Lá thư của người mẹ gởi đứa-con-trai-chống-Công-giáo

 

Tác giả Kimberly Scott cho biết: Tôi có người bạn thân, người mẹ của 6 đứa con đã khôn lớn, nói rằng định nghĩa sự khôn ngoan có nhiều điều để nói – và đừng nói về nó. Tôi luôn phá vỡ quy luật này, điều mà tôi cho rằng sẽ khiến tôi ngớ ngẩn. Nhưng đôi khi chúng ta phải nói ra từ đáy lòng, ngay cả khi chúng ta có nguy cơ bị hiểu lầm.

Một số vị thánh được gọi làm “những người ngớ ngẩn vì Đức Kitô”. Có thể một ngày nào đó tôi sẽ vui mừng được kể vào số những người đó. Và đây là lá thư của một người mẹ viết cho con trai vào đúng ngày lễ Chúa Phục Sinh. Thư viết như sau…
Con trai yêu dấu của mẹ,

Mẹ muốn chia sẻ với con về tất cả ánh sáng, vẻ đẹp và niềm vui mà mẹ phát hiện từ khi mẹ gia nhập Giáo hội Công giáo. Mẹ biết con miễn cưỡng tin “Thiên Chúa ở với chúng ta” vì một vấn đề chung: Nếu Ngài ở với chúng ta, tại sao vẫn có đau khổ trên đời này? 

Đó là điều mầu nhiệm lớn lao. Chắc chắn rằng đau khổ mà là kết thúc như chính nó thì thật là kinh khủng. Nhưng khi đau khổ vượt qua chính nó – như khi đau khổ hướng về Đức Kitô trên Thánh Giá, nó trở nên có giá trị cứu độ và thánh hóa. Mẹ đã cầm tay cha con khi ông qua đời, thế nên mẹ biết rằng nước mắt và đau khổ có thể trở nên “ngọt ngào” nếu đau khổ đó được kết hiệp với đau khổ của Đức Kitô trên Thánh Giá. Nếu con sống trong tình yêu thương của cha con thì con nhận ra rằng chẳng có gì có thể làm mẹ tổn thương – không đau đớn, bệnh tật hoặc già nua, thậm chí cả cái chết. Vì Thiên Chúa ở với chúng ta, không ở xa trên những đám mây trên trời kia. NGÀI Ở GẦN CHÚNG TA NHẤT KHI CHÚNG TA ĐAU KHỔ. Mẹ biết đó là sự thật, vì mẹ đã gặp Ngài trong những đêm tăm tối nhất của cuộc đời.

Từ khi Đức Kitô phục sinh, tử thần bị tước quyền, chúng ta còn sợ gì nữa? Bệnh tật, bạo lực, hỏa hoạn, lụt lội và các tai họa khác có thể giết chết chúng ta. Vậy thì sao? Với cái chết trên Thập Giá và phục sinh vào ngày thứ ba, Đức Kitô đã đánh bại tử thần vĩnh viễn và trao ban cho chúng ta sự sống đời đời.

Điều đó thực sự là TIN VUI MỪNG – tin tốt lành như thế mà đầu óc thời đại mới của chúng ta khó có thể tin được, vì “bị mắc kẹt” trong sự rối loạn của tiếng ồn ào, u uẩn và thất vọng! Nghe có vẻ như chuyện thần thoại vậy. Hãy nhìn vào những người nằm lặng lẽ nơi nghĩa địa mà xem. Họ chết rồi, phải không? 

 
TÌNH MẪU TỬ

Đúng và không đúng. Bề ngoài có thể đánh lừa chúng ta. Thật khó tin, ánh sao trên bầu trời đêm đã rời bỏ những ngôi sao đó từ hằng trăm hoặc hằng ngàn năm trước. Các nhà vật lý cho chúng ta biết rằng mọi vật thể trên thế giới này có vẻ rắn theo cách nhìn của chúng ta – đá sỏi, cây cối, trái đất – lại được tạo nên từ những phân tử vô hình luôn chuyển động không ngừng.

Cuộc sống là điều mầu nhiệm. Ngay cả các phát hiện khoa học mới nhất khiến chúng ta kinh hãi. Tin các phần tử đó đang chuyển động không ngừng là chấp nhận tin vào sự sống và thấy vẻ đẹp kỳ diệu của sự sống. Tin những người nằm im trong mộ đã chết (trong thế giới hữu hình) và vẫn sống (trong tầm nhìn của Thiên Chúa) cũng là chấp nhận tin.

Ngay cả trọng lực cũng phải chấp nhận tin. Mẹ muốn nói với con rằng có một lực vô hình neo giữ chúng ta trên trái đất này, không có nó thì chúng ta có rơi vào không gian? Điều này cũng giống như thần thoại vậy. Nhưng dù muốn hay không thì con vẫn tin vào trọng lực, con vẫn là người thừa hưởng sự tốt lành của nó. Con không thể trốn khỏi sự tốt lành của trọng lực, cũng không thể trốn khỏi sự tốt lành của Thiên Chúa. Vì Thiên Chúa nắm giữ chúng ta an toàn trong bàn tay của Ngài, giống như tọng lực neo giữ chúng ta an toàn trên trái đất vậy. Cả ngàn cách từ chối thực tế cũng chẳng bao giờ làm cho nó hóa thành điều không thật.

Điều mà con coi mẹ là “liều lĩnh” (vì mẹ làm nhiều việc hèn mọn và không lương cho Giáo hội, trong khi mẹ có thể kiếm nhiều tiền) phát xuất từ sự bình an nội tâm và vì mẹ trút bỏ mọi lo lắng. Trước khi mẹ tìm thấy Thiên Chúa (hoặc có thể là trức khi Ngài tìm thấy mẹ, bởi vì Ngài luôn đi bước trước), mẹ thường lo lắng nhiều thứ trên thế gian này. Mẹ thường lo sợ, một điều nguy hiểm, về bạo lực không đến từ Thiên Chúa, mà đến từ sự sợ hãi của con người. Khi chúng ta nhận biết và yêu mến Thiên Chúa (mẹ nói về Thiên Chúa đích thực chứ không nói về ảo giác mà chúng ta có trong đầu), nỗi sợ hãi được biến thành niềm tin. Có lẽ con cho rằng mẹ lẩn thẩn và khổ sở với tuổi già. Điều con hiểu sai mà cho rằng mẹ “quá liều lĩnh” lại chính là cách mẹ trút bỏ nỗi sợ hãi. TÌNH YÊU HOÀN HẢO CỦA NGÀI LOẠI BỎ SỰ SỢ HÃI.

Con ơi, tình yêu thương của mẹ dành cho con chưa trọn vẹn, thế nên con buồn vì điều đó. Nhưng như Chúa Giêsu và Đức Mẹ cho chúng ta biết, mối quan hệ giữa mẹ và con thiêng liêng lắm, và không thể dễ dàng rạn nứt, cả trong đời này và đời sau. Mẹ con mình hãy bỏ qua những khác biệt và hãy đơn giản là yêu thương nhau thật lòng, luôn tin rằng Thiên Chúa quan phòng và định liệu mọi sự. Con trai ơi, ĐỨC KITÔ ĐÃ PHỤC SINH!

Yêu con nhiều,

Mẹ của con

TRẦM THIÊN THU 

(chuyển ngữ từ NCRegister.com)

Ý NGHĨA CUỘC SỐNG

Ý NGHĨA CUỘC SỐNG

Chúa Thánh Thần đem lại gì cho chúng ta.  Đó là câu hỏi chúng ta cùng nhau tìm hiểu.  Và ơn huệ đầu tiên Ngài đem lại đó là đức tin.  Chính đức tin sẽ tạo nên nơi chúng ta một cái nhìn mới.

Kể từ nay, chúng ta không còn cúi mặt nhìn xuống đất, mà còn có thể ngước mắt nhìn lên trời.  Và qua những thực tại trần gian, chúng ta sẽ tìm thấy những giá trị siêu nhiên.  Chúa Thánh Thần sẽ mở ra một chân trời mới, sẽ hướng dẫn chúng ta bước vào cõi sống đời đời.  Hẳn rằng đã hơn một lần chúng ta băn khoăn và tự hỏi: Hỡi người, người là ai?  Tại sao người lại sống trên mặt đất này.  Rồi người sẽ đi về đâu?  Mục đích cuộc sống của người là gì?  Ý nghĩa cuộc sống của người là gì?

Có một nhà hiền triết nọ cũng đã suy tư như thế.  Hôm đó, ông đi lang thang trong rừng, miệng không ngừng lặp lại câu hỏi: Đâu là ý nghĩa của cuộc sống?  Bỗng một con họa mi bay đến và nói: Ý nghĩa cuộc sống ư?  Chỉ là tiếng hót véo von.  Rồi nó bay đi nhưng vẫn còn vương lại những âm thanh dễ mến.  Nghe vậy, chú chuột chù phản đối: Đời là một cuộc chiến đấu không ngừng với bóng tối.

 

Thế nhưng chị bướm lại lắc đầu không chịu: Cuộc sống chỉ là hưởng thụ và vui thú.  Bấy giờ bác ong mật phát biểu: Cuộc sống không chỉ là vui thú, mà còn là lao động, lao động nhiều hơn vui chơi.  Cô phượng hoàng thì vỗ cánh và nói: Chẳng ai có lý hết, đời sống chính là tự do, được tung bay trên khắp khoảng trời xanh.  Cụ tùng bách thì lắc đầu và bảo: Đời sống là một cố gắng để vươn cao.  Nhưng cô hồng nhung lại quả quyết: Cuộc đời chỉ là những tháng ngày trau chuốt cho vẻ đẹp được thêm duyên dáng.  Còn chàng mây lang thang lại thở dài: Đời sống chỉ là những lần chia ly, khổ đau, cay đắng và nước mắt.  Còn bà sóng thần thì bảo: Đời là một sự đổi thay không ngừng.

 Nhà hiền triết hốt hoảng và chạy trốn khỏi khu rừng để không còn nghe tiếng nói của muôn loài trước một vấn nạn chưa được giải quyết.

Còn chúng ta thì sao?  Rất có thể chúng ta cũng đã băn khoăn như nhà hiền triết, để rồi cảm thấy như bế tắc, không tìm ra đáp số cho bài toán.

Thế nhưng với biến cố Hiện xuống, các môn đệ đã nhìn rõ vấn đề, đã thấu suốt được những chân lý mà Chúa Giêsu đã truyền dạy.  Với ơn Chúa Thánh Thần chúng ta cũng sẽ nếm thử được niềm an bình và nỗi mừng vui, bởi vì chúng ta xác tín rằng: quê hương chúng ta không phải ở mặt đất này, nhưng là ở chốn trời cao.  Cuộc sống tạm bợ phù du này sẽ kết thúc để rồi mở ra một chân trời hạnh phúc, kéo dài tới vĩnh cửu.  Nhờ đức tin lãnh nhận, chúng ta có được cái nhìn mới và biết đánh giá đúng mức những thực tại trần gian, biết xử dụng chúng để xây dựng cuộc sống siêu nhiên.

Thánh Cyrillo đã so sánh: Chúa Thánh Thần tác động trong chúng ta như ánh sáng mặt trời tác động trên con mắt.  Nếu đi từ bóng tối ra ánh sáng, chúng ta sẽ nhìn thấy nhiều vật trước kia chúng ta không nhìn thấy.  Cũng vậy, với Chúa Thánh Thần chúng ta sẽ nhìn xem tất cả bằng cặp mắt siêu nhiên, chúng ta sẽ khám phá ra những giá trị thiêng liêng cho cuộc sống tạm gửi này, để rồi chúng ta sẽ không dừng lại, sẽ không đầu tư cho những vui thú chóng qua, nhưng sẽ tìm kiếm và đầu tư cho hạnh phúc vĩnh cửu.

