Những Bước Chân – Via Dolorosa & Nhìn Lên Thánh Giá -Thánh Ca Mùa Chay 2018

httpv://www.youtube.com/watch?v=sMc6XlDw_-Q&t=74s

Những Bước Chân – Via Dolorosa Thánh Ca Mùa Chay 2018

httpv://www.youtube.com/watch?v=D4YPQ2vKEX8

Nhìn Lên Thánh Giá – Thánh Ca Mùa Chay 2018

Bước Vào Tuần Thánh.

Xin chia sẻ cùng quý cha, thầy, sơ & quý vị Thánh Ca Mùa Chay 2018.

Kính chúc một mùa chay thánh thiện và tràn đầy hồng ân.

P.Trung

THỨ SÁU TUẦN THÁNH

THỨ SÁU TUẦN THÁNH

Thứ Sáu Tuần Thánh, từng là một chuyện xấu trước khi là một chuyện tốt lành, ít nhất là từ góc nhìn bên ngoài.  Thiên Chúa bị đóng đinh vì mọi thứ xấu xa trên thế giới, là kiêu ngạo, ghen tỵ, bất tín, tổn thương, tư lợi, tội lỗi.  Không phải ngẫu nhiên mà Phúc âm bảo chúng ta rằng khi Chúa Giêsu trút hơi thở cuối cùng, bầu trời u ám ngay chính ngọ.  Khi Chúa Giêsu treo trên thập giá, dường như ánh sáng chuyển thành bóng tối, tình yêu chuyển thành thù hận, và sự sống chuyển thành sự chết.  Như thế có gì là tốt?

 Hơn nữa, khi hấp hối, dường như Chúa Giêsu không còn thần thiêng, quyền lực và không thể kiểm soát mọi thứ kể cả những chuyện trong thế giới, lẫn những gì diễn ra trong lòng Ngài.  Thế giới dường như chìm vào bất tín, và trong Tin Mừng, Chúa Giêsu, Thiên Chúa nhập thể, dường như chìm vào một hoài nghi bất định, một nỗi hoang mang cực độ đến nỗi thốt lên: “Lạy Chúa, lạy Chúa, sao Chúa bỏ con.”  Chuyện gì đang xảy ra thế này?  Như thế có gì là tốt? 

Để hiểu chuyện gì đã xảy ra trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, chúng ta cần phân biệt giữa những gì diễn ra bề ngoài và những gì diễn ra thâm sâu. 

Bề ngoài là một chuyện tồi tệ và không thể nào gọi là tốt đẹp được.  Những người mộ đạo thành tâm, vì yếu đuối và sợ hãi đã bỏ đi điều tốt đẹp nhất trong mình, và hoặc góp phần khiến Chúa Giêsu bị hành hình, hoặc đứng đó thụ động để chuyện xấu xa này xảy ra.  Chỉ có một vài phụ nữ mạnh mẽ không chịu khuất phục nỗi sợ hay sự kích động của đám đông, nhưng lại không đủ sức để làm bất kỳ điều gì ngăn cản chuyện đó.  Còn lại tất cả mọi người đều góp phần vào việc đóng đinh Chúa, dù là do ghen tỵ, yếu đuối, hay vô tri.  Theo lời của Chúa Giêsu, bóng tối có thời của nó.  Tấn bi kịch nhân văn, xã hội, và chính trị trong Thứ Sáu Tuần Thánh là chuyện không tốt.  Nó cho thấy phần xấu xa nhất trong nhân loại trước một Thiên Chúa dường như thinh lặng.

 Nhưng còn có một điều thâm sâu hơn nữa, một tấn kịch diễn ra bên trong linh hồn Chúa Giêsu, một điều tương phản với tất cả những gì đang diễn ra bề ngoài, trong đám đông đó.  Trong sự đấu tranh của Chúa Giêsu để chấp nhận những chuyện đang diễn ra và chấp nhận những gì Chúa Cha đã muốn nơi Ngài, cho chúng ta tấn kịch tôn giáo và luân lý tột cùng: tình yêu chiến đấu và chiến thắng thù hận, tin tưởng chiến đấu và chiến thắng hoang tưởng, tha thứ chiến đấu và chiến thắng cay đắng.

 Chúng ta thấy bản hùng ca chiến đấu đó, từ cơn thống khổ của Chúa Giêsu trong vườn Giết-sê-ma-ni khi Chúa đổ mồ hôi máu, khi Ngài thấy trước những thù hằn, làm ngơ, hiểu lầm, chống báng mà Ngài phải chọn để tin tưởng trao phó mạng sống mình.

 Nhưng chấp nhận không phải là quy phục, và ngày hôm sau, Thứ Sáu Tuần Thánh, Ngài đã trải qua thử thách cuối cùng.  Thiên thần đã tăng sức cho Ngài trong vườn Giết-sê-ma-ni dường như biến mất khi Ngài trên thập giá, và đêm tối hoài nghi bủa vây ngài đến độ Ngài kêu lên những lời dường như tuyệt vọng: “Lạy Chúa, lạy Chúa, sao Chúa bỏ con.”  Sự chấp nhận của Ngài vào thời điểm then chốt này, càng khó khăn hơn đến vô hạn khi dường như Chúa Cha, Đấng làm một với Ngài, dường như vắng mặt.  Trước tình cảnh dường như bị bỏ rơi đó, Chúa Giêsu phải có một chọn lựa của đức tin, của yêu thương, và tin tưởng ở mức tột cùng nhất.  Chọn lựa đó là gì?  Chúa Giêsu làm gì? 

Theo lời của nhà thần học Karl Rahner, Chúa Giêsu để mình “chìm vào sự không thể hiểu nổi của Thiên Chúa.”  Ngài quy phục Thiên Chúa mà Ngài không thể cảm nhận hay hiểu thấu, nhưng chỉ có thể tin tưởng.  Chính nơi đây, Thứ Sáu Tuần Thánh chuyển từ xấu xa thành tốt đẹp, Chúa Giêsu không quy phục cay đắng, bám víu, hay giận dữ nhưng là quy phục tin tưởng, biết ơn và tha thứ.  Trong sự quy phục đó, cuộc đấu tranh giữa thiện và tà, cuộc chiến lớn nhất, sự thiện đã thắng.

 Đến tận cùng, tất cả những gì sai trái trong thế giới chúng ta sẽ không bị khuất phục trước một uy quyền áp đặt bạo lực, dù cho uy quyền đó có mạnh đến thế nào đi nữa.  Bạo lực tốt đẹp sẽ không bao giờ xóa được bạo lực xấu xa.  Chúng ta chỉ có thể xóa bỏ những thế lực không ngừng đóng đinh Thiên Chúa khi mỗi người chúng ta, cũng như Chúa Giêsu, có thể bỏ đi những cay đắng, bám víu và giận dữ, để nhường đường cho tin tưởng, biết ơn, và tha thứ.  Và tất cả chúng ta phải để mình chìm trong sự không thể hiểu nổi của Thiên Chúa, nghĩa là tin tưởng ngay cả khi chúng ta không hiểu, yêu thương ngay cả khi bị thù ghét, và tha thứ ngay cả khi bị tổn thương.

 Tất cả chúng ta đều sẽ có ngày Thứ Sáu Tuần Thánh của mình.  Nhìn bề ngoài, chúng luôn luôn xấu xa, nhưng nếu chúng ta bỏ mình để tin tưởng, thì nó sẽ trở nên tốt đẹp.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From Langthangchieutim gởi

Bài Giáo Lý Thứ 13 của Đức Thánh Cha Phanxicô về Thánh Lễ

Bài Giáo Lý Thứ 13 của Đức Thánh Cha Phanxicô về Thánh Lễ: Phụng Vụ Thánh Thể III – “Kinh Lạy Cha” và Việc Bẻ Bánh

“Khi mở lòng chúng ta ra với Thiên Chúa, “Kinh Lạy Cha” cũng chuẩn bị chúng ta cho tình yêu thương huynh đệ”.

 

ới đây là bản dịch bài giáo lý thứ mười ba của ĐTC Phanxicô về Thánh Lễ, được ban hành ngày 14 tháng 3, 2018 tại Quảng Trường Thánh Phêrô. Hôm nay ĐTC giải thích v “Kinh Lạy Cha” và việc bẻ Bánh.

Kinh Lạy Cha là “lời cầu nguyện của con cái Thiên Chúa: nó là kinh nguyện tuyệt vời mà Chúa Giêsu đã dạy chúng ta.”

Sau Kinh Lạy Cha, chúng ta xin Chúa ban bình an, nhưng “Bình an của Đức Kitô không thể bén rễ trong một con tim không có khả năng sống tình huynh đệ và nối lại nó sau khi đã làm tổn thương nó”.

Ngài kết luận rằng các lời khẩn cầu “từ kinh Lạy Cha cho đến việc bẻ Bánh, giúp chúng ta chuẩn bị tâm hồn để dự bữa tiệc Thánh Thể, nguồn mạch của sự hiệp thông với Thiên Chúa và với anh em”.

