ĐỨC TỔNG RA ĐI VÀ ĐỨC TỔNG TRỞ VỀ

ĐỨC TỔNG RA ĐI VÀ ĐỨC TỔNG TRỞ VỀ

+ Gm. Gioan B BÙI TUẦN

  1. Cái chết của Đức Cố TGM Phaolô Bùi Văn Đọc là một tiếng Chúa gọi tôi. Chúa Giêsu gọi tôi và nói: “Con cũng sẽ ra đi. Chắc chắn như vậy. Giờ phút ấy là rất quan trọng. Điều gì sẽ an ủi con lúc đó?”.

      

Tôi bối rối, nên xin Chúa thương dạy tôi. Chúa bảo tôi hãy đọc kỹ những lời Chúa đã dặn dò các môn đệ của Ngài trong bữa tiệc ly. Tôi mở Phúc Âm Thánh Gioan, và gặp ngay đoạn 14, Chúa nói:

       

  1. Lòng anh em đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha của Thầy có nhiều chỗ ở, nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi.

      

Vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi” (Ga 14, 1- 4).

       

  1. Đọc xong, tôi tự nhiên cảm thấy mình được an ủi lạ lùng. Tôi tin, lúc tôi chết chính là lúc Chúa Giêsu đến gọi tôi về với Ngài. Chúa ở đâu, tôi sẽ ở đó. Nghĩa là tôi sẽ được ở bên Chúa.

       

  1. Chúa Giêsu đã hứa điều đó cho các môn đệ Chúa. Vì thế, một câu hỏi đã được đặt ra cho tôi, đó là tôi có phải là môn đệ Chúa đích thực không?.

Sẽ có một dấu chỉ, để nhận ra ai là môn đệ Chúa Giêsu, thì dấu đó đã được chính Chúa Giêsu nói rõ. Chúa phán: “Người ta cứ dấu này, mà nhận biết anh em là môn đệ Thầy, là anh em yêu thương nhau, như Thầy yêu thương anh em” (Ga 13, 34-35).

       

  1. Xác định rõ điều đó, tôi thấy là:

 

Điều sẽ an ủi tôi, khi sắp chết, là được về ở bên Chúa.

 

Nhưng điều sẽ làm tôi lo lắng, khi sắp chết, đó là tôi có thực là môn đệ đích thực của Chúa, ở điểm yêu thương như Chúa dạy không.

       

  1. Chính ở điểm yêu thương, tôi thường nhìn những người thân ra đi. Nếu họ có một nếp sống yêu thương như Chúa dạy, thì tôi hy vọng rất nhiều họ sẽ được ở bên Chúa. Đồng thời, họ cũng an ủi những người còn ở lại, bởi vì họ đã yêu thương, và còn sẽ tiếp tục yêu thương.

       

  1. Tới đây, tôi thấy nên nói lên điều này: Yêu thương là việc không dễ.

       

  1. Theo kinh nghiệm của tôi, yêu thương là một kho tàng phong phú. Nhưng theo cách nói của Thánh Phaolô, thì kho tàng đó lại chứa trong những bình bằng sành dễ vỡ “Để chứng tỏ quyền năng phi thường phải phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải từ chính tôi” (2Cr 4, 5).

Thực vậy, chúng tôi dù là giám mục, hay chức sắc nào trong đạo, cũng là những chiếc bình sành dễ vỡ. Nên không tránh được những lỗi lầm thiếu sót trong lãnh vực yêu thương. Chúng tôi rất cần được Chúa thương tha thứ, chúng tôi rất cần được mọi người thứ tha.

       

  1. Tôi sẽ chết. Tức là tôi được về với Chúa Giêsu. Chúa ở đâu, tôi sẽ được ở đó. Vì Chúa đã dọn cho tôi một chỗ ở bên Ngài.

      

Tôi sẽ chết. Tôi cũng sẽ được cùng với Chúa, dọn chỗ cho những người tôi thương mến. Để họ cùng với tôi, sẽ được ở bên Chúa. Ai rồi cũng sẽ có chỗ ở bên Chúa, miễn là khi còn sống, họ là môn đệ Chúa ở điểm họ yêu thương người khác một cách nào đó, như Chúa đã yêu thương.

       

  1. Niềm tin trên đây của tôi dựa trên lời Chúa. Tôi đón nhận cái chết với lòng thanh thản, bởi vì tôi cậy trông vào ân sủng và lòng thương xót Chúa.

       

  1. Như vậy, chính cái chết của những người môn đệ Chúa đều là những lá thư gửi cho những người thân còn ở lại. Lá thư mang nội dung vắn tắt là: Hãy yêu thương, như Chúa yêu thương.

       

  1. Riêng tôi, suốt đời chỉ lo điều quan trọng đó. Và cho tôi giây phút này, tôi phải thú thực là: Ngày nào tôi cũng như phải bắt đầu lại.

      

Yêu thương là đón nhận, là cho đi. Không phải chỉ là những ngọt ngào, mà cũng là những đắng cay. Chẳng yêu thương nào mà không có đau khổ. Tôi muốn nói về những yêu thương đích thực, chính đáng.

       

  1. Việc các giám mục Việt Nam mới rồi đi Rôma thăm Đức Giáo Hoàng và viếng mộ hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô là một biến cố trọng đại. Từ đó đã phát đi nhiều hình ảnh đẹp, nhiều phát biểu hay. Nhưng một sự kiện đã gây nhiều xúc động nhất tại Việt Nam, chính là cái chết của Đức Cố TGM Phaolô Bùi Văn Đọc tại nhà thờ Thánh Phaolô, bên Ý.

      

Phải nói là cả nước đã xúc động và tiếc thương.

      

Cái chết của ngài đánh động các tâm hồn, một cách mạnh mẽ, hơn bất cứ thông điệp nào, hơn bất cứ nghi lễ nào. Lý dó gây xúc động chính là sự ra đi của một nhân vật nổi về yêu thương.

       

  1. Ngài yêu thương một cách khiêm nhường, một cách chân thành, một cách hồn nhiên. Ngài yêu thương với nhiều bao dung, với nhiều quảng đại, với nhiều gần gũi. Ngài yêu thương mọi người, không phân biệt tôn giáo, không phân biệt dân thường hay chính quyền, không phân biệt giai cấp giầu nghèo.

       

  1. Ngài lặng lẽ trở về tổng giáo phận của ngài, để như hạt lúa chôn vùi trong lòng đất mẹ Việt Nam. Tôi nhớ lời Chúa Giêsu phán xưa: “Nếu hạt lúa được chôn vùi xuống đất, nó sẽ mọc lên nhiều hạt khác” (Ga 12, 24). Đám tang của ngài sẽ là một biển yêu thương. Từ đó, chúng ta sẽ nhìn về phía trước. Phía trước cũng phải là yêu thương tỏa sáng.

      

Đức Cố TGM đã ra đi với yêu thương lặng lẽ. Nhưng ngài trở về với yêu thương tràn đầy tha thiết nhắn gửi.

Long Xuyên, ngày 10.3.2018

+ Gm. Gioan B BÙI TUẦN

Vongtaysongnguyen gởi

Dưới Chân Thập Giá Gãy Tay

Dưới Chân Thập Giá Gãy Tay

Thơ của Trần Duy Nhiên 

(Một hôm đi tĩnh tâm ở Domaine de Marie, Dalạt, 

một dì phước cho tôi mượn một cây thánh giá, nhưng đôi tay của Chúa Giêsu đã gãy… 

Bài này được viết trong trường hợp đó)

 

Con yêu dấu, hãy nhìn lên thập giá!

Con thấy không, Thầy đã gãy đôi tay.

Con muốn chăng: làm chi thể của Thầy

để thay thế đôi tay Thầy đã mất?

 

Bàn tay này…

đã chạm đến vết thương nơi người hủi

đã vuốt lên mi mắt của người mù

đã nắm tay người con gái Zairô

(tay cô lạnh vì không còn sự sống…)

Con muốn chăng: áp con tim nóng bỏng

vào vết thương lở loét của nhân gian

vào đêm đen, vào cái chết thế trần?

Con có muốn làm một người như thế?

