ĐỨC GIÊSU – BẢO CHỨNG TÌNH YÊU

ĐỨC GIÊSU – BẢO CHỨNG TÌNH YÊU

 Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

Có nhiều tôn giáo tin nhận Thiên Chúa hiện hữu, nhưng Kitô giáo là tôn giáo đặc biệt nhận ra Thiên Chúa là Đấng yêu thương.  Chính khi nhận ra Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, thì Kitô hữu nhận biết Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng, đến độ dám cho Con Yêu Dấu của Ngài nhập thể làm người ở giữa con người. 

  1. Đức Giêsu là Con Thiên Chúa 

Đức Giêsu đã cùng với ba môn đệ lên núi.  Ngài đã biến hình, áo Ngài trở nên trắng như tuyết.  Tin Mừng Mác-cô không nói gương mặt Đức Giêsu biến đổi như thế nào, chỉ dùng chữ “biến hình;” tuy nhiên, người ta nghĩ rằng nếu áo của Ngài như vậy, thì gương mặt và thân xác của Ngài cũng phải “ra khác” một cách rất đặc biệt.  Cựu Ước cũng đề cập đến gương mặt của Môsê trở nên sáng láng sau khi ông gặp gỡ Thiên Chúa, nên ông phải che mặt khi gặp gỡ dân Do Thái (Xh.34, 29-35).  Thánh Phaolô đã giải thích gương mặt của Môsê được biến đổi vì phản ánh vinh quang Thiên Chúa.  Vậy khi Đức Giêsu biến hình, hàm chứa Ngài là người phản ánh Thiên Chúa một cách rất đặc biệt.

 Tiếng từ trong đám mây nói với ba môn đệ: “Đây là Con Ta, Đấng rất được yêu.  Hãy nghe Ngài.”  Như vậy, Thiên Chúa nhận Đức Giêsu là Con của Ngài, và là Đấng được yêu đặc biệt.  Thực ra, tước vị “con Thiên Chúa” cũng được dùng để chỉ nhiều người (G.38,7), dân Israel (Hos.11, 1), vị vua thiên sai (Tv.2, 7).  Với Đức Giêsu, Ngài được Thiên Chúa gọi là người Con, được yêu đặc biệt; tuy nhiên, ngay lúc trên núi này, chắc ba môn đệ chưa thể nào nhận biết Đức Giêsu là Con Thiên Chúa như các ngài đã nhận ra sau khi Đức Giêsu phục sinh và hiện ra cho các ông, tuy nhiên lúc này Đức Giêsu vẫn là một người rất đặc biệt.

 Đức Giêsu nhận mình là Con Người.  Đức Giêsu thật sự là người như tất cả mọi người.  Một người cảm thấy gì thì Đức Giêsu cũng cảm thấy như vậy.  Ngài cũng bị cám dỗ như bao người, dù là cám dỗ về miếng ăn, về danh vọng và về quyền hành (Mt.4, 1-11); và không chỉ vậy, Ngài còn bị cám dỗ về đức tin nữa: “Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ con” (Mc.15, 34).  Đức Giêsu, nếu có điều gì khác chúng ta, thì đó là Ngài không phạm tội (Dt.4, 15).  Ngài đã dùng tự do để vâng phục Thiên Chúa, còn chúng ta lại dùng tự do Thiên Chúa ban để phản lại Ngài. 

  1. Abraham đã sẵn sàng hiến tế con mình cho Thiên Chúa 

Abram, tổ phụ dân Do Thái, là một con người rất đặc biệt.  Thiên Chúa đã mời gọi ông bỏ quê cha đất tổ để đi đến đất Ngài chỉ cho.  Thiên Chúa hứa sẽ ban cho ông có con cháu nối dòng, có đất làm cơ nghiệp, và trở thành một mối chúc lành cho nhiều người.  Abram đã tin và đã đi theo lời mời của Thiên Chúa.  Đặt mình vào hoàn cảnh của người thời đó, ta nhận ra Abram đã tin vào Thiên Chúa một cách rất đặc biệt.  Thời đó người ta chưa có luật lệ như hiện tại, người ta phải dựa vào gia đình họ hàng để bảo vệ mình, và tài sản khỏi bị người khác đánh cướp.  Thế mà Abram dám rời bỏ gia đình, ra đi với tài sản và vợ là Saray.  Nếu không tin tưởng và phó thác tuyệt đối vào Thiên Chúa, thì không ai dám làm điều đó vì rất nguy hiểm, người ta không chỉ mất tài sản nhưng còn mất cả mạng sống mình.  Abram đã dám làm. 

Thiên Chúa đã đổi tên Abram thành Abraham, Saray thành Sara; và đã cho ông bà có một người con tên là Isaac.  Thiên Chúa cũng nói với Abraham rằng dòng giống ông sẽ nhờ Isaac mà có; thế mà giờ đây Thiên Chúa lại bảo ông đem người con duy nhất của mình đi hiến tế làm của lễ dâng Thiên Chúa.  Tại sao Thiên Chúa lại “đổi ý” như vậy?  Tại sao Thiên Chúa không “nhất quán” với chính Ngài: đã hứa cho dòng dõi của ông nhờ Isaac mà có, mà bây giờ lại đòi ông phải hiến tế Isaac?  Làm sao có thể vâng lời Thiên Chúa được? 

Một lần nữa, Abraham đã tin và phó thác tuyệt đối nơi Thiên Chúa.  Thiên Chúa muốn sao Abraham cũng làm, vì ông tin rằng Thiên Chúa quyền năng, Ngài có thể làm tất cả, ngay cả phục sinh Isaac.  Chắc chắn Abraham đã có những suy nghĩ cám dỗ bất tuân, nhưng ông đã chiến thắng chính mình bằng niềm tin phó thác tuyệt đối nơi Thiên Chúa.  Qua hành vi này, ông trở thành cha tất cả những người tin (Rm.4, 18tt).  Cả cuộc đời của Abrahm là một chuỗi những hành vi tin.  Ngay cả khi vợ ông là bà Sara chết, ông vẫn chưa có đất để chôn (St.23), tuy vậy ông vẫn tin rằng Thiên Chúa sẽ ban cho ông điều Ngài đã hứa. 

III. Thiên Chúa đã không dung tha chính Con Ngài 

Khi Đức Giêsu còn tại thế, chẳng ai biết Ngài là Thiên Chúa nhập thể, kể cả các tông đồ.  Chỉ sau khi Ngài sống lại, và với ơn Thánh Thần soi sáng, các tông đồ nhớ lại những gì Đức Giêsu đã nói và đã làm, nên mới nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa theo một nghĩa thật đặc biệt.  Một khi nhận ra Đức Giêsu là Đấng thật đặc biệt, là Con Thiên Chúa, thì Kitô hữu lại hiểu biết về Thiên Chúa và về con người một cách thâm sâu hơn. 

Con người là ai mà được Thiên Chúa yêu thương đến như vậy!  Sao Thiên Chúa lại trao phó Con của Ngài cho con người như thể “trao trứng cho ác” như vậy?  Một người ít hiểu biết nhất cũng nhận ra con người gian ác sẽ giết Con của Ngài, như vậy tại sao Ngài vẫn trao gởi Người Con của Ngài cho con người?  Tại sao Thiên Chúa tin con người đến độ như vậy?  Cho đến cùng, Kitô hữu nhận ra tình yêu của Thiên Chúa đối với con người thật vô cùng: Thiên Chúa tin vào con người dù thật sự không thể tin được. 

“Thiên Chúa không dung tha chính Con Ngài nhưng phó thác Con của Ngài vì tất cả chúng ta.”  Nhìn Đức Giêsu chết trần trụi ô nhục thê thảm trên thập giá, người ta có cảm tưởng như thể Thiên Chúa yêu thương con người hơn cả Đức Giêsu.  Thật ra không phải Thiên Chúa yêu thương con người hơn Con của Ngài; nhưng điều đó lại cho thấy Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng.  Theo thánh Phaolô, một khi Thiên Chúa đã ban Đức Giêsu cho ta, thì Ngài không còn tiếc gì với ta nữa.  Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta tất cả.  Đức Giêsu là bảo chứng cho thấy Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng! 

Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

From Langthangchieutim gởi

Đừng quên mảng tốt nơi mỗi người

CHÚA NHẬT 2 MÙA CHAY

Đừng quên mảng tốt nơi mỗi người

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

(Suy niệm Tin mừng Mác-cô 9, 2-10 trích đọc vào Chúa nhật II mùa chay)

Khi Chúa Giê-su tỏ cho các môn đệ biết Ngài phải lên Giê-ru-sa-lem để chịu khổ hình và chịu chết, các môn đệ cảm thấy rúng động tâm hồn! (Mc 8,31).

Không lẽ cuộc đời của Thầy Giê-su lại kết thúc bi đát đến thế ư?

Đã bao lần họ mơ tưởng đến một tương lai huy hoàng khi được ngồi bên tả, bên hữu vua Giê-su trong vương quốc vinh hiển của Ngài, lẽ nào giấc mộng vàng đó lại sớm tan thành mây khói sao! Nếu Chúa Giê-su mà còn phải chịu số phận oan nghiệt như thế thì số phận các ông rồi sẽ như thế nào đây?

Không chấp nhận viễn ảnh đen tối ấy, ông Phê-rô kéo riêng Chúa Giê-su ra và lên tiếng trách móc, tìm cách can gián để Ngài đừng đón nhận sứ mạng đau thương ấy (Mc 8, 32) 

Củng cố tâm hồn ba môn đệ

Để củng cố tinh thần các môn đệ đang sa sút trước tin chẳng lành vừa loan báo, “sáu ngày sau, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an đi theo mình. Ngài đưa các ông … tới một ngọn núi cao. Rồi Ngài biến đổi hình dạng trước mắt các ông. Y phục Ngài trở nên rực rỡ, trắng tinh, không có thợ nào ở trần gian giặt trắng được như vậy. Và ba môn đệ thấy ông Ê-li-a cùng ông Mô-sê hiện ra đàm đạo với Đức Giê-su” (Mc 9, 2-4).

Bấy giờ tinh thần ba môn đệ hết sức phấn chấn. “Ông Phê-rô thưa với Chúa Giê-su rằng: “Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay! Chúng con xin dựng ba cái lều, một cho Thầy, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a.”

“Bỗng có một đám mây bao phủ các ông. Và từ đám mây, có tiếng phán rằng: “Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Ngài” (Mc 9,5-7).

Thế là nhờ chứng kiến sự vinh hiển của Chúa Giê-su trong giờ phút vinh quang của Ngài trên núi cao, ít nữa có môn đệ Gio-an vững bước theo Chúa Giê-su đến cùng trên đường khổ nạn.

Hai mảng sáng- tối của đời người

Đời người thường có hai mảng sáng – tối đan xen nhau: có lúc thịnh thì cũng có lúc suy, có khi thành công cũng có khi thất bại, có lúc phấn khởi vui tươi cũng có những lúc ủ dột ưu sầu.

Cuộc đời Chúa Giê-su cũng có mảng sáng, mảng tối. Mảng sáng là cuộc biến hình sáng láng trên núi cao; mảng tối là đêm vườn Dầu đau thương ảm đạm… Nếu các môn đệ chỉ nhìn thấy mảng đen tối, u ám của đêm vườn Dầu, lúc Chúa Giê-su bộc lộ nhân tính yếu đuối của mình, tỏ ra kinh khiếp hãi hùng trước cuộc khổ nạn sắp tới, đến nỗi phải đổ mồ hôi máu và phải van lơn cầu khẩn với Chúa Cha xin cho khỏi uống chén đắng (Lc 22, 41-44)… mà không thấy được mảng sáng của Ngài trên núi cao, không thấy cuộc phục sinh vinh hiển của Ngài, thì các ông sẽ ngã lòng thất vọng và sẽ đào tẩu hết, lấy ai làm nhân chứng cho biến cố phục sinh? Lấy ai loan báo Tin mừng cứu độ?

Vì thế, Chúa Giê-su cho các ông thấy mảng sáng của Ngài trước, qua việc tỏ cho các ông thấy dung mạo sáng láng vinh hiển của mình, tỏ cho họ thấy Ngài là “Con yêu dấu của Thiên Chúa Cha” để động viên tinh thần các ông khỏi suy sụp khi chứng kiến cuộc khổ nạn đau thương sắp đến của Ngài.

Đừng quên mảng tốt

Ngôi nhà nào cũng có mặt trước mặt sau. Nếu người ta chỉ nhìn mặt sau tồi tàn của ngôi nhà mà không nhìn mặt tiền xinh đẹp của nó, người ta sẽ thất vọng về nó.

Tấm huy chương nào cũng có mặt trái mặt phải. Nếu chỉ biết mặt trái sần sùi của tấm huy chương mà không để mắt đến mặt phải vinh dự của nó, thì người ta sẽ xem thường nó.

Hoa hồng rất đẹp và kiêu sa nhưng cũng đầy gai. Nếu người ta chỉ chú trọng đến những gai nhọn của hoa hồng mà không để ý đến sắc hương tuyệt vời của nó thì người ta sẽ xem thường nó.

Đối với người chung quanh cũng thế. Cuộc đời mỗi người đều có mảng sáng và mảng tối. Không ai hoàn toàn tốt, chẳng ai hoàn toàn xấu. Nếu chúng ta chỉ nhìn vào mảng đen tối của một con người, mà quên đi mảng sáng tươi tốt đẹp trong đời họ; nếu chỉ nhìn vào nhược điểm mà quên đi ưu điểm, thì chúng ta sẽ thất vọng về người đó.

Lạy Chúa Giê-su,

Nhờ chứng kiến cuộc hiển dung vinh hiển của Chúa trên núi cao, các môn đệ cảm thấy vững tâm hơn khi đối diện với cuộc khổ nạn đau thương của Chúa;

Nhờ nhìn ngắm vẻ đẹp của những đoá hoa hồng, người ta mới dễ dàng chấp nhận những gai nhọn đáng phàn nàn của nó;

Xin cho chúng con, trong tương quan với tha nhân, cũng biết nhìn vào mảng sáng, vào ưu điểm của người khác để dễ dàng cảm thông với những điều đen tối xấu xa nơi họ.

