ĐỨC TIN ĐÍCH THỰC

ĐỨC TIN ĐÍCH THỰC

Đức tin là một ơn ban của Chúa.  Người tín hữu đón nhận ơn này khi lãnh nhận Bí tích Thanh tẩy (còn gọi là Bí tích Rửa tội).  Như thế, người không được rửa tội thì không có Đức tin.  Sự tin tưởng mà họ có nơi bạn bè và những người thân quen không được gọi là Đức tin mà đó chỉ là “niềm tin.”

 Giáo lý công giáo dạy: Đức tin là một nhân đức “đối thần”, tức là nó giúp ta hướng thẳng về Chúa.  Gọi là nhân đức “đối thần” để phân biệt với các nhân đức khác như khôn ngoan, công bình can đảm, tiết độ.  Bốn nhân đức này được gọi là bốn “nhân đức trụ”, có nghĩa chúng làm nền tảng cho các nhân đức luân lý khác cần thiết cho đời sống con người.  Bốn nhân đức trụ này, cũng như các nhân đức luân lý, khi sinh ra, chúng ta chưa có, phải do học hành và luyện tập mới có được.

Đức tin là một ơn ban của Chúa, nên có người nhận được và có người lại không.  Nói cách khác, có người sẵn sàng mở lòng đón nhận, nhưng cũng có người khép kín khước từ.  Con người được tự do chọn lựa tin vào Chúa hay khước từ Ngài.  Tin vào Chúa, đó là một đề nghị được đặt ra cho chúng ta.  Đó không phải là mệnh lệnh hay một điều ép buộc.  Vì thế, trong Giáo Hội, không bao giờ bắt ép ai theo Đạo.  Nếu có ép buộc một người nào phải lãnh nhận Bí tích Thanh tẩy, thì việc lãnh nhận Bí tích sẽ không thành sự, nghĩa là chẳng mang ơn ích gì.  Trong trường hợp này, người bị ép buộc cũng không phải là người công giáo đúng nghĩa.  Khi nói đến quyền tự do tin hay không tin Chúa, nhiều người đã phê phán Giáo Hội ép buộc người ta theo Đạo khi rửa tội cho trẻ em.  Câu trả lời của Giáo Hội rất rõ ràng: cũng như cha mẹ muốn điều tốt cho con mình nên phải dạy chúng từ khi còn nhỏ mà đâu có hỏi xem chúng có đồng ý hay không.  Khi trẻ lên 5 tuổi, cha mẹ bắt ép chúng mới đi đến trường học.  Vậy, việc dạy con những điều hay lẽ phải, việc cho con đi học mặc dù chúng không thích có bị phê phán là thiếu tự do hay không?  Giáo Hội chủ trương rửa tội cho con trẻ, vừa muốn cho chúng có một nền tảng giáo dục từ ban đầu, vừa qua đó để xin ơn Chúa xuống nơi tâm hồn em bé qua việc lãnh nhận Bí tích.

Vì là một ơn ban, nên có người giữ được mà cũng có người đánh mất.  Vì thế, trong ngôn ngữ bình dân, chúng ta vẫn gọi người này người nọ là “mất Đức tin.”  Người mất Đức tin là người tuyên bố công khai bỏ Đạo, còn người lười biếng đọc kinh, không đến nhà thờ hoặc người đang sống trong ngăn trở thì chưa thể căn cứ vào đó mà kết luận là một người mất Đức tin.  Tuy vậy, tình trạng khô khan lười biếng thường dẫn đến tình trạng Đức tin phai nhạt và rồi mất Đức tin.

Có người có Đức tin đích thực, lại có người có Đức tin giả tạo.  Người có Đức tin đích thực thì luôn tìm kiếm Chúa và cầu nguyện với Ngài, vì họ xác tín Chúa đang hiện diện trong cuộc đời họ.  Người có Đức tin giả tạo thì chỉ hời hợt bề ngoài, gió chiều nào xoay chiếu ấy, đời sống mang nhiều khuôn mặt khác nhau.  Đối với người có Đức tin giả tạo, Giáo Hội chỉ như một tổ chức trần tục, tham gia cho vui, không hề gắn bó và yêu mến.  Thánh Luca ghi lại phép lạ Chúa Giêsu chữa lành mười người phong cùi trên đường đi Giêrusalem (x. Lc 17,11-19).  Mười người trong họ đều có lòng tin.  Nhờ lòng tin đó mà họ được chữa lành.  Tuy vậy, chỉ có một người trong họ trở lại để tôn vinh Thiên Chúa, mà người ấy lại là người Samaria, tức là người ngoại thường bị người Do Thái khinh bỉ.  Như thế, Đức tin đích thực không mang những nhãn hiệu hào nhoáng hay vỏ bọc bề ngoài.  Chín người kia chỉ chú ý đến mục đích khỏi bệnh.  Lòng tin của họ là lòng tin vì bản thân, ích kỷ và vụ lợi.  Người Samaria là người có lòng tin đích thực.  Anh vừa được chữa bệnh phong cùi, vừa được mở con mắt tâm hồn để nhận ra chân lý.  Lòng tin của anh đã cứu chữa anh. ”  Lời tuyên bố của Đức Giêsu cho thấy “tin” là một điều kiện cần thiết để chữa lành.  “Tin” cũng có một sức mạnh phi thường để chữa lành, không chỉ những chứng bệnh nan y mà còn chữa lành những tâm hồn đau thương vỡ nát.  Đức tin đích thực dẫn ta đến gặp gỡ Chúa, tôn nhận Ngài là đích điểm đời ta.  Đức tin đích thực giúp ta nhìn nhận xa hơn để đến với tha nhân, xây dựng một cuộc sống công bằng nhân ái với hết mọi người.

Người tín hữu là người được ban ơn Đức tin, và để Đức tin lớn lên mỗi ngày, họ phải trau dồi đạo đức, chuyên tâm cầu nguyện và thực thi bác ái.  Đức tin không phải là một “tấm thẻ ưu tiên” hay “tấm bùa hộ mệnh” để rồi ai sở hữu là tất nhiên được cứu rỗi.  Tâm hồn đón nhận Đức tin phải như mảnh đất tốt, để nhờ đó mà hạt giống được gieo vào nảy nở đâm bông kết trái (x. Mt 13,1-9).

Có người có Đức tin mạnh mẽ, lại có người có Đức tin non yếu.  Các thánh tử đạo là những người có Đức tin mạnh mẽ.  Các ngài không sợ chết.  Vì Đức tin khẳng định với các ngài rằng ai trung tín với Chúa sẽ được sống đời đời dù có phải tù đày hay phải chết phần xác.  Những người có Đức tin non yếu chỉ tin vào Chúa khi gặp hạnh phúc may mắn, nhưng khi gặp thất bại gian nan thì họ bỏ Chúa, thậm chí phủ nhận vị trí của Ngài trong đời họ.  Cũng có khi họ chọn lựa thế gian và lợi lộc vật chất hơn là chọn lựa Chúa.  Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Con Người cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt thiên thần của Thiên Chúa.  Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì sẽ bị chối trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa” (Lc 12,8).  Mạnh mẽ tuyên xưng Đức tin chính là bảo chứng cho việc chúng ta được cứu rỗi trong ngày sau hết của cuộc đời.

Tân ước dẫn chứng rất nhiều tấm gương về Đức tin.  Người phụ nữ xứ Canaan đã kiên nhẫn nài nỉ xin Chúa chữa cho con gái bà khỏi bệnh.  Mặc dù Chúa Giêsu đã trả lời bà bằng một câu xem ra không có hy vọng, bà vẫn kiên trì và bà đã được như lòng mong ước (x. Mt 15,21-28).  Với vị Đại đội trưởng đến xin Chúa chữa cho đầy tớ ông được khỏi, Chúa Giêsu đã khen ngợi ông:  Tôi không thấy một người Israen nào có lòng tin như thế” (Mt 8,19).  Lòng tin nơi ông mạnh mẽ đến nỗi ông so sánh quyền lực của Chúa với một vị chỉ huy, chỉ cần truyền lệnh là mọi sự đâu vào đấy.

Bạn thân mến, chúng ta là người tín hữu, vì chúng ta đã được lãnh nhận Bí tích Thanh tẩy.  Bí tích này làm cho chúng ta trở nên con người mới, giống như Chúa Giêsu Kitô.  Tuy được mặc lấy Chúa Giêsu, nhưng chúng ta còn là con người, bị tác động bởi biết bao những cám dỗ.  Chính sự yếu đuối của thân phận con người nơi thân xác chúng ta cũng là một trong những nguy cơ làm cho chúng ta phai nhạt tình yêu và lòng tín thác đối với Chúa.  Chính vì vậy, Đức tin phải được tuyên xưng nơi môi miệng, phải được sống nơi cuộc đời và phải được loan truyền cho anh chị em xung quanh.

Chúng ta cùng chiêm ngắm và noi gương Đức Trinh nữ Maria thành Nagiarét.  Mẹ là mẫu mực của các tín hữu trong hành trình theo Chúa.  Mẹ được chúc phúc vì Mẹ đã tin những gì Chúa phán cùng Mẹ sẽ thành hiện thực.  Đức tin đã giúp Mẹ vượt qua những gian khổ trong cuộc đời.  Nhờ Đức tin, Mẹ nhìn thấy thánh ý Chúa trong những biến cố đau thương và luôn một niềm trung tín.  Đức tin của Mẹ là Đức tin đích thực.  Xin Mẹ giúp chúng ta biết tin như Mẹ đã tin và sống như Mẹ đã sống.