 

Con có mong trọn đời làm chi thể

để cho Thầy cứu chữa những đau thương

để cho Thầy tỏa ánh sáng thiên đường

Và can thiệp để hồi sinh nhân loại…?

 

Bàn tay ấy…  đã hai lần bẻ bánh

hầu nuôi sống đám đông

đã giương cao bánh thánh

để nuôi dưỡng gian trần

đã trao ban ân tình

cho Giu đa bội phản…

 

Con có muốn, con ơi, con có muốn

bẻ bánh mình hầu chia sẻ quanh con

bước theo Thầy như của lễ tinh thần

và chết đi, cho mọi người được sống?

 

Con có muốn mở lòng con thật rộng

hầu đi tìm người bạn lánh xa con?

Con nói đi ! Con có muốn hay không?

Muốn thay thế đôi tay Thầy đã gãy?

 

Con hãy nhớ: đôi tay ngày xưa ấy

từng rửa chân cho môn đệ thân tình

rồi hôm sau đã phải chịu đóng đinh

treo thân thể của Thầy lên thập giá…

Con có muốn…

làm đôi tay của Thầy  cho anh em chà đạp,

cho mọi người trấn áp, cho thiên hạ đóng đinh

để giúp Thầy hy sinh giương cao trên thập giá

hầu hoàn thành phép lạ: là kéo thế gian lên?

 

Con thấy không: đôi tay Thầy đã mất.

Thầy làm sao cứu vớt được nhân trần?

Thầy cần con, con có biết hay chăng?

Con từ chối… thì Thầy đành thất bại.

‘Thầy chí thánh, chí nhân và chí ái,

từ đáy lòng hèn nhát của con đây,

lệ trào mi, con xin đáp lời Thầy:

‘Vâng, lạy Chúa, xin như lời Ngài dạy…’

 

Không! Lạy Chúa, không đâu…

đây không phải là một lời quả quyết hoặc anh hùng

đây chỉ là tiếng thét của yêu thương…

Con lạy Chúa: xin đừng tin con vội

  From: KittyThiênKim  & Nguyen Kim Bằng

Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.

Thứ Sáu Tuần III Mùa Chay – Năm B – II – 9-3-2018

Mác-cô 12:28b-43

28 Một người trong các kinh sư đã hỏi Đức Giê-su rằng: “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?”29 Đức Giê-su trả lời: “Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất.30

 Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi.

31 Điều răn thứ hai là: Ngươi phảiyêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó.”

32 Ông kinh sư nói với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác.

33 Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ.”

34 Đức Giê-su thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy, thì bảo: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!” Sau đó, không ai dám chất vấn Người nữa.

(Trích Phúc âm Mác-cô bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ  từ http://www.chungnhanducKitô.net/kinhthanh/tan%20uoc.htm)

Gợi ý cầu nguyện:

  1. Nhiều người Do-thái rất nghiêm túc về luật pháp, nhưng thật tội nghiệp vì họ có quá nhiều luật, nên chẳng biết đâu là điều quan trọng nhất.  Tựa như một số người Công giáo thường bối rối tự hỏi: Cái này có tội không?  Tội nặng hay tội nhẹ?  Hôm nay Chúa Giêsu đã nói rõ, chỉ có hai luật quan trọng nhất: Mến Chúa và yêu người.  Tôi có thể dùng lời của Chúa Giêsu mà xét mình trong suốt cả cuộc đời tôi và tôi bắt đầu từ giờ cầu nguyện này: Tôi yêu Chúa đến mức nào? Tôi đến với Chúa trong giờ cầu nguyện này là vì yêu mến Chúa hay là để xin ơn này ơn kia?  Tôi đến với Chúa trong giờ cầu nguyện mỗi này là vì yêu mến Chúa hay vì không cầu nguyện thì có tội?  Nếu tôi yêu mến Chúa thật sự, tôi sẽ đương nhiên yêu người hết lòng.
  2. Giá mà Chúa chỉ dạy tôi yêu mến Chúa thôi thì khỏe quá nhưng, Ngài lại dạy tôi phải yêu người, và luật này không thể tách rời và không kém quan trọng hơn luật yêu mến Chúa!  Có một điều rất thật lànếu tôi không yêu Chúa thật lòng, tôi sẽ không thể yêu tha nhân như chính mình được. Yêu Chúa là một điều kiện tất yếu để tôi có thể và có đủ sức để yêu tha nhân.  Tôi đang khó yêu người chăng?  Tôi tìm về Chúa trong giờ cầu nguyện này, yêu mến Ngài để có thêm sức mạnh yêu người.  Tôi đang muốnyêu người chăng?  Tôi tìm về Chúa trong giờ cầu nguyện này, yêu mến Ngài để được sự khôn ngoan và sáng tạo trong việc yêu người. Nếu tôi yêu Chúa và tôi cũng biết yêu người, quả thật tôi không còn xa Nước Thiên Chúa nữa mà tôi đã ở trong Nước đó rồi. 

Phạm Đức Hạnh, SJ

**********************************************************************

Mùa Chay là thời gian trở lại với trái tim của mình để xem Thiên Chúa có chỗ nào trong trái tim đó. Chỉ khi tim tôi bị tình yêu Thiên Chúa chinh phục và chiếm trọn, nó mới có thể mở ra đến vô cùng trước tha nhân. Ăn ngay ở lành không đủ. Theo đạo không phải chỉ là chuyện ăn ngay ở lành.Tình yêu đối với tha nhân không thay thế được tình yêu đối với Thiên Chúa. Nhưng tình yêu đối với Thiên Chúa lại đòi hỏi tình yêu đối với tha nhân.

   Thương người như thể thương thân. Nhưng đối với tôi thương thân là gì? Tôi cần gì trong cuộc sống? Cảm thông, khoan dung, trung tín, tôn trọng, khích lệ, nâng đỡ, hiền từ … Tôi biết người khác cũng cần những điều ấy như tôi, và tôi muốn trao cho họ.

Lạy Chúa,

   Xin cho con quả tim của Chúa.
Xin cho con đừng khép lại trên chính mình,
nhưng xin cho quả tim con quảng đại như Chúa
vươn lên cao, vượt mọi tình cảm tầm thường
để mặc lấy tâm tình bao dung tha thứ.

   Xin cho con vượt qua mọi hờn oán nhỏ nhen,
mọi trả thù ti tiện.

Xin cho con cứ luôn bình an, trong sáng,
không một biến cố nào làm xáo trộn,
không một đam mê nào khuấy động hồn con.

   Xin cho con đừng quá vui khi thành công,
cũng đừng quá bối rối khi gặp lời chỉ trích.

Xin cho quả tim con đủ lớn
để yêu người con không ưa.

Xin cho vòng tay con luôn rộng mở
để có thể ôm cả những người thù ghét con.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

 Tình Khúc:

httpv://www.youtube.com/watch?v=ZuNzNAyJ7dM

From: KittyThiênKim & Nguyen Kim Bang gởi

TỪ BÓNG TỐI TỚI ÁNH SÁNG

TỪ BÓNG TỐI TỚI ÁNH SÁNG

Mỗi khi đọc Kinh thánh, nếu chịu khó để ý một chút, chúng ta sẽ thấy tên tuổi của nhân vật Nicôđêmô được kinh Thánh nói tới ba lần, vào ba hoàn cảnh và ba thời điểm khác nhau:

Lần thứ nhất: ông ta chủ động đến gặp Chúa Giêsu vào ban đêm.  Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay sẽ nói với chúng ta về cuộc gặp gỡ này.