Ngày xưa Chúa Thánh Thần bay lượn trên nước và đã biến cái đám hỗn mang thành một vũ trụ có trật tự thế nào, thì bây giờ Ngài cũng bay lượn, cũng hiện diện trong tâm hồn để biến con người tội lỗi, vô trật tự của chúng ta thành một Kytô hữu đích thực, Ngài sẽ cởi bỏ con người cũ của chúng ta, biến chúng ta trở nên một tạo vật mới, một con người mới.  Vậy con người mới ấy là như thế nào?  Chắc hẳn bề ngoài chúng ta vẫn như trước vẫn giống với mọi người, có đầu, có mắt, có trái tim, nhưng cách thức chúng ta nhìn ngắm, cách thức chúng ta suy nghĩ, cách thức chúng ta yêu mến thì lại hoàn toàn thay đổi, như lời tiên tri Êgiêkiel đã diễn tả: Ta sẽ rảy nước tinh tuyền trên các ngươi và các ngươi sẽ được trong sạch.  Ta sẽ cất khỏi các ngươi trái tim bằng đá, nhưng sẽ ban cho các ngươi một trái tim bằng thịt.  Ta sẽ ban cho các ngươi một trái tim mới và một thần khí mới.

Với Chúa Thánh Thần ngự trong tâm hồn, chúng ta sẽ nhìn cuộc sống, nhìn những người anh em, nhìn thế giới, nhìn dòng lịch sử một cách khác.  Chúng ta sẽ nhìn những khổ đau, những thử thách và những đắng cay một cách khác.  Chúng ta sẽ tìm thấy được những giá trị siêu nhiên của chúng.

Bởi đó, hãy mở cửa đón nhận Chúa Thánh Thần, hãy lắng nghe tiếng nói của Ngài, hãy bước đi dưới sự soi dẫn của Ngài, hãy sống theo những gì Ngài chỉ bảo.  Đừng dập tắt ngọn lửa của Ngài, để nhờ đó, Ngài sẽ hun đúc đức tin, để nhờ đó chúng ta biết đánh giá đúng mức những thực tại trần gian.

Xin hãy đến!  Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài hãy đến, thay đổi đời sống tâm linh chúng con, xin giúp chúng con tìm ra ý nghĩa đích thực cuộc sống mình.  Xin hãy đến làm sức mạnh nâng đỡ để chúng con đủ can đảm đi theo Chúa mỗi ngày cho đến trọn đời.  Amen!

Sưu tầm

From Langthangchieutim gởi

ĐẤNG QUI TỤ MUÔN LOÀI 

ĐẤNG QUI TỤ MUÔN LOÀI 

 Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

Trong Cựu ước, tác giả sách Sáng thể đã kể lại một trang sử buồn của lịch sử nhân loại, đó là câu chuyện tháp Baben.  Vì con người kiêu ngạo, muốn xây tháp chọc trời.  Chúa đã làm cho ngôn ngữ của họ trở thành hỗn loạn.  Kết quả là họ không hiểu nhau.  Cây tháp Baben được gọi là cây tháp gây phân tán (x. St 11,1-9). 

Thế rồi, kể từ trang sử buồn ấy, con người ngày càng xa Chúa và xa nhau.  Nhân loại bị trượt dài trong đường dốc sa đọa.  Người Do Thái nhắc tới tháp Baben như một kinh nghiệm đau thương.

 Trong Tân ước, tác giả Công vụ kể với chúng ta một biến cố trọng đại, đó là câu chuyện lễ Ngũ Tuần tại Giêrusalem (Bài đọc I).  Chúa Thánh Thần, Ngôi Ba Thiên Chúa, đã ngự xuống liên kết muôn người nên một.  Họ đã hiểu nhau mặc dù khác biệt về nguồn gốc.  Người Kitô giáo gọi Lễ Ngũ Tuần là lễ Hiện Xuống, ghi nhớ sự kiện Chúa Thánh Thần từ trời đến ở với cộng đoàn tín hữu, đến với Giáo Hội.  Nếu tháp Baben trong Cựu ước là biểu tượng của sự phân tán, thì Lễ Ngũ Tuần của Tân ước là điểm quy tụ.

 Kể từ ngày lễ Ngũ Tuần năm xưa, Chúa Thánh Thần không ngừng hoạt động để quy tụ muôn dân về một mối.  Chúa Thánh Thần chính là ngôn ngữ chung cho toàn thể nhân loại.  Ngôn ngữ đó là Tình Yêu, vì Ngài là Tình Yêu của Thiên Chúa.  Tình yêu lấp đầy mọi ngăn cách, san bằng mọi núi đồi, phá tung mọi ranh giới.  Nhờ Chúa Thánh Thần, Tin Mừng của Đấng Phục Sinh được loan báo cho mọi tạo vật, mọi nền văn hóa.  Chúa Thánh Thần đã liên kết mọi người trong một Đức tin và làm thành Giáo Hội của Chúa Kitô. 

Thánh Phaolô đã dùng hình ảnh một thân thể gồm nhiều chi thể để nói về Giáo Hội (Bài đọc II).  Nhờ sự liên kết của Chúa Thánh Thần, mọi tín hữu được quy tụ nên một thân thể.  Mặc dù khác biệt về chức năng, mọi chi thể đều phải liên kết với nhau và làm cho thân thể được khỏe mạnh.  Năng lực sống để điều khiển thân thể hoạt động, chính là Chúa Thánh Thần.  Ngài nối kết và làm cho những khác biệt trở nên hài hòa với nhau.  Lịch sử Giáo Hội hai ngàn năm nay đã chứng minh hoạt động của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội. 

Thánh Gioan kể lại việc Chúa ban Thánh Thần cho các môn đệ qua cử chỉ “thổi hơi” trên các ông, qua biểu tượng này, Chúa Thánh Thần được diễn tả như hơi thở, như làn gió mát và như sự sống.  Bài đáp ca trong thánh lễ hôm nay cũng khẳng định vai trò quan trọng của Chúa Thánh Thần đối với mọi loài tạo vật: “Ngài rút hơi thở chúng đi, chúng chết ngay, và chúng trở về chỗ tro bụi của mình.  Nếu Ngài gửi hơi thở tới, chúng được tạo thành, và Ngài canh tân bộ mặt trái đất” (Tv 103,29).  Bởi vậy, đời sống Đức tin của chúng ta cần có Chúa Thánh Thần nâng đỡ và hướng dẫn.  Nhờ Ngài mà chúng ta không sợ lạc đường.  Nhờ Ngài mà chúng ta có thể trung tín với Chúa cho đến hơi thở cuối cùng.  Cũng nhờ Ngài mà chúng ta mới biết cách cầu nguyện thế nào cho có hiệu quả. 

Nếu Chúa Thánh Thần là Đấng quy tụ muôn loài, thì những ý đồ gây chia rẽ thù oán là đi ngược lại với hoạt động của Ngài.  Sống ở đời, chúng ta luôn bị giằng co giữa một bên là giáo huấn của Chúa, một bên là cám dỗ của thế gian.  Thánh Phaolô khuyên nhủ giáo dân Thêxalônica: “Anh em đừng dập tắt Thần Khí… Hãy cân nhắc mọi sự: điều gì tốt thì giữ; còn điều gì xấu thì bất cứ hình thức nào cũng phải lánh cho xa” (1Tx 5,19). 

Lễ Hiện Xuống được cử hành trong tháng Năm, là tháng dâng hoa kính Đức Mẹ.  Đức Maria đã hiện diện với Giáo Hội trong ngày lễ Ngũ Tuần.  Chúa Thánh Thần ngự đến trong khi các tông đồ quây quần xung quanh Đức Mẹ để cầu nguyện.  Trong suốt chặng đường dài của lịch sử Giáo Hội, Đức Mẹ vẫn hiện diện để che chở Giáo Hội và nâng đỡ các tín hữu.  Đức Phaolô VI đã tôn vinh Trinh nữ Maria với tước hiệu “Mẹ Giáo Hội.”  Chúng ta hãy cầu xin Mẹ chúc lành cho Giáo Hội hoàn vũ, cách riêng Giáo Hội Việt Nam chúng ta.  Mỗi người hãy dâng lên Đức Mẹ đóa hoa lòng, thể hiện qua tâm tình yêu mến, siêng năng lần hạt Mân Côi và thực thi bác ái đối với tha nhân.  Đó là những đóa hoa không tàn úa với thời gian, nhưng luôn tươi đẹp và tỏa ngàn sắc hương trước dung nhan Mẹ. 

“Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”, cùng với việc trao ban bình an, Chúa Giêsu phục sinh còn trao ban cho chúng ta sức mạnh của Người.  Nhờ được trang bị bằng sức mạnh là Chúa Thánh Thần, đến lượt mình, chúng ta có thể làm chứng cho Chúa trong cuộc sống hôm nay.

 Lạy Chúa Thánh Thần, xin quy tụ chúng con trong tình hiệp nhất yêu thương.  Amen!

 Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

From Langthangchieutim gởi

Qua biến cố này con của mẹ sẽ lớn lên hơn

Qua biến cố này con của mẹ sẽ lớn lên hơn

Elisabeth Nguyễn

Con ơi,

Trong cuộc sống không phải lúc nào con cũng được hạnh phúc và yêu thương.

Sẽ có lúc những đau khổ ở đời sẽ đến với con. Con không thể ngăn được và không có cách tránh được.

Khi chúng đến, nó sẽ lấn át mình làm cho mình thụ động. Mình có thể quan trọng hóa rằng mình là kẻ đau khổ nhất mà không ai hiểu được.

Hoặc mình có thể nghĩ nỗi đau này chẳng đáng gì, rất tầm thường so với bao nhiêu thống khổ của người khác, nhất là so với sự thống khổ mà Chúa Giêsu và Mẹ Maria phải chịu.

Người bị đứt một ngón tay cũng đau không kém gì người bị thương mất cả một bàn tay vì cả hai nỗi đau đều hiển hiện, đều chạm đến trái tim.

Vì thế mới có câu: nhà giàu đứt tay bằng nhà nghèo đổ ruột. (Có nghĩa là con nhà giầu chỉ bị đau tay một chút hoặc bị cái dầm đâm vào tay thì làm như là đau đớn giống như con nhà nghèo bị đổ ruột ra vậy). 

Điều quan trọng là mình biết chấp nhận nỗi đau này và nên xem nó như một món quà mà Thiên Chúa gởi đến để mình biết cảm thông với nỗi đau của người khác. (Ở đời không phải chỉ có những món quà ngon,đẹp hay ngọt ngào đâu con ạ. Có những món quà cay đắng đến với mình đầy con ạ)

Mẹ khuyên con hãy bình tĩnh nhìn thẳng vào những biến cố đã đưa đến vấn nạn, và người đã gây ra sự đau khổ này.

Con hãy nhìn lên Thánh Giá Chúa Giêsu để dâng nỗi đau của con kết hợp với nỗi đau của Ngài thì con sẽ cảm thấy được an ủi nhiều lắm.

Vì Ngài là Con Thiên Chúa, Ngài vô tội mà còn bị sỉ nhục, bị chửi rủa, bị đóng đinh, thì mình là ai mà một chút đau khổ đến, mình đã làm như là trên trái đất này chẳng ai khổ bằng con.

Cuộc sống không thể tránh khỏi những biến động, đó là chu kỳ hoạt động của thời gian và không gian. Đó là quy luật của thiên nhiên.

Qua kinh nghiệm khổ đau ta sẽ nhìn thấy được điều gì thật sự có ý nghĩa và ta có trách nhiệm mang những ý nghĩa này trong đời sống của mình để làm thăng hoa cho cuộc sống của mình và cho những người xung quanh mình.