 

* * *

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Chúng ta tiếp tục loạt bài Giáo lý về Thánh Lễ. Trong Bữa Tiệc Ly, sau khi Chúa Giêsu cầm lấy bánh cùng chén rượu, và tạ ơn Thiên Chúa, chúng ta biết rằng “Người đã bẻ bánh”. Trong Phụng Vụ Thánh Thể của Thánh Lễ, cử chỉ này tương ứng với việc bẻ Bánh, được đi trước bằng kinh nguyện mà Chúa đã dạy chúng ta, là “Kinh Lạy Cha”.

Và như vậy các nghi thức hiệp lễ bắt đầu, bằng cách kéo dài việc ngợi khen và khẩn cầu của Kinh Nguyện Thánh Thể với việc cộng đồng cùng đọc“Kinh Lạy Cha”.

Đây không phải là một trong nhiều kinh nguyện Kitô giáo, nhưng là lời cầu nguyện của con cái Thiên Chúa:

nó là kinh nguyện tuyệt vời mà Chúa Giêsu đã dạy chúng ta.

Thực ra, được ban cho chúng ta trong ngày rửa tội của mình, “Kinh Lạy Cha” vang lên trong chúng ta những cảm xúc tương tự như những cảm xúc trong Chúa Giêsu Kitô.

Khi chúng ta cầu nguyện bằng Kinh “Lạy Cha” chúng ta cầu nguyện như Chúa Giêsu đã cầu nguyện. Đó là kinh nguyện mà Chúa Giêsu đã đọc và đã dạy chúng ta; khi các môn đệ thưa Người: “Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện như Thầy cầu nguyện”.

Và Chúa Giêsu đã cầu nguyện như thế. Thật là tuyệt đẹp khi cầu nguyện như Chúa Giêsu! Theo thể thức mà Chúa dạy, chúng ta dám hướng về Thiên Chúa mà gọi Ngài là “Cha” vì chúng ta được tái sinh như con con cái Ngài nhờ nước và Thánh Thần (Eph 1:5).

Thật ra, không ai có thể thân mật gọi Ngài là “Abba” – “Cha ơi” – mà đã không được Thiên Chúa sinh ra, mà không có ơn linh hứng của Chúa Thánh Thần, như Thánh Phaolô dạy (x. Rm 8:15).

Chúng ta phải suy nghĩ: không ai có thể gọi Ngài là “Cha” mà không có ơn linh hứng của Chúa Thánh Thần.

Biết bao lần có những người đọc “Kinh Lạy Cha”, mà không biết điều mình đọc là gì.

Tại sao, có chứ, đó là Cha, nhưng bạn có cảm thấy điều ấy khi nói “Lạy Cha”,

Ngài có phải là Cha, Cha của bạn, là Cha của nhân loại, Cha của Chúa Giêsu Kitô không?

Bạn có một mối liên hệ nào với người Cha này không?

Khi chúng ta cầu nguyện bằng “Kinh Lạy Cha”, chúng ta liên kết với Chúa Cha, Đấng yêu thương chúng ta,

nhưng Chính Chúa Thánh Thần là Đấng ban cho chúng ta sự liên kết này, cái cảm giác làm con cái của Thiên Chúa này.

Có kinh nguyện nào có thể chuẩn bị cho sự hiệp thông bí tích với Ngài tốt hơn kinh nguyện được Chúa Giêsu dạy không?

Ngoài Thánh Lễ, “Kinh Lạy Cha” còn được cầu nguyện vào buổi sáng và buổi tối, trong Kinh Sáng và Kinh Chiều; bằng cách này, thái độ con thảo đối với Thiên Chúa và tình huynh đệ với những người lân cận góp phần vào việc ban cho những ngày của chúng ta một hình thái Kitô giáo.

Trong Kinh của Chúa – trong “Kinh Lạy Cha” – chúng ta xin “lương thực hằng ngày”, trong đó chúng ta thấy một ám chỉ cụ thể về Bánh Thánh Th, là điều chúng ta cần để sống như con cái Thiên Chúa.

Chúng ta cũng xin “tha nợ cho chúng con”, và để được xứng đáng nhận sự tha thứ của Thiên Chúa, chúng ta cam kết tha thứ cho những ai đã xúc phạm đến mình.

Và điều này không phải là dễ dàng. Việc tha thứ cho những kẻ đã xúc phạm đến mình không phải là điều dễ dàng;

nó là một ân sủng mà chúng ta phải xin: “Lạy Chúa, xin dạy con tha thứ như Chúa đã tha thứ cho con”.

Đó là một ân sủng.

Với sức của mình chúng ta không thể: biết tha thứ là một ân sủng của Chúa Thánh Thần.

Vì thế, trong khi mở lòng chúng ta ra với Thiên Chúa, “Kinh Lạy Cha” cũng chuẩn bị chúng ta cho tình yêu thương huynh đệ.

Cuối cùng, chúng ta cầu xin Thiên Chúa “cứu chúng con khỏi sự dữ” là điều tách rời chúng ta khỏi Ngài và tách biệt chúng ta khỏi anh em mình.

Chúng ta hiểu rõ rằng đây là những lời cầu xin rất hợp lý để chuẩn bị cho chúng ta Rước Lễ (Quy Chế Tổng Quát về Sách Lễ Rôma, 81).

Thực ra, tất cả những gì chúng ta cầu xin trong “Kinh Lạy Cha” được kéo dài bằng lời cầu nguyện của linh mục, thay mặt tất cả mọi người, cầu xin:

“Lạy Chúa, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, xin ban cho những ngày chúng con sống được bình an”.

Và sau đó nhận được một loại ấn tín trong nghi thức chúc bình an: Điều đầu tiên chúng ta xin Đức Kitô là món quà bình an của Người (x Ga 14:27) – rất khác với bình an của thế gian – làm cho Hội Thánh lớn lên trong sự hiệp nhất và bình an theo ý của Người; rồi, với cử chỉ cụ thể được trao đổi giữa chúng ta, chúng ta bày tỏ “sự hiệp thông hội thánh và yêu thương lẫn nhau trước khi hiệp thông trong Bí Tích” (QCTQ, 82).

Trong nghi lễ Rôma, việc trao đổi dấu chỉ bình an, từ thời cổ xưa đã được đặt trước khi Rước Lễ, hướng về sự hiệp thông Thánh Thể.

Theo lời cảnh báo của Thánh Phaolô, không thể hiệp thông trong một Tấm Bánh duy nhất, là điều làm cho chúng ta thành một thân thể trong Đức Kitô, mà không nhận ra chính mình được hoà giải bởi tình yêu huynh đệ (x 1 Cor 10:16-17; 11:29).

Bình an của Đức Kitô không thể bén rễ trong một con tim không có khả năng sống tình huynh đệ và nối lại nó sau khi đã làm tổn thương nó. Bình an được Chúa ban: Người ban cho chúng ta ân sủng để tha thứ cho những ai đã xúc phạm đến mình.

Việc chúc bình an được đi theo bởi việc bẻ Bánh, mà từ thời các Tông Đồ, tên của nó đã được dùng cho toàn thể cuộc cử hành Thánh Thể (x. QCTQ, 83;Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, 1329).

Được thực hiện bởi Chúa Giêsu trong Bữa Tiệc Ly, việc bẻ Bánh là cử chỉ tỏ mình ra, là điều cho phép các môn đệ nhận ra Người sau khi Phục Sinh. Chúng ta hãy nhở lại các môn đệ trên đường Emmau, khi nói về cuộc gặp gỡ với Đấng Phục Sinh, kể lại “họ đã nhận ra Người thế nào trong việc bẻ Bánh” (Lc24:30-31,35).

Việc bẻ Bánh Thánh Thể được đi kèm với lời khẩn cầu ”Lạy Chiên Thiên Chúa”, một hình ảnh mà Thánh Gioan Tẩy Giả đã biểu thị nơi Chúa Giêsu “Người là Đấng xóa tội trần gian” (Ga 1:29).

Hình ảnh Thánh Kinh của con chiên nói về sự cứu chuộc (x Xh 12:1-14; Is53:7; 1 Pr 1:19; Kh 7:14). Trong Bánh Thánh Thể, được bẻ ra cho sự sống của thế gian, cộng đồng cầu nguyên nhận ra Chiên Con thật của Thiên Chúa, nghĩa là Đức Kitô, Đấng Cứu Chuộc, và nài xin Người: “Xin thương xót chúng con … xin ban bình an cho chúng con”.

“Xin thương xót chúng con”, “xin ban bình an cho chúng con” là những lời khẩn cầu, từ kinh “Lạy Cha” cho đến việc bẻ Bánh, giúp chúng ta chuẩn bị tâm hồn để dự bữa tiệc Thánh Thể, nguồn mạch của sự hiệp thông với Thiên Chúa và với anh em.

Chúng ta đừng quên kinh nguyện tuyệt vời mà Chúa Giêsu đã dạy, và đó là kinh nguyện mà Người đã cầu nguyện với Chúa Cha. Và kinh nguyện này chuẩn bị cho chúng ta Rước Lễ.

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Nguồn:http://w2.vatican.va/content/francesco/it/audiences/2018/documents/papa-francesco_20180314_udienza-generale.html

HƯỚNG VỀ TUẦN THÁNH

HƯỚNG VỀ TUẦN THÁNH

theo cách sống của Chúa Giêsu, đừng để tội lỗi đẩy chúng ta ra xa.