Gm Giuse Vũ Văn Thiên
Nguồn: gphaiphong.org

ĐỘI TUYỂN BÓNG ĐÁ CROATIA TỚI VIẾNG ĐỨC MẸ MỄ DU NGAY TRƯỚC TRẬN WORLD CUP.

Hoa Do shared a post.
Image may contain: one or more people, people standing and outdoor

Hoàng Thế Lịch

ĐỘI TUYỂN BÓNG ĐÁ CROATIA TỚI VIẾNG ĐỨC MẸ MỄ DU NGAY TRƯỚC TRẬN WORLD CUP. (Apparition Hill) 13/07/2018

Tại phía tây Bosnia và Herzegovina, trong khu vực Herzegovina. Từ năm 1981, nó đã trở thành một địa điểm phổ biến của cuộc hành hương Công giáo do có báo cáo về việc Đức Mẹ hiện ra với sáu người Công giáo địa phương, ngày nay thường gọi là Đức Mẹ Mễ Du.

Mễ Du (Medjugorje) là một làng nhỏ nằm giữa hai ngọn núi Krizevac và Podbrdovới dân số vài ngàn cư dân, thuộc tỉnh Mostar, nước Bosnia và Hercegovina. Ngày 24 tháng 6 năm 1981 là ngày lễ Thánh Gioan Baotixita, một số em nhỏ trong làng báo cáo rằng đã nhìn thấy hình bóng sáng chói của một người phụ nữ bồng trên tay một trẻ sơ sinh trên viền đồi Pobrdo. Các trẻ em này bao gồm: Vicka Ivankovic (sinh 1964, lúc đó 17 tuổi), Mirjana Dragicevic (sinh 1965, 16 tuổi), Marija Pavlovic (sinh 1965, 16 tuổi), Ivan Dragicevic (sinh 1965, 16 tuổi), Ivanka Ivankovic (sinh 1966, 15 tuổi) và Jakov Colo (sinh 1971, 10 tuổi).

Trong nhiều năm sau, những người thị nhân này cho rằng họ nhìn thấy Đức Mẹ hiện ra hàng ngày và nói chuyện với họ khiến cho làng Mễ Du trở thành nơi thu hút đông đúc khách hành hương. Đáng chú ý, thị nhân Vicka Ivanković nói rằng cô đã cầu nguyện với Đức Mẹ và được Đức Mẹ ban cho chín “bí mật” và “nhiệm vụ”. Vicka nói rằng việc Đức Mẹ hiện ra với cô mỗi ngày vẫn chưa dừng lại và rằng, cô đã nhận được một tiểu sử về cuộc đời Đức Mẹ lưu trữ trong hai máy tính xách tay, sẽ được công bố khi Đức Mẹ cho phép. Hơn hai thập kỷ trôi qua, Vicka Ivanković vẫn tiếp tục gặp gỡ với khách hành hương tại Mễ Du với nụ cười tràn đầy niềm vui trên khuôn mặt của cô.

“Xưa anh là kẻ nghiện sông hồ,”

Suy Tư Chúa nhật thứ 15 thường niên năm B 15/7/2018

(Mc 6: 7-13)

Người gọi Nhóm Mười Hai lại và bắt đầu sai đi từng hai người một. Người ban cho các ông quyền trừ quỷ.  Người chỉ thị cho các ông không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền đồng để giắt lưng; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo. Người bảo các ông: “Bất cứ ở đâu, khi anh em đã vào nhà nào, thì cứ ở lại đó cho đến lúc ra đi. Còn nơi nào người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ.” Các ông đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối. Các ông trừ được nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh.

 & & &

“Xưa anh là kẻ nghiện sông hồ,”

“Đây đó lan dài gót lãng du”

(dẫn từ thơ Nguyễn Bính)

Gót lãng du, có là gót giày nện của nhà thơ đi đây đó? Nghiện sông hồ, có là nỗi niềm của người anh, lâu rày đó đây, xuất hiện ở bầu trời nhiều dấn bước theo chân Chúa, rất lâu ngày chăng?

Trình thuật thánh Máccô, nay kể về sinh hoạt của các vị thánh bước theo chân Thày, hăng say mục vụ tiếp nối công trình của Chúa ở Nam Galilê. Các ngài là nhóm tông đồ đa năng, đa dạng. Có người có gốc nguồn từ xứ miền Hy Lạp như thánh Philipphê, Anrê, còn lại là người Do thái như thánh Giacôbê, Batôlômêô, Tađêô, Simôn, vv. Các đấng bậc thuộc nhóm tuyển không giỏi về học thức, cũng chẳng đạo đức như đấng bậc khắc kỷ/khổ tu, nhưng lại hân hạnh được đi theo Đấng Ngôn Sứ luôn di chuyển. Các thánh được chuẩn bị dứt đoạn với gia đình, giòng họ, xã hội cùng chòm xóm và quyết tận hiến cho Ngài.

Một số vị như thánh Tađêo, ta được biết chỉ danh tánh, mà thôi. Còn thánh Phêrô, Giacôbê vẫn nổi danh là lãnh tụ nhà Đạo ở thế kỷ đầu. Cũng tựa như Đức Giêsu, thánh Phêrô không để lại bút tích nào để thế hệ sau này theo đó mà biết rõ. Riêng thánh Phêrô lại đã trao quyền quản cai hội thánh ở Giêrusalem cho thánh Giacôbê để đích thân khơi mào sứ vụ đặc biệt cho dân ngoại ở Syria. Các đấng bậc trổi trang về thừa sai/mục vụ phải kể đến là thánh Phaolô từng sống cùng thời với Chúa, nhưng chưa một lần giáp mặt Ngài. Thánh Phalolô cũng là tông đồ đắc lực của Chúa nhưng thánh nhân lại không ở trong cùng nhóm Mười Hai. Trái lại, thánh nhân từng bách hại người của Chúa và cuối cùng lại đã trở thành tông đồ đắc lực hơn cả. Các tông đồ của Chúa đều có chung một đặc điểm là hết lòng tin tưởng vào Thày Chí Thánh đáp lại lời kêu gọi mọi người cùng hợp tác trong rao giảng Tin Mừng.

Thật ra, có ba nhóm tông đồ gần cận Chúa hoạt động theo kiểu vòng tròn khép kín gồm các bậc vị vọng sinh hoạt rất đắc lực. Nhóm đầu là nhóm 12. Nhóm thứ hai gồm các nữ phụ, trong đó có Maria Mađalêna, chị em nhà Lazarô ở Bêthania, cùng Joanna vợ của Chuza (thượng thư của Hêrôđê), cả Maria mẹ của thánh Giacôbê nữa. Viết Tin Mừng, các thánh sử chăm chút ghi tên các nữ phụ này và coi các bà là người theo Chúa hầu để được sẻ san lời Ngài dạy và giúp chất liệu cho thế hệ nối tiếp phục vụ Hội thánh.

Các bà là những người vẫn quẩn-quanh bên Chúa khi Ngài dấn bước vào chốn khổ hình của thập tự. Và, các bà còn là chứng-nhân đầu hiện diện ở mộ phần ngay vào lúc Chúa sống lại. Trong lúc ấy, nhóm 12 lại cứ lánh mặt vì hãi sợ, chủ bại. Với người cùng thời với Chúa, sự cộng tác của bậc nữ lưu dám để chồng ở lại nhà mà theo Chúa, đã gây tai tiếng không ít cho người ngoài cuộc. Nhưng Chúa đi ngược lại qui ước vẫn có ở xã hội thời Ngài sống.

Nhóm thứ ba, là các vị có cảm tình với công trình của Chúa thi thoảng mới tham gia sinh hoạt để giúp Chúa, thôi. Các vị nổi danh như: Ladarô, Nicôđêmô, Zakê, Giuse thành Arimathêa, đều là đấng bậc không rời bỏ gia đình và xã hội mà các vị đang sống, mà chỉ phụ giúp Chúa một đôi lúc, thôi.     

Tuy các bậc nữ lưu trên, tuy đã thực hiện công việc thừa-tác cho Chúa là thế, nhưng vẫn không được Hội thánh gọi là “tông đồ” bao giờ hết. Lý do là bởi, cụm từ “tông đồ” bên tiếng Do thái có nghĩa “tamid” hoặc “tamilda” tiếng Aram, không phải là giống cái. Tự vựng Aram không có từ “tông đồ nữ” và cũng chẳng có danh từ “nữ phụ làm tông đồ” để đối chọi với từ nam tông-đồ được sử dụng rộng rãi trong văn chương chữ viết của Do thái. Tuy nhiên, với cộng đoàn Phaolô, nữ giới vẫn đồng quyền về mọi mặt với nam nhân, từ việc nguyện cầu cho đến nghi tiết phụng vụ hoặc mọi công tác được ngôn sứ thi hành.