Nhờ đó, chúng con sẽ thấy những người chung quanh dễ thương hơn; tương quan của chúng con với mọi người sẽ được cải thiện tốt hơn và đời sống giữa chúng con với nhau sẽ hạnh phúc hơn.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Mơ khách đường xa, khách đường xa,

Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật Thứ 2 mùa Chay năm B 25/02/2018

Tin Mừng (Mc 9: 2-10)

 Sáu ngày sau, Đức Giêsu đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, chỉ mình các ông thôi, tới một ngọn núi cao. Rồi Ngài biến đổi hình dạng trước mắt các ông. Y phục Ngài trở nên rực rỡ, trắng tinh, không có thợ nào ở trần gian giặt trắng được như vậy. Và ba môn đệ thấy ông Êlia cùng ông Mô-sê hiện ra đàm đạo với Đức Giê-su. Bấy giờ, ông Phêrô thưa với Đức Giêsu rằng: “Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay! Chúng con xin dựng ba cái lều, một cho Thầy, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Êlia.” Thực ra, ông không biết phải nói gì, vì các ông kinh hoàng. Bỗng có một đám mây bao phủ các ông. Và từ đám mây, có tiếng phán rằng: “Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người.” Các ông chợt nhìn quanh, thì không thấy ai nữa, chỉ còn Đức Giêsu với các ông mà thôi.

Ở trên núi xuống, Đức Giêsu truyền cho các ông không được kể lại cho ai nghe những điều vừa thấy, trước khi Con Người từ cõi chết sống lại. Các ông tuân lệnh đó, nhưng vẫn bàn hỏi nhau xem câu “từ cõi chết sống lại” nghĩa là gì.

 &      &     &

“Mơ khách đường xa, khách đường xa,”

“Áo em trắng quá, nhìn không ra…”

(dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

– Mai Tá lược dịch.

 Khách đường xa, ra đi hôm ấy, có là khách lữ hành bàng quan vẫn cứ nhìn mà không thấy? Có thấy chăng Thầy Chí Ái đang hiển thị cùng ngôn sứ Êlya và Môsê chốn xa vắng, ở trình thuật?

Trình thuật, thánh Máccô, nay ghi về tình tự Chúa tỏ hiện ở chốn vắng xa, người không thấy. Thấy sao được, việc hiển thị thần thánh Chúa giãi bày tâm tư Ngài bước vào chốn cao siêu tỏ hiện, ở núi thánh. Nơi đó, có Chúa biến hình tỏ hiện cùng các Thánh. Nơi đó, còn có tiếng sấm từ trời cao gửi đến với dân con một thông điệp nghe rất rõ, chứng tỏ Ngài là Con Một của Chúa Cha. 

Hiển thị, không còn như hang đá lạnh buồn ngày Chúa Giáng hạ. Nhưng, là Phục Sinh quang vinh và ngày Ngài thẳng tiến về trời, thật hoành tráng. Quang vinh và hoành tráng, là chứng tích biểu tỏ sứ điệp vượt quá chuyện hằng ngày mà dân con đà chứng kiến, nhưng không hiểu. Sứ điệp hiển thị, vượt tầm hiểu biết của dân con mọi thời, tựa như Môsê từng thay đổi diện mạo khi diện kiến Giavê Thiên Chúa. Diện mạo Chúa hiển thị trên núi sáng rực như mặt trời. Áo Ngài rạng ngời tợ nắng thuỷ tinh, trinh khiết.

Tin Mừng nay cho thấy: đồ đệ Chúa tỏ ra kinh khiếp đến độ chẳng biết ứng xử ra sao cho thích hợp. Là thánh nhân, nhưng các ngài lại bắt đầu nói năng vụng về, đòi dựng ba lều lớn để Đấng Thánh Hiền trú ngụ nơi đó nhiều ngày. Chắc chắn một điều, là: đề nghị của đồ đệ hôm ấy là chuyện thường tình xảy đến mỗi khi con người mất quân bình cảnh giác, giống hệt người phàm ở ngoài đời.     

Cảm nghiệm về hiển thị, là chuyện xảy đến với dân gian mọi ngày ở đời thường, nhiều dẫn chứng. Từ những ấu bướm biến thành bướm sâu sầu buồn đời ngắn ngủi, cho đến cảnh người người ngạc nhiên hơn khi việc biến đổi/hiển thị xảy đến khi con trẻ được hạ sinh biến hình thành người mới, lúc chào đời. 

Về biến đổi/hiển thị, thánh Augustin cho rằng đó là nhiệm tích lớn lao hơn cả sự sống lại. Bởi, khi vào với thế giới qua tư cách của người mới trẻ trung vẫn cao cả hơn là về với sự sống, sau khi chết. Mỗi ngày và mọi ngày, người người vẫn trực diện nhiều biến đổi/hiển thị ngay trong đời. Hiển thị trong ta, là biến đổi sự sống rất tư riêng của chính mình. Là, dấu ấn rất giản đơn nhưng sâu đậm. Ngay bản vị con người cũng biến đổi/hiển thị hằng ngày về thân xác. Biến và đổi, vẫn là hình ảnh thay đổi về bản vị, thôi.

Rất nhiều lần, Đức Giêsu cũng có thời khắc yêu thương/nhận thức rất mực. Đó là thời khắc lúc Ngài tăng trưởng nơi bản thể rất người mà Ngài mặc lấy. Một trong những thời khắc dễ nhận thấy nơi Ngài là đặc ân/đặc quyền mà đồ đệ vui hưởng, tức sự hiện diện của Ngài ở vào thời khắc có một không hai ấy. Hiện diện, để nhận ra cuộc biến hình/đổi dạng ít khi thấy.  

Biến đổi/hiển thị dễ nhận thấy nhất là thời khắc Chúa thả bộ để đi vào với con đường thường tình mà loài người ít nghiệm sinh. Thả bộ chầm chậm là tư thế Chúa học hỏi nơi con người về một sự thể qua thử thách, sai sót xảy đến mỗi ngày. Hầu như mỗi ngày Ngài đều nhận ra điều mới mẻ của cuộc sống. Mới mẻ, nơi bản vị của Ngài. Mới mẻ, về người đời và đời người mà Ngài chấp nhận đưa vào với thiên tính. Đức Giêsu là con người thật có đủ mọi tình cảm bẩy thứ, rất bén nhạy.

Là Đức Chúa biến đổi thành người thường rất hiển thị, Ngài có được những thời khắc rất tinh tế về cả thương yêu, lo lắng, hãi sợ cũng như an vui, kinh ngạc, thích thú đến kích ngất. Mỗi lần tình tự của Người Con Chúa xuất hiện, Chúa đều thấy sự đổi đời ở bên trong. Mỗi ngày, Ngài đều khởi đầu một đổi mới/biến hình để trở thành bản vị biểu hiện cả nhân cách lẫn thiên tính, hợp ý Cha.

Thật ra, Đức Giêsu không là thần sứ linh thiêng gồm thiên binh/âm tướng chốn thiên đường. Mà, Ngài sống như một tiên tri cao cả thời Cựu Ước vẫn thể hiện nơi mình Ngài trong nhận thức đích thực về sự sống. Nhận thức ấy, Chính Chúa Cha đã tặng ban cho riêng Ngài. Nhưng, Ngài lại không giống như ngôn sứ/tiên tri có bản vị tựa như thế. Nơi Ngài, là sự thanh sạch ở nội tâm, chẳng mang nơi tâm địa cái gọi là “hội chứng xấu”. Ngài thích nghi trọn vẹn với thực tại loài người. Thực tại ấy, nằm gọn nơi niềm vui của bản vị “người”.

Ở đồng hoang chóp núi hôm ấy, Ngài biết rằng: Ngài hoàn toàn được Cha chấp nhận và trọn vẹn yêu thương như “người” thật cũng rất “người”. Với Chúa Cha, Ngài không là kẻ lạ đến từ hành tinh khác. Và Cha cũng chẳng tỏ ra xa lạ, đối với Ngài. Nói nôm na, thì bảo: đối với Cha, Ngài không là “bạn lâu lắm mới gặp”. Và, Chúa Cha cũng chẳng là “bạn lâu năm xa cách” nay trở lại với Ngài.

Quan hệ giữa Ngài với Cha và giữa Cha với Ngài, không là tương quan khi còn/lúc mất, khi trầm/lúc bổng. Nhưng là sự thật thể hiện nơi nhận thức giữa Ngài và Cha. Đức Giêsu nhận rõ Cha và muốn trở nên như Chúa. Chúa biết rõ Đức Giêsu và muốn trở nên như Ngài. Đây, đích thực là đổi thay/biến hình đang diễn tiến. Và, là diễn tiến hai chiều, rất thuận tiện. Bởi, Đức Giêsu đang mang trong mình đầy Thiên tính như Chúa và Chúa đang trở thành người thực như Đức Giêsu. Gọi đó là biến hình/hiển thị, hoặc nhập thể làm người, đều rất đúng. Điều rất đúng, nay biểu hiện/hiển thị nơi tiếng phát tự đám mây cho đồ đệ nghe thấy, vào buổi ấy: “Ngài là Con Chí Ái Ta, các ngươi hãy nghe lời Ngài.” (Mc 9: 9)

Ngay khi ấy, đồ đệ Thày chưa nắm bắt được ý nghĩa của câu nói. Nhưng cuối cùng, sau một thời gian dài theo chân Ngài, đồ đệ Chúa mới nhớ lại và nhận ra được điều ấy có nghĩa gì. Và một lần nữa, Đức Giêsu lại đã nhắc nhở dân con đồ đệ đừng loan truyền thông tin hoặc bàn luận gì về việc ấy cho đến ngày Ngài Phục Sinh, quang vinh. Và cuối cùng, các thánh cũng nhận ra được điều ấy.

Nhận ra điều ấy, cũng phải mất nhiều ngày dài trong Chay tịnh. Có khi còn lâu hơn. Kịp đến khi các ngài tin vào Lời Đức Giêsu và Lời của Cha, các thánh mới cảm nhận được kinh nghiệm quý báu này. Kinh nghiệm, là cảm được một nghiệm sinh quý giá mà chính Đức Giêsu và Cha Ngài đã chấp nhận và yêu thương các thánh cách trọn vẹn. Yêu thương và tận hưởng tư thế đồng hành với các ngài. Khi ấy, các thánh mới hiểu ra và yêu thương Đức Giêsu và Chúa của Ngài theo cách khác nhau, rất riêng biệt. Và các ngài cũng nhận ra được cuộc sống của các ngài sở dĩ đạt kết quả tức là đã biến hình/đổi dạng, rất hiển thị.

Và cuối cùng, các thánh cũng nhận ra rằng các ngài có thể làm như thế cho nhau, và cho mọi người. Mỗi khi các ngài hoàn toàn chấp nhận lẫn nhau, và/hoặc yêu thương bất cứ ai trong cộng đoàn Nước Trời của mình, thì động lực xúc tác lại sẽ bắt đầu hệt như thế. Chính đó là lúc, mối quan hệ giữa các ngài và mọi người cũng biến hình/đổi dạng, giống như Chúa. Và như thế, các ngài đã trở nên người anh, người chị có biến đổi, thành người mới.

Xem thế thì, Chúa nhật Biến Hình hôm nay chỉ là biểu hiện bất chợt thấy trước về Phục sinh quang vinh. Một thứ thư giãn buông lỏng sợ rằng Mùa Chay trở nên quá nặng nề với nhiều người. Đó là sứ điệp. Và, cũng là sứ vụ. Sứ điệp rằng, vì Đức Giêsu, nên dân con mọi người đều phải đổi thay. Sứ vụ là: nếu ta tin tưởng vào Đức Giêsu, ta là người có thể biến hình/đổi dạng thành người khác. Chỉ cần thật tình chấp nhận. Thật sự yêu thương. Và, quyết chí vui hưởng sự hiện diện của nhau, cách thực tình.

Vậy thì, mùa Chay này cũng nên tự hỏi lòng mình xem mình sẽ làm gì cho người khác. Có nên làm cho người khác biến hình/đổi dạng thành người mới không? Và, cũng nên tạo sự đổi mới cho chính mình, như một hiển thị, rất công minh, định hình, trong sáng.

Trong cảm nhận sự cần thiết biến hình/đổi dạng chính mình, cũng nên về với lời thơ mà ngâm lên:       

 “Mơ khách đường xa, khách đường xa,

Áo em trắng quá nhìn không ra…

Ở đây sương khói mờ    nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?

(Hàn Mặc Tử – Đây Thôn Vỹ Dạ)

Áo em nay biến hình/đổi dạng thành mầu trắng đến độ anh nhìn không ra. Bởi, có nhìn vào cuộc đời mà đôi ta sống ở cõi trời đầy sương khói đến độ “mờ nhân ảnh” này, chỉ “tình ai có đậm đà”, mới là người tình nay biến đổi. Có biến và có đổi, suốt hành trình cuộc đời, mới là người thật được Chúa đồng hành, đỡ nâng, chấp nhận. Chấp nhận trong yêu thương, rất giùm giúp.  

 Lm Kevin O’Shea CSsR biên-soạn

  – Mai Tá lược dịch.

 Vuisongtrendoi gởi

Đón Xuân này tôi nhớ Xuân xưa

Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 2 Mùa Chay năm B 25-02-2018

 “Đón Xuân này tôi nhớ Xuân xưa”

“Một chiều xuân em đã hẹn hò

Như ươm tình trong cánh hoa mơ,

Khơi hương theo làn gió

Em bảo rằng em viết thành thơ.”

(Châu kỳ – Đón Xuân Này Nhớ Xuân Xưa)

(Mc 1: 12-15)

 Trần Ngọc Mười Hai

Cứ đón cứ đưa, rồi lại nhung nhớ những xuân xưa, thật cũng khó. Khó hơn cả, là làm sao đưa tình tự này vào đúng với ngày vui của mọi người, không phải Xuân. Khó hơn nữa, lại là khúc nhạc rất “Marie sến” năm xưa nhưng nay vẫn ăn khách nên đã lọt vào tầm tay người viết chuyện Đạo đời, cũng rất “phiếm”.  Thôi thì, có khó thế nào đi nữa tưởng cũng đạt. Bởi, mọi người như bạn  và tôi đây, đôi khi lại cũng thích đôi ba câu nhạc xưa ấy đến bây giờ.