Con hãy cầu nguyện với Chúa Giêsu qua Lời Ngài để được Ngài xoa dịu vết thương và Ngài sẽ dạy dỗ con nên người hữu dụng cho Giáo Hội và xã hội. Mẹ ước mong qua biến cố này con của mẹ sẽ lớn lên hơn và mãi mãi bình an,

bình an của Thầy Giêsu không như bình an của thế gian.

Mẹ yêu con, con cưng của mẹ.  

From vuisongtrendoi gởi

LỜI  NGUYỆN XIN TĨNH LẶNG


LỜI  NGUYỆN XIN TĨNH LẶNG

Hãy làm thinh và biết Ta là Đức Chúa.

Kinh thánh quả quyết với chúng rằng nếu chúng ta làm thinh thì sẽ biết Chúa, nhưng có được sự lặng yên thì nói dễ hơn làm.  Như Blaise Pascal từng nói, “Mọi khốn khổ của con người là do chẳng ai có thể ngồi yên trong một tiếng đồng hồ.”  Đạt được sự tĩnh lặng có vẻ là việc quá tầm của chúng ta, và như thế chúng ta gặp một song đề: chúng ta cần tĩnh lặng để tìm Chúa, nhưng cần Chúa giúp để tìm sự tĩnh lặng.  Nghĩ như thế, tôi xin gởi ý các bạn một lời guyện xin sự tĩnh lặng.

Lạy Thiên Chúa của tĩnh lặng…

Xin làm tĩnh lặng những bồn chồn tuổi trẻ của con, tĩnh lặng cơn đói khát cứ ập vào con, cơn đói khát muốn nối kết với mọi người, muốn thấy và và thưởng nếm mọi thứ, cơn đói khát khiến con mất bình an những buổi tối cuối tuần.  Xin tĩnh lặng những giấc mơ tự đại muốn mình nổi bật với người khác.  Xin cho con ơn sống hài lòng hơn với bản thân con.

Xin tĩnh lặng cơn bồn chồn khiến con thấy mình quá nhỏ bé.  Xin cho con biết rằng đời con là đủ, và con không cần đòi hỏi về mình, dù cho cả thế giới đang cố lôi kéo con làm thế với vô vàn những hình ảnh tiếng động khắp nơi.  Xin cho con ơn sống bình an trong cuộc đời mình.

Xin làm tĩnh lặng tính dục của con, chỉnh đốn những khao khát bừa bãi, dục vọng của con, nhu cầu không ngơi muốn được thân mật hơn nữa của con.  Xin tĩnh lặng và chỉnh đốn những dục vọng trần tục của con mà không cần phải xóa bỏ chúng đi.  Xin cho con biết nhìn người khác mà không phải với con mắt tình dục ích kỷ.

Xin tĩnh lặng những lo âu, trăn trở của con và đừng để con lúc nào cũng sống ngoài giây phút hiện tại.  Xin cho con biết ngày nào có mối lo của ngày ấy.  Xin cho con ơn biết rằng Chúa đã gọi con trong yêu thương, viết sẵn tên con trên thiên đàng, và con được tự do sống mà không cần lo lắng.

Xin tĩnh lặng nhu cầu muốn bận rộn luôn mãi của con, muốn kiếm việc gì đó để làm, muốn lên kế hoạch cho ngày mai, muốn hoạt động mọi phút giây, muốn tìm cái gì đó để lấp đầy khoảng thinh lặng.  Xin cho con biết thêm tuổi thêm khôn ngoan.  Xin làm nguôi đi những cơn giận âm ỉ vô thức của con vì thấy quá nhiều mong muốn của mình chưa thành sự.  Xin tĩnh lặng sự chua cay vì thất bại của con.  Xin giữ con khỏi ghen tương khi con cay đắng chấp nhận những giới hạn của cuộc sống mình.

Xin cho con ơn chấp nhận những thất bại và hoàn cảnh của mình.

Xin tĩnh lặng nỗi sợ chính mình, nỗi sợ trước những thế lực tăm tối đang đe dọa con trong vô thức.  Xin cho con can đảm để đối diện với bóng tối cũng như ánh sáng của chính mình.  Xin cho con ơn đừng sợ sự phức tạp của mình.

Xin tĩnh lặng nỗi sợ hiện tại của con là sợ mình không được yêu thương, sợ con không xứng đáng để yêu.  Xin làm tĩnh lặng sự hoài nghi dằn vặt rằng con luôn là kẻ ngoài cuộc, rằng cuộc sống thật bất công, rằng con không được tôn trọng và thừa nhận.  Xin cho con ơn biết rằng con là con yêu dấu của Chúa, Đấng yêu thương con vô điều kiện.

Xin tĩnh lặng trong con nỗi sợ vô cớ đối với Chúa, để con đừng thấy Chúa xa cách và đáng sợ, mà thay vào đó là nhìn thấy Chúa nồng ấm và thân thiện.  Xin cho con ơn liên kết với Chúa thật hồn nhiên, như một người bạn mà con có thể chuyện trò, đùa giỡn, vui vẻ và thân thiết.

Xin tĩnh lặng trong con những suy nghĩ bất dung, về những giận hờn từ quá khứ, những bội bạc, lăng mạ mà con phải chịu.  Xin tĩnh lặng trong con những tội mà chính con đã phạm.  Xin tĩnh lặng trong con những tổn thương, cay đắng và giận hờn.  Xin cho con sự tĩnh lặng từ sự tha thứ, từ con và cho con.

Xin tĩnh lặng những nghi ngờ, lo lắng về sự hiện diện của Chúa, về lòng trung tín của Chúa.  Xin tĩnh lặng trong con xung lực muốn để lại dấu ấn, muốn tạo nên gì đó bất tử cho bản thân mình.  Xin cho con ơn biết tin tưởng, ngay cả trong tối tăm và nghi hoặc, rằng chính Chúa sẽ cho con sự sống đời đời.

Xin tĩnh lặng tâm hồn con để con biết Chúa là Thiên Chúa, và cho con biết Chúa đã tạo dựng và gìn giữ mọi hơi thở của con, rằng Chúa yêu thương con cũng như hết thảy mọi người, rằng Chúa muốn cuộc sống chúng con bừng nở, Chúa muốn chúng con hạnh phúc, Chúa yêu thương và chăm lo hết mọi người, rằng chúng con sẽ được an bình trong bàn tay nhân từ của Chúa, ở đời này và đời sau.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From Langthangchieutim

 Lên Thiên đàng…hay hưởng Thiên đàng

 Lên Thiên đàng…hay hưởng Thiên đàng

Trầm Tư Bên Suối

Trích Tin Mừng Mac-cô 16 : 20

Chúa Giê-su được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa.

Hình ảnh này giống như cảnh Ngọc hoàng thượng đế trong Tây Du Ký quá đi !!! Nơi đó có 2 ngai vàng dành cho Chúa Cha và Chúa Con, các quan đại thần là các thánh tông đồ, tiên tri, tử đạo, đồng trinh….. quỳ gối tung hô hàng ngàn năm rồi…và vẫn còn tôn vinh mãi mãi….

Còn bọn thảo dân chúng tôi thường đùa với nhau..

Miễn sao được lên thiên đàng, dù đứng cuối cũng được…

Hoặc bám đong đưa vào cánh cổng vàng cũng mãn nguyện rồi…còn hơn là khóc lóc than van nơi luyện ngục tối tăm sầu thảm…

Chúng tôi được dạy rằng:

Dương gian này là chốn lưu đày, đoàn con như khách lữ hành…

Xa xa kìa là nước Thiên đàng, đoàn con mong ước trở về…

Xa xa kìa có nghĩa là xa tít đời sau…

Còn đời này đừng có mơ !!! vì đoàn con như khách lữ hành…

Cứ tiếp tục lê gót trên đường dài …còn lâu mới tới.

Kể cả sau khi chết, chưa chắc đã được lên thiên đàng ngay đâu… còn bị giam cầm nơi luyện ngục chán chê…!!!!

Vì thế chuyện lên Thiên đàng quả thực là quá phiêu du…

Trong khi nghiên cứu Kinh Thánh tôi cũng thao thức về vấn đề này.

Tôi tự đặt cho mình câu hỏi: Thiên đàng ở đâu?

Chính Thầy Giêsu trả lời : Người ta sẽ không nói : ‘Ở đây này !’ hay ‘Ở kia kìa !’,

vì này Triều Đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông (Lc 17:21)

Triều đại Thiên Chúa còn được gọi là Nước Chúa,  Thiên đàng…đang ở giữa các ông.

Nếu Thiên đàng ở giữa có nghĩa là vừa ở giữa, vừa ở trong mỗi người chúng ta..

Nói thì dễ lắm …Nhưng làm sao nhận ra Thiên đàng ở trong mình thì khó lắm.

Phải đi tìm thôi.

Theo kinh nghiệm thực tế, tôi đi tìm Chính Chúa trước.

Trước kia, tôi vẫn ngầm tin rằng Chúa ngự trên trời…

gần hơn chút nữa: Chúa ở trong nhà Tạm.

Vì vậy tôi đã từng nhiều lần một mình đứng ngay trước nhà tạm trong những đêm thanh vắng. Rất ấm áp, rất  tuyệt vời…

Nhưng rồi hoàn cảnh xa nhà thờ…lòng nguội lạnh dần…Chúa cũng dần dần xa xa

Rồi sau những ngày nghiền ngẫm Kinh Thánh…

Tôi rất tâm đắc lời Chúa này

Chính anh em ở lại trong Chúa Con và Chúa Cha. (1Ga 2:24)

Niềm xác tín này cuốn tình mến vào tận đáy tâm hồn.

Tập sống trong tâm tình này một năm… tôi dần dần cảm nhận Chúa nhưmột con tim tình yêu khổng lồ bao bọc thân tâm tôi.

Tôi như chú cả nhỏ tung tăng bơi lội trong đại dương tình yêu của Chúa.

Nhỏ bé thôi, nhỏ bé thôi, trái tim con trong trái tim Ngài,

Nhỏ bé thôi, nhỏ bé thôi, là tình con trong khối tình Ngài..

Quá bình an… quá hạnh phúc…tôi CHẲNG CÒN MONG lên Thiên đàng nữa…

Chỉ vì tôi đang hưởng Thiên đàng bình an và hoan lạc trong tình yêu của Ngài.

Kết luận:  không cần mơ lên Thiên đàng… hay vào Thiên đàng..mai sau

Mà tự nhiên được  vui hưởng Thiên đàng  ngay tại chốn hồng trần này

Cầu nguyện

 Cầu nguyện

Lạy Cha từ ái,
đây là niềm tin của con.
Con tin Cha là Tình yêu,
và mọi sự Cha làm đều vì yêu chúng con.
Cả những khi Cha mạnh tay cắt tỉa,
cả những khi Cha thinh lặng hay vắng mặt,
cả những khi Cha như chịu thua sức mạnh của ác nhân,
con vẫn tin Cha là Cha toàn năng nhân ái.
Con tin Cha không chịu thua con về lòng quảng đại,
chẳng để con thiệt thòi khi dám sống cho Cha.
Con tin rằng nơi lòng những người cứng cỏi nhất
cũng có một đốm lửa của sự thiện,
được vùi sâu dưới những lớp tro.
Chỉ một ngọn gió của tình yêu chân thành
cũng đủ làm đốm lửa ấy bừng lên rạng rỡ.
Con tin rằng chẳng có giọt nước mắt nào vô ích,
thế giới vẫn tồn tại
nhờ hy sinh thầm lặng của bao người.
Con tin rằng chiến thắng cuối cùng thuộc về Ánh sáng.
Sự Sống và Tình yêu sẽ chiếm ngự địa cầu.
Con tin rằng dòng lịch sử của loài người và vũ trụ
đang chuyển mình tiến về với Cha,
qua trung gian tuyệt vời của Chúa Giêsu
và sức tác động mãnh liệt của Thánh Thần.
Con tin rằng dần dần mỗi người sẽ gặp nhau,
vượt qua mọi tranh chấp, bất đồng,
mọi dị biệt, thành kiến,
để cùng nắm tay nhau đi qua sa mạc cuộc đời
mà về nhà Cha là nơi hạnh phúc viên mãn.
Lạy Cha, đó là niềm tin của con.
Xin Cha cho con dám sống niềm tin ấy. Amen.