Thời thánh Phaolô đến mãi về sau, nhóm 12 lại đã trở nên thành-phần quan trọng không thể thiếu trong Đạo. Tuy nhiên, vai trò của các ngài chỉ mang tính tượng trưng rất tri thức chứ không có thực lực ở xã hội ngoài đời. Cộng đồng người Do thái gồm tất cả 12 chi tộc phân tán rộng, trong khi đó nhóm 12 lại vỏn vẹn chỉ gồm 12 vị chuyên chăm hỗ trợ cho thánh hội ngõ hầu giúp duy trì quyền thừa kế Chúa hứa ban cho dân Ngài. Xem thế thì, nhóm 12 lại đã tượng trưng cho cộng đồng dân tộc theo cung cách thu nhỏ kiểu “bỏ túi”, khá vi mô.

Ý Chúa chỉ muốn thế. Ngài chủ trương tái tạo Israel gồm chỉ 12 chi tộc gọn nhẹ. Và, Ngài những muốn cải tổ niềm tin ở dân con mọi người, khởi từ nhóm 12 được tuyển chọn, giống hệt đất nước Israel nhờ vào ân huệ trinh trong, cô đọng. Chúa đã sai nhóm 12 của Ngài đi khắp chốn để truyền rao Tin Mừng Ngài đem đến; nhưng, các thánh cũng chẳng đi đâu thật xa, mà vẫn chỉ khu vực gần cận thôn làng bé nhỏ quê miền đồng nội có người địa phương thân thương sống quẩn-quanh đây đó qua nếp sống cơ bản theo khuôn thước xã hội vùng Địa Trung Hải thời cổ xưa.

Nói chung thì, các thôn làng nơi đó chỉ là khu chung sống rất bé nhỏ thật vắng lặng, chứ không là chốn thị thành phồn hoa phức tạp, đầy kích bốc. Các thôn làng nơi đó, chẳng có cao ốc với hội đường gì trổi bật nhưng các ngài vẫn đến tụ tập đều đặn, ít là vào ngày Sabát. Quây quần nơi phố chợ hoặc khu vực râm mát có cơ ngơi chỉ gồm những người gần gũi/thân quen thôi. Ai nấy quây quần quyết xây dựng một cộng đoàn mang tinh thần giao hoà mộng ước, rất phải lẽ.

Đức Giêsu chẳng hề khuyên bảo đồ đệ Ngài phải dựng xây tinh thần một Israel mới -mẻ như những hội thiện nguyện khác hẳn cộng đoàn. Bởi nơi đó, đã có sẵn cộng đoàn từng hoạt động hệt như thế. Ngài không thôi thúc dân con mọi người hãy rời bỏ gia đình mà đến với làng mạc rày đây mai đó thành đám du mục chẳng định hướng. Ngài không đòi họ tập trung sinh sống theo cung cách riêng tư cá thể. Nhưng, theo từng nhóm nhỏ cộng đoàn như ta thấy. Ngài không muốn mọi người sống chuyên chăm nhiệm nhặt, tức chẳng để tâm gì về thể chất, xác phàm. Điều Ngài bận tâm là dạy họ biết lắng tai nghe sứ điệp cần thiết để được chữa lành, thứ tha và về với quyết tâm đổi mới cuộc đời. Ngài muốn dân con của Ngài kiến tạo một Israel thực sự đổi mới con người mình.

Quê nhà, họ trở về cũng sẽ là các khu vực gần cận bên nhau. Chính vì gần cận, nên phần đông trong họ sẽ đi vào quan hệ mật thiết như người gần gũi rất thân quen. Mỗi làng/xã sẽ sinh hoạt theo kiểu riêng tư dễ phân biệt, ngoại trừ những khủng hoảng liên quan đến tình trạng của đất nước họ. Thật khó cho người ở ngoài chịu trở về sống ở thôn làng nơi mà người cùng làng lại xử sự cách khác nhưng đôn hậu, mật thiết. Muốn được thế, người người phải tham gia nhập cư theo cung cách hiền hoà, phải lẽ. Chính đó là ý Chúa muốn sai phái đồ đệ ra đi từng nhóm đến với thôn làng để các ngài không bị ai ám hại, hoặc gây khó. Đằng khác, đi từng cặp, cũng để thực hiện sứ vụ thừa sai cho dễ hơn là chỉ một mình đơn độc, không người giúp.

Ra đi về với thôn làng hiền lành, các thánh được dặn không mang theo cơm áo, gạo tiền. Cũng chẳng bận tâm chuyện sửa soạn giày dép, áo mão hoặc gậy gộc dù đi xa. Nhưng vẫn gọn nhẹ. Giản đơn. Đi như thế, mới giống cung cách của người túng thiếu/nghèo hèn, ở trong huyện. Chẳng khó dễ, cũng chẳng gây trở ngại cho ai, dù người ấy có là giới cầm quyền hoặc những vị chỉ tính chuyện tranh giành, chấp nhất. Lệ làng về tính hiếu khách sẽ là kim chỉ nam giúp các thánh thực hiện tính giản đơn, hèn mọn, không câu nệ. Nhất nhất nơi nào các thánh đến, cũng không dừng lại lâu. Không đi quanh quất/khất thực, mất thể diện. Và, chỉ chấp nhận những gì người nhà bố thí cho ăn mặc mà thôi. Nói chung, các thánh vẫn phải ăn ở hiền lành, cư xử cho phải phép cả với người hiếu khách, lẫn kẻ ngược ngạo, bạo hành.

Đến đâu, các ngài cũng nên chuyện trò thân mật. Kể cho nhau nghe những việc được Chúa quan tâm dạy bảo; nếu cần, phải chữa lành và tha thứ theo cách thế hiền từ Thày từng làm mẫu. Và, việc chữa lành Chúa dặn, cần được tiếp tục và hành xử đầy lòng tha thứ, để người người có cơ hội gần cận Chúa. Làm như thế, mới chứng tỏ được rằng: Nước Trời đã đến với thôn làng bé nhỏ để người người hoàn thiện cuộc sống, như Chúa muốn.

Trình thuật thánh Máccô kể hôm nay, được đặt chung với trình thuật về cuộc đời hoạt động công khai của Chúa quyết đổi mới Israel như Hội thánh Nước Trời, theo ý Chúa. Áp dụng vào với thánh hội thời hiện tại, thật cũng khó. Khó, là bởi các đấng bậc chủ quản hôm nay, vẫn tự hào mình là các đấng bậc kế vị nhóm 12, nhưng lại không dám rời bỏ của cải, bạc tiền cùng những thứ xa hoa, lộng lẫy để về sống đời chân chất, mọn hèn. Vấn đề đặt ra cho các đấng bậc đang chủ trì Hội thánh hôm nay, là: làm sao sống giản dị như Thày mình đòi hỏi. Có thế, mới yêu cầu mọi người sống như mình.

Tuy là khó, nhưng không có nghĩa là thánh hội mình không có lối thoát để bắt chước Chúa và nhóm 12 chấp nhận sống bình dị như người thường ở huyện. Tức, không giàu và cũng chẳng sang, chỉ làng nhàng đủ sống. Tức, sống dễ dàng, không áp đặt cấu trúc/luật lệ nào cầu kỳ, bắt buộc phải phấn đấu. Nhưng, quyết áp dụng nguyên tắc nhập thế và nhập thể, hầu chịu hạ mình xuống để sống hoà đồng cùng các người em mọn hèn, ở trần thế. Để được thế, Hội thánh hôm nay còn phải ngang qua nhiều hành trình xuyên suốt, rất quyết tâm.

Trình thuật theo thánh Máccô hôm nay sẽ là khởi điểm với đầy quyết tâm như thế. Quyết tâm dấn bước. Vui vẻ chấp nhận đời bình dị của người bình thường ở huyện, chốn thấp hèn. Để rồi, thánh hội mình dám xác chứng với người bình thường ở mọi nơi rằng: họ mới là dân con thực thụ, của Đức Chúa.

Trong tâm tình đó, có lẽ cũng nên ngâm tiếp lời thơ vừa khởi xướng rất như trên, rằng:

“Xưa anh là kẻ nghiện sông hồ.

Đây, đó, lan dài gót lãng du.

Về, chẳng có kỳ, đi chẳng hẹn.

Như, mây mùa thu, lá mùa thu.”

(Nguyễn Bính – Chú Rể Là Anh)

Là anh hay em, cũng một chú rể bình dị ở huyện nhà. Là, kẻ những “nghiện sông hồ”, “đây, đó, lan dài gót lãng du” rất mùa thu. Mùa, của những đi mà không hẹn. Về, cũng chẳng kỳ hạn. Vẫn ra đi dựng xây thánh Hội giản đơn. Bình dị, lành thánh. Tuy rất nghèo hèn, nhưng hạnh ngộ.          

                         Lm Kevin O’Shea DCCT biên soạn – 

 Mai Tá lược dịch

“Ðã có những lúc chán chường “

Chuyện Phiếm đọc trong tuần 15 Thường niên năm B 15-7-2018

“Ðã có những lúc chán chường “
Chán cho đời sao buồn quá.
Mắt có những lúc đã hoen mờ,
Vì sầu không đâu, không tên.”

(Văn Phụng – Chán nản)

 (Thư Philípphê 1: 7-10)

 Chán nản lắm ư? Chán hết mọi chuyện trên đời, hay chỉ “chán cho đời sao buồn quá” hoặc chán chết, hết mọi chuyện? Thế, bạn và tôi có chán cả câu truyện kể rất đáng chán như bên dưới:

“Có lần, hai nhân viên thuộc công-ty khí đốt nọ, một người đã lớn tuổi, người kia hãy còn trẻ đang đi kiểm tra tình hình thời sự ở vùng ngoại ô nọ. Hai vị đỗ xe ở cuối đường rồi đi bộ đến xem từng nhà một. Sau khi kiểm tra khí đốt ở căn nhà cuối đường xong, nhân viên lớn tuổi đề-nghị chạy đua về chỗ đỗ xe với người trẻ tuổi để chứng-tỏ là ai khoẻ hơn ai.

 Trong khi chạy hết tốc-lực đễn chỗ đỗ xe họ bỗng thấy người đàn bà ở căn nhà mà họ mới vừa ra khỏi cũng đang hộc tốc chạy theo sau, vừa thở vừa la ơi ới. Hai người bèn dừng lại xem chuyện gì xảy ra mà bà la to thế:

-Có chuyện gì thế, thưa bà?

-Chúa, Phật ơi! Tôi cũng đang tự hỏi xem có chuyện gì xảy ra mà hai ông chạy bán sống bán chết đến như thế. Khi thấy hai ông tự dung chạy trối chết như thế, tôi bèn nghĩ: hay hơn hết, tôi cũng nên chạy theo xem có chuyện gì xấu không? Thì ra, chả có chuyện gì cả. Thật rõ chán.” (Truyện do St kể)

À thì ra, “chả có chuyện gì cả, thật rõ chán!” đúng là câu nói cửa miệng của nhiều người, suốt một đời.  Thế nhưng, đời người còn chán hơn nhiều giả như ta gặp đủ thứ người hoặc đủ thứ chuyện, mà người nào, chuyện gì cũng đều “chán như cơm nếp nát”, hết mọi sự. Bạn không tin như thế ư? Thì đây, mời bạn và tôi, ta nghe thêm một truyện kể khác, cũng rất ư là “chán mớ đời”, sau đây:

“Truyện rằng,

Trong khách sạn lớn thuộc hạng sang ở thành-phố, có bà khách đi thang máy thấy anh gác thang suốt ngày cứ đứng lên ngồi xuống mở cửa đóng cửa cho khách trú ngụ, rất ư là đáng chán, bèn buông lửng một câu hỏi nhỏ, rằng:

-Lên lên xuống xuống mãi thế này, anh có thấy chán hoặc nản lắm không?

-Dạ thưa không. Nghề của con mà, thím.

-Lên nhiều mới chán vì mệt chứ đi xuống thì có gì đâu mà phải phàn nàn, đúng thế phải không?

-Dạ thưa không phải thế.

-Thế thì, xuống nhiều mới chán chứ gì?

-Dạ cũng không phải thế.

-Thế thì khi nào anh thấy chán chường nhất?

-Dạ, khi gặp phải các cụ, cứ là hỏi mãi có một chuyện không biết chán, ạ!”(Truyện kể nghe đến chán nhưng vẫn kể)

Quả có thế. Việc gì, cứ lặp đi lặp lại nhiều lần cũng đều đáng chán hết. Chí ít, là viết phiếm, viết bài hoài hoài đến …chán chết. Vâng. Nội mỗi tự vựng “Chán chết” thôi, cũng hàm ngụ đủ thứ chuyện ở trong đó. Có khi là, “chán đến chết”. Có lúc, là: “chán muốn chết”. Ấy chết, lại nói gì thế? Chán đến độ muốn chết sao? Thế, bạn có cam đoan rằng: chết rồi hết chán không? Cái đó, xin hạ hồi phân giải. Nay, ta bàn chuyện rất “đáng chán”, nhưng không thể làm khác được. Đó là, phiếm luận hay phiếm loạn, cho giải cơn sầu/buồn đến chán ngán, hôm nay hoặc mai rày.

Vâng. Không gì đáng chán và phát chán, như việc bàn mãi chuyện thần-học, hoặc học về thần riết rồi cũng nản, hết muốn viết tiếp. Như, tâm trạng của bần đạo ở đây bây giờ. Thôi thì, chỉ xin nói thêm một sự với bạn, rằng thì là: không bàn chuyện thần-học thì mấy cha, mấy nội bàn chuyện gì bây giờ? Luân lý, đạo đức hoặc tu-đức, tu tỉnh với tỉnh tu đâu cơ chứ?

Vậy thì, mời bạn, và mời tôi ta nhập cuộc. Thế nhưng, trước khi đi vào cuộc, hãy để lòng mình trùng xuống với tâm tư, tình-tự của bài hát “chán chường” mà nghe tiếp những lời như:

    Tay đôi tay yếu đuối, dâng lên chới với giữa trời.
Than van cho thân kiếp đoạ đày.
Đời bao xót xa. Nhìn lá rơi, mùa Thu chết rồi!
Gió gió cứ rít lên. Xuyên qua tim tôi. Xuyên qua làn môi.
Gió gió đã cuốn đi Bao nhiêu ước mơ – Ôi, xa vời!
Sóng sóng đã cuốn đi. Cuộc đời tốt tươi.
Buồn ơi, chán ơi!

Ðã có những lúc chán chường. Chán cho đời sao buồn quá.
Mắt có những lúc đã hoen mờ. Vì sầu không đâu, không tên.
Tay đôi tay yếu đuối. Dâng lên chới với giữa trời.

Than van cho thân kiếp đoạ đày.
Đời bao xót xa.
Nhìn lá rơi, mùa Thu chết rồi!
Gió gió cứ rít lên. Xuyên qua tim tôi.
Xuyên qua làn môi. Gió gió đã cuốn đi
Bao nhiêu ước mơ – Ôi, xa vời!
Sóng sóng đã cuốn đi Cuộc đời tốt tươi
Buồn ơi, chán ơi!

(Văn Phụng – bđd)

Như đã kể, còn gì chán ngán cho bằng, ở nhà Đạo, lại cũng thấy những giây phút chán ngán, chán nản khi có người viết thư về hỏi đấng bậc, nhưng câu như:

“Thưa Cha,

Con vẫn hiểu là Đức Giáo Hoàng Phanxicô có lần bảo rằng: Hỏa ngục không có thật và linh-hồn của những người từng chối bỏ Chúa, cuối cùng rồi cũng biến mất. Thưa, có thật là Đức Giáo Hoàng từng nói thế không?”

 Đúng ra, bổn đạo nói trên phải hỏi là Đức Giáo Hoàng có ý gì khi nói thế, mới ra nhẽ. Thôi thì, hỏi thế nào thì hỏi. Đấng bậc vị vọng nhà Đạo cũng xung phong giải đáp thắc mắc, cho ngọn ngành để bá quan văn võ trong Đạo hiểu được ý của Đấng bậc rất trên cao. Và câu trả lời, được ghi như thế này:

“Có điều khá chắc chắn là: Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã không nói điều đó. Giống như mọi Kitô-hữu, ngài cũng tin vào hỏa-ngục và lâu nay ngài nói về chuyện ấy một vài lần trong thời gian năm năm trên cương-vị một Giáo-chủ.

 Sự thể về câu nói vốn dĩ làm nhiều người hiểu lầm, là do vị ký-giả hồi hưu nay đã 93 tuổi đời, trước đây ông từng là tổng-biên-tập tờ La Republica và tuyên-bố mình vô thần vốn dĩ là bạn thân của Đức Giáo Hoàng.

 Trong buổi bàn luận với Đức Thánh Cha Phanxicô xảy ra hồi gần đây, cụ ông Scalofari có viết trên báo vào ngày 28/3/2018 rằng: Đức Giáo Hoàng có nói với cụ là: “Hỏa ngục không có thật”, thế nên linh-hồn của những ai chối bỏ Chúa vào cuối đời mình thì cũng chỉ chấm-dứt hiện-hữu, thôi.        

 Theo ông Greg Burke là phát-ngôn-viên tòa thánh Vaticăng thì Đức Giáo Hoàng Phanxicô “có mời ông đến bàn chuyện nhân mùa Phục Sinh”, nhưng buổi này nhất quyết không phải là buổi phỏng-vấn chính-thức như các lần trước. 

Các lần phỏng vấn Đức Giáo Hoàng trước đây, vào năm 2013 và 2015, cụ Scalfari đã không ghi chú và cũng chẳng thu băng điều gì, nên về sau buộc phải viết lại những lời đối-đáp dựa nhiều vào trí nhớ, và lần này cũng thế.

 Thực tế cho thấy, Đức Giáo Hoàng Phanxicô cũng đã nhiều lần đề-cập đến Hỏa ngục. Có lần, vào năm 2014, để cảnh-giác nhóm Mafia băng-đảng, Đức Giáo-Hoàng có nói: “Hãy hồi hướng trở về! Nay, vẫn còn nhiều thời-gian để rồi không ai phải rơi xuống chốn lửa ngục. Đó là những gì đang chờ đón quí vị nếu quí vị cứ tiếp tục theo con đường này. Bà con, ai cũng có cha có mẹ: hãy nghĩ đến các ngài, Hãy khóc lên một tiếng rồi hồi hướng trở về.”

 Và rồi, trong tông-thư ngài viết vào Mùa Chay năm 2016, ngài có viết: “mối hiểm-nguy vẫn còn đó, chỉ cần liên-tục chối bỏ không mở rộng cửa tâm-hồn cho Đức Kitô đang gõ vào cửa ngõ của người nghèo, thì người tự-hào, giàu sang và quyền-thế rồi kết cục cũng sẽ tự lên án chính mình và sẽ đầm mình trong vực thẳm đầy cô-đơn tức Hỏa-ngục.”

 Giáo-huấn Hội thánh về Hỏa ngục vẫn còn đó, nói rất rõ. Trong Sách Giáo lý Hội thánh Công-giáo, ta đọc được những giòng chữ như: “Ai chết với tội trọng mà không chịu hối-cải cùng chấp-nhận tình thương nhân-lành của Chúa có nghĩa là cứ ở lại mãi trong sự chia cách tách rời họ mãi do mình tự-do chọn lựa. Tình-trạng tự tách rời khỏi sự kết-hợp mật-thiết với Chúa và những vị lành thánh gọi là ‘Hỏa ngục’. (Sách Giáo Lý Hội thánh Công giáo đoạn 1033). Sách Giáo lý còn tiếp tục dạy: “Giáo-huấn Hội-thánh khẳng-định sự hiện-hữu vô cùng vô tận của Hỏa ngục.” (GLHTCG đoạn 1035)

 Thành ra, Hỏa ngục là có thật. Và chắc chắn một điều, là: không phải Chúa tống khứ con người xuống Hỏa ngục nhưng đúng hơn, chính những ai từ chối không nhận-lãnh tình thương của Chúa a vì thế mới chối bỏ Chúa và ở lại mãi trong tình-cảnh rời xa Ngài mãi mãi do chính những người ấy tự chọn.

 Đức Giáo Hoàng Bênêđíchtô thứ 16 cũng bình-luận, bảo rằng: “Trong trường hợp nào đi nữa, Thiên-Chúa không bao giờ thúc ép một ai vào con đường cứu-độ. Chúa chấp-nhận tự do của con người. Ngài không là phù-thủy chỉ biết mỗi việc cuối cùng rồi ra cũng xóa bỏ mọi sự vẫn xảy ra lâu nay rồi cuối cùng cũng đem đến cho mọi người mối phúc-hạnh họ trông chờ.

 “Thiên-Chúa đích-thực là người Cha, là Đấng Tạo Hóa ban phát tự do cho mọi người, cả khi họ sử-dụng nó để chống lại Ngài. Vì lý do đó, mà lòng Ngài luôn muốn cứu rỗi con người, nhưng điều này không có nghĩa là Ngài can-dự vào việc cứu hết mọi người. Ngài ban cho ta quyền chối-bỏ lòng tốt của Ngài. Thiên-Chúa thương yêu ta; nên ta chỉ cần tỏ ra khiêm hạ để cho phéo Ngài yêu thương mình, là đủ.” (X. God is Near Us, Ignatius 2003, tr. 36-37)…

Thành thử, ta hãy lợi-dụng những lúc người đời tung ra những “tin thất thiệt” sai sự thật, để nói chuyện với người khác về Hỏa ngục. Càng nói nhiều càng tốt. Với ta, chưa bao giờ là cơ hội thuận-tiện để bàn bạc về Thiên-đàng và Hỏa ngục, bằng lúc này đây.” (X. Lm John Flader, “Francis takes Hell deadly seriously: bank on it”, The Catholic Weekly 15/4/2018 tr. 21)

Có tranh-luận về nỗi chán chường, hoặc như đấng bậc nhà Đạo gọi là “Hỏa ngục” nơi con người, rồi ra cũng chẳng thuyết phục được mấy ai. Bởi, mỗi người trong cương-vị của mình, ít nhiều đều đã có kinh-nghiệm bản thân về những điều như thế. Thế nên, thay vì cãi/tranh dài dòng đến vô tận, thì bạn và tôi cũng nên quay về với lời ca ở trên để cùng cảm-tức những tình-tự của người viết mà thấm-thía.

Hôm nay hoặc mai rày trong cõi đời trải dài nhiều lữ-thứ, cũng không nên để tâm nhiều đến những biện-luận chỉ khiến người viết và/hoặc người đọc ngày thêm xa lánh, tránh mặt nhau. Chi bằng, ta cứ hát lên lời ca trên, để rồi hòa cùng một nhịp với tác-giả bài rất lao xao, rộn rạo như sau:

“Đời bao xót xa.
Nhìn lá rơi, mùa Thu chết rồi!
Gió gió cứ rít lên. Xuyên qua tim tôi.
Xuyên qua làn môi. Gió gió đã cuốn đi
Bao nhiêu ước mơ – Ôi, xa vời!
Sóng sóng đã cuốn đi. Cuộc đời tốt tươi
Buồn ơi, chán ơi!

(Văn Phụng – bđd)

Bạn và tôi, chắc cũng như mọi người đều biết: nhạc-sĩ Văn Phụng là tác-giả chuyên viết nhạc vui để mọi người quên nỗi chán chường của cuộc đời. Hôm nay đây, sở dĩ ông viết những giòng thơ đầy ý nhạc lã chã buồn như thế, cũng chỉ để an ủi bạn và tôi, trong chuỗi ngày dài nhiều nghĩ suy về cuộc đời, mà thôi.          

Nhận định thế rồi, nay mời bạn và tôi, ta quay về vườn thượng-uyển với lời vàng của bậc thánh-hiền chứa đựng nhiều niềm vui hơn, như sau:

“Tôi có những tâm tình như thế đối với tất cả anh em,

đó là điều hợp lý,

bởi vì tôi mang anh em trong lòng tôi.

Khi tôi bị xiềng xích,

cũng như lúc tôi bênh vực và củng cố Tin Mừng,

anh em đều thông phần vào ân sủng tôi đã nhận được.

Có Thiên Chúa làm chứng cho tôi:

tôi hết lòng yêu quý anh em tất cả,

với tình thương của Đức Kitô Giêsu.

Điều tôi khẩn khoản nài xin,

là cho lòng mến của anh em ngày thêm dồi dào,

khiến anh em được ơn hiểu biết và tài trực giác siêu nhiên,

để nhận ra cái gì là tốt hơn.

Tôi cũng xin cho anh em được nên tinh tuyền

và không làm gì đáng trách,

trong khi chờ đợi ngày Đức Kitô quang lâm.

(Thư Phillíphê 1: 7-10)      

 Trần Ngọc Mười Hai

Nay nhất quyết

không hát nhạc buồn nhiều chán ngán

của bất cứ ai đang buồn chán

chốn nợ đời

mà thôi.

SỐNG TRONG MỐI HẬN CỦA CHÍNH MÌNH

SỐNG TRONG MỐI HẬN CỦA CHÍNH MÌNH

Cách đây vài năm, William Young viết một cuốn tiểu thuyết vừa thu hút người đọc, vừa là đề tài bàn cãi kịch liệt.  Quyển “The Shack” (Căn lều) kể câu chuyện một người đàn ông có đứa con gái nhỏ bị bắt cóc và rồi bị giết hại dã man.  Người cha, vật lộn với nỗi phẫn uất cay đắng, nhận được một mẩu nhắn bí ẩn mời ông đi một mình tới căn lều nơi con gái ông từng bị sát hại.  Nghĩ rằng sẽ gặp tên sát nhân ở đó, ông chuẩn bị cho một cuộc chiến đấu khốc liệt.  Nhưng tại căn lều, ông lại gặp Chúa. 

Những gì diễn ra sau đó là sự khắc họa về Chúa Ba Ngôi một cách hết sức ấm áp và phong phú về mặt thần học.  Nhưng Chúa cởi mở tuyệt vời, ấm áp, đầy che chở, nâng niu, thứ tha hết thảy mà nhân vật của William Young gặp có một điều kiện duy nhất, đầy khó khăn và không lay chuyển để được lên thiên đàng: người cha phải tha thứ, không chỉ kẻ đã giết hại con mình, mà là tất cả mọi người, tuyệt đối tất cả không chừa một ai, nếu ông muốn cuối cùng gia nhập cộng đoàn những người được ban ân phước.  Ông có thể lên thiên đàng, nhưng nếu ông tiếp tục mang mối hận trong lòng, ông sẽ không lên được.

Dù các phê bình gán cho ông những khiếm khuyết về mặt huấn đức gì đi nữa, ông vẫn hoàn toàn đúng, và đang mạnh mẽ thách thức khi đưa ra quan điểm căn bản này – xả bỏ hiềm hận và cay đắng là điều kiện không lay chuyển để lên thiên đàng.  Thật sự, tôi tin chắc rằng trong đời chúng ta sẽ tới một lúc nào đó ta chúng ta chỉ cần giữ lại ba từ trong vốn từ vựng tâm hồn của mình: Tha thứ, tha thứ, tha thứ.  Morris West, trong một tự truyện ngắn viết nhân kỷ niệm ngày sinh thứ 75 của mình, đã khẳng định điều này một cách rõ ràng. Ông nói, khi bước tới tuổi 75, bạn chỉ nên giữ lại một cụm từ trong toàn bộ vốn từ của mình mà thôi: Cảm ơn!  Tha thứ

Lòng biết ơn là điều trái ngược với hiềm hận và chúng ta có quá ít lòng biết ơn trong đời sống của mình.  Thông thường chúng ta hay hiềm hận hơn là biết ơn.  Hơn nữa, thậm chí khi chấp nhận hiềm hận, chúng ta lại có xu hướng hợp lý hóa nó bằng một tín điều hay một nguyên cớ nào đó: “Tôi hận, nhưng mà có lý do!  Giận của tôi là giận chính đáng, giống như Chúa Giê-su khi Người lật đổ bàn của những buôn bán tiền trong đền thờ!” “Dĩ nhiên tôi giận, nhưng tại sao tôi lại không giận khi cứ phải nhìn những kẻ bảo thủ đã bóp nghẹt tinh thần cởi mở của các thế hệ vừa qua, rồi khăng khăng giữ thái độ thiếu khoan dung trong giáo hội lẫn cả trong đất nước này, họ lại càng không biết đến người nghèo!” “Dĩ nhiên tôi giận, nhưng tại sao tôi lại không giận khi nhìn những kẻ theo chủ nghĩa tự do đang làm những gì với giáo hội và với đất nước này! Cứ nhìn nạn nạo phá thai và hôn nhân đồng tính mà coi!”

Chúng ta cần phải thận trọng khi tự đánh bóng mình lên như vậy: Khác với Chúa Giê-su khi khóc cho thành Giê-ru-sa-lem, nước mắt của chúng ta thường không phải là nước mắt ấm áp của tình thương yêu và đau buồn trước tình trạng chia cắt và hiểu lầm.  Nước mắt của chúng ta, nếu thật sự chúng ta có khóc, thường là nước mắt lạnh lẽo của niềm cay đắng và hiềm hận vì cảm thấy bị đối xử không đúng, hay vì cảm thấy phải sống trong giáo hội và xã hội của mình với những người chúng ta coi là xấu bụng, lười biếng, ti tiện, hay đơn giản là dốt nát.  Đúng hơn, chúng ta giống như người anh của đứa con hoang đàng, người anh hầu như chỉ làm những điều đúng đắn, thể hiện ra ngoài là trung thành với các nghĩa vụ tôn giáo và luân lý của mình, nhưng bị trói chặt bởi niềm cay đắng và nỗi hiềm hận tận trong sâu thẳm đã khiến cho chúng ta khó có thể, hay thậm chí không thể vui sống, xả bỏ, thứ tha.

Quá ít người trong chúng ta thừa nhận mình mang nhiều nỗi hiềm hận trong lòng, rằng có những góc tâm hồn mình đầy cay đắng và phẫn uất, và rằng vẫn có những con người, những sự việc, sự kiện trong đời mà chúng ta chưa hề tha thứ được.

Do vậy, để ngụy trang nỗi hiềm hận của mình, chúng ta muốn tạo dáng vẻ hào hiệp và lòng tốt rồi phô ra ngoài.  Chúng ta có khuynh hướng phô ra với gia đình và bạn bè là chúng ta dễ thương đến độ không tiếc lời khen ngợi một ai đó, và sau đó, gần như trong cùng một câu, chúng ta thóa mạ ai đó, phỉ báng họ, nói xấu ác hoặc châm biếm một ai đó.  Khuynh hướng phân chia người khác ra thành “thiên thần” hay “quỷ dữ” chắc chắn là dấu hiệu của nỗi hiềm hận trong lòng.  Chúng ta ra vẻ tán dương người nào đó (một việc phô diễn nhằm bày ra cho mọi người thấy chúng ta là người rất dễ thương, hơn là nhằm nêu bật đức hạnh của người kia), và sau đó cay đắng oán thán người này người kia tệ bạc, rằng sao mà chúng ta bao giờ cũng bị dây với những kẻ ngu dốt.  Tán dương hay oán than đều chứng tỏ cùng một điều – chúng ta đang sống trong nỗi hiềm hận.

Lòng trung thực và khiêm tốn rốt cuộc sẽ phải đưa chúng ta đến chỗ thừa nhận điều này.  Tất cả chúng ta đều mang những nỗi hiềm hận nào đó; chúng ta không được tự lừa dối mình về điều này.  Chúng ta cần can đảm và trung thực để đối diện với sự thật đó.

Có lẽ chúng ta có thể rút ra được một bài học từ những nhóm như Hội Những người nghiện rượu ẩn danh (Alcoholics Anonymous) và giới thiệu mình với nhau, hay với cha giải tội theo cách như sau:

“Tôi tên là Ron, tôi là một người hiềm hận.  Tôi hợp lý hóa việc này bằng cách tự nói với mình và người khác rằng nỗi hiềm hận của tôi là có lý, rằng tôi cũng như Chúa Giê-su, đá tung những cái bàn của những buôn bán tiền để làm  sạch nhà Chúa.  Nhưng tôi dần dần nhận ra rằng nghĩ như vậy là tự huyễn, đó đơn thuần chỉ là một cách hợp lý hóa các thương tổn của tôi.  Càng già, tôi càng nhận ra tôi giống người anh trai của đứa con hoang đàng; tôi đang đứng bên ngoài vòng tay ấm áp, vòng tay cộng đoàn.  Nhưng, đáng mừng là giờ đây tôi đang hồi phục.”

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From Langthangchieutim 

Cám dỗ khi đi xưng tội

 Cám dỗ khi đi xưng tội

Elisabeth Nguyễn

Là con người ai lại không có tội. Người kiêu căng là người cho mình không bao giờ phạm tội. Chỉ một chút phân bì, một chút ganh ghét, đố kỵ nhau là đã phạm tội rồi…nói xấu người khác, nói dối v.v…là tội liên quan đến người khác là mang tội xúc phạm đến họ.

Là Kitô hữu, chúng ta đều là tội nhân, vì thế chúng ta nên đến với Chúa, với chính mình trong tòa giải tội để được Chúa tha những tội lỗi mình đã phạm qua vị linh mục của Chúa, đại diện Chúa Giêsu nơi trần thế. 

Khi xét mình chúng ta dựa vào 10 giới răn của Chúa và 6 điều răn của Hội Thánh. Quan trọng hơn, chúng ta xét mình về tình yêu đối với Chúa, về những tội trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu xót.  

 Đối với Chúa (đối thần), mình không kính trọng, thờ phượng Chúa đủ theo luật Giáo Hội dạy. Không yêu thươngChúa trong người khác.

Với người thân (đối nhân), người bên cạnh đau ốm nằm đó cần mình yêu thương mà mình không săn sóc hoặc săn sóc lấy lệ. v.v… thấy người hoạn nạn khốn khổ mà mình lờ đi như không biết, hoặc thấy người hàng xóm cần mình giúp lúc cơ nhỡ mà mình từ chối v.v..

Với chính mình (đối kỷ), mình không yêu mình đủ bằng cách đau ốm mà cũng mặc kệ không chịu chữa bệnh, vẫn ham làm việc ngày đêm v.v…mình không dành thời giờ cho Chúa, không xứng đáng nhận và đáp trả tình yêu vô điều kiện Thiên Chúa đã ban cho mình.

Chúng ta thường bị cám dỗ chỉ xét mình một cách hời hợt bên ngoài và chỉ xưng thú một vài lỗi lầm quen thuộc. Không dám nhìn thẳng, nhìn sâu vào đời sống nội tâm để xét mình. Rất nhiều người cố ý giấu những tội trọng hay cố tình nói cho nhẹ bớt, nên linh hồn họ vẫn chưa được sạch.

Chúng ta càng xét mình kỹ, càng xưng thú rõ ràng và thật lòng ăn năn chừa cải, chúng ta mới có cơ hội thăng tiến trên đường nhân đức.

 Giáo Hội mời gọi Kitô hữu, ít nhất nên một năm xưng tội một lần vào mùa chay, để hòa giải với Chúa, với chính mình và với tha nhân. Tâm hồn mình  sẽ được trong sạch, vui vẻ nhẹ nhàng. Đó là một hồng ân quý giá Chúa ban để chúng ta được sống dồi dào sung mãn.

 Lạy Chúa, xin Thánh Thần Chúa giúp con xét mình cách chín chắn để xưng thú tất cả những tội lỗi, chỉ biết cậy dựa vào Lòng Chúa Thương Xót khi đến hòa giải với Ngài. Amen.

From: vuisongtrendoi

LÀM SAO BẠN CÓ THỂ NÓI KHÔNG VỚI THIÊN CHÚA?

LÀM SAO BẠN CÓ THỂ NÓI KHÔNG VỚI THIÊN CHÚA?

Thiên Chúa giúp tôi bỏ hẳn tật nghiện trò chơi điện tử!

Tác giả: Wesley Falcao

Tôi sống ở Brooklyn, New York, vào năm 2014, khi những giờ khắc ban đêm của tôi bị chiếm ngự bởi một trò chơi điện tử đang thu hút rất nhiều người chơi.

Trò chơi Counter-Strike (tấn công và trả đũa): Global Ofensive (cuộc công kích toàn cầu) là một trò chơi hấp dẫn đầu tiên được gọi với biệt danh là CS: GO.  Tôi đã vướng vào nó suốt những năm sau thời cao đẳng, khi Hunter, một người bạn của tôi ở Boston, đã mời tôi chơi từ xa với anh ta và vài người bạn ở California.  Bí danh CS: GO được sử dụng thay cho tên thật.

Bởi vì sự khác biệt về thời gian của chúng tôi, phần chơi bắt đầu lúc 11 giờ đêm, khi tôi lên giường.  Không lâu sau đó, những giờ chơi kéo dài bắt đầu phá giờ ngủ, giờ cầu nguyện buổi sáng của tôi, và ngay cả việc tham dự Thánh lễ vào những ngày Chúa Nhật.  Khi tôi đi đến nhà thờ, sự trống rỗng và vô ích của thói quen chơi game của tôi càng tăng lên.

Ngay khi tiếp tục chơi, chắc chắn những đoạn văn trong Thánh Kinh sẽ đưa vào tâm trí tôi, một đoạn đặc biệt mà tôi vẫn nghe: Ông Cô-he-lét nói: “Phù vân, quả là phù vân.  Phù vân, quả là phù vân.  Tất cả chỉ là phù vân” (Gv1, 2).  Tôi biết chơi game đã chiếm nhiều thời gian của tôi, hơn cả Chúa.  Thế nhưng, trò chơi làm tôi cảm thấy luôn thành công và không thể bỏ được.

Cho tôi thêm một tháng nữa.  Vấn đề là tôi đã ở trong tầm với của bảng xếp hạng Master Guardian Elite – một huy hiệu danh dự trong số các những người bạn cùng chơi CS: GO của tôi.  Xếp hạng Counter strike dựa trên sự kết hợp của kỹ năng và thành tích.  Mức này sẽ tăng lên khi người chơi dành nhiều thời gian để chơi game.  Nếu trò chơi tạm ngưng trong một tháng, anh ta phải dành thời gian lấy lại danh hiệu của mình.  Điều này trở thành trở thành niềm khích lệ cho anh vượt qua nhiều trò chơi, để nâng cao kỹ năng và cấp bậc của mình.  Đây là lý do tại sao tôi không muốn dừng trò chơi, mặc dù lương tâm luôn cắn rứt tôi.

Đến tháng 9 năm 2014, tôi đã chơi game này trong vòng năm tháng.  Tôi biết nó đã gây rối cuộc sống của tôi, nhưng mỗi lần tôi nghĩ đến việc từ bỏ, tôi sẽ đến gần với bảng xếp hạng Elite và quyết tâm lại.  Vào ngày cuối tháng, đó là thời điểm tĩnh tâm của những người Công giáo mà tôi đã tham dự vài năm liên tiếp.  Khi tôi rời khỏi trung tâm tĩnh tâm, tôi đã nói với Chúa: “Hãy cho con một tháng nữa để đạt được bậc Thầy Guardian Elite.  Sau đó, con sẽ trở lại với Chúa.”  Sự quyến rũ của trò chơi đã làm chấn động tôi, nên tôi không có ý chí để thay đổi.

“Vạch ra con đường.”  Vào buổi tĩnh tâm, tôi được xếp vào một nhóm thảo luận với tên “Q.”  Một người bạn trong nhóm của tôi hỏi tôi những gì đang xảy ra trong cuộc đời tôi.  Đột nhiên, tôi nói với anh ấy rằng tôi đã chơi rất nhiều CS: GO.  Tôi đã đề cập đến việc lương tâm của tôi bị thúc đẩy đi đến việc từ bỏ.  Tôi vẫn tiếp tục giữ im lặng về sự thật là càng chơi nhiều, tôi càng trở nên cáu gắt và ích kỷ.  Tôi không nói về việc chơi game đã phá rối chương trình làm việc của tôi, và tách rời tôi ngày càng cô lập hơn với những người Công giáo ở cùng độ tuổi của tôi, những người đã có một ảnh hưởng tích cực trong cuộc đời tôi.

Trong suốt bữa tối, một người khác đã hỏi tôi về buổi thảo luận nhóm của tôi.  Tôi đã nói với anh “Q”, điều này đã nhắc nhở anh về một tác giả của cuốn sách Giảng viên: Qoheleth.  Anh ta cười đáp lại “Nhóm Q về Qoheleth!”  “Phù vân chỉ là phù vân, tất cả là phù vân.”  Tất cả mọi người và cả tôi đã cười một nụ cười giễu cợt.  Tôi đã được đụng chạm rằng Chúa sẽ cám ơn tôi và trái tim tôi sẽ được mở ra nhiều hơn. 

 “Hãy bước vào con đường và vác Thánh Giá” Thiên Chúa đã nói với tôi trong tĩnh lặng.  “Hãy rời khỏi mọi điều đang nắm giữ con – bất kỳ tội lỗi nào, bất kỳ ràng buộc nào – và ăn năn hối lỗi.”  Đó là thời điểm quyết định đối với tôi.  Tôi đã ngồi xuống với một quyển Kinh Thánh và bắt đầu đổ tràn những suy nghĩ của tôi với Chúa.

Nói vâng với Thiên Chúa.  Lạy Chúa, Chúa biết con thích game này biết chừng nào.  Con đã nói với Chúa rằng con sẽ từ bỏ nếu con không hoàn thành thứ hạng Elite vào cuối tháng 10.  Nhưng con biết đó sẽ là một việc làm vô nghĩa nếu con lại mất thêm một tháng để theo đuổi điều đó.  Hơn nữa, con còn không biết sau tất cả những điều đó, con có thể từ bỏ nó hay không.

Tôi cảm thấy thật nặng nề.  Tôi đã hy vọng Thiên Chúa sẽ không đòi tôi phải từ bỏ, nhưng Ngài đã làm điều đó.  Chúa biết rằng đó sẽ là nỗi đau đớn cho tôi khi phải từ bỏ, nhưng điều đó sẽ đau đớn hơn nếu tôi vẫn tiếp tục nói vâng với tất cả những gì đang làm phá vỡ mối tương quan của tôi với Chúa.  Thay vào đó, bây giờ, Chúa đang ban cho tôi một cơ hội để làm mới lời thưa vâng của tôi đối với Ngài.  Trong cuốn Thánh Kinh của tôi, tôi đã đọc một đoạn từ thư Thánh Phaolo: “Bring to completion this act of grace (Hãy hoàn thành hành động ân sủng này)” (2 Cr 8,6).  Sau đó tôi nhớ lại một video tôi đã xem trên Youtube, của một người nào đó đã trải nghiệm về sự biến đổi, và đã gia nhập vào Đạo Công Giáo.  Người ấy nói rằng: “Làm sao khi nhìn vào Chúa Giêsu đang bị treo trên thập giá, đang đổ máu vì tội lỗi của tôi, mà tôi có thể nói không với Ngài?” Tôi đã nhắm mắt lại, và niềm khao khát cháy bỏng chơi CS:GO cuối cùng đã chấm dứt.  Lời cầu nguyện của tôi đã được biến đổi.

Lạy Chúa Giêsu, nếu Chúa cũng đang hỏi con về điều này, con sẽ nói vâng.  Chúa đã chết cho con, và Chúa không muốn bất cứ điều gì gây trở ngại cho mối quan hệ của con với Chúa.  Con xin đầu hàng.  Xin Chúa chấp nhận lễ hy sinh này của con.  Lạy Chúa, con yêu Chúa. 

Một Người đói khát Thiên Chúa.  Đáp lại lời thúc đẩy (tiếng nói) của Chúa trong buổi tĩnh tâm, tôi đã nhận ra khả năng để từ bỏ việc chơi.  Thật là khó khăn để có thể từ bỏ chính mình khỏi đồng đội mà tôi đã trở thành những người bạn, nhưng Thần Khí đã ban cho tôi sức mạnh để chia sẻ với họ rằng Chúa đã nói với tôi từ bỏ game.  Một trong những người bạn của tôi đáp lại bằng nụ cười giễu cợt “Chúa đang nói với tôi là bạn nên tiếp tục chơi.” Nhưng tôi biết trong thâm tâm rằng tôi cần giữ vững quyết định của mình.

Toàn bộ kinh nghiệm ấy đã dạy tôi rằng Thiên Chúa thực sự là một vị thần hay ghen tương, Ngài ghét nhìn thấy con cái mình sống với những niềm vui vô nghĩa (x. Xh, 20, 5).  Vào lần tĩnh tâm đó, tôi đã nhận ra rằng Chúa nhớ đến tôi trong suốt những đêm tôi bị thu hút vào cuộc chơi CS: GO.  Tôi nghĩ rằng đó là lý do tại sao Ngài cám ơn tôi vì tôi đã đến tham dự cuộc tĩnh tâm.

Tôi rất hạnh phúc được nói rằng những thao thức của tôi đã được thế chỗ bằng những nhận thức chắc chắn rằng Chúa yêu tôi.  Tôi cũng đã khám phá ra được những khao khát mới trong tâm hồn mình.  Thay vì khao khát tìm kiếm thành công trong những trò chơi, một lần nữa tôi lại dành nhiều thời gian ở với Chúa và đón nhận quà tặng bình an, niềm vui đầy ảnh hưởng của Chúa trong cuộc đời tôi.  Thật là một sự trao đổi tuyệt vời!

Wesley Falcao lives in South Orange, New Jersey.

 Chuyển dịch: Nhóm Sr. Học viện Thánh Toma
Hội Dòng Đa Minh Tam Hiệp

LÀM SAO MÀ ANH EM VẪN CHƯA CÓ LÒNG TIN?

LÀM SAO MÀ ANH EM VẪN CHƯA CÓ LÒNG TIN?

Lời Chúa trong đoạn Tin Mừng hôm nay thánh Maccô thuật lại một hành trình trên biển để “sang bờ bên kia” của Chúa Giêsu và các môn đệ.  Hành trình này được ví như hành trình đức tin của mỗi chúng ta.  Hành trình trên biển gặp sóng gió là chuyện không lạ lắm đối với những người thường xuyên đi biển và sống bằng nghề biển như các môn đệ.  Tuy nhiên, chiếc thuyền của Chúa Giêsu và các môn đệ hôm nay không gặp những con sóng ngọn gió hiền lành bình thường, mà là gặp “cuồng phong”… sóng ập vào”… “thuyền đầy nước”… Các môn đệ lo lắng như “chết đến nơi rồi”, còn Chúa Giêsu thì “chẳng lo gì”…  Các môn đệ kêu cầu đến Chúa và Chúa đã ra tay uy quyền, Chúa mắng các môn đệ “làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin?”

 Chúng ta ngắm nhìn xem, tại sao Chúa Giêsu lại mắng các môn đệ chưa có lòng tin?

    Qua trình thuật này chúng ta có thể hiểu rằng, giữa Chúa Giêsu và các môn đệ đã có một tương quan rất thân thiện với nhau rồi.  Cùng làm việc và cùng thi hành sứ vụ chung với nhau.  Tuy nhiên, chúng ta cũng dễ dàng cảm nghiệm rằng, dường như tương quan ấy chỉ mới có ở bề mặt bên ngoài, có nghĩa là các môn đệ mới chỉ gặp gỡ, gần gũi làm việc chung, mới tương quan trên bình diện công việc và cuộc sống, chứ các môn đệ chưa đi vào tương quan sâu sắc, chưa hiểu hết Chúa như thế nào, quyền năng của Ngài ra sao?

   Chúa mắng các môn đệ “chưa có đức tin” quả thật là phải lẽ, vì hành trình của các ông đang có Chúa đó, nhưng các ông chẳng ý thức về sự hiện diện đồng hành của Ngài, các ông không nhận biết quyền năng của Chúa, các ông cũng chẳng trông cậy vào Ngài…  Sóng gió ập đến, các môn đệ mới sực nhớ đến Chúa, và rồi các ông vội trách Chúa “chẳng lo gì”.

   Cuộc sống thường ngày của chúng ta dường như cũng thế, chúng ta ít khi ý thức sự hiện diện của Chúa, chúng ta thường đi với Chúa cách vô ý thức, coi như Chúa không biết gì, Chúa chẳng quan tâm.  Đến lúc nguy khó mới nhớ chạy đến Chúa và kêu la rối rít.  Thái độ sống này, chắc chắn sẽ bị Chúa mắng là “chưa có lòng tin.”  Tuy nhiên, một thái độ ngược lại cũng đáng quan tâm.  Cuộc sống đôi lúc chúng ta cũng rơi vào tâm trạng thất vọng nặng nề, chúng ta cũng chẳng còn nhớ đến Chúa, và quên rằng Ngài ở bên chúng ta và chờ chúng ta khiêm tốn lên tiếng kêu cầu Ngài.  Thái độ chỉ kêu đến Chúa khi gặp khó khăn, hoặc là thất vọng đến quên cả Chúa mà lầm lũi bước đi đó là thái độ “chưa có lòng tin.”

   Thánh Maccô thuật tiếp, sau khi các môn đệ kêu đến Chúa, tin tưởng vào quyền năng của Chúa, Chúa bắt đầu ra tay.  Nhưng sau khi Chúa ra tay truyền sóng biển im lặng, thì các ông hoảng sợ và nói với nhau:“Vậy người này là ai…?”

  

  Gặp sóng gió, các môn đệ hoảng sợ, không tin đủ vào Chúa.  Sau khi Chúa tỏ quyền năng thì các ông lại thắc mắc “Ngài là ai?”  Điều này chứng tỏ nền tảng đức tin của các môn đệ chưa vững chắc, đi bên Chúa, gặp gỡ Chúa nhưng không khao khát tìm biết Chúa là ai?  Lẽ ra các ông phải tìm hiểu về Chúa, biết Chúa là ai khi bắt đầu cất bước theo Ngài!  Còn nghi ngờ vào chính Thiên Chúa thì chắc chắn là chưa có lòng tin.  Tin Chúa là phải học cho biết Ngài là ai và đi vào trong tương quan sâu để cảm nghiệm Ngài như ta đã được học biết.  Tin vào Chúa là hiểu điều Chúa làm, mong điều Chúa muốn và phó thác cho Ngài cuộc sống của ta.

    Sau phép lạ Chúa làm truyền sóng biển im lặng, chắc chắn các môn đệ phải tìm được câu trả lời Chúa là ai khi quan sát sự kiện và khi tương quan gần gũi song hành với Chúa.  Vậy mà không hiểu sao các ông lại còn hoảng sợ và thắc mắc “ông này là ai?”  Câu hỏi này chứng tỏ lòng tin của các ông chưa có và bị Chúa mắng thì cũng không oan uổng gì.

     Bởi vì các môn đệ chưa có lòng tin, nên chưa ý thức sự hiện diện của Chúa.  Chưa có niềm tin nên còn nghi ngờ “ông này là ai?”  Chưa có lòng tin nên còn dành quyền điều khiển và kiểm soát hành trình.  Khi các môn đệ dành quyền kiểm soát và điều khiển hành trình đời mình, thì Chúa dành cho họ ưu tiên đó, Ngài nghỉ ngơi.  Giả như chúng ta tin tưởng trao phó cho Chúa để Ngài điều khiển và an tâm nghỉ ngơi, thì chính lúc ấy Chúa sẽ giang tay ra hành động, Ngài chở che, bao bọc và cứu giúp.

     Thái độ của những người “chưa có lòng tin” là thái độ của những người ưa thích đảo lộn tình thế, đứng vào vị trí điều khiển của Chúa, quên đi vai trò lệ thuộc của chính bản thân mình.

     Có lòng tin là ý thức Chúa hiện diện trong mọi nẻo hành trình; Có lòng tin là trả lời xác tín với mọi người về chính Chúa, bằng sự cảm nghiệm của chính cá nhân mình; Có lòng tin là để Chúa điều khiển và kiểm soát cuộc sống của mình; Có lòng tin là khiêm tốn kêu xin khi gặp gian nan khốn khó.

 Giờ đây, chúng ta khiêm tốn dâng lên Chúa lời nguyện xin ơn đức tin:

 Lạy Chúa Giêsu,

Chúng con cám ơn Chúa vẫn hiện diện trong cuộc sống chúng con.

Xin cho chúng con tin vào quyền năng Chúa vẫn hiển trị trong cuộc đời chúng con.

Lạy Chúa, cuộc sống quanh chúng con có biết bao điều xảy đến.

Tất cả đều nằm dưới bàn tay tình thương quan phòng của Chúa.

Xin Chúa giúp chúng con biết cùng với vạn vật dâng lời ca khen quyền năng Chúa.

Xin giúp chúng con biết đón nhận ân ban của Chúa trong sự khiêm tốn thẳm sâu.

Xin dạy chúng con biết chạy đến với Chúa khi gặp những gian nan thử thách,

Xin giúp chúng con biết bám vào Chúa để đi qua những giông bão trong cuộc đời.

   Lạy Chúa, Chúa luôn nâng đỡ những ai kêu cầu Chúa.

   Chúng con xin phó dâng cuộc sống trong tình thương quan phòng của Chúa. Amen.

 Trích trong “Tin Vui Xuân Lộc”

 From: KittyThiênKim & Kim Bang Nguyen

“Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi”

“Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi”

“Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh.”

“Tôi mà sờ được vào áo Người thôi, là sẽ được cứu.”

Lạy Chúa Giêsu,
dân làng Nazareth đã không tin Chúa
vì Chúa chỉ là một ông thợ thủ công.
Các môn đệ đã không tin Chúa
khi thấy Chúa chịu treo trên thập tự.
Nhiều kẻ đã không tin Chúa là Thiên Chúa
chỉ vì Chúa sống như một con người,

Cũng có lúc chúng con không tin Chúa
hiện diện dưới hình bánh mong manh,
nơi một linh mục yếu đuối,
trong một Hội thánh còn nhiều bất toàn.

Dường như Chúa thích ẩn mình
nơi những gì thế gian chê bỏ,
để chúng con tập nhận ra Ngài
bằng con mắt đức tin.

Xin thêm đức tin cho chúng con
để khiêm tốn thấy Ngài
tỏ mình thật bình thường giữa lòng cuộc sống.

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