười bốn mối này.

Con người không thể nên tốt một mình, nhưng phải tương trợ lẫn nhau mà sống.  Người ta thường nói: Thiên thời, địa lợi và nhân hòa.  Ba yếu tố kết thành sự thành công.  Chúng ta cần có tha nhân để cùng chia sẻ nâng đỡ, cần có cuộc sống xã hội để cộng tác xây dựng và cần có người đồng hành để chung vai sát cánh gánh vác công việc.  Ngày phán xét sau cùng, thẩm phán sự sống sẽ hỏi chúng ta về sự liên đới Nhân Quả giữa người với người.  Với những người tạo Nhân tốt qua việc bác ái, sẽ được nghe những lời an ủi: Vì xưa Ta đói, các ngươi cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước (Mt 25, 35).

Bất cứ vị thánh nào cũng có trái tim yêu thương rộng mở.  Các Ngài biết chia sẻ và dâng hiến.  Hiến dâng cuộc đời cho Chúa và phục vụ tha nhân.  Không có sự liên đới với tha nhân, chúng ta khó có thể nên trọn lành.  Tha nhân tốt hoặc xấu vẫn có thể sẽ giúp chúng ta nên tốt lành.  Chúng ta có thể tìm tựa nương đức ái nơi những người khốn cùng, nghèo đói, cô đơn, bệnh hoạn, tù đầy và thất vọng.  Họ chính là hình ảnh của Đấng đã dám thí mạng vì yêu.  Giúp đỡ những kẻ bé mọn và cùng khốn nhất là chúng ta đang làm cho chính Chúa, Chúa Giêsu đã phán: “Ta mình trần, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu các ngươi đã viếng thăm; Ta bị tù đày, các ngươi đã đến với Ta”(Mt 25, 36).

Thật đáng phải run rẩy và sợ hãi khi chúng ta phải đối diện với sự phán xét sau cùng.  Thiên Chúa nhân từ nhưng công bằng vô cùng.  Giờ phán xét sẽ không có một ai khác chống lưng cho chúng ta.  Chúng ta cũng không còn điểm tựa nào khác để biện hộ.  Sự thật phơi bầy trước tôn nhan chói lòa của Tạo Hóa.  Chúng ta gieo Nhân nào thì sẽ được gặt Quả đó.  Trong cuộc lữ hành trần thế, biết bao lần chúng ta ngoảnh mặt làm ngơ trước nỗi đau khổ, đói khát và cùng quẫn của anh chị em, giờ đây chúng ta phải đối diện: Rồi Người cũng sẽ nói với những kẻ bên trái rằng: “Hỡi phường bị chúc dữ, hãy lui khỏi mặt Ta mà vào lửa muôn đời đã đốt sẵn cho ma quỷ và kẻ theo chúng” (Mt 25,41).

Ngày phán xét, Chúa sẽ không chất vấn chúng ta về bao nhiêu việc vĩ đại đã thực hiện.  Chúa Giêsu nhắc nhở các môn đệ: “Tuy nhiên, anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời” (Lc 10,20).  Thiên Chúa không đếm bao nhiêu giờ chúng ta đã đọc kinh, cầu nguyện, lần hạt, tụ họp sinh hoạt…  Chúa sẽ nhìn xem trái tim của chúng ta đã mở rộng yêu thương đến mức nào.  Chúng ta đã chia sẻ gì cho những kẻ bé mọn nhất của Chúa.  Thiên Chúa tạo dựng chúng ta qua ý muốn của Chúa, nhưng để cứu chuộc chúng ta, Chúa lại dành quyền cho chúng ta lựa chọn.  Hạnh phúc thay những ai được Chúa cho đứng về phía bên phải: “Còn các người lành thì được vào cõi sống ngàn thu” (Mt 25,46).

Lạy Chúa, đã rất nhiều lần chúng con đã thưa rằng: Lạy Chúa có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói khát, khách lạ hay mình trần, yếu đau hay ở tù, mà chúng con chẳng giúp đỡ Chúa đâu? (Mt 25,44).  Chúa trả lời: Ta bảo các ngươi: những gì các ngươi đã làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây là các ngươi đã làm cho chính Ta (Mt 25,40).  Xin Chúa khơi dậy lòng yêu thương bác ái nơi tâm hồn, để chúng con biết cùng chia sẻ.  Chúng con cảm tạ danh Chúa muôn ngàn đời.  Amen.

 Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Nguồn: Langthangchieutim

Nước Thiên Chúa

Nước Thiên Chúa

(16.11.2017 – Thứ năm Tuần 32 Thường niên)

 

Lời Chúa: Lc 17,20-25

20 Khi ấy, người Pha-ri-sêu hỏi Đức Giê-su bao giờ Triều Đại Thiên Chúa đến. Người trả lời : “Triều Đại Thiên Chúa không đến như một điều có thể quan sát được. 21 Và người ta sẽ không nói : ‘Ở đây này !’ hay ‘Ở kia kìa !’, vì này Triều Đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông.” 

22 Rồi Đức Giê-su nói với các môn đệ : “Sẽ đến thời anh em mong ước được thấy một trong những ngày của Con Người thôi, mà cũng không được thấy. 23 Người ta sẽ bảo anh em : ‘Người ở kia kìa !’ hay ‘Người ở đây này !’ Anh em đừng đi, đừng chạy theo. 24 Vì ánh chớp chói loà chiếu sáng từ phương trời này đến phương trời kia thế nào, thì Con Người cũng sẽ như vậy trong ngày của Người. 25 Nhưng trước đó, Người phải chịu đau khổ nhiều và bị thế hệ này loại bỏ.”

Suy Niệm

Từ sau khi dân Ítraen định cư ở đất Canaan,

 Thiên Chúa được họ coi như một vị Vua cai trị mọi dân tộc.

Đặc biệt Ngài là Vua ngự giữa dân Ítraen để lãnh đạo và chăm sóc họ.

Các vị vua trần thế đã xuất hiện trong dòng lịch sử của Ítraen

 như những người phục vụ cho Đức Vua, cho Nước Thiên Chúa.

 Tiếc thay có những vị vua đã không làm tròn sứ mạng.

 Trải qua bao triều vua của nước Ítraen, bao thịnh suy của đất nước,

 từ sau khi lưu đầy trở về, dân chúng chỉ còn biết chờ một Đấng Mêsia.

 Họ tin Đấng ấy sẽ khai mở Nước Thiên Chúa.

“Nước Thiên Chúa đang ở giữa các ông” (c. 21).

Đức Giêsu đã nói với các ông Pharisêu như vậy

 khi họ hỏi Ngài khi nào Nước Thiên Chúa đến.

 Nước ấy không đến một cách lộ liễu ở đây hay ở kia để kiểm tra (c. 20).

 Người Pharisêu không nhận ra Nước ấy đang ở giữa họ.

Chỉ ai biết nhìn, mới nhận ra Nước ấy đang hiện diện và hoạt động

 nơi lời giảng và các phép lạ của Đức Giêsu.

 Khi bệnh được khỏi, khi quỷ bị trừ, khi tội được tha,

 khi con người biết hoán cải để sống những đòi hỏi của Đức Giêsu,

 khi ấy Nước Thiên Chúa có mặt và tăng trưởng.

¬¬¬Đức Giêsu đã khai mở Nước Thiên Chúa.

 Và Nước đó vẫn lớn lên từ từ qua dòng thời gian.

 Như hạt giống được gieo trong đất, đêm hay ngày cũng cứ lớn lên,

 như chút men làm dậy khối bột, như hạt cải thành cây cao rợp bóng,

 Nước Thiên Chúa cũng cần thời gian để đạt đến chỗ viên mãn.

 Hai ngàn năm trôi qua, Nước Thiên Chúa đã lớn lên về mọi mặt.

 Nhưng Kitô hữu chúng ta vẫn thấy còn nhiều điều phải làm

để Nước đó được nhìn nhận bởi hơn 6 tỷ người trên trái đất.

 Ngày nào thế giới còn chiến tranh, bạo động, còn áp bức, bất công,

 ngày nào nhân loại còn bệnh tật đói nghèo, còn nô lệ cho vật chất,

 ngày ấy Nước Thiên Chúa chưa ngự trị trên địa cầu.

 Nơi nào công lý và hòa bình, khoan dung và nhân hậu,

 chi phối trái tim và cách hành xử giữa người với người,

 nơi đó Nước Thiên Chúa đã đến gần hơn.

Chúng ta không chỉ cầu xin cho Nước Cha trị đến (Mt 6, 10).

 Chúng ta biết mình được mời gọi để xây dựng Nước đó trên trần gian.

Để chuẩn bị cho Ngày Chúa Giêsu trở lại trong vinh quang,

 chúng ta còn bề bộn công việc phải làm.

 Ngài phải có chỗ trong lòng dân tộc, giữa thế kỷ hai mươi mốt.

 Nhưng trước hết Ngài phải có chỗ trong lòng chúng ta.

 Xin được đón lấy Nước Thiên Chúa như trẻ thơ, như người nghèo tay trắng.

 Xin được quảng đại bán tất cả để mua viên ngọc quý là Nước Trời.

 Xin được chia sẻ cho Giêsu nơi những người anh em bé nhỏ nhất.

 Vì Nước Thiên Chúa là một tiệc vui quy tụ mọi người từ bốn phương,

 xin được mở rộng vòng tay từ bây giờ để ôm lấy cả thế giới.

Cầu Nguyện

Lạy Chúa, đây là ước mơ của con về thế giới :

 Con mơ ước tài nguyên của cả trái đất này

 là thuộc về mọi người, mọi dân tộc.

 

Con mơ ước

 không còn những Ladarô đói ngồi ngoài cổng,

 bên trong là người giàu yến tiệc linh đình.

 Con mơ ước mọi người đều có việc làm tốt đẹp,

 không còn những cô gái đứng đường

 hay những người ăn xin.

 

Con mơ ước

 những ngưòi thợ được hưởng lương xứng đáng,

 các ông chủ coi công nhân như anh em.

 

Con mơ ước

 tiếng cười trẻ thơ đầy ắp các gia đình,

 các công viên và bãi biển đầy người đi nghỉ.

 

Lạy Chúa của con,

 con ước mơ một thế giới đầy màu xanh,

 xanh của rừng, xanh của trời, xanh của biển,

 và xanh của bao niềm hy vọng

 nơi lòng những ai ham sống và ham dựng xây.

 Nếu Chúa đã gieo vào lòng con những ước mơ,

thì xin giúp con thực hiện những ước mơ đó.

