LINH ĐẠO I-NHÃ – LINH ĐẠO CỦA CON TIM !

LINH ĐẠO I-NHÃ – LINH ĐẠO CỦA CON TIM !

    Trong bài thao luyện Tiếng Gọi Vua Đời Tạm Giúp Chiêm Ngắm Cuộc Đời Vua Hằng Sống, thánh I-nhã nói rằng có hai kiểu đáp trả trước tiếng gọi của Thiên Chúa.  Một kiểu đáp trả đến từ con người lý trí.  Kiểu thứ hai đến từ con người quảng đại và hào hiệp.  Chúng ta có thể gọi kiểu đáp trả đó là sự đáp trả của con tim.

 Thánh I-nhã mở đầu Linh Thao của ngài với 20 ghi chú nhằm giải thích mục đích của những bài thao luyện cũng như đưa ra vài lời khuyên và chỉ dẫn cho người hướng dẫn tĩnh tâm.  Chính những chỉ dẫn đầu tiên này đã giải thích điều thánh nhân muốn nói ngang qua những bài tập thiêng liêng.  Tập thể dục giúp điều hòa thân thể và tăng cường sức khỏe.  Và theo thánh I-nhã, Linh Thao hữu ích trong việc “giúp tăng cường và nâng đỡ chúng ta trong nỗ lực đáp trả ngày càng trung tín hơn với Tình Yêu Thiên Chúa.

 Hãy để ý điều mà thánh I-nhã không nói đến.  Ngài không nói Linh Thao được biên soạn để đào sâu sự hiểu biết của chúng ta hoặc để gia tăng ý muốn của chúng ta.  Ngài không giải thích những mầu nhiệm thiêng liêng cho chúng ta hay khai sáng tư tưởng của chúng ta.  Chúng ta dễ thấy có những bài tập đặt nặng về trí hiểu, nhưng đây không phải là mục đích.  Mục đích của những bài thao luyện là một sự đáp trả vững tâm.  Thánh I-nhã theo đuổi sự đáp trả của con tim.

 “Con tim” không có nghĩa là cảm xúc (mặc dù từ ngữ này bao gồm ý nghĩa cảm xúc).  Từ ngữ này ám chỉ tới định hướng bên trong tâm hồn chúng ta.  “Con tim” này là điều mà Chúa Giêsu nhắc đến khi Ngài dạy bảo chúng ta hãy tích trữ kho tàng trên trời thay vì tích trữ của cải trần thế: “Vì kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó” (Mt 6, 21).  Đây là “tấm lòng” mà Chúa Giêsu đã trăn trở khi ngài nói: “vì tự lòng phát xuất những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian và vu khống.”  Chúa Giêsu nhận thấy rằng tấm lòng (con tim) của chúng ta có thể dần xa rời hành động của chúng ta: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta” (Mt 15, 8).  Trong cảm thức này, con tim – lời đáp trả toàn diện – mới thực sự là mối bận tâm của Linh Thao.

     Trên đây là ý nghĩa cổ xưa của từ ngữ “con tim” theo truyền thống Kinh Thánh, nhưng thực tế chúng ta còn lưu lại những vết tích của ý nghĩa này trong tiếng Anh đương đại.  Khi chúng ta nói với ai đó: “trái tim tôi dành cho bạn,” chúng ta muốn nói lên một điều gì đó vượt lên trên cảm nghĩ bận tâm hay lo lắng.  Chân thành mà nói, câu nói này thông truyền ý nghĩa về sự gắn kết hết lòng với ai đó.  Nó mang ý nghĩa xa hơn câu nói “tôi hiểu bạn” (về mặt trí năng).  Nó cũng mang ý nghĩa xa hơn câu nói “tôi thông cảm với bạn” (về mặt cảm xúc).  Nó có ý nghĩa đại loại như câu “tôi ở đây, tôi ở bên bạn.”  Đó là cách diễn tả một chọn lựa căn bản.

    Ngày nay, chúng ta thường nói về một người tỏ ra thiếu hăng say trong một dự án: “Hắn ta làm việc thật vô tâm.”  Chúng ta cũng thường nói điều này khi cung cách hành xử của người ấy không xứng hợp với ước muốn thâm sâu nhất của chính anh ta.  Chúng ta cũng nói như thế với chính mình mỗi khi vô tình làm tổn thương những người thân yêu hoặc làm những điều mà chúng ta biết là mâu thuẫn với bản chất của chúng ta.  “Cái tâm” ở đây là điều mà thánh I-nhã bận tâm.  Chúng ta có thể nghĩ về linh đạo I-nhã như một cách xếp đặt con tim cho đúng.

 Thánh I-nhã hiểu được điều này vì đó là điều đã xảy ra cho ngài.  Ngài đã trải qua một cuộc hoán cải sâu xa trong lúc hồi phục vết thương, nhưng đó không phải là một sự biến đổi về trí hiểu hay ước muốn.  Trước cuộc hoán cải – và về sau – ngài luôn là một Kitô hữu “chính truyền” luôn tuân theo những thực hành tôn giáo được mong đợi nơi ngài.  Chuyện đó không hề thay đổi.  Cuộc hoán cải của ngài bao gồm những khao khát và dấn thân sâu xa nhất, mà điểm quy chiếu cốt yếu của chúng là phẩm tính của con người trước mặt Thiên Chúa.  Qua thời gian, hiểu biết về tôn giáo trên lý thuyết lẫn thực hành của thánh nhân hiển nhiên được đào sâu, nhưng quan trọng nhất là chính con tim của ngài được biến đổi.

     Qua bao năm cầu nguyện sốt sắng và được người khác linh hướng, thánh I-nhã đã khai triển nhiều cách thức để lắng nghe ngôn ngữ con tim.  Đây chính là loại ngôn ngữ bày tỏ những ý định của Thiên Chúa và thôi thúc chúng ta quảng đại đáp trả.  Điều chúng ta tin và điều chúng ta làm thì quan trọng thật đấy, nhưng thánh I-nhã còn quan tâm hơn nữa đến tình trạng tâm hồn của mỗi người chúng ta.

     Tuy nhiên, hầu hết chúng ta vẫn gặp phải một cám dỗ dai dẳng là muốn biến Linh Thao hay bất kỳ một cuộc canh tân thiêng liêng nào đó trở thành vấn đề của việc thay đổi tư duy.  Thực vậy, nguy cơ này nảy sinh ngay cả trong một cuốn sách kiểu như cuốn Linh Thao – một cuốn sách đề ra những ý tưởng, quan niệm và nguyên tắc giúp mở rộng tầm hiểu biết của chúng ta về linh đạo I-nhã.  Thật là quan trọng để ý thức ngay rằng hiểu biết không phải là mục tiêu cuối cùng của chúng ta trong Linh Thao.  Chúng ta có thể biết rất nhiều thứ, nhưng có thể điều này chẳng ảnh hưởng gì đến cách chúng ta sống.  Mục tiêu của Linh Thao là sự đáp trả của con tim – điều thật sự làm thay đổi trọn cả con người chúng ta.

     Thiên Chúa đã huấn luyện con tim thánh I-nhã ngang qua nhiều thị kiến thần bí mà thánh nhân nhận được ngay từ khi bắt đầu hành trình thiêng liêng.  Một thị kiến kiểu như thế đến với thánh nhân vào lúc ngài đang băn khoăn xem có nên đọc ba hay bốn lời cầu nguyện với Chúa Ba Ngôi chăng – mỗi lời cầu nguyện hướng đến một ngôi riêng rẽ – Cha, Con và Thánh Thần – và lời nguyện thứ tư hướng đến Một Thiên Chúa Duy Nhất.  Một lần, khi đang thong dong cầu nguyện ngoài trời ở trên bậc tam cấp của một tu viện, thánh nhân bất chợt nghe tiếng Ba Ngôi Chí Thánh như tiếng nhạc của ba phím đàn đang hòa thanh (ba nốt nhạc cấu thành một hợp âm).  Khi khác, thánh nhân nhận được một thị kiến về cách thức Thiên Chúa sáng tạo thế giới, làm như thánh nhân thấy “một vật thể trắng sáng phát ra những tia sáng” và “Thiên Chúa làm thành ánh sáng.”  “Kẻ ấy không biết giải thích những điều này thế nào,” thánh nhân viết về mình trong ngôi thứ ba số ít (“kẻ ấy”).  Dẫu sao, thánh I-nhã đã đáp trả bằng con tim của ngài: “Nước mắt trào ra, kẻ ấy thổn thức không sao kìm hãm được.

     Sự đáp trả của con Tim là nền tảng của Linh Thao.  Công cuộc sáng tạo là một dòng chảy những quà tặng của Thiên Chúa, và sự đáp trả của con người là tiếp điểm để dòng chảy ấy trở về với nguồn mạch là chính Thiên Chúa.  Sự đáp trả của con người là sự lựa chọn tự do để cho cuộc sáng tạo của Chúa diễn ra.  Cuộc sáng tạo ấy giúp chúng ta hiểu biết, yêu mến Thiên Chúa và muốn sống với Ngài mãi mãi.

     Ngay từ đầu Linh Thao, thánh I-nhã đề nghị thao viên cầu nguyện trước Chúa Giêsu Kitô trên thập giá.  Thánh nhân chân nhận Chúa Kitô là Đấng Tạo Hóa, là Thiên Chúa của Nguyên Lý Và Nền Tảng.  Dường như Thánh I-nhã muốn nói: “Hãy trò chuyện với Chúa về cách thức Ngài sáng tạo thế giới vì tình yêu.”  Không có gì khó hiểu hay trừu tượng về một Thiên Chúa của lý trí, nhưng về một Thiên Chúa của Tình Yêu được chiêm ngắm trong khuôn mặt Đức Giêsu Kitô.  Đó là Chúa Kitô theo Thánh Phao-lô trong thư gửi cho các tín hữu ở Cô-lô-xê và Ê-phê-xô.  Đó là Chúa Kitô trong lời tựa Tin Mừng theo thánh Gio-an: “Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành.”  Đây là Con Thiên Chúa, là Alpha và Omega (Khởi Nguyên và Cùng Đích) trong sách Khải Huyền của tác giả Gio-an. 

    Hành trình thiêng liêng của chúng ta là một nỗ lực để trả lời câu hỏi: “Cả cuộc sống này có ý nghĩa gì?”  Đây là câu trả lời của thánh I-nhã: một hình ảnh về Thiên Chúa trong con tim của chúng ta, chứ không phải trong trí hiểu.  Hình ảnh đó là họa thuật về Đấng Tạo Hóa như một Đấng ban tặng dư dả. Ngài không ngừng trao ban những món quà và mời gọi chúng ta đáp trả – một chọn lựa tự do để chúng ta có thể quay trở lại với Ngài trong niềm tri ân cảm mến.  Đó là một hình ảnh mà chỉ con tim mới có thể đáp lời.

 Truyền Thông SJVN

 From: KittyThiênKim & KimBằngNguyễn

10 lý do chịu đau khổ

10 lý do chịu đau khổ

Horatio G. Spafford là một luật sư giỏi ở Chicago hồi thập niên 1800 và là bạn của nhà truyền giáo Dwight L. Moody.  Luật sư Spafford được kính trọng và tốt lành, nhưng ông vẫn không tránh khỏi những lúc khổ đau.

Trước hết, ông mất đứa con trai vì chứng ban đỏ (scarlet fever).  Rồi vốn đầu tư làm ăn cũng bị thua lỗ.  Không lâu sau đó, 4 cô con gái của ông chết trong một vụ đắm tàu ở Đại Tây Dương, chỉ còn bà vợ Anna của ông sống sót nhờ bám vào chiếc phao rồi được cứu.

 Tại sao bi kịch xảy ra với người tốt?  Luật sư Spafford không thể hiểu, nhưng rồi ông vẫn vững tin vào quyền năng của Thiên Chúa.  Mọi người có thể tôn vinh Thiên Chúa ngay cả trong những lúc đen tối nhất của cuộc đời.  Theo Kinh Thánh, đây là 10 lý do để chúng ta chịu đau khổ.

  1. Chúng ta chịu đau khổ vì chúng ta phạm tội.  Chẳng có ai công chính (Rm 3:10), nghĩa là ai cũng là tội nhân (Rm 3:23). Những người không có đức tin thì sống biệt lập với Chúa, còn những người có đức tin thì trải nghiệm từng khoảnh khắc, từng ngày, từng mùa… về niềm tin vào Thiên Chúa. Quy luật tâm linh được tạo ra để triệt tiêu tội lỗi trong đời sống của tín hữu, quy luật này nghiêm khắc, kể cả cái chết: “Ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình. Vì lẽ đó, trong anh em, có nhiều người ốm đau suy nhược, và cũng có lắm người đã chết.  Giả như chúng ta tự xét mình, thì chúng ta đã không bị xét xử.  Nhưng khi Chúa xét xử là Người sửa dạy chúng ta, để chúng ta khỏi bị kết án cùng với thế gian” (1 Cr 11:29-32).
  1. Chúng ta chịu đau khổ vì người khác phạm tội. Vợ chồng và con cái chịu đau khổ vì bị lạm dụng. Công dân chịu đau khổ vì chính quyền tham những. Satan xúi giục vua Đa-vít thống kê dân số Ít-ra-en, và có 470.000 người chịu hậu quả (2 Mcb 10:20). Chúa Giêsu chịu đau khổ và chịu chết không phải vì lỗi của Ngài mà vì tội lỗi của nhân loại.
  1. Chúng ta chịu đau khổ vì chúng ta sống trong thế giới tội lỗi. Tai nạn và tai họa xảy ra, mỗi năm có hàng triệu người chết. Thánh Phaolô nói rằng “muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở” (Rm 8:22). Đó là hậu quả của tội lỗi.
  1. Chúng ta chịu đau khổ vì chúng ta được tự do chọn lựa. Quyền năng Thiên Chúa và khả năng của con người là hai sự thật trong Kinh Thánh. Chúng ta không là robot, chúng ta có thể chọn lựa vì Thiên Chúa cho chúng ta quyền tự do. Đôi khi sự chọn lựa của chúng ta gây đau khổ – cho mình và cho người khác. Randy Alcorn viết:“Nếu Thiên Chúa tước hết vũ khí và ngăn chặn các tài xế say xỉn, thế giới này sẽ không là thế giới thật để con người chọn lựa… Trong một thế giới như vậy, người ta sẽ chết mà không có nhu cầu, chỉ thấy mình ở Địa ngục”.
  1. Chúng ta chịu đau khổ vì sự sống đời đời. Thế giới này không là nhà của chúng ta, chúng ta chỉ là khách vãng lai. Chúng ta là công dân Nước Trời. Thánh Phaolô nói: “Tất cả các ngài đã chết, lúc vẫn còn tin như vậy, mặc dù chưa được hưởng các điều Thiên Chúa hứa; nhưng từ xa các ngài đã thấy và đón chào các điều ấy, cùng xưng mình là ngoại kiều, là lữ khách trên mặt đất” (Dt 11:13).  Chính đau khổ ngăn cản chúng ta bám víu vào thế gian này, vì thế gian sẽ qua đi.
  1. Chúng ta chịu đau khổ để không gặp điều tệ hại hơn. Đau khổ làm cho chúng ta tập trung vào nguyên nhân, để cố gắng sửa đổi trước khi tệ hại hơn. Cơn sốt dẫn chúng ta tới bác sĩ, tại đây chúng ta được chẩn đoán và chữa trị. Ở mức lớn hơn, đau khổ cho chúng ta biết có gì đó bất ổn, và dẫn chúng ta tới Chúa Giêsu. Bóng tối, đau khổ, cô đơn, lo buồn… Mọi thứ đó giúp chúng ta nắm bắt thực tế cuộc sống, giúp chúng ta cần đến Chúa.
  1. Chúng ta chịu đau khổ để thông phần đau khổ với Đức Kitô và nên giống Ngài. Thánh Phaolô nói:“Vấn đề là được biết chính Đức Kitô, nhất là biết Người quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh, cùng được thông phần những đau khổ của Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người, với hy vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết” (Pl 3:10-11). Nhờ kinh nghiệm đau khổ mà chúng ta có thể an ủi người khác khi họ chịu đau khổ. Khi chúng ta chịu đau khổ là chúng ta được nên giống Đức Kitô. Thánh Phaolô phân tích:“Một chút gian truân tạm thời trong hiện tại sẽ mang lại cho chúng ta cả một khối vinh quang vô tận, tuyệt vời”(2 Cr 4:17).
  1. Chúng ta chịu đau khổ để tôn vinh Thiên Chúa. Chúa Giêsu động viên chúng ta nếu chúng ta chịu đau khổ vì danh Ngài: “Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa” (Mt 5:10-11). Ngài cảnh báo rằng thế gian sẽ ghét chúng ta vì họ đã ghét Ngài trước (Ga 15:18). Trong thư gởi giáo đoàn Do Thái, chương 11, có người nhờ đức tin mà được chúc lành bằng của cải và thành công, có người lại được chúc lành bằng đau khổ và cái chết. Thiên Chúa không phân loại các anh hùng đức tin này tùy trường hợp của họ, Ngài chỉ tôn vinh họ vì vững mạnh đức tin. Nếu các Kitô hữu có cuộc sống thoải mái thì sẽ làm cho Phúc Âm hấp dẫn vì các lý do sai lệch.
  1. Chúng ta chịu đau khổ để trưởng thành tâm linh.Chúa Giêsu là Đấng hoàn hảo, vậy mà Ngài còn phải chịu đau khổ để học được đức vâng phục. Thánh Phaolô cho biết:“Nhờ Chúa, tôi rất vui mừng vì cuối cùng thấy tình cảm của anh em đối với tôi lại thắm thiết. Tình cảm đó vẫn sống động, nhưng anh em chỉ thiếu dịp tỏ ra. Không phải vì thiếu thốn mà tôi nói thế, bởi lẽ tôi đã học sống tự lập trong bất cứ hoàn cảnh nào. Tôi sống thiếu thốn cũng được, mà sống dư dật cũng được. Trong mọi hoàn cảnh, no hay đói, dư dật hay túng bấn, tôi đã tập quen cả. Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết” (Pl 4:10-13). Thánh Phaolô xác định:“Để tôi khỏi tự cao tự đại vì những mặc khải phi thường tôi đã nhận được, thân xác tôi như đã bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Satan được sai đến vả mặt tôi, để tôi khỏi tự cao tự đại” (2 Cr 12).
  1. Chúng ta chịu đau khổ để hy vọng vinh quang Nước Trời.  Kh 21:4 nói:“Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất.” Thánh Phaolô nói: “Tôi nghĩ rằng những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta” (Rm 8:18).

 Có nhiều lý do để chúng ta chịu đau khổ, đôi khi khó nhận biết chính xác.  Như trường hợp Thánh Gióp, ông không bao giờ biết việc đánh cược của Satan với Thiên Chúa. Nhưng đây là sự thật:

  • Thiên Chúa có toàn quyền trên mọi đau khổ của chúng ta.
  • Thiên Chúa vẫn hiện hữu ở bên chúng ta khi chúng ta gặp đau khổ.
  • Thiên Chúa luôn hành động với chúng ta khi chúng ta gặp đau khổ.
  • Nếu Thiên Chúa muốn chúng ta biết lý do, Ngài sẽ nói với chúng ta (qua Kinh Thánh hoặc cách nào đó).
  • Thiên Chúa tác động qua cái ác và đau khổ để sinh ra điều tốt, loại bỏ điều xấu mà Satan và kẻ xấu có thể làm cho chúng ta.

Ngày nào cũng có đau khổ, nhưng hãy nghĩ về hạnh phúc vĩnh hằng ở Nước Trời mai sau.  Randy Alcorn viết: “Số phận của chúng ta không lệ thuộc vào những người kiện cáo, hoặc những chính trị gia, luật sư, giáo viên, huấn luyện viên, sĩ quan quân đội, hoặc chủ nhân. Họ có thể chống lại chúng ta – và Thiên Chúa hoàn toàn có thể chuyển những điều xấu thành điều tốt nhất cho chúng ta”.

Trầm Thiên Thu 

(chuyển ngữ từ Once Delivered.net)

Ơn Mẹ

Ơn Mẹ

Thiên Ý

Tôi là một người bị stroke hay tai biến mạch máu.  Tôi chỉ ngoài 50, không bị bênh tim, không cao mỡ, cao máu, tiểu đường, hay, có lịch sử có người bị stroke trong gia đình.   Tôi cũng không thấy nhức đầu hay chóng mặt.  Chiều hôm trước, ngày Chúa nhật, tôi còn đưa 2 bác ngoài 80 tuổi về nhà và cô bạn đi ăn, mà không có một dấu hiệu gì hay một triệu chứng gì báo trước!  

Tôi còn nhớ rất rõ, hôm ấy là ngày thứ Hai, tôi đang ngồi ăn trưa với Cha và các bạn tại nhà hàng, sau khóa Linh Thao với 33 người tham dự từ các tiểu bang lân cận.  Khi tôi ký tên trả tiền, tôi không ký được! Và không nói được!  Tôi biết là mình không xong rồi, nhưng tôi không muốn cho mọi người biết.  Sau khi mọi người về, tôi lái xe đến nhà thương.  Vâng, tôi tự lái xe đến nhà thương.

Tôi nằm nhà thương bốn ngày, bốn đêm.  Tôi mất hết tất cả năng lưc và sinh lực.  Phần bên phải của tôi cứng đờ, từ tay đến chân.  Những gì tôi từng làm: móc, đan, thêu, may, vẽ, viết thư pháp … giờ đến cầm cái chén ăn cơm cũng làm rơi lên, rơi xuống.  Nấu nướng thì bỏng, đứt tay, hay đổ vỡ.  Ngày xưa thì cầm, kỳ, thi, họa.  Ngày nay thì rơi, đổ, bể, vỡ.  Ngày xưa thì viết chữ rất đẹp.  Ngày nay thì viết như… gà bới.  Những khả năng tôi từng có trước đây, nay hoàn toàn mất hết.  Tôi không khác gì là một đứa bé học nói, học viết, học đi, học đọc … tôi phải làm lại từ đầu.  

Nhưng tại sao tôi không bị trong lúc Linh Thao?  Ngày thứ Sáu, thứ Bảy hay Chủ Nhật? Mà phải chờ khóa Linh Thao xong xuôi, tôi mới bị?  Phải chăng vì tôi là người tổ chức nên Chúa và Mẹ Maria đã giữ cho cái đầu tầu được an lành cho đến giờ phút cuối?  

Đã 4 năm!  Bạn bè xa lánh hết.  Có lẽ họ không biết phải xử sự với tôi như thế nào?  Gọi điện thoại cho tôi, tôi không biết nói gì?  Thế là họ bặt tin luôn!  4 năm sống hoàn toàn trong thinh lặng!  4 năm với biết bao cố gắng tập tành và điều trị vết thương lòng. Tôi chỉ còn biết cầu nguyện nhiều với Mẹ Maria với giọng ngọng ngịu của tôi.  Tôi chỉ biết lần chuỗi mân côi mỗi ngày.  Có chuyện gì khó giải quyết, tôi vội tìm đến Mẹ.  Một tu sĩ đã nói với tôi “người đời bỏ chị chứ Chúa và Mẹ Maria sẽ không bao giờ bỏ chị!”  Đúng thế!  Tạ Ơn Mẹ và Chúa rất nhiều:  đã luôn che chở con, dẫn giắt con, giúp đỡ con, gìn giữ con, và ban bình an cho con.  

 Hành hương Âu châu

 Tháng 5 vừa qua, tôi quyết định đi Fatima.  Trước đây, kể từ  năm 2000, tôi đi du lịch ngoại quốc ít nhất mỗi năm một lần.  Sau khi bị stroke, tôi chẳng đi đâu ngoài sở làm và căn nhà của tôi suốt 4 năm qua.  Nhưng tôi sợ!  Tôi không cầm cái gì hơn 5 kg được.  Làm sao tôi xách 23 kg (50 lbs) hành lý?  Tôi không nói được lưu loát.  Nhất là khi mệt quá, tôi không sao nói được!  Dù là tôi đã ở Hoa Kỳ được 43 năm, và, đã học từ trung học lên đại học.  Tôi thông thạo 4 sinh ngữ.  Nhưng giờ đây, tôi nói sinh ngữ nào, cả tiếng Việt, cũng với giọng của một kẻ không biết nói sinh ngữ đó.  Ngoài ra, tôi cũng không chạy được! Tôi không đi nhanh được!  Ôi, bao nhiêu là khó khăn!

 Tôi cầu nguyện với Đức Mẹ.  Mọi việc diễn ra dường như đã được Mẹ sắp xếp.  Tự nhiên trước đó mấy tháng, có người tặng cho tôi 140 giờ nghỉ phép ở trong sở.  Đây là mối trở ngại lớn của tôi: không đủ ngày phép! Vì tôi chỉ làm part time (bán thời gian), nên tất cả giờ phép của tôi đã bị trừ vào cho đủ giờ làm mỗi tuần.  Cho đến nay, các đồng nghiệp và các bạn đã tặng cho tôi đến hơn 600 giờ nghỉ của họ.  Các vị này, xin nhận nơi đây lòng biết ơn và chân thành cám ơn đến tất cả rất nhiều. 

 Thế là tôi ghi danh đi hành hương Fatima, gồm có Bồ Đào Nha (Portugal), Tây Ban Nha (Spain), Pháp (France), và Ý Đai Lợi (Italy).  Hôm ra phi trường, người sẽ chở tôi đi, giờ phút chót bận.  Mẹ gửi đến một người mà tôi không hề quen biết nhưng sẵn lòng chở tôi đi.  Ra tới phi trường, tôi chỉ nói là tôi không cầm được hành lý vì tôi từng bị stroke.  Tất cả sẵn sàng lo cho tôi mà còn hỏi tôi có cần xe dành cho người tàn tật không?  Tôi lắc đầu.  Tôi tự đi, tuy chậm, nhưng không đến nỗi phải ngồi xe.  Mẹ đã khiến mọi sự xảy ra dễ dàng cho tôi.

 Trên đường đi đến Bồ Đào Nha, chuyến bay của tôi phải ngừng ở Boston, MA mất một ngày.  Tôi gọi cho cô tôi đón về nhà chơi và gặp các cháu.  Lúc trở lại phi trường, chúng tôi bị trễ 2 tiếng vì kẹt xe.  Từ giã cô xong, tôi vội đi vào cổng chuyến bay của tôi.  Tôi nhìn đồng hồ thì thấy mình còn nửa tiếng nữa.  Qua chặng thẩm tra an ninh xong vẫn còn 20 phút.  Tôi tiếp tục đi … tôi nghe tên của tôi qua loa phóng thanh của phi trường … tôi cố chạy nhưng không sao chạy được!  Đến nơi, tôi mới biết tất cả các hành khách đã vào trong máy bay rồi.  Tôi là người sau chót! Thế là họ lấy hành lý xách tay tôi … tôi ung dung đi vào máy bay tay không… trong khi hơn 350 hành khách đang ngồi chờ … tôi!!!  Tôi đã từng đi du lịch rất nhiều, trên 100 chuyến, vừa quốc nội lẫn quốc ngoại. Không có một cảnh ngộ nào ở phi trường mà tôi không đã trải qua.  Nhưng đây là cảnh ngộ đầu tiên trong đời tôi …  Con cảm tạ Mẹ!

 Khi vào ghế ngồi, nhìn lại đồng hồ, mới biết là mình trễ ít nhất là 10 phút.  Tại sao họ phải chờ tôi?  Máy bay cất cánh từ lâu rồi chứ?  Tôi có phải là nhân vật nổi tiếng hay quan trọng đâu?  Điều này, tôi không sao hiểu và giải thích được. 

 Đây chỉ mới là những diễn tiến, như đã được sắp xếp trước, bắt đầu cho một cuộc hành hương đầy ý nghĩa. Đối với tôi, cuộc hành hương này còn là một món ăn tinh thần tuyệt diệu cho tâm linh nữa, mặc dù tôi đã từng đi hành hương trước đây.  Tôi còn nhận bao Ơn Lành khác trong suốt cuộc hành trình này nữa.  Con cám ơn Mẹ Maria và Chúa Giêsu đã cùng đồng hành với con trong gần 60 năm nói chung, và với cuộc hành hương vừa qua nói riêng.

Thiên Ý

From: KimBang Nguyen

Hiệp Nhất 

Hiệp Nhất 

Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa.

Chỉ có một Thiên Chúa của mọi người, Đấng ngự trên mọi người,

 Qua mọi người và trong mọi người (Eph 4,5-6)

Chúng ta cùng có một niềm tin, chỉ thờ một Thiên Chúa, chỉ có một phép rửa.

Sự hiệp nhất trong gia đình, trong một tập thể rất quan trọng.

Nhóm, cộng đoàn được xây dựng nhiều thành phần khác nhau, vì thế chúng ta chỉ thực sự quan trọng khi đứng chung với nhau, tôn trọng nhau và yêu thương nhau.

Chúng ta chỉ chu toàn bổn phận và sứ mệnh làm một thành viên trong gia đình, trong nhóm, trong cộng đoàn khi cùng chia sẻ trách nhiệm cho nhau và chấp nhận sự quan trọng khác nhau của mỗi thành phần.

Nếu chúng ta không chia sẻ trách nhiệm cho nhau, không tôn trọng sự quan trọng của người khác.

Ngược lại nếu mình chỉ nhận ra sự quan trọng của mình mà không nhìn thấy sự quan trọng của của người khác, thì sinh ra bất hòa, cãi vã, tranh dành, hơn thua, chia rẽ và sẽ có nguy cơ tan rã.

Cũng như trong một thân thể, chúng ta có nhiều bộ phận, mà các bộ phận không có cùng một chức năng, thì chúng ta cũng vậy:

Tuy nhiều nhưng chỉ là một thân thể trong Đức kitô, mỗi người liên đới với những người khác như những bộ phận của một thân thể (Rm 12,4 –5)

Trong gia đình, nhóm, cộng đoàn không AI quan trọng hơn AI, không AI chịu trách nhiệm nhiều hơn AI. Cũng không AI kém quan trọng hơn AI, AI ít trách nhiệm hơn AI.

Chúng ta có sự khác biệt trong vai trò, trong vị trí, mỗi người một công việc (người cha, người mẹ, kẻ điều hành, người thư ký, thủ quỹ, nhóm viên v.v…) nhưng không có sự khác biệt trong trách nhiệm Chung của nhóm, của cộng đoàn.

Tất cả lệ thuộc vào nhau, tất cả cần nhau, trách nhiệm như nhau để xây dựng căn nhà của Chung.

Nếu không cần nhau, không hợp tác với nhau, không có trách nhiệm Chung nhau thì căn nhà sẽ sập đổ bất cứ lúc nào.

Được như vậy chúng ta mới có thể vượt lên trên những va chạm, hiểu lầm nhau v.v…

Ước gì ơn Bình An của Đức Kitô điều khiển tâm hồn anh em, vì trong một thân thể duy nhất, anh em được kêu gọi đến hưởng Bình An đó. Bởi vậy anh em hãy hết lòng tri ân (Col 3, 15)

Thầy Giêsu Kitô kêu gọi chúng ta phục vụ trong yêu thương, trong một thân thể duy nhất là chính Thầy để hưởng bình an của Thầy đem đến cho nhau.

Lạy Cha, xin Thần Khí của Cha hướng dẫn các thành phần trong các gia đình, các nhóm, cộng đoàn chúng con hợp nhất nên một trong cùng một Đức Tin, Đức Cậy, Đức Mến. Xin liên kết chúng con về một mối trong Thiên Chúa Ba Ngôi. Amen.

Elisabeth Nguyễn

From Tamlinhvaodoi

Tại sao Thiên Chúa là Đấng tốt lành và nhân từ vô cùng lại để chúng ta phải chịu đau khổ?

Tại sao Thiên Chúa là Đấng tốt lành và nhân từ vô cùng lại để chúng ta phải chịu đau khổ?

Nguyên nhân rất đơn giản, chỉ vì đau khổ là một hồng ân trọng đại.

Đau khổ của chúng ta là sự thông phần, tuy nhỏ mọn nhưng rất giá trị, vào cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu đáng mến của chúng ta.

Nếu chúng ta biết chấp nhận và hiến dâng đau khổ của bản thân, trong sự kết hợp với cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, thì nó sẽ có một giá trị vô giá.

Chúa đã chấp nhận những đau khổ khôn cùng cho từng người chúng ta. Chúng ta lại nhát đảm đến độ khước từ, không dám chịu một chút đau khổ vì Chúa hay sao?

Khó khăn lớn nhất về đau khổ là chúng ta không biết cách chịu đau khổ. Chúng ta không biết gì về những công phúc do đau khổ mang lại.

Bí quyết chính là việc chấp nhận đau khổ một cách nhẫn nại và thanh thản. Khi ấy đau khổ sẽ mất tất cả những nhức nhối, tất cả những da diết của nó.

Lm. Paul O’Sullivan, O.P

Sách “Con đường nên Thánh dễ dàng” trang 113-114

HÃY CHO HỌ ĂN

HÃY CHO HỌ ĂN

Tin Mừng Thánh Gioan hôm nay thuật lại Đức Giêsu làm phép lạ năm chiếc bánh và hai con cá cho năm ngàn người đàn ông ăn no dư thừa, chưa kể phụ nữ và trẻ em, còn dư mười hai thúng.  Đôi bờ đói no của nhân loại hôm nay vẫn còn xa cách vời vợi hơn bao giờ.  Nên năm chiếc bánh và hai con cá của cậu bé dâng hiến hẳn âm thầm gửi đến Kitô hữu nhiều thông điệp sâu xa thấm thía.

Chiếc bánh thứ nhất: Yêu thương

Vừa gặp lại các Tông Đồ trở về sau một hành trình Đi Gieo, Đức Giêsu vui mừng thân thương nhắc nhở các ông vào nơi thanh vắng nghỉ ngơi.  Nhưng thấy đám đông người lũ lượt tìm đến, thì Người chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt.  Và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều (Mc 6, 34).  Tình yêu tha nhân, lòng thương xót của Đức Giêsu, vô cùng mãnh liệt, ưu tiên trổi vượt, lấn át và vô hiệu hóa những chương trình, dự tính, ý muốn riêng tư của ngay chính Người.

Chiếc bánh thứ hai: Trách nhiệm

Đức Giêsu hăng say giảng dạy dân chúng cho đến nhá nhem tối mới tạm ngừng.  Người hỏi Philipphê: “Ta mua đâu được bánh cho những người này ăn?”  Người hỏi như vậy có ý thử ông, vì chính Người đã biết việc Người sắp làm (Ga 6, 5).  Thánh Maccô ghi lại chi tiết khá minh bạch:  Vì bấy giờ đã khá muộn, các môn đệ đến gần Người và thưa: “Xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào thôn xóm, làng mạc chung quanh mà mua gì ăn.”  Người đáp: “Thì chính anh em hãy cho họ ăn đi” (Mc 6, 35-37).  Tuy câu nói của Đức Giêsu qua hai thánh sử khác nhau về hình thức, nhưng cùng chung một ý tưởng.  Đó là thay vì để các môn đệ tránh né bổn phận chăm sóc cộng đoàn, thì Đức Giêsu trao trách nhiệm chính thức cho các ông phải quan tâm giải quyết những nhu cầu chính đáng, cấp bách của cộng đoàn, không thể vịn cớ gì lạnh lùng lảng tránh, từ chối.

Chiếc bánh thứ ba: Quảng đại

“Một trong các môn đệ, tên là Anrê, em ông Simon Phêrô, thưa cùng Người rằng: “Ở đây có một bé trai có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng bấy nhiêu thì thấm vào đâu cho từng ấy người” (Ga 6, 9).  Đây là điều Đức Giêsu đang trông chờ ngay từ đầu vụ việc.  Tuy Chúa quyền năng vô song, tác tạo và biến hóa mọi sự, nhưng Chúa luôn đòi hỏi, cần có sự đồng điệu, hợp tác, dâng hiến của con người, vì Người tôn trọng sự tự do, không ép buộc bất cứ ai.

Cậu bé rộng rãi, quảng đại, nhân ái, đã không ích kỷ giữ bánh và cá cho riêng mình, mà với cả tấm lòng thành, hoàn toàn dâng hiến tất cả, chia sẻ, cho đi mọi sự cho Chúa.  Người luôn chờ đợi một tấm lòng hiến dâng trọn vẹn như thế. “Ta muốn tình yêu, chớ không muốn hy lễ.  Ta muốn sự hiểu biết Thiên Chúa hơn là của lễ toàn thiêu” (Hs 6, 6).  Chính Đức Giêsu cũng tái xác nhận: “Ta muốn lòng nhân, chứ đâu cần lễ tế” (Mt 9, 13).

“Kitô giáo là cho đi.”   Chúng ta phải cho đi, dù phải đến mức đau đớn nhất.  Để trở thành một tình yêu thương thật, thì tình yêu thương phải có cái giá của nó.  Đối với Chúa Giêsu, cái giá đó là tình yêu chúng ta.  Ngay cả Thiên Chúa cũng có cái giá của tình yêu:  Ngài đã trao ban con một Ngài cho chúng ta.”  (Mẹ Têrêsa Calcutta).

Chiếc bánh thứ tư: Nhân hậu

“Bấy giờ Chúa Giêsu cầm lấy bánh, và khi đã tạ ơn, Người phân phát cho các kẻ ngồi ăn, và cá cũng được phân phát như thế, ai muốn bao nhiêu tuỳ thích.” (Ga 6, 11).  Từ năm chiếc bánh và hai con cá dâng hiến của cậu bé, Đức Giêsu đã biến ra nhiều cho cả vạn người ăn dư thừa.  Sự cho đi dẫu nhỏ bé, chẳng đáng kể, lại được tình yêu hồi đáp bằng đại lượng kỳ diệu.  Lòng nhân hậu của Chúa khôn lường vô cùng.  Người tiếp tục chạnh lòng thương dân chúng đói khát, làm phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều thêm lần thứ hai.  (Mc 8, 1-10).  Bởi vì “Thiên Chúa là Đấng từ bi và nhân hậu, Người đại lượng và chan chứa tình thương, Người không nỡ xử với ta như ta đáng tội và không trả cho ta theo lỗi của ta.” (Tv 103, 8-10)

Đức Giêsu giảng dạy và hóa bánh ra nhiều nuôi dân chúng hôm nay, là dấu chỉ Người sẽ còn tận tình chiêu đãi dân chúng bữa tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Thánh thể sau này.  Các Tông đồ sau khi tham dự sứ mạng rao giảng, cũng được Đức Giêsu trao phó công việc chăm sóc và nuôi dưỡng đoàn chiên.

Chiếc bánh thứ năm: Công bình

“Bấy giờ Chúa Giêsu cầm lấy bánh, và khi đã tạ ơn, Người phân phát cho các kẻ ngồi ăn, và cá cũng được phân phát như thế, ai muốn bao nhiêu tuỳ thích.”  Không phân biệt nam nữ, già trẻ, giầu nghèo, chức tước, địa vị, Đức Giêsu phân phát bánh và cá tùy theo nhu cầu mỗi người.  Hết thảy đều no đầy phúc đức.  Hồng ân Thiên Chúa luôn phổ quát, công bình và phong phú cho mọi người, như hạt giống gieo vãi, như mưa sa, nắng ấm.  Bởi vì “Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (Mt 5. 45).

Con cá thứ nhất: Thanh bần

Trong tinh thần nghẻo khó, thanh bần, Đức Giêsu không muốn hoang phí bỏ đi bánh và cá dư thừa, vì còn bao kẻ đói khát đang còn mong chờ được trao tặng lương thực. “Khi họ đã ăn no nê, Người bảo các môn đệ: “Hãy thu lấy những miếng còn lại, kẻo phí đi.”  Họ thu lại được mười hai thúng đầy bánh vụn do năm chiếc bánh lúa mạch người ta đã ăn mà còn dư.”  Tần tiện, tiết kiệm để chia sẻ với người cơ nhỡ, cũng như trân trọng dành dụm của ngọc thực để tích cốc phòng cơ, đó chính là một khía cạnh của đức thanh bần.

“Đừng rộng rãi với của người ta, đừng keo kiệt với của riêng con, đừng phung phí với của công cộng.” (Đường Hy Vọng, số 412)

Con cá thứ hai: Thiên Quốc

“Thấy phép lạ Chúa Giêsu đã làm, người ta đều nói rằng: “Thật ông này là Đấng tiên tri phải đến trong thế gian.”  Vì Chúa Giêsu biết rằng người ta sẽ bắt Người để tôn làm vua, nên Người lại trốn lên núi một mình.” (Ga 6, 15).  Hưởng phúc lợi tràn trề, được chữa bệnh, được cho ăn no nê, dân chúng hăm hở muốn tôn vinh Đức Giêsu làm hoàng đế, vì thấy Người đúng là Đấng Messia mà họ hằng mong đợi, sẽ giải thoát dân Do Thái khỏi ách đô hộ của La Mã.  Đó cũng là cơn cám dỗ thứ ba của Đức Giêsu trong hoang mạc, quyền lực thế gian.

Lúc này, Đức Giêsu nhìn thấy rõ tà tâm trong lòng dân chúng háo lợi, thực dụng, chỉ muốn người lãnh đạo cung phụng cho họ, theo ý muốn thấp hèn của họ mà thôi.  “Các ông đi tìm tôi, không phải vì các ông đã thấy những dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê” (Ga 6, 26).  Trong khi Nước Chúa đâu lệ thuộc vào thế gian phù phiếm, mau biến đổi và hư nát.  Bởi chưng, “Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc Trong Thánh Thần.” (Rm 14, 17).

“Với năm cái bánh và hai con cá của em bé, Chúa đã làm phép lạ nuôi năm ngàn người.  Chúa vẫn toàn năng, nhưng Chúa yêu thương thiện chí của con.” (Đường Hy Vọng, số 824)

Lạy Chúa Giêsu, chúng con thường thiếu lòng quảng đại, không dám cho đi những gì chúng con đang có, chỉ vì sợ mất mát, thua thiệt, chì vì thiếu Tình Yêu, thiếu niềm tin và thiếu lòng cậy trông vào Chúa Quan Phòng.  Xin Chúa mở lòng trí chúng con, thấu hiểu ý nghĩa cao trọng của phép lạ hóa bánh ra nhiều, để chúng con sẵn sàng cho đi mọi sự, kể cả bản thân, với tình yêu tha thiết chân tình, như cậu bé dâng hiến tất cả bánh và cá cho Chúa dưỡng nuôi tha nhân.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ đã dâng hiến trọn đời cho Chúa, xin cầu bầu, dạy bảo, hướng dẫn chúng con noi theo Mẹ, hiến dâng lên Chúa tất cả mọi sự, từ thân xác, tâm hồn đến linh hồn, để có thể phục vụ hữu ích cho tha nhân.  Amen.

 Alphonse Marie Trần Bình An

From Langthangchieutim

TẠI SAO NGƯỜI CÔNG GIÁO KHÔN NGOAN LUÔN KHAO KHÁT ĐI LỄ HÀNG NGÀY?

TẠI SAO NGƯỜI CÔNG GIÁO KHÔN NGOAN LUÔN KHAO KHÁT ĐI LỄ HÀNG NGÀY?

​Một bà cụ kia rất thánh thiện, đạo đức nhưng lại bị đau chân không tự đi Lễ được.

Bà hay nhờ con dâu chở đi Lễ hàng ngày và thường nói với con dâu: 

“Con à, cuộc đời không có Chúa thì vất đi hết. 

Đẹp rồi cũng ra đất. Xinh rồi cũng thành bùn.

Giàu rồi cũng không đem đi được nổi 1 xu. 

Sang rồi cũng chẳng có ích lợi nghĩa lý gì.

Có làm vương làm tướng rồi cũng sẽ về với cát bụi. Có đẳng cấp và hoành tráng mấy đi nữa rồi cũng phải trở về với cõi hư vô. Có sở hữu cả thế giới thì cũng phải tay trắng ra đi.

Như con biết đó, Giám mục cũng chết, Linh mục cũng chết, Tổng thống cũng chết, Đại gia cũng chết,  bà sơ cũng chết, ông thầy cũng chết… ai rồi cũng phải chết.

Chết là hết con ạ. 

Không có việc gì bận bằng việc Chúa. 

Cho nên dù có bận mấy thì cũng cố gắng sắp xếp mà đi Lễ nhé. Đặc biệt là không bao giờ được phép bỏ Lễ Chúa Nhật và những ngày Lễ Trọng vì bất cứ lý do gì.

“Vì nếu người ta sở hữu cả thế gian, mà phải thiệt mất Linh hồn của mình, thì có ích lợi gì?” “Người ta sẽ lấy gì mà đổi lấy Linh hồn mình?” (x Mt 16,26).

Vì sẽ có lúc, con muốn đi mà cũng không đi được đâu. Như Mẹ đây này, giờ muốn tự đi cũng không đi được. 

Có con chở đi nên mẹ vẫn còn rất may mắn. Nhiều người bị liệt khao khát đi Lễ mà không bao giờ đi được nữa. Quá muộn rồi.

Rồi con cứ nhìn các ngôi mộ mà xem. Những người nằm trong đó có muốn đi thì cũng không bao giờ đi được nữa. Quá muộn rồi.

Hơn nữa, ta không biết ngày nào, giờ nào Chúa gọi ta về, biết đâu ngay đêm nay thì sao? 

Giờ chết trẻ, chết đột ngột, chết bất ngờ, chết ngỡ ngàng nhiều quá, nhiều vô kể.

Thậm chí 18 đôi mươi đã chết, khỏe cũng lăn đùng ra chết, sáng đang khỏe chiều đã chết, đêm ngủ sáng dậy đã chết, nên ta cần nhanh chóng đi Lễ hàng ngày để Chúa ban ơn và để đền tội. 

Nhưng hãy luôn đi Lễ cách thành tâm, cung kính, khiêm nhường và sốt sắng thì mới có hiệu quả.

Con còn nhớ lời Chúa Giê-su phán chứ?

“Nếu con đang dâng của lễ nơi bàn thờ mà sực nhớ người anh em đang có điều bất bình với con, thì con hãy để của lễ lại trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em con trước đã, rồi hãy trở lại dâng của lễ của mình”. (Mt 5, 23-24). 

Nếu không thì việc dâng LỄ của con sẽ trở nên hết sức tốn thì giờ và vô nghĩa như nước đổ đầu vịt, và sẽ không thể đẹp lòng Chúa được.

Con cứ chăm chỉ lo các việc của Chúa, Chúa sẽ sẵn sàng lo các việc của con.

Mẹ rất cám ơn con, vì nhờ có con mà Mẹ mới được đi Lễ hàng ngày. 

Mai sau mẹ có được vào Thiên đàng thì một phần cũng nhờ ở con. Rồi mẹ sẽ phù hộ cho con”.

Kính thưa quý bà con cô bác!

​Chính những câu nói tuy đơn giản, nhưng thực tế và sâu sắc đó đã khắc sâu vào tâm trí cô con dâu thảo hiền của bà cụ và cô ấy đã say mến Thánh Lễ từ đó.

Vậy Người Công Giáo đi lễ để làm gì?

Đi Lễ là để gặp gỡ Chúa và gặp gỡ nhau.

Đi Lễ là để nghỉ ngơi phần xác và nuôi dưỡng phần hồn.

Đi Lễ là để lắng nghe lời Chúa dạy cho cuộc sống ta bớt nhàm chán và sai lầm, thêm lạc quan và có ý nghĩa.

Đi Lễ là để được rước Mình Máu Thánh Chúa để Chúa làm chủ tâm hồn và cuộc đời.

Đi Lễ là để được Chúa chúc lành và tuôn đổ muôn ơn phúc.

Đi Lễ là để được Chúa ban cho sức mạnh để vượt qua cám dỗ, thử thách và đau khổ.

Đi Lễ là để được Chúa ban cho niềm vui, bình an và hi vọng.

Đi Lễ là để cầu cho ông bà tổ tiên, người thân bạn hữu được rỗi Linh hồn.

Vân vân và vân vân…

Thánh Lễ là trung tâm điểm và cao điểm nhất của đời sống Đạo.

Chính Thánh Bênađô đã nói: Người ta được nhiều công phúc khi dự Lễ sốt sắng, hơn khi người ta bố thí tất cả của cải mình có cho người nghèo, và hơn đi hành hương trên khắp thế giới.

Rồi Thánh Anselmo cũng nói: Dâng 1 Thánh Lễ sốt sắng khi còn sống, ơn ích hơn cả ngàn Thánh Lễ khi đã qua đời.

NGƯỜI CÔNG GIÁO KHÔN NGOAN LÀ NGƯỜI BIẾT SAY MÊ THÁNH LỄ.

NGƯỜI CÔNG GIÁO KHÔN NGOAN LÀ NGƯỜI KHÔNG BỎ LỄ CHÚA NHẬT.

NGƯỜI CÔNG GIÁO KHÔN NGOAN LÀ NGƯỜI LUÔN DỰ LỄ SỐT SẮNG.

ĐI LỄ LÀ ĐI CHO MÌNH. AI ĐI LỄ NGƯỜI ẤY ĐƯỢC ƠN. 

Chính Thánh Augustino đã khuyên:

Hãy chăm sóc tốt thể xác nếu bạn muốn sống lâu. Nhưng hãy chăm sóc tốt linh hồn, vì có thể bạn sẽ chết vào ngày mai.

Hãy chăm sóc Linh hồn tốt hơn thể xác, vì thể xác thì sẽ hư nát, còn linh hồn thì mãi bất tử.

Hãy đi Lễ ngay, vì rất có thể ngày mai bạn không còn cơ hội đi Lễ đâu. Cuộc đời ai biết đâu ngày mai?

Nhưng hãy luôn đi Lễ cách khiêm nhường, khao khát, thành tâm và sốt sắng thì mới có hiệu quả.

Giuse Kích

(Nếu thấy ý nghĩ cho chính mình và mọi người, thì xin đừng quên Tạ ơn Chúa, rồi nhanh chóng chia sẻ cho người khác. Và xin cầu cho nhau)

“Trời hỡi, nhờ ai cho khỏi đói,”

Suy Tư Chúa nhật thứ 16 thường niên năm B 22/7/2018

(Mc 6: 30-34) Các Tông Đồ tụ họp chung quanh Đức Giêsu, và kể lại cho Người biết mọi việc các ông đã làm, và mọi điều các ông đã dạy. Người bảo các ông: “Chính anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút.” Quả thế, kẻ lui người tới quá đông, nên các ông cũng chẳng có thì giờ ăn uống nữa. Vậy, thầy trò xuống thuyền đi lánh riêng ra một nơi hoang vắng. Thấy các ngài ra đi, nhiều người hiểu ý, nên từ khắp các thành, họ cùng nhau theo đường bộ chạy đến nơi, trước cả các ngài. Ra khỏi thuyền, Đức Giêsu thấy một đám người rất đông thì chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt. Và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều.

+   +   +

“Trời hỡi, nhờ ai cho khỏi đói,”

“Gió trăng có sẵn, làm sao ăn?”

(dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

 Ở nhà thơ, thực phẩm nuôi dưỡng chính mình phải chăng là trăng gió, từng có sẵn? Nơi nhà Đạo, thức ăn cho mọi người nhất định là ân lộc Chúa ban, vẫn lan tràn ngày lễ hội. Thế đó, là ý tưởng chủ lực được thánh Máccô ghi lại ở trình thuật, rất hôm nay. 

Trình thuật hôm nay được biết dưới tên gọi là: “Phép lạ thật nhiều bánh”. Nhưng, với thánh Máccô, sự kiện này được gọi là “Lễ Hội nay phân phát”. Thật ra thì, ý của tác giả là: dù mọi người có đặt tên cho đó là “phép lạ” hay “chuyện lạ” đi nữa, cũng cứ nhủ: hãy phân phát và cho đi những gì mình đang có, tự khắc lúc đó ta sẽ đủ để phân phát cho mọi người. Đọc trình thuật, nay người đọc không thể không nghĩ đến Tiệc Thánh Thể, lễ hội cho đi và phân phát, hết mọi người.

Quả thật, trong 5 tuần tới, phụng vụ Chúa nhật sẽ bớt đi phần trích dẫn Tin Mừng theo thánh Máccô, nhưng thay vào đó là lời trình của thánh Gioan về “Bánh Sự Sống”. Nếu, đọc thêm chương 6 Tin Mừng này, người đọc không thể không nghĩ đến Tiệc Thánh Thể, cũng là chuyện thấy rất rõ. Nói khác đi, trong 5 tuần sắp tới, người dự Tiệc lại sẽ suy tư về một loạt trình thuật thuộc loại “bỏ túi”, trong đó tác giả đề cập nhiều về Tiệc Thánh để người tham dự sẽ nhận chân ra ý nghĩa việc mình làm.

Trình thuật hôm nay ghi về sự kiện Chúa tụ họp chúng dân theo Ngài vào buổi tiệc lớn ngoài trời theo dạng “picnic”, trước khi phân bổ Mình Ngài cho mọi người. Nhưng vấn đề là hỏi: sao “tiệc ngoài trời” hôm ấy lại quan trọng đến thế? Tham dự Tiệc, phải chăng để sẻ san hân hoan nhận bánh trái? Và tụ họp mừng kính Chúa ở đây, hôm nay, có ý nghĩa của một sẻ san phân ban Mình Chúa cho người khác không?

Thật sự thì, việc tụ họp ở đây, ngày của Chúa, là để dự Tiệc Thánh, chứ không phải để chầu kính hoặc cầu kinh như nhiều vị vẫn tưởng. Tụ họp dự Tiệc ngày của Chúa, không phải để cộng đoàn sùng bái hoặc tung hô đấng thánh nào ở ngoài làng. Tụ họp để dự Tiệc, rất không giống bất cứ buổi họp hành nào được giới chức chủ trương, dù người dự đều rất thích, vẫn đam mê. Tựu trung, tập họp để dự Tiệc là để cùng Chúa chung vui một hiện diện, nhưng không theo cung cách chủ quan tư riêng của người dự; càng không giống động thái tham dự họp mặt nặng tính chất chính trị, gia đình hoặc giòng tộc; cũng chẳng như sự kiện thể thao/văn hoá hay nhạc hội nào hết.

Đến dự Tiệc, người tham dự không đến vì lý do gia đình hoặc kiếm tìm lợi lộc cho riêng mình; cũng chẳng để duy trì vị thế, chức vụ lâu nay mình dính kết. Mà, đến dự Tiệc, là cùng chung vui hiện diện có nghi thức phụng vụ tươi mát, hấp dẫn do hội thánh chủ trương.

Đến dự Tiệc, người tham dự không khai sáng/định đoạt một loại hình nào hầu lôi cuốn người khác đến để thưởng lãm. Nhưng trái lại, người dự Tiệc đặt chân đến nơi đây là để đáp lại lời Chúa mời gọi. Thế nên, Tiệc-Thánh-Thể-vào-ngày-của-Chúa cũng sẽ không thành hiện thực, nếu Chúa không mời chào, ban bảo. Chúa mời chào mọi người đến với Ngài, để họ trở thành dân con được Ngài chăm chút chứ không là người bình thường bậc trung, thôi.

Dự Tiệc Thánh, được hiểu như tham dự buổi tiệc đặc biệt Chúa mời chào để mọi người đến với nhau mà ở bên nhau, cho lâu. Tiệc Chúa chào mời, là để người người có cơ hội trở thành Kitô-khác và rất vui vì mình có mặt với mọi người. Dự Tiệc Thánh, dân con Chúa được hiệp thông chung sống thời khắc có Cha, có Chúa, có cả Thần Khí Ngài nữa. Tham dự Tiệc, có thể dân con Chúa không nghĩ ra được như thế. Nhưng đó là chuyện thật. Có được sự thật như thế, người tham dự mới thấy đó là chuyện cần thiết, tích cực; để rồi, khi tan Tiệc, mọi người mới ra đi rao truyền việc Chúa vẫn ở với ta, và trong ta.

Tham dự Tiệc, còn là dịp để ta nhớ lại thời khắc xưa lúc dân con người Do thái tụ tập ở Sinai núi thánh sau lưu đày, nhiều bức bách. Tập họp nơi đó, để họ gia nhập vào với Giao Ước của Chúa hầu thờ kính chỉ mình Ngài, mà thôi. Ở núi thánh, dân con Do thái cũng cử hành lễ Vượt Qua, giống hệt Chúa. Ở trên đó, có công bố Lời Chúa và có cả kinh nghiệm sống khoảnh khắc ưu tư/phiền muộn, vào một thời. Ở trên đó, còn có cả Giao ước mới để người người theo đó mà thực thi.

Tham dự Tiệc, còn khiến người dự tưởng nhớ buổi Tạ Từ hôm ấy Chúa tụ họp đồ đệ Ngài lại mà mừng lễ Vượt Qua, một lần cuối, để rồi Thày Chí Ái lại đã đem Tình Thương Yêu vào Giao Ước có Chúa, có đồ đệ ký kết bằng một hiện diện. Xem thế thì, Tiệc Thánh Tạ Từ đã trở thành bí tích cho mọi Tiệc sau này về sau.

Kể từ đó, những gì được hiện thực nơi Tiệc Thánh, đều do Chúa chào mời mọi người đến để hiệp thông với Chúa. Đến, để ghi tên người tham dự vào sổ bộ gồm danh tánh của người anh em, dân con Ngài. Đó là lý do để ta tụ họp mừng kính ý nghĩa Vượt Qua thật sâu sắc, rất hiện tại. Đó, cũng là động thái căn bản mang tính vui tươi cứu độ. Bởi, người được cứu nay đã ở bên nhau. Đó, cũng là ý nghĩa Chúa “Vượt qua” mọi trở ngại để đến với ta, và nhờ đó ta đến được với Ngài để có sự sống rất mới. Và như thế, sẽ không còn ai bị cái chết đe doạ hành hạ nơi sầu buồn. Không đến dự, dân con Chúa không thể trở thành con người đích thực, được Chúa khuyến khích.

Lại nữa, người Công giáo chỉ là Kitô-khác, nếu họ nhận lời Chúa chào mời tụ họp mừng kính cuộc Vượt Qua của Ngài. Bằng vào tụ họp tham dự, họ trở nên đúng danh xưng Kitô-hữu dành cho người trong cuộc mà thôi. Chúa chào mời mọi người, cả Hy Lạp lẫn Do Thái. Cả tự do lẫn tôi đòi, hoặc nô lệ. Cả nam lẫn nữ, tất cả được hiệp thông với Chúa, không loại trừ cũng chẳng bỏ sót người nào. Đó, là lý do khiến tình huynh đệ giữa người dự mang trọn mọi ý nghĩa chứ không chỉ ý nghĩa làm người, thôi. Đó, cũng là kinh nghiệm rất mới. Kinh nghiệm hiệp thông thương yêu vào với Chúa Phục Sinh, rất đặc biệt.   

Tiệc Thánh Thể bắt đầu bằng sự kiện nến đèn được thắp sáng. Ở Tiệc Thánh, còn có cả ánh sáng của người tham dự vẫn toả chiếu nơi gian trần. Toả chiếu, để người trần biết đến mục đích của sự sống con người cốt làm sáng tỏ lời Chúa chào mời mọi người gia nhập cuộc sống của Chúa. Tham dự Tiệc, là tham dự lễ Chúa Vượt Qua giữa thế giới là nơi Ngài vượt khỏi nỗi chết để đến với sự sống. Vượt khỏi bóng tối đến với sự sáng đang hiện thực ở buổi Tiệc.

Cộng đoàn dự Tiệc không đến một mình, nhưng đến thay cho nhân loại đang kiếm tìm ơn cứu độ và sự sống. Bởi thế nên, khi dự tiệc Vượt Qua, toàn thể vũ trụ đều đã đến dự, để cảm kích. Tiệc Vượt Qua được cử hành không để ta chỉ nhớ mỗi Đức Kitô, mà cả những người vẫn đang nguyện cầu cho nhân loại, dù họ còn sống hay đã chết. Dù, họ có mặt hay khiếm diện. Dù già nua/có tuổi, cảnh đời có khác.

Tham dự Tiệc, còn là tụ họp nhau lại để chứng tỏ cho mọi người biết vai trò cốt thiết của họ trong vũ trụ. Người dự Tiệc, đem tiếng nói và lời nguyện cầu đến với mỗi người và mọi người ở bất cứ đâu. Người dự Tiệc, đã nói lên tiếng nói rất hiện tại cả nơi hoang sơ, vắng lặng. Không chỉ nói, họ còn đem hy vọng và ủi an đến với người ốm đau, sầu khổ. Và, những người đang đi dần vào cõi chết. Người dự Tiệc hỗ trợ cho người đang bị cám dỗ, bức bách. Làm như thế, là họ đã cảm tạ Chúa vì được sống an vui, hiền hoà, êm ấm. Đó, còn là bí tích Tình yêu dành cho người đói khát muốn yêu, nhưng chưa được.

Có dự Tiệc, nhân loại mới thấy mình không bị đe doạ thiếu cơm ăn/áo mặc, thời buổi này. Có dự Tiệc, người người sẽ không còn ưu tư lo lắng về mọi xung đột/tranh chấp về vị thế hoặc chỗ đứng trong đời. Bởi, tất cả mọi sự rồi cũng được giải quyết. Mọi ước vọng sẽ thành hiện thực. Bởi, tình thương huynh đệ sẽ chữa lành tất cả. Bởi, Tiệc Thánh vẫn là chốn đổi thay sự sống của con người. Bởi, Chúa có mặt ở buổi Tiệc, Ngài sẽ biến chốn này thành nơi thông báo Tin Vui an bình. Có được Tin Vui rồi, người dự Tiệc lại sẽ chuyển cho người khác biết Tin Mừng Ngài muốn gửi. Dự Tiệc Thánh, người tham dự sẽ trở nên một với Chúa, với mọi người. Có thể nói, dự Tiệc Thánh là thưởng ngoạn trước Tiệc càn khôn của vũ trụ.

Và rồi ra, ta sẽ biết sự sống là tiến trình của sự nhận lãnh, sẻ san, cho đi. Đó, là cơ bản của hiệp thông/trao đổi giữa người nhận Quà từ Đức Chúa. Là, niềm vui cảm kích vì chính mình được vào với Quà tặng và đã biến chính mình thành quà tặng cho người khác.

Con người không là hữu thể tự có để họ duy trì mọi sung mãn cho riêng mình. Con người là hữu thể đến từ Đấng khác và dành cho người khác, cho đến khi họ khám phá ra rằng Người Khác ấy là Đấng Cận Thân và Cận Lân với mình. Bởi, tất cả đều sẽ tụ họp về với Tiệc Thánh, để mọi người trở nên chính mình, như thánh Âu Tinh đã từng nói: “Chúng ta ở trong Đức Kitô khi Ngài yêu thương Chính mình Ngài. Và, mỗi khi ta tự sung mãn với chính mình, đó là lúc ta đang nghèo đi hiểu theo nghĩa sự sung mãn đã cách ly. Và, đó là nền tảng của mọi hiệp thông với Chúa, với mọi người.

Tiệc Thánh, dù diễn ra hằng ngày hay hàng tuần, vẫn không là Tiệc bình thường, hoặc tầm thường. Thế nên, chớ rời xa nơi xẩy ra “Sự lạ nhiều Phân Phát”. Phân và phát, những bánh cùng trái ở trên đồi Galilê hôm ấy. Bởi, đó chính là Tiệc Chúa thực hiện trước. Đó là buổi tụ họp tuyệt vời, ở mọi nơi. Cảm nhận như thế, có lẽ cũng nên ngâm lại lời thơ đầy ý nghĩa, vẫn cứ bảo:

                                          Gió trăng có sẵn, làm sao ăn?

                                   (Hàn Mặc Tử – Lang thang)

Nhờ ai cho khỏi đói ư? Đói hay không, chỉ người phàm ăn cứ ngấu nghiến hết mọi thứ, chẳng sẻ san những gì mình đang có cho mọi người. Thế nên vẫn còn đói, dù gió trăng sẵn đó, làm sao ăn. 

            Lm Kevin O’Shea DCCT biên soạn –

Mai Tá lược dịch

“Sài Gòn bây giờ trời mưa hay nắng?

Chuyện Phiếm đọc trong tuần 16 Thường niên năm B 22-7-2018

 “Sài Gòn bây giờ trời mưa hay nắng?

(Mc 10: 14-16)

Sẽ ra sao, nếu ta đổi tên Sàigòn thành “Hội thánh”, chắc cũng buồn cười chứ? Dạ, không. Buồn thì có, chứ cười thì không? Hoặc, có buồn nhưng chẳng cười chút nào, là bởi nội mỗi nhắc đến nhạc bản có cụm từ “Sàigòn bây giờ” thôi, cũng muốn nghe hát thêm những chữ như sau:

“Sài Gòn bây giờ trời mưa hay nắng?
Sài Gòn bây giờ ai khóc thương ai?
Sài Gòn giới nghiêm che kín đêm dài.
Sài Gòn khói bay, Sài-gòn nắng đổ.
Sài Gòn có còn bước chiều bơ vơ.
Sài Gòn còn ai khóc kẻ lên đường.
Sài Gòn mưa chiều rạt rời vó ngựa.
Sài Gòn âm thầm, đèn đỏ đèn xanh.
Sài Gòn mưa bay, thôi thế cũng đành.
Giấc ngủ miền xa, ôm trời núi rừng.
Bên rừng nhớ nắng trung nguyên.

Và, cứ thế người hát lại vẫn tiếp tục hát thêm những lời như:

Sài Gòn bây giờ trời mưa hay nắng?
Sài Gòn bây giờ cúi mặt xa nhau.
Sài Gòn bước ai gõ xuống đêm sầu.
Sài Gòn bóng nghiêng, Sài Gòn đứng đợi.
Sài Gòn bây giờ cúi mặt xa nhau.
Sài Gòn đã buồn khi trời sớm mai….
…Sài Gòn có còn bước chiều bơ vơ…”

(Lê Uyên Phương/Kim Tuấn – bđd)

Hát về Sài gòn, thì thế chứ nếu ta đổi lại thành “Hội thánh Chúa”, hoặc hỏi han, lan man những câu vớ vẩn, lẩn thẩn như văn thơ thời buổi trước có những giòng sau đây:

Trong thế giới văn học của người Hoa, thi sĩ Dư Quang Trung được coi là một trong những nhà văn kinh-điển ở thế-giới văn-học đương-đại có ảnh-hưởng sâu rộng đối với nền văn học Đài Loan cũng như Trung Quốc và Hồng Kông. Các tác-phẩm của ông đều truyền đi một thông-điệp nhân bản sâu-sắc.

 Dưới đây là bức thư gửi cho con ông. Ai đọc những giòng này đều có ý nguyện muốn sống tốt, sống đẹp hơn.

 “Con à, cha mong rằng con sẽ mãi là một người có lý tưởng, con có thể là nông dân, kĩ sư xây dựng hay thậm chí là một kẻ lang bạt, nhưng bắt buộc con phải có lí tưởng.

 Lúc con còn nhỏ, cha mẹ thường kể cho con nghe về những vị anh hùng, điều đó không có nghĩa là cha mẹ muốn con trở thành anh hùng, mà chỉ hi vọng sau này lớn lên con sẽ trở thành một người có phẩm chất chính trực, tốt đẹp.

 Khi con dần lớn lên, cha mẹ cho con tiếp xúc với thơ ca, hội họa, âm nhạc vì mong rằng tâm hồn con trở nên hướng thiện và sẽ theo con đi tới suốt đời. Ngay cả khi đối diện với sự lạnh giá khắc nghiệt nhất, cha mong con cũng sẽ không quên hương thơm của hoa hồng. Nền tảng đó giúp con người trở nên xuất chúng.

 Con à, đừng vì ngoại hình của mình mà buồn rầu, bởi lí tưởng thuần khiết mới là khí chất của con. Vẻ đẹp dung tục bề ngoài chỉ khiến con người ta sinh ra thói xấu. Cuộc đời và lí tưởng thường không được như ý muốn của con người.

 Có thể con sẽ phải trải qua những gian khổ, những thăng trầm nhưng con à, con cứ dùng hết sức để cống hiến, bởi lẽ cái kết của một người có lí tưởng có thể bi thảm nhưng tuyệt đối sẽ không đáng thương.

 Trong cuộc đời nhiều khó khăn này, con sẽ gặp nhiều người trí thức và quân tử, con sẽ chiêm nghiệm thấy nhiều điều kì diệu mà người khác không thể cảm nhận được. Những lựa chọn bình thường sẽ không đem lại màu sắc gì cho cuộc đời con.

 Đừng vì những lợi ích nhỏ nhặt mà đánh mất lí tưởng con nhé, cũng đừng vì trào lưu nào đó mà thay đổi niềm tin. Thế giới vật chất bên ngoài quá phức tạp, con phải học cách từ chối những cám dỗ của danh vọng tiền tài. Lí tưởng không phải là món đồ có giá trị tiền bạc và thường không thể mang lại cho con niềm vui trần tục. Vậy nên mong con đừng bị ảnh hưởng bởi những thói đời hư danh và hãy học cách khác biệt với người khác.

 Cha cũng mong con là một người có thể tự mình bước đi, bởi vì cuộc đời quá ngắn ngủi mà những thứ hư không lại rất nhiều, sẽ khiến con lóa mắt, không tỉnh táo, để rồi cuối cùng lại chẳng có gì trong tay.

 Nếu con là một cô gái xinh đẹp, khi con còn trẻ sẽ có nhiều chàng trai yêu chiều, nhưng những thứ con có được quá dễ dàng sẽ khiến con trở nên nông cạn, kém cỏi và thích những thứ tầm thường, phù du. Nếu con là một chàng trai thông minh, con sẽ nghĩ rằng tự mình luôn có thể làm nên việc việc lớn mà xem nhẹ, coi thường mọi thứ.

 Con hãy nhớ kĩ, năng lực của con người có hạn, sống trên đời hãy tận tâm mang lại những điều tốt đẹp cho cuộc sống.

 Là văn nghệ sĩ hay là nội trợ, đừng coi thường những người khác, cũng đừng đầu cơ trục lợi. Khi trưởng thành con sẽ biết, làm tốt một việc thực sự rất khó, nhưng đừng bao giờ cho phép mình bỏ cuộc.

 Con phải biết trân trọng cảm xúc, dù là nam hay là nữ, một khi đã chấp nhận kết giao thì không nên thay đổi, hãy chung thủy một lòng.

 Trong quá trình kết giao bạn bè, ắt sẽ có những lúc va chạm, hiểu lầm, con hãy nghĩ lại, trong thế giới rộng lớn này, vì sao chỉ có thể kết bạn với mấy người? Con cần phải biết bạn bè cũng có lúc rời xa, trong cuộc đời này có người ở bên con nghe con nói chuyện, hoặc nói cho con nghe, là một điều tốt đẹp, con nên cảm kích những người ở bên con như vậy.

 Con nên biết trân trọng bản thân và yêu thương mọi người, thấu hiểu bản thân và những người xung quanh. Con phải học cách rơi nước mắt, học cách đối diện với bi kịch, bởi bi kịch sẽ làm tâm hồn con thêm phong phú. 

Cha mong con không phải là một kẻ tầm thường chỉ biết lấy lòng và xu nịnh người khác. Nếu một ngày con bỗng có nụ cười xu nịnh thì chắc chắn cha phải che mặt vì xấu hổ. Trong cuộc đời, dù có rất nhiều thứ hào nhoáng nhưng bản thân chúng không hề có giá trị. 

Làm người, cha mong rằng con sẽ không ngắt lời của người khác, cũng không nhu nhược yếu đuối, và phải bền chí chịu được gian khổ. Mỗi ngày ít nhất con nên dành ra hai tiếng đồng hồ để đọc sách, viết thư hoặc hồi âm cho bạn bè. 

Con không nên lúc nào cũng nghĩ người khác nên giúp con làm gì, mà hãy nghĩ rằng con giúp được người khác những gì. Không nên tùy ý nhận ân huệ của người khác. Con phải ghi nhớ, người khác cho con thứ gì, dù tốt thế nào thì vẫn là của người ta, những thứ thuộc về con cho dù có kém cỏi cũng là của con.

 Con à, vẫn còn một chuyện tuy rất khó làm, nhưng lại rất quan trọng, cha mong con có đủ dũng khí để đối mặt với khuyết điểm của chính mình. 

Khi con khôn lớn theo thời gian, con sẽ gặp được rất nhiều người giỏi hơn mình, ưu tú hơn mình, rồi con sẽ thấy bản thân lộ ra rất nhiều nhược điểm và có thể con sẽ thấy thất vọng và tự ti, nhưng con nhất định phải đối diện với nó, không được trốn tránh. 

Có như vậy, con mới có thể dần thay đổi dần thay đổi, khắc phục khuyết điểm của mình, chiến thắng chính mình còn có ý nghĩa hơn nhiều so với việc ganh đua cùng người khác.

 Không cần biết thế giới này thay đổi như thế nào, nhưng phẩm chất tuyệt vời của một con người mới là vĩnh hằng: Chính trực, dũng cảm, độc lập. Cha mong rằng con sẽ trở thành một người ưu tú!”

 “Người lý tưởng” trong đời thì như thế, tức: vẫn dẫy đầy các trường-hợp nổi cộm. Thế còn, nhà Đạo thì sao? Có lạo xạo, tình-huống nào giống thế chăng? Câu hỏi đây, tự nó nhen nhúm một hồi-đáp khá rõ rệt. Và, dưới đây là giòng kể của ai đó, trong văn-học Đạo/đời như sau:

“Nhà văn Mỹ Elbert Hubbard từng nói: Bạn có thể là người làm nên kỳ tích. Là người thông minh ai cũng hiểu được chân lý này: Cách duy nhất để giúp đỡ mình chính là giúp đỡ người khác.

Một công ty nọ có truyền thống tổ chức tiệc và rút thăm trúng thưởng vào Giáng sinh mỗi năm. Theo quy định rút thăm trúng thưởng, mỗi thành viên tham gia đều phải đóng góp 10 USD làm lệ phí. Toàn công ty có 300 người, và phần thưởng chính là tổng số tiền của 300 người gộp lại: 3.000 USD. Ai may mắn sẽ được mang toàn bộ số tiền đó về nhà.

 Vào ngày tổ chức lễ bốc thăm, không khí náo nhiệt tưng bừng hơn bao giờ hết, ai nấy cũng mong đợi tới giờ vàng để thử vận may của mình. Mỗi người đều được phát một mẩu giấy để ghi tên mình trước khi bỏ vào thùng bốc thăm trúng thưởng. Và trong lúc chuẩn bị ghi tên, một cậu nhân viên trẻ chợt phân vân suy nghĩ:

“Cô lao công Sarah là người có gia cảnh khó khăn nhất, con cái lại mắc nhiều bệnh tật, mà cô thì không có tiền để phẫu thuật cho con. Giá như cô có được số tiền này thì tốt biết mấy, nhưng cô lấy đâu ra 10 USD để tham gia cơ chứ?” 

Nghĩ rồi cậu không cần đắn đo mà quyết định sẽ ghi tên cô Sarah thay vì ghi tên mình lên đó. Mặc dù vẫn biết cơ hội quá mong manh, chỉ có 1/300 cơ hội, nhưng cậu vẫn cầu mong vận may mỉm cười với cô.

 Lúc chuẩn bị rút thăm, không khí hồi hộp không kém phần căng thẳng. Mọi người cùng nhìn lên khán đài khi giám đốc công ty chọn ra tấm phiếu may mắn. Ở bên dưới, cậu thanh niên trẻ không ngừng cầu Chúa, cầu Chúa hãy giúp đỡ cô Sarah…

 Vị giám đốc từ từ mở mẩu giấy ra… Tích tắc, tích tắc, mọi người đều nín thở chờ đợi đến mức tiếng kim đồng hồ cũng có thể nghe thấy. Khi nhìn vào cái tên trên tấm phiếu may mắn ấy, giám đốc bất giác mỉm cười… rồi ông đọc to lên. Và… kỳ tích thật sự đã xuất hiện! Khi cái tên Sarah được xướng lên, những tràng vỗ tay chúc mừng vang lên không ngớt tràn ngập cả hội trường. Cô Sarah vừa vui mừng vừa bất ngờ vì không biết mình được tham gia. Khi bước lên bục nhận phần thưởng, cô rối rít cảm ơn: “Tôi thật may mắn, có số tiền này con tôi được cứu rồi, cảm ơn mọi người, cảm ơn mọi người!”.

Buổi tiệc diễn ra trong những tiếng nói cười và tiếng nâng ly chúc tụng. Chàng nhân viên trẻ miên man suy nghĩ về cái kết có hậu của đêm Giáng sinh năm ấy, bởi mọi thứ xảy ra như một kỳ tích. Cậu vừa bước dạo xung quanh vừa chúc tụng mọi người một Giáng sinh vui vẻ. Vô tình đi qua thùng phiếu, thuận tay cậu rút lấy 1 tờ ra xem, và… lạ chưa kìa, trên mảnh giấy đó có tên cô Sarah. Cậu không dám tin vào mắt mình nên vội vàng rút ra thêm một mẩu giấy, và một mẩu giấy nữa, tất đều có tên cô Sarah trên đó.

 Nỗi xúc động dâng trào trong lòng cậu, giống như những cơn sóng thuỷ triều dâng lên mãnh liệt. Hai mắt cậu đỏ lên, những giọt nước mắt hạnh phúc không ngừng tuôn rơi. Cậu nhận ra một điều, thế giới này thực sự tồn tại “kỳ tích đêm Giáng sinh”, chỉ có điều kỳ tích đó không phải từ trên trời rơi xuống, mà nó được tạo ra bởi những con người có tấm lòng lương thiện quanh ta.

 Câu chuyện này làm tôi nhớ đến trải nghiệm của chính bản thân mình.

Đó là một buổi chiều rảnh rỗi, tôi cùng cậu bạn thân đi dạo trong ngoại ô thành phố. Đột nhiên có một cụ già mặc bộ áo nâu cũ kỹ đi tới, gánh một gánh rau chào mời chúng tôi mua hàng. Nhìn những bịch rau đã héo rủ xuống, những chiếc lá dập nát như vừa trải qua một trận phong ba, không những vậy lại còn bị sâu ăn lỗ chỗ rất nhiều. Nhưng cậu bạn đi cùng tôi không hề tỏ ra khó chịu mà còn vui vẻ mua liền một nửa gánh rau cho cụ.

Cụ già ngại ngùng giải thích: 

-Số rau này do lão tự trồng, mấy hôm trước gặp trận mưa to, rau đều bị dập hết, nhìn thực sự rất xấu, thành thật xin lỗi. Sau khi cụ già đi rồi, tôi hỏi bạn mình: 

-Cậu thực sự mang số rau này về sao? Bạn tôi trả lời: 

-Không, số rau này chắc không thể ăn được nữa rồi. Vậy cậu mua về làm gì?

-Mình dư biết là sẽ chẳng có ai mua, nếu mình cũng làm thế thì e rằng cụ không bán được hàng”.

 Tấm lòng lương thiện của người bạn khiến tôi vô cùng xúc động và khâm phục. Tôi chạy theo cụ già mua giúp cụ nửa gánh rau còn lại. Cụ già thấy vậy rất vui mừng: “Lão đi bán cả ngày trời nhưng ngoài hai cậu ra thì không có ai mua cả, thực sự lão rất cảm ơn hai cậu”…

 Tựa hồ bản nhạc có nốt bổng nốt trầm, cuộc sống luôn có những thăng trầm khiến ta thấy cần lắm một bờ vai, cần lắm một chỗ dựa. Và khi ta đang chới với giữa dòng đời, nếu như có một bàn tay sẵn sàng nâng đỡ ta lên, cho ta một điểm tựa, giúp ta vượt qua gian khó, thì tấm lòng thiện lương ấy sẽ là nguồn sức mạnh giúp ta vượt qua mọi giông bão của cuộc đời.

 Có một bài hát rất hay, từng kể rằng: “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng”. Lòng tốt như ngọn cỏ, dẫu bạn chỉ bắt đầu nó bằng 10 đô la hay 1 mớ rau đã dập nát, nhưng nó sẽ lan toả và bạn sẽ bất ngờ khi thấy cả một thảm cỏ xanh ngát của tình yêu thương, sự đồng cảm, chia sẻ mà chúng ta có thể dành cho nhau.

 Và thế giới này sẽ trở thành thiên đường mà không cần bạn phải là vĩ nhân. Đôi khi bạn sẽ thấy những gì mình cho đi quá nhỏ nhoi, đến độ bạn thấy dù có làm nó hay không thì cũng không có gì đáng kể. Đó là lý do nhà Phật căn dặn rằng: “Đừng thấy việc Thiện nhỏ mà không làm”.

 Bởi, như cây cổ thụ kia, nó cũng chỉ bắt đầu bằng một mầm xanh bé nhỏ.. Chỉ cần bạn gieo nó, như bắt đầu một câu chuyện nhỏ, nó có thể đi xa tới mức khi nhìn lại bạn sẽ không ngờ rằng nó chính là kiệt tác của cuộc sống. Chỉ cần bạn bắt đầu bằng một ngọn cỏ, thế giới sẽ trở thành cánh đồng hoa rực rỡ.”

 “Cây cổ thụ, cũng chỉ bắt đầu bằng mầm xanh bé nhỏ”, quả là nhận-định không sai sót. Bởi, có nhỏ mới có to. Và tất cả, đều xuất tự những thứ bé nhỏ, cỏn con, không ai ngờ. Và cũng thế, lời vàng bậc thánh hiền cũng từng căn dặn:

“Hãy để các trẻ nhỏ đến với Ta.

Đừng ngăn cản chúng, vì Nước Thiên-Chúa thuộc về những người như thế.

Quả thật, Ta bảo các ngươi:

Ai không đón nhận lấy Nước Thiên Chúa như một trẻ nhỏ,

Thì sẽ không vào được trong đó.

Rồi Ngài bồng ẵm chúng, đoạn đặt tay mà chúc lành cho chúng.”

(Mc 10: 14-16)

“Nước Thiên Chúa”“trẻ nhỏ”, “chúc lành cho chúng”…nhất nhất là những khẳng định tuy nho nhỏ, nhè nhẹ, êm ả, nhưng lại là những quả quyết rất chắc nịch. Chắc đến độ, để chứng minh điều đó, “Ngài bồng ẵm chúng”,bồng như bồng bế báu vật. Ẵm, như ẵm mang một điều gì đó như trân châu, quí giá hơn mọi thứ.

 Vâng. Tất cả là ở chỗ đó. Tất cả không ở khối lượng hoặc kích thước to lớn, mà chính là phẩm-chất rất nhỏ, nhưng không be bé cũng chẳng tồi tàn, tệ lậu.

Vâng. Tất cả chỉ để nói lên rằng, những gì bạn và tôi, ta trân quí đều xuất tự những thứ thật nhỏ bé, rất trân châu.

Vâng. Thế đó, là bài học. Thế đó, lại cũng là sự thật hiển nhiên ở đất trời không suy xuyển.

Trần Ngọc Mười Hai

Thông thường vẫn suy-tư

những điều như thế cũng rất nhiều.

MỌI LOÀI TẠO VẬT HÃY CẢM TẠ CHÚA ĐI

MỌI LOÀI TẠO VẬT HÃY CẢM TẠ CHÚA ĐI
Hãy cảm tạ Chúa đi hỡi muôn vàn tạo vật dưới trần!
Từ non cao cho đến biển hồ sâu
Từ rừng rậm cho đến đồng bằng bát ngát
Từ đông sang tây
Từ bắc xuống nam
Trải dài trên khắp địa cầu khắp lãnh thổ
Hãy cảm tạ Chúa đi hỡi muôn người muôn nước!
Bởi Chúa yêu nên tác tạo ra nhân loại con người
Cho khác nòi giống mầu da
Cho khác tiếng nói
Khác phong tục tập quán
Khác y phục khác thức ăn
Để con người có Chúa sẽ nhìn qua thấu
Trái tim và lòng nhân hậu ở chính con người
Quan tâm chia sẻ trong cuộc sống
Nhất là người trong gia đình
Đến người trong xóm
Cùng người nghèo khổ sống ở chung quanh
Bởi Chúa biết rất rõ khả năng của từng người
Vì có phải Thiên Chúa đã tác tạo ra chúng ta?
Nên Người ban cho mỗi người mỗi khác
Riêng biệt và là duy nhất không ai giống ai
Nên cần được tận dụng khả năng cho đúng mức
Để sống sao hữu ích cho đẹp đạo đời
Hãy cảm tạ Chúa đi hỡi muôn lòng muôn trái tim!
Đừng quên mỗi sáng trưa chiều tối
Dâng lời kinh cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời
Luôn ban cho gia đình bình yên hạnh phúc
Ban cho mọi điều ta đã, đang và sẽ có
Tất cả là ân ban của Đức Chúa Trời
Hãy sống sao trong tâm tình khiêm hạ!
Đừng giả dối lòng đừng tự cao tự đại
Đừng nói hành nói xấu đừng phê phán ai
Đừng ba hoa nói năng như phường đạo đức giả
Đừng trẻ người mà đem lời dạy dỗ người tuổi cao
Vì đó là cách xử thế thiếu tế nhị thiếu ĐỨC ÁI
Hãy cảm tạ Chúa đi hỡi con người tội lỗi!
Hãy tự vực dậy tự cứu linh hồn mình
Vì nó đang đắm chìm trong cát lún tội lỗi
Chỉ còn thời gian rất ngắn thôi sẽ chấm dứt cuộc đời
Mà chỉ có Thiên Chúa là Đấng duy nhất có thể ra tay CỨU
Nhưng ta hãy van xin hãy một lòng thống hối ăn năn
Hứa chừa tội cùng quay về đường ngay nẻo chính
Hứa sống gần Chúa và gần anh chị em
Luôn mở miệng ca ngợi chúc tụng ngợi khen
Cùng làm chứng nhân cho Đức Chúa
Để linh hồn từ nay được yên bình thực sự
Trong sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa
Chúa chúng ta. Amen.
Y Tá của Chúa,
Tuyết Mai
18 tháng 7, 2018
—————————————————
Cảm Tạ Chúa Hôm Nay Và Muôn Đời
(Thơ và nhạc của Tuyết Mai 06 -19 – 2010)