Lần thứ hai: khi các thủ lĩnh tôn giáo Do Thái đang bàn tính để tìm cách giết Chúa Giêsu.  Nicôđêmô vốn là thành viên của Thượng Hội đồng Do Thái Giáo, ông đã phản đối quyết định đó với ý kiến rằng: “Lề luật của chúng ta có cho phép kết án ai trước khi nghe người ấy và biết người ấy làm gì không?” (Ga 7, 15)

Lần thứ ba: lúc táng xác Chúa Giêsu.  Ông cũng đến để tẩn liệm thi hài Chúa Giêsu bằng cách thức sang trọng như tẩn liệm một vị vua.  Thánh Gioan kể: “Ông mang theo chừng một trăm cân mộc dược trộn với trầm hương.  Các ông lãnh thi hài Chúa Giêsu, lấy băng vải tẩm thuốc thơm mà quấn theo tục lệ chôn cất của người Do Thái.” (Ga 19, 39-40).  Sở dĩ tôi liệt kê ba lần như thế vì tôi muốn làm nổi bật lên khuôn mặt của Nicôđêmô và con người của ông.  Con người ấy đã đi qua một hành trình mà tôi tạm gọi là hành trình từ bóng tối tới ánh sáng, mà ba lần ở trên là ba cột mốc quan trọng trọng trong hành trình đó.

Ở lần thứ nhất, xét về phương diện thời điểm thì đây là giai đoạn mang một bầu khí căng thẳng do Chúa vừa đuổi quân buôn bán ra khỏi đền thờ (x. Ga 2, 13-25).  Sự căng thẳng này chưa kịp lắng dịu thì Nicôđêmô đã lén lút đến gặp Chúa Giêsu vào ban đêm.  Ông ta gặp Chúa lúc đêm tối nhằm giữ kín sự việc và để tránh dòm ngó, soi mói của người khác, đặc biệt là của giới lãnh đạo Do Thái Giáo, đồng nghiệp của ông.  Chi tiết ban đêm mà Thánh Gioan mô tả sẽ nói cho chúng ta biết điều đó.  Và còn hơn thế nữa, hàm chứa trong chi tiết ấy tôi còn khám phá thêm điều này của Nicôđêmô: Ông đang ở trong đêm tối.  Và từ trong đêm tối đó, ông đang dò dẫm, âm thầm tìm đến nguồn sáng.    

Nicôđêmô là ai?  Kinh thánh bảo rằng ông là một thủ lãnh của người Do thái (x. Ga 3,1).  Tức là môt người có địa vị trong xã hội.  Và gắn liền với địa vị đó, chắn chắn ông là người có nhiều kiến thức và là một người có trình độ, chính những cái đó sẽ cho ông có khả năng là một người Giàu có.

Tóm lại, cuộc sống ông đầy đủ, bảo đảm, và an ninh.  Vậy ông còn thiếu cái gì?  Bên ngoài xem ra ông đầy đủ.  Ông có tất cả.  Nhưng những cái mà ông đang có đó không thể làm cho ông được sống thoả mãn.  Vì thế, tự trong thâm tâm của ông vẫn luôn nói với ông rằng ông vẫn còn thiếu một cái gì đó.  Cái đó là cái gì nếu không phải là sự sống đời đời.  Nên ông vẫn phải đi tìm.  Và ông hy vọng rằng nơi Chúa Giêsu, ông sẽ khám phá và có được sự sống ấy.  Và thế là cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và anh tân tòng Nicôđêmô bắt đầu.  Chắc chắn cuộc nói chuyện này rất dài và rất lâu.  Tôi không muốn đi sâu vào cuộc đối thoại này vì sợ làm mất nhiều thì giờ của anh chị em.

Nhưng thay vào đó là điều tôi muốn nhấn mạnh trong bài chia sẻ này là: Chúng ta có thể khám phá ra điều gì về Nicôđêmô qua ba lần được Thánh kinh mô tả?  Là gì, nếu không phải đấy là ba giai đoạn của một hành trình hoán cải mà Nicôđêmô đã đi qua.

Lần xuất hiện đầu tiên cho thấy ông là người cởi mở, nhiều thiện chí và là một người thật sự muốn tìm kiếm chân lý.

Lần xuất hiện thứ hai chứng tỏ ông là một người công chính, một mực khăng khăng rằng không được kết án Chúa Giêsu trước khi đưa ra xét xử công khai.  Và lần xuất hiện thứ ba cho thấy rằng ông là một người giàu có nhưng quảng đại và có lòng thương xót nữa.  Dám bỏ tiền ra mua số lượng lớn là một trăm cân mộc dược và trầm hương, là những thứ quý hiếm.  Chúng ta đang sống trong bầu không khí của Mùa Chay.  Ai trong chúng ta cũng biết Mùa Chay là mùa hoán cải.  Vì thế để gọi là hoán cải, chúng ta cần làm lại hành trình của Nicôđêmô.  Hành trình đó được khởi đi từ một khao khát được sống.  Khao khát đó sẽ giúp cho ta:

  1. Ra khỏi chính mình để đi tìm, để tiếp cận, để gặp gỡ Chúa Giêsu là Đấng ban sự sống và là Sự Sống.
  2. Một khi đã khám phá Sự sống đó, sẽ dẫn chúng ta tới sự can đảm để bảo vệ cho sự sống ấy.
  3. Cuối cùng là lòng quảng đại để sống cho, sống vì và sống với Sự Sống đó.

– Đó là những Giá trị của Tin Mừng.

– Đó là hành trình của Mùa chay.

– Đó là hành trình của hoán cải.

– Đó là hành trình của bóng tối đến ánh sáng, hành trình đi từ bống tối của sự chết đến ánh sáng của Sự sống.  Amen!

Sưu tầm

From Langthangchieutim gởi

CẦU THANG LẠ TẠI NGUYỆN ĐƯỜNG LORETTO

CẦU THANG LẠ TẠI NGUYỆN ĐƯỜNG LORETTO

 (Tài liệu tổng hợp trên Internet)

 Trần Mỹ Duyệt

Phải chăng chiếc cầu thang tại nguyện đường Loretto tại Santa Fe, New Mexico đứng vững một cách lạ lùng mà không cần cột trụ chống đỡ?

Tôi đã đọc và đã nghe về câu truyện cầu thang lạ được cho là do Thánh Giuse làm tại nguyện đường Loretto, thuộc tiểu bang New Mexico từ lâu. Với lòng sùng kính, yêu mến Thánh Giuse, vị quan thầy đã giúp tôi vượt qua rất nhiều chặng đường chông gai trên hành trình đức tin cho đến ngày nay. Và trong tâm tình tạ ơn Ngài, tôi cũng ước ao có một lần được đến chiêm ngắm kỳ công được cho là do chính tay Ngài tác thành, cũng như để cảm ơn Ngài vì muôn ơn lành Ngài hằng bầu cử cho tôi.

Niềm ao ước ấy đã được thể hiện sau nhiều ngăn trở từ việc nhà, việc làm, việc giờ giấc, và việc di chuyển. Cuối cùng chúng tôi gồm 3 cặp, tôi và nhà tôi, Ngoan-Kim Mai, và Hải Sơn-Loan đã cùng ngồi chung một chuyến xe trực chỉ California-New Mexico, thứ Bẩy, ngày 10 tháng 2 năm 2018. Một đoạn đường không hề ngắn đòi hỏi 14 giờ lái xe. Dường như Thánh Giuse đãi ngộ những người lữ hành chưa một lần được thấy tuyết. Trên đường đi, 3 người lữ hành phái nữ đã tỏ ra rất vui vẻ, hào hứng khi xe bước vào địa phận New Mexico, và lần đầu họ nhìn thấy tuyết rơi. Phải kể là tuyệt đẹp nếu ai chưa một lần nhìn tuyết rơi, nhất là nhìn tuyết rơi qua ánh sáng mờ ảo của đèn đường, và đèn xe. Nhưng người tài xế thì không vui và hào hứng tí nào. Đường xa thăm thẳm, tuyết phủ trắng hai bên và trước mặt, chỉ cần sơ ý một tí là cả phái đoàn lăn xuống vệ đường! Nhưng rồi cũng đến nơi an toàn.

Sau một giấc ngủ vùi, sáng hôm sau, Chúa Nhật, việc đầu tiên khi vừa thức giấc là các bà rủ nhau ra chụp hình dưới tuyết và với tuyết quên cả điểm tâm sáng. Sau khi đã say sưa với tuyết, phái đoàn trực chỉ thánh đường Đức Mẹ Guadalupe, tham dự thánh lễ tại nhà thờ chính tòa Thánh Phanxicô, và điểm dừng chân quan trọng nhất là nhà nguyện Loretto, nơi có cầu thang của Thánh Giuse. Buổi chiều lại cùng nhau viếng tu viện cổ của các tu sỹ Phanxicô, nơi có nhà nguyện Hố Cát.  