Sở dĩ, bần đạo bầy tôi đây bảo rằng: “đó là yêu cầu thời thượng “rất bây giờ”, là bởi nghe đâu có nhiều vị đang làm cái chuyện gọi-là: trở về với giòng nhạc “Sến” cũng thấy lạ. Thôi thì, trước khi đi vào vấn-đề bàn bạc chuyện thần-học với học về thần, lại mời bạn và tôi, ta nghe câu hát tiếp, để xem sao. Câu rằng: 

“Đón Xuân này tôi nhớ Xuân xưa.

Hẹn gặp nhau khi pháo giao thừa.

Em đứng chờ tôi dưới song thưa.

Tôi đi qua đầu ngõ.

Hỏi nhau thầm Xuân đã về chưa.

Xuân đến xuân đi, xuân về gieo thương nhớ.

Xuân qua để tôi chờ.

Xuân đến xuân đi, xuân về mơn lá hoa,

Xuân qua rung đường tơ.

 Bước sông hồ như đắm như mơ.

Trở về đây khi gió sang mùa.

Mong ước tìm cô gái Xuân xưa, cho vơi bao niềm nhớ.”

(Châu Kỳ – bđd)

Thôi thì, có nhớ xuân này hay xuân xưa, cũng chỉ là “niềm nhung nhớ” về chuyện gì đó, như chuyện rất “nhà Đạo” chẳng hạn, tưởng cũng nên coi đó như nguồn hứng thú để bạn và tôi, ta liên-tưởng đến những chuyện xa xôi, vời vợi, những thử và thách thời chay/kiêng qua bài suy-niệm rất thần-học như sau:

Trình thuật thánh Máccô được trích vào ngày đầu Mùa Chay, có đôi giòng chảy viết về thử thách với khuyến dụ khiến Đức Giêsu đi vào sự thinh-lặng những 40 ngày/đêm. 40 đây, là con số biểu tượng chỉ thời gian cũng rất dài. Dài ngày. Dài tháng. Như cuộc sống của Chúa, vẫn thấy có khuyến dụ kéo dài ngày cho đến lúc Ngài giáp mặt sự thật trên đồi Calvariô. Thử thách cùng khuyến dụ, đã đưa Chúa đi vào chốn choá ngợp ở đời thường để rồi dẫn dụ Ngài gia nhập chính Mình Ngài vào ngợp choáng ấy. 

Quả là thế! Chúa choáng ngợp với khuyến dụ trở thành Đấng Mêsia, mà mọi người trông đợi. Choáng đến ngợp, khi Ngài buộc phải đặt mình trước cảnh tình quyết đối đầu, hầu có quyết định cho đúng. Choáng và ngợp, trước quyết định hành động sao cho hợp ý Chúa Cha. Choáng rồi ngợp, trước chọn lựa những 3 cách thế để thể hiện vai trò được Cha giao phó. Cách đầu, là quyết tham gia vào chốn quyền bính ngõ hầu có thể kình chống người La Mã, cũng khá khó. Cách thứ hai, là hoà nhập với người đương thời, để rồi sẽ thống trị mọi người ở chốn dân gian, trần thế.        

Chọn cách này, Ngài sẽ có thể giải quyết chuyện đói nghèo do vua quan/lãnh chúa người La Mã từng tạo ra. Thử thách và khuyến dụ như thế, là lòng ham muốn tự giải quyết hết mọi việc ở thế giới, nhất thứ là chuyện kinh-bang-tế-thế, hầu tạo nên cuộc sống rất tốt lành cho mọi người.

 Và thử thách cùng khuyến dụ cuối, vẫn cứ như thánh hội, là: nhắm mắt làm ngơ chẳng cần biết sự thể ở đời sẽ ra sao. Ra sao thì ra, vẫn cứ lặng thinh đi vào chốn linh thiêng thần thánh những là ê a kinh kệ để rồi sẽ lại giao hết cho Cha nhờ giải quyết. Đó là 3 thử và thách rất khuyến dụ thấy rõ ở trình thuật được thánh Mátthêu ghi chép.

 Thử và thách cùng khuyến dụ dễ thấy nhất là những thử và thách cùng dụ dỗ về quyền bính. Là, cung cách mà người La Mã khi xưa sử dụng để hòng thống trị kẻ dưới trướng. Người La Mã xưa, vẫn muốn tạo khó dễ để bổ lên đầu kẻ dưới trướng. Bổ như thế, sẽ khiến họ lại trông mong có được đấng cứu tinh nào đó khả dĩ đem họ ra khỏi mọi thứ bất ưng, vẫn kéo dài. Có lẽ, giới thống trị La Mã khi ấy đã bất lực trong sử dụng quyền thế cách sai sót, để rồi người người ở dưới vẫn phải ngóng trông đấng bậc nào khác đầy uy lực đến thay thế.

 Với thử thách cùng khuyến dụ này, Giêsu Đức Chúa không những chỉ trích cung cách mà vua quan cùng lãnh chúa người La Mã sử dụng quyền bính tối cao để cai trị; Ngài cũng còn đả phá cả quyền uy/thế lực là những thứ mà Ngài chẳng bao giờ muốn tạo lấy cho Ngài. Chúa chọn cuộc sống thấp hèn không mang nặng quyền uy vật chất để Ngài có thể hoà mình với người thấp bé, chẳng khi nào có được quyền uy thế lực cũng rất mực, chốn trần gian.

 Thử thách/khuyến dụ thứ hai tỏ cho Chúa, là lòng ham muốn giải quyết tệ trạng đói nghèo của thế gian. Rõ ràng vào thời Chúa sống, trạng huống này từng xảy đến. Hầu như 95% người dân Galilê vẫn sống dưới mức độ những khó cùng nghèo. Tức: họ không đủ cơm ăn áo mặc hằng ngày mà còn thiếu cả đức tính tự tin vào bản lãnh cũng như tư cách của chính họ. Thêm vào đó, là: tình trạng đau yếu, chết yểu vẫn cứ diễn ra khó lòng mà giải quyết.

 Những khó khăn này, đều do vua quan lãnh chúa trần gian như Hêrôđê tạo nên bằng vào chương trình xây dựng các đền đài bề thế, khiến dân con ở dưới đã nghèo lại còn gặp nhiều uẩn khúc. Nhằm thực hiện những mưu đồ như thế, vua quan ở đời lại đã phải bổ thêm thuế má đánh trên đầu dân con thiên hạ. Thử và thách cũng như khuyến dụ đây, là tìm cho ra đấng bậc vị vọng nào khả dĩ có thể dấy lên một cuộc cách mạng để chống nạn nhũng lạm quyền thế, cùng uy tín. Chính đó là lý do để người người trông chờ Đấng Thiên Sai mau đến mà cứu vớt họ.

 Thử và thách thức cuối, là: gạt sang một bên những chuyện thực tế ở đời để rồi chỉ nghĩ chuyện siêu thăng phụng thờ và tế tự. Rồi tự nghĩ: bằng vào quyền sinh sát mình tự phát, sẽ có thể buộc Chúa phải dính dự vào với suy nghĩ cùng quyết định của riêng mình hầu giải quyết cho dân con của Ngài. Thử thách và khuyến dụ ở đây, hôm nay, còn là sử dụng chốn kinh kệ/phụng thờ mà cầu Chúa ra tay giải quyết hết mọi khó khăn đang diễn ra. Người Do thái thời trước, từng sống với những thử và thách giống như thế.

 Thử và thách, là khuyến dụ mình chỉ sống đời thiêng liêng/linh đạo, hơn sống cho ý định của Chúa Cha. Đức Giêsu đã nhận ra chính những thử thách và khuyến dụ như thế, là chúa tể để có thể dám tự mình gạt qua một bên ý định rất thực của Chúa. Thế nên, Ngài mới không chọn đường lối kinh kệ/sùng Đạo như đám Pharisêu từng thêm vào luật tế tự. Trái lại, Ngài đích thực tuân theo ý định của Cha, chứ không phải ý tư riêng của Ngài.

 Hội thánh hôm nay cũng đang sống cùng một cảnh tình rất tương tợ. Cảnh tình, có thử và có thách thức cùng những khuyến dụ, hệt như thế. Cảnh tình, là cảnh của đấng bậc chỉ biết sống ở trên cao, những muốn người của Giáo hội phải biết ganh đua với thế trần. Ganh và đua, hầu đoạt lại quyền uy thế lực từng để mất trong chính trường, ngoài xã hội, là nơi chốn mang nhiều ảnh hưởng lên dân chúng. Thông thường thì, người người thấy Hội thánh cứ ganh đua với cơ quan từ thiện ở nhiều nơi. Vẫn muốn người đời nể trọng mình vì mình cũng từng ban phát ân huệ, tài chánh và bổng lộc cho nhiều người.

 Thường thấy hơn, rõ ràng hôm nay người người đều thấy thánh hội mình chỉ lo chuyện linh thiêng chốn tháp ngà nhiều mây tầng vần vũ. Lo rồi, còn bắt Chúa đồng thuận mà tuân theo qui định do thánh hội mình đề ra. Hội thánh hôm nay cũng gặp cùng một thử thách cũng như khuyến dụ bằng nhiều cách, giống hệt như Đức Giêsu vào thời trước. Tức, cũng nghĩ rằng Chúa Thánh Thần uỷ thác cho mình làm mọi chuyện theo ý của nhóm hội phe đảng cầm quyền, chứ không là ý định của Cha. Bởi, ý của Cha luôn là ý kiến và quyết định mời thánh hội theo đường khổ ải, trầm lắng chứ không sống đời ồn ào, những là phô trương lực lượng. 

 Chúng ta cũng thế. Ngày nay, ta vẫn muốn trở thành dân con đặc biệt được Chúa tuyển chọn. Tức: những người có khả năng chỉnh sửa mọi thứ, cả những thứ mình không có thẩm quyền cùng chức năng,  trọng trách. Nói tóm lại, những nghĩ mình có khả năng giải quyết hết mọi chuyện trong huyện/ngoài đời dù nhiều lúc không được Cha uỷ thác. Dù, nhiều khi chính mình cũng không rành rẽ, bằng người đời.

 Nhiều lúc, Hội thánh những muốn lôi kéo Chúa vào với lập trường rất riêng tư của một nhóm người chưa thành thánh, vẫn muốn dân con Đạo mình luôn ở bên trên. Trên mọi cơ chế, hoặc tôn giáo khác. Trên mọi sự. Hơn mọi người. Chính vì lý do này, mà một số người trong Đạo ngoài làng, nay bớt tin vào thánh hội của Chúa, dù vẫn tin vào tình thương của Ngài đối với mọi Đạo. Mọi người.

 Nhiều lúc, Hội thánh cũng đối xử với con dân trong Đạo như khách lạ người dưng, cùng lắm chỉ như kẻ đứng ngoài dự khán, không hơn không kém. Thế nên, mới bỏ giờ ra mà thêm thắt cho diện mạo Đạo mình thêm phần hấp dẫn. Chính vì thế, nên người người mới không thấy được ý nghĩa của cuộc sống đích thực, trong Đạo. Không còn mong đợi Hội thánh giúp mình sống xứng hợp với Lời của Chúa. Lời, làm sống dậy như Chúa từng khuyên dạy.

 Nhiều vị trong thánh hội của ta, vẫn sống cuộc đời phụng tự, cũng rất thật. Nhưng, quá đặt nặng hình thức rất lễ nghi, chỉ muốn điệu võ dương oai, nên đôi lúc hiểu sai ý nghĩa niềm tin rất thực. Nói tóm lại, dân con Hội thánh nay có lúc đặt quá nặng phần hình thức với diễn trình, cốt để khuyến dụ nhiều người vào Đạo, và theo Đạo. Phải chăng, đó cũng là thử và thách rất khuyến dụ, thời hôm nay.

 Nếu quả có thế, cũng nên nguyện cầu cho thánh hội mình có lại cơ hội lướt thắng chính mình, mà hồi hướng trở về với con đường chính mạch do Đức Giêsu vạch ra. Hội thánh nói ở đây vẫn là mỗi người và mọi người trong thánh hội Công giáo rất La Mã, chứ không chỉ là cơ chế mạnh mẽ, rất Vaticăng.”

 Nguyện cầu cho Hội thánh của Chúa, là nguyện và cầu trong tâm tưởng có những lời ghi chép một dặn dò khi xưa rằng:

“Sau khi Đức Giêsu chịu phép rửa Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa. Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Xatan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người.

 Sau khi ông Gioan bị nộp, Đức Giêsu đến miền Galilê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Người nói: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” (Mc 1: 12-15)

Thử thách và nguyện cầu thật liên-tu bất-tận, để rồi có được những tâm-trạng chịu được tất cả. Chịu đựng, để cùng chung một tâm-trạng như Đức Giêsu từng chịu vào hồi ấy, cũng không ít. Thử thách và nguyện cầu, để rồi sẽ bất chấp mọi sự mà cùng vui với người vui, khổ với người khổ, trong mọi sự.

Nguyện cầu thật lâu và thật nhiều, rồi cứ theo cơn trầm-thống, trỗi dậy mà ngẩng đầu lên rồi cũng sẽ vui vẻ với mỗi người và mọi người, qua truyện buồn/vui đầy kể lể gọi là “Câu chuyện của cha xứ vùng Angevin giúp chúng ta tập trung vào điều thiết yếu” như sau:

Có ai chưa bao giờ bực mình vì ca đoàn hát sai, vì linh mục giảng quá dài, vì người bên cạnh dám nghe điện thoại cầm tay không? Cám dỗ quá lớn đối với một số người, họ tức tối và bỏ nhà thờ ra đi không trở lại! Linh mục Matthieu Lefrançois, cha xứ họ đạo Thánh Antôn ở Angers tìm được một bài trên Facebook của “Giáo hội Công giáo Guinea” để kêu gọi chúng ta chỉ tập trung nhìn Chúa Kitô.

 “Một thanh niên trẻ đến gặp một linh mục và nói:

– Thưa cha, con không đi nhà thờ nữa!