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ 

Đối diện với cái chết

Đối diện với cái chết

01-11-2017

 Ronald Rolheiser, 2010-01-03

Vài năm trước đây, người em họ của tôi chết trong một tai nạn nghề nghiệp. Anh phụ trách chất hàng lên toa xe lửa và khi sợi giây cáp bật đứt dưới sức nặng ngàn cân của sức ép, thì người anh như bị cắt đôi. Anh chết trên đường đến bệnh viện. Anh còn trẻ, đang độ tuổi xuân, là lực sĩ tài năng có mặt trong các đội thể thao địa phương.

Cái chết của anh thật đau đớn và buồn thảm, tuy vậy gia đình và bạn bè anh có vài chuyện an ủi: Những ngày cuối cùng của anh thật dễ thương, các hành vi cuối cùng của anh thật nồng ấm: Trước đó vài ngày, anh tạt qua thăm mẹ và ăn trưa với mẹ, có một thời gian vui vẻ tuyệt vời, và khi đi về anh hôn mẹ chào từ giã, mẹ anh yên lòng biết anh thương mẹ. Cách đó mấy tuần, anh đưa người em út, người em rất thần tượng anh, đi nghỉ vài ngày để xem các trận đấu bóng bầu dục. Theo cách mọi người vẫn nghĩ, anh đã từ giã thế gian trong bình an, anh chết trong khi làm việc. Chất hàng là công việc của anh, khi giây cáp bị đứt, anh bị chết, anh ở đúng nơi anh phải ở, đúng giây phút làm việc của anh. Nếu anh không ở đó vào lúc đó, một người khác cũng sẽ ở đó và họ sẽ chết. Anh chết ở cương vị của anh, đang làm công việc của anh, làm việc lương thiện, anh kiếm sống, anh là nạn nhân của một chuyện bất ngờ, ở nơi mà anh phải ở.

Rốt cùng đó là những gì chúng ta cố gắng để đảm trách cho chính chúng ta. Chúng ta cố gắng trụ nơi chúng ta phải trụ.

Mỗi người chúng ta, không ngoại trừ ai, bất kể tuổi tác, sức khỏe như thế nào, chúng ta đều mong manh, đều không biết gì trước, đều có thể chết, một nhịp tim hụt là rời thế gian, một cú đột quỵ là mất cuộc sống, một tai nạn cho chúng ta biết sức mạnh của chúng ta là phù du, sợi giây cáp đứt và chết trong xe cứu thương. Chúng ta có thể cẩn trọng với mạng sống của mình, sống thận trọng, cố gắng đảm bảo an toàn cho mình, cho người thân, nhưng cuối cùng vẫn không đủ. Chúng ta không thể bảo đảm tim của chúng ta luôn đập.

Vậy chúng ta phải làm gì?

Chúng ta có thể sống cẩn thận, săn sóc sức khỏe và sự an toàn của chúng ta, và nếu chúng ta có đức tin, chúng ta có thể xin Chúa quan phòng. Đương nhiên đó là điều tốt. Nhưng chúng ta có thể làm những chuyện khác, những chuyện còn quan trọng hơn.

Chúng ta cố gắng trụ nơi chúng ta phải trụ. Chúng ta có thể luôn luôn cố gắng giữ nhiệt tâm, phòng hờ đó là những hành vi cuối cùng của chúng ta. Chúng ta có thể ăn điểm tâm với mẹ và tỏ lòng âu yếm mẹ. Chúng ta có thể đưa người thân đi xem trận đấu bóng bầu dục và cố gắng hoà thuận với mọi người. Cốt yếu, chúng ta có thể trung tín, chân thật với những người chúng ta thương, chân thật với những gì chúng ta tin. Chúng ta ở đúng trách vụ của mình, trong dấn thân, trong tình yêu và bổn phận.

Rốt cùng, đó là những gì chúng ta có thể làm, và rốt cùng, như thế là đủ. Ý thức về tính mong manh và về cái chết không có nghĩa là chúng ta sợ hãi, khiếp nhược, rụt rè trước cuộc đời hay cảm thấy tội lỗi vì vui sướng. Chúng ta không buộc phải hướng về một cuộc sống ở thế giới khác mà buông bỏ cuộc sống này. Ngược lại, chúng ta cũng không buông tuồng vui hưởng vì cuộc sống này ngắn ngủi và đầy chuyện không ngờ tới được. Đó là lời mời gọi lòng trung tín; luôn luôn cố gắng để trụ nơi chúng ta phải trụ, trong nhiệt tâm, tình yêu, bổn phận và vui hưởng.

John Powell đã viết có thể có hai thảm kịch trong cuộc sống, mà chết trẻ không nằm trong số đó. Hai thảm kịch đó là: Sống mà không yêu, yêu mà không bao giờ nói lên được tình yêu và lòng biết ơn. Quả đúng như vậy.

Có thể vì tuổi của tôi và cũng có thể đó là chỉ là một thời gian khác thường, nhưng suốt năm vừa rồi, không một tháng nào trôi qua mà thần chết không lấy đi một người tôi thương mến. Chưa bao giờ tôi ý thức tính mong manh của cuộc sống như bây giờ. Về mặt bên ngoài nó làm cho tôi phải nhìn lại sức khỏe của tôi: Tôi đã săn sóc đủ cho tôi? Tập thể dục đủ chưa? Chế độ ăn uống đúng không? Nghỉ ngơi đủ không?

Tuy nhiên, ở tầng mức sâu hơn, nó buộc tôi nhìn lại sức khỏe của tôi theo nghĩa rộng hơn: Tôi có đang trụ nơi tôi phải trụ? Liệu tôi có trung tín với con người của tôi và với những gì tôi tin để mà thanh thản biết rằng tôi đang làm những việc tôi phải làm, giả như hôm nay là ngày cuối cùng của đời tôi? Những gì tôi làm có nồng ấm không?

Tôi cố gắng trung tín mỗi ngày – cầu nguyện, dâng thánh lễ, nhiệt tâm với mọi người, làm công việc của tôi tốt nhất có thể, biết rằng, nếu tôi làm như vậy, tôi đang trụ nơi tôi phải trụ và tôi có thể vui hưởng cuộc sống tốt đẹp này, không mặc cảm tội lỗi, không sợ hãi, sẵn sàng, đứng trụ ngay thẳng, dù sợi giây cáp có đứt thình lình.

J.B. Thái Hòa dịch

(phanxico.vn)

TUYÊN XƯNG, SỐNG VÀ LÀM CHỨNG CHO ĐỨC TIN

TUYÊN XƯNG, SỐNG VÀ LÀM CHỨNG CHO ĐỨC TIN

ĐGM. Giuse Nguyễn Năng

  1. Không một tôn giáo nào có một lịch sử kỳ lạ như Kitô giáo.  Quả vậy, không một tôn giáo nào bị bách hại nhiều, lâu dài và đau thương như Kitô giáo; và cho dù bị bách hại nhiều, lâu dài và đau thương, Kitô giáo không hề bị tiêu diệt, trái lại vẫn không ngừng tăng trưởng cả về phẩm chất lẫn số lượng.  Đó là những bí ẩn của lịch sử không thể lý giải bằng lý lẽ tự nhiên, nhưng chỉ có thể hiểu được trong ánh sáng của niềm tin.

Quả vậy, ngay từ những năm tháng đầu tiên loan báo Tin Mừng, Hội Thánh đã trải qua 300 năm bị bách hại dưới thời các hoàng đế Roma.  Rồi từ đó, Phúc Âm được rao giảng ở đâu, thì ở đó không sớm thì muộn, các Kitô hữu cũng bị bắt bớ và giết chết, Hội Thánh bị bách hại và loại trừ.  Lịch sử Hội Thánh là một lịch sử đầy những cuộc tử đạo, ở khắp mọi miền trên thế giới, vào hết mọi thời kỳ trong lịch sử.

Ngay trong thời đại chúng ta, trong thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI này, nếu tính tổng cộng tất cả các Kitô hữu, gồm Công giáo, Chính thống, Anh giáo và Tin lành, thì hằng năm có khoảng 170.000 người tử đạo, 200.000.000 người chịu bách hại vì đức tin Kitô giáo.

Trên mảnh đất Việt Nam thân yêu này, 117 vị thánh đã được phúc tử đạo trong một giai đoạn bách hại kéo dài đúng 117 năm, tính từ hai vị tử đạo tiên khởi vào năm 1745 đến vị cuối cùng vào năm 1862, qua các triều đại vua Lê chúa Trịnh, Tây Sơn và các triều nhà Nguyễn.  Đó là chưa kể chân phước Anrê Phú Yên tử đạo vào năm 1644, và hằng trăm ngàn tín hữu chết vì đức tin nhưng chưa được phong thánh.

Bức tranh trên đây là một thực tế, và đó cũng là một điều bí ẩn của lịch sử Hội Thánh.  Các Kitô hữu bị ghét, vì trước hết, chính Chúa Giêsu đã bị ghét và đã chịu tử hình trên thánh giá.  Chúa Giêsu chính là vị tử đạo đầu tiên vì Tin Mừng mà Ngài rao giảng.  Ngài là con đường dẫn đến sự sống đích thực, nhưng thế gian lại yêu sự tối tăm hơn ánh sáng.

Chúa nói: “Vì anh em không thuộc về thế gian, và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em…  Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em…  Họ chống lại anh em, vì anh em mang danh Thầy, bởi họ không biết Đấng đã sai Thầy” (Ga 15, 19-21).  Đơn giản chỉ là thế.  Sâu xa là như vậy.

Tuy nhiên, Chúa đã hứa ở cùng Hội Thánh mọi ngày cho đến tận thế, và Chúa đã tuyên bố không quyền năng nào có thể tiêu diệt Hội Thánh.  “Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó.  Nhưng can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16, 33).

  1. Chúng ta hãy cùng nhau ôn lại đời sống đức tin của các thánh tử đạo Việt Nam để xem các ngài đã tuyên xưng, đã sống và làm chứng cho đức tin thế nào.  Tại sao các Kitô hữu bị ghét bỏ, bị bắt bớ và giết chết?  Các thánh tử đạo đã làm gì?

Các thánh tử đạo bị giết chỉ vì tuyên xưng lòng tin vào Chúa Giêsu.  Lòng tin ấy biểu lộ qua việc tôn thờ thánh giá Chúa.  Thánh Anrê Kim Thông nói với quan tỉnh: “Thánh giá tôi kính thờ, tôi giẫm lên sao được!”  Thánh Têôphan Ven nói: “Tôi đã suốt đời thuyết giảng về đạo thập giá, nay tôi lại đạp lên thập giá thế nào được? Tôi thiết nghĩ sự sống đời này đâu quí hoá đến độ tôi phải bỏ đạo mà mua!”