Trầm Thiên Thu

Chúng ta nghe nói nhiều về các linh mục lạm dụng tình dục (dù chỉ là số ít) và các giám mục không nghiêm nên vẫn bổ nhiệm họ (lax bishops who reassigned them).  Có những chuyện về các linh mục biển thủ tiền bạc của các giáo xứ.  Đó là những vụ bê bối, tội lỗi và kinh tởm.

Không có gì lạ vì các giáo hoàng, hồng y, giám mục, linh mục, tu sĩ, vẫn là con người, nghĩa là vẫn có thể phạm tội.  Khi một người sa ngã, điều đó gây tổn thương và gây “sốc”.  Người ta mong đợi các nhà lãnh đạo tinh thần thực hiện điều mình giảng dạy.  Nếu không thì chỉ là giả hình (hypocrites).  Và chúng ta biết Chúa Giêsu nghĩ gì về những kẻ giả hình rồi.  Nhưng điều này cũng không lạ.  Nếu bạn nghĩ ngày nay tệ hơn ngày xưa, hãy suy nghĩ về những ngày lễ trọng mà chúng ta cử hành trong Tuần Thánh: Thứ Năm tuần thánh và Thứ Sáu tuần thánh.

Trong khoảng 1 giờ sau khi Chúa Giêsu truyền chức các giám mục và các linh mục đầu tiên – 12 tông đồ – điều gì xảy ra?

Họ đã ngủ khi Chúa bảo họ cầu nguyện và canh thức với Ngài; một người đã phản bội Ngài chỉ vì 30 đồng bạc; một người là giáo hoàng đầu tiên đã chối Chúa 3 lần; và người trẻ đã chạy xa vì sợ trong khi Chúa cần họ nhất.  Chỉ có một người trung thành là Gioan còn ở lại với Đức Mẹ đứng dưới chân Thánh giá trên đồi Can-vê vào ngày thứ Sáu – ngày có cách gọi lạ là “ngày tốt lành” (Good Friday).

Không là một khởi đầu tốt đẹp cho các giám mục và linh mục.  Chỉ vài giờ sau khi thụ phong chức thánh, 11 trong 12 người đã bỏ rơi Chúa Giêsu.  Thật là tồi tệ chưa từng thấy!

Chúng ta có nên tha thứ và bỏ qua tội lỗi và tật xấu của các giáo sĩ?  Tuyệt đối không nên! (Absolutely not!).  Các giám mục và linh mục có nên ngừng tìm kiếm nhân đức lớn lao, sự thánh thiện, và sự hoàn hảo được Chúa kêu gọi?  Không bao giờ! (Never!).

Vấn đề là nếu cuộc sống, sinh lực, sự thánh thiện, và tính hiệu quả của Giáo hội tùy vào nhân đức của các giám mục và linh mục.  Chúng ta không tin giáo hoàng, hồng y, giám mục, linh mục, hoặc đức ông.  Không, chúng ta chỉ tin vào Chúa Giêsu.  Chỉ mình Ngài sẽ không làm chúng ta thất vọng, chỉ mình Ngài không bao giờ phạm tội, chỉ mình Ngài không bao giờ nuốt lời hứa, chỉ mình Ngài xứng đáng được chúng ta tin tưởng tuyệt đối.

Đó là lý do xảy ra bi kịch khi ai đó bỏ Chúa Giêsu và giáo hội vì phạm tội, vì bê bối, dù chỉ là tội nhẹ của một giám mục hoặc linh mục.  Nếu đức tin tùy vào chúng ta, đó là đã đặt sai chỗ ngay từ đầu.  Các giám mục và linh mục có thể đại diện cho Chúa Giêsu chăm sóc Giáo hội của Ngài, dù lúng túng, nhưng giám mục và linh mục không là Chúa Giêsu và Giáo hội của Ngài.

Một người vợ của một nạn nhân đã nói với một giám mục: “Xin đức cha giúp con lấy lại niềm tin vào giáo hội!  Con tin vào đức cha!”  Vị giám mục đó trả lời: “Đừng tin tuyệt đối vào tôi.  Tôi sẽ cố gắng hằng ngày để giữ niềm tin của chị, cầu nguyện hàng ngày để chị không thất vọng, nhưng hãy tin tôi, chẳng chóng thì chày, tôi e rằng tôi sẽ làm chị thất vọng.  Xin chị hãy hoàn toàn tin vào Chúa Giêsu!  Không có gì khác là thần tượng!”

Frank Sheed, một thần học gia của thế kỷ 20, nói: “Chúng ta không được rửa tội theo phẩm trật.  Chỉ có Chúa là quan trọng nhất.  Không có giáo hoàng, giám mục, hay linh mục nào có thể làm gì hoặc nói gì khiến chúng ta muốn từ bỏ giáo hội.”

Hãy cầu nguyện cho các giám mục và linh mục.  Chúng ta phải cố gắng sống theo cách sống của Chúa Giêsu, đừng để tội lỗi đẩy chúng ta ra xa.

Trầm Thiên Thu

 chuyển ngữ từ Archdiocese of New York

****************************** *********

Lạy Chúa, xin hãy gìn giữ các Linh mục,

vì các ngài là của riêng Chúa,

đã tận hiến cả cuộc đời

để lo việc mở mang nước Chúa.

 Xin Chúa gìn giữ các Linh mục vì các ngài sống giữa thế gian

nhưng không thuộc về thế gian;

những lúc bị lạc thú trần gian cám dỗ

xin Chúa ấp ủ các Linh mục trong Trái Tim Ngài.

 Xin Chúa hãy gìn giữ và an ủi các Linh mục,

trong những lúc các ngài cô đơn sầu khổ;

khi suốt cả cuộc đời hy sinh cho các linh hồn

bị xem ra vô ích. 

Xin Chúa gìn giữ các Linh mục,

và xin Chúa thương nhớ, lạy Chúa,

các ngài không có ai chỉ trừ một mình Chúa thôi!

Các ngài chỉ có con tim của con người

với những mỏng dòn yếu đuối của nó. 

Xin Chúa giữ gìn các Linh mục trong trắng

như Mình Thánh Chúa mà hằng ngày các ngài nâng niu.

Xin Chúa thương chúc lành cho các Linh mục,

xin thánh hóa mọi tư tưởng, lời nói và việc làm của các ngài.  Amen!

TRUNG THÀNH VỚI THÁNH Ý THIÊN CHÚA

TRUNG THÀNH VỚI THÁNH Ý THIÊN CHÚA   

Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Cả Giuse, mặc dù thánh nhân chỉ xuất hiện vài lần trong các sách Tin Mừng.  Nhưng chừng ấy cũng đủ để Giáo Hội có cơ sở để tôn vinh Người trong vai trò cha nuôi của Chúa Giêsu và là bạn trăm năm của Ðức Maria.

Thánh Giuse là mẫu người thầm lặng ít nói.  Các sách Tin Mừng không ghi lại lời nào của Người, ngay cả lúc tìm gặp Chúa Giêsu trong đền thờ, thì cũng chính Ðức Maria là người lên tiếng nói với Chúa Giêsu.  Thánh Giuse ít nói nhưng người chăm chú lắng nghe các lệnh truyền của Chúa và mau mắn làm theo, nhiều khi các lệnh truyền ấy có vẻ ngang trái bất ngờ.  Khi nhận Ðức Maria làm vợ và đưa Mẹ về nhà mình; khi đem gia đình trốn sang Ai Cập; khi hồi hương trở về Nazareth, thánh Giuse luôn luôn trung thành với thánh ý Thiên Chúa mà không đòi hỏi một điều kiện nào.  Hễ Thiên Chúa gọi thì Người lắng nghe; Thiên Chúa nói thì Người vâng lời.  Thánh Giuse đúng là một người sống đức tin bằng hành động, không lý luận, không thắc mắc, tâm hồn và thân xác Người luôn sẵn sàng dâng hiến để thánh ý Thiên Chúa được thi hành.  Và quả thật, nhờ sự cộng tác đắc lực của thánh Giuse, mà kế hoạch nhập thể của Chúa Giêsu được diễn ra hết sức tốt đẹp.  Không đòi hỏi được tuyên dương, thánh Giuse đã làm trọn sứ mạng mà Thiên Chúa trao phó cho Người.

Lạy Thánh Cả Giuse, nhiều khi con ham nói mà ít chịu lắng nghe tiếng Thiên Chúa, ham suy luận mà ít chịu vâng phục cách triệt để thánh ý Thiên Chúa.  Xin thánh nhân dạy con biết noi gương Người, biết tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa trong thinh lặng và biết sống đức tin bằng hành động.  Xin thánh nhân nâng đỡ những người cha trong gia đình để họ sống trọn sứ mạng làm chồng, làm cha.  Xin thánh nhân phù trợ Giáo Hội Việt Nam trong vai trò hướng dẫn những người Kitô và làm chứng cho đức tin Kitô giữa lòng dân tộc.

Ðức Thánh Cha Nói Về Gương Thánh Giuse:

Anh chị em rất thân mến,

Ngày 19 tháng 3, chúng ta cử hành Lễ Thánh Giuse.  Vào trung tâm của Mùa Chay, Phụng vụ trình bày cho chúng ta vị thánh vĩ đại này như là gương mẫu để noi theo, và như là Ðấng bảo vệ để chúng ta cầu khẩn.