Linh mục hỏi:

– Vậy à, con có thể cho cha biết lý do không?

Người thanh niên trả lời:

– Lạy Chúa tôi, ở đây con thấy cô này nói xấu cô kia; anh đọc Sách Thánh đọc dở; ca đoàn vừa chia rẽ vừa hát sai; người đi xem lễ chỉ chăm chăm nhìn điện thoại, đó là không nói đến ngoài nhà thờ họ là những người ích kỷ, cao ngạo…

Linh mục nói với anh:

– Con có lý. Nhưng trước khi dứt khoát rời nhà thờ, con có thể làm cho cha việc này: con rót một ly nước đầy, rồi đi quanh nhà thờ ba vòng mà không làm đổ một giọt. Sau đó, con có thể bỏ nhà thờ.

Người thanh niên tự nhủ: quá dễ!

Và anh đi ba vòng như cha xứ dặn. Đi xong, anh về nói với cha:

– Rồi, con đi xong rồi.

Linh mục hỏi:

Khi con đi, con có thấy cô này nói xấu cô kia không?

Người thanh niên trả lời:

– Thưa cha không.

Con có thấy người này người kia thờ ơ với nhau không?

Người thanh niên:

– Thưa cha không.

Con có thấy người này người kia chúi mũi vào điện thoại không?

Người thiên nhiên:

– Không, con không thấy.

– Con có biết vì sao con không thấy không: Vì con tập trung để ly nước không bị đổ. Con biết… cuộc đời cũng vậy. Khi tâm hồn chúng ta tập trung vào Chúa Kitô, thì chúng ta không có thì giờ để nhìn các sai lầm của người khác. Ai ra khỏi nhà thờ vì các kitô hữu đạo đức giả thì chắc chắn họ cũng không vào nhà thờ vì Chúa Giêsu”.

 Nghe kể thế rồi, thiết tưởng bạn và tôi, sẽ không còn lý do gì để phàn nàn hoặc than-phiền về cuộc đời người lắm thứ chuyện lỉnh-kỉnh chẳng ra làm sao, nhưng vẫn chấp-nhận, để còn sống những ngày cuối cuộc đời mình, cũng vui tươi, san-sẻ với mọi người.

Nhận-định thế rồi, nay xin đi vào kết-đoạn của mục “phiếm-luận” dài giòng, chẳng ra làm sao. Nhưng vẫn mong bạn bè chấp-nhận cái sự thể “chẳng ra làm sao” ấy cho an-bình cuộc đời, của riêng tôi.

 Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn cứ xin bạn bè

Những chuyện lẩm cẩm

Đến độ thế.

Vuisongtrendoi gởi

Đức Giêsu và sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa

Đức Giêsu và sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa

 (Bài 23)

  Tin Mừng Gioan

 Việc trình-bày Đức Giêsu theo ngôn-ngữ của khôn-ngoan còn đáng kể hơn lời gợi ý ở cuối sách Tân Ước, tức: Tin Mừng của ông Gioan.

Lời nói đầu ở Tin Mừng ông Gioan (có thể coi đây như có nguồn gốc rút từ các bài ca/vịnh tín-hữu thời đầu từng hát) và tác-giả Gioan lại đã áp-đặt vào đoạn đầu Tin Mừng do ông soạn.

Bài vịnh, được khởi đầu bằng những ý/lời mà mọi người đều đã gặp ở Thánh Kinh Do-thái-giáo (*44).

Như tôi có lần báo trước là sẽ thay thế tự-vựng Logos tiếng Hy-Lạp và tiếng Anh dịch thành “Word” và tiếng Việt là “Ngôi Lời” vỏn vẹn chỉ với chữ “Lời”, mà thôi.

“Lúc khởi đầu đã có Lời.
Lời vẫn hướng về Thiên Chúa,
và Lời là Thiên Chúa.
Lúc khởi đầu, Ngài vẫn hướng về Thiên Chúa.
Nhờ Lời, vạn vật được tạo thành,
và không có Ngài,
thì chẳng có gì được tạo thành.
Điều đã được tạo thành
nơi Ngài là sự sống,
và sự sống là ánh sáng cho nhân loại…

Ngài ở giữa thế gian,
và thế gian đã nhờ Ngài mà có,
nhưng lại không nhận biết Ngài.

Lời đã trở nên người phàm
và cư-ngụ giữa chúng ta.
Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Ngài,
vinh quang mà Chúa Cha ban cho Ngài,
là Con Một đầy tràn ân-sủng và sự thật
.

(Ga 1: 1-4, 10, 14)

Điều quan trọng ở câu đầu Tin Mừng không phải để ta suy nghĩ về “Lời” hoặc “Logos” như để nói về Đức Giêsu, nếu hiểu Đức Giêsu đây là “Giêsu thành Nadarét”.

Đọc và hiểu đấy là “Đức Giêsu”, tức vô hình chung ta đã chịu ảnh-hưởng từ nền thần-học Kitô-giáo thời sau này, khi Giáo-hội nói về Ba Ngôi Đức Chúa qua cách sử-dụng các đại-danh-từ “giống đực” tiếng Hy-Lạp gốc và bản dịch tiếng Anh.

Nhưng, các đại-danh-từ giống đực được sử-dụng là bởi từ-vựng logos là danh-từ chung giống đực tiếng Hy Lạp, chứ không vì tự-vựng ấy qui về “Ngài” đây, là “Đức Giêsu”.

Ông Gioan không có ý nói: “Lúc khởi đầu đã có Đức Giêsu” như ta vẫn nghĩ rằng Đức Giêsu đã có đó vào buổi tạo-dựng trời đất. Đúng hơn, Lời ấy đã mặc xác phàm nơi Đức Giêsu  – nay được gọi là logos – có ở đó vào lúc tạo-dựng.

Chính logos này (chứ không phải Đức Giêsu) đã có đó với Thiên-Chúa và Thiên-Chúa (*46).   

Các học-giả lâu nay từng ghi nhận là có mối tương-quan gần-gũi giữa những điều do ông Gioan viết về “logos” và về Khôn ngoan Sophia trong truyền-thống Do-thái-giáo. Khôn ngoan Sophia từng có đó với Thiên-Chúa ngay từ buổi đầu đã năng-động thời tạo-dựng, và cũng có đó cả khi thế-giới gian-trần được tạo-thành nữa (*47).

Tính tương-đương có hoạt-động giữa logos và Khôn-ngoan Sophia cho thấy tính hợp-pháp thay thế Khôn ngoan Sophia bằng logos, “Khôn-ngoan” thay cho “Lời” ở phần mở đầu Tin Mừng Gioan. Thêm nữa, do bởi Sophia là danh-từ riêng giống cái ở tiếng Hy-Lạp, nên đại-danh-từ đây cũng trở-thành “giống cái”:

“Lúc khởi đầu đã có “Khôn ngoan”, và “Khôn-ngoan” ở nơi Thiên-Chúa, và Khôn-ngoan là Thiên-Chúa. Ngài đã có lúc khởi-nguyên nơi Thiên-Chúa. Mọi sự đã nhờ Ngài mà thành sự và không Ngài thì không gì thành sự.

Điều đã thành sự là sự Sống, và sự Sống là sự Sáng cho nhân-loại… Ngài có trong thế-gian và thế-gian đã nhờ Ngài mà được có

mà thế-gian đã không biết Ngài.”

Và rồi, đỉnh cao chót vót đã đạt được, khi Tin Mừng viết:

Và Khôn-ngoan đã thành xác-phàm và đã lưu-trú nơi chúng tôi.” (*49)

Đức Giêsu là sự việc Sophia thần thánh mặc lấy xác-phàm, Khôn-ngoan Sophia trở-thành xác-phàm.” (*50)

Bổ-sung các ảnh-hình Kitô-học   

Ta khám-phá ra vai-trò của Sophia coi như Khôn-ngoan trong truyền-thống Do-thái-giáo và cả trong Tân Ước, điều này mở ra một số sự việc.

Điều đó giúp ta thấy được sự cân-đối tuyệt đẹp giữa Đức Giêsu như Bậc Thày dạy Khôn-ngoan và ảnh-hình về Ngài trong phong-trào tín-hữu thời đầu như mối tương-quan mật-thiết với Khôn ngoan Sophia.

Bằng vào tư-cách của tiếng nói của Khôn-ngoan thay-thế,

Đức Giêsu cũng là tiếng giọng của Khôn ngoan Sophia nữa.

Điều này lại cũng giúp ta nhìn thoáng qua những gì có thể là môn Kitô-học sớm sủa nhất của tín-hữu thời tiên-khởi. (*51). Sử-dụng ngôn-ngữ của Khôn-ngoan Sophia để nói về Đức Giêsu sẽ đưa ta về lại với lớp vỏ bọc sớm-sủa nhất nơi truyền-thống đang khai-triển. Như ta đã thấy, điều này lại cũng trải rộng cùng khắp với truyền-thống. Theo Tin Mừng Nhất Lãm, cũng như lập-trường của ông Phaolô và Gioan cũng công-nhận rằng điều đã có đó nơi Đức Giêsu là Khôn ngoan Sophia của Thiên Chúa.

Quan-điểm này không chỉ là trọng-tâm ngôn-ngữ của Sophia trong việc hình-thành phong-trào đạo-giáo Đức Kitô thời sớm sủa nhất, nhưng còn là bổ-sung về phái-tính của các bộ môn Kitô-học nữa. Bởi, với Đạo Chúa thời đầu, thì Đức Giêsu là Người Con của Cha và là sự việc Sophia mặc lấy xác phàm làm người, là người con trẻ của Abba chí thân, và là con trẻ của Sophia. Hiểu biết như thế cũng giúp ta rất nhiều ở vào thời nhạy bén dâng cao để trở thành vấn-đề của ngôn-ngữ rất can-dự.

Lại nữa, điều này cũng nhấn mạnh sự việc có khả-năng diễn-đạt ngôn-từ Kitô-học nữa. Các hình-ảnh nhân rộng thành nhiều ấn-bản để nói về mối tương-quan giữa Đức Chúa với Thiên-Chúa (như logos, Sophia, Người Con, và các danh-hiệu khác phải làm cho rõ nghĩa để bảo rằng không một danh-hiệu nào được hiểu theo nghĩa đen triệt để hết. Chúng chỉ mang tính ẩn-dụ mà thôi.

Đây còn là điểm quan-trọng để hiểu được ngôn-ngữ Kitô-học đầy sủng-mộ do ảnh-hình bậc cha/chú tạo ra. Ngôn-từ Chúa Ba Ngôi và các công-thức kinh-kệ phụng-vụ nói về “Cha và Con” là dễ-dàng kiến-tạo nên cảm-giác nghĩ rằng đây là cung-cách do tín-hữu Đạo Chúa dứt khoát nói về Thiên-Chúa và Đức Giêsu, là như thế.

Thế nhưng, cũng là điều bổ-ích để nhận ra rằng ảnh-hình Cha và Con cũng phản-ánh sự thể về lề lối suy-tư về Ba Ngôi Đức Chúa có được định-hình trongvănhoá tộc-trưởng và tập-trung phụ-hệ. Nhằm giúp ta có thể tưởng-tượng điều này là lúc Ba Ngôi Đức Chúa trở-thành công-thức trong nền văn-hoá mẫu-hệ,Đức Giêsu vẫn được gọi là “người con”, nhưng ta đều đoan-chắc rằng mọi người nói về Ngài trước nhất như Người Con của Cha vậy (*52).

Thành thử, đây không là trường-hợp để ta nói lên rằng Đức Giêsu làNgười Con của Thiên-Chúa hiểu theo nghĩa đen, dù Ngài vẫn được nói đến theo nhiều cách khác nữa, như Khôn ngoan Sophia của Thiên Chúa. Thật ra thì, cả hai điều đó đều mang tính ẩn-dụ hết.

Mẫu số chung ở cả hai trường-hợp, đó là: cả hai cùng nói về Đức Giêsu như Đấng có tương-quan mật-thiết với Thiên-Chúa đậm đà và sâu-sắc đến độ Ngài còn được gọi là người con của Abba  và là người con của Khôn ngoan SophiaTa không hề biết và không thể hiểu làm sao mà kiểu nói này có thể bắt đầu nói ra được cả vào lúc Đức Giêsu còn sống, hoặc làm sao các hình-ảnh như thế lại hiện-diện trong tâm-thức của chính Ngài được.

Quả nhiên, thật là điều hợp lý để thấy được sự liên-kết giữa ngôn-từ này và những gì ta có thể giả-định về kinh-nghiệm Ngài từng trải. Tính mật-thiết của các ẩn-dụ lại cũng kiên-định trong việc nhìn nhận Đức Giêsu-trước-ngày-Phục-Sinhnhư một nhân-vật đầy tính linh-thiêng, thần-khí.

Là Đấng hiểu/biết rõ Thần Khí Chúa, Đức Giêsu có lẽ cũng đã suy-tưởng và/hoặc trải-nghiệm Thần Khí như Abba và Sophia.

Thế nhưng, thêm vào đó, vấn-đề là:

Ngài có nghĩ về chính mình Ngài như “người con” (theo nghĩa đặc biệt) của Đấng mà Ngài gọi là Abba không?

Đức Giêsu có nghĩ về chính mình Ngài như con trẻ hoặc như người đại-diện của Sophia thần thánh không?

Bằng vào bản-chất của các nguồn ta đạt được, bản thân tôi thấy cũng khó mà tưởng-tượng nổi để có thể phán-đoán về tính khả-thi lịch-sử ta đạt được trong vấn-đề đặc-biệt này (*53).

Cho dù ta không thể biết được là các ảnh-hỉnh này là một phần trong việc Đức Giêsu tự biết về Ngài, có điều thấy rõ rằng việc tượng-hình ra Đức Giêsu như “người Con của Chúa” và như “Khôn-ngoan của Thiên-Chúa” lại có trong giai tầng cổ xưa nhất thuộc truyền-thống phát-triển nên phong-trào tín-hữu thời đầu được.

Thành thử, hỏi rằng các hình-ảnh đây có cho ta biết bất cứ thứ gì về nhận-thức của Đức Giêsu, thì các hình-ảnh ấy sẽ giúp ta tiếp-cận với tầng/lớp sớm nhất của tiến-trình thành-hình môn Kitô ở cộng-đoàn để thiết-lập và suy-tư không?