SANTA FE VÀ HUYỀN THOẠI    

 Trong các nơi hành hương lần này, nhà nguyện Loretto nơi có “cầu thang Thánh Giuse” được lưu ý đặc biệt, vì đó là nơi phát xuất chiếc cầu thang lịch sử này.

  Vào năm 1610, người Tây Ban Nha đã thành lập một tỉnh gọi là Santa Fe – thủ phủ của tiểu bang New Mexico hiện giờ. Cư dân bao gồm người bản địa Da Đỏ, người Mễ, và người Tây Ban Nha. Một vùng đất với nhiều nền văn hóa khác nhau, như văn hóa thổ dân Da Đỏ, văn hóa Tây Ban Nha, văn hóa Mễ Tây Cơ, và văn hóa Anglo. Thành phố do người Tây Ban Nha thống trị. Sau 25 năm đặt dưới quyền của Tân Cộng Hòa Mễ Tây Cơ, năm 1848 miền đất này được sát nhập và trở thành một tiểu bang của Hiệp Chủng Quốc sau cuộc chiến với người Mễ Tây Cơ. Santa Fé từ 130 năm nay, qua huyền thoại chiếc cầu thang tại nguyện đường Loretto, đã thu hút khoảng 250.000 khách hành hương mỗi năm.

Lịch sử nhà nguyện Loretto bắt đầu từ khi Giám Mục Jean Baptisite Lamy được phái đến New Mexico năm 1850. Việc đầu tiên là ngài đã nghĩ đến việc quảng bá đức tin rộng rãi và nâng cao nền giáo dục cho dân chúng trong vùng. Để giúp hoàn thành trách nhiệm, ngài đã mời một số các nữ tu Loretto từ Kentucky đến giúp. Năm 1852, nhà dòng gửi 7 chị em đến Santa Fe theo lời yêu cầu của Đức Giám Mục Lamy. Trên đường tới nhiệm sở, với thời tiết khắc nghiệt, bệnh tật, và băng qua phần đất của người thổ dân, Mẹ Bề Trên đã qua đời, vài nữ tu quá cao tuổi không thể tiếp tục cuộc hành trình và phải về lại Kentucky. Các nữ tu đã đến nơi vào năm 1852 sau những ngày tháng vất vả trong đó gồm nữ tu Catherine, Hilaria, Roberta, và Magdalen. Tất cả đã lập thành một cộng đoàn, và Đức Giám Mục Lamy đã đặt nữ tu Magdalen làm Bề Trên. Nữ tu Magdalen được mô tả là người có lòng tin mạnh mẽ, quyết đoán, và biết đối phó với những tình huống khó khăn của các chị em lúc bấy giờ. Ngày nay Santa Fe đã được đổi mới, nó khác xa với quá khứ thời mà hầu hết ngừơi Công Giáo là người Mễ Tây Cơ và người Da Đỏ địa phương.

Năm 1853, các nữ tu bắt tay vào việc mở trường học (Academy of Our Lady of Light ‘Loretto’).  Những lớp học bắt đầu phát triển với 300 học sinh trong 10 ngôi nhà. Nhờ sự đóng góp của các phụ huynh, tiền học phí, các nữ tu bắt đầu xây trường và nhà nguyện. Đức cha Lamy đã nhờ kiến trúc sư Antoine Mouly và con ông là Projectus Mouly từ Paris qua Santa Fe để xây nhà nhà thờ chính toàn Thánh Phanxicô trong 10 năm. Trong thời gian này, Đức Giám Mục cũng nói với các nữ tu nhờ hai kiến trúc sư này xây cho một nguyện đường. Bởi vì nhà trường cũng cần có một nhà nguyện. Nhà nguyện được khởi công vào ngày 25 tháng 7 năm 1873.

CẦU THANG LẠ

Khi hoàn thành công việc thì kiến trúc sư đột ngột qua đời, và các nữ tu cũng khám phá ra rằng ngôi nhà nguyện tuy rất đẹp nhưng lại không có cầu thang để cho các nữ tu lên gác đàn. Có hai giải pháp được đưa ra lúc bấy giờ. Một là dùng thang để lên xuống, hai là phá phần gác đàn đi làm lại, nhưng cả hai đều bị Mẹ Bề Trên từ chối. Phá gác đàn xây lại là chuyện không khả thi. Lên xuống bằng thang thì bất tiện, vì các nữ tu mặc áo dòng lòa xòa lên xuống cầu thang rất nguy hiểm. Mẹ Bề Trên đã mời nhiều kiến trúc sư nhà nghề đến nhờ đóng cho chiếc cầu thang, nhưng tất cả đều từ chối vì không thể làm được. Do đó, cả tu viện đã quyết định làm Tuần Cửu Nhật kính Thánh Giuse, người thợ mộc thành Nazareth với hy vọng sẽ có sự hướng dẫn và giải quyết vấn nạn từ Ngài.  

Ngày cuối Tuần Cửu Nhật bỗng có một người lạ với mái tóc hoa râm đến gõ cửa tu viện và tự xưng là thợ mộc. Ông nói ông có thể giúp các nữ tu làm một chiếc cầu thang. Ông chỉ yêu cầu một điều duy nhất là ông sẽ tự khóa mình trong nhà nguyện trong vòng 3 tháng, và cung cấp cho ông nước ấm để ngâm gỗ. Đồ nghề của ông rất đơn sơ bao gồm một chiếc búa, một cái cưa và một thước thợ.

Chiếc cầu thang đã được hoàn tất mà cho đến nay được công nhận là một kỳ công của ngành kiến trúc. Nó là một chiếc cầu thang hình xoắn ốc 360 độ, thẳng đứng 20 feet mà không có trụ đỡ. Nó đứng vững trên nền nhà nguyện với sức nặng của ca đoàn lên xuống đúng theo luật sức hút của trái đất. Một chi tiết lý thú khác là chiếc cầu thang ấy được hình thành bằng 33 bậc, trùng hợp với tuổi của Chúa Cứu Thế.

Có ba điều lạ lùng của chiếc cầu thang này, đó là:

Thứ nhất, cho đến ngày hôm nay không biết ai là người đã làm nên nó, vì làm xong chiếc cầu thang thì người khách lạ kia cũng biến mất. Các nữ tu đã không có cơ hội cảm ơn và trả tiền công cho ông. Do đó, có lời đồn đãi khắp thành phố Santa Fé thời bấy giờ là người thợ mộc ấy chính là Thánh Giuse, người đã được Chúa Giêsu sai đến để giúp giải quyết khó khăn cho các nữ tu.  Kể từ đó, cầu thang này được gọi là “cầu thang Thánh Giuse” và đã thu hút từng đoàn khách hành hương mỗi ngày. 

Thứ hai, các kiến trúc sư, các kỹ sư và các nhà khoa học đều nói rằng, họ không thể hiểu nổi tại sao một chiếc cầu thang như vậy lại có thể đứng vững mà không cần đến trục trung tâm chống đỡ. Đặc biệt là không có một chiếc đinh nào, hoặc hồ keo nào được dùng để làm nên cầu thang ấy. Trong thời gian đầu, cầu thang không có những thang cản. Lan can được thêm vào sau này. Một trong những thiếu nữ học tại trường thời gian đó khoảng 13 tuổi, sau này trở thành nữ tu Loretto đã kể lại câu truyện mà chưa bao giờ nói cho ai biết trước đó. Đó là chị và vài người bạn là người đầu tiên lên cầu thang này. Nữ tu cho hay lúc đó rất sợ hãi khi từ trên gác xuống, nên cả bọn phải dùng tay và đầu gối để bò. 

Và sau cùng là, những gỗ làm cầu thang này mua ở đâu? Họ đã thí nghiệm và kết luận rằng đây là thứ gỗ mà họ không thể tìm thấy trong toàn cả vùng ấy.  Chính Bề Trên tu viện đã đến một tiệm bán gỗ trong vùng để trả tiền gỗ, nhưng hỏi ra không ai biết người mua gỗ, và cũng chẳng có gỗ nào được bán ra. Ông Urban Weidner, một kiến trúc sư và là một người chuyên môn về gỗ ở Santa Fe nói rằng, ông chưa bao giờ thấy một cầu thang nào xoắn 360 độ mà không có trụ giữa. Theo ông, gỗ được lát rất xít sao và không có một cái đinh nào được dùng để giữ chúng. Và ông tự hỏi làm cách nào một người thợ mộc vào năm 1870 với những dụng cụ thô sơ lại có thể hoàn tất một công trình như vậy. 

Nhiều nhà chuyên môn khác cũng đã cố phân tích về khả năng và chất liệu gỗ. Không ai có được câu trả lời thỏa đáng về sự kiện được cho là mầu nhiệm này. Một cầu thang được sử dụng ròng rã 80 năm mà gỗ không bị mòn. Cũng theo Ông Weidner khẳng định thì thứ gỗ ấy không có trong vùng New Mexico. Vậy câu hỏi là người thợ mộc ấy lấy những gỗ ấy từ đâu?

Ngôi nhà nguyện ngày nay, mang dấu ấn của nhiều lần trùng tu như đàng thánh giá, bàn thờ và những hình được vẽ trên tường hoặc trần nhà vào năm 1890. Nhưng The Loretto Academy đã đóng cửa năm 1968, và phần đất này được rao bán. Vào thời gian bán năm 1971, Our Lady of Light không còn được xem như một nguyện đường Công Giáo nữa. Hiện nay nó là một bảo tàng viện với chiếc cầu thang lịch sử trong đó.

ITE AD JOSEPH

Đối với tôi, Thánh Giuse chính người cha, đấng quan thầy thần thánh. Tôi vẫn hằng ngày cầu xin với Ngài, cố gắng noi theo gương mẫu của Ngài trong đời sống tâm linh và trong việc chu toàn những trách nhiệm người gia trưởng của một gia đình. Hơn bao giờ hết, đời sống hôn nhân, ơn gọi gia đình đang là một thách đố lớn lao cho những giá trị tinh thần, tôn giáo, văn hóa và xã hội. Theo chị Lucia, một trong ba trẻ Fatima, thì trận chiến sau cùng mà Satan đang mở ra để quyết tranh dành các linh hồn với Chúa là trận chiến gia đình. Chỉ cần nhìn thoáng qua hiện tượng các gia đình, những giá trị hôn nhân ngày nay là đã đủ thấy tầm mức quan trọng của một vị gia trưởng, nếu như họ muốn lèo lái, muốn hướng dẫn gia đình mình đi đúng hướng, tiến tới hạnh phúc và bình an.

Viếng Cầu Thang Thánh Giuse lần này đối với tôi không chỉ là một cuộc hành hương, một sự thỏa mãn tính tò mò, mà là một lần trở về với ngôi nhà Nazareth thuở xưa nơi Thánh Giuse, Mẹ Maria, Chúa Giêsu đã từng sinh sống qua hình ảnh một tác phẩm mà chính do tay Ngài đã làm với kinh nghiệm một người thợ mộc.

“Ite ad Joseph”. Xin Thánh Giuse hãy gìn giữ, thánh hóa và hướng dẫn các gia đình, đặc biệt, các người cha, người mẹ, và con cái khi họ đến với Ngài. Bởi vì xưa Thiên Chúa đã trao cho Ngài gìn giữ và săn sóc Thánh Gia, thì ngày nay cũng xin Ngài gìn giữ và săn sóc các thánh gia nhỏ bé là các gia đình đang đặt niềm tin nơi Ngài.

Tháng Ba, tháng kính Thánh Giuse

3/2018

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

MÙA CHAY VÀ ƠN CỨU ĐỘ

MÙA CHAY VÀ ƠN CỨU ĐỘ

 

Mùa Chay là thời gian nhắc nhở đặc biệt đến ơn cứu độ.  Hầu như ngày nào Phụng vụ cũng có lời giục giã.  Thí dụ:

Hãy khát khao tìm ơn cứu độ,

Hãy sốt sắng cầu xin ơn cứu độ,

Hãy khiêm tốn đón nhận ơn cứu độ,

Hãy tích cực cộng tác vào công trình cứu độ,

Hãy cảm tạ Chúa vì ơn cứu độ,

Hãy xin Chúa thương ban ơn cứu độ cho thế giới vv…

 

Tất cả chứng tỏ ơn cứu độ là hết sức quan trọng.  Vậy ơn cứu độ là gì?

 

Tôi không đưa ra một định nghĩa thần học.  Chỉ xin nêu lên một số yếu tố gần gũi, vừa rút ra từ Kinh Thánh, vừa sát với kinh nghiệm cuộc đời.

 

Yếu tố thứ nhất là con người cần được cứu khỏi tình trạng tội lỗi.

 

Tội lỗi bám vào con người.  Tội lỗi đeo đẳng cuộc đời.  Tội lỗi tước đoạt tự do con người.  Đây là một kinh nghiệm bản thân, mà mỗi người đều có thể nói lên cách này hay cách khác.  Riêng thánh Phaolô dám viết ra kinh nghiệm của mình một cách khiêm nhường và xác thực.  Thiết nghĩ đây là một sự thực mà mỗi người nên coi là của chính mình.  Ngài viết: “Vẫn biết rằng Lề Luật là bởi Thần Khí, nhưng tôi thì lại mang tính xác thịt, bị bán làm tôi cho tội lỗi.  Thật vậy, tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu:  Vì điều tôi muốn, thì tôi không làm.  Nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại cứ làm.  Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, thì tức là tôi đồng ý với Lề Luật và nhận rằng Lề Luật là tốt.  Vậy thật ra không còn phải là chính tôi làm điều đó, nhưng là tội vẫn ở trong tôi.  Tôi biết rằng sự thiện không ở trong tôi, nghĩa là trong xác thịt tôi.  Thật vậy, muốn sự thiện thì tôi có thể muốn, nhưng làm thì không.  Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm.  Nhưng sự ác tôi không muốn, thì tôi lại cứ làm.  Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, thì không còn phải là chính tôi làm điều đó, nhưng là tội vẫn ở trong tôi.

 

Bởi đó, tôi khám phá ra luật này: Khi tôi muốn làm sự thiện, thì lại thấy sự ác xuất hiện ngay.  Theo con người nội tâm, tôi vui thích vì luật của Thiên Chúa.  Nhưng trong các chi thể của tôi, tôi lại thấy một luật khác: Luật này chiến đấu chống lại luật của lý trí và giam hãm tôi trong luật của tội là luật vẫn nằm sẵn trong các chi thể tôi.

 

Tôi thật là một người khốn nạn!  Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này?  Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 7,14-25).

 

Nói lên được sự thực bi đát đó như thánh Phaolô là điều đáng mừng.  Phải nhận sự thực này một cách khiêm nhường mới hiểu được sự cần thiết đi tìm ơn cứu độ.

 

Hiện nay, ý thức về tội đã và đang suy giảm một cách mau lẹ và rất đáng lo ngại.  Có người mất hẳn ý thức về tội.  Vì thế mà tình hình đạo đức xuống dốc rõ ràng.  Nguy cơ đe dọa phần rỗi là rất trầm trọng.

Do đó, Mùa Chay nói về ơn cứu độ, mà nếu quên nhắc đến xiềng xích tội lỗi, thì sẽ là một thiếu sót lớn.  Đối với những ai có trách nhiệm loan báo ơn cứu độ, sự thiếu sót đó sẽ là một bất trung đối với Đấng Cứu độ, làm lạc đi ý nghĩa mùa chay.

 

Yếu tố thứ hai là con người cần được cứu khỏi nguy cơ làm tôi ma quỉ.

 

Quyền lực ma quỉ trên thế gian này là rất lớn, rất rộng.