Trước hết, thánh Giuse là mẫu gương sống Ðức Tin cho chúng ta.  Như Tổ Phụ Abraham, thánh Giuse đã luôn sống trong thái độ hoàn toàn phó thác cho sự quan phòng của Thiên Chúa; vì thế Ngài là mẫu gương khích lệ, nhất là khi chúng ta được mời gọi tin tưởng vào Chúa, dựa trên “Lời Ngài” đã phán, mà không nhìn thấy được rõ ràng Ý Ðịnh của Chúa.

Hơn nữa, chúng ta được mời gọi noi gương Ngài, trong việc khiêm tốn thực thi sự vâng phục, một nhân đức chiếu sáng nơi Ngài trong nếp sống thinh lặng và trong việc làm ẩn khuất.  Trường học Nazareth quý giá biết bao cho con người thời nay, bị bao vây bởi một nền văn hóa rất thường đề cao vẻ bề ngoài và sự thành công, đề cao sự độc lập và một quan niệm sai lầm về tự do cá nhân.  Ngược lại, thật là cần thiết biết bao, việc phục hồi lại giá trị của sự đơn sơ và vâng phục, sự tôn trọng và yêu mến đi tìm thánh ý của Thiên Chúa.

Thánh Giuse đã sống phục vụ cho vị hôn thê của mình và cho Con Thiên Chúa; và như thế, đối với các tín hữu, thánh Giuse trở thành chứng tá hùng hồn cho biết phải cai trị hay phục vụ như thế nào.  Ðặc biệt, tất cả những ai, trong gia đình, trong trường học và trong giáo hội, có trách vụ sống làm cha, làm người hướng dẫn, đều có thể nhìn về thánh Giuse, để được huấn luyện sống tốt lành.  Nhất là tôi nghĩ đến những người cha, mừng lễ của họ vào đúng ngày lễ dành cho thánh Giuse.  Tôi cũng nghĩ đến tất cả những ai mà Thiên Chúa đã thiết lập trong giáo hội để thực hiện “tình cha thiêng liêng”.

Nguyện xin thánh Giuse, vị thánh mà dân Kitô tin tưởng khẩn cầu, luôn hướng dẫn những bước tiến của đại gia đình Thiên Chúa.  Xin thánh nhân hãy đặc biệt trợ giúp cho những ai đang chu toàn vai trò làm cha tự nhiên hoặc thiêng liêng.  Xin thánh Giuse hãy cùng đồng hành với những lời khẩn cầu của chúng ta và xin Mẹ Maria khẩn cầu cùng Chúa cho chúng ta, Mẹ là vị hôn thê đồng trinh của thánh Giuse và là Mẹ của Ðấng Cứu Chuộc.

Gioan Phaolô II

(Lễ Thánh Giuse 2002 – bản dịch của Nguyễn Việt Nam)

Langthangchieutim gởi

Từ bỏ tất cả thì còn lại gì


Từ bỏ tất cả thì còn lại gì

 

Trầm Tư Bên suối

 

Trích Tin Mừng Gioan 12 : 25

Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất;

còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này,

thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời

Chúng tôi thường gài độ nhau khi đặt câu hỏi đầy thách thức:

Sau khi từ bỏ hết…thì còn lại gì??

Mọi người lắc đầu chịu thua.

Thế mà kỳ quái thay, cứ tới mùa chay, chúng tôi lại tha hồ nhắc nhở nhau:

Hãy từ bỏ…hãy từ bỏ… từ bỏ cả mạng sống mình!!!

Nhưng cả người nói lẫn người nghe chẳng ai dám tử bỏ mình cả !!!!

Hóa ra chúng tôi như những người mù dẫn mù cả 2 lăn cù xuống hố.

Tại sao vậy?

Bởi vì tôi không thể dùng toàn bộ ý chí của mình để từ bỏ chính cái tôi !!!

Quả thực tôi không thể từ bỏ chính mình

Giả sử từ bỏ được đi nữa thì một khi cái tôi mất…. thì tôi còn lại gì???

Chịu thua!!

Như vậy một câu hỏi cực kỳ quan trọng được nêu lên:

Tôi dùng cái gì để từ bỏ chính mình???

Tôi dựa vào đâu để từ bỏ chính mình???

Tôi dựa vào Chúa chăng?

Nghe có vẻ có lý đấy nhỉ…

Nhưng thực tế, rất khó thực hiện. Chúa vẫn ở đâu đó …xa lắm…

Tôi với Chúa như có một bức tường mang tên PHÀM HÈN sừng sững…

Ngăn cách giữa tôi và Chúa…

Vậy phải làm sao bây giờ???

 

Xin xem tren web

https://tramtubensuoi.blogspot.com/2018/03/tu-bo-tat-ca-thi-con-lai-gi.html

QUY LUẬT SỰ SỐNG

QUY LUẬT SỰ SỐNG

 

Cái chết của ông Y Rabin, Thủ Tướng Israel ngày 3/11/1995 đã làm cả thế giới chấn động.  Những người Do Thái quá khích giết ông, vì họ không chấp nhận công trình hòa bình ông đang kiến tạo với Palestine và các nước vùng Trung Đông.  Cái chết của ông Rabin làm cho thế giới nhớ lại cái chết của Mahatma Gandhi 50 năm trước đây: một người thanh niên Ấn Giáo quá khích đã sát hại vị Cha già của dân tộc Ấn, vì anh không thể chấp nhận việc ngài tha thứ và dạy tha thứ cho người Hồi Giáo.  Người ta cũng không thể quên cái chết của Mục sư Martin Luther King năm 1968, vì đã tranh đấu cho quyền bình đẳng của người da đen bằng phương pháp ôn hòa và bất bạo động.  Lịch sử nhân loại đã được viết bằng máu của biết bao gương mặt kiến tạo hòa bình như thế.  Liệu người ta có thể xếp cái chết của Chúa Giêsu vào hạng những cái chết vì hòa bình không?  Đâu là lý do khiến Chúa Giêsu phải chết, một cái chết cũng mang tính cách mạng như chính cuộc sống và sự điệp của Ngài? 

Chúa Giêsu đã chịu treo trên thập giá giữa hai tên trộm cướp.  Thời Đế quốc Rôma cai trị Palestine có biết bao người đã chết như thế, nhưng cái chết của Chúa Giêsu có lý do sâu xa hơn bất cứ một cái chết nào.  Chúa Giêsu đã có thể lẩn tránh được một cái chết như thế: Ngài đã làm cho kẻ chết sống lại được, thì việc thoát tay kẻ thù đối với Ngài không phải là chuyện khó.  Ngài cũng có thể tránh được một cái chết như thế bằng cách thay đổi thái độ đối với những kẻ đang tìm cách hãm hại Ngài.  Nhưng Chúa Giêsu đã không hành động như thế.  Các sách Tin Mừng thuật lại rằng Ngài đã tự nộp mình cho kẻ thù.  Ngài chết để giải phóng con người khỏi tội lỗi và sự chết.  Một cuộc giải phóng vượt lên trên và bao trùm mọi thứ giải phóng khác.  Từ nay, với cái chết của Chúa Giêsu, sự chết không còn là một thực tại đáng sợ nữa, nhưng nó là cửa ngõ dẫn vào cuộc sống vĩnh cửu.

Thánh Gioan hôm nay đã dùng hình ảnh quen thuộc để diễn tả ý nghĩa đích thực của cái chết của Chúa Giêsu: hình ảnh của một hạt giống bị mục thối đi trong lòng đất để dẫn đến một mùa gặt phong phú.  “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình, còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều bông hạt khác.”  Cũng vậy, những đau thương Chúa Giêsu sắp trải qua sẽ không kết thúc ở một cái chết cằn cỗi mà sẽ dẫn đến sự phì nhiêu sung mãn của sự sống lại, một sự sống có khả năng tập họp mọi dân nước trong Nước Trời.

Tuy nhiên, là Thiên Chúa nhưng cũng là con người và như mọi con người, Chúa Giêsu cũng đã phải trải qua những giờ phút xao xuyến trong tâm hồn khi phải đương đầu với kẻ thù và cái chết nhơ nhuốc trên thập giá: “Bây giờ tâm hồn Con xao xuyến, Con biết nói gì đây?  Lạy Cha, xin cứu Con khỏi giờ này…”  Chúa Giêsu đã từng bị cám dỗ xin Cha Ngài giải thoát Ngài khỏi “Giờ” đen tối hay khỏi “uống chén đắng” này.  Trong bài đọc 2, chúng ta còn được Thánh Phaolô cho thấy tâm trạng của Chúa Giêsu khi đứng trước “Giờ” của thập giá: “Chúa Kitô đã lớn tiếng và rơi lệ dâng lời cầu xin khấn nguyện lên Đấng có thể cứu Ngài khỏi chết…”  Cuối cùng, Chúa Giêsu đã không xin Cha cứu Ngài khỏi chết mà xin cho Danh của Cha được tôn vình.  Điều này có nghĩa là Chúa Giêsu muốn cầu xin Thiên Chúa hãy tỏ ra Ngài là một người Cha, bằng cách hoàn tất công trình yêu thương của Ngài đối với con người, ngang qua cái chết và sống lại của Con của Ngài.  Qua lời cầu xin này, Chúa Giêsu cho thấy Ngài đã gián tiếp đón nhận “Giờ” của sự phục vụ cho tới hơi thở cuối cùng trên thập giá, nhưng đồng thời cũng là “Giờ” Con Người bước vào vinh quang.  Có điều “vinh quang” ở đây không theo ý nghĩa thường tình của chúng ta.  Vinh quang ở đây đòi phải trải qua khổ nhục.  Vinh quang của hạt lúa đã trổ bông, nặng trĩu và chín vàng, nhưng là sau khi bị chôn vùi dưới bùn rồi nứt nẻ, bứt phá khỏi hình thức hẹp hòi của vỏ trấu, để giờ này mới trở thành nguồn sống, và lại sẵn sàng nẩy mầm, phát triển, tăng gấp mãi.