Có điều đáng nể là, hình-tượng “người Con của Chúa” và “Sophia của Thiên-Chúa cả hai đều gặp thấy ở giai-đoạn mới sớm này.

Sự hiện-hữu của bộ môn Kitô-học bàn về “người con” và “Sophia của Thiên-Chúa” trong cao-trào mới sớm của tín-hữu Đức Kitô đã ảnh-hưởng lên ảnh-hình bình-dị của Đức Giêsu, Đấng mà ta từng gặp vào lúc trước.

Sự hiện-hữu của các hình-ảnh này lại đã đưa ta hướng về việc bổ sung phái-tính khi suy-tư về Đức Giêsu, là điều còn rất mới đôi với nhiều người.

Vượt ra ngoài những chuyện như thế, các ảnh-hình này lại cũng chuyển-đổi lối suy-tư Kitô-học ra khỏi khuôn-khổ văn-chương chữ nghĩa vẫn thường song hành với hình-tượng của người dân thường vốn có trong đầu. Việc nhân rộng ảnh-hình Kitô-học thời ban đầu như –“người con” và “khôn-ngoan” và các thứ khác–  lại đưa ta vào nhận-thức hiểu rằng đây chỉ mang tính ẩn-dụ mà thôi.  

Hiểu biết này đã lật đổ cảm-giác thông thường vẫn nghĩ rằng niềm tin của tín-hữu Đức Kitô                 

Lại cũng kéo theo niềm tin cho rằng Đức Giêsu thực sự là “người Con của Chúa” hiểu theo nghĩa đen. Đây là một lật đổ giúp ta cũng rất nhiều.

Việc hiểu cụm-từ “người Con của Chúa” hoàn toàn theo nghĩa đen lại đã khép chặt tầm hiểu biết của ta về Kitô-học bằng cách chỉ mở ra có một ảnh-hình ưu-tiên làm tiêu biểu, thôi. Thật ra, cũng khó mà tin như thế, một phần do bởi tính-chất không chắc-chắn khi ta khẳng-định rằng Đức Giêsu là người Con của Chúa, hiểu theo nghĩa đen.

Thế nhưng, khi “người Con của Chúa” khi được coi như một trong các ẩn-dụ, thì ẩn-dụ ấy cũng mở ra khả-năng hiểu biết một cách phong-phú hơn ý-nghĩa về Đức Giêsu như Đấng từng trải-nghiệm và diễn-tả vào thời tiên-khởi.

Vấn đề là, một khi ta không còn tin rằng Đức Giê-su thật sự là “người Con của Chúa” theo nghĩa đen, nhưng lại cảm-kích ý-nghĩa giàu có do có nhiều hình ảnh mang tính Kitô-học được nhân rộng.

Ngài là “người Con của Chúa”. Vâng đúng là như thế.

Nhưng, Ngài còn là Lời mặc lấy xác phàm đồng thời là Khôn-ngoan của Chúa.

Quả có thế, Đức Giêsu đích-thực là “người Con của Chúa”,

là logos của Thiên-Chúa

và là Khôn ngoan Sophia của Thiên-Chúa, nữa (*54).

                                                                                                (còn tiếp)

 

Gs Marcus J Borg biên-soạn

Mai Tá lược-dịch.    

Tamlinhvaodoi gởi        

ĐẦU NĂM TẠ ƠN VÀ KHÁM PHÁ

ĐẦU NĂM TẠ ƠN VÀ KHÁM PHÁ

 Đầu năm là mốc thời gian trọng đại.  Dịp này, con cái Chúa hướng lòng về Cha trên trời.  Một việc không thể thiếu là tạ ơn Cha.

Trong tâm tình tạ ơn thường có cảm nhận tình thương của Chúa.  Cảm nhận sẽ trở thành khám phá, khi linh hồn được đưa vào một cõi tình yêu mênh mông êm đềm, mà Chúa dành riêng cho họ.

  1. Bài học tạ ơn và khám phá

Khám phá riêng tư ấy không luôn xảy ra trong việc tạ ơn.  Khám phá đó là do Chúa ban.  Không phải bất cứ ai cũng được ơn riêng ấy.  Vậy những người được Chúa ban ơn đặc biệt đó là ai?  Chúng ta tìm được câu đáp ở lời sau đây của Chúa Giêsu: “Ngay giờ ấy, được Thánh Thần thúc đẩy, Đức Giêsu hớn hở vui mừng và nói: ‘Lạy Cha là Chúa trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn.  Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha’” (Lc 10,21).

 Như vậy, những người được Chúa ban ơn khám phá thấy tình xót thương Chúa chính là những kẻ bé mọn.  Để hiểu thế nào là kẻ bé mọn, mà Chúa Giêsu đề cao ở đây, trước hết chúng ta nên đọc lại đoạn Phúc Âm sau đây:

 “Nhóm Bảy Mươi Hai trở về, hớn hở nói: ‘Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con’, Chúa Giêsu bảo các ông: ‘Thầy đã thấy Satan như một tia chớp từ trời sa xuống.  Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp trên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em.  Tuy nhiên, anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời’” (Lc 10,17-20).

 Đoạn Phúc Âm trên đây cho chúng ta thấy: Những kẻ bé mọn Chúa Giêsu muốn đề cao chính là nhóm Bảy Mươi Hai.  Họ đã được Chúa sai đi.  Họ đã đến với những người nghèo hèn, cùng khổ để tiếp cận, để cứu giúp, để loan báo Tin Mừng, để giúp sám hối, để xua đuổi quỷ dữ.  Họ làm những việc bác ái đó nhân danh Chúa Giêsu với nhận thức tự mình chẳng có gì.  Đang khi họ vui mừng vì những thành công đó, Chúa Giêsu đã cho họ khám phá thấy tình xót thương Chúa dành cho họ còn cao quý hơn nhiều, đó là tên họ được ghi trên trời.  Nói tóm lại, nhóm Bảy Mươi Hai được Chúa Giêsu gọi là những kẻ bé mọn, vì hai lý do:

Họ đã đến với những kẻ nghèo hèn, cùng khổ, để cứu giúp và chia sẻ.  Họ khiêm tốn trở thành bé mọn với bất cứ kẻ bé mọn nào.  Họ khiêm tốn nhận mình đã cho đi những gì mình đã nhận từ lòng xót thương Chúa.  Họ chỉ làm theo ý Chúa và nhân danh Chúa, Đấng đã sai họ đi.  Họ luôn bé mọn, nghèo khó.

 Chúa dạy họ không nên vui vì những thành công trước mắt, nhưng hãy vui vì phần thưởng cao quý Chúa dành riêng cho họ, đó là tên họ được ghi trên trời.  Nghĩa là họ được Chúa cứu độ, được Chúa thánh hoá, được Chúa tuyển chọn.  Khám phá đó sẽ cho họ thấy tình thương Chúa là vô biên, vô bờ, đem lại cho họ sự bình an và hạnh phúc đời đời, không gì sánh kịp.  Chúa Giêsu đã hớn hở vui mừng tạ ơn Đức Chúa Cha, vì những lạ lùng đã xảy ra cho những kẻ bé mọn.  “Lạy Cha, con xin ngợi khen Cha, vì… đã mạc khải những điều này cho những kẻ bé mọn” 

  1. Thực hiện bài học tạ ơn và khám phá

 Những gì Chúa Giêsu đã nói và đã làm trên đây, nên được coi là bài học quý giá cho chúng ta mọi ngày, nhất là những dịp tạ ơn Chúa.  Bài học đó có thể thực hiện bằng những việc sau đây:

 Chúng ta khiêm tốn nhận mình hèn mọn, yếu đuối, bé nhỏ.  Nếu ta có điều gì tốt, làm được việc gì lành, thì đều do Chúa ban ơn.  Chúng ta khiêm tốn cầu xin Chúa giúp chúng ta khám phá ra những ơn lành Chúa đã ban cho chúng ta.  Tôi được Chúa ban ơn trở về, tôi được Chúa cứu độ, tôi được Chúa kêu gọi, tôi được Chúa tha thứ, tôi được Chúa sai đi, tôi được Chúa ban ơn chia sẻ tình Chúa cho người khác, tôi được Chúa yêu thương đặc biệt.

 Chúng ta khiêm tốn vui mừng trong tình yêu của Chúa, theo gương Chúa và Đức Mẹ.  Chúa Giêsu “hớn hở vui mừng, ca ngợi Chúa Cha.”  Tình cảm đó cũng được thấy nơi Đức Mẹ Maria, khi Mẹ đi viếng thăm bà chị họ Isave.  Mẹ đã khám phá thấy tình Chúa xót thương Mẹ là hết sức lạ lùng, nên lòng Mẹ trào dâng lên những lời cảm tạ đầy hớn hở, vui mừng, ca ngợi Chúa: “Linh hồn tôi tung hô Chúa.”  Tình cảm vui mừng cảm tạ Chúa có hương sắc thiêng liêng siêu thoát, có sức nâng tâm hồn lên với Chúa.  Không một chút vẩn đục bởi bất cứ tư tưởng thế tục nào.  Chúng ta khiêm tốn để lòng mình nghỉ ngơi trong sự chiêm niệm ngắm nhìn Chúa, với hết lòng tin tưởng phó thác nơi Chúa.  Chúa là nguồn mọi sự tốt lành.  Chúa là cùng đích cuộc đời của ta.

  1.  Tỉnh thức trong tạ ơn và khám phá

Thánh Phaolô khuyên: “Anh em hãy tỉnh thức mà cầu nguyện và tạ ơn” (Cl 4,2).  Lời khuyên trên đây của thánh Tông đồ nên được áp dụng thường xuyên trong tạ ơn và khám phá.

 Trước hết, cần tỉnh thức về phương diện khiêm tốn.  Khiêm tốn thực chất, khiêm tốn luôn luôn, khiêm tốn trong mọi sự.  Có thể nói, cái làm cho việc tạ ơn và khám phá đẹp lòng Chúa chính là sự khiêm tốn.  Đức Mẹ Maria suốt đời khiêm tốn, nên suốt đời Mẹ là lễ tạ ơn và khám phá tình xót thương của Chúa.

Khiêm tốn, nên luôn giữ tự do tâm hồn.  Tỉnh thức không để mình bị áp lực do bất cứ quyền lực nào của ma quỷ, thế gian và xác thịt.  Tâm hồn nhờ vậy sẽ rất nhẹ nhàng vâng phục thánh ý Chúa.  Thánh ý Chúa là muốn chúng ta sẵn sàng phục vụ.

 Vì thế, cũng cần tỉnh thức trong việc phục vụ.  Mỗi nơi ta ở, mỗi thời ta sống, đều có những dấu chỉ về thánh ý Chúa.  Ta sẽ nghe được tiếng gọi của Chúa trong các dấu chỉ đó, để phục vụ.  Không thể tạ ơn, nếu phục vụ sai thánh ý Chúa. 

Nhờ tỉnh thức, chúng ta sẽ khám phá thấy tình Chúa thương chúng ta, ngay cả khi chúng ta sống trong muôn vàn đau khổ.  Trong những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, chúng ta cũng sẽ khám phá thấy Chúa ban cho chúng ta vẫn có khả năng phục vụ các linh hồn bằng nhiều cách hiệu nghiệm.

 Nếu không tỉnh thức, việc gọi là tạ ơn Chúa có thể sẽ trở thành dịp phô trương cái tôi, và việc gọi là khám phá tình yêu Chúa cũng dễ là dịp khoe khoang thành tích.  Tệ hại nhất là vô ơn và lạm dụng ơn Chúa cũng như danh  nghĩa Chúa.

 Cúi xin Mẹ Maria thương giúp chúng ta biết noi gương Mẹ mà tạ ơn Chúa và khám phá tình Chúa xót thương.

 ĐGM GB. Bùi Tuần

Langthangchieutim gởi

THIÊN CHÚA LÀ MÙA XUÂN VĨNH CỬU


THIÊN CHÚA LÀ MÙA XUÂN VĨNH CỬU

Hôm nay, ngày đầu năm Bính Tuất, chúng ta nhắc lại câu chuyện cổ tích “Con Chó Đá”.

Ngày xưa, có người học trò nghèo dùi mài kinh sử chờ khoa thi ở kinh đô.  Một hôm, anh đi qua cổng làng, thì con chó bằng đá đang đứng trên bệ bỗng nhổm dậy vẫy đuôi mừng rỡ.  Lấy làm lạ, anh học trò bèn hỏi tại sao lại vẫy đuôi.  Con chó trả lời: “Khoa này thầy thi đỗ nên tôi mừng.”  Anh học trò về kể cho cha mẹ nghe.  Thế là từ đó người cha lên mặt hống hách với mọi người, không coi ai ra gì.

Tháng sau, trước ngày đi thi, anh học trò đi ngang qua cổng làng, không thấy con chó vẫy đuôi nữa, bèn hỏi tại sao.  Con chó đáp: “Tại cha thầy sớm lên mặt với mọi người, nên khóa này thầy chẳng đỗ đâu.”  Y rằng như thế.

Anh học trò về kể lại với người cha.  Ông hối hận, từ đó tu thân tích đức, sửa chữa lỗi lầm.  Khóa sau, anh học trò đi qua, chó đá lại vẫy đuôi.  Quả nhiên, sau đó anh đỗ đạt và làm quan lớn.

Hình ảnh con chó đá luôn gắn bó với làng quê miền Bắc Việt Nam bao đời qua, trở thành một biểu tượng dân gian thân thuộc.  Chó là con vật trung thành với con người, luôn biết phục vụ con người qua việc canh giữ nhà cửa và bảo vệ con người sống trong sự bình an.  Hình ảnh con chó đá vẫy đuôi trong câu chuyện cổ tích còn cho thấy chó luôn sống thân thiện với con người, hòa nhập vào đời sống tình cảm của con người, trở thành niềm vui và niềm động viên cho con người.

Từ những nét đặc trưng của loài chó kể trên, ta mới nghiệm thấy Xuân Bính Tuất đang đến với ta cũng có những đặc tính đáng yêu đáng mến ấy.  Đó cũng chính là những ước vọng của chúng ta trong năm mới Bính Tuất này.

