Suy Niệm: Chúa hạ bệ người quyền thế và nâng cao kẻ khiêm nhường.

Suy Niệm: Chúa hạ bệ người quyền thế và nâng cao kẻ khiêm nhường.

Luôn luôn có một sự tương phản giữa con người và Thiên Chúa: Con người yêu thích quyền cao, chức trọng; Thiên Chúa yêu mến kẻ hèn kém, khiêm nhường.

Con người thích được mọi người phục vụ; Thiên Chúa yêu mến kẻ phục vụ mọi người.

Con người trốn tránh đau khổ; Thiên Chúa yêu mến những người đau khổ…

Một cách cụ thể, Thiên Chúa chọn cha sở xứ Ars, một người ít học, quê mùa làm quan thầy hàng giáo sĩ; Ngài chọn Mẹ Têrêxa phục vụ kẻ nghèo để đưa bao nhiêu người vào Giáo Hội. Ngài chọn một y tá Martinô để chữa bệnh biết bao người, ngay cả tại Việt Nam.

Thầy Bạch gởi

THÁNH THỂ VÀ THÁNH GIÁ

THÁNH THỂ VÀ THÁNH GIÁ

  1. Đất, nước, đá

Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã dùng đất nắn nên hình hài (St 2,7).  Từ đó Tổ Tông loài người mang tên Đất (St 4,25;5,1-3).  Ađam, tiếng Do thái nghĩa là đất.

Để cứu Dân Ngài thoát khỏi nô lệ Aicập, vượt qua Biển Đỏ khô chân, lập giao ước Sinai với dân, Thiên Chúa đã dùng Môsê.  Môsê, tiếng Do Thái nghĩa là nước (Xh 2,10).

Khi xây dựng Giáo Hội, Thiên Chúa lại dùng một con người đánh cá tầm thường, khi thì hùng hổ tuốt gươm bảo vệ Thầy Giêsu (Lc 22,50), khi thì sợ hãi chối quanh trước một đầy tớ gái (Lc 22,56-57).  Người ấy Chúa Giêsu đặt tên là Đá (Mt 16,18).  Kêpha, tiếng Do Thái nghĩa là đá.

Như vậy, lịch sử sáng tạo, lịch sử cứu độ của Thiên Chúa quyện đan với những cái tên tầm thường: Đất, Nước, Đá.

Người Việt Nam chúng ta cũng dùng những tiếng tầm thường ấy để nói lên Một Điều Linh Thiêng.  Linh thiêng đến độ bao anh hùng liệt nữ đã hy sinh mạng sống mình cho điều linh thiêng đó: Đất Nước Việt Nam. (x. Chút mắm muối cho bữa cơm hàng ngày, trang 252).

  1. Bánh và rượu

Chúa Giêsu đã dùng bánh rượu làm nên Mình và Máu Thánh của Người.  Bông lúa và trái nho là những sản phẩm thông thường và cần thiết nhất mà ruộng đất cống hiến cho con người.  Bánh và rượu có thể tầm thường nhưng lại là những gì gần gũi và cần thiết nhất cho cuộc sống hàng ngày của con người.  Chính Chúa Kitô đã muốn trở nên gần gũi và cần thiết đó.  Người muốn bánh và rượu trở nên Thịt Máu Người để nuôi sống chúng ta hàng ngày.

Tình yêu Chúa Kitô làm nên sáng kiến tuyệt vời.  Vì yêu thương hết mọi người, Chúa đã muốn trở nên bé nhỏ tầm thường trong thân phận một người thợ mộc ở Nazareth để có thể ở giữa mọi người, từ kẻ hèn cho đến người sang trọng, từ người thánh thiện cho đến kẻ tội lỗi, từ người Do thái cũng như dân ngoại.  Để trở thành của ăn nuôi mọi người,Chúa đã muốn trở thành tấm bánh ly rượu.  Chỉ khiêm tốn và giản dị thế thôi để mọi người có thể ăn, chứ không phải là một bữa ăn đắt giá dành cho bậc quyền quý sang giàu.

Khi sinh ra đời, Chúa đã chọn cái chuồng bò.  Khi sống ở Nazareth Chúa đã muốn làm một người thợ giữa những người lao động khác.  Khi bắt đầu rao giàng tin mừng, Chúa đã chọn những người tầm thường trong xã hội làm bạn đồng hành, làm bạn tâm phúc thừa kế sự nghiệp.  Trong giờ sau hết, Chúa đã chọn tấm bánh ly rượu, chọn khung cảnh một bàn ăn giữa bạn bè, chọn một tư gia để Tạ Ơn, trong đó người vừa là chủ tế vừa là của lễ.  Và Chúa muốn Giáo Hội tiếp tục lễ Tạ Ơn theo cách thức của Người bằng những phương tiện đơn sơ là tấm bánh ly rượu.

Chỉ cần một bông lúa, một chùm nho đủ làm nên tấm bánh ly rượu.  Không cần cái gì cao sang đắt giá, to lớn như con bò, con bê, con cừu mà đạo Do thái vẫn tế lễ trong đền thờ.  Với tấm bánh ly rượu, Chúa Giêsu còn muốn cho của lễ Tạ Ơn phải chính là sản phẩm hoa màu ruộng đất, lao công con người, của ăn thức uống căn bản và phổ biến nhất của con người.

Chúa Giêsu là bông lúa, là chùm nho mọc lên từ ruộng đất thế gian, nơi Người nhập thể làm người.  Người đã biến đổi trong thân thể Người là Con Thiên Chúa và cũng là con loài người tất cả tinh hoa của ruộng đất, trở thành bông lúa chùm nho.  Từ bông lúa bị nghiền nát; từ chùm nho bị ép.  Nghĩa là từ cuộc khổ nạn và cái chết trên thập giá, Chúa Giêsu đã trở thành tấm bánh, thành ly rượu đem lại sự sống đời đời cho nhân loại.  Chối từ cám dỗ của Satan hoá đá thành bánh, nhưng Chúa Giêsu đã tự ý biến đổi đời mình thánh Tấm Bánh để nuôi dưỡng con người.

“Thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống.”  Chắc hẳn không ai hiểu câu nói này theo kiểu các yêu tinh muốn ăn thịt Đường Tăng, trong truyện Tôn Ngộ Không.  Yêu tinh quyết tâm bắt cho được Đường Tam Tạng để ăn thịt.  Nó tin rằng ăn thịt vị cao tăng này thì sẽ được trường sinh bất tử.  Tôi nghĩ rằng giả như có ai giết Chúa Giêsu để ăn thịt Người (theo kiểu các yêu tinh ăn thịt Đường Tăng) thì người ấy vẫn chết như thường, và về mặt tâm linh thì cũng chẳng được ích lợi gì.  Vì câu nói “Thịt Tôi thật là của ăn, và máu Tôi thật là của uống” của Chúa Giêsu không thể hiểu theo nghĩa vật chất.  “Thịt và Máu” ở đây không phải là thịt và máu huyết vật chất.  “Của ăn và của uống” ở đây cũng không phải là của ăn và của uống vật chất.  Những từ đó phải hiểu theo nghĩa tâm linh.  Chúa Giêsu chính là lương thực đem lại sự sống và sự phát triển tâm linh thật sự.

  1. Từ Thánh Giá đến Thánh Thể

Cuộc tử nạn của Chúa Giêsu chính là một hy lễ dâng lên Thiên Chúa Cha.  Trong hy lễ này, Người vừa là tư tế vừa là lễ vật.  Trên Thập giá, Chúa Giêsu đã đổ máu ra.  Bằng cái chết cứu độ, Người đã thiết lập giao ước mới.  Tự nguyện làm “Con Chiên Vượt Qua” bị sát tế, Chúa Giêsu đã lập phép Thánh Thể để lễ vật bị sát tế ấy là chính Người trở nên của ăn tâm linh nuôi dưỡng con người.

Chúa Giêsu ở giữa nhân loại trong Bí tích Thánh Thể.  Để trở nên nguồn sống tâm linh trong Thánh Thể, Chúa Giêsu đã đi qua Tử nạn và Thập giá.

Thánh Thể là Mình Chúa hy sinh bị nộp, bị giết vì chúng ta: “Đây là Mình Thầy hy sinh vì anh em.” Chén Máu của Chúa là Máu giao ước đổ ra, Máu của Đấng Cứu thế bị giết chết trên thập giá.  Bởi đó Thánh Thể và Thánh Giá là hai mầu nhiệm của một tình yêu tự hiến của Chúa Kitô.  Không có Thánh giá, Thánh thể không có ý nghĩa.  Không có Thánh thể, Thánh giá chỉ là thất bại.

Thánh thể và Thánh giá Chúa Kitô là hai cớ vấp phạm cho trí tuệ con người suốt hơn 20 thế kỷ qua. Thánh Giá Đức Kitô là sự điên rồ đối với người Hy Lạp đi tìm sự khôn ngoan, là dại dột đối với người Do Thái tìm dấu lạ và mãi mãi là mầu nhiệm thẳm sâu với lý trí.

Thánh Thể, bánh rượu nên Mình và Máu Chúa Kitô.  Sự hiện đích thực của Con Thiên Chúa, làm lương thực vĩnh cửu thì càng lại là mầu nhiệm khó hiểu đối với đầu óc con người không có niềm tin.  Khi nghe lời tuyên bố của Chúa Giêsu: “Thịt Ta là của ăn, Máu Ta là của uống cho sự sống muôn đời.” Người Do thái đã phản ứng rất mạnh:“Làm sao ông có thể lấy thịt máu của ông cho chúng tôi ăn được?” (Ga 6,52); “Ông này chẳng phải là ông Giêsu, con ông Giuse đó sao?  Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: Tôi từ trời xuống?” (Ga 6,42).  Trước phản ứng dữ dội của họ, Chúa Giêsu không rút lời, không cải chính, nhưng còn giải thích và khẳng định thêm “Ai ăn thịt và uống máu Tôi, thì được sống muôn đời, và Tôi sẽ cho người ấy sống lại ngày sau hết” (Ga 6,54); sâu xa hơn là con người được đi vào sự kết hiệp mật thiết với Người: “Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi thì ở lại trong Tôi và Tôi ở lại trong người ấy”(Ga 6,56).  Trước mạc khải này, nhiều môn đệ liền nói: “Lời này chướng tai qua, ai mà nghe nổi?” (Ga 6,60).  Từ lúc đó, “Nhiều môn đệ rút lui, không còn đi với Người nữa”(Ga 6,66).

Như thế, người ta chỉ nhìn nhận Chúa Giêsu về phương diện con người, phủ nhận bản tính Thiên Chúa của Người.  Chúa Giêsu cho dân chúng và các môn đệ thấy rõ mầu nhiệm Phục sinh trong Bánh Hằng Sống “Lời Thầy nói với anh em là Thần khí và là sự sống.  Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt có ích gì” (Ga 6,63).  Quả thật, chúng ta chỉ có thể hiểu được Bí tích Thánh Thể qua mầu nhiệm Nhập Thể, Tử Nạn, Phục Sinh mà thôi.

Vậy có thể nói, cả mầu nhiệm Đức Kitô đều hội tụ trong Bí tích Thánh Thể.  Từ công cuộc nhập thể làm người, rao giảng tin mừng, đến khổ hình thập giá, sống lại vinh quang; Đức Kitô đang ngự bên hữu Chúa Cha và ban lương thực thần thiêng đều hàm chứa trong Bí tích Thánh Thể.  Bí tích Thánh Thể gói trọn cuộc đời Chúa Kitô và không có gì thuộc về Người mà không hội tụ trong Bí Tích Thánh Thể.

Từ Thánh Giá đến Thánh Thể là hành trình của con đường tình yêu tự hiến.  Thánh lễ là cử hành hy tế cứu độ của Chúa Giêsu từ mầu nhiệm Thánh Giá đến tình yêu Thánh Thể.  Hiểu như thế để khi dâng Thánh Lễ hay chầu Mình Thánh Chúa, chúng ta tham dự tích cực linh động với tất cả trí lòng tin yêu.  Khi tham dự Thánh lễ, chúng ta hãy đem theo hy lễ đời mình để kết hiệp với Hy lễ của Chúa Kitô.  Khi rước lễ là chúng ta gặp gỡ Đấng hy sinh chịu chết, là kết hợp với Đấng đã yêu đến cùng.  Chúng ta được mời gọi sống như Chúa Giêsu, biết bẻ ra, chia sẻ, phục vụ và hiến trao.

Đất nước đá cũng như bánh và rượu là những thực tại tầm thường trong cuộc sống, nhưng một khi đã gắn với lịch sử cứu độ là nó trở nên những điều kỳ diệu.

Cuộc sống chúng ta với Thiên Chúa cũng thế.  Sống đời sống thiêng liêng, siêu nhiên một cách tự nhiên.  Sống đời sống tự nhiên một cách thiêng liêng, siêu nhiên.

Lạy Chúa Giêsu, con cám ơn Chúa đã cho con hàng ngày được ăn một miếng Bánh đơn sơ, nhỏ bé để con được kết hợp mật thiết với Thiên Chúa Vô Cùng.  Xin cho cho tâm hồn con luôn kết hợp với Chúa, để được Chúa dẫn vào cuộc sống muôn đời.  Amen!

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Cảm nghiệm Lời Chúa

 

Quả thật, con cảm nghiệm và tin rằng Lời Chúa đã, đang và muôn đời nuôi sống chúng con cả hồn lẫn thân xác – ngay từ bây giờ ở thế gian (Houston) và mai sau. Sự kiện không chối cãi là anh chị em nào cũng tươi, trẻ hơn và tâm linh trong sáng hơn.

Hạt giống Lời Chúa không mục nát thì những ai được Lời Chúa nuôi dưỡng cũng sẽ không mục nát, trái lại cả hồn lẫn thân xác cũng được tái sinh bất diệt.

Khi Chúa về Trời, Lời Chúa hứa thân xác chúng con sẽ nên giống hình dạng Chúa như khi Chúa sống lại.

Lạy Chúa Thánh Thần xin mở lòng trí con thêm mỗi khi “Con Hẹn Gặp Chúa” (1) để Lời Chúa là hạt giống bất diệt sống trong con và con sống trong Chúa.

Amen

Thầy Bạch gởi.
(1) “Con Hẹn Gặp Chúa” là lớp học thánh kinh, mỗi tối thứ năm, ở nhà thờ Ngôi Lời Nhập Thể.

BÀI HỌC VỀ TÌNH MẸ

BÀI HỌC VỀ TÌNH MẸ

Lễ Đức Mẹ Thăm Viếng là ngày đưa chúng ta vào tình yêu sâu thẳm của Chúa Giêsu và Đức Mẹ.  Qua cuộc thăm viếng này, các bà mẹ có thể tận hưởng niềm vui sâu xa của ơn gọi làm mẹ, niềm vui của việc chăm sóc lẫn nhau trên hành trình này.  Sau khi được truyền tin và xin vâng theo kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, Đức Mẹ đã vội vã đi thăm người chị họ Êlidabét.

Trình thuật Lc 1,39-45 cho biết: Hồi ấy, bà Maria vội vã lên đường, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuđa.  Bà vào nhà ông Dacaria và chào hỏi bà Êlisabét.  Bà Êlisabét vừa nghe tiếng bà Maria chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được đầy tràn Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng và nói rằng: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc.  Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này?  Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng.  Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em.”

Có nhiều điều thu được từ đoạn văn hay này.  Đó là sự đến với nhau của hai người phụ nữ, được liên kết bằng niềm vui và lời hứa cứu độ.  Hai người phụ nữ cùng chia sẻ tặng phẩm là thiên chức làm mẹ.  Một người mang thai một người sẽ mở đường cho Đấng Cứu Thế, một người mang thai một người là Đấng xóa tội trần gian và là Êva Mới.  Hai phụ nữ đón tiếp nhau với tư cách là thân nhân, với mối quan hệ thâm sâu.  Cuộc gặp gỡ của họ mời gọi chúng ta đến gần Thiên Chúa không chỉ bằng tặng phẩm là sự công bố của họ, mà còn bằng tình yêu thương dành cho nhau.  Tính chất phụ nữ và làm mẹ của họ là tấm gương sáng cho mọi người, cách riêng các bà mẹ có thể học hỏi nhiều hơn qua cuộc thăm viếng này.

Mẹ Maria vội vã lên đường

Đức Mẹ là người lặng thầm trong Kinh Thánh, nhưng Đức Mẹ chứng tỏ là một phụ nữ thể hiện sứ vụ và mục đích: Đức Mẹ vội vã lên đường.  Đức Mẹ biết sự cấp bách đối với công việc của Thiên Chúa trên thế gian này.  Sau khi chấp nhận lời mời gọi của Thiên Chúa là làm Mẹ của Đấng Cứu Thế, Đức Mẹ mau mắn đi thăm chị Êlidabét.  Mẫu gương của Đức Mẹ là mẫu gương quan trọng đối với những người mẹ.  Xung quanh chúng ta có nhiều thứ cần chú ý.  Con cái và người chồng luôn cần chúng ta quan tâm.  Thi thoảng chúng ta có thể xao lãng và có thể gây “tổn hại” cho gia đình.  Chúng ta phải nhận biết khi nào cần vội vã.

Đức Mẹ nhắc chúng ta rằng công việc của người mẹ là “việc thánh.”  Nuôi dạy con cái là để dẫn đưa chúng về trời, công việc căng thẳng lắm.  Vội vã theo nghĩa ở đây là sự bận rộn.  Rất thường xuyên theo văn hóa Tây phương, chúng ta kết hợp sự bận rộn với sự thánh thiện hoặc sự quan trọng.  Chạy từ sự kiện này tới sự kiện khác không là cách vội vã được đề cập ở đây.  Đó là hấp tấp, ôm đồm.  Vội vã muốn nói ở đây là hướng tới chồng con với lòng yêu thương, quan tâm chăm sóc chồng con, và cho họ những thứ họ cần.  Đó là cách chọn lựa hiện diện giữa họ và nhiệt tâm sống theo ơn gọi của mình.  Điều đó không có nghĩa là chúng ta không cảm thấy mệt mỏi, mà là lý do chúng ta cần cầu nguyện và thường xuyên lãnh nhận các bí tích để duy trì sự cân bằng trong đời sống tâm linh.

Các bà mẹ được mời gọi chăm sóc nhau

Nhiều khi người mẹ có vẻ là cuộc đấu tranh đơn độc.  Đó là thực tế rất nhiều người mẹ duy trì theo loại văn hóa mà chúng ta tách khỏi người khác.  Đó là điều rất thật đối với những người mẹ chỉ ở nhà nội trợ, nhưng có thể họ vật lộn với công việc nhiều lần trong sự đơn độc như thế.  Người mẹ này cần người mẹ khác.  Phụ nữ là những thụ tạo xã hội.  Chúng ta cần thảo luận về những gì đang diễn tiến trong cuộc sống và với con cái.  Chúng ta cần những người mẹ khác cho chúng ta biết rằng cách cư xử riêng là điều bình thường.

Trong sự cô lập của chúng ta, chúng ta có thể bắt đầu cảm thấy mất trí nhớ hoặc con cái trở nên xa lạ.  Thực tế con cái có thể khá xa lạ, đó là một trong các lý do mà việc làm mẹ như vậy là sự mạo hiểm vừa vui vẻ, vừa tiêu khiển, vừa mệt mỏi.  Là những người mẹ, chúng ta không cạnh tranh với nhau.  Chúng ta hân hoan kết hiệp với Nhiệm Thể Đức Kitô và sống liên đới với nhau.  Sự cô độc mà chúng ta cảm thấy là vì nhu cầu này không được thỏa mãn trong xã hội vội vã, cá nhân, và biệt lập.  Nhưng bạn không đơn độc một mình đâu!

Vào ngày lễ Đức Mẹ Thăm Viếng, rõ ràng Đức Maria và Thánh Êlidabét tìm thấy sự bình an, niềm vui, và sự thoải mái khi gặp nhau.  Họ liên kết với nhau bằng sức mạnh của Chúa Thánh Thần.  Chúng ta cũng được kết hiệp nhờ Chúa Thánh Thần.  Những người mẹ cần chia sẻ với nhau về niềm vui, nỗi buồn, sự đấu tranh, đau khổ, thành công và thất bại.  Chúng ta cần cùng nhau đồng hành trên con đường thánh thiện này.  Chúng ta không thể chỉ đạt được sự thánh thiện.

Về phương diện bản thể học (ontology), con người là các thụ tạo xã hội.  Nhờ tặng phẩm của việc Con Thiên Chúa nhập thể, chúng ta được liên kết với nhau trong tình đoàn kết sâu sắc với Đức Kitô và với nhau.  Chúng ta cũng được tạo nên để cùng bước đi với nhau.  Tình bạn và gia đình là những tặng phẩm quý giá.  Đã đến lúc chúng ta bắt đầu cùng nhau ca tụng ơn gọi làm mẹ để chúng ta có thể sống trong niềm vui của Đức Kitô, Đấng liên kết chúng ta.

Mẹ Maria đến với mỗi người chúng ta

Đức Mẹ đến thăm chị họ Êlidabét, Đức Mẹ cũng đến thăm mỗi chúng ta.  Đức Mẹ là Mẹ của chúng ta và yêu thương chúng ta bằng tất cả Thiên Tình Mẫu Tử.  Lễ Đức Mẹ Thăm Viếng nhắc nhở chúng ta phải có thói quen cầu xin Đức Mẹ nâng đỡ.  Việc làm mẹ đòi hỏi tình nhân ái, sự kiên nhẫn, sức chịu đựng, sự thận trọng, sự khôn ngoan, và mọi đức tính khác.

Việc làm mẹ “cắt tỉa” chúng ta với các mức độ mạnh mẽ nhất.  Chúng ta sở hữu tính vị kỷ bởi vì sự sa ngã của Nguyên Tổ luôn “giằng xé” chúng ta vì chồng con.  Đây là một quá trình lành thánh, nhưng đôi khi cũng là một quá trình khiến ta cảm thấy bị ám ảnh và quá sức.  Đức Mẹ là sự hướng dẫn cho những người mẹ.  Đức Mẹ không bỏ mặc chúng ta hoặc làm cho chúng ta thất vọng.  Đức Mẹ luôn dẫn chúng ta đến với Con Yêu Dấu của Đức Mẹ, nâng đỡ chúng ta trên con đường nên thánh.  Hãy cầu xin và tin tưởng vào cách hướng dẫn đầy yêu thương và khôn ngoan của Đức Mẹ.

Lễ Đức Mẹ Thăm Viếng là cơ hội tuyệt vời để chúng ta tìm hiểu và đào sâu ơn gọi làm vợ và làm mẹ.  Đó là con đường Thiên Chúa ban cho chúng ta để làm cho chúng ta vâng theo Thánh Ý Ngài.  Đức Mẹ dạy chúng ta cách hành động vội vã trong cuộc sống hằng ngày, nhờ đó chúng ta có thể ưu tiên những điều hướng dẫn gia đình và đưa chúng ta tới cuộc sống thánh thiện hơn.

Đức Maria và Thánh Êlidabét cho chúng ta biết sức mạnh của việc giao tiếp qua Chúa Thánh Thần, và cho chúng ta biết rằng chúng ta là những người giao tiếp với nhau.  Chúng ta không là những ốc đảo, không đơn độc nuôi dưỡng các thánh, mà chúng ta cùng nhau tiến về Quê Hương Thiên Đàng.

Kính mừng Mẹ Maria đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng Mẹ… Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử. Amen.

Constance T. Hull, 
bản dịch của TRẦM THIÊN THU, từ CatholicExchange.com

Cả trời bỗng tiêu diêu như báu vỡ

Suy Tư Tin Mừng Chúa nhật Lễ CHÚA BA NGÔI 27/5/2018

(Mt 28: 16-20) Hôm ấy, Mười một môn đệ đi tới miền Galilê, đến ngọn núi Đức Giêsu đã truyền cho các ông đến. Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. Đức Giêsu đến gần, nói với các ông:

“Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”

&  &  &

 “Cả trời bỗng tiêu diêu như báu vỡ:

“Nên tiếng vang thầm dội đến thâm tâm.”

(Dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Mai Tá lược dịch

Tiêu diêu như báu vỡ, vẫn cứ là bầu trời huyền nhiệm chốn không gian. Thầm dội đến thâm tâm, nay lại là nhiệm tích Chúa tỏ bày với nhân trần. Như trình thuật lâu nay, rày ghi chép.

Trình thuật, nay ghi chép về huyền nhiệm Chúa Ba Ngôi linh thiêng, khó diễn giải. Huyền nhiệm, là nhiệm tích cao cả tỏ cho dân con nào không cảm nghiệm được để rồi sống. Thế nên, thánh sử Mát-thêu phải dùng ảnh hình chiếc thang của thế giới hầu đạt tới huyền nhiệm, mà cảm kích.

Buổi đầu, vũ trụ ở độ tuổi 13 tỷ năm, vẫn đắm chìm trong tăm tối, kịp đến khi Chúa sờ chạm, nguồn sáng đã trỗi dậy toả ánh thiều quang, rộn sức sống. Thiều quang, là tập hợp các phân tử ánh sáng cứ lăn tăn dội sóng, không phương hướng.

Vào lúc ấy, Chúa bèn định hướng để tạo thành có được năng lượng tràn đầy, mà hướng về đằng trước phía có nhân gian vũ trụ vạn vật. Và từ đó, vũ trụ tuân thủ đường hướng Chúa định đoạt rất phân minh, thành đạt. Trong khoảnh khắc rất nhanh, vũ trụ đã kịp hoà tan/chan hoà vào với nhau phản ảnh phương hướng Chúa đề bạt. Rồi từ đó, sản sinh nên sự sống mới ở đó có sự sống con người, rất trổi bật.

Sự sống Chúa tặng cho vũ trụ, là những “sự” rất sống và rất động, luôn rực chiếu ánh lung linh về hướng trước, nơi có Chúa ngự trị theo phương cách rất Ba Ngôi, vẫn rạng ngời.

Ở với vũ trụ, con người là tạo vật gây nhiều thích thú. Con người không là loài vật chỉ đặc biệt mỗi trí khôn mà thôi, nhưng còn có khả năng mơ ước đặc trưng/biểu tượng để kết chặt với nhau bằng truyện kể đượm mầu thần linh rất kinh ngạc, đáng sợ. Thần linh nhiệm mầu cần “la-bàn định-hướng” hầu dẫn dắt con dân loài người kinh qua chốn miền đầy tâm tưởng. Và thọ tạo “người” cứ hỏi: không biết mình có nên thần phục thần linh, hay không? Không biết mình có tự do chọn quan hệ chỉ với một số vị thần, mà thôi không?

Thiên Chúa lại ban cho con người “la-bàn” ấy. Bằng vào “la-bàn định hướng”, Ngài thiết lập “Giao ước” với con người. Điều đó có nghĩa: Chúa quan hệ với con người không theo cung cách khuynh loát/thống trị, huyễn hoặc hay không tưởng. Ngài chẳng cần ai thần phục Ngài. Nhưng điều Ngài cần hơn cả, là con người nên thực thi tương quan hai chiều. Có được tương quan ấy, con người sẽ tin tưởng vào Chúa là Đấng giúp cho con người có được tự do. Về với lịch sử, con người hiểu biết nhiều sự việc, và từ đó biết tỏ lòng cảm kích, ghi ơn Ngài.

Khám phá ra điều này, có người vẫn chưa biết cách chan hoà/nhào quyện với những người không được như mình, dù họ có tìm mọi cách để tìm hiểu khám phá ấy. Họ đành chọn một trong hai phương cách: hoặc tách riêng sống chỉ một mình, hoặc hợp lực/cộng tác với người khác. Thật ra, thì họ rất cần “la-bàn định-hướng” Chúa ban tặng. Và, Chúa lại tặng ban “la-bàn định hướng” ấy, thêm lần nữa.

La-bàn Chúa tặng, là quà “hiệp thông”/tương quan giúp con người sống hài hoà với người khác mình, nhưng không làm mất đi bản chất tư-riêng của chính mình. Nhờ “Hiệp thông”, con người học được cách yêu thương sống hài hoà với người khác, ngõ hầu trở nên giống mình hơn. Nhờ vào hiệp thông, con người còn có trách nhiệm với thế giới rộng lớn hơn, tức: có trách nhiệm với những người chưa biết hoà mình/trộn lẫn với ai khác. Thế nên, ta cũng hãy nên bắt đầu sử dụng quà “Hiệp thông” Chúa đã ban.

Khi xử sự, con người bắt đầu biết kinh ngạc và tự hỏi: không biết mình có nên kéo dài tương quan hài hoà ấy mãi lâu ngày, hay không? Hoặc, ta chỉ nên kiến tạo thêm cung cách mới cho đời mình? Cung cách mới, tức không phải của người thụ động cứ ngồi đó đợi chờ hoặc nhận lãnh ơn huệ đính hướng?

Nhưng, cũng nên bắt đầu kiến tạo mọi việc chung cùng Chúa? Kiến tạo, là diễn lại những gì xảy ra trong quá khứ, hoặc đem lại những gì mới mẻ cho tương lai của chính mình? Muốn được thế, con người cần đến “la-bàn định hướng” Chúa tặng ban, một lần nữa. Và, Chúa lại đã tặng thêm cho con người thứ “la-bàn định hưóng” mới là “Thần Khí” của Ngài, để con người biết mà chan hoà quá khứ với tương lai, hầu biến nó thành hiện tại. Một hiện tại mang ý nghĩa rất “quà tặng”.

Quà tặng Thần-Khí-Chúa, là quà hiếm quí rất hiện tại nhưng khó diễn bày hoặc nói đến. Bởi, Thần Khí Chúa vượt quá mọi ngôn ngữ. Thần-Khí-Chúa là Hơi Thở đẩy lùi mọi ngọn gió của ngôn ngữ được con người sử dụng để diễn tả mọi chuyện. Ngược lại, Thần Khí vẫn nâng nhấc con người lên, để họ đạt chốn an lành, mà định hướng bước tới về phía trước.

Quà tặng Chúa gửi đến với con người, không đơn thuần chỉ mỗi giống giòng Israel dân Chúa chọn. Cũng không thuần khiết chỉ mỗi Đức Giêsu và/hoặc Hội thánh. Nhưng, “Giao ước” Chúa gửi đến với ta qua dân Do thái, chính là sự “Hiệp thông” Ngài đặt để qua Đức Giêsu, Con Ngài. Và Thần-Khí-Chúa đến với ta ngang qua Thánh Hội, Chúa gửi gắm. Quà Ngài gửi, là để dân con của Ngài có thể đến với người khác, nhóm khác có văn hoá, sắc tộc và đạo giáo rất khác biệt. Quà Chúa gửi, là để con người tạo được ý nghĩa nhân bản cho luồng sáng, thời gian và năng lượng toàn vũ trụ. Quà Chúa tặng, khiến cho con người có được tự do, biết ứng đáp cách sáng tạo, nhạy bén và đổi mới.

Quà Chúa gửi tặng, là cách để Thiên-Chúa-là-Cha trao ban chính Mình Ngài là Đức Chúa cho con người như Giao ước, Hiệp thông và Thần Khí. Chính đó là Chúa Ba Ngôi, vẫn rất thực.

May cho ta, là con người đã nhận ra rằng quà tặng Chúa gửi là do Ngài tặng ban chính Mình Ngài vẫn còn tiếp tục được như thế. Quà-tặng-là-Thần-Khí-Chúa, vẫn hiện diện bên ta, ở đây. Ngay lúc này. Điều không may khác, đó là: con người lâu nay hay gặp rắc rối về những khuynh loát/áp đặt và về sự tự do Chúa ban cho nữa. Con người gặp rắc rối, vì ý tưởng nảy sinh khiến họ phải đi đến quyết định: hoặc xa cách/tách rời “Quà-Tặng-là-Thần-Khí-Chúa hoặc hợp lực/cộng tác với “Quà” của Chúa. Đó, là ý tưởng về việc duy trì quá khứ và kiến tạo tương lai, để rồi mỗi khi ta nhận thức được rằng: Thiên-Chúa-là-Cha, Chúa Con là Lời và Thần-Khí-là-Tình-Yêu đang sờ chạm vào ta cốt để tỏ cho ta biết phương cách mà đến được với Ngài.

Không phải chỉ bây giờ, ta mới về lại với lịch sử để có được cảm giác về Huyền Nhiệm. Nhưng từ đầu, có người lại được thần hứng sử dụng ngôn ngữ trần gian để tỏ bày về Huyền Nhiệm này, dù trước đó họ chẳng bao giờ biết đến Huyền Nhiệm ấy. Và, họ cũng đã tìm hiểu lịch sử vũ trụ xem có gì được đặt thêm vào đó không. Họ tỏ bày về “Danh” Chúa. Về, “Huyền Nhiệm” Chúa Ba Ngôi. Và, về “Tình yêu” của Chúa. Họ gọi Chúa là Cha. Gọi Đức Giêsu là “Con”-của-Chúa-Cha, Đấng gần gũi mật thiết với Cha; và gọi Ngài là “Lời” của Cha.

Họ gọi Tình-Yêu-Thiên-Chúa là Thần-Khí vẫn thổi đầy sinh lực ở nơi Chúa, vào ta và tạo nguồn thần hứng cho ta. Kể từ đó, nhiều vị thức giả trong cộng đoàn dân Chúa lại tìm cách diễn tả Huyền Nhiệm Chúa Ba Ngôi cho những ai tìm hiểu triết lý Hy Lạp, đều biết rằng: ở nơi Chúa, chỉ có một Bản chất duy nhất nhưng nơi Ngài bao gồm ba Nhân Vật: một là Chúa Cha, một là Chúa Con hoặc Ngôi Lời, và một là Thần-Khí-Chúa. Các ngài đều quả quyết rằng Ba Ngôi/tức Nhân Vật vẫn chỉ là Một, có quan hệ hỗ tương. Và, Thiên-Chúa-là-Cha đã gửi đến với ta Con Một của Ngài để ta có thể liên hệ cách mật thiết với Ngài. Để, Ngài hướng dẫn cuộc sống của ta ở thế trần, rồi đem ta về với Cha.

Nhưng vấn đề là: không biết Thiên Chúa có thực sự giống thế không? Kitô hữu thời xưa không hiểu rõ điều đó và cũng chẳng chứng mình được gì, nhưng tư tưởng này đáp ứng ý nghĩa của Thiên Chúa mà mọi người dựa vào đó để sống. Vì thế nên, công thức này cũng thánh thiêng/linh đao, vẫn đan kết với truyền thống Giáo hội.

Ngày nay, nếu hỏi rằng ta làm được gì khá hơn không để diễn tả Huyền Nhiệm Chúa Ba Ngôi? Có thể không. Không bao giờ. Nhưng, có thể có. Có, qua cung cách nhận thức phát hiện được những điều Chúa Ba Ngôi vẫn thực hiện trong trần thế. Có thể, ta cũng nghĩ là mình có nhiều nhu cầu hiểu biết và diễn nghĩa hơn đồng đạo thời xưa trước. Có thể là, trong tương lai, ta lại có được cảm nghĩ và cảm nghiệm nhiều hơn về công việc của Chúa Ba Ngôi. Đó cũng là điều hay, để hy vọng.

Và rồi, ai ai cũng sẽ ra đi rời bỏ thế giới nhân trần này, để về với Ba Ngôi Thiên Chúa. Và khi đó, mọi người đều sẽ trực diện Chúa biết Ngài là ai? Đấng nào? Và mọi sự có ý nghĩa gì? Trong thời gian chờ đợi đến ngày đó, ta vẫn phải sống với niềm tin mình đang có. Sống chung và cùng với nhóm người đang sử dụng ngôn ngữ Chúa tặng ban. Những người có kinh nghiệm về những ân huệ Chúa gửi đến hầu thúc giục ta cùng với Chúa hướng về phía trước để ta càng nhân bản hơn; càng cùng chung với Chúa, trong mọi việc. Cuối cùng, có lẽ đó là những gì Chúa thực lòng muốn có khi Ngài tỏ rõ cho ta biết Chúa là Cha của ta. Đức Giêsu là Con Một của Thiên-Chúa-Là-Cha, và Thần-Khí-là-Tình-Yêu Ngài hằng ban cho ta.

Để cảm nhận điều này, cũng nên ngâm tiếp lời thơ trên từng diễn tả:

            “Cả trời bỗng tiêu diêu như báu vỡ;

Nên tiếng vang thầm dội đến thâm tâm,

Mà ta ngỡ Đấng Tiên Tri muôn thuở

Giữa đêm nay còn đứng giảng Phúc Âm.”

(Hàn Mặc Tử – Nguồn Thơm)

Đấng Tiên Tri, nay vẫn đứng giảng Phúc Âm Lời Chúa đấy chứ. Giảng, để biết rằng tất cả không là “tiếng vang thầm dội đến thâm tâm”; mà là, tiếng Chúa/tiếng người qua ngôn ngữ diễn bày một huyền nhiệm rất Ba Ngôi. Theo cung cách rất thiêng, và cũng rất người.

Lm Kevin O’Shea DCCT biên-soạn

 Mai Tá lược dịch

Tôi viết tên anh trên lá trên hoa,

Chuyện phiếm đọc trong tuần sau lễ Chúa Ba Ngôi 27-5-2018

 “Tôi viết tên anh trên lá trên hoa,”

Tôi viết tên anh trong trái tim tôi

Tôi viết tên anh trên đá, trên vôi.

Tôi viết tên em ngập nẻo đường đi ngàn lối.”

(Hoàng Thi Thơ – Tôi Nhớ Tên Anh)

(Mc 15: 40-41)

Trần Ngọc Mười Hai

Nhớ tên anh, tên em hay tên người nào khác cũng vẫn là nỗi nhớ nhung hoài, nhiều vương vấn. Nhớ tên anh, đến độ viết cả “trên gấm, trên nhung”, cũng là điều ít thấy ở nhạc bản, có những lời ca thêm thắt rất như sau:

“Tôi viết tên anh trên gấm, trên nhung.

Tôi viết tên anh trên trán, trên tay.

Tôi viết tên anh trong gió, trong mây.

Tôi viết tên anh vào lòng biển lớn sông dài.”

(Hoàng Thi Thơ – bđd)

Vâng. Có thể là như thế. Cứ viết tên anh/tên em cho thật nhiều ở đây đó, rồi cũng có lúc nhớ đến tên ấy với tên này cả vào khi mưa gió , lúc “trăng thanh”, “có tiếng tơ ngàn” để rồi “đi vào lòng thời gian đầy sắc tím” như câu ca còn hát tiếp:

 “Tôi nhớ tên anh khi gió khi mưa. 
Tôi nhớ tên anh khi nắng lưa thưa.
Tôi nhớ tên anh qua ánh trăng thanh.
Khi tiếng tơ ngân vào lòng thời gian màu tím.
Tôi nhớ tên anh như nhớ tương lai.
Tôi nhớ tên anh như nhớ trông ai.
Tôi nhớ tên anh muôn kiếp không phai.
Tôi chắc trong tôi đời đời còn nhớ nhung hoài.”

(Hoàng Thi Thơ – bđd)

Thế đó, là tên của người mà anh hoặc em những thương và nhớ suốt đường dài cuộc đời người. Thế đây, lại là nhà Đạo, người người còn nhớ đến tên ai chăng? Tên, của Đấng thánh hiền đạo-hạnh một thời được mọi người nhắc nhớ, tựa hồ để đề-cao/vinh-danh như câu truyện kể ngăn ngắn có ý-nghĩa.

“Truyện rằng:

 Có phóng viên đài truyền-hình nọ bất chợt đến phỏng-vấn cặp vợ chồng nổi tiếng là hòa-thuận, vì chòm xó/láng giềng chả thấy hai người to tiếng với nhau bao giờ hết.

Phóng viên bắt đầu hỏi:

-Xin anh chị cho biết bí kíp nào từng giúp anh chị có cuộc sống gia thất hạnh phúc đến như vậy?

Ông chồng nghe hỏi bèn đáp vội:

-Có gì đâu. Chẳng qua là, mỗi lần vợ chồng chúng tôi có chuyện hục hặc, cơm chẳng lành/canh chẳng ngọt là cứ đưa nhau ra công viên xa vắng ở đó giải-quyết cho xong, mới về nhà. Thú thật với quí vị là: bọn tôi e ngại chòm xóm biết chuyện riêng tư gia đình mình thật không tiện.” (Truyện kể lại cũng trích từ mạng vi tính, rất lền khên).

Vâng. Mạng vi-tính hay vi-sinh đều thấy rất nhiều. Cả đến các chuyện riêng-tư/đạo đời cũng không thiếu. Chẳng hạn như, câu truyện riêng tư của một thừa-tác-viên/tông-đồ thời tiên-khởi cũng được truyền-thông đưa lên mạng hoặ làm thành phim.

Đây, cũng là trường-hợp của đấng bậc tông-đồ phái nữ có tên là Maria Magđalêna được đề-cao, đưa lên báo điện có tên là MercatorNet hôm 26/3/2018 đã kể rằng:

“Cuốn phim mới, có nói bà là vị “Tông-đồ của các tông-đồ”, tức một thần-tượng thuộc phái nữ.

 Đây, là Tin Mừng về nhân-vật Maria Magđala theo tầm nhìn của đạo-diễn phim-ảnh người Úc có tên là Garth Davi. Phim bản này, trình-bày về một nữ-phụ trổi-bật của Tin Mừng xuất-hiện trên màn hình lớn, cũng rất sớm.

 Maria Magđala, là một nữ-phụ quả cảm từng thách-thức nam-nhân trong gia đình bà được coi là “thày tư-tế” duy-nhất và được phép tháp-tùng các tông-đồ. Đức Giêsu và Maria Mẹ Ngài đã có hiểu biết và tình thương-yêu theo cách đặc-biệt, Mẹ hiểu biết Tin Vui An Bình và tình thương yêu rất mực, trong khi Nhóm Mười Hai chỉ nghĩ về chuyện đánh đổ đám người La Mã mà thôi.

 Đức Giêsu đã ban cho bà ơn trổi-bật, kể cả chỗ ngồi bên phải trong bữa Tiệc Tạ Từ (như cuốn The Da Vinci Code từng nói đến) và cũng công-khai để cho bà làm nhân-chứng đầu tiên cho Ngài. Thế nhưng, sau ngày Phục Sinh, ông Phêrô và các người khác đều coi nhẹ vị-thế cũng như quà tặng của bà. Và ngay khi đó, bà đã vượt qua khỏi mọi sự để tham-gia một thứ “lên-đường” của phụ-nữ bằng quyết tâm như thể bảo: “Tôi sẽ không giữ im lặng, nhưng sẽ loan-báo cho mọi người biết.”

 Phim trên còn ghi-chú, bảo rằng: dù hồi năm 591 Đức Grêgôriô Cả lại diễn-giải trong một bài giảng bảo rằng: Bà là cô gái điếm, được đề-cập ở Tin Mừng. Nhưng vào năm 2016, Đức Giáo Hoàng Phanxicô lại khẳng-định rằng: Bà là vị “Tông đồ của các tông-đồ”, tức có nghĩa: Bà ngang hàng với các tông-đồ của Chúa…

 Thật tình mà nói, phim ảnh về Bà Maria Magđalêna do Đạo-diễn Davis dàn dựng, đã khẳng-định vai trò của phụ nữ trong Giáo-hội khiến ta đi xa hơn các bằng chứng có được từ Tin Mừng. Những gì ta biết về Bà qua Tin Mừng cũng đánh động đủ. Bà là một trong các nữ-phụ được chữa lành “khỏi các thần dữ và các bệnh-tình khác nhau” rồi quyết-định theo chân Đức Giê su và nhóm 12 tông đồ cung-cấp đủ mọi thứ giúp các vị thực-hiện sứ-vụ cao cả ấy. (Lc 8: 1-3; Mc 16: 9)

 Bà là một trong ba nữ-phụ được ghi chép là đã đứng dưới chân khổ-giá treo mình Đức Giê su trên cqao trên đồi Calvariô, và hai vị kia là Maria Mẹ Ngài và Maria vợ của Clopas (Gioan 19: 25). Bà Maria Magđala và các nữ-phụ kia vội chôn cất Đức Giêsu vào buổi chiều ngày Sabát rồi sớm trở lại sáng hôm sau dự định thoa thoa dầu thơm lên xác Ngài, thì mộ phần trống vắng, ngay lúc ấy sứ thần Chúa báo cho các bà biết Đức Giêsu đã trỗi dậy, các ngài phải ra đi kể cho đồ đệ Ngài biết. Nhưng họ vẫn chẳng tin…

 Đó là những gì ta biết về bà Maria Magđala được nêu cao cùng với nữ-phụ khác và thân-mẫu Đức Giêsu ở Tin Mừng. Và, đó cũng là điều mà nhiều bậc hiển-thánh nay vẫn coi thánh-nữ Maria Magđala là mẫu-mã/thần-tượng để nói về vai-trò của các nữ-phụ trong Giáo hội.” (X. Carolyn Moynihan, MercatorNet 26/3/2018)                 

Nói cho cùng, đề-cao vai-trò người nữ tên Maria Magđala từng xuất-hiện trên Tin Mừng như một tông-đồ năng-nổ, có nghĩa là: từ nay, Giáo-hội sẽ không còn coi thường vai-trò của phụ-nữ, dù trên lãnh-vực nào đi nữa; nhưng ngược lại, đã đặt cùng hàng với các tông-đồ nổi-bật xưa nay.

Cuối cùng ra, bằng vào công-cuộc thừa-tác đắc-lực của các tông-đồ nữ như Maria Magđala, Giáo hội nay cũng sẽ cất cao lời hát vang vọng của người đời mà rằng: 

  “Anh, lớp trai ngày nay 
Đắp xây ngày mai.
Đem tự do cho người
Mang niềm vui cho đời.

Và, cũng từ đó, sẽ lại ghi nhớ tên anh/tên em, tên các đấng-bậc năng nổ, cả nam lẫn nữ, rằng:

“Tôi nhớ tên anh khi gió khi mưa. 
Tôi nhớ tên anh khi nắng lưa thưa.
Tôi nhớ tên anh qua ánh trăng thanh.
Khi tiếng tơ ngân vào lòng thời gian màu tím.
Tôi nhớ tên anh như nhớ tương lai.
Tôi nhớ tên anh như nhớ trông ai.
Tôi nhớ tên anh muôn kiếp không phai.
Tôi chắc trong tôi đời đời còn nhớ nhung hoài.”

 Vâng. “Đời đời còn nhớ nhung hoài”, vẫn cứ là câu hát nhắc nhở mọi người hãy “nhớ nhung hoài” về nhiều chuyện. Những chuyện, được Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhắc con dân đi Đạo bằng một động-thái hơi khang-khác nhưng cũng vẫn là nhắc nhở, như tin-tức trên báo/đài ở Úc cũng đã ghi:

 “Mới đây ĐTC Phanxicô đã cập nhật hoá vị thế của Thánh Bộ Giáo Dân, Gia Đình và Sự Sống, ngoài những trách nhiệm đã có được bổ túc thêm vai trò cổ xuý việc suy nghĩ sâu xa hơn về vị trí của phụ nữ trong giáo hội và xã hội, đặc biệt nhấn mạnh đến “tính chất thiên tài” của phụ nữ để kêu gọi sự đóng góp của họ.

 Vai trò mới được ĐTC phê chuẩn trên căn bản thử nghiệm và đượng Toà Thánh phổ biến hôm 8 tháng 5 và sẽ bắt đầu có hiệu lực kể tử chủ nhật 13 tháng 5, ngày Hiền Mẫu. Thánh Bộ hiện do Đức Hồng Y người Mỹ là Kevin J Farrell cầm đầu. Quy chế mới, đòi Thánh Bộ phải có ít nhất hai thứ trưởng là giáo dân, mới được.

 Thánh Bộ cần duy trì các mối dây liên lạc với các Hội Đồng Giám Mục Đia Phương, với các giáo phận và các tổ chức khác trong giáo hội để khuyến khích sự hợp tác giữa họ. Quy chế mới cũng kêu gọi Thánh Bộ đưa ra những chỉ dẫn trong các chương trình đào tạo hôn nhân và cho các đôi vợ chồng mới cưới.

 Ngoài ra Thánh Bộ còn có trách nhiệm khác cho thấy “việc chăm sóc mục vụ cho các trường hợp hôn nhân bất thường, kể cả trường hợp sống chung chưa có giấy chính thức, hoặc trường hợp ly dị, tái-giá theo luật đời, thánh Bộ cũng có trách nhiệm chăm sóc giới trẻ, khuyến khích họ tham gia các sinh-hoạt của giáo hội cũng như xã hội.” (X. Cindy Wooden,Pope asks Vatican group to examine role of women in the Church, catholicherald 8/5/2018 Vũ Nhuận chuyển ngữ)

 Về vai-trò của nữ-phụ trong cơ-chế Giáo-hội, là chuyện không thể kể cho hết trong đời người đi Đạo. Nói và nhắc nhớ nhiều lần, còn là khẳng định của đấng bậc vị vọng nọ từng viết về phong-trào phụng thờ Mẹ và Con của Ralph Woodrow, như sau:

“Một trong các ví-dụ thấy rõ nhất về đạo ngoại-thần của văn minh Babylon đã xâm-nhập vào với Giáo-hội La Mã đến nỗi Đạo Chúa ở đây đã sáng-chế ra lối phụng thờ Đức Nữ Trinh Maria thay thế cho việc thờ-phụng các nữ-thần làm mẹ.

 Chính vào lúc, chúng dân người Babylon tản mát khắp nơi trên trái đất, họ họ đem theo đủ mọi chuyện về nữ-phụ trong đó có việc thờ thánh mẫu và người con nhỏ của Bà. Điều này cắt nghĩa tại sao nhiều quốc gia trên thế-giới lâu nay đã thờ kính Mẫu-thần và Con của Bà theo cách này hay cách khác suốt nhiều thế-kỷ trước khi Đấng Cứu Thế đích-thực là Đức Giêsu sinh ra đời!

 Tại nhiều nước trên thế-giới, việc sùng kính “Mẫu thân và Con của Bà” được lan rộng  và được đặt theo tên gọi của mỗi quốc-gia, mỗi phong-tục/tập-quán của địa phương, do bởi ngôn-ngữ của con người phàm đã thay-đổi xảy từ sự kiện ngọn tháp Babel. Người Hoa gọi Mẫu-thần của họ là “Shingmoo” hoặc “Đức Thánh Mẫu”.

 Người Đức cổ lại cũng tôn-thờ Nữ Trinh Hertha bồng trẻ bé trên tay Bà. Người Scanđinavia cũng tôn-thờ thần Disa của họ theo hình thù bà mẹ bế con. Người Êtruscan gọi vị ấy là Nutria và người Druids gọi Nữ Trinh Patitura của họ là “Mẹ của Đức Chúa”… (X. Ralph Woodrow, Babylon Mystery Religion, Ralph Woodrow 1981 tr. 13)    

     Nói về người nữ, luôn có nhiều điều để nói và để kể. Nói, là nói về triết-lý, thần-học và pháp-lý, ôi thôi chẳng bao giờ hết. Cũng hệt thế, kể các truyện có liên-quan đến sự khéo léo/tế-nhị hoặc cá-tính riêng biệt của phụ-nữ, sẽ không bao giờ cạn.

Thôi thì, hôm nay, bần đạo bầy tôi đây chỉ xin nói và ghi lại một truyện đã được kể từ nhiều tháng ngày vào buổi trước rất nhiều lần để minh-họa cho bài viết, như sau:

“Một người đàn ông hôm ấy đến gặp bác sĩ tâm-lý than-phiền về những khó khăn mình gặp, rằng:

-Thưa bác sĩ, không biết tại sao đêm nào tôi cũng mơ chuyện vớ vẩn như quái vật mang hình đàn bà ngồi cạnh giường khiến tôi không ngủ được, cả tháng nay.

Bác sĩ suy nghĩ một hồi, rồi từ tốn nói:

-Được rồi. Tôi nghĩ bệnh của anh có thể trị dứt ngay lập tức. Nhưng có điều là chí phí điều-trị sẽ khá cao và dao-động khoảng từ 20 đến 30 ngàn đô, chứ chẳng chơi.

Người bệnh bèn kêu thất thanh lên rằng:

-Ấy chết Làm gì dữ vậy bác sĩ, 30 ngàn đô sao mắc dữ vậy? Tự dưng, tôi thấy không cần-thiết phải xua đuổi quái vật đội lốt đàn bà nữa. Suy cho kỹ, thì: gọi là quái vật chứ nó cũng có điểm đáng yêu, đấy chứ. Thôi, để tôi về nhà và cố gắng làm bạn với quái-vật ấy, là xong ngay. Có điều, hơi lấn cấn với bà vợ ở nhà một chút, bác sĩ nhỉ?

Bác sĩ nghe vậy, chẳng biết nói sao cho người bệnh an lòng.” (Lại một truyện kể rút trên mạng)

 Kể truyện vui vui hoặc nói với nhau nhiều điều, cũng chỉ để nhắc nhau nhiều điều bằng ca-từ ở trên, cứ hát tiếp:

“Tôi viết tên anh trên lá trên hoa,

Tôi viết tên anh trong trái tim tôi.

Tôi viết tên anh trên đá, trên vôi.

Tôi viết tên em ngập nẻo đường đi ngàn lối.

Tôi nhớ tên anh khi gió khi mưa. 
Tôi nhớ tên anh khi nắng lưa thưa.
Tôi nhớ tên anh qua ánh trăng thanh.
Khi tiếng tơ ngân vào lòng thời gian màu tím.
Tôi nhớ tên anh như nhớ tương lai.
Tôi nhớ tên anh như nhớ trông ai.
Tôi nhớ tên anh muôn kiếp không phai.
Tôi chắc trong tôi đời đời còn nhớ nhung hoài.”

(Hoàng Thi Thơ – bđd)

Tôi nhớ tên anh/tên em” và/hoặc tên các nữ-tông đồ ở Tin Mừng, tức: vẫn còn nhớ lời đấng thánh hiền từng nói ở Kinh/Sách như sau:

“Có mấy phụ nữ đứng xa xa mà nhìn,

trong đó có bà Maria Magđala,

bà Maria mẹ các ông Giacôbê Thứ và Giôxết,

cùng bà Salômê.

Các bà này đã đi theo

và giúp đỡ Đức Giêsu khi Ngài còn ở Galilê.

Lại có nhiều bà khác

đã cùng với Ngài lên Giêrusalem,

cũng có mặt tại đó.”

(Mc 15: 40-41)

Các đấng tông-đồ vị vọng phái nữ có mặt nhiều lần, nhiều nơi bên cạnh Chúa. Các bà có mặt ở đó, không chỉ để chiêm-ngắm những việc Chúa làm bằng mắt thịt người phàm mà thôi, nhưng vẫn là công-việc thừa-tác các bà từng làm còn đắc-lực hơn các tông đồ phái nam, nữa.

Thế đó, là chuyện không chỉ để phiếm đại cho xong mà thôi; nhưng, còn là niềm vui nhắc nhớ để ta lại sẽ viết tên nhau trên lá/trên hoa, trên tất cả mọi thứ ở đời, khiến người người cứ viết hoài viết mãi, rất không ngơi.

Trần Ngọc Mười Hai

vẫn cứ viết nhiều điều để phiếm.

Phiếm rất nhiều.

Phiếm lai rai, dài dài

Không biết chán.     

BỨC TRANH MIÊU TẢ MẦU NHIỆM CHÚA BA NGÔI CỦA CHÍNH THỐNG GIÁO NGA

BỨC TRANH MIÊU TẢ MẦU NHIỆM CHÚA BA NGÔI CỦA CHÍNH THỐNG GIÁO NGA

 “Đó là điều vô lý nhất và không thích hợp khi miêu tả Chúa Cha với hình tượng người đàn ông có bộ râu màu xám, và Người con duy nhất của Ngài có hình ảnh chim bồ câu ở giữa, bởi vì không ai đã nhìn thấy Chúa Cha vì thiên tính của Ngài, và Chúa Cha không có xương có thịt […] và Chúa Thánh Thần bản chất không phải là chim bồ câu, nhưng bản chất là Thiên Chúa.”  (Đại Thượng Hội Đồng Moscow, 1667)

 Đối với Giáo Hội Chính Thống Nga, việc miêu tả Thiên Chúa Ba Ngôi trong nghệ thuật là một vấn đề gây tranh cãi trong hàng ngàn năm qua.  Mặc dù Công Đồng Nicaea năm 787 cho phép các họa sĩ vẽ về Thiên Chúa, tuy nhiên Giáo Hội Chính Thống Nga vẫn không hài lòng với những bức họa phổ biến về Chúa Cha và Chúa Thánh Thần.

Họ cảm thấy hình tượng người đàn ông với bộ râu màu xám và chim bồ câu (thường được dùng để mô tả Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong hội họa) không thể xứng với mầu nhiệm khôn thấu về về Thiên Chúa Ba Ngôi.  Thay vì sử dụng những hình ảnh phổ biến này, họ đã chọn bức tranh (icon) Chúa Ba ngôi của Andrei Rublew như cách diễn tả thích hợp về Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. 

Rất khó để những người bên ngoài Chính thống giáo hiểu được những bức tranh icon của Chính thống giáo Nga, và với cái nhìn đầu tiên, bức tranh có vẻ không diễn tả hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi.  Bối cảnh trung tâm của bức ảnh xuất phát từ sách Sáng Thế, khi ông Abraham tiếp đón ba vị khách lạ vào lều của mình, “Và Đức Chúa hiện ra với Abraham tại cụm sồi Mamre … Ông ngước mắt lên và … kìa, ba người đàn ông đứng gần ông.  Vừa thấy, ông liền từ cửa lều chạy ra đón khách, sụp xuống đất và nói … [Ông Abraham] đã lấy [bánh, sữa chua, sữa tươi, và thịt bê đã làm] mà đãi khách; và ông đứng hầu dưới gốc cây trong khi họ dùng bữa” (Sáng thế ký 18: 1-8).

Bức ảnh của Rublev miêu tả cảnh tượng trên với hình ảnh ba thiên thần, có giáng vẻ giống nhau, ngồi quanh một chiếc bàn.  Phía sau là ngôi nhà của Abraham và một cây sồi phía sau ba vị khách.  Trong khi bức ảnh này mô tả một sự kiện trong Cựu Ước, thì Rublev đã sử dụng đoạn Kinh Thánh này để phác họa hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi, phù hợp với các nguyên tắc nghiêm ngặt của Giáo Hội Chính Thống Nga. 

Các biểu tượng của hình ảnh phức tạp và có ý nghĩa tổng quát niềm tin thần học của Giáo Hội trong Thiên Chúa Ba Ngôi.  Trước hết, ba thiên thần giống hệt nhau về hình dạng tương ứng với tín điều Ba Ngôi tuy riêng biệt, nhưng cùng một bản thể duy nhất.  Tuy nhiên, mỗi thiên thần trong bức trang mặc một trang phục khác nhau, diễn tả sự riêng biệt của mỗi ngôi vị.  Trên thực tế, việc Rublev mô tả Thiên Chúa Ba Ngôi trong hình ảnh thiên thần cũng là một lời nhắc nhở về bản tính của Thiên Chúa, Đấng là thần linh thuần túy.

 Các thiên thần được sắp xếp từ trái sang phải theo thứ tự như khi chúng ta tuyên xưng đức tin trong Kinh Tin Kính: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

 Thiên thần đầu tiên mặc áo màu xanh, tượng trưng cho bản tính thần linh của Thiên Chúa và áo choàng màu tím, chỉ vương quyền của Chúa Cha.

Thiên thần thứ hai và là vị quen thuộc nhất, là người mặc loại quần loại đặc trưng của Chúa Giêsu trong truyền thống icon.  Màu đỏ tượng trưng cho nhân tính của Chúa Kitô, trong khi màu xanh là biểu hiện thiên tính của Người.  Cây sồi phía sau nhắc nhở chúng ta về cây sự sống trong Vườn Eden cũng như thập giá mà trên đó Chúa Kitô đã cứu thế giới khỏi tội lỗi của Adam. 

Thiên thần thứ ba mặc một chiếc áo màu xanh (thiên tính), và áo choàng xanh lá cây.  Màu xanh lá chỉ trái đất và nhiệm vụ đổi mới địa cầu của Chúa Thánh Thần.  Xanh lá cũng là màu phụng vụ trong lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, theo truyền thống Chính thống giáo và Byzantine.  Hai thiên thần bên phải bức tranh đầu hơi cúi, diễn tả một thực tế là Chúa Con và Chúa Thánh Thần xuất phát từ Chúa Cha. 

Trung tâm của bức tranh là chiếc bàn, tượng trưng cho một bàn thờ.  Đặt trên bàn là một chiếc bát hoặc chén bằng vàng, có chứa thịt bê mà Abraham đã chuẩn bị cho khách.  Thiên thần ở giữa có lẽ đang làm phép bữa ăn.  Tổng hợp các điều đó nhắc nhở chúng ta về bí tích Thánh Thể. 

Tuy bức tranh không minh họa trực tiếp mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, nhưng đây là một trong những bức tranh uyên thâm nhất từng được vẽ.  Truyền thống Chính thống giáo và Byzantine vẫn dùng nó như cách miêu tả chính về Thiên Chúa Ba Ngôi.  Bức tranh thậm chí được đánh giá cao trong Giáo hội Công giáo La Mã, và thường xuyên được các giáo lý viên sử dụng để dạy người khác về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. 

Thiên Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm, và sẽ luôn là như vậy khi chúng ta đang còn hiện diện trên trái đất.  Tuy nhiên, đôi khi chúng ta thấy được cái nhìn thoáng qua về sự sống thần linh của Thiên Chúa, và bức tranh của Rublev đã giúp chúng ta có được giây phút ngắn ngủi để nhìn vào phía sau bức màn mầu nhiệm.

 Cát Trắng

The Russian Icon that Reveals the Mystery of the Trinity

Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly

Phúc Âm: Mc 10, 1-12

9 Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly.”

Lạy Cha nhân ái, từ trời cao,
xin Cha nhìn xuống
những gia đình sống trên mặt đất
trong những khu ổ chuột tồi tàn
hay biệt thự sang trọng.
Xin thương nhìn đến
những gia đình thiếu vắng tình yêu
hay thiếu những điều kiện vật chất tối thiểu,
những gia đình buồn bã vì vắng tiếng cười trẻ thơ
hay vất vả âu lo vì đàn con nheo nhóc.
Xin Cha nâng đỡ những gia đình đã thành hỏa ngục
vì chứa đầy dối trá, ích kỷ, dửng dưng.

Lạy Cha, xin nhìn đến những trẻ em trên thế giới,
những trẻ em cần sự chăm sóc và tình thương
những trẻ em bị lạm dụng, bóc lột, buôn bán,
những trẻ em lạc lõng bơ vơ, không được đến trường,
những trẻ em bị đánh cắp tuổi thơ và trở nên hư hỏng
Xin Cha thương bảo vệ gìn giữ
từng gia đình là hình ảnh của thánh Gia Thất,
từng trẻ em là hình ảnh của Con Cha thuở ấu thơ.
Xin Cha sai Thánh Thần Tình Yêu
đem đến hạnh phúc cho mỗi gia đình ;
nhưng xin cũng nhắc cho chúng con nhớ
hạnh phúc luôn ở trong tầm tay
của từng người chúng con. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

Cậu bé bán bánh trước cửa nhà thờ năm nào ở Việt Nam giờ trở thành linh mục cho giáo xứ ở Mỹ

Cậu bé bán bánh trước cửa nhà thờ năm nào ở Việt Nam giờ trở thành linh mục cho giáo xứ ở Mỹ

Cậu bé bán bánh trước cửa nhà thờ năm nào ở Việt Nam giờ trở thành linh mục cho giáo xứ ở Mỹ

Nhân kỷ niệm 14 năm linh mục 22/5/2004 – 22/5/2018, mình muốn chia sẻ với cả nhà một trong những kỷ niệm của thời thơ ấu, mà khi nghĩ đến thì cảm xúc vui buồn lẫn lộn, đó là công việc buổi sáng của mình.

Trước tiên, cho mình xin cám ơn tất cả những ai đã cầu nguyện, gửi lời chúc mừng kỷ niệm 14 năm linh mục cho mình nhe, và nhất là những ai đã gửi quà cho mình nữa!

Lúc còn bé, mình không được may mắn như bao bạn trẻ khác. Sáng sớm 4 giờ phải dậy đi chợ sáng mua hàng tươi về bán. Nhiều lúc không muốn dậy vì mê ngủ mà, và là con nít nữa, nhưng cũng vì hoàn cảnh gia đình, phải cố dậy, mắt nhắm mắt mở, đi bộ đến chợ sáng, tranh dành hàng hoá với những con buôn khác để mua hàng như bánh bò, bánh tiêu, bánh cam, da lợn, ba chỉ, chả giò, chuối chiên, bánh đúc, bánh bèo và vv…. nói chung là đồ tươi mua về bán lại kiếm ăn. Chưa kể là mỗi sáng phải đi ngang nghĩa địa với bụi tre già, “sợ ma muốn chết”, khi gió thổi mạnh hay mưa rơi lác đác, mình luôn có cảm tưởng như ma đi theo mình. Con nít mà, ai không nhát ma????

Chợ về, lo kéo nước, cả mấy chục cặp thùng nước kéo từ cái giếng kế nhà, cho cả người và thú vật dùng, như con heo nái và đàn heo con mà nhà nuôi kiếm ăn.

Kế đến học bài chuẩn bị đi học.

Vào Chúa nhật, công việc cũng thế, nhưng thay vì học bài thì đi giúp lễ sáng và ngay sau lễ, mình đội một mâm bánh đủ loại đi bán cho người đi lễ ở trước cửa nhà thờ Mẫu Tâm, nhà thờ tôn sùng Trái Tim Cực Thanh Cực Tịnh Đức Bà Maria.
Nghĩ đến mà tủi, vì ngồi ở cổng nhà thờ, khi có người đi ra lễ là rao to: “mua đồ ăn sáng đi anh… đi chị… đi em… đi ông… đi bà… đi chú… đi bác…” hay “làm ơn mua giùm em… con… cháu… đi” nghĩ đến đây, mình rơi nước mắt!!!!

Có người cười nói cám ơn không mua. Có người nhìn mặt mình rồi liếc một cái đi. Có người la vào mặt, “không có mua đừng réo!” Có người làm ngơ. Tủi ghê luôn!!! Mới ra lễ mà chẳng có tình yêu, nhất là mới đón nhận bí tích Thánh Thể, bí tích Tình Yêu. Sao họ lại đối xử với mình như thế??? Mình buồn nhưng chịu thôi, biết làm gì??

Rao khan cổ, lâu lâu mới có người mua bánh cho. Ngồi bán mấy ván lễ mới hết nếu hên. Không may mắn thì ôm bánh về nhà bán tiếp hay ăn trừ cơm luôn. Không may nữa thì thấy mẹ mình buồn than thở!!!

Chắc vì Mẹ Mẫu Tâm (tên nhà thờ nơi mình bán bánh mỗi Chúa Nhật) đã nhìn thấy và thấu hiểu đời mình, nên đã âm thầm và trong sự quan phòng mầu nhiệm của Mẹ, đã cầu bầu và cùng đồng hành với mình “vượt biên” qua Thái rồi đến Mỹ, để rồi với Mẹ trải qua bao gian nan thử thách, cuối cùng được chịu chức linh mục theo gót chân Con của Mẹ.

Ngày nay, tôi vẫn ở nhà thờ, vẫn reo to, không phải reo mời người mua bánh, mà “reo mời người nghe Lời Chúa trong các bài giảng”.

Ngày nay, tôi không bán bánh ăn sáng cho cơ thể, mà là “làm Bánh Thánh” tại chỗ nuôi dưỡng linh hồn và cả thể xác (hoá bánh thành Mình Thánh qua và trong chức linh mục) rồi ban phát dân chúng mà không lấy đồng nào!

Cậu bé bán bánh trước cửa nhà thờ năm nào ở Việt Nam giờ trở thành linh mục cho giáo xứ ở Mỹ

Cám ơn Mẹ Maria đã cầu bầu che chở con trong hành trình ơn gọi bao nhiêu năm qua. Xin Mẹ luôn ở bên con mãi mãi.

Bạn thấy đó, Đức Mẹ của ta tuyệt vời như thế đó. Có nhiều việc Mẹ làm ta không biết liền được, mà đến lúc mọi sự đã hoàn tất tốt đẹp, ta mới nhận ra sự yêu thương và quan phòng của Mẹ trong cuộc sống.

Mời cả nhà xem hình kỷ niệm mình chụp ở cái góc trước cửa nhà thờ năm nào. Bây giờ có xe nước mía ở đó. Một kỷ niệm vui buồn của đời tôi ở đây!!!

Hoàng Nhật Tuấn

 MẦU NHIỆM TÌNH YÊU

 MẦU NHIỆM TÌNH YÊU

Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi chính là mầu nhiệm tình yêu thương.

 Từ đời đời, Chúa Cha yêu Chúa Con.  Tình yêu ấy lớn lao đến nỗi Chúa Cha đã sinh ra Chúa Con giống hệt như mình.  Con là hình ảnh hoàn hảo, nguyên tuyền của Cha.  Con là chính Cha, nên Đức Giêsu nói: “Ai thấy Thầy là thấy Cha” (Ga 14,9).  Cha có gì thì ban tất cả cho Con.  Nên sau này Đức Giêsu đã nói: “Tất cả những gì của Cha đều là của Con” (Ga 16,15).  Tình Cha yêu Con thật lớn lao, kỳ diệu.  Tình Con đáp lại tình Cha cũng nồng nàn tha thiết không kém.  Những gì Con nhận được do tình yêu của Cha thì Con dâng lại cho Cha tất cả.  Đức Giêsu vì yêu mến Chúa Cha, nên đã vui lòng xuống thế làm người để cứu chuộc nhân loại.  Trọn cuộc đời, Người luôn tìm thánh ý Chúa Cha để thi hành.  Người luôn tâm niệm: “Lương thực của Thầy là làm theo ý Đấng sai Thầy” (Ga 4,34).  Người từ bỏ hết ý riêng mình để chỉ làm theo ý Chúa Cha.  Người nên một với Đức Chúa Cha trong tâm tình, trong tư tưởng, trong hành động.  “Cha ở trong Con và Con ở trong Cha” (Ga 14,10).  Trong giờ hấp hối, dù sợ hãi cái chết đến độ mồ hôi máu tuôn ra, nhưng Đức Giêsu vẫn luôn vâng theo ý Chúa Cha: “Lạy Cha, nếu có thể được, thì xin cho Con khỏi uống chén này.  Xin đừng theo ý Con, nhưng theo ý Cha mà thôi” (Mt 26,39).  Thánh Phaolô đã tóm tắt về cuộc đời Người: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế.  Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự”(Phil 2,6-8).  Tất cả thái độ vâng phục nói lên sự dâng hiến trọn vẹn cho Chúa Cha.  Tình yêu nối kết Chúa Cha và Chúa Con là Chúa Thánh Thần.

Ba Ngôi là lò lửa tình yêu lúc nào cũng ngùn ngụt cháy.  Ba Ngôi là nguồn mạch tình yêu không bao giờ vơi cạn.  Cuộc trao đổi cho đi và nhận lãnh làm cho tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa ngày càng sung mãn dồi dào.  Tất cả mọi tình yêu đều bắt nguồn từ Chúa Ba Ngôi.  Tất cả mọi tình yêu muốn trung thực và bền vững đều phải học theo khuôn mẫu tình yêu Chúa Ba Ngôi.  Hạnh phúc là ta được tham dự vào bầu khí yêu đương của Chúa Ba Ngôi.  Hạnh phúc sẽ đến khi mọi người biết yêu thương nhau trong tình yêu của Chúa Ba Ngôi.

Hôm nay, khi truyền cho ta đi rửa tội cho mọi người nhân danh Chúa Ba Ngôi, Đức Giêsu muốn ta đem tình yêu rửa sạch những oán ghét hận thù đang tàn phá thế giới.  Người mong ta đem ngọn lửa tình yêu thắp sáng những góc tối tăm chiến tranh, chia rẽ.  Người mong ta đem mưa tình yêu tưới gội những vùng đất khô cằn vì thiếu vắng tình thương tha thứ.  Người muốn cho tình yêu lên ngôi ngự trị trong hết mọi tâm hồn.

Phần ta, những môn đệ của Chúa, mỗi khi ta làm dấu Thánh giá nhân danh Chúa Ba Ngôi, ta hãy xin Ba Ngôi Thiên Chúa in tình yêu thánh thiện của Người vào tâm hồn ta.  Xin cho ta được tham dự vào tình yêu vô cùng sung mãn của Người.  Xin cho ta trở nên một đốm lửa trong lò lửa yêu thương của Người.  Được cháy trong lò lửa tình yêu Chúa Ba Ngôi, ta sẽ trở nên giống như Người, luôn biết cho đi, luôn biết dâng hiến, luôn mưu tìm hạnh phúc cho tha nhân.

ĐTGM Ngô Quang Kiệt

****************************

Giữa một thế giới
Đề cao quyền lực và lợi nhuận,
Xin dạy con biết phục vụ âm thầm.
Giữa một thế giới say mê thống trị và chiếm đoạt,
Xin dạy con biết yêu thương tự hiến.
Giữa một thế giới đầy phe phái chia rẽ,
Xin dạy con biết cộng tác và đồng trách nhiệm.
Giữa một thế giới đầy hàng rào kỳ thị,
Xin dạy con biết coi mọi người như anh em.

Lạy Chúa Ba Ngôi,
Ngài là mẫu mực của tình yêu tinh ròng,
Xin cho các kitô hữu chúng con
Trở thành tình yêu
Cho trái tim khô cằn của thế giới.
Xin dạy chúng con biết yêu như Ngài,
Biết sống nhờ và sống cho tha nhân,
Biết quảng đại cho đi
Và khiêm nhường nhận lãnh.

Lạy ba ngôi chí thánh,
Xin cho chúng con tin vào sự hiện diện của Chúa
ở sâu thẳm lòng chúng con,
và trong lòng từng con người bé nhỏ.

Nguyễn Cao Siêu, S.J.

Langthangchieutim gởi

28 chuyện lạ đã xảy ra khi thực hiện cuốn phim “Cuộc khổ nạn Chúa Giêsu” vào năm 2004

28 chuyện lạ đã xảy ra khi thực hiện cuốn phim “Cuộc khổ nạn Chúa Giêsu” vào năm 2004

28 chuyện lạ đã xảy ra khi thực hiện cuốn phim “Cuộc khổ nạn Chúa Giêsu” vào năm 2004

1. Điều gì khiến ông Mel Gibson làm phim Chúa Giêsu? Cách đây khoảng 12 năm tài tử Hollywood này đã mang ý muốn làm phim trong đầu. Nhưng tới sau này đến khi ông gặp một người phụ nữ Pháp, cô ấy đã nói với Ông: “Chúa Giêsu yêu ông đó”. Lúc đó ông mới có can đảm thực hiện cuốn phim “Cuộc khổ nạn Chúa Giêsu”.

2. Gibson đã chiến thắng được chứng bệnh chán đời muốn tự tử qua “cuộc khổ nạn”. Gibson đã tiết lộ với tờ báo Úc Châu Herald Sun: “Dạo trước tôi có cảm giác lạc lối trong bóng tối, tôi hoàn toàn thất vọng. Tôi chẳng thiết sống nữa, nhưng cũng chưa sẵn sàng để ra đi.. Qua “Cuộc khổ nạn Chúa Giêsu” ông ta mới thực sự vượt qua được cơn suy nhược của thần kinh, chán đời.

3. Nguyên do chính để thực hiện cuốn Phim “Cuộc khổ nạn” đối với nhà sản suất phim và tài tử chính là … Tình Yêu. Jim Caviezel trong cuộc phỏng vấn trước khi phim bắt đầu chiếu trên cinê: “Không ai trong nhóm chúng tôi làm Phim này vì tiền mà là vì Tình. Tôi và Mel cũng thế. Mọi người trong chúng tôi đều hăng say làm việc chỉ vì Tình yêu Giêsu, mà chẳng quản ngại gì đến thời gian hay tiền bạc cả.”

4. Người hòa âm cho phim “Cuộc khổ nạn Chúa Giêsu” là ông Bob Beemer. Ông đã tuyên bố như sau: “Đây không phải là loại phim bình thường chỉ cần gây ra các ấn tượng về âm thanh để câu khách ngay từ đầu. Ông Gibson nhấn mạnh với nhóm hòa âm trong phim gồm có 12 người rằng chúng tôi là phải trộn âm thanh như thế nào để có thể tồn tại mãi với thời gian. Trong khi đó có nhiều đạo diễn khác muốn làm nhanh chóng hơn để còn tiếp tục sản xuất các phim khác, mà không hề nghĩ rằng phim của họ sẽ bị phê bình như thế nào cho cả trăm năm về sau. Đây là một kỷ niệm tốt đẹp cho tôi khi làm việc với ông Gibson.”

5. Mel Gibson, là người công giáo thực tiễn: Ông đã bỏ ra 25 triệu Mỹ kim tiền túi. Lúc ấy ông không cần quan tâm đến lời lỗ ra sao. Ông nói: „Tôi nghĩ rằng công việc lớn lao là làm thế nào mà thay đổi được trái tim của con người. Tôi hy vọng phim này có khả năng để thực hiện được chuyện ấy”, ông ta nói trong cuộc phỏng vấn khá lâu trước khi phim bắt đầu trình chiếu.

“Dù sau này chỉ có năm người tới xem phim, mà cuốn phim đã làm cho họ thay đổi được môt điều gì đó, thì điều này rất là bõ công rồi.” – nhưng điều lạ lùng đã xẩy ra: Dù không quảng cáo rộng rãi lắm, chỉ trong một ngày trình chiếu, cuốn phim đã thâu lại gần hết tiền chi phí sản suất mà ông đã bỏ ra.

6. Nhân vật đóng vai Chúa Giêsu Jim Caviezel trước kia đã được nhiều các hãng phim khác mời gọi đóng vai Chúa Giêsu, ông luôn từ chối vì ông cảm thấy mình không xứng đáng đóng vai này.

7. Sáu tháng trước khi bắt đầu đăng ký chính thức đóng phim “Cuộc khổ nạn” ông Jim Caviezel thường hay thăm viếng nơi Đức Mẹ hiện ra ở Medjugorge. Tại đây tình cờ ông đã gặp một phụ nữ xa lạ. Bà này đã nói với ông: “Anh sẽ đóng vai Chúa Giêsu đấy!”

8. Nhà đạo diễn Mel Gibson đã tìm thấy Caviezel trong danh sách những ngừơi đăng ký xin đóng phim. Ông đã nhận thấy tên Jim Caviezel và tên Jesus Christ rất gần nhau, khi viết tắt đều là hai chữ J.C.

9. Khi Gibson phỏng vấn tài tử Jim Caviezel, lúc ấy ông cũng đúng 33 tuổi, rất trùng hợp với chúa Giêsu khi bị khổ nạn.

10. Khi thực hiện cuộn phim này nhà sản xuất cũng như tài tử chính đã đánh liều về công danh của họ. Caviezel cho biết: “Đạo diễn Mel Gibson nói với tôi rằng : “khi nhận lời đóng vai chính cho phim này, điều đó có thể là sự sụp đổ của tên tuổi anh đấy! Cũng có thể là nó sẽ kết thúc Sự nghiệp của chúng mình.

Anh cần hiểu rõ việc tôi đang làm` Và tôi đáp lại: `Anh phải biết mỗi người trong chúng ta đều được Ơn Gọi vác thánh giá của mình. Nếu không vác thì thập giá sẽ đè chúng ta bẹp lép! Cho nên câu trả lời dứt khoát của tôi là :”ok sẵn sàng đóng vai Chúa.” Đó là câu chuyện giữa nhà sản xuất và tài tử cuốn phim “Cuộc khổ nạn”.

11. Nam tài tử đóng vai Chúa Giêsu Jim Caviezel đã bị hai lần sét đánh trong lúc quay phim và không bị thương. Tờ báo Đức Quốc “Bild”-online đăng tải như thế. “Tôi đã đứng xa anh ta khoảng cách 100 mét”, nhà sản suất Steve McEveety là nhân chứng của biến cố này kể lại: “Bỗng nhiên tôi chợt thấy khói từ trong lỗ tai của ông ta chui ra.” Ông phụ tá đạo diễn Jan Michelini cũng bị sét đánh.

Đúng như là phép lạ là điều hai người đàn ông này không bị thương. Vài tháng trước Michelini cũng bị sét đánh trong cơn mưa rào. Ông ta chỉ bị thương nhẹ trên ngón tay. Rồi lần thứ hai sét lại đánh Jim Caviezel, và ông lại thoát khỏi sự kinh khủng này. Caviezel: “Khi chúng ta quay tới đoạn bài giảng của Chúa Giêsu trên núi vào ngày quay phim cuối cùng, tôi bị sét đánh. Thiên hạ đều la hét, da thịt của tôi hoàn toàn bị cháy than. Nhưng những người quanh đấy, đã chứng kiến từ đầu tới cuối đã kể là họ không thấy sét mà chỉ thấyánh sáng thật sáng bao quanh tôi.”

12. Trong lúc làm phim này phải luôn có sự kết hợp với các bí tích của giáo hội. Jim Caviezel khẳng định: “Trong suốt thời gian quayphim đức tin của tôi rất mạnh mẽ. Trước khi bắt tay vào việc tôi đã nói với Mel: “Chúng ta phải tham dự Thánh Lễ hằng ngày. Trước khi tôi vác thánh giá và quay phim tôi cần phải rước Mình Thánh Chúa”. Hằng ngày tôi đi xưng tội. Có một ai đó đã cho tôi biết một trong những tội trọng đó là những điều thiếu sót.

Lời này đúng là hạp với tôi. Tôi cảm thấy lòng yêu Chúa của tôi chưa đủ. Chúng tôi đã đọc kinh lần chuỗi. Cầu nguyện liên lỉ. Tôi đã được trao cho các thánh tích mà tôi yêu cầu. Do đó có các Thánh và hai thánh thích của thập giá Kitô luôn bên cạnh tôi: có cả ông thánh Franz của thành Assisi, nữ thánh Maria Goretti, ông thánh Antonius của thành Padua, ông thánh Padre Pio của thành Pietrelcina, và kể cả nữ thánh Anne Catherine Emmerich nữa.”

13. Đối với nam tài tử thủ diễn vai trò Chúa Giêsu không phải chỉ là một vai trò giả tạo mà hoàn toàn là sự thật. Jim Caviezel: ” tôi cầu nguyện như thế này: Nguyên do duy nhất mà tôi làm tất cả cho chuyện đóng phim này là mong muốn có sự cải hóa thế giới. Tôi không mong thiên hạ thấy tôi, mà muốn họ phải nhìn thấy Chúa Giêsu mà thôi. Điều đó tôi đã cầu xin. Và tôi đã đọc kinh lần hạt liên tục, để Đức Mẹ dẫn dắt tôi tới Người Con được. Tôi nói thật với anh, từ xưa tới nay chưa có ai được xem nỗi cực hình đến như thế. Lần này là cuộc khổ nạn thực tế nhất đang diễn ra đó.”

14. Tài tử đóng vai Chúa Giêsu đã chịu khổ giống như Chúa. Jim Caviezel: “Giả sử chúng tôi quay phim hết ở trong xưởng phim mà không quay trên núi, thì tôi đâu phải chịu đựng cực khổ như vầy đâu. Nếu tôi không chịu khổ như vầy thì anh đâu được nhìn hình ảnh trên thập giá như thế đâu. Tôi cần phải biết cảm giác thật trên thập giá. “Người phỏng vấn: “Anh có cảm giác thật như là chết trên cây thánh giá không?

” Caviezel: “Dạ có, quả thật như là tôi hoàn toàn bị cứng ngắt trên thập giá. Tôi không thể kiểm soát được hai bàn tay run rẩy của tôi nữa. Lúc họ đặt tôi lên thập giá, vai tôi đâu nhức muốn chết. Khi tôi vác thánh giá bả xương vai của tôi bị lệch ra ngoài. Tôi bị chúng quật roi hai lần và bị đập nhiều lần. Và tôi cũng không thể thả thập giá xuống nổi vì nó quá nặng. Không có giờ để nghỉ nữa.”

15. Caviezel đã trả lời trong cuộc phỏng vấn với tờ báo “Newsweek” câu hỏi rằng, cuốn phim đã làm đức tin của ông có chiều sâu không, ông có yêu Chúa Kitô hơn ông tưởng tưởng không: “Tôi yêu Ngài còn hơn vợ tôi và gia đình tôi.”

16. Trước khi đóng phim “Cuộc khổ nạn” nam tài tử Jim Caviezel đã gây sự hào nhoáng phi thường trong thế giới điện ảnh. Tờ báo “Kurier” đã đăng thế. Trong lúc quay phim “Angel Eyes”, mà Caviezel đóng vai thiên thần bổn mạng huyền bí và cô Jennifer Lopez đóng vai nữ cảnh sát, hãng phim cũng tính cho họ đóng màn cởi truồng. Nhưng Caviezel đã từ chối đóng màn này. Trong lúc quay phim người tài tử trẻ tuổi này yêu cầu cô Lopez trước khi quay màn sex phải mặc quần áo lại. “Tôi vẫn mặc quần shorts thì cô ta cũng phải giữ mặc chiếc áo”, ông Caviezel nói thế. Ông nói tiếp rằng ông “làm như thế là vì ông tôn trọng và yêu vợ ông.”

17. Người đóng vai Mẹ Chúa Giêsu là Maja Morgenstern. Cô là người Do Thái như Mẹ của Chúa Giêsu vậy.
Gibson đã chú ý tới cô ta qua vai trò trong phim đóng vai người Do Thái cải đạo Edith Stein. Khi Maja Morgenstern bắt đầu sự nghiệp đóng phim cô ta bị thôi thúc đổi tên họ đặc tính Do Thái này, mà cô ta từ chối. – “Morgenstern” là ánh sao ban ngày là một trong những hàm vinh dự của Đức Mẹ Maria.

18. Maja Morgenstern đồng ý với đạo diễn Gibson đóng vai người mẹ mất đứa con. Trong giai đoạn quay phim nữ tài tử này đang mang thai. Cô ta đóng vai trò này có thể có sự chuẩn bị tốt lành hơn thế được không?

19. Maja Morgenstern đã đóng góp nhiều đề nghị thuộc cổ truyền Do Thái, chẳng hạn như câu: “Vì sao đêm nay khác lạ hơn đêm kia? Những lời này theo nghi thức Pessach của Do Thái với sự ghi nhớ của sự di dân vĩ đại của người Do Thái khỏi Ai-cập, mà dân của Chúa được cứu thoát khỏi sự chết qua tay thiên thần bằng cách bôi máu dê trước cửa nhà. Gibson luôn khuyến khích cô ta kể về cổ truyền Do Thái và hay hỏi ý kiến cô ta về nhiều đoạn phim. Jim Caviezel: “Ông ta còn muốn tạo ra môt cuốn phim đầy đặc tính Do Thái nữa.”

20. Phim được bắt đầu quay vào ngày 15 tháng 8 là ngày Lễ trọng Đức Mẹ lên Trời.

21. Việc quay phim kết thúc vào ngày 13 tháng 5 là ngày Đức Mẹ bắt đầu hiện ra ở Fatima.

22. Đối với nam tài tử phải học tiếng Aramêơ và Latinh để đóng phim là cả một cực hình vậy mà Jim Caviezel nói rằng ông ta đãhọc chữ tiếng Aramêơ trong thời gian rất ngắn mà ông trước đó bình thường là không thể học nổi.

23. Trong lúc quay phim có nhiều dấu hiệu tốt xẩy ra, trong đó có nhiều người nghiện ma túy bỏ được thói nghiện.

24. Kẻ thủ lâu năm làm hòa với nhau.

25. Người vô thần và người hồi giáo đã trở thành công giáo trong lúc làm việc quay phim.

26. Đứa con của người cộng tác cuốn phim được chữa khỏi bệnh động kinh lâu năm trong lúc quay màn đóng đinh.

27. Không có chủ hãng cho thuê mướn nào muốn chiếu phim này trong các cinê. Lý do: những phim có lời thuyết minh không được yêu chuộng với khán giả. Người phân phát sợ bị lỗ, ngoài ra đó các hãng cho thuê mướn phim bị ép bởi những tổ chức Do Thái gây ánh hưởng.

28. Nhưng gặp một giáo sĩ Do Thái đã nói đúng ba dự đoán trước về phim “cuộc khổ nạn” trên các cinê Mỹ: Giáo sĩ Daniel Lapin tự nhận rằng ông không phải là nhà phê bình phim, nhưng ông đã dự đoán sự thành công vĩ đại của phim này.

Ngoài ra , phim này sẽ là một biến cố được nói nhiều nhất trong các hãng phim giải trí và sẽ đi vào lịch sử. Điều thứ ba là phim về Chúa Giêsu hay nhất, sẽ làm Đức Tin Kitô phát triển không ngờ và sẽ khiến người , nhất là quân vô thần phải nghiêm trang tìm hiểu giáo lý Kitô giáo.

Bí quyết của Đường Hy Vọng: 1. Ra Đi: “bỏ mình”; 2.Bổn Phận: “vác thánh gíá mình mỗi ngày”; 3. Bền Chí: “theo Thầy” (ĐHY Phanxico Xavier Nguyễn Văn Thuận)

 

Bi kịch của một cô bé Trung Hoa ảnh hưởng đến một Tổng Giám Mục Hoa Kỳ như thế nào?

Bi kịch của một cô bé Trung Hoa ảnh hưởng đến một Tổng Giám Mục Hoa Kỳ như thế nào?

Đặng Tự Do

22/May/2018

Ngày 13 tháng 5 vừa qua, Giáo Hội cử hành ngày Truyền Thông Thế Giới lần thứ 52, trong dịp này một nhân vật được coi là huyền thoại về truyền thông của Công Giáo Hoa Kỳ lại được nhắc đến như một gương sáng cho các ký giả Công Giáo.

Đức Tổng Giám Mục Fulton Sheen sinh ngày 8 tháng 5 năm 1895 và qua đời vào ngày 9 tháng 12 năm 1979. Án tuyên thánh cho ngài đang được xúc tiến.

Một vài tháng trước khi ngài qua đời, Đức Tổng Giám Mục Fulton Sheen đã được phỏng vấn trên truyền hình quốc gia. Một trong những câu hỏi được đặt ra với ngài là: “Đức Cha đã truyền cảm hứng cho hàng triệu người trên khắp thế giới. Vậy ai là người truyền cảm hứng cho Đức Cha? Có phải đó là một giáo hoàng không?”

Câu trả lời của Đức Tổng Giám Mục đã gây kinh ngạc cho nhiều người: 

“Đó không phải là một giáo hoàng, Hồng Y, một giám mục khác, hay thậm chí là một linh mục hay nữ tu, mà là một cô gái Trung Quốc mười một tuổi.”

Ngài kể rằng khi những người cộng sản chiếm được Trung Quốc, họ đã giam cầm một thừa sai trong nhà xứ của mình sát bên ngôi nhà thờ. Một ngày kia, trong khi bị nhốt trong nhà mình, vị linh mục nhìn ra ngoài cửa sổ và kinh hoàng khi thấy lính tráng cộng sản rầm rập bước vào nhà thờ. Chúng tiến lên cung thánh, mở cửa nhà tạm và trong một hành động đầy hận thù, đã quăng chiếc chén thánh xuống làm vung vãi Mình Thánh Chúa trên sàn nhà. Giữa hoàn cảnh nguy ngập của tình hình đã từ lâu, bị cô lập tứ bề, nhà thờ không còn nhận được bánh lễ và rượu lễ nên vị linh mục biết chính xác có bao nhiêu bánh thánh còn trong chén: ba mươi hai chiếc.

Rồi thì chúng bỏ đi, không chú ý đến một cô gái nhỏ đang núp trong những hàng ghế trong nhà thờ, là người đã thấy mọi thứ. Đêm đó, cô trở lại, và lén lút vượt qua tên lính vẫn ngồi canh trước cửa nhà xứ. Cô bước vào nhà thờ, nơi cô đã làm một giờ thánh có lẽ để đền tạ cho sự khinh miệt Thánh Thể mà cô đã chứng kiến.

Sau giờ thánh của mình, cô lên cung thánh, và quỳ gối xuống, cô đón nhận Chúa Giêsu trong Hình Bánh bằng lưỡi mình vì vào thời điểm đó, Giáo Hội không cho phép người giáo dân chạm vào Hình Bánh bằng tay của họ.

Mỗi đêm, cô gái trở về nhà thờ để làm giờ thánh của mình và đón nhận Chúa Giêsu trong Hình Bánh trên lưỡi của mình cũng giống như cô đã làm đêm đầu tiên. Vào đêm thứ ba mươi hai, sau khi rước chiếc bánh cuối cùng, cô vô tình tạo ra tiếng động đánh thức tên lính canh đang ngủ gật trước nhà xứ của vị linh mục. Từ cửa sổ phòng ngủ của mình, vị linh mục chứng kiến một cảnh tượng quá đau đớn đang mở ra trước mắt ngài. Cô gái cố gắng chạy nhưng tên lính bắt kịp cô và dùng báng súng đánh cô đến chết.

Khi Đức Giám Mục Sheen nghe câu chuyện được chính vị thừa sai kể lại trong một Đại Hội Thánh Thể, ngài cảm động đến rơi lệ, và đã hứa với Chúa, ngài sẽ làm một giờ thánh trước Thánh Thể mỗi ngày trong suốt cuộc đời còn lại của mình. . Và không chỉ trung tín với lời hứa của mình, nhưng trong mọi cơ hội có thể có, ngài luôn truyền bá lòng tôn sùng Thánh Thể.