Thánh Gioan đã diễn tả chân lý này như một quy luật tất yếu cho sự sống phát sinh và đạt tới ý nghĩa cuối cùng: Hạt lúa và bất cứ thứ hạt giống thực vật nào, đều mang ý nghĩa và sứ mạng truyền sinh, tăng trưởng gấp nhiều lần nguồn sống ẩn chứa trong bản thân.  Thế nhưng, muốn thể hiện ý nghĩa và sứ mạng này, nó phải qua tiến trình biến dạng hoàn toàn, phải chết đi.  Chúa Giêsu đã chấp nhận quy luật này, và vẫn đang “lôi kéo mọi người theo Ngài”.

Là quy luật, là chân lý Chúa Kitô mạc khải, làm sao con người chúng ta có thể tránh né?  Mặc dầu biết rõ mình phải nứt nẻ, bứt phá, lột xác, phải chết đi, mới góp phần làm phát sinh sự sống.  Thế nhưng chúng ta vẫn thường coi trọng và bảo vệ cái cũ, những gì là quen thuộc, dễ dãi, dễ chịu hơn là đổi mới.  Sống giữa một xã hội đang chủ trương đổi mới, thế mà chỉ mới đặt lại vấn đề đổi mới một số tư tưởng, cách làm ăn, tổ chức đời sống xã hội… cũng đủ làm chúng ta e ngại, lo âu.  Nói chi đến thay đổi cả nếp sống trước đây vẫn được tôn trọng.  Định luật của sự sống là đổi mới.  “Hat lúa phải mục nát đi trong lòng đất mới nảy sinh nhiều bông hạt.”  Chúa Giêsu đã nói đến cái chết của Ngài như một điều kiện cần thiết để đem lại sự sống mới cho mọi người.  Ngài phải chết đi để các Kitô hữu được sống, để muôn dân trở thành tín hữu và tất cả đều được cứu chuộc.

Còn chúng ta, được mời gọi theo Chúa Giêsu, chúng ta cũng đừng quên định luật căn bản của sự sống, đó là: “Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai bằng lòng mất sự sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho cuộc sống muôn đời” (Ga 12,25).  Đi theo Chúa Giêsu đòi hỏi người môn đệ của Ngài phải chia sẻ cuộc sống và cả cái chết của Ngài.  Bài học của thập giá đó là đã có những cái chết không uổng công mà trái lại còn nảy sinh nhiều hoa trái, đó là cái chết vì tình thương, vì hạnh phúc, vì sự cứu độ của kẻ khác, vì sự giải phóng con người đồng loại, vì những cái gì còn đáng quý hơn cả chính mạng sống của mình, vì chính nghĩa, vì công lý, vì hòa bình, vì đức tin…

Ở đây, Chúa Giêsu đặt chúng ta trước một thang giá trị.  Chính khi con người biết vượt ra khỏi cái vỏ ích kỷ để sống một cuộc sống quảng đại, vì người khác, dù có phải vì thế mà hy sinh cả mạng sống của mình, con người đã thực sự bước vào cuộc sống mới.  Điều Chúa đòi hỏi nơi những kẻ muốn đi theo Ngài thì Ngài thực hiện nơi chính bản thân Ngài.

Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy rõ ý nghĩa cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá.  Ngài chết là để đi vào vinh quang của Chúa Cha và trở thành Đấng ban sự sống cho chúng ta.  “Nếu ta cùng chết với Ngài, ta sẽ sống với Ngài.  Nếu ta cùng đau khổ với Ngài, ta sẽ thống trị với Ngài” (x. Tin Mừng 2,8-12).  Ai ham sống, sợ chết, sẽ đánh mất tất cả.  Người dám theo Chúa Giêsu mà đánh đổi cuộc sống hiện tại, sẽ được cuộc sống muôn đời.

Trích trong “Niềm Vui Chia Sẻ”

Langthangchieutim gởi

TIỂU BANG NEW MEXICO CÓ THỂ LÀ NƠI TRÚ ẨN THIÊNG LIÊNG

http://www.memaria.org/default.aspx?LangID=38&ArticleID=28987

TIỂU BANG NEW MEXICO CÓ THỂ LÀ NƠI TRÚ ẨN THIÊNG LIÊNG

Nguồn: Spiritdaily.com

(Cầu Thang Thánh Giuse, New Mexico, Hoa Kỳ)

Tiểu Bang New Mexico có nhiều nơi thánh thiêng và được xem như là một ngọn đèn pha sáng láng, một nơi trú ẩn thiêng liêng để tránh những tai họa, một nơi đã có những phép lạ xẩy ra, hoặc là một nơi được xức dầu thiêng liêng. (anointing place)

Thật sự, mỗi nhà thờ ở khắp thế giới đều có Chúa Giêsu Thánh Thể. Ngài là Thiên Chúa, Đấng Cứu Thến, Đấng bảo vệ và là nơi trú ẩn cho chúng ta.  Trong thế kỷ 19, có một vụ cháy lớn ở Wisconsin, tất cả mọi nơi đều bị cháy rụi, chỉ có một nhà nguyện nhỏ là đứng vững.

-Một vị linh mục có ơn thiêng liêng đặc biệt và hiện nay ngài đang chăm sóc cho ba giáo xứ của một giáo phận ở vùng Trung Tây Hoa Kỳ, có nói rằng vùng núi đông bắc của New Mexico sẽ là nơi trú ẩn thiêng liêng cho mọi người khi có những biến cố xẩy ra trong tương lai. Đó là vùng núi tên là Carson National Forest, trong đó có dãy núi tên Sangre de Cristo Mountains, có nghĩa là Núi Máu Thánh Chúa KiTô.

-Ở miền Bắc của New Mexico có một thị trấn tên là Angel Fire. ( Lửa Thiên Thần)

-Tại thành phố Santa Fe, New Mexico có một nơi tượng Đức Mẹ Maria gọi là La Conquistadora, do người Tây Ban Nha rước đến New Mexico năm 1625. Tại đây Mẹ đã ban rất nhiều ơn lành. Nay nơi ấy là nhà thờ Thánh Phanxico Assissi, trong nhà thờ này có tôn vinh Đức Mẹ Maria với tước hiệu La Conquistadora.

-New Mexico cũng là nơi có cầu thang kỳ diệu mà người ta cho rằng Thánh Giuse đã hoàn thành, cầ uthang này ở trong nhà nguyện Loretto, ngay sát nhà thờ Phanxico Assissi.

-Ngoài ra còn có một nơi thánh thiêng nữa là nhà thờ Santuario de Chimayo tại thị trấn Chimayo, cách nhà nguyện Loretto khoảng 1 tiếng đồng hồ lái xe. Ở đó có một cây thánh giá được chôn vùi dưới đất nhưng tỏa ánh sáng rực rỡ. Người ta rước cây thánh giá này về nhà thờ rất nhiều lần nhưng thánh giá lại tự động quay trở về nơi cũ. Cuối cùng người ta phải xây một nhà thờ ở chỗ cây thánh giá được tìm thấy.

-Tại vùng này có hai nhà thờ nhỏ gần nhau, một trong hai nhà thờ có hố cát mà khách hành hương đến cầu nguyện và múc từng thùng cát đem về nhà mình thế mà cát cứ vun lên, không bao giờ cạn.  Có nhiều ơn chữa lành xẩy ra. Ngôi nhà thờ này còn có nhiều nạng gỗ và xe lăn do những bịnh nhân đến xin ơn chữa lành và được khỏi bịnh. Họ để lại nạng và xa lăn như chứng tích cảm tạ Lòng Chúa Thương Xót.

-Ở phía bắc của New  Mexico có một vùng tên là Ranchos de Taos có một bức tranh kỳ diệu. Trong ánh sáng có hình Chúa Giêsu đứng trên bãi biển Galilê, lại có một cây thánh giá sang rực  trên vai Chúa Giêsu, và vùng biển sáng rực. Có người nhìn thấy chiếc thuyền. Bức tranh và tác giả của nó đã được trải qua các cuộc thử nghiệm hóa học nhưng người ta không tìm ra lời giải thích.

-Tại New Mexico có một đền thánh Đức Mẹ Maria ở vùng Cerrillos, nằm giữa hai thành phố Albuquerque và Santa Fe. Tên đền thánh là Đền Thánh Giuse.Tại đây có hình Thánh Phanxico được nhận 5 vết thương thánh. Bức tranh này do một giáo dân vẽ ra, có thể được xem là một tuyệt tác. Người ta nói rằng Đức Mẹ Maria đã từng hiện ra tại ngôi đền thánh này.

SUY NIỆM:

Gia đình chúng tôi đã đến New Mexico để hành hương tại Cầu Thang Thánh Giuse, nhà thờ Thánh Phanxico Assissi, nhà thờ Thánh Micae, nhà thờ Hố Cát tức là Sanctuario de Chimayo, hay Our Lady of Lourdes in America và một nhà thờ nhỏ ở bên cạnh nhà thờ Hố Cát, nơi có cây thánh giá phát sang.

Trước nhà thờ Hố Cát này có một lạch nước nhỏ, nước chảy róc rách. Tôi đã ngồi cầu nguyện và ước mong đây là lạch nước suối chữa lành như ở Lộ Đức. Tôi cũng đã múc cát đem về nhà để xin Chúa ban ơn bình an.

Nếu quý vị có thể đi hành hương những nơi này thì xin cố gắng đi một lần vì khoảng thời gian lái xe từ Orange County, California đến đó chỉ khoảng 17 tiếng đồng hồ. Xin Chúa chúc lành cho quý vị!

Kim Hà
14/10/2010

(Rặng núi có một nơi tien Angel Fire, New Mexico)

TẢN MẠN CHUYỆN NHÀ ĐẠO : SỐNG NIỀM VUI TIN MỪNG

TẢN MẠN CHUYỆN NHÀ ĐẠO : SỐNG NIỀM VUI TIN MỪNG

 

Trong những ngày qua, Giáo hội Việt Nam thương tiếc và cầu nguyện cho Đức cố Tổng Giám mục Phaolô Bùi Văn Đọc, vừa được Chúa gọi về tại Rôma vào lúc 22 giờ 15 phút ngày 6.3.2018 giờ Rôma,tức 4 giờ 15 phút sáng ngày 7.3.2018 giờ Việt Nam.Con cái tín hữu của ngài tại Tổng giáo phận Sài Gòn ai cũng bàng hoàng xúc động, không thể tin được đây là sự thật, vì mới ngày hôm qua,các giáo dân Việt Nam đã thấy trên mạng toàn cầu hình ảnh vị Cha Chung của giáo phận chào thăm Đức Thánh Cha Phanxiô.

Người viết sáng hôm 7.3.2018 nhận được email tin buồn từ một cha thân quen đã giật mình, kiểm chứng chỗ này chỗ kia xem có phải là tin thật, hay ai đó đang cố tình đưa ra để câu view trên facebook.

Tổng Giáo phận Sài Gòn,mọi thành phần dân Chúa đều thương tiếc, cầu nguyện cho người cha chung khả kính.Các nhà thờ treo băng rôn, đổ chuông, treo cờ rũ và trong các thánh lễ đều cầu nguyện linh hồn Đức Tổng Giám mục Phaolô.

Tuy là trong nỗi buồn thương nhớ trong sự mất mát, nhưng chúng ta được mời gọi sống đức tin vào Chúa Kitô ngay trong nỗi mất mát chia ly.

Vị Cha Chung hiền từ của Tổng giáo phận,ngài là con người của Niềm vui. Có lẽ không ai mà không nhớ đến những lời nhắn nhủ đầy phấn khích và giọng cười thoải mái của Đức Tổng Phaolô. Đi đến đâu và gặp gỡ ai những lời Đức Tổng Giám mục Phaolô nói đều là tiếng gọi thúc giục vui lên. Dù có gặp các linh mục của mình hay gặp các cấp lãnh đạo chính quyền,Đức Tổng chỉ nói đến niềm vui. Niềm vui được gặp gỡ Chúa, gặp  gỡ các linh mục của mình,gặp gỡ anh chị em giáo dân,niềm vui gặp gỡ các em thiếu nhi trong các thánh lễ  ban bí tích Thêm sức. Đức Tổng thường nói với các em thiếu nhi: “ Chúng con có vui không, chúng con không có gì phải sợ, cha chỉ hỏi  chúng con một chút thôi”.

Dường như cuộc sống khổ đau nhiều quá, đâu đâu cũng thấy bệnh tật, nghèo đói túng thiếu, thấy  cảnh cạnh tranh hơn thua,người ta trọng người giàu,khinh thường những người nghèo, tranh giành nhau mà sống.Ở ngay tại thành phố Sài Gòn tấp nập,xô bồ, chắc chắn Đức Tổng thấy được con cái của mình lo toan cật lực nhiều hơn là những giây phút vui cười hạnh phúc.

Thật vậy,khẩu hiệu Giám mục của Đức Tổng Phaolô là “Chúa là Nguồn vui của con”.Đức Tổng kín múc niềm vui của Thiên Chúa, chia sẻ với đoàn chiên từ vùng đất cò bay thẳng cánh ở Mỹ Tho, rồi lên phố thị Sài Gòn tấp nập.

Vâng,đúng là Thiên Chúa lo liệu mọi sự, mỗi thời Thiên Chúa lại gởi đến cho dân những vị Chủ Chăn tốt lành nhân từ, biết chăm lo cho chiên, thấy được tình cảnh của dân Chúa.

Đức Hồng y Gioan Baotixia Phạm Minh Mẫn,vị chủ chăn của Giáo phận Sài Gòn trước đây dẫn dắt dạy bảo đoàn chiên giáo phận bằng chia khóa Tình yêu thương, “Như Thầy yêu thương”, như khẩu hiệu của Giám mục của Đức Hồng y. Đi đến đâu Đức Hồng y cũng nói về yêu thương, mọi người phải yêu thương nhau và làm chứng cho Chúa về tình yêu thương.

 Chỉ có nhãn giới đức tin chúng ta mới nhận ra,tất cả mọi sự là hồng ân của Chúa, tạ ơn Chúa gọi Đức Tổng ra khỏi thế gian, kết thúc hành trình trần gian, dù có làm cho nhiều người trong chúng ta cảm thấy ngỡ ngàng xúc động.

Cứ nhứ thế,dường như đến thời Đức Tổng Giám mục Phaolô chủ đề của các bài giảng, huấn từ  hay các cuộc trao đổi lại xoay quanh chủ đề niềm vui.

“ Anh em hãy vui luôn trong Chúa.Tôi nhắc lại một lần nữa. anh em hãy vui lên”(Ph 4,4-5). Thánh Phaolô, quan thày của Đức Tổng đã luôn nhắc nhở các tín hữu như thế. Và Đức Tổng của chúng ta bây giờ ở trên trời lại chỉ nói những lời đó cho chúng ta.

Một vài linh mục trong Giáo phận Sài Gòn nhiều khi thất vọng về những lời phát biểu quá ngắn gọn của Đức Tổng. Trong những buổi sinh hoạt như thường huấn, họp mặt tất niên, thay vì có những lời đúc kết thành quả gọi là có nhìn nhận vấn đề, nhưng Đức Tổng Phaolô lại phát biểu súc tích về niềm vui, Đức Tổng chỉ nói lên niềm vui sự phấn khởi gặp gỡ các linh mục.

Đức Tổng Phaolô nhìn tất cả bằng niềm vui của Chúa,niềm vui của Tin Mừng cho nên những vấn đề của giáo phận được giải quyết nhanh chóng, và  có cả bất ngờ nữa,Đức Tổng không thể chấp nhận những khúc mắc tồn tại lâu dài.

Một khác,với trái tim Mục Tử,Đức Tổng Phaolô nhìn mọi chuyện có vẻ “ thoáng” hơn, vượt trên những câu nệ hình thức, đi sâu vào nội tâm.Điều này  các linh mục trong Giáo phận đều có thể dẫn chứng vài câu chuyện cho người viết.

Ngày nay, nhiều bạn trẻ chúng ta tìm kiếm niềm vui ở bàn nhậu, trong những cuộc tình chóng vánh,những cuộc tình vụng trộm ngoài hôn nhân,các bạn trẻ không thích sự phấn đấu ngại vượt khó,sự lãng mạn trữ tình,thậm chí chỉ lợi dung nhau ngay trong tình yêu. “Yêu em anh được nhà cao cửa rộng, có xế hộp đi Vũng Tàu nghĩ mát cuối tuần,vì nhà em mặt phố,bố em làm to, em thuộc diện COCC(con ông cháu cha)”.

Đó là những niềm vui khi chiếm hữu vật chất,niềm vui không triển nở từ tình yêu chân thành, hay niềm vui được gặp gỡ nhau,cảm thấy chúng mình cần nhau.

Các bạn cứ thử hỏi những bạn trẻ tham gia các sinh hoạt hội đoàn giáo xứ,các anh chị Huynh Trưởng Giáo Lý Viên. Họ chia sẻ với chúng ta: “Niềm vui là mỗi tuần được gặp gỡ các em thiếu nhi,được chia sẻ hiểu biết về Chúa cho các em.Đó là niềm vui thật sự.”

Anh bạn mình kể chuyện: Có một ông cha bị xem là” hâm hâm”.Trong một đám tang của bà cố nọ,có một linh mục đến cầu nguyện.Thay vì nói lời chia buồn phần ưu như mọi người trước tang gia đang khóc sướt mướt.Vị linh mục mạnh mẽ nói những lời đại khái như sau : Xin chúc mừng bà cố và gia đình. Hôm nay bà cố đã được Chúa đưa về thiên quốc. Anh chị em đừng buồn rầu. Thế là vị linh mục đứng trong hoàn cảnh đó mời mọi người vỗ những tràng pháo tay rộn rã. Có người trong tang gia “vừa khóc vừa cười” vì hành động và lời nói   lạ lung của vị linh mục đó. Sau đó, cha dâng vài kinh cầu nguyện cho bà cố. Anh bạn kể chuyện xem như vị linh mục này “từ trên trời rơi xuống”.Riêng tôi, tôi biết cha đang chia sẻ niềm vui Tin Mừng,cha đã có một bài giảng hay cho tang gia. Người chết đi đã về với Chúa, xin chúc mừng và tạ ơn Chúa, không gì phải khóc lóc. Thương nhớ người thân vẫn thương nhớ, nhưng cầu nguyện nhiều hơn.

Bây giờ ở trên trời, Đức Tổng Phaolô cũng mong ước chúng ta có niềm vui như thế.Vì khi còn sống ở tại thế, Đức Tổng không bao giờ thấy mệt mỏi,có lẽ dù có mệt mỏi nhưng khi gặp thấy con cái mình, Đức Tổng vẫn luôn vui cười, và sẵng sàng đi đến đâu vì lợi ích phần rỗi của anh chị em mình.

Các linh mục phải có niềm vui khi gặp gỡ anh chị em giáo dân, ít là với các em thiếu nhi,các bạn trẻ mà ngài găp gỡ. Đó là cách thế các linh mục rao truyền niềm vui Tin Mừng cho họ.Người sứ giả hay tông đồ của Chúa không phải là những người cau có, gương mặt lúc nào cũng khó đăm đăm, hay như người ta nói “gương mặt như tủ lạnh”. Vì Thiên Chúa là Nguồn vui, nếu chúng ta không có niềm vui nơi mình, làm sao chúng ta có thể làm lây lan niềm vui cho người khác.

Xin Chúa sớm đưa Đức Tổng Giám mục Phaolô về quê trời. Và xin Đức Tổng nhớ đến chúng con và cầu nguyện cho chúng con luôn là những tông đồ của Niềm vui.

Giuse Nguyễn Bình An

MA QUỶ TẤN CÔNG

MA QUỶ TẤN CÔNG

Trầm Thiên Thu

   Mùa Chay lại về, Mùa Chay là thời gian thuận tiện để chúng ta kiểm điểm cuộc đời mình và rà soát mọi ngõ ngách của linh hồn, và cố gắng chấn chỉnh để phần nào đền bù tội lỗi của chính mình.

    Chúng ta đang sống trong “vùng chiến tranh” nghiêm trọng, và khó tìm thấy hòa bình trong khoảng đó.  Điều mà nhiều người khó nhận ra, đó là cuộc chiến đấu xảy ra hằng ngày trong cuộc sống của chúng ta ở ngay trong đầu chúng ta.  Kinh Thánh cho biết:“Tất cả cùng ăn một thức ăn linh thiêng, tất cả cùng uống một thức uống linh thiêng, vì họ cùng uống nước chảy ra từ tảng đá linh thiêng vẫn đi theo họ.  Tảng đá ấy chính là Đức Kitô.  Nhưng phần đông họ không đẹp lòng Thiên Chúa, bằng chứng là họ đã quỵ ngã trong sa mạc” (1 Cr 10:3-5).

   Có những đồn lũy nào đó của ma quỷ vây hãm chúng ta hằng ngày mà chúng ta phải nhận biết.  Cuộc chiến đang xảy ra trong tư tưởng của chúng ta và ma quỷ lợi dụng chính các nhược điểm đó để tấn công chúng ta.  Hãy lưu ý 6 điểm dưới đây.  Đừng coi ma quỷ là đồng minh, bởi vì nó xảo trá và quỷ quyệt, nó sẽ lừa dối bạn để bạn lọt vào tròng của chúng.

 

  1. KHI BẠN BỊ TỔN THƯƠNG

    Ma quỷ sẽ tấn công bạn khi bạn yếu đuối, cả thể lý lẫn tinh thần.  Chúa Giêsu bị ma quỷ tấn công sau khi Ngài đã ăn chay suốt 40 ngày.  Kinh Thánh cho biết:“Người ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày, và sau đó, Người thấy đói.  Bấy giờ tên cám dỗ đến gần Người và nói: “Nếu ông là Con Thiên Chúa thì truyền cho những hòn đá này hoá bánh đi!” (Mt 4:2-3).  Ma quỷ đã từng tấn công Chúa Giêsu vào một trong những lúc Ngài suy nhược nhất về thể lý.  Có những người “chăm chút” sự yếu đuối của mình và giữ lấy nó.  Nếu bạn là người như vậy, bạn sẽ không bao giờ tự do.  Ma quỷ “bắt cóc” bạn và cầm giữ bạn.

 

  1. KHI BẠN MỆT MỎI

    Bạn có thường uể oải hoặc mệt mỏi?  Thiếu nghị lực và thiếu sinh khí thường là hậu quả của một cuộc tấn công “mở rộng”.  Thật vậy, các vấn đề này có thể xảy ra từ các vấn đề khác, kể cả việc mất ngủ và thiếu sức khỏe.  Tuy nhiên, một trong các dấu hiệu quan trọng nhất mà bạn bị tấn công tinh thần là lúc bạn cảm thấy mệt mỏi, chính sự mệt mỏi khiến bạn chán nản và ngăn cản bạn làm những điều Thiên Chúa bảo bạn làm.  Ngôn sứ Isaia cho biết: “Thanh niên thì mệt mỏi, nhọc nhằn, trai tráng cũng ngả nghiêng, lảo đảo” (Is 40:30), nhưng chờ đợi Chúa bồi bổ sức mạnh và thể hiện sự khôn ngoan để có thể chờ đợi, nghỉ ngơi và cậy nhờ vào Thiên Chúa chứ đừng ỷ vào sức mình.

 

  1. KHI BẠN BẮT ĐẦU MỘT HÀNH TRÌNH TÂM LINH MỚI

   Ma quỷ sẽ tấn công bạn khi bạn bắt đầu một quyết tâm mới về tâm linh.  Không có gì nó ghét hơn là bạn quyết định thiết lập mối quan hệ với Thiên Chúa và phát triển đức tin.  Ngay sau khi Chúa Giêsu bị ma quỷ cám dỗ, Ngài khởi đầu sứ vụ công khai.  Kinh Thánh cho biết: “Từ lúc đó, Đức Giêsu bắt đầu rao giảng và nói rằng: Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 4:17).  Nhận biết Chúa Giêsu sẽ bắt đầu sứ vụ, ma quỷ đã ráo riết tấn công Ngài, nhưng Ngài không thoái chí.  Khi bạn bắt đầu bất cứ một hành trình tâm linh nào, ma quỷ sẽ tấn công để phá hoại và làm cho bạn chia trí khi cố gắng sống thân mật với Thiên Chúa và mở rộng sứ vụ của Đức Kitô.  Đừng để ma quỷ chiến thắng bạn!

 

  1. KHI BẠN BỐI RỐI

     Ma quỷ sẽ tấn công bạn khi bạn thất vọng ê chề.  Trong cuộc tấn công tinh thần, ma quỷ dùng nhiều mưu kế để đè nén tâm trí bạn và làm cho bạn cảm thấy thất vọng.  Khi bạn ở trong vòng vây của nó, có thể bạn cảm thấy mình gặp nguy hiểm, lo lắng hoặc bối rối.  Những lúc đó, cuộc đối thoại đơn giản với người khác (cha mẹ, vợ chồng, bạn bè,…) có thể chuyển thành xung đột, và ý tưởng đơn giản trong đầu của bạn có thể biến thành cảm xúc tiêu cực.  Bạn cũng có thể cảm thấy không còn là mình như trước.  Điều này không chỉ ở trong đầu của bạn.  Trong những lúc như vậy, điều quan trọng là bạn phải cố gắng tập trung vào Thiên Chúa.

 

  1. KHI BẠN ĐAU KHỔ

   Ma quỷ sẽ tìm cách quyến rũ bạn mau chóng chữa trị khi bạn đau đớn và đau khổ.  Nó muốn bạn tin nó có mọi cách thức, chứ không phải Thiên Chúa.  Nếu bạn gặp rắc rối trong các mối quan hệ, nó sẽ cho bạn các lời lẽ và tư tưởng tồi tệ về người kia để làm cho mối quan hệ rạn vỡ nhiều hơn.  Nếu bạn đang chiến đấu với bệnh tật, nó sẽ cố gắng làm cho bạn tin rằngThiên Chúa không hiện diện và chẳng quyết tâm những gì bạn đang chịu đựng.  Nếu bạn tìm kiếm Thiên Chúa trong những lúc đó, ma quỷ sẽ làm cho bạn nghi ngờ rằng không biết Thiên Chúa thực sự có tốt lành hay không.

 

  1. KHI BẠN MỘT MÌNH

    Ma quỷ sẽ tấn công bạn khi bạn có một mình vì nó biết rằng bạn rất yếu đuối khi không có mặt người khác.  Nó cũng cho rằng đó là lúc bạn dễ sa ngã nhất.  Kinh Thánh cho biết: “Đức Giêsu được Thần Khí dẫn vào hoang địa để chịu quỷ cám dỗ” (Mt 4:1).  Ma quỷ biết Chúa Giêsu ở một mình nên nó cám dỗ Ngài.  Ma quỷ có thể phát hiện khi nào bạn cảm thấy cô đơn.  Những lúc đó, nó muốn bạn tin rằng bạn hoàn toàn đơn độc.  Thỉnh thoảng bạn cảm thy như ma quỷ không bỏ mặc bạn một mình, rất cần phải nhớ rằng Thiên Chúa luôn ở bên bạn!

 

  1. HÃY NHÌN LÊN THIÊN CHÚA

    Nếu bạn là chi thể trong Nhiệm Thể của Đức Kitô, hãy chắc chắn rằng ma quỷ luôn cố gắng hủy hoại bạn.  Khi mọi thứ không thể đổ lỗi cho ma quỷ, có nhiều điều chứng tỏ hậu quả công việc của nó và phải nhận biết khi nào ma quỷ hoạt động trong cuộc sống của bạn.  Nếu bạn không cảnh giác, nó có thể hủy diệt bạn và tách rời chúng ta ra khỏi Chúa Cha.  Không có gì để ma quỷ yêu thương, nhưng khi bạn được bảo vệ và được canh giữ, bạn có sức mạnh để đẩy lui mọi cuộc tấn công của ma quỷ.

Lesli White

Trầm Thiên Thu

  chuyển ngữ từ Beliefnet.com

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã chịu đau khổ và bị cám dỗ.  Chúa là Đấng quyền năng đã đến để cứu giúp những người đang bị xiềng xích bởi ma qủy, vì Chúa luôn nâng đỡ những kẻ đi theo Ngài.

Lạy Chúa, xin gìn giữ những kẻ tin vào danh thánh Chúa trong cánh tay Ngài.  Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, mà ban niềm hoan lạc bất diệt.  Amen!

 St. Gregory of Khandzta (759-861)

 From: KittyThiênKim & Nguyễn Kim Bằng

NHÌN LÊN THẬP GIÁ

NHÌN LÊN THẬP GIÁ

Bất cứ ai đã đọc sách Xuất Hành trong Cựu Ước, kể lại cuộc hành trình về đất hứa của dân Do thái, đều nhớ câu truyện con rắn đồng.  Đó là khi gần đến đất hứa, dân Do thái lại kêu trách Chúa và trách ông Mô-sê.  Chúa liền cho rắn bò ra khắp nơi cắn chết nhiều người.  Thấy vậy, dân chúng lại ăn năn hối hận, chạy đến kêu ông Mô-sê cứu giúp.  Ông Mô-sê cầu xin Chúa.  Chúa bảo ông hãy làm một con rắn bằng đồng treo lên cao, để hễ ai bị rắn lửa cắn, nhìn lên rắn đồng thì được khỏi.  Rắn đồng đó, như bài Tin Mừng kể lại, Chúa Giêsu dùng làm hình ảnh để chỉ về Ngài: cũng như xưa, rắn đồng bị treo lên, Ngài cũng phải bị treo lên như vậy.  Và cũng thế, rắn đồng chữa cho bất cứ ai nhìn lên nó, thì Chúa cũng chữa bất cứ ai tin cậy ở Ngài.  Vì thế, sau khi dùng hình ảnh để so sánh, Chúa quả quyết: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống đời đời.”

Quả thật, thập giá của Chúa đem lại sự sống đích thực, sự sống đời đời cho những ai tin tưởng, cậy trông vào Chúa.  Bằng chứng cụ thể để bảo đảm điều này là người trộm lành trong Tin Mừng: khi Chúa Giêsu bị đóng đinh vào thập giá trên núi Sọ, thì có hai phạm nhân khác là hai tên trộm cướp, cũng bị đóng đinh như thế ở hai bên Chúa: Đít-ma bên phải và Ghét-ta bên trái.  Khi ba thập giá được dựng lên, treo ba thân xác chơ vơ giữa nền trời, người ta nghe tiếng tên trộm Ghét-ta chửi bới, nguyền rủa, nói những lời xúc phạm và đòi xuống khỏi thập giá.  Trái lại, tên trộm Đít-ma, như được ánh sáng từ thập giá ở giữa chiếu soi, anh buồn rầu, hối hận tội lỗi tầy trời của mình và quay sang Chúa Giêsu, anh tha thiết thưa: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào nước của Ông, xin nhớ đến tôi.”  Trước lời khẩn nài đầy tin tưởng ấy, Chúa nói: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng.”

Trước khi thưa với Chúa Giêsu như trên, người trộm này đã nhìn nhận tội lỗi của mình khi anh đối chất với người bạn tù cùng bị đóng đinh với anh.  Anh nói: “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ!  Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm.”  Như vậy, dầu sao trong tâm hồn người đạo chích này cũng đã dậy lên những tâm tình thống hối nồng nàn.  Dĩ vãng của anh thật tồi tệ, có lẽ tệ hơn cả Ba-ra-ba, vì Ba-ra-ba thì được tha, còn anh lại bị đóng đinh.  Đời anh xấu xa quá.  Anh biết và thành thật cảm nhận điều đó; đồng thời anh cũng tin nhận Đấng cùng chịu án với anh thật vô tội và qua cung cách của Ngài, anh tin phải là Đấng Thánh.  Nên chỉ một tia sáng từ thập giá Chúa chiếu ra đã làm rực sáng đức tin của anh.  Anh đã thấy thập giá, anh đã tin vào giá trị của thập giá, và biết Đấng bị đóng đinh là ai, nên anh mới xin Ngài nhớ đến anh khi Ngài về nơi vương quốc của Ngài.

Như vậy, trên núi Sọ, đám đông dân chúng đòi Chúa xuống khỏi thập giá, thì người trộm lại đòi được đưa lên.  Quần chúng cầu mong Chúa thuyết giảng một thứ tôn giáo không thập giá, còn người trộm lại tìm được niềm tin khi bị treo trên thập giá.  Phải chăng sự hối cải của người trộm là chìa khóa, là gương mẫu cho sự hối cải của chúng ta ngày nay?

Kể từ khi thập hình của người Rô ma được áp đặt cho Chúa Giêsu, thì thập giá đã trở thành Thánh giá, và bóng Thánh giá của Ngài đã bao trùm cả trái đất.  Không ai có thể đứng ngoài bóng mát của Thánh giá.  Không ai có thể ở ngoài vòng lôi kéo của Chúa Giêsu.  Không bao giờ con người có thể loại bỏ Chúa ra khỏi lịch sử của mình nữa.

Thánh giá không chỉ được dựng lên trên nóc nhà thờ, trong cung thánh hay trong nhà của người tín hữu mà còn phải được tôn vinh giữa phố chợ, ở khắp mọi nơi.  Chúa Giêsu đã không bị đóng đinh trong một thánh đường, giữa hai hàng nến cháy, nhưng trên thập giá giữa hai người trộm cướp.  Ngài đã bị treo lên giữa ngã ba đường để cho mọi người qua lại đều nhìn thấy.  Ngài đã chết trước sự chứng kiến của mọi người.  Ngài đã chết cho mọi người.  Ngài đã chết cho từng người trong nhân loại.  Ngài đã chết nhân danh chúng ta để chúng ta được qui tụ vào gia đình con cái của Thiên Chúa.

Khi chiêm ngắm thập giá của Đấng Phục Sinh, chúng ta không ngừng nghe vang dội từ thập giá ấy lời nhắc nhở về một tình yêu thương cao cả dành cho tất cả chúng ta, cũng như nhắc nhở về những tội lỗi chúng ta đã phạm để thúc giục chúng ta ăn năn sám hối. Do đó, sự hối cải của người trộm lành là gương mẫu cho sự hối cải của chúng ta.

Đúng thế, ở trần gian chỉ có một điều xấu xa hơn tội lỗi, đó là không nhìn nhận tình trạng tội lỗi của mình.  Không có bệnh, chẳng ai tìm đến bác sĩ.  Cũng vậy, không nhận mình tội lỗi, chẳng ai đi tìm Chúa Cứu Thế.  Chỉ khi nào cho mình là dại dột hay chỉ khi nào bắt đầu công nhận mình là người tội lỗi, đó là lúc khởi sự bước vào con đường của người trộm lành đưa đến hối cải.  Biết mình tội lỗi, đó là điều kiện để hối cải, cũng như biết mình bệnh hoạn là điều kiện để chữa trị.

Trong Mùa Chay này, chúng ta hãy đến với Chúa và hạ mình xuống như người trộm lành, nhìn nhận mình là người tội lỗi và tin tưởng vào lòng khoan dung của Chúa, thì kể cả trong tình trạng xấu xa nhất, chúng ta vẫn được Chúa thương yêu tha thứ.

Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP