KHI HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN CÓ SÓNG GIÓ

KHI HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN CÓ SÓNG GIÓ

 Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn

Vào khoảng năm 860 trước công nguyên, vương quốc Israel bị ảnh hưởng bởi tà giáo.  Vua Ahab và hoàng hậu Izabel nuôi dưỡng hàng ngàn tiên tri Baal.  Nhiều đền thờ thần thoại được xây lên.  Dân chúng cũng hùa theo việc cúng bái Baal.  Nhưng tiên tri của Giavê Thiên Chúa là Êlia vẫn can đảm đương đầu với đám đông phản trắc để bênh vực chính giáo.

Một mình ông dám thách thức 450 tiên tri Baal hãy chứng minh cho toàn dân biết đâu là Chúa thật.  Êlia bảo người ta bắt hai bò tơ để đôi bên cùng xẻ thịt, đặt lên củi, và khẩn cầu.  Thần linh nào đáp lời nguyện xin, cho lửa xuống thiêu cháy đống củi cùng của lễ, thì đó chính là Đấng mọi người phải tôn thờ.

Sau khi giết bò và chất lên bàn thờ, 450 tiên tri và tư tế Baal bắt đầu kêu khấn: “Lạy thần Baal, xin đáp lời chúng tôi.” Nhưng không một tiếng trả lời!  Họ bắt đầu nhảy nhót như kiểu lên đồng.  Nhưng cũng chẳng thấy ai đáp lại!  Êlia mới chế nhạo: “Các ngươi phải kêu lớn lên nữa.  Không chừng thần linh đang suy tính hay bận rộn chuyện gì; cũng có thể ngài đi vắng hoặc đang ngủ.  Đánh thức ngài dậy đi!”  Các môn đệ thần Baal ra sức kêu gào, lại còn rạch mình cho máu chảy lai láng như kích động lòng trắc ẩn của thần linh.  Nhưng vẫn không thấy gì.

Lúc này Êlia mới giơ tay cầu nguyện: “Lạy Giavê Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Israel, ước gì hôm nay người ta nhận biết chính Người… xin nhậm lời tôi” (1 V 18,36-37), và lập tức Giavê cho lửa từ trời thiêu cháy hết mọi của lễ của Êlia.  Thấy vậy, toàn dân tung hô Thiên Chúa.  Thế rồi, khi được lệnh của Êlia, họ đem các tiên tri và tư tế Baal xuống núi giết sạch.

Chuyện xảy ra quá bất ngờ khiến hoàng hậu Izabel bàng hoàng căm tức.  Bà thề sẽ lấy mạng Êlia bằng mọi giá.  Khi biết thế, vị tiên tri tức tốc lên đường lánh nạn.  Sau một ngày trốn chạy vất vả trong vùng sa mạc khô khan, ông cảm thấy mệt mỏi chán chường.  Con người can đảm và nhiệt thành hôm nào bây giờ lại rơi vào tình trạng hoang mang cực độ đến nỗi muốn chết cho yên.  Ông thốt lên: “Nay đã đủ rồi, lạy Giavê, xin cất mạng tôi đi, tôi cũng không hơn gì các bậc tổ tiên.”

Người hùng của Thiên Chúa mà cũng có lúc đảo điên như thế thì huống chi là tôi!  Thế nhưng câu chuyện không chỉ dừng lại ở đó.  Kinh thánh kể tiếp:

Chính trong giây phút giao động và chán nản đó của người hùng, sứ thần Thiên Chúa đã đến nâng đỡ ông bằng bánh và nước.  Êlia đã ăn và uống.  Sau đó tiếp tục hành trình 40 ngày đêm đến núi Sinai.  Tại đây ông đi vào cuộc gặp gỡ và đối thoại với Thiên Chúa.  Cuộc gặp gỡ xảy ra không phải trong bão tố, đất động hay lửa chớp, nhưng trong làn gió thoảng đưa.

Từ trong làn gió thoảng ấy, Thiên Chúa cất lời nâng đỡ và chỉ dẫn Êlia.  Cuộc gặp gỡ thân tình với Giavê đã kéo ông khỏi hố sâu của lao đao thất vọng.  Kết quả, Êlia tìm lại được bình an và sức mạnh nội tâm, tiếp tục ra đi chu toàn sứ mạng làm chứng cho Thiên Chúa.

Thiết tưởng hành trình đức tin của người Kitô hữu cũng có những lúc khốn khó lao đao như Êlia vậy.  Dù là người nhiệt tâm và can đảm cách mấy cũng không tránh khỏi tình trạng bị thế gian săn đuổi, đe dọa, và bao chước cám dỗ tấn công.  Lắm lúc tưởng như sắp chìm sâu trong bão tố của hận thù, ích kỷ, đam mê.  Ngay như thánh Phêrô, vị tông đồ năng nổ và xông xáo nhất trong hàng ngũ các tông đồ, cũng đã từng bị sóng gió làm đảo điên đến nỗi “sắp chìm xuống” (Mt 14,30).  Nhưng khi ông thốt lên lời kêu van, “Lạy Thầy, xin cứu con”, thì bàn tay đỡ nâng của Thiên Chúa đã giải thoát và đem lại bình an ngọt ngào.

Cho đến hôm nay, những người theo Đức Kitô vẫn chưa hết bị sóng gió trần gian bủa vây, không chỉ là những truân chuyên trong cuộc sống, nhưng còn là những cám dỗ tinh vi của quỷ ma.  Nhưng liệu trước các phong ba dữ dằn đó, tôi có nghe được tiếng nói đỡ nâng và nhắc nhở của Thiên Chúa chăng?  Lắm khi tiếng nói của Ngài rất nhẹ nhàng như “gió hiu hiu thổi” chứ không phải như tiếng đất động, bão tố hay hỏa hoạn.

Thử hỏi: nếu là một thanh niên hay thiếu nữ đang tuổi lớn lên, trước những lời réo gọi của đam mê xác thịt, liệu tôi có nghe được tiếng nhắc nhở “phúc cho ai có lòng trong sạch” nơi lương tâm để vượt thoát cạm bẫy dục tình và tiến lên núi cao với Chúa không?

Nếu vì nhẹ dạ mà sa ngã hay mang thai, trước những sóng gió của từ khước khinh bỉ, hay giòng xoáy phá thai của thời đại muốn nhận chìm sự sống, liệu tôi có nghe được tiếng bảo thì thầm trong lương tâm rằng “phá thai là giết người,” và rồi hướng nhìn lên Chúa, kêu nài một sự đỡ nâng an ủi không?

Nếu là người mẹ có đứa con hư dại hay người vợ có ông chồng hủ bại, liệu tôi có nghe được lời nhắc nhở “hãy vững tin” của Đức Giêsu để tiếp tục hành trình làm nhân chứng cho đạo Chúa không?

Nếu là người cha phải lao đao vì trách nhiệm gia đình, bị giông tố của xã hội tấn công, bị chèn ép, hiểu lầm, khích bác…, liệu tôi có nghe được tiếng nói “Đừng sợ, có Ta đây”, và rồi đưa tay cho Đức Giêsu để Ngài kéo lên không?

Cuộc đời người Kitô hữu được ví như hành trình tiến lên núi Thánh giữa sa mạc nắng cháy, hay như chiếc thuyền đang tìm về bến bờ giữa bao sóng to, gió ngược.  Không có ơn Chúa đỡ nâng, chắc chắn con người sẽ ngã gục.  Cũng như nếu không có những chiếc bánh và ấm nước Thiên Chúa trao cho, Êlia đã bỏ cuộc giữa đường; hay nếu không có bàn tay Đức Giêsu giơ ra kéo lên, Phêrô đã chìm sâu trong sợ hãi và hoang mang.

Song khi có Chúa, bình an và sức mạnh sẽ đến.  Dù giông tố và thách đố trần gian cứ xảy ra, con thuyền đời tôi vẫn thẳng tiến, vì có Thiên Chúa đồng hành.

Nhưng để được như thế, có lẽ tôi phải không ngừng kêu lên: “Lạy Chúa, xin cứu con” (Mt 14,30).

Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn

From: Langthangchieutim

Con người ta chết có phải là hết hay không?

https://www.facebook.com/suthatvatruyenthong/videos/902216540296614/?t=8

Tinh Hoa TV

Con người ta chết có phải là hết hay không?

Đã có rất nhiều nhà khoa học cùng biết bao máy móc hiện đại chỉ để tập trung khám phá bí ẩn của mộng mị… Và điều kỳ lạ trong những giấc mơ xảy ra thật nơi hiện thực vẫn khiến không ít người chúng ta phải trăn trở, suy nghĩ…

Nguồn: ĐKN.

Bác sĩ Rajiv Parti: Trải nghiệm cận tử và thông điệp mang về từ địa ngục.

Phan Thị Hồng is with Hoang Le Thanh and Kieu Loan.
Đọc và cảm nhận – Những cái chết lâm sàng – những nghiên cứu khoa học và lời kể của những con người đã trải qua cận tử.

Tôi và bạn có thể/hoặc từng là một người hết sức ích kỷ.

Cần phải thay đổi phương thức hành xử với người khác.

– “Tôi từng là một người hết sức ích kỷ”,

– “Dù là một bác sỹ có kỹ thuật tốt, nhưng tôi không có sự đồng cảm với những người bệnh.”

Xin mời các bạn cùng đọc:

*

Bác sĩ Rajiv Parti: Trải nghiệm cận tử và thông điệp mang về từ địa ngục.

Tác giả: Minh Ngọc

Trí thức VN 27/07/2017 •

Một vị bác sĩ tin rằng ông đã thực sự đi xuống địa ngục và sau đó quay trở lại nhân gian. Trải nghiệm đầy kinh ngạc này cũng đã mở ra một trang hoàn toàn mới cho cuộc đời của ông.

Ảnh 1: Bác sĩ người Ấn Độ Rajiv Parti hiện đang sống ở California (ảnh chụp/Youtube).

Ảnh 2: Hình bìa cuốn sách Dying To Wake Up (Tạm dịch: Chết để thức tỉnh) của bác sĩ Rajiv Parti.

Trước đây, vị tiến sĩ gốc Ấn Độ Rajiv Parti, từng là một bác sĩ thành công trong đỉnh cao sự nghiệp, ông kiếm được rất nhiều tiền, muốn gì có nấy, nói một cách khác thì cuộc sống vô cùng sung túc. Ông là một bác sĩ, trưởng khoa gây mê hồi sức tại Bệnh viện Tim Bakersfield ở California.

Qua nhiều năm làm nghề y, ông đã được nghe nhiều bệnh nhân chia sẻ về trải nghiệm linh hồn xuất ra khỏi thân thể nhưng ông vẫn luôn không để tâm, cho đến tận khi bản thân ông thể nghiệm được cảm giác cận tử.

Năm 2008, bác sĩ Rajiv Parti từng bị chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt. Ông đã trải qua nhiều ca phẫu thuật để cắt bỏ khối u, nhưng bệnh trạng ngày càng trầm trọng. Hai ngày trước Lễ Giáng sinh năm 2010, ông trở bệnh và có các triệu chứng sốc nhiễm khuẩn, phải nhập viện và phẫu thuật khẩn cấp một lần nữa.

Rajiv Parti kể lại, chính là trong lần phẫu thuật này, linh hồn của ông đã rời khỏi thân thể, đi đến địa ngục. Ông có thể nhìn thấy bản thân mình nằm trên bàn mổ, sau này còn thuật lại được những lời tán dóc mà các bác sĩ phẫu thuật lúc đó nói với nhau.

Trong cuốn sách Dying To Wake Up (Tạm dịch: Chết để thức tỉnh) của mình, ông đã viết: “Tôi có thể dễ dàng hồi tưởng lại toàn bộ quá trình trải nghiệm cận tử của mình. Tại biên giới của địa ngục tôi đã gặp người cha quá cố của mình, cũng nhìn thấy được một vài kiếp sống mình từng trải qua, những điều này đã giải thích đầy đủ những khúc mắc tâm lý trong đời tôi. Tôi còn vinh hạnh gặp hai vị giám hộ thiên sứ Raphael và Michael, toàn thân họ bao phủ bởi ánh sáng rực rỡ, họ bước ra từ một biển hoa, trên thân tỏa ra một sức mạnh thiện lương chân chính khó có thể biểu đạt bằng lời.”

Bác sĩ Patty cũng nhớ lại, khi cận kề cái chết, các thiên sứ nói với ông cần phải thay đổi phương thức hành xử với người khác. “Tôi từng là một người hết sức ích kỷ”, ông nói, “Dù là một bác sỹ có kỹ thuật tốt, nhưng tôi không có sự đồng cảm với những người bệnh.”

“Khi ý thức của tôi rời khỏi thân thể, tôi có thể nhìn thấy cảnh tượng phẫu thuật mình, có thể ngửi thấy mùi thuốc sát trùng, nghe được từng lời các bác sĩ phẫu thuật nói.”

Các bác sĩ phẫu thuật cho rằng đã gây mê Rajiv Parti chưa đủ sâu, nên khi phẫu thuật rơi vào tình trạng nửa tỉnh nửa mê. Nhưng Rajiv Parti khẳng định: “Tôi không hề cảm thấy đau đớn, nên tôi biết rằng không phải như vậy.”

Rajiv Parti còn thấy mẹ và em gái. Mẹ ông mặc bộ đồ truyền thống sari (trang phục truyền thống của phụ nữ Ấn Độ), em gái thì mặc quần bò, áo lửng màu xanh đang ngồi ở nhà. Họ đang cùng chuẩn bị bữa tối. Tiếp đó, ông thấy cảnh tượng u ám, những đám mây đen kịt, sấm sét, một ánh lửa lóe lên và sự xuất hiện của những con vật có sừng dài. Ông còn nhìn thấy cả bệnh nhân cũ và những người mà ông từng cáu giận với họ.

Khi nhìn thấy cảnh tượng khủng khiếp tại biên giới địa ngục, ông đã tự hỏi bản thân: “Tại sao mình lại ở đây? Mình đã làm những gì mà lại phải đến cửa địa ngục thế này?” Ông nghĩ lại: “Mình không đối xử tốt với các bệnh nhân của mình. Khi gặp gỡ người khác, mình luôn nghĩ xem có thể nhận được thứ gì tốt đẹp từ họ không?” Nỗi sợ hãi dâng trào, và trong cơn tuyệt vọng khi sắp bị kéo vào đại ngục, ông đã cầu nguyện một cơ hội để chuộc lại những lỗi lầm.

Lúc đó, cha của Rajiv Parti đã hiện ra và đưa ông tới một đường hầm đầy ánh sáng, “Nơi đó ngập tràn ánh sáng mặt trời, nhưng lại không khiến người ta chói mắt.” Người cha trong ký ức thời thơ ấu của ông luôn khắt khe và độc đoán ấy đã ôm ông vào lòng và nói rằng chỉ có tình yêu thương là điều đáng trân trọng nhất trên thế giới này.

Sau cùng, hai thiên sứ Michael và Rapheal đã đưa ông đến một nơi rực rỡ ánh sáng. Các thiên sứ khi ấy đã chỉ cho ông một hướng nhân sinh mới: “Hãy thay đổi cách đối xử với mọi người, thay đổi cách hành xử với bệnh nhân”. Họ cũng nói: “Hiện tại đã đến lúc điều trị các loại bệnh trong tâm ông rồi: Đó chính là bệnh nghiện uống thuốc, trầm cảm, các bệnh mãn tính và ung thư”.

Sau khi trở về, vị bác sĩ này cho rằng ông có sứ mệnh kể lại những trải nghiệm trong địa ngục cũng như bài học giáo huấn mà ông nhận được. Ông bỏ nghề bác sĩ, bán hết tài sản kể cả căn nhà sang trọng và hàng loạt xe hơi giá trị để sống một cuộc sống thanh đạm. Ông khẳng định:

“Mục đích nhân sinh hiện tại của tôi chính là truyền lại những chân lý này cho người khác.”

Thông qua cuốn sách “Dying to Wake Up” và những trải nghiệm cận tử chân thực, Rajiv Parti hy vọng có thể giúp những ai đang đau khổ trầm luân có thể tìm ra đáp án nhân sinh cho mình.

Nhiều người trong chúng ta sẵn sàng tin vào linh hồn bất diệt, cũng hy vọng cuộc sống kiếp sau có thể hạnh phúc vui vẻ. Hy vọng quyển sách này có thể trở thành một động lực để cho nhiều người học theo, tránh làm hại người khác nữa.

Trong lịch sử nhân loại có nhiều nền văn minh tin rằng thiện ác hữu báo. Thiên Chúa giáo cũng giảng làm người tốt có thể lên thiên đường, Phật giáo chú trọng giảng tu thiện. Cổ nhân cũng có câu “gieo nhân nào gặp quả nấy”, những triết lý này kỳ thực đều khuyến đạo, hướng con người ta duy trì những tiêu chuẩn đạo đức tốt đẹp.

Minh Ngọc

———————

Xem thêm:

>> Nghiên cứu hàng ngàn trải nghiệm cận tử: Tinh thần con người độc lập với bộ não

>> Nghiên cứu lớn nhất về trải nghiệm cận tử: Những ký ức khi tim đã ngừng đập.

>> Cựu chiến binh Mỹ kể lại trải nghiệm cận tử trong chiến tranh Việt Nam (video)

—————
Nguồn: Trí thức VN
https://m.trithucvn.org/…/bac-si-rajiv-parti-trai-nghiem-ca…

* * *

Mời tham khảo:

>> Chuyến du hành đến địa ngục của một người đàn ông Tây phương

>> 4 trải nghiệm cận tử nổi tiếng kể về hành trình đi vào địa ngục

>> Nghiên cứu hàng ngàn trải nghiệm cận tử: Tinh thần con người độc lập với bộ não

>> Cô bé thấy “hồn lìa khỏi xác” trong lúc bị ngạt nước

Link: https://m.trithucvn.org/…/chuyen-du-hanh-den-dia-nguc-cua-m…

Image may contain: 1 person, standing, suit and outdoor
Image may contain: text that says 'DYING to WAKE UP A Doctor's Voyage into the Afterlife and the Wisdom He Brought Back RAJIV PARTI, M.D. with PAUL PERRY FOREWORD BY RAYMOND MOODY, MD'

Xin cứu con trong giờ lâm tử

Giáo xứ Cần Giờ – DCCT

Xin cứu con trong giờ lâm tử

Thánh Anphongsô kể tiếp một truyện nữa:

Cha Razzi, Camaldule, thuật truyện một thanh niên mồ côi cha sớm. Mẹ chàng gửi chàng vào hầu cận một vị hoàng tử. Bà vốn có lòng yêu mến Đức Mẹ, nên lúc từ giã con, bà đã cẩn thận dặn dò con và bắt hứa với bà hằng ngày phải đọc một kinh Kính Mừng và thêm câu:

– Lạy Đức Nữ trinh đầy phúc đức, xin cứu giúp con trong giờ lâm tử.

Rồi chàng vào đền ông hoàng. Chàng hoang phí đài các đến nỗi ông phải bó buộc thải chàng ra. Thất vọng vì thấy không còn phương sách cứu chữa, chàng nhập bọn du thủ du thực, ăn cướp, giết người, nhưng vẫn trung thành với điều đã hứa với mẹ. Ít lâu sau chàng sa lưới pháp luật. Toà lên án tử hình.
Đêm trước ngày bị hành quyết, chàng thườn thượt bó gối trong tù ôn lại dĩ vãng.

Chàng than thân trách phận vì bị ô danh, vì làm ưu phiền cho mẹ và vì cái chết đang chờ. Bỗng ngước lên, chàng thấy một trang thanh niên ra dáng công tử niềm nở hỏi chào. Thanh niên này nói mình đến cốt để cứu chàng thoát tù tội và thoát cả chết nữa. Chàng vui mừng.

Người thanh niên ra cho chàng những điều kiện phải giữ. Chàng ưng thuận. Thanh niên bèn xưng mình là quỷ và bảo chàng nếu muốn thoát thì phải chối Chúa Giêsu và các phép Bí tích. Chàng cũng ưng thuận. Quỷ lại bắt chàng phải chối cả Đức Mẹ và không được xin Người hộ phù nữa. Chàng kêu lên:

– Thế thì chả chơi, không bao giờ tôi chịu làm thế.

Rồi ngước nhìn lên Đức Mẹ, chàng đọc lại lời kinh vắn tắt mẹ chàng đã dặn:

– Lạy Đức Nữ trinh đầy phúc đức, xin cứu giúp con trong giờ lâm tử.

Vừa nghe lời đó, quỷ biến hút, để mặc chàng chìm ngụp vào một nỗi phiền sầu cay cực vì đã chối Chúa. Nhưng chàng lại chạy đến với Mẹ Maria. Mẹ cầu xin được cho chàng ơn thống hối tội lỗi. Rồi đầm đìa nước mắt mà xưng tội với một lòng ăn năn tuyệt hảo.

Lúc điệu chàng từ ngục thất ra xử án ở giảo hình đài, trên  lối đi, chàng gặp một tượng Đức Mẹ. Chàng cúi đầu chào và đọc lại lời kinh quen đọc:

– Lạy Đức Nữ trinh đầy phúc đức, xin cứu giúp con trong giờ lâm tử.

Đột nhiên dân chúng kêu lên vang ầm. Họ vừa chứng kiến một sự lạ: tượng Đức Mẹ cũng cúi đầu ưng thuận. Rất mực xúc cảm, chàng xin cho phép đến hôn chân Đức Mẹ. Lính áp giải chối từ, nhưng vì dân chúng cũng rất mực thương xin cho, họ mới bằng lòng.

Lúc chàng thanh niên cúi xuống hôn, tượng Mẹ liền giơ tay ôm lấy chàng, chặt đến nỗi không thể gỡ nổi. Dân chúng chứng kiến sự lạ kêu lên:

– Xin ân xá ! Xin ân xá cho hắn !

Chàng được ân xá. Trở về quê hương, chàng thanh niên ấy sống một đời gương mẫu, trung thành phụng sự Đức Mẹ, Đấng đã cứu chàng thoát chết cả hai phần.

Image may contain: one or more people, people dancing and text

PHÉP LẠ CỦA SỰ LẮNG NGHE

PHÉP LẠ CỦA SỰ LẮNG NGHE

 Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Mỗi lần được nghe bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta thường liên tưởng đến phép lạ Chúa hoá bánh ra nhiều hay là hình ảnh tiên báo về bí tích Thánh Thể.  Đây là cái nhìn thông thường.  Thế nhưng, theo tường thuật của thánh Mat-thêu, phép lạ đã diễn ra ngay từ lúc đám đông tìm kiếm Chúa.  Họ vượt qua mọi trở ngại của ngăn sông cách núi.  Họ rỉ tai nhau.  Họ lũ lượt mời gọi nhau lên đường tìm kiếm Chúa.  Họ đến với Chúa không phải vì miếng ăn.  Họ không xin Chúa bánh ăn.  Họ tìm Chúa để được nghe lời Người rao giảng.  Họ muốn tìm ra chân lý của cuộc đời.  Họ muốn hiểu về giá trị và mục đích của cuộc sống.  Thực sự họ đã say mê khi nghe Chúa giảng về Nước Trời.  Họ đã bị lôi cuốn bởi lời rao giảng của Chúa đến mức độ quên cả thời gian.  Trời đã tối mà xem ra đám dân chúng này vẫn chưa muốn rời xa Chúa.  Họ vẫn muốn được nghe lời hằng sống phát ra từ môi miệng Chúa.

Thánh Matthêu còn kể tỉ mỉ là số lượng khoảng trên 5.000 người đàn ông, không kể phụ nữ và trẻ em.  (Nếu tính tổng cộng phải trên 10.000 người).  Đây cũng là một sự kiện lạ.  Một sự kiện mà cho tới hôm nay dù rằng có âm thanh hỗ trợ, có phương tiện tối tân vẫn khó khăn truyền tải sứ điệp đến với thỉnh giả tại bãi biển đầy sóng gió ồn ào.  Nơi mà người ta nói “ăn sóng nói gió,” phải nói thật to, phải gào thật lớn mới nghe được nhau.  Thế mà, lời rao giảng của Chúa Giê-su lại đến với tai mọi người.  Mặc dù không micro, không loa phóng thanh.  Ngài nói trong gió trời lồng lộng, trong sóng vỗ miên man mà ai cũng nghe được.  Ai cũng hiểu.  Ai cũng say sưa nghe giảng.  Quả thực, đây là một phép lạ!  Phép lạ của sự tôn trọng và lắng nghe.  Họ tôn trọng Chúa là người đang nói và cũng tôn trọng tha nhân là người đang lắng nghe.  Thông thường ai cũng muốn nói, nhưng ở đây hầu như ai cũng muốn lắng nghe.  Chính nhờ thế mà đám đông đã tạo thành một không gian thanh bình, một nơi chốn của thinh lặng cho con tim rung cảm chan hoà yêu thương và tôn trọng lẫn nhau.

Và hôm nay phép lạ đó vẫn có thể tái diễn trong cuộc sống khi chúng ta biết lắng nghe, tôn trọng lẫn nhau.  Khi mỗi người biết nhường nhịn nhau và tha thứ cho nhau.  Thế giới hôm nay rất cần phép lạ này để thế giới được thanh bình hơn.  Để con người biết đối thoại với nhau trong chân thành, cởi mở và yêu thương.  Một thế giới mà con người biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của nhau, đó cũng là một thế giới hòa bình, một thế giới của bình an mà người người biết trao cho nhau niềm vui và hoan lạc hạnh phúc.  Một thế giới mà còn đầy những hiềm khích, nói xấu, bỏ vạ cáo gian thì làm sao có những giây phút bình yên.  Kẻ gieo gió đã gây tai họa tổn thất cho người khác và chính họ cũng sẽ không có được tâm hồn thanh thản bình an.

Một gia đình hạnh phúc là một gia đình biết lắng nghe nhau.  Vợ chồng lắng nghe nhau trong chân thành cởi mở.  Con cái vâng lời cha mẹ.  Kính yêu ông bà và cùng nhau kiến tạo một gia đình hạnh phúc yêu thương.  Một thôn ấp văn hóa là một thôn ấp người người biết nhường nhịn nhau.  Tối lửa tắt đèn có nhau trong sự chia cơm sẻ áo.  Không thể có một ấp văn hóa nếu hàng xóm láng giềng vẫn lời qua tiếng lại.  Chê bôi, dè bửu nhau.  Chỉ gây thêm hận thù.  Đánh mất truyền thống tổ tiên. “Thương người như thể thương thân.  Người trong một nước phải thương nhau cùng.”  Một xứ đạo hiệp nhất là một xứ đạo cảm thông tha thứ và sống chan hòa tình huynh đệ.  Một xứ đạo đúng nghĩa phải mô phỏng lại lối sống của cộng đoàn Giáo hội thời sơ khai mà sách tông đồ công vụ đã ghi lại.  “Ngày ngày họ chuyên chăm cầu nguyện, lắng nghe lời các tông đồ giảng dạy và gom góp của cải thành của chung.”  Một con người biết đóng góp và xây dựng giáo xứ trước tiên phải hỏi chính mình: “Tôi đã làm gì cho giáo xứ,” hay tôi chỉ là một lữ khách, sống bàng quan với công việc của giáo xứ.

Nét đẹp của Bài Phúc âm hôm nay không chỉ dừng lại ở việc con người biết lắng nghe và tôn trọng nhau mà còn quan yếu ở chỗ sự chia sẻ lương thực được trao tặng cho nhau.  Cho dù chỉ với phần lương thực quá ít ỏi của một đứa bé.  Thế nhưng, với 5 chiếc bánh và hai con cá được trao ban từ lòng quảng đại đã được Chúa nhân lên đến nỗi nuôi đủ 5 ngàn người ăn, không kể đàn bà và trẻ con.

Xin Chúa giúp chúng ta luôn quảng đại cho đi chính bản thân của mình, để trở nên nguồn sống cho tha nhân.  Xin giúp cho mỗi người chúng ta luôn biết cho đi chính sự sống mình để gieo mần sống đức tin cho các thế hệ mai sau.  Xin cho chúng ta luôn đơn sơ nhỏ bé ngõ hầu dễ dàng lắng nghe và tôn trọng lẫn nhau để xây dựng một thế giới văn mình tràn đầy tình thương.  Amen!

 Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

CÂU HỎI CỦA NGƯỜI HUẤN LUYỆN VIÊN

CÂU HỎI CỦA NGƯỜI HUẤN LUYỆN VIÊN

 

Lm. Mark Link S.J

Cách đây ít lâu có tạp chí nọ đăng một câu chuyện kể về những thiếu niên thuộc câu lạc bộ bơi lội Santa Clara.  Mỗi buổi sáng họ đều dậy lúc 5 giờ 30 và vội vã băng qua bầu không khí lạnh lẽo chạy đến chiếc hồ phía bên ngoài.  Ở đó chúng bơi suốt hai giờ đồng hồ.  Sau đó chúng tắm lại ở vòi sen, ăn sơ sài chút ít rồi vội vã đến trường.

Sau khi ở trường ra, chúng quay lại hồ bơi thêm hai tiếng nữa.  Tới 5 giờ, chúng lẹ làng trở về nhà, vùi đầu vào sách vở, ăn bữa tối trễ và mệt lả leo lên giường.  Sáng hôm sau chuông báo thức lại vang lên vào 5 giờ 30 và chúng lại bắt đầu toàn bộ công việc như thế.  Khi được hỏi tại sao họ lại chấp nhận tuân theo một thời biểu kỷ luật đến như thế, một cô gái đã trả lời: “Mục đích của tôi là gia nhập đội thi Olympics.  Nếu như đi dự tiệc mà phương hại đến mục đích ấy thì đi dự tiệc làm gì?  Chẳng có gì là quá đáng trong việc tập luyện ấy cả.  Tôi càng bơi được nhiều dặm thì tôi càng bơi khá hơn.  Sự hy sinh là điều dĩ nhiên.”

Giả sử Chúa Giêsu sống vào thời đại này chứ không sống vào 30 năm đầu công nguyên, thì bài Phúc Âm hôm nay có lẽ đã rất khác.  Thay vì nói về tay buôn ngọc hy sinh tất cả để mua cho được viên ngọc cực kỳ quí giá hoặc một bác nông gia bán đi tất cả để mua miếng đất có ẩn giấu kho tàng, có lẽ Chúa Giêsu đã nói về một vận động viên bơi lội ở câu lạc bộ Santa Clara sẵn sàng hy sinh tất cả để được gia nhập đội thi Olympics.

Tại sao tôi lại nói điều này?  Có gì tương quan giữa tay buôn ngọc, gã tìm kho báu, và một vận động viên bơi lội ở Santa Clara?  Ba người này có điểm gì chung?

Có một điểm chung là cả ba đều dấn thân trọn vẹn cho một giấc mơ.  Cả ba đều sẵn sàng hy sinh tất cả mọi sự cho mục đích mà họ đã đặt ra.  Trường hợp ngươi buôn ngọc là mua cho bằng được một viên ngọc hoàn hảo.  Trường hợp người đi kiếm kho báu là mua cho được một kho báu hiếm.  Còn trường hợp vận động viên bơi lội ở Santa Clara là làm sao để được gia nhập đội thi đấu Olympics.

Ðiều này dẫn chúng ta đến chủ điểm mà Chúa Giêsu muốn nêu ra cho chúng ta trong bài Phúc Âm hôm nay.  Chủ điểm đó là: Muốn làm công dân nước trời, chúng ta phải dấn thân triệt để.  Chúng ta không thể theo đuổi việc ấy như khi làm một công việc ngoài giờ.  Chúng ta không thể làm việc ấy như khi làm một công việc tiêu khiển.  Chúng ta phải dấn thân vào đó trăm phần trăm, phải xem nó là ưu tiên số một của cuộc đời chúng ta.

Người Kitô hữu cũng giống như một tay buôn ngọc, một kẻ tìm kho báu, hay như một vận động viên bơi lội ở Santa Clara.  Nó đòi hỏi sự dâng hiến và dấn thân trọn vẹn.  Tuy nhiên, có một điểm khác biệt lớn lao giữa một Kitô hữu và ba người kia.  Thánh Phaolô đã nêu sự khác biệt này trong thư gởi tín hữu Côrintô: “Mọi vận động viên trong thời kỳ tập luyện đều phải tuân theo một kỷ luật nghiêm khắc chỉ để được khoác lên đầu vòng hoa vinh quang chóng lụi tàn, còn chúng ta chịu gian khổ là để đoạt được vòng hoa vinh quang tồn tại vĩnh viễn” (1 Cr 9: 25).

Ðó chính là điểm khác biệt.  Phần thưởng của tay buôn ngọc, kho báu của gã nông gia, huy chương của vận động viên đều có thể tàn lụi.  Khi tay buôn ngọc chết đi, viên ngọc chả còn giá trị gì đối với anh ta nữa.  Khi người nông gia chết đi, của báu của anh cũng sẽ thành vô dụng đối với anh cũng như chiếc chum đựng của báu ấy thôi.  Và khi người vận động viên chết đi thì tấm huân chương của cô cũng chỉ còn là một vật lưu niệm của cô đối với gia đình và bà con cô thôi.  Nhưng khi các Kitô hữu chết, thì nước trời sẽ toả sáng hơn, sáng hơn, sáng hơn mãi.  Vào lúc chết thì chỉ có một điều là đáng kể.  Ðó không phải là viên ngọc quí, kho báu hiếm hay chiếc huy chương vàng mà chúng ta đã có được lúc còn sống.  Ðiều đáng kể chỉ là chúng ta đã trở thành cái gì trong tiến trình cố gắng tìm viên ngọc, tậu của báu hoặc tranh giành huy chương.

Một đội bóng rổ thuộc một trường trung học ở Chicago vừa mới tổ chức thánh lễ trước khi đi dự cuộc tranh giải thể thao của tiểu bang.  Trong bài giảng lễ, vị linh mục nói là trong 10 năm tới, điều quan trọng đối với mùa bóng rổ của họ sẽ không hệ tại việc họ là quán quân hay không.  Sự quan trọng là điều mà họ sẽ trở thành trong tiến trình cố gắng đoạt tước hiệu ấy.

Họ có trở thành người tốt hơn không?

Họ có yêu thương nhiều hơn không?

Họ có trung tín với nhau hơn không?

Họ có tận tâm hơn không?

Họ phát triển thành một đội bóng đoàn kết hay như những cá nhân ích kỷ?

Sau thánh lễ, vị linh mục vào phòng thánh thay áo lễ.  Chợt ngài nghe huấn luyện viên nói với các vận động viên:

“Hãy ngồi xuống đây một phút.  Vị linh mục đã nói mấy điều khiến tôi bối rối.  Tôi tự hỏi không hiểu tôi đã giúp các bạn trở nên người như thế nào trong quá trình luyện tập để tranh giải trong kỳ đại hội thể thao này.

“Quí bạn có trở nên người tốt hơn không?

Quí bạn có yêu thương nhiều hơn không?

Quí bạn có trung tín với nhau hơn không?

Quí bạn có tận tâm hơn không?

Quí bạn sẽ phát triển thành một đội bóng đoàn kết hay chỉ thành những cá nhân rời rạc?

Nếu làm được như thế, thì dù kết quả cuộc tranh đua thế nào, chúng ta cũng vẫn là thành công.  Còn nếu không làm được như thế thì chúng ta đã làm cho Chúa thất vọng.  Làm cho trường chúng ta thất bại, đồng thời cũng làm cho nhau thất bại nữa.  Tôi hy vọng Chúa không để chúng ta thất bại.  Tôi cầu xin Chúa để chúng ta khỏi bị thất bại.

Bài phúc âm hôm nay đưa ra chủ điểm rất quan trọng sau: Không gì trên thế gian có thể chiếm vai trò ưu tiên hơn nước Chúa và sự đeo đuổi của chúng ta để đạt cho được nước ấy.  Bài Phúc Âm hôm nay bảo cho chúng ta biết điều đáng kể khi chúng ta chết không phải là chúng ta sắm được gì lúc còn sống mà là chúng ta đã trở nên như thế nào.  Nghĩa là:

Chúng ta đã yêu thương nhau chưa?

Chúng ta đã tha thứ cho nhau chưa?

Chúng ta đã giúp đỡ kẻ túng thiếu chưa?

Chúng ta đã an ủi kẻ đau khổ chưa?

Chúng ta đã biết đi thêm dặm nữa chưa?

Chúng ta đã biết chìa thêm má kia ra chưa?

Chúng ta đã dấn thân và trung tín với Chúa và với nhau hơn chưa?

Tôi hy vọng nhờ Chúa chúng ta sẽ làm được và tôi cầu xin Chúa giúp chúng ta làm được. B ởi vì nếu chúng ta không làm được như thế, chúng ta sẽ làm Chúa thất vọng, làm gia đình và bạn bè chúng ta thất vọng, còn chính chúng ta thì kể như đã thất bại rồi.

Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện:

Lạy Chúa xin ban cho chúng con biết dấn thân như vận động viên bơi lội Santa Clara kia là người đã làm việc không mệt mỏi để đoạt cho được một vị trí trong đội bơi thi Olympics.  Xin ban cho chúng con biết dấn thân như kẻ tìm kho báu là người đã bán tất cả mọi sự để mua miếng đất.  Xin ban cho chúng con biết dấn thân như người buôn ngọc nọ đã dành trọn vẹn cuộc đời để tìm cho được viên ngọc hoàn hảo.

 Nếu những người đó đã sẵn sàng hy sinh rất nhiều cho một phần thưởng hư nát, thì chúng con phải sẵn lòng hy sinh hơn cho phần thưởng mãi mãi trường tồn kia biết chừng nào.

 Lm. Mark Link S.J

 From: Langthangchieutim

“ĐỪNG SỢ” trong mùa Đại Dịch Toàn Cầu này

“ĐỪNG SỢ” trong mùa Đại Dịch Toàn Cầu này.

 Fx Nguyễn Văn Mơ

Làm thống kê sĩ số tổng kết những người ít lo sợ bị lây nhiễm Đại Dịch Bệnh Covid Wuhan – so sánh với sĩ số những người lo sợ nhiều, chắc chắn chúng ta sẽ thấy cán cân nghiêng hẳn về bên sợ là đại đa số, còn bên không sợ là thiểu số. Dịch bệnh Covid Wuhan đã, đang và còn hoành hành dữ dội, từ Á Châu sang Âu Châu, rồi sang đến Mỹ Châu. Cho đến nay,  dịch bệnh Covid Wuhan vẫn chưa có dấu hiệu thuyên giảm ở nhiều nơi, nhất là tại Hoa Kỳ còn cộng thêm bạo loạn chưa từng xảy ra khủng khiếp từ hồi lập Quốc tới giờ, bên Trung Quốc + thêm lụt lội kinh hoàng, rồi đến các Quốc gia châu Mỹ La Tinh như Ba Tây, Mễ Tây Cơ đang đứng đầu trong 213 Quốc Gia có nhiều người chết vì Dịch Bệnh Corona Wuhan. Tổ Chức Y Tế Thế Giới còn xác quyết  rằng dịch bệnh vẫn chưa có dấu hiệu nào chậm lại. Vậy mà bảo rằng:

* “ĐỪNG SỢ” trong mùa đại dịch toàn cầu này, tôi thấy chỉ có mình tự cứu mình bằng cách ý thức, cẩn trọng tối đa, tuân hành các qui luật  nghiêm ngặt của Chính Quyền điạ phương, có như thế may ra mới hy vọng bớt được lây lan Dịch Bệnh cực kỳ nguy hiểm gây chết người này.

* “ĐỪNG SỢ” quá đáng rồi gây ra lộn xộn trong gia đình. Lúc này là thời gian thử thách căm go nhất trong mọi gia đình vì nhiều lý do ảnh hưởng lớn lao đe doạ cuộc sống gia đình: cha mẹ mất công ăn việc làm, con cái phải học trực tuyến ở nhà, gia đình gặp khó khăn, eo hẹp về tài chánh, bị Chính Quyền ra lệnh Lockdown.

Mặc dù còn nhiều lý do hơn nữa đang tác hại đến hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên, cha mẹ là những người có thể giữ vững tay chèo và đưa con thuyền gia đình mình lướt trên sóng gió bình an, chính là nhờ tình yêu thương gắn bó, quyết tâm sống chết có nhau, nhất là các thành viên trong gia đình đều đặt hết niềm cậy trông vào Chúa.

How (Covid – 19) spread day by day

Cho Con Thấy Chúa – Sr Hiền Hòa [Lyric]:

https://www.youtube.com/watch?v=gt3gyjaYjjE

Để có đủ niềm tin, lòng trông cậy, hầu tăng thêm nghị lực cho chúng ta dẹp bỏ được những lo sợ đủ thứ do Đại Dịch Wuhan đang tác hại, làm cho muôn vàn gia đình sinh ra lộn xộn. Chúng ta cùng nhau lần giở lại trong Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước, rồi bình tâm đọc đi, đọc lại và suy ngẫm Lời Chúa và các Thánh Nhân của Ngài truyền thừa qua các trích dẫn sau đây:

ISAIA:

“Đừng sợ hãi: có Ta ở với ngươi. (Is 41: 10).

GIOSUE:

“Mạnh bạo lên, can đảm lên! Đó chẳng phải là lệnh Ta đã truyền cho ngươi sao? Đừng run khiếp, đừng sợ hãi, vì ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, sẽ ở với ngươi bất cứ nơi nào ngươi đi tới.” (Gs 1:9)

THÁNH VỊNH 49

17 Đừng sợ chi khi có kẻ phát tài,
hoặc cửa nhà tăng thêm vẻ phong lưu,

18 vì khi chết, nó đâu mang được cả,
kiếp vinh hoa chẳng theo xuống mộ phần. (Tv 49: 17-18)

 MATTHEW:

“Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục. Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải không? Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em. Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi. Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ. (Mt 10: 28-31) (Lk 12: 2-9).

“Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” (Mt 14: 27).

“Bấy giờ Đức Giê-su lại gần, chạm vào các ông và bảo: “Chỗi dậy đi, đừng sợ!” (Mt 17: 7).

“Thiên thần lên tiếng bảo các phụ nữ: “Này các bà, các bà đừng sợ! Tôi biết các bà tìm Đức Giê-su, Đấng bị đóng đinh. Người không có ở đây, vì Người đã trỗi dậy như Người đã nói.” (Mt 28: 5-6).

MARK:

“Khoảng canh tư đêm ấy, Người đi trên mặt biển mà đến với các ông và Người định vượt các ông. Nhưng khi các ông thấy Người đi trên mặt biển, lại tưởng là ma, thì la lên. Quả thế, tất cả các ông đều nhìn thấy Người và đều hoảng hốt. Lập tức, Người bảo các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ! “(Mc 6: 48-50).

“Đức Giê-su còn đang nói, thì có mấy người từ nhà ông trưởng hội đường đến bảo: “Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa? “Nhưng Đức Giê-su nghe được câu nói đó, liền bảo ông trưởng hội đường: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi.” (Mc 5: 35-36).

LUKE:

“Nhưng sứ thần bảo ông: “Này ông Da-ca-ri-a, đừng sợ, vì Thiên Chúa đã nhận lời ông cầu xin.” (Lk 1:13).

“Sứ thần liền nói: “Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa” (Lk 1: 30).

“Bấy giờ Đức Giê-su bảo ông Si-môn: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta.” (Lk 5: 10).

“Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi, là con gái ông sẽ được cứu.” (Lk 8: 50).

“Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét. Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển. Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc.” (Lk 21: 25-28).

“Các ông còn đang nói, thì chính Đức Giê-su đứng giữa các ông và bảo: “Bình an cho anh em! ” Các ông kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma. Nhưng Người nói: “Sao lại hoảng hốt? Sao lòng anh em còn ngờ vực? (Lk 24: 36-38).

GIOAN

“Chiều đến, các môn đệ xuống bờ Biển Hồ, rồi xuống thuyền đi về phía Ca-phác-na-um bên kia Biển Hồ. Trời đã tối mà Đức Giê-su chưa đến với các ông. Biển động, vì gió thổi mạnh. Khi đã chèo được chừng năm hoặc sáu cây số, các ông thấy Đức Giê-su đi trên mặt Biển Hồ và đang tới gần thuyền. Các ông hoảng sợ. Nhưng Người bảo các ông: “Thầy đây mà, đừng sợ! ” Các ông muốn rước Người lên thuyền, nhưng ngay lúc đó thuyền đã tới bờ, nơi các ông định đến.” (Gioan 6: 16-21).

“Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi.” (Gioan 14: 27).

“Thầy nói với anh em những điều ấy, để trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian.” (Gioan 16: 33).

PHILIPPHÊ

“Anh em đừng lo lắng gì cả. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện. Và bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Đức Ki-tô Giê-su”. (Phil 4:6-7).

THÁNH GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II

Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, trong ngày đầu tiên lãnh đạo Giáo Hội đã lặp lại lời Thầy Chí Thánh: Đừng sợ”. Trong suốt triều đại giáo hoàng của mình, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã không ngừng kêu gọi toàn thể Hội Thánh và mọi người trên thế giới Đừng sợ”:

 “Anh chị em đừng sợ đón lấy Chúa Kitô và nhận lấy quyền năng của Người!”.

 “Anh chị em đừng sợ! Hãy mở ra, mở toang mọi cánh cửa đón lấy Chúa Kitô! Hãy mở mọi biên giới các quốc gia, các hệ thống chính trị, những lãnh vực bao la của nền văn hóa, văn minh, phát triển cho quyền năng cứu độ của Chúa bước vào”.

 Đừng sợ! Chúa Kitô biết rõ mọi điều trong lòng người”! Và chỉ một mình Người biết rõ” (Thánh Gioan Phaolô II, Giáo Hoàng – Bài Giảng Lễ Khai Mạc Sứ Vụ Tông Đồ Phêrô).

 Đừng sợ đón lấy và thực thi lối sống Tin Mừng. Đó là sống yêu thương, không hận thù, như chính Đức Kitô yêu thương và đã tha thứ cho kẻ bách hại mình: “Tình yêu thì kiến tạo. Chỉ có tình yêu mới có thể kiến tạo được. Còn thù hận thì phá hủy. Lòng hận thù không kiến tạo được gì hết. Nó chỉ gây đổ vỡ. Nó làm tan nát đời sống xã hội. Nó chỉ có thể gây sức ép đối với những người yếu đuối và chẳng xây dựng nổi một điều gì” (Gioan Phaolô II – Bài Giảng Lễ nhận Nhà Thờ Chánh Tòa Gioan Latêranô của Giám mục Rôma).

ĐỨC GIÁO HOÀNG BÊNÊĐICTÔ XVI

Trong Sứ điệp Ngày Giới trẻ Thế giới lần thứ XXVII, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã viết: “Các bạn trẻ thân mến, đừng sợ phải liều mạng mình cho Chúa Kitô và Tin Mừng của Ngài. Đó là phương cách tìm được bình an nội tâm và hạnh phúc đích thực”.

ĐỨC GIÁO HOÀNG PHANXICÔ

“Lúc đó cũng vậy, cũng có nỗi sợ về tương lai và tất cả những gì cần phải được xây dựng lại. Một ký ức đau đớn, một hy vọng bị cắt ngắn. Đối với họ, đối với chúng ta, đó là giờ đen tối nhất”. Đừng sợ, đừng để sợ hãi lấn át: đây là thông điệp của hy vọng. Nó được gửi đến chúng ta hôm nay”. (Bài Giảng Lễ Phục Sinh – Năm 2020 – Bài Tin Mừng các phụ nữ ra viếng Mộ Chúa Giêsu).

Một khi chúng ta vừa đọc qua hết các thượng dẫn khuyên răn chúng ta đừng sợ. Chúng ta cần chọn một nơi chốn riêng tư, tìm giờ giấc thích hợp, rồi trầm lắng tâm hồn mình để gặp gỡ, kết hợp với Chúa trong lời cầu nguyện: xin Chúa là khiên che, thuẫn đỡ giúp cho mình xa lánh những lo toan vượt quá sức mình. Với lòng tin cậy, phó thác tuyệt đối vào Chúa, chắc chắn Chúa sẽ làm cho sóng lặng, gió yên trong tâm hồn chúng ta , như Thánh Phêrô đã hết sợ tức thì, khi Ngài thấy có Chúa là Cha ban sự bình an ngay trên thuyền của Ngài.

CON VẪN TRÔNG CẬY CHÚA:

https://www.youtube.com/watch?v=48y_55thk_s

Để tạm biệt bài chia sẻ: “Đừng Sợ”, tôi xin kết thúc bằng Lời Nguyện Tắt và hiệp thông trong hai Bài Thánh Ca sau đây:

Loving God, in Your majestic quietness,

where I know nothing can grasp You,

no word defines You, no prayer bends You,

there I find my deepest security and the purest awe.

Amen.

 Dear Lord and Father of Mankind:

https://www.youtube.com/watch?v=WqOnjmr9Ah0

Be not afraid:

https://www.youtube.com/watch?v=dWpG7qHtB8g

 Fx Nguyễn Văn Mơ

Tài Liệu Tham Khảo Thêm:

Đừng sợ và đừng lo

(theo Li Chúa)

  • Sáng thế 15: 1 (Chúa là khiên che); 21: 17 (Chúa đã nghe); 26: 24 (Chúa ởcùng); 35: 17 (có con trai); 42: 23 (Chúa ban kho báu); 46: 3 (Chúa ban một dân lớn); 50: 19 (không thay quyền Chúa); 50: 21 (cấp dưỡng).
  • Xuất hành14: 13-14 (Chúa chiến đấu cho); 20: 20 (Chúa thử thách).
  • Dân Số 14: 9 (Chúa ởvới); 21: 34 (Chúa đã trao).
  • Đệ Nhị Luật 1: 17 (việc xét xửcủa Chúa); 1: 21 (Chúa đã trao); 1: 29 (Chúa chiến đấu);  3: 2 (Chúa đã trao); 3: 22 (Chúa chiến đấu); 7: 18 (Chúa bảo vệ); 18: 22 (ngôn sứ giả), 20: 1 & 3 (kẻ thù); 31: 6 & 8 (Chúa không bỏ rơi).
  • Giô-suê 1: 9 (Chúa ở với); 8: 1 & 10: 8 & 25 & 11: 6 (Chúa nộp vào tay).
  • Thủ Lãnh 6: 10 (thần ngoại); 6: 23 (dù gặp Chúa).
  • Rút3: 11 (được đáp lời vì đức hạnh).
  • 1 Samuen 12: 20 (nếu không bỏChúa); 22: 23 (Chúa ở cùng); 23: 17 (không bị hại).

2 Samuen 9: 7 (xử tình).

  • 1 Vua 17: 13 (Elia trấn an bà góa).

2 Vua 1: 15 (vua); 6: 16 (được phù hộ); 19: 6 (điều nghe).

  • 1 Sử Biên Niên 22: 13 (sẽ thành công); 28: 20 (Chúa ở cùng).

2 Sử Biên Niên 20: 15 & 17 (Chúa chiến đấu);  32: 7 (Chúa          mạnh hơn).

  • Nêhêmia4: 14 (Chúa chiến đấu).
  • Giuđitha11: 1 (báo tin).
  • Étte9: 22 (kẻ thù).
  • 1 Macabê 4: 8 (dù kẻ thù đông).
  • Gióp5: 21 (Chúa bảo vệ); 9: 34 (cầu nguyện); 11: 15 (nếu không tì ố); 21: 9 (Chúa bảo vệ).
  • Tv3: 5-8 (Chúa đỡ nâng); 23; 4 (có Chúa ở cùng); 27: 1-3 (Chúa bảo vệ); 34: 4 (tìm kiếm Chúa); 46: 1-4 (Chúa là nơi ẩn náu); 49: 17-18 (kẻ giầu); 56: 3-5 & 115: 11 (tin tưởng Chúa), 56: 3-4 & 11 (tin tưởng Chúa); 91: 5 (đêm vắng, tên bay); 94: 9 (Chúa ủi an); 112: 8 (coi thường kẻ thù); 118: 6 (Chúa ở cùng).
  • Châm Ngôn 3: 24-25 (khi nằm ngủ, tai họa).
  • Huấn Ca 34: 14 (nếu kính sợ Chúa).
  • Isaia7: 4 (bị hãm hại); 8:12 (âm mưu); 10:24 (kẻ thù); 12:2 (Chúa cứu độ); 17: 2 (nằm nghỉ); 41: 10 (Chúa ở cùng); 35: 4 (Chúa báo phục); 37: 6 (điều nghe nói); 40: 9 (có Chúa); 41: 10 (Chúa là Chúa); 41: 13-14 (Chúa giúp). 43: 1 (Chúa cứu); 43: 5 (Chúa ở bên); 44: 2 (Chúa giúp); 44: 8 (là chứng nhân); 51: 7 (theo chỉ dẫn của Chúa); 54: 4 (không xấu hổ); 54: 14-17 (Chúa bảo vệ).
  • Giêrêmia 1: 8 & 46: 27-28 (Chúa ở với); 10: 5 (không bịhại); 17: 8 (thiên tai); 30: 10 (Chúa cứu); 42: 11 (vua chúa); 46: 27-28 (Chúa cứu); 51: 46 (tiếng đồn).
  • Ai Ca 3: 57 (Chúa ở bên).
  • Êdêkien 2: 6 (kẻphản loạn); 3: 9 (kẻ thù).
  • Đanien10: 12 (Chúa nghe); 10: 19 (Chúa tăng sức).
  • Giôen2: 21-22 (Chúa thực hiện điều vĩ đại).
  • Xôphônia3: 16-17 (Chúa ngự giữa).
  • Khắcgai2: 5 (Thần Khí Chúa ở giữa).
  • Dacaria8: 13-15 (Chúa cứu và chúc phúc).
  • Mátthêu1: 20 (nhận Maria); 6: 25-34 (Chúa quan phòng); 10: 19 (Chúa giúp nói); 10: 26-28 (người đời và người chỉ giết thân xác); 10: 31 (giá trị hơn chim); 14: 27 (Thầy đây); 17: 7 (Chúa đỡ nâng); 28: 5 (Chúa đã sống lại); 28: 10 (đi nói với anh em).
  • Máccô5: 36 (vững tin); 6: 50 (Thầy đây); 13: 7 (chiến tranh); 13: 11 (Chúa giúp nói); 16: 6 (Chúa đã sống lại).
  • Luca1: 13 (Chúa đã nhận lời); 1: 30 (đẹp lòng Chúa); 1: 74 (Chúa sẽ giải thoát); 2: 10 (tin mừng trọng đại); 5: 10 (đánh cá người); 8: 50 (vững tin), 12: 4 (người chỉ giết thân xác); 12: 7 (đáng giá hơn chim sẻ): 12: 11 (khi ra tòa); 12: 22-34 (Chúa quan phòng); 12: 32 (Chúa ban nước trời); 21: 9 (dù chiến tranh, loạn lạc).
  • Gioan3: 15-18 (Chúa đến để cứu chuộc); 6:20 (Thầy đây); 12:15 (vua ngự đến); 14: 27 (bình an của Chúa): 16:33 (can đảm).
  • Công Vụ 18: 9 (cứnói); 20: 10 (cậu ta sống); 27: 23-24 (Chúa ban cho).
  • Rôma8: 38-39 (yêu Chúa); 13: 3 (thế quyền).
  • Philípphê4: 6 (cầu nguyện); 1: 14 (tin cậy vào Chúa)

2 Timôthêô 1: 7 (Thần Khí Chúa giúp).

  • Do thái 13: 6 (Chúa giúp).
  • Giacôbê2: 13 (xét xử).
  • 1 Phêrô 3: 6 (nếu làm điều thiện); 3: 14 (chịu khổ); 5: 6-7 (Chúa chăm sóc).
  • 1 Gioan 4: 18 (nhờ ty).
  • Khải Huyền 1: 17 (Chúa là đầu và cuối); 2: 10 (đau khổtù tội).

        (Virginia, 14-7-2020jpah)

 From: Thầy Định gởi

GIÁ TRỊ CỦA SỰ THINH LẶNG

GIÁ TRỊ CỦA SỰ THINH LẶNG

Nữ tu Têrêsa Mai Hường

Cuộc sống của chúng ta được bao phủ bởi rất nhiều tiếng ồn, từ sáng sớm cho đến khi đêm về.  Hơn nữa, trong thế giới hiện đại hôm nay, con người dễ bị cuốn hút bởi những gì náo nhiệt rộn ràng, nhất là tuổi trẻ.  Không mấy ai đam mê những khoảng lặng vô âm.  Tuy vậy, khi trải nghiệm và sống trong tiếng ồn, con người lại cảm thấy mệt mỏi và muốn tìm một chốn bình an, yên tĩnh.  Khi đã rã rời vì tiếng ồn, con người lại khát khao và tìm đến những giá trị của thinh lặng.

Thinh lặng bên ngoài

“Giữa những xao động của nhân thế nổi trôi, giữa những sục sôi tranh chấp trong kiếp người, giữa những đẹp tươi hay ê chề thất bại, con xin dành một cõi rất riêng tư cho Giêsu, Đấng Tình Yêu thẳm sâu.” (“Một Cõi Riêng Tư” nhạc sĩ Thái Nguyên).

Thế giới hôm nay thực sự rất ồn ào và “ô nhiễm.”  Nó khiến cho con người khó có thể thinh lặng.  Facebook, internet, games, điện thoại, các tương quan phức tạp… lôi kéo con người vào trong khía cạnh bất an của nó.  Con người chúng ta cũng dễ bị dẫn dụ vào trong thế giới đó vì nó hấp dẫn và có nhiều mới lạ.  Chính vì thế, con người cũng thích ồn ào với thế giới vui nhộn và đang thay đổi rất nhanh với nhiều hấp dẫn.

Không chỉ thế, có nhiều người cũng thích nói nhiều.  Nó trở nên như là một căn bệnh.  Phải nói thì người đó mới cảm thấy đó là lẽ sống của họ.  Họ nói nhưng còn nói to.  Có người thì phải nói để giữ thế thắng.  Có người nói nhiều để minh chứng khả năng hiểu biết và vốn kiến thức của mình.  Tuy nhiên, càng nói nhiều thì càng chứng tỏ người nói chẳng có gì giá trị.  Vì khi nói nhiều, chúng ta không có khả năng giữ lại những gì sâu sắc.  Nói là khả năng con người dùng để chuyển tải thông tin đến với người khác trong khi đó, nếu chúng ta không có gì giá trị trong lòng thì nói cũng vô ích vì những thông tin đó cũng giống như những âm thanh bên ngoài.  Tạp âm.  Lúc đó, tiếng nói trở thành thứ tiếng ồn gây khó chịu và nó có thể khiến người khác không có thiện cảm đối với người nói.  Nói như thế giống như rượu ngon pha chung với nước lã.  Nó khiến cho nội tâm hay thế giới bên trong mất chiều sâu và trở thành hời hợt.  Rượu lạt.  Giếng cạn.

Thinh lặng bên trong

Henri de Lubac nói rằng: “Chúng ta chỉ trở nên viên mãn khi trở nên trầm lặng trong cuộc sống nội tâm.”[1]  Chiều sâu nội tâm diễn tả kho tàng riêng của mỗi người.  Nếu một người biết thinh lặng, người đó có khả năng thu nhận kiến thức, đúc kết kiến thức, và sử dụng kiến thức một cách hiệu quả.  Hiệu quả ở đây có nghĩa là để cho quyền năng của Chúa tác động trên những lựa chọn của người đó.  Tương tự, giá trị của kết quả có tính thiêng liêng.

Thinh lặng bên trong khiến cho người thủ đắc có một vẻ trầm mặc và điềm tĩnh.  Họ giống như giếng nước trong và rất sâu.  Thực sự, khi nhìn vào con người có nội tâm sâu sắc, người khác bắt gặp một cảm giác bình an, một vẻ thông thái và an nhiên tự tại.  Con người của hòa bình.  Ai đó đã nói rằng: thinh lặng biểu lộ sự khôn ngoan quả là không sai.

Thinh lặng và kiên nhẫn

Khi thinh lặng, chúng ta có thời gian để suy gẫm và hiểu cho kỹ cũng như suy xét cẩn thận về cách sống và cách đối nhân xử thế.  Chúa Giêsu là một mẫu gương tuyệt vời cho thấy mối tương quan giữa thinh lặng nội tâm và sự kiên nhẫn.  Trong Tin mừng Gioan, khi người ta dẫn đến trước mặt Chúa người phụ nữ ngoại tình để gài bẫy Ngài, Chúa Giêsu đã thinh lặng lắng nghe những lời kết án người phụ nữ từ những người cầm quyền Do thái. “Họ nói thế nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người.  Nhưng Đức Giêsu cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất.  Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người ngẩng lên và bảo họ: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.” Rồi Người lại cúi xuống viết trên đất.  Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi” (Ga 8, 6-9).

Chiều sâu nội tâm nơi Đức Giêsu là sự thinh lặng nơi tòa án khi Ngài bị xét xử.  Đức Giêsu không nói một lời nào bất chấp những lời kết án oan khiên và bị đánh đập.  Tột đỉnh của chiều sâu nội tâm nơi Ngài là sự hy sinh chấp nhận chết trên thập giá, bị xỉ vả, bị làm nhục đủ kiểu nhưng Ngài vẫn lặng thinh và cầu nguyện “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34).  Ngài không lên tiếng chửi rủa những kẻ hành hạ Ngài.  Ngài kiên định với kế hoạch cứu độ và vâng phục Thánh ý Chúa Cha: “Lạy Cha, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mc 14, 36).  Sự kiên nhẫn đó cho chúng ta hiểu một chân lý khác đó là tình yêu.  Càng biết thinh lặng, chúng ta càng biết yêu một cách chân thành và yêu bằng cả con tim và tính mạng.  Hay nói đúng hơn, nội tâm sâu sắc hay tình yêu sâu sắc sẽ làm chúng ta biết thinh lặng, và thinh lặng nội tâm diễn tả tình yêu mạnh hơn bất cứ sức mạnh ngoại tại nào.

Thinh lặng và hạnh phúc

Thinh lặng và hạnh phúc nội tại đi liền với nhau.  Có những người thinh lặng vì giận hờn, thinh lặng để dằn mặt, thinh lặng vì không muốn nói, thinh lặng vì không muốn đụng chạm, thinh lặng cho bớt phiền phức. Thinh lặng kiểu đó như là một bức màn ẩn giấu sự không hài lòng phía sau.  Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn. Con người không thể giấu cảm xúc của mình qua những cử chỉ thể lý đó.  Tất cả hiện lên trong ánh mắt.  Có người lấy lý do thinh lặng để tránh tiếp xúc với người khác và che lấp sự hiềm khích, nhưng ánh mắt của người đó khó có thể giấu được sự hiềm khích. Có người giả nai để che đi khiếm khuyết và sai lỗi, nhưng ánh mắt vẫn hiện ra sự sợ sệt lo lắng. Trong lòng có thì bên ngoài mới thể hiện được cách đồng điệu giữa các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài.  “Hữu xạ tự nhiên hương.”

Chính vì thế, thinh lặng phải có hạnh phúc bên trong mới là thinh lặng nội tâm.  Thinh lặng đó giúp con người nên thông thái, khôn ngoan và đem lại hòa bình.  Thinh lặng đó đưa con người vào cầu nguyện, nhờ cầu nguyện, con người thinh lặng cảm thấy hạnh phúc, và tìm kiếm thinh lặng như chốn dung dưỡng sức mạnh tinh thần. Thinh lặng đó làm cho con người sống, và phát triển cách hạnh phúc chứ không chỉ là một kiểu sống để sống qua ngày mà không hề có sự triển nở trong tâm hồn của bản thân người đó, lại càng không thể đem bình an cho người xung quanh.

Thinh lặng và bình an

Thinh lặng nội tâm mang lại bình an cho chính bản thân và cho những người xung quanh.  Khi biết thinh lặng đúng đắn, chúng ta thể hiện sự khiêm nhường. Đức tính này giúp con người sống thật với những gì đang xảy đến trong nội tâm và nơi hữu thể mình cũng như sự vật sự việc xung quanh người đó. Thinh lặng giúp con người có thời gian đủ để suy nghĩ, lựa chọn và quyết định. Điều đó giảm đi những phản ứng sai lầm, những hành vi thiếu kiềm chế dẫn đến bất hòa bất thuận.

Sự bình an và thinh lặng cũng đưa con người trở về với chính mình và thấy được sự thật của bản thân.  Có những người sợ thinh lặng vì họ phải nghe tiếng lương tâm réo gọi. Thế nhưng, người yêu mến thinh lặng thì có nhiều cơ hội để trở về gặp lại chính mình, có cơ hội để yêu mình cách đúng đắn.  Người ta thường ví người có nội tâm thâm hậu như một hồ nước phẳng lặng có thể nhìn thấy tận đáy hồ. Mặt hồ phản chiếu thế giới trên cao.  Nó thể hiện được chiều cao sâu dài rộng của tâm hồn và của tri thức. Càng biết nhiều, con người càng quảng đại và bình an hơn.

Bình an thật của con người là Chúa. Trong thinh lặng, con người gặp gỡ được Thiên Chúa.  Đó là lý do vì sao những người muốn gặp Chúa thường tìm vào hoang mạc hoặc những nơi thanh vắng. Mỗi lần cầu nguyện, Chúa Giêsu đều tìm một nơi thanh vắng để có thể nói chuyện với Cha (Mt 26, 36; Mc 1, 35). Đây là địa điểm để sống thân tình với Thiên Chúa. Để ở thân tình hơn, Thiên Chúa cũng dẫn con người vào thanh tịnh. “Ta sẽ quyến rũ nó, đưa nó vào sa mạc, để cùng nó thổ lộ tâm tình” (Hs 2, 16).  Như vậy, nơi thinh lặng của không gian và thinh lặng của tâm hồn, con người gặp gỡ được bình an đích thực.

Thinh lặng và niềm vui cộng đoàn

Khi gặp gỡ được bản thân và gặp gỡ được Thiên Chúa, con người thinh lặng chắc chắn đem lại niềm vui cho môi trường mà họ hiện diện. Bình an thật thì không im lặng cách chết chóc và ngột ngạt nhưng như một nơi mà gió hoa vạn vật cùng cảm nhận tình yêu thương và gắn kết. Con người gần gũi nhau hơn, cảm thông hơn và bác ái hơn.  Thinh lặng không đem lại niềm vui thì đó không bao giờ là thinh lặng nội tâm.  Nó là án phạt cho người đó và cả những người xung quanh. Thinh lặng không niềm vui như liều thuốc độc giết chết tâm hồn người đó vì nó khiến con người cảm thấy bực bội, khó thở, sống lầm lì và các tương quan bị bế tắc.  Có Chúa trong thinh lặng thì thinh lặng lại trở nên sự gắn kết thân tình giữa người với người. Vì nơi con người thinh lặng, người khác cảm nhận sự khiêm tốn, lòng từ tâm, sự khôn ngoan và ơn bình an.

Thinh lặng níu mở thiên đàng

Thinh lặng nội tâm trong sự sâu lắng và thánh thiện của nó có sức níu mở thiên đàng. Đức Maria xưa kia đã sống một đời âm thầm trong lắng đọng của một tâm hồn cầu nguyện đã đón nhận ân sủng của Thiên Chúa tuôn đổ đến cho nhân loại. Đó là việc Thiên Chúa sai Đức Giêsu nhập thể làm người. Tâm hồn Mẹ khiến cả thiên đàng hoan hỉ vì ý muốn của Thiên Chúa được thể hiện. Tiếp theo, Đức Giêsu là Thiên Chúa cao trọng nhưng lại rất đỗi khiêm nhường. Ngài tự nguyện vâng lời Chúa Cha xuống thế làm người trong kiếp nhân loại hèn yếu. Đời sống tịch liêu tự hạ của Ngài đã khiến Chúa Cha phải mở cửa thiên đàng và xác nhận: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3, 17). Lần khác, khi Ngài hấp hối trên thánh giá, bóng tối bao trùm cả mặt đất (x. Mt 27, 45) và bức màn trướng trong Đền thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Đất rung đá vỡ (x. Mt 27, 51). Tâm hồn thinh lặng thật sự níu mở thiên đàng.  Nếu một người có tâm hồn thinh lặng chắc chắn sẽ được Thiên Chúa tìm đến.

***

Thinh lặng trong thế giới hôm nay không dễ, thế nên, giá trị của nó đối với bản thân và với thế giới có giá trị lớn lao. Thế giới hôm nay càng ồn ào càng cần sự thinh lặng bởi con người muốn chìm đắm trong bình an, khao khát hạnh phúc đích thực và mong ước một thế giới hòa bình để chung sống với nhau. Thực sự, thinh lặng thì khó giữ nhưng nó mang lại những giá trị và hiệu quả đích thực.  Vì thế, con người vẫn luôn tìm kiếm và khát khao.  Trong đời sống thánh hiến, thinh lặng là cơ hội để người tu sĩ cảm nghiệm tình yêu và nên thân tình hơn trong tương quan với Đấng là Bình An. Người tu sĩ bình an hay người tu sĩ thân tình của Chúa chắc chắn sẽ xây dựng tình thân và đem lại an bình cho những người xung quanh.

Nữ tu Têrêsa Mai Hường

Nguồn: https://daminhtamhiep.net/

[1] Tham khảo https://dcvphanxicoxavie.com/vn/Nhan-Ban-Thieng-Lieng-On-Goi/Gia-Tri-Cua-Su-Thinh-Lang.html