 

Có trường hợp con người vâng phục ma quỉ một cách ngoan ngoãn và tự nhiên như thể họ là con cái đối với ma quỉ là cha mẹ họ.  Chúa Giêsu có lần đã nói rõ về một đám đông: “Cha các ông là ma quỉ, và các ông muốn làm những gì cha các ông ham thích.  Ngay từ đầu, nó đã là tên sát nhân.  Nó đã không đứng về phía sự thực, vì sự thực không ở trong nó.  Khi nó nói dối là nó nói theo bản tính của nó, bởi vì nó là kẻ nói dối, và là cha sự gian dối” (Ga 8,44).

 

Có trường hợp con người phải vâng phục ma quỉ một cách miễn cưỡng như kẻ bị xiềng xích dưới quyền bạo lực.

 

Thánh Luca thuật lại hình ảnh kẻ bị quỉ ám tại Ghêraxa như một người bị cả một cơ binh hành hạ khống chế một cách ác độc.  “Chúa Giêsu hỏi: “Tên anh là gì?  Anh thưa: Đạo binh.  Vì rất nhiều quỉ nhập vào anh” (Lc 8,30-31).

 

Có trường hợp con người đi theo sự dụ dỗ của ma quỉ, như một người liên minh thân thích vốn cùng chung mưu tìm sự tội.  Kinh Thánh nói: Khi Giuđa vừa ăn xong tấm bánh Chúa Giêsu trao cho, “Satan liền nhập vào y” (Ga 13,27).

 

Ma quỉ luôn tìm cách lôi kéo con người vào đường tội lỗi là điều chắc chắc.  Chúa Giêsu phán: “Simon, Simon, kìa Satan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo” (Lc 22,31).

 

Chính thánh Phêrô sau này cũng đã trải qua kinh nghiệm đó, nên đã khuyên bảo giáo đoàn mình: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỉ là thù địch anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé anh em” (1 Pr 5,8).

 

Trước một nguy cơ đáng sợ như thế đang xảy ra xung quanh chúng ta, chúng ta rất cần đến Đấng cứu độ.  Phúc Âm cho thấy Đức Giêsu đã nhiều lần trừ quỉ, và ma quỉ rất sợ Ngài.  Chính Ngài là Đấng cứu độ con người khỏi quyền lực ma quỉ.

 

Yếu tố thứ ba là con người cần được hiệp thông với Thiên Chúa.

 

Hai yếu tố trên chỉ là mặt tiêu cực.  Mặt tích cực của ơn cứu độ là được hiệp thông với Thiên Chúa Cha, qua Đức Kitô. T hiên Chúa thường được trình bày như nguồn sự sống.  Chúa Giêsu phán: “Quả thực, Chúa Cha có sự sống nơi mình thể nào, thì cũng ban cho người con được sự sống nơi mình như vậy” (Ga 5,26).  Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu cầu nguyện: “Xin Cha tôn vinh Con Cha, để Con Cha tôn vinh Cha, theo quyền năng đã ban cho Người trên mọi phàm nhân, để Người ban sự sống đời đời cho tất cả những ai Cha đã ban cho Người” (Ga 17,2).

 

Tham dự vào sự sống đời đời của Chúa được hiểu là được cứu độ.  Vì thế, Chúa Giêsu hay nói về sự tham dự này nơi chính Ngài: “Ta là đường, là sự thực và là sự sống” (Ga 14,6).  “Ta đến để họ được sống và sự sống dồi dào” (Ga 10,10).

 

Theo chính Chúa Giêsu giải thích, thì tham dự sự sống của Chúa là nhận biết Thiên Chúa.  Trong bữa tiệc ly Ngài nói với Chúa Cha: “Sự sống đời đời, đó là nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến là Giêsu Kitô” (Ga 17,3).

 

Theo Kinh Thánh, nhận biết Chúa thường mang một ý nghĩa riêng biệt, đó là tiếp xúc trực tiếp với Ngài, đón nhận Ngài, dấn thân theo Ngài, chọn Ngài một cách dứt khoát như chọn sự sống.

Như thế nhận biết Chúa cũng là một cách xin vâng trọn vẹn ơn gọi Chúa gởi đến cùng với mọi trách nhiệm đi kèm ơn gọi đó.

Nhận biết Chúa là chọn điều Chúa chọn, nghĩ điều Chúa nghĩ, muốn điều Chúa muốn, cảm điều Chúa cảm.

Nhận biết Chúa như thế là một cách cảm nghiệm được sự Chúa ở bên mình, ở trong mình, ở với mình. Ngài sống động như một tình yêu tác tạo và cứu độ, an ủi và đỡ nâng.

 

****************************** *

Ba yếu tố tôi vừa nêu lên chắc chắn còn nhiều thiếu sót.  Nhưng tôi hy vọng, với ơn Chúa, những người thiện chí sẽ có thể dùng như một gợi ý đơn sơ dễ hiểu, để đi vào Mùa Chay theo phương hướng rõ ràng.  Họ sẽ cầu nguyện, sám hối, hãm mình, sửa tính theo ý Chúa một cách có ý thức hơn.

 

Tôi cầu mong: Những tâm hồn bé nhỏ, con cái Đức Mẹ, trong Năm Mân Côi này, sẽ đáp ứng lời kêu gọi của Đức Giáo Hoàng, biến Mùa Chay này thành khí cụ bình an, mang ơn cứu độ đến cho một mảng lớn nhân loại, đầy những xung khắc, đầy những sợ hãi, đầy những bất ổn, đầy những ảo tưởng đang chuẩn bị cho những chết chóc tang thương và những hận thù sâu sắc lâu dài. 

 

Gm. Bùi Tuần

From Langthangchieutim

THIÊN CHÚA MỜI GỌI MÙA CHAY

 THIÊN CHÚA MỜI GỌI MÙA CHAY 

 Trầm Thiên Thu 

Mùa Chay là mùa Thiên Chúa mời gọi riêng từng người: “Hãy trở về với Ta bằng cả tấm lòng.”  Chúng ta trả lời: “Chúng con sẽ trở về.”  Nhưng chúng ta lại chưa sẵn sàng, chúng ta chưa thực sự chuẩn bị tâm hồn, còn nuối tiếc!  Chúng ta muốn lòng vòng, lẩn tránh, lần lữa, viện cớ…  Tâm hồn chúng ta chưa hoàn hảo.  Chúng ta chưa sẵn sàng để Thiên Chúa yêu thương chúng ta! 

Đúng vậy, nhưng chúng ta rất muốn quan hệ thân mật với Thiên Chúa, chúng ta nhiệt thành tự nhủ như vậy.  Và chúng ta sẽ…  Không bao lâu nữa.  Chúng ta vẫn trì hoãn.  Thiên Chúa lại mời gọi chúng ta: “Hãy trở về với Ta bằng cả tấm lòng”

Vâng, lạy Chúa, con sẽ trở về với Ngài.  Con chỉ còn vài việc cần làm nữa thôi.  Trước tiên cho con thêm thời gian để cầu nguyện.  Rồi con sẽ hòa giải.  Xin cho con lau chùi nhà bếp, dọn dẹp nhà cửa, bán bớt mấy thứ lặt vặt, chăm sóc miếng đất con mới mua,…  Thiên Chúa nhắc lại: “Hãy trở về với Ta bằng cả tấm lòng”

Đó là lời mời gọi đặc biệt dành cho mỗi chúng ta, theo cách riêng của mỗi người.  Thiên Chúa mời gọi chúng ta đừng biện hộ vì điều đó là khoảng cách giữa chúng ta và Thiên Chúa.  Những gì Thiên Chúa muốn là chúng ta nhận biết các tiêu chuẩn của mình, cách phê bình và cách yêu thương của chúng ta cũng rất khác cách của Thiên Chúa.  Ngài cho chúng ta cả Mùa Chay, cả cuộc sống, vì yêu thương chúng ta vô điều kiện, dù chúng ta làm gì hoặc nghĩ gì mà chúng ta giấu giếm Ngài. 

Từ thứ Tư lễ Tro, ngày khởi đầu Mùa Chay, các bài đọc đều nhắc lại lời Chúa: “Hãy trở về với Ta bằng cả tấm lòng.”  Tv 51 cũng nhắc nhở: “Lạy Chúa, xin tạo cho con trái tim trong sạch.  Xin ban lại cho con niềm vui ơn cứu độ.”  Đó là chính xác những gì Thiên Chúa muốn trao ban cho chúng ta, đó chính là niềm vui ơn cứu độ. 

Ở Bắc Mỹ, Mùa Chay rơi vào mùa Đông, những ngày này lạnh lẽo và tối tăm, hoàn toàn phải giấu mình trong nhà, hoàn toàn ẩn mình khỏi Thiên Chúa – chúng ta nghĩ vậy.  Nhưng Thiên Chúa vẫn kiên trì, yêu thương, nhân hậu.  Thiên Chúa là Người Cha của Đứa Con Hoang Đàng, nhẫn nại chờ đợi, tha thiết muốn đứa con trở về, chờ suốt ngày thâu đêm.  Không hề khép vòng tay, không hề có ánh mắt xét đoán, chỉ có đôi mắt mỏi mòn chờ đứa con trở về.  Thiên Chúa khao khát được ôm choàng lấy chúng ta và vui mừng thấy chúng ta trở về.

Nhưng chúng ta vẫn quan ngại tìm cách nào để trở về và đắn đo lời nói, tìm cách để đối thoại.  Đó chỉ là lúc chúng ta còn ở xa, lúng túng và lẫn lộn, nhưng chúng ta không cần phải nói chi cả, chúng ta chỉ cần cho Ngài nhìn thấy chúng ta. 

Hãy nhìn con đường phía trước: Thiên Chúa yêu thương đang vui mừng khi nhìn thấy chúng ta trở về. Lời mời gọi của Ngài đã được chúng ta nghe thấy và đáp lại: “Chúng ta phải mau về nhà thôi!” 

Nhưng điều gì cản trở chúng ta về đoàn tụ với Cha?  Điều gì khiến chúng ta không đáp lại lời mời gọi để trở về sống với Thiên Chúa?  Đó là sự trì hoãn, lần lữa, so đo: “Từ từ… Chờ chút…  Vì không biết Thiên Chúa có biết mình hay không…” 

Tất cả không thành vấn đề.  Chỉ cần biết rằng chúng ta phải trở về với Thiên Chúa, Ngài đang mỏi mòn chờ đợi chúng ta trở về để được ôm hôn mỗi chúng ta.  Vậy chúng ta phải mau trở về!  Tiếng Chúa vẫn âm vang: “Hãy trở về với Ta bằng cả tấm lòng.”

Chấp nhận lời mời gọi này là điều đơn giản nếu chúng ta có thể vượt qua nỗi sợ hãi.  Những gì chúng ta cần làm là thưa với Chúa: “Lạy Chúa, con đây.  Con phải bắt đầu từ đâu?  Vâng, con muốn được ở bên Ngài.”  Lòng chúng ta đã mở ra và chúng ta đã bắt đầu bước về phía người cha đang đứng ở phía trước.  Không cần giải thích chi hết, chỉ cần vui mừng trong yêu thương mà nhìn vào ánh mắt nhân từ của Thiên Chúa đang nhìn chúng ta. 

Bước kế tiếp trên đường về nhà là gì?  Chúng ta có thể dùng những giây phút đầu ngày, trước khi ra khỏi giường, để tạ ơn Chúa đã dành cho chúng ta lời mời gọi yêu thương như thế, và xin Ngài mở lòng chúng ta để chúng ta có thể đón nhận.  Hãy bắt đầu từ hôm nay, đang là thời gian Mùa Chay.  Suốt ngày, chúng ta có thể nhớ lời mời gọi của Chúa khiến lòng chúng ta lay động: “Hãy trở về với Ta bằng cả tấm lòng.”  Và chúng ta có thể cùng vui mừng với Thiên Chúa.

 Đó là lời mời gọi mỗi ngày trong Mùa Chay.  Và hôm nay là ngày chấp nhận lời mời gọi của Thiên Chúa.

 Trầm Thiên Thu 

(chuyển ngữ từ OnlineMinistries.Creighton.Edu )

Chính Chúa Chọn Con & Khúc ca tạ ơn – ca sĩ Phan Đinh Tùng

httpv://www.youtube.com/watch?v=2lSZQtYcUts

Chính Chúa Chọn Con

httpv://www.youtube.com/watch?v=2p1cYEy_BlM

 Thánh ca | Khúc ca tạ ơn – ca sĩ Phan Đinh Tùng

Sáng tác: Lm Thiên Ân

TK1: Đời con là những nốt nhạc thiêng, Chúa thêu dệt nên thành khúc ca tuyệt vời. Đời con là khúc hát tri ân, xin dâng một đời lời tạ ơn thiên Chúa. Tạ ơn vì Chúa đã rộng ban phúc ân tràn lan tình mến thương vô vàn. Tạ ơn vì những nỗi oan khiên Chúa đã tôi luyện một niềm tin trung kiên

TK2: Đời con là những tháng ngày trôi, Chúa an bài cho thật biết bao lạ lùng. Đời con là tiếng hát không ngơi, ca khen muôn đời lời tạ ơn Thiên Chúa. Tạ ơn vì những lúc bình an Chúa thương tặng ban cuộc sống vui chan hoà Tạ ơn vì những lúc nguy nan Chúa đã thương ban niềm cậy trông miên man.

TK3: Đời con là những lúc buồn vui, Chúa luôn kề bên cùng sớt chia vui buồn. Đời con là tiếng hát vang xa, hoan ca muôn đời lời tạ ơn Thiên Chúa. Tạ ơn vì những lúc khiên ngoan Chúa thương tặng ban nguồn Thánh ân tuôn tràn. Tạ ơn vì những lúc điêu ngoa Chúa đã thương tha bằng tình yêu bao la.

ĐK: Xin tạ ơn con xin tạ ơn Chúa, mãi muôn đời con xin tạ ơn Chúa. Dù trần gian bao khó nguy ngập tràn, tình Ngài thương con bước đi bình an. Xin ngợi ca bao la tình thương Chúa, mãi muôn đời ca vang tình thương Chúa. Trọn niềm tin con phó trong tay Ngài, vì đời con tất cả là hồng ân.

ƠN PHÚC VÀ BẤT HẠNH

        ƠN PHÚC VÀ BẤT HẠNH

 Elisabeth Nguyễn

 Trong cuộc sống của đời người giữa xã hội nhân trần, chúng ta thường thấy điều gì ảnh hưởng nhiều nhất trên con người. Hay nói cách khác, cái gì con người trần thế cảm thấy:

 thích thì người ta gán cho cái tên thật đẹp là Ơn Phúc hay là được thưởng.

Cái gì khiến con người ta sợ thì gọi là bất hạnh hay là bị phạt….

Là con cái Thiên Chúa, chúng ta có một đức tin tuyệt đối vào Ngài, chúng ta có nên nhìn sự việc bằng con mắt thế gian như vậy không?

ới mắt Thiên Chúa, sự gì làm ích lợi cho linh hồn, sự đó chính là Ơn Phước.

Con người sống ở thế gian này ai cũng

thích sống lâu (Trong cơn nguy biến con người thường bỏ của chạy lấy người),

thích khỏe mạnh (cuộc sống mà bịnh kéo dài trên giường bệnh thì còn gì thú vị),

thích danh vọng (có cuộc sống, có sức khỏe thì ham mê danh vọng),

thích tiền tài (khi con người thấy mình có chút được tâng bốc (danh dự), có sức khỏe thì ham muốn giàu có).

Con người sống trên thế gian rất

sợ Chết (luật Tạo Hóa của Chúa, có sinh thì có tử. Đức tin Kitô Giáo chết là về với Chúa, chết là điều kiện được hạnh phúc sống bên Ngài),

S bệnh tật (Đành rằng bệnh sẽ làm mình đau, khó chịu, khổ sở v.v…nhưng đâu đáng sợ. Nếu khỏe mạnh mà tâm linh u tối thì là mối họa cho chính mình. Biết bao nhiêu người có tật từ bẩm sinh, mà họ lại có một đời sống tâm linh rất lành mạnh). 

s khinh chê (Nhiều người rất sợ bị khinh chê nghèo hèn ít học v.v… mà sinh ra kiêu ngạo nói dối, khoác lác v.v…).

s nghèo kh (Chúa Giêsu là người nghèo nhất thiên hạ. Ngài sinh ra trong hang bò lừa, cha làm nghề thợ mộc, sống hiền hòa trong gia đình bình thường đầy yêu thương và được dân làng quý trong về nhân đức, ở Bethlehem. Khiloan báo tin mừng, không có chỗ gối đầu).

Chúng ta là Kitô hữu mà lúc nào cũng có cái nhìn sợ chết , sợ bịnh, sợ bị khinh, sợ nghèo khó, thì đức tin của ta là đức tin chột.

Chúng ta phải hiểu rằng

ƠN KHÔNG PHẢI LÀ CÁI TA THÍCH.

ƠN LÀ SỰ HỮU ÍCH ĐƯA TA ĐẾN CUỘC SốNG TRUÒNG CỬU.    

tramtubensuoi gởi

KINH NGUYỆN CỦA NHỮNG NGƯỜI CAO NIÊN

KINH NGUYỆN CỦA NHỮNG NGƯỜI CAO NIÊN

(được chuẩn ấn của TGM Montréal, 2.1983)

Lạy Chúa, đã hơn bảy mươi năm nay, Chúa ban cho con ân huệ được sống ở đời; và từ khi con sinh ra, Chúa đã không ngừng ban cho con tràn đầy ơn lành và tình yêu vô cùng của Chúa. Bao nhiêu năm nay, cùng chung số phận với mọi người, đời con trôi đi trong hân hoan xen lẫn phiền sầu, thành công xen lẫn thất bại, với bao bệnh hoạn và tang khó. Nhờ ơn Chúa phù hộ giữ gìn, con đã lướt thắng được các trở ngại và tiến lại gần Chúa. Ngày hôm nay, con cảm thấy được vô cùng an ủi, vì được Chúa ban cho có nhiều kinh nghiệm phong phú, và được Chúa chiếu cố đoái thương. Vì thế, linh hồn con không ngừng ca tụng tri ân Chúa.

            Tuy nhiên, hằng con gặp thấy quanh mình nhiều người cao niên mà Chúa đang thử thách nặng nề: Họ bị tê liệt, tàn tật, bất lực, và đôi khi không còn đủ sức cầu nguyện với Chúa; có những người mất hết mọi khả năng tinh thần, và trong một đời sống hư ảo vô thức, họ không còn thể tiếp xúc được với Chúa. Con nhìn ngắm họ và băn khoăn tự nhủ mình rằng: “Nếu tôi cũng bị như họ thì sao?”.

            Vì thế, lạy Chúa, ngày hôm nay, trong lúc còn được hưởng đủ mọi khả năng cử động và suy tư, con xin dâng lên trước việc sẽ chấp nhận vâng theo Thánh Ý Chúa; và ngay từ bây giờ con muốn rằng, sau này bất cứ gặp phải một thử thách nào như thế, con cũng xin dâng cho Chúa để làm vinh danh Chúa và cứu rỗi các linh hồn. Và cũng ngay từ bây giờ, con xin Chúa ban ơn phù trợ cho những người lúc đó sẽ lấy trách nhiệm giúp đỡ con.

            Nếu một mai bệnh tình xâm phạm tới trí óc con, khiến con mất sự minh mẫn, thì ngay từ bây giờ, trước mặt Chúa đây, con xin hứa trước sẽ vâng chịu, và vâng chịu trong trạng thái yên lặng kính thờ. Nếu mai này con bị chìm đắm trong tình trạng hôn mê kéo dài, thì con mong rằng mỗi giờ phút còn lại của đời con sẽ đều là những thời gian liên tục chúc tụng tri ân Chúa, và chớ gì hơi thở sau hết của con cũng sẽ là một hơi thở của lòng mến yêu. Con ước ao cậy trông rằng, vào giờ đó, con sẽ được Đức Mẹ nắm tay dẫn dắt đến trình diện trước Thiên Nhan để ca tụng ngợi khen Chúa muôn đời. Amen.

 Kinh nguyện này được đọc trong thánh lễ tạ ơn của những người cao tuổi (trên 70) ngày chủ nhật 09.10.2016, tại nhà thờ Thánh Marcô, Montréal, Quebec, Canada.

Anh Hồ Công Hưng gởi

Con trai Thủ Tướng Ba Lan thụ phong Linh Mục

Con trai Thủ Tướng Ba Lan thụ phong Linh Mục

Warsaw, Poland (CNA/EWTN News) – HSNforwardesign

.

Thầy Tymoteusz đã được thụ phong Linh mục. Cha là con trai của Nữ Thủ Tướng Ba Lan Beata Szydlo. Thánh Lễ Mở Tay tại Nhà thờ Thành phố ở Quê nhà, nơi Cha được lãnh nhận Bí tích Rửa Tội. Cuối Thánh lễ, vị Linh mục trẻ trao Phép lành đầu tay cho Mẹ mình và Bà quỳ gối lãnh nhận trong sự tự hào.

“Đây là ngày trọng đại cũng như là niềm vui lớn cho Gia đình. Chúng tôi hết sức hạnh phúc và hãnh diện”. Đó là những lời nói đầu tiên của Nữ Thủ Tướng Ba Lan với giới Truyền thông..

Các Nhà báo Ba Lan và Quốc tế có mặt rất đông tại Thánh Lễ đều nhận định : Việc con trai của Vị đứng đầu Chính phủ được phong chức Linh mục là điều vô cùng đặc biệt. Tuy nhiên, trường hợp này không phải chưa xảy ra trong Lịch sử đương đại. Trước đây là trường hợp của Linh mục Paul Adenauer, Ngài là con trai ông Konrad Adenauer, Thủ Tướng Đức trong giai đoạn 1949 -1963. Còn đây là lần đầu một vị Lãnh đạo tại Châu Âu chứng kiến con mình được thụ phong Linh Mục, trong khi mình vẫn còn đương nhiệm.

 

 

 

 

 

 

 

 

Cha Tymoteusz Szydlo, 25 tuổi, đã lãnh nhận Bí tích Truyền Chức Thánh tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Nicolas de Bielsko-Biala, miền nam Ba Lan, cách biên giới Séc và Slovakia vài cây số. Ngày hôm sau, Cha đã cử hành Thánh lễ mở tay, tại Thành phố Quê nhà Przecieszyn, thuộc miền Tây đất nước, gần biên giới Đức.

Przecieszyn, 28.05.2017. Ks. Tymoteusz Szyd³o (L) witany przez proboszcza ks. Jacka Przyby³ê (P) przed msz¹ prymicyjn¹ w rodzinnej parafii Matki Bo¿ej Czêstochowskiej w Przecieszynie (woj. ma³opolskie), 28 bm. Tymoteusz Szyd³o, syn premier Beaty Szyd³o, przyj¹³ 27 bm. œwiêcenia kap³añskie. (mr) PAP/Jacek Bednarczyk

Như 12 Linh mục trẻ khác thuộc “Khóa Gioan Phaolô II” được thụ phong ngày hôm ấy ở Giáo phận, Cha Tymoteusz đã được chuẩn bị trong hơn sáu năm tại Đại Chủng viện Tổng Giáo phận Kracow. Trong Thánh lễ đầu tiên, Cha Tymoteusz Szydlo đã cảm tạ sâu sắc hồng ân Chúa : “Lạy Chúa, ngôn ngữ loài người không thể diễn tả lời tạ ơn của con dâng lên Ngài. Do đó, với lòng khiêm tốn, con chỉ có thể xin cho con luôn phục vụ Ngài, Đấng Chí Thánh”.

Polish Prime Minister Beata Szydlo and her husband walk behind their newly ordained son, Father Tymoteusz Szydło.

Cuối Thánh Lễ, vị Linh mục trẻ chúc lành cho rất nhiều Tín hữu đang hiện diện, trong đó có Cha Mẹ và Thân nhân của Cha. Hình ảnh đầy ấn tượng và cảm xúc : Thủ Tướng Ba Lan quỳ gối bên Chồng và lãnh nhận “Phép lành” của con mình.

HSNforwardesign – [CNA/EWTN NEWS]

Anh chị Thụ & Mai gởi