Một năm mới tràn ngập bình an

Bình an luôn là ước vọng lớn của con người.  Cũng vậy, hòa bình cũng chính là hoài bão lớn nhất của nhân loại.  Thế nhưng, đã nhiều thế kỷ trôi qua, con người vẫn sống trong chiến tranh điêu tàn.  Con người vẫn chưa tìm được sự bình an, và thế giới vẫn chưa có hòa bình đúng nghĩa.

Hôm nay, ngày đầu năm chúng ta hãy nguyện xin Thiên Chúa là Chúa Xuân ban cho chúng ta sự bình an như lòng chúng ta mong ước và ban hòa bình cho thế giới.  Chỉ có Chúa mới có thể ban tặng cho ta sự bình an đúng nghĩa, vì chính Người là nguồn bình an đích thực.

Tuy nhiên, sự bình an chỉ có thể có được nếu chúng ta biết hoàn toàn phó thác cậy trông vào tình thương và sức mạnh của Chúa, như lời Chúa dạy chúng ta : “Các con chớ áy náy lo lắng về ngày mai”.

Trong ngày đầu năm, chúng ta hãy dâng lên Chúa quan phòng những ước vọng, và mọi âu lo trong đời sống, nhất là trong những ngày tháng sắp tới.  Trong niềm phó thác và cậy trông vào Chúa, chúng ta sẽ luôn được bình an.

Một năm mới tràn ngập yêu thương

Tình yêu cũng luôn là khát vọng khôn nguôi của con người.  Vì thiếu tình yêu, con người đã rơi vào những thảm cảnh của bạo lực và khủng bố.  Vì thiếu sự thân thiện, nên con người đã lao vào chém giết nhau.  Vì thiếu sự yêu thương, nên gia đình ly tán, tan vỡ.  Và cũng vì thiếu tình thương yêu nên con người càng ngày càng đắm chìm trong hận thù ghen ghét.

Trong ngày đầu năm, chúng ta hãy dâng lên Chúa là Thiên Chúa tình yêu, những nguyện ước chân thành, xin cho mọi người biết yêu thương nhau hơn, bớt đi những khủng hoảng và chiến tranh, thay vào đó là tinh thần đại đồng và hiệp nhất giữa mọi quốc gia, luôn giúp nhau cùng phát triển trong một “nền văn minh tình thương”.

Muốn được thế, mỗi người chúng ta hãy biết loại bỏ đi những tị hiềm ghen ghét, biết cảm thông và tha thứ cho mọi người sống chung quanh.  Chúng ta hãy để cho “Thiên Chúa tình yêu” luôn ở giữa chúng ta và liên kết mọi người nên một trong tình yêu và sự hiệp nhất.

Một năm mới tràn ngập niềm vui

Thế giới luôn chìm ngập trong nỗi buồn muôn thuở: nỗi đau “huynh đệ tương tàn”, nỗi niềm xót xa của những thảm cảnh chiến tranh từng ngày, ở khắp nơi.  Tâm hồn con người cũng không thoát khỏi nỗi ưu sầu nhân thế: sự cô đơn, thất vọng và khủng hoảng.  Các gia đình cũng không thiếu cảnh buồn sầu: gia đình xung đột, chia rẽ và cuối cùng dẫn đến sự đổ vỡ hoàn toàn.

Trong ngày đầu năm, chúng ta hãy xin Chúa ban cho chúng ta niềm vui trọn vẹn và bền vững, niềm vui xuất phát từ chính Thiên Chúa, niềm vui không phai nhòa và lụi tàn.  Niềm vui ấy chỉ có được ở nơi những tâm hồn đầy tràn ơn Chúa.  Niềm vui ấy cũng chỉ có được nếu biết hướng tới tha nhân.  Và niềm vui ấy thật sự bền vững khi niềm vui ấy là kết quả của một đời biết hy sinh phục vụ người khác.

Hôm nay, chúng ta còn khát khao một điều cao cả hơn hết: đó là xin Chúa mãi mãi là mùa xuân vĩnh cửu của cuộc đời ta.  Muốn được thế, ta phải biết chọn lựa và tìm kiếm Người giữa những thần tượng trần thế.  Hãy biết đặt Người lên trên mọi ưu tiên của cuộc đời, như lời Chúa dạy chúng ta : “Tiên vàn các con hãy biết tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Người”.

“Nước Thiên Chúa” là gì nếu không phải là “Vương quốc tình yêu”, vương quốc mà chỉ có những con người biết yêu thương mới đạt tới?  “Sự công chính” của Thiên Chúa là gì, nếu không phải sự thánh thiện của những con người luôn biết vâng theo thánh ý Chúa hằng ngày?

Hôm nay, chúng ta mở sang một trang sách mới của cuộc đời, trang sách đầu tiên của năm mới.  Chúa mời gọi chúng ta hãy làm một cuộc lựa chọn: Thiên Chúa hay thế gian.  Trong suốt cả năm, chúng ta có hạnh phúc, an vui, thành đạt hay không là tùy thuộc ở sự lựa chọn này.

Một đứa bé đã khóc thét lên khi nó thọc tay vào miệng một cái bình sứ Trung Quốc rất đắt tiền mà không thể rút tay ra được.  Cha mẹ nó tìm mọi cách kéo tay đứa bé ra.  Nhưng hoài công vô ích!  Mọi cách đều làm đứa bé khóc to hơn vì đau và sợ.

Cuối cùng, họ đành đập bể chiếc bình quý giá đó.  Khi những mảnh vỡ rơi tan tác dưới sàn, mọi người mới hiểu tại sao tay đứa bé kẹt cứng ở trong cái bình: Nó nắm chặt lấy một đồng tiền cắc mà trước đó nó đã làm rơi vào trong bình.  Vì cứ nắm chặy lấy đồng tiền, nó đã không thể rút tay ra khỏi chiếc bình.  Không chỉ riêng đứa bé, rất nhiều người trong chúng ta đã không nhận ra được giá trị thật của cuộc sống.  Bàn tay ta cứ nắm chặt lấy những đồng tiền trong cuộc sống, khiến ta không thể nắm bắt được hạnh phúc mà Thiên Chúa tặng ban.

Sưu tầm

****************************** ********

Lạy Chúa

365 ngày vụt qua nhanh, ngày đầu năm mới đó mà hôm nay đã cuối năm rồi.

Tờ lịch sang trang mới. 

Cuộc sống của con còn bao nhiêu tờ lịch sang trang nữa?

Con không biết. 

Ngày mai là của Chúa.

365 ngày cũng có chút sóng gió trong công việc, trong sức khỏe, 

nhưng Chúa đã dẫn chúng con trong bình an. 

Con kính dâng lên Chúa lời tạ ơn chân thành với tất cả tâm tình biết ơn.

 Qua lời chuyển cầu của Mẹ Maria, 

Con kính dâng lên Chúa những dự tính, những ước mơ về một năm mới.
Xin Chúa là nguồn bình an, thương chúc phúc cho gia đình con, 

những người thân yêu của con, bạn bè con.

Xin Chúa thương chúc phúc cho những người chung quanh con: 

những người đang ưu tư tìm kiếm công việc làm ăn, 

những người vất vả sớm hôm mà vẫn sống trong cảnh nghèo khổ, 

những người lang thang cơ nhỡ, 

những người cô đơn, bệnh hoạn, đói khát, tật nguyền, khổ đau cùng cực, 

những người đang phải sống trong vùng chiến tranh với biết bao lo sợ, tiếng súng thay cho tiếng cầu kinh.

 Xin trải dài trên suốt cuộc đời của mỗi người chúng con 

tình thương vô biên của Lòng Thương xót Chúa: 

để chúng con luôn có tấm lòng mở rộng, chia sẻ với nhau từ vật chất đến tinh thần, 

để lời nguyện cầu của chúng con luôn được Chúa chấp nhận.  Amen.

From Langthangchieutim gởi

THÂN PHẬN NGƯỜI

THÂN PHẬN NGƯỜI

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

           Bước vào Mùa Chay, nghe ca khúc “Thân phận người” của nhạc sĩ Tuấn Kim như một tâm sự để suy niệm.  Giai điệu và lời ca thiết tha ngân nga những thao thức, nhắc nhở mỗi người về thân phận của mình, về cõi nhân sinh: “Phù du là phận người, trăm năm như chớp mắt thôi.  Công danh như nước trôi qua cầu, đời con trôi về đâu?” 

Phù du là phận người.  Mọi sự chỉ là phù vân. Sách Giảng Viên viết rằng: “Tất cả chỉ là phù vân.”  Phù là trôi nổi, huyền ảo.  Vân là mây.  Phù vân là bèo dạt mây trôi, là hay thay đổi, mau qua, tàn phai.  Mọi của cải vật chất trên trần gian này, kể cả cuộc sống của mỗi người đều là phù vân.

Phù du, phù vân diễn tả thân phận bụi tro: “Người ơi hãy nhớ, mình là bụi tro, một mai người sẽ trở về tro bụi.”  Con người, dù trẻ hay già, dù giàu hay nghèo, dù sang hay hèn, dù quyền thế hay dân thường, dù tài giỏi hay bình thường… thì một mai cũng lìa khỏi  thế gian này trở về cát bụi.  Đó là định luật muôn thuở!

Trong nghi thức khai mạc Mùa Chay, các tín hữu từ giáo hoàng, giám mục, linh mục, tu sĩ đến giáo dân, mọi người đều khiêm hạ nhận lấy một chút tro trên đầu.  Người giàu cũng như người nghèo, người già cũng như người trẻ, ai cũng nhận mình là thân phận bụi đất.  Nghi thức xức tro thật cảm động, vừa diễn tả lòng sám hối, vừa nói lên nguồn gốc tro bụi của đời người.

Lần lượt mỗi người, từ cụ ông cụ bà đến trẻ nhỏ bước lên để thừa tác viên rắc tro trên đầu.  Nghi thức và cử chỉ ấy giúp con người ý thức thân phận mong manh và giới hạn của mình. “Hãy nhớ ngươi được tạo dựng từ bụi tro, và sẽ trở về với bụi tro.”  Đó là lời Thiên Chúa đã phán với Ađam Evà.  Đó là lời Chúa nói với từng người khi lên xức tro.

Ý thức thân phận giới hạn mong mong của mình, để làm gì?

Để biết rằng tôi không sống mãi trong cuộc đời này, sớm muộn gì cũng đến lúc tôi trở về với Chúa, và tôi sẽ phải trả lời trước mặt Chúa về cuộc đời của mình.  Con người có sinh có tử, có hợp có tan, có khởi đầu sẽ có kết thúc.

Nghĩ về sự chết để mà sống sao cho “đẹp” đời trần thế.  Làm sao để tôi sống cuộc đời này cách ý thức hơn, với tinh thần trách nhiệm hơn, để khi đến trước mặt Chúa tôi có thể đến trong niềm vui, chứ không phải trong sự sợ hãi!

Vì thế, cử chỉ xức tro còn hàm chứa một lời mời gọi: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”; hãy nhìn nhận những tội lỗi thiếu sót, những bất tất trong cuộc đời của mình, và hãy cố gắng để sửa đổi những gì còn thiếu sót đó để sống hợp với thánh ý Thiên Chúa hơn.

Đó là lời mời gọi mà Chúa gởi đến từng người qua nghi thức xức tro rất đơn sơ nhưng giàu ý nghĩa và thật xúc động.

Thứ Tư Lễ Tro mở cửa vào Mùa Chay Thánh 40 ngày.  Đây là thời gian giúp chúng ta ý thức về sự mong manh giới hạn của đời người, sống lời mời gọi sám hối và trở về với Tin mừng.  40 ngày Chay Thánh nhằm chuẩn bị cho chúng ta sống mầu nhiệm cuộc Thương khó của Chúa Giêsu, đón nhận cái chết, và mừng ngày Phục sinh của Người.

Lời Chúa hôm nay nhắc nhở về thân phận mỏng dòn của con người, đồng thời mời gọi chúng ta hoán cải nội tâm trong tương quan với Thiên Chúa và tha nhân.

Tiên tri Gioel đã kêu gọi :“Đừng xé áo, nhưng hãy xé lòng.  Hãy trở về cùng Đức Chúa là Thiên Chúa của anh em, bởi vì Người từ bi và nhân hậu, chậm giận và giàu tình thương, Người hối tiếc vì đã giáng họa” (Ge 2,13).  “Hãy xé tâm hồn chứ đừng xé áo… Các ngươi hãy hết lòng trở về với Ta!”  Đó là ý nghĩa cơ bản và sâu xa nhất của sự hoán cải.  Cần phải thay đổi cái nhìn, thay đổi tư tưởng và ước muốn sao cho phù hợp với giao ước tình yêu của Thiên Chúa.  Sự biến cải nội tâm ấy được biểu lộ bằng những hành động cụ thể, như từ bỏ thói quen xấu, kìm hãm con người xác thịt, thực hành chay tịnh, tất cả là để tái tập thế quân bình giữa hồn và xác.

Thứ Tư Lễ Tro khởi đầu Mùa Chay Thánh, mỗi người cố gắng thực hành những việc đạo đức như Giáo Hội mời gọi.

–     Hòa giải với Chúa và với nhau.

Do tội lỗi, con người bị cắt đứt khỏi nguồn mạch sự sống, và bị dìm vào tình trạng bi thảm của sự chết.  Thiên Chúa mời gọi con người trở về với Ngài, giao hòa trong tình con thảo và sống trong niềm vui ân sủng.

Sự giao hoà phải là một lời cầu nguyên khiêm tốn : “Lạy Chúa, xin thương xót con, vì con đã xúc phạm đến Chúa.”  Đó là lời cầu nguyện đẹp lòng Chúa, diễn tả tâm tình khiêm tốn tin cậy nơi lòng nhân hậu của Thiên Chúa.  Theo gương Thánh Giuse sống thinh lặng nội tâm và đón nhận Bí Tích Hòa Giải. Cần rút lui vào thinh lặng của tâm hồn, hãy sống kín đáo với Chúa trong tâm hồn mình.  Đó là mục đích của những cuộc tĩnh tâm Mùa Chay.  Có một người lâu năm không xưng tội, bỗng một ngày kia anh cho vợ con đi về nhà ngoại chơi một tuần; một mình anh ở nhà, xét mình để chuẩn bị xưng tội.  Anh đến tòa giải tội với một cuốn tập viết đầy từ đầu chí cuối.  Chỉ trong thinh lặng, người ta mới thấy mình được rõ hơn.

Hòa giải với tha nhân.  Đó là điều Chúa Giêsu đã xác quyết : “Nếu người dâng của lễ nơi bàn thờ và ở đó nhớ ra anh em có điều bất bình với ngươi, ngươi hãy đặt của lễ đó trước bàn thờ, đi làm hòa với anh em ngươi trước đã rồi bấy giờ hãy đến mà dâng lễ vật của người.”  Bởi vậy, xin ơn giải hòa với Thiên Chúa, chúng ta cũng hãy tìm mọi cách xóa đi những xích mích, bất hòa hờn giận với người khác.

–     Hy sinh hãm mình.

Truyền thống Giáo Hội từ xa xưa giữ chay 40 ngày, nhưng vì hoàn cảnh và sự yếu đuối của con người, Giáo Hội đã giảm bớt tối đa chỉ buộc giữ chay hai ngày: thứ tư lễ tro và thứ sáu tuần thánh.  Dù vậy, tinh thần hãm dẹp xác thịt lúc nào cũng không thể bỏ qua được.  Do đó “mỗi người hãy cố giữ đời sống hoàn toàn trong sạch, lợi dụng những ngày thánh này để gột rửa những sơ suất trong các mùa khác, bằng cách chế ngự các thói hư, gia tăng cầu nguyện, siêng năng đọc sách, thành tâm thống hối, để tâm hồn được vui mừng mong đợi Lễ Phục Sinh“. (Tu luật Biển Đức).

Mùa Chay là một thời gian thuận tiện để rèn luyện tâm hồn.  Chúa Giêsu đưa ra cho chúng ta chương trình ba điểm để rèn luyện trong Mùa Chay.  Đó là ăn chay, cầu nguyện và làm việc bác ái.

Ăn chay là một phương thế hữu hiệu để rèn luyện tâm hồn.  Cầu nguyện càng sâu xa chúng ta càng thân thiết với Chúa, ai siêng năng cầu nguyện sẽ được sức mạnh cần thiết để chiến thắng các cơn cám dỗ.  Làm việc bác ái, tình yêu Chúa thực sự sẽ được thể hiện trong tình yêu mến anh em đồng loại.

Mùa Chay là những ngày thánh: “Đây là thời Thiên Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ.”  Thiên Chúa lúc nào cũng sẵn sàng ban ơn cứu độ với điều kiện con người phải chuẩn bị tâm hồn để đón nhận.

Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa giúp chúng con trong Mùa Chay Thánh này, biết ý thức thân phận của mình, thực thi việc phải làm là được hòa giải với Thiên Chúa, với chính mình và với anh em.

 Xin Thánh Giuse hướng dẫn chúng con trong cuộc hành trình này, để chúng con có thể hoán cải bản thân và nghiệm thấy ân sủng của Thiên Chúa luôn tuôn đổ trên mỗi người chúng con, giúp chúng con được biến đổi nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô.  Amen!

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

TỘI LỖI VÀ TÌNH THƯƠNG

TỘI LỖI VÀ TÌNH THƯƠNG      

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Chúng ta đã bước vào Mùa Chay.  Đối với người tín hữu, đây là “thời Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ” (2 Cr 6,2).  Sống tinh thần Mùa Chay là khiêm tốn nhìn nhận mình còn nhiều tội lỗi, đồng thời nhận ra tình thương bao la của Thiên Chúa.  Nhờ tình thương, chúng ta được canh tân đổi đời và nên giống Chúa Giêsu trong tư tưởng, lời nói và việc làm.

Mỗi khi Mùa Chay về, chúng ta được mời gọi thực hành những việc đạo đức truyền thống như chay tịnh, hãm mình, hy sinh, cầu nguyện.  Thoạt nghĩ đến những thực hành này, chúng ta thường coi đó là những ràng buộc nặng nề, làm giảm tự do ngăn cản ham muốn hưởng thụ của chúng ta.  Tuy vậy, những việc đạo đức của Mùa Chay, nếu được thực hiện có ý thức, sẽ giúp chúng ta hoàn thiện bản thân, sống đẹp lòng Chúa và sống tốt với anh chị em mình.

Bài đọc I trích sách Sáng thế giúp chúng ta rút ra bài học từ một sự trong quá khứ.  Đây cũng là một kinh nghiệm về lòng từ bi hay thương xót của Thiên Chúa, mặc dù con người tội lỗi phản nghịch.  Vào thời xa xưa, đã có lúc nhân loại trở nên xấu xa và đầy tội lỗi.  Chúa đã muốn dùng cơn Đại hồng thủy để xóa đi cả dòng giống con người.  Tác giả sách Sáng thế diễn tả với nỗi đau đớn: “Thiên Chúa hối hận vì đã làm ra con người trên mặt đất” (St 5,6).  Ngài đã muốn dùng cơn Đại hồng thủy để xóa đi loài người và mọi loài thụ tạo, để thiết lập một dòng giống mới, tinh tuyền thánh thiện hơn.  Dòng giống này phát sinh từ gia đình ông Nôê, người sống đạo đức và kính sợ Chúa.  Bằng con tàu khổng lồ ông đã chuẩn bị theo lệnh truyền của Chúa, gia đình ông và các loại cỏ cây, súc vật, chim trời đã trở thành những nhân tố đầu tiên của cuộc sáng tạo mới sau khi nước hồng thủy rút đi.  Nước vừa có sức mạnh hung dữ nhấn chìm mọi tạo vật, vừa có khả năng làm sinh ra một thế hệ mới.  Các hiền sĩ Do Thái đều nhìn nhận biến cố này diễn tả thân phận tội lỗi của con người và lòng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa.  Đoạn sách Sáng thế chúng ta được nghe hôm nay là kế hoạch của Thiên Chúa sau khi nước hồng thủy đã rút đi.  Thiên Chúa hứa với ông Nôê và các con ông: từ nay về sau sẽ không bao giờ tái diễn sự hủy diệt tàn khốc như vậy.  Lời hứa của Chúa được gọi là giao ước, và được đánh dấu bằng cầu vồng trên các tầng mây.  Sau này, thánh Phêrô và các nhà thần học đầu tiên của Giáo Hội đều giải thích Đại hồng thủy là hình bóng của bí tích Thánh tẩy (Bài đọc II).  Nhờ dòng nước tái sinh, con người cũ của chúng ta đã chết đi để nhường chỗ cho con người mới, tức là con người được ân sủng của Chúa nâng đỡ và thánh hóa.  Nhờ tình thương của Chúa, nhất là nhờ ơn cứu độ của Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã ký kết giao ước với con người một giao ước mới.  Đây là giao ước được ký kết trong máu của Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, để quy tụ muôn dân về một mối, làm thành gia đình của Thiên Chúa có Chúa Giêsu là trưởng tử.

Việc cảm nhận thân phận tội lỗi sẽ dẫn chúng ta tới sự sám hối chân thành để cầu xin ơn tha thứ của Chúa.  Những thực hành đạo đức của Mùa Chay sẽ giúp chúng ta lãnh nhận ơn tha tội, được trở nên con người mới.  Chúa nhật đầu tiên này của Mùa Chay, Giáo Hội mời gọi chúng ta cùng vào sa mạc với Chúa Giêsu để tìm lại chính mình.  Bởi lẽ, giữa biết bao bon chen giành giật của cuộc sống, nhiều khi chúng ta trở thành vong bản, tức là đánh mất bản thân, sống trong lầm lạc, không có định hướng và tương lai.  Khi diễn tả Đức Giêsu “sống giữa loài dã thú” trong sa mạc, Thánh Máccô giúp chúng ta liên tưởng tới khung cảnh vườn địa đàng thuở ban sơ, ở đó, mối tương quan Thiên Chúa –  Con người và Tạo vật rất hài hòa êm đẹp, niềm vui và hạnh phúc luôn tràn trề viên mãn.  Nếu biết sống tinh thần sa mạc giữa lòng đời, chúng ta sẽ được gặp Chúa, được tâm sự với Ngài và được Ngài hướng dẫn, giúp chúng ta bước theo đường ngay nẻo chính.  Thực hành tốt những việc đạo đức của Mùa Chay (cầu nguyện, chay tịnh và bác ái) chính là sống tinh thần sa mạc, nhờ đó, chúng ta trở nên giống Chúa Giêsu, để cùng với Người đem phần rỗi cho anh chị em xung quanh.

“Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.”  Đó là lời rao giảng mở đầu trong giáo huấn của Chúa Giêsu.  Hai ngàn năm đã qua, lời kêu gọi này vẫn mang tính cấp bách.  Bởi lẽ con người khước từ lời Chúa, chuộng sống gian dối hơn là sự thật; thích chiều theo lối sống thế gian hơn là hy sinh để nên trọn lành. Nhờ sám hối, chúng ta được hòa giải với Chúa và với anh chị em, để cùng nhau tiến bước trên con đường về nhà Cha, Đấng luôn yêu thương và chúc phúc cho chúng ta.

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

From Langtangchieutim gởi

Chúa là Tình Yêu

 Chúa là Tình Yêu 

 

Elisabeth Nguyễn

 

Chúa là tình yêu. Thánh Gioan nói thế. 

Chúa yêu tôi, Ngài sinh ra tôi, ban Thần Khí vào tâm hồn tôi.

Ngài cho tôi thông phần siêu nhiên là bản tính Thiên Chúa.

Thật vậy, Đức kitô đã lấy thần lực của Người mà ban cho chúng ta tất cả những gì được sống và sống đạo đức, …….. Thiên Chúa đã ban tặng chúng ta những gì rất quý báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đó anh em được thông phẩn bản tính Thiên Chúa, sau khi đã thoát khỏi cảnh hư đốn do dục vọng gây ra trong trần gian.(2Pr 1, 3a-4).

Như vậy bản chất của tôi sinh ra đã là Thánh. Thật hãnh diện quá đi chứ.

Anh em không còn phải là người xa lạ hay người tạm trú, nhưng là người đồng hương với các thánh và là người nhà của Thiên Chúa (Ep 2, 19).

Các bạn thấy hạnh phúc sung sướng chưa!?

Hãy ngẩng cao đầu mà ca tụng tôn vinh Thiên Chúa nhé. Còn niềm vui nào hơn khi chúng ta là đồng hương với các thánh, là người nhà của Thiên Chúa.

Đây là điều quan trọng  chúng ta phải sống sao cho xứng đáng với danh hiệu vinh quang này. Vì „

Tôi đã được tạo dựng bởi tình yêu…vì thế, trong bản chất cao quý của tôi,

không thụ tạo nào có thể làm tôi nên sung túc và được sáng suốt,

 ngoại  trừ một mình Thiên Chúa (Thánh Mechtild Magdeburg).

Thiên Chúa của tôi là một Thiên Chúa nội tại.

Ngài hiện diện trong tôi từ khi tôi được nhận Phép Thanh Tẩy.

Khi tới tuổi hiểu biết, được học hỏi về đức tin, tôi mới nhận ra Chúa là tình yêu.

Đúng thế, Chúa yêu tôi vô vàn, tình yêu đó hiện diện trong từng hơi thở,

trong từng nhịp tim, trong từng những sự việc xảy ra hằng ngày trong cuộc đời tôi và những người xung quanh.

… chúng ta biết được rằng chúng ta ở lại trong Người và Người ở lại trong chúng ta: đó là Người đã ban Thần Khí của Người cho chúng ta (1Ga 4,13)

Dĩ nhiên Ngài đã hiện diện trong vũ trụ thiên nhiên từ ngày Ngài khai thiên lập địa.

Ngài hiện diện trong núi cao, đồi thấp, sông dài, biển cả với hằng hà sa số thú vật trên đất, trên trời, trong nước, trên rừng… ân sủng của Ngài ẩn mình trong từng tàng cây, bông hoa, ngọn cỏ…trên những cánh đồng trải dài đến tận chân trời…

Ngài ban cho loài người được làm chủ và hưởng dùng tất cả tạo vật Ngài tạo dựng nên trong vũ trụ.

Ngài hiện diện trong mặt trời chiếu sáng, sưởi ấm ban ngày, trời trong cao xanh, lượn lờ bao đám mây… đôi khi những đám mây vui vẻ đùa giỡn tạo ra những hình thù thú vật thật diệu kỳ…

Lộng lẫy chốn cao vời, một khung trời trong vắt. Nhìn ngắm cả bầu trời: cảnh tượng xán lạn thay (Hc 43,1).

Ngài hiện diện trong mặt trăng ban đêm, luân chuyển mỗi tháng cho chúng ta trăng khuyết trăng tròn…

Cả vầng trăng cũng luôn đúng hẹn, làm dấu hiệu muôn đời chỉ rõ thời gian. Trăng đánh dấu các thời kỳ đại lễ, có khi khuyết, có lúc lại tròn (Hc43,6-7),

thật thơ mộng với ánh sáng dịu dàng… khiến không gian, thời gian tươi mát.

Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, không trung loan báo việc tay Người làm (Tv 19, 18)

Ngài hiện diện trong sự thay đổi thật kỳ diệu của từng cây cỏ hoa lá qua từng mùa… khi đông đến với khí trời lạnh lẽo, những tàng cây khô trơ cành, tuyết trắng phủ đầy  mà vẫn ẩn chứa sức sống bên trong.

Người rải tuyết như chim sa, tuyết rơi xuống như cào cào, vẻ đẹp trắng ngần khiến mắt kinh ngạc. Thấy tuyết rơi lòng trí sững sờ (Hc 3,18). 

Mùa hè nóng cháy mà cây cỏ hoa lá vẫn tươi tắn, xanh um hiến dâng cho loài người bao nhiêu là rau trái hoa quả nuôi sống nhân loại.

Sau cơn nóng nực, sương xuống làm cho cảnh vật vui tươi

Mùa thu khí trời mát mẻ, gió nhẹ mơn man và lá cây đổi màu từ xanh ra úa vàng, hay đỏ rực thật đẹp, rồi lặng lẽ theo những làn gió rơi rơi lìa cành thật lãng mạng, thật thơ mộng. Mùa xuân ấm áp, nồng nàn, dịu dàng với muôn hoa nở rộ…

Kể sao cho xiết những gì muốn nói; tắt một lời: Ngài là tất cả (Hc 43,27).

Nhà thiên văn Hoa Kỳ, Allan Sandage (1926-2010). Ông là người tính toán độ giãn nở của vũ trụ và tính tuổi của nó bằng cánh quan sát các vì sao, đã thốt lên:

 Thuở thiếu thời tôi là một kẻ vô thần. Khoa học đã đưa tôi đến kết luận rằng thế giới này phúc tạp hơn tôi tưởng. Tôi chỉ có thể giải thích mầu nhiệm hiện hữu bằng cách nại vào ĐẤNG SIÊU NHIÊN.

Bất cứ ai nhìn ngắm thiên nhiên, ngắm muôn ngàn bông hoa nở với muôn màu muôn sắc muôn loài muôn vẻ hay chiêm ngưỡng bầu trời đêm với những chuyển động của ngàn ngàn tỷ tỷ thiên hà lấp lánh, đều không thể không lên tiếng ca ngợi quyền năng siêu nhiên của Đấng Tạo Hóa.

 Chúng ta, người Kitô hữu tin Ngài hiện diện trong tấm bánh từ hơn hai ngàn năm, tấm bánh nhỏ bé được các vị tư tế hiến dâng trong Thánh Lễ để nuôi sống linh hồn tôi và những ai tin vào Ngài..

Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy

 Chúa Giêsu nhắc nhở: Như Chúa Cha đã sai Tôi, và Tôi sống nhờ Chúa Cha như thế nào, thì kẻ ăn Tôi cũng sẽ nhờ Tôi mà được sống như vậy (Ga 6,57) 

Mục đích của Kitô hữu là sống hiệp nhất với Ngài. Ngài hiệp nhất những sự khác biệt, vì phải có cái khác biệt thì mới có hiệp nhất. Phải có ba ngôi mới có sự hiệp nhất thành Một Thiên Chúa.

Chỉ khi nào chúng ta chấp nhận và tôn trọng các sự khác biệt và sống với các khác biệt đó dưới sự hướng dẫn của Thần Khí Chúa, chừng đó chúng ta có hiệp nhất.

Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí

thì chúng ta cũng nhờ Thần Khí mà tiến bước (Gl 5,25)

nên tôi mới có thể vượt qua được những khó khăn, những vấn nạn, những khổ đau, những cám dỗ và biết tha thứ cho kẻ mất lòng ta.

Như vậy chúng ta mới đi đúng con đường mà Ánh Sáng Mầu Nhiệm của Chúa Ba Ngôi soi dẫn.

Thật vậy, chính ở nơi Người

mà chúng ta sống, cử động và hiện hữu (Cv 17,27)

để được sống hạnh phúc ở đời này  và hưởng nước Thiên Chúa đời sau

Vì Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn chuyện uống,

nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần (Rm 14,17).

Elisabeth Nguyễn

Thành phố ngợp, ngày nao chiều gió dậy,

Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật Thứ 6 Thường Niên năm B 11/02/2018

 

Tin Mừng (Mc 1: 40-45)

 

Khi ấy, có người mắc bệnh phong đến gặp Đức Giêsu, anh ta quỳ xuống van xin rằng: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch.” Đức Giêsu chạnh lòng thương giơ tay đụng vào anh và bảo: “Tôi muốn, anh hãy được sạch!” Lập tức, bệnh phong biến khỏi anh, và anh được sạch. Nhưng Người nghiêm giọng đuổi anh đi ngay, và bảo anh: “Coi chừng, đừng nói gì với ai cả, nhưng hãy đi trình diện tư tế; và vì anh đã được lành sạch, thì hãy dâng những gì ông Mô-sê đã truyền, để làm chứng cho người ta biết.” Nhưng vừa đi khỏi, anh đã bắt đầu rao truyền và loan tin ấy khắp nơi, đến nỗi Đúc Giêsu không thể công khai vào thành nào được, mà phải ở lại những nơi hoang vắng ngoài thành. Và dân chúng từ khắp nơi kéo đến với Người.

&  &  &

 

“Thành phố ngợp, ngày nao chiều gió dậy,”

“Gương mặt ấy, lời yêu thuở ấy.”

(dẫn từ thơ Xuân Quỳnh)

– Mai Tá lược dịch

Thành phố với lời thơ yêu thương “chiều gió dậy” là gương mặt của tình yêu vẫn thấy ở trình thuật thánh Máccô. Trình thuật thánh Máccô, có lời thơ yêu trải dàn khắp dân gian, không ở nơi hoang sơ dân dã cạnh đất miền Galilê, nhưng còn ở văn bản đời thường, như bản văn viết mà tác giả Megan McKenna để ra nhiều chương/đoạn phản ánh tư tưởng của bậc hiển thánh rất Máccô.

Một trong các bản văn mà tác giả này ghi rõ lời yêu thương giống hệt Tin Mừng Máccô như sau:

“Rất nhiều lần, có người mải tìm cho ra ý nghĩa của đời mình. Ông và bầu bạn muốn sống theo cung cách có dáng vẻ tự do, ân sủng ngõ hầu tôn trọng mọi người. Bầu bạn vẫn cố thuyết phục ông bền đỗ trong cuộc kiếm tìm ấy. Và, họ định cùng nhau tìm đến Bậc Thày nhân hiền để vấn kế và xin Thày nhận họ làm đồ đệ, để theo Ngài.

“Ông có dịp đi ngang thôn làng có nhiều người ở. Và cùng đám đông quần chúng ở lại lắng nghe lời Thày. Ít lâu sau, đồ đệ lại cũng ra đi trình diện với mọi người để xin khai tâm, theo chân Thày. Tập tục thời bấy giờ cho thấy Bậc Thày đưa ra nhiều câu vấn ý cốt nghe lời đáp hầu có quyết định xem các ứng viên theo Thày có đạt ý nguyện thành dân con đeo đuổi đời rong ruổi cùng Thày đi thuyết giáo, không.

“Đương nhiên, đồ đệ nào mà chẳng muốn được Thày chấp nhận tham gia đoàn người giảng rao, nên mới nói: “Trình Thày, bọn con đây muốn theo chân Thày học hỏi cung cách sống và làm việc cho đúng cách.” Bậc Thày nhìn họ, rồi bảo: “Sao anh em biết rõ lòng mình muốn theo Tôi?” Sao anh em hiểu được điều mình ước muốn?”

“Đồ đệ thay nhau đáp: “Chính lời Thày đã khích lệ chúng con. Và, đó là điều bọn con tin tưởng, nay muốn nó thành hiện thực.” Bậc Thày lặng thinh trong giây lát như muốn tập trung nguyện cầu chỉ một lúc, rồi hỏi: “Có thật anh em vẫn quyết như thế không? Hay, còn ý định nào khác khi đồng hành, cùng với Tôi?” Họ đáp: “Đó là điều chắc chắn.” Trong phút chốc, Bậc Thày thoạt nhìn họ với vẻ ái ngại, đoạn bảo: “Thôi được, anh em cứ theo Tôi. Nhưng, nếu anh em có để mất tất cả những gì mình nắm vững thì sao? Và, một khi nhận ra điều này, anh em có còn tiếp tục nữa hay không?” Bọn họ đáp: “Dứt khoát vẫn như vậy! Dù mọi chuyện ra tồi tệ thế nào đi nữa, chúng con không đổi ý.” Vàhọ được đón vào đoàn nhóm đồ đệ theo chân Thày chỉ giáo.

Nhưng về sau, có lúc họ thấy rất chán ngán, buồn nản và bất ưng như mọi người, tức những người cũng đưa ra cùng một câu hỏi để che giấu và phủ nhận mọi sự xảy đến với họ. Nỗi bất ưng cứ thế tăng dần và lan nhanh, đôi lúc thấm nhập mọi người trong nhóm. Và, khi họ không còn biết nguyên do của nỗi niềm ấy nữa, thì chính là lúc họ coi đó như một đau xót khiến họ phải bộc lộ ra ngoài. Bộc lộ, đến độ niềm đau thương đã trở thành sắc màu sống sượng đến rỉ máu.

Họ lại nhất quyết bỏ tất cả ở đằng sau, chỉ vì sự kiện ấy và tiếp tục lại kiếm tìm. Lại, mải miết kiếm tìm, giống như trước. Dù sao, họ cũng chỉ làm có mỗi việc là những kiếm và tìm, suốt một đời. Trong tìm kiếm, họ tin mình sẽ đạt cùng đích, như Bậc Thày hằng bày tỏ, với họ. Tuy lời Thày trở thành điệp khúc miên trường khi lời Thày phát biểu đã ra như câu thần chú, to/nhỏ vẫn không ngừng. Vẫn dấy lên niềm hy vọng cùng hãi sợ, ở nơi họ. Và, họ nhớ lại lời Thày trước kia từng hỏi: “Có thật, là anh em đã mất hết mọi thứ, không? Có thật, anh em muốn đến với Tôi chỉ để học hỏi lối sống cho đúng cách, không? Có thật như thế không?

Đó cũng là câu hỏi được thánh Máccô đưa ra hôm nay. Ở trình thuật này. Đó còn là tên gọi của chương trình nay được bảo: bỏ tất cả để rồi tìm chẳng được gì. Bởi, khi viết trình thuật này, tác giả Máccô luôn nhấn mạnh đến cụm từ “mọi sự” và “hư vô.” Chứ không phải, “tất cả” và “chẳng gì cả”. Có nghĩa là, tất cả mọi sự rồi ra sẽ hư luống. 

Nhà thơ nữ Kathy Galloway, xuất xứ từ đất miền Iona, Tô Cách Lan, cũng viết lên cùng giòng chảy rỉ máu rất Máccô như sau:

“Chớ trở về khung trời nhỏ của riêng ai

Ở đất miền êm ả chốn hình hài.

Ngày rời bão tố kiếm hồn nơi sân vắng,

Cùng người thân an nghỉ chốn bồng lai.

Nơi sân vắng hồn thiêng thân yêu ấy,

Diễm lệ hơn ngự uyển vườn người năng lui tới,

Ngập những cỏ dại, lại nghèo hèn đầy chiến chinh,

Cứ đòi người chăm bới chốn nhà mình.

Kiếm tìm hồn quý phái lại hiếm quý

Thấy đời mình mở ngỏ ở chân trời.

Với khóc than, doạ dẫm rồi đau đớn,

Để người tìm lại thấy những kêu ca.

Hãy lưu lại cùng người yêu nay ít thấy,

Thuở yên bình trả giá vẫn nhiều hơn,

Bởi con trẻ thân thương không đùa giỡn

vẫn khóc ròng nhiều tiếng người vẫn mất.

Đừng hãm giam một chân trời riêng tư ấy

Của chốn miền nóng cháy ở nhiều nơi

Chẳng nơi nào có thể vực cuộc sống,

Có ánh mắt em nhìn cuộn giá băng.”

 Trình thuật hôm nay, thánh Máccô còn diễn tả tâm tình gặp gỡ giữa Chúa với người phung cùi. Đọc truyện, người người thật chẳng biết bệnh nhân phung cùi đã nghĩ gì? Làm gì? Xử thế ra sao khi gặp Chúa? Và, ai ai cũng nghĩ đó là cuộc hội ngộ rất thực tiễn. Hội ngộ, nay là thực tại xảy đến với người trong cuộc chưa từng thấy, nhưng vẫn đến. Và, một khi sự thực xảy đến rồi, cũng đừng sợ. Hãy cứ hiên ngang đến mà sờ chạm vào thực tại. Bởi nếu không, chính thực tại căn bệnh cũng sẽ sờ chạm ngay thân xác hoặc thân phận của ta thôi. 

     Đọc trình thuật, người người sẽ tự hỏi: dù bệnh phong nay “thoát xác” khỏi con nguời mình, thì bệnh nhân kia chắc vẫn thấy khó lòng mà sống tiếp những ngày sau đó. Khó nhất, là khi anh nhận ra bệnh vẫn còn đeo đuổi anh, bằng hình ảnh/hoặc ý nghĩ nơi anh, như trước kia.

Đọc trình thuật, hẳn có người lại sẽ hỏi: giả như bệnh nhân kia biết thân xác mình nay đã sạch, hỏi rằng cuộc sống của họ sẽ ra sao? Dù, từ nay anh ta không là “cùi hủi” như trước, nhưng vẫn sợ. Sợ, bị tẩy trừ khỏi cộng đoàn mình chung sống. Sợ, nếp sống do cộng đoàn định đoạt vẫn không yên. Sợ hơn nữa, khi người của Chúa chưa học được cung cách của Bậc Thày Nhân Hiền, là chẳng bao giờ tẩy trừ hoặc tống khứ ai ra khỏi “Nước” của Ngài. Trái lại, Ngài vẫn luôn tiếp nhận mọi người, dù lành lặn hay bệnh hoạn, vẫn đỡ nâng. Và hỏi rằng: dân con Nước Trời ở trần thế có làm được như thế không?

Cảm nhận thực trạng rất khó này, cũng nên ngâm lên lời thơ xưa được trích dẫn, mới hôm nào:

            “Nõn nà sương ngọc quanh thềm đậu,

            Nắng nhỏ bâng khuâng chiều lỡ thì.

            Hư vô bóng khói trên đầu hạnh;

            Cành biếc run run chân ý nhi.”

            (Xuân Diệu – Thu)

“Chân ý nhi”, phải chăng là thực trạng của người bệnh, nay cảm nhận? “Trên đầu hạnh”, có là “hư vô bóng khói” vẫn cứ tin. Tin Chúa, là Ngài chẳng tẩy trừ hoặc tống khứ bất cứ ai. Tin rằng, người nào đó có tật/có bệnh, vẫn vô tư/hiền lành/mẫn cán, đáng được ơn.                                  

Lm Kevin O’Shea CSsR biên-soạn 

 Mai Tá lược dịch.