Chắc chắn không phải vì các ngài đã theo đạo Tây mà phản bội tổ quốc và dân tộc.  Các ngài tôn trọng vua quan và hết lòng vì quê hương.  Thánh linh mục Tự đối đáp với quan tòa: “Tôi kính Thiên Chúa như Thượng Phụ, kính vua như trung phụ, và kính song thân như hạ phụ.  Không thể nghe cha ruột để hại vua, tôi cũng không thể vì vua mà phạm đến Thượng Phụ là Thiên Chúa được.”

Nhiều vị thánh đã ở trong hàng ngũ quân đội bảo vệ đất nước.  Thánh Trần Văn Trung là một binh sĩ, đã bị giết vì khẳng khái tuyên bố: “Tôi là Kitô hữu, tôi sẵn sàng đi đánh kẻ thù của đất nước, nhưng bỏ đạo thì không bao giờ.”  Thánh linh mục Khuông từng tuyên bố: “Đạo Giatô không những cấm tín hữu chống lại triều đình, mà còn khuyến khích để họ cầu nguyện và góp phần giúp quê hương an ninh thịnh vượng.”  Yêu nước không có nghĩa là phải thù ghét loại trừ các Kitô hữu và chống lại Kitô giáo.

  1. Lời tuyên xưng của các thánh tử đạo không chỉ là lời tuyên bố trong một khoảnh khắc nhất thời trước khi chết, nhưng đó là hoa trái kết tinh từ một đời sống thấm nhuần Lời Chúa.  Các ngài đã sống đức tin, đã thể hiện Tin Mừng yêu thương trong chính đời sống của mình.

Trước hết, đời sống đức tin của các thánh tử đạo được biểu lộ ngay trong bổn phận hằng ngày của đời sống gia đình.

Dù thời đó, chế độ đa thê vẫn đang thịnh hành trong xã hội Việt Nam, nhưng các thánh tử đạo đã trung thành với giáo huấn một vợ một chồng của Phúc Âm.  Dĩ nhiên có những vị lúc đầu đã không trung thành với lời cam kết hôn nhân, như các thánh Gẫm, binh sĩ Huy, Cai Thìn, quan Hồ Đình Hy… đã có thời gian sa ngã, thế nhưng sau đó tất cả đều biết trở về để vun đắp lại mái ấm gia đình của mình.

Các thánh chu toàn bổn phận nuôi dạy con cái theo tinh thần đức tin.  Thánh Thọ căn dặn các con vào thăm trong tù: “Các con thân mến, cha không còn làm gì giúp các con ở thế gian này được nữa, cha chỉ còn lo chuẩn bị tâm hồn đón nhận những thử thách cuối cùng.  Ý Chúa đã muốn cha xa lìa các con mãi mãi, nhưng các con còn có mẹ, hãy cố gắng vâng lời mẹ.  Các con lớn hãy nhớ quan tâm săn sóc em mình.  Các con nhỏ phải biết kính trọng vâng lời anh chị.  Hãy thương yêu nhau, siêng năng làm việc đỡ đần mẹ.  Hãy nhớ đọc kinh tối sáng và lần chuỗi Mân Côi hằng ngày.  Chúa trao cho mỗi người một thánh giá riêng, hãy vui vẻ vác theo chân Chúa và kiên trung giữ đạo.”

Về phần thánh Anê Lê Thị Thành, vị thánh nữ duy nhất trong số các vị tử đạo, người con gái thứ hai của ngài là cô Anna Năm xác nhận: “Bố mẹ chúng tôi chỉ gả các con gái cho những người thanh niên đạo hạnh.  Sau khi tôi kết hôn, mẹ tôi thường đến thăm chúng tôi và khuyên bảo những lời tốt lành.  Có lần mẹ dạy tôi: “Tuân theo Ý Chúa, con lập gia đình là gánh rất nặng.  Con phải ăn ở khôn ngoan, đừng cãi lời cha mẹ chồng.  Hãy vui lòng nhận thánh giá Chúa gửi cho.”  Người cũng thường khuyên vợ chồng tôi:“Hai con hãy sống hoà hợp, vui vẻ, đừng để ai nghe chúng con cãi nhau bao giờ.”

Kế đến, sống đức tin là sống Tin Mừng yêu thương.

Thánh y sĩ Phan Đắc Hòa rộng tay giúp người nghèo khổ, riêng bệnh nhân túng thiếu, không những ông chữa bệnh miễn phí, lại còn giúp tiền giúp lúa.  Thánh Martinô Thọ nói: “Công bằng chưa đủ, phải có bác ái nữa, mà muốn thực thi bác ái phải có điều kiện”, nên ngài trồng thêm vườn dâu kiếm tiền giúp người thiếu thốn.  Người cùng tử đạo với ngài là Gioan Cỏn từng mạnh dạn đấu tranh cho người nghèo chống lại chính sách đòi sưu cao thuế nặng.  Thánh Năm Thuông là ân nhân của viện cô nhi trong vùng. Còn thánh Trùm Đích thường xuyên thăm viếng trại cùi và sẵn sàng nuôi người mắc bệnh dịch tại nhà mình.

 Điều quan trọng trong đời sống đức tin của các thánh tử đạo là lòng tha thứ.

Nếu lòng anh dũng giúp các vị tử đạo bình thản đón nhận cái chết không run sợ, không quỵ lụy khóc than, thì chính lòng bao dung thứ tha mới là đặc tính phân biệt vị tử đạo với những vị anh hùng vì lý do khác.

Các tín hữu chỉ thực sự chết vì đạo nếu biểu lộ được tình yêu, lòng nhân ái, sự bao dung của Tin Mừng.  Các vị chắc chắn không đồng ý với bản án bất công của triều đình, nhưng như Đức Giêsu trên thánh giá vẫn cầu nguyện cho quân lính giết hại mình, các chứng nhân tử đạo vẫn tiếp tục yêu thương vua quan, và những người hành xử mình.

Khi viên quan nói: “Tôi phải theo lệnh vua, đừng giận tôi nhé”, linh mục Théophane Ven đáp: “Tôi chẳng ghét gì ai cả, tôi sẽ cầu nguyện nhiều cho quan.”  Thánh Hoàng Lương Cảnh làm cho quan quân phá lên cười khi ngài đọc: “Cầu Chúa Giêsu, xin cho các quan trị nước cho yên, càng ngày càng thịnh.”

 Lời tuyên xưng và đời sống đức tin của các thánh tử đạo đã làm trổ sinh hoa trái phong phú trên quê hương Việt Nam thân yêu này.  Chính đời sống của các thánh tử đạo đã cảm hóa và chiếm được tình cảm của bà con hàng xóm.  Dù triều đình nhà Nguyễn ra chiếu chỉ bách hại, bà con hàng xóm vẫn tỏ dấu hiệu thân ái với người công giáo.

Thánh linh mục Vũ Bá Loan là niên trưởng 84 tuổi, được mọi người kính trọng gọi bằng “cụ”, ngài không bị đánh đòn; và trong ngày xử, mười lý hình chạy trốn, đến người thứ mười một, đã lịch sự xin phép: “Việc vua truyền cháu phải làm, xin cụ xá lỗi cho.  Cháu sẽ cố giúp cụ chết êm ái.  Khi về trời cụ nhớ đến cháu nhé.”  Trong vụ án thánh linh mục Gioan Đạt, viên cai ngục nói: “Tôi thấy cụ khôn ngoan, đạo đức, thì muốn kết nghĩa huynh đệ lắm, ngặt vì cụ sắp bị án tử rồi.  Tôi xin hứa biếu cụ một cỗ quan tài để biểu lộ lòng tôi quí cụ.”

Hơn nữa, ngay trong lúc bị giam tù, các ngài đã đưa hằng trăm người đến với Chúa.  Và từ đó đến nay, hạt giống Tin Mừng không ngừng lớn lên trong đất nước này.  Tin Mừng như men đang thấm vào mọi sinh hoạt xã hội để đưa thế gian đi theo con đường của chân lý Phúc Âm.

Là con cháu các thánh tử đạo, chúng ta hãy phát huy gia sản đức tin mà cha ông đã để lại cho chúng ta.  Đức tin ấy đã lớn lên trong máu và nước mắt, trong hy sinh và gian khổ.  Bao nhiêu thế hệ đã nằm xuống để chúng ta được trung kiên với đức tin tông truyền.

Ngày nay, tuy không còn phải chịu những đau thương dữ dằn như trong quá khứ, nhưng chúng ta đang phải đối diện với một cuộc tấn công khác có thể còn nguy hiểm gấp bội, đó là sức mạnh của tiền bạc, địa vị, khoái lạc, tự do buông thả.  Những sức mạnh này đã làm cho bao nhiêu tín hữu gục ngã, đã lôi kéo bao nhiêu Kitô hữu rời xa Hội Thánh, đã làm cho biết bao người quên Thiên Chúa.

Chúng ta hãy bắt chước các thánh tử đạo tuyên xưng đức tin một cách xác tín, ý thức.  Chúng ta có thể nói như thánh Phaolô không: “Tôi biết tôi đã tin vào ai” (2Tm 1, 12)?  Hãy để cho lòng tin vào Chúa thấm nhuần và biến đổi cuộc sống chúng ta, để tất cả mọi hành vi, ứng xử, chọn lựa, thái độ, của chúng ta luôn tỏa chiếu sức mạnh của Tin Mừng và tạo nên một sức hấp dẫn đối với những người chung quanh để đưa họ đến với Chúa Giêsu Cứu Thế.

ĐGM. Giuse Nguyễn Năng

From Langthangchieutim

Ta ngỡ mất, mà chưa đành đánh mất,

Suy Tư Tin Mừng tuần 33 thường niên năm A 19/11/2017

 Tin Mừng (Mt 25: 14-30)

Bấy giờ, Đức Giêsu kể cho các môn đệ nghe dụ ngôn này: “Người kia sắp đi xa, gọi đầy tớ đến mà giao phó của cải mình cho họ. Ông đưa cho người này năm yến, người kia hai yến, người khác nữa một yến, tuỳ khả năng riêng mỗi người. Rồi ông ra đi. Lập tức, người đã lãnh năm yến lấy số tiền ấy đi làm ăn, và gây lời được năm yến khác.

 Cũng vậy, người đã lãnh hai yến gây lời được hai yến khác. Còn người đã lãnh một yến thì đi đào lỗ chôn giấu số bạc của chủ. Sau một thời gian lâu dài, ông chủ các đầy tớ ấy đến và yêu cầu họ thanh toán sổ sách. Người đã lãnh năm yến tiến lại gần, đưa năm yến khác, và nói: “Thưa ông chủ, ông đã giao cho tôi năm yến, tôi đã gây lời được năm yến khác đây.” Ông chủ nói với người ấy: “Khá lắm! Anh đúng là tôi tớ tài giỏi và trung thành! Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh!” Người đã lãnh hai yến cũng tiến lại gần và nói: “Thưa ông chủ, ông đã giao cho tôi hai yến, tôi đã gây lời được hai yến khác đây.” Ông chủ nói với người ấy: “Khá lắm! Anh đúng là tôi tớ tài giỏi và trung thành! Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh!” Rồi người đã lãnh một yến cũng tiến lại gần và nói: “Thưa ông chủ, tôi biết ông là người hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi. Vì thế, tôi đâm sợ, mới đem chôn giấu yến bạc của ông dưới đất. Của ông vẫn còn nguyên đây này” Ông chủ đáp: “Anh thật là tôi tớ xấu và biếng nhác! Anh đã biết tôi gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi, thì đáng lý anh phải gởi số bạc của tôi vào ngân hàng, để khi tôi đến, tôi thu được cả vốn lẫn lời chứ! Vậy các ngươi hãy lấy yến bạc khỏi tay nó mà đưa cho người đã có mười yến. Vì phàm ai đã có, thì được cho thêm và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy đi. Còn tên đầy tớ vô dụng kia, hãy quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài: ở đó, người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng.”

 “Ta ngỡ mất, mà chưa đành đánh mất,”

“Bởi mùi hương ngự trị, cánh hoa tàn.”

(dẫn từ thơ Vương Ngọc Long)

            Mất tình/mất tiền, nào mấy sợ. Bởi, tình/tiền xưa nay còn đó vẫn rất hiền. Cái dễ mất nhất, là niềm tin Chúa gửi nơi lòng dạ con người từ xưa đến nay. Lòng dạ ấy nay đà thấy ở trình thuật, ngày Chúa nhật.     Trình thuật Chúa nhật về niềm tin để luột mất, là ý tứ và ý từ được thánh Mat-thêu đềcập đến qua dụ ngôn kể lại hôm nay. Dụ ngôn, nay kể về “yến bạc” giao cho các người đầy tớ để sinh lời. Dụ ngôn, nay mang nặng tình tiết nối tiếp truyện kể đọc tuần trước, cũng đề cập việc sử dụng và đầu tư của cải vào mọi chuyện.

Thời xưa,“yến bạc” là đơn vị đo lường trọng lượng. Đó, là đồng cân nặng nhất trong hệ thống cần lường. Yến bạc, được dùng để cân đo vàng/bạc, kim loại, và đồ đồng. Mãi về sau, con người mới dùng nó làm đơn vị tiền tệ. Với người Do thái, một yến bạc tương đương với 3,000 shekels, tương tự định mức cân lượng mà người thường mang vác được.

Lịch sử sau thời của Chúa và vào thời thánh Mát-thêu, thì một yến bạc tương đương với 6,000 quan tiền người La Mã. 6,000 quan tiền, tương đương với lợi tức mà công nhân bình thường ở huyện có khả năng kiếm được trong vòng 15 đến 20 năm. Đó, cũng là lối nói thông thường về “một tấn tiền quan” người La Mã.

            Người chủ được nói đến ở dụ ngôn, là người bận rộn, phải đi xa một thời gian không biết trước được hạn định. Ông trao cho 3 người tớ của ông 3 lượng tiền khác nhau. Một người, những 5 yến bạc. Kẻ kia chỉ hai yến. Còn người chót, chỉ mỗi yến một. Tất cả đều tuỳ khả năng của mỗi người.

Nhưng, ông lại không cho họ biết phải làm gì với số bạc ấy. Ông coi mọi người như kẻ chín chắn. Chững chạc. Ông rất tôn trọng tự do và sức sáng tạo, của mỗi người. Và, ông cũng chẳng hề nghĩ là ông đã trao phần ít ỏi cho người đầy tớ thứ nhì và thứ ba. Bởi, mỗi yến bạc khi ấy nặng cả tấn tiền.

            Về cốt truyện thì ai cũng đều đã tỏ. Hai người tớ đầu, đều biết mình phải làm gì với số lượng yến bào do chủ ủy thác. Tức, sử dụng nó một cách mẫn cán, hiệu quả. Cả hai người này đều làm lợi cho chủ nhiều điều thấy rất rõ. Trong khi đó, người đầy tớ cuối lại không hành xử hệt như thế. Y đào đất chôn tiền quan xuống đó, tưởng rằng làm thế tức tạo sự an toàn, đúng đắn như bỏ vào két sắt/quỹ tiết kiệm, mà chẳng biết đầu tư cũng chẳng sinh lời sinh lãi.

            Đó là biện pháp an toàn tối thiểu mà người khờ-khạo nhất cũng nghĩ ra. Tức, không sinh lợi nhưng cũng chẳng làm hại, chẳng thua lỗ điều gì. Tức, không tạo tăng trưởng, nhưng cũng chẳng làm ai thiệt thòi hoặc mất mát. Y ta đem về cho chủ đúng số lượng buổi ban đầu do chủ giao, chẳng dùng vào việc chi hết. Cất như thế, có bỏ công tìm kỹ cũng chẳng thấy được dấu tay, hoặc vết tích.Thật ra, y ta chẳng làm điều gì sai trái cả vì có làm gì đâu mà có sai sót.

            Dụ ngôn cũng cho thấy: hai người đầy tớ đầu được chủ tặng thưởng rất hậu hỹ. Lại được chủ gọi đích danh “tôi tớ lương hảo và trung trực”. Tức, nhận nhiều trách nhiệm sẽgặt hái được nhiều niềm vui. Trong khi đó, người tớ chót bị chủ cho là thành phần bất hảo/lười biếng, đáng trách. Nói đúng ra, phải gọi anh ta là kẻ vô tích sự, chẳng làm được gì nên chuyện, loại người ăn không ngồi rỗi, rất đáng buồn. Thế nên, họ mới bị lên án, dù chẳng lỡ lầm hoặc sai trái.

            Có lẽ khi viết lên dụ ngôn này, thánh sử Matthêu đã mang trong đầu ý tưởng về hai nhóm người Do thái khá quan trọng, vào thời ấy, nếu đem so với nhóm thứ ba. Hai nhóm đầu, là những người đại diện cho cộng đoàn Qumran. Nhóm thứ ba tượng trưng cho đám Biệt Phái, rất Pharisêu.

            Qumran là nơi ta tìm ra Cảo Bản Biển Chết. Ở nơi đó, thấy có cộng đoàn sống chia cách/tách rời xã hội mình đang sống. Tách và rời, khỏi đền Giêrusalem để rồi đi vào chốn sa mạc lặng lẽ, trong hang động. Hang động họ sống, quanh Qumran, bị người La Mã phá huỷ vào thời chinh chiến suốt từ năm 68 đến 70 sau Công nguyên. Nên, cũng chẳng tồn tại khi thánh Matthêu viết lên Tin Mừng của thánh nhân vào niên biểu thứ 85. Và, thánh nhân cũng thừa biết là nhóm người này từng chôn giấu yến bạc đạo đức ở đâu đó, trong hầm tối của chính mình.

            Pharisêu là nhóm người có mặt nhiều hồi thánh Mat-thêu còn sống. Họ là những đối tác chuyên kình chống lại thánh nhân. Vào dạo trước, Đức Giêsu cũng có cảm tình với những người này. Và ngược lại, họ cũng biết điều với Ngài trong nhiều chuyện.

Nhưng 40, 50 năm về sau, thế giới của họ đã biến đổi một cách khác hẳn. Sau ngày đền thờ Giêrusalem bị phá huỷ, đám Pharisêu lại trổi lên thành nhóm lãnh đạo dân Do Thái quyết tập hợp lại với cuộc sống ở ngoài đời. Trước thời thánh Matthêu sống, đám Pharisêu đã củng cố chỗ đứng của họ và phô trương cho mọi người thấy cung cách chỉ biết sống theo luật và luật.    

            Và từ đó, họ tìm cách rút khỏi tầm ảnh hưởng của người La Mã để còn áp đặt mọi chuyện lên dân con của chính mình. Nói theo ngôn từ đạo đức, thì thời đó, đám Pharisêu là nhóm hướng dẫn việc đạo hạnh quyết đưa mọi người rời thế giới thực tại thời bấy giờ. Họ chính là những người cột chặt tinh thần câu nệ lề luật sau hàng rào bảo vệ của Torah.

            Thánh Matthêu chẳng ưa gì nhóm người này. Thánh nhân chỉ muốn sống theo tinh thần của Đức Giêsu chủ trương bằng vào tương quan cởi mở, gọn gàng và nhẹ nhàng hơn. Thánh nhân chủ trương tinh thần biết sử dụng các “nén bạc” do Đức Giêsu và Thần Khí Ngài tặng ban. “Nén bạc” nói ở dụ ngôn hôm nay, không chỉ mang nghĩa kim tiền/của cải thôi; nhưng, còn biểu trưng quà tặng về năng khiếu như khi ta đề cập đến kỹ năng âm nhạc, ngôn ngữ, toán học hoặc những thứ khác.

            Thông điệp thánh Mátthêu gửi mọi người bằng dụ ngôn hôm nay, luôn mang tính giản đơn, thẳng thắn, trực tiếp. Ý thánh sử muốn nói, là: ân huệ Chúa ban cho mọi người vẫn thừa thãi, tràn đầy, không cạn tiệt. Nếu ta lại đem chôn ân huệ Ngài ban xuống đất, khác nào người đầy tớ vô tích sự, kể ở trên.

                                                     Truyện dụ ngôn hôm nay còn làm người đọc liên tưởng đến chuyện “Trân Châu Cảng”. Ở cảng này, tầu thuyền neo đậu đâu nào có nghĩa mình sẽ an toàn thoải mái mãi suốt đời? Chỉ hiện diện sống ở đó thôi, đâu có nghĩa mình sẽ được an toàn cả phần linh thánh lẫn mặt đời.

            Tình tự chuyên lo sống an toàn, được ghi rõ ở nhiều thông điệp được Đức đương kim Giáo Hoàng Bênêđíchtô XVI tỏ cho giới trẻ biết trên báo đài lẫn Đại Hội Giới Trẻ ở Cologne, Sydney lẫn Madrid. Đức Giáo Hoàng đề cập đến Đạo Chúa như tình yêu cao cả, và mặc khải quý hiếm.

Đối với ngài, làm tín hữu Đức Kitô là nhận lãnh ân huệ cao cả và quý hiếm Chúa vẫn ban. Ân huệ Ngài ban cho mọi người, sẽ là đôi cánh tiên để ta bay cao vút, lên cõi tiên. Ân huệ Chúa ban, còn là sứ mạng gửi đến mọi tín hữu. Sứ mạng ấy, là dự án để ta thực hiện vào mai ngày. Là, đem chân, thiện, mỹ vào cuộc sống rất thực để rồi ta tập trung đời mình vào những gì quan yếu, thiết thực thôi.

             Đức Giáo Hoàng từng bảo: giả như Hội thánh mình biết sống thực như thế, ắt hẳn cuộc sống của mình sẽ mãi mãi trẻ trung, suốt mọi thời. Có sống như thế, thánh hội của Chúa sẽ không bao giờ trở nên chai lì, cằn cỗi. Bởi, Hội thánh là hội của các thánh biết kết hiệp với Chúa, tức cội nguồn tuổi trẻ, rất sống động. 

            Nay, điều cần là mỗi người và mọi người nên để cho qua đi tâm tư mỏi mệt và tâm tình nhiều huỷhoại. Để rồi, sẽ hướng nhìn về phía về nơi có sự cao cả đích thực là di sản của Đạo Chúa. Đó, còn là “nén bạc” mà Chủ Tể vũ trụ đã trao cho mỗi một người, trong cuộc đời. Đó, là sứ mệnh khiến ta chọn lựa. Chấp nhận. Sứ mệnh, là: sử-dụng nén bạc Ngài trao hầu xây dựng tương lai mai ngày cho thế giới mình chung sống. Thế nên, hãy dấn bước thâm trầm mà tiến tới. Tiến về phía trước mặt, dù đời người muôn mặt, để còn sinh lợi “nén bạc’ hiếm quý Chúa trao ban, cho ta và cho mỗi người.

            Trong tâm tình cảm kích chấp nhận nén bạc Ngài ban, ta lại sẽ ngâm nga lời ca, còn đậm nét:

 “Xa tít tắp từ rừng xưa cổ tích,

Cỏ xanh mềm ảo hoá giấc phù vân.

Mùa thu ấy đôi mắt buồn man mác,  

Ngong ngóng chờ hoài niệm hoá rêu xanh.”

(Vương Ngọc Long – Đêm Nguyệt Quỳnh)

           Nguyệt Quỳnh đây, có thể không là “nén bạc” quý hiếm Chúa gửi gắm. Nhưng, vẫn là huệ ân/ân huệ mọi người trông ngóng biến thành những gì có lợi cho mình, cho mọi người, ở đời.

            Lm Kevin O’Shea CSsR biên-soạn –  

Mai Tá lược dịch.

Anh không chết đâu em,

Chuyện Phiếm đọc trong tuần 33 thường niên năm A 19/11/2017

 “Anh không chết đâu em,”

anh chỉ về với mẹ mong con.
Anh vẫn sống thênh thang,

trong lòng muôn người biết thương đời lính.”

(Trần Thiện Thanh – Anh Không Chết Đâu Anh) 

(Rôma 12: 10-13)                  

Ấy chết! Đang sống đành rành như người thường là những người sẽ chết bất cứ lúc nào, mà sao anh cứ hát những lời thế? Hát thế, thật như “trù ẻo” tôi và bạn, vẫn từng muốn sống hết đời mình, cho trọn vẹn.

Thôi thì, anh muốn hát thế nào thì hát, nhưng cứ hát chữ “chết chóc” hoặc “chết bất đắc kỳ tử” là tôi đây thấy rợn xương với xương sườn rồi đấy anh ạ, hỡi Trần Thiện Thanh, rất lành của tôi và của bạn.

Thôi thì, anh đã hát rồi, thì tôi nay nghe tiếp những lời lẽ khác, như sau:

“Anh không chết đâu anh, người anh hùng mủ đỏ tên Đương,
Tôi vẫn thấy đêm đêm một bóng dù sáng trên đồi máu.
Nghe trong đêm kêu gào từng tiếng súng pháo đếm mau.
Và tiếng súng tiếng súng hay nhạc chiêu hồn đưa anh đi anh đi.

Anh, anh không chết đâu em, anh chỉ về với mẹ mong con.
Anh vẫn sống thênh thang trong lòng muôn người biết thương đời lính.
Trong tim cô sinh viên hay buồn thường nhắc nhở những chiến công.
Chuyện nước mắt ướt sân trường đại học chuyện anh riêng anh riêng anh.
(Trần Thiện Thanh – bđd)

Về nỗi chết, hôm nay bạn và tôi, lại có những giòng chảy ý-tưởng cứ chảy mãi không ngừng, một thần học. Thần học đây, là môn học về thần linh, thánh ái có những điều rất cần để ý. Hệt như tác-giả ở bên dưới từng biện luận. Thế nhưng, trước khi đi vào luận-giải những tư-tưởng và/hoặc tâm-tư rất tưởng-tượng, mời bạn/mời tôi, ta nghe thêm những lời sau đây:

“Ôi đất mát trên đồi xanh tình yêu khóc ngất bên cỏ tranh
Đâu cánh dù ôm gió, đây cánh dù ôm kín đời anh
Trong những tiếng reo hò kia lẻ loi tiếng súng anh nhiệm màu
Ôi tiếng súng sau cùng đó, anh còn nghe tầm đạn đi không anh

Không, anh không, anh không chết đâu em anh chỉ vừa bỏ cuộc đêm qua
Tôi thấy mắt anh bên ngọn nến vàng hắt hiu niềm nhớ
Trên khăn tang cô phụ còn lóng lánh dấu ái ân
Giọt nước mắt nóng bây giờ và còn hằng đêm cho anh cho anh …”

(Trần Thiện Thanh – bđd)

Và thêm vào đó, là những giòng kể lể rất chuyện đời của con người, mà rằng:

“Sáu giờ sáng. Bà lão bảy mươi tuổi , loắt choắt như chim sẻ ngồi ở bậc thềm ngắm bình minh. Có đôi chim nào dậy sớm đang ríu rít trên ngọn cây gần đó. Nhưng bà còn dậy sớm hơn chúng dù luôn thức tới khuya lơ để săn sóc cho chồng. Nhiều năm rồi, kể từ khi chồng bà bị tai biến. Cũng nhiều năm rồi, sử dụng đồ vật hay máy móc trong các phòng, xê dịch từ góc này sang góc khác lúc làm việc nhà, tất cả bà đều thao tác thành thục và chính xác bằng quán tính chứ không cần nhìn rõ qua cặp kính dày cộm.

Bẩy giờ bà trở vào phòng ngủ, Ông đang thở đều, lồng ngực nhẹ nhàng nhấp nhô lên xuống, đôi mắt nhắm kín. Nhưng một giọng nói thốt ra rõ ràng: “Anh thức rồi, mình à”. Bà mỉm cười: “Để em lấy khăn và thuốc nhỏ mắt cho mình.”

Ông dùng tay phải lau kỹ mặt với chiếc khăn ướt âm ấm. Cách nay nhiều năm cánh tay trái bị hỏng vì tai nạn lao động, thế rồi sáu tháng trước, chân phải bị tổn thương, ông đành để bác sĩ tháo khớp. Ông chỉ còn sử dụng được một cánh tay. Có lần ông bảo bà: “Anh chẳng còn gì cả,mình nhỉ?” Bà vỗ vỗ lên ngực ông: “Còn nhiều chứ và phần tốt nhất ở đây này”.

Khi ông đã sẵn sàng, bà nhấn nút điều khiển nâng chiếc giường dựng lên để ông dễ ngồi dậy, rồi giúp ông ngồi vào xe lăn. Trong phòng tắm bà giúp ông cạo mặt, làm vệ sinh cá nhân buổi sáng, thay áo quần…Đã lâu rồi, mọi việc lớn nhỏ hàng ngày ông đều phải nhờ đến bà. Có lần ông hỏi: “Mình chưa bỏ anh chứ?” Và bà lắc đầu, cười: “Đời nào! Đã ngần ấy năm mà…”

Hai người vào bếp ăn sáng. Trên bàn, các món đã bày biện sẵn sàng, hai ông bà ngồi đối diện nhau, hai bàn tay phải vói qua mặt bàn và mười ngón tay lồng vào nhau, nắm chặt. Họ cùng nhau cầu nguyện… Trong lúc cầu nguyện, nước mắt ông lặng lẽ lăn dài xuống đôi má nhăn nheo. Uống xong tách cà phê, ông bảo bà: “Giá mà biết có ngày sẽ như thế này, mình chẳng đời nào chịu ra nhà thờ với anh, mình nhĩ?”

Bà nhìn thẳng vào mắt ông, nhỏ nhẹ: “Mình biết không, chỉ cần thấy mình cười, thấy ánh mắt mình nhìn em, thế là quá đủ rồi. Em chẳng còn mongmuốn thay đổi gì hết, ngoại trừ một điều. Đó là, nếu như mỗi năm, giá như em có thể thế chỗ mình một nửa thời gian, để mình lại được chăm sóc em”. (Truyện kể trích từ điện thư trên mạng)

Truyện kể ở trên, bạn và tôi có trích-dẫn từ điện-thư hoặc thư tay gửi từ đâu, dù là bưu điện hay vi-tính cũng không thành vấn-đề. Chỉ thành như thế, khi tôi và bạn, ta cứ đinh ninh rằng: truyện ở đây không phải để kể qua loa cho xong chuyện rồi thôi; nhưng còn là bài học để đời giúp ta sống vui, quên chết, mỗi thế thôi.

Truyện, có kể ra đây lại cũng chỉ để làm bàn đạp ngon trớn giúp bạn và tôi ta cứ thế tiếp tục bàn về những chuyện “không vui” cứ xảy đến mỗi ngày ở huyện dân gian hay trong khuôn viên nhà Đạo, cho mọi người lưu tâm, mà nhận xét. Những câu chuyện không vui, nhưng vẫn thành chuyện, hệt như chuyện an-tử lại khiến tôi và khiến bạn lưu-tâm thêm lần nữa, qua mục hỏi đáp, rất như sau:

“Thưa cha,

Con đây muốn viết cho vị dân biểu đại diện cử tri trong vùng về dự luật “an-tử” sẽ được thông qua ở Quốc hội tiểu bang New South Wales những ngày gần đây. Nhưng trước khi làm thế, con muốn hội ý với cha đôi ba sự việc để có được một số ý-kiến mà biện luận. Vậy bằng thư này, xin cha phúc-đáp cho vài ý-tưởng để khỏi trông ngóng. Cảm ơn cha rất nhiều. Xin cho được giữ kín tên tuổi.”

 Giữ kín tên tuổi, vẫn là việc của “chàng”, những chàng trai hay con gái ở huyện nhà rất quan tâm đến chuyện nhà Đạo đang diễn ra ở đây và ở đó, cũng rất nhiều. Chính vì thế, nên cha/cố đã săn sang giấy bút để trả lời/trả vốn cho đàn con nhỏ như sau:

“Việc cần-thiết, là tất cả mọi người chúng ta quyết phải làm để tránh “an-tử” tức: hành động giúp người khác tự sát đang được chính quyền hợp thức hoá, tại nước này. Những điều ẩn-hàm trong đó xem ra rất lớn. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô đệ Nhị có bàn đến an-tử trong tông-thư mang tựa đề “Đời sống Phúc Âm” có bảo rằng: “Nay, ta đang giáp mặt một trong các triệu-chứng rất báo-động của “văn-hoá sự chết” đang tiến mạnh trong các xã-hội trù phú, được đánh dấu bằng thái-độ đối với mối bận tâm về hiệu-năng và thấy con số người già và người khuyết tật đang gia tăng đến mức độ khó lòng chịu đựng được là gánh nặng đối với nhiều người.” (X. Đời sống Phúc Âm đoạn 64)

Ở đây, tôi sẽ đưa ra sáu luận cứ để trả lời cho câu hỏi của anh/chị. Trước nhất, dự-luật đưa ra với quốc hội tiểu-bang New South Wales cho phép bất cứ ai trên 25 tuổi đang chịu đau đớn đến cùng cực được giúp đỡ để kết thúc sự sống của họ nều như có hai bác-sĩ chứng-thực rằng người ấy đang bị bệnh nặng hoặc ở trong tình trang sẽ phải chết trong không đầy một năm.

 Tất cả chúng ta thừa biết là mọi người khi trước đều nói rằng: bệnh nhân này chỉ sống được vài tháng nữa là cùng, thì nay người này lại hoàn toàn mạnh khoẻ trở lại, thế mới lạ. Giả như những người chọn kết liễu đời mình khi cảm thấy đau đớn quá sức mình, thì đó là mất mát lớn đối với chính họ, với bạn bè người thân trong gia đình! Người ta cũng phạm phải sai lầm khi nghĩ đến tuổi thọ. Hợp-thức-hoá an-tử chỉ tổ gia tăng vấn đề ấy mà thôi.

 Thứ hai là, cho phép được an-tử là dựng ra tiêu-chuẩn kép về tình-trạng xã-hội đặt giá-trị lên sự sống như thế nào. Một đằng, ta có lý để ân-hận chuyện chấm dứt sự sống bằng việc tự sát, chí ít là khi việc ấy do người trẻ tuổi nào đó thực-hiện và ta đang cố gắng ngăn chặn mọi người chớ có tự sát.

 Thế nhưng, đằng khác, ta lại hợp-thức-hoá an-tử đến độ có thể giúp đỡ người chấm dứt sự sống của họ nữa. Vậy thì, ta gửi cho những người muốn tự sát thứ thông-điệp nào đây? Ta có còn đặt giá-trị lên cuộc sống và xót xa/ân-hận khi có người tự sát hay không?          

 Thứ ba là, việc hợp-thức-hoá việc giúp đỡ người khác tự sát có lẽ sẽ làm gia-tăng tỷ-lệ tự sát, nói chung. Một khi việc giúp đỡ người khác tự sát được xã-hội chấp-thuận theo luật pháp có thể dẫn mọi người đến tình-trạng không còn đau đớn vì các bệnh nan-y bằng cách chấm dứt sự sống của họ.

 Chuyện này đầu tiên xảy ra ở bên Mỹ, tiểu bang Oregon là tiểu bang đầu tiên hợp-thức-hoá an-tử, thì tại đây việc tự sát nói chung lên đến 40% nhiều hơn con số bình quân trên toàn nước Mỹ. Vậy, ta có muốn tình-trạng ấy xảy ra ở nước mình không? 

Thứ tư là, tiếp theo chuyện đang bàn, thì: giả như ta mở rộng cửa cho việc hợp-thức-hoá việc giết chóc thì việc đẩy mạnh nói đây còn mở rộng hơn nữa. Lấy ví dụ, tại sao người trẻ 25 tuổi kia đang đau đớn vì bệnh ung-thư lại có thể kiếm được bác-sĩ giúp anh đi đến chỗ chết; trong khi đó, một thanh-niên 25 tuổi khác đau đớn vị bệnh trầm thống khập khễnh vì bệnh xốp xương lại không thể làm thế được?

 Nói cho cùng, thì cái đau của người bị ung-thư sẽ chấm dứt trong vòng một năm vì căn bệnh ở vào giai đoạn cuối, trong khi cơn đau của người bị trầm-thống hoặc xốp xương lại cứ tiếp diễn trong nhiều năm tới. Xem thế thì, luật-pháp quả là có kỳ-thị bệnh tật. Bởi thế nên, ta không thể mở rộng cửa cho việc này được. 

Thứ năm nữa, trợ tử hoặc giúp người khác chết cho xong không có nghĩa là công việc đầy lòng thương xót chút nào hết. Như thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô đệ Nhị từng viết trong tông-thư Đời sống Phúc Âm có bảo rằng: Cả vào khi không do động cơ ích-kỷ thúc đẩy vì phải chịu gánh nặng sự sống của người khác đang đau đớn đi nữa, phải gọi an-tử là lòng xót thương tầm bậy và đích thực là lòng thương người một cách méo mó gây bất an.

 Sự “khoan-dung” đích-thực đưa ta đến việc sẻ san cơn đau của người khác; nó không giết chết người đang đau mà ta không thể chịu nổi. Hơn nữa, hành-động trợ-tử hay an-tử hiện rõ bên ngoài càng quái ác hơn nếu nó lại do những người như thế thực-hiện, chí ít là bà con, thân thuộc là những người đáng lẽ phải cư xử với người trong gia đình bằng sự kiên-nhẫn và tình thương yêu, hoặc từ những người như bác sĩ/y tá là những người theo định nghĩa phải là những người chăm sóc người bệnh cả vào giai-đoạn đau đớn đi đến chỗ chết.(X. Tông thư Đời sống Phúc Âm đoạn 66)

Thứ sáu là, các chuyên gia y-tế được huấn luyện để chữa lành và cứu sống người bệnh, chứ không phải giúp họ mau đi đến chỗ chết. Lời thể Hippôcrát ở thế kỷ thứ tư hoặc thứ năm trước Công nguyên, mà các y- sĩ/bác sĩ buộc phải tuyên hứa có ghi như sau: “Tôi nguyện sẽ sử-dụng việc chữa-trị để giúp đỡ người bệnh thể theo khả năng và suy-xét của tôi, nhưng tôi không bao giờ có lập trường làm thương-tổn và hành-xử sai trái bao giờ hết.”

 Và lời cuối cùng thường là lời khuyên ngắn gọn bảo rằng: “Trước tiên, không bao giờ được làm hại ai hết.” An-tử gây tại hại lớn lao đến chết người. Nó dẫn đưa y sĩ và bác sĩ đi ngược lại những gì đi ngược lại mục tiêu mà họ nhắm đến.

 Ta không nên trông chờ các bác sĩ sử-dụng kỹ năng của họ để chấm dứt sự sống của bệnh nhân mà họ đang chữ trị. Nói chung, ta phải làm bất cứ thứ gì để chống-cự lại việc hợp-thức-hoá hành động tự sát có trợ giúp.” (X. Lm John Flader, Euthanasia is atrocious: let me count the ways, The Catholic Weekly 29/10/2017, Question Tỉme tr. 29)

Nói cho cùng, là người đi Đạo chỉ quan-tâm đến việc thương yêu giúp đỡ hết mọi người, dù họ đang trong tình trạng đau yếu, bệnh tật hoặc mạnh khoẻ. Bằng không đi Đạo, chỉ là đi đứng mà không theo Đạo làm người biết yêu thương, giùm giúp một ai hết.

Nói cho cùng, an-tử hay trợ-tử phải là vấn đề đặt ra cho ta và cho người suốt mọi thời, ở mọi nơi, mới được. Để có được một quyết tâm sống chính-đáng cho phải phép, với mọi người, có lẽ cũng nên quay về với lời khuyên từ bậc thánh-hiền trong Đạo, khi xưa vẫn bảo:

“Anh em hãy gớm ghét điều dữ,

tha thiết với điều lành;

thương mến nhau với tình huynh đệ,

coi người khác trọng hơn mình;

nhiệt thành, không trễ nải;

lấy tinh thần sốt sắng mà phục vụ Chúa.

Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng,

cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân,

và chuyên cần cầu nguyện.

Hãy chia sẻ với những người trong dân thánh đang lâm cảnh thiếu thốn,

và ân cần tiếp đãi khách đến nhà.”

(Rôma 12: 10-13)                    

 Xem thế thì, nay đề nghị với bạn và với tôi, ta cùng nhau thực hiện ý-hướng ở trên qua lời lẽ gặp được trong ca-từ đầy “chết chóc” mà người xưa từng hát:

 “Không, anh không, anh không chết đâu em,

anh chỉ vừa bỏ cuộc đêm qua!
Tôi thấy mắt anh bên ngọn nến vàng hắt hiu niềm nhớ.
Trên khăn tang cô phụ còn lóng lánh dấu ái ân.
Giọt nước mắt nóng bây giờ

và còn hằng đêm cho anh cho anh …”

(Trần Thiện Thanh – bđd)

Nước mắt nóng, hay nến vàng hắt hiu niềm nhớ, không là “nỗi chết: của ai đó, nhưng sẽ là lời cảnh tỉnh từ ca, nhạc sĩ vẫn gửi đến với tôi và với bạn, để sống hùng sống mạnh, sống đẹp đẽ trong đời người đầy chết chóc.

 Trần Ngọc Mười Hai

Và những tự nhủ như thế

suốt chuỗi ngày còn lại

trong đời mình. 

MUỐN SINH LỢI PHẢI DÁM LIỀU

MUỐN SINH LỢI PHẢI DÁM LIỀU

“Ông chủ đi vắng…”

Dụ ngôn những nén vàng là dụ ngôn cuối cùng trong ba dụ ngôn được thánh Mátthêu gom lại để nói lên chủ đề “Thời cuối cùng.”  Trong câu chuyện này, ai là ông chủ sắp đi xa, nếu không phải là chính Đức Giêsu? Trước đây một khoảng thời gian ngắn, chính Người đã tuyên bố: “Ít lâu nữa, anh em sẽ không còn trông thấy Thầy, rồi ít lâu nữa, anh em sẽ thấy Thầy.” (Ga 16,16).  Người sẽ ra đi để được Chúa Cha tôn vinh cách công khai và long trọng, Người cũng sẽ trở lại để tính sổ.  Vì vậy, Tin Mừng Mát-thêu đã nối kết câu chuyện xét xử tên gia nhân bất tài với cuộc phán xét chung (Mt 25,31-46).

Ngoài ra, trình thuật hôm nay được đặt trong bối cảnh Đức Giêsu sắp tiến vào Giêrusalem và chịu khổ nạn.  Con Người sắp ra đi và trao phó vương quốc lại cho những người được tín nhiệm.  Các ông có nhiệm vụ làm cho vương quốc ấy được tiến triển.

“Một người kia sắp đi xa, liền gọi gia nhân đến mà giao phó của cải mình cho họ.”

Trước hết, tất cả các gia nhân đều được trao một số nào đó, không ai trắng tay, không có vốn ban đầu.  Tuy vậy, mỗi người nhận được số vàng không như nhau.  Sau này, khi trở về, ông chủ tính sổ với mỗi người theo tình trạng không đồng đều này: ông không đòi người nhận hai nén phải trả lại năm nén.  Ông đòi mỗi người theo mức độ ông đã giao, và chỉ chừng đó thôi.

Thời gian của lịch sử nhân loại, đó là thời gian “ông chủ đi vắng”: mỗi người bị đặt trước thử thách, như gia nhân được ông chủ trao phó những trách nhiệm lớn lao.  Quả thế, đời sống của con người qua đi trong lúc dường như Thiên Chúa vắng mặt hay rút lui để cho các thụ tạo có thể phát huy sáng kiến của mình.  Điều này cho thấy Thiên Chúa rất tin tưởng và tôn trọng con người.

Với các môn đệ của Đức Giêsu, nén vàng chính là “Anh em hãy đi đến với muôn dân, làm phép rửa cho họ…, dạy họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em…” (Mt 28,19.20).  Ngay từ lúc ấy, các môn đệ của Đức Giêsu, đặc biệt là ông Phêrô, được tung vào một thử thách ghê gớm: cuộc đối đầu với các vị lãnh đạo cao nhất về tôn giáo của đất nước.  Ông sẽ mạnh mẽ lên tiếng làm chứng: “Anh em đã giết chết Đấng khơi nguổn sự sống, nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người chỗi dậy từ cõi chết.” (Cv 3,15).  Chẳng có ai ban sức mạnh cho ông, ngoại trừ Thánh Thần của Thiên Chúa.  Tất cả đã được trao cho các môn đệ, cho ông Phêrô.

Ít lâu sau, một cuộc khủng hoảng xảy ra: Có nên từ bỏ Giu-đa giáo không?  Câu trả lời không dễ dàng và cũng không có ngay được.  Dường như chính Đức Giêsu đã không giới hạn sứ vụ của Người nơi đoàn chiên Israel.  Cuối cùng, Hội Thánh đã can đảm tiến lên phía trước: “Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định…” (Cv 15,28).

Tiếp đó là cuộc đụng đầu với bộ máy cầm quyền ở Rô-ma, rồi với cuộc xâm lăng của dân man-di, việc tiếp xúc với những nền văn minh xa lạ.  Mỗi lần lại là những vấn đề mới.

Nhìn chung chỉ khi nào vượt lên khỏi sự sợ hãi, lúc ấy Hội Thánh mới ý thức được rằng Tin Mừng không phải là một kho tàng để cất giữ, nhưng là một hạt giống cần được gieo xuống, một vườn nho phải sinh hoa trái, một nắm men phải dậy lên, một cuộc phiêu lưu cần mạo hiểm, một số vốn phải sinh lời, và cuối cùng, một trách nhiệm phải chu toàn cho đến ngày ông chủ trở về.

Như thế, ông chủ đi vắng, nhưng ông đã tin tưởng vào các gia nhân.  Ông đã trao toàn bộ tài sản của ông cho họ.  Bổn phận của họ là làm lợi thêm để khi ông trở về, ông sẽ tính sổ và ban thưởng.

“… nhưng ông sẽ trở về”

Ông chủ ra đi khá lâu và cuộc thử thách vẫn kéo dài.  Người ta có cảm tưởng rằng ông không trở về, hay là ông đã chết rồi.  Nhưng không, ông sẽ trở về, vào giờ phút không ngờ.  Không ai biết được lúc nào ông chủ trở về.  Chính vì vậy, Đức Giêsu khuyên các môn đệ luôn phải sẵn sàng, phải tỉnh thức trong khi chờ đợi.

Rồi đến lúc ông chủ trở về và đòi các gia nhân tính sổ.  Những người đã sử dụng vốn liếng ông đã trao để sinh lợi, ông ban tặng phần thưởng xứng đáng.  Riêng với người đem cất kỹ nén vàng ông đã trao, ông xử phạt.  Tại sao thế?  Anh đã không sinh lợi thêm, nhưng ít ra vẫn bảo toàn nén vàng, không suy suyển, mất mát.

Thật ra, anh ta không phải là người bất lương; không sinh lợi thêm không có nghĩa là ăn cắp.  Vậy, anh không làm điều bất công, không lỗi đức công bằng, tại sao anh lại bị quở trách và bị xử phạt?

Ông chủ quở trách anh, không phải vì anh đã phạm tội làm trái lẽ công bằng, nhưng tại vì anh đã cư xử trái ngược với sự tín nhiệm ông đặt nơi anh.  Thái độ đáng bị khiển trách của anh, không phải là không làm lợi thêm cho ông chủ, nhưng chính là không dám làm.  Lý do anh đưa ra để bào chữa cho thái độ của mình: anh sợ ông chủ “là một người hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi.”  Anh đã tính toán và nghĩ rằng tốt hơn cả là không nên liều.  Anh đã nghĩ sai về ông chủ, anh đã hồ nghi.  Tội của anh là ở chỗ đó.

Và ông chủ đối xử với anh như anh đã nghĩ về ông.  Anh sợ ông, anh nghi ngờ ông, anh nghĩ ông là người hà khắc; vậy ông xử với anh như anh nghĩ.  Ông đã quở trách anh là bất tài, là vô dụng, thu lại nén vàng đã giao và hơn nữa, còn giam anh vào nơi tối tăm.

Như thế, khi ông chủ tính sổ, thái độ tin tưởng hay hồ nghi sẽ là mức độ để ban thưởng hay xử phạt. Anh gia nhân được giao một nén chỉ nghĩ đến sự hà khắc của ông chủ, nên anh bị phạt, còn những người khác lại nghĩ đến lòng đại lượng của ông chủ, và họ đã sống theo đó, nên được ban thưởng.  Càng tính toán kỹ, người ta lại trở về tay trắng, còn khi tin tưởng, người ta được tràn trề, vượt quá lòng mong ước.

Đây là một thử thách lớn với con người, kể từ thời A-đam. Người ta vẫn có thói quen coi Thiên Chúa như một vị bạo chúa hơn là một người cha đầy tình yêu thương, Đấng đã thiết lập “giao ước” với con người, sau khi họ phạm tội.  Đây cũng là ý nghĩ của những người biệt phái và kinh sư: họ nghĩ rằng chỉ có họ là người công chính, còn người khác thì không.  Họ chẳng yêu mến gì Thiên Chúa, nhưng chỉ vì muốn an toàn và thu lợi về cho mình.  Vì vậy, đương nhiên họ cũng hiểu Đức Giêsu muốn ám chỉ họ khi kể dụ ngôn này.

Như vậy, chắc chắn ông chủ sẽ trở về.  Ông sẽ ban thưởng cho người yêu mến ông, sống xứng đáng với lòng tín nhiệm của ông, ai sống ngược lại, sẽ bị xử phạt.

Mỗi người có vị trí riêng

Một cách gián tiếp, dụ ngôn này đặt nền cho sự tự do của chúng ta.  Nhờ bí tích thanh tẩy, mỗi người đã đón nhận những nén vàng, và phải sinh lợi thêm.  Mỗi người đều có trách nhiệm phát huy sáng kiến để làm tăng thêm những nén vàng.  Tự do cũng đồng nghĩa với dám liều.  Thiên Chúa không muốn chúng ta sống như những người nô lệ, nhưng là như những người tự do, tức là biết quyết định về đời sống hiện tại cũng như tương lai của mình.

Trong thời gian chờ đợi ngày Chúa trở lại, mỗi người chúng ta sẽ sử dụng, điều hành mọi sự không phải như là tài sản của riêng mình, nhưng là của Đấng Sáng Tạo.  Việc sử dụng tốt nhất chính là cộng tác tích cực vào việc xây dựng Nước Thiên Chúa.  Chúng ta sẽ không phân bì, tính toán mình nhận được nhiều hay ít, nhưng hiểu rằng mỗi người có những nén vàng, có vai trò và trách nhiệm riêng của mình.  Thiên Chúa tín nhiệm mỗi cá nhân và giao cho mỗi cá nhân một vị trí đặc biệt, có thể nói mạnh rằng, không ai giống ai.  Điều cần thiết là mỗi người phải hoàn thành “vai trò lịch sử” của mình; bởi vì, vào ngày Chúa trở lại, Người đòi mỗi người phải tính sổ, phải trả lời về những nén vàng mình đã nhận.

Để được như thế, chắc chắn chúng ta phải vượt ra khỏi ý nghĩ cho rằng Thiên Chúa là người hà khắc, trái lại phải sống với Người như với một người cha đầy tình âu yếm.  Thái độ này sẽ khơi dậy lòng tin để dám thoát ra khỏi sự an toàn cá nhân, kể cả việc tỉ mỉ tuân giữ Lề Luật, và vươn tới tinh thần tự do, tinh thần của những người dám đưa ra sáng kiến và đảm nhận trách nhiệm của mình.

Thiên Chúa vắng mặt,

nhưng Người đã tín nhiệm chúng ta,

Người mong muốn chúng ta tỉnh thức

và đảm nhận tương lai của mình.

Chúng ta không có quyền coi thường hay hồ nghi sự tín nhiệm đó,

không có quyền ngủ yên trong hiện tại,

nhưng nhận ra đó là một vinh dự

để nỗ lực hướng tới tương lai, đợi ngày Người trở lại và tính sổ.

 Lm. G Nguyễn Cao Luật, OP

From Langthangchieutim

Nếu hôm nay phải ra đi, liệu anh em đã sẵn sàng?

Nếu hôm nay phải ra đi, liệu anh em đã sẵn sàng?

#GNsP – Hôm Chúa nhật, ĐTC cổ võ mọi người đừng chờ đợi chiêm nghiệm sự sống, nhưng đau đáu câu hỏi: “Nếu hôm nay là ngày cuối còn hiện diện trên trần thế, liệu tôi đã sẵn sàng chưa?

 

Tôi có đang lãnh nhận ân sủng của Thiên Chúa không?

Vậy nên hãy sống khôn ngoan và thận trọng: đừng đợi thời khắc cuối cùng để lãnh nhận ân sủng của Thiên Chúa, nhưng hãy luôn sẵn sàng ngay từ hôm nay.

Điểm cốt lõi trong suy tư của ĐTC về việc chuẩn bị đón nhận Thiên Quốc là đoạn dụ ngôn về mười trinh nữ: năm cô khôn ngoan và năm cô khờ dại.

ĐTC nói rằng đoạn dụ ngôn đã “mách cho chúng ta điều kiện để được vào Thiên Quốc”, chúng ta nghe câu chuyện của năm cô khôn ngoan và thận trọng khi mang dầu lúc đợi chàng rể tới. Còn năm cô kia là những cô khờ dại khi không mang dầu. Vậy khi chàng rể đến, các cô khôn ngoan cùng chàng rể vào bữa tiệc và những cô khờ dại bị bỏ lại bên ngoài.

Chúa Giê-su dạy chúng ta điều gì qua dụ ngôn này?

Ngài dạy ta phải luôn sẵn sàng gặp Thiên Chúa, nghĩa là không chỉ tin mà còn phải thực sự sống đời Ki-tô hữu “trong yêu thương, bác ái với anh chị em ta”.

Trong đoạn dụ ngôn, dầu tượng trưng cho lòng bác ái, là ánh sáng cho đức tin của chúng ta, hãy thắp sáng nó và sinh hoa trái.

Mặt khác, nếu chúng ta sống đời chỉ xem mình là trung tâm và chỉ nghĩ đến lợi ích của cá nhân thì đời chúng ta đã xa cách và đức tin “nguội lạnh”.

Tuy nhiên nếu chúng ta thận trọng và cố gắng làm điều tốt qua cử chỉ yêu thương, chia sẻ và phục vụ anh chị em khó khăn của ta, thì ta đã luôn sẵn sàng khi đợi chàng rể đến.

“Mặc dù Thiên Chúa có thể đến vào bất kỳ lúc nào, ngay cả trong giấc ngủ ngàn thu cũng không thể khiến chúng ta sợ hãi vì chúng ta đã tích lũy đủ dầu qua những việc bác ái thường ngày”

Hãy nhìn lên Trinh nữ Maria, tấm gương bác ái sống động trong đức tin chúng ta, vì thế hãy để đèn được thắp sáng trên hành trình trần thế và mãi mãi sau này, tại bữa tiệc cưới trên thiên đường.”

Sau kinh Truyền Tin, ĐTC nói về Vicente Queralt Lloret và 20 bạn đồng hành và José María Fernández Sánchez và 38 bạn đồng hành sẽ được phong chân phước ở Madrid vào ngày 11 tháng 11. Một số là thành viên của Tu hội Truyền giáo: các linh mục, anh em và người tập tu. Và những người khác là thành viên Hội Đức Mẹ ban ơn. Họ đã tử đạo trong cuộc đàn áp tôn giáo thời kỳ Nội chiến Tây Ban Nha từ năm 1936 đến năm 1937.

Chúng con cảm tạ Thiên Chúa khi Ngài đã ban cho chúng con những chứng nhân tuyệt vời về Chúa Ki-tô và Tin Mừng.

ĐTC kết thúc buổi đọc kinh Truyền tin khi gặp các nhóm hành hương đến từ Washington, Philadelphia, Brooklyn và New York. Khi đó một nhóm đã đồng thanh hát lên, ĐTC liền dừng lại để lắng nghe. Sau đó ĐTC đã cảm ơn họ đã hát cho Ngài nghe và gọi mời mọi người cầu nguyện và chúc họ ăn trưa ngon miệng.

GNsP chuyển ngữ
Nguồn: https://www.catholicnewsagency.com/…/if-you-died-today-are-…

MỘT CÕI ĐI VỀ

MỘT CÕI ĐI VỀ

Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi
Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt
Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt
Rọi suốt trăm năm một cõi đi về

 Bài hát “Một cõi đi về” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn rất quen thuộc đối với nhiều người trong chúng ta.  Dù tác giả không cùng quan điểm tín ngưỡng với Kitô giáo, nhưng lời bài hát gợi nhớ chúng ta về sự mỏng giòn chóng qua của kiếp con người.  Chính tác giả đã giải thích ý nghĩa của bài hát này: “Chúng ta từ hư vô mà đến, khi kết thúc cuộc đời lại trở về với hư vô.”  Những câu đầu của bài hát vừa như một trải nghiệm về tính hữu hạn của cuộc đời, vừa như một khám phá và kết luận rằng những năm tháng sống trên trần gian, dù có miệt mài biết mấy, có thể chỉ là những “loanh quanh” vô định.

Truyền thống Do Thái giáo rồi Kitô giáo cũng khẳng định: con người từ bụi đất mà ra, rồi trở về bụi đất.  Vậy, có điều gì khác biệt giữa “hư vô” của tác giả (cũng như quan niệm của những người vô thần) và “đất” của Kitô giáo?  Nếu “hư vô” là không có gì, thì “đất” lại là một chất liệu, tuy thấp hèn mà hiện hữu.  Tác giả sách Sáng thế kể lại với chúng ta, từ một chút đất sét, Chúa làm nên con người.  Đất chẳng có là gì, nhưng sau khi Chúa nặn thành hình hài con người, thở sinh khí vào lỗ mũi thì trở thành con người có sự sống.  Cách diễn tả bình dân của tác giả sách Sáng thế cho thấy Thiên Chúa tạo dựng con người giống như người thợ gốm nắn thành hình chiếc bình.  Giáo huấn Kitô giáo khẳng định, sau khi nhắm mắt xuôi tay, thân xác con người sẽ trở về với bụi đất vì họ từ bụi đất mà ra.  Tuy vậy, sau những năm tháng sống trên trần gian, trải qua vui buồn sướng khổ của kiếp người nhân thế, con người không mãi mãi mang thân cát bụi, cũng không ngủ yên vĩnh viễn nơi vực sâu.  Sẽ có ngày Thiên Chúa can thiệp và cho họ sống lại từ bụi đất thấp hèn ấy (x. G 19,25-27).  Người công chính sẽ sống lại để ca tụng Thiên Chúa mãi mãi; người bất lương cũng sẽ sống lại, nhưng để đau khổ trầm luân muôn đời.

Tác giả của bài hát “Một cõi đi về” đã ngộ ra rằng, những loanh quanh vất vả của cuộc sống này, kết cục trở nên vô nghĩa.  Con người sống trong đời mải bon chen tính toán, thậm chí còn mưu mô lường gạt, rồi một lúc nào đó giật mình nhận ra những tính toán ngược xuôi ấy chỉ giống như một cuộc chơi, có thắng đi nữa cũng chỉ là mua vui trong chốc lát.  Vì vậy mà “trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ, chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà.”  Ông nghĩ tới “một cõi đi về” như đích điểm cuối cùng của kiếp người, dù đích điểm ấy là hư vô.  Một cõi đi về, đó là chuyến đi cuộc đời.  Đức tin Kitô giáo cũng coi cuộc sống trần gian như một cuộc lữ hành.  Dù hành trình cuộc đời ngắn hay dài, ai cũng đang về tới cội nguồn.  Điểm khác biệt ở đây, cội nguồn không còn là một khái niệm mơ hồ, mà là nhà Cha trên trời.  “Nhà Cha” là một cõi đi về đối với người Kitô hữu.

Nói tới “đi về” là nói đến quê hương.  Nói đến “đi về” cũng muốn khẳng định mình đang ở xa nhà. Con người sống trên trần gian giống như người tha hương, luôn đau đáu một niềm muốn trở về nhà với cha mẹ và những người thân.  Quê hương dù xa biết mấy cũng là nơi ta nhung nhớ; cha mẹ dù nghèo đến đâu cũng là chốn ta hướng về.  Quê hương vĩnh cửu đối với người tín hữu là nhà Cha trên trời, hay hạnh phúc Thiên đàng.  Vì thế, họ sống ở đời này, nhưng luôn hướng về đời sau, và cố gắng làm tất cả để đạt tới quê hương hạnh phúc ấy.  Có những người đã chấp nhận hy sinh tất cả: cha mẹ, anh em, nhà cửa, ruộng nương và gia tài của cải để đạt được Nước Trời, vì họ thấm nhuần lời Chúa dạy: “Nếu con người được lời lãi cả thế gian, mà phải thiệt mất mạng sống, thì được ích gì?” (Lc 9,25).

Người tín hữu sống trong cuộc đời này mà không coi đó là quê hương vĩnh cửu.  Quê hương đích thực của họ ở trên trời, nơi có Đức Giêsu ngự trị, có Thiên Chúa là Cha, có các thánh nam nữ là anh chị em với nhau.  Nước Trời là “cõi đi về” đối với người tín hữu.  “Cõi đi về” không phải là một thứ thuốc phiện mê dân để họ quên đi nỗi đau của cuộc đời nhân thế.  Đó cũng không phải là một thứ bánh vẽ để nhử mồi những kẻ khờ dại.  Chúa Giêsu đã quả quyết với chúng ta: “Trong nhà Cha Thày có nhiều chỗ ở… Thày đi để dọn chỗ cho anh em” (Ga 14,2).  Ai cũng có chỗ trong nhà Cha, miễn là họ sống công chính và thực thi lời dạy của Người.  Trong ngôn ngữ của Kitô giáo, ít khi dùng chữ chết để diễn tả lúc kết thúc đời người.  Những khái niệm đuợc dùng thường là: qua đời, tạ thế, an nghỉ, về nhà Cha…  Những khái niệm này diễn tả quan niệm Kitô giáo về thân phận con người: chết không phải là hết, nhưng chỉ là sự đổi thay.

Trong cõi đời tạm này, khi ý thức mình có một cõi đi về, chúng ta sẽ được đỡ nâng giữa những khó khăn thử thách.  “Cõi đi về” chính là niềm hy vọng cậy trông của chúng ta.  Đó cũng là niềm xác tín vào Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót và Đấng quyền năng mạnh mẽ.  Ngài luôn tha thứ lỗi lầm cho chúng ta mỗi khi chúng ta thành tâm sám hối ăn năn.  Ngài cũng luôn che chở chúng ta trước phong ba bão táp của cuộc đời, và soi sáng hướng dẫn để chúng ta khỏi mắc cạm bẫy nguy hiểm của thế gian.

Trong tháng Mười Một dương lịch, Giáo Hội nhắc nhớ chúng ta hãy cầu nguyện cho những người đã đi hết hành trình dương thế.  Họ đang được thanh tẩy để xứng đáng ra trình diện trước nhan Thiên Chúa, là Đấng phán xét công bằng và cũng là Cha rất mực bao dung.  Khi tưởng niệm những người đã khuất, chúng ta đừng quên thân phận lữ hành của mình.  Đây cũng là một thời điểm hồi tâm, một “điểm dừng” giúp chúng ta xác định lại phương hướng đang đi để tránh lạc đường.  Lộ trình dù có mấy gian truân, cũng đừng ngã lòng thối chí, vì có Chúa đang đồng hành với chúng ta.

 Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Tháng 11 năm 2017

Nguồn: WHĐ

From Langthangchieutim