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ
From Maria Magdalena gởi

TÂM SỰ CỦA NGƯỜI CHA ĐẠO ĐỨC CÓ ĐỨA CON GÁI DUY NHẤT GIA NHẬP DÒNG KÍN

TÂM SỰ CỦA NGƯỜI CHA ĐẠO ĐỨC CÓ ĐỨA CON GÁI DUY NHẤT GIA NHẬP DÒNG KÍN

Ông Matthew Wenke là một tín hữu Công giáo đạo đức.  Ông thường cầu nguyện cho ơn gọi tu trì, nhưng ông không nghĩ chính Nora, người con gái duy nhất dễ thương của ông lại theo ơn gọi này.  Nora gia nhập đan viện thánh Giuse của các nữ tu Passionist ở Kentucky và tháng 8 năm 2015, cô đã được lãnh tu phục và bây giờ được gọi là sơ Frances Marie.  Ông Wenke  đã trải qua những giờ phút đau lòng từ khi con gái cưng bày tỏ quyết định đi tu.  Ông đã phấn đấu và cầu nguyện rất nhiều để can đảm dâng con lại cho Chúa và cuối cùng ông đã có được niềm vui khi nhìn thấy con mình hạnh phúc trong ơn gọi đời thánh hiến.  Ông đã chia sẻ những suy nghĩ của mình về câu chuyện này.  Ông bắt đầu:

“Nếu con gái của những người khác thích đi tu, tôi sẽ không đặt câu hỏi gì cả.  Tôi sẽ tôn trọng quyết định của họ và thật lòng vui mừng cho họ.  “Đó là một ơn gọi cao trọng và đẹp đẽ!”, “Thật là một cuộc sống có ý nghĩa với mục đích thánh thiện!”, tôi không nghi ngờ chút nào về điều này.  Nhưng khi tôi nghe biết ý định vào dòng kín của con gái tôi, ngay lập tức tôi nghĩ: “Trời ơi, ba hy vọng con có ơn gọi … làm sao con có thể về thăm nhà thường xuyên?”  Suy nghĩ đầu tiên của tôi không phải là về việc hoàn thành ơn gọi và đời sống thiêng liêng của Nora.  Ý nghĩ đầu tiên của tôi là tôi có thể sẽ thiếu vắng sự hiện diện của con gái tôi trong nhà của mình, và sự đồng hành dịu dàng và vui tươi của nó.  Tôi nghĩ những điều này vì tôi biết về đời sống đan tu khi tôi đọc cuốn “Nhật ký một tâm hồn của thánh Têrêsa,” trong đó chị thánh kể khi vào đan viện, chị phải nói lời tạm biệt với người cha đang đau đớn và chị Celine.  Tạm biệt luôn là thời khắc khó khăn đối với tôi. 

Tôi quan sát sự tự tin và an bình thiêng liêng của Nora trong chọn lựa ơn gọi của nó, khi Nora lần đầu thăm các nữ tu dòng Passionist trong tuần phân định “Đến và xem” trong tháng 11 đến 12 năm 2013, rồi 3 tháng như thỉnh sinh từ tháng 2 đến 5 năm 2014.  Tôi đã lo sợ rằng phải tạm biệt với đứa con gái duy nhất của tôi.  Trong khi chờ đợi và cầu nguyện trong thời gian này, tôi tự hỏi: Tôi có nên thử giữ nó ở lại nhà?  Tôi có nên làm cho nó thấy có lỗi với sự đau đớn và buồn sầu của tôi?…  Tôi nghĩ ngợi về sự ích kỷ đó, sự kiểm soát và làm dụng quyền lực của tôi.  Tôi nghĩ về tội lỗi mà tôi cảm thấy nếu tôi nhìn vào con gái của tôi, bị gài bẫy bởi sự ích kỷ của tôi.  Ý tưởng này làm tôi hoảng sợ!  Tôi cảm giác thế nào nếu ai đó đã gài bẫy tôi bằng tình cảm, không cho tôi tự do chọn ơn gọi và cách sống của tôi?  Tôi biết là tôi có thể tức giận với người đó và cảm thấy đau đớn vì không đáp lại tiếng gọi yêu thương thu hút của Chúa.  Tôi nhìn vào con gái tôi: một linh hồn trong trắng.  Một phụ nữ có đời sống thiêng liêng sâu sắc, muốn phân định tiếng Chúa gọi một cách tự do.  Nó ao ước hòa mình với ý muốn của Chúa mà tôi đã cầu nguyện, cho mọi con cái của tôi … trở thành những môn đệ đích thực, chúng tôi phải mở lòng với mọi chọn lựa, không chỉ cho chúng tôi, nhưng cho tất cả những người chúng tôi yêu quý.

Khi Nora trở về nhà sau 3 tháng thỉnh sinh ở Kentucky, nó không bao giờ trở về hoàn toàn.  Thân xác nó ở nhà nhưng lòng nó thuộc về đan viện ở Kentucky.  Nó yêu chúng tôi như trước và cố gắng để ở nhà.  Tuy vậy, sau một hay hai ngày, nó nói với tôi, đây không còn là cuộc sống của nó nữa.  Nó nói: “Con không có cuộc sống ở đây nữa; con cần đến với công việc mà Chúa dành cho con và nó không phải là ở đây nữa.  Tôi bị sốc và phần nào mềm lòng bởi những lời của nó.  Nhưng tận đáy sâu, tôi biết sự thật về chúng.  Tôi bắt đầu chuẩn bị cho lần ra đi cuối cùng của nó vào cuối tháng 7, khi mà Nora sẽ bắt đầu năm đệ tử.  Vào cuối thời gian này, nếu nó vẫn cảm thấy được gọi vào tu đan viện, nó sẽ không bao giờ trở về nhà ở Olean, New York nữa.

Những lời của Nora nhắc tôi nhớ đến lời Chúa Giêsu nói với Mẹ Maria và thánh Giuse: “Cha mẹ không biết là con phải lo chuyện của cha con sao?”  Chắc chắn những lời này làm họ đau đớn một ít, nhưng ho biết sự thật thiêng liêng sâu sắc.  Giống Chúa Giêsu, Nora vâng lời theo kế hoạch ở với chúng tôi cho đến cuối tháng 7.  Từ tháng 5 cho đến 26 tháng 7, khi chúng tôi trở lại Kentucky, tôi đã cầu xin sự can đảm, đức tin và tình yêu để cho con gái tôi đi, để dâng lại cho Chúa đứa con gái mà Ngài cho tôi mượn gần 19 năm nay.  Đứa con gái duy nhất của tôi.  Thiên Chúa đã trao con của Người cho tôi.  Tôi có thể trao lại Nora xinh đẹp của tôi vào cánh tay Người không?

Tôi không dối các bạn là tôi đã khóc, đã khóc, không biết bao nhiêu lần, khi tôi nhìn vào đứa con gái đáng yêu của tôi đang lần hạt Mân Côi bên cạnh tôi mỗi tối.  Nước mắt tôi trào ra khi tôi nhìn nó trong giờ Kinh sáng hay kinh Truyền tin vào ban trưa.  Tôi nhớ tiếng nói và thật sự tập trung vào sự thật là nó đang ngủ vào ban đêm, an toàn trong phòng của nó, dưới mái nhà tôi.  Không có ngày nào trong hai tháng này mà tôi không tranh thủ có sự hiện diện của nó.  Tôi trân trọng thời gian với con gái tôi. 

Tôi đã suy tư nhiều về cuộc sống chiêm niệm.  Trong khi tôi vẫn lo sợ nói lời chia tay với Nora, tôi có thể hiểu hứng thú và niềm vui của nó, và cả ghen tị với nó trong những lúc ồn ào hỗn loạn ở nhà hay khi làm việc.  Tôi nghĩ là một phần đời sống tinh thần của tôi sẽ liên kết với Nora khi nó đến ngôi nhà mới, và lời cầu nguyện của nó ở đan viện sẽ liên kết với lời cầu nguyện của chúng tôi ở nhà hay trong Thánh lễ.  Tôi cầu nguyện: “Chúa yêu quý, xin cho con can đảm, niềm an ủi và tình yêu sâu sa để chúng con thực hiện điều này.”

 Ngày 27 tháng 7 đã đến.  Tin mừng hôm đó thực thích hợp  – mọi người tìm kiếm những viên ngọc quý và mua thửa ruộng để sở hữu gia tài.  Nora đã tìm thấy tình yêu dành cho Chúa và ao ước cho Người tất cả và được Người sở hữu hoàn toàn!  Con gái tôi là kho tàng ít có… viên ngọc này sẽ được kết vào chuỗi của những viên ngọc quý.  Mỗi viên ngọc là duy nhất; không có viên nào đẹp hơn viên khác.  Tất cả làm thành sự hoàn hảo của chuỗi ngọc.  Tôi suy gẫm bài sách thánh này và quan sát nó với niềm vui, sự ngạc nhiên, niềm vui tỏa sáng của Nora khi trở lại đan viện.  Không có điều xấu nào có thể mang đến niềm vui, bình an và sự xuất thần rõ ràng mà Nora dường như đang cảm nghiệm.  Tôi cầu xin để cũng có thêm nhiều sự can đảm và niềm vui trong tôi.  Chúa đã ban cho tôi những điều này.  Tôi bị sốc vào buổi sáng Nora vào đan viện; niềm vui và tình yêu của nó lan truyền.  Tôi không thể nghĩ về chính tôi.  Tôi chỉ có thể nghĩ về niềm vui, sự vô vị lợi của con gái tôi và dâng nó cho  Chúa.  Không có điều gì buồn cả.  Nora vào nhà dòng với nụ cười và chúc lành của tôi và tôi vinh danh Chúa vì Người gọi con gái yêu quý của tôi.  Nó thuộc về Người.  Tôi và bạn cũng thế! (Aleteia  06/11/2016)

Hồng Thủy (VietVatican)

From: suyniemhangngay1 & Lucie 1937

Ý NGHĨA VIỆC CHÚA LÊN TRỜI

Ý NGHĨA VIỆC CHÚA LÊN TRỜI

 “Các tông đồ ra đi rao giảng khắp nơi” (Mc 16,20)

 Theo Thánh Luca, biến cố Chúa về trời mang chở một ý nghĩa sâu xa, nhằm biến đổi các tông đồ và khởi sự sứ vụ rao giảng Tin mừng của toàn thể Hội Thánh.  Thánh Luca thuật lại biến cố này để kết thúc Tin mừng và cũng để khởi đầu sách Tông đồ Công vụ.

Việc Chúa Thăng Thiên mang lại một âm hưởng sâu xa nơi các môn đệ.  Đối diện trước biến cố này, các ông ngỡ ngàng, mắt vẫn còn đăm đăm ngước lên trời cao (Cv 1,10), và chưa thể hình dung sự việc xảy ra như thế nào.  Nhưng sau đó, các ông đã hiểu.  Chính xác hơn, là các tông đồ đã dần dần hiểu ra và tiến sâu vào thế giới của huyền nhiệm khi nhớ lại những lời Đức Giêsu đã căn dặn.  Cuối cùng, “Các ông bái lạy Người.  Các ông trở về Giêrusalem lòng đầy hân hoan, và họ ở trong đền thờ, ngày đêm chúc tụng Chúa (Lc 24,52-53).

Thoạt đầu, phản ứng của các tông đồ khiến chúng ta dễ đặt nghi vấn.  Đức Giêsu vừa “rời bỏ” các ông.  Sự ra đi nào cũng để lại biết bao sầu thương và nỗi nhớ.  Các ông buồn, nhưng sau đó các ông lại “ngập tràn niềm vui.”  Tại sao các tông đồ lại có phản ứng trái chiều mau lẹ đến thế?  Chúng ta nhớ lại trong diễn từ ly biệt, ở phần cuối chương 13 của Tin mừng Gioan, Đức Giêsu báo trước là Ngài sẽ bỏ lại các ông, và tâm hồn các ông sẽ xao xuyến.  Nhưng sau đó Ngài trấn an và nói về Thánh Thần, là nguyên lý chữa trị những sầu buồn và tuyệt vọng (Ga 14-17).  Ngài nói với các học trò của mình đừng lo lắng, các ông sẽ không mất Ngài, những Ngài vẫn ở với các ông mọi ngày cho đến tận thế qua một dạng thức khác, nhờ Thánh Thần.

Việc Chúa về trời khơi dậy niềm vui.  Các tông đồ sớm nhận ra rằng khi Đức Giêsu trở về với Chúa Cha, họ sẽ lãnh nhận được nhiều đặc phúc.  Trước hết, đó là quà tặng Thánh Thần.  Lời hứa về Chúa Thánh Thần sẽ được thực hiện tròn đầy.  Các tông đồ nhìn xem Chúa lên trời, nhưng lòng đầy vui mừng bởi vì các ông nhớ lại lời hứa của Chúa về “ Đấng sẽ đến.”  Những nghi ngại và sợ hãi dần tan biến.  Các tông đồ thâm tín rằng Ngài đã trỗi dậy từ cõi chết và vẫn đang sống.  Qua sự phục sinh của Đức Kitô, các tông đồ trải nghiệm niềm vui, và hy vọng về sự chiến thắng trước mãnh lực tử thần.  Họ tín thác vào Chúa.  Vì thế, sự ra đi của Đức Giêsu để trở về với Chúa Cha đem lại cho họ niềm vui.  Niềm vui đó được cắt nghĩa với những lý do sau: 

1.Đức Giêsu lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha.  Chính Chúa Cha đã sai Ngài đến trần gian.  Ngài đã tiến nhận cái chết một cách bi thương và đã được quyền năng Chúa Cha làm cho sống lại.  Cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu là bằng chứng chắc chắn về ơn cứu độ và sự tha thứ tội lỗi (Do Thái 10,22-24).  Đây là căn nguyên niềm vui nơi các môn đệ cũng như nơi chúng ta.

2.Khi Chúa Giêsu về trời, Ngài đảm nhận vai trò trung gian giữa con người với Chúa Cha.  Nhờ Ngài và với Ngài, chúng ta được thông dự vào thế giới thần linh cùng Chúa Cha (1Ga 2,1).

3.Khi Chúa lên trời, vương quốc vĩnh cửu của Ngài bắt đầu khai mở.  Đó là vương quốc đánh bại kẻ thù là Satan và ác thần.  Thánh Phêrô đã viết: “ Đấng đang ngự bên hữu Thiên Chúa sau khi đã lên trời, đã bắt các thiên sứ và toàn thể thần minh phải phục quyền (1P 3,22).

  1. Cuối cùng, Khi Đức Giêsu lên trời, Hội thánh được phú ban năng quyền để thực thi sứ mệnh Chúa trao phó.  Khi nói về việc Đức Giêsu sống lại và lên trời, Thánh Phaolô trong thơ gửi giáo đoàn Êphêsô đã khẳng quyết: “Thiên Chúa đã đặt tất cả mọi sự dưới chân Đức Giêsu và đặt Người làm đầu toàn thể hội Thánh, mà Hội Thánh là thân thể Đức Kitô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn”(Eph 1,22-23).

Đức Giêsu được đưa về trời, khai mở vương quốc bất diệt.  Ngài là Vua, là Chúa tể hoàn vũ và Satan không thể làm được gì đối với vương quốc ấy.  Satan cám dỗ con người để chúng ta quên đi Đức Kitô là Vua vũ trụ.  Ma quỷ làm mọi cách để cắt đứt sự liên lạc giữa chúng ta với Ngài.  Sách Tông đồ Công vụ thuật lại, trước khi bị ném đá đến chết, Thánh Stêphanô đã ngước mắt lên trời và thấy Chúa Giêsu đang ngự bên hữu Chúa Cha.  Các sách tân ước đều khải thị cho chúng ta hình ảnh Đức Giêsu Đấng Cứu thế, là Vua hoàn vũ, là Vua chiến thắng, để mời gọi chúng ta tin vào Ngài.

Trước sự kiện Chúa lên trời, tâm hồn các tông đồ ngập tràn niềm vui, chứa chan niềm hy vọng, và sẵn lòng rộng mở để thực thi sứ mạng mà Đức Giêsu đã chuyển giao.  Đây là ba nét căn bản đã làm đổi thay các tông đồ một cách toàn diện: Niềm vui, niềm hy vọng, và việc thực thi sứ mạng rao giảng.

Chớ gì mỗi người chúng ta hôm nay, cũng như các tông đồ năm xưa, có thể trải nghiệm niềm vui, và niềm hy vọng.  Đồng thời, tiếp nối dấu chân của các tông đồ, chúng ta hân hoan lên đường thực thi sứ mạng cứu thế mà Chúa Giêsu đã chuyển giao cho chúng ta trước khi Ngài trở về với Chúa Cha.

Keith Witfield – Lm. GB. Văn Hào SDB, chuyển ngữ

TÌM HIỂU GỐC TÍCH THÁNG HOA ĐỨC MẸ

TÌM HIỂU GỐC TÍCH THÁNG HOA ĐỨC MẸ

Là người Công giáo Việt Nam, nhất là những người đã lớn lên trong một xứ đạo miền Bắc, Trung hoặc Nam, có lẽ không ai lạ gì sinh hoạt tôn giáo trong tháng Năm, tháng Hoa Đức Mẹ.  Khi ngàn hoa xanh, đỏ, trắng, tím, vàng nở rộ trong cánh đồng, thì con cái Mẹ cũng chuẩn bị cho những đội dâng hoa, những cuộc rước kiệu, để tôn vinh Mẹ trên trời.  Những điệu ca quen thuộc trìu mến bỗng nổi dậy trong tâm hồn cách thân thương, nhất là bài “Đây Tháng Hoa” của nhạc sĩ Duy Tân với điệu  2/4 nhịp nhàng:

“Đây tháng hoa, chúng con trung thành thật thà.  Dâng tiến hoa lòng mến dâng lời cung chúc.  Hương sắc bay tỏa ngát nhan Mẹ diễm phúc.  Muôn tháng qua lòng mến yêu Mẹ không nhòa.

– Đây muôn hoa đẹp còn tươi thắm xinh vô ngần.  Đây muôn tâm hồn bay theo lời ca tiến dâng.  Ôi Maria, Mẹ tung xuống muôn hoa trời.  Để đời chúng con đẹp vui, nhớ quê xa vời.

– Muôn dân trên trần mừng vui đón tháng hoa về.  Vang ca tưng bừng ngợi khen tạ ơn khắp nơi.  Ánh hồng sắc hương càng tô thắm xinh nhan Mẹ.  Sóng nhạc reo vang tràn lan đến muôn muôn đời”.

Nếu có ai tự hỏi: Tháng Hoa có từ đời nào?  Do ai khởi xướng? thì câu trả lời cũng không khó khăn gì.

Gốc tích như thế này:

Vào những thế kỉ đầu, hàng năm, khi tháng Năm về, người Rôma tôn kính sự thức giấc sau mùa đông dài của thiên nhiên bằng những cuộc tổ chức gọi là những ngày lễ tôn kính Hoa là Nữ thần mùa Xuân.  Các tín hữu Công giáo trong các xứ đạo đã thánh hóa tập tục trên.  Họ tổ chức những cuộc rước kiệu hoa và cầu nguyện cho mùa màng phong phú.

Có nơi người ta tổ chức các cuộc “Rước xanh.”  Người ta đi cắt các cành cây xanh tươi đang nở hoa,  đưa về trang hoàng trong các nhà thờ và đặc biệt các bàn thờ dâng kính Đức Mẹ.  Các thi sĩ cũng như các thánh đua nhau sáng tác những bài hát, bài giảng ca tụng những ngày lễ đó cũng như ca tụng Đức Mẹ.

Đến thế kỷ 14, linh mục Henri Suzo dòng Đaminh, vào ngày đầu tháng 5, đã dâng lên Đức Mẹ những việc tôn kính đặc biệt và lấy hoa trang hoàng tượng Đức Mẹ.

Thánh Philipe đệ Nêri, cũng vào ngày 1 tháng 5, thích tập họp các trẻ em lại chung quanh bàn thờ Đức Mẹ, để cùng các bông hoa mùa xuân, Ngài dâng cho Đức Mẹ các nhân đức còn ẩn náu trong tâm hồn non trẻ của chúng.

Đầu thế kỷ 17, tại Napoli, nước Ý, trong thánh đường kính thánh Clara của các nữ tu Dòng Phanxicô, tháng Đức Mẹ được cử hành công cộng: Mỗi chiều đều có hát kính Đức Mẹ, ban phép lành Mình Thánh.  Từ ngày đó, tháng Đức Mẹ nhanh chóng lan rộng khắp các xứ đạo.

Năm 1654, cha Nadasi, dòng Tên, xuất bản tập sách nhỏ khuyên mời giáo hữu dành riêng mỗi năm một tháng để tôn kính Đức Mẹ Chúa Trời.

Đầu thế kỷ 19, hết mọi xứ trong Giáo hội đều long trọng kính tháng Đức Mẹ.  Các nhà thờ chính có linh mục giảng thuyết, và gần như lấy thời gian sau mùa Chay là thời gian chính thức để tôn kính Đức Mẹ.  Trong việc này linh mục Chardon đã có nhiều công.  Không những ngài làm cho lòng sốt sắng trong tháng Đức Mẹ được phổ biến trong nước Pháp mà còn ở mọi nước Công giáo khác nữa.

–          Đức Giáo hoàng Piô 12, trong Thông điệp “Đấng Trung gian Thiên Chúa”, cho “việc tôn kính Đức Mẹ trong tháng Năm là việc đạo đức được thêm vào nghi thức Phụng vụ, được Giáo hội công nhận và cổ võ”.

–          Đức giáo hoàng Phaolô 6, trong Thông điệp Tháng Năm, số 1 viết: “Tháng Năm là Tháng mà lòng đạo đức của giáo dân đã kính dâng cách riêng cho Đức Mẹ.  Đó là dịp để ” bày tỏ niềm tin và lòng kính mến mà người Công giáo khắp nơi trên thế giới có đối với Đức Mẹ Nữ Vương Thiên đàng. 

Trong tháng này, các Kitô hữu, cả ở trong thánh đường cũng như nơi tư gia, dâng lên Mẹ từ các tấm lòng của họ những lời cầu nguyện và tôn kính sốt sắng và mến yêu cách đặc biệt.  Trong tháng này, những ơn phúc của Thiên Chúa nhân từ cũng đổ tràn trên chúng ta từ ngai tòa rất dồi dào của Đức Mẹ” (Dictionary of Mary, Catholic book Pub. 1985, p. 236)

Một câu truyện cũ đáng ta suy nghĩ:

Ở thành Nancêniô trong nước Pháp, có một gia đình trung lưu.  Vợ đạo đức, chồng hiền lành nhưng khô khan.  Vợ luôn cầu xin Chúa mở lòng cho chồng sửa mình, nhưng chồng cứng lòng mãi.  Năm ấy đầu tháng Hoa Đức Mẹ, bà sửa sang bàn thờ để mẹ con làm việc tháng Đức Mẹ.  Chồng bà bận việc làm ăn, ít khi ở nhà, và dù ông ở nhà cũng không bao giờ cầu nguyện chung với mẹ con.  Ngày lễ nghỉ không bận việc làm thì cũng đi chơi cả ngày, nhưng ông có điều tốt là khi về nhà, bao giờ cũng kiếm mấy bông hoa dâng Đức Mẹ.

Ngày 15 tháng Sáu năm ấy, ông chết bất thình lình, không kịp gặp linh mục.  Bà vợ thấy chồng chết không kịp lãnh các phép đạo, bà buồn lắm, nên sinh bệnh nặng, phải đi điều trị ở nơi xa.  Khi qua làng Ars, bà vào nhà xứ trình bày tâm sự cùng cha xứ là cha Gioan Vianey.

Cha Vianey là người đạo đức nổi tiếng, được mọi người tặng là vị thánh sống.  Bà vừa tới nơi chưa kịp nói điều gì, cha Gioan liền bảo:

–          Đừng lo cho linh hồn chồng bà.  Chắc bà còn nhớ những bông hoa ông vẫn đem về cho mẹ con bà dâng cho Đức Mẹ trong tháng Hoa vừa rồi chứ?

Nghe cha nói, bà hết sức kinh ngạc, vì bà chưa hề nói với ai về những bông hoa ấy, nếu Chúa không soi cho cha, lẽ nào người biết được?

–          Cha sở nói thêm: Nhờ lời bà cầu nguyện và những việc lành ông ấy đã làm để tôn kính Đức Mẹ, Chúa đã thương cho ông ấy được ăn năn tội cách trọn trong giờ chết.  Ông ấy đã thoát khỏi hỏa ngục, nhưng còn bị giam trong luyện ngục, xin bà dâng lễ, cầu nguyện, làm việc lành thêm cầu cho ông chóng ra khỏi nơi đền tội nóng nảy mà lên Thiên đàng.

Nghe xong lời cha Gioan,  bà hết sức vui mừng tạ ơn Đức Mẹ. (Sách Tháng Đức Bà, Hiện Tại xuất bản, 1969, trang 10).

 Nếu chỉ vì mấy bông hoa mọn dâng kính Đức Mẹ cũng được Đức Mẹ ban ơn cứu rỗi lớn lao như vậy, thử hỏi, những ai trong tháng Năm này tham dự dâng Hoa, rước kiệu, đọc kinh Mân côi, hơn nữa, họ dâng lên Mẹ những hoa tin, cậy, mến, hi sinh, đau khổ, bệnh nạn… chắc sẽ còn được Đức Mẹ ban muôn ơn trọng hơn nữa vì Mẹ thích những bông hoa Xanh của lòng Cậy, hoa Đỏ của Lòng mến, hoa Trắng của lòng trong sạch, hoa Tím của hãm mình, hoa vàng của niềm tin, hoa Hồng của kinh Kính mừng lắm lắm.

Thánh Anphongsô Ligori quả quyết rằng: “Nếu tôi thật lòng yêu mến Mẹ, thì tôi chắc chắn được lên thiên đàng”.

Thánh Bênado diễn tả văn vẻ hơn: Được Mẹ dẫn dắt, bạn sẽ không ngã.  Được Mẹ che chở, bạn sẽ không sợ.  Được Mẹ hướng dẫn, bạn sẽ an lòng.  Được Mẹ ban ơn, bạn sẽ đạt đích mong chờ.

Lm. ĐoànQuang, CMC

From Langthangchieutim 

Lạnh lùng chăng, gió tha hương?

Suy Tư Tin Mừng Chúa nhật thứ 6 Phục Sinh năm B 06/5/2018

Tin Mừng (Ga 15: 9-17)

Khi ấy Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người. Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.

Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy.15 Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết.

Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại, hầu tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em. Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau.”

 &  &  &

“Lạnh lùng chăng, gió tha hương?”

“Em về bên ấy, ai thương em cùng?”

(Dẫn từ thơ Đinh Hùng)

Mai Tá lược dịch

Văn thơ ngoài đời, người người vẫn hỏi: “Em về  bên ấy, ai thương em cùng?” Thi ca Đạo, Chúa lại quả quyết: “Anh em là bạn của Thầy. Nếu anh em thực hiện điều Thầy dạy, Thầy sẽ không gọi anh em là tôi tớ, vì tôi tớ không biết việc chủ làm” (Ga 15: 16). Đó là ý chính trình thuật Chúa đã tỏ bày, hôm nay.

Trình thuật, nay thánh Gioan lại đã ghi về một khẳng định Chúa từng bày tỏ: tất cả mọi người là bạn hữu chứ không phải bày tôi của Chúa. Kinh bổn khi xưa lại vẫn nhồi sọ bầy trẻ rằng: loài người có mặt trên trái đất là để phục vụ Chúa. Trong khi đó, Tin Mừng lại quả quyết: chúng ta là bè bạn và là anh em với nhau chứ không là bầy tôi, của ai hết. Điểm khác biệt, giữa bè bạn và bầy tôi là ở điểm: bầy tôi chỉ biết tuân lệnh của chủ một cách máy móc, chứ không nắm rõ ý định thâm sâu nơi lệnh truyền. Bởi lẽ, bầy tôi là người tôi tớ sống ngoài cục diện, cũng như tâm tư mà người chủ vẫn đan kết. Còn bạn bè, lại hiểu rõ lý do khiến bạn mình hành xử, là như thế. Có hiểu rõ, nên mới cảm thông, yêu thương, mật thiết.

Trình thuật, nay được phụng vụ Hội thánh chọn để nhấn mạnh, thêm một lần nữa, lời Chúa tâm sự với đồ đệ trước lúc Ngài giã từ mọi người, để cất bước ra đi chấp nhận khổ đau/sầu buồn đến nỗi chết. Tâm sự, là tâm tình tự sự của Chúa vào phút cuối, trong đó Chúa đã đưa ra lệnh truyền mới yêu cầu mọi người “Hãy thương yêu nhau!” Lệnh truyền, là lệnh yêu thương không theo nghĩa chung/thường tình nhưng là mang ý lực đặc biệt, như Chúa từng nhấn mạnh: “Như Thầy vẫn yêu anh em”.(Ga 15: 12) Đó là điểm chính yếu rất mới. Mới, là lời lẽ thâm sâu cứu độ, khiến Chúa nhập cuộc với con người. Lời và lẽ, của Tình Thương Yêu Ngài tỏ lộ vào ngày cuối, ở thế trần.

Vào ngày cuối, Đức Gêsu biết rõ giới chức cầm quyền ở Giêrusalem muốn trừ khử Ngài khỏi hiện trường cuộc sống với xã hội, nên họ mới tìm bằng cớ bắt giữ Ngài. Ngài lui về vùng đất phía bên kia Gio-đan, tức rời xa tầm tay với và quyền kiểm soát của giới chức đầy quyền thế, là Philatô, Hêrôđê. Nếu chỉ muốn cam phận chọn sống âm thầm ở nơi đó, hẳn là Chúa cũng không bị giới chức ấy đe doạ tính mạng Ngài. Nhưng ngay lúc đó, Ngài được tin người bạn thân thiết của Ngài là Lazarô ốm nặng, chắc khó sống.

Lazarô lâu nay vẫn sống ở thôn làng Bêtania, tức cửa ngõ dẫn vào thành thánh Giêrusalem. Còn Chúa, Ngài lại tạm trú ở Giuđêa, vùng đất nguy cho tánh mạng của các đấng như Ngài. Thành thử, Chúa đành chờ thêm hai ngày nữa để xem nếu như Ngài liều thăm Lazarô, thì sự việc có tồi tệ không? Mạng sống Ngài và của đồ đệ có an toàn không? Đức Giêsu biết rõ tình hình lúc ấy quả là nguy hiểm, nếu Ngài đến thăm Lazarô, có thể Ngài sẽ bị giới chức cầm quyền gài bẫy bắt Ngài rồi lên án chết.

Tuy nhiên, Ngài không sờn lòng, vẫn ra đi thăm bạn hiền đang sắp chết. Ra đi, khi đã đắn đo, chọn lựa. Ra đi, quyết chấp nhận mọi rủi ro, vì tình bạn. Tình bạn phải như thế. Dù có thể, khi đến nơi, Lazarô bạn hiền không còn đó, đã ra đi về miền vĩnh cửu không kịp giã từ Ngài. Và, quyết định của Ngài đã được thánh Tôma, cũng là bạn của Chúa, nhanh chóng hỗ trợ và cùng đi. Hoặc, nếu cần, sẽ cùng chết với Ngài vì tình bạn.

Đó là lúc Ngài thổ lộ: “Không có tình mến thương nào lớn hơn là thí mạng sống mình vì bạn hữu.”(Ga 15: 13) Và, đó là lúc Ngài thêm lời nhủ khuyên đồ đệ: “Hãy yêu mến nhau, như Thầy vẫn mến yêu anh em.” Tức bảo rằng: “Hãy yêu mến nhau, như Thầy đã mến thương (Lazarô) thế này đây!”

Chấp nhận mọi hiểm nguy mang đến cho cuộc sống vì bè bạn, không là ý niệm trừu tượng. Cũng không là châm ngôn về đạo đức. Nhưng, Ngài đi Bêtania là để chữa lành/vực dậy thi hài của bạn hiền, Chúa muốn triển khai nhanh tiến trình chọn cái chết cho Ngài. Tin Mừng thánh Gioan còn ghi rõ: chỉ sau đó, công nghị Giêrusalem mới chính thức lên án Chúa. Án đây là án chết, do Ngài liên tiếp chối từ mọi nhượng bộ làm theo ý họ. Và, họ tìm dịp để thực hiện quyết định đã đưa ra. Xem thế thì, chuyến đi thăm Lazarô ngoài việc chứng tỏ tình bạn là cao cả, còn là cơ hội đã thúc bách động tác có quyết tâm trên Ngài.

Đức Giêsu không là loại người tìm đến cái chết để chứng tỏ điều gì, dù cao cả. Quyết định của Ngài không phải là hành động tự kết liễu cuộc đời. Ngài không là vị anh hùng“kamikaze” cuồng tín. Ngài cũng không tìm đến khoái lạc trong khổ dâm, hoặc chết chóc. Không, hoàn toàn không phải thế. Trái lại, nơi Ngài lại có sự cao cả cùng nét đẹp về bản chất rất chân chất. Bản chất ấy, là dám hy sinh tính mạng mình vì bè bạn. Là, cho đi con người mình vì lòng mến thương rất độ lượng.

Với Chúa, có nhiều thứ nơi cuộc sống hơn là chỉ đơn giản sống sót với đời mình. Tình bạn chẳng khi nào là rẻ mạt hết.

Chúa cũng nói: “Thày đã không gọi anh em là tôi tớ, mà là bạn.” (Ga 15: 15). Bảo rằng: anh em là bạn hữu của Thày, thì anh em có chịu làm điều này với Thày mình không? Nếu anh em là bạn hữu của nhau, thì anh em cũng sẽ làm cho nhau như thế chứ? Bởi lẽ, lòng mến thương  -nhất là lòng thương và mến vì bạn hữu-  có thể sẽ làm cho anh em dễ bị tổn thương. Tình bạn còn khiến anh em biết lo lắng cho nhau đến độ dám liều mạng sống của mình vì người ấy. Tình bằng hữu có lòng mến cao cả và niềm vui, lẫn niềm đau nỗi khổ nữa. Hai việc này vẫn đi đôi với nhau. Anh em không thể muốn điều này mà lại không chấp nhận điều kia.

Lòng mến thương tựa như lửa ngọn. Lửa này vừa nung ấm tình người, vừa thắp sáng rọi chiếu khắp nơi. Đổi thay hết mọi sự rồi sẽ đưa vào sự sáng. Ở nơi đó, có một thứ lý lẽ rất hợp lẽ đạo nhưng không dựa trên lý trí, không tính toán. Như Chúa nói: Kẻ thù của Ngài chẳng có quyền hành gì trên Ngài hết. Ngài phú ban sự sống của Ngài chỉ vì Ngài muốn thế. Không ai có thể lấy đi khỏi nơi Ngài, tức ra khỏi lòng muốn của Ngài. Làm thế, Ngài đã chứng tỏ cho ta thấy Thiên Chúa là Đấng nào. Là Thiên Chúa, Ngài cũng làm như thế, thôi.

Thiên Chúa đối xử với ta như người “Bạn”, rất hiền. Tình Ngài thương mến ta không do định luật nào, vẫn đề ra. Tình Ngài thương ta, không do bộ óc con người suy diễn để định ước, hoặc ràng buộc. Tình Ngài đem đến cho ta nhiều nghị lực. Và, khi Thiên Chúa can thiệp mọi chuyện vì ta, điều đó không có nghĩa là Ngài đến từ bên ngoài vũ trụ, rồi Ngài thổi vào lớp vỏ bọc ngoài của trời trăng, cùng sông nước.

Nhưng, Ngài đến để chứng tỏ rằng: Ngài muốn thiết lập tình bè bạn rất đích thực. Và, để lưu lại mãi mãi nơi ta. Thiên Chúa tự cho đi chính Mình Ngài. Và, Đức Giêsu cũng mặc lấy nơi Ngài tình thương yêu ấy. Và, Chúa gọi đó là Tình Bạn. Ngài thực thi Tình này cũng một kiểu như người nghệ sĩ, để ta thấy được, nghe được và cảm nhận được.

Điều này, không diễn tiến theo kiểu tôn giáo nào đó đã lý luận, bảo rằng: Thiên Chúa Cha vẫn muốn Con Một Ngài phải chết đi hầu làm lắng dịu nỗi uất ức/giận hờn, nơi con người. Thiên Chúa là Cha, Ngài chẳng bao giờ thiết tha đến những chuyện như thế. Và, Đức Giêsu cũng chẳng ủng hộ những chuyện như thế. Ngài vẫn muốn sống. Vẫn muốn sự sống của Ngài, và còn hơn nữa, sự sống của bè bạn nữa.

Đó là ý nghĩa câu Ngài nói: “Chính do tình mến thương anh em dành cho nhau như bè bạn, mọi người sẽ biết anh em là môn đệ của Thày.”

 Và, chúng ta được dạy: Hãy thương mến nhau bằng tất cả sự hăng say, thương mến.Tất cả mọi người chúng ta có quyền lựa cho đi chính mình cho bè bạn như Đức Giêsu từng làm. Như Thiên Chúa là Cha từng làm và sẽ còn làm mãi mãi, không nguôi. Và, nếu mọi người chúng ta muốn trở thành người của Chúa rất đích thực, đó không là chọn lựa. Nhưng là lệnh truyền gửi đến với nhau, và cho nhau.

Hiểu thế rồi, tưởng cũng nên ngâm thêm lời thơ còn đó, đang chờ ta ngâm tiếp:

“Trời hồng chắc má em xinh,

            Nước trong, chắc miệng em cười thêm xinh.”

            (Đinh Hùng – Bài Hát Mùa Thu)

Mùa thu hát mãi trời hồng. Có má em xinh. Có miệng em cười. Cười xinh trong trời hồng, con dân của Chúa vẫn coi nhau như bạn hiền. Vẫn gọi nhau là anh em, suốt đời. Vẫn cứ mong, mọi người sẽ gọi nhau như thế mãi. Bởi, chính Chúa đã khẳng định và gọi mời mọi người làm như thế. Hết mọi thời.

Lm Kevin O’Shea DCCT biên-soạn

Mai Tá lược dịch

Như một lời cuối, tôi cám, tôi cám ơn đời,

Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 6 mùa Phục Sinh năm B 06-5-2018

 

“Như một lời cuối, tôi cám, tôi cám ơn đời,”

như giòng suối mật bao ngọt ngào,

đời cho tôi nuốt …

Ôi ngọt ngào …

Làm sao trút hết nồi lòng của tôi.”

(Hoàng Thi Thơ – Lời Hát Tạ Ơn)

 (2Corinthô 5: 17)

 Trần Ngọc Mười Hai

Lời cuối hay lời đầu, cũng vẫn là lời và lời, mà thôi.  Lời đây, lại là lời hát những chữ “tạ ơn”, hoặc “cám ơn”. “Tạ ơn người”, cám ơn đời, nào người có hay”. “Tạ ơn Tình”,“hạnh phúc mênh mông” vẫn “bềnh bồng, trong gió trên mây.” tức nghĩa là: người được “cám ơn” vẫn thấy “mênh mông” một phúc hạnh rất “bềnh bồng”. Cám ơn đời/tạ ơn người vừa nằm xuống là cha giáo Úc cả một đời truy tìm tư-tưởng mới để rồi chia sẻ với mọi người, ở chân trời Sydney hôm nay. 

Chân trời Sydney hôm ấy, lại thấy đấng bậc Dòng mình cứ “cám ơn đời, cám ơn người”, rất hết mình qua bài điếu văn nói lên các đặc trưng/đặc thù của cha giáo Kevin O’Shea, quyết nói đến đặc trưng “truy tầm tư tưởng mới” của thày mình.

Được biết, hôm ấy Linh mục Giám tỉnh Ed Nixon có cho biết: mỗi ngày, cha giáo Kevin đều lên tàu sắt đi từ nhà phụ thuộc vùng New Castle, Sydney về nhà chính Kogarahmiệt mài “truy tìm tư tưởng mới” suốt 6 tiếng đồng hồ qua sách vở, rồi mới về.

“Truy tìm tư tưởng mới”, là động-thái lạ kỳ nhưng thiết-thực của nhiều bậc vĩ-nhân hôm nay. Kể ra tên tuổi các vĩ-nhân này quả là không hết. Có cố-gắng cho lắm, cũng chỉ hao tổn công sức và thì giờ, mà thôi. Thế nên, hôm nay, nhân cơ hội này, bần đạo xin mời độc-giả cùng bạn và tôi, ta kinh qua một số chuyện để rút tỉa kinh-nghiệm hầu sống cho thoải-mái, phúc hạnh.

Về việc “truy tìm tư tưởng mới”, bần đạo đây bèn nhớ lại câu nói đầy quyết tâm của một bạn đồng học từng nhắn nhủ, rằng: “Này bạn mình, sống mà không có tư tưởng nào mới cả, thà chết sớm còn sướng hơn, nhỉ?” Câu nhắn này, nghe qua cũng hơi mang tính “ngạo mạn” đấy! Thế nhưng, xét cho cùng thì có bảo thế cũng không sai.

Vừa qua, trong “truy tìm nguồn tư-tưởng mới”, bần đạo đây lại đã chộp được giòng chảy nhỏ của nhân-sĩ nọ có viết về “cuộc sống đầy dục tính” của loài người nói chung, xin tạm dịch một đoạn khá vui như sau:

“Có những sự việc lạ kỳ đang xảy đến trên thế-giới của chúng ta. Phía phụ nữ thì: sau khi phá vỡ các mẫu rập khuôn tuổi tác, đang đi vào địa-hạt phát-triển mọi nỗ-lực của con người. Các nước như Ấn Độ, Israel, Phillíppin, Na-Uy, Anh Quốc và nhiều nước khác đã và đang trở-thành thủ-lĩnh do dân bầu để cai-trị đất nước mình…” 

Thế đó, là một trong những cái mới nơi giòng chảy tư-tưởng của thời-đại. Thế còn, địa-hạt thần-học thì sao?   

Về thần-học, ta có thể nói mà không sợ sai lầm, rằng: ngay đến ông Phaolô của cộng-đoàn tín-hữu thời tiên-khởi cũng là người lâu nay và mãi mãi chủ-trương “truy-tìm nguồn tư-tưởng mới “. Chứng-cớ đành rành thấy rõ là qua khẳng-định đầy tâm-huyết của ông qua câu viết trong bức thư thứ hai gửi giáo-đoàn Corinthô ở đoạn 5 câu 17, vẫn cứ bảo:

“Phàm ai ở trong Đức Kitô đều là thọ tạo mới.

Cái cũ đã qua, và cái mới đã có đây rồi.” 

Cái mới-mẻ trong giòng chảy tư-tưởng, còn rải rác ở đây đó, chí ít là các bài viết hoặc sách/vở, ngày hôm nay. Dễ thấy nhất, là bài viết ta gặp được ở đoạn văn sau đây:

“Thiên Chúa vẫn thương-yêu ta, dù ta có ra thế nào đi nữa. Với Ngài, mọi người chúng ta đều là những con người phàm-tục đáng quí-trọng. Truyện kể hàng tư tế, còn nói lên một điều nữa, là: suy-tư của ta về các lỗi/tội hoặc sai sót/bất-toàn, không có chỗ đứng trong mối quan-hệ mật-thiết giữa ta và Thiên-Chúa. Điều này, còn có nghĩa: đã có khởi đầu mới, nên ta không cần ở mãi trong thân-phận tôi đòi, hoặc làm thân nô-lệ do gánh nặng của quá-khứ tạo cho ta.

 Một số người có vấn-đề về tội lỗi hoặc mang tâm-trạng tiêu-cực, lại cứ nghĩ: mình không xứng-đáng được Chúa cứu-vớt, nên càng phải xem xét cho thật kỹ thông-điệp này, hơn.” (X. Gs Marcus J. Borg, Gặp Gỡ Đức Giêsu Như Lần Đầu Từng Gặp”, Chương 6, nxb Hồng Đức 2018) 

Nói cho cùng, thì: người và ta cũng như ta và người, chỉ gặp được những gì là “mới mẻ” ở tư-tưởng thần-học, ngang qua và nhờ vào Thần Khí, mà thôi. Cố Gs Kevin O’Shea, CSsR cũng đã nhận ra được điều này, khi ông suy và niệm trình-thuật Tin Mừng do tác giả Gioan diễn và tả mọi sự việc xảy đến với cộng-đoàn tín-hữu thời tiên-khởi, mà bảo rằng:

“Trình thuật thánh Gioan, nay diễn tả là diễn và tả về Đấng tràn đầy Thần Khí, tức Đức Giêsu Kitô. Ngài là Chúa, rất thật như lịch sử cho thấy, mà không cần chứng minh. Tuy nhiên thời tiên khởi, nhiều người lại coi đây như danh xưng lờ mờ, chưa chứng tỏ. Có lẽ vì thế, cũng nên suy về thiên tính của Ngài để khám phá thêm về Đức Chúa.

 Thời xa xưa, khi nói Thiên Chúa là nói đến Giavê. Nếu có ai hỏi về những người sống cùng thời với Đức Giêsu xem Ngài có là Giavê Thiên Chúa không, thì câu trả lời khi ấy sẽ rất nhanh là tiếng “không”. Và, nếu có hỏi chính Đức Giêsu cũng bấy nhiêu từ, thì chắc hẳn Ngài cũng nói tiếng “không” hệt như thế.

 Bởi, người sống gần gũi Đức Giêsu lúc ấy, vẫn không nghĩ Ngài là Giavê Thiên Chúa, hoặc Đức Chúa của ai, mà Ngài chỉ là ngôn sứ do Giavê gửi đến, thôi. Thế nên, người sống ở thời của Chúa ít khi thắc mắc về “thiên tính” của Đức Giêsu, cũng dễ hiểu. 

Ngay thánh Phaolô cũng ít khi tự vấn mình bằng câu hỏi Đức Giêsu có là Thiên Chúa không? Tất cả các thánh thuộc Giáo hội thời ban đầu đều có ý nghĩ: Đức Giêsu có tràn đầy thiên tính nên Ngài mới kết hợp mật thiết với Thiên Chúa đến độ ngoài Ngài ra, không ai có được cảm nghiệm nào như thế. 

Kết cục là, Thiên Chúa vẫn hiện hữu và nổi lên cách đương nhiên ở bên trong và chung quanh Đức Giêsu, vì con người. Đức Giêsu sẻ san mọi điều Thiên Chúa đã và đang làm với Chúa và trong Chúa. Và, Thiên Chúa cũng thực hiện công trình của Ngài với Đức Giêsu và trong Đức Giêsu. Thiên Chúa và Đức Giêsu ở gần nhau đến độ không ngôn ngữ nào nói lên được sự gần gũi ấy.

 Tín hữu thời giáo hội tiên khởi phải mất một thời gian dài mới tìm ra ngôn ngữ chính xác để nói lên tương quan giữa Đức Giêsu và Thiên Chúa cũng như giữa Thiên Chúa và Ngài. Tương quan ấy, dựa trên niềm tin rất chính xác rất mới về tính “có một không hai” của Đức Giêsu. Tín điều này, nảy sinh và lớn mạnh cũng chậm, nhất là với thế giới Hy Lạp.

 Ngay đến Tin Mừng của các thánh cũng viết theo văn phong cốt cách nhằm lôi cuốn sự chú ý phấn khởi của mọi người để biết rõ Đức Giêsu là Đấng nào. Tin Mừng các thánh viết ra không là văn bản lịch sử và cũng không là định nghĩa chính thức về Ngài. Tân Ước chỉ để ra đôi đoạn rời rạc về chuyện này và xem ra cũng không mang tính nhất quán. Có Tin Mừng nói rất rõ về thiên tính của Chúa, trong khi đó, có bản lại nói ngược hẳn.  

    Chừng như nhận thức công khai và rộng rãi về thiên tính của Đức Giêsu chỉ có được vào những năm cuối thế kỷ đầu, thôi. Nhiều người lại cứ nghĩ: mặc khải về thiên tính của Đức Giêsu, là điều cốt yếu của niềm tin, và được củng cố theo khuôn thước của Công đồng Hy-Lạp bằng cung cách dễ tiếp cận. Sự thật tuy còn đó, nhưng ngôn ngữ con người vẫn luôn nghi ngờ hết mọi sự.

 Thật ra, người thời ấy vẫn thấy khó mà nắm được ý nghĩa ngôn ngữ mà họ sử dụng hằng ngày. Giống như tiếng Hy Lạp vẫn là thứ ngôn ngữ rất lạ, đối với người thường. Lạ đến độ, có người vẫn tự hỏi lòng mình xem có cách nào khác để khám phá ra thiên tính đích thực của Chúa không? Cung cách mới chứ không phải ngôn ngữ cổ của thời xưa.” (X. Lm Kevin O’Shea CSsR, Lời Chúa Sẻ San năm B, 2018 tr. 114-115)

Cung cách mới chứ không phải ngôn-ngữ cổ thời xưa”, vẫn là những thứ và những sự làm bận tâm cộng-đoàn Hội-thánh suốt nhiều thời. Thời nay, nhiều người nắm bắt được điều mới mẻ ấy, vẫn nói những lời đầy cảm-kích như những ca-từ còn hát mãi, ở bên dưới:             

 “Như một lời cuối, tôi cám, tôi cám ơn người,

Nào người có hay,

nhưng tràng pháo tay là những phút giây,

làm tiếng hát thêm say, làm tiếng hát cao bay

đời ta bảy bờ 

Như một lời cuối, tôi cám, tôi cám ơn Tình,

Tình đến như mộng, với cuộc tình hồng,

với cuộc tình nồng cho tôi hớp cạn bao phút thiên đàng,

hạnh phúc mênh mông.

 Rồi mai đây nếu tôi không còn trên đời này,

thì lời này còn nồng nàn như hớp rượu say

Rồi mai đây nếu tôi không còn

thì lời này còn bềnh bồng,

bềnh bồng trong gió, trên mây

(Hoàng Thi Thơ – bđd)

Hát những lời “bềnh bồng trong gió, trên mây”, còn để mọi người trong đó có tôi và bạn, những con người đang suy-tư cảm-kích thứ “tình người” và “tình đời” vẫn mênh mông, rộng khắp chốn bằng đủ mọi hình-thức thân quen, mới cứng rất trân trọng ở đời người. Những tình-tự như thế, còn được trân-trọng bằng giòng truyện kể rất dễ nể như bên dưới:

“Có tên cướp đi vào ngôi làng nọ. Hắn ta ẩn vào nhà vị bác sĩ duy nhất trong làng, tức: người mà hắn tin rằng rất giàu, nên dự tính đến khuya sẽ nắm đầu ông bác sĩ và bắt ông nói chỗ cất giấu của cải quý giá của mình, rồi giết ông đi để bảo mật. 

Đêm hôm ấy, đột nhiên có điện thoại từ người thân của đứa trẻ làng bên cạnh đang bị bệnh rất nặng cầu cứu bác sĩ. Lúc ấy, vào mùa đông, trời đổ tuyết lớn, mưa gió bão bùng, thôn làng của đứa trẻ bị bệnh lại cách xa một quả núi, đi đến đó sẽ gặp nhiều nguy hiểm trên đường, mà trời lại quá khuya, trong khi ông đã trải qua một ngày trời quá mệt mỏi.

 Gác điện thoại, ông bác sĩ thở dài dự định lên giường để nghỉ. Nhưng rồi ông lẩm bẩm tự nhủ: mình không đi bây giờ lỡ ra đứa trẻ ấy chết đi thì sao. Nghĩ thế xong, ông lấy lại tinh thần bèn mặc thêm áo ấm, cầm theo cây đèn bão rồi mở cửa, ra đi. Dáng ông liêu xiêu trong gió tuyết. Sáng hôm sau khi ông bác sĩ trở về, tên cướp đón ông ngay trước cửa nhà, sụp xuống dưới chân ông:

-Ông có biết tôi chờ ông suốt từ đêm qua tới giờ không?

-Xin ông vào nhà để tôi khám bệnh cho ông, Bác sĩ đáp lại.

Tên cướp nói:

-Không phải thế. Tôi là một tên ăn trộm. Đêm qua, tôi đã ẩn nấp trong nhà ông. Tôi muốn bắt ông khai chỗ giấu của cải và rồi quyết-định sẽ giết ông. Nhưng hôm qua, giữa trời mưa gió bão bùng, tuyết rơi khắp chốn, ông lại bất chấp nguy hiểm đi chữa bệnh cho người ta. Tôi cảm thấy rất xấu hổ vì định làm hại một người có lòng tốt như ông. Khi ông ra đi trong đêm tối, ông không chỉ cứu đứa trẻ ở làng bên kia mà thôi, nhưng còn cứu chính bản thân ông. Và ông biết không, ông còn cứu cả tôi nữa”.

 Thật may cho ông bác sĩ và ông Thượng vì cả tên cướp trong câu chuyện trên và anh thanh niên được kể trong đề bài đều “không thể đối xử với tình thương bằng lòng tham của mình”. Sự may mắn ấy của một con người không phải đến một cách tình cờ mà nó được tích lũy bởi lòng chân thành và tình thương của họ. Tình yêu thương của con người vẫn có thể lay động cả đất trời.

 Bởi thế nên, có thể nói rằng: chúng ta bất kể giàu/nghèo, sang/hèn đều gắn kết với nhau được đó là  nhờ việc “cho đi”. Cho đi, giống như hành-động  của một Bill Gates, hay Warren Buffet là những vĩ-nhân có thể thay đổi cả thế giới. Chúng ta cũng có thể không hoặc chưa làm được những điều lớn lao như các vị này, nhưng chúng ta vẫn có thể cho đi bằng những hành-động bé nhỏ hằng ngày.

 Đó có thể đơn giản chỉ là một nụ cười dịu nhẹ tỏ ra với người bán hàng, hoặc lời cám ơn chân thành gửi đến người lao công ở trên phố, hoặc biết chia sẻ công việc nhà với bà con, hoặc biết xếp hàng ở phố/chợ, biết bỏ cọng rác vào thùng, biết xách hộ cái giỏ nặng cho phụ nữ mang bầu, biết nhường ghế cho cụ già vất vả trên xe buýt…

 Vào những lúc có thể, ta cũng nên làm những việc nhỏ bé, chỉ vậy thôi. Nếu tất cả mọi người đều biết cách sống mà “cho đi”, ắt hẳn tất cả mọi người lại sẽ nhận ra thiên đường, ở thế gian này.

 Có người lại sẽ bảo: tôi còn nhỏ tuổi và đời tôi đâu phải màu hồng mà phải làm thế. Riêng tôi thì nghĩ khác. Bút màu cầm trong tay, ai cũng có quyền tô vẽ màu sắc cho đời mình được hết. Để kết thúc những giòng chảy này, nay xin kể thêm câu truyện kể về hai cái hồ ở đất nước Palestine thuộc miền Trung Đông binh biến.

 “Nhiều người vẫn bảo: Palestine có hai biển hồ. Biển thứ nhất là Biển Chết. Đúng như tên gọi, không có sự sống nào ở bên trong hoặc xung quanh biển hồ này. Nước trong hồ, không loại cá nào lại sống nổi mà người uống cũng bị bệnh. Không ai muốn sống ở gần đó. Biển hồ thứ hai là Hồ Galilê. Đây là biển hồ thu hút khách du lịch nhiều nhất. Nước ở biển hồ lúc nào cũng trong xanh mát rượi, con người có thể uống được mà cá cũng có thể sống được. Nhà cửa được xây cất rất nhiều ở đây. Vườn tược ở đây tốt tươi là nhờ nguồn nước này…

 Nhưng, có điều lạ kỳ là: cả hai biển hồ này đều đón nhận nguồn nước từ sông Jordan. Nước sông Jordan chảy vào biển Chết. Biển chết đón nhận và giữ lại cho riêng mình mà không chia sẻ cho nơi nào khác, nên nước ở Biển Chết trở nên mặn chat, với mặn chằng. Biển hồ Galilê lại cũng nhận nguồn nước từ sông Jordan rồi từ đó tràn qua các hồ nhỏ và sông lạch khác, nhờ vậy nước ở hồ này luôn sạch trong và mang lại sự sống cho cây cối, muôn thú và cả con người nữa.

 Ánh lửa sẻ chia là ánh lửa lan đi khắp chốn. Môi người, có hé mở mới thu nhận được nụ cười. Bàn tay có mở rộng và trao ban mọi thứ, tâm hồn mới ngập tràn niềm vui bất tận.

 Thật bất hạnh cho những ai suốt cả cuộc đời chỉ biết giữ riêng cho mình đủ mọi thứ. Sự sống ở trong họ, rồi cũng sẽ chết dần chết mòn như nguồn nước trong biển chết”. (Truyện kể do St sưu tầm và chuyển tải để mọi người biết).

 Nói cho cùng, có cho đi thật nhiều rồi cũng sẽ thấy cuộc đời mình vui biết chừng nào. Hãy cám ơn đời/cám ơn người cho thật nhiều dù không nhận được bao nhiêu, từ người khác. Bởi, tất cả là ân-huệ; thế nên, sẽ có lúc người và ta cũng như ta và người tha hồ mà nhận lĩnh, mãi không thôi.

Thế đó, là ý-nghĩa của đời người. Một đời vẫn cứ cho đi nhiều hơn là nhận-lĩnh suốt có đính kèm một “cám ơn đời”, “cám ơn người” về mọi sự.

Trần Ngọc Mười Hai

và những quyết-định nhỏ

có thêm lời cảm tạ bậc thày 

là cha giáo Kevin O’Shea, DCCT

vừa quá vãng cũng